Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
ÔNG NOEL KHÔNG MẶC ĐỒ ĐỎ
Hai bố con lái xe xuống khu thị tứ để mua sắm. Cô bé học lớp 4 hỏi bố:
- Nhiều bạn trong trường nói không có ông Noel. Các bạn nói con là ngốc khi tin rằng ông có thật, nhưng con tin vào những gì bố bảo với con phải không bố ?
Xe ghé vào bên đường tắt máy. Cô con gái bé bỏng vẫn đang ngốn ngang bao suy nghĩ.
- Các bạn ở trường đã sai, con yêu ạ ! Ông Nole là có thật. Nhưng bố cần kể cho con nghe thêm v6è ông Noel. Bố nghĩ con đã đủ lớn để hiểu những gì bố sẽ chia sẻ với con
Người cha nhìn con trìu mén và tiếp
- Ngày xưa có một người đàn ông đi đây đó khắp thế giới thưởng quà cho những đứa trẻ trên đường ông qua. Ông được biết đến ở nhiều nơi với nhiều tên gọi khác nhau nhưng tình thương trong tim ông đều như nhau dù ở bất cứ đâu. Ông là tâm hồn thương yêu tuyệt đối và mong muốn chia sẻ tình thương đó bằng cách tặng quà với cả con tim của mình.
Khi con đến độ tuổi nào đó, con sẽ nhập ra ông Noel thật sự không hẳn phải là người vào nhà bằng ống khói trong đêm trước ngày lễ Giáng sinh. Tinh thần và cuộc sống thật sự của ông già thần thoại đáng yêu này mãi mãi nằm ở trong tim con, tim của bố, tim của mẹ cũng như trong tim của tất cả những người tin vào việc mang lại niềm vui cho người khác. Tinh thần thật sự của ông Noel là những gì con mang tặng thay vì những gì con nhận được. Khi con nhận thức được điều này và khi nó trở thành một phần trong con, Giáng sinh sẽ trở nên thú vị hơn và huyền ảo hơn vì con đã lĩnh hội được điều kỳ ảo về ông Noel khi ông tồn tại trong con. Con có hiểu những gì bố nói không ?
Cô bé nhìn ra ngoài của sổ vào hàng cây phía trước. Cô sợ nhìn vào bố, người từng bảo cô rằng ông Noel có thật. Cô muốn tin như cô đã tin hồi năm ngoái rằng ông Noel là một ông già vui tính, to béo, mặc đồ đỏ. Cô không muốn phải trưởng thành và nhận thức bất kỳ điều gì khác.
- Nhìn bố này - người bố chờ và cô bé quay sang nhìn ông.
Người bố đang khóc, những giọt nước mắt sung sướng. Khuôn mặt ông ngời sáng bằng ành sáng của cả ngàn dải Ngân hà và cô bé như thấy trong mắt ông đôi mắt của ông Noel. Ông Noel thật sự, người đã bỏ nhiều thời gian chọn lựa những món quà đặc biệt mà cô mong ước trong những mùa Giáng sinh đã qua kể từ khi cô có mặt trên đời này. Ông Noel đã dùng món bánh mà cô bỏ công trang trí cũng như uống sữa nóng cô pha. Cô đã nhận ra niềm hạnh phúc, sự chia sẻ, tình thương. Người bố ôm ghì con trong vòng tay ấm áp của mình và cứ ôm như thế rất lâu. Cả hai đều khóc.
- Giờ thì con đã thuộc về một nhóm người đặc biệt. Kể từ bây giờ con sẽ được chia sẻ niềm vui Giáng sinh mỗi ngày của năm chứ không còn chỉ trong một ngày đặc biệt nữa. Từ giờ, ông Noel sống trong tâm hồn con cũng như ông sống trong tâm hồn bố. Trách nhiệm của con là tuân theo tinh thần mang đến niềm vui cho người khác như con là một phần của ông Noel đang sống trong con. Đây là điều quang trọng nhất xảy ra với con trong cuộc đời mình, vì bây giờ con đã hiểu rằng ông Noel không thể nào tồn tại nếu không có những người như con và bố, những người khiến ông được sống mãi. Con có thể chu toàn việc nào không ?”.
Tim cô bé muốn vỡ ra vì hãnh diện và cô tin mắt mình đang tỏa ra niềm hạnh phúc. Cô đáp:
- Thưa bố, con muốn ông mãi trong tim con như ông đã sống trong tim bố. Con yêu bố. Bố là ông Noel tuyệt vời nhất trên thế giới này. Ông Noel không mặc đồ đỏ của con.
nguồn: DaiHocVanKhoaSG
Hai bố con lái xe xuống khu thị tứ để mua sắm. Cô bé học lớp 4 hỏi bố:
- Nhiều bạn trong trường nói không có ông Noel. Các bạn nói con là ngốc khi tin rằng ông có thật, nhưng con tin vào những gì bố bảo với con phải không bố ?
Xe ghé vào bên đường tắt máy. Cô con gái bé bỏng vẫn đang ngốn ngang bao suy nghĩ.
- Các bạn ở trường đã sai, con yêu ạ ! Ông Nole là có thật. Nhưng bố cần kể cho con nghe thêm v6è ông Noel. Bố nghĩ con đã đủ lớn để hiểu những gì bố sẽ chia sẻ với con
Người cha nhìn con trìu mén và tiếp
- Ngày xưa có một người đàn ông đi đây đó khắp thế giới thưởng quà cho những đứa trẻ trên đường ông qua. Ông được biết đến ở nhiều nơi với nhiều tên gọi khác nhau nhưng tình thương trong tim ông đều như nhau dù ở bất cứ đâu. Ông là tâm hồn thương yêu tuyệt đối và mong muốn chia sẻ tình thương đó bằng cách tặng quà với cả con tim của mình.
Khi con đến độ tuổi nào đó, con sẽ nhập ra ông Noel thật sự không hẳn phải là người vào nhà bằng ống khói trong đêm trước ngày lễ Giáng sinh. Tinh thần và cuộc sống thật sự của ông già thần thoại đáng yêu này mãi mãi nằm ở trong tim con, tim của bố, tim của mẹ cũng như trong tim của tất cả những người tin vào việc mang lại niềm vui cho người khác. Tinh thần thật sự của ông Noel là những gì con mang tặng thay vì những gì con nhận được. Khi con nhận thức được điều này và khi nó trở thành một phần trong con, Giáng sinh sẽ trở nên thú vị hơn và huyền ảo hơn vì con đã lĩnh hội được điều kỳ ảo về ông Noel khi ông tồn tại trong con. Con có hiểu những gì bố nói không ?
Cô bé nhìn ra ngoài của sổ vào hàng cây phía trước. Cô sợ nhìn vào bố, người từng bảo cô rằng ông Noel có thật. Cô muốn tin như cô đã tin hồi năm ngoái rằng ông Noel là một ông già vui tính, to béo, mặc đồ đỏ. Cô không muốn phải trưởng thành và nhận thức bất kỳ điều gì khác.
- Nhìn bố này - người bố chờ và cô bé quay sang nhìn ông.
Người bố đang khóc, những giọt nước mắt sung sướng. Khuôn mặt ông ngời sáng bằng ành sáng của cả ngàn dải Ngân hà và cô bé như thấy trong mắt ông đôi mắt của ông Noel. Ông Noel thật sự, người đã bỏ nhiều thời gian chọn lựa những món quà đặc biệt mà cô mong ước trong những mùa Giáng sinh đã qua kể từ khi cô có mặt trên đời này. Ông Noel đã dùng món bánh mà cô bỏ công trang trí cũng như uống sữa nóng cô pha. Cô đã nhận ra niềm hạnh phúc, sự chia sẻ, tình thương. Người bố ôm ghì con trong vòng tay ấm áp của mình và cứ ôm như thế rất lâu. Cả hai đều khóc.
- Giờ thì con đã thuộc về một nhóm người đặc biệt. Kể từ bây giờ con sẽ được chia sẻ niềm vui Giáng sinh mỗi ngày của năm chứ không còn chỉ trong một ngày đặc biệt nữa. Từ giờ, ông Noel sống trong tâm hồn con cũng như ông sống trong tâm hồn bố. Trách nhiệm của con là tuân theo tinh thần mang đến niềm vui cho người khác như con là một phần của ông Noel đang sống trong con. Đây là điều quang trọng nhất xảy ra với con trong cuộc đời mình, vì bây giờ con đã hiểu rằng ông Noel không thể nào tồn tại nếu không có những người như con và bố, những người khiến ông được sống mãi. Con có thể chu toàn việc nào không ?”.
Tim cô bé muốn vỡ ra vì hãnh diện và cô tin mắt mình đang tỏa ra niềm hạnh phúc. Cô đáp:
- Thưa bố, con muốn ông mãi trong tim con như ông đã sống trong tim bố. Con yêu bố. Bố là ông Noel tuyệt vời nhất trên thế giới này. Ông Noel không mặc đồ đỏ của con.
nguồn: DaiHocVanKhoaSG
Câu chúc "Happy Holidays!"
Tứ Lang
Bạn văn Phương Duy ở San Jose thắc mắc, không biết tự bao giờ, câu chúc tụng “Merry Christmas and A Happy New Year” trên cửa miệng, trên thiệp Giáng sinh và trong bài hát, đã biến thành “Happy holidays” ở xã hội Âu Mỹ.
Tục lệ, ngôn ngữ và luôn cả đời sống, là một dòng biến thiên. Không phải chỉ có chuyện “Christmas” mà ở nhiều nơi, ngay cả mười điều răn, cây Noel, Santa Claus có màu sắc tôn giáo và ngay cả lễ hội Hallowe’en có tính cách văn hoá, cũng đã bị dời khỏi một số các địa điểm công cộng hay trường học, vì ba lý do: tôn giáo, xã hội và chính trị. Tôi không khỏi nghĩ ngợi về hiện tượng nhường nhịn đó.
Trước hết, tôi tin rằng Thiên chúa giáo là tôn giáo tiến bộ nhất trong số các tôn giáo độc thần. Tín hữu Thiên chúa giáo ngày nay biết sống dung hoà với các nguồn văn hoá và tín ngưỡng khác họ. Sống trong một quốc gia đa văn hoá như Gia-nã-đại hay “melting pot” như Hoa kỳ, dần dà họ nghiệm ra, chúc một tín đồ Do Thái giáo hay Hồi giáo “Merry Christmas” thì chả ăn nhập vào đâu cả. “Vui vẻ” đâu chẳng thấy mà đôi khi người ta còn sầm mặt lại, khó chịu, mặc dù cả ba đạo này cùng chịu ảnh hưởng của Cựu ước.
Về mặt xã hội, với làn sóng di dân rất cao, tín đồ của các đạo sống chung đụng trong xã hội ngày càng gần gũi, dù muốn dù không, mọi người dần dà tự ý tìm cách mài giũa bớt các góc cạnh để tránh va chạm.
Về chính trị, người ta có khuynh hướng tránh sự bất hợp cách về chính trị (polical incorrect), ngừa bớt những gì có thể tạo ra xung động.
Từ đó ba điểm vừa nêu, xã hội này đã trải qua nhiều sự thay đổi trong cách thờ phượng và biểu trưng tôn giáo. Câu chúc “Happy holidays” xuất hiện trong hoàn cảnh đó và đôi khi xảy ra những chuyện nho nhỏ, tức cười.
“Merry Christmas” đôi khi không tiện dụng, nhưng “Happy holidays” thì chả đụng chạm tới ai, vì tín đồ các đạo khác chẳng ai nỡ từ chối ngày lễ đó mà không chịu nghỉ.
Có lần tới nhà băng trong dịp gần lễ, tôi chúc cô thư ký ngân hàng “Happy holidays” vì thấy cô choàng khăn Muslim trên đầu, và cô vui vẻ lễ phép chúc lại “Merry Christmas.”
Tôi tự xếp mình vào hàng phật tử (dù chỉ tới chùa khi có đám ma), nhưng ai chúc tôi “Merry Christmas” thì tôi cười toe chúc lại y như vậy, không mảy may vướng bận tâm trí.
Tôi có hơi thắc mắc, tín đồ Hồi giáo ở Gia-nã-đại mở miệng chúc người khác “Merry Christmas” thì không sao, nhưng nếu ở nước họ, nhất là A-phú-hãn, Iran,.. dám sinh ra chuyện lớn chứ chẳng chơi. Nội cái việc đã che không kín mặt lại còn hơn hớn cười với người khác phái, dám bị lôi ra ném đá không chừng!
Nhưng điều mà tôi cảm thấy phiền muộn và vương vấn trong lòng là vụ ông toà Marvin Shood ở tiểu bang Georgia ra lệnh tháo bỏ tấm vải thêu mười điều răn của đạo Chúa treo ở Pháp đường Atlanta, rồi Tối cao pháp viện Mỹ cho tháo gỡ 10 điều răn treo ở Pháp đường Kentucky, rồi vụ toà thị chính Toronto có lần định bỏ tục dựng cây Giáng sinh, rồi tới các trường học ở đó bỏ hẳn lễ hội Hallowe’en.
Tại sao lại phải như vậy? Trước khi làm đơn xin di dân tới Gia-nã-đại hay Hoa-kỳ, người ta đã biết đấy là các quốc gia Thiên chúa giáo. Nhập gia tuỳ tục, thì hát quốc ca Gia-nã-đại xưng là “son of Thy” (con Chúa), và tiêu giấy bạc Mỹ in hàng chữ “In God we trust” là lý đương nhiên. Nhập gia tuỳ tục, đi ngang cửa thấp thì phải cúi đầu.
Khách không phàn nàn mà chủ nhà tự phá bỏ tục lệ là điều quá đáng.
Ngày tận thế đã qua
Tạp ghi Huy Phương Thế là ngày 21 tháng 12 năm 2012 đã đi qua, trong khi trái đất vẫn bình an. Sáng nay, ngoài đường chiếc xe đổ rác vừa chạy qua, người phát thư mới dừng lại trước cổng nhà. Tin tận thế đã loan truyền từ lâu, nhưng không ai hồi hộp đợi chờ vì người ta không còn tin tưởng ở những lời sấm ký, tiên đoán nữa. Có ăn mừng khi ngày tận thế đã không xảy ra, cũng chỉ là cái cớ để vui chơi, chứ không phải sự mừng rỡ thật sự như khi một người vừa thoát nạn sau một vụ đắm thuyền ngoài biển khơi hay như người du khách ở Phuket, Thái Lan, được sống sót qua trận sóng thần năm 2004.
Tôi nghĩ là không ai tin rằng ngày 21 tháng 12 năm nay là ngày tận thế, bằng chứng là vào chiều ngày trước đó, ngày 20, tại phòng mạch, ông bác sĩ đã cố gắng nán lại khám cho xong người bệnh cuối cùng hay nhà hàng bán tức ăn “to go” ráng vét món canh trong cái chậu nhôm bán cho khách để lấy thêm đồng bạc, trước khi đóng cửa. Ở Las Vegas, du khách vẫn đông như mọi ngày và chuyến xe buýt chở khách lên sòng bài hôm nay cũng không vắng người.
Không ai lo sợ mà cũng chẳng ai hối hả về tin ngày mai trái đất sẽ nổ tung và mọi người trở thành cát bụi. Không có tuổi trẻ mà chẳng có tuổi già, không có nhan sắc mà cũng không có tình dục, không có giàu mà cũng không có nghèo, không có hạnh phúc mà cũng chẳng hề có đau khổ, không có ngày cũng chẳng có đêm. Mọi sự đều tan biến, tưởng chừng như chưa bao giờ hiện hữu, như chúng ta chưa bao giờ tới nên cũng chẳng có ngày ra đi.
