QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

M A I
TRẦN NHƯ XUYÊN
Năm 1969, Tiểu Đoàn tôi đang hành quân chung quanh Bến Lức thì được lệnh di chuyển về Đức Hòa, một quận nhỏ thuộc tỉnh Hậu Nghĩa, về Đức Hòa để bảo vệ Bộ Tư Lệnh SĐ25 đang đóng ở đây. Hậu Nghĩa có lẽ là một tỉnh nhỏ nhất của miền Nam, nguyên nó là 1 xã của Đức Hòa hay Đức Huệ gì đó, vì tính cách chiến lược, ông Ngô Đình Diệm lập nên tỉnh này.

Rời khỏi Bến Lức với con sông Vàm Cỏ Đông lòng tôi bùi ngùi, nửa năm ở đây, thường các cuộc hành quân là ủi bãi cùng với Hải Quân , VC hai bên bờ như rươi, con sông chạy dài tới tận Tây Ninh, mỗi lần tầu đi, chúng phục 2 bên bờ bắn B40 như pháo bông, 4 ngày cuối cùng trước khi về Đức Hòa thì Thiếu Úy Hạnh, khóa 18 TĐ, Đại Đội phó của ĐĐ tôi hy sinh, tầu bị phục kích, khi bị bắn, tầu ủi bãi, Hạnh xua quân xông lên, vài phút sau tin báo Hạnh trúng đạn chết.

Tới Đức Hòa, TĐ được phân công phòng thủ quanh vòng đai ngoài của bộ chỉ huy SĐ, Đại Đội tôi được chỉ định đóng tại Bình Hữu, tung các điểm phục kích chặn những đường tiến sát địch có thể xâm nhập vào Bộ TL, Bình Hữu là một xã nhỏ, nằm trên đường đi lên Đức Huệ, con đường Bình Hữu nhỏ, ngắn, được 3,4 chục căn nhà, Ban Chỉ huy Đại Đội tối đóng quanh quẩn trong mấy ngôi nhà đó, các trung đội vừa có toán phục kích, vừa bảo vệ ĐĐ, thỉnh thoảng hành quân nhảy trực thăng, thường là nhẩy xuống mật khu Lý văn Mạnh hoặc xa hơn nơi biên giới Đức Huệ, Lý Văn Mạnh là một khu dinh điền thời TT Ngô Đình Diệm, nay bỏ hoang đã lâu, VC bám trụ ở đây, thỉnh thoảng tập trung tấn công các đồn bót của ĐPQ, NQ, chúng bám trụ nơi này để giữ đường giao liên từ Long An, qua Đức Huệ để tới Kampuchia.

Chiều hôm đó, sau cuộc hành quân tảo thanh về, thay quần áo xong thì Xuân, Trung Úy, bạn cùng khóa 21 VB, Đại Đội Trưởng Đại Đội 2 cùng TĐ đóng ở Bình Tả gần đó lái xe jeep qua, rủ đi uống cà phê, có cái quán nhỏ xế chỗ tôi đóng quân, bước vào, quán đã sẵn mấy anh Thiếu úy pilot trẻ lái trực thăng đang ốn ào, huyên thuyên, Xuân không kêu cà phê nữa, nó gọi bia nhậu với cá lóc nướng, mấy hôm sau tôi mới hiểu vì sao các anh chàng pilot trẻ này cứ lượn ra lượn vào ở cái quán cà phê này.

Cũng tội nghiệp bà chủ quán tên là Dì Năm, khoảng 50 tuổi, có tụi tôi trong quán, lính không dám vào, quán bị ế, cả mấy anh pilot thấy 2 ông Trung Úy trẻ, tác phong rõ ràng là dân tác chiến chứ không phải SQ của bộ Tư Lệnh, ngồi tì tì với bia thì chút sau cũng phú lỉnh, tôi gọi máy kêu 2 Trung đội trưởng của ĐĐ lên nhậu, lúc sau ngà ngà, nói chuyện với Xuân về Hạnh mới bỏ mình bên bờ Vàm Cỏ, tôi muốn khóc, ôm chai bia đứng dậy loạng quạng bước theo bước tango : đời tôi quân nhân, chút tình riêng gửi núi sông…đời lính, biết bao nhiêu lần say ? mà có phải chỉ có chút tình riêng gửi núi sông đâu, SQ/VB là gửi cả cuộc đời cho núi sông ấy chứ, như thằng Hạnh chẳng hạn, gửi cả cuộc đời cho núi sông khi còn quá trẻ, mới ngoài hai mươi chứ mấy, thế là xong hết. Trong lúc ngật ngưỡng ôm chai bia, tôi bắt gặp một cặp mắt đen láy nhìn tôi qua cái rèm cửa sổ thông với buồng trong, tôi khựng lại nhìn đôi mắt ấy, chiếc rèm khép vội lại, đôi mắt mất hút. Tôi lẩm bẩm : ê, nhìn trộm hả, rồi nhún vai :

em là gái trong song cửa
anh là mây bốn phương trời
anh theo cánh gió chơi vơi
em vẫn nằm trong nhung lụa
( Một mùa đông : Lưu trọng Lư )

đúng rồi, anh là mây bốn phương trời, vấn vương chi với những đôi mắt, nhất là mắt đàn bà con gái, tôi nói lớn hỏi Sơn : Ê Xuân, đàn bà con gái làm bận rộn mình quá hả, quẳng hết đi phải không mày, Xuân gục đầu ầm ừ: quẳng gì thì quẳng nó vẫn bám cứng chân mình như thường, quả thực thằng Sơn này vướng nhiều đàn bà quá, khi làm tới Quận trưởng, lính gác quận đường canh VC thì ít mà canh đàn bà thì nhiều, nhưng thôi nó cũng xứng đáng, bị thương 3,4 lần, bay mất một mắt thành độc nhỡn như Moshe Dayan, tôi liền cánh, liền cành với nó từ ngày ra trường tới mãi 1973 khi nó làm QT, mà nào có dứt ra được đâu, thỉnh thoảng nó vẫn kêu lên SĐ xin TĐ tôi biệt phái bảo vệ Quận nó để 2 thằng bù khú.

Trở lại với Bình Hữu, Đức Hòa, cũng một buổi chiều rảnh rỗi Sơn lại kiếm tôi rủ uống cà phê, lần này thì uống cà phê thực sự, tôi và Sơn không phải là những người nát rượu, thỉnh thoảng nổi hứng hay buồn quá mới uống, khoảng chiều, một cô gái nhỏ nhắn, mặc áo dài trắng nữ sinh, loại áo dài mà tôi thích nhất trong các kiểu áo dài, người con gái ôm cặp trước ngực, bước vô quán, nàng chào hai đứa tôi, tay vuốt mái tóc xõa trên trán, ánh mắt lướt nhanh qua nhưng tôi cũng kịp ngờ ngợ : đôi mắt này, phải rồi, đôi mắt tối nọ nhìn trộm mình đây mà! Cô gái bước vô trong còn ngoái lại nhìn tôi, môi mím lại như muốn cười nhưng không dám cười, tôi cũng toét miệng ra gật đầu, cô ta dáng dấp nhỏ bé, có lẽ bé thật, tóc ngang vai, khoảng 16,17 chứ mấy, với tôi thế là quá bé dù tôi cũng chưa già là bao, mới hơn 20 chứ bao nhiêu, ôi thôi, mà lẩn thẩn chi vậy, chuyện gì nữa đây, chắc cô ta thấy tôi tối đó ngồ ngộ hoặc chưa bao giờ thấy một người say ôm chai bia loạng quạng nhẩy ?

Xuân đá đá chân tôi : ôi chao phí của, mày ở đây, địa phương mày mà không quen cô bé này thật là phí của, tao ra lệnh cho mày, 10 ngày nữa mày phải ôm cô bé trong tay, thôi, ôm thì vội quá, mày phải nắm được tay cô ta và nói nàng hãy bảo mấy anh lái trực thăng kia đi chỗ khác chơi, mày không làm được thì không đáng là Sĩ quan Võ Bị, rõ chưa.

Rồi tôi cũng biết, nàng tên Mai, một mẹ một con, ông bố có bà hai đi đâu mất tiêu, bà Năm, mẹ của Mai mở quán cà phê, lợi tức cũng đủ cho hai mẹ con đắp đỗi qua ngày, hình như tôi cũng đang bị điều tra, thằng tà loọc nói dì Năm hỏi về trung Úy nhiều lắm, tôi cũng không để ý, lời Xuân khích bác tôi cũng không để ý, những cuộc hành quân liên miên làm không có thì giờ nhiều, ưu tiên lo lắng an toàn cho đơn vị, mỗi lần chạm địch có người chết, tim tôi cứ thắt lại khi thấy những người vợ lính lên tìm chồng, vành khăn tang trắng, đứa bé còn bồng trên tay. SĐ quần tụi tôi như cái mền rách vì an ninh của BTL, từ ngày về đây, chỉ có đụng chạm nho nhỏ, SĐ chưa một lần bị pháo kích.

Thường mỗi tối, khu vực ĐĐ tôi phụ trách đường phố giới nghiêm, chẳng cần thông báo, tối là mọi người ở trong nhà, Ban CH/ ĐĐ đóng xéo với quán cà phê Dì Năm, một tối, tôi lững thững sang đó uống cà phê, chẳng có mục đích gì với lời nói của Xuân, Mai ngồi nơi quầy, nàng cầm cuốn tập trong tay, tôi gọi ly cà phê sữa đá rồi hỏi :

- Mai siêng thế này chắc học giỏi lắm hả?

lần đầu tiên đối diện cô ta và cũng lần đầu tiên trò chuyện mà tôi nói tỉnh bơ làm như đã biết nhau lâu lắm. Mai tròn mắt nhìn khi thấy tôi gọi đúng phóc tên nàng :

- Đâu có, quá dốt là đằng khác, sao Tr/U biết tên Mai ?

- Ồ, tôi biết Mai từ buổi tối Mai nhìn tôi qua cái cửa sổ kia kìa, tối đó chắc tôi say làm Mai buồn cười lắm hả ?

- Ôm chai bia mà cứ tưởng là ôm cô nào thì không biết có thể gọi là buồn cười hay không !

Hay, cô này biết nói chuyện đây dù tuổi còn nhỏ, mới 17 và đang học ở Trung Học Quận, có lẽ Tam, Tứ gì đó.

Cũng một tối khác sang chơi, Mai hỏi tôi giải giúp một bài toán phương trình bậc 2, tôi hỏi về toán, cô ta chẳng biết gì cả, dốt toán quá, tôi giảng cho Mai – giảng mấy lần mà vẫn chưa hiểu, tôi buột miệng:

- dốt quá thế này

Mai sửng cồ:

- thì Mai đã nói Mai dốt rồi mà, chê người ta mai mốt qua uống cà phê em bỏ muối vô cho xem

- có bỏ muối cũng không giỏi toán hơn được, chịu khó làm bài tập nhiều vào, và muốn thật giỏi hơn, phải hối lộ thầy.

- Tr/U muốn Mai hối lộ gì ?

- hối lộ gì sẽ cho biết sau nhưng trước hết không được gọi tôi là Tr/U nữa, cô có phải là lính của tôi đâu.

Hai tuần sau, Xuân hỏi :

- tình hình đến đâu rồi, đã nắm tay cô ta chưa, sao mày ụt quá vậy.

Tôi trả lời:

- tao chưa nắm được tay nàng nhưng nàng nắm tay tao thì sao ?

Xuân trợn mắt :

- thật không ? vậy là mày vượt quá chỉ tiêu rồi còn gì, sao có chuyện ngược đời vậy ?

Chẳng có gì là ngược đời và sao lại không thật, chỉ tình cờ thôi, tối đó khi giải cùng Mai bài toán xong, tôi về, chợt Mai nắm tay tôi :

- em còn một câu toán nữa quên hỏi anh.

Cái nắm tay đó rất tự nhiên, rất thật thà của cô gái mới lớn nhưng không hiểu sao tôi lại không nhận ra cái thật thà đó, tôi nghịch ngợm biến sự thật thà đó thành điều có ý nghĩa hơn, tôi im lặng không nói gì nhìn Mai, sự im lặng của tôi làm Mai bối rối, chút sau nhận ra, nàng rụt tay về nhưng tôi giữ chặt lại, được một lúc, bàn tay không còn có vẻ muốn rút về nữa, hình như nó muốn được nằm yên như vậy, tay Mai mềm đi trong tay tôi và tôi biết trái tim nàng cũng đang mềm đi, 17 tuổi rồi, không lẽ không biết rung động là gì sao, còn tôi thì tỉnh táo như con sói nhìn con cừu, hai tay tôi nắm tay Mai, giờ mới thấy được tay Mai run run, sau này có nhiều bàn tay cũng run run trong tay tôi nhưng những bàn tay đó có sự xúc động khác, không tinh khiết như cô học trò nhỏ này, vậy là vấn vương rồi ư.

Một lần hành quân về, nhẩy trực thăng, người đầy sình, tắm rửa xong thì lính nói Dì năm kêu Tr/ U sang ăn cháo, vừa đói vừa lạnh, có tô cháo gà nóng, tỉnh cả người, vừa ăn tôi vừa nghĩ : vậy là sâu đậm rồi đây. Mai dốt toán nhưng lại giỏi văn chương, cứ tưởng cô học trò nhỏ ở cái quận đèo heo hút gió này thì biết gì nhưng Mai hiểu khá nhiều về thơ văn, cách nói chuyện cũng khéo léo, một lần nói về ý nghĩ này, Mai lại sửng cồ : đèo heo hút gió cái gì, từ đây về SG có 1, 2 tiếng đồng hồ chứ mấy, không được coi thường người ta ạ. Một tối, sau khi dậy Mai học, lúc về, Mai chợt đứng phắt dậy ôm lấy tôi, ô hay, tối nay sao bạo thế này, nàng thì thầm :

- hôm nay em được 18 tuổi rồi, mừng sinh nhật em đi

cách bày tỏ này là tự nhiên hay sắp đặt trước ? thây kệ, tôi ôm Mai đặt lên trán nàng nụ hôn :

- mừng em được 18, với anh, em vẫn là cô học trò bé nhỏ, còn anh vẫn là mây bốn phương trời, quen lính khổ lắm nghe em, để ý đến anh hồi nào vậy ?

- Thì cái tối anh uống bia say đó, anh và ông Tr/U Sơn nhắc về một người nào mới chết, em thấy anh buồn, rồi anh ôm chai bia nghêu ngao hát, trông anh lúc ấy thật tội nghiệp, hôm nay em 18, đến tuổi đi bầu rồi, có quyền công dân rồi, không được coi em như con nít nữa, mọi lần nói chuyện với anh, em thấy anh như chẳng để ý gì lời em cả, lúc nào cũng coi em như con nít, này anh, có phải ông Nguyên Sa yêu bà ấy lúc bà mới 13 phải không, anh trễ hơn ông ta 5 năm rồi đấy.

- Vậy ư, 13 nhỏ quá, em biết Phạm Thiên Thư chứ, thuộc thơ như em hẳn phải biết ông này, tà áo trắng mỗi chiều em học về, anh đứng nhìn lơ mơ thấy em là cô Hoàng thị Ngọ: em tan trường về, anh theo Ngọ về…Mai ngắt ngang : anh mà theo ai, anh chẳng theo mà cũng làm chết người ta đây này.

Thế ra tôi đóng ở đây cũng khá lâu mà không biết, Mai đã được18 rồi đấy. Mấy ngày sau sinh nhật Mai, ĐĐ tôi được lệnh chuyển lên Đức Huệ, hành quân chung với một ĐĐ của SĐ 9 Mỹ, hôm lên xe di chuyển, tôi thấy ánh mắt ấy khuất sau cánh cửa quán cà phê nhìn theo, chắc có ngấn lệ, đã nói rồi mà, anh là mây bốn phương trời, yêu lính khổ lắm, u uẩn chiều ly biệt như thơ Quang Dũng. Tới Đức Huệ, BCH/ ĐĐ tôi đóng chung với BCH/ĐĐ Mỹ trong nhà máy đường Hiệp Hòa, nhà máy đồ sộ to lớn cao sừng sững, đã lâu nhà máy không còn hoạt động vì chiến tranh, máy móc còn nhưng cũng không biết ai đã gỡ đi một ít. Thời gian phối hợp ở đây, tôi mới thấy cách tổ chức của quân đội Mỹ quá lớn, Tiểu Đoàn Trưởng có trực thăng riêng, ĐĐT Mỹ thì như TĐT của VN, họ cho các Trung đội hành quân riêng lẻ, ĐĐT ngồi một chỗ chỉ huy thành ra tôi cho các Trung đội phối hợp với Mỹ, không phải lội theo, một lần chạm địch, tôi dẫn Trung đội trừ bị vượt sông Vàm Cỏ tiếp ứng, đi chung với Mỹ nên họ gọi pháo binh, Cobra, các phản lực rất nhanh, còn ta hành quân pháo binh thì có nhanh nhưng các phương tiện yểm trợ khác thì chậm, có người bị thương, họ kêu Medevac có ngay. Đức Huệ gần biên giới Kampuchia nên VC nơi đây khá nhiều nhưng với phương tiện dồi dào của Mỹ, chúng không thể tập trung đông vì pháo binh Mỹ bắn suốt ngày, hơi có chút nghi ngờ là máy bay bay lên dội bom ngay, một lần hành quân mở rộng lục soát, ban chỉ huy ĐĐ tôi thoát chết trong đường tơ kẽ tóc vì mìn bẫy, người lính mang máy đá phải sợi dây căng mìn của VC, may mà chỉ có hạt nổ kích hỏa, còn trái 155 nằm chình ình như con heo dấu dưới lớp cỏ, trái pháo bị lép, nếu không, mấy thầy trò chỉ còn cách hốt xương vô poncho.

Một hôm đang ngồi nghiên cứu bản đồ khu vực hành quân ngày mai thì viên ĐĐT Mỹ kêu tôi:

- ra đây tao chỉ cho coi cái này

hắn dẫn tôi xuống dưới gần cái giếng, chỉ vào một người lính của ĐĐ tôi đang loay hoay cạo lông cái lỗ tai heo, lỗ tai còn bám đầy đất cáu bẩn, lông lá tua tủa. Hắn nói :

- lính mày ăn cái gì mà dơ quá vậy, bộ C Ration không đủ cho tụi mày à ?

Tôi mắc cở đỏ mặt, cái lỗ tai heo đó là do chính tôi sáng nay nói với anh chàng đầu bếp nấu ăn là ra chợ Đức Huệ kiếm cái lỗ tai heo, tao thèm chấm mắm nêm với chuối chát quá, cũng may, chiều đó trong chuyến tiếp tế, Mai ghé hậu cứ gửi cho tôi một cạp lồng cháo gà, cái lỗ tai heo, tôi cho người lính nấu ăn, tôi thấy họ bàn tán với nhau đi mua xị đế. Gần 1 tháng hành quân chung với ĐĐ Mỹ, ĐĐ tôi trở nên “giầu có “ lựu đạn, claymore, khói mầu…dư giả.

Sau một tháng ở đây, ĐĐ trở về mái nhà xưa, TĐ tôi vẫn còn nhiệm vụ bảo vệ BTL/SĐ, vì thông thuộc địa thế, tôi vẫn trông giữ Bình Hữu, đôi mắt đen như hạt nhãn đón tôi trong reo cười, trong tôi cũng có bâng khuâng rộn ràng , chiều đó lại có cháo gà. Tối tối tôi thường sang Mai, nàng không còn hỏi tôi nhiều về toán nữa, chuyện giờ là những nhớ nhung của những ngày xa cách, khi nói chuyện, Mai thường hay nắm tay tôi, tôi hỏi:

- nắm tay anh hoài không chán ư ?

- không, em vẫn có linh cảm rồi anh sẽ bỏ đây đi xa, giữ được anh lúc nào hay lúc đó, không anh lại bỏ đi

- thì anh vẫn nói với em rồi mà, anh là mây bốn phương trời, anh theo cánh gió chơi vơi, lính tác chiến chứ có phải lính Phủ Tổng Thống đâu.

- không, đừng làm mây bốn phương trời, hãy là những áng mây che phủ ngọn núi gì mà anh hay kể em nghe đó, ừ, đúng rồi, ngọn núi Lâm Viên nơi hồi xưa anh học ở Đà Lạt, những ngày mùa đông, mây tụ trên đỉnh núi, anh hãy như những áng mây đó, tung bay bốn phương trời làm chi, ở đây với em, tình yêu làm người ta ích kỷ, em biết ước muốn của em mong manh như những sợi tơ trời, tơ trời chỉ giữ được con ruồi, con muỗi, làm sao giữ được chân anh, em sợ ngày đó quá anh ạ .

Có níu kéo cũng không thể được đâu, đã nói rồi mà, thôi chào em, chào người con gái bé bỏng tội nghiệp, anh cũng đâu có muốn bỏ đi, nhưng lính mà em. Ít lâu sau, TĐ tôi di chuyển lên Tây Ninh, lần ra đi này tôi nghĩ khó có dịp quay lại Đức Hòa vì nơi sắp đến là nơi mịt mù khói lửa, không có những tối yên bình để chúng ta ngồi bên nhau, tình hình chiến sự biên giới có vẻ sôi động, sau thời gian dài Sihanouk cho VC sử dụng đất Kampuchia sát Việt Nam làm nơi chứa quân và vật dụng chiến tranh để tấn công miền Nam, trước đây, khi truy kích VC mà lỡ xâm phạm biên giới, Sihanouk làm rùm beng, đưa vấn đề ra LHQ, giờ ông ta bị lật đổ, Lonol lên làm Thủ Tướng, Lonol thỏa thuận với chính phủ VNCH cho ta mở cuộc hành quân biên giới đánh đuổi VC, SĐ 25 là một thành phần của cuộc hành quân này cùng với Nhẩy Dù, TQLC, BĐQ…Quân Đoàn 3 dưới sự chỉ huy của vị Tướng lừng danh Đỗ Cao Trí, người Mỹ gọi ông là Patton của Mỹ, Patton là tướng Thiết Giáp mà Mỹ đã gọi ông ta là America’s greatest General, Tướng Trí không phải là Tướng Thiết Giáp nhưng trong các cuộc hành quân ở Kampuchia, ông sử dụng TG rất tài tình trong nhị thức Bộ Binh Thiết Giáp, cuộc chiến ở Kampuchia đã tạo nên những vị Thiết Đoàn Trưởng nổi tiếng như Đại Tá Trần quang Khôi ( sau là chuẩn Tướng ), Đại Tá Quang, Đại Tá Đồng…Những vị Thiết Đoàn Trưởng này rất gần gụi với Tướng Trí vì ông luôn sử dụng họ phối hợp với bộ binh, tạo được nhiều chiến thắng vẻ vang, ngược lại Tướng Hoàng Xuân Lãm là Tướng Thiết Giáp nhưng trận Hạ Lào Lam Sơn 719, ông không sử dụng TG được như Tướng Trí.

Tháng 3-1970, quân ta rầm rộ vượt qua biên giới sau khi có lệnh là lời hiệu triệu của TT nguyễn Văn Thiệu với toàn dân : Thưa quốc dân đồng bào, khi tôi đang nói những lời này cùng đồng bào thì Quân Đội ta vừa vượt qua biên giới Kampuchia để đánh đuổi quân CS xâm lược…

Lệnh xuất phát ban ra, từng cánh quân tràn qua biên giới, ĐĐ tôi được “cõng” bởi Chi Đoàn 2 Thiết Đoàn 10, Chi Đoàn Trưởng là Đ/U Nhuận, chưa vượt được bao xa thì chạm địch liền, không phải chỉ riêng cánh quân tôi mà hầu như suốt dọc biên giới, chỗ nào cũng chạm địch, chứng tỏ chúng ung dung ở đây đã lâu, xây dựng các cơ sở hậu cần vững chắc, quân ta với hỏa lực hùng hậu cùng sự yểm trợ của phi pháo, lúc này Hoa Kỳ vẫn còn yểm trợ ta nên các cánh quân tiến như chẻ tre, chiếm mục tiêu đầu, vượt qua cánh rừng chồi tới khoảng trống, tôi thấy trải dài theo biên giới ngút ngàn, khói lửa mù mịt, máy bay quần thảo tứ tung, mồ hôi trán đổ xuống mắt cay sè với cái nóng tháng 3, tôi nhận tin cánh quân bên cạnh, người bạn cùng khóa 21 VB của Trung Đoàn 49, Đại Đội Trưởng Nguyễn văn Bình vừa hy sinh, hồi trong trường, Bình chung ĐĐE với tôi, đạn nổ ròn rã từ các khẩu 12.7 của Thiết vận xa, đạn VC xé gió bay tới khiến tôi chẳng kịp bùi ngùi cho người bạn vừa nằm xuống, chiều các mục tiêu ấn định thanh toán xong, VC bỏ lại nhiều xác cùng vũ khí, tối quây tròn phòng thủ cùng với Chi Đoàn Thiết vận xa, nằm ngửa trên cái poncho bên cạnh hầm trú ẩn mới đào, người còn nguyên quần áo, hôi rình vì mồ hôi, cát bụi của cuộc quần thảo ngày hôm nay, người lính hỏa thực mang lại bịch gạo sấy với miếng thịt ba lát :

- ăn chút đi ông thầy, sáng tới giờ ông chưa ăn gì cả

chưa ăn gì mà có thấy đói đâu, chỉ khát nước, nhệu nhạo nhai vài ba miếng, nhớ tới Mai, ngước lên bầu trời, các vì sao lấp lánh, tôi thấy đôi mắt hạt nhãn như đang nhìn mình : chàng từ đi vào nơi gió cát, đêm trăng này nghỉ mát phương nao? nghỉ ở đâu ư Mai, anh đang trên vùng biên giới đó em, với mùi thuốc súng và mùi máu người. Em ạ, như anh nói rồi đấy, đời lính khổ lắm, yêu lính cũng khổ theo, chẳng biết rồi sẽ như thế nào, rất dễ dàng như Bình bạn anh hôm nay, với anh đã đành, phải chấp nhận và quen rồi, chỉ cầu xin em đủ nghị lực thôi.

Sau mấy tháng hành quân liên tục không ngừng nghỉ, tôi được thăng Đại Úy tại mặt trận, một ngày tháng 7-1970, TĐ tôi tách ra, hành quân chung với Thiết Đoàn 15 chiến xa, tiến vào vùng Mỏ Vẹt và chạm địch nặng tại đây, mục tiêu sát bìa rừng, một ngôi làng trải dài với hàng tre dầy kiên cố, 10 giờ sáng chạm địch, sau 2 lần xung phong không chiếm được mục tiêu, hầm hố địch rất kiên cố với đủ loại hỏa lực, ta bị cháy mất 2 chiếc M41, một số bị chết và bị thương của cả Thiết giáp và BB.

