QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Yêu Thương Luôn Kẻ Thù –

Phạm Hồng Ân

Tiếng chuông cửa reo vang, tôi chưa kịp đứng lên, chợt thấy bóng người đàn ông dán sát bên tấm cửa sắt từ lúc nào. Triều lật đật quay ngược tấm bìa xuống bàn, rồi chạy ào ra hướng cửa, mở khóa cót két.
- Ê, Thuần. Khỏe không? Ma quỉ nào chỉ lối dẫn đường, hôm nay lại đi lạc xuống khu bình dân này vậy?
Người đàn ông cười hề hề.
- Đi mời đám cưới. Còn có đứa con gái út, xin mời ông bà đến tham dự đưa cháu về nhà chồng. Mấy hôm nay cháu buồn rười rượi. Con gái mà...lần đầu xa cha mẹ...
Triều ngó qua tôi, trỏ vào người đàn ông.
- Thuần đó! Anh ta thuộc Hội Thánh Tin Lành Linda Vista. Làm hãng, nhưng có nghề tay trái là nhiếp ảnh. Anh đã tạo nhiều tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng trong cộng đồng.
Triều nhào đến Thuần, kéo tay hắn gắn chặt vào tay tôi.
- Thằng này là thằng Ân. Chắc mày cũng biết? Tau đang vẻ tranh bìa cho tập thơ của nó.
Thuần lại cười hề hề. Giọng cười buông thả. Tiếng nói chầm chậm, an lành...làm tôi nhớ đến một người bạn tù ngày xưa.
- Mẹ, Phải mày là Thuần Cạo không? Thuần trại tù Cao Lãnh chứ gì? Chuyên môn vác túi đi cạo gió, châm cứu cho các bạn tù bệnh hoạn chứ gì?
Thuần nhào tới, ôm tôi vào lòng.
- Đúng rồi. Thuần Cạo đây! Mày là Ân Ghẻ phải không?
Hai bạn tù gặp lại nhau, lòng bùi ngùi nhắc lại kỷ niệm xưa. Thế là, dỉ nhiên, tôi có một tấm thiệp cưới tham dự vào ngày vui của con gái bạn mình.
*

Trại tù Cao Lãnh nguyên là trung tâm huấn luyện Trần Quốc Toản của quân đội cộng hòa ngày trước. Sau ngày "xập tiệm", hàng ngàn sĩ quan miền nam bị đưa vào đó để tự khai tự kiểm, sau đó cộng sản mới phân loại đưa ra Bắc hoặc đi lao động khắp nơi. Tôi gặp Thuần ở đây.

Chúng tôi ngủ khác "sam" nhau, nhưng cùng chung một đội. "Sam" Thuần và "sam" tôi nằm nối tiếp theo đường dọc, chỉ cách nhau bởi một khoảnh sân đầy đá cục lởm chởm. Đội tù chúng tôi là đội tù cấp úy. Còn cấp tá thì "đóng đô" phía bên kia đường, ngó ra cái tiểu lộ đìu hiu dầy đặc ổ gà. Một hôm, bên đội tù cấp tá lao nhao lên vì có một ông trung tá nào đó treo cổ tự tử. Đội tù cấp tá lao nhao kéo đội tù cấp úy lao nhao theo. Khí tiết anh hùng của quân đội cộng hòa vẫn tiếp diễn, nối tiếp nhau cho đến khi bị cầm tù. Đội tù lau nhau, chỉ có Thuần lặng lẽ một mình rút lui ra cây trứng cá, tìm một chỗ vắng vẻ ngồi xếp bằng im lìm, mắt nhắm lại, mặt bất động...lạnh như đá. Thấy lạ, tôi phóng theo Thuần, lắc vai bạn.
- Mày cảm thấy thế nào? Có sao không Thuần?
Thuần mở mắt ra, nhìn tôi buồn buồn.
-Tau đang cầu nguyện cho ông trung tá vừa mất ở đội tù bên kia. Mày ngồi xuống đây, hiệp lực cầu nguyện với tau, nhanh lên!
Tôi loay hoay, lúng túng. Nào có biết cầu nguyện là ra làm sao? Nhưng cũng ngồi xuống với bạn, khấn vái theo ý niệm của mình.

Từ đó, tôi mới biết Thuần theo đạo Tin Lành. Đạo Tin Lành là đạo thờ Chúa. Tôi không biết những tín hữu theo đạo này đều có phong cách giống Thuần không? Riêng ở Thuần, anh quá hiền lành, quá độ lượng. Anh moi thùng rác chứa đồ phế thải của trung tâm huấn luyện ngày xưa tìm từng tấm thẻ bài, để dành cạo gió cho các bạn tù. Anh lượm những dây điện thoại hư hỏng, cắt từng khúc làm thành những cây kim châm cứu giúp người. Gặp việc khó, anh không từ nan. Lúc bực mình, không hề nóng nảy, giận dữ. Giọng nói anh luôn luôn chầm chậm, từ tốn mang an lành đến với mọi người. Nụ cười anh bao giờ cũng hề hề, thứ tha và bao dung trong mọi hoàn cảnh.

Hình ảnh lượm lặt trên internet về người tù cải tạo. Các anh về chuẩn bị lương thực mười ngày... cú lừa lịch sử của cộng sản đối với người lính miền nam.

Rồi có một ngày thăm nuôi, đội tôi lại lao nhao vì cái tin vợ Thuần bỏ chồng đi lấy người khác. Tụi nó đồn um lên, vợ Thuần dắt người chồng mới đến giới thiệu, rồi nói lời chia tay với Thuần từ đây. Tôi bán tín bán nghi, vội chạy tìm Thuần hỏi ra sự thật. Thuần đang lui cui soạn mớ đồ nghề cho vào túi, chuẩn bị qua "sam" láng giềng châm cứu cho người bệnh.
- Sao? Thăm nuôi có gì vui không? Chị nhà vẫn khỏe?
Thuần cười hề hề.
- Cũng bình thường thôi. Bả vẫn khỏe re như con bò kéo xe.
- Bò kéo xe mà sao khỏe re, cha nội?
Thuần lại cười hề hề.
- Nó khỏe re nên nó mới kéo xe. Mà này, tau vừa có được thuốc Xuân Lộc ngon lắm, để tau chia cho mày một nửa.
- Được rồi, vụ đó sẽ tính sau. Bây giờ, xin hỏi ông một chuyện. Có trật thì bỏ qua. Có trúng thì chia xẻ với nhau. Đồng ý?
Thuần lại cười hề hề.
- Chuyện gì quan trọng thế? Bạn cứ hỏi mình đi!
- Vợ ông đã chia tay với ông, phải không?
Giọng Thuần chùng xuống, chầm chậm một cách nhẹ nhàng.
- Bà xã tôi có chồng khác rồi. Tội nghiệp, trước đây cô ta là học trò nghèo. Lấy tôi, cũng là thằng lính nghèo. Ông biết, thời buổi này, không nghề ngỗng gì, lại ôm thêm hai thằng con dại. Cô ta đành nương tựa vào người khác, đó là điều tất nhiên.
- Trời đất! Điều tất nhiên. Có nghĩa là ông không buồn đau, không than trách chi hết? Nhưng còn hai thằng con? Tệ nhất, ông cũng phải thương xót chúng nó chứ?
- Cô ấy nói, người đó hứa bảo bọc dưỡng nuôi hai đứa nhỏ một cách đàng hoàng. Mình lo không được, có người lo dùm. Mình chưa có dịp cám ơn họ, ở đó mà còn than với trách?
Bỗng dưng, Thuần kéo tôi vào lòng, vỗ nhẹ vào vai thân mật.
- Thôi, mình dẹp chuyện rắc rối này qua một bên đi. Biết đâu đây là ý Chúa. Biết đâu Chúa đang thử thách tôi đó!
- Sao Anh biết đây là ý Chúa?
Thuần cười hề hề.
- Mình phải có đức tin chứ! Đức tin là ngọn đuốc, soi đường cho mình đi tới. Không có đức tin, chúng ta dễ mù quáng trong cuộc đời...