Thế giới đã có những ngày mà sự việc xảy ra như ngày tận thế, nếu người ta định nghĩa tận thế tương tự những điều có thể xảy ra ở trên. Ðối với cư dân Hiroshima và Nagasaki, Nhật, thì hai quả bom nguyên tử được Mỹ ném xuống ngày 9 và ngày 12 tháng 8 năm 1945, tàn phá nơi này thành bình địa, giết hơn 200 nghìn người quả là một ngày tận thế đối với họ.
Sức tàn phá lớn gấp nhiều lần một quả bom nguyên tử như thế, người ta đã nói đến thảm họa sóng thần vào Sumatra một ngày sau Giáng Sinh năm 2004, thực sự gấp đôi nguồn năng lượng bùng nổ trong Chiến Tranh Thế Giới thứ II, bao gồm cả hai quả bom nguyên tử. Tính riêng cường độ và nguồn năng lượng của riêng trận động đất gây ra, ước tính đã phải xấp xỉ khoảng 23,000 quả bom nguyên tử ở Hiroshima.
Thảm khốc hơn thế nữa, trận đói xảy ra ở Bengal, Ấn Ðộ, năm 1770, làm chết 10 triệu người, lụt ở Trung Quốc năm 1931 giết gần 4 triệu người, cơn lụt năm 1887 của riêng con sông Hoàng Hà đã giết gần 2 triệu người. Và mới đây thôi, tai họa của cơn sóng thần ngày 11 tháng 3 năm 2011 tại Nhật làm thiệt mạng gần 20 nghìn người.
Ðó không phải là hình ảnh của tận thế hay sao?
Nhưng bản tính con người vẫn mau quên. Khi kề cận với cái chết, người ta có những suy nghĩ khác, nhưng sau khi sống sót, người ta trở lại với tính tình cố hữu của mình. Có bao nhiêu người thập tử nhất sinh trên đường vượt biển, khi cái chết chỉ trong gang tấc, họ cầu nguyện những gì, mong mỏi những gì, nhưng sau đó, khi đã đặt chân được đất liền, không còn đói khát, hết đối mặt với sự hãi hùng, con người trở lại tầm thường, cũng chẳng hiền lành, đạo đức hơn được chút nào.
Vì thật sự, chắc chắn, ngày mai là ngày tận thế, trái đất hoàn toàn bị hủy diệt, tất cả chỉ còn là những dúm tro rải rác trong không gian rộng lớn, vô tận này, thì hôm nay con người đã có suy nghĩ và hành động khác hẳn rồi.
Nếu ngày mai đã là ngày tận thế, hôm nay chúng ta vẫn còn chăm chỉ nhặt nhạnh thêm vài đồng bạc cuối cùng để làm gì? Nếu ngày mai là ngày tận thế, hôm nay đâu cần phải nói ra một cay đắng với nhau?
Nhưng con người không phải ai cũng giống ai.
Có người nói nếu có ngày tận thế, chỉ mong được nắm tay một ai đó vào thời điểm ấy, và trước khi nhắm mắt thì chỉ cầu mong được ai đó hôn một nụ hôn cuối, được nghe ai đó nói là yêu mình. Một người khác thì nghĩ nên làm những việc gì mình chưa làm, nên nói những gì mình chưa nói, nên yêu đi nếu chưa yêu.
Có nhiều người đi mua cho gia đình một chiếc hầm trú ẩn cho ngày tận thế, sẽ được chôn sâu dưới đất giá $75,000. Trên trái đất này có hàng tỷ tỷ người thì nhà sản xuất chỉ bán ra mỗi ngày được một cái, nghĩa là con người ít có ai tin rằng ngày mai sẽ là ngày cuối cùng của mình. Trong khi có người muốn dành những giờ phút cuối cùng để cầu nguyện thì cũng có những người muốn lên giường ngủ với người khác phái lần cuối trước khi ngày tận thế ập đến. Có cô gái kêu lên: “Tôi chưa muốn tận thế vì tôi chưa có chồng!”
Tôi cũng không nghĩ là sống sót sau ngày tận thế là hạnh phúc! Cứ tưởng tượng một mình đi giữa cảnh hoang tàn, không thức ăn, nước uống, không có gia đình, bạn bè, thân quyến, không cả một đồng loại, không, cả tiếng chim kêu hay tiếng một con chó sủa... thì sống như vậy cũng như đã chết. Trịnh Công Sơn chỉ mới thấy rừng thay lá, đã gọi hãy yêu nhau đi, huống gì ngày mai đã là ngày cuối cùng của nhân loại! Chúng tôi xin nhắc lại một câu nói các bạn đã nghe nhiều lần: “Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương.” (Kahlil Gibran)
Nếu ngày mai tận thế, tối hôm nay gia đình chúng ta sẽ quây quần ôm lấy nhau, nghĩ đến những người đã khuất, mong đợi những người ở xa chưa về, và nghĩ rằng từ cát bụi chúng ta sẽ trở về cát bụi, cũng chẳng có chi để tiếc nuối, và nhận ra, cuối cùng trên cuộc đời phù du này, tiền tài, danh vọng chẳng là gì cả!
Vậy là ngày tận thế đã qua! Cuộc đời không chỉ những cho chúng ta thêm một ngày mà còn thêm nhiều ngày để sống yêu thương. Phải chi ngày mai chắc chắn là ngày tận thế, để hôm nay người ta sống với nhau đàng hoàng, tử tế hơn, và tôi sẵn sàng tha thứ cho ai đó đã ném những viên đá thù hận, ganh ghét vào tôi hôm qua!
Nhưng ngày tận thế đã qua rồi! Tất cả cần phải xem xét, suy nghĩ lại!
Khổ quá, tôi cũng chỉ là một con người tầm thường thôi!
Tạp ghi Huy Phương Thế là ngày 21 tháng 12 năm 2012 đã đi qua, trong khi trái đất vẫn bình an. Sáng nay, ngoài đường chiếc xe đổ rác vừa chạy qua, người phát thư mới dừng lại trước cổng nhà. Tin tận thế đã loan truyền từ lâu, nhưng không ai hồi hộp đợi chờ vì người ta không còn tin tưởng ở những lời sấm ký, tiên đoán nữa. Có ăn mừng khi ngày tận thế đã không xảy ra, cũng chỉ là cái cớ để vui chơi, chứ không phải sự mừng rỡ thật sự như khi một người vừa thoát nạn sau một vụ đắm thuyền ngoài biển khơi hay như người du khách ở Phuket, Thái Lan, được sống sót qua trận sóng thần năm 2004.
Tôi nghĩ là không ai tin rằng ngày 21 tháng 12 năm nay là ngày tận thế, bằng chứng là vào chiều ngày trước đó, ngày 20, tại phòng mạch, ông bác sĩ đã cố gắng nán lại khám cho xong người bệnh cuối cùng hay nhà hàng bán tức ăn “to go” ráng vét món canh trong cái chậu nhôm bán cho khách để lấy thêm đồng bạc, trước khi đóng cửa. Ở Las Vegas, du khách vẫn đông như mọi ngày và chuyến xe buýt chở khách lên sòng bài hôm nay cũng không vắng người.
Không ai lo sợ mà cũng chẳng ai hối hả về tin ngày mai trái đất sẽ nổ tung và mọi người trở thành cát bụi. Không có tuổi trẻ mà chẳng có tuổi già, không có nhan sắc mà cũng không có tình dục, không có giàu mà cũng không có nghèo, không có hạnh phúc mà cũng chẳng hề có đau khổ, không có ngày cũng chẳng có đêm. Mọi sự đều tan biến, tưởng chừng như chưa bao giờ hiện hữu, như chúng ta chưa bao giờ tới nên cũng chẳng có ngày ra đi.
Thế giới đã có những ngày mà sự việc xảy ra như ngày tận thế, nếu người ta định nghĩa tận thế tương tự những điều có thể xảy ra ở trên. Ðối với cư dân Hiroshima và Nagasaki, Nhật, thì hai quả bom nguyên tử được Mỹ ném xuống ngày 9 và ngày 12 tháng 8 năm 1945, tàn phá nơi này thành bình địa, giết hơn 200 nghìn người quả là một ngày tận thế đối với họ.
Sức tàn phá lớn gấp nhiều lần một quả bom nguyên tử như thế, người ta đã nói đến thảm họa sóng thần vào Sumatra một ngày sau Giáng Sinh năm 2004, thực sự gấp đôi nguồn năng lượng bùng nổ trong Chiến Tranh Thế Giới thứ II, bao gồm cả hai quả bom nguyên tử. Tính riêng cường độ và nguồn năng lượng của riêng trận động đất gây ra, ước tính đã phải xấp xỉ khoảng 23,000 quả bom nguyên tử ở Hiroshima.
Thảm khốc hơn thế nữa, trận đói xảy ra ở Bengal, Ấn Ðộ, năm 1770, làm chết 10 triệu người, lụt ở Trung Quốc năm 1931 giết gần 4 triệu người, cơn lụt năm 1887 của riêng con sông Hoàng Hà đã giết gần 2 triệu người. Và mới đây thôi, tai họa của cơn sóng thần ngày 11 tháng 3 năm 2011 tại Nhật làm thiệt mạng gần 20 nghìn người.
Ðó không phải là hình ảnh của tận thế hay sao?
Nhưng bản tính con người vẫn mau quên. Khi kề cận với cái chết, người ta có những suy nghĩ khác, nhưng sau khi sống sót, người ta trở lại với tính tình cố hữu của mình. Có bao nhiêu người thập tử nhất sinh trên đường vượt biển, khi cái chết chỉ trong gang tấc, họ cầu nguyện những gì, mong mỏi những gì, nhưng sau đó, khi đã đặt chân được đất liền, không còn đói khát, hết đối mặt với sự hãi hùng, con người trở lại tầm thường, cũng chẳng hiền lành, đạo đức hơn được chút nào.
Vì thật sự, chắc chắn, ngày mai là ngày tận thế, trái đất hoàn toàn bị hủy diệt, tất cả chỉ còn là những dúm tro rải rác trong không gian rộng lớn, vô tận này, thì hôm nay con người đã có suy nghĩ và hành động khác hẳn rồi.
Nếu ngày mai đã là ngày tận thế, hôm nay chúng ta vẫn còn chăm chỉ nhặt nhạnh thêm vài đồng bạc cuối cùng để làm gì? Nếu ngày mai là ngày tận thế, hôm nay đâu cần phải nói ra một cay đắng với nhau?
Nhưng con người không phải ai cũng giống ai.
Có người nói nếu có ngày tận thế, chỉ mong được nắm tay một ai đó vào thời điểm ấy, và trước khi nhắm mắt thì chỉ cầu mong được ai đó hôn một nụ hôn cuối, được nghe ai đó nói là yêu mình. Một người khác thì nghĩ nên làm những việc gì mình chưa làm, nên nói những gì mình chưa nói, nên yêu đi nếu chưa yêu.
Có nhiều người đi mua cho gia đình một chiếc hầm trú ẩn cho ngày tận thế, sẽ được chôn sâu dưới đất giá $75,000. Trên trái đất này có hàng tỷ tỷ người thì nhà sản xuất chỉ bán ra mỗi ngày được một cái, nghĩa là con người ít có ai tin rằng ngày mai sẽ là ngày cuối cùng của mình. Trong khi có người muốn dành những giờ phút cuối cùng để cầu nguyện thì cũng có những người muốn lên giường ngủ với người khác phái lần cuối trước khi ngày tận thế ập đến. Có cô gái kêu lên: “Tôi chưa muốn tận thế vì tôi chưa có chồng!”
Tôi cũng không nghĩ là sống sót sau ngày tận thế là hạnh phúc! Cứ tưởng tượng một mình đi giữa cảnh hoang tàn, không thức ăn, nước uống, không có gia đình, bạn bè, thân quyến, không cả một đồng loại, không, cả tiếng chim kêu hay tiếng một con chó sủa... thì sống như vậy cũng như đã chết. Trịnh Công Sơn chỉ mới thấy rừng thay lá, đã gọi hãy yêu nhau đi, huống gì ngày mai đã là ngày cuối cùng của nhân loại! Chúng tôi xin nhắc lại một câu nói các bạn đã nghe nhiều lần: “Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương.” (Kahlil Gibran)
Nếu ngày mai tận thế, tối hôm nay gia đình chúng ta sẽ quây quần ôm lấy nhau, nghĩ đến những người đã khuất, mong đợi những người ở xa chưa về, và nghĩ rằng từ cát bụi chúng ta sẽ trở về cát bụi, cũng chẳng có chi để tiếc nuối, và nhận ra, cuối cùng trên cuộc đời phù du này, tiền tài, danh vọng chẳng là gì cả!
Vậy là ngày tận thế đã qua! Cuộc đời không chỉ những cho chúng ta thêm một ngày mà còn thêm nhiều ngày để sống yêu thương. Phải chi ngày mai chắc chắn là ngày tận thế, để hôm nay người ta sống với nhau đàng hoàng, tử tế hơn, và tôi sẵn sàng tha thứ cho ai đó đã ném những viên đá thù hận, ganh ghét vào tôi hôm qua!
Nhưng ngày tận thế đã qua rồi! Tất cả cần phải xem xét, suy nghĩ lại!
Khổ quá, tôi cũng chỉ là một con người tầm thường thôi!

Đừng nói... em chả!!!!
Lĩnh Nguyên (Danlambao) - Khi hòa ước Thương mại năm 1833 giữa Thailand và Mỹ chưa đến hồi kết thúc thì phía Mỹ đã nhảy vào muốn ký một hiệp thương, thương mãi với Việt Nam nhưng không được phía nhà Nguyễn đồng ý, vì thế mà cà hai nước phải mất nhiều năm sau mới có một thỏa thuận song phương.
Sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam chấm dứt cả hai phía đã có những nỗ lực để xích lại gần nhau, nhưng phải mất 20 năm mới có được một hiệp ước song phương về thương mại, điều nầy đã làm cho nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề Việt Nam hết sức bất ngờ, nhưng liệu Việt Nam có nắm bắt cơ hội nầy để dần dần cải tổ về hành chánh cũng như vấn đề nhân quyền để lập lại một xã hội dân sự cho Việt Nam lại là một điều mà chúng ta cần phải nhìn đến.
Trong hội nghị kỷ niệm 10 năm ngày ký kết hiệp định song phương Việt Mỹ tại Hà Nội nhà ngoại giao Vũ Khoan đã nói rằng hiệp ước thương mại Việt Mỹ là một chiếc cầu dài bắt ngang Đại Dương để chính phủ và nhân dân hai nước cùng đi tới một mục đích chung. Trong khi đó các nước thuộc khối chủ nghĩa xã hội như Liên Xô và khối Đông Âu đã chết giãy giụa, chỉ còn lại một vài nước đang còn sống dở, chết dở như Bắc Hàn, Việt Nam và Cu ba, thì Việt Nam phải biết nắm bắt cơ hội bằng cách phải đi theo con đường dân chủ của Mỹ để đưa đất nước có cơ hội phát triển và thu nhập một nền văn minh mà nhân loại đang nhắm tới, có như thế thì đảng cộng sản Việt Nam mới rửa hết cái tội lỗi mà đảng đã áp đặt lên nhân dân Việt Nam trong gần một thế kỷ qua.