Khoảng 3 giờ chiều, một chiếc trực thăng lượn vòng vòng rồi đáp xuống, tôi ở gần đó đang chuẩn bị dàn quân cho cuộc xung phong tới, nhẩy ra khỏi trực thăng là Tướng Trí và một người đàn bà người Âu, cả 2 mặc đồ dù, Tướng Trí đội cái mũ lưỡi trai mầu đen, ông thoăn thắt bước lên chiếc xe nơi tuyến đầu mà thỉnh thoảng VC vẫn cầm chừng bắn về phía ta ( chúng ta nên biết Tướng Trí rất bận rộn vì bao quát nhiều cánh quân của QĐ 3, hầu như đâu cũng chạm địch, với ông lúc đó chỉ là lệnh và lệnh + sự điều động và theo dõi các trận đánh. Ông đáp xuống đây chắc SQ Tham Mưu bay cùng ông báo cáo cánh quân này chạm nặng và chưa tiến lên được ), nhìn vào mục tiêu quan sát một hồi, tôi thấy ông ta cầm cái can gõ gõ lên cái nón sắt của Trung Tá Đồng, Thiết đoàn Trưởng Thiết Đoàn 15 :

- Đù mẻ, lên ngay nghe Đồng, cháy bao nhiêu xe tao cho bấy nhiêu, phải chiếm cho được mục tiêu trước tối nay nghe chưa.

Trung Tá Đồng đứng nghiêm chào Tướng Trí nhận lệnh, Thiết giáp và BB xốc lại hàng quân, máy bay của ta và Mỹ quần thảo gầm rú trút bom xuống mục tiêu, xong tới pháo binh, cuối cùng TG và BB căng hàng ngang nhất tề xung phong, ông Tướng 3 sao đứng ngay phía sau, cả Thiết Đoàn Trưởng và Tiều Đoàn Trưởng đều xông lên, địch còn bắn ra nhưng yếu đi nhiều, giờ thì liều, chết cũng phải xông lên chứ không còn lui được nữa, xe và Bộ Binh tràn như nước vỡ bờ, địch tung hầm bỏ chạy, ta chiếm được mục tiêu, có sự trả giá đắt, ĐĐ tôi, Ch/U Thái trung đội Trưởng hy sinh, Đại Úy Xuân, Đại Đội Trưởng ĐĐ2, bạn cùng khóa, người ra lệnh cho tôi 10 ngày phải nắm được tay Mai, bị thương nặng, Thiết giáp cháy thêm một xe và một số chết + bị thương, xác địch và vũ khí vương vãi khắp nơi, ngay lúc đó TĐT cho tôi biết Tướng Nguyễn Viết Thanh, Tư Lệnh vùng 4 vừa tử nạn máy bay khi đang điều động Quân Đoàn 4 đánh qua biên giới, chiếc CNC của ông đụng phải chiếc Cobra của Mỹ, 2 phi công Mỹ và Ban Tham Mưu + Tướng Thanh, tất cả đều hy sinh.

Có một điều thú vị và cảm động, trong một lần tiếp tế, tôi dặn Sĩ Quan chỉ huy hậu cứ mua cho cái bắp cải vì cứ ăn gạo sấy hoài, háo người quá, cái bắp cải có cộng với một cạp lồng cháo gà, viên HSQ hậu cứ theo chuyến trực thăng tiếp tế nói cô Mai lên tận Tây Ninh gửi cái này cho Đ/U, tôi gọi 3 Trung đội Trưởng sớt cho mỗi người ít cháo và mấy lá bắp cải, rau rửa qua loa vì nước rất quý, mọi người nhai ngấu nghiến, gạo sấy hoài, xót cả ruột.

TĐ tôi tạm rời vùng Mỏ Vẹt, tiến theo trục Quốc Lộ 1, đường lên Neak Luong, giữ đường cho TQLC hành quân đưa người Việt sống ở Kampuchia về, nhiều người Việt bị giết khoảng thời gian này, trong lần lục soát một ngôi làng ở vùng Kampong Trabek, vài người Tầu còn lại dẫn chúng tôi ra mấy cái giếng chỉ xuống cho coi, tôi thấy xương người, tóc tai, quần áo đầy dưới đó, họ nói trong làng có chục gia đình người Việt tất cả bị chặt đầu (cáp duồn) trong đó có nhiều trẻ con đều bị giết xô xuống giếng, thái độ lính trong ĐĐ thay đổi hẳn khi thấy điều này, tuy vẫn giữ kỷ luật nhưng đâu đó tôi thấy có sự xô đẩy và quát tháo mấy người Miên ở đây, tôi vội rút ĐĐ đi chỗ khác và ngăn chặn âm mưu của 3 Trung đội Trưởng, họ bàn với tôi là dàn dựng một cuộc chạm địch giả rồi nói: thẩm quyền xin pháo binh đi, tụi này tàn ác quá mà, tôi nói họ thôi, trong làng có đàn bà và trẻ con, không phải tất cả đều tàn ác - nếu không, với cuộc đụng trận giả, pháo binh sẽ làm không còn cái nhà nào đứng vững trong ngôi làng này.

Tôi được tin TĐ sẽ về lại Đức Hòa dưỡng quân, tin làm tôi thật vui, như vậy sẽ gặp lại Mai, xa nhau cũng mấy tháng rồi còn gì, tội nghiệp Mai, vò võ đợi chờ, còn tôi với bao bận rộn có thể quên đi được, trước khi về, ông Tiểu Đoàn Trưởng cho biết tôi có 2 ngày cho một Đại Đội lính Kampuchia( Lonnol ) theo tôi thực tập, hôm ra ngoài quốc lộ nhận ĐĐ này tôi mới tá hỏa, không phải 1 ĐĐ mà đông nghẹt tới 4,5 ĐĐ vì lính Kampuchia đi hành quân mang theo cả vợ con, gà vịt, nồi niêu soong chảo. Tối đóng quân, lính mình nằm vòng ngoài, đào hầm hố phòng thủ, họ nằm giữa còn nổi lửa nấu nướng linh tinh, tôi phải ra lệnh tắt hết lửa nhưng cũng vô ích, khuya trẻ con khóc, chó sủa, gà gáy…may là vùng này lúc đó tạm yên, giả như tối mà VC tấn công, tôi không biết lo toan sao với đám “lính” này. ĐĐT của lính Miên là 1 anh Tr/U Tầu lai, đeo 2 vạch vang trên cầu vai như quân đội Pháp, tay cầm bản đồ, địa bàn nhưng cầm cho lấy có, anh ta không biết cách sử dụng, cũng chẳng hiểu tốt nghiệp quân trường nào, nói chuyện với nhau phải dùng tiếng Pháp, may là suốt 7 năm Trung Học tôi chọn sinh ngữ 1 là Pháp nên cũng tạm hiểu nhau, họ nói tiếng Pháp rất thông thạo.

Cuối cùng chúng tôi cũng lên đoàn xe trở về Đức Hòa, có lẽ tại hậu cứ TĐ tôi vẫn còn ở đây dù SĐ đã chuyển về Cử Chi, tới nơi, Thiếu Úy Cư, ĐĐ phó nói với tôi : Đ/U cứ đi gặp chị Mai đi, để tôi sắp xếp ĐĐ cho. Tôi xuống xe jeep bước ngay vào nhà, Mai ôm chầm lấy tôi, nàng khóc chưa bao giờ tôi thấy khóc như vậy, lòng tôi cũng chùng xuống, mình cũng yêu Mai quá mất rồi, bắt đầu chỉ là tinh nghịch thôi, ai ngờ, người ta bảo đừng đùa với lửa mà. Ngày mai, tôi nhận sự vụ lệnh đi đơn vị mới : Đại Đội Trinh Sát, ở các đơn vị BB, hiếm có ĐĐT là Đ/U lắm nên việc tôi và Xuân chuyển làm nhiệm vụ khác cũng dễ hiểu. Xuân sau khi xuất viện đi làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2 , tối đó là tối cuối còn ở Đức Hòa, tôi và Mai ngồi nói chuyện tới tận khuya, lúc đứng lên, Mai quấn chặt lấy tôi, có tiếng thút thít, thân thể con gái thơm tho ấm áp, mềm mại qua làn áo mỏng, khi thấy ánh mắt tôi nhìn nàng khẽ gật đầu, Mai run rẩy :

- em xin anh, hãy giữ gìn cho em, giữ gìn cho chúng ta, giữ gìn cho ngày hạnh phúc.

Tôi thở dài, tôi trân trọng Mai, giữ cho nàng, tôi biết nếu tôi muốn hơn nữa, Mai cũng chịu thua thôi, nàng đang mềm như sợi bún, không còn là chính nàng lúc này, tôi hối hả quay ra, tôi cũng không còn là chính tôi lúc này.

Về nắm ĐĐ Trinh sát, quanh quẩn suốt ngày với núi rừng, tuy nhiên cũng thường ở Hậu cứ sau những chuyến đi nguy hiểm, những lần như vậy. tôi cho xe về đón Mai lên, bây giờ thì đã có toan tính về tương lai, về những hoạch định chính thức, trước đây cứ nghĩ lấy vợ sẽ là một người ở Sài Gòn, nhưng SG xa quá và ít có thời gian ở đây, mà con tim thì sao biết được, Mai có gì cho mình phải suy nghĩ đâu? trước mắt, nàng được tất cả, yêu mình nồng nàn, chuyện là do chai bia biết nhẩy tango, cũng buồn cười, có phải tôi xuất hiện đúng lúc và nỗi buồn “may mắn” của tôi cũng đúng lúc.

Năm 1972, chiến trường lại bùng lớn, ĐĐ Trinh Sát không còn len lỏi bờ bụi rình rập nữa mà trực diện đánh nhau với VC như một ĐĐ bộ binh, tôi và Xuân lại có duyên với nhau, tôi được tăng phái cho Xuân lúc này là TĐT/TĐ2, cuộc chiến rất khốc liệt, VC sử dụng nguyên một SĐ rải chốt từ Chơn Thành lên tới Bình Long, mục đích không cho ta dùng đường bộ tiếp tế cho An Lộc, cả tôi và Xuân đều thiệt hại nặng, thậm chí có lúc Trinh Sát hết cả Sĩ Quan mà phải để Trung sĩ coi trung đội, một lần nữa, Xuân lại bị thương vì pháo, mất mất một mắt, nó rất tiếu lâm :

- mỗi lần bị thương trước tiên tao sờ xem cái đó còn không, còn là tao yên tâm

Xuân lên Thiếu Tá và đi làm Quận Trưởng sau đó. Tôi nghĩ, giá Tướng Đỗ Cao Trí không bị “tai nạn” nổ trực thăng, có lẽ không có trận An Lộc này, Cục R của VC bị ông dí bắt, chiến trường ông mang ra xa khỏi miền Nam, ông làm chúng te tua, cái chết của ông lúc đó người ta chưa hiểu gì nhiều, cũng có suy nghĩ nào đó nhưng chưa rõ ràng, phải sau khi miền Nam rơi vào tay CS, lý do cái chết của ông ngày càng sáng tỏ hơn, bàn tay lông lá của Mỹ tạo ra sự việc này khi ông được điều động ra vùng 1 cứu nguy cho Lam Sơn 719. Đầu năm 1973, tôi rời Trinh Sát, về nắm Tiểu Đoàn 3/46, sau hiệp định Paris, tôi dẫn TĐ về bảo vệ Quận Dầu Tiếng, một quận nhỏ heo hút nằm sâu trong vùng đồn điền Michelin, ba phía trước mặt là mật khu, sau lưng là con sông, chỉ có chiếc cầu độc nhất nối liền với Quận Khiêm Hanh, có lần tôi tập họp Tiểu Đoàn nói chuyện cùng binh sĩ :

- nếu địch tấn công phải ráng mà đánh trả, đây không có đường rút, con sông đó lội qua được không hay chết đuối. Vị trí như thế này, tôi nhớ tới một Tướng nào trong chuyện Tam quốc Chí thì phải đã đóng quân dựa lưng vào cái chết như thế này, nhưng nhờ vậy mà binh sĩ phải dốc lòng chiến đấu, không còn đường nào khác.

Mai xuống xe ở Khiêm Hanh, chuyển qua chiếc xe đò vô Dầu Tiếng, Mai lên thăm không báo trước, nàng nghĩ thầm : thôi kệ, để anh ấy bất ngờ, mọi lần thì có xe đón Mai lên, hôm nay Mai cứ sao xuyến trong lòng, mấy cái thiệp cưới đã in xong, nàng muốn đưa lên ngay để : anh ấy kịp gửi mời bạn bè. Chiếc xe cũ kỹ mệt mỏi lăn trên con đường đất đỏ, dân Dầu Tiếng cũng không đông mấy nên chuyến xe cũng không đến nỗi chật chội, đường vô Dầu Tiếng là con đường độc đạo, 2 bên đã được phát quang mỗi bên 200m, khi chiếc xe còn cách ngã ba Đất Sét 3 trăm thước thì bỗng một loạt đạn vang lên từ trong bìa rừng, tiếp theo là một tràng dài nhắm vào chiếc xe, chiếc xe cũ kỹ rung lên, VC lén lút mò ra bắn cả vào xe đò dân chúng di chuyển, Mai thấy nhói ở ngực, một vệt máu loang trên chiếc áo dài trắng, chiếc áo dành cho chàng, một loạt đạn nữa vang lên, Mai giật nẩy người gục xuống, nàng thảng thốt kêu lên :

- anh ơi !

nàng thấy ánh sáng mờ dần, Mai còn thấy chiếc cạp lồng đựng cháo ngả xuống, nàng với tay muốn giữ nó lại nhưng bàn tay không đưa ra được nữa rồi, nó buông thõng xuống, mấy cái thiệp cưới Mai vẫn giữ trong tay rớt xuống sàn xe, nhiều tiếng người kêu khóc, một làn gió thổi tới, mấy tấm thiệp bay tung theo bụi đỏ.

Khi nghe tin, tôi lái xe hộc tốc ngay ra chỗ chiếc xe đò bị bắn, chiếc xe đầy vết máu và vết đạn, tôi nhặt được một cái thiệp còn lại trên xe, cầm cái thiệp, người tôi run lên, không, không phải, Mai không sao hết, em không sao hết, những người chết và bị thương người ta cho biết đã được chuyển về Bệnh Viện Tây Ninh, tôi hối tài xế chạy ngay lên đó, tới nơi, tôi xông vào, người y tá trực hỏi:

- thưaThiếu Tá cần điều chi ?

tôi nói về chiếc xe đò bị bắn ở giữa Khiêm Hanh và Dầu Tiếng

- Dạ, có 4 người chết và 6 người bị thương, mời Th/Tá theo tôi,

anh ta dẫn tôi vô một cái phòng, trên một cái bàn, tôi thấy Mai nằm đó, nàng nằm ngửa, 2 tay đặt trên ngực, chiếc áo dính đầy máu, tôi nấc lên nắm tay Mai :

- em ơi, Mai ơi, anh đây, cầm lấy tay anh

trong hốt hoảng tôi mong Mai sẽ cử động mà nắm lấy tay tôi, chớp chớp mắt khi nghe tiếng tôi nói, điều đó nghĩa là Mai chưa đến nỗi nào, hãy còn sự sống, nhưng bàn tay bất động và giá lạnh. Người y tá đến bên tôi :

- thưa Thiếu Tá, chị ấy đi rồi !

Nước mắt dàn dụa, tôi nhìn khuôn mặt ngây thơ của Mai, nàng như đang ngủ, tôi cúi hôn lên vầng trán, vuốt vuốt mài tóc rối bời vương bụi đỏ, tôi đặt lên tay nàng chiếc thiệp cưới tôi nhặt được trên xe : ôi hạnh phúc của em đây, một hạnh phúc nhỏ nhoi em đang ngụp lặn mà người ta nỡ nhẫn tâm cướp đi của em. Tôi gục xuống.

Người ta bảo rồi thời gian sẽ xóa nhòa hết nhưng cho mãi nhiều năm sau này, tôi không bao giờ quên được hình ảnh Mai nằm trên chiếc bàn ở bệnh viện Tây Ninh máu loang chiếc áo học trò, khuôn mặt ngây thơ không chút hận thù : tôi có làm gì nên tội mà sao cướp đi hạnh phúc tôi, tôi đi gặp người yêu dấu của tôi mà? sao không cho tôi hưởng hạnh phúc của ngày lấy chồng, tôi mới đặt chân vào thiên đường thì lại xô tôi ra ? - Hữu Loan còn có đồi sim để những lần hành quân nhớ về người vợ trẻ chết vùng quê xa, tôi cũng có những lần hành quân nhưng không có đồi sim đi qua mà nhớ về Mai, không còn đôi mắt hạt nhãn chờ đợi như trước, nhưng tôi vẫn còn Bình Hữu, còn căn nhà xưa đầy ắp kỷ niệm để quay về, tôi trở lại đây biết bao lần, ngôi mộ ở giữa vườn sau nhà, Mai nằm đó cô đơn, hai bên mộ, má Mai trồng mấy cây huệ trắng, trắng tinh khiết như mầu áo học trò nàng mặc khi xưa, lần nào tôi cũng đứng lặng hàng giờ trò chuyện cùng nàng, tội nghiệp em, người đi chinh chiến đầy hiểm nguy thì không sao, tội nghiệp em đang say sưa ngụp lặn trong hạnh phúc, đang hân hoan với cuộc đời mầu hồng. Trong căn nhà, cái bàn Mai thường ngồi học mỗi tối vẫn để nguyên vậy, cái khung ảnh có hình Mai 2 tay chống dưới cằm, ánh mắt nhìn tôi cười nghịch ngợm : thì đã nói người ta dốt mà, chê người ta mãi, em bỏ muối vô cà phê cho xem.

TRẦN NHƯ XUYÊN
( Trích : Đoạn Đường Chiến Binh )

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Một chút về tướng Đỗ Cao Trí

Trần Như Xuyên
Tướng Đỗ cao Trí, nói về tài chỉ huy quân sự của ông thì khó ai có thể phủ nhận, xin được có đôi chút về ông mà người viết bài có lần được chứng kiến trong một trận đánh, thật ra không đáng kể gì về một trận đánh trong suốt chiều dài cuộc đời binh nghiệp của một vị Tướng lừng danh. Tiểu sử của ông cho biết ông mang lon Đại Tá khi mới 26 tuổi, cái đáng nói không phải vì tuổi còn trẻ mà mang lon to mà là ông mang lon này dưới thời Tổng Thống Ngô đình Diệm, một Tổng Thống rất khe khắt, người ta nói là hồi đó ai được lên cấp Tá phải trình diện TT Diệm để ông xem tướng xem có xứng đáng mang lon cấp Tá không và Tỉnh Trưởng lúc đó chỉ là Đại Úy.

Khi Lonol đảo chánh lật đổ Sihanook, phía Chính Phủ VNCH có chút nhẹ nhõm vì dười thời trị vì của ông Hoàng này, Sihanook đã cho VC sử dụng biên giới Việt Miên như một nơi trú quân, hậu cần chứa mọi thứ nhu cầu chiến tranh của VC, tuy không công bố chính thức nhưng Sihanook đã cho Cộng Sản Việt Nam dùng đường biên giới để mở các cuộc xâm nhập và tấn công vào phần đất VNCH. (Ta không ưa Sihanook vì sự thân Cộng này nhưng công tâm mà nhận xét thì ông ta hơn hẳn HCM trong việc giành lại độc lập từ tay người Pháp, Căm Bốt không đổ một giọt máu, ông ta đu dây khéo léo giữa Nga, Trung Cộng và cả Mỹ nữa, Sihanook đã đưa nước ông trở thành phồn thịnh, thái bình trong khi Việt Nam triền miên trong khói lửa)



Trước khoảng thời gian Sihanook bị lật đổ ít tháng, ta cũng đã có những cuộc vượt biên âm thầm qua Kampuchia để tiêu diệt hậu cần của chúng như các cuộc hành quân của SĐ 25, nhưng đây chỉ là những cuộc hành quân lẻ tẻ, kín đáo. Để tránh rắc rối về ngoại giao, trong các cuộc hành quân âm thầm này, tất cả Binh Sĩ cũng như Sĩ Quan phải cắt bỏ phù hiệu đơn vị Sư Đoàn cũng như không được mang theo một thứ giấy tờ, hình ảnh nào cả. Qua các cuộc đột kích chớp nhoáng đó, ta khám phá ra rằng cách biên giới không xa lắm, VC đã xây dựng những kho tàng to lớn cho nhu cầu chiến tranh.

Đảo chánh Sihanook xong, Lonol có khuynh hướng thân Mỹ mà thật ra Mỹ bật đèn xanh cho Lonol làm chuyện này và từ đó, kế hoạch hành quân vượt biên để tiêu diệt quân CS trên đất Kampuchia được Bộ TTM phác thảo.

Cuộc hành quân hình như vào tháng ba năm 1970 (lâu rồi tôi sợ nhớ không chính xác), lúc đó tôi là Đại đội Trưởng( ĐĐT) của một Tiểu Đoàn(TĐ) Bộ Binh của Trung Đoàn 46 thuộc SĐ 25. Hôm đó, vị Tiểu đoàn Trưởng của tôi cho gọi các ĐĐT cầm bản đồ lên họp hành quân, nhìn các mục tiêu trên bản đồ nơi tay vị TĐT, chúng tôi mới biết mình sẽ vượt biên qua đất Miên.

Lệnh xuất phát ngày N và giờ G là 5 giờ sáng, tất cả mọi liên lạc bằng vô tuyến phải rất hạn chế, trưa thì TĐ tới điểm xuất phát, lệnh cho dừng lại bố trí phòng thủ, tất cả vẫn tuyệt đối giữ im lặng và không nấu nướng, nơi ém quân là một cánh rừng chồi, cây không lớn lắm, gạo sấy đã được đổ nước từ chỗ chuyển quân giờ lấy ra ăn, nằm tại chỗ thêm một ngày nữa, ăn gạo sấy xót cả ruột, người lính cần vụ đem theo được nửa cái bắp cải, tôi gọi 3 Trung đội Trưởng lên chia mỗi người mấy lá, xé ra ăn không cần rửa vì nước chỉ có một bi đông, uống rất hạn chế, tối đó trước khi thiu thiu ngủ, người lính mang máy đưa cho tôi chiếc radio transistor, mở thật nhỏ áp vào tai nghe, tiếng hát Duy Khánh với bài hát bình thường tôi chẳng mấy thích nhưng nó lại rất hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ: "Đêm qua biên giới, súng thù tràn lưng đồi..." tôi không biết tên bài hát là gì nhưng thật đúng trong lúc này, đang nằm nơi đây biên giới, tuy chưa có súng thù nhưng tôi biết chỉ mai hay mốt thôi sẽ tha hồ mà nghe súng thù nổ, không hiểu sao hai ngày nay chưa thấy động tĩnh, lệnh lạc gì cả.

Bốn giờ sáng, người lính mang máy TĐ lay lay tôi đưa cái combinet, TĐT cho biết một giờ nữa xuất phát tiến chiếm các mục tiêu đã chỉ định, không còn hạn chế vô tuyến nữa, tôi gọi máy phân công các Trung đội theo đội hình tiến quân, tiếng Thiết vận xa ì ì đến gần, ĐĐ tôi được chỉ định tùng thiết một chi đoàn M113 của Thiết Đoàn 10, Chi đoàn Trưởng là Đ/U Hồ Đàn, người mập mạp, râu cá chốt dài thoòng, ngồi chung xe chỉ huy, tôi mới thấy được cách thức điều động của Thiết Giáp, ĐU Hồ Đàn gầm thét luôn miệng, tay cầm cái que, mà tôi thấy tất cả Chi đội Trưởng hay Chi đoàn Trưởng đều có cái que trong tay, muốn xe quẹo trái hay quẹo phải, ông ta lấy cái que gõ vào bên trái hay bên phải người tài xế, còn lái không đúng ý, ông ta người miền Trung, luôn miệng đù mạ, gõ cái que lộp bộp vào cái nón người tài xế, sự căng thẳng của chiến trường đôi khi khiến người chỉ huy có trách nhiệm trở nên nóng nảy, cọc cằn.

Sau tôi mới hiểu tại sao phải nằm ém quân ở biên giới 2 ngày, tất cả là chờ lệnh của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội, ngay lúc các đơn vị quân lực VNCH tiến vào đất Miên thì TT Thiệu lên đài phát thanh nói chuyện với toàn dân: "... ngay lúc này đây khi tôi đang nói chuyện cùng đồng bào thì Quân Đội ta đã vượt biên qua đất Kampuchia để tiêu diệt quân VC đang ẩn núp tại đây..." xuất phát buổi sáng, trưa thì chạm địch, súng thù giờ đã tràn lưng đồi, không phải chỉ riêng TĐ tôi mà tất cả các cánh quân đều chạm địch, chúng ở đây đông quá, khi ở ngoài chỗ trống, tôi thấy khói lửa mù mịt khắp nơi, máy bay ném bom dài dọc theo đường biên giới, chúng ở đây rất đông và ỷ y là nơi an toàn hoặc các kho tàng không thể di chuyển kịp. Cuộc hành quân tiến như chẻ tre, các mục tiêu được thanh toán nhanh lẹ.

Quân Đoàn 3 dưới sự chỉ huy của Trung Tướng Đỗ cao Trí đã sử dụng hai SĐ 25 và 5 cùng các đơn vị BĐQ, Nhẩy Dù, TQLC tham dự cuộc hành quân vượt qua Kampuchia, đồng thời vùng 4 với Thiếu Tướng Nguyễn viết Thanh cũng ồ ạt tấn công vào vùng VC trú đóng.

Ngày thứ hai của cuộc hành quân, các đơn vị vẫn liên tục chạm địch, đơn vị bạn là Trung Đoàn 49 của SĐ25 bên cánh trái của tôi chạm nặng và nghe tin Nguyễn văn Bình, người bạn cùng khóa 21 Võ Bị Đà Lạt, một ĐĐT thuộc Trung Đ. 49 bị tử thương, Bình cùng Đại Đội E với tôi hồi trong trường, anh ta là Thiếu sinh quân, chưa hề nghe Bình chửi thề một câu, có bị bạn bè trêu chọc vì cái đầu cá trê thì chỉ nói được câu:" mẹ " rồi thôi. Buổi trưa nắng bụi chói chan, mồ hôi trán chảy xuống cay sè cả mắt, không kịp cho nỗi buồn khi nhận tin người bạn mới hy sinh, đạn nổ tứ tung, các cây 12 ly 7 trên các M113 đang nã đạn vào hầm hố trú ẩn của VC và pháo dồn dập trên các ổ kháng cự của chúng.
Phóng đồ hành quân lúc đầu dự trù các mục tiêu tới ngày N+4 nhưng tất cả được thay đổi, không còn N cộng mấy nữa mà theo sát tình hình biến chuyển của từng ngày, Tướng Trí, với sự tính toán và thao lược của một Tướng tài, ông tách Trung Đoàn 46, thành lập chiến đoàn 333 gồm TR/Đ46 và Thiết Đoàn 15 thẳng tiến về tỉnh Svay Rieng (Xoài Riêng), trước tiên chiếm quận Chipu rồi bao vây chiếm Svay Rieng, xong bọc trở lại Chipu tiến xuống phía Nam, xâm nhập vùng lưỡi câu và Chiến Đoàn đụng nặng tại đây, hàng ngày bay trên CNC, Tướng Trí như đọc được ở dưới đất chỗ nào VC đang trú ẩn và tại trận đánh này, tôi hân hạnh được gặp Tướng Trí.

Mục tiêu là một cái làng rộng lớn có lũy tre dầy đặc bao quanh, nằm sát cánh rừng, từ sáng tới 3 giờ chiều, ta tấn công 2 lần đều bị dội ra, cháy 2 chiếc M41 và chết + bị thương một số của cả Thiết giáp và BB.

Tướng Đỗ Cao Trí thăm binh sĩ tại mặt trận.

