Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Nguyễn Bá Thanh 'ra Ba Đình': Gian hùng trị tham nhũng?

Bổ nhiệm tân trưởng ban nội chính TƯ: Dùng kẻ gian hùng để lật tên tham nhũng?

Thu Hương, Duy Tân
(Danlambao) - Khi nghe tin Nguyễn Bá Thanh ra Trung Ương, điều đầu tiên chúng tôi cảm nhận là sự ngỡ ngàng. Sau đấy là cảm giác xót thương cho cái nước Việt mình rõ ràng là đã hết nhân tài nên nhà cầm quyễn vẫn quanh đi quẩn lại chỉ dùng mấy gương mặt mốc đã cũ xì.

Gần đây nghe tin bà Hillary Clinton phải nhập viện khẩn cấp tự nhiên thấy lo cho sức khỏe của bà nhưng không hề lo cho đất nước của bà vì nếu Madame Clinton có mệnh hệ nào thì Tổng Thống Obama không chút khó khăn trong việc lựa chọn một tân bộ trưởng ngoại giao ở một quốc gia lắm nhân tài như Mỹ. Rồi tự nhiên thấy ganh tỵ với đất nước của chú Sam, một sự ganh tỵ có lẽ là khập khiễng.

Đất nước mình gần 90 triệu dân nhưng đi theo chủ nghĩa cộng sản xơ cứng bao năm nay nên có nhân tài cũng không thể nào ngoi lên nổi. Để rồi những lãnh đạo của gần 90 triệu dân Viêt mình vẫn là nhưng tên quan tham, gian hùng có cỡ.

Nhìn sang nước Nga và nhớ lại thời điểm cựu Tổng Thống Boris Elsin chọn ông Putin là một nhân vật rất mới làm người kế vị đã khiến cả nước Nga kỳ vọng nhưng thực tế cho thấy chính quyền cộng sản Nga mạt vận chỉ có thể chuyển đổi thành những tập đoàn maphia đỏ độc tài mà thôi chứ không hề có sự đột phá dân chủ nào cả. Cho nên bây giờ quan sát những chiêu thức đang được chính quyền Việt Nam đạo diễn quanh vụ phải bố trí một tay gian hùng như Nguyễn Bá Thanh vào Bộ Chính Trị càng khiến ảo vọng về một xã hội dân chủ văn minh ngày càng xa vời.

Thực ra chúng tôi không định viết về nhân vật này vì có rất nhiều người hiểu rõ Nguyễn Bá Thanh hơn chúng tôi, nhất là những người ở Đà Nẵng. Có 2 người thường hay viết công khai về bí thư Đà Nẵng trên mạng là blogger Trương Duy Nhất và blogger Phước Béo. Tuy nhiên những bài viết của ông Nhất gần đây nếu tinh ý nhận định có thể thấy "thà độc tài còn hơn dân chủ ỡm ờ...", dường như có ý đồ toan tính thay vì là một chủ trang blog có tiếng. Còn blogger Phước béo nhận định cũng rất thâm thúy nhưng có cách diễn đạt cứ úp úp mở mở khiến người đọc khó nắm bắt được bản chất của sự việc. Cho nên chúng tôi đành phải mạn phép mà chấp bút.

Nhắc đến Nguyễn Bá Thanh chúng tôi muốn nhớ đến một người quen cũ của ông. Nhân vật này là ông Phạm Minh Thông nguyên giám đốc Công Ty Hợp Danh Xây Dựng và Kinh Doanh Nhà Quảng Nam Đà Nẵng, là bị can bị án tù giam trong vụ án cầu Sông Hàn xử năm 2004.

Ông Thông là dân Miền Nam tập kết ra Bắc, sau ngày thống nhất đất nước ông trở lại Đà Nẵng, thủ phủ của tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng làm cán bộ của Sở Xây Dựng. Ông này hiền lành, có trí thức. Khi mới về lại Đà Nẵng ông cùng gia đình ở trong khu nhà tập thể hóa giá của Sở Xây Dựng trên địa bàn phường An Hải Đông, quận 3 (Sơn Trà). Gia đình ông cũng như bao gia đình công nhân viên chức ngày xưa sống đạm bạc và lương thiện. Thuở hàn vi ông hay chạy trước Lambretta màu trắng -vừa chạy vừa sửa- là tài sản lớn nhất của gia đinh lúc đó. Vợ ông cũng người hiền lương nói năng nhỏ nhẹ, 3 con trai cũng ngoan hiền học giỏi...

Khi Việt Nam đổi mới ông Thông bung ra làm ăn vì được lãnh đạo gợi ý theo kiểu phát triển kinh tế nhiều thành phần, ông làm chân trong chân ngoài rồi mở công ty hợp danh là sân sau cho các vị lãnh đạo của Sở Xây Dựng và Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố. Trong những năm này ông làm ăn khấm khá và chuyển ra nhà mặt tiền trên đường Phan Chu Trinh bên quận 1 (Hải Châu). Năm 1997 khi Đà Nẵng tách tỉnh, trở thành đô thị trực thuộc Trung Ương cơ hội của ông cón nhiều hơn vì Đà Nẵng lúc đó là một đại công trường và chủ tịch thành phố Nguyễn Bá Thanh vừa là đồng chí vừa là cánh hẩu của ông.

Trong vụ án cầu Sông Hàn ông bị tuyên 40 tháng tù và là người duy nhất bị giam trong khi 4 đồng phạm thuộc cấp đều được hưởng án treo. Tội phạm kinh tế án treo cũng coi như được tha bổng nên việc ông bị án tù giam có lý do của nó: Ông đã không giữ luật im lặng mà khai 'lung tung' rằng đã hối lộ 4,4 tỷ cho Nguyễn Bá Thanh cho nên Tòa Án muốn sửa tính ba hoa của ông bằng món quà 3 cuốn lịch rưỡi cho ông vào tù mà chiêm nghiệm. Còn số tiền thất thoát nó chạy đi đằng nào thì Tòa "quăng cục lơ"...

So với Nguyễn Bá Thanh thì ông Phạm Minh Thông lớn hơn 20 tuổi thuộc hàng cha chú. Khi ông Thông đã là cán bộ của Sở Xây Dựng QNĐN thì Bá Thanh mới bắt đầu trưởng thành nhưng do được các chú lớn châm chước nên người thanh niên này lên ào ào và rẹt rẹt 30 giây. Năm 1996 khi Trung Ương chủ trương tách tỉnh thì Nguyễn Bá Thanh được chấm ghế chủ tịch thành phố Đà Nẵng.
Image
Cầu sông Hàn (Đà Nẵng). Ảnh: Lê Hữu Thọ

Cầu Sông Hàn có tổng kinh phí là 105 tỷ thời giá 1999-2000, nhân dân thành phố đóng góp 27 tỷ phần còn lại được lấy từ ngân sách nhà nước. Phạm Minh Thông khai chi cho chủ tịch 4,4 tỷ chỉ là một phần sự thật. Dân xây dựng cơ bản khu vực miền Trung ai cũng biết Nguyễn Bá Thanh ăn dầy, giá thông thường là 10% trên tổng vốn đầu tư. Đại công trường Đà Nẵng với không biết bao nhiêu dự án là bấy nhiêu suối tiền chảy vào túi Bá Thanh. Nhưng chỉ riêng con số được ông Thông khai ra 4,4 tỷ cũng đã là ấn tượng rồi, quy ra vàng là cả 1000 lượng mới thấy số tiền lớn biết bao nhiêu.

Qua những món lại quả của các chủ thầu mới thấy cái sướng của các ông quan dân, tiền các ông bỏ túi còn cân đối hóa đơn chứng từ doanh nghiệp muốn làm gì kệ xác doanh nghiệp. Chuyện lấy thầu xong đã phải chung chi rồi mà lại muốn có lời tất nhiên ông Thông và đồng bọn phải rút ruột công trình chứ không thể nào khác. Đồng bọn của ông và những người liên quan đông như quân Nguyên chứ không phải loe que có 4 mạng nhưng vì phía trên ông Thanh còn có các vị trưởng thượng nằm trong Bộ Chính Trị nữa nên người ta không thể khui ra và kết cục là ông Thông phải bị diệt. Kết cục của ông Thông tuy hẩm hiu nhưng dễ dàng đoán được, ông chung hàng với những kẻ xấu ăn tiền của dân thì tất nhiên ông phải nhận quả báo thôi. Về phần ông Thanh hẳn nhiên số tiền quá lớn như vậy ông cũng không thể nuốt trôi một mình mà phải nhớ đến các chú các bác.

Nhắc lại chuyện người quen cũ của Nguyễn Bá Thanh chúng ta mới thấy cái tàn bạo của người cộng sản Nguyễn Bá Thanh, ăn tiền cũng là ông mà bỏ tù người ta cũng là ông luôn. Mà những người bị bỏ tù cũng là những đồng chí cùng hội cùng thuyền của ông chứ chẳng phải ai xa lạ. Cách đây mười mấy năm, Nguyễn Bá Thanh đã tàn bạo như vậy rồi cho nên gần đây ông xuống tay hạ độc thủ thiếu tướng công an Trần Văn Thanh có thể nói ông đã là một con yêu thành tinh. Bởi vậy nhiều lần ông tham vọng vận động để ra Trung Ương đều bị các vị bô lão cạch mặt từ chối vì thấy thằng phản phúc xảo quyệt khó có thể tin được.

Bây giờ mấy vị kia đã tuổi cao sức yếu mà Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã bí đường binh với Nguyên Tấn Dũng nên cực chẳng đã mới phải chơi con bài Nguyễn Bá Thanh. Ván bài năm ăn năm thua này được xòe ra trong bối cảnh chế độ đang trên đường lật nhào nên vị bí thư Đà Nẵng mới có cơ hội được ra Ba Đình và tạo bước đệm nhảy lên chức ủy viên Bộ Chính Trị. Một kẻ tham nhũng và gian ác như vậy mà vẫn được nhiều người dân Việt Nam mến mộ coi là một làn gió mới thì thật là nực cười trong tai họa.

Nhiều ý kiến cho rằng Nguyễn Bá Thanh ăn được nhưng làm được nên vẫn nhất định ủng hộ thì quả là Việt Nam mình với con rồng cháu tiên đã đến hồi mạt vận rồi. Ở đâu ra cái nguyên lý làm được thì tham nhũng được vậy không biết nữa? Nó cũng giống như chuyện một đàn dê sắp bị hổ ăn thịt nên đành cam chịu và an ủi nên chọn con hổ ít dữ hơn vậy. Cũng phải khen cho Nguyễn Bá Thanh có tài mị dân, từ kẻ tham nhũng gian hùng thượng thặng mà sử dụng đồng tiền ăn cướp tuyên truyền bài bản để cả nước bây giờ hân hoan bái phục như một người cha khai sinh ra "thành phố đáng sống nhất Việt Nam". Kết cục thế nào người dân Việt Nam cũng sẽ chóng biết!

Đà Nẵng vào thời điểm được tách riêng vẫn còn ít dân bên cạnh địa hình đa dạng có đủ sông, núi, biển... nên rất dễ quy hoạch để trở thành một thành phố đẹp. Khu vực được chỉnh trang quy hoạch chủ yếu nằm trên mấy quân nội thành diện tích nhỏ, phần lớn diện tích đất của thành phố nằm ở huyện ngoại thành Hòa Vang. Chưa kể trước 1975 thành phố này cũng được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trực tiếp quản lý và đã được lực lượng quân sự Mỹ thiết lập cơ sở hạ tầng cơ bản nên đã định hình một cảnh quan tổng thể. Những gì thiên hạ đánh giá Nguyễn Bá Thanh đã làm được cho Đà Nẵng thật ra chỉ là bề nổi và hoàn toàn chưa xứng tầm với thành phố này. Đà Nãng có thật sự được gọi là đẹp? Thành phố đẹp có phải là một thành phố đáng sống không? Thành phố đáng sống phải là một thành phố như thế nào? Hẳn nhiên so với nhiều thành phố khác của Việt Nam thì Đà Nẵng có thể gọi là đẹp nhưng để đáng sống thì cần nhiều yếu tố khác nữa.
Image
Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng

Thành quả của Nguyễn Bá Thanh tựu chung lại chỉ là giải tỏa, quy hoạch xây dựng Đà Nẵng với nhà cao đường thoáng mà thôi còn các tiêu chí như "đào tạo tài năng trẻ, biến Đà Nẵng thành trung tâm của cả miền Trung..." mà báo chí tung hô chẳng cái nào ra hồn cả.

Nếu bán tài nguyên đất lấy tiền để phân lô bán nền tạo cớ cho dân đầu cơ đổ xô vào Đà Nẵng kiếm lời trong cơn sốt bong bóng bất động sản thật sự không có gì khó cả. Chưa kể việc được Trung ương giao ngân sách và trao quyền tự tung tự tác vô biên còn là cơ hôi để vị quan đầu thành phố tha hồ vinh thân phì gia.

Những khu quy hoạch chính của Đà Nẵng trước đây đều rất ít dân ở nên việc giải tỏa không quá khó khăn. Trục đường chính như đường Đông Tây - Nguyễn Văn Linh từ sân bay vào thành phố nguyên là những ao rau muống. Đường ven biển Liên Chiểu - Thuận Phước là những bãi cát hoang sơ. Đường Sơn Trà - Điện Ngọc cũng tương tự như vậy và từ bãi biển Mỹ Khê trở đi về phía Nam là đất thuộc Bộ Quốc Phòng chưa có ai khai thác rộng mênh mông bát ngát. Chỉ lấn cấn chút xíu khúc Tu viện Sao Biển thuộc phường Bắc Mỹ An là của bên công giáo còn lại là sân bay Nước Mặn cũng rộng bao la chi địa. Khu Công Nghiệp Hòa Khánh cũng toàn là những trảng cát và nghĩa địa...

Mở đường đa phần thuận lợi như vậy mà khi gặp nhà của dân, chính quyền chỉ đền bù theo giá rẻ mạt mấy chục ngàn một mét như phủ dụ "nhà nước và nhân dân cùng làm". Khi phân lô bán lại giá toàn cả triệu mỗi mét mà mỗi hộ chỉ được mua lại một nền. Hộ nào đất rộng thì tiền được đền bù phần xây lại nhà mới, phần mua sắm tiêu pha coi như bay hết, chẳng còn miếng đất hương hỏa của ông bà. Ai nhanh nhảu thì lao vào cơn sốt đầu cơ cũng có đồng ra đồng vào, cả thành phố làm bất động sản. Hộ nào ít đất thì nhà nước cho mua chịu quy theo giá vàng, nhiều hộ bây giờ vẫn không trả nổi. Chính quyền thu có hộ mất cả ngàn mét mà chỉ được mua lại một nền 100 mét, số còn lại nhà nước bán ra thị trường làm ngân sách của thành phố để tiếp tục đổ vào đại công trường và vào túi quan tham. Dân Đà Nẵng vốn hiền lại được nhà nước dụ khị nên coi như góp phần xây dựng quê hương. Thêm nữa những xóm biển Đà Nẵng như Xuân Hà, Thuận Phước, Bạch Đằng đông bây giờ rất nhiều nhà có tiền Việt Kiều gửi về nên cũng cố công xây được căn nhà theo đúng quy chuẩn của thành phố. Cả một thành phố rùng rùng chuyển động, nháo nhào xây cất, nháo nhào đầu cơ. Dân tứ xứ nghe đồn thổi cũng đổ đến kiếm ăn mới ra diện mạo Đà Nẵng bây giờ và đấy là những gì bàn dân thiên hạ dễ thấy khi đến Đà Nẵng.