Chính vì thế mà những ngày cuối năm 2012 các nhà phân tích thời sự trong nước cũng như ngoài nước, đặc biệt là các vị giáo sư, tiến sĩ từ học viện Chính trị hay cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Việt Nam, mà người đứng đầu là ông Tổng biên tập Tạp Chí Cộng Sản đã không ngần ngại NHẮC KHÉO cho đảng biết rằng một số đảng viên cộng sản muốn chuyển hóa và tự diễn biến để lật đổ đảng cộng sản Việt Nam. Không những ông TBT tạp chí cộng sản cảnh báo mà ông Đại tướng Phùng Quang Thanh cũng công khai vấn nạn tự diễn biến để lật đảng cộng sản Việt Nam là một điểu không tránh khỏi.
Ngoài những cơ quan ngôn luận của đảng đang nỗ lực tuyên truyền và cảnh báo đảng sẽ bị chính các đảng viên Cấp tiến, tự diễn biến để chôn đảng trong một ngày gần đây, bên cạnh đó thì Quốc hội lại đưa ra những nghị quyết sửa đổi hiến pháp, trong bối cảnh cho dù không khách quan rằng quốc hội muốn tham khảo ý kiến của toàn dân để trước để sửa đổi thì đây là một chỉ dấu cho thấy đảng cộng sản đã như con giun đang nằm trong bể nước.
Dưới chế độ hành pháp của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thông thường thì Phó Thủ tướng Thường trực sẽ thay thế cho Thủ tướng một khi ông thủ tướng hết nhiệm kỳ, thế nhưng hiện nay trong bốn vị phó thủ tướng không có một vị nào là đương kim phó thủ tướng thường trực cả, cho nên đại hội trung ương đảng cộng sản kỳ 7 sẽ bắt đầu nhóm họp vào đầu tháng 1 năm 2013 để sắp xếp nhân sự và cải tổ chính trị.
Một nguồn tin chưa được kiểm chứng từ BCT đảng cộng sản Việt Nam sẽ quyết định đưa một vị bí thư trẻ lên nắm phó thủ tướng thường trực và sau khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hết nhiệm kỳ thì ông nầy sẽ là người thay thế và chính ông tân thủ tướng nầy sẽ là người cả tổ nền chính trị Việt Nam trong một cách ôn hòa.
Lĩnh Nguyên
Hương khói cho các ông
Tạp ghi Quỳnh Giao Sau Giáng Sinh và Tết Tây, khi gỡ bóng đèn và kéo cây thông ra vỉa hè, những người chân yếu tay mềm chúng ta bỗng lại thấy thương các ông. Vì việc tháo gỡ ấy là phần vụ nặng nhọc của phái khỏe. Ðấy là lúc ta động lòng từ tâm và thấy ái ngại cho phe bên kia! Vì thế, nhân dịp đầu năm mới, mình cũng nên thả xuống cho họ một đóa hoa thơm.
Là nghệ thuật đi tìm nước hoa.
Từ nguyên thủy, chữ nước hoa hay dầu thơm là dịch từ “perfume” hay “parfum” của Âu Châu. Mà chữ đó là đọc trại từ “hương khói” của tiếng La Tinh. Thời thượng cổ, người ta đốt hương thơm để dâng thần linh, và thực hiện việc tế lễ ấy là phần vụ của các thánh nữ hay thiếu nữ tinh khiết. Sau cùng thì hình như họ qua mặt các pháp sư mà tìm lấy hương thơm cho mình! Lại còn đòi các ông hì hục pha chế để phục vụ phái đẹp. Lâu lâu mà mình có giúp các ông đi tìm mùi hương thích hợp thì cũng chỉ là sự công bằng.
Ngày nay, khi các ông cũng cắt mắt sửa cằm thì nếu có nói đến nước hoa cho nam giới thì chắc là không thừa. Thà như vậy còn hơn là để các ông tìm lấy và đem về nhà mùi “nước hoa thợ cạo” thì mình lại mất công mở cửa và bật quạt để xua khí độc ra ngoài.
Theo lẽ thường, các ông thường không thích nước hoa vì sợ đi vào vết xe đổ của người áo khăn dịu dàng trong Truyện Kiều, nhưng thật ra thì ông nào cũng muốn có xà phòng thơm và chút dầu bôi lên má sau khi cạo râu. Họ chống chế rằng đấy là “after shave” chứ không phải là dầu thơm!
Hãy thông cảm cho họ vì nhiều khi muốn tìm dầu thơm để xức thì cũng chẳng biết tìm ở đâu và xức mùi gì thì hợp. Ði làm công việc ba cọc ba đồng mà cứ tỏa hương thơm như các cô thanh tân yểu điệu thì ai cũng ớn, nhất là thượng cấp trong sở.
Nhưng nếu mình xài một chút hương thơm thoang thoảng và nhất là khi tham dự tiệc tùng ở ngoài thì cũng chẳng phiền ai, mà còn làm nổi cá tính hay phong cách của mình.
Việc đầu tiên xin can các nếu các ông chưa biết mình muốn gì và hợp với mùi gì thì đừng tìm mua trên Internet. Trên bàn nhậu, các ông có thể biết rõ về loại rượu thích hợp và nếu là rượu chát thì còn có thể tìm ra cách tính điểm để mua những chai không dở. Nước hoa lại khác.
Ðó là chất cồn pha với nhiều loại dầu thơm để gây phản ứng hóa học trên da thịt mà thành nhiều mùi hương khác nhau. Những mùi thơm này lần lượt tỏa theo nhiều bậc trước sau, y như hương và vị của rượu chát, nhưng lại tùy thuộc vào da thịt của từng người. Cùng một chai nước hoa ấy có thể lại đưa tới mùi thơm khác nếu là người nhễ nhại mồ hôi dầu...
Vì thế, nếu chưa biết hoặc chưa chọn được mùi thích hợp thì xin đừng mạo hiểm lên Internet mà phải... theo các bà các cô vào tiệm.
Vào trong tiệm, như Macy's hay Nordstrom, hãy chịu khó tìm vào các hãng nổi tiếng nhất, chỉ vì họ có nhiều loại khác nhau cho mình chọn. Mà chọn thế nào đây khi cô bán hàng dịu dàng hỏi trước sự bẽn lẽn của ông khách đang muốn ra dáng hào hoa?
Tất cả là tùy cá tính và sở thích của các ông.
Ðại loại thì dầu thơm cho các ông có một số mùi đặc thù, như mùi da thuộc khá cổ điển, hoặc mùi chanh xả vùng nhiệt đới, hay mùi thuốc lá, hồ tiêu và rong rêu của người muốn ra vẻ hào hùng bạt mạng. Dầu thơm của Mỹ thì còn khác Âu Châu ở vị ngọt và hơi hắc... Nhưng đấy là danh mục chung, chứ với mỗi người thì phản ứng hóa học lại mỗi khác, từ giây phút đầu cho đến lúc dầu thấm vào da và tỏa ra một mùi căn cốt sẽ tồn tại lâu nhất trên cơ thể.
Vì thế, hãy kiên nhẫn khi thử và đừng dại gì mà học các bà là phả mùi thơm trên mẩu giấy rồi phất phất cho gió thoảng hương bay. Xin thử ngay trên cánh tay và dưới vành tai. Hãy bơm một chút nước hoa vào đó rồi... ra khỏi tiệm. Hoặc theo các bà cầm bị qua cửa hàng khác, càng xa và càng lâu thì càng hay. Hãy nghĩ đến cả giờ!
Vì đấy là lúc mình phảng phất thấy hương thơm thật sự của nước hoa trên da thịt khi những nồng nàn ban đầu đã phai dần. Tình yêu phải tồn tại với thời gian, nước hoa cũng vậy! Không chỉ là qua cái chớp mắt đầu tiên đã thấy tâm đầu ý hợp mà phải lâu bền hơn thế...
Như vậy, mỗi lần đi thì chỉ thử được một hai mùi, nếu trong tiệm có sẵn những mẫu nhỏ cho ta thử. Và đừng than là mất công, vì nhân dịp mình còn có cơ hội xách bị đi hầu người đẹp. Ðấy mới là phần vụ thiêng liêng nhất.
Khi đã ưng ý sau vài ba lần thử, hãy chỉ mua cái chai nhỏ nhất. Vài tháng sau mình mới thấy là đúng mùi và đáng tiền hay không, để từ đấy sẽ thành người chung thủy với mùi hương, do nàng đi chọn cho mình...
Tạp ghi Quỳnh Giao Sau Giáng Sinh và Tết Tây, khi gỡ bóng đèn và kéo cây thông ra vỉa hè, những người chân yếu tay mềm chúng ta bỗng lại thấy thương các ông. Vì việc tháo gỡ ấy là phần vụ nặng nhọc của phái khỏe. Ðấy là lúc ta động lòng từ tâm và thấy ái ngại cho phe bên kia! Vì thế, nhân dịp đầu năm mới, mình cũng nên thả xuống cho họ một đóa hoa thơm.
Là nghệ thuật đi tìm nước hoa.
Từ nguyên thủy, chữ nước hoa hay dầu thơm là dịch từ “perfume” hay “parfum” của Âu Châu. Mà chữ đó là đọc trại từ “hương khói” của tiếng La Tinh. Thời thượng cổ, người ta đốt hương thơm để dâng thần linh, và thực hiện việc tế lễ ấy là phần vụ của các thánh nữ hay thiếu nữ tinh khiết. Sau cùng thì hình như họ qua mặt các pháp sư mà tìm lấy hương thơm cho mình! Lại còn đòi các ông hì hục pha chế để phục vụ phái đẹp. Lâu lâu mà mình có giúp các ông đi tìm mùi hương thích hợp thì cũng chỉ là sự công bằng.
Ngày nay, khi các ông cũng cắt mắt sửa cằm thì nếu có nói đến nước hoa cho nam giới thì chắc là không thừa. Thà như vậy còn hơn là để các ông tìm lấy và đem về nhà mùi “nước hoa thợ cạo” thì mình lại mất công mở cửa và bật quạt để xua khí độc ra ngoài.
Theo lẽ thường, các ông thường không thích nước hoa vì sợ đi vào vết xe đổ của người áo khăn dịu dàng trong Truyện Kiều, nhưng thật ra thì ông nào cũng muốn có xà phòng thơm và chút dầu bôi lên má sau khi cạo râu. Họ chống chế rằng đấy là “after shave” chứ không phải là dầu thơm!
Hãy thông cảm cho họ vì nhiều khi muốn tìm dầu thơm để xức thì cũng chẳng biết tìm ở đâu và xức mùi gì thì hợp. Ði làm công việc ba cọc ba đồng mà cứ tỏa hương thơm như các cô thanh tân yểu điệu thì ai cũng ớn, nhất là thượng cấp trong sở.
Nhưng nếu mình xài một chút hương thơm thoang thoảng và nhất là khi tham dự tiệc tùng ở ngoài thì cũng chẳng phiền ai, mà còn làm nổi cá tính hay phong cách của mình.
Việc đầu tiên xin can các nếu các ông chưa biết mình muốn gì và hợp với mùi gì thì đừng tìm mua trên Internet. Trên bàn nhậu, các ông có thể biết rõ về loại rượu thích hợp và nếu là rượu chát thì còn có thể tìm ra cách tính điểm để mua những chai không dở. Nước hoa lại khác.
Ðó là chất cồn pha với nhiều loại dầu thơm để gây phản ứng hóa học trên da thịt mà thành nhiều mùi hương khác nhau. Những mùi thơm này lần lượt tỏa theo nhiều bậc trước sau, y như hương và vị của rượu chát, nhưng lại tùy thuộc vào da thịt của từng người. Cùng một chai nước hoa ấy có thể lại đưa tới mùi thơm khác nếu là người nhễ nhại mồ hôi dầu...
Vì thế, nếu chưa biết hoặc chưa chọn được mùi thích hợp thì xin đừng mạo hiểm lên Internet mà phải... theo các bà các cô vào tiệm.
Vào trong tiệm, như Macy's hay Nordstrom, hãy chịu khó tìm vào các hãng nổi tiếng nhất, chỉ vì họ có nhiều loại khác nhau cho mình chọn. Mà chọn thế nào đây khi cô bán hàng dịu dàng hỏi trước sự bẽn lẽn của ông khách đang muốn ra dáng hào hoa?
Tất cả là tùy cá tính và sở thích của các ông.
Ðại loại thì dầu thơm cho các ông có một số mùi đặc thù, như mùi da thuộc khá cổ điển, hoặc mùi chanh xả vùng nhiệt đới, hay mùi thuốc lá, hồ tiêu và rong rêu của người muốn ra vẻ hào hùng bạt mạng. Dầu thơm của Mỹ thì còn khác Âu Châu ở vị ngọt và hơi hắc... Nhưng đấy là danh mục chung, chứ với mỗi người thì phản ứng hóa học lại mỗi khác, từ giây phút đầu cho đến lúc dầu thấm vào da và tỏa ra một mùi căn cốt sẽ tồn tại lâu nhất trên cơ thể.
Vì thế, hãy kiên nhẫn khi thử và đừng dại gì mà học các bà là phả mùi thơm trên mẩu giấy rồi phất phất cho gió thoảng hương bay. Xin thử ngay trên cánh tay và dưới vành tai. Hãy bơm một chút nước hoa vào đó rồi... ra khỏi tiệm. Hoặc theo các bà cầm bị qua cửa hàng khác, càng xa và càng lâu thì càng hay. Hãy nghĩ đến cả giờ!
Vì đấy là lúc mình phảng phất thấy hương thơm thật sự của nước hoa trên da thịt khi những nồng nàn ban đầu đã phai dần. Tình yêu phải tồn tại với thời gian, nước hoa cũng vậy! Không chỉ là qua cái chớp mắt đầu tiên đã thấy tâm đầu ý hợp mà phải lâu bền hơn thế...
Như vậy, mỗi lần đi thì chỉ thử được một hai mùi, nếu trong tiệm có sẵn những mẫu nhỏ cho ta thử. Và đừng than là mất công, vì nhân dịp mình còn có cơ hội xách bị đi hầu người đẹp. Ðấy mới là phần vụ thiêng liêng nhất.
Khi đã ưng ý sau vài ba lần thử, hãy chỉ mua cái chai nhỏ nhất. Vài tháng sau mình mới thấy là đúng mùi và đáng tiền hay không, để từ đấy sẽ thành người chung thủy với mùi hương, do nàng đi chọn cho mình...
CÀ RỐT, TRỨNG VÀ CÀ PHÊ
Một cô gái trẻ nói với mẹ của mình rằng cuộc sống thật khó khăn. Cô không biết sẽ tiếp tục như thế nào. Cô muốn buông xuôi vì đã quá mệt mỏi khi mãi phải đấu tranh.
Mẹ cô gái sau khi nghe con nói bèn đưa cô vào bếp. Bà đổ đầy nước vào ba cái bình và đặt chúng lên trên ngọn lửa. Chẳng mấy chốc ba bình nước sôi. Trong chiếc bình đầu tiên, bà đặt vào những củ cà rốt, trong chiếc thứ hai bà đặt những quả trứng, và trong chiếc cuối cùng bà đặt những hột cà phê nghiền. Sau đó bà tiếp tục nấu sôi ba chiếc bình, và không nói một lời nào.
Khoảng 20 phút sau, bà tắt lửa. Bà vớt những củ cà rốt ra và đặt chúng vào một cái bát. Bà lấy những quả trứng ra và đặt vào một cái bát khác. Bà lại lấy muôi múc cà phê ra và đặt vào cái bát thứ ba.
Quay sang cô con gái, bà hỏi:
-“Nào, con hãy nói cho mẹ biết, con nhìn thấy gì?”.
-“Dạ, cà rốt, trứng và cà phê”.
Cô con gái trả lời rồi hỏi:
-“Mẹ, điều đó có nghĩa là gì?”.