Có lẽ thấy mục tiêu khá nặng mà ta xung phong tới hai lần mà chưa chiếm được, khoảng 3 giờ hơn có chiếc trực thăng lượn vòng vòng rồi đáp xuống, bước ra khỏi máy bay tôi thấy Tướng Trí và một phụ nữ người Âu, cả hai mặc đồ hoa dù( tôi đoán người phụ nữ này là một ký giả?). Tướng Trí dáng tầm thước với chiếc mũ lưỡi trai mầu đen thoăn thoắt bước lên một chiếc M41 ở tuyến đầu, trong khi VC vẫn thỉnh thoảng bắn ra, dĩ nhiên ông ta ra tới đó thì Trung Đoàn Trưởng,Thiết Đoàn Trưởng phải theo ngay sau, may mắn tôi đứng gần đó vì đang dàn quân chuẩn bị cho đợt xung phong cuối cùng trước khi trời tối.

Tôi chứng kiến ông cầm cái can, gõ gõ vào nón sắt của Trung Tá Đồng, Thiết đoản Trưởng:

- Đù mẻ, lên ngay nghe Đồng, cháy bao nhiêu xe tao cho bấy nhiêu, phải chiếm cho được mục tiêu trước tối nay nghe chưa!

Trung Tá Đồng đứng nghiêm chào ông Tướng 3 sao nhận lệnh và tôi thấy Tr/T Đồng chào bằng tay trái, sau tôi mới biết ông bị thương tay phải không cử động được mấy và trước đây đã từng chiến đấu trong hàng ngũ VC rồi mới trở về Quốc Gia.

Sau đó thì đủ loại phi cơ của ta và của Mỹ nhào xuống ném bom, rồi tới pháo, mục tiêu rất bất lợi cho quân tấn công vì đó là một ngôi làng với hàng tre dầy đặc, ba mặt là đồng trống, VC đào hầm hố phòng thủ rất kiên cố với lực lượng khá đông, hình như chúng cố chết ra sức cầm chân mình để cho một thành phần quan trọng nào đó cuả chúng có thì giờ tẩu thoát, ngay lúc đó tôi nghe tin Thiếu Tướng Nguyễn viết Thanh, Tư lệnh vùng 4 vừa mới tử trận vì chiếc CNC của ông đụng phải chiếc Cobra của không quân Mỹ, như vậy QĐ3 đánh ở Lưỡi Câu, QĐ4 đánh ở Mỏ Vẹt.

Lúc dàn quân để chuẩn bị tiến chiếm mục tiêu cùng Thiết giáp, những chiếc M41 gầm rú sẵn sàng xốc tới, tôi thấy Trung sĩ nhất Thiều thuộc Trung đội 2, cũng đã có tuổi, đứng dậy từ sau gốc cây, tay làm dấu thánh giá, tôi lại gần anh ta hỏi:

- Anh sợ lắm hả anh Thiều?
- Thưa không Đại Úy.
- Tôi thấy anh làm dấu mà.
- Thưa Đại Úy, hậu cứ cho biết giấy giải ngũ của tôi đã về tới hậu cứ.
- Vậy hả, vậy anh ở đây lo gom các ba lô của anh em lại cho tôi.

Bộ Binh và Thiết giáp ào lên chiếm mục tiêu, địch còn chống cự nhưng yếu đi nhiều, gần tối mục tiêu được thanh toán, phải liều chết mà xung phong vì ông Tướng đứng ngay sau lưng, không thể nào à la de được. Ta chịu thêm một số tổn thất, trong đó, lại một người bạn cùng khóa 21 Đà Lạt với tôi, Đ/ U Lê xuân Sơn, Đại Đội Trưởng cùng Tiểu Đoàn bị thương nặng, Sơn hiện ở San Diego. Đại Đội tôi có một Sĩ quan Trung đội Trưởng hy sinh, Thiết Giáp cháy thêm một xe (khi 1 xe TG cháy, có nghĩa là cũng có vài mạng TG hoặc chết, hoặc bị thương). Địch bỏ lại nhiều xác chết cùng vũ khí.

Tướng Trí mỗi sáng bay từ Biên Hòa lên Tây Ninh, nơi đặt Bộ chỉ Huy tiền phương của Quân Đoàn trong cuộc hành quân vượt biên, tại đây, ông nghe thuyết trình về tình hình trong đêm cũng như kế hoạch hành quân của các đơn vị thuộc QĐ3 trong ngày, (thật ra các kế hoạch hành quân này tự tay ông vẽ), nếu các đơn vị chưa chạm địch, ông bay sang Nam Vang, tôi được một người bạn đi tù chung ở Sơn La ngoài Bắc, anh ta là Th/Tá phi công trực thăng kể rằng có lần lái chở Tướng Trí qua Kampuchia, lúc đáp xuống, Tướng Fernandez là Bộ Trưởng Quốc phòng của Quân đội Kampuchia đã chờ sẵn ở đấy, ông ta đứng nghiêm chào Tướng Trí, so về chức vụ thì Bộ Trưởng Quốc Phòng lớn hơn chức Tư lệnh vùng nhưng oai danh của Tướng Trí quá lớn, hơn nữa quân đội Kampuchia thì nhỏ bé và non trẻ so với ta, hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp.

(Xin được nói thêm về quân đội của Lonol lúc đó còn quá yếu, mới thành lập, trong một lần, tôi được lệnh cho một Đại Đội lính Kampuchia đi theo để học hỏi, khi tiếp nhận ĐĐ này tôi mới tá hỏa lên vì không phải một ĐĐ mà là tới 3,4 ĐĐ, lính Kampuchia đi hành quân mang theo cả vợ con, gồng gánh nồi niêu soong chảo, dắt theo cả chó, gà, tối đóng quân, lính mình nằm vòng ngoài đào hầm hố phòng thủ, họ nằm giữa lại còn nổi lửa nấu nướng linh tinh, tôi ra lệnh dập tắt hết lửa nhưng thật ra cũng là thừa vì nửa đêm trẻ con khóc, chó sủa, rồi gà gáy..., ĐĐT của ĐĐ Miên mang cấp bậc Trung Úy, đeo lon hai vạch vàng theo kiểu Quân Đội Pháp, anh ta là người Miên lai Tầu, chẳng học ở trường quân sự nào cả, có tiền và có chút học là được làm Sĩ Quan, không biết đọc bản đồ và sử dụng địa bàn, nói chuyện với tôi thì không biết tiếng Anh, chỉ bập bẹ, may nhờ hồi còn đi học, tôi chọn sinh ngữ 1 là Pháp nên cũng qua loa hiểu nhau, họ nói tiếng Pháp rất thông thạo. Sáng sau tôi xin TĐT cho tôi thôi nhiệm vụ này, sợ quá, may vùng TĐ tôi phụ trách là tỉnh Preyveng, lúc đó nơi này cũng tạm yên chứ tối đó mà VC tấn công, không biết tôi sẽ phải làm sao).

Cuộc vượt biên thành công ở vùng 3 làm nức lòng Bộ TTM, theo gương, Hành quân Lam Sơn 719 được mở ra tại vùng 1 nhưng cuộc hành quân này không được như ý, có thể Tướng Hoàng xuân Lãm chưa đủ tầm cỡ của Tướng Đỗ cao Trí, cũng có người nói đây là món quà của Mỹ tặng cho Trung Cộng để TC hiểu thiện ý của họ để rồi rồi sau đó là cuộc đi đêm của Kissinger qua đất Tầu. Hầu như tất cả các bãi đổ quân (LZ) của đơn vị Nhẩy Dù trên đất Lào như đã được báo trước cho VC, các bãi đáp đều được tiếp đón bằng những tràng pháo chính xác của quân CS Bắc Việt.

Để cứu vãn tình hình, TT Thiệu điều động Tướng Trí ra vùng 1 thay Tướng Lãm, tin này được các đơn vị Nhẩy Dù lúc đó đang bị vây khốn tại Hạ Lào đón nhận vui mừng, có người còn cho là như vậy mình sẽ thoát chết.



Một buổi sáng tháng Hai của năm 71, như thường lệ, Tướng Trí từ Biên Hòa bay lên Tây Ninh, nghe thuyết trình xong, ông bay sang Kampuchia để gặp Tướng Fernandez, trực thăng mới bốc lên được một quãng thì nổ tung, tất cả mọi người trên máy bay không một ai sống sót gồm 4 nhân viên phi hành, Tướng Trí, một ký giả người Pháp tên Francois Sully và vài Sĩ quan trong ban Tham Mưu của ông.

Ở vùng 3, Tướng Trí đã quây và gần tóm được cục R, bàn tay lông lá đã giết ông để ta không thể có cuộc chiến thắng toàn diện tại vùng 3 cũng như không muốn chuyện tương tự sẽ xẩy ra ở vùng 1, điều này được củng cố thêm cho ngày 30 tháng Tư, 1975 (không phải chỉ riêng miền Nam ta chịu sự đau thương vì sự khốn nạn của người bạn "đồng minh"(sic), mà đất nước được nói đến trong bài viết này cũng chịu sự đau thương không kém, Kampuchia sau đó hơn một triệu người bị giết bởi chế độ Pon Pot). Ta tiếc khi mất đi một vị Tướng tài nhưng không hiểu giả như ông vẫn còn sống thì liệu ông xoay sở được gì khi họ cúp hết mọi viện trợ như vậy, biết đâu, với một người tài giỏi, có tầm nhìn chiến lược rộng lớn như ông, ông có thể thay đổi được cuộc diện lắm, anh hùng tạo thời thế mà. Napoléon chỉ với 100 quân cũng gây dựng lại được cơ đồ trong cái không thể.

Từ 1970 tới 1971, quân đoàn 3 dưới quyền Tướng Trí vượt biên không hề thua 1 trận nào, đây là sự thực chứ không phải nói quá, cho đến khi ông chết và Tướng Nguyễn văn Minh lên thay, tình hình khác đi liền, đầu tiên là cuộc lui quân của TĐ11 Nhẩy Dù tại Damber của người hùng Trung tá Nguyễn đình Bảo, Đ/U Nguyễn văn Dũng, khóa 22A Võ Bị Đà Lạt chết trong trận này, sau đó, ta cứ lui dần, lui dần về, thậm chí 1972, Thiện Ngôn sát biên giới cũng bị bỏ ngỏ, rồi cuộc lui quân ở Krek, Snoul... ta co cụm lại để chịu cái mùa Hè đỏ lửa ở Bình Long, còn Tướng Trí, chưa chắc đã có trận Bình Long, cái thời ta đem chiến tranh ra ngoài biên giới đã xong rồi. Năm 1970 khi cuộc vượt biên được tung ra, các đơn vị chủ lực không phải lo toan trong vấn đề bảo vệ lãnh thổ, các tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Long, Bình Dương... được giao cho Địa phương Quân, chúng không đủ sức để mở các cuộc tấn công dù biết nhiều tinh lỵ không còn quân chủ lực đóng giữ, chúng đang lo chống đỡ các cuộc tấn công thần tốc của ta.

Bài này viết chỉ là một cái nhìn hạn hẹp của một Sĩ quan Đại Đội trưởng lúc bấy giờ. Mới đây, tôi được đọc một bài của Chuẩn Tướng Trần quang Khôi, Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ Binh viết về Tướng Trí. Bài ông viết chắc chắn chính xác và nhiều chi tiết hơn tôi vì trong cuộc vượt biên Kampuchia năm 70, Thiết Giáp rất gần gụi với Tướng Trí (ông đã cầm cái can gõ vào nón sắt của một Thiết Đoàn Trưởng, nửa như một lệnh lạc, nửa như một người anh dạy dỗ người em), Kỵ Binh của Tướng Khôi đã được ông sử dụng tài tình và thành công.

Trần Như Xuyên

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Người con gái sông Hương

(Một câu chuyện có thật)
Cuộc chiến Việt Nam đã để lại biết bao nhiêu cuộc tình éo le sầu thảm.

Một thời để yêu và một thời để chết. Một thời bên nhau, đại bác xa xa vọng về và hỏa châu thắp sáng chân trời. Rồi tù đầy chia cắt. Anh trở về dang dở đời em. Nhiều trường hợp sau hơn 10 năm ngục tù, anh trở về , em đã đem con qua Mỹ và đi xa hơn nữa, em đã sang ngang. Cũng như hàng trăm người khác, chuyện cô gái sông Hương mà tôi kể cho quý vị hôm nay cũng vậy mà thôi.

Image
Cô Lan Hương

Nhưng đây là câu chuyện trong gia đình anh chị em cùng khóa của chúng tôi, xin kể lại để quý vị nghĩ rằng đây là khổ đau hay hạnh phúc.

Ðặc biệt đây là câu chuyện liên quan đến mặt trận Quảng Trị năm 1972.

Chàng là sĩ quan thủy quân lục chiến, tốt nghiệp Ðà Lạt, cùng khóa với chúng tôi. Năm đó đã trên 30 tuổi, ly dị vợ, sống độc thân, đẹp trai và có thể nói là hào hoa phong nhã.

Ðời thủy quân lục chiến, 12 tháng anh đi, nay đây mai đó. Còn nhớ bài ca của lính mũ xanh. Tháng hai đem quân ra Huế... và ở đó trung tá Nguyễn đã gặp cô Lan Hương, sinh viên văn khoa, người con gái sông Hương. Lúc đó vào đầu thập niên 70, em mới 20 tuổi. Cô gái Huế cũng có nhiều bạn trai theo đuổi và phần cô cũng rất đào hoa. Ðược coi là người đẹp văn khoa xứ Huế. Gặp chàng sĩ quan Bắc Kỳ, áo mầu lính biển với mũ xanh, mang vóc dáng của người hùng thời chinh chiến, Lan Hương bỏ tất cả để theo chàng.

Chị cả một gia đình lễ giáo bảo thủ, cha mẹ cô hoàn toàn chống đối cuộc hôn nhân hết sức phiêu lưu. Anh chàng Bắc kỳ hơi lớn tuổi, quá khứ chẳng biết ra sao, đi thứ lính không biết chết ngày nào, không ai lại muốn con gái sớm thành góa phụ.

Nhưng cô gái sông Hương bướng bỉnh đã bỏ nhà theo sư đoàn thủy quân lục chiến vào Saigon mất tăm dạng. Nàng chỉ trở về với đứa con trong bụng để rồi gia đình cũng phải đành chấp nhận cho chàng rể bất đắc dĩ ra mắt nhạc gia và chờ đón đứa cháu ra đời.

Lúc đó đúng vào giai đoạn trung tá Nguyễn cùng với lữ đoàn đang chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị. Lan Hương đau bụng vào nhà thương khi Bắc quân tấn công thủy quân lục chiến tại Ái Tử.

Hương kể rằng đại bác chẳng biết từ đâu vọng về ngày đêm. Rồi bom nổ, tiếng máy bay xé ngang trời. Dân chúng bị thương, bị chết đem vào bệnh viện cho đến ngày 6 tháng 4 năm 1972 đứa con trai đầu lòng của cô gái sông Hương ra đời. Ðặt tên cháu là Vũ.

Cũng ngày hôm đó, từ mặt trận trung tá Nguyễn bay trực thăng về hậu cứ, rồi xe nhà binh cùng với binh sĩ ào vào thăm vợ con được ít phút rồi lại ra đi.

Lính tráng đi với ông thầy, súng đạn đầy người, áo quần tơi tả, đến rồi đi tưởng như trong phim ảnh.

Cô sinh viên nay trở thành bà mẹ trẻ ôm con khóc không biết rồi đây anh có trở về không ? Ðó là những ngày đầu của người con gái nếm mùi đau thương chinh chiến. Mấy năm trước, dù Mậu Thân với bom đạn và xác người chôn ở vườn nhà, tuy có sợ hãi nhưng vẫn còn ở tuổi ngây thơ. Bây giờ chiến tranh mới thâm nhập vào da thịt.
Image
Lan Hương với quân phục Thủy Quân Lục Chiến

Suốt 6 tháng dài từ tháng 4 tới tháng 9 năm 1972 Lan Hương thực sự sống với chiến trường Quảng Trị. Theo tin chiến sự mỗi ngày. Quân ta quân địch đánh nhau ở đâu.

Thủy quân lục chiến rút lui ra sao, rồi đơn vị về Huế dưỡng quân để lên đường vượt Mỹ Chánh thế nào.


Người con gái sông Hương cùng thở theo hơi thở của cả đoàn quân mũ xanh. Khi đánh vào Cổ Thành, lính bên ta chết bao nhiêu, xác đem về đầy các xe nhà binh, máy bay chở về Saigon không kịp còn nằm chờ ở phi trường.

Cô sống trong những cơn ác mộng ngày đêm, không đêm nào là không có cơn mộng dữ. Ðứa con đầu lòng đã sống trong niềm lo bất tận của mẹ.

Tiếp theo là 1 tin vui trong giai đoạn mới của binh nghiệp. Trung tá Nguyễn đổi về Saigon làm trung đoàn trưởng 1 trung đoàn bộ binh. Mặt trận miền Ðông cũng không kém phần ác liệt, tuy nhiên không khí thủ đô làm cho gia đình có được những giây phút tương đối an toàn.

Mới đây, từ bên Arizona, đọc những bài viết về trận Quảng Trị và dự trù làm phim, cô Lan Hương đã viết cho gia đình tôi một đoạn email.
“Ðọc những chuyện về trận Quảng trị 37 năm về trước, em hết sức xúc động. Ðó là một phần cuộc đời của em không bao giờ quên được. Cuộc đời làm vợ lính thủy quân lục chiến, làm mẹ lần đầu. Và do những tình cờ em lại quen biết với gia đình anh chị suốt bao năm nay.”

Tháng Tư, ngày định mệnh

Mặc dù là bạn cùng khóa, nhưng tôi không hề biết về gia cảnh của trung tá Nguyễn. Hai tuần trước ngày 30 tháng 4-1975, tôi có dịp đi cùng người anh của Nguyễn lên chiến trường miền Ðông để thăm trung đoàn tại Bến Cát. Anh của Nguyễn là trung tá Tâm, cùng làm việc với chúng tôi tại Tổng Tham Mưu.

Xem tình hình tại chỗ, thấy hoàn cảnh của Nguyễn, với trách nhiệm chỉ huy tại chiến trường, rõ ràng là việc di tản hoàn toàn không có điều kiện.

Sáng 30 tháng 4-1975, chúng tôi đi bằng tàu quân vận tại Khánh Hội, theo sau đoàn tàu Hải quân. Gia đình anh Tâm chạy theo chúng tôi lại có cả cô em dâu và 1 đứa con 3 tuổi. Cô em dâu lại đang mang bầu, chính là Lan Hương của trung tá Nguyễn. Người con gái sông Hương của thủy quân lục chiến và đứa con trai là thằng bé ra đời trong thời gian mùa hè 72 tại Quảng trị.

Mang bầu đứa con thứ hai, với thằng bé 3 tuổi, chạy theo anh chị, xuống tàu ra khơi. Lúc đó, thực sự tất cả chúng tôi cũng mơ hồ không biết đi đâu. Có thể về miền Tây, ra Phú quốc, ra Côn sơn theo Hải quân hay chờ tàu Mỹ vớt. Nhiều gia đình hy vọng thoát cơn hồng thủy, nhưng Lan Hương tan nát trong lòng. Biết thế này em ở lại Saigon chờ anh Nguyễn.

Sau cùng, trải qua chuyến hải hành đầy nước mắt, mẹ con theo anh chị đến đảo Guam thì cô quyết định xin ghi danh theo con tàu Việt Nam Thương Tín để trở về. Tuy nhiên vì sắp đến ngày sanh, lại thấy những người xin về có những hoạt động đấu tranh quá dữ dội nên sau cùng cô ở lại. Khóc thì vẫn khóc.

Qua đến miền đông nước Mỹ, Lan Hương sanh đứa con trai thứ nhì trong trại tỵ nạn Fort Chaffee đặt tên là thằng Việt.

Họ Ðạo miền Trung Mỹ bảo trợ cho Lan Hương nuôi con. Hai đứa bé còn thật nhỏ. Những bà vú Hoa Kỳ tình nguyện thay phiên đến trong nhà trông con để mẹ đi học. Xứ Huế với dòng sông Hương, gia đình cha mẹ, các em vẫn xa tít mù khơi. Không có tin tức gì về anh Nguyễn. Nào biết còn sống hay chết. Ðã đi tù hay mất tích.

Những buổi tối mùa đông của miền băng giá, cô vẫn lặn lội đi học. Xa cách những vùng có đông người Việt. Gia đình anh chị bên nhà Nguyễn cũng bận rộn về sinh kế. Những đứa con còn nhỏ dại. Cô sinh viên văn khoa của sông Hương lầm lũi trở thành bà mẹ trẻ học trò tỵ nạn trong kiếp sống cô đơn.

Lỡ bước sang ngang

Trong hoàn cảnh đó, trải qua gần 5 năm hấp thụ nền văn minh Mỹ quốc, Lan Hương gặp ông giáo sư dạy chương trình điện toán. Ông thầy Mỹ cũng đã ly dị vợ từ lâu đem lòng thương yêu cô gái Việt và xin cưới.

Trung tá Tâm, anh của Nguyễn, điện thoại cho chúng tôi nói rằng 2 người đến nói chuyện để xin phép được lập gia đình. Tuy là vai anh chồng và là bác của những đứa con nhưng làm sao trả lời được.

Ai mà có thể quyết định Yes hay No.

Nếu không đồng ý thì cũng không ngăn cản được. Vả lại, nếu cô Hương ở vậy làm sao nuôi con thành người . Những đứa nhỏ sắp sửa vào trường. Rồi trung học, đại học. Tin nhà không có. Biết Nguyễn sống chết ra sao và sẽ chờ đến bao giờ.

Hơn nữa cũng chẳng phải thuần túy vì sinh kế. Cô gái sông Hương ngày xưa đã có một thời nhiệt tình để yêu. Ðã có can đảm bỏ nhà đi theo sư đoàn thủy quân lục chiến.

Ngày nay nàng đã tìm thấy hơi ấm tình yêu mới bên cạnh ông thầy đại học vào những lớp tối mùa đông. Cô ở vào tuổi 30 khi gặp anh chàng người Mỹ, cũng cao lớn đẹp trai vững vàng như trung tá Thủy quân lục chiến của mùa hè Quảng Trị ngày xưa.

Ngày cưới đã ấn định. Tháng 7 năm 1980. Hai đứa con trai nhỏ vô tư vui vẻ làm quen với người cha Hoa Kỳ bao dung và tận tụy.

Nhưng số mệnh vẫn còn nhiều cay đắng. Ba ngày trước khi làm đám cưới, Lan Hương nhận được thư nhà từ Huế gửi qua. Kèm theo là mẩu giấy nhỏ nhắn tin của Nguyễn, còn sống, vẫn ở tù, chẳng biết ở đâu. Không biết còn sống được bao lâu. Nhưng còn sống.

Lan Hương nhớ lại, những ngày xa xưa của năm 80, gần 30 năm về trước là những giờ phút hết sức trăn trở. Vui mừng cho 2 đứa con vẫn còn bố. Nhưng bẽ bàng cho duyên phận. Sau cùng, đám cưới vẫn tiến hành qua những ngày đầy nước mắt.

Rồi ngày tháng trôi qua, cuộc sống trên đất Mỹ với người chồng yêu thương, hết sức quân tử đã tạo thành 1 gia đình kiểu mẩu. Lan Hương có nhiều cơ hội giúp đỡ cha mẹ và các em. Gửi quà về tiếp tế cho Nguyễn trong trong trại tù từ Bắc vào Nam.

Từ trong trại, anh Nguyễn mơ hồ biết là vợ con đã qua Mỹ nhưng không có nhiều tin tức. Sau hơn 13 năm “ lao động cải tạo “ người anh hùng TQLC một thời được trở lại Saigon.

Biết tin vợ con hạnh phúc trong gia đình mới. Anh tìm lại người vợ cũ, làm hồ sơ HO đưa tất cả qua Hoa Kỳ. Ðịnh cư tại miền Trung Mỹ. Tuy giấy tờ là 1 gia đình nhưng Nguyễn vẫn sống độc thân như thời kỳ trước 75 . Gia đình mới của Lan Hương bây giờ đã dọn qua sống tại miền Tây.

Anh trở về, dang dở đời em...


Mùa xuân năm 1991, cô gái sông Hương giờ đây đã 40 tuổi, đem 2 con qua miền Ðông gặp bố lần đầu tiên. Trước khi đi, người chồng Mỹ cầm tay Hương mà nói rằng: “Em hãy đi và thử hỏi lòng mình 1 lần cho rõ ràng. Nếu đây là lần chúng ta chia tay, anh cũng đành chấp nhận. Chuyện của chúng ta sau 10 năm, đến đây là đoạn cuối. Nhưng nếu em trở lại, thì xin nói lời chia tay rõ ràng với Mr. Nguyễn. Ðối với anh, Nguyễn luôn luôn là 1 người anh hùng. Nếu cần thì anh cũng phải hy sinh. Cảm ơn em đã cho anh một gia đình trong 10 năm hạnh phúc.

Tiếp đến cuộc gặp gỡ đầy đau thương của vợ chồng và bố con ông HO. Trời mùa đông Hoa Kỳ hình như có cả cơn gió Lào thổi về Quảng trị. Nguyễn cũng có tâm trạng ước mong đoàn tụ nhưng rồi chợt biết là đã ngàn trùng xa cách. Nàng đã có gia đình mới. Mẹ con thấm nhuần văn hóa Mỹ. Anh không thể và cũng không có khả năng phá vỡ được bức tường ngăn cách đã xây dựng từ 15 năm qua.

Ðành để cho định mệnh đóng vai trò quyết định. Dự trù ra đi 1 tuần nhưng 4 ngày sau Lan Hương đã đem con trở về với ông bố Mỹ. Và 1 lần nữa người cha Hoa Kỳ sung sướng đón mẹ con Việt Nam trong vòng tay mở rộng. Gia đình Lan Hương sống tại San Francisco nên có cơ hội gần gia đình chúng tôi như cô em gái. Chúng tôi biết hết gia cảnh, và cô cũng vui lòng kể hết chuyện đời.

Cay đắng nở hoa...

Tháng 5 năm 2002, chúng tôi nhận được thiếp mời đi dự đám cưới cháu Việt tại Arizona. Bác sĩ Việt 27 tuổi lấy cô vợ Mỹ, bạn học thời sinh viên tại nơi tiểu bang đồng khô cỏ cháy nhưng mang đầy truyền thống hết sức Hoa Kỳ.

Gia đình nhà vợ giàu có và bề thế. Bạn bè anh chị em nhà cô dâu Mỹ rất khích động ồn ào khi đón được chú rể bác sĩ Việt Nam đẹp trai độc đáo như tài tử Kong Fu Bruce Lee.

Lễ cưới cử hành long trọng tại nhà thờ. Ông bố vợ đại diện gia đình nhà gái chào mừng nhà trai và quan khách. Nhà trai của bác sĩ Việt gồm cả 2 quốc gia Hoa Kỳ-Việt Nam từ bốn phương kéo về.

Ông bố chồng Hoa Kỳ đứng lên giới thiệu ông bố chồng Việt Nam là trung tá Nguyễn của chúng ta. Vị giáo sư điện toán của đại học nói rằng đây là người anh hùng Thủy quân lục chiến Việt Nam, đã chiến đấu 20 năm cho miền Nam tự do từ Tết Offensive 68 cho đến Easter Offensive 72. Ðã trải qua hơn 13 năm làm tù binh trong trại tù cộng sản. Mr. Nguyễn là anh hùng của ngày xưa và là anh hùng của ngày hôm nay.