Nếu bạn leo lên đỉnh Sơn Trà mà cầm ống nhòm nhìn xuống và chiêm nghiệm một bức tranh tổng thể bạn sẽ thấy Đà Nẵng có vẻ là một thành phố đẹp trong số những tỉnh thành của Việt Nam nhưng bị bê tông hóa quá nhiều mà thiếu màu xanh. Không gian công cộng cũng rất ít nếu không nói là không có. Các khu dân cư chẳng có mấy vườn hoa, công viên hoặc khu vui chơi. Sân vận động cũng biến đâu mất hết. Trong thời buổi kinh tế khó khăn, bất động sản đóng băng bạn sẽ thấy rất nhiều khu quy hoạch bị bỏ hoang. Xen lẫn trong đám hoang tàn đó là những khu dân cư được hình thành như những đám da beo loang lổ. Khu Vũng Thùng của phường Thọ Quang còn rất nhiều nền để trống, khu An Đồn cũng vậy. Khu Hòa Cường, Đò Xu bên mé tượng đài 2 tháng 9, ngoài những con đường chính ra có vẻ sầm uất với những quán nhậu, karaoke thì bên trong những khu dân cư cũng quá trời đất trùm mền. Cả khu có tượng Phật phường Hòa Minh cũng vậy. Chưa kể khu quy hoạch mới Hòa Liên trên đường đi Bà Nà cũng toàn đô thị trên giấy... Chưa hết còn khu lấp đất lấn vịnh Đà Nẵng ngay khách sạn Thanh Bình trên đường Nguyễn Tất Thành cũng sẽ là một thành phố bánh vẽ nữa ?

Nếu bạn chịu khó ghé thăm mấy khu hào nhoáng như Phạm Văn Đồng hoặc Đảo Xanh và cắc cớ hỏi thăm chủ nhà mấy căn biệt thự bạn hẳn sẽ ngạc nhiên khi không nghe họ nói giọng Đà Nẵng mà toàn giọng Bắc hoặc các vùng miền khác. Đà Nẵng bây giờ là của dân tứ xứ chứ dân chính gốc lấy tiền đâu xây nhà lầu, biệt thự. Thu nhập một tháng có mấy triệu biết bao giờ mới có nhà mấy tỷ. Còn dân Đà Nẵng ở khu này, xin thưa toàn là chánh văn phòng Ủy Ban Nhân Dân, Phó chủ tịch tỉnh, Giám Đốc sở... Nhân dân Đà Nẵng chính hiệu xin đừng mơ nhé !

Đấy là bức tranh xây dựng, phân lô bán nền. Còn kinh tế, văn hóa, xã hội... thì sao ?

Nếu nhìn tiếp các khu công nghiệp của Đà Nẵng chỉ có Hòa Khánh là thấy được. Còn như khu An Đồn, Thọ Quang, Hòa Cầm... diện tích chẳng đáng bao nhiêu.

Nông nghiệp thì các quận của Đà Nẵng đã bị phân lô bán nền hết quỹ đất duy chỉ còn huyện Hòa Vang là còn nhưng nông dân lâu nay canh tác lúa cũng chỉ đủ ăn.

Ngư nghiệp thì gần như phá sản. Đà Nẵng là xứ biển mà nay muốn ăn cá toàn do tàu của Quảng Ngãi cập bờ. Các ngư phủ ngày xưa bây giờ đã già trong khi con em không ai muốn theo nghề của cha anh. Phần vì không có vốn đóng tàu lớn ra khơi bên cạnh giá dầu càng ngày càng mắc trong khi tôm cá gần bờ cũng ít hơn xưa. Trong thành phố chẳng có mấy việc làm mà nghề biển lại vất vả, để dành tiền cá độ bóng đá và mua lô đề dễ có tiền hơn ?

Nguyễn Bá Thanh chủ trương chuyển hướng kinh tế du lịch và dịch vụ là chủ yếu nhưng chỉ là hô khẩu hiệu cho sướng miệng. Du lịch thì chẳng đầu tư gì mấy ngoài vài ngôi chùa với tượng Phật to tổ bố. Thành kính tại tâm, thờ Phật đâu cứ phải có tượng to mà hay. Có khu du lịch Bà Nà thì giao cho đám Phạm Nhật Vượng rửa tiền. Chính quyền bênh dân đâu không thấy lại câu kết với maphia từ Ukraina chèn ép lấy đất của dân Hòa Ninh nhưng chỉ đền bù mỗi mét bằng một quả trứng gà. Nguyễn Bá Thanh là dân Hòa Vang mà ức hiếp đồng hương Hòa Vang thật tệ hết chỗ nói.

Về kinh tế dịch vụ thì công viên nước trên đường 2 tháng 9 lỗ chỏng gọng dẹp tiệm hồi nào không hay. Mấy công trình khách sạn ven biển Non Nước chạy dọc theo biển giáp tới Điện Dương, Điện Ngọc của Quảng Nam cứ để trùm mền chiếm đất. Khách sạn đâu không thấy chỉ thấy rừng phòng hộ ven biển bị chặt hết cho dân tình hứng mặt đón bão.

Còn Khu du lịch sinh thái Cồn Dầu bị Nguyễn Bá Thanh thẳng tay đàn áp khiến nhiều giáo dân phải trốn qua tị nạn tận Thái Lan. Tội của Nguyễn Bá Thanh vẫn còn, cái nợ đó sẽ có ngày đáo hạn. Khách du lịch ngoại quốc ghé đến Đà nẵng chỉ có mỗi chỗ để đi là Cổ Viện Chàm. Xe từ Huế vào là thẳng tiến Hội An luôn. Khách từ sân bay bước ra cũng vậy, 10 xe đón khách thì cả 10 xe chạy vào Quảng Nam châm chước lắm lâu lâu mới có một xe ghé ăn cơm trưa Đà Nẵng !

Về văn hóa, thể thao thì chỉ có đội bóng đá Đà Nẵng hơi xôm xôm chút xíu nhưng kinh phí nuôi đội cũng là tiền thuế của dân bị lãnh đạo thành phố vung tay chi vô tội vạ. Lê Huỳnh Đức là cầu thủ ăn lương mà được chính quyền thành phố đặc cách cấp cho nhà tiền tỷ đường Phan Chu Trinh. Trong khi thư viện thành phố nằm kế bên Hôi Đồng Nhân Dân và văn phòng của Nguyễn Bá Thanh chẳng có mấy cuốn sách. Cử một người vào đếm tay số đầu sách của thư viện này chắc khoảng 3 tiếng là hết.

Người cộng sản hay chê văn hóa của chế độ Việt Nam Cộng Hòa là đồi trụy nhưng trước 1975 ngoài thư viện chính trên đường Bạch Đằng, khu vực quận Nhì là Thanh Khê bây giờ cũng có thư viện trên đường Điện Biên Phủ. Bên kia sông là quận 3 cũng có một cái trên đường Ngô Quyền. Chưa kể ngay trung tâm thành phố trên đường Yên Bái còn có Phòng Thông Tin cho nhân dân vào đọc báo nữa. Còn sân vận động cũng mỗi nơi mỗi cái. Từ phường Nại Hiên cho đến An Hài rồi Hòa Cường, Xuân Hà... chỗ nào thanh thiếu niên cũng có chốn để vui chơi.

Bây giờ dân số Đà Nẵng đã đông lên rất nhiều nhưng tất cả mọi thứ như thế đều biến đi sạch sẽ như có ma làm. Như vậy chắc do ông Thanh nghĩ là người Đà Nẵng chỉ cần có lô đất xây nhà là đủ chứ không cần mở mang trí tuệ nữa. Bù lại Đà Nẵng bây giờ quán nhậu và nhà nghỉ mọc lên như nấm. Tham quan mấy khu dân cư mới như Vũng Thùng Nại Hiên thấy thanh niên thất nghiệp ngồi binh sập xám suốt ngày, người không binh thì ra ngồi cà phê. Ngồi đến chiều thì nhảy qua quán nhậu, tối nào cũng nâng lên hạ xuống dô dô 100% thành tệ nạ xã hội luôn. Thêm mấy kèo trên kèo dưới theo các giải bóng đá La Liga và Ngoại Hạng Anh với số đề số đóm... kể như tương lai của thanh niên Đà Nẵng là mờ mịt.

Dân mình đã hiền rồi mà trình độ hiểu biết chưa cao nên không ai dám lên tiếng. Có mấy bác lão thành cách mạng với hưu trí thì được Nguyễn Bá Thanh chỉ đạo cho lính lác o bế lương hưu đầy đủ với quà Tết cuối năm khỏi ọ ẹ. Kẻ gian hùng còn biết cách mị dân bằng lối hành xử giống quan dân phụ mẫu ngày xưa. Dân đến chầu chực xin cứu xét cứ lấy bút phê vào đơn ngay tại chỗ bất kể quy trình, pháp lệnh hành chính của nhà nước ra sao. Giải quyết cho một vài dân oan ngay tại nhà thấy có vẻ ấn tượng nhưng thật ra không thể bằng đôn đốc cấp dưới chí công vô tư thừa hành theo đúng tinh thần thượng tôn luật pháp. Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa chẳng mấy chốc danh tiếng Nguyễn Bá Thanh nổi như cồn trong khi tính toán cho ngay, đất đai cấp cho dân oan chẳng phải là tài sản riêng của ông. Mấy đồng hỗ trợ cho dân xe thồ và xe ôm mỗi dịp tết cũng chỉ là mấy xu lẻ so với số tiền mà bè lũ của ông đã ăn cướp được.

Đà Nẵng nói có kinh tế du lịch và dịch vụ mà bây giờ kinh tế đình đốn ăn còn không đủ thì làm sao du khách ghé đến Đà Nẵng tham quan. Nhà hàng kháchh sạn không có khách lấy đâu nguồn thu, cả thành phố không công ăn việc làm sẽ đói đồng đều rồi đây.

Kẻ độc đoán chuyên quyền còn tự cho mình là vua một cõi dám mạnh tay vi phạm nhân quyền dẹp những người ăn xin, bán hàng rong trong khi chưa tạo sinh kế cho họ. Rồi dám ra chỉ thị vi hiến cấm quyền tự do cư trú của công dân trong nội thành Đà Nẵng. Rồi cho dân ăn bánh vẽ "bầu cử tự do cho chức danh chủ tịch thành phố" nữa... Thành phố nhỏ như Đà Nẵng mà ông Thanh chỉ làm được có thế mong gì xoay chuyển được cả một quốc gia.

Và bây giờ kẻ ấy là Trưởng Ban Nội Chính Trung Ương đang nghấp nghé chức ủy viên Bộ Chính Trị, trở thành 1 trong 14 ông vua tập thể. Ông Trương Vĩnh Trọng hẳn phải cười cay đắng khi hay tin, vì khi ông giữ chức này mấy năm trước ông đã cố gắng tỏ ra thanh liêm và đã ghét cay ghét đắng kẻ gian hùng, xảo trá, tham nhũng Nguyễn Bá Thanh. Chính ông đã nhiều lần ngăn cản không cho Nguyên Bá Thanh ra Trung Ương. Vậy mà bây giờ khi ông đã về vườn thì chính cái tên gian hùng, xảo trá, tham nhũng ấy lại ngồi vào cái chức ông để lại để phụ tá cho Tổng Bí Thư làm trong sạch bộ máy của Đảng, bài trừ tham những...

Rõ ràng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đến hồi cáo chung và đang sắp chết đến nơi mà vẫn đong đưa trên dây. Ông Tổng Trọng muốn dùng một kẻ vừa gian hùng vừa tham nhũng để trị một tên ít gian hùng, nhưng tham nhũng nhiều.

Chúng ta còn nhớ thời Đà Nẵng tách tỉnh thì Nguyến Bá Thanh đã nổi như cồn mà Nguyễn Xuân Phúc của Quảng Nam vấn chẳng mấy ai hay. Vậy mà Nguyễn Tấn Dũng đã chọn ông Phúc làm đàn em ruột chứ không phải Nguyễn Bá Thanh thâm độc lừng lẫy giang hồ. Mối hận của Bá Thanh còn nguyên đó với Nguyễn Tấn Dũng nên bây giờ thấy Đảng đang bế tắc kẻ gian hùng quyết định chớp thời cơ. Chỉ cám cảnh cho ông Trần Văn Minh phải từ bỏ chức Phó ban tổ chức Trung Ương để quay trở lại dọn dẹp cho Nguyễn Bá Thanh trong thời buổi suy thoái. Tài nguyên của Đà Nẵng đã bị khai thác hết rồi mà công ăn việc làm của dân bị tắc tị thì thu thuế sao được? Lấy đâu cho đủ ngân sách thành phố trong tương lai.

Bàn cờ chính trị Việt Nam còn đầy sự ly kỳ và sinh mệnh của dân tộc Việt Nam vẫn như chuông nặng treo mành chỉ. Với bản chất của một kẻ gian hùng chúng ta đừng mong một sớm một chiều họ sẽ phút chốc hóa thành thiên nga thánh thiện để đem tự do dân chủ cho nhân dân. Tất cả chỉ là sự đấu đá trong nội bộ của họ nhằm duy trì vị thế quyền lực cũng như tình trạng độc Đảng chuyên chế.

Tình hình trong những ngày sắp tới sẽ rất khó lường với sự câu kết của nhóm cộng sản miền Trung khu Năm khắc chế lên Trung Ương. Trong quá khứ từng có những nhóm cộng sản miền Trung với Võ Chí Công, Hồ Nghinh, Hoàng Minh Thắng... rất mạnh do kiên cường trong chiến tranh nên được sự ưu ái của Lê Duẩn, nhưng vì cục bộ địa phương nên chẳng làm được cơm cháo gì cho đất nước. Hôm nay có một nhóm cộng sản miền Trung trẻ khác đang gắn kết với nhau vì một mưu đồ nào đó. Bên cạnh Nguyễn Bá Thanh gian hùng là một Thân Đức Nam – kẻ buôn vua mới nổi. Có lẽ sự va chạm với Nguyễn Tấn Dũng sẽ dẫn tới đảo chính không chừng vì Ba Dũng không dễ gì bị triệt hai êm thấm.

Chúng ta mong một sự biến động có lợi cho dân tộc nhưng cũng cảnh giác trước nguy cơ nồi da xáo thịt xâm phạm đến muôn dân.