Đám cưới con gái Thuần tưng bừng và thân mật. Khách tham dự đa số là dân HO. Số còn lại là tín hữu, các đồng nghiệp và các bạn nhiếp ảnh nghệ thuật. Hai ông xui, ngày trước, chung cảnh ngộ tù đày... nên dễ cảm thông nhau, hợp cùng hai bà xui ra tận cổng nhà hàng chào đón bà con cô bác đến chung vui. Đêm đó, Thuần sáng tác một bản nhạc tiễn cô con gái thân yêu về nhà chồng. Bản nhạc do chính cô dâu ca với tất cả tấm lòng. Lời và nhạc quyện vào nhau báo hiệu hạnh phúc mới đang tràn ngập ở phía trước, nhưng cũng nhắc nhở nỗi đau còn ràn rụa ở phía sau... khiến người ca tuôn rơi nước mắt, bồi hồi xúc động trước tình khúc của cha mình.

Tôi ngồi với Triều nơi góc cuối của nhà hàng nhìn Thuần tất bật tiếp đãi bà con một cách nồng hậu. Thuần lúc nào cũng vậy. Thành thật, hiền từ và hết lòng với mọi người. Trong tù cũng như ngoài đời, anh luôn cống hiến tài năng và sự hiểu biết của mình để giúp đỡ xã hội.

Nhắc đến cảnh tù, tự dưng quá khứ lại hiện về trong tôi một cách xót xa. Thuần bị vợ bỏ ngay từ lúc còn ở trại tù Cao Lãnh, vậy bà vợ này là bà vợ thứ hai của Thuần? Nếu là bà vợ thứ hai thì hai đứa con gái sau này là con ai? Vì nếu tính tuổi của con gái út thì năm cháu sinh ra cũng là năm Thuần nằm sầu đời trong trại tù?

Tôi đem những thắc mắc này chia xẻ với Triều. Triều ngó tôi xuýt xoa, thằng Thuần tốt lắm tốt lắm, ngày mai có dịp tau sẽ giải thích cho mày...


Ra tù, Thuần về thẳng tá túc nhà cha mẹ ruột, khi biết chắc vợ mình đang sống hạnh phúc với người đàn ông khác. Nhà cha mẹ Thuần cách nhà vợ không xa, cả hai đều nằm chung trong khu Xóm Chùa Tân Định. Hai đứa con trai bây giờ đã lớn, mỗi ngày đến trường đều đi ngang qua nhà Thuần. Hai đứa đều biết mặt cha, vì từ nhỏ Mẹ đã nhiều lần dẫn con về Cao Lãnh thăm nuôi Thuần. Mỗi tuần, các cháu về thăm ông bà nội một lần. Lần nào, chúng cũng quây quần bên cha, hoặc ăn uống vui vẻ và sẵn sàng đi đây đi đó với cha suốt ngày. Thời gian sống với người đàn ông khác, vợ Thuần cho ra đời thêm hai đứa con gái nữa. Mười bốn năm đằng đẵng trôi qua, Thuần chỉ biết đạp xích lô mưu sinh. Sáng nào cũng vậy, trước khi thả ra Sài Gòn tìm mối, Thuần đạp một hơi qua nhà vợ cũ, chở hai đứa con ruột và hai đứa con của người đàn ông kia đi học. Buổi trưa, canh giờ tan học, Thuần quành về cổng trường, chở các cháu trả về nhà vợ.

Tôi ngồi bên tách cà phê đã lạnh tanh nghe Triều kể chuyện. Câu chuyện thương tâm đến nỗi tôi muốn uống rượu để dằn cơn đau xót, thay vì nhắp tách cà phê đậm đà hương vị. Cuối cùng, tôi đẩy cái tách sang một bên, vội vàng đứng dậy, đi về phía cánh cửa.

- Rồi diện HO mở rộng. Lý do nào vợ Thuần lại trở về với Thuần, rồi cùng nhau đi Mỹ, có cả hai đứa con gái của người đàn ông kia?
- Còn lý do nào khác ngoài tình thương và lòng nhân từ. Đó là điểm tốt của Thuần. Một người rất hiếm có ở xã hội chúng ta.
- Người đàn ông kia thì thế nào? Ông ta không có ý kiến nào hết?
Triều tiến đến gần tôi, vỗ lên vai độp độp.
- Ông thơ ngây quá! Sau 30 tháng tư năm 1975, ở miền nam, không có thằng "cốm" việt cộng nào không có vợ con đùm đề. Người đàn ông kia cũng vậy, hắn nhào vô vợ Thuần cũng chỉ để "vui chơi" một thời gian thôi. Tội nghiệp, hai đứa cháu gái chẳng khác nào hai giọt máu rơi của hắn.
- Vậy là Thuần thương vợ thương con, thương luôn cả hai giọt máu rơi đó, nên đã đứng ra làm giấy tờ đưa tất cả qua Mỹ?
- Chưa hết. Qua đây, Thuần làm luôn hai "ca" nuôi bốn đứa con ăn học. Hôm nay, bốn đứa thành tài, tất cả đều có nghề nghiệp ngon lành. Đặc biệt, bây giờ hai đứa con gái lại thương và chăm sóc Thuần hơn hai đứa con ruột.
Tôi chợt nhớ có lần đọc đâu đó những lời răn của Đức Chúa Trời.
- Ê, Ông biết Thuần có đạo Chúa. Tôi nhớ mài mại là...một trong những điều răn của đạo... đại khái có một câu như vầy: Hãy yêu thương mọi người như yêu thương chính bản thân mình.
Triều giả giọng Thuần cười hề hề.
- Yêu thương luôn kẻ thù của mình.


Thuần thân, Tau muốn viết chuyện này từ lâu, nhưng mỗi lần khởi sự, tau cảm thấy ngần ngại, rồi dừng lại. Mấy chục năm rồi, vết thương dường như đã thành sẹo, tau không muốn khơi lại quá khứ đau thương, tau không muốn làm mày xót xa, nhức nhối khi nhắc lại. Nhưng càng ngày, hình ảnh và tấm lòng cao quí của mày cứ thôi thúc, cứ bức rức trong tau, khiến tau không thể không viết lên chuyện này.

Thuần thân, biết đâu câu chuyện thương tâm này sẽ góp một phần nào vào dòng lịch sử tang thương của dân tộc, sau 30 tháng tư năm 1975. Nếu không, câu chuyện cũng sẽ là tấm gương cho bọn đàn ông của cả hai chiến tuyến. Và nếu không nữa, tau xin thật tình vô vàn tạ lỗi cùng mày...

Phạm Hồng Ân

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Một Chút Kỷ Niệm với BIỆT ĐỘNG QUÂN
Vũ Ánh

(Viết tặng Tập san BĐQ và các bạn đồng khóa 105 Nhảy Dù. Luôn luôn tưởng nhớ anh linh Tướng Trần Văn Hai)


Cuối 1967, Lê Phú Nhuận bị gọi động viên vào Thủ Đức rồi đến Dương Phục và sau đó là tôi.
Sau này tôi và Nhuận được biệt phái trở lại Cục Vô Tuyến Truyền Thanh, Dương Phục về Đài Quân Đội.
Chúng tôi vẫn là những người bạn thân, chia sẻ với nhau những tin tức mặt trận với cường độ các cuộc chạm súng ngày một dữ dội hơn.
Chúng tôi không còn thời giờ nào để thực hiện những dự án tự nguyện đi dự những khóa học đặc biệt,
nhất là khóa rừng núi xình lầy và viễn thám, để có dịp thử sức chịu đựng của mình nữa.