Bà mẹ giải thích rằng mỗi một thứ trong đó đã gặp điều kiện khó khăn như nhau, đó là nước sôi. Mỗi thứ có phản ứng khác nhau. Cà rốt khi chưa bỏ vào nước thì cứng, rắn và dai. Tuy nhiên, sau khi bị bỏ vào nước sôi, nó mềm đi và trở nên yếu ớt. Quả trứng vốn rất dễ vỡ. Lớp vỏ ngoài mỏng manh của nó đã bảo vệ lớp chất lỏng bên trong nó, nhưng sau khi được đặt vào trong nước sôi, phần bên trong quả trứng cứng lại. Những hột cà phê nghiền thì khác. Sau khi bị bỏ vào nước sôi, chúng đã biến đổi nước.
Bà mẹ hỏi cô con gái.
- “Con là gì? Khi một hoàn cảnh bất lợi gõ cửa nhà con, con sẽ phản ứng thế nào? Con là củ cà rốt, quả trứng hay hột cà phê?”.
Người mẹ giải thích tỉ mỉ cho cô con gái:
-“Con là củ cà rốt, dường như rất mạnh mẽ, nhưng khi bị đau và gặp hoàn cảnh bất lợi, con yếu mềm và mất đi sức mạnh? Hay con là quả trứng bắt đầu với một trái tim mềm yếu nhưng qua khó khăn lại trở nên cứng rắn? Một số người dễ bị lung lay tinh thần, nhưng sau một cái chết, sự chia ly, những khó khăn về tài chính, họ trở nên cứng nhắc, mặc dù cái vỏ bên ngoài vẫn thế. Hoặc có thể con giống cà phê. Cà phê thực sự làm thay đổi nước nóng, chính là thay đổi hoàn cảnh mang lại nỗi đau. Khi nước bị nóng, cà phê tỏa ra hương vị của nó. Nếu con giống như cà phê, con sẽ sống tốt đẹp hơn và có thể thay đổi tình thế xung quanh con, khi mọi thứ đang trở nên tồi tệ nhất. Trước những ngày tháng đen tối nhất và trước những thử thách cam go nhất, con sẽ nâng bản thân mình lên một tầm cao mới. Sau này khi con gặp hoàn cảnh bất lợi, hãy nhớ tự hỏi mình: “Tôi sẽ là một củ cà rốt, một quả trứng hay là cà phê?”.
Cầu mong bạn có đủ niềm vui để làm cho cuộc sống của mình thật ngọt ngào, có đủ thử thách để khiến bạn mạnh mẽ, có đủ đau thương để sống có tình người và có đủ hy vọng để hạnh phúc. Người hạnh phúc nhất không nhất thiết phải có tất cả mọi thứ tốt đẹp nhất; họ chỉ hoàn thành hầu hết tất cả những gì xuất hiện trên con đường đời của họ. Tương lai tươi sáng nhất sẽ luôn dựa trên một quá khứ bị lãng quên.
Bạn không thể tiếp bước trong cuộc sống nếu như chưa vượt qua những thất bại và nỗi đau trong quá khứ. Khi bạn được sinh ra, bạn khóc và mọi người quanh bạn mỉm cười. Hãy sống cuộc sống của bạn để đến ngày cuối cuộc đời, bạn là người mỉm cười còn mọi người quanh bạn khóc.
Một cô gái trẻ nói với mẹ của mình rằng cuộc sống thật khó khăn. Cô không biết sẽ tiếp tục như thế nào. Cô muốn buông xuôi vì đã quá mệt mỏi khi mãi phải đấu tranh.
Mẹ cô gái sau khi nghe con nói bèn đưa cô vào bếp. Bà đổ đầy nước vào ba cái bình và đặt chúng lên trên ngọn lửa. Chẳng mấy chốc ba bình nước sôi. Trong chiếc bình đầu tiên, bà đặt vào những củ cà rốt, trong chiếc thứ hai bà đặt những quả trứng, và trong chiếc cuối cùng bà đặt những hột cà phê nghiền. Sau đó bà tiếp tục nấu sôi ba chiếc bình, và không nói một lời nào.
Khoảng 20 phút sau, bà tắt lửa. Bà vớt những củ cà rốt ra và đặt chúng vào một cái bát. Bà lấy những quả trứng ra và đặt vào một cái bát khác. Bà lại lấy muôi múc cà phê ra và đặt vào cái bát thứ ba.
Quay sang cô con gái, bà hỏi:
-“Nào, con hãy nói cho mẹ biết, con nhìn thấy gì?”.
-“Dạ, cà rốt, trứng và cà phê”.
Cô con gái trả lời rồi hỏi:
-“Mẹ, điều đó có nghĩa là gì?”.
Bà mẹ giải thích rằng mỗi một thứ trong đó đã gặp điều kiện khó khăn như nhau, đó là nước sôi. Mỗi thứ có phản ứng khác nhau. Cà rốt khi chưa bỏ vào nước thì cứng, rắn và dai. Tuy nhiên, sau khi bị bỏ vào nước sôi, nó mềm đi và trở nên yếu ớt. Quả trứng vốn rất dễ vỡ. Lớp vỏ ngoài mỏng manh của nó đã bảo vệ lớp chất lỏng bên trong nó, nhưng sau khi được đặt vào trong nước sôi, phần bên trong quả trứng cứng lại. Những hột cà phê nghiền thì khác. Sau khi bị bỏ vào nước sôi, chúng đã biến đổi nước.
Bà mẹ hỏi cô con gái.
- “Con là gì? Khi một hoàn cảnh bất lợi gõ cửa nhà con, con sẽ phản ứng thế nào? Con là củ cà rốt, quả trứng hay hột cà phê?”.
Người mẹ giải thích tỉ mỉ cho cô con gái:
-“Con là củ cà rốt, dường như rất mạnh mẽ, nhưng khi bị đau và gặp hoàn cảnh bất lợi, con yếu mềm và mất đi sức mạnh? Hay con là quả trứng bắt đầu với một trái tim mềm yếu nhưng qua khó khăn lại trở nên cứng rắn? Một số người dễ bị lung lay tinh thần, nhưng sau một cái chết, sự chia ly, những khó khăn về tài chính, họ trở nên cứng nhắc, mặc dù cái vỏ bên ngoài vẫn thế. Hoặc có thể con giống cà phê. Cà phê thực sự làm thay đổi nước nóng, chính là thay đổi hoàn cảnh mang lại nỗi đau. Khi nước bị nóng, cà phê tỏa ra hương vị của nó. Nếu con giống như cà phê, con sẽ sống tốt đẹp hơn và có thể thay đổi tình thế xung quanh con, khi mọi thứ đang trở nên tồi tệ nhất. Trước những ngày tháng đen tối nhất và trước những thử thách cam go nhất, con sẽ nâng bản thân mình lên một tầm cao mới. Sau này khi con gặp hoàn cảnh bất lợi, hãy nhớ tự hỏi mình: “Tôi sẽ là một củ cà rốt, một quả trứng hay là cà phê?”.
Cầu mong bạn có đủ niềm vui để làm cho cuộc sống của mình thật ngọt ngào, có đủ thử thách để khiến bạn mạnh mẽ, có đủ đau thương để sống có tình người và có đủ hy vọng để hạnh phúc. Người hạnh phúc nhất không nhất thiết phải có tất cả mọi thứ tốt đẹp nhất; họ chỉ hoàn thành hầu hết tất cả những gì xuất hiện trên con đường đời của họ. Tương lai tươi sáng nhất sẽ luôn dựa trên một quá khứ bị lãng quên.
Bạn không thể tiếp bước trong cuộc sống nếu như chưa vượt qua những thất bại và nỗi đau trong quá khứ. Khi bạn được sinh ra, bạn khóc và mọi người quanh bạn mỉm cười. Hãy sống cuộc sống của bạn để đến ngày cuối cuộc đời, bạn là người mỉm cười còn mọi người quanh bạn khóc.

VỀ QUÊ LẦN CUỐI
Văn Quang– Viết từ Sài Gòn Rất bất ngờ, vào dịp cuối năm 2012, các ông Nhất Giang và Vi Túy từ Úc gọi điện thoại cho tôi với một câu hỏi cũng rất “giật gân”: Anh có muốn về Thái Bình không? Tôi nghĩ hai ông này định dỡn mặt với mình đây. Tôi còn đang phân vân tìm cách đối phó để khỏi rơi vào bẫy việt vị, Nhất Giang nói ngay: Thật đấy, chuyến này báo Văn Nghệ sẽ đi làm từ thiện ở Thái Bình, quê hương anh đấy. Anh thấy thế nào?
Tôi trả lời không cần suy nghĩ:
– Các anh làm từ thiện từ Đồng Bằng sông Cửu Long đến Campuchia, rồi Huế, Pleiku, Kontum, chỉ còn thiếu miền Bắc. Đồng bào đói khổ thì ở đâu cũng là người Việt mình cả. Sao lại không ra miền Bắc một chuyến nhỉ.
Vi Túy hỏi rất thành thật:
– Theo anh, miền Bắc còn nhiều gia đình nghèo lắm không?
– Ở đâu cũng có người nghèo trên khắp giải đất VN này. Ở miền Bắc, họ hàng tôi còn nhiều, nhất là ở tỉnh Thái Bình mà các anh vừa đề cập tới. Có những người “trên không chằng, dưới không rễ”, nói rõ ra là họ không có người thân, không có họ hàng hang hốc với chính quyền địa phương, phần đông còn nghèo khó là cái chắc, chẳng khác gì những người ở các vùng quê miền Nam đâu. Chưa nói đến trường hợp như mấy đứa cháu tôi, sự nghèo khổ còn thê thảm hơn, kéo dài suốt từ năm 1954 tới bây giờ. Tôi kể lại sơ lược sự thật đó để các anh hiểu rõ hơn.
Nỗi khổ từ “muôn năm cũ”.
Năm 1954, sau khi gia đình tôi vào Nam, anh cả tôi ở lại miền Bắc bởi anh theo kháng chiến chống Pháp từ những năm 1949. Như tôi đã có lần tường thuật với bạn đọc về cái chết oan uổng của ông anh cả tôi. Anh đang là chính trị viên, nhưng anh bị sốt rét nên sau khi đi bệnh xá, được nghỉ phép về làng dưỡng bệnh. Gặp ngay đợt cải cách ruộng đất, phong trào đấu tố được “phát huy” lên đỉnh điểm. “Chỉ tiêu” của làng tôi là phải đấu tố 3 anh địa chủ. Thế là ông anh tôi, vốn là con ông chánh tổng, bị lôi ra đấu tố rồi xử bắn. Để lại vợ và 3 đứa con nhỏ, có cháu mới 2 tuổi, cháu lớn nhất mới 6 tuổi. Bà vợ anh không chịu nổi cảnh nhục nhã này nên đã đâm đầu xuống ao nhà tự tử. Mấy đứa con nhỏ bị đuổi ra ở một túp lều lá trong khu vườn chè nhà tôi. Cả làng, kể cả người thân trong họ, cũng không dám giúp đỡ bất cứ thứ gì cho các cháu. Một lần các cháu mò cua bắt ốc, bắt được mấy con cá nhỏ ngoài đồng, mang về đến gần nhà, vô phúc gặp một anh dân quân du kích bắt đứng lại khám xét. Thấy mấy con cá, anh dân quân này quả quyết rằng hai đứa ăn cắp cá, anh ta mang đổ ngay mấy con cá xuống ao làng. Mấy đứa cháu tôi sống nheo nhóc trong hoàn cảnh đó. Tôi không muốn dài dòng về nỗi khổ này của các cháu. Chỉ biết rằng nỗi nghèo khổ đó đã theo đuổi các cháu từ năm 1954 đến nay. Một cháu đã mất tại Nam Định, một cháu bỏ làng ra Hà Nội sống cuộc sống lầm than cho đến bây giờ.
Tôi kể lại chuyện này để các anh hiểu thêm ở miền Bắc còn nhiều gia đình nghèo khổ, cái nghèo “tích lũy” lại từ bao năm nay, đôi khi hơn cả miền Nam. Ở những làng quê Thái Bình không thiếu những gia đình như thế. Các anh đại diện cho bà con người Việt ở nước ngoài phát quà cho bất cứ tỉnh nào ở miền Bắc cũng sẽ gây xúc động cho bà con nghèo trong nước và gây được một tiếng vang đáng kể đấy. Một việc nên làm và không phải ai cũng làm được.
Ông Nhất Giang kết luận một câu hỏi gọn lỏn:
– Vậy anh có đi không? Chúng tôi lấy vé máy bay nhé.
Tôi “nóng máy” gật ngay: “Đi thì đi”.
Kinh Kha qua sông Dịch
Thế là chuyến đi bất ngờ của tôi về quê hương được ấn định từ ngày 25 đến 27-12 vừa qua. Thật ra từ mấy năm trước, mỗi lần báo Văn Nghệ về VN tặng quà, tặng nhà tình thương cho đồng bào nghèo, tôi vẫn còn đủ sức “chiến đấu” với anh em, từ Lộc Ninh đến Biển Hồ Campuchia, đến Tiền Giang, Đà Lạt tôi đều có mặt. Nhưng mỗi năm tuổi một cao, sức yếu không còn đủ sức “trường chinh” nữa. Năm nay đã 80, tưởng rằng anh em cho yên thân “dưỡng già” trong cái chung cư mục nát này. Nhưng tiếng gọi của quê hương, của những người nghèo khó lại bất ngờ bật dậy, nói theo kiểu chữ nghĩa linh tinh ở đây là nó bật dậy “đột xuất”!
Tôi theo dõi tin thời tiết trên truyền hình, miền Bắc đang vào đợt rất lạnh, có hôm dưới 13 độ C, tôi hơi lo cho “cái thân già” này. Nhưng nhớ lại những ngày nằm trong trại tù cải tạo ở Sơn La, trời lạnh 3 độ C mà chiều vẫn phải tắm nước suối lạnh buốt còn chịu được thì có xá gì cái lạnh Hà Nội. Thế là thêm “dũng khí” ra đi, cứ như Kinh Kha qua sông Dịch vậy. Đi chuyến này rồi về có “bỏ mạng nơi xa trường” cũng đáng lắm.
Xin bạn đừng cho rằng tôi “quan trọng hóa” chuyến đi này. Ở vào tuổi tôi, nhiều bạn bè đã ra đi, nhiều bạn mới năm trước còn dong chơi đây đó, nay đã nằm bẹp, muốn đi đâu cũng không đi nổi. Bây giờ, tôi đi bộ hàng ngày chỉ 15 phút đã thở “bở hơi tai”. Biết mình sức yếu rồi, chỉ còn điều an ủi cuối cùng là “làm được cái gì thì cứ làm, đi được đến đâu thì cứ đi”. Chẳng có điều gì báo trước cho cỗ máy xài đã 80 năm, không hư chỗ nọ cũng hỏng chỗ kia, lắp vá lung tung, đến lúc nó “bung” là hết lết nổi. Do vậy mà chuyến đi của tôi hoàn toàn nằm ngoài dự tính và ngoài cả ý muốn, nhưng cũng phải “liều”. Bạn đã đọc câu chuyện vui tôi gửi đến quý bạn tuần trước: Ở VN “không liều thì không sống được”. Cho nên tôi đi chuyến này cũng là liều. Bởi tôi biết rất rõ, đi với “cánh Văn Nghệ Úc” là đi liên miên, ngồi xe vào đường làng xóc như nhảy mambo, cuốc bộ đường ruộng hàng vài cây số, đi liên miên để đến được nhiều nơi.
Đầu năm, cho tôi được tậm sự đường dài với bạn đọc thân mến của tôi thế thôi. Năm sau chẳng biết còn đủ sức, đủ minh mẫn để hầu chuyện bạn đọc nữa không.