Thông tin lề trái, ề dân hãy luôn tỉnh táo và đề cao cảnh giác !

Thu Hương, Duy Tân

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ân nghĩa Trung Cộng?

Ngô Nhân Dụng
Dư luận công dân mạng ở Việt Nam đang công kích những ý kiến sư phụ Trung Cộng với một thái độ rất khiếp nhược của một viên đại tá tại Học Viện Chính Trị thuộc Bộ Quốc Phòng.

Trong một bài lên lớp cho các cán bộ giáo dục, ông đại tá này than phiền rằng khi bàn đến vấn đề biển Ðông, dư luận người Việt, tức là đồng bào của ông ta, cứ “chĩa mũi dùi vào một phía”, cứ tập trung vào mỗi ông Trung Quốc! Ông ta nói: “Nếu chúng ta chỉ tập trung vào mỗi một mình Trung Quốc là hoàn toàn chưa đúng, chưa chính xác mà phải đặt trong mối quan hệ tổng thể Việt Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Mỹ, và Việt Nam với các nước ASEAN.”

Nghe bài giảng này, nếu không phải là người Việt Nam thì phải bật cười. Nhưng là người Việt Nam thì phải khóc. Khóc, bởi vì những ý tưởng ngô nghê này cho thấy một người Việt đã lên tới chức đại tá mà còn tối tăm đến như thế!

Ở vùng biển Ðông của nước ta, khi “đặt trong mối quan hệ tổng thể Việt Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Mỹ, và Việt Nam với các nước ASEAN” thì phải hỏi: Quốc gia nào chủ mưu gây ra những khó khăn cho nước mình? Quốc gia nào đã đem quân tới đánh, chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974? Có phải Mỹ hay một nước Ðông Nam Á nào không? Bọn cướp biển nào đã tấn công các tàu đánh cá của người Việt? Bọn giặc nào đã bắn giết, đánh, cướp của và bắt cóc ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc? Tàu thuyền nước nào đã vào hải phận nước ta đâm thẳng vào các con thuyền đánh cá của đồng bào Việt Nam? Ai cho người đi cắt dây cáp những con tàu thăm dò đáy biển của Petro Việt Nam? Có phải người Mỹ, người Philippines, người Malaysia hay từ một nước Ðông Nam Á nào không?

Chỉ cần nhìn vào sự thật để tìm ra câu trả lời đúng nhất, chính xác nhất thì chỉ thấy có một thủ phạm! Là chính quyền công! Nhắm mắt không nhìn sự thật đó, chứng tỏ viên đại tá này chỉ ba hoa để tung hỏa mù, cốt đánh lừa tất cả đồng bào, nhằm che đậy tội ác của Cộng Sản Trung Quốc. Ðó là một thủ đoạn dối trá đang được đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng để che đậy thái độ khiếp nhược của họ trong lúc lòng dân sôi sục trước mối nhục ngàn năm đang khơi dậy.

Không những che đậy, bào chữa cho thủ phạm gây ra những tội ác đối với đồng bào, ông đại tá còn lên giọng dậy dỗ rằng: “Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa.”

Ơn với nghĩa gì ở đây? Ông ta bèn nhắc nhở trong thời gian Cộng Sản Việt Nam đánh miền Nam, “Nhân dân Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép...”

Từ năm 1954 cả miền Bắc Việt Nam sống nhờ viện trợ kinh tế và quân sự của Trung Cộng; hơn 300 ngàn lính Trung Cộng đã sang nước ta. Ông Dương Danh Dy, cựu đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, cũng từng kể: “Những viện trợ to lớn của nhân dân Trung Quốc anh em cho chúng ta.” Với các chi tiết: “Từ vũ khí đạn dược đến gạo ăn vải mặc, từ ô tô, tàu thủy, máy bay đến chiếc xe đạp, máy khâu, từ gói mì chính đến cái kim sợi chỉ... không sao kể hết.” Nếu không có những “viện trợ to lớn” đó thì bây giờ chắc vẫn còn một chế độ Việt Nam Cộng Hòa, cũng như vẫn còn Ðại Hàn Dân Quốc. Trong 20 năm chiến tranh, người dân miền Bắc hàng ngày được những cái loa (Made in China) oang oang nhắc nhở rằng Mao chủ tịch là bậc thầy vĩ đại, yêu thương dân Việt Nam như con cái. Khi quân Trung Cộng chiếm Hoàng Sa thì họ giải thích rằng đó là đàn anh chiếm để giữ hộ, mai mốt sẽ trả lại! Toàn dân đã bị lừa gạt, không ai dám nói ra sự thật. Một nhạc sĩ sống ở miền Nam mới dám đặt bài hát mở đầu bằng lời nhắc nhở: “Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu;” nếu ai ở miền Bắc nói đến chuyện đó chắc đã được đưa đi Cổng Trời.

Nhưng tại sao Trung Cộng đem cho những “viện trợ to lớn từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ ô tô, tàu thủy, máy bay đến chiếc xe đạp, từ gói mì chính đến cái kim sợi chỉ” cho người Việt Nam giết lẫn nhau như vậy?

Câu trả lời đã được ông Lê Duẩn nói ra trong một phút thành thật: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc...”

Tất nhiên, cả Trung Cộng lẫn Nga Xô đều biết như vậy. Cho nên phải “viện trợ to lớn” cho những người Việt đi đánh giết đồng bào của mình! Nhưng Lê Duẩn không phải là người đầu tiên khởi xướng việc “đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc”.

Năm 1963, trong một cuộc gặp gỡ với các đại biểu đảng Lao Ðộng Việt Nam ở Vũ Hán, Mao Trạch Ðông đã hứa hẹn: “Tôi sẽ làm chủ tịch của 500 triệu bần nông đưa quân xuống Ðông Nam Châu Á.”

Tháng Chín năm đó, Trung Cộng đã triệu tập Hồ Chí Minh đến gặp Chu Ân Lai và Aidit, lãnh tụ đảng Cộng Sản Indonesia, lúc đo có hơn 3 triệu đảng viên, tại miền Nam Trung Quốc; để bày kế hoạch phối hợp giữa hai đảng Cộng Sản đàn em. Sau đó, đảng Cộng Sản Indonesia bành trướng hoạt động, đảng Cộng Sản Việt Nam thúc đẩy cuộc chiến chiếm miền Nam lên mức độ khốc liệt hơn, là nguyên nhân khiến Mỹ phải đổ quân vào miền Nam Việt Nam.

Năm 1965, Mao Trạch Ðông đã nói với Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc một câu được dẫn ra trong một cuốn sách của nhà xuất bản Sự Thật: “Chúng ta phải giành cho được Ðông Nam Châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Ðiện, Malaysia và Singapore... Một vùng như Ðông Nam Châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản... xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy. Sau khi giành được Ðông Nam Châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Ðông Âu, gió Ðông sẽ thổi bạt gió Tây...” Mao đã thất bại ở Indonesia, vì Tháng Chín năm đó, Aidit cùng các cố vấn Trung Cộng đặt kế hoạch bắt cóc và ám sát các tướng lãnh Indonesia để Tổng Thống Sukarno sẽ nắm quân đội và đưa đảng Cộng Sản vào chính quyền. Âm mưu này bị lộ, Tướng Suharto không nằm trong danh sách bị bắt giết vì không có địa vị quan trọng; ông chờ cho một số tướng lãnh khác bị bắt rồi mới ra tay, âm mưu đảo chính thất bại khiến tới nửa triệu đảng viên Cộng Sản và cả dân lành cũng bị sát hại vì bị nghi là thân cộng. Trước khi Cộng Sản Indonesia hành động, họ đã có dịp tiếp đón phái đoàn Cộng Sản Việt Nam do Lê Duẩn cầm đầu, ăn tiệc với nhau chờ giờ phút chiến thắng.

Mao thất bại ở Indonesia nhưng thành công tại Việt Nam. Khi Lê Duẩn nói, “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc...” thì chính ông ta đang thực hiện mục tiêu “giành cho được Ðông Nam Châu Á” của Mao Trạch Ðông. Năm 1970, ông Lê Duẩn đã nói với Mao Trạch Ðông rằng: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ Tịch... Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể hy sinh 2, 3 triệu người... Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản!”

Ðến khi “tinh thần quốc tế vô sản” giữa Bắc Kinh và Mát Cơ Va bị vỡ, bị Trung Cộng “cho một bài học” vì dại dột bám đuôi Liên Xô, năm 1979 Lê Duẩn mới sai nhà xuất bản Sự Thật in cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”. Ở trang 73 họ viết thế này: “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc... họ chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc... Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ...”

Người Việt Nam bây giờ ai cũng hiểu câu “Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ”. Nhờ bán hàng cho Mỹ và các nước Tây phương, kinh tế Trung Quốc đã sống lại sau khi bị Mao làm cho kiệt quệ cho tới khi ông ta chết. Từ năm 1979 đến nay kinh tế Trung Quốc tăng trưởng trung bình 9% mỗi năm, nhờ đảng biết bóc lột dân lao động làm hàng hóa rẻ tiền bán cho các nước khác. Những người Cộng Sản cầm quyền ở Trung Quốc được chia phần hưởng thụ với các nhà tư bản đỏ. Hiện nay ở Thượng Hải, số đại gia với tài sản đầu tư trên 30 triệu Mỹ kim là 1,318 người trong khi Los Angeles chỉ có 950 người.

Nhờ buôn bán với Mỹ, nên các xí nghiệp Trung Quốc phát đạt; nhưng khi hàng hóa Trung Quốc thừa mứa không đổ đi đâu được, họ có thể vận chuyển qua đường lậu sang tràn ngập thị trường Việt Nam, giết chết các nhà sản xuất người Việt mới chập chững vào nghề! Không những đổ hàng lậu, họ còn cho xâm nhập cả các công nhân lậu vào cướp việc làm của người lao động Việt Nam nữa.

Trước cảnh “lấn sân” đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam không dám tích cực kiểm soát biên giới để ngăn chặn hàng lậu! Cũng không dám có hành động phản kháng khi Trung Cộng lấn áp từ các ngư phủ đến các tàu thăm dò đáy biển Việt Nam. Công trình “Ta đánh miền Nam là đánh cho Trung Quốc” đưa tới những hậu quả nhãn tiền đó. Nói đến ân nghĩa của Trung Cộng là sỉ nhục dân tộc Việt Nam, là xúc phạm vong hồn hai triệu người Việt Nam đã chết trong cuộc chiến tranh “đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc!”

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Kerry, Hagel sẽ làm gì với Việt Nam?
Ngô Nhân Dụng

Sau khi Tổng thống Barack Obama đề cử hai nghị sĩ John Kerry và Chuck Hagel cầm đầu Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng, nhiều người thắc mắc: Với hai vị bộ trưởng mới, chính sách của Mỹ đối với Việt Nam trong bốn năm tới sẽ thay đổi ra sao? Có thể trả lời ngay: Vẫn như trước, ít nhất là vẫn giống như hai năm gần đây nhất.

Mối thắc mắc trên rất tự nhiên, vì cả hai ông John Kerry và Chuck Hagel đều là cựu chiến binh tham dự cuộc chiến Việt Nam. Cả hai đều được nhiều huy chương, ông Hagel còn giữ cả những mảnh đạn nhỏ trong người. Sau đó, cả hai đều thành nghị sĩ. Kerry thuộc đảng Dân Chủ đại diện tiểu bang Massachussett ở Thượng Viện từ năm 1984 đến nay; Hagel thuộc đảng Cộng Hòa, là nghị sĩ tiểu bang Nebraska, từ 1996 đến 2009 thì nghỉ, giữ đúng lời hứa với cử tri khi ra tranh cử lần đầu là ông chỉ làm việc hai nhiệm kỳ. (Ở Mỹ, những người làm nghị sĩ liên bang thường được gọi là nghị sĩ suốt đời, không cần phải thêm chữ “cựu,” trừ khi cần tránh hiểu lầm.) Nếu được phê chuẩn, Chuck Hagel sẽ là “hạ sĩ quan” đầu tiên lên cầm đầu cả guồng máy quân sự nước Mỹ. Khi tình nguyện sang Việt Nam ông chỉ là một người lính thường, sau được thăng lên tới chức trung sĩ.

Nếu hai nghị sĩ này được Thượng Viện phê chuẩn, trong chính phủ Obama sẽ có bốn nghị sĩ, gồm hai ông tổng thống và phó, cộng hai bộ trưởng quan trọng nhất. Trong bốn người này, Obama đóng vai đàn em lúc còn ở Thượng Viện. Các nghị sĩ thường đối xử với nhau thân thiện, hòa nhã (hơn các dân biểu ở Hạ Viện)! Năm 2008, chính ông Hagel (nghị sĩ Cộng Hòa) đã khuyên ông Obama chọn Nghị Sĩ Joe Biden đứng chung liên danh; mặc dù lúc đó bên đảng Dân Chủ nhiều người muốn chọn bà Hillary Clinton (cũng một nghị sĩ nữa). Trước khi hai ông Hagel và Kerry nhậm chức, nhiều người đã đặt tên chung cho “tứ nhân bang” này là “Băng đảng Thượng Viện”. Họ sẽ lèo lái con tàu ngoại giao của nước Mỹ!

Những người Cộng Sản ngây thơ ở Việt Nam có thể sẽ đoán là John Kerry “thân thiện” với chế độ Hà Nội hơn bà Hillary Clinton. Vì sau khi giải ngũ ông đã từng biểu tình phản đối việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Ðó là một ảo tưởng. Những người đi biểu tình phản đối chiến tranh đã giúp cho quân Cộng Sản sau cùng “thắng cuộc”. Nhưng động cơ chính của họ không phải vì “thân cộng” mà vì họ thấy chấm dứt chiến tranh sẽ có lợi cho nước Mỹ hơn là tiếp tục tham chiến. Ai biết tâm lý dân Mỹ sẽ hiểu khi đầu tư vào một cuộc chiến mà không thấy có lợi thì họ thấy phải rút ra ngay, tránh tổn thất vô ích. Năm 1968, chính ông Richard Nixon trong khi tranh cử đã gửi Henry Kissinger gặp đại sứ Nga ở Washington báo trước rằng nếu đắc cử ông sẽ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, dù sau đó sẽ có một chính phủ Cộng Sản lên cầm quyền. Sau khi đắc cử, Tổng Thống Nixon lại cho Kissinger tới nhắc lại lời hứa đó. Có thể nói, số phận miền Nam Việt Nam đã được quyết định từ trước khi ông Nixon cầm quyền.

Ngay khi nghe tin John Kerry được đề cử, trên mạng của tuần báo Economist đã viết một bài nhắc nhở món nợ của ông ta đối với người Việt Nam; yêu cầu ông phải hành động cụ thể buộc chính quyền Hà Nội tôn trọng quyền làm người. Tiêu đề của bài báo viết: “Hãy đòi trả tự do cho Luật Sư Lê Quốc Quân!”