Image

Hành quân Lam Sơn 719 - Lào : 13-03-1971

Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, Dương Phục đã vào đến Tchepone nhưng rồi lại phải rút ra theo Sư Đòan 1. Cũng vào khoảng thời gian ấy tôi bị gọi về để giữ một vai trò khác: trưởng phòng Bình Luận và đặc phái viên của Vô Tuyến Truyền Thanh tại Phủ Tổng Thống. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là người đi rất khỏe và hay đi kinh lý dài ngày. Những chuyến đi như thế rất vất vả, một ngày ông đi như vậy đến cả chục địa điểm. Ngồi trực thăng lên xuống ngày vài chục lần, “thổi harmonica” (gặm bánh mì), uống nước bi đông cũng đủ sức giúp tôi xuống cân rất mau. Thời đó, phương tiện điện thọai còn rất khó khăn, chất lượng xấu và chậm tiến hơn rất nhiều so với các nước Đông Nam Á. Cho nên khi về nghỉ ngơi tạm ở một thành phố nào đó, chúng tôi mất rất nhiều thời gian kiếm chỗ gởi tin để Đài Saigon có thể loan trước Đài BBC. Vị Tổng Giám Đốc của chúng tôi giai đọan này là Trung Tá Phạm Hậu, ít khi chấp nhận chuyện một chuyến đi của Tổng Thống có đặc phái viên của Đài theo, mà lại loan tin chậm hơn BBC hay VOA. Vì thế cho nên, tôi phải tìm ra cách gởi tin trong một thời gian nhanh nhất: viết dần trên máy bay hay trực thăng, tìm kiếm những hậu cứ của những đơn vị quân sự mà tôi quen biết để gởi tin qua hệ thống điện thọai quân sự, thay vì dùng hệ thống viễn liên của bưu điện. Nhưng dù sớm thì cũng phải đến 9 giờ tối mới xong mọi chuyện. Về tới khách sạn cũng gần 11 giờ. Chỉ còn có cách kiếm chỗ bán cháo trắng hột vịt muối mà thôi.

Vào giai đọan cao điểm của kế họach Việt Nam hóa chiến tranh, tôi được đôn lên chỉ huy Sở Thời Sự, một loại công vụ hay gặp nhiều rắc rối và phiền toái nhất của Hệ Thống Truyền Thanh, nhưng song song vẫn phải làm công việc của một đặc phái viên. Tôi bơi ở trong cái giòng chảy của những biến chuyển rất nhanh, cho đến trưa ngày 30-4-1975, vài ngày trước ngày tôi còn 34 tuổi. Phim cháy.

Ngày nay, nhìn lại những công việc mà chúng tôi đã từng làm, từng trải qua, khó khăn nhiều hơn là thuận lợi, hai đồng nghiệp thân thiết từng chia sẻ với tôi những cảm quan, và cách nhìn cuộc chiến Việt Nam, lúc trà dư tửu hậu trong cảnh lưu vong là Nhuận, Phục thường hỏi tôi: có tiếc gì không? Tôi nói không cần suy nghĩ: còn gì để thua nữa mà tiếc.

Chúng tôi đã chứng kiến cuộc chiến đấu của những người lính VNCH, đã thấy họ tử trận hay phải để lại một phần thân thể nơi chiến trường, đã thấy họ chiến thắng, và không hiếm những khi họ nếm thảm bại. Chúng tôi không hề thấy lính nào hào hoa, cũng chẳng thấy lính nào là nữ hòang của chiến trường. Lính là cực, là nhọc, là mồ hôi, là máu, là súng, là đạn, là can đảm, là hèn nhát. Họ chiến đấu không phải là để được tôn vinh là hào hoa hay là nữ hòang. Họ chiến đấu vì chính họ, gia đình họ, vì lý tưởng tuổi trẻ. Hồi Tết Mậu Thân lần thứ hai, tôi và Dương Phục bị kẹt ở mặt trận Tân Thới Hiệp. Đơn vị mà chúng tôi đi theo có nhiệm vụ phải chiếm lại cái am xây bằng đá ong gần nhà máy Vị Hương Tố. Trong am bọn Việt Cộng bố trí một tổ tam tam: một B-40, một thượng liên và một AK-47, lựu đạn chày. Suốt từ 12 giờ trưa đến 5 giờ chiều, đơn vị này mở nhiều đợt xung phong, nhưng đều vô hiệu.
Image
Một phi tuần AD-6 vần vũ, lồng lộn trên trời, nhưng đành chịu vì những người lính trong đơn vị vừa rồi không thể lùi ra xa đủ an tòan, để oanh tạc cơ oanh tạc. Lính chết và bị thương được lôi ra gần chúng tôi, thân thể đầy máu và rên la. Trong lúc ấy, lệnh từ chiếc CNC bay trên đầu chúng tôi chuyển xuống qua chiếc loa phụ nhỏ của chiếc PRC-25 của người Đại Đội Trưởng nằm cách tôi vài thước, giọng cứ đều đều: “Vào đi em, lon đấy em, vào đi em…”. (Ý là hãy cố gắng tiến vào đi, lon thăng cấp chờ sẵn). Tôi hoàn toàn phản đối cách này. Tôi cho rằng cái đích của cuộc chiến đấu của những người lính qủa cảm này không phải là lon lá. Mạng sống của chính mình và của các đồng đội, không thể đánh giá bằng một lời hứa thăng cấp vào hòan cảnh đó. Hứa nhử như thế là xỉ nhục họ. Cái mà người lính cần lúc đó là sự trợ lực tinh thần và sự điều động khôn khéo của người chỉ huy cao cấp hơn, để giúp họ thóat khỏi thế kẹt. Cuộc phản công tạm ngưng ban đêm và sáng sớm hôm sau. Viên sĩ quan đại đội trưởng đã chỉ huy lính của ông kiễn nhẫn phá thế cài răng lược của địch phía sau, và cho lính lùi ra xa hơn để cho trực thăng võ trang làm thịt bằng hỏa tiễn.

Tôi chứng kiến bối cảnh trên nhiều lần và ở nhiều nơi khác nhau trên các mặt trận. Thời chiến tranh, biết bao nhiêu sai lầm được bỏ qua, không được đề cập đến trên báo, trên đài, cũng chỉ vì không ai muốn người lính ở tiền tuyến hoang mang. Nhưng đám sâu mọt không hiểu thế. Chúng lợi dụng những taboo đó để làm lợi cho cá nhân mình. Trong đời sống, kể từ lúc còn làm việc bên cạnh những người lính, đủ lọai, từ lính làng, lính quận, lính tỉnh cho tới lính mặc quân phục ngụy trang, tôi tự xây dựng cho mình một quan niệm về người lính VNCH qua những thông điệp, những ước mơ bình thường, mà họ gởi gấm những người làm truyền thông như chúng tôi. Có một lần, trước khi vào Khe Sanh, sinh họat với lính của Đại Đội Hắc Báo ngoài PK.17, tôi hỏi cảm tưởng và ước mơ của một anh binh nhất năm anh tròn 20 tuổi thì được trả lời:”Ước mơ à, nhỏ lắm: chiến tranh mau chấm dứt để tôi được về quê làm ruộng“.

Một lần khác, vào quán cơm bình dân tại chợ Hàn, Đà Nẵng để dùng cơm trưa. Bên cạnh có vài người lính mũ nâu cũng ngồi ăn. Thấy tôi quần jean, áo lính, giầy map, ba lô nón sắt, máy ghi âm, cổ đeo hai ba cái thẻ (lối ăn mặc chung của các phóng viên mặt trận ở câu lạc bộ báo chí sau viện bảo tàng Chàm), một người lính hỏi: “phóng viên chiến tranh hả, từ Cùa hay Ba Lòng về?”. Tôi cười hỏi: “Sao biết”. Một người khác: “Giầy và quần áo bụi, bùn đỏ lòm”. Tôi hỏi” Nghĩ sao về đời lính”. Một người trong nhóm nói: “Cũng khổ, tụi tôi như con ghẻ, bị xài cạn láng”. Tôi hiểu những người lính này ám chỉ đến điều gì. Nhưng rồi cuối cùng chúng tôi cũng chỉ biết cười xòa, hút với nhau điếu thuốc rồi chia tay.
Image
Tướng Trần Văn Hai tại Lam Sơn.