Image
Hình 3 người cha của bác sĩ Việt, Cha nuôi, Cha ruột và Cha vợ

Với tư cách là bạn bè và là khách của nhà trai, tôi có dịp lên tiếng nhắc lại những ngày Nguyễn chiến đấu tại Quảng Trị, những ngày anh ở lại Bến Cát cho đến khi Tư lệnh sư đoàn tự vẫn và ông bị bắt vào tù. Mrs. Nguyễn mang bầu đi cùng chúng tôi ra khơi, được tàu Mỹ vớt, sanh cháu Việt trong trại tỵ nạn. Ðặt tên Việt để nhớ mãi về quê hương. Và hôm nay... Không khí cảm động và hơi căng thẳng, nên chúng tôi tìm cách kết luận nhẹ nhàng,... và hôm nay, Dr.Việt bỏ người cha Marin Corp Việt Nam và cả người cha giáo sư đại học Hoa Kỳ để về ở rể với người cha vợ Arizona chỉ vì cậu bác sĩ của chúng tôi đi theo tiếng gọi của ái tình...

Tiếp theo, MC là em gái của cô dâu giới thiệu bà mẹ Lan Hương đi lên chứng kiến lễ cưới của con trai. Ông chồng cũ Việt Nam đi 1 bên, ông chồng hiện tại Hoa Kỳ đi 1 bên. Cô gái sông Hương khoác tay cả 2 chàng đi lên bàn thờ. Quan khách vỗ tay tán thưởng còn nhiều hơn là dành cho cô dâu chú rể.

Trong đời chúng tôi, chưa từng dự 1 đám cưới nào như vậy. Chú rể mới chụp hình kỷ niệm với 3 ông bố. Bức hình là một di tích lịch sử của gia đình.

Họp khóa mùa Xuân

Tháng 3 năm 2004, kỷ niệm 50 năm của 1 khóa quân trường. Anh em chúng tôi vào trường Ðà lạt tháng 3 năm 1954. 50 năm sau anh em gặp lại tại Orange County, điểm danh xem ai còn ai mất.

Cô Lan Hương đến dự đi cùng gia đình chúng tôi. Anh Nguyễn độc thân từ miền Ðông về gặp anh em. Ði cùng gia đình trung tá Tâm, chúng tôi đều là những ông già 70 tuổi.

Riêng cô gái sông Hương vẫn còn trẻ như ngày xưa. Anh em họp mặt hết sức cảm động. Giới thiệu từng trung đội của năm 1954 xa xôi. Thời gian đó chúng tôi xa Hà Nội năm lên 18 chưa từng biết yêu. Ðến năm 1975 thì bao nhiêu mộng đẹp bay ra thành khói tan theo mây chiều.

Từ Vũ thế Quang, Nguyễn hữu Luyện và anh Nguyễn của đại đội 5, cho đến các bạn của đại đội 6 như Lại Thọ, Trần quốc Lịch, Lê xuân Ðịnh.

Tiết mục sau cùng là người đẹp trao vòng hoa chiến thắng một đời cho các chiến sĩ cao niên. Chị Thiều, nữ sinh Sài Gòn trao vòng hoa cho nhẩy dù Ngô quang Thiều như chuyện tình năm xưa của thời chiến dịch Hoàng Diệu. Lan Hương của xứ Huế trao hoa cho anh Nguyễn, thủy quân lục chiến.

Bây giờ anh Thiều và một số bạn khác đã ra đi, nhưng Nguyễn và Lan Hương vẫn còn đây. Vẫn là cha mẹ của những đứa con, là ông bà của các cháu, nhưng chàng trai Hà Nội và cô gái xứ Huế chỉ còn biết nhau trong tình bạn.

Vì đây là chuyện thật nên vào tháng 10 năm nay 2009, nếu các bạn tò mò muốn biết mặt những nhân vật từ trong tiểu thuyết bước ra cuộc đời, thì xin đến San Jose. Khóa chúng tôi họp mặt lần cuối, kỷ niệm 55 năm kể từ khi ra trường tháng 10 năm 1954.

Sau này, có lẽ lực bất tòng tâm. Năm 2014 kỷ niệm 60 năm nhập ngũ, anh em chúng tôi sẽ tổ chức tại gia. Nhà ai nấy làm. Chỉ có thể mời cô Lan Hương đến dự. Vì cô gái sông Hương mãi mãi tuổi 20.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Nỗi buồn mùa Tạ Ơn

Phạm Hồng Ân
Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày lễ Tạ Ơn, sau khi đi nhà thờ, tôi liền phóng xe một hơi đến đường 50, ở tận East-San Diego. Tới căn nhà nhỏ cổ kính, có đám bìm bịp xác xơ thả ngọn phủ kín mái sau, tôi mới tấp vào lề, tắt máy xe, rồi buồn bã ngó vào căn nhà mà trầm ngâm nhớ đến những người ơn, bây giờ đã biệt tăm, không biết chừng nào mới gặp lại.

Tháng Chín năm 1993, gia đình tôi qua Mỹ theo diện HO. Những ngày đầu tiên ở San Diego, trong căn apartment rộng rãi đầy đủ tiện nghi, gia đình tôi có cảm giác như vừa đến một xứ sở thần tiên nào đó. Vài ngày sau, một bà Mỹ già đến gõ cửa. Bà tự nhiên tiến đến bắt tay chúng tôi và ôm từng người một vào lòng.

- Sao? Các con thế nào? Có khỏe không?

Tôi ngơ ngáo như người từ cung trăng vừa rớt xuống. Bà già Mỹ nào đây? Bà đi lộn nhà? Bà nhìn lầm người chăng? Tại sao bà tự nhiên quá cỡ thợ mộc, và thân thiết với mình quá đột ngột như đã từng quen biết với nhau từ lúc nào? Vợ tôi cũng hoảng lên, chạy vội đến bên tôi, nói nhỏ:

- Ông ơi! Ông phải cảnh giác nha! Không chừng ở đây cũng giống như ở Sài Gòn. Người ta lường gạt nhau ghê lắm!

Bà Mỹ già vẫn nhoẻn miệng cười với chúng tôi. Bà âu yếm xoa đầu thằng con tôi, và chầm chậm nói:

- Sao? Các con thế nào? Các con không biết nói tiếng Anh à? Good or no good?

Tôi lạnh nhạt nhìn Bà:

- Bà có lầm ai với chúng tôi không? Chúng tôi vừa mới đến đây, từ Việt Nam.

- Đúng rồi. Các con gồm ba người. Có phải các con tên này không?

Bà móc trong túi ra tờ giấy, lật lên, đưa tôi coi:

- Tên các con này! Đây, đúng không?

Tên của chúng tôi thật rồi. Trong giấy, người ta còn ghi rõ địa chỉ và số phòng apartment của chúng tôi nữa. Tôi chưa kịp rõ nguồn cơn, bà già Mỹ đã tiếp lời:

- Mẹ ở cơ quan thiện nguyện, có nhiệm vụ giúp đỡ các con . Mẹ tên là Maurice. Còn con, tên là “en” phải không?

Mẹ Maurice tự nhiên quá, thân mật quá, khiến tôi gọi trả lại bà la “mom” chẳng chút ngượng ngùng.

- Con xin lỗi Mẹ. Mẹ tới thăm chúng con, vậy mà chúng con vô tình không biết. Tên con là AN, không phải đọc là EN, Mẹ ạ!

Bà xuýt xoa quay qua vợ và thằng con tôi:

- Còn cô này và thằng này? Cái tên cũng khó kêu quá!

- Vợ con tên là T…U…Y…E…T…Còn thằng con tên là C…U…O…N…G…

Mẹ Maurice vừa cười vừa lắc đầu. Bà đọc tới đọc lui, vẫn lọng cọng, vẫn không thể gọi tên vợ và thằng con tôi một cách chính xác. Cuối cùng, Mẹ dắt tôi ra xe, mang vào nhà lỉnh kĩnh những túi xách. Mẹ vui vẻ bày từng món lên chiếc thảm màu vàng rực.

- Đây là bình trà và sáu cái tách dễ thương. Đây là lô dĩa chén cho các con dùng bữa. đây là chậu rửa rau, bình pha cà phê, máy xay sinh tố, máy xay thịt. Còn cái này là nồi nấu cơm, nồi hầm thịt, chảo chiên trứng…

Vợ tôi trố mắt nhìn từng cái. Nàng rất đỗi vui mừng vì được làm chủ những vật dụng mà từ trước tới giờ nàng chưa bao giờ chạm tay tới.

- Con rất cám ơn Mẹ. Mẹ đã tặng các con những vật dụng quí giá. Khi xài chúng, chắc con sẽ luôn nhớ đến Mẹ.

- Mẹ không cần cần các con nhớ Mẹ đâu. Mẹ muốn phần nào hàn gắn lại vết thương mà thời gian qua chính phủ Mỹ đã bạc đãi các con trong chiến tranh Việt Nam.

Tôi cảm động đến rưng rưng nước mắt. Mẹ Maurice đã làm tôi nhớ lại chiến trường, nhớ đến đồng đội. Tội nghiệp cho tuổi trẻ chúng tôi, vừa lớn lên, xếp bỏ bút nghiên để hiến thân bảo vệ đất nước. Và đau đớn thay, chúng tôi bị bức tử, bị lùa vào ngục tù một cách tức tưởi.

- Bây giờ Mẹ có việc phải đi ngay. Ngày mai hai đứa con của Mẹ: thằng David và con Ann sẽ đến đây dẫn các con đi chợ. Chào các con nha! Chúc các con một ngày tốt đẹp.

Tôi đưa Mẹ Maurice ra cổng. Nhìn dáng Mẹ tất bật, vội vã – tôi chợt nhớ đến Mẹ tôi ở Việt Nam. Ôi! Những bà Mẹ, dù khác giống nòi, khác màu da…đều có chung một tấm lòng giống nhau – một tấm lòng bao dung, độ lượng… cao như núi non, rộng như biển cả.

Đúng như lời Mẹ Maurice hứa, trưa hôm sau, có hai vợ chồng trẻ người Mỹ đến gõ cửa phòng tôi.

- Chào ông bà. Xin giới thiệu tôi là David, còn vợ tôi là Ann. Chúng tôi đến đây để đưa ông bà đi chợ. Mời ông bà ra xe.

Ann đưa vợ tôi vào một ngôi chợ Mỹ. Còn David chở tôi đi lòng vòng. Hắn tắp xe vào những khu có cộng đồng người Việt sinh hoạt, giới thiệu với tôi từng chi tiết. Trò chuyện một lát, hắn và tôi thân thiện nhau ngay.

- Mày có thích ra biên giới Mễ nhìn cho biết không?

Tôi ngập ngừng, ngần ngại:

- Ở gần đây không? Xa thì thôi. Sợ làm phiền mày.

- Gần đây. San Diego sát với biên giới Mễ mà. Mày chưa coi bản đồ sao?

David chạy một hơi đến biên giới. Hắn lái xe giỏi thật! Hắn xàng qua lách lại điêu luyện như tên nài chơi ngựa trong trường đua. Cuối cùng, hắn dừng lại trên một đỉnh cao.

- Nhìn kìa! Mày có thấy border/biên giới phía tay phải không? Bên kia là Mễ. Mày sẽ có dịp qua đó du lịch, khi mày cầm thẻ xanh trong tay.

Tôi nhìn border phía trước. Border chỉ là một cánh cổng rộng cho sự ra vào hợp pháp giữa hai bên. Mù mờ tít xa là nước Mễ bao la. Cũng những cụm mây xám xà xuống với hàng loạt dãy núi kéo dài.

David đưa tôi về Apartment cũng vừa lúc Ann và vợ tôi xách lỉnh kỉnh những túi thức ăn vào nhà. Vợ tôi không giấu được nỗi vui mừng, cứ cười toe toét:

- Gần năm chục đồng thức ăn đó anh ạ! Mình không dám mua nhiều, nhưng chị Ann cứ bảo: lấy đi, lấy đi! Chị sẽ trả tiền cho. Mình ngại quá anh à!

Từ đấy, gia đình tôi và gia đình Mẹ Maurice gắn liền với nhau như bóng với hình. Cuối tuần, David lái chiếc truck đến nhà gọi tôi đi làm công tác thiện nguyện. Công tác chỉ vỏn vẹn vài tiếng đồng hồ.Chúng tôi thường đến giúp đỡ những người già neo đơn. đôi khi giúp họ ăn uống. Đôi khi dọn dẹp rác rến trong garage. đôi khi cắt cỏ xung quanh nhà. đôi khi di chuyển một món đồ nào đó qua nơi khác. Lần đi nào, Mẹ Maurice cũng dành cho tôi một phần ăn to tổ bố. Và sau chuyến công tác, Mẹ luôn thân thiện đặt vào túi tôi những tờ giấy bạc mười đồng.

Một hôm, David lù lù tới, trao tận tay tôi một chiếc xe đạp mới toanh, và một tấm giấy của Mẹ Maurice:

“Certificate chứng nhận
chiếc xe đạp này của AN
do Mẹ Maurice thân tặng.”

Trước khi về, David còn nhấn mạnh:

- Mẹ có dặn, mày nhớ đạp xe đến thăm Mẹ vào mỗi ngày cuối tuần.

Nghe lời Mẹ, cứ mỗi cuối tuần, tôi đạp xe từ đường 43 đến đường 50 thăm Mẹ. Mẹ ở với vợ chồng David trong một ngôi nhà nhỏ nhắn, nhưng rất xinh xắn. Tôi thích những hàng cây xung quanh nhà, David trồng đủ loại, từ cam, quít, chanh... đến nho, lê, táo.

Buổi sáng, Mẹ Maurice thường ngồi uống cà phê với Ann nơi chiếc bàn bằng đá, dưới bóng mát của tàng cam xum xuê trái. Lúc nào Mẹ cũng để dành cho tôi một phần hot dog với tách cà phê sóng sánh hương vị. Mẹ luôn xem tôi như một người con trong gia đình. Tôi cũng vậy. Tôi tự nhiên như anh em với David từ lâu, tôi cần cù bầu từng nhánh cam, chiết từ cành quít cho David trồng thêm trên phần đất trống xung quanh nhà. Nhìn những nhánh cây mọc rễ trắng xóa trong bầu, Mẹ Maurice thích chí cười ha hả:

- Thằng này giỏi thật! Vậy mà thằng David không biết cứ xách tiền đi mua từng cây về trồng. Nhờ con, bây giờ Mẹ chỉ cần chiết nhánh, rồi chờ ngày bén rễ đem xuống đất vun phân tưới nước. Vừa tiết kiệm tiền, vừa tiết kiệm công. Hay quá!

Ngày qua ngày, tám tháng trợ cấp của chính phủ Mỹ vùn vụt trôi qua. Tôi chưa kịp có ý định tìm việc làm thì Mẹ Maurice đã nhắc David:

- Thằng An sắp hết trợ cấp. Ngày mai con dắt nó xin việc làm đi!

David nheo mắt, ngó tôi từ đầu tới chân:

- Ê, ở Việt Nam mày làm nghề gì?

Tôi cười hề hề, rồi đưa ngón tay trỏ lên, cong lại:

- Bóp cò.

- Trời đất! Mày đùa hay nói thật, thằng quỷ?

Mẹ Maurice chêm vào :

- Thì nó đi lính, ngày xưa…

David nhảy chồm lên, hớn hở :

- Vậy, tao có job cho mày rồi.

- Job gì?

- Security.

Ngày mai, sáng sớm, chưa kịp nhâm nhi ly cà phê đầu ngày, tôi đã thấy chiếc truck của David xà ngay cổng apartment. Hắn tức tốc bốc tôi lên xe, chạy một mạch đến các hãng security nằm trong vùng San Diego. Đi tới đâu, khi nhìn bộ vó chưa đầy 48kg của tôi, ai ai cũng lắc đầu từ chối. Tức quá, David nổi khí xung thiên, vừa chỉ vào người tôi, vừa lớn tiếng với ông Mỹ, chỉ huy toán security:

- Ê! Mấy ông đừng coi thường thằng này nha! Nó chuyên môn bóp cò ở xứ nó đó. Ê! Nó là sĩ quan chỉ huy, thâm niên công vụ… Mấy ông biết không?

Toán security lao nhao, tên chỉ huy phải chạy đến gần David, xuống nước nhỏ :

- Khi nào opening job, tôi hứa, tôi sẽ gọi điện thoại cho ông.

David lôi tôi phóng lên xe, trước khi rồ máy chạy, hắn còn nói vói theo tên chỉ huy :

- Ê! Hứa giữ lời nha! Tao chờ điện thoại tụi bây đó.

Mẹ Maurice buồn rầu khi nghe David kể lại chuyện tìm job của tôi. Mẹ cũng rưng rưng nước mắt khi nhìn lại thân thể gầy gò ốm nhách ốm nhom của tôi.

- Con phải uống sữa, ăn thịt bò hàng ngày… để có da có thịt một chút. Có sức khoẻ, con mới làm việc được.

Nghe lời Mẹ dặn, sau vài tuần tẩm bổ, tôi đã lên cân vù vù. Và kế đó, tôi cũng đã tìm được việc làm ở một hãng golf. Mặc dù đồng lương giới hạn, nhưng công việc bận rộn liên miên. Tôi làm overtime lu bù. Có khi làm luôn cả ngày chủ nhật.

Lần đầu tiên là nhân viên một hãng xưởng, nên tôi rất thích thú và đam mê công việc, cho nên một thời gian dài tôi đã không đến viếng thăm Mẹ Maurice. Có lẽ vì bặt tin tôi, nên ngày chủ nhật hôm đó, Mẹ Maurice lọ mọ đến tìm tôi. Trời ơi! Mẹ Maurice đây sao? Một bà già Mỹ yếu ớt, chống gậy liêu xiêu gõ cửa apartment.

- Mẹ ơi! Làm sao Mẹ ra nông nỗi này hỡi Mẹ?

- Mẹ bị stroke con ạ! Mẹ đến thăm con lần này, rồi Mẹ sẽ về New York, gần gũi với đứa con gái của Mẹ.

- Chuyện gì đã xảy ra cho Mẹ?

- Không. Chẳng có chuyện gì hết. Mẹ muốn đi thăm con gái.

Tôi ôm Mẹ Maurice vào lòng, và chợt nghĩ đến những nỗi đau âm thầm mà những người Mẹ đã một mình gánh chịu. Sự hy sinh vô bờ bến đó chỉ có trong trái tim, trong tấm lòng người Mẹ. Mẹ Maurice và Mẹ ruột của tôi giống nhau ở điểm này.

Thời gian dài sau nữa, tôi hoàn toàn mất liên lạc với Mẹ Maurice, David và cả Ann. Rồi một hôm, trong lòng tôi bỗng xốn xang bức rức, như có linh tính báo về điềm xấu nào đó, tôi vội xách xe chạy lên đường 50. Căn nhà xinh xắn vẫn còn đây. Những hàng cây xum xuê trái vẫn dày đặc bóng mát. Cái bàn đá vẫn ở chỗ cũ, Những nhánh cây do bàn tay tôi chiết cho David giờ đã mơn mởn xanh, phơi phới đón gió chiều. Chỉ có căn nhà là đổi chủ.

Người ra tiếp tôi là một ông Mễ bụng phệ. Ông ta cho tôi biết David và Ann đã ly dị nhau, và họ đồng ý bán căn nhà này lại cho ông. Còn bà Maurice mất rồi, hình như bà mất lúc đang ở New York thăm con gái. Tôi xin phép hỏi thêm vài câu nữa, nhưng ông ta lắc đầu và khép cánh cửa lại.

Như có ai cầm dao đâm thấu tim gan mình, tôi lảo đảo ra xe, gục mặt vào tay lái, thổn thức từng cơn. Trời ơi! Tôi đã vô ơn với Mẹ Maurice. Tôi đã bội nghĩa với David và Ann. Niềm hối hận này, không biết bao giờ mới xoa dịu được.

Thưa Mẹ Maurice,

Hôm nay, con viết bài này như nén nhang kính dâng lên Mẹ, như ngàn lời tạ lỗi cùng Mẹ, và rất mong Mẹ rộng lượng thứ tha cho đứa con nuôi vô ơn và bạc nghĩa này.

Cho tới bây giờ, tôi vẫn chưa gặp lại David và Ann. Chẳng biết họ đã nối lại tình xưa hay mỗi người mỗi nơi với cảnh ngộ khác nhau?

Và mùa lễ Tạ Ơn nào cũng vậy, tôi luôn phóng xe đến đây với chai rượu trong tay, cố gắng xóa đi nỗi buồn khi tưởng nhớ.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Tiểu Đoàn 7 - Ngày đầu cuộc chiến ...

Image
MX NGUYỄN TÍN

Ngày vào lính khi tôi chưa tới tuổi phải vào lính nên ̀ còn ngu ngơ và khờ lắm, ( khi học xong tiểu học , tôi bước vào Đệ Tử Viện và Chuẩn Viện LASALL, từ một môi trường không tiếp xúc với nhiều với bên ngoài tôi chẳng biết gì cả, kể cả chiến tranh, tôi thuộc Đoàn 94 của dòng LASALL VN .Trong khi các bạn đang sửa soạn bước lên TẬP VIỆN để tương lai trở thành một SƯ HUYNH, tôi bỏ dòng và trở về nhà, gia đình muốn tôi tiếp tục học , nhưng tôi, dù rằng không thích đi lính, nhưng với những film combat trong TV Mỹ mà trước đây thường xem,và tôi cũng muốn thử cho biết và nghĩ rất đơn giản: đi 1 hoặ̣c 2 năm là có thể giải ngũ, một ý nghĩ đơn thuần nhất lúc bấy giờ, và cuối cùng... tôi trở thành lính TQLC) mọi chuyện đã trôi qua , nhưng với tôi mọi sự như mới xảy ra hôm qua, mọi việc đến và đi để lại trong lòng người những ấn tượng, như những nét chấm phá của một bức tranh, tùy tâm tư của người trực diện, tùy thời gian và hoàn cảnh mà mỗi người có cái nhìn và cảm nghĩ khác nhau,̀ tôi cũng không thoát khòi định luật đó.

Tôi được bổ sung về Ðại Ðội 3 khi Tiểu Ðoàn 7 còn đóng ở căn cứ Holcomb , Ðại úy Hạp đưa tôi về Trung đội 2 của Thiếu úy Đạt. Gần 2 tháng hành quân lục soát xung quanh để bảo vệ vòng ngoài căn cư, tôi thấy thật̀ thú vị, như là Hướng Đạo Sinh đi cắm trại vậy. Thiếu úy Tranh Đại Đội Phó ưa hỏi đố những bài toán, những" 'đạo hàm" và một lần Ông cú vào đầu tôi và nói

- Chú mày ngu quá vậy, tại sao lại đi lính.

Tôi trả lời:

- Ông thầy ơi vì thế tôi sẽ giải ngũ sớm còn Ông phải đi lính suốt đời (Ông ta là dân Võ Bị).

Sau hơn 2 tháng , Tiểu Ðoàn về lại SAIGON..

Ở hậu cứ chưa được bao lâu thì Tiểu Ðoàn sửa soạn đi hành quân, Thượng sĩ Yên thường vụ Đại Đội tập họp đại đội để Đại Đội Trưởng sẽ nói chuyện với anh em. Tôi cứ tưởng là Đại úy Hạp, nhưng trước hàng quâǹ là một người có tướng cao gầy trông có vè ốm yếu, thì ra đại đội này là của ông, Đại úy Hạp chỉ coi tạm thời trong thời gian ông đi học̀, Đại úy Tôn Thất Trân.

Lần đi này, Tiểu Ðoàn ra Gio Linh, tôi cứ mơ ước mình sẽ ra tới cầu Hiền Lương để nhìn cho biết, nhưng chỉ đóng ở căn cứ C1 ,và sau đó là di chuyển sang vùng căn cứ C4 Cồn Thiên, lúc này tôi vẫn còn lơ mơ lắm, một lần tôi lượm được một cái dù trái sáng,tôi cứ thản nhiên tung lên trời chơi như trẻ con, Đại úy Trân đến gần nhìn tôi và nói :

- Anh mới về đại đội phải không ? Cánh dù đẹp lắm, nhưng bây giờ đừng chơi, về hậu cứ hãy chơi, chúng ta đang hành quân, cứ tung lên như vậy, bọn Việt Cộng sẽ nhìn thấy,̀ phát hiện vị trí của chúng ta, và ăn pháo đấy,

Một lần đóng quân, xung quanh hố cá nhân của tôi toàn là bụi cây, nằm đau cả lưng, phía trước tuyến có bãi đất bằng, thế là thản nhiên tôi mang poncho ra và nằm chẳng nghĩ đến chuyện gì, khi Đại úy Trân cùng Thiếu úy Đạt đi kiễm soát thấy tôi nằm chình ình ngoài tuyến, ông kêu vào, la tôi nhưng giọng rất nhỏ nhẹ và cho biết rất là nguy hiểm khi nằm ngoài tuyến như vậy, ông quay sang Thiếu úy Đạt cùng Trung sĩ nhất Giáp bảo họ phải chú ý và hướng dẫn cho tôi biết đi hành quân là như thế nào.

Thiếu úy Đạt bực mình tôi lắm, còn Trung sĩ nhất Giáp nhìn tôi cười và nói:

- Chú mầy chỉ cần mặc áo lính vài năm thì đầu chú mày sẽ có sạn ???

Khoảng tháng 2, Tiểu Ðoàn lên xe và chạy về hướng Huê, mọi người vui mừng vì nghĩ rằng Tiểu Ðoàn sẽ về SAIGON, nhưng đoàn xe chạy thẳng vào Ðà Nẳng tới Non Nước, Tiểu Ðoàn được điều động làm trừ bị cho Quân Đoàn 1.

Một ngày đẹp trời, Thượng Sĩ Yên gọi tôi vào gặp Ðại Ðội Trưởng, Đại úy Trân bảo tôi:

- Từ nay anh về Ban Chỉ Huy đại đội ở ngay bên cạnh tôi đây.

Tôi xin ở lại trung đội nhưng ông không đồng ý. Thế là từ đó tôi ở PC chỉ việc ăn rồi lại ngủ, khi ông đi đâu thì kêu tôi đi theo, nhiều lúc ngồi nói chuyện, thấy ông nói năng rất nhẹ nhàng không giống như những người khác, ngay cả những lúc có những người lính nhậu say quậy phá, cũng phạt theo tội, nhưng trước khi phạt ông cũng giải thích, cứ y như thầy giáo hơn là một sĩ quan tác chiến.

Khoảng cuối tháng 3, Tiểu Ðoàn được lệnh di chuyển, ra xe ai cũng vui mừng vì nghĩ Tiểu Ðoàn sẽ về SAIGON , khi xe chạy qua Ðà Nẳng ai cũng ngạc nhiên và nghĩ chắc đi phi trường Phú bài, bất chợt tôi nghe từ máy của Hạ sĩ Nhơn âm thoại viên đại đội, qua khỏi cầu Nguyễn Hoàng bỏ xe móc hậu của cố vấn lại, tôi la lên:

- Chết mẹ đi Quảng Trị rồi.

Trên xe ai cũng cố cãi, khi xe chạy qua phi trường Phú Bài, mọi người hơi xôn xao nhưng không một ai biết rõ chuyện gì đang xảy ra, mờ tối đoàn xe tới căn cứ Ái Tử gặp đoàn xe của Tiểu Ðoàn 3 hai bên chọc nhau rất là vui vẻ, bên thì là con Chó Con, bên thì là Con Cóc tía.