Nhưng cũng không nên có ảo tưởng là một Ngoại Trưởng John Kerry vì mặc cảm tội lỗi sẽ cứng rắn đối với chế độ Cộng Sản hơn bà Clinton. Bởi vì, sau cùng chỉ có ông Obama là người quyết định chính sách ngoại giao của nước Mỹ. Và quyết định của bất cứ ông tổng thống nào cũng vì quyền lợi của nước Mỹ mà thôi. Hơn nữa, chính sách của chính phủ Mỹ nào đối với Việt Nam cũng nằm trong chiến lược toàn cầu của họ; đặc biệt, là chiến lược của nước Mỹ trong cả vùng Châu Á-Thái Bình Dương.

Tại Châu Á, từ hơn nửa thế kỷ trước đây vấn đề quan trọng nhất đối với một tổng thống Mỹ là quyết định sẽ làm gì với Trung Quốc; các nước chung quanh đều đóng vai thứ yếu. Năm 1950, đại đa số người Mỹ coi Trung Cộng chỉ là một chi nhánh của khối Cộng Sản quốc tế do Stalin cầm đầu. Họ thấy điều đó được chứng minh qua cuộc chiến tranh Cao Ly, khi Stalin bật đèn xanh cho quân Bắc Hàn tấn công Nam Hàn và sau đó được Trung Cộng gửi hàng triệu quân sang giúp. Trước đó, chính phủ Mỹ không hề quan tâm đến chính quyền Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan. Ngay sau khi chiến tranh Cao Ly bùng nổ, hạm đội Mỹ tiến vào vùng ven biển và Ðài Loan được Mỹ viện trợ để tự vệ. Cũng từ lúc đó chính phủ Mỹ mới bắt đầu tăng viện trợ cho Pháp ở Ðông Dương. Sau khi đã chứng kiến Nga Xô thao túng và Cộng Sản hóa các nước Ðông Âu, mối quan tâm chính của người Mỹ là ngăn chặn làn sóng đỏ ở Châu Á. Mỹ đã lập liên minh quân sự với Úc, Tân Tây Lan, đã lập liên minh quân sự Ðông Nam Á, đã viện trợ cho miền Nam Việt Nam, đều vì mục tiêu đó.

Khi nhìn thấy sự rạn nứt giữa Nga Xô và Trung Cộng từ cuối thập niên 1960, chiến lược của họ đã thay đổi. Mỹ bắt đầu giao thiệp với Trung Cộng. Kể từ đó trở đi, vấn đề của các chính phủ Mỹ ở vùng Ðông Á Châu là cách đối xử với Trung Cộng như thế nào thì có lợi nhất cho quyền lợi lâu dài của họ. Dân số Trung Quốc (lúc đó hơn 600 triệu người) là một thị trường thu hút mọi tính toán của các nhà tư bản. Khi rút khỏi Việt Nam, nhường mảnh đất này cho khối Cộng Sản, người Mỹ đã thấy rằng “lý thuyết domino” không đúng. Không một quốc gia nào ở vùng Ðông Nam Á bị rơi vào tay Cộng Sản; trái lại, các nước đó lại đoàn kết với nhau hơn trước một hiểm họa chung.

Chính sách đối ngoại của nước Mỹ dựa trên quyền lợi kinh tế. Hiện nay, cuộc tấn công ngoại giao quan trọng nhất của chính quyền Obama trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương là liên kết các nước trong một khối mậu dịch tự do. Khi dân Trung Quốc được tự do làm ăn hơn và chính quyền Bắc Kinh mở cửa đón nhận tư bản nước ngoài giúp mãi lực của khối người khổng lồ hơn một tỷ ba trăm triệu này gia tăng, thị trường Trung Quốc càng thêm hấp dẫn. Trước thị trường Trung Quốc, Việt Nam chỉ là một mảnh đất nhỏ, với dân số chưa bằng một phần mười và lợi tức trên đầu người chưa bằng một phần ba. Ngay ở thành phố dân rất cởi mở và có mãi lực lớn nhất là Sài Gòn cũng chưa có một quán McDonald nào, cho thấy trọng lượng kinh tế của Việt Nam trong cách tính toán của các nhà tư bản Mỹ còn nhỏ lắm. Cho nên, người Việt không nên giữ những ảo tưởng như là nước Mỹ cần trở lại Việt Nam.

Ảo tưởng hão huyền khác là Mỹ cần Việt Nam để ngăn chặn sức bành trướng của Trung Quốc. Trong hai năm qua chính quyền Obama đã tuyên bố trở lại Á Châu một cách ồn ào, không phải vì họ quan tâm đến nước Việt Nam, mà vì quyền lợi toàn cầu của nước họ. Nước Mỹ đã có sẵn những đồng minh trong vùng Ðông Nam Á giàu và mạnh hơn Việt Nam nhiều. Và các nước này đã từng lo đề kháng và phòng vệ đối với Trung Cộng từ lâu. Trong khi đó thì ai cũng biết rằng đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn nằm trong túi của Cộng Sản Trung Quốc. Các hành động và thái độ nhút nhát của chính quyền Cộng Sản Việt Nam trên các vấn đề biển, đảo bị xâm lấn chỉ tăng cường cho ý nghĩ đó chắc chắn hơn mà thôi. Khi nào chế độ Cộng Sản còn tồn tại ở Việt Nam thì thế giới bên ngoài sẽ tiếp tục nghĩ như vậy. Không một chính quyền Mỹ nào thấy cần phải thay đổi thế quân bình đó. Vì họ đã được bảo đảm về mặt kinh tế và an ninh, với các nước đồng minh cũ mạnh hơn Việt Nam nhiều. Mà họ cũng tin rằng thị trường Trung Quốc sẽ không tuột ra ngoài tầm tay của họ. Công ty Yum! Chủ nhân KFC và Pizza Huts đã mở 720 cửa hàng ở lục địa Trung Hoa. Công ty Kraft đã biến đổi thứ bánh ngọt Oreo của họ, bớt đường và pha cả vị trà xanh trong bánh, để hợp với khẩu vị của người Tàu. Nhóm đầu tư KKR đã góp vốn vào công ty sản xuất sữa lớn nhất ở Trung Quốc. Khi vào thị trường Trung Quốc, McDonald cũng đổi vai trò của nhân vật hoạt họa quảng cáo chính của họ, giới thiệu với trẻ em Trung Hoa hình ảnh “Giáo Sư Ronald”. Vì họ biết cha mẹ người Trung Hoa lo lắng đến việc học của con, nên Giáo Sư Ronald đã bày những trò học đọc, học viết và học làm tính, chứ không chỉ bày trò chơi như Anh Hề Ronald ở thị trường Mỹ!

Ðể “ngăn chặn” sức bành trướng của Trung Quốc, Mỹ đã có những đồng minh mạnh như Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan, và các nước dân chủ trong vùng Ðông Nam Á. Ðể lấn áp Trung Cộng, một khí cụ hiện đang được được chính quyền Mỹ sử dụng là “Sức Mạnh mềm,” đó là mô hình chính trị tự do dân chủ và kinh tế thị trường. Nếu các nước chung quanh Trung Quốc đều dân chủ hóa và phát triển tự do mậu dịch thì họ tự động trở thành một hàng rào rất kín để ngăn chặn ảnh hưởng Trung Cộng. Chúng ta thấy, sau khi chính quyền Miến Ðiện bắt đầu tiến trình dân chủ hóa, ông Obama đã bay sang thăm ngay và người Mỹ bắt đầu đem tiền đến viện trợ và đầu tư.

Chính sách của chính phủ Mỹ sẽ tiếp tục như những gì họ đã làm trong hai năm qua kể từ khi ông Obama tuyên bố Mỹ trở lại vùng Ðông Nam Á. Những khuôn mặt mới như Hagel hay Kerry cũng không thay đổi gì trong chiến lược này. Họ sẽ tiếp tục gắn bó với các nước cùng theo chế độ dân chủ tự do, và phát triển mậu dịch để tất cả đều được lợi. Họ sẽ tiếp tục giao thương với Trung Quốc và lâu lâu nhắc nhở các vấn đề nhân quyền ở nước này để chứng tỏ cho các nước chung quanh thấy và so sánh hai chế độ dân chủ và độc tài khác nhau như thế nào.

Ðứng trước viễn ảnh đó, con đường tốt nhất cho Việt Nam là tiến tới dân chủ hóa để gia nhập cộng đồng các quốc gia dân chủ ở Ðông Nam Á. Khi đó, không cần phải yêu cầu các chính phủ Mỹ cũng sẽ đối xử với Việt Nam theo cách mà họ đang giao thiệp với Philippines, Thái Lan, Singapore. Không thể tiếp tục nuôi dưỡng cảm tưởng của các nước chung quanh là chính quyền Việt Nam vẫn nằm trong túi Cộng Sản Trung Quốc! Vừa rồi, một sĩ quan tuyên truyền của Cộng Sản mới giảng dạy các học trò rằng: “Nước Mỹ chẳng bao giờ tốt với chúng ta, chỉ có Trung Quốc tốt với chúng ta.” Một chính sách dựa trên ý tưởng đó sẽ đưa dân tộc vào con đường cụt, không ngõ thoát!

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Thắng mình trước đã.

Đồng Phụng Việt

Vừa có hai sự kiện, cùng liên quan đến cuốn “Bên thắng cuộc” làm mình chú ý: (1) Tờ Pháp luật TP.HCM đăng “Cái nhìn thiên kiến về lịch sử” của Nguyễn Đức Hiển. Và (2) Liên Ủy ban chống Cộng sản, tay sai và chống tuyên vận Cộng sản ở Mỹ gửi thư mời họp để bàn bạc về chuyện tổ chức biểu tình chống tờ Người Việt phát hành cuốn sách này.

Sự kiện (1) mình biết qua trang web Ba Sàm. Sự kiện (2) mình biết qua email của một người bạn, kèm câu hỏi: Ông nghĩ sao?..

Thay vì trả lời riêng bạn qua email, mình viết vài dòng trên facebook để có thể chia sẻ với cả bạn và các bạn khác vài điều mà mình nghĩ…

1.

Hồi nhỏ, ở nhà mình có vài cuốn album để cất ảnh. Mấy cuốn album này do trường Võ bị Quốc gia ở Đà Lạt dùng làm quà. Nếu mình nhớ không lầm thì cuốn nào trên góc trái, phía trên cùng, cũng in chìm hình một sinh viên sĩ quan, kèm dòng chữ “Tự thắng – Chỉ huy”. Lúc đó, xem – nhớ nhưng thật tình, mình không hiểu tại sao trường Võ bị Quốc gia (một nơi danh giá, đào tạo sĩ quan chuyên nghiệp cho quân đội miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975, vốn là chỗ không dễ vào, nếu vào và ra được thì vừa là sĩ quan, vừa có văn bằng cử nhân khoa học – một thời đã từng là mơ ước của mình), lại chọn “Tự thắng – Chỉ huy” làm slogan.

Lớn lên thì mình hiểu tại sao trường Võ bị Quốc gia lại chọn “Tự thắng – Chỉ huy” làm slogan. Không tự thắng chính mình thì làm người tử tế còn khó, nói gì đến chuyện chỉ huy!

2.

Khi sinh ra mình là công dân Việt Nam Cộng hòa nhưng lúc lớn lên, mình trở thành công dân Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cũng tại vậy mà mình có nhiều người thân, người quen bị gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”. Sau ngày “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, phần lớn “ngụy quân, ngụy quyền” mất sạch mọi thứ: nhà cửa, tài sản, tương lai, một số người mất cả sinh mạng. Gia đình mình cũng thế.

Nếu ai hỏi mình: có oán Cộng sản không? Mình sẽ trả lời rằng: Có! Song đối tượng của sự oán hận đó đã khác nhiều so với trước.

Lúc đầu, mình ghét tất cả những người từ ngoài Bắc vào. Rồi oán hờn thu hẹp, mình chỉ còn căm giận cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an. Sự căm giận này bây giờ không còn. Chính xác hơn, sự căm giận này vẫn còn nhưng nó hướng vào chủ nghĩa cộng sản và sự tồn tại của thể chế chính trị là con đẻ của nó trên xứ sở này.

Sở dĩ nhận thức của mình thay đổi liên tục như thế là nhờ sách vở, tài liệu và thực tế cuộc sống. Hồi đọc “Những thiên đường mù” của Dương Thu Hương, mình choáng váng vì hóa ra người dân miền Bắc còn khổ hơn người dân miền Nam. Mình dùng hai chữ “khổ hơn” vì ít ra, người dân miền Nam đã từng có lúc được sống “cho ra hồn người”, trước khi cùng khốn khổ, khốn nạn như nhau. Sau này, hỏi thăm một số người lớn tuổi đã từng sống ở miền Bắc trước tháng 4 năm 1975, họ bảo, thật ra, “Những thiên đường mù” chỉ khắc họa một phần sự thật, chưa lột tả được toàn bộ môi trường xã hội miền Bắc trước tháng 4 năm 1975…

Tương tự, sự căm giận bộ đội giảm dần khi cuộc chiến ở Campuchia biến một mớ bạn bè mình thành bộ đội, thương binh, có đứa trở thành liệt sĩ. Còn một thực tế khác, chẳng riêng mình mà ai cũng thấy, đó là, đa số những người đóng góp tuổi trẻ, sức lực, máu xương, thân nhân cho việc tạo lập ra chính quyền này cũng chẳng sung sướng gì hơn. Đến giờ, đâu có ít gia đình liệt sĩ, thương binh, có công cũng đã mất sạch mọi thứ.

Xét cho đến cùng, tất cả đều là nạn nhân. Ngay cả cán bộ, đảng viên cũng là nạn nhân, họ cắn răng chịu đựng đủ thứ bất toàn của hệ thống, ngửa tay nhận đồng lương chết đói và để tồn tại phải tìm đủ cách để “ăn”, vừa phải chuốc sự khinh bỉ của người bị “ăn”, vừa phải chấp nhận cho các đồng liêu khác “ăn” lại. Một kiểu “ăn lẫn nhau”, một thứ bi kịch kéo dài từ đời cha sang đời con và có thể còn tiếp tục kéo dài sang đời cháu. Họ có muốn như vậy không? Mình nghĩ là không nhưng họ chẳng có lựa chọn nào khác.

Lý do mình tóm tắt quá trình định hình và chuyển đổi nhận thức của mình, vì mình tin nó tương đồng với quá trình định hình và chuyển đổi nhận thức của nhiều người khác, trong số hàng chục triệu dân miền Nam Việt Nam trước và sau tháng 4 năm 1975. Mình chỉ là một trong hàng chục triệu số phận na ná như thế do thời cuộc tạo ra. Dù muốn hay không, hàng chục triệu số phận này đã và sẽ là một phần của lịch sử.
Bài “Cái nhìn thiên kiến về lịch sử” của Nguyễn Đức Hiển không những không đếm xỉa gì đến phần này của lịch sử mà còn bóp méo nó, nên có thể vì vậy mà bị nhiều người chửi.