Ba mươi năm trôi qua như một giấc ngủ trưa. Biết bao biển dâu, nên ngày nay tất cả chúng tôi, những phóng viên tiền tuyến đầu tiên của ngành, sẽ không còn lại một chút gì dấu vết của những ngày tháng cũ, nếu không có những ký ức không bao giờ quên được. Riêng đối với những niên trưởng đã cùng với tôi đổ mồ hôi ở khóa 105 Nhảy Dù, tôi mới chỉ gặp lại niên trưởng Ngô Minh Hồng với cái chân vẫn còn vết thương từ một vụ pháo kích của VC ở Bình Long. Thỉnh thoảng tôi có gặp ông Thuyết “lì”. Ổng cứ nhắc bữa nào phải họp khóa. Tôi hứa nhưng tới nay vẫn còn “cuội” vì bận mưu sinh quá.
Còn với cố Thiếu Tướng Trần Văn Hai, tôi cũng đã vài lần mô tả những ngày cuối cùng của ông, nhưng vẫn quên một chi tiết đáng nói. Sau khi mất Ban Mê Thuột, tôi có xuống thăm ông ở Bộ Tư Lệnh Sư Đòan 7 BB ở Đồng Tâm. Lần đó, ông từ chối không cho tôi phỏng vấn. Ngược lại ông đưa tôi lên trực thăng bay gần một tiếng đồng hồ trong vùng Tiền Giang và về sát Saigon. Khi quay trở lại Bộ Tư Lệnh để dùng cơm, ông nói: “Tình hình đáng buồn lắm. Anh chỉ có thể nói với cậu như vậy thôi”.

Ba mươi năm sau, tôi vẫn chưa thể hiểu, đây có phải là lời tiên tri của một vị tướng mà cái chết đã trở thành linh thiêng như ông hay không?

Vũ Ánh

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Cựu Đại Tướng Nguyễn Khánh
từ trần ngày Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013..

Tóm tắt Tiểu sử:

Sanh ngày 8 tháng 11, năm 1927 tại Trà Vịnh

Thân phụ: Cụ Nguyễn Bữu

Phu nhân: Bà Phạm Lệ Trân

Cậu ruột: Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, Cựu Thủ Tướng Chánh Phủ, Bộ Trưởng Nội Vụ, Bộ Trưởng VHGD Thanh Niên VNCH

Binh nghiệp:

- tốt nghiệp khóa 1 Trường Võ Bị Liên Quân Viễn Đông (năm 1946-47).

- tốt nghiệp Học Viện Quân Sự Coetquidan và Saint Cyr Pháp năm 1948.

- sĩ quan VN duy nhất theo học lớp huấn luyện Nhãy Dù và điều khiển phi cơ T7 và JU-52 tại Pau, Pháp , cuối năm 1948.

- ngày 1/6/1949, sĩ quan tùy viên(aide-de-camp) của Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân.

- 1950- 1954: lần lượt đảm nhận Đại Đội Trưởng Biệt Lập Nhãy Dù, chỉ huy Tiểu Đoàn 1 Nhãy Dù, chỉ huy liên đoàn lưu động (GM11), Trưởng Phòng Tình Báo Bộ TTM.

- tốt nghiệp Trường Tham Mưu Paris, Pháp năm 1954-55.

- sau khi hồi hương, trong 2 năm 1955- 57 liên tục thay đổi trong các chức vụ: chỉ huy trưởng Phân Khu kiêm Tỉnh Trưởng Cần Thơ, Chánh Thanh Tra Nhãy Dù, Tham Mưu Phó Bỗ Tổng Tham Mưu kiêm Phự tá Tổng Tham Mưu Trưởng về Không Quân, chỉ huy phó chiến dịch Hoàng Diệu, mang cấp Đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Dã Chiến, sau đó du học Hoa Ky tham dự lớp chỉ huy tham mưu tại Trường Command Staff, Forth Leavenworth, Kansas .

- đảm nhận chức tư lệnh Miền Hậu Giang (vùng 4 chiến thuật) năm 1958.

- Tổng Thư Ky' Quốc Phòng trực thuộc Tổng Thống VNCH, năm 1959.

- trong 2 năm 1960 - 61, đảm nhận lần lượt chức vụ Thiếu Tướng Tư Lệnh Quân Khu 5, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu.

- ngày 20/12/1962 thuyên chuển đến Pleiku nhận chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn II, thay thế Thiếu tướng Tôn Thất Đính về thủ đô nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn III.

- ngày 11 tháng 12, 1963 đến Đà Nẳng đảm nhận chức Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I hoán chuyễn với Trung tướng Đỗ Cao Trí.

- ngày 30 tháng 1, 1964 cầm đầu cuôc chỉnh ly' với sự tham dự của Trung tướng Trần Thiện Khiêm và Đại tá Cao Văn Viên, bắt giữ 5 tướng lãnh Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Nguyễn Văn Vy, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính.

- ngày 8 thang 1, 1964 Trung tướng Ngu ễn Khánh, Thủ tướng Chánh Phủ thành lập nội các.

- ngày 8 tháng 10, 1964 kiêm nhiệm Tổng Tư Lệnh Quân Lực thay thế Đại tướng Trần Thiện Khiêm.

- rời khỏi chức vụ Tổng tư Lệnh Quân Lực ngày 20 tháng 2, 1965; lên đường công du trong chức vụ Đại sứ Lưu Động(Sắc Lệnh đề cử số 046/QT/SL ngày 22 tháng 2, năm 1965 của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu).

Huy chương: Kim Khánh Đệ Nhất Hạng, Đệ Nhị Đẳng Bảo Quốc Chương và nhiều huy chương Quân Sự, Dân Sự QGVNCH và Đồng Minh.

((Tham chiếu tài liệu Wikipedia, The Encyclopedia of The Vietnam War, Lược Sử Quân Lực VNCH)

Nguyễn Nam chuyển

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Cờ Việt Nam Cộng Hòa Trên Nền Trời Thủ Đô Ngày Quân Lực Năm 1973 -

Võ Ý
Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa theo đó mà bành trướng về quân số cũng như canh tân về vũ khí và trang bị quân dụng.
Kể từ lúc ngày 19 tháng 6 được chọn là Ngày Quân Lực thì hằng năm vào ngày đó quân đội tổ chức mít tinh diễn hành trọng thể tại các Quân Khu cũng như tại Thủ Đô Sài Gòn.

Lễ kỹ niệm Ngày Quân Lực qui mô nhất được tổ chức năm 1973. Tất cả đơn vị ưu tú của các quân binh chủng VNCH, các khóa sinh tại các quân trường, Lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia, kể cả Lực lượng Xây Dựng Nông Thôn và Nhân Dân Tự Vệ cũng vinh dự có mặt trong ngày trọng đại nầy.

Sau các thủ tục khai mạc như chào cờ mặc niệm và diễn văn ca ngợi những chiến công lẫy lừng của Quân đội trong sứ mạng Bảo Quốc An Dân là phần diễn hành.

Năm đó phần diễn hành mở đầu bằng một cuộc phi diễn tất cả các loại phi cơ của Không Lực VNCH, như oanh tạc cơ cánh quạt AD6 Skyrider, phản lực cơ A37, F5, phi cơ quan sát loại mới O2, trực thăng đổ quân H1H, trực thăng khổng lồ Chinook, các vận tải cơ Caribou, C47, C123, C119 và C130..

Mỗi hợp đoàn phi diễn từ 3 đến 6 phi cơ.

Mở đầu cuộc phi diễn là một hợp đoàn 5 chiếc Skyrider bay theo đội hình mủi tên. Khi bay ngang khán đài phụ bên trái thì cả hợp đoàn phun ra 10 hàng khói màu vàng và đỏ xen kẻ từ hai bên cánh phi cơ, tạo thành hình lá cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ, cờ Tổ Quốc linh thiêng, lung linh trên nền trời Thủ Đô Sài Gòn thân yêu trong một sáng trong veo chớm hè..

Tiếp theo là phần phi diễn các hợp đoàn còn lại. Người xướng ngôn buổi lễ ( hình như là chiến hữu Văn Thiệt của Đài Phát Thanh Quân Đội bấy giờ? ) với giọng Miền Nam thật trầm hùng, tuyên đọc thành tích cũng như công dụng của từng loại phi cơ phi diễn qua khán đài.