Người Sài Gòn tiết kiệm cả đêm Giáng Sinh
Đêm 24-12, tôi đón Giáng Sinh ở Sài Gòn, vốn lười đi và tiết kiệm nên nằm nhà coi Ti Vi. Từ ngày phố xá Lê Lợi, Nguyễn Huệ trang hoàng đón Giáng Sinh và Năm Mới, tôi chưa hề bước chân ra đến mấy con phố chính rộn ràng đó. Dường như với người già ở thành phố này, nói chung, họ vẫn nghĩ năm nào cũng như nhau thôi, có đi xem cũng chẳng thấy gì khác. Vả lại năm nay đời sống quá khó khăn, những thứ đèn đóm xa hoa, năm nào cũng phải có cho đủ “lệ bộ” thôi, chứ khó mà vui nổi khi còn trăm thứ lo bù đầu. Vô tình, những thứ đó dành cho những người giàu hay ít ra cũng đủ ăn đủ mặc. Dân nhà nghèo năm nay lo chạy gạo, lo thất nghiệp, tiết kiệm cả đến một cuốc xe đi hưởng thú vui không mất tiền, tức là không mất “phí”. Cái gì chứ nghe đến “phí” là dân nghèo hết hồn rồi. Mất tiền đổ xăng, chẳng lẽ không uống ly nước mía, thôi, thà ở nhà, tiết kiệm được cho gia đình bữa ăn sáng, để dành tiền nộp phí sử dụng đường bộ. Đấy là một sự thật, ít ai nghĩ đến.
Tôi chỉ dám thức đến 11g đêm bởi sáng sớm hôm sau, 05giờ đã phải thức dậy ra máy bay. Coi như phải “bỏ quên đêm Giáng Sinh”. Chuyến Jestar cất cánh từ Tân Sơn Nhất lúc 07g30 phút, sau 1g45 phút sẽ đến sân bay Nội Bài. Jestar là hãng hàng không giá rẻ nhất tại VN bây giờ. Nếu lấy vé trước 1 tháng hoặc 1 tuần, giá sẽ rẻ hơn nhiều. Chỉ bằng nửa giá Air VN và ngang với giá xe lửa có giường nằm. Khoảng hơn 1 triệu đồng 1 lượt Saigon – Hanoi. Tất nhiên bạn lấy vé khứ hồi sẽ còn được bớt thêm nữa. Máy bay lớn, khoang hành khách chật chội, tất nhiên không “sang” bằng những hãng khác, nhưng cũng không tệ. Khi máy bay sắp hạ cánh, phi hành đoàn thông báo nhiệt độ tại Nội Bài là 14 độ C. Cô gái ngồi cạnh tôi lè lưỡi rùng mình. Cô vận chiếc quần soọc để khoe cặp đùi dài trắng nhễ nhại. Có lẽ cô ra Hà Nội lần đầu.
Tôi “trang bị” khá kỹ, áo khoác dầy cộm, khăn len quàng cổ, những thứ hàng “son” mua ở chợ Đà Lạt từ mấy năm trước, nằm kỹ trong đáy tủ, bây giờ mới “phát huy tác dụng”.
Về quê hương mà chưa biết đó là quê mình
Từ sân bay Nội Bài, chiếc xe 16 chỗ chạy thẳng một lèo về Thái Bình. Con đường khá dài, ngồi ê ẩm mới tới nơi tôi đã sinh ra và lớn lên rồi bỏ xứ ra đi. Gần 3 tiếng sau chúng tôi tới giáo sứ Phục Lễ. Ngôi nhà thờ rất lớn, với những hàng cây được nắn tỉa công phu quanh những khu vườn sạch sẽ làm tôn thêm vẻ trang nghiêm của nơi này. Người đón tiếp chúng tôi là cha Thao, rất lịch lãm, trẻ và đẹp trai không kém gì tài tử màn bạc. Cha đãi đoàn một bữa cơm khá thịnh soạn. Mọi chương trình đã được hoạch định từ trước cả chỗ ăn chỗ ngủ. Nhưng để khỏi làm phiền nơi tôn nghiêm và có tự do hơn, chúng tôi xin phép cha cho ra nghỉ ở khách sạn bên ngoài.
Đó là một kiểu “nhà nghỉ” ở giữa những con đường lớn. Có nơi treo bảng là “nhà ngủ” cho tiện việc sổ sách. Phòng chật hẹp, cũng có máy lạnh, toilet nhưng có vẻ hơi bầy hầy, bạn kiếm miếng xà bông cũng không ra. Đêm giữa đồng quê nghe ếch nhái kêu cũng vui tai. Tôi chợt nhớ ra là tôi rời quê ra đi vào năm 1950, đến nay đã hơn 60 năm tôi mới được ngủ lại ở chính quê hương mình. Nhìn khung cảnh đồng quê trước mặt mơ hồ trong ánh đèn đêm, dường như nó vẫn vậy, không có gì thay đổi. Thay đổi chăng là ở con người. Tôi thật sự xúc động khi nhớ lại những con đường, những mái nhà, những ngôi trường tôi đã từng ê a học và những khuôn mặt từ xa xưa. Tất cả như còn đang lẩn khuất đâu đây và đang chờ đợi ngày chúng tôi trở về. Nhưng đồng thời với cảm tưởng ấy là ý nghĩ thực tế hơn, có lẽ đây là lần cuối tôi nghỉ lại nơi này. Niềm vui và nỗi buồn đan xen trong cái đêm “hội ngộ” hi hữu này. Đêm đó dù rất mệt nhưng tôi vẫn không tài nào nhắm mắt ngủ yên được.
Sáng hôm sau trở lại nhà thờ Phục Lễ, nghe các giáo dân nói chuyện tôi mới biết giáo sứ này thuộc xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình. Vậy mà từ hôm qua tôi cứ tưởng giáo sứ thuộc huyện khác, mãi đến lúc đó tôi mới biết xã này thuộc huyện mình. Cách huyện lỵ Quỳnh Côi có 4 km, tức là cách làng An Hiệp của tôi 9 km. Bỗng dưng tất vả trở nên thân thuộc quá.
Buổi phát quà tại giáo sứ Phục Lễ
Đúng 9 giờ sáng buổi phát quà bắt đầu ngay tại sân sau nhà thờ Phục Lễ. Chúng tôi thấy việc tổ chức phát quà cho đồng bào nghèo ở một nơi như thế này là rất phù hợp. Nếu tổ chức ở một trụ sở hay ủy ban nào cũng bất tiện vì khẩu hiệu cờ quạt lung tung… Buổi phát quà cho cả đồng bào theo đạo Thiên Chúa và đạo Phật, không hề có sự phân biệt nào. Hơn 100 người đã tề tựu đông đủ, vài người “giàu lắm” cũng chỉ có chiếc xe đạp cũ. Phần quà gồm 2 gói thực phẩm và 100 ngàn tiền mặt. Đến nhận quà, hầu hết là các cụ già, các cô gái và em nhỏ vừa đủ tuổi xách được gói quà khoảng 4 kg. Quan sát những người dân ở đây, tôi không thấy điều gì khác biệt với những người dân ở các địa phương miền Nam mà tôi đã từng đi qua. Có lẽ người nghèo ở đâu cũng giống nhau cả thôi, quần áo “thời đại si đa” đủ mốt, đủ màu, đủ quốc tịch, chữ ăng lê trên ngực áo đủ kiểu kể cả kiểu “I ♥ you” trên áo các em nhỏ chưa đủ lớn khôn. Khác một chút là mùa lạnh nên ai cũng mặc vài ba chiếc áo chằng đụp nên có vẻ có da có thịt hơn.
Tôi cũng được anh em cử ra đứng phát tiền sau khi các cụ đã lãnh quà. Có cụ bê không nổi, rớt lung tung, người khác phải tới “khuân” giúp. Có cụ quên cả lãnh tiền, dù đã được nhắc nhở, tôi phải kéo áo cụ lại mời cụ lãnh giùm cho. Có cụ nói “các ông cho nhiều quá, chưa có “ông” nào cho nhiều như thế”.
Tiếng gọi nhau í ới, vài người xúm lại “thồ” mấy phần quà trên chiếc xe đạp cũ. Họ vẫn còn quen với kiểu phương tiện vận chuyển thời chiến tranh đi tản cư, di cư.
Ngay hôm đó đoàn lại tiếp tục đi đến 4-5 nhà thờ khác nằm trong địa phận cai quản của cha Thao ở giáo xứ này. Đường làng nhỏ hẹp như bờ ruộng, có nơi xe gắn máy đi còn chật. Chúng tôi cuốc bộ từng chặng chừng 1-2 cây số. Thú thật, nếu không có mấy ông bạn mang giúp hành lý, tôi không đi nổi. Ở nơi nào bà con cũng có vẻ lạ lẫm với đoàn làm từ thiện từ nước ngoài về. Thậm chí có nhiều người chẳng biết nước Úc ở đâu, nếu không giải thích, họ vẫn cứ nghĩ rằng đó là nước Mỹ. Bà con ở miền này biết đến nước Mỹ và đồng đô la chứ quả tình không biết đồng đô la Úc hoặc đô la Canada. Xin bạn hiểu là rất nhiều người biết có đồng đô la chứ chưa nhìn thấy hoặc chưa được cầm đến bao giờ. Đó là điều ngược hẳn với dân Hà Nội. Ai cũng biết giá trị của từng đồng đô la và nhiều người định giá trị nhiều món hàng bằng đô la và tiêu bằng đô la mạnh tay hơn các cụ từ nước ngoài về VN đấy. Suy ra từ đấy, ở miền Bắc sự cách biệt về giàu nghèo giữa thành thị và thôn quê quá xa. Xa hơn cả miền Nam.
Trở lại chính nơi chôn rau cắt rốn
Buổi chiều chúng tôi lại lên đường trở về Hà Nội. Trên đoạn đường đó, chúng tôi đi qua huyện Quỳnh Phụ và qua cầu Hiệp. Đúng ra tên huyện cũ của tôi là Quỳnh Côi, nhưng sau này, các ông “nhà nước mới” sát nhập hai huyện Phụ Dực và Quỳnh Côi là một, đổi thành huyện Quỳnh Phụ. Rồi nhiều huyện, nhiều tỉnh thấy sự cai trị bất tiện nên lại tách lại các tỉnh huyện như cũ. Như Hà - Nam- Ninh, Vĩnh - Phúc - Yên….Nguyên cái việc sửa tới sửa lui này cũng tốn hết biết bao tiền của công sức của nhân dân. Giấy tờ đều phải làm mới để rồi làm lại như cũ. Sự thiếu nghiên cứu, thiếu kinh nghiệm, với những bộ óc thích “đổi mới vô tội vạ” đã làm điêu đứng người dân không ít.
Ngày nay, cái phố huyện nhỏ xíu bây giờ được nâng lên thành thị trấn và đặt lại cái tên Quỳng Côi quen thuộc, nhưng huyện thì vẫn là huyện Quỳnh Phụ.
Đi qua con đường đúng 5 cây số từ thị trấn về phố Bến Hiệp, tôi bồi hồi nhớ đến những năm tháng từ phố tôi đi học trường huyện. Con đường trải đá, hai bên đã mòn nhẵn, mỗi ngày có hai chuyến xe đò chạy từ Bến Hiệp đến tỉnh lị Thái Bình. Con đường đã in đậm thuở ấu thơ của tôi, thuở mới tập và thích làm người lớn, thuở bắt đầu biết yêu vụng nhớ thầm cô hàng xén hoa khôi của phố Hiệp. Bốn năm dài như thế, mỗi ngày đạp xe đi trên con đường cái quan này. In đậm trong khối óc trẻ thơ của tôi là vào năm 1943, hai bên bờ cỏ, dọc theo con đường này có rất nhiều người chết đói, nằm la liệt bên đường. Có những xác chết, vì không chôn kịp, đã cháy đen vì nắng như bị hỏa thiêu. Hầu hết họ là những người từ phương xa đến xin ăn ở huyện tôi. Nhà tôi đã bắt tôi phải nghỉ học cả tháng để tránh bệnh tật lây lan từ quãng đường kinh hoàng này. Bây giờ trở lại, đó là những hình ảnh bi đát nhất vẫn còn như trước mắt tôi.
Chùa làng Sơn Đồng và ông sư tự thiêu
Đi gần hết quãng đường này, chúng tôi vì tò mò ghé vào làng Sơn Đồng thăm ngôi chùa có vị sư mới tự thiêu cách đây hai tháng. Làng này cách làng tôi vài cái bờ ruộng và một lũy tre thưa. Bà chị ruột tôi lấy chồng ở làng Sơn Đồng. Anh chị tôi có chừng 7- 8 đứa con hiện ở cả bên Mỹ. Các cháu đề nghị tôi ghé qua chùa thăm lại cảnh xưa có đúng như bức ảnh đã được đưa lên internet không và lý do nào nhà sư đã tự thiêu.
Chúng tôi đến ngôi chùa Sơn Đồng vào buổi quá trưa “trời không nắng cũng không mưa, chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ nhung”. Không khí chùa ngoài vắng lặng, không một bóng người. Tôi lần ra phía sau chùa vãn cảnh, bất ngờ gặp được sư thầy, có lẽ là vị sư tạm thời trụ trì ở chùa này sau khi vị sư chính tự thiêu. Tôi gợi lại vài kỷ niệm cũ chứng tỏ mình là người cũ của địa phương này. Hồi đó bố tôi thường sai tôi sang chùa này mời cụ sư Hinh sang nhà tôi đàm đạo. Cụ sư Hinh rất phong khoáng trẻ trung nên tôi nhớ mãi tính cách đặc biệt của cụ. Vị sư thầy trụ trì mới này nhận ra ngay tôi là “người nhà”. Vị này tự giới thiệu tên thật là Phạm Tiến Hường.
Sư thầy ra gặp anh em trong đoàn và thuật lại chuyện vị sư đã tự thiêu. Thầy nói khá chi tiết. Tôi chỉ có thể tóm tắt vài điểm then chốt. Vị sư tự thiêu là thầy Thích Thanh Hoằng; tên tục là Nguyễn văn Mười. Thầy viết thư tuyệt mệnh nói rằng “Thầy không oán trách phật tử, tự thầy oán trách thầy”. Nhưng theo thầy Phạm Tiến Hường thì một buổi sáng thức dậy, thầy Thích Thanh Hoằng bị “người ta” lấy hết toàn bộ đồ dùng của thầy, trong đó có cả máy vi tính và nhiều sách vở. Thầy buồn lắm nên tự thiêu. Tôi không thể suy luận hai chữ “người ta” đây là sư thầy Hường đã ám chỉ nhân vật nào hay cơ quan nào. Vì một lý do nào đó, thầy Hường cũng chỉ nói hai tiếng “người ta”, nhưng bạn đọc thừa thông minh có thể hiểu đó là ai và tại sao thầy Hường không thể nói rõ hơn được. Thầy Hường chính là người đã ở bên và giúp đỡ săn sóc cuộc sống cho thầy Thích Thanh Hoằng từ 10 năm nay nên biết rất rõ. Thầy Hoằng đã đổ 10 lít xăng lên người để tự thiêu vào buổi sáng. Sau đó vài ngày, chùa định làm một đám tang lớn nhưng lại được phường xã đề nghị cho đám táng đi vòng quanh con đường phía ngoài chùa rồi an táng thầy phía sau miếng đất của chùa Sơn Đồng.