Theo mình, nhìn, nghe, đọc, hỏi, nghĩ là điều cần thiết mà ai cũng nên làm. Mình tin, do đặc điểm nghề nghiệp, một nhà báo cần làm những điều này gấp nhiều lần những người bình thường, đặc biệt là khi máy tính, Internet đã trở thành phương tiện đại chúng. Tiếc là bạn Hiển ít nhìn, ít nghe, ít đọc, ít nghĩ, chỉ quen bông phèng, chớt nhả, nhận được vài lời khen, lại tưởng mình hơn người, thành ra làm điều quá phận.
Vì bạn Hiển bảo:

“Bóp méo sự thật lịch sử dù với bất cứ lý do gì thì đều là tệ hại”

... nên mình cung cấp cho bạn hai chuyện mà bạn có thể xác minh ngay và sắp tới, mong bạn cho mình biết thêm suy nghĩ của bạn về bản chất cuộc chiến, mà bạn muốn biện minh rằng chính đáng:

- Chuyện thứ nhất là vụ ném lựu đạn vào buổi lửa trại, tổ chức cho các Hướng đạo sinh, thành viên Gia đình Phật tử và học sinh các trường trung học ở Quy Nhơn, tại sân vận động Quy Nhơn (nay là thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định), vào đêm 9 tháng 1 năm 1972, để giết tỉnh trưởng Nguyễn Văn Chức nhưng ông Chức không chết, chỉ có vài chục người là giáo viên, học sinh chết, bị thương.

Người tổ chức vụ ném lựu đạn này là bà Huỳnh Thị Ngọc đã được Đảng và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang” hồi Quốc khánh năm 1995, báo Quân đội Nhân dân có bài ca ngợi (tựa là “Giả điên trong tù”, đưa lên Internet hôm 16 tháng 7 năm 2007). Sau khi đọc “Giả điên trong tù”, bạn có thể tìm gặp những người dân Quy Nhơn, nay trong độ tuổi khoảng 60, để hỏi thăm và nghe thêm về bản chất – kết quả thật sự của một “chiến công”, trong cuộc chiến được bảo là chính nghĩa đó.

- Chuyện thứ hai là vụ pháo kích vào Trường Tiểu học Cộng đồng ở thị trấn Cai Lậy, tỉnh Định Tường (nay là huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), ngày 9 tháng 3 năm 1974, khiến 32 học sinh chết tại chỗ và 55 học sinh khác bị thương. Những người dân Cai Lậy, Tiền Giang, nay trong độ tuổi khoảng 55, cũng có thể kể để bạn biết thêm về “chiến công” tệ hại này.

Những “chiến công” kiểu như vậy đã được lập trên xác rất nhiều thường dân, trong đó chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ em ở miền Nam (mình muốn nhấn mạnh yếu tố này). Khi thân nhân của các nạn nhân vẫn còn, làm sao có thể bảo với họ rằng, cuộc chiến do miền Bắc khởi xướng, mục tiêu chính là thiết lập “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á” lại là cần thiết và chính đáng. Người ta chỉ mới thôi tự hào về sự tự nguyện đảm nhận vai trò “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á” chừng 20 năm nay thôi bạn Hiển à!

Bạn Hiển,

Làm báo ở Cộng hòa XHCN Việt Nam quả thật là rất khó nhưng nếu bạn không muốn, chẳng ai có thể bắt bạn làm bồi. Ngay cả khi chấp nhận làm bồi thì ít nhất cũng có hai loại bồi. Một loại hiểu và xấu hổ vì chuyện làm bồi nên chỉ dùng bút danh. Loại còn lại vừa hám lợi, vừa chuộng hư danh tới mức mụ mẫm, nên sẵn sàng vỗ ngực, xưng tên. Nguyễn Đức Hiển, bạn thuộc loại nào vậy?

Nếu thật sự bạn vẫn muốn nuốt thêm một hoặc nhiều lần nữa những luận điệu cũ rích mà Đảng đã nhai đi, nhai lại, ụa ra, cho các loại bồi nuốt vào, rồi phun phe phè suốt mấy chục năm qua, muốn hãnh diện vì bạn vẫn còn thích làm gia súc, vẫn tự nguyện giữ bản năng tiêu hóa, “kiên quyết” không thèm tiến hóa như thế thì nó là quyền của bạn, song đừng mửa mớ luận điệu ấy ra, nó khiến nhiều người cảm thấy phiền bởi sự “kiên quyết” ấy!

3.

Giống nhiều người, mình cũng ráng kiếm một bản “Bên thắng cuộc” nhưng thú thật là mình chỉ mới lướt qua. Mình đọc chưa kỹ, do còn chờ phần sau.

Đọc chưa kỹ nhưng mình tin “Bên thắng cuộc” có khiếm khuyết, thiếu sót, thậm chí có cả những điểm chưa chính xác. Đó là điều đương nhiên, không thể tránh khỏi đối với những cuốn sách thuộc loại như “Bên thắng cuộc”. Do vậy, phân tích hay – dở, góp ý đúng – sai, đưa ra đề nghị này – khác, để cả tác giả lẫn người đọc cùng xem xét – ngẫm nghĩ thêm là điều cần thiết.

Với mình, dẫu cho còn khiếm khuyết, thiếu sót, thậm chí có cả những điểm chưa chính xác thì “Bên thắng cuộc” vẫn là một cuốn sách cần đọc, vì loại sách này giúp người đọc có một cái nhìn bao quát về chính trường – xã hội Việt Nam sau tháng 4 năm 1975. Khi đã có thể nhìn một cách bao quát, hiểu rõ hơn về những chuyện vốn chỉ nghe nói loáng thoáng, từng người có thể ngẫm nghĩ – tìm kiếm thêm thông tin để tự lý giải tại sao xã hội chúng ta đang sống lại như thế này?

Mình tin “Bên thắng cuộc” còn có tác dụng như một gợi ý, kích thích những người khác, đặc biệt là những người trong “cung đình” kể lại, nói thêm về những chuyện họ biết cho mọi người cùng biết. Mình vẫn tin rằng, mọi thay đổi tích cực cho xứ sở và dân tộc này khởi đầu từ từng người. Trước hết là kể những điều mình biết, chia sẻ những điều mình nghĩ với mọi người quanh mình. Chỉ thế thôi. Không cần phải chỉ dẫn hay thuyết phục ai rằng họ nên nghĩ gì, làm gì. Khi đã có thông tin, từng cá nhân sẽ tự đối chiếu chúng với thực tế xã hội và hoàn cảnh, cũng như nhu cầu cá nhân của họ. Tự họ sẽ thấy họ nên làm gì, làm như thế nào. Có lẽ đó mới là giá trị thực của “Bên thắng cuộc” và là đóng góp đáng ghi nhận của Huy Đức.

Điều đáng ngạc nhiên là không chỉ Đảng cầm quyền thù ghét những thứ như “Bên thắng cuộc” mà ngay cả một số người chống Đảng này ở bên ngoài Việt Nam cũng tỏ ra thù ghét nó. Mình đã thử tìm hiểu tại sao và rất ngao ngán khi nhận ra rằng, có những người thù ghét Cộng sản nhưng lối suy nghĩ, cách hành xử của họ y hệt như Cộng sản.

Đọc những bài họ viết, xem những ý kiến họ bày tỏ, những video clip quay chuyện họ làm, nghe họ nói, mình thấy phẫn nộ khi họ nhân danh “chính nghĩa”. Miền Nam Việt Nam mà mình biết không có thứ “chính nghĩa” đó.

Nửa đầu thập niên 1970 là giai đoạn miền Nam Việt Nam đỏ máu và trắng khăn tang. Hết Hạ Lào tới An Lộc, Quảng Trị, Phước Long,… Trong bối cảnh ấy, dân miền Nam vừa nghe “Thề không phản bội quê hương” (của Cục Chính huấn Quân lực Việt Nam Công hòa) với những: “…Quyết chiến! Thề quyết chiến! Quyết chiến! Đánh cho cùng dù mình phải chết. Để mai này về sau con cháu ta sống còn…”, vừa hát “Kỷ vật cho em” (thơ Linh Phương, Phạm Duy phổ nhạc): “…Anh trở về trên đội nạng gỗ. Anh trở về bại tướng cụt chân…”, vừa ngâm “Ngày mai đi nhận xác chồng” (thơ Lê Thị Ý, Phạm Duy phổ nhạc thành “Tưởng như còn người yêu”): “…Dài hơi hát khúc thương ca. Thân côi khép kín trong tà áo đen. Chao ơi thèm nụ hôn quen. Ðêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau. Chiếc quan tài phủ cờ màu. Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng…”. Hay đọc “Chiều mệnh danh Tổ quốc” (thơ Nguyễn Tất Nhiên): “…Chiều quân đội nghĩa trang. Chiều mệnh danh tổ quốc. Có muôn ngàn câu kinh. Có muôn ngàn tiếng khóc. Có chuyến xe nhà binh. Đưa ‘Thiên Thần’ xuống đất…”.

Miền Nam Việt Nam hồi đó mà mình biết cũng có tham nhũng, hối lộ, phe phái và nhiều điều bất toàn khác nhưng đó là chỗ mà những “Thề không phản bội quê hương”,… có thể đứng chung cùng những “Kỷ vật cho em”, “Ngày mai đi nhận xác chồng”, “Chiều mệnh danh Tổ quốc”,… Nhiều “Thiên Thần” chấp nhận ra trận, rồi đi luôn vào lòng đất để những người còn lại được quyền làm những chuyện có vẻ như rất mâu thuẫn ấy. Đó là điều khiến miền Nam Việt Nam khác xa miền Bắc Việt Nam.

Miền Nam Việt Nam hồi đó mà mình biết, không có những kẻ “bảo vệ chính nghĩa quốc gia” bằng cách “đụ mẹ”, “đéo bà” người khác chỉ vì họ không nói, không làm điều những kẻ đó muốn nghe, muốn thấy.

Cũng không có những kẻ, một tay giương cao quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa, tay còn lại tụt quần, chổng mông vào mặt người khác giữa nơi công cộng để khẳng định quyết tâm… chống Cộng sản.

Miền Nam Việt Nam hồi đó mà mình biết, tuy chống Cộng nhưng vẫn tiếp nhận “Tiếng gọi công dân” (tên nguyên thủy là “Thanh niên hành khúc”) của Lưu Hữu Phước – một cán bộ Cộng sản cao cấp – làm Quốc ca, sau khi kế thừa chính thể Cộng hòa Tự trị Nam kỳ. Mình nghĩ chỉ chi tiết này thôi có lẽ cũng đủ để biết tinh thần, quan niệm của miền Nam Việt Nam hồi đó ra sao.

Với những gì mới biết về những cá nhân, những nhóm cựu công dân miền Nam Việt Nam, bây giờ đang chống Cộng theo kiểu chống hết mọi thứ, bất kể tình – lý, chỉ để thiên hạ biết mình đang “bảo vệ chính nghĩa quốc gia”, mình tự hỏi, không biết bao giờ thì những ông, những bà này sẽ chống hát Quốc ca Việt Nam Cộng hòa, vì tác giả của bài hát này là một Việt cộng cao cấp? Có nên xem chuyện hát “Tiếng gọi công dân” đã và đang diễn ra ở những nơi có cựu công dân Việt Nam Cộng hòa là một hình thức tuyên vận của Cộng sản và rất cần chống ngay lập tức hay không?

Mình tin sẽ không có ai trong số các ông, các bà đó dám cổ súy chuyện này. Nếu không dám và chắc là không dám thì “chính nghĩa” mà qúy vị tạo ra, nhảy múa để “bảo vệ” rõ ràng là chưa (không thể) ổn. Xin qúy vị hãy xem lại lối nghĩ, cách hành xử của qúy vị.

Tuy số lượng của những vị này chẳng đáng là bao trong khối người Việt đang phải sống bên ngoài Việt Nam nhưng mình không thể không nói. Kiểu chống hết mọi thứ chỉ để thiên hạ biết mình đang “bảo vệ chính nghĩa quốc gia” của những vị này, không chỉ làm hoen ố hình ảnh miền Nam Việt Nam ngày xưa.

Chúng đang được Đảng CSVN khai thác triệt để nhằm chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên của họ. Đặc biệt là vào lúc này, khi hệ thống đã mục ruỗng, thông tin đa chiều đang làm cho nhận thức cán bộ, đảng viên thay đổi và nhiều người bắt đầu “muốn làm một cái gì đó” thì những bài viết, ý kiến, hành động cực đoan của những vị này trở thành một món quà quý.

Chúng đã và đang được sử dụng để minh họa cho những lời răn đe, kêu gọi kiểu như: “Bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”; “Còn Đảng, còn mình”; “Quân đội là của Đảng và phải bảo vệ Đảng”; “Bảo vệ chế độ XHCN là bảo vệ sổ hưu”.

Đinh Việt

Mời đọc thêm:

http://www.vietfreefun.com/forum/showth ... %99c/page3

Vài nét về tác giả Đinh Việt:

Đinh Đồng Phụng Việt (sinh 22 tháng 2, 1968), được biết nhiều hơn với tên tiếng Anh như Viet Dinh, Viet D. Dinh, hoặc ngắn gọn Đinh Việt, là Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp (Assistant Attorney General) Hoa Kỳ từ 2001 đến 2003, tác giả đạo luật chống khủng bố PATRIOT Act sau sự kiện 11 tháng 9. Hiện nay ông là giáo sư Đại học Georgetown và tham gia hội đồng điều hành của tập đoàn News Corporation.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image


Có một điều gì đó rất Lã Bất Vi
Huỳnh Ngọc Chênh

Ðến liệt sĩ chống Trung Cộng trong chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 cũng bị viết thành là do bọn côn đồ nào đó sát hại thì hết chỗ nói. Mà không phải chỉ có một tờ báo tránh né vì sợ úy kị mẫu quốc thiên triều mà có rất nhiều tờ báo gọi là chính thống của đảng đều né tránh như vậy. Bằng chứng về sự chỉ đạo từ cấp cao đã rõ ràng ràng. Chẳng lẽ nghi vấn đặt ra trong bài viết dưới đây đăng trên blog này hồi tháng 4, 2012 đã trở thành xác thực.

Có quá nhiều sự việc phát sinh trong thời gian qua không khỏi không làm ta suy nghĩ về cái gì đó khó hiểu đang xảy ra, chẳng hạn:

Bia kỷ niệm của sư đoàn 337 chiến đấu chống “quân Trung Quốc xâm lược” bị đục bỏ đi chữ “Trung Quốc xâm lược”.

Bia ghi công Nguyễn Huệ đánh tan “giặc Tàu” bị đục bỏ để thay bằng một tấm bia vô thưởng vô phạt khác.

Bia mộ của anh hùng liệt sĩ Trần Văn Phương hy sinh trong trận chống quân Trung Cộng xâm chiếm Gạc Ma năm 1988 bị đục bỏ đi chữ “anh hùng”.

Cờ sáu sao bỗng dưng xuất hiện trên truyền hình quốc gia VTV khi đài này đưa tin về chuyến viếng thăm của ông Trọng đến Trung Cộng.