Năm đó, Bộ Tư Lệnh Không Quân treo ba giải thưởng cho các hợp đoàn phi diễn, ( vào khoảng 10 hợp đoàn thì phảỉ). Ban Giám Khảo gồm toàn những phi công bậc thầy đảm trách. Hợp đoàn được chấm giải đựa trên ba tiêu chuẩn sau:
- chính xác giờ khi bay ngang khán đài chính (giờ TOT)
- chính xác cao độ
- chính xác đội hình ( cân đối ngay thẳng và đẹp như vẽ vậy!)
Kết quả là :
- Hợp đoàn phi cơ quan sát O2 chiếm Giải Ba
- Hợp đoàn trực thăng U1H chiếm Giải Nhì
- Hợp đoàn khu trục cánh quạt Skyrider chiếm Giải Nhất, vì đã đạt điểm tối đa cho cả ba tiêu chuẩn đặt ra. Ngoài ra, hợp đoàn nầy còn nhận được một giải thưởng cao quý khác là đã được hàng trăm ngàn đồng bào tham dự buổi lễ tán thưởng bằng những tràng vỗ tay vang rền khâm phục tài nghệ điêu luyện của các phi công ưu tú của Không Lực, đã vẽ được lá cờ Tổ Quốc thân yêu trên nền trời Thủ đô Sài Gòn thân yêu!
Image Người phi công Trưởng Hợp đoàn Skyrider chiếm Giải Nhất là không quân Đan Hoài Bửu, Trung tá Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 514, cựu tù cộng sản 13 năm, hiện định cư thành phố San José. Bốn phi công còn lại là KQ Huỳnh Văn Tưởng ( đã hy sinh ), các KQ Lê Tấn Phát, Nguyễn Đại Điền và Hồ Ngọc Ấn. Một phi tuần nhẹ trừ bị do hai phi công Trần Văn Mười và Nguyễn văn Triết đãm nhiệm, ( nếu một hoặc hai trong 5 phi cơ chính thức phi diễn bị trục trặc thì hai chiếc trừ bị sẽ thay thế ngay)

Rất tiếc chúng tôi chưa sưu tầm được danh tánh quý chiến hữu trong Hợp đoàn Trực thăng chiếm Giải Nhì. Quý độc giả nào biêt rõ thì xin vui lòng bổ khuyết.

Riêng Hợp đoàn Quan sát O2 được tham dự phi diễn lần đầu tiên trong lịch sử Không Lực VNCH với 6 phi cơ quan sát O2 hai động cơ, chia thành hai đội hình, mỗi đội hình ba phi cơ thuộc Phi Đoàn 118 Bắc Đẩu Pleiku. Các phi công tham dự phi diễn là Nguyễn Quang Anh (San José), Đinh Đức Bản (Cali), Nguyễn Huỳnh Hòa (Florida), Lu Thái Hưng, Đặng Khởi Quang (Việt Nam), Đoàn Phan (Canada), Lê Văn Luận (hy sinh trên Biển Đông), Nguyễn Văn Tiếu (hy sinh trong trại tù CS) và Võ Ý (St Louis, MO). Ông bầu của Hợp đoàn O2 là thầy Phạm Ngọc Sang, chuẩn tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, đã dày công chỉ bảo nên Hợp đòan mới nhận được vinh dự nầy.

Hình ảnh Ngày Quân Lực 1973 được thâu băng và ngày nay mỗi lần xem lại cuốn băng video "Sài Gòn Gỉa Biệt" (phát hành vào thập niên 80 thì phải ), khi nhìn lại những đơn vị quân đội oai hùng bước nhịp nhàng theo tiếng nhạc hùng với phần phi diễn thả khói màu thành hình lá Cờ Vàng trên nền trời Tổ Quốc thân yêu, lòng người chiến sĩ nào cũng ngậm ngùi nung nấu.

Ngậm ngùi cho vận nước.

Nung nấu một ngày về dựng lại Cờ Vàng trên Đất Tổ Quê Cha!

Võ Ý

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

LUẬN VỀ NGHI THỨC PHỦ CỜ

Đỗ Ngọc Uyển

Gần đây, các diễn đàn trên internet có phổ biến bài tự thán rất bi tráng mà tác giả (?) được ghi nhận là Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn Nhẩy Dù. Nguyên văn lời nói đầu cùng với bài tự thán như sau:

Mai Tôi Chết Cờ Vàng Xin Đừng Phủ

Tướng Lê Quang Lưỡng (cựu Tư lệnh Sư Đoàn Nhẩy Dù/QLVNCH): “Xin mặc đồ đen, không mặc quân phục, nếu muốn đến tiễn đưa tôi lần chót”. Một vị Tướng-lãnh QLVNCH đã trối-trăn: Tôi làm Tướng không bảo vệ được nước, khi nước mất tôi đã không dám chết theo nước, nên khi tôi chết già yêu-cầu đừng phủ quốc-kỳ lên quan-tài tôi, vì tôi biết mình không xứng-đáng được hưởng nghi lễ nầy.


Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ.
Xác thân này đâu chết cho quê hương?
Súng gươm xưa đã bỏ lại chiến trường!
Thân chiến bại nhục nhằn nơi đất khách!
Hơn nửa đời đã tan rồi khí phách.
Nhớ bạn bè nằm xuống nghĩ mà đau!
Không quan tài cờ phủ giữa chiến hào,
Máu thịt đã thấm vào lòng đất mẹ.
Bao năm trời bao nhiêu người trẻ.
Chết không cần cờ phủ vẫn uy nghi.
Khi nằm xuống bạn nào đã cần gì??
Chỉ ước muốn thân này dâng đất nước.
Ta giờ đây đã tan bao mơ ước.
Chuyện ngày xưa chỉ còn thấy trong mơ…
Ngày về quê càng lúc càng xa mờ.
Thời gian vẫn lạnh lùng theo năm tháng.
Tuổi càng cao lòng càng nghe mặn đắng!
Xót thân này khi chết bỏ lại đây!
Nơi xứ người bạn hữu chẳng còn ai??
Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ.

Lê Quang Lưỡng (?)

Tuy nhiên, cũng có nguồn tin ghi nhận rằng tác giả bài tự thán trên đây là Nguyễn Ngọc Trân, một chiến sĩ biệt động quân. Đây là tâm sự của hai chiến sĩ cùng chung một cảm xúc bi tráng và tự trọng với tinh thần trách nhiệm rất đáng kính phục.

Bài tự thán bi hùng của Nguyễn Ngọc Trân và những lời “trăn trối” tâm huyết của Tướng Lưỡng đã đánh mạnh vào tình cảm mến phục, thương xót của con người. Xin tôn trọng những lời tự thán và “trăn trối” trên đây của Nguyễn Ngọc Trân và Tướng Lưỡng. Tuy nhiên, với tư cách người lính QLVNCH, tôi viết bài này để trình bày một quan điểm về nghi thức phủ quốc kỳ trên quan tài khi người lính nằm xuống.


Khi mặc bộ quân phục, đứng dưới Quốc Kỳ, nguời lính QLVNCH mang trên vai Danh Dự và Trách Nhiệm đối với Tổ Quốc. Dưới lá Quốc Kỳ, người quân nhân hãnh diện được hy sinh vì Tổ Quốc và coi nhẹ cái chết. Suốt một đời đứng dưới Quốc Kỳ, cầm súng bảo vệ Tổ Quốc, khi nằm xuống trong bất cứ trường hợp và hoàn cảnh nào - ngoài trận địa hay trên giường bệnh tại hậu phương - mọi quân nhân đều được Tổ Quốc ghi ơn và được hưởng mọi nghi thức tang lễ đã quy định trong các huấn thị như Nghi Lễ Phủ Quốc Kỳ, được mai táng tại các Nghĩa Trang Quốc Gia, được Dàn Chào Danh Dự khi hạ huyệt…

“Con chim gần chết tiếng kêu thương; con người gần chết lời nói thành thật.” Chúng tôi tin rằng những lời ‘trăn trối” trên đây của Tướng Lưỡng - trong hoàn cảnh sa cơ thất thế và lưu vong - đã thốt ra từ đáy lòng khi cuối đời nghĩ tới những đồng đội dưới quyền đã hy sinh ngoài mặt trận hay còn đang kéo dài cuộc sống tối tăm, mòn mỏi trong tay quân thù ngay trên quê hương Miền Nam. Tướng Lưỡng cũng thốt ra những lời cay đắng, tự trách mình đã không hoàn thành nhiệm vụ đối với quê hương. Do đó, Tướng Lưỡng đã nói lời cuối cùng:

“Xin Đừng Phủ Quốc Kỳ Lên Quan Tài”

Như đã nói ở trên, chúng tôi tôn trọng những lời “trăn trối” của Tướng Lưỡng, nhưng xin không đồng ý về việc từ chối lễ phủ cờ theo quy chế và nghi thức mà Quân Đội và Tổ Quốc đã ban cho ông. Dù trong hoàn cảnh sa cơ thất thế và lưu vong hiện nay, Tướng Lưỡng nói riêng và tất cả quân nhân các cấp đã từng xông pha trận mạc trong suốt 20 năm để bảo vệ quê hương thân yêu Miền Nam sẽ mãi mãi là những anh hùng của QLVNCH. Họ đựợc Tổ Quốc ghi ơn và xứng đáng được hưởng mọi nghi thức mà Quân Đội và Tổ Quốc đã quy định khi nằm xưống.