Xe chở Tiểu Ðoàn chạy vào căn cứ Ái Tử,vừa xuống xe , tôi nghe một loạt nổ rất lớn, tôi nói

- Pháo binh bắn dữ thiệt

Chưa dứt câu một loạt nổ ngay xung quanh đoàn xe kèm theo những tiếng la

- Pháo kích! Pháo kích!

Khói bụi mịt mù.. vài phút sau Tiểu Ðoàn lại lội bộ ra khỏi căn cứ đóng quân trong những xóm nhà, anh em chúng tôi không ai biết rõ tình hình lúc bấy giờ, cứ nghĩ bọn Việt Cộng chỉ pháo kích thế thôi .Sáng hôm sau, xe tiếp tế tới, mỗi người nhận 2 ngày lương khô, cũng ngay lúc đó dân chúng chạy loạn trên quốc lộ rất nhiều. Tiểu Ðoàn lên quân xa di chuyển về hướng Cam Lộ̣, vào Cam Lộ nhìn thấy khói bụi mịt mù, xuống xe tôi hỏi một người dân chạy giặc, thì được biết tối qua bộ đội Cộng Sản Bắc Việt tấn công và chiếm làng, bên ngoài làng lính Sư Đoàn 3 cùng thiết giáp đang sửa soạn giàn quân đề tái chiếm.Tôi cứ nghĩ là Tiểu Ðoàn sẽ đánh vào làng Cam Lộ, nhưng không, Tiểu Ðoàn di chuyển theo một con đường mòn tiến về Cùa, khoảng gần chiều Tiểu Ðoàn đã đến gần Lữ Đoàn 147, từ xa nhìn thấy những cột khói cùng những tiếng nổ không ngừng, pháo rơi y như cầm một nắm cát rãi xuống đất vậy, tôi nói với Hạ sĩ Tài và Hạ sĩ Châu:

- Ðừng vào ,vào bây giờ là chết liền.

Và tôi ngồi lại, khi thấy mọi người đã đi hết, tôi đành phải chạy theo, Đại Đội đóng trước cổng LĐ ngay bải trực thăng, nhìn vào LĐ pháo rơi như mưa, có một điều đồn Địa Phuơng Quân ngay bên cạnh LĐ mà không có một trái pháo nào lọt vào, tôi năm chung một hố với Hạ sĩ Châu ngay bên PC đại đội,sáng hôm sau, nhìn thấy trước PC, có khoảng hơn 20 túm poncho, mỗi cái chỉ lớn bằng cái nón sắt, ngạc nhiên tôi hỏi Nhơn

- Anh Nhơn cái gì vậy?

Nhơn trả lời

- Một cái là một mạng đó, đang chờ xe chở về Quảng Trị

Lúc đó Hạ sĩ Châu mới giải thích cho tôi biết là tại sao.. thật ra thì lúc đó tôi vẫn còn ngu lắm.

Mặc dù tuyến đại đội không có trái nào rơi vào, nhưng mà rất là căng thẳng vì pháo vẫn rơi vào LÐ không ngớt, lâu lâu trong LÐ mới bắn được một trái, chẳng thấm vào đâu,cả LĐ hầu như hoàn toàn tê liệt. Khoảng 2 ngày sau,tôi xin Đại úy Trân

- Ông thầy cho em xuống ra làng mua ít đồ.

Ðại úy dặn dò

- Nhớ cẩn thận và về lẹ lên.

Nghe xong tôi phóng lẹ ra làng, ở đây nghe pháo nổ liên tục ớn quá. Vào quán của cô Hoa ( sau 1973 mới biết cô ta là VC) uống hết ly cà phê này đến ly càfé khác, nhìn vào hướng LĐ tôi không muốn trở vào nữa, thấy những người lính Bộ Binh tôi hỏi chuyện thì họ cho biết đang chờ giải tỏa đèo Cam Lộ để tải thương, các căn cứ khác dọc vĩ tuyến 17 đều bị tấn công. Đến chiều cũng gần tối, ba của cô Hoa tới gần tôi và hỏi

- Cậu từ LĐ ra phải không?, giờ gần tối rồi, cậu nên về đi, tối họ sẽ về nguy hiểm lắm.

Nghe ông ta nói tôi ba giò bốn cẳng chạy lẹ về đại đội. Thượng sĩ Yên hỏi tôi đi đâu sao giờ mới về Đại úy hỏi đó, nhưng mà Đại úy Trân nhìn thấy tôi thì Ông chẳng nói gì.

Vài ngày sau, vào sáng sớm đại đội lấy thêm đạn ở đồn ĐPQ sau đó di chuyển vào hướng núi trước cổng LĐ, Đại Đội 1 đi trước gặp tuyến VC, đại đội xung phong đánh bứt tuyến địch, sẵn đà đại đội xung phong thẳng. Khi lên đến lưng chừng núi, pháo VC bắt đầu bắn vào đội hình đại đội. Tôi men theo một con dốc, chợt nhìn thấy có bóng người tôi kêu lên.

- Ở đây cũng có Bộ binh các bạn ơi

Chưa dứt câu, một tràng đạn vang lên và tiếng của Hạ sĩ nhất Quang vang lên

- VC chứ bộ binh cái gi.

Từ trước đến giờ tôi chỉ thấy VC trong những film thời sự, thấy mặc toàn là bà ba đen chứ đâu có biết gì, ở đây chúng mặc đồ xanh, xa xa nhìn tôi cứ tưởng là lính bộ binh, xém chút nữa là tiêu đời.

Gần chiều nghe tiếng kêu

- Lữ Đoàn rút quân rồi

Nhìn về hướng LĐ, một đoàn người đang túa ra, lúc này pháo cũng ngưng bặt, có lẽ Cộng quân hiểu lầm,vì trên ngọn Antenn dù, dính cánh dù trái sáng ,nhìn xa y như cờ trắng đầu hàng, có lẽ vì vậy VC ngưng pháo, Đại úy Trân thông báo cho mọi người yên tâm chờ lệnh của Tiểu Ðoàn không có gì phải lo lắng, đang ngồi trên miệng hố, một tràng AK chát chúa vang lên với tiếng M16 đáp trả, vài phút sau lại im lặng như cũ, tuyến ngoài thằng Cư xạ thủ đại liên bị trúng đạn rất nặng, Binh nhất Chờ̀ phụ xạ thủ bị thương ngay chân, Hạ sĩ Châu bảo tôi ngồi xuống hố, bị thương không đi được khi đại đội rút là bị bỏ lại như hồi Hạ Lào, mặc dù hố tôi cách PC chỉ khoảng 3 thước, tôi nói với Hạ sĩ Nhơn khi có lệnh rút nhớ gọi tôi, tôi với Hạ sĩ Châu ngồi tụt dưới hố, Hạ sĩ Châu đem gạo sấy ra bảo tôi ăn, tôi hỏi

- Sao ông ăn hoài vậy

Hạ sĩ Châu trả lời

- Ăn cho no, tối nay còn có sức mà đi

Ngồi khá lâu, một sự im lặng khủng khiếp, không còn nghe một tiếng pháo nào, đứng lên ngó quanh không thấy ai, tôi hoảng hồn phóng lên miệng hố chạy tới chổ PC thì không còn ai, chỉ có thằng Cư nằm trên băng ca được đắp một tấm poncho, bên cạnh có 2 trái lựu đạn, chạy ra tuyến ngoài thấy Trung sĩ Trần Ngâm đang hối lính ông ta

- Lẹ lên, Đại Ðội rút hết rồi mà tụi mầy còn ở đây

Tôi chạy vào kêu lớn

- Anh Châu, anh Châu,đại đội rút hết rồi,

Hai đứa phóng ra, tiểu đội của Trần Ngâm cũng biến đâu mất , không biết đường chạy, hai đứa đành chạy xuống làng. Tới làng trời đã tối gặp một toán ĐPQ, Châu bảo đi theo toán này, tôi nói không được, đi theo toán này là chết,vì họ đi theo đường lộ, tới đèo Cam Lộ là tiêu liền, chắc chắn bọn VC sẽ phục kích ở đó, không biết Tiểu Ðoàn đang ở đâu, nhưng tôi linh cảm Tiểu Ðoàn hình như vẫn còn đâu đây, tôi nói

- Tiểu Ðoàn chắc chắn rút bằng đường rừng, tụi mình đi xuyên qua rừng trước sau gì cũng gặp.

Rừng tối như mực, thấy một đường mòn vào rừng, hai đứa lần theo, từ xa,nhìn thấy một chấm sáng nhỏ,

- Anh Châu, nhìn kỹ thấy ánh sáng đó không?

- Chắc là đom đóm. Châu trã lời

- Không phải, đó là ánh đèn Pin đang dò bản đồ, đom đóm phải bay lên bay xuống,còn đây chấm sáng chỉ xoay quanh một chổ. tôi nhận xét

Tối nóí đi thấp xuống, đi gần như ngồi lết, trời tối đưa bàn tay trước mặt không thấy, chỉ nhìn lên bầu trời để lấy bóng, tiến sát tới bóng người anh ta không nhìn thấy tôi, nhìn lên thấy nón tròn như nón sắt, tôi hỏi nhỏ

- Tiểu Ðoàn 7 phải không?

- Ừ

Nghe tiếng ừ tôi mừng hết lớn, một sự may mắn lớn, gặp ngay đại đội, chấm sáng mà tôi nhìn thấy là chấm sáng Đại úy Trân đang dò bản đồ. Đại đội ai cũng nghe lệnh rút chỉ có hai thằng tôi thủ gìò nằm sâu dưới hố nên không biết gì.

Đối với tôi đây là những ngày thê thảm nhất vừa đi vừa ngủ, Hạ sĩ Nhơn lấy sợi dây loa trồng vào cổ để kéo tôi đi, hai chân đau nhức như đi trên gai nhọn, đi liên tục 2 ngày đêm, sang tới ngày thứ 3.Thiếu tá́ Huệ xin một trái khói để xác định vị trí, nhìn cụm khói xa mờ, Thiếu tá́ Huệ cau có

- ... còn xa quá,

Tiểu Ðoàn ngừng lại ngủ đêm vì mọi người gần như kiệt sức. Ði theo Tiểu Ðoàn có cả lính ĐPQ, người Kinh, người Thượng, một người đàn bà xách một cái bọc rất lớn tôi cứ tưởng là đồ đạc gì đó, nhưng không phải, bà bỏ bọc xuống và trải ra thì ra toàn là thuốc lá và bánh kẹo, mọi người bu lại và mua, cứ như là không có gì là đang rút chạy, tháo đôi giày ra khỏi chân, ôi thật là thoải mái, hai bàn chân nhăn nheo vì lội suối, leo đồi, đêm đó tôi ngủ như chết.

Sáng hôm sau, Đại úy Trân hỏi

- Ðêm qua anh có nghe gì không?

Tôi trả lời tỉnh bơ.

- Em có nghe gì đâu

Ông không nói gì chỉ bảo tôi ráng lên. Tôi hỏi Hạ sĩ Nhơn thì mới biết tối qua một người lính gát nghe tiếng động và quăng một trái lựu đạn nhưng rất may không có gì, đến gần chiều tối thì Tiểu Ðoàn đến vị tri của một đơn vị Bộ Binh nằm vòng đai phía Tây thành phố Quảng trị. Sau đó Tiểu Ðoàn di chuyển về hướng Nam ở khoảng cầu Bến Đá và Mỹ Chánh.

Đại Đội lội ở phía Tây quốc lộ, địa danh tôi không nhơ ́lắm, có lúc tới gần mép rừng, không biết cái số của Đại Đội như thế nào, trong khi các Tiểu Ðoàn khác đụng độ liên tục, mặt trận Đông Hà bị tấn công ngày đêm, ở đây tụi tôi lội tới lội lui chẳng thấy bóng thằng Cộng sản nào. Đơn vị nào cũng bi pháo của CSBV tới thăm viếng, hình như chỉ có tụi tôi từ ngày rời Cùa tới nay chưa bị lãnh 1 trái pháo , ngoại trừ một lần đóng tuyến bảo vệ pháo binh, thời gian này CSBV pháo kích thường xuyên và các pháo đội TQLC cũng di chuyển vị trí liên tục dù rằng khoảng cách không xa lắm để tránh pháo. Một lần đại đội bảo vệ pháo đội TQLC gần quốc lộ,( hình như pháo đội của Tiểu Ðoàn 1 Pháo Binh TQLC)

Tiếng depart của pháo 130 ly CSBV từ xa, đạn nổ bên kia đường lộ ,cách vị trí khoảng 500m, trái thứ 2 rớt gần lại, Đại úy Trân la lên:

- Mọi người xuống hố, VC đang điều chỉnh pháo.

Trái thứ 3 rớt cách tuyến chỉ còn non 100m và tiếp theo một loạt nổ vang trời ngay giữa tuyến, đang nằm mọp dưới hố tôi nghe những tiếng la to:

- Chạy mau không thôi thì chết hết.

Ngóc đầu lên nhìn thì thấy vài người lính pháo binh bỏ chạy ra khỏi tuyến, nhiều người trong chúng tôi củng nhón mình lên tính chạy theo lính pháo binh, Bất chợt một tiếng hét to:

- Đại Đội 3 nằm yên không ai được chạy,

Nhìn thấy trong đám khói bụi chưa tan, Đại úy Trân đứng sừng sững tay cầm khẩu P 38 la lớn :

- Đại Đội 3 nằm yên không ai được chạy, đơn vị bạn họ muốn chạy thì kệ họ, chúng ta giữ vị trí này phải ở lại đây, ai mà tự đông bỏ chạy khi không có lệnh của tôi, thì coi chừng tôi đó, tôi sẽ bắn người đó liền.

Nhìn tướng Ông đứng sừng sững dù rằng pháo vẫn còn rơi, núp dưới hố tôi muốn biểu lộ sự ngưỡng phục với Hạ sĩ Tài

- Sao Ông Thầy ngon lành quá vậy, bình thường trông tướng Ông hiền lành nói nghe yếu sìu mà bây giờ thấy oai phong ra phết.

Hạ sĩ Tài trả lời

- Đại Đội 3 mạnh là nhờ Ông không đó, từ Kampuchia đến Hạ Lào, nếu không thì đại đội đã banh ta lông từ lâu rồi.

Vài phút sau pháo ngưng, các pháo thủ lại kéo về và bắt theo một người mà họ tin tưởng là tiền sát viên của VC, anh chàng này đang núp thấy lính ùa ra tưởng bị lộ bỏ chạy, thế là bị tóm cổ, không biết có phải là đề lô hay không nhưng mà sau đó không còn bị pháo nữa, pháo thủ chạy tránh pháo địch mà cũng làm được việc.(?)

Cuối tháng 4 đại đội di chuyển từ trong núi ra quốc lộ, gần ngay phía Nam đầu cầu Bến Đá chờ xe để ra Đông Hà, lúc này dân chúng di tản rất nhiều, chật cả đường lộ. Sáng 1 tháng 5 lên xe, chạy qua cầ́u Bến Đá một khoảng cách không xa lắm,thì xe ngừng lại, đứng trên xe nhìn đoàn người đông đúc đang gồng gánh di chuyển về hướng nam, lúc này pháo cũng bắt đầu rơi, tôi cứ tưởng là kẹt xe, khoảng gần 10 phút sau pháo rơi nhiều hơn, có tiếng hô lớn

- Đại Đội 3 bên trái, Đại Đội 1 bên phải. phục kích xuống xe xuống xe.

Chúng tôi nhảy lẹ xuống nằm dọc theo đường xe lửa song song với quốc lộ, pháo rơi như mưa vào đoàn người chạy loạn, trên mặt đường tất cả như vỡ tung, từ trong núi tiếng đại liên cũng như đại bác không giật bắn thẳng ra đường lộ như càn quét những gì còn sót lại. Tôi dõi mắt nhìn theo một đoàn người đang chạy tới, bỗng một tiếng nổ̀ vang lên, lẫn trong đám khói những xác người tung tóe, đoàn người đi sau khựng lại vài giây rồi lại lao tiếp về phía trước mặc cho pháo vẫn rơi, và tất cả từ từ gục ngã, chúng tôi nhìn mà không thể làm gì hơn được chỉ hét lớn kêu họ đi xuống khoảng trũng giữa đường lộ và đường xe lửa để tránh đạn.

Một đoàn xe thật dài đang bốc cháy, những chiếc xe cứu thương với chữ thập đỏ lớn cũng không thoát khỏi,một chiếc trực thăng bay thật thấp ngang qua, tôi đưa mắt nhìn, vừa quay đầu qua, quay lại nó đã rớt và nổ tung. Cả một đoạn đường như bị bao phủ bởi trận địa pháo của Cộng quân, khói lửa lan tràn che cả một bầu trời.

Đến gần trưa thì pháo cũng đã thưa bớt, nhưng trên con đường lộ chỉ còn lại một bãi hoang tàn, cả một đoàn xe dài đang bốc cháy, xác người đầy trên mặt đất, cả hai bên quốc lộ, ngườị chết đủ mọi tư thế.

Lúc này thì tôi được biết Thiếu tá Huệ Tiểu Ðoàn Trưởng̣ đã bị thương, đoàn xe phiá trước đã chạy thẳng ra Quảng trị, chỉ có Đại Đội 1 và Đại Đội 3 bị kẹt lại, Đại úy Trân ra lệnh 3 trung đội dàn hàng ngang và bắt đầu tiến lên, một đơn vị thiết giáp gồm M41 và M113 từ cầu Bến Đá tiến ra yễm trợ, mặc dù có thiết giáp yểm trợ nhưng với một địa thế trống trải chỉ toàn là một giải cát mênh mông tới tận chân núi, bọn bộ binh của Cộng sản Bắc Việt cũng đã có mặt, phía trước các trung đội bị cầm chân nơi những gò cát nhỏ, thiết giáp ta bắn rất dữ dội về phía trước, nhưng cũng không thể tiến xa hơn được vì từ chân núi đại bác không giựt của địch bắn ra cũng không kém, Đại úy Trân bảo tôi:

- Anh để đồ ở đây lên phụ tải thương với những người khác nhớ men theo xe thiết giáp.

Lần theo một chiếc M 113 tôi bò tới gần tuyến đầu, thấy Trung si nhất Võ̃ hét to lên một tiếng xung phong. Ông lao về phía trước cùng 2 người lính và những loạt đạn nổ lên, tôi bò̀ lên và tuột xuống một giao thông hào, có khoảng 15 xác quân chính quy Bắc Việt. Trung sĩ nhất Võ̃ miệng chửi thề giọng Hố Nai:

- Bắn hết không tha một thằng nào.

Các tiểu đội của Hạ sĩ nhất Diệp Bưởi, Trung sĩ Dũng, Trung sĩ Tiêm, Trung sĩ Ngâm, Hạ sĩ Lợi, Sơn cũng đang bắn ráo riết và cố bò lên, nhưng tiến được chẳng bao nhiêu, Cộng quân đã có mặt ở đây từ hồi nào rồi. (lúc này không hiểu pháo binh biến đi đâu hết, không phản pháo,cũng như yễm trợ ?)

Tôi được lệnh lên phụ tải thương nhưng chẳng lo phụ tải, chỉ bò lên loanh quanh lo xem rồi bò về, nhìn trên đường từ cầu Bến Đá một chiếc xe Jeep Wilson chạy tới ngang đại đội ,nhảy xuống 4 phóng viên ngoại quốc, đang khi họ loay quay đặt máy quay phim, một phát đại bác không giật bắn trượt qua xe và nổ bên kia đường, chiếc xe phóng chạy lui về cầu, tốp phóng viên xuống mé đường gần PC đại đội quay được vài phút thì cũng cuốn gói dzọt lẹ vì đạn bắn dữ quá.(1972,một người bạn ở Saigon cho biết đã thấy tôi trong đoạn film thời sự, của trận đánh này)

Gần chiều đại đội lui quân ,thiết giáp cũng rút về cầu, khi đại đội lui gần tới cầu, phía bên kia đường một toán lính nhào tới vừa chạy vừa la:

- Đừng bắn đừng bắn quân mình, quân mình.

Dẫn đầu là một Trung úy Sư Đoàn 3, khá đông trên dưới 100 người, đa số là Bộ Binh, có cả lính Biệt Ðộng Quân và có vài người lính TQLC. Đại úy Trân ra lệnh tước hết vũ khí, họ cho biết, khi nghe có tiếng súng nổ ở đây, biết là có lính mình nên cố chạy tới, họ còn cho biết có một đơn vị thiết giáp đang bị chận đánh và đang cố tiến về, khi Đại Đội về tới cầu Đại úy Trân bảo họ:

- Đêm nay các ông không một ai được qua cầu chỉ được ngủ trước cầu mà thôi vì tình hình an ninh, sáng mai mới được qua.

Qua cầu Ông phân tuyến thật nhanh, đầu cầu phía Bắc bên trái hướng tây là trung đội 3 của Thiếu úy Lai bọc từ đầu cầu tới cầu xe lửa , một tiểu đội được đặt nằm ngay trên cầu xe lửa, bên phải là trung đội 1 cuả Thiếu úy Huyền bọc quanh chân cầu, đầu cầu phiá nam bên phải là Trung đội 2 của Thiếu úy Dũng kéo dài tới xóm nhà dọc bờ sông, Trung đội 4 dọc bờ bên trái PC nằm ngay chân cầu. Ông ra lệnh dù đây là cây cầu có vị tri sẵn nhưng không được đốt lửa tránh bị bắn B40. Tất cả như yên tịnh ngoài tiếng súng từ máy bay bắn và những tiếng nổ từ hướng Quảng trị, chúng tôi đều mong mỏi chờ đợi đoàn xe thiết giáp trở về, ngồi trong một công sự ngay chân cầu tôi hỏi Đại úy Trân:

- Ông thầy, tại sao không cho họ qua cầu, nếu đêm nay Cộng quân tấn công thì họ sẽ như thế nào?,

Ông nhìn tôi trả lời giọng trầm xuống,

- Biết như vậy nhưng tình hình này không thể làm khác hơn, giờ đã tối, cho họ đi qua, phía sau không có ai kiểm soát họ, nếu như trong đó có địch trà trộn ,thì rất là nguy hiểm vì phía sau có đơn vị thiết giáp, nó chỉ cần trà trộn và phá đơn vị thiết giáp là tất cả sẽ rối loạn ngay, trời sáng mới có thể kiểm soát được, lúc đó mới có thể cho họ qua cầu, nếu đêm nay địch tấn công, họ chỉ còn đường chạy và nhảy sông bơi về.

Đêm trôi qua nhanh trong sự chờ đợi không ngủ, xung quanh cây cầu vẫn yên tĩnh, trên bầu trời phía Bắc đạn bắn ra từ những chiếc Hỏa Long, tiếng pháo nổ lẫn bom vẫn không ngớt. Trời vừa hừng sáng, lệnh cho đoàn người qua cầu, đứng bên thành cầu, đưa cho một người lính BÐQ đi qua một điếu thuốc,tôi hỏi anh

- Tối có ngủ được không anh!.

Anh ta trả lời

- Lo muốn chết nên thao thức cả đêm, chỉ mong trời mau sáng.

Ngay phía sau khúc quẹo, nơi đơn vị thiết giáp đóng quân, xe GMC cũng như xe cứu thương đã có mặt để đón những người về tới. Nhưng mà chẳng có bao nhiêu người về qua cây cầu này, tất cả hình như đã nằm lại trên chặng đường oan nghiệt, đoàn xe thiết giáp cũng chưa thấy tăm hơi. Lúc đầu tôi cứ tưởng đại đội sẽ tiếp tục tiến quân, nhưng Đại úy Trân cho biết tất cả các đơn vị ở Quảng Trị đã rút vì vậy đại đội sẽ đóng ở đây, bảo vệ cầu cũng như chờ đón những người thoát về, cầu này trở thành tuyến đầu, Cộng quân có thể sẽ tấn công mạnh để tiến quân về Huế.

Ở cầu Bến đá mặc dù có sẵn các công sự phòng thủ, nhưng khi nghe nói đây là vị trí đầu, trận đánh lớn có thể xảy ra ở đây, tôi liền liên tưởng tới những cuốn film từng xem, những trận tấn công ác liêt của quân đồng minh khi tấn công một cây cầu của quân Đức.Tôi đào một cái hố ở đầu cầu phía Nam, cách đường lộ chỉ có một thước, Đại úy Trân thấy vậy nói

- Có sẵn hầm kiên cố phía trong, sao anh lại ra đào ở đây".

Tôi trả lời rất là ngon lành

- Ông Thầy, tôi nằm ở đây, thằng Việt cộng nào lọt qua cầu là gặp tôi liền.

Hạ sĩ Tài khuyên tôi

- Chổ này nguy hiểm lắm, hãy xuống gầm cầu với PC cho chắc ăn.

Tôi trả lời cũng rất cứng

- Không sao đâu, trận này phải đánh cho bọn Cộng quân biết mặt. Ngày hôm qua bọn chúng bắn cả vào dân thường chạy loạn, trận này phải trả hận" (?)

Tôi góp ý với Hạ sĩ Tài và Châu:

- Ðừng nằm trong các công sự nổi, Việt cộng khi tấn công nó sẽ thụt banh ta lông trước khi tràn qua, đào một cái hố là chắc ăn.

Mọi người ai cũng chuẩn bị cho mình một vị trí sẵn sàng chiến đấu. Tiểu đội nằm ở cầu xe lửa vào xóm nhà mang ra những tấm ván, vạt giường,để lót trên cầu làm vị trí ngồi cho vững, vì giữa 2 thanh tà vẹt sơ sẩy là lọt xuống cầu liền, ai cũng lấy cho mình 2 đến 3 cây M72, hai trung đội ở đầu cầu phía Bắc ai củng có từ 4 đến 5 cây, tiểu đội ở cầu sắt người nào cũng thủ khá nhiều M72, vì đây là vị trí quan trọng nhất, thiết giáp địch lọt qua cầu sẽ gặp tiểu đội này, khoảng cách giữa hai cầu không xa lắm, cho nên nếu bắn là khỏi trật, tôi cũng lấy cho mình 3 cây với niềm phấn khởi trong giấc mơ, một trận đánh lớn trong đời, chiếc nào lọt sổ qua được cầu là gặp tôi ngay, tên bộ binh nào đặt chân lên cầu là ngay tầm ngắm của tôi, để sau này còn có dịp về Sàigòn bốc phét với bạn bè.

Hôm nay là 2 tháng 5 một ngày nóng gắt, bên thành cầu chúng tôi để những thùng nước được múc từ dưới sông lên, để cho những người trở về uống, nhưng mà chẳng có bao nhiêu người sống sót về tới, tất cả chỉ chờ đợi trong niềm hy vọng mong manh, cũng chẳng có tin gì của đơn vị thiết giáp rút vê. Phía Bắc tiếng bom, tiếng pháo vẫn ầm ỹ, người lính công binh cũng đã tới, Đại úy Trân ra lệnh gài mìn nhưng không gắn ngòi nỗ, dù là ngòi điều khiển, khi nào có lệnh của Ông thì mới được gắn. Mìn thay vì đặt ở chân cầu như thường thấy trong film, ở đây mìn gắn ngang giữa cầu ( dù sao cũng có hai trung đội,nếu chưa có gì mà phá cầu, làm sao họ có thể rút về, phá cầu là trường hợp cuối cùng, khi không thể giữ cầu được nữa)

Chiều xuống nhanh, Đại úy Trân kêu tôi tới và nói

- Anh mang súng đi với những người trung đội 4 mang mìn chống chiến xa đi đặt phía bên kia dốc, nhớ đặt nhanh lên,trời sắp tối rồi

Tôi thắc mắc

- Ông Thầy! Một mình tôi mang súng lỡ có địch thì làm sao bắn nổi

- Không lo chi, phía trước có tiền đồn của Tiểu Ðoàn 9. Đại úy Trân trả lời.