Cờ sáu sao lại oai vệ xuất hiện một lần nữa tại phủ chủ tịch khi đón quốc khách Tập Cận Bình qua thăm và làm việc tại Việt Nam.

Trấn áp tàn bạo những người biểu tình chống Trung Cộng xâm lược biển Ðông. Ðến nay còn giam giữ không lý do và chưa đưa ra xét xử những người từng tham gia biểu tình chống Trung Cộng như Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, Anh Ba Sài Gòn, Bùi Hằng...

Cấm đoán hoặc gây khó dễ hầu hết các buổi hội thảo hoặc chiếu phim do nhân dân tổ chức liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa. Cuốn phim “ Hoàng Sa Việt Nam - Nỗi đau mất mát” của ông Hồ Cương Quyết hoàn toàn bị cấm chiếu ở Việt Nam.

Ngăn cản các hoạt động gặp mặt, trợ giúp các chiến sĩ hải quân sống sót sau trận xâm chiếm đảo Gạc Ma. Ngăn cản cả những hoạt động tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong trận chiến trên.

Thậm chí người dân ghi ký hiệu “NO U” để phản đối yêu sách ngang ngược về đường lưỡi bò của Trung Cộng trên áo quần hoặc vật dụng cũng bị cấm đoán hoặc gây khó dễ. Hàng chục ngàn áo “no u” của báo SGTT làm ra bị niêm kín trong kho không cho bán ra ngoài. Doanh nghiệp hợp đồng với báo SGTT sản xuất ra áo đó cũng bị gây khó dễ.

Tất cả những sự việc đó nói lên điều gì? Ai chủ trương làm những điều này? Ai lén lút giật dây để tạo ra nhiều lần “sai sót” một cách cố ý?

Trung Hoa có truyền thống cài người vào chính quyền các nước lân bang (Ðài Loan vừa phát hiện một ổ gián điệp Trung Quốc gồm 40 tướng Ðài Loan-NQL). Ngày xưa Lã Bất Vi là thương gia nước Triệu, thấy Tử Sở là hoàng tử nước Tần, là cán bộ có tiềm năng, đang bị khổ sở làm con tin ở nước Triệu, y mang về nuôi dưỡng, gã tì thiếp đã có thai với mình cho Tử Sở để vừa dụ dỗ vừa khống chế. Sau đó y bơm tiền ra lobby cho Tử Sở về nước và được lên ngôi vua. Y được làm tướng quốc nước Tần rồi điều khiển chính trường Tần theo ý mình.

Nhiều doanh nhân trong nước và nhiều Việt kiều kể rằng bên Quảng Châu có một khu ăn chơi kiểu “nhất dạ đế vương” với hàng trăm cô gái đẹp tuyệt trần như cung tần mỹ nữ. Các doanh nghiệp Trung Cộng hoặc Hồng Kông thường mời quan chức nước ngoài vào đó chiêu đãi ăn chơi, rồi có kẻ bí mật ghi lại hình để khống chế và sử dụng lâu dài. Những quan chức này về sau lại được Trung Cộng bơm tiền vào để lobby cho nhanh thăng quan tiến chức, giữ các vị trí trọng yếu trong chính quyền nước mình.

Khu ăn chơi đó đã có từ 20 năm trước và rất gần với Việt Nam. Quan chức ta có dịp qua đó ký kết làm ăn không tránh khỏi được các doanh nhân Trung Cộng mời vào đó chiêu đãi. Không biết cách đây 15, 20 năm có ai bị ghi hình ở đó không nhỉ? Có ai bị ghi hình nhưng sau đó về lên chức vùn vụt không nhỉ?

Có hay không có chuyện đó thì khó mà biết được vì đó là bí mật tình báo vào tầm chiến lược của Trung Cộng.

Tuy vậy, có một điều gì đó rất khó hiểu, rất Lã Bất Vi đang xảy ra ở nước ta mà chúng ta cần phải cảnh giác.

Nhưng liệu bây giờ mới cảnh giác thì có quá trễ hay không?

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Việt Kiều, Kẻ Thù Của CSVN

Tác giả : Vi Anh

Ngày 29-12, CSVN làm lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, điều mà Quân Lực Mỹ gọi là chiến dịch Linebacker II , chỉ có 11 ngày với tên the 11- Day War. Nhưng báo quốc tế lúc bây giờ gọi là 12 ngày đêm (từ 18 đến 30-12-1972) Mỹ trải thảm xuống CS Bắc Việt.

Phía CS Bắc Việt ban đầu rêu rao trên báo Báo Đảng đã diệt được 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B-52. Nhưng sau đó báo Quân đội của Đảng CS nói ít lại, chỉ bắn rơi 23 máy bay B-52, bắt sống nhiều phi công Mỹ."

Còn phía Mỹ, các nhà phân tích tiêu biểu như sử gia của Không Quân Mỹ Walter J. Boyne nói có 15 B-52 bị bắn hạ và 8 phi công Mỹ "bị giết khi tham chiến hoặc chết vì vết thương, 25 mất tích, 33 bị bắt làm tù binh chiến tranh, và chỉ có 26 được cứu thoát trước khi rơi bị bắt sống".

Các giới chức quân chính Mỹ cho đến nay vẫn cho rằng chiến dịch này đã đem lại 'thắng lợi quân sự' và đã buộc Bắc Việt quay lại hoà đàm vốn bị bế tắc ở Paris. Như Bà Rebecca Grant sưu khảo viết trên báo Airforce Magazine tháng 12/2012 cho biết “Các đội bay của B-52 xuất kích cả thảy 729 lần trong đêm... Cho đến khi chiến dịch kết thúc, Bắc Việt Nam đã quỳ gối, nói như lời của Cố vấn an ninh quốc gia Henry A. Kissinger. Họ đã sẵn sàng ký vào văn bản hòa đàm gồm cả phần trao trả tù binh Mỹ."

Một sự kiện rõ ràng như hai với hai là bốn, Linebacker II của Mỹ chấm dứt ngày 29 tháng 12 và đến ngày 8 tháng 1/1973, mọi bên trong đó có CS Bắc Việt tẩy chay, đều đã có mặt trở lại phòng hòa đàm ở Paris."

Ngày 29/12 năm 2012, gần 40 năm sau, trước tình hình sôi động biển đảo của VN bị TC xâm lấn một cách thô bạo, CSVN làm lễ kỷ niệm chiến thắng – một lễ CSVN nâng lên cấp quốc gia rất long trọng, CSVN long trọng mời Trung Cộng và Nga hậu duệ của Liên xô CS tham dự. Trung tướng Viktor Bondarev, Tư lệnh Không quân Liên bang Nga và Thiếu Tướng Vương Nghĩa Sinh, Phó Tham mưu trưởng Không quân của Quân Giải phóng TC tham dự được CSVN đối xử như quốc khách.

Trước hai vị tướng quốc khách đặc biệt danh dự, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn, hết lời ca ngợi “Đây là sự kiện lịch sử trọng đại, biểu tượng chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.”

Còn Bộ trưởng Quốc phòng của VNCS Đại tướng Phùng Quang ca ngợi TC và Liên xô tận mây xanh: “Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam mà đỉnh điểm là chiến dịch 12 ngày đêm vào tháng 12-1972 có sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của hàng nghìn chuyên gia, cố vấn quân sự Xô-viết.” Kỷ niệm chiến thắng B-52 là dịp để Đảng Nhà Nước CSVN nhớ 'công ơn' của Liên Xô và Trung Quốc và tội ác của 'đế quốc Mỹ'. Đại Tướng Thanh còn thiết tha “đề nghị các đơn vị của Trung Quốc và Liên bang Nga hợp tác nhiều hơn nữa, tiếp tục giúp đỡ Việt Nam trong công tác đào tạo, huấn luyện sĩ quan, đặc biệt là sĩ quan phòng không”.

Nhưng có một vài điều đặc biệt hơn về vị đại tướng có nhiệm vụ điều binh, khiển tướng, chịu trách nhiêm an ninh quốc phòng cho Việt Nam CS này. Một là Ông không hé môi nói một chữ nào về tình hình biển đảo VN bị TC xâm lấn trong cơ hội long trọng về quốc phòng này. Hai là trái với luận lý CS tình hình mới nhiệm vụ phải mới, Ông đại tướng này vẫn còn “tư duy” theo lối mòn cũ khi Ông còn là sĩ quan cấp úy trong Chiến Tranh chống Mỹ cứu nước. Ba và quan trọng nhứt là, Ông Bộ Trưởng Quốc Phòng CS này vẫn coi người dân Việt, đồng bào của Ông ở Bắc, ở Nam, ở Trung và ở hải ngoại không theo Đảng là lực lượng thù địch không số 1 thì cũng số hai, của Đảng Nhà Nước CSVN.

Không phải Ông chỉ nói thôi mà còn viết để lời nói bay đi chữ viết ở lại trên tạp chí Quốc phòng Toàn dân. Đại tướng Phùng Quang Thanh liên kết tinh thần “chống đế quốc Mỹ” trong chiến tranh VN để chống lực lượng thù địch bây giờ. Ông lên án Diễn biến hòa bình và cho đó là hình thái của một cuộc chiến tranh xâm lược nhắm vào VNCS. Ông khẳng định, “Đối với nước ta, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá bằng chiến lược Diễn biến hòa bình sử dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa, hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta; khi có cơ hội, chúng sẵn sàng phát động chiến tranh xâm lược.”

Ông gián tiếp nhựt lịnh cho tòan quân, cho tất cả lực lượng vũ trang VNCS phải “chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược Diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch” trước rồi rồi sau đó mới chống “các hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc”.

Nói một cách khác, chính sách và chiến thuật quốc phòng của vi Bộ Trưởng Quốc phòng của VNCS này, cánh tay của quân ủy trung ương của Đảng Nhà Nước CSVN quan niệm “Việt kiều” là kẻ thù số 1, phải chống trước. Rồi mới tới kẻ thù số 2 xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc nhưng Ông không dám nói ra là TC.

Và quan niệm chiến tranh của Đại Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Quốc Phòng của VNCS cũng cho thấy, CSVN rất sợ chiến lược của người dân Việt dùng “quyền lực mềm” của tự do, dân chủ, nhân quyền để “diễn biến hoà bình,” chuyển biến, chuyển hoá chế độ độc tài toàn trị của CSVN. Quyền lực mềm đó có vẻ êm nhưng rất thấm, làm bầm gan tím ruột chế độ CSVN vì nó là khắc tinh, hủy thể của CS. Bao lâu, nơi nào có tự do, dân chủ, nhân quyền thì độc tài dưới mọi hình thức không có, không còn lý do tồn tại./.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Kim Chi chê đồng chí Ếch

Ngô Nhân Dụng

Ngày Chủ Nhật vừa qua, các ký giả của tờ tuần báo Nam Phương đã đình công biểu tình phản đối trưởng ban tuyên giáo thuộc thành ủy Quảng Châu, tỉnh Quảng Ðông bên Tàu.

Mỗi năm ở Trung Quốc có trên trăm ngàn vụ dân biểu tình phản đối chính quyền. Nhưng đây là lần đầu tiên hàng trăm nhà báo công khai phản đối một “bố già” trực tiếp nắm đầu họ. Họ đưa lên những biểu ngữ đòi quyền ngôn luận tự do.

Lý do gây nỗi bất bình là trưởng ban tuyên giáo Thỏa Chấn (Tuo Zhen) đã tự ý sửa bài xã luận đầu năm 2012 của tờ báo, trong đó có những câu kêu gọi Trung Quốc phải tôn trọng các quyền tự do ghi trong Hiến Pháp. Thay vào đó, Thỏa Chấn viết những lời ca ngợi đảng Cộng sản vinh quang, như thường lệ! Cả tờ báo nổi giận, đòi đình công! Trong số những người đòi cách chức Thỏa Chấn có cả nhà kinh tế nổi tiếng Mao Vu Thức (Mao Yushi) và Giáo Sư Hạ Vệ Phương (He Weifang).

Trong cuộc biểu tình ngày Thứ Hai, một diễn giả tự giới thiệu từng là một sinh viên tham dự những cuộc biểu tình ở Thiên An Môn năm 1989 đã nhắc lại những khát vọng của giới trẻ suốt 23 năm qua: “Hai mươi ba năm không hề có tiến bộ! Hai mươi ba năm qua Trung Quốc vẫn là một nước độc tài, dùng bạo lực để khuất phục dân chúng. Chúng ta phải lên tiếng, đừng sợ hãi nữa!” Một diễn giả khác tiếp lời: “Hai mươi ba năm rồi, bây giờ tiếng nói của lương tâm lại cất lên;” và ông hô khẩu hiệu qua máy phóng thành đòi “Dân chủ tự do!” Trong đám hô theo, có người còn hô: “Ðả đảo Ðảng Cộng sản!” “Ðảng Cộng sản hãy rút lui!” Những hình ảnh này được truyền khắp nơi trên toàn thể Trung Quốc nhờ các công dân mạng. Rất nhiều nhà trí thức viết thư ngỏ ủng hộ ban biên tập. Chính quyền cắt đứt các thông tin trên mạng của báo Nam Phương, không ai vào được. Nhưng cảnh sát kéo đến đám biểu tình không dám đàn áp. Bí thư tỉnh Quảng Ðông Hồ Xuân Hoa phải đích thân can thiệp, gặp các nhà báo, hứa hẹn không cho ban tuyên giáo can thiệp sửa bài của nhà báo nữa. Họ quay lại làm việc, tờ báo Nam Phương tiếp tục xuất bản số ra ngày 10 Tháng Giêng 2013.

Một làn sóng phấn khởi đã dâng lên trong báo giới khắp nước, xưa nay vẫn bị đảng Cộng sản kiểm soát. Chính quyền cộng sản ra lệnh tất cả các báo phải đăng lại một bài xã luận của tờ Hoàn Cầu Thời Báo, phụ bản của Nhật báo Nhân Dân. Trong bài này, họ tố cáo những người đòi tự do ngôn luận là do “các thế lực thù địch” xúi giục. Họ cũng phê bình các ký giả báo Nam Phương đòi tự do quá đáng, đòi những quyền “không thể thực hiện trong điều kiện xã hội và chính trị thực tế tại Trung Quốc.” Ðặc biệt, bài xã luận này còn viết: “Ngay cả báo chí các nước Tây phương cũng không công khai phản đối chính phủ như vậy!” Ðây là một lời khẳng định hoàn toàn trái ngược với sự thật.

Chỉ thị trên bị nhiều tờ báo phản đối. Một số báo cho đăng bài xã luận của Hoàn Cầu Thời Báo trên mạng, với lời minh xác rằng những ý kiến trong đó không hoàn toàn phù hợp với quan điểm của tờ báo. Riêng tờ Tin Bắc Kinh bị làm áp lực mạnh nhất, các quan chức ban tuyên giáo phải đến tận nơi yêu cầu. Trong một cuộc họp có nhiều ký giả đã khóc, người chủ nhiệm đã dọa sẽ từ chức. Sau cùng, Tin Bắc Kinh vẫn phải đăng lại bài “xã luận lề phải” trên nhưng xóa bỏ những đoạn công kích các ký giả tờ Nam Phương.