Mới đây nhất, với tư cách là đồng minh của VNCH trong cuộc chiến chống cộng tại Việt Nam và ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản xuống vùng Đông Nam Á, Tổng Thống Hoa Kỳ đã trao tặng Huân Chương Legion of Merit (Degree of Commander) cho Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC, bằng một sắc lệnh do Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert M. Gates ký. Sắc lệnh này nêu rõ những chiến công anh hùng của Tướng Lân và Sư Đoàn TQLC/QLVNCH trong thời gian từ 30/3/1972 đến 16/9/1972 khi hoàn toàn tái chiếm tỉnh Quảng Trị từ tay quân xâm lăng cộng sản Bắc Việt. Buổi Lễ Trao Tặng Huân Chương được tổ chức ngày 7/3/2009 tại phòng họp của đài phát thanh Radio Saigon, thành phố Houston với sự tham dự của khoảng 20 tướng lãnh và sĩ quan Hoa Kỳ cùng với khoảng 40 sĩ quan QLVNCH. Người đại diện cho Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert M. Gates để choàng giải Huy Chương Legion of Merit (Degree of Commander) trên ngực Thiếu Tướng Lân là Thiếu Tướng William Eshelman, bạn cùng khoá với Tướng Lân tại trường Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ Quantico. Khi ban thưởng Huân Chương Cao Quý Legion of Merit (Degree of Commander) cho Tướng Lân sau 37 năm kể từ khi tái chiếm tỉnh Quảng Trị, một lần nữa, Tổng Thống Hoa Kỳ - với tư cách là đồng minh của VNCH trong cuộc chiến chống cộng - đã công nhận rằng Tướng Lân là một vị tướng anh hùng của QLVNCH anh hùng, mặc dù QLVNCH đã bị những thủ đoạn chính trị phản phúc của Nixon và Kissinger làm cho tan rã để mang lại thắng lợi cho quân cộng sản Bắc Việt trong tháng 4/1975. Cho tới nay, kể cả Tướng Lân, mới chỉ có 19 vị tướng anh hùng của các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ được ban thưởng huy chương cao quý trên đây.

Lễ phủ cờ là một vinh dự được Quân Đội và Tổ Quốc ban cho quân nhân các cấp khi nằm xưống và là niềm hãnh diện của gia đình họ. Cách đây không lâu, đài truyền hình SBTN từ Nam California có chiếu cảnh phóng viên Thanh Toàn từ Mỹ trở về một vùng quê ở Miền Nam Việt Nam, đến thăm một anh thương binh và trao tặng anh này một bộ quân phục tác chiến như đã hứa trong lần viếng thăm kỳ trước. Người cựu chiến binh thương tật với gương mặt rạng rỡ đã đưa hai tay nhận bộ quân phục tác chiến thân yêu còn mới nguyên nếp gấp. Sống trong lòng địch, khi chết không được phủ cờ, người chiến binh thương tật này chỉ còn một điều mong ước cuối cùng là được mặc bộ quân phục khi nằm trong quan tài thay vì được phủ cờ. Anh chiến binh anh hùng của QLVNCH đã được toại nguyện, và xin cám ơn phóng viên Thanh Toàn đã làm một việc rất có ý nghĩa.

Trong dư luận, có những lời bàn cho rằng trong những ngày cuối tháng 4/1975, một số tướng tá cao cấp, sĩ quan đã bỏ chạy, đào ngũ, chốn ra ngoại quốc, đầu hàng…, và những người này không còn xứng đáng để được hưởng nghi thức phủ cờ khi nằm xuống. Đây là những lời bàn ngang, nông nổi, không xác đáng. Sau đây, xin kể một sự kiện đã đi vào quân sử Hoa Kỳ.

Trong thế chiến II, ngày 26-7-1941, Trung Tướng Douglas McArthur được lệnh tái ngũ và được Tổng Thống Roosevelt bổ nhiệm làm Tư Lệnh Lục Quân Hoa Kỳ tại Viễn Đông. Bản doanh của Tướng MacArthur đóng tại Thủ Đô Manila, Philippines. Những ngày tiếp theo, Trung Tướng MacArthur được vinh thăng Đại Tướng và được Tổng Thống Philippines Manuel L. Quezon vinh thăng Thống Chế (Field Marshal) của quân đội Philippines. Cuối năm 1941, quân đội Nhật mở cuộc tấn công đánh chiếm Philippines. Trước sức tấn công mãnh liệt của quân Nhật, Tướng MacArthur đã phải ra lệnh cho lực lượng Mỹ và Philippines rút về phòng thủ bán đảo Bataan, và Bộ Tham Mưu của Tướng MacArthur cũng phải rút về bán đảo chiến luỹ Corregidor. Nhận thấy tình hình rất nguy ngập, Tổng Thống Roosevelt đã ra lệnh cho Đại Tướng MacArthur phải di chuyển khỏi Philippines. Trong đêm 12/3/1942, Tướng MacArthur cùng với gia đình và bộ tham mưu của ông đã di tản khỏi bán đảo Corregidor trên bốn chiếc tầu tuần (PT boats) để đến phi trường Del Monte Airfield trên bán đảo Mindanao và được phi cơ B-17 đưa họ đi Úc Đại Lợi. Sau đó, Tướng MacAthur được bổ nhiệm làm Tổng Tư Lệnh Tối Cao Đồng Minh của Chiến Trường Tây Nam Thái Bình Dương. Khi rời khỏi Corregidor, Tướng MacArthur có hứa rằng ông sẽ trở lại và ông đã giữ lời hứa. Ông cùng với bộ tham mưu đã trở lại Philippines ngày 20/10/1944 ngay khi lực lượng đống minh do ông chỉ huy giải phóng được Philippine khỏi tay quân đội Nhât. Trước khi rời khỏi Philippines, Tướng MacAthur đã chỉ định Trung Tướng Jonathan M. Wainwright ở lại thay ông chỉ huy toàn thể lực lượng Mỹ và Phi tại Bataan. Sự đào thoát khỏi Philippines của Tướng Tư Lệnh Chiến Trường MacArthur trong lúc địch quân đang tấn công không phải là một sự đào ngũ hay chạy chốn. Sự đào thoát này là do tình thế đòi hỏi. Nếu Tướng MacArthur ở lại, sự thể sẽ tệ hại hơn, chắc chán ông sẽ bị quân Nhật bắt làm tù binh như Trung Tướng Jonathan M. Wainwright sau này. Tướng MacArthur được vinh thăng Thống Tướng Năm Sao và được vinh danh là anh hùng của nước Mỹ. Ông mất ngày 5/4/1964 trên giường bệnh tại Walter Reed Army Medical Center, và Tổng Thống Johnson đã ra lệnh tổ chức lễ quốc táng. Từ sự kiện trên đây có thể luận ra rằng: Trong tình thế tuyệt vọng của những ngày cuối tháng 4/1975, những vị tướng tá, sĩ quan QLVNCH đã tìm cách thoát ra khỏi Việt Nam là hợp lý vì tình thế bắt buộc và là một quyết định đúng. Họ không đào ngũ hay chạy chốn mà là một hành động can đảm, không buông xuôi số phận trước một tình thế hoàn toàn tuyệt vọng. Nếu họ ở lại, chắc chắn sẽ bị Băng Đảng Cộng Sản Việt Nam trả thù rất đê tiện bằng nhiều năm đầy ải trong các trại tù khắp nước từ Nam ra Bắc như chúng đã đối xử với những người bị kẹt lại. Những quân nhân này vẫn mãi mãi là anh hùng của QLVNCH. Họ đã chiến đấu suốt 20 năm để bảo vệ quê hương Miền Nam. Họ được Tổ Quốc ghi ơn và rất xứng đáng được hưởng nghi thức phủ Quốc Kỳ khi nằm xuống.