Tới đầu dốc, chúng tôi nhìn quanh chẳng biết tiền đồn TĐ 9 nằm ở góc nào, một người nói

- Ðặt ngay đây đi rồi rút lẹ, ghê qua

Mặc dù cũng hơi lo, nhưng tôi nói không được, ở vị trí nầy đại đội còn thấy để yểm trợ, đi thêm chút nữa, qua khỏi dốc,nhìn thấy cảnh hoang tàn rờn rợn, tất cả im lìm trong sự chết chóc, tôi nói nhanh

- Được rồi đặt ngang giữa đường rồi rút lẹ

Mọi người đặt mìn xuống đường và rút lui thật le. dĩ nhiên tôi cũng dzọt thật nhanh chẳng cần nhìn những quả mìn đả được đặt có đúng không. Về tới cầu tôi kéo giây kẽm gai giăng ngang đường lộ. Đại úy Trân hỏi tôi xong chưa, tôi nói mặt đường cứng không thể đào nên chỉ đặt ngang trên đường mà thôi,

Trời tối dần,mọi người điều chờ đợi, chờ đoàn xe thiết giáp trở về, chờ một cuộc tấn công lớn. Đại úy Trân nói

- Cây cầu này có tọa độ sẵ̃n, nhưng Cộng quân sẽ không pháo vào đây đâu (?), vì chúng cần cây cầu này để tiến về Huế, bọn chúng sẽ dùng chiến xa và bộ binh tấn công,nên mọi người phải cẩn thận và chú ý,

Đứng nhìn về hướng Bắc tôi bắt đầu nghĩ về những cuốn film từng xem, tôi mơ đến một trận đánh, một trận thật lớn vì nơi đây đã trở thành tuyến đầu, bọn CSBV muốn tiến về Huế phải vượt qua được đây, trong khi chúng tôi được lệnh bất cứ giá nào cũng phải giữ vững chận bọn chúng lại và chờ đón các đơn vị bạn thoát vê. Xung quanh vẫn hoàn toàn yên tịnh, xa xa về hướng Quảng Tri le lói ánh sáng hỏa châu cùng những tràng súng từ máy bay bắn xuống. Nhơn mang máy cho biết máy bay phát hiện Cộng quân ra lục lọi ở đoàn xe cháy bị máy bay bắn, trời về đêm nhưng mà khá nóng, tôi ở trần ra giữa đường trải áo giáp nằm nhìn trời và mơ với giấc mơ một trận chiến, tôi sẽ đánh đẹp như cinéma, nhớ hình ảnh những người lính Đức leo lên xe tank ném lựu đạn, tôi mơ mình sẽ làm y như vậy ,vì thiết giáp CSBV qua cầu sẽ chỉ cách tôi có một thước, chắc chắn trận này tôi sẽ làm đẹp, không đẹp không ăn tiền, đang mơ màng nghĩ ngợi, tiếng Đại úy Trân vang lên

- Sao lại nằm ở đây, tới gần hố mà nằm, nằm đây rất nguy hiểm, Việt cộng tấn công là bắn trúng anh liền, hoặc thiết giáp nó càn qua sẽ̀ cán anh tan xương ngay.

Nghe thế tôi lùi vào gần hố, nằm trong sự chờ đợi, suy nghĩ trận tấn công tới ...từ từ tôi thiếp đi....

Hơn nữa đêm lệnh báo động ban hành, quay nhìn thấy Đại úy Trân cùng hai hiệu thính viên đứng ngay công sự cách tôi khoảng vài mét, hình như có thiết giáp, tôi lắng nghe nhưng chẳng nghe thấy gì, dù vậy tất cả M72 cũng được dương ra hết để đề phòng, chờ hồi lâu cũng chẳng thấy gì, tôi lại nằm ngữa ra, khá lâu sau, tôi bật người dậy, phía trước có tiếng kêu

- Thiết giáp về, thiết giáp về.

Cùng lúc toán tiền đồn của Tiểu Ðoàn 9 chạy về và cho biết có thiết giáp, Đại úy Trân ban lệnh

- Mọi người phải chú ý và cẩn thận, có thể là thiết giáp mình rút về, có thể là thiết giáp Cộng quân.

Ông ra lệnh người lính công binh ra gắn ngòi nổ để đề phòng trường hợp bất trắc có thể xảy ra, tôi vẫn ở trần ngồi trên miệng hố, người lính công binh tay xách dây đạn và ngòi nổ đi ngang qua , tất cả vẫn im lìm, nhìn người lính công binh đi gần tới chổ đặt mìn, bất thình lình một tràng thượng liên nổ chát chúa, đạn xẹt dọc theo đường bên cạnh tôi, người lính công binh nhào sát thành cầu, cùng lúc tôi nghe tiếng rú của thiết giáp, chụp áo giáp chưa kịp khoát vào người, thì mọi sự xảy ra thật nhanh, nhanh hơn tôi tưởng, tôi không biết dùng từ nào để diễn tả vì đây cũng không phải là một cuộc tấn công, cũng không phải là cuộc thăm dò mở đường, trận này chỉ có bọn Vc là hiểu tại sao (?).

Chưa kịp mặc áo giáp vào người thì nghe tiếng la

- Thiết giáp Việt cộng

và một loạt M72 vang lên, từ hai phía ở đầu cầu phía Bắc những vệt sáng của M72 xẹt trong bóng tối, một khối lửa bùng lên, chiếc thứ nhất khựng lại trước cầu , chiếc thứ 2, thứ 3 cứ lao tới bị cùng chung số phận, những khối lửa leo qua cầu. Từ cầu sắt, dù chỉ là một khối lửa đang chạy, những loạt M72 bắn bồi vang lên. Cả bầu trời được thắp sáng bởi M72 và những khối lửa di động. Cầm khẩu M72 trong tay, nhìn những khối lửa chạy qua, hơi nóng tạt vào mặt, thấy những bóng người dãy dụa và nhảy ra khỏi xe, tôi bỏ cây M72 xuống chụp vội cây M16, nhưng thật xui xẻo cho tôi, bọn Việt cộng chỉ nhảy qua phía bên kia đường phía trung đội 2 những tràng M16 vang lên, tất cả mọi việc xảy ra và kết thúc trong thời gian chưa tàn một điếu thuốc, tiếng chiến xa chạy dọc phía bên kia bờ sông rồi im bặt. Tiếng Đại úy Trân lại vang lên

- Cẩn thận đây có lẽ là toán mở đường, còn toán đi sau.

Rồi tôi lại nghe tiếng Ông lầu bầu

- Đốt sớm quá rồi

Tôi hỏi Hạ sĩ Nhơn mang máy

- Ông Thầy cằn nhằn gì vậy?

Nhơn cho biết

- Trong khi thiết giáp địch bị bắn ỡ đây, Đại Đội 1 phía bên cầu gô ̃(hướng Đông bên kia làng Bến Đá) đã vội vã đốt cầu, vì sợ thiết giáp CSBV sẽ tràn qua tấn công,

(Chắc Ông cũng có ý nghĩ như tôi, khoan vội đốt và phá cầu ,chờ nó tới không chừng cũng nướng thêm vài em như bên đây, tiếc thiệt! )

Người lính công binh lồm cồm ngồi dậy may mà anh ta đủ bình tĩnh không nhảy xuống cầu, xích thiết giáp cán bẹp một hộp đạn của anh ta, chúng tôi ngồi chờ trận tấn công kế tiếp nhưng chẳng thấy gì, tiếng thiết giáp rồi cũng im bặt, chỉ còn lại những tiếng đạn nổ của những chiếc xe bị cháy, cả cây cầu được thắp sáng bởi những chiếc xe bị cháy. Một chiếc nằm ngay trên đường sau lưng tôi khoảng 10 thước hơi nóng phừng phực, chờ mãi không thấy gì, bực mình tôi chửi thê

- Mẹ, Cộng quân đánh cái kiểu gì đây, lao qua như chạy đua, mới bị bắn có mấy chiếc là chạy hết mẹ rồi.

Đương nhiên là tôi hoàn toàn thất vọng, mơ một trận đánh lớn , nhưng xẹt một cái chưa đầy 10 phút là xong, không bắn lấy một phát đại bác nào vào vị trí cầu, ngay cả một phát AK cũng không, ngoại trừ một tràng thượng liên mở đường có lẽ chưa đầy 20 viên, còn tôi chọn một vị trí tuyệt vời, bao nhiêu chuẩn bị, cuối cùng chẳng bắn được phát nào, ngay cả một phát M16 cũng... khôôông .

Trời bắt đầu hừng sáng, lửa trên các chiến xa bị cháy cũng đã tắt bớt, chỉ còn những đốm nhỏ, khói nghi ngút, lẫn mùi thịt cháy khét lẹt, tôi xách súng lao qua phía trung đội 2 , mong vớt vát kiếm chút cháo, gặp Hạ sĩ Lợi, tôi vội vã ho

- Sao có gì không?

Hạ sĩ Lợi khoái chí, vừa cười vừa nói

- Tiểu đội tớ đang ghìm súng sẵn sàng, nghe lịch bịch, tụi nó nhảy ngay trước mặt, chỉ việc bóp cò,

Đại úy Trân cho lệnh phải lục soát thật kỹ, nghe tiếng lu bu, tôi chạy tới, bốn người lính đang bao một căn nhà, lục lạo lung tung.

- Tìm gì vậy các bạn,tôi hỏi

- Có bóng người xẹt vô nhà nhưng tìm mãi không thấy.

Hạ sĩ Lợi đi tới nói

- Tụi mầy dang ra xa hết đi để đó tao,

và ông ta châm lửa, từ trên gầm nhà, một tên địch nhảy xuống và bị tóm cổ,

Chẳng được cái tích sự gì, tôi bước lên đường nhìn , trước đầu cầu phía Bắc,3 chiếc lũi 2 bên lề đường. Sau cầu phía Nam khoảng vài chục mét, ngay lề đường phía Đông 2 chiếc xe leo chồng lên nhau, 2 chiếc khác đâm vào lề đường, ngay giữa đường, bên cạnh một chiếc đang còn nghi ngút khói, một xác chết đang ở tư thế quì khom lưng, có lẽ anh ta đã cố nhảy ra ,nhưng vừa chấm đất thì chết, nhìn xác cháy trần truồng nức nẻ.Tôi thật không hiểu bọn CSBV tính gì (?), lao qua cầu như chạy đua, bộ tưởng lính miền nam chết hết rồi hay sao, hay là bọn này chưa biết đến M72, cứ tưởng như hồi xưa, một đại đội chỉ có một cây không giật 57, chưa kịp nạp đạn là nó đã nhào tới cán. Trở lại PC cũng không thấy có lệnh gì mới, tôi bỏ̉ súng đi trở lại trung đội 2 ,chợt nghe một phát súng dưới bờ sông, nhìn xuống thấy Hạ sĩ nhất Quang (Quang râu) đi xuống

- Có gì không anh Quang, tôi hỏi

Không trả lời chỉ có chưởi thề thầm thì

- Mẹ, không còn thằng nào bò ra cho tao bắn luôn.

Ngay một bụi cây sát bờ 1 cái xác nằm đó, đứng nhìn quanh một lúc Quang râu bỏ đi lên. Tôi đứng một hồi, vừa xoay người định bước đi thì một bóng người từ bụi cây ngay bờ nước bò ra, phản ứng tự nhiên tôi lao đến bằng một cú đá, đè nó xuống,vừa rút lưỡi lê mang trên túi áo giáp ra, tên Cộng quân la lên

- Em lạy anh, đừng giết em, em còn cha còn me.

Nghe thế,tôi ngừng lại và hỏi

- Ðược rồi tôi không giết ông đâu, đứng lên, tại sao giờ này mới chui ra?

Anh ta trả lời

- Thấy anh hồi nãy bắn dữ quá nên không dám ra hàng, may mà anh không mang súng nên em mới dám ra.

Dẫn tù binh về đại đội Đại úy Trân bảo tôi đem ra phía sau giao cho Tiểu Ðoàn 9. .Đàng sau đơn vị thiết giáp, ngay một chòi tranh, lô nhô nhiều antenn ,có lẽ đó là PC Tiểu Ðoàn 9, khi tôi dẫn người tù binh này đến, một người nhảy ra, người tù binh ngồi hụp xuống miệng kêu lên. Trông tướng anh ta rất là sợ hãi, tôi nói

- Không sao đâu giờ họ không giết anh đâu, yên tâm.

Và tôi đi trở về đại đội, ngang qua đơn vị thiết giáp, tôi hỏi

- Ê mấy ông bộ tính sẵn sàng lui quân hả ?

Những người lính thiết giáp chỉ nhìn tôi cười. Tôi hỏi vậy vì thấy những chiếc M41 pháo tháp thì quay về hướng cầu, nhưng đầu xe thì quay về Huế.

Đứng ngay đầu cầu phía Nam, cầm ca café mà Hạ sĩ Châu mới pha, quay qua hỏi Nhơn, có tin gì mới không, Nhơn lắc đầu. Đơn vị thiết giáp rút về có lẽ đã đi hướng khác, hay là đã bỏ xe chạy bộ theo hướng biển, nhìn về Quảng Tri, những tiếng nổ vẫn ầm ỹ vang lên, nhưng mà cũng rất là đáng ngạc nhiên.Từ hướng Bắc cầu Bến Đá là vùng đất chết, khói vẫn bốc cao, pháo, bom vẫn nổ ầm ỹ, trước đây một ngày pháo VC còn bắn tới tấp trên đường quốc lộ, đoàn thiết giáp VC mới bị bắn tối qua, số còn lại quay đầu bỏ chạy, thế mà bọn VC lại không pháo một trái nào vào khu vực cầu , cũng như phía sau. Phía Nam cầu Bến Đá mọi sự như yên tĩnh ,như không có gì xảy ra (?).

Cũng rất may, đại đội chận được thiết giáp, Đại úy Trân cũng không hỏi tôi về những quả mìn tôi dẫn đi gài sao không nghe nổ trái nào,có lẽ bọn CSBV dọn sạch hay toán trung đội 4 chẳng ai rút chốt kích hoả.

Khoảng trưa, lệnh tất cả đại đội chuẩn bị rút, đơn vị lui qua phía Nam cầu, người lính công binh đang kiểm soát lại mìn và ngòi nổ để phá cầu, nhưng không đặt mìn ở chân cầu để phá sập như thường thấy, mà lại đặt ngay trên mặt cầu.

Một tiếng nổ lớn vang lên, khi khói tan, Đại úy Trân đến xem và hỏi người lính công binh

- Anh chắc chắn là thiết giáp CSBV không qua được không?

Người lính công binh trả lời

- Chắc chắn thẩm quyền, khoảng cách này thiết giáp không vượt qua được.

Tôi bước đến nhìn, cây cầu bị cắt làm đôi, một khoảng khá rộng , tôi thắc mắc hỏi

- Đại úy sao không phá sập luôn cho chắc ăn, lỡ Việt cộng bắc ván hay cái gì đó thì sao?

Ông trả lời cũng rất gọn

- Cây cầu này sau này chúng ta còn sử dụng lại, phá cách này mục đích để cản thiết giáp của chúng mà thôi. Cây cầu xe lửa cũng không bị phá, Ông nói để cho những người thoát về còn có thể qua sông.

Khi đại đội sắp di chuyển, bỗng có tiếng la lên

- Có người bên kia sông.

Bên kia hai bóng người đang đi xuống dốc, đó là hai đứa bé, Đại úy Trân nói

- Hai ông nào qua bồng các em, tụi nó nhỏ quá không thể đi qua cầu sắt được.

Hai người lính bỏ đồ xuống, nhanh nhẹn nhảy trên những thanh tà vẹt của đường rầy và bồng chúng qua cầu. Chúng còn bé lắm, đứa lớn chỉ khoảng 4 hay 5 tuổi, đứa kia chỉ đi chập chững, miệng kêu lên "nước ,nước", bọn chúng sống sót trên một đoạn đường dài của tử thần giờ mới lang thang về tới, nước mắt đã không còn trên hai gương mặt hốc hác, cha mẹ chúng giờ nằm đâu đó trên quốc lộ, và thằng bé nhất có lẽ nó cũng chẵng biết chuyện gì xảy ra, đứa lớn lôi đi đâu thì đi đó. Đại úy Trân nói

- Bồng chúng ra sau cho thiết giáp chút nữa họ cũng rút, họ sẽ chở chúng đi, về tới Mỹ Chánh sẽ có người lo cho chúng, còn chúng ta đi bộ.

Và đại đội từ từ đi bộ dọc theo quốc lộ kéo về Mỹ Chánh, ngoái đầu nhìn lại hình dáng hai cây cầu y như nguyên vẹn, không biết sau này cây cầu xe lửa có bị phá hay hư hại gì hay không ?.

Qua cầu Mỹ Chánh đại đội vào đóng trong một cái làng (hình như làng Lương Điền, lâu quá nhớ không rõ). Ở đây mọi nhà sinh hoạt vẫn như bình thường không có vẻ gì là đang có chiến tranh, vài ngày sau đại đội lại di chuyển vào căn cứ Hoà Mỹ̃, tại đây đại đội gặp lại tiểu đoàn, Đại úy Tôn Thất Trân từ giã đại đội về tiểu đoàn giữ chức vụ Tiểu đoàn phó, Đại úy Nguyễn văn Kim làm Tiểu đoàn trưởng. Thiếu tá Huệ không trở lại tiểu đoàn nữa.Thiếu úy Tranh lên Trung úy cũng rời đại đội sang đại đội khác.

Trung úy Tăng Bá́ Phụng thay Đại úy Trân làm Đại Đội Trưởng , Thiếu ú́y Lưu từ ban 3 Tiểu Ðoàn về nắm Đại Đội Phó thay Trung úy Tranh.

Tại căn cứ Hòa Mỹ, Tiểu Ðoàn chuẩn bị cho một cuộc hành quân mới, cuộc hành quân mà đời lính TQLC mơ ước, giấc mơ từ dưới nước tiến lên bờ cho xứng danh Thủy Thần Mũ Xanh........cuộc đổ bộ vào bờ biển MỸ THỦY

Switzerland tháng ngày lưu vong 2005

MX NGUYỄN TÍN

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

NĂM NĂM BẾN CŨ
TRẦN NHƯ XUYÊN

( Kính tặng hương hồn cố Trung Úy Lê Đình Long, K21 Võ Bị Đà Lạt )
Vầng trăng từ độ lên ngôi
năm năm bến cũ em ngồi quay tơ
( Huy Cận )

( HNPĐ )Nguyện bước xuống xe, trời đã về chiều, Đà Lạt đang giữa mùa đông, chưa tối mà thành phố đã mơ màng như sương khói phủ, Nguyện co ro cài lại chiếc áo len mà từ lúc xe ra khỏi Blao nàng chỉ khoác hờ trên vai, bến xe hơi vắng, có lẽ chuyến xe của mình là chuyến cuối cùng từ Sài Gòn ra, nàng sách chiếc va li lững thững bước đi.

Nguyện cũng không hiểu sao giờ này mình lại ở đây, mới mấy ngày trước thôi, dù những khẩn khoản của Long mời nàng lên dự lễ mãn khóa của chàng, Nguyện vẫn giữ ý định là sẽ không đi, Nguyện ngại vì chưa bao giờ nàng đi xa một mình. Vậy mà...chả là tuần trước buổi chiều đi làm về, nàng có thói quen ngày nào cũng vậy, thả bộ dọc theo đường Tự Do đầy lá me, đúng là con đường có hàng cây lá xanh gần với nhau. Nguyện thích con đường này từ hồi còn đi học, giờ, từ ngân hàng nơi nàng làm việc, Nguyện đi bộ dọc suốt con đường, tới Bưu điện, nàng chờ xe bus để về Đa Kao.

Hôm đó, đang ngang qua cái công viên xéo La Pagode ngó qua, buổi chiều còn chút nắng, hình như trời sắp mưa, một cơn mưa cuối mùa còn sót lại. Nguyện bước trên con đường sỏi nhỏ, gió thổi tung bay mái tóc, nàng đưa tay giữ lại, Nguyện chợt nhớ lời Long nói:" em lên đây với anh, gió sẽ mừng vì tóc em bay đó", cái anh chàng Như, bạn của Long còn chêm vào:" cả thành phố này cũng sẽ mừng vì tóc Nguyện bay nữa!", Nguyện mỉm cười nhớ tới sự lém lỉnh của họ, " lính mà cũng bầy đặt lãng mạn".

Nguyện cúi nhặt một chiếc lá trên lối đi, mình cũng lãng mạn đấy thôi, hay là tại Long, hay mình đang nghĩ tới chàng? Mấy hạt mưa bắt đầu rơi, Nguyện bước vào một mái hiên đứng núp, ngắm nhìn những hạt mưa trên lá me, Nguyện nghe trong lòng như có tiếng hát:" em bước chân qua thềm, mưa vẫn rơi êm đềm..."nàng nghĩ thầm: lòng mình cũng êm đềm quá chứ phải không, vậy sao mình không lên thăm Long và dự lễ mãn khóa của chàng! một quyết định bất chợt như cơn mưa bất chợt ùa đến.

Đâu phải tại cơn mưa- Nguyện đỏ mặt- nếu không là tình yêu!

X X X

Long quen Nguyện trong một dịp tình cờ, hôm về Sài Gòn diễn hành Quốc Khánh cuối năm thứ nhất, ghé thăm người anh thì gặp Nguyện ở đó, Long đi với Như, một người bạn thân cùng khóa. Nguyện làm chung sở với người chị dâu, hôm đó nàng tới để tập hát cho buổi liên hoan tất niên.

Long, Như ngồi nói chuyện với người anh, Nguyện và người chị hát nho nhỏ: vầng trăng từ độ lên ngôi, năm năm bến cũ em ngồi quay tơ, em ngồi quay tơ....

Chị đang hát chợt ngừng lại:

- Long, chú thấy tụi này hát có đúng không?

Long cười:

- Em biết gì về hát với hò, chị hỏi thằng Như này này, nó là trưởng ban văn nghệ của trường đó.

Chị quay sang Như:

- Vậy hả, sao, Như thấy thế nào? tụi này chỉ hát thôi, còn đám khác múa, không biết có ra gì không..

Như đáp:

- Nếu thế chị phải phối hợp với mấy người múa nữa chứ, lời hát và động tác múa phải ăn khớp với nhau, còn bài hát thì chị và cô Nguyện phải luyến láy cho rõ thì mới thấy được cái guồng tơ đang quay.

Như với lấy chiếc guitar để cạnh đó:

- Nào, chị và cô Nguyện hát đi, tôi chỉ thêm cho.

Đấy, Long gặp Nguyện trong trường hợp như thế, thực ra từ lâu, anh chị cũng muốn giới thiệu Long với Nguyện nhưng chưa có dịp. Nguyện cò trẻ, dáng dấp như một nữ sinh hơn là một người đi làm, mái tóc xõa dài, làn da trắng mịn là điểm nổi bật nơi Nguyện. Hôm sau, anh chị mời Long và Như tới nhà ăn cơm và dĩ nhiên có cả Nguyện, lúc ngồi uống nước, người chị kéo Như ra một chỗ làm như có điều gì hỏi, để mặc Long cùng Nguyện, sự sắp xếp như thế dù có vẻ như vô tình nhưng cũng đủ cho Nguyện hiểu. Nguyện hồn nhiên hỏi Long:

- Sao Nguyện thấy các anh ăn mặc khác với các người lính khác vậy, ở Sài Gòn này, Nguyện chỉ toàn thấy các ông lính mặc quần áo xanh hoặc rằn ri thôi, đằng này mầu kaki, áo bốn túi, lại có cầu vai mầu đỏ nữa.

- Thế Nguyện thấy xấu hay đẹp?

- Dĩ nhiên là đẹp rồi, không phải nịnh đâu, trông các anh có vẻ thư sinh hơn, không dữ dằn như mấy ông kia.

- Đây là bộ dạo phố mùa hè, tụi anh nhiều quần áo lắm, càng nhiều càng khổ, còn dữ dằn thì làm gì có lính nào dữ dằn.

- Thật đấy, trước kia Nguyện cứ thấy mấy ông lính là Nguyện thấy thế nào ấy, không hiểu vì sao.

- Nguyện nói trước kia thì như vậy, thế còn giờ thì sao?

- Anh khéo cài người ta, thôi được cũng cứ nói, nhưng một lần nữa, không phải nịnh đâu, các anh nói chuyện hay hơn, có vẻ hiền hơn, và - Nguyện cười khúc khích - bảnh bao hơn.

Long nói như mời:

- Vậy thì mấy ngày nữa, anh đi diễn hành, Nguyện đi coi đi, sẽ thấy tụi anh còn bảnh bao hơn thế này nhiều.

- Nguyện biết chỗ nào đâu mà coi.

- Nguyện tới đây đi với anh chị Thanh, anh chị ấy cũng đi coi, chắc Nguyện sẽ không nhận ra tụi này đâu vì trông ai cũng giống ai, khó mà nhận ra.

Nguyện chỉ có hai chị em gái, không biết tí gì về lính tráng, bố là công chức bộ tài chánh. Sau ngày diễn hành, Long chỉ còn có bốn ngày nữa phải trở về Đà Lạt, chưa có gì là rõ ràng cả nhưng bốn ngày còn lại đó, họ gặp nhau thường hơn, Long đưa Nguyện đi chơi để có dịp tìm hiểu hơn về nhau, có những điều không cần phải nói, cả hai cùng nghĩ như vậy, nhưng buổi cuối cùng, khi Long nhắc

- Mai anh phải về Đà Lạt rồi.

Mắt Nguyện chợt thăm thẳm, bàng hoàng, Nguyện không muốn Long cho mình là vội vàng, dù quen biết nhau chưa được bao lâu nhưng những lần nói chuyện, Nguyện mơ hồ thấy nhen nhúm trong mình một tình cảm nào đó, rất nhẹ nhàng, nàng thấy vui những lúc có Long, ánh mắt nhìn nhau mà họ hiểu chẳng cần phải nói nhiều.

Long hỏi như một lời ướm:

- Chắc chỉ sau ngày mai thôi, Nguyện sẽ quên tụi này ngay mà, dù sao thì cũng cám ơn Nguyện đã cho anh những ngày thật vui, về lại Đà Lạt, anh sẽ đem theo biết bao kỷ niệm đẹp.

Trong một cử chỉ bất ngờ dù nhủ lòng đừng để Long hiểu lầm mình là người quá vội, Nguyện cầm tay Long áp lên má mình, một điều đó thôi, không cần phải nói gì cả mà như là đã nói rất nhiều, có phải thế không anh - Nguyện nói thầm - mưa vẫn rơi êm đềm, và lòng em cũng rất êm đềm.

Tết năm đó, Long được về phép 15 ngày, giờ thì không còn gì gọi là quá vội để bầy tỏ tình cảm cho nhau. trong những lần đi chơi, Long thường dẫn Nguyện vào Givral:

- Hồi còn đi học, anh cùng bạn bè hay ngồi ở đây ngắm các cô làm ở ngân hàng về, tà áo dài đồng phục làm mát cả đường phố.