Cây cầu Hiệp mới, nối liền Hải Dương- Thái Bình
Chúng tôi dừng lại chùa Sơn Đồng khoảng hơn 1 tiếng, buổi chiều anh tài xế trẻ đưa đoàn ra Bến Hiệp. Đây chính là nơi tôi đã sống suốt thời thơ ấu. Dãy phố có chừng vài chục căn nhà lầu, nơi có một số gia đình người Hoa làm ăn buôn bán cùng người Việt. Ngày nay chỉ còn lại là những dẫy nhà tranh hai bên đường. Chỉ có cái cầu Hiệp mới làm xong, đó cũng là đặc điểm nổi bật nhất của tỉnh Thái Bình.
Cầu Hiệp bắc qua sông Luộc, nối liền đường bộ giữa 2 tỉnh Hải Dương - Thái Bình, cầu này thuộc 2 xã Hưng Long (huyện Ninh Giang) Hải Dương và Quỳnh Giao (huyện Quỳnh Phụ) Thái Bình, được khởi công xây dựng từ năm 2008. Cầu Hiệp có chiều dài 542,5m, rộng 12m. Buổi chiều trời mưa dăng nhẹ như mưa phùn mùa đông, cây cầu uốn cong nổi lên trên nền trời khá hùng vĩ giữa vùng quê nghèo. Tôi nhớ đến những lần bọn nhóc chúng tôi trần như nhộng, bơi qua sông Luộc giữa mùa nước lớn, dòng phù sa đỏ quạch chảy cuồn cuộn, sang bên kia sông ăn trộm vài trái bắp với cái lý do ngây ngô rằng bắp Hải Dương mới ngon. Và chỉ bơi qua sông chạy trốn về bờ nhà khi có người đuổi theo hô hoán, đứng trên bờ chửi theo. Tuổi trẻ ngỗ nghịch có vài phút sống lại.
Cây cầu này khiến tôi nhớ tới cây cầu Bo, lối bắt đầu vào tỉnh lỵ Thài Bình, nơi bà ngoại tôi sinh sống. Mỗi lần tôi được “lên tỉnh”, nhìn thấy cây cầu Bo như nhìn thấy môt thiên đường mới. Đó mới là ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi về quê ngoại. Tôi nhớ đến mấy câu vè của bọn học trò vẫn hát om xòm: “Thái Bình có cái Cầu Bo. Đêm đêm trai gái lại bò lên chơi. Cứ 5 mét lại một đôi”.
Bây giờ Thái Bính có tới 2 cây cầu Bo, một mới và một cũ, nằm song song, nhưng chuyến đi này tôi không đi qua cầu Bo. Chiếc cầu Hiệp đã thay thế, nhiều xe chạy đường Hà Nội đã thay đổi lộ trình chạy qua đường cầu Hiệp sang Hải Dương ngắn hơn và đường xá tốt hơn.
Buổi tối về đến Hà Nội, chúng tôi quá mệt mỏi chỉ còn nước lăn ra ngủ. Trong chuyến đi của đoàn có một ông bạn từ Cali cũng tháp tùng. Ông Tiến, tục gọi là Tiến râu, người nằm chung phòng với tôi và mang vác hành lý, giúp đỡ tôi rất nhiếu trong suốt cuộc hành trình này. Thế là có cả độc giả từ Mỹ về cùng làm từ thiện cho vui vẻ. Hà Nội đối với tôi chỉ là một trạm dừng chân đợi tàu xe. Nhưng cũng có nhận xét rất “vô tư” rằng người Hà Nội giàu hơn người miền Nam. Có rất nhiều nguyên nhân lý giải điều này sau khi tôi tìm gặp một vài người bà con, kẻ giàu nứt đố đổ vách, người nghèo kiết xác như đứa cháu tôi ở giữa lòng Hà Nội.
Buổi tối chúng tôi trở về Sài Gòn trên chuyến bay cất cánh vào 19g30 hoàn tất chuyến đi làm từ thiện lần đầu tiên ở miền Bắc. Thưa thật với bạn đọc, ba hôm sau hai bắp đùi tôi vẫn còn đau, leo lên cầu thang lầu 1 chung cư không muốn nổi. Thế mới thấy rõ mình đã “quá đát” và ngồi tiếc nuối thời trai trẻ. Nhưng dù thế nào tôi cũng bằng lòng với mình vì đã “làm được gì cứ làm, đi được đến đâu cứ đi”. Đó chính là cuộc sống “có lý” của tuổi già, phải không bạn?
Văn Quang
– 04-1-2013
Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa...
Tạp Ghi Quỳnh Giao Mùa Ðông Cali năm nay mưa nhiều, lại hay mưa vào khuya. Còn gì thú hơn là được trùm chăn ấm nghe mưa nhẹ nhàng ru giấc ngủ. Người viết thuộc loại người lãng mạn thích mưa. “Ðêm mưa làm nhớ không gian...” có người đã làm thơ như vậy... Mà hình như là các nhạc sĩ cũng viết về mưa nhiều hơn nắng.
Nhớ lại thì mưa trong nhạc Lam Phương là mưa của người nghèo, của kiếp nghèo. Mưa trong nhạc Lâm Tuyền với lời từ Dạ Chung là mưa nhà giầu, khi nhìn “lầu nguy nga ước mơ thầm.”.. Mưa làm biệt ly đôi lứa như “Giã Từ Ðêm Mưa” của Văn Phụng, nhưng đem sum họp và đầm ấm như “Mưa Chiều Kỷ Niệm” của Duy Yên. Trong các ca khúc về mưa, bài “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa” của Tô Vũ là một tuyệt tác.
Ông viết không nhiều, những gì sáng tác tại miền Bắc sau 1954 thì chúng ta không biết. Thuở ban đầu ông viết lịch sử ca như bài “Ngày Xưa,” với tên thật là Hoàng Phú. Khi viết nhạc tình, ông lấy biệt hiệu Tô Vũ. Không biết có phải từ sự tích Tô Vũ chăn dê ở bên Tầu hay không? Thời ấy ba bài nhạc tình của Tô Vũ đều thành công về cả lời lẫn nhạc.
Bài có nhạc thuật cao nhất là “Tiếng Chuông Chiều Thu,” được các nhạc sĩ nổi tiếng khó tính ở trong Nam như Vũ Thành, Hoàng Trọng và Văn Phụng đặc biệt yêu thích. Vũ Thành đã soạn hòa âm công phu cho bài này, có cả phần phụ họa của giọng nam và nữ để làm nổi giọng chính. Vì mến tài, ông còn kín đáo cắt bớt vài câu cho bài hát cân đối hơn.
Hồi đó khoảng đầu thập niên 70, Vũ Thành soạn hòa âm để thu thanh cho chương trình nhạc chọn lọc của đài Tiếng Nói Tự Do. Ðấy là một đài phát thanh của Hoa Kỳ chỉ để phát ra Bắc. Ðài trả thù lao rất hậu cho các trưởng ban, ca sĩ và nhạc sĩ, nhờ thế mà có nhiều chương trình đặc sắc. Các nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Duy, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Văn Phụng và cả danh ca Anh Ngọc đều có ban nhạc và chương trình riêng. Ðặc biệt là các chương trình trả thù lao rất cao nhưng là “độc quyền.” Hòa âm đã viết cho đài Tiếng Nói Tự Do thì không được dùng trong các đài phát thanh, truyền hình hoặc các nơi chốn khác.
Cũng vì rất quý một phần tim óc của mình trong các chương trình nhạc, khi di tản với vợ con vào năm 75, Vũ Thành không mang hành lý nào qua Mỹ ngoài các băng nhạc loại “reel to reel” thu bằng máy Akai. Gặp nhau tại vùng Hoa Thịnh Ðốn, ông hỏi một câu làm mình bủn rủn: “Toi” có muốn nghe lại giọng của “toi” và bằng hữu trong bài “Tiếng Chuông Chiều Thu” thu ở đài Tự Do không?
Khỏi nói, quý độc giả cũng đoán biết người viết ngậm ngùi đến ứa lệ!
Bản thứ hai của Tô Vũ là “Tạ Từ” thường được trình bày giọng nam. Bài hát viết về lời tạ từ của chinh phu trước khi lên đường. Hình ảnh cuộc chia tay bên cầu và lời nguyện đoàn tụ son thắm. Phải là giọng có chất trượng phu như Anh Ngọc, Hoài Bắc Phạm Ðình Chương và Bùi Thiện, hay Ðoàn Chính, Thanh Vũ thì mới diễn tả trọn vẹn và thành công.
Nhạc phẩm “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa” được trình bày nhiều hơn cả, và là bài hát thịnh hành nhất của Tô Vũ. Có lẽ vì lời từ rất “avant garde,” mới lạ và táo bạo so với ngày xưa.
Khi các ca khúc của Phạm Duy, Vũ Thành, Hoàng Quý, Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Hoàng Giác hay Thẩm Oánh, v.v... còn e ấp mối tình câm nín, như “Cô Hái Mơ,” “Cô Láng Giềng,” “Cô Hàng Hoa,” “Ngọc Lan,” “Nhớ Bạn”... hoặc khi Hoàng Trọng chỉ “Nhạc Sầu Tương Tư,” hay Thẩm Oánh còn “Nhớ Nhung”... thì Tô Vũ đã viết “mặt nhìn mặt, tay cầm tay,” và nhất là “quên niềm cay đắng, và quên cả đường về”...
Theo như lời kể của ca sĩ Mộc Lan thì lời ca còn ly kỳ hơn thế nữa.
Tô Vũ đã viết là “quên quà cay đắng và quên đường về.” Nhưng vì táo bạo quá, nhiều ca sĩ ngày xưa sửa lại là “ niềm cay đắng.” Riêng Mộc Lan thì vẫn giữ ý “quà cay đắng” khi hát vì cho là hay và đúng hơn! Cô còn có một giai thoại đặc biệt, do chính Mai Thảo kể lại với nhiều luyến tiếc. Nhà văn kể rằng Mộc Lan rất quý và mến mộ tài năng của ông. Có lần cô cho phép ông đến thăm. Vì ngần ngại, ông không dám đường đột đến một mình. Và trù trì mãi đến chiều mới đi, lại còn rủ thêm người bạn là nhà văn Thanh Nam đi cùng.
Khi đến nhà, ông thấy cửa đóng then cài, trên cánh cửa có kèm mẩu giấy nhỏ. Hàng chữ trên mẩu giấy khiến ông ngẩn người... Chỉ có vỏn vẹn một câu: “Anh đã lỡ một dịp may trên đời”... Một người vừa đẹp lại thông minh và tài hoa như Mộc Lan, thì quả là Mai Thảo đã để lỡ dịp may hiếm có.
Người như thế thì chọn hát câu “quà cay đắng” thì đúng quá rồi...
Giờ này, nghe lại tape nhạc Vũ Thành tặng năm xưa, qua tiếng guitare solo của chính Vũ Thành dẫn vào tiếng hát Mộc Lan trong bài “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa,” người viết lại thấy lòng mình chùng xuống.
Ca khúc này cũng được Phạm Ðình Chương yêu thích và soạn bè cho song ca nam nữ rất hay. Mỗi khi có dịp đứng cùng sân khấu, cô Châu Hà luôn đòi song ca bài này với Hoài Bắc. Và khi chú Chương hát với cô cháu (là người viết) thì ông thường dặn: Cháu phải để cho chú “mùi” nhé! Quả thật không ai hát bài này mùi như Hoài Bắc. Chất giọng của ông như có men, làn hơi dài và ấm áp tả buổi chiều mưa dầm dề làm cho nhiều người quên cả đường về...
Tạp Ghi Quỳnh Giao Mùa Ðông Cali năm nay mưa nhiều, lại hay mưa vào khuya. Còn gì thú hơn là được trùm chăn ấm nghe mưa nhẹ nhàng ru giấc ngủ. Người viết thuộc loại người lãng mạn thích mưa. “Ðêm mưa làm nhớ không gian...” có người đã làm thơ như vậy... Mà hình như là các nhạc sĩ cũng viết về mưa nhiều hơn nắng.
Nhớ lại thì mưa trong nhạc Lam Phương là mưa của người nghèo, của kiếp nghèo. Mưa trong nhạc Lâm Tuyền với lời từ Dạ Chung là mưa nhà giầu, khi nhìn “lầu nguy nga ước mơ thầm.”.. Mưa làm biệt ly đôi lứa như “Giã Từ Ðêm Mưa” của Văn Phụng, nhưng đem sum họp và đầm ấm như “Mưa Chiều Kỷ Niệm” của Duy Yên. Trong các ca khúc về mưa, bài “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa” của Tô Vũ là một tuyệt tác.
Ông viết không nhiều, những gì sáng tác tại miền Bắc sau 1954 thì chúng ta không biết. Thuở ban đầu ông viết lịch sử ca như bài “Ngày Xưa,” với tên thật là Hoàng Phú. Khi viết nhạc tình, ông lấy biệt hiệu Tô Vũ. Không biết có phải từ sự tích Tô Vũ chăn dê ở bên Tầu hay không? Thời ấy ba bài nhạc tình của Tô Vũ đều thành công về cả lời lẫn nhạc.
Bài có nhạc thuật cao nhất là “Tiếng Chuông Chiều Thu,” được các nhạc sĩ nổi tiếng khó tính ở trong Nam như Vũ Thành, Hoàng Trọng và Văn Phụng đặc biệt yêu thích. Vũ Thành đã soạn hòa âm công phu cho bài này, có cả phần phụ họa của giọng nam và nữ để làm nổi giọng chính. Vì mến tài, ông còn kín đáo cắt bớt vài câu cho bài hát cân đối hơn.
Hồi đó khoảng đầu thập niên 70, Vũ Thành soạn hòa âm để thu thanh cho chương trình nhạc chọn lọc của đài Tiếng Nói Tự Do. Ðấy là một đài phát thanh của Hoa Kỳ chỉ để phát ra Bắc. Ðài trả thù lao rất hậu cho các trưởng ban, ca sĩ và nhạc sĩ, nhờ thế mà có nhiều chương trình đặc sắc. Các nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Duy, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Văn Phụng và cả danh ca Anh Ngọc đều có ban nhạc và chương trình riêng. Ðặc biệt là các chương trình trả thù lao rất cao nhưng là “độc quyền.” Hòa âm đã viết cho đài Tiếng Nói Tự Do thì không được dùng trong các đài phát thanh, truyền hình hoặc các nơi chốn khác.
Cũng vì rất quý một phần tim óc của mình trong các chương trình nhạc, khi di tản với vợ con vào năm 75, Vũ Thành không mang hành lý nào qua Mỹ ngoài các băng nhạc loại “reel to reel” thu bằng máy Akai. Gặp nhau tại vùng Hoa Thịnh Ðốn, ông hỏi một câu làm mình bủn rủn: “Toi” có muốn nghe lại giọng của “toi” và bằng hữu trong bài “Tiếng Chuông Chiều Thu” thu ở đài Tự Do không?
Khỏi nói, quý độc giả cũng đoán biết người viết ngậm ngùi đến ứa lệ!
Bản thứ hai của Tô Vũ là “Tạ Từ” thường được trình bày giọng nam. Bài hát viết về lời tạ từ của chinh phu trước khi lên đường. Hình ảnh cuộc chia tay bên cầu và lời nguyện đoàn tụ son thắm. Phải là giọng có chất trượng phu như Anh Ngọc, Hoài Bắc Phạm Ðình Chương và Bùi Thiện, hay Ðoàn Chính, Thanh Vũ thì mới diễn tả trọn vẹn và thành công.
Nhạc phẩm “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa” được trình bày nhiều hơn cả, và là bài hát thịnh hành nhất của Tô Vũ. Có lẽ vì lời từ rất “avant garde,” mới lạ và táo bạo so với ngày xưa.