Trở lại trường họp của Tướng Jonathan M. Wainwright, người đã được Tướng MacArthur chỉ định ở lại bảo vệ bán đảo Bataan trong một tình thế mà cơ hội sống còn hết sức mong manh. Nhưng đây là một vinh dự đối với một cấp chỉ huy như Tướng Wainwright. Trước sức tấn công vũ bão của quân đội Nhật và để tránh thương vong vô ích cho quân sĩ, Tướng Wainwright đã phải ra lệnh cho 76.000 quân Mỹ và Phi trên bán đảo Bataan đầu hàng quân Nhật lúc 9 giờ sáng ngày 9/4/1942. Tướng Wainwright bị quân Nhật bắt làm tù binh hơn 3 năm và được quân đội Liên Xô giải thoát khỏi một trại giam tù binh của Nhật tại Manchuria trong tháng 8/1945. Sự đầu hàng của Tướng Wainwright không phải là một sự hèn nhát mà là một hành động can đảm do tình thế đòi hỏi để tránh thương vong vô ích cho binh sĩ dưới quyền. Tướng Wainwright vẫn được tôn vinh là anh hùng của Bataan (hero of Bataan). Ngày 2/9/1945, Tướng Wainwright đứng bên cạnh Tướng MacArthur trên chiến hạm USS Missouri trong một buổi lễ tiếp nhận sự đầu hàng vô điều kiện của nước Nhật. Sau đó, Tướng Wainwright đã cùng với Tướng Arthur Percival trở lại Philippines để tiếp nhận sự đầu hàng của Tướng Tomoyuki Yamashita, người chỉ huy quân đội Nhật tại Philippines. Tướng Wainwright được vinh thăng bốn sao và được ban thưởng huy chương Medal of Honor. Ông mất ngày 2/9/1953 tại San Antonio vì bị nhồi máu cơ tim và được an táng tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington theo nghi thức đối với một vị tướng anh hùng khi nằm xuống. Từ sự kiện trên đây có thể khẳng định rằng trong tình thế tuyệt vọng của những ngày cưối cùng của tháng 4 đen năm 1975, nếu có một số sĩ quan đã tự quyết định hoặc theo lệnh của “Tổng Thống Dương Văn Minh” mà buông súng là vì tình tế bắt buộc chứ không phải là hành động của những quân nhân hèn nhát. Họ đã chiến đấu đến phút cuối cùng và chỉ buông súng trong hoàn cảnh “thế cùng, lực tận”. Họ vẫn mãi mãi là những quân nhân anh hùng của QLVNCH và rất xứng đáng được hưởng nghi thức phủ Quốc Kỳ mà Quân Đội đã quy định khi nằm xuống.

Tóm lại, dù bị sa cơ thất thế trong biến cố 30/4/1975, những người lính thuộc mọi quân binh chủng của QLVNCH đã chiến đấu suốt 20 năm để bảo vệ quê hương Miền Nam thân yêu vẫn mãi mãi là những chiến binh anh hùng của QLVNCH anh hùng. Họ đã được Tổ Quốc ghi ơn qua những Bảo Quốc Huân Chương, Anh dũng Bội Tinh, Chiến Thương Bội Tinh, Chiến Dịch Bội Tinh … Họ Là Những Người Đi Dựng Cờ và rất xứng đáng được hưởng nghi lễ phủ quốc kỳ khi nằm xuống trong hoàn cảnh lưu vong hiện nay.

Trong cuộc chiến chống cộng, QLVNCH đã phải chiến đấu chống lại cả một khối Đệ Tam Quốc Tế được uỷ nhiệm cho bọn tay sai là Băng Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong thế trận quốc cộng này, VNCH bị đẩy vào cái thế là phải dựa vào sự viện trợ duy nhất của Hoa Kỳ. Nhưng nhận viện trợ của Mỹ mà không làm theo Mỹ thì bị Mỹ giết như trường hợp Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Và sau này, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng bị Nixon doạ giết nếu không chịu ký vào cái “Hiệp Định Đầu Hàng Paris”. Gần đây, những tài liệu giải mật của Toà Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài đã chứng minh rằng Nixon và Kissinger đã đi đêm với Trung Cộng và bán đứng VNCH cho cộng sản. Sử gia Hoa Kỳ Larry Berman, trong tác phẩm “No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam”, đã chỉ đích danh hai người này là những kẻ phản bội VNCH. Và QLVNCH đã bị hai kẻ phản bội này làm cho tan rã để mang lại thắng lợi cho quân Việt Cộng chứ không phải quân Việt Cộng đã chiến thắng hoặc chúng ta thua trận trong ngày 30/4/1975. Ngày 29/9/2010, trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về “ Kinh Nghiệm của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á từ 1945 đến 1975”, chính Kissinger đã thú nhận: “Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chứ không phải do VNCH”. Lời thú nhận muộn màng trên đây không làm ai ngạc nhiên. Trên phương diện thuần tuý quân sự, chúng ta không thua trận. Chúng ta luôn luôn hãnh diện là người lính QLVNCH bởi vì chúng ta có Chính Nghĩa và Chính Nghĩa sẽ tất thắng. Hãy ngẩng cao đầu và không bao giờ mang mặc cảm thua trận. Chế độ Việt Cộng - một chế độ độc tài hủ lậu - chắc chắn sẽ bị lịch sử đào thải.

21 năm xông pha trên tuyến đầu, Tướng Lê Quang Lưỡng đã được ban thưởng những huy chương cao quý của QLVNCH và Quân Lực Hoa Kỳ như sau:

Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương

Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương

Đệ Ngũ Đẳng Bão Quốc Huân Chương

21 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu

6 Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Vàng, Bạc và Đồng

3 Chiến Thương Bội Tinh

Two Silver Stars with V Device - 1971 - 1972

Thee Bronze Stars with V Device - 1967 - 1968 - 1970

One Distinguished Flying Cross

One Air Medal

Cùng với tên tuổi đã đi vào quân sử, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng - người anh hùng của QLVNCH, người con thương yêu của Tổ Quốc Việt Nam - không bao giờ chết mà chỉ mờ dần đi như hình ảnh những người lính trong điệp khúc của khúc ballad nổi tiếng đã được Tướng MacArthur nhắc đến trong bài diễn văn giã từ binh nghiệp đọc tại Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 19 tháng 4 năm 1951 như sau:

Old Soldiers Never Die; They Just Fade Away

Đến đây, xin nhắc lại một lần nữa: Chúng tôi thông cảm và tôn trọng những lời ‘trăn trối” của Tướng Lưỡng nhưng xin không đồng ý về sự từ chối lễ phủ cờ theo nghi thức đã được ấn định bởi vì đây là một danh dự mà Quân Đội và Tổ Quốc ban cho tất cả quân nhân các cấp khi nằm xuống và không một quân nhân nào được phép từ chối. Ngoài ra, để bảo vệ Chính Nghĩa Quốc Gia và Danh Dự của người lính QLVNCH, chúng ta phải tiếp tục tổ chức lễ phủ cờ cho bạn đồng ngũ khi nằm xuống. Đây là một nghi thức truyền thống cao quý của QLVNCH. Xin tôn trọng những lời cuối trước khi ra đi của Tướng Lưỡng như một ngoại lệ đặc biệt. Và cũng xin nhắc lại câu danh ngôn đã được truyền tụng: “Xưa nay, không ai lấy thành bại để luận anh hùng.”