Hà Nội cách Quảng Châu không xa. Chế độ cộng sản Việt Nam luôn luôn nghe ngóng tình hình “nước đồng chí anh em” để chạy theo từng bước. Bắc Kinh lo lắng trước cảnh các công dân mạng nổi loạn thì Hà Nội cũng lo. Chính quyền cộng sản kiểm soát 800 tờ báo và các đài, với lực lượng gần 20 ngàn “ký giả.” Nhưng họ vẫn lo sợ trước các mạng lưới tự do như Boxit Việt Nam hay Anh Ba Sàm. Ðiếu Cầy, Tạ Phong Tần, đã bị tù, nhưng chưa đủ hết lo. Hôm Thứ Tư, trưởng ban tuyên giáo thuộc thành ủy Hà Nội đã ra lệnh các người làm nghề truyền thông phải “đấu tranh trực diện, tham gia bút chiến trên Internet trong việc đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.” Họ khoe đã tổ chức một “nhóm chuyên gia” lo bút chiến trên Internet với các nhà trí thức và nhà báo tự do. Trong lúc khoe khoang thành tích phục vụ bọn cầm quyền, họ còn viết: “Ðến nay, đã xây dựng được 19 trang tin điện tử, hơn 400 tài khoản trên mạng.” Chuyện tức cười ở đây là hai chữ “tài khoản,” dịch nguyên văn chữ “account” trong tiếng Anh. Nhưng người ta chỉ dịch account là tài khoản khi nào nói chuyện gửi tiền vào ngân hàng. Mở account tức là mở một tài khoản, chữ tài nghĩa là tiền bạc. Khi một người “mở account” trên mạng lưới thì chỉ mở một diễn đàn, một địa chỉ trên mạng, không có tài khoản tiền bạc nào cả. Khi ông trưởng ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội dùng chữ “400 tài khoản,” người ta hiểu là đảng ông đã phát tiền cho 400 người!

Trong lúc hô hào “đấu tranh trực diện” với những người bất bình về chế độ, đảng cộng sản có ngay một mục tiêu để “đấu tranh.” Ðó là diễn viên điện ảnh nổi tiếng Kim Chi. Cô Kim Chi được Hội Ðiện Ảnh Việt Nam đề nghị cô làm đơn và sửa soạn hồ sơ, để hội đề nghị cô được nằm trong danh sách được Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng khen thưởng. Ðây là một việc làm theo thông lệ hàng năm, mà bình thường các nghệ sĩ, nhà văn, hay giáo sư được đề nghị khen thưởng đều chấp nhận. Nhiều người còn cúi rạp nửa mình khi được trao bằng khen thưởng! Nhưng cô Kim Chi đã từ chối. Ngày 28 Tháng Mười Hai năm 2012 cô đã gửi một lá thư cảm ơn và nêu rõ lý do từ chối.

Hãy nghe cô diễn viên điện ảnh này phân bày: “Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác của mình bị xúc phạm.”

Chắc đã có nhiều người can đảm từ chối không nhận những bằng khen thưởng của chính quyền vì trong lòng bất bình. Nhưng thường họ lẳng lặng lắc đầu, ít có người dám hiên ngang nói rõ lý do tại sao từ chối. Khi viết lá thư từ chối, đánh máy, gửi cho Hội Ðiện Ảnh, cô Kim Chi chắc cũng biết sớm muộn bức thư cũng được đưa ra công khai. Ðiều đáng khâm phục là cô đã nói rõ mình sẽ bị xúc phạm nếu trong nhà có chữ ký của một người mà cô không nêu đích danh. Cô viết về “một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân,” nhưng ai cũng biết, đó là “Ðồng chí Ếch (X),” đương kim thủ tướng! Không thèm nêu tên người sẽ ký bằng khen thưởng mà cô từ chối không nhận, Kim Chi chứng tỏ ngay việc nhắc đến cái tên này đã làm hạ phẩm giá của một người tự trọng!

Bức thư của cô Kim Chi đã được truyền bá khắp nơi, trong và ngoài nước, qua mạng lưới Internet! Ðây đúng là mục tiêu mà đội quân “nhóm chuyên gia bút chiến trên Internet” của thành ủy Hà Nội phải lo đối phó! Cô Kim Chi càng được nhiều người hoa hô thì chiến dịch “đấu tranh” càng quyết liệt!

Họ sẽ “bút chiến” như thế nào? Cách giản dị nhất là nói dối, như đảng cộng sản đã thi hành từ hơn nửa thế kỷ nay. Mai mốt, trên 400 “tài khoản” sẽ có người viết rằng cô Kim Chi không hy vọng được khen thưởng, dù có được đề nghị, cho nên đành rút tên trước cho đỡ ngượng! Cách thứ hai là phỉ báng. Họ sẽ tung ra những bài bôi bác về quá khứ của Kim Chi, bịa ra những chuyện xấu không ai kiểm chứng được. Cứ bêu xấu bên địch bằng các thủ đoạn đê hèn nhất, lâu ngày thế nào cũng có người tin! Cách thứ ba là vu cáo. Thế nào trên 400 “tài khoản” cũng có những bài nói cô Kim Chi đã bị các “thế lực thù địch” xúi giục và mua chuộc!

Họ sẽ bày ra những trò bôi bác mới, trí tưởng tượng của chúng ta không thể nghĩ trước được. Nhưng có một điều họ khó “bút chiến” để phủ nhận, là câu: “Một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân.” Ðồng chí Ếch chính là kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân! Chỉ có một cách phản bác nhận xét này, là nhóm chuyên gia bút chiến vạch ra rằng trong “nhân dân” cũng có những người nhờ đồng chí Ếch là giầu nứt đố đổ vách! Nếu không thì làm sao người ta tổ chức được đám tang báo hiếu cha mẹ với hai chục chiếc xe xịn để khoe của và phơi bày cho công chúng thấy ai là người đã đẻ ra những tay giầu sụ như thế!

Khi đọc lá thư từ chối của Kim Chi, có người trong nước đã đặt câu hỏi (trên mạng Internet) rằng: “Tại sao một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân, vẫn chễm chệ ghế thủ tướng?” Câu hỏi này đã được đồng chí Ếch trả lời trước Quốc Hội: Ðồng chí không muốn làm chức vụ nào cả. Ðồng chí làm bất cứ việc gì khi được đảng giao phó nhiệm vụ. Con cái đồng chí được cất nhắc lên chức này chức nọ, cũng vì được đảng giao nhiệm vụ. Ðồng chí đưa tay chân vào làm các công ty Vinashin, Vinalines, cũng vì được đảng giao nhiệm vụ!

Khi biết như vậy, thì lá thư từ chối phần thưởng của cô Kim Chi còn thiếu một phần. Tại sao một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân được đảng giao cho nhiều nhiệm vụ để tiếp tục làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân mãi như vậy?

Cô Kim Chi vẫn tự nhận, “Tôi là nghệ sĩ cộng sản chính hiệu... Tôi có thể không tin cá nhân ông thủ tướng nhưng mà tôi tin cái chung, còn nhiều cái điều tốt đẹp.” Nếu nhìn ra chung quanh, cô Kim Chi có thể thấy “cái chung, còn nhiều cái điều tốt đẹp” đó ở đâu?

Nó không nằm trong đám quan chức đang giành nhau nhau những miếng xôi miếng thịt. Hiện nay chỉ thấy một điềm hy vọng, một ngọn lửa của niềm tin, là trên những mạng Internet. Như Anh Ba Sàm mới viết: “Cuối cùng, nó (lá thư từ chối của cô Kim Chi) góp phần thức tỉnh giới văn nghệ sĩ đang ‘sống trong sợ hãi’ và danh lợi. Các đấng nam nhi, hãy bằng tri thức và tiếng tăm của mình, nói thay, dẫn dắt dân chúng cùng lên tiếng, thức tỉnh những người cầm quyền, rằng thời cơ đã đến rồi, hãy biết sám hối bằng quyết tâm tự gột rửa, hành động vì dân, vì nước, trước khi quá muộn.”

Khi đảng Cộng sản Liên Xô bị mất quyền, đảng còn hàng chục triệu đảng viên. Không một chi bộ cộng sản nào ở nước Nga đưa một ngón tay lên để cứu đảng. Vì họ biết ngày tàn của nó không thể tránh được. Trong hàng chục triệu đảng viên đó, chắc nhiều người vẫn tự nhận “Tôi là đảng viên cộng sản chính hiệu.” Nhưng họ cũng biết không còn đủ thời giờ để sám hối, để tự gột rửa nữa!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Bất bình đẳng trong xã hội Trung Quốc

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Một trong những lý tưởng cao nhất của chủ nghĩa xã hội là tạo ra sự bình đẳng trong xã hội. Vì lý tưởng đó, họ sẵn sàng hy sinh nhiều thứ,
từ sự phát triển (sẵn sàng chấp nhận lạc hậu so với các quốc gia gọi là tư bản chủ nghĩa) đến sự nhân đạo
(sẵn sàng trấn áp tất cả những người thuộc thành phần giàu có dưới chiêu bài chuyên chính vô sản).

Image
(Hình minh họa: MARK RALSTON/AFP/Getty Images)

Với họ, sự bình đẳng ấy có hai cấp độ thuộc hai thời kỳ khác nhau: Bình đẳng một cách tương đối dưới thời xã hội chủ nghĩa và bình đẳng một cách tuyệt đối dưới thời Cộng Sản chủ nghĩa.

Cuối thập niên 1980, chủ nghĩa xã hội ở Nga và Ðông Âu bị sụp đổ như một cách trả giá cho những lý tưởng viển vông ấy. Những điều họ muốn hy sinh không những không chết mà còn vùng dậy đòi phục thù khi dân chúng không thể chấp nhận tình trạng lạc hậu và nghèo đói mãi cũng như không thể chấp nhận sự độc tài và vô nhân đạo cho những lời hứa hẹn đầy hoang tưởng của giới lãnh đạo.

Tuy nhiên, trên thế giới vẫn còn năm quốc gia vẫn tiếp tục “kiên định” đi theo hệ thống xã hội chủ nghĩa: Trung Quốc, Lào, Bắc Triều Tiên, Cuba và Việt Nam.

Trong năm quốc gia ấy, Trung Quốc và Việt Nam chọn con đường dung hòa về kinh tế: Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, như một cách dung hòa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, dung hòa giữa quy luật thị trường và tham vọng độc quyền lãnh đạo cũng như quản lý của đảng Cộng Sản, dung hòa giữa nhu cầu phát triển và lý tưởng bình đẳng.

Suốt hơn 20 năm qua, công cuộc dung hòa ấy không phải lúc nào cũng trôi chảy. Càng ngày người ta càng nhận thấy đó chỉ là một hôn nhân gượng ép, đầy bất trắc, chỉ làm chậm lại quá trình hiện đại hóa của đất nước: Hầu hết các cơ sở kinh tế quốc doanh, nằm trong tay nhà nước, dù ngốn rất nhiều vốn, lại rất ít có hiệu quả, thậm chí, bị phá sản, để lại những món nợ lớn, trở thành những gánh nặng cho quốc gia, không phải với thế hệ hiện nay mà còn cả với nhiều thế hệ con cháu trong tương lai.

Trước những thất bại nhãn tiền như thế, cả chính quyền Việt Nam lẫn chính quyền Trung Quốc đều tự biện hộ: Bù lại, người ta ngăn chận được nạn cá lớn nuốt cá bé, hiện tượng người bóc lột người, khoảng cách quá xa giữa người giàu và người nghèo trong xã hội. Nói cách khác, người ta bảo đảm được sự bình đẳng.

Nhưng sự thật thì ngược lại.

Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, đặc biệt Việt Nam, tuy hy sinh sự phát triển, nhưng họ cũng không giữ được sự bình đẳng.

Kết quả một cuộc nghiên cứu vào năm 2010 mới được công bố cho thấy chỉ số bất bình đẳng ở Trung Quốc hiện nay thuộc loại cao nhất thế giới.

Cách tính chỉ số này dựa trên đề nghị của Corrado Gini, người Ý, cách đây đúng 100 năm: Ông chia mức phân phối tài sản của người dân thành nhiều bậc, từ 0 (nơi mọi người có cùng một mức thu nhập giống nhau) đến 1 (nơi chỉ có một người có thu nhập; còn lại đều không có gì cả). Như vậy, xã hội có chỉ số 0 là xã hội bình đẳng tuyệt đối và ngược lại, xã hội có chỉ số 1 là xã hội bất bình đẳng tuyệt đối. Dĩ nhiên hai loại tuyệt đối ấy đều không có. Tất cả các xã hội loài người hiện nay đều xê dịch giữa trên số 0 và dưới số 1. Càng gần với số 1 bao nhiêu mức độ bất bình đẳng lại càng cao bấy nhiêu. Tất cả các xã hội có chỉ số bất bình đẳng trên 0.4 đều được xem là đáng báo động.

Chỉ số bất bình đẳng ở Trung Quốc vào năm 2010 là 0.61. Cao hơn hẳn chỉ số trung bình trên thế giới: 0.44.

Ở đây có hai điều cần nhấn mạnh:

Thứ nhất, với chỉ số 0.61 ấy, mức độ bất bình đẳng, tức khoảng cách giữa giàu và nghèo, ở Trung Quốc cao hơn hẳn các quốc gia tư bản, những nơi bị họ nguyền rủa là bóc lột tàn bạo: Chỉ số ấy, trong cùng thời điểm, ở Mỹ chỉ trên 0.4.

Thứ hai, mức độ bất bình đẳng ở Trung Quốc càng ngày càng gia tăng chứ không giảm. Năm 2000: 0.412; năm 2008, tăng lên 0.54; và năm 2010 là 0.61.

Sự bất bình đẳng trong thu nhập ấy cũng được thể hiện qua sự bất bình đẳng trong tiêu dùng. Những năm gần đây, mức độ tiêu thụ hàng hóa ở Trung Quốc tăng vọt. Nhưng tăng nhiều nhất lại là những hàng tiêu dùng dành cho giới nhà giàu. Chứ không phải cho dân chúng bình thường. Ví dụ, so với năm trước, các loại hàng tăng nhiều nhất là: nữ trang (46%) và xe hơi (34%). Nói chung, các loại hàng xa xỉ dành cho giới thượng lưu chiếm đến khoảng 33% tổng số hàng tiêu dùng qua hệ thống bán lẻ ở Trung Quốc.