Khi các ca khúc của Phạm Duy, Vũ Thành, Hoàng Quý, Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Hoàng Giác hay Thẩm Oánh, v.v... còn e ấp mối tình câm nín, như “Cô Hái Mơ,” “Cô Láng Giềng,” “Cô Hàng Hoa,” “Ngọc Lan,” “Nhớ Bạn”... hoặc khi Hoàng Trọng chỉ “Nhạc Sầu Tương Tư,” hay Thẩm Oánh còn “Nhớ Nhung”... thì Tô Vũ đã viết “mặt nhìn mặt, tay cầm tay,” và nhất là “quên niềm cay đắng, và quên cả đường về”...
Theo như lời kể của ca sĩ Mộc Lan thì lời ca còn ly kỳ hơn thế nữa.
Tô Vũ đã viết là “quên quà cay đắng và quên đường về.” Nhưng vì táo bạo quá, nhiều ca sĩ ngày xưa sửa lại là “ niềm cay đắng.” Riêng Mộc Lan thì vẫn giữ ý “quà cay đắng” khi hát vì cho là hay và đúng hơn! Cô còn có một giai thoại đặc biệt, do chính Mai Thảo kể lại với nhiều luyến tiếc. Nhà văn kể rằng Mộc Lan rất quý và mến mộ tài năng của ông. Có lần cô cho phép ông đến thăm. Vì ngần ngại, ông không dám đường đột đến một mình. Và trù trì mãi đến chiều mới đi, lại còn rủ thêm người bạn là nhà văn Thanh Nam đi cùng.
Khi đến nhà, ông thấy cửa đóng then cài, trên cánh cửa có kèm mẩu giấy nhỏ. Hàng chữ trên mẩu giấy khiến ông ngẩn người... Chỉ có vỏn vẹn một câu: “Anh đã lỡ một dịp may trên đời”... Một người vừa đẹp lại thông minh và tài hoa như Mộc Lan, thì quả là Mai Thảo đã để lỡ dịp may hiếm có.
Người như thế thì chọn hát câu “quà cay đắng” thì đúng quá rồi...
Giờ này, nghe lại tape nhạc Vũ Thành tặng năm xưa, qua tiếng guitare solo của chính Vũ Thành dẫn vào tiếng hát Mộc Lan trong bài “Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa,” người viết lại thấy lòng mình chùng xuống.
Ca khúc này cũng được Phạm Ðình Chương yêu thích và soạn bè cho song ca nam nữ rất hay. Mỗi khi có dịp đứng cùng sân khấu, cô Châu Hà luôn đòi song ca bài này với Hoài Bắc. Và khi chú Chương hát với cô cháu (là người viết) thì ông thường dặn: Cháu phải để cho chú “mùi” nhé! Quả thật không ai hát bài này mùi như Hoài Bắc. Chất giọng của ông như có men, làn hơi dài và ấm áp tả buổi chiều mưa dầm dề làm cho nhiều người quên cả đường về...
Nói tục
Nguyễn Hưng Quốc
- Viết xong về bài luận văn đang gây “choáng váng” mọi người trong nước do tính chất tục tĩu của nó, tự dưng tôi lại nghĩ đến chuyện nói tục của người lớn.
Không nhắc có lẽ ai cũng nhớ người nổi tiếng nhất về việc nói tục ở trong nước trong năm 2012 vừa qua không ai khác hơn là Trung tá công an Vũ Văn Hiển tại phiên xử Điếu Cày Nguyễn Văn Hải tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/9: “Tự do cái con c.!”
Văng “con c.” trước người khác là điều không nên; với phụ nữ (vợ cũ của Điếu Cày) lại càng không nên; trước đám đông, lại càng không nên nữa. Không những vậy, chữ “con c.” ấy lại phát ra từ miệng một người đang mặc đồng phục, đứng trước toà án, và đi liền với hai chữ “tự do”: Tất cả lại càng không nên. Không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều người xúm vào phê phán Vũ Văn Hiển tơi tả. Họ xem câu văng tục ấy như một cách nói tiêu biểu của giới thống trị tại Việt Nam hiện nay nói chung.
Nhưng nói cho công bằng, không phải chỉ một mình Vũ Văn Hiển mới văng tục như thế. Đầu thế kỷ 20, trong cảnh hộ đê ở miền Bắc, khi, trước nguy cơ nước lũ càng lúc càng dâng cao, nguy cơ vỡ đê càng lúc càng lớn và trong lúc người dân đang hùng hục khuân cát, khuân đá nặng nề dưới những cơn mưa tầm tã, một vị quan nào đó vẫn lớn tiếng xổ c. um sùm. Tiếng chửi tục ấy được nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, anh rể của Tản Đà, ghi lại trong hai câu thơ đến bây giờ vẫn được ghi nhớ:
Trên đê cụ lớn văng con c.
Dưới đất thầy cai thượng cẳng tay.
Ngày xưa có “cụ lớn”, bây giờ có “cụ Hiển”: Cả hai đều thuộc giới có quyền lực. Họ dùng những chữ “con c.” để quất vào tai người khác. Để nhục mạ người khác. Và cũng để chứng tỏ uy quyền của mình.
Còn những người thấp cổ bé miệng thì sao? Chắc cũng không vừa gì. Trong cuốn “Ghi” của Trần Dần (2001), có một đoạn nhật ký viết rải rác từ ngày 20 tháng 9 đến ngày 1 tháng 10 năm 1954, nhân nhắc đến các chủ trương bắt mọi người phải học tập chính trị liên tục của chính quyền miền Bắc ngay sau hiệp định Geneva, Trần Dần viết:
“Tôi muốn tả được những chiến sĩ cố nông lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Và cũng người chiến sĩ cố nông chỉ muốn lấy thân mình làm túi cơm giá áo. Những người chiến sĩ xô vào lửa quên mình và những chiến sĩ sĩ chùn về sau xó bếp, cháy quần vì rang ngô. Người anh hùng và người dút dát. Người đang dút dát thành anh hùng. Người đang anh hùng tụt xuống dút dát. Người lấy súng bắn địch và người lại lấy súng tự thương. Những người chiến sĩ lầm lì và những người chiến sĩ ba hoa. Người thuần, người ngổ ngáo. Người chỉ biết phục tùng, người hay cãi bướng. Và đa số là ngại học tập, ngại nghe đả thông. Ngại nghe cán bộ nói nhiều. Ngại bị ‘nắm tư tưởng’. Nắm, nắm con c.” (tr. 47-8 ).
Trong một bài viết trước đây, sau khi trích đoạn ấy, tôi có viết:
“Tôi thích cái câu cuối cùng ấy. Nó hiên ngang. Nó hùng dũng. Nó đầy khí lực và khí thế. Và tôi tin là tôi hiểu được tại sao Trần Dần lại hạ bút viết như vậy. Cũng như tôi hiểu tại sao ngày xưa Nguyễn Công Trứ từng hạ bút làm thơ ‘Ð…o mẹ nhân tình đã biết rồi’. Sống trong một xã hội như xã hội Việt Nam, chỉ có thánh may ra mới không biết chửi tục.”
http://www.tienve.org/home/literature/v ... orkId=1410
Mới đây, tôi mới sực nhớ đến một “con c.” khác trong thơ Việt Nam. Đó là bài “Ký sự 30.4.1975” (1) in trong tập Nổi lửa của Nguyễn Mậu Lâm. Cả bài thơ như sau:
Ngày ba mươi tháng tư năm tám lăm
Mới ba giờ khuya
Trời còn tối đen
Sương rơi mờ cả mắt
Thằng công an khu vực đã xông đến trước cửa từng nhà, từng nhà, hét:
“Dậy, dậy lẹ lên, đi mít-ting”
Tôi cũng dậy
“Ừ, thì thôi, mày bắt, tao đi.”
Đã khá đông người đứng trước
đồn công an phường
Mọi người đứng co ro lại vì rét.
Lác đác đôi ba ngọn đèn đường đỏ hắt
Không đủ làm hồng những mặt người
đang tái mét
Mọi người đứng yên
Trên mặt
Giấc ngủ còn đọng lại.
Mọi người đứng yên
Như những ngôi mộ lặng lẽ đi trên một nghĩa trang
Chỉ có cái mỏ của thằng công an là
luôn luôn hoạt động
Nó la
Nó hét
Lồng lộng trong đêm khuya:
“Trẻ em hả? – Hàng này!”
“Thanh niên hả? – Hàng này!”
“Đàn bà, hàng này!”
“Đàn ông, hàng này!”
“Bọn tu sĩ, hàng này!”
“Còn bọn nguỵ, lại đây! Lại đây!”
Chúng tôi đi
Những ngôi mả biết đi
Những thây người biết run trong rét
Bước đi.
Năm giờ sáng, chúng tôi tới quảng trường thành phố
Người bị lùa về đây như thác đổ
Từng hàng
Từng hàng
Đứng lặng yên.
Trẻ con tựa vào nhau ngủ gật
Người lớn ngồi bệt cả xuống đất
Tôi vấn điếu thuốc rê
Đốt mãi không cháy
Gió lạnh.
Chín giờ sáng cuộc mít-ting bắt đầu
Mọi người đứng lên
Nghiêm
Chào chủ tịch đoàn
Chào đồng chí bí thư tỉnh uỷ
Chào đồng chí chủ tịch uỷ ban nhân dân
Nghiêm
Chào tất cả các đồng chí đến sau
ngồi ngất ngưởng trên hàng ghế cao.
Rồi hát
Mọi người đều phải hát
“Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng…”
Tôi im.
Thằng công an ào tới như một cơn gió
“Hát, hát! Đ. Má, tại sao mày không hát?”
Ừ, thì tôi hát
Lí nhí như nhai cơm nát
Thằng công an lại quát:
“Hát to lên!”
Tôi lại phải gào lên như ễnh ương kêu
Mọi người đều phải hát
Tôi muốn trào nước mắt
Lòng đau như cắt
Trong bụng cứ sôi lên tiếng chửi lầm thầm:
“Con c.!”
(Quê Mẹ xuất bản tại Paris năm 1988, tr. 41-3)
Tôi không biết các bạn có thích hai chữ “con c.” của Trần Dần hay Nguyễn Mậu Lâm hay không, tuy nhiên, tôi biết chắc một điều: Nếu “Cu Hồ” còn sống, chắc “Bác” sẽ thích. Tôi tin như thế vì tôi chợt nhớ đến đoạn văn của ông, được in lại trong cuốn Cu Hồ Chí Minh với văn hóa – văn nghệ do Đinh Xuân Dũng và Nguyên An tuyển chọn, nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa ấn hành năm 2005 như sau:
“Có một lần, một vị tướng của Napoleon đệ nhất bị bao vây ở Waterloo. Kẻ địch ra lệnh cho ông ta đầu hàng, ông đáp cộc lốc: “Cứt”. Câu nói ấy chỉ là một từ, lại là một từ tục tĩu. Nhưng trong tình thế nguy kịch nghiêm trọng ấy của một vị tướng nghìn lời nói cũng không thể nào thể hiện được hơn lòng dũng cảm và sự khinh bỉ của ông đối với kẻ thù. Và chỉ một lời đáp ấy cũng đủ để vị tướng củng cố được đội ngũ của mình. Chỉ câu nói ấy cũng đủ làm cho tên ông vang dội khắp châu Âu. Nó còn được ghi vào biên niên sử cho đến ngày nay và người Pháp ai cũng biết đến lời đáp ấy.” (tr. 12).
“Cứt” hay “c.” thì cũng vậy. Từ một kẻ quyền lực và muốn phô trương quyền lực, nó là một sự thô bỉ. Nhưng từ những kẻ đang thất thế, nó lại thể hiện được thái độ mà Hồ Chí Minh gọi là “lòng dũng cảm và sự khinh bỉ”.
Cùng một chữ, nhưng ở hai góc độ, nó có ý nghĩa khác hẳn nhau. (2)
Nguyễn Hưng Quốc (VOA)
Chú thích:
Tôi đoán ở đây có sự nhầm lẫn: 1985 thay vì 1975 (theo nội dung bài thơ ở dưới).
Xin lưu ý: Tôn trọng quy định chung của các cơ sở truyền thông đại chúng, tôi viết tắt những chữ bị xem là tục (c.) Trong nhật ký của Trần Dần và thơ Nguyễn Mậu Lâm, tất cả đều được viết nguyên. Đầy đủ.
Nguyễn Hưng Quốc
- Viết xong về bài luận văn đang gây “choáng váng” mọi người trong nước do tính chất tục tĩu của nó, tự dưng tôi lại nghĩ đến chuyện nói tục của người lớn.
Không nhắc có lẽ ai cũng nhớ người nổi tiếng nhất về việc nói tục ở trong nước trong năm 2012 vừa qua không ai khác hơn là Trung tá công an Vũ Văn Hiển tại phiên xử Điếu Cày Nguyễn Văn Hải tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/9: “Tự do cái con c.!”
Văng “con c.” trước người khác là điều không nên; với phụ nữ (vợ cũ của Điếu Cày) lại càng không nên; trước đám đông, lại càng không nên nữa. Không những vậy, chữ “con c.” ấy lại phát ra từ miệng một người đang mặc đồng phục, đứng trước toà án, và đi liền với hai chữ “tự do”: Tất cả lại càng không nên. Không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều người xúm vào phê phán Vũ Văn Hiển tơi tả. Họ xem câu văng tục ấy như một cách nói tiêu biểu của giới thống trị tại Việt Nam hiện nay nói chung.
Nhưng nói cho công bằng, không phải chỉ một mình Vũ Văn Hiển mới văng tục như thế. Đầu thế kỷ 20, trong cảnh hộ đê ở miền Bắc, khi, trước nguy cơ nước lũ càng lúc càng dâng cao, nguy cơ vỡ đê càng lúc càng lớn và trong lúc người dân đang hùng hục khuân cát, khuân đá nặng nề dưới những cơn mưa tầm tã, một vị quan nào đó vẫn lớn tiếng xổ c. um sùm. Tiếng chửi tục ấy được nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, anh rể của Tản Đà, ghi lại trong hai câu thơ đến bây giờ vẫn được ghi nhớ:
Trên đê cụ lớn văng con c.
Dưới đất thầy cai thượng cẳng tay.
Ngày xưa có “cụ lớn”, bây giờ có “cụ Hiển”: Cả hai đều thuộc giới có quyền lực. Họ dùng những chữ “con c.” để quất vào tai người khác. Để nhục mạ người khác. Và cũng để chứng tỏ uy quyền của mình.
Còn những người thấp cổ bé miệng thì sao? Chắc cũng không vừa gì. Trong cuốn “Ghi” của Trần Dần (2001), có một đoạn nhật ký viết rải rác từ ngày 20 tháng 9 đến ngày 1 tháng 10 năm 1954, nhân nhắc đến các chủ trương bắt mọi người phải học tập chính trị liên tục của chính quyền miền Bắc ngay sau hiệp định Geneva, Trần Dần viết:
“Tôi muốn tả được những chiến sĩ cố nông lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Và cũng người chiến sĩ cố nông chỉ muốn lấy thân mình làm túi cơm giá áo. Những người chiến sĩ xô vào lửa quên mình và những chiến sĩ sĩ chùn về sau xó bếp, cháy quần vì rang ngô. Người anh hùng và người dút dát. Người đang dút dát thành anh hùng. Người đang anh hùng tụt xuống dút dát. Người lấy súng bắn địch và người lại lấy súng tự thương. Những người chiến sĩ lầm lì và những người chiến sĩ ba hoa. Người thuần, người ngổ ngáo. Người chỉ biết phục tùng, người hay cãi bướng. Và đa số là ngại học tập, ngại nghe đả thông. Ngại nghe cán bộ nói nhiều. Ngại bị ‘nắm tư tưởng’. Nắm, nắm con c.” (tr. 47-8 ).