- Hóa ra anh đã để ý đến em từ hồi nào, đùa vậy chứ lúc đó em vẫn còn ở mãi đâu đâu, em thì chiều nào làm về cũng ngang qua đây, đi suốt con đường Tự Do này để nhớ đến anh, có lần chị Thanh trông thấy em gọi mà em cũng chẳng nghe thấy, hôm sau vào, chị trêu quá trời.

Long nhìn Nguyện nồng nàn và nàng cũng vậy.

- Chừng nào anh mãn khóa?

- Tháng 11, cuối năm.

- Rồi anh ra mặt trận?

- Anh ra đơn vị chứ không phải ra mặt trận.

- Anh ạ, em mới đọc cuốn "Đêm nghe tiếng đại bác" của Nhã Ca, em sợ quá, sao lại có chiến tranh để làm gì nhỉ?

- Có gì đâu em, đâu phải ai cũng vậy, đừng nghĩ vẩn vơ, tôi đứng lên, mình dạo phố một lát.

Những ngày phép qua nhanh, họ có nói với nhau về tương lai, tuy chỉ mơ hồ. Long nói với Nguyện là sau ngày ra trường, nếu chúng ta còn nghĩ đến nhau, chúng ta sẽ chính thức sống chung, Long thấy Nguyện run lên trong tay mình.

X X X

Ba người ngồi trong một quán cà phê nhỏ cuối dốc Duy Tân, Long rối rít:

- Sao em lên mà không cho anh hay, anh cứ nghĩ lễ mãn khóa này anh sẽ chán chết, thằng Như còn có bà cụ nó lên nữa là.

- Vậy hả, cụ đâu rồi Như?

- Bà đang trong nhà người quen, mấy hôm nay thằng Long cứ đòi đưa cụ đi chơi, giờ thì chắc thôi rồi phải không Long!

- Em, tụi anh lúc này rất bận, vừa tập lễ mãn khóa, vừa tập vở kịch, sẵn có người quen của thằng Như ở đây, anh nhờ họ dẫn em đi chơi, tuần sau mãn khóa thì anh hoàn toàn thong thả.

- Eo ơi, trông các anh sao mà đen thế, hết đẹp trai rồi, sao em lại quen với mấy ông chà và này nhỉ.

- Tụi này mới ở dục Mỹ về chưa được bao lâu, đó là trung tâm tàn phá sắc đẹp mà Nguyện, không sao, tháng sau lại đẹp trai như thường, lúc đó ai cần ai không biết.

- Ông Như, Nguyện lên đây mà có thấy ai mừng vì tóc Nguyện bay đâu, ông chỉ khéo làm thơ, nghe Long nói ông biết làm thơ nữa hả, hôm nào làm cho Nguyện bài thơ đi.

- Long nó ngâm thơ cho Nguyện nghe nhiều rồi, cô còn cần thơ ai nữa.

Nguyện vỗ vỗ tay Long:

-Em nghe nói trên này có cà phê Tùng ngon lắm phải không? cho em lại đó đi.

- Không được đâu, chỗ đó toàn tụi anh không hà, em vào đó chẳng khác nào hoa lạc giữa rừng gươm.

Nguyện cười:

- Thì cứ cho em lại đó, các ông đen thui như thế này thì ai nhìn thấy ai, thế nào trước khi về Sài Gòn, anh phải dẫn em lại đấy đấy.

X X X

Hôm mãn khóa, Nguyện đi cùng với mẹ Như vào trường Võ Bị, buổi lễ rất trang trọng và đông thân nhân tham dự, mẹ Như hỏi Nguyện:

- Cô có thấy thằng Như nó đứng chỗ nào không?

- Con cũng không biết nữa, trông người nào cũng như người nào, cả Long con cũng chẳng thấy đâu nữa.

Buổi lễ xong, Như đưa mẹ Như và Nguyện ra lại Đà Lạt, tối dạ vũ ở Palace, Nguyện theo Long và Như, líu ríu như cô gái nhỏ, tối nay, Nguyện mặc chiếc áo dài mầu vàng, khoác cái manteau mầu chocolat đậm, Nguyện cứ nhắc đi, nhắc lại:

- Nhớ nhé, em nhẩy không giỏi đâu đấy, đừng có mà"phăng" lung tung làm em té lăn quay ra là chết, bạn bè nó dậy em mới lơ tơ mơ thôi.

Lúc Long mời nàng, Long mới thấy Nguyện thực không nhẩy giỏi, chứng tỏ Nguyện cũng không đi chơi nhiều.

Rời Palace, đêm mát lạnh, Nguyện đi giữa Long và Như, gió khuya thổi bay tóc Nguyện, Như nói:

- Giờ thì Nguyện có thấy nhiều người mừng vì tóc Nguyện bay chưa?

- Có thấy gì đâu Như!

-Nguyện không thấy mấy đứa bạn tụi anh ngắm Nguyện quá chừng à, không có anh và Long thì phải biết.

Long đỡ lưng Nguyện:

-Em có đói bụng không, mình kiếm cái gì ăn nghe, tối nay em là " la plus belle pour aller manger" đấy.

- Ừ, em cũng thấy đói rồi, em đề nghị thế này, mình về thay quần áo, xuống phố đi ăn bụi ngoài đường một bữa, cứ ăn tiệm mãi phát chán.

Cả ba thay quần áo, lang thang ngoài phố ăn cháo khuya, hột vịt lộn...xong lại kéo nhau về cái quán cà phê dưới con dốc Duy Tân. Hai ngày sau, Đà Lạt vắng hẳn bóng dáng các Sĩ quan vừa mãn khóa, mọi người háo hức về với gia đình. Như đưa mẹ ra bến xe về lại Sài Gòn, còn chàng phải đi máy bay vì vấn đề an ninh. Long và Nguyện cứ giữ Như ở lại chơi với họ ít ngày nữa nhưng Như từ chối, để họ được tự do.

X X X

Long và Như chọn cùng Sư Đoàn 25, mấy ngày phép còn lại, Long và Nguyện quấn quýt bên nhau, Nguyện đưa Long về giới thiệu với Ba, Má. Cùng tình yêu say đắm nhưng không làm chùn bước người sĩ quan trẻ mới ra trường, Long mang tình yêu đó ra đơn vị, những bỡ ngỡ ban đầu qua đi rất nhanh, Long dần vững vàng trong vai trò của một sĩ quan chỉ huy đơn vị tác chiến. Sau 6 tháng vừa là Trung đội Trưởng vừa là Đại Đội Phó, như đa số K21 ra BB lúc đó, đều nắm Đại Đội Trưởng. Năm 1967, Long An VC chưa nhiều, SĐ 25 nhận trách nhiệm bình định đúng với trên của khóa là " Chiến thắng nông thôn".

X X X

Long ngồi trên bờ ruộng, nheo mắt nhìn vào hàng dừa nước trước mặt rồi nhìn vào bản đồ để xác định mục tiêu, chỗ này, theo tin tình báo, địch tập trung tới cấp Đại Đội, hồi nãy đi ngang xóm nhà phía ngoài, Long thấy dân chúng hớt hải bồng bế nhau chạy ra phía đường lộ, chẳng cần phải hỏi chàng cũng biết tình hình như thế nào rồi.

Đám lá cao ngất rước mặt, che kín cả một vùng sông rạch, Long càu nhàu:

- Mẹ nó, xứ gì mà chỗ nào cũng là lá với lá, hôm nay có chuyện lớn đây.

Chàng gọi máy nói chuyện cùng Tiểu đoàn Trưởng, bộ chỉ huy TĐ đặt ngoài con lộ:

- Đại bàng có thấy dân họ chạy ra ngoài đó không, chắc tụi nó khá đông đấy.

- Tôi thấy rồi, xử dụng pháo thật nhiều rồi hãy cho con cái vào, tôi đã xin cả phi cơ cho anh.

Long quay sang sĩ quan " đề lô " đứng cạnh:

- Cậu kêu tất cả các khẩu pháo của Cần Giuộc, Cần Đước, Rạch Kiến ưu tiên cho mình, đọc tọa độ cho họ đi, hôm nay là em khô cổ đó em.

Long biết, nếu cho quân từ ruộng trống như thế này mà vào thì chỉ tổ làm bia cho địch bắn, còn tạt trái mà men theo rạch thì tiến rất chậm, còn bị mìn bẫy nữa.

Chàng gọi Đoàn, Trung đội Trưởng trực chính hôm nay, Chuẩn úy ra trường gần một năm, đánh giặc cũng ngon lành, bị thương mới về lại đơn vị;

- Cậu có thấy đám lá trước mặt đó không, tụi nó ở trong đó đó, tôi sẽ kêu pháo bắn rồi cậu cho mấy đứa nhấp thử xem sao.

Pháo từ Cần Đước bắn vào mục tiêu, từng loạt đạn nổ vang rền, khi pháo ngưng, năm người lính thuộc Trung đội Đoàn chạy băng lên phía trước, nước lấp xấp tung tóe dưới chân họ, khi còn cách đám lá khoảng 50 thước, họ đồng loạt khai hỏa, ngay lúc ấy, từ trong đám dừa lá, đạn VC bắn ra như mưa, cả năm người lính mất hút sau một bờ ruộng, không biết ai trúng đạn, ai không.

Tiểu Đoàn cho lệnh Long ngừng lại, sĩ quan ban ba gọi Long trên máy:

- Thẩm quyền chờ cho pháo bắn thêm nữa, sẽ có phi tuần lên cho mình.

Lúc sau, pháo từ ba, bốn phía bắn dồn dập vào mục tiêu, những thân cây dừa nước bị mảnh pháo chém bay tung lên trời, đám lá đã quang đi được một ít, đất bụi mù mịt, Long không biết có phá được nhiều hầm không nhưng chắc chắn là chúng có thiệt hại. Không chờ phi cơ, Long nói với TĐT cho mình lên thử, chàng gọi Đoàn cho Trung đội tiến lên, Đại Đội sẽ theo ngay sau. Đoàn dẫn Trung đội chạy ngang qua thửa ruộng, khôn khéo hơi chếch về phía trái một chút, mấy người lính đầu tiên đã bám được bờ rạch, không thấy địch phản ứng, Long cầm bản đồ, phất ĐĐ theo ngay sau Đoàn, khi Long còn cách con rạch khoảng 15 thước, một loạt AK tứ trong đám lá bắn ra, đang chạy, Long thấy như có một sức thật mạnh đẩy chàng bật ngược trở lại, Long vật xuống bờ ruộng, người lính mang máy chạy sau Long hốt hoảng la to:

- Y tá đâu, y tá đâu, thẩm quyền bị thương rồi!

Không, anh ta lầm, Long không bị thương, chàng đã không kịp nghe người lính gọi y tá, không cả kịp kêu lên hai tiếng đáng kêu nhất: Nguyện ơi. Khi người lính mang máy chạy tới ôm lấy chàng, một dòng máu từ thái dương thấm ướt cả áo anh ta, anh ta kêu lên:

- Trời ơi, ông thầy ơi!

X X X

Sài Gòn, ngày...tháng...năm...

Như thân mến, vậy là Long chết rồi, chết thật rồi, Như có hiểu nỗi đau của Nguyện như thế nào không. Nguyện giờ là chiếc bóng của chính mình, em sợ quá, biết thế em không thèm đọc cuốn đêm nghe tiếng đại bác làm gì, nó đã ứng nghiệm vào em, biết thế cũng đừng quen Long để giờ em khỏi phải đau khổ, sao định mệnh khắc nghiệt quá. Như có biết không, gió đâu còn mừng vì tóc em bay nữa vì em đã cột tóc mình lại, cột cả trái tim mình lại. Như ơi, sẽ chẳng còn ai mừng vì tóc em bay nữa đâu.

Nguyện vẫn mỗi chiều đi lại con đường cũ, hàng me vẫn vậy, công viên vẫn vậy, chỉ có lòng em thay đổi vì chẳng còn gì làm em tha thiết cả, em giờ đây như rừng thu. Ngày xưa mỗi bước chân em còn quấn quýt với hình bóng của Long, giờ mất hết rồi, ngày xưa những chiếc lá me lăn tròn chia vui dưới chân em, giờ chúng lặng lẽ u sầu, em cũng lặng lẽ u sầu. Em nghĩ lại cũng chẳng hối tiếc gì sao lại gặp Long, anh ấy đã cho em bao là êm đẹp, hai mươi tuổi đầu em mới thấu hiểu thế nào là đau thương, trời bắt em đau thương quá sớm, Long mới ra trường chưa được bao lâu, em mới ngụp lặn trong tình yêu chưa được bao lâu.

Em không còn viết nổi nữa, chẳng lẽ than van với anh mãi sao, em sẽ cầu nguyện cho anh đừng bị như Long, em thấy thương những người như anh, như Long, thương tất cả những người ngày đêm cận kề với cái chết mà vẫn bình thản, chẳng hề than vãn, các anh thật lạ lùng, chưa bao giờ thấy các anh nói về những hiểm nguy mà các anh phải chịu đựng, các anh sợ những người thân lo âu chăng, các anh đã lựa chọn một cuộc sống, trời ơi, một cuộc sống mà cái chết có thể đến bất cứ lúc nào và Long đã bình thản đi vào nơi đó. Như ơi, em lại khóc nữa rồi, thôi em ngưng đây.

X X X

Ba tháng sau ngày Long chết, Như mới có dịp về phép, chàng tới thăm Nguyện, khi ngồi nói chuyện, nàng nhìn Như đăm đăm như cố tìm lại một hình bóng nào.

- Anh có vẻ ốm đi, chắc hành quân nhiều lắm phải không?

- Cũng vậy thôi, ngày nào cũng là ngày hành quân cả, ngay cả lúc nghỉ dưỡng quân, ai nghỉ chứ anh có nghỉ đâu mà mập nổi.

- Anh khác hẳn ngày trước, ý em muốn nói lúc hãy còn trong trường Đà Lạt, mặc quần áo trận vào cộng với sự gian khổ trông có vẻ dầy dạn hơn, dạo còn sống Long về thăm em, em cũng thấy như vậy, các anh lạ lùng quá, không sợ chết à?

- Nói không sợ cũng không đúng, nhưng ngày nào cũng như ngày nấy riết rồi nó quen đi, rồi lại thấy vui nữa là đằng khác, em nhớ tụi anh là sĩ quan hiện dịch mà.

- Anh đưa em ra phố đi, lâu rồi, em chẳng đi đâu cả.

Như đưa Nguyện ra phố, nàng mặc lại cái áo vàng ngày nào ở Palace, lúc nói chuyện vẫn phảng phất nụ cười nhưng không còn tươi tắn như ngày xưa. Nguyện đòi Như đưa nàng vào Givral, nàng chọn cái bàn gần nơi cửa kính:

- Long và em vẫn thường ngồi ở đây.

Trầm ngâm một lúc, chợt Nguyện nói một câu rất mơ hồ:

- Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ, buồn quá hả anh.

Bên cạnh Như, Nguyện thấy thật gần gũi, nàng cảm tưởng như có Long bên cạnh, hai người là bạn thân, cuộc tình của Nguyện và Long, Như tham dự nhiều trong đó, Nguyện chợt giật mình, nàng thấy hai người như là một.

Buổi tối, Như đưa Nguyện vào vũ trường Tự Do, vũ trường này, cả ba đã từng vào đây nhẩy mấy lần hồi mới ra trường. Như kéo ghế, rót nước cho nàng, trong bóng tối, mắt Nguyện vẫn long lanh như đêm nào ở Palace, khi Lệ Thu xuất hiện:" ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo, em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi " thì Nguyện chợt nắm tay Như, Như hiểu, không phải Nguyện cố ý, nàng đang xúc động, một cái nắm tay vô thức, Nguyện đang nhớ tới một kỷ niệm nào đó, khi bài hát hết, Nguyện hỏi Như:

- Sao anh không mời em nhẩy bản này

- Lệ Thu hát hay quá, ngồi nghe thôi, nhẩy nó phí đi.

Trong bóng tối, khi hai người đang dìu nhau giữa piste, Nguyện đã nép vào Như:

- Anh và Long thân nhau nên khi ở cạnh anh, em thấy có sự êm ấm lạ thường, may sao mất Long, còn anh như một chỗ dựa tinh thần cho em.

Nguyện định nói gì thêm nhưng nàng ngưng lại, có tiếng thở dài, Như thấy ươn ướt ở ngực áo, Nguyện đã khóc tự hồi nào.

X X X

Năm 1970, đang tham dự cuộc hành quân vượt biên ở Kampuchia thì Như nhận được thư Nguyện:

................anh vẫn khỏe chứ, sao lâu quá anh không về thăm em làm chẳng có ai đưa em đi chơi cả, vậy chứ coi chừng có ngày anh về sẽ chẳng còn em để đi chơi nữa đâu, đừng giật mình, em nói thật đấy, đừng có cười. Để em kể anh nghe chuyện này, hôm nọ tới thăm mẹ anh, có lúc cụ nắm tay em nói: ước gì con là con dâu của bác, em thấy lòng xốn xang, đừng cười em nghe, em có xốn xang thì có gì là không phải đâu, em đã nói rồi mà, chẳng lẽ em cứ ngồi đếm thời gian để mà quay tơ mãi sao. Cụ bảo thằng Như cũng đã đến lúc cần có người bên cạnh. Anh có cần ai ở cạnh không hay cứ mãi ôm mộng công hầu khanh tướng. Tối ngủ nghe tiếng đại bác từ xa vọng về, cụ nói chỗ đó chắc là chỗ thằng Như đóng quân, em phải gạt ngang: không phải đâu mẹ, đấy là tiếng đại bác anh Long con vẫn còn tiếp tục gọi bắn lên đầu quân thù đó, anh Như thì chắc chẳng nghĩ gì tới ai đâu mẹ ạ. Em gọi mẹ là mẹ đấy, kệ, dù cho anh có không bằng lòng. Em nghe tin tức thấy tình hình chiến sự có vẻ nặng lắm, ráng giữ gìn sức khỏe, em vẫn hàng đêm cầu nguyện cho anh, nhớ về thăm em.

X X X

Chiến sự trở nên sôi động khi Tướng Minh thay Tướng Trí bị tử nạn máy bay, đang từ chủ động, ta trở thành bị động, cứ lui dần, lui dần. Trận đầu tay của Tướng Minh là trận Dambe của TĐ 11 Dù, Dũng, K22A chết trong trận đánh này. TĐ Như vừa rút về gần Thiện Ngôn được hai ngày, chưa kịp nghỉ ngơi, chỉnh đốn thì được lệnh lên giải tỏa căn cứ Krek do TĐ 30 BĐQ đóng giữ đang bị bao vây, Th/Tá Thủy, K19 là TĐT bị tử thương, bạn cùng khóa với Như, Hoàng kim Truy(H21) là ban ba của TĐ này. Tại sao ta cứ co dần không còn như thời còn Tướng Trí, Thiện Ngôn bị cắt đứt, Dù đổ vào hành quân ở đây để khai thông quốc lộ 22 từ Tây Ninh lên, một NT khóa 20 của Lữ đoàn Dù bay trên CNC trúng đạn VC từ dưới bắn lên bị tử thương.

Đang lúc quay cuồng như thế, Như nhận được thư của Nguyện trong chuyến trực thăng tiếp tế, kèm theo một thiệp cưới.

Sài Gòn, ngày...tháng...năm 1971.

Anh thân mến, em biết anh cũng chẳng buồn khi nhận được thư này, Như ơi, người con gái của Huy Cận ngồi bên khung cửi để dệt tơ, còn em ngồi mãi với tháng năm để dệt nỗi buồn, thôi, em không thể ngồi mãi, bây giờ em đứng lên đây, ngồi mãi chờ anh mà anh có thèm đưa tay để đỡ em dậy đâu. Anh ạ, em cứ ước ao phải chi người bên cạnh em mãi mãi sẽ là anh, nhưng em biết anh chưa muốn thế, ở anh chưa có biên giới, anh còn lãng đãng như mây trời, em không thể ngắm mây cứ mãi trôi. Giả như anh có tội nghiệp mà nhận em, em biết sẽ làm vướng bận anh thôi, anh còn nhớ cuốn phim Cimaron không, anh là chàng lãng tử Glenn Ford, còn em sẽ là Maria Schell sầu muộn, những lần đi chơi với nhau, nhìn vào mắt anh, em đọc được như thế. Anh còn nhớ tối hôm ở Tự Do không, em đã khóc vì sung sướng khi nghĩ rằng thật may cho em khi mất Long còn có anh, nhưng em đã lầm.

Thôi anh nhé, mừng cho em đi, người em sắp lấy làm chồng cũng ở trong quân đội, ông ấy là Thủy thần mũ xanh, eo ơi, thủy thần gì mà không biết bơi, quăng xuống nước là chìm nghỉm. Em không muốn ông ấy là thần, là thánh gì cả, em chỉ muốn ông ấy đừng bỏ em như Long, đừng vời vợi như anh, trước đây cứ sợ những người lính nhưng giờ lại thật thương họ, mà bây giờ không lấy lính thì lấy ai hả anh, cả nước đi lính mà, không lẽ lấy mấy ông nhà đèn Chợ Quán!

Như nhớ về dự đám cưới em nghe, cho ta được thấy nhau lần cuối.

X X X

Nhưng họ không thấy nhau được lần cuối như Nguyện mong muốn, Như không về dự đám cưới Nguyện được, cuộc chiến càng thêm mãnh liệt, cái hòa đàm Paris đổ thêm lửa vào các trận đánh. Mùa hè đỏ lửa, mấy tháng liền lăn lộn từ Bầu Bàng lên Chơn Thành, rồi suối Tầu Ô, khai thông Quốc lộ 13 để giải tỏa Bình Long, lá thư theo chàng cùng năm tháng, đôi lúc có phút rảnh rỗi, Như lại mở ra đọc, lãng mạn như một bài hát tiền chiến, mà là thư cứ dần vàng đi thật, cứ lấy ra, lấy vào mãi, mỗi lần đọc xong, Như lại thừ suy nghĩ: không biết Nguyện giờ như thế nào.

1973, hiệp định Paris được ký két, cứ ngỡ là hòa bình rồi nhưng lúc này đánh nhau còn hăng hơn bao giờ vì những vi phạm liên tục của VC. Ngưng bắn da beo, một từ quái lạ mà đánh nhau lúc này cũng quái lạ, có đụng thì pháo binh chỉ bắn ba trái thôi, hết đạn rồi, bây giờ chiến tranh theo kiểu nhà nghèo.

Như giờ là Tiểu Đoàn Trưởng, sau hiệp định Paris mấy ngày, chàng dẫn TĐ về bảo vệ Dầu Tiếng, một quận nhỏ lẻ loi, chung quanh là mật khu Dương minh Châu, Bời Lời, Tam giác Sắt...Giữa năm 73 Như được cái phép về thăm bà cụ đau nặng, một cái phép hiếm hoi cho một TĐT, thực ra cũng lâu lắm rồi, Như có biết phép tắc là gì đâu, chàng tìm lại Đa Kao thăm Nguyện, nhà đã dọn đi nơi khác, nhớ lá thư Nguyện viết: coi chừng có ngày anh sẽ không gặp lại em nữa đâu, quả thực, mình mất Nguyện thật rồi, sao trong ta nhiều mâu thuẫn quá.

Như vào Givral, ngồi lại cái bàn Nguyện vẫn thích ngồi, buổi chiều nắng đã nhạt, chàng hi vọng Nguyện đi làm về sẽ ngang qua đây, " em biết rằng sẽ không bao giờ giữ được anh", đúng đấy Nguyện, chính anh cũng không hiểu mình muốn gì, anh không ôm mộng công hầu khanh tướng gì cả, cũng chẳng có hoài bão chi lớn lao nhưng cuộc đời lính có nhiều bấp bênh, những bất trắc luôn chờ nơi tụi anh. Có mấy người làm ngân hàng ngang qua, không thấy Nguyện đâu cả.

Như đi dọc theo con đường Tự Do , những chiếc lá me lăn tròn như một điệu nhạc luân vũ, gió vẫn mừng vì tóc em bay đó chứ Nguyện, em vẫn còn trong sáng nơi anh, chỉ có anh là u mê, cái gì mất đi rồi mới tiếc.

Trở lại Givral ngồi nữa, người tài xế thấy tối mà chưa thấy chàng ra, ló cổ vào tìm, Như uể oải đứng dậy.

X X X

Mười năm đi tù CS, cuối 88, Như vượt biên tới Úc, chàng không đi Mỹ vì có người em ở Úc bảo lãnh, nhờ vậy, như một phép lạ, trong một lần đi phố ở khu người Việt, Như gặp Nguyện, Nguyện sững sờ một lúc mới thốt lên được:

- Như, phải Như đấy không! trời ơi, em thật không ngờ.

Nguyện khác đi nhiều, dĩ nhiên, thấy Như nhìn mình đăm đăm, Nguyện cười:

- Em thay đổi nhiều lắm phải không anh, ba chục năm rồi còn gì.

Tóc Nguyện đã có sợi bạc, mắt vẫn ánh lên nét nghịch ngợm nhưng đã có vài vết nhăn. Nguyện đi cùng với một bé gái khoảng 4,5 tuổi, thấy Như nhìn đứa bé, Nguyện nói:

- Nó là cháu ngoại em đấy.

- Anh ấy đâu rồi Nguyện?

Mắt Nguyện chợt xa xăm:

- Em cũng không biết nữa, trong cuộc lui quân ở Đà Nẵng, không thấy anh ấy trở về, em có ra ngoài đó dò tìm nhưng không có tin gì cả, em có mỗi đứa con gái, đây là con của nó. Còn anh, được mấy cháu rồi, cuối năm 74, em đọc được tin vui của anh trên báo, cũng gan lì nhỉ, mãi tới lúc đó mới chịu lấy vợ, chị đâu?

- Bà ấy ở nhà.

- Hôm nào dẫn chị lại em chơi.

- Vâng, để hôm nào tôi sẽ dẫn bà ấy lại thăm Nguyện, tôi có kể cho nhà tôi nghe về Nguyện.

Nguyện cười:

- Thế anh có kể cho chị ấy nghe chuyện em đã khóc làm ướt áo anh không?

- Giờ Nguyện sống với ai?

- Em ở vậy một mình từ ngày anh ấy mất, giờ thì già rồi, hơn nữa đã hai lần để tang, một lần tang trong lòng, một lần tang trên mái tóc, em không lấy được Long nên Long vẫn nhiều hình ảnh đẹp trong em, em không lấy được anh( cười), anh vẫn đẹp trong em, giá mình mà lấy nhau, giờ biết đâu hai đứa đã chẳng ly dị từ hồi nào rồi( lại cười), tháng sau em sẽ về Việt Nam thăm đứa em gái, Nga đó, anh còn nhớ không? À mải nói chuyện quên mất, cụ như thế nào anh?

- Cụ mất lâu rồi, khi tôi còn trong tù.

Trước ngày Nguyện về Việt Nam, Như tới thăm, chàng đưa Nguyện một bài thơ:

- Gửi Nguyện, Nguyện yêu cầu tôi làm cho Nguyện một bài thơ hôm Nguyện lên dự lễ mãn khóa, còn nhớ không? hơn ba chục năm sau, giờ bài thơ mới làm xong, tặng Nguyện trước khi về Việt Nam.

Nguyện đọc bài thơ rồi ngẩng lên:

- Vâng em sẽ thắp dùm anh nén nhang cho Long, cho những người đã nằm xuống.