Tôi không thấy chỉ số bất bình đẳng ở Việt Nam thời gian gần đây. Có lẽ không bằng Trung Quốc. Nhưng chắc chắn là cao hơn hẳn mức trung bình trên thế giới. Chỉ cần quan sát chung quanh một chút, chúng ta cũng thấy ngay được điều đó. Trong khi đại đa số dân chúng vật lộn với cuộc sống hàng ngày, kiếm ăn được ngày ba bữa đã toát mồ hôi hột, vô số cán bộ giàu có đến độ tiêu xài cách mấy cũng không hết. Gần đây, khi thực phẩm Việt Nam bị nhiễm độc trầm trọng, nhiều người có sáng kiến sang Singapore đi chợ. Cứ mỗi tuần hay hai tuần, họ sang Singapore một lần. Ðể mua thịt, rau và trái cây tươi.

Chưa bao giờ người Việt Nam xài sang đến như vậy.

Chỉ tiếc, đó chỉ là một số ít. Những người có quyền chức. Những người “đầy tớ của nhân dân”.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

The Pentagon Papers
http://www.archives.gov/research/pentagon-papers/
All files in the "Title" column are in PDF format.
Due to the large file sizes, we recommend that you save them rather than try to open them directly.


Sau 40 Năm Bí Mật

Đầu mùa hè năm 2011, thế giới lên cơn sốt về việc Trung Cộng tạo căng thẳng ở Biển Đông thì ai nấy đều ngóng trông nơi Hoa Kỳ với niềm hy vọng Hoa Kỳ sẽ là cứu tinh giúp họ đối phó với mộng bành trướng của Trung Cộng. Nhưng ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho giải tỏa (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan hơn 40 năm trước làm cho niềm tin của nhiều người nơi Hoa Kỳ tan thành mây khói. Sau đó, National Security Archive ởGeorge Washington University đưa ra thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại đi vào chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai càng làm cho nhiều người nhìn ra sự thật phũ phàng Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự làm hòa và giao thương với Trung Cộng.

Tài liệu này tung ra làm cho hồi ký của Kissinger xuất bản năm 1979 (The Memoirs) không còn giá trị vì nhiều điều trong hồi ký của Henry Kissinger viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Hồi ký của Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân. Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ là tối thượng cho dầu chính sách này đưa đến sự phản bội những đồng minh cũng như phải dấu diếm và lừa cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ.

Đầu thập niên 1970s, Hoa Kỳ thay đổi sách lược bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô buộc Hoa Kỳ phải hất Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Trung Cộng vào thay thế vị trí này. Cách đây 40 năm, Hoa Kỳ đã công nhận chỉ có một nước Trung Quốc, và Đài Loan cũng chỉ là một tỉnh của Trung Quốc với một thể chế đặc biệt!! Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này 40 năm và sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách này cho đến khi Đài Loan danh chính ngôn thuận thống nhất với Trung Quốc, và thường thì khi sự thống nhất xảy ra, Trung Quốc lúc đó có thể chế đa đảng.

Tài liệu cũng cho thấy Trung Cộng đặt điều kiện giải quyết vấn đề Đài Loan đi đôi với giải quyết chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để cho Cộng Sản Việt Nam chiếm cả nước, và Hoa Kỳ phủi tay trong một thời gian vài thập niên bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng tạo ảnh hưởng. Tài liệu cho thấy khi ấy Bắc Việt rất bối rối và chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B52 bỏ bom ở Hà Nội, và nếu Hoa Kỳ tiếp tục bỏ bom thêm 2 tuần nữa thì Hà Nội có lẽ đã đầu hàng, nhưng vì đã thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom như một hình thức vất đi chiến thắng đang ở trong tầm tay! Cũng vì chính sách này nên tháng Giêng năm 1974, Trung Cộng đưa hải quân đánh Hoàng Sa, Hải Quân VNCH chiến đấu và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu nhân đạo thôi thì Đệ Thất Hạm Đội nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu nhưng vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan ức tại Biển Đông.

Tại sao Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tiết lộ những bí mật này? Có phải họ có lòng thành tiết lộ những bí mật đầy lừa lọc và phản trắc đối với các đồng minh của họ? Bí mật lịch sử đã vén màn, liệu những đồng minh của Hoa Kỳ có còn tin tưởng nơi Hoa Kỳ như họ đã có trước đây?

Thật ra Hoa Kỳ ở trong tình thế không thể giữ bí mật lâu dài được nữa vì trước đây những chi tiết này đã rò rỉ ra ngoài hầu hết rồi và nếu cứ tiếp tục dấu diếm những điều mà mọi người đã đoán biết thì hệ quả của nó còn tai hại hơn cả việc tiết lộ. Cách đây 40 năm, ông Daniel Ellsberg đã tiết lộ những bí mật này cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ. Ngày hôm nay, Văn Khố Quốc Gia tung ra những tài liệu cách đây 40 năm chỉ là để xác nhận cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác, thôi, mọi người đừng đoán già đoán non nữa.


Ông Daniel Ellsberg là người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago (sinh ngày 7/4/1931), là một người phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội. Ông từng là nhân viên của RAND Corporation. Rand là chữ viết tắt của Research and Development, một công ty bất vụ lợi chuyên phân tích tình hình cho Quân Đội Hoa Kỳ và Doughlas Air Company là một công ty chế tạo các vũ khí cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Rand có 1600 nhân viên và trong 1600 nhân viên này có những người làm cho tình báo Hoa Kỳ.

Năm 1954, sau khi tốt nghiệp ở Harvard, Daniel Ellsberg gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ. Ông ra trường đứng đầu lớp cả 1000 người. Mang lon Thiếu Uý, ông trở thành tiểu đội trưởng. Sau 2 năm phục vụ cho Hải Quân, ông được trở về công việc dân sự, ông tiếp tục học ở Harvard và tham gia giúp Rand chuyên phân tích tình hình quân sự. Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ Quốc Phòng và ông tham gia biến cố hạm đội USS Maddox xảy ra ở Vùng Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin) năm 1964. Khi ấy Hoa Kỳ nói rằng Bắc Việt tấn công hạm đội USS Maddox để lấy cớ đó tấn đánh Bắc Việt nhưng bây giờ tài liệu đã giải mã, chính Hoa Kỳ dàn dựng vụ này hơn là Bắc Việt. Năm 1965, ông được chuyển sang làm Bộ Ngoại Giao đặc trách phân tích tình hình Việt Nam. Năm 1967, ông trở về làm cho Rand và cho Bộ Quốc Phòng, trực tiếp chịu trách nhiệm với Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Năm 1969, ông không có thiện cảm sách lược của Hoa Kỳ với Cuộc Chiến Việt Nam và sau khi nghe Randy Kehler (sinh năm 1944), một trong những người phản chiến thuyết trình cách hùng hồn, ông Daniel Ellsberg trở thành một trong những người chống chiến tranh. Sau khi đã có thiện cảm với nhóm phản chiến và ở cương vị là một người có thể tiếp xúc được những tài liệu tối mật của quốc gia, cùng với Anthony Russo (1934-2008) làm ở Rand, Daniel Ellsberg bí mật sao lại (copy) nhiều tài liệu tối mật và rò rỉ ra ngoài cho báo chí biết. Tài liệu rò rỉ bí mật này được giới truyền thông Hoa Kỳ đặt tên cho làPentagon Papers. Năm 1970, Daniel Ellsberg cố gắng ảnh hưởng trên các Thượng Nghị Sĩ bằng cách thuyết phục các đổng lý văn phòng (chiefs-of-staff) của các Thượng Nghị Sĩ những tàn hại về Chiến Tranh Việt Nam.

Chủ Nhật ngày 13/6/1971, lần đầu tiên báo Times đăng trích đoạn từng phần 7000 trang . Tổng Thống Richard Nixon và Henry Kissinger bị cú đấm bất ngờ, lập tức phản ứng cách hung hãn, cách chức nhiều người họ nghi hoặc. Tổng Thống Nixon nói: “Hãy cách chức ngay những tên đầu não.” Nội các của Tổng Thống Nixon nộp đơn khẩn cấp xin Tối Cao Pháp Viện ngăn cấm không cho Times và các báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật của Quốc Phòng. Times và các cơ quan truyền thông báo chí nhất quyết không chịu tiết lộ Daniel Ellsberg là nguồn gốc nhận tin của họ. Daniel Ellsberg phải trốn chui trốn nhủi trong bí mật cả 2 tuần. Sau 2 tuần, Tối Cao Pháp Viện phán quyết Times có quyền tiếp tục đăng tải những thông tin tối mật của Bộ Quốc Phòng được rò rỉ tới họ vì đây là Tự Do Ngôn Luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất. Phán quyết này như một cú tát tai vào mặt nội các của Tổng Thống Richard Nixon.

Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg và bạn đồng nghiệp Anthony Russo nộp mình cho FBI ởBoston Massachussett. Chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ truy tố 2 người vi phạm Đạo Luật Tình Báo Năm 1917 (Espionage Act 1917). Sau 2 năm điều tra và nhiều biến chuyển, vào tháng 5 năm 1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này. Sau vụ án này, Daniel Ellsberg đi thuyết trình nhiều nơi về các đề tài chính trị cũng như những bí mật lịch sử liên quan đến Việt Nam và Đài Loan.

Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã tiết lộ những bí mật cách đây hơn 40 năm và hiện nay Daniel Ellsberg còn sống và còn đi thuyết trình những vấn đề đó nên Văn Khố Quốc Gia chấp nhận bạch hóa hồ sơ. Khi bạch hóa hồ sơ thì một hình thức nào đó họ cũng xác nhận chính sách của Hoa Kỳ là “quyền lợi của Hoa Kỳ là tối thượng” nên sẵn sàng bất chấp cả sự phản bội đối với đồng minh để đạt mục tiêu. Trong tương lai, những ai muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải biết điều này mà trong luật họ gọi đó là caveat emptor – let the buyer beware, làm bạn với Mỹ và nếu Mỹ đâm sau lưng cách bất ngờ thì đừng có than trời trách đất.


Lời Kết: Hoa Kỳ là siêu cường số 1 trên thế giới hiện nay nên không giao dịch hoặc làm bạn với Hoa Kỳ thì thiệt hại rất nặng nề. Làm bạn với Hoa Kỳ thì phải biết được ưu và khuyết điểm của Hoa Kỳ, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng nơi Hoa Kỳ để rồi không biết tự xây dựng thực lực cho chính bản thân mình thì có ngày vì quyền lợi của Hoa Kỳ, họ bán đứng không kịp trở tay thì đau lòng vô cùng. Trở lại vấn đề Biển Đông, chắc Hoa Kỳ và Trung Cộng đã có một thỏa thuận ngầm gì ở đàng trong rồi nên Bộ Trưởng Quốc Phòng của Trung Cộng là Trì Hạo Điền mới dám mạnh miệng tuyên bố với Hoa Kỳ là “hãy chia đôi Thái Bình Dương” và trong tháng 6/2011 Bắc Kinh đổ hơn 1000 tỷ Mỹ Kim mua công khố phiếu của Hoa Kỳ. Chỉ có chế độ đa đảng và sự đoàn kết của người Việt trong và ngoài nước thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Thiếu một trong 2 yếu tố này, nguy cơ mất nước của Việt Nam rất là gần kề./.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Quân đội Trung Quốc được lệnh sẵn sàng chiến đấu trong năm 2013

Thanh Phương (RFI) -
Theo tờ China Daily số ra hôm nay 15/01/2013, quân đội Trung Quốc đã được chỉ thị phải nâng cao khả năng chiến đấu trong năm 2013, giữa lúc căng thẳng gia tăng với Nhật Bản do tranh chấp chủ quyền lãnh hải. Tờ China Daily, tờ báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho biết là trong năm 2013, "Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và Lực lượng Công an Vũ trang Nhân dân Trung Quốc phải tập trung vào mục tiêu sẵn sàng chiến đấu và giành chiến thắng trong một trận đánh".

Chỉ thị này được đưa ra trong một tài liệu được bộ tổng tham mưu quân đội Trung Quốc phổ biến vào đầu năm nay về chương trình huấn luyện quân sự 2013, được đăng lại trên một trang web có liên hệ với một nhật báo của quân đội Trung Quốc.

Tài liệu nói trên còn ghi rõ, để chuẩn bị chiến đấu, các lực lượng vũ trang Trung Quốc cũng phải "quyết tâm nâng cao luyện tập như trong điều kiện tác chiến thật" và "nỗ lực nâng cao trình độ của các sĩ quan cao cấp."

Xin nhắc lại là bản báo cáo về những mục tiêu quân sự cho năm 2012 đăng trên báo chí Nhà nước Trung Quốc vào năm ngoái đã không kêu gọi quân đội sẵn sàng chiến đấu, mà chỉ nêu những mục tiêu tổng quát hơn, như cải tổ công tác huấn luyện và thúc đẩy phát triển công nghệ thông tin.

Hiện giờ, Trung Quốc đã có một lực lượng quân đội lớn nhất thế giới, với ngân sách quốc phòng mỗi năm tăng với tỷ lệ hai con số trong thập niên qua. Bắc Kinh cũng đã có nhiều bước tiến trong lĩnh vực công nghệ vệ tinh nhân tạo và đã đầu tư rất nhiều vào các vũ khí tối tân, trong đó có chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên, tuy rằng về mặt công nghệ quân sự Trung Quốc vẫn còn thua xa Hoa Kỳ.

Tài liệu vừa được bộ tổng tham mưu quân đội Trung Quốc công bố không nhắc gì đến tranh chấp giữa Bắc Kinh với Tokyo về chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông. Căng thẳng giữa hai nước do tranh chấp này đang gia tăng và có chiều hướng leo thang hơn nữa, với việc các chiến đấu cơ của Trung Quốc và Nhật Bản vào tuần trước truy đuổi nhau trên không phận khu vực Senkaku/Điếu Ngư.

Đài truyền hình Nhà nước NHK hôm qua loan tin là Nhật Bản sẽ điều động thêm tàu tuần tra để tăng cường bảo vệ quần đảo này và đã tiến hành cuộc tập trận đầu tiên với kịch bản là giành lại một đảo "do địch quân chiếm giữ". Cuộc tập trận huy động đến 300 quân và khoảng 20 phi cơ và trực thăng. Năm ngoái, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã hủy bỏ một cuộc tập trận với kịch bản tương tự, có lẽ vì không muốn đụng chạm Bắc Kinh.

Cũng để nâng cao khả năng chiến đấu, Nhật Bản hôm nay vừa mở một cuộc tập trận chung với Hoa Kỳ ở ngoài khơi đảo Shikoku, đảo lớn thứ tư của Nhật. Tham gia cuộc tập trận này về phía Mỹ có máy bay tiêm kích FA-18 và 90 binh sĩ ; về phía Nhật có 4 chiến đấu cơ F-4 và một số quân nhân không được xác định.

Chính phủ của tân thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, một nhân vật nổi tiếng có chính sách ngoại giao cứng rắn, đã tỏ quyết tâm dứt khoát không nhân nhượng Trung Quốc trên vấn đề chủ quyền quần đảo Senkaku. Khả năng xảy ra xung đột quân sự giữa hai nước nay là một khả năng không thể loại trừ.

Thanh Phương

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130115- ... g-nam-2013

Post Reply