Trong một bài viết trước đây, sau khi trích đoạn ấy, tôi có viết:
“Tôi thích cái câu cuối cùng ấy. Nó hiên ngang. Nó hùng dũng. Nó đầy khí lực và khí thế. Và tôi tin là tôi hiểu được tại sao Trần Dần lại hạ bút viết như vậy. Cũng như tôi hiểu tại sao ngày xưa Nguyễn Công Trứ từng hạ bút làm thơ ‘Ð…o mẹ nhân tình đã biết rồi’. Sống trong một xã hội như xã hội Việt Nam, chỉ có thánh may ra mới không biết chửi tục.”
http://www.tienve.org/home/literature/v ... orkId=1410
Mới đây, tôi mới sực nhớ đến một “con c.” khác trong thơ Việt Nam. Đó là bài “Ký sự 30.4.1975” (1) in trong tập Nổi lửa của Nguyễn Mậu Lâm. Cả bài thơ như sau:
Ngày ba mươi tháng tư năm tám lăm
Mới ba giờ khuya
Trời còn tối đen
Sương rơi mờ cả mắt
Thằng công an khu vực đã xông đến trước cửa từng nhà, từng nhà, hét:
“Dậy, dậy lẹ lên, đi mít-ting”
Tôi cũng dậy
“Ừ, thì thôi, mày bắt, tao đi.”
Đã khá đông người đứng trước
đồn công an phường
Mọi người đứng co ro lại vì rét.
Lác đác đôi ba ngọn đèn đường đỏ hắt
Không đủ làm hồng những mặt người
đang tái mét
Mọi người đứng yên
Trên mặt
Giấc ngủ còn đọng lại.
Mọi người đứng yên
Như những ngôi mộ lặng lẽ đi trên một nghĩa trang
Chỉ có cái mỏ của thằng công an là
luôn luôn hoạt động
Nó la
Nó hét
Lồng lộng trong đêm khuya:
“Trẻ em hả? – Hàng này!”
“Thanh niên hả? – Hàng này!”
“Đàn bà, hàng này!”
“Đàn ông, hàng này!”
“Bọn tu sĩ, hàng này!”
“Còn bọn nguỵ, lại đây! Lại đây!”
Chúng tôi đi
Những ngôi mả biết đi
Những thây người biết run trong rét
Bước đi.
Năm giờ sáng, chúng tôi tới quảng trường thành phố
Người bị lùa về đây như thác đổ
Từng hàng
Từng hàng
Đứng lặng yên.
Trẻ con tựa vào nhau ngủ gật
Người lớn ngồi bệt cả xuống đất
Tôi vấn điếu thuốc rê
Đốt mãi không cháy
Gió lạnh.
Chín giờ sáng cuộc mít-ting bắt đầu
Mọi người đứng lên
Nghiêm
Chào chủ tịch đoàn
Chào đồng chí bí thư tỉnh uỷ
Chào đồng chí chủ tịch uỷ ban nhân dân
Nghiêm
Chào tất cả các đồng chí đến sau
ngồi ngất ngưởng trên hàng ghế cao.
Rồi hát
Mọi người đều phải hát
“Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng…”
Tôi im.
Thằng công an ào tới như một cơn gió
“Hát, hát! Đ. Má, tại sao mày không hát?”
Ừ, thì tôi hát
Lí nhí như nhai cơm nát
Thằng công an lại quát:
“Hát to lên!”
Tôi lại phải gào lên như ễnh ương kêu
Mọi người đều phải hát
Tôi muốn trào nước mắt
Lòng đau như cắt
Trong bụng cứ sôi lên tiếng chửi lầm thầm:
“Con c.!”
(Quê Mẹ xuất bản tại Paris năm 1988, tr. 41-3)
Tôi không biết các bạn có thích hai chữ “con c.” của Trần Dần hay Nguyễn Mậu Lâm hay không, tuy nhiên, tôi biết chắc một điều: Nếu “Cu Hồ” còn sống, chắc “Bác” sẽ thích. Tôi tin như thế vì tôi chợt nhớ đến đoạn văn của ông, được in lại trong cuốn Cu Hồ Chí Minh với văn hóa – văn nghệ do Đinh Xuân Dũng và Nguyên An tuyển chọn, nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa ấn hành năm 2005 như sau:
“Có một lần, một vị tướng của Napoleon đệ nhất bị bao vây ở Waterloo. Kẻ địch ra lệnh cho ông ta đầu hàng, ông đáp cộc lốc: “Cứt”. Câu nói ấy chỉ là một từ, lại là một từ tục tĩu. Nhưng trong tình thế nguy kịch nghiêm trọng ấy của một vị tướng nghìn lời nói cũng không thể nào thể hiện được hơn lòng dũng cảm và sự khinh bỉ của ông đối với kẻ thù. Và chỉ một lời đáp ấy cũng đủ để vị tướng củng cố được đội ngũ của mình. Chỉ câu nói ấy cũng đủ làm cho tên ông vang dội khắp châu Âu. Nó còn được ghi vào biên niên sử cho đến ngày nay và người Pháp ai cũng biết đến lời đáp ấy.” (tr. 12).
“Cứt” hay “c.” thì cũng vậy. Từ một kẻ quyền lực và muốn phô trương quyền lực, nó là một sự thô bỉ. Nhưng từ những kẻ đang thất thế, nó lại thể hiện được thái độ mà Hồ Chí Minh gọi là “lòng dũng cảm và sự khinh bỉ”.
Cùng một chữ, nhưng ở hai góc độ, nó có ý nghĩa khác hẳn nhau. (2)
Nguyễn Hưng Quốc (VOA)
Chú thích:
Tôi đoán ở đây có sự nhầm lẫn: 1985 thay vì 1975 (theo nội dung bài thơ ở dưới).
Xin lưu ý: Tôn trọng quy định chung của các cơ sở truyền thông đại chúng, tôi viết tắt những chữ bị xem là tục (c.) Trong nhật ký của Trần Dần và thơ Nguyễn Mậu Lâm, tất cả đều được viết nguyên. Đầy đủ.
Hãy làm ngọn gió đổi thay…!
Thất Lĩnh
(Danlambao) - Bài hát “Triệu con tim” của nhạc sỹ Trúc Hồ đã vang lên thật cảm động trong cuốn DVD ASIA 71, một chương trình âm nhạc bị Ủy ban nhân dân TP.HCM ra lệnh cấm lưu hành trước cả khi được phát hành tại Mỹ. Động thái này cho thấy nhà cầm quyền cộng sản thực sự sợ hãi trước một ngọn gió đổi thay (lời bài hát) có thể bất ngờ bùng dậy cuốn phăng thế lực cầm quyền cộng sản toàn trị.
Trúc Hồ sáng tác bài hát “Triệu con tim” trong bối cảnh một loạt trí thức bị cầm tù vì đã dũng cảm lên tiếng chống sự xâm lược của Trung Quốc. Bài hát như một lời than thở, một nỗi lo cho số phận dân tộc Việt Nam dưới sự cai trị của đảng cộng sản, ngày càng thụ động trước sự lấn tới của Bắc Kinh bành trướng. Ý nghĩa chính của bài hát giàu xúc cảm tự tình dân tộc là kêu gọi mọi người dân mang trong người dòng máu Việt hãy đứng lên, hãy trở thành một cơn gió làm đổi thay thực trạng đen tối của đất nước.
Đúng vậy, hơn lúc nào hết, giờ đây người dân Việt Nam hãy dũng cảm đứng lên để bảo vệ những đồng bào đã dám đối mặt với sự hiểm nguy, xiềng xích vì chủ quyền lãnh thổ như blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba Saigon, Nguyễn Phương Uyên, Việt Khang... Mọi người dân Việt Nam hãy cùng nhau góp một tiếng nói, góp một hành động nhằm tạo áp lực để nhà cầm quyền dừng hành động trấn áp thường dân để mua vui cho quan thầy Trung Quốc. Người Việt Nam phản đối sự xâm lược của Trung Quốc để bảo vệ đất nước Việt Nam nhưng bị chính quyền tống giam. Hành động này xác tín dư luận về một âm mưu bán nước cho Trung Cộng, với mục đích bảo vệ quyền cai trị đất nước của đảng cộng sản Việt Nam.
Đảng cộng sản Việt Nam tự hào rằng luôn sẵn sàng chống lại mọi thế lực bên ngoài để bảo vệ quyền tự chủ của quốc gia. Tuy nhiên, nhìn ngược lại suốt chiều dài lịch sử dân tộc, chưa có triều đại nào mà người dân Việt Nam bị cầm tù một cách khốc liệt vì lên tiếng phản đối sự xâm lược của ngoại bang như hiện tại. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam sợ Trung Cộng đến mức không dám gọi tên kẻ thù đã giết hại người lính Việt Nam trong buổi lễ tưởng niệm các chiến sỹ trận vong trong hải chiến Trường Sa. Rõ ràng đây không phải là một chiến thuật thông minh của chính sách đối ngoại mà là sự cúi đầu hèn hạ đáng khinh bỉ. Có lẽ các vong linh của những người lính tử trận được tưởng niệm cũng uất nghẹn vì sự lố bịch của những người mà họ gọi là đồng chí.
Đảng cộng sản Việt Nam, trước kẻ thù xâm lược thì quỳ gối phục tùng bằng một chính sách đối ngoại vô cùng khó hiểu. Nhưng luôn sẵn sàng sử dụng vũ lực với người dân tay không tấc sắt. Họ lập luận những người biểu tình chống Trung Quốc làm phương hại đến bang giao hai nước. Họ biện minh chính phủ luôn có một đối sách thông minh, và phù hợp trước sự hung hăng của Trung Cộng. Nhưng chính sách ấy thế nào đến giờ không một ai được rõ, ngược lại Trung Quốc thì ngày càng lấn át Việt Nam trên mọi phương diện.
Thực tế đến giờ, chưa một ai thấy lãnh đạo cộng sản Việt Nam ra đòn trước Trung Quốc mà chỉ chứng kiến con dân Việt Nam bị cầm tù một cách oan uổng và phi lý. Một khi đã không thể trông cậy vào thế lực cầm quyền thì người dân hãy tự lực cứu lấy mình. Đã có 4.000 người dân trong nước dũng cảm ký tên vào chiến dịch “triệu con tim, một tấm lòng” nhằm kêu gọi ủng hộ cho nhân quyền Việt Nam. Chúng ta hãy can đảm tiếp sức với những đồng bào yêu nước đang bị giam cầm bằng cách mở rộng sự lan tỏa của chiến dịch này trong mọi ngõ ngách của đất nước. Nếu có thể thì hãy tổ chức một cuộc xuống đường mang tên “triệu con tim, một tấm lòng” ngay giữa lòng Sài Gòn và Hà Nội.
Sài Gòn 14.1.2013
Thất Lĩnh
Thất Lĩnh
(Danlambao) - Bài hát “Triệu con tim” của nhạc sỹ Trúc Hồ đã vang lên thật cảm động trong cuốn DVD ASIA 71, một chương trình âm nhạc bị Ủy ban nhân dân TP.HCM ra lệnh cấm lưu hành trước cả khi được phát hành tại Mỹ. Động thái này cho thấy nhà cầm quyền cộng sản thực sự sợ hãi trước một ngọn gió đổi thay (lời bài hát) có thể bất ngờ bùng dậy cuốn phăng thế lực cầm quyền cộng sản toàn trị.
Trúc Hồ sáng tác bài hát “Triệu con tim” trong bối cảnh một loạt trí thức bị cầm tù vì đã dũng cảm lên tiếng chống sự xâm lược của Trung Quốc. Bài hát như một lời than thở, một nỗi lo cho số phận dân tộc Việt Nam dưới sự cai trị của đảng cộng sản, ngày càng thụ động trước sự lấn tới của Bắc Kinh bành trướng. Ý nghĩa chính của bài hát giàu xúc cảm tự tình dân tộc là kêu gọi mọi người dân mang trong người dòng máu Việt hãy đứng lên, hãy trở thành một cơn gió làm đổi thay thực trạng đen tối của đất nước.
Đúng vậy, hơn lúc nào hết, giờ đây người dân Việt Nam hãy dũng cảm đứng lên để bảo vệ những đồng bào đã dám đối mặt với sự hiểm nguy, xiềng xích vì chủ quyền lãnh thổ như blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba Saigon, Nguyễn Phương Uyên, Việt Khang... Mọi người dân Việt Nam hãy cùng nhau góp một tiếng nói, góp một hành động nhằm tạo áp lực để nhà cầm quyền dừng hành động trấn áp thường dân để mua vui cho quan thầy Trung Quốc. Người Việt Nam phản đối sự xâm lược của Trung Quốc để bảo vệ đất nước Việt Nam nhưng bị chính quyền tống giam. Hành động này xác tín dư luận về một âm mưu bán nước cho Trung Cộng, với mục đích bảo vệ quyền cai trị đất nước của đảng cộng sản Việt Nam.
Đảng cộng sản Việt Nam tự hào rằng luôn sẵn sàng chống lại mọi thế lực bên ngoài để bảo vệ quyền tự chủ của quốc gia. Tuy nhiên, nhìn ngược lại suốt chiều dài lịch sử dân tộc, chưa có triều đại nào mà người dân Việt Nam bị cầm tù một cách khốc liệt vì lên tiếng phản đối sự xâm lược của ngoại bang như hiện tại. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam sợ Trung Cộng đến mức không dám gọi tên kẻ thù đã giết hại người lính Việt Nam trong buổi lễ tưởng niệm các chiến sỹ trận vong trong hải chiến Trường Sa. Rõ ràng đây không phải là một chiến thuật thông minh của chính sách đối ngoại mà là sự cúi đầu hèn hạ đáng khinh bỉ. Có lẽ các vong linh của những người lính tử trận được tưởng niệm cũng uất nghẹn vì sự lố bịch của những người mà họ gọi là đồng chí.
Đảng cộng sản Việt Nam, trước kẻ thù xâm lược thì quỳ gối phục tùng bằng một chính sách đối ngoại vô cùng khó hiểu. Nhưng luôn sẵn sàng sử dụng vũ lực với người dân tay không tấc sắt. Họ lập luận những người biểu tình chống Trung Quốc làm phương hại đến bang giao hai nước. Họ biện minh chính phủ luôn có một đối sách thông minh, và phù hợp trước sự hung hăng của Trung Cộng. Nhưng chính sách ấy thế nào đến giờ không một ai được rõ, ngược lại Trung Quốc thì ngày càng lấn át Việt Nam trên mọi phương diện.
Thực tế đến giờ, chưa một ai thấy lãnh đạo cộng sản Việt Nam ra đòn trước Trung Quốc mà chỉ chứng kiến con dân Việt Nam bị cầm tù một cách oan uổng và phi lý. Một khi đã không thể trông cậy vào thế lực cầm quyền thì người dân hãy tự lực cứu lấy mình. Đã có 4.000 người dân trong nước dũng cảm ký tên vào chiến dịch “triệu con tim, một tấm lòng” nhằm kêu gọi ủng hộ cho nhân quyền Việt Nam. Chúng ta hãy can đảm tiếp sức với những đồng bào yêu nước đang bị giam cầm bằng cách mở rộng sự lan tỏa của chiến dịch này trong mọi ngõ ngách của đất nước. Nếu có thể thì hãy tổ chức một cuộc xuống đường mang tên “triệu con tim, một tấm lòng” ngay giữa lòng Sài Gòn và Hà Nội.
Sài Gòn 14.1.2013
Thất Lĩnh