Ngày về Việt Nam, Nguyện đáp xe lên Đà Lạt tìm về kỷ niệm cũ, cũng là những ngày của tháng 11, chiếc áo len khoác hờ, lững thững sách chiếc va li, nàng thấy mình một cô Nguyện bé nhỏ của năm 1966, ngày lên dự lễ mãn khóa của Long. Nguyện tìm lại quán cà phê cuối con dốc Duy Tân, quán vẫn còn đó, nàng ngồi xuống gọi ba ly cà phê, người bán hàng ngạc nhiên khi chỉ thấy có mỗi mình Nguyện, nàng khoanh tay lại, nhắm mắt, gió se lạnh, Nguyện thấy như có Long và Như đang ngồi trước mặt mình, bên ly cà phê, như năm nào, họ còn rất trẻ, nụ cười rạng rỡ trên môi với mầu đỏ alfa nơi vai áo.

Úp mặt vào hai bàn tay, giọt nước mắt ứa trên khóe mắt, Nguyện kêu lên nho nhỏ: Đà Lạt ơi!

TRẦN NHƯ XUYÊN.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


Hồn Việt – Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam
chính thức phổ biến trên YouTube, theo link dưới đây:





Vietnam Film Club
6433 Northanna Drive, Springfield, VA 22150
vietnamfilmclub@aol.com
703-971-9178, 703-732-3283


THÔNG BÁO PHÁT HÀNH PHIM
HỒN VIỆT - QUỐC KỲ QUỐC CA VIỆT NAM



Kính gởi Quý Đồng Hương,
Vietnam Film Club trân trọng thông báo:
Kể từ ngày 14 tháng 12 năm 2012, cuốn phim
Hồn Việt – Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam
sẽ chính thức phổ biến trên YouTube, theo link dưới đây:



Nhân cơ hội này, Vietnam Film Club xin tri ân và cảm tạ những Mạnh Thường Quân,
các Thân Hữu tại Hoa Kỳ và Canada, các Cơ Quan Truyền Thông hải ngoại đã:
yểm trợ tài chánh, cung cấp tài liệu và hình ảnh, giúp phương tiện di chuyển, đóng góp ý kiến, sắp xếp các cuộc phỏng vấn,
và khích lệ tinh thần chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện cuốn phim.

Vietnam Film Club là một tổ chức hoạt động hoàn toàn bất vụ lợi,
nhưng để DVD Hồn Việt - Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam được gởi đến tận tay mỗi Đồng Hương,
xin vui lòng giúp trang trải chi phí in ấn, và cước phí bưu điện: $US 10.00 trong Hoa Kỳ, và $US 15.00 ngoài Hoa Kỳ cho mỗi DVD.

Chi phiếu xin ghi: Vietnam Film Club, gởi về địa chỉ:


Vietnam Film Club
6433 Northanna Drive
Springfield, VA 22150
703-971-9178


Mọi liên lạc xin dùng email: vietnamfilmclub@aol.com

Trân trọng cảm tạ,


Vietnam Film Club

Toàn bộ cuốn phim Hồn Việt Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam do Vietnam Film CLub thực hiện.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Những nén nhang cho Lại Quyền Thế, người lính Biệt Động Quân !

Còn vài ngày nữa là đến Lễ Giáng Sinh, tôi vừa nhận được tin em đã qua đời khoảng hơn mười năm trước đây qua lời nhắn trên trang mạng Phố Núi Pleiku ngay dưới bài tôi viết hồi tháng tư năm 2011 trong đó tôi đã ngỏ lời nhớ ơn và tha thiết muốn được biết tin tức về em !

Cũng còn hai ngày nữa là tôi sẽ bước qua tuổi đời 67 trong khi em đã mất đi vào tuổi chưa tròn 55, ngày trùng phùng mong đợi của tôi với em sẽ không bao giờ có nữa !
Cuộc đời có phải đúng là không bao giờ như ý mình muốn như em đã nói với tôi khi nhắc đến chuyện em phải rời bỏ mái trường !?

Mọi khi tôi đốt một nén nhang hay thắp một ngọn nến mỗi khi được tin một em cựu học sinh nào đó của tôi đã qua đời, hôm nay với riêng em những nén nhang sẽ được liên tục nối tiếp nhau cho đến cuối ngày như một lời thương tiếc sâu xa !

Lời em nói để trấn an tôi khi em cùng tôi dán sát người xuống lòng chiếc mương cạn gần đầu cầu Sông Ba trong khi những tiếng đạn xé gió bay ngang đầu " bữa nào về tới Tuy Hoà thầy trò mình uống một bữa thật say nghe thầy " đang văng vẳng bên tai tôi....
Hình ảnh em trong bộ đồ trận Biệt Động Quân tay trái cầm ngang khẩu M16 tay phải hướng dẫn cho từng chiếc xe lách qua khúc đường hẹp trên con đường tỉnh lộ 7B đang như trước mắt....!


Tôi thật sự chỉ hơn em những ngày tôi đứng trên bục giảng và lúc em ngồi ở hàng ghế học trò dưới mái trường Trung học Pleiku !
Suốt 5 ngày trên con đường 7B em thưa gửi với tôi như những ngày em còn cắp sách tới trường nhưng bên cạnh em tôi đã chỉ như một cậu bé mới chập chững vào đời !

Em bình thản đi giữa một đám người hỗn loạn hoảng hốt.....giúp người này căng chiếc bạt che nắng giúp người kia nhóm chiếc bếp nấu cơm trước gió. Em ngồi một góc xa xa lẳng lặng hút thuốc thỉnh thoảng đưa mắt kín đáo nhìn tôi như nhắc nhở tôi và gia đình hãy yên giấc ngủ vì bên cạnh đã có em trông chừng.......
Tôi nhớ khuôn mặt rạng rỡ của em một sáng tay khua khua lon sữa nói là em có quà cho đứa con nhỏ của tôi !

Chiếc cầu bắc ngang sông Ba dang dở trước mặt chận đường đi của hàng ngàn chiếc xe đủ loại về hướng Tuy Hoà, con đường trở lại đằng sau là cõi chết đầy ắp những tên lính cộng sản không chùn tay xả súng vào những người dân vô tội !

Tôi đã dậy em những bài học về khoa học dưới mái trường nhưng tôi đã thụ động chịu thua hoàn cảnh và chính em đã tìm ra đường sống sau khi quan sát những chiếc trực thăng chuyên chở vật liệu xây cất cầu đáp xuống rồi trở về không.

Tôi nhớ ban đêm khuất mắt mọi người em đã chỉ vẽ tôi cách lao mình vào sàn trực thăng khi chiếc máy bay càng chưa chạm đất, tôi nhớ em đã dặn tôi những chỗ trực thăng em đoán sẽ đáp, tôi nhớ em đã dặn đi dặn lại phải dậy sớm để sáng sớm hôm sau sẽ là người đầu tiên tiến sát lại gần máy bay......
Thế rồi mọi sự diễn ra gần đúng như kế hoạch em đã dự đoán, chiếc máy bay chật ém chở tôi và gia đình cùng một số người nữa đáp xuống Tuy Hoà an toàn nhưng em lại không có đó ! Nếu em không lo lắng cho tôi thì chỗ đầu tiên trên chiếc trực thăng chắc chắn đã phải là của em !

Tôi nhớ khi em cầm súng tới tìm tôi trong bộ quần áo rằn ri tại một góc vắng khi chiếc xe be em làm áp lực cho tôi và gia đình quá giang tạm dừng ở làng Cũng Sơn, tôi đã không nhận ra em là ai nên đã sợ run cho tới khi nghe được tiếng "thầy ! " em gọi !
Em đã không buồn khi tôi không nhận được ra em mà còn nói giỡn "em học dở quá nên thầy không nhớ em ha !".

Con người em giản dị, em không có chức vị nào trong đời nhưng tấm lòng đại lượng của em, cách em đối xử với đời với người đã làm tôi thay đổi khá nhiều sau này trong cách đối xử và phán xét người khác.

Mùa đông đang phủ trên nơi tôi sống một mầu tuyết trắng để đón Giáng Sinh, xin cám ơn em đã đưa tôi đến được miền đất an bình !

Tôi đã nợ em, vào tuổi này trong cuộc đời, tôi cũng đã nợ biết bao người khác nữa và tôi cũng biết rằng tôi sẽ chẳng bao giờ trả được những món nợ đó như đã nợ em !

Nguyễn Đăng Dự
Ngày 15 tháng 12 năm 2012
Québec, Canada

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Lời Người Lính VNCH Gởi Các Chiến Hữu Đổi Màu

Đỗ Văn Xuân

Tôi rất ngại, không biết phải xưng hô thế nào với các bạn, trước đây tôi và các bạn đứng dưới lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, nay có một số đã chấp nhận đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ mà trong cuộc chiến bảo vệ tự do, chúng ta không bao giờ chấp nhận và truy lùng trong những cuộc hành quân, cũng như hạ xuống tại những vùng nông thôn kẻo lánh để thay vào bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ. Đau lòng là ngày nay, các anh không còn thích chào cờ nầy khi về Việt Nam, phải đứng trước lá cờ đỏ sao vàng và chân dung Hồ chí Minh, thậm chí khi trở sang nước tạm dung, các anh tỏ ra khiếp sợ một cách hèn nhát, ít khi dám tham dự các sinh hoạt có lá cờ vàng, nhất là không dám chụp những tấm ảnh có những thứ mà chế độ cộng sản thù ghét, đã sống tại các nước dân chủ, nhưng các anh vẫn còn sợ hãi đảng cộng sản, thì làm sao giải trừ được chế độ phi nhân, mang lại tự do cho đồng bào Việt Nam. Tôi cảm thấy ngượng ngùng khi gọi các anh là chiến hữu, các anh đã thực sự đổi màu, trở thành đồng chí với cán binh cộng sản khi về đây vui chơi hay với nhiều lý do khác.

Nhớ thuở xưa, quân nhân chúng mình đã thề trung thành với Tổ Quốc, đứng dưới lá Quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, ngày nay các anh đã quên tất cả và đổi màu chỉ sau lần về Việt Nam và sau đó là những chuyến hồi hương, càng thắt chặt tình đồng chí với cán bộ, công an, bộ đội để kết bạn tâm giao, mua sự an toàn bằng những tiệc tùng do chính các anh xuất tiền chiêu đãi.

Những năm tháng chiến đấu chống lại kẻ thù cộng sản, tay sai của khối cộng sản quốc tế, những năm tù đày tưởng như không sống sót sau khi miền nam thất thủ. Một số các anh may mắn di tản trong giờ phút sau cùng của cuộc chiến và nay một số các anh đã quay về, không còn như bài ca: Người Di Tản Buồn, một thời làm xúc động trái tim của những người xa tổ quốc, khi quê hương lọt vào tay quân thù.Những người di tản buồn ấy tiêu biểu như thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ và gia đình với con gái Kỳ Duyên, vợ là Tuyết Mai, đã quay về, sánh vai cùng những kẻ mạt sát mình là bọn phản động nước ngoài, đĩ điếm du côn...chắc chắn là những người di tản buồn ấy đã mất hết tâm hồn, trở thành công cụ tuyên truyền cho chế độ phi nhân.

Người di tản buồn Nguyễn Phương Hùng, về Việt Nam vài lần và tự xóa bỏ căn cước tị nạn, khóc lóc như là đứa trẻ trước mặt bọn cán bộ cộng sản, thật là nhục nhã, còn đâu phẩm cách con người, chứ chưa nói đến tác phong của người lính Việt Nam Cộng Hòa, với tấm gương Trần Bình Trọng:" thà làm quỷ nước nam, còn hơn làm vương đất bắc". Các anh em quân nhân, nhất là cùng binh chủng Biệt Động Quân, cảm thấy đau lòng khi trong hàng ngũ có Nguyễn Phương Hùng, đổi màu, đón gió, trở thành quân nhân quốc gia, thờ ma cộng sản. Ấy thế mà Nguyễn Phương Hùng cảm thấy hãnh diện, niềm tự hào của tên phản bội đê hèn, là hạng người mà bất cứ xã hội nào cũng khinh khi, sớm đầu tối đánh. Ngay cả những đồng chí mới của Nguyễn Phương Hùng cũng không bao giờ tin được hắn, nhưng trong giai đoạn nầy, đảng cộng sản dùng thân xác của anh lính Biệt Động Quân đón gió để thực hiện mục đích tuyên truyền. Chính cá nhân Nguyễn Phương Hùng cũng có thể là không nhận ra sự thâm độc của đảng cộng sản, như con chó được chủ nó ném khúc xương để ngoan ngoãn nằm gọn trong thòng lọng và sau đó bị đập đầu, xẻ thịt cho một tiệc nhậu, cái băng Youbube mà Người di tản buồn năm nào, Biệt Động Quân Sát như bài ca hành khúc, bị Nguyễn Phương Hùng hạ nhục thành Biệt Động Quân khóc như đứa trẻ lên ba tại một phòng họp ở đảo Song Tử Tây, đưa Nguyễn Phương Hùng thành thân bại danh liệt, xú danh muôn đời, nhất là sau đó trở sang Hoa Kỳ, sống trong vùng đất tự do mà hầu hết mọi người nguyền rủa kẻ phản bội. Đảng cộng sản đã giết Nguyễn Phương Hùng bằng cái youtube ấy, hắn lại hãnh diện và cám ơn kẻ giết mình. Nhưng nếu Nguyễn Phương Hùng trở về Việt Nam, sống trọn vẹn với tấm lòng mê đảng, hiếu với bác như Trần Trường, thì trong tương lai, bị trấn lột, phải bỏ của chạy lấy người, như nhiều kẻ lập công dâng đảng từ trước, trở về và bị vắt chanh bỏ vỏ. Nguyễn Phương Hùng ngây thơ, dù làm báo lâu năm với nghề ký giả tự do ở Hoa Kỳ, hắn không biết hay cố tình không muốn biết con tàu Việt Nam Thương Tín, đã đến bến bờ tự do mà còn quay về và tất cả đã bị đảng tống vào tù. Nếu Nguyễn Phương Hùng về Việt Nam cách đây 35 năm trước, thì hắn không bao giờ nói là hối tiếc là không về sớm để phục vụ chế độ cộng sản. Những nạn nhân Việt Nam Thương Tín vẫn còn hổ thẹn và hối tiếc sau khi trở về quê hương.

Những bạn lính may mắn khác, vượt biển, đi bằng đường bộ thành công, đến bến bờ tự do. Sau bao năm lăn lóc nơi xứ người, thành công trên nhiều lãnh vực, bỗng trở về, mang tiền về giúp đảng cộng sản từ nhiều năm qua, họ trở thành khách cung cấp tiền thường trực hàng năm cho chế độ cộng sản, giúp đảng vượt qua những khó khăn kinh tế, nợ nần lút đầu, nên tránh được sụp đổ từ lâu, khi cạn kiệt tài chánh, là bài toán chung cho sự sụp đổ các chính quyền trên thế giới.

Một số tù cải tạo, sống sót, được Hoa Kỳ cứu vớt theo chương trình O.D.P, sau thời gian định cư, quay về, kết bạn với những kẻ đã từng hành hạ, mạt sát trong các nhà tù, lương tri của con người không nằm trong ấy, ngay cả thú vật cũng không quên sau vài lần đánh đập nó, nhưng các anh quân nhân H.O trở về, kết bạn mới với cán bộ, trở thành đồng chí, kiêm mạnh thường quân trong các tiệc, sáng nhậu với ủy ban nhân dân, chiều công an đãi tiệc... đó là những đồng tiền hưu dưỡng được chính phủ Mỹ chu cấp để sinh sống, hay những món tiền hưu sau nhiều năm làm việc, thay vì chi cho gia đình, giúp cho các bệnh viện sở tại để chửa trị, trong đó có phúc lợi gia đình và cá nhân mình.... thì các anh lại tiêu xài cho cán bộ cộng sản để mua sự an toàn trong thời gian lưu lại, với nhiều ly do như thăm gia đình, hú hý với gái tơ, du lịch...Những quân nhân như Phạm Tín An Ninh, sau 9 năm tù, quay về để làm quen với những kẻ hành hạ trước đây, còn viết sách ca tụng quản giáo và giúp đỡ cả con quản giáo nữa.

Một số bạn bè của tôi cho biết ở nước Úc, chính phủ ưu ái dành cho quân nhân đồng minh quyền lợi, được cấp hưu dưỡng từ bộ cựu chiến binh, nhưng đã có nhiều anh đã dùng 11 tháng trong năm số tiền cấp dưỡng để sống tại Việt Nam, đó là tiền đóng thuế của dân Úc, lại được các anh nuôi chế độ cộng sản.. Theo nhiều người biết, nhiều quân nhân đã quay về, mua nhà, chỉ sang Úc 1 tháng cho hợp chính sách và trở về sống 11 tháng còn lại trong năm, các anh ấy là đồng chí, chứ không còn là chiến hữu nữa. Tại sao những quân nhân ở đây không báo cho chính phủ Úc biết những người như thế?. Một số quân nhân quay về Việt Nam thường viện lý do là có quan hệ bang giao, các cựu chiến binh đồng minh ở Hoa Kỳ, Úc...trở về Việt Nam du lịch, vì họ có nguồn gốc khác với các quân nhân VNCH, chúng ta ra đi vì chế độ cộng sản, nay không thể viện lý do bang giao, là quốc tịch được ban cấp để trở về nơi mà chúng ta cho là nguy hiểm, không thể quay về.... đó là trường hợp một giàn dây leo, có cây mướp, bầu, khổ qua...chung một giàn, nhưng khác giống. Những người tỵ nạn cộng sản năm nay, trở về an toàn, thì đã tự mình xé bỏ căn cước tỵ nạn chính trị, chính phủ các nước ban cấp quyền công dân, nhưng họ cũng có quyền thu hồi khi cần và xét thấy những người được cấp vi phạm luật, giống như thu hồi giấy phép thương nghiệp, hành nghề luật sư, bác sĩ...của những kẻ vi phạm luật.

Kẻ thù cộng sản đã đạt thắng lợi lần nữa sau cuộc chiến Việt Nam, không phải chúng tài giỏi, nhưng là do trong hàng ngũ quốc gia, có một số người đón gió trở cờ, đặt cá nhân trên tổ quốc, trở thành những kẻ phản bội.

Trước năm 1975, chính sách chiêu hồi của chính phủ miền nam đã cải hóa hàng chục ngàn cán binh trở về với chính nghĩa quốc gia. Nhưng phía cộng sản cũng có cái gọi là: trở về với nhân dân và cách mạng, thực tế là con số người giác ngộ cách mạng không nhiều, đa số là những kẻ nằm vùng trong hàng ngũ quân đội, chính quyền bị lộ nên phải bỏ vào bưng để an toàn, hay những tên gây tội phạm hình sự, sợ bị pháp luật chế tài, nên vào rừng để trốn tránh. Vào những ngày gần cuối cuộc chiến, có một số quân nhân phản bội, nằm vùng nhưNguyễn Thành Trung, quay súng làm phản, được cộng sản cấp giấy " Tiền Khởi Nghĩa", số người nầy đa số là gia đình cán bộ cộng sản, được móc nối bỏ hàng ngũ để sau nầy được an toàn.

Ngày nay, sau cuộc chiến, các quân nhân may mắn thoát khỏi tay kẻ thù, nay trở thành " tiền khởi nghĩa", trở về làm đồng chí của những kẻ chiến thắng thời cơ, mang tiền về đóng góp cho bọn tư bản đỏ tại Việt Nam và đã thành kẻ phản bội. Đây là những tâm tình của một người lính Việt Nam Cộng Hòa, nhắn gởi những ai còn lương tri và đồng thời xác định lập trường, bảo vệ chính nghĩa quốc gia, từ nay những kẻ phản bội, trở cờ, không còn là chiến hữu nữa../.

Đỗ Văn Xuân
( Người lính chưa nhận chứng chỉ giải ngũ)
25.07.2012

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Câu chuyện cảm động về người vợ lính
từ Vietnam đến Mỹ nhận tro cốt người chồng đã chết


Vào ngày thứ ba của cuộc hành quân 719 Lam Sơn (10 tháng 2, 1971,) có một trực thăng UH-1 Huey của VNCH
bị bắn rơi tại Hạ Lào. Tất cả những người có mặt trên chuyến bay này đều bị tử nạn, đó là :

Ðại Tá Cao Khắc Nhật trưởng phòng 3,
Trung Tá Phạm Vi, trưởng phòng 4 thuộc Bộ Tư Lệnh QÐ 1,
Hai phi công là:

Trung Úy Nguyễn Diếu,
Trung Úy Tạ Hòa
Hai nhân viên phi hành đoàn là:
TS Cơ Khí Nguyễn Hoàng Anh,

HS Xạ Thủ Trần Công Minh, thuộc Không Ðoàn 41-Phi Ðoàn 213- SÐ1KQ đóng tại Ðà Nẵng.

Trên chuyến bay này còn có 4 phóng viên Mỹ là:

Larry Burrows của tờ Life,
Henri Huet của AP,
Kent Potter của UPI
và phóng viên người Nhật Keisaburo Shirnamoto của tờ Newsweek.


Image
Vào năm 2008 trưởng phòng thông tấn AP tại Saigon ngày xưa là Richard Pyle đã đến Hạ Lào tìm xác các phóng viên tử nạn. Sau nhiều ngày cùng dân địa phương đào xới nơi máy bay bị bắn rơi, Richard Pyle đã tìm thấy hài cốt của tất cả những người tử nạn, nhưng qua thời gian 37 năm, tất cả di hài đã tan nát trộn lẫn với nhau, và sau đó tro cốt này đã được đem về để tại Newseum ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Vào tháng 4 năm 2008, Newseum đã cử hành một lễ tưởng niệm cho bốn phóng viên Mỹ tử nạn trong chuyến bay này, nhưng về phía Việt Nam không có một bảng tên nào được ghi dấu.

Tin tức này đã đến với bà quả phụ cố trung úy phi công Nguyễn Diếu là bà Trương Thị Sen, hiện ở An Cựu, Huế từ năm 2008, nhưng vì không có phương tiện để sang Mỹ viếng nơi để tro cốt của chồng, nên mãi đến 4 năm sau (2012) người quả phụ này mới có cơ hội đến Mỹ và đi thăm nơi để di cốt của chồng.
Image Nhờ sự giúp đỡ của Bảo Tàng Viện Việt Nam ở San José, các thân hữu trong các binh chủng, bạn bè và họ hàng thân quyến, tháng 5 năm 2012, bà quả phụ Nguyễn Diếu, đã từ Huế, vào Saigon, đến San Jose, Illinois, North Carolina và cuối cùng đã được đến thăm nơi lưu giữ tro cốt của chồng tại Hoa Thịnh Ðốn. Chúng tôi đã được gặp gỡ bà Trương thị Sen trong một cuộc họp mặt của nhóm cựu nữ sinh Bồ Ðề, Huế tại Little Saigon, tại đây bà Sen đã không dấu được giọt lệ trong khóe mắt, khi đã hơn 50 năm qua, bạn bè, có người nhớ kẻ không, nhưng ai cũng đối với bà trong tình thân ái, nhất là khi được biết bà Sen là một quả phụ của VNCH, đã ở vậy nuôi con trong suốt 41 năm dài, qua bao nhiêu biến cố của đất nước.

Bà Trương Thị Sen năm nay đã trên 70 tuổi. Bà kết hôn với Thiếu Úy Nguyễn Diếu năm 1968 tại Huế và hai ông bà sinh hạ được một trai một gái, hiện nay cô con gái là công nhân hãng dệt và con trai làm nghề thợ may, sống tại An Cựu, thành phố Huế. Sau khi có tin trực thăng của chồng rơi tại Hạ Lào, và trên máy bay không còn ai sống sót, bà được Phi Ðoàn 213 bố trí cho một công việc dọn dẹp trong phi trường để có sinh kế nuôi con. Sau khi Ðà Nẵng mất vào tháng 3 năm 1975, bà Sen bắt đầu bươn chải, buôn bán ngoài chợ trời, cho mãi đến năm 1978, bà mới trở về Huế nương nhờ cha mẹ của mình.
Image Cộng đồng người Việt hải ngoại mở rộng vòng tay đón người quả phụ VNCH.

Một người bạn của cố Trung Úy Nguyễn Diêu, hiện cư ngụ tại San José, đã đem câu chuyện này kể với cựu Ðại Tá Vũ Văn Lộc, bút hiệu Giao Chỉ, giám đốc IRCC để nhờ ông tìm cách vận động bạn bè và chiến hữu của cố Trung Úy Nguyễn Diếu giúp cho người vợ chờ chồng 40 năm có chút phương tiện để sang Mỹ thăm nơi để chút tro cốt của chồng, cũng như liên lạc với ban giám đốc Newseum xem có thể giúp đỡ gì được cho bà Sen hay không? Cuối cùng vào tháng 4 năm 2012, nhờ sự bảo trợ của anh Nguyễn Hữu Thanh Lam và các cháu ở Illinois, chị Trương Thị Sen bắt đầu lên đường đi Mỹ. Ðể được yên tâm hơn trên đoạn đường dài, khi 41 năm nay chị Sen chỉ quanh quẩn ở xóm làng và không biết tiếng Anh, chị đã đến San José trước và từ đây đi Illinois, trong khi chờ đợi ngày đi thăm Bảo Tàng Viện Truyền Thông. Tại San José, chị Sen đã được anh Trần Thạnh mở trương mục để quyên góp và ông Vũ Văn Lộc tổ chức cuộc họp cho những người quan tâm gặp gỡ chị.
Image Mãi đến tháng 11 năm nay (2012) chị Trương Thị Sen được anh Trương Ðình Thiện, nguyên là một sĩ quan nhẩy toán, đại diện cộng đồng Việt Nam tại Raleigh, North Carolina mời chị sang thăm và đưa chị viếng Newseum. Tại Hoa Thịnh Ðốn chị Sen đã được cộng đồng người Việt và các bạn trong “Bản Tin Hoa Thịnh Ðốn – SBTN” cũng như nhân viên viện bảo tàng đón tiếp. Tại nơi để tro cốt của 4 ký giả và phi hành đoàn của chuyến bay định mệnh, chị Sen đã xúc động quỳ xuống bên phiến đá cẩm thạch nói với người đã khuất: “Sau 41 năm, không hề có một tin tức về anh. Giờ đây em đã yên tâm. Xin anh hãy yên nghỉ.”

Trên đường đi thăm tro cốt của chồng, từ Nam hay Bắc Cali, Illinois, North Carolina, Washington D.C., ở đâu những chiến hữu của chồng và đồng bào cũng tiếp đón, giúp đỡ chị Trương Thị Sen tận tình. Sau Giáng Sinh năm nay, bà quả phụ cố Trung Úy Phạm Diếu sẽ trở về Huế, Việt Nam, nơi bà hiện đang sống với hai con và bốn cháu nội ngoại.

Qua chúng tôi, bà Trương Thị Sen xin chân thành gửi lời cám ơn đến các ân nhân, bằng hữu đã tạo phương tiện cho bà muôn dặm xa xôi được đi thăm nơi để tro cốt của chồng, người phi công đã gãy cánh trại Hạ Lào 41 năm xưa.

Chúng tôi xin ghi lại địa chỉ và điện thoại của bà Trương Thị Sen sau đây, để bạn đọc có quan tâm, tiện liên lạc:

Trương Thị Sen
33/209 Phan Ðình Phùng, Huế, Việt Nam
Ðiện thoại: 84-935-376-228
Nguồn : Quê hương Ngày nay

Post Reply