Đỗ Ngọc Uyển
(Khoá 4 Thủ Đức/ Binh Chủng TT)
Tháng 1 năm 2013
Morgan Hill, California

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Người Việt Gốc Hoa Chống Tàu
Tôi gặp lại A Tỷ ở chợ Thuận Phát, sau 10 năm anh ta biệt tích giang hồ. Chúng tôi quen nhau vì cùng làm chung trong một hãng "bù tèo". Cái hãng toàn người già với đồng lương mắc dịch chưa lần nào nhích khỏi năm đầu ngón tay.

A Tỷ người Tàu, gốc Bạc Liêu. Năm 1978 mua thuyền đánh cá, xuống Cà Mau vượt biên với mấy ông ba tàu khác. Vượt biên đâu phải chuyện dễ. Vượt biên, chẳng những vượt qua muôn trùng sóng gió của biển, thuyền nhân còn vượt qua móng vuốt của công an việt cộng, của cướp biển, thảo khấu, và lòng thờ ơ nơi những nước láng giềng. Cho nên A Tỷ đến đảo chỉ còn cái quần xà lỏn, giấy tờ rớt mẹ đâu mất hết. Đến khi phỏng vấn qua Mỹ, mấy ông ba tàu khác xúi A Tỷ khai sụt tuổi để dễ kiếm việc làm. Chủ Mỹ không ai dại gì bỏ tiền ra thuê một ông già về quờ quạng như con rùa lật ngửa.

A Tỷ vốn chân thật, dễ tin người. Nhưng tội nghiệp, khi gặp phái đoàn Mỹ, anh ta lúng ta lúng túng thế nào mà khai sụt một hơi 13 tuổi. Thế là, trong lúc bạn bè trang lứa với A Tỷ về hưu, hưởng thú đó đây - thì lão lại khòm lưng bên cỗ máy, cà rịch cà tang kéo lê kiếp trâu già. Mãi đến khi hãng "bù tèo" dẹp tiệm, A Tỷ mới thoát khỏi ách cày. Từ đó, lão biệt tích luôn, tới bây giờ chúng tôi mới gặp lại.

Mười năm xa nhau, A Tỷ vẫn còn nhớ tôi. Vừa thấy tôi cầm gói trà Green Tea lên ngắm ngía, bàn tay lão đã chận ngang trước ngực.

- Hày, Nị đừng uống cái lày. Đồ Trung Quốc đó! Kiếm trà Nhật uống, chắc ăn hơn.

- Trời đất! A Tỷ đây ư! Lâu quá không thấy nị. Sao? Còn ở đây không?

- Hày, Mạnh giỏi hông? Ngộ vẫn ở đây. Mấy năm nay bịnh. Tưởng bán muối dồi chớ...

Gói trà màu sắc tuyệt đẹp. Tôi vẫn còn cầm trong tay ngắm nghía nó, chưa muốn bỏ lại.

- Hày, Nị đừng mua đồ Trung Quốc. Nó mần ăn không tốt, bỏ tầm bậy tầm bạ trong đó. Nị vừa mất tiền, vừa hại thân.

- Sao nị biết đồ Trung Quốc không tốt?

- Chời ơi! Nị không coi báo, coi đài. Không đi chợ nghe người ta nói với nhau sao? Họ tẩy chay đồ Trung Quốc khắp nơi.

Tôi ngó lom lom A Tỷ.

- Nị cũng là người Trung Quốc, sao nói xấu Trung Quốc?

- Hày, Có sao nói vậy. Ngộ không nói xấu. Như ngộ có cái kềm Mỹ, xài tới rỉ sét vẫn chưa hư. Thằng con ngộ mới mua cái kềm Trung Quốc về xài, siết tới siết lui mấy cái, nó sút mẹ cái càng ra. Ối cha! Vừa tốn tiền, vừa báo hại.

Tới đây, A Tỷ vẫn chưa chịu ngừng.

- Ngộ đâu phải người Trung Quốc. Ngộ là người Việt gốc Hoa. Ông cố ngộ mới là người Tàu. Hồi xưa, bên Tàu, nhà Thanh đánh bại nhà Minh, đuổi nhà Minh đi khỏi nước. Ông cố ngộ mới theo tướng Mạc Cửu chạy qua Việt Nam xin tá túc. Mạc Cửu sau này là công thần của vua An Nam, có lăng miếu đàng hoàng ở Hà Tiên. Còn ngộ, đẻ ra ở Việt Nam thì Việt Nam là quê hương của ngộ chớ. Cũng như cháu nội nị đẻ ở bên Mỹ thì Mỹ là quê hương của cháu nội nị. Nó có biết chi về Việt Nam đâu?

A Tỷ nói thao thao cho đến khi tôi trả gói trà lên kệ, lão mới thôi. Loay quay một lúc, A Tỷ kéo tôi ra khỏi quán, sau khi hào phóng tặng tôi nguyên phong trà green tea Nhật Bổn. Buổi sáng, nắng rực rỡ. Khu Linda Vista xôn xao với hàng quán tấp nập. Chính nơi này,10 năm trước, A Tỷ dẫn tôi tới đây ăn tô phở đầu tiên ở góc phố đằng kia, rồi lôi tôi về nhà nhờ hướng dẫn trồng các loại cây mà bên Mỹ này chưa có người việt nào muốn trồng bao giờ.

- Hày, ngộ với nị qua bên kia làm tô mì chơi. Đừng ngại, ngộ bao cho.

Ngó mái tóc bạc như bông gòn của A Tỷ, tôi bỗng thấy nao nao.

- Nị mới trúng super lotto đêm qua, phải không?

- Hày, Bộ trúng mới bao sao? Ngộ muốn trả ơn nị, chút đỉnh mà...

Tôi chưng hửng.

- Trả ơn? Nhưng ơn gì?

A Tỷ ôm chầm vai tôi, tha thiết.

- Nị mau quên quá! 10 năm trước, con vợ ngộ muốn trồng dừa. Ngộ chạy ra chợ mua trái dừa gáo, về đào đất, dồi đặt xuống. Ngày nào hai vợ chồng cũng bỏ phân, tưới nước, trông nó lên cây. Nhưng trông riết, nó cứ trơ trơ. Giận quá, ngộ đào lên, cái gáo dừa thúi quắc.

- Rồi tôi hướng dẫn nị tìm trái dừa còn nguyên vỏ. Về nhà, ủ nó lên mọng, mới đem ra vườn, đào lỗ, đặt xuống chứ gì?

A Tỷ vỗ tay, cười khục khặc.

- Đúng dồi! Bây giờ cây dừa đã có trái. Con vợ ngộ khoái quá. Nó nói nó mang ơn nị.

- Cái đó tôi học lóm người ta, chỉ lại nị. Ơn nghĩa chi?

A Tỷ chưa chịu buông tha.

- Còn một cái nữa, nị quên dồi. Nị nhớ nị có ra mắt cái CD chưa? CD ngâm thơ đó...

Kỷ niệm chợt trở về. Cách đây khá lâu, lúc còn làm chung hãng "bù tèo" với A Tỷ, có ông bạn thân khuyên tôi nên ra mắt CD ngâm thơ để có cớ tụ họp bạn bè văn nghệ lại, xem ai còn ai mất? Tôi đem giấy mời vào hãng, trao đến tay các anh em người Việt. Riêng A Tỷ, tôi không mời, vì nghĩ anh ta chẳng rành nhiều về tiếng Việt. Nhưng thật ngạc nhiên, khi thấy A Tỷ tiến đến gần tôi, tỉ tê trách móc.

- Hày, ngộ với nị quen biết nhau lâu quá. Nay ra mắt CD, sao lại bỏ ngộ ra. Nói thiệt, nị không cho ngộ đi, ngộ cũng tìm cách đi cho được. Bạn bè mà.

Thế là tôi đành trao giấy mời cho A Tỷ.

Hôm nay, A Tỷ nhắc lại chuyện xưa, chắc có mục đích chi đây?

- Vụ CD đã lâu rồi. Bây giờ, cái dĩa không nghe được nữa hả?

- Đâu có. Cái CD ngâm thơ hay quá! Nhiều người khen nị. Ngộ cũng muốn khen nị đó mà.

- Trời đất! Nị cũng khoái thơ nữa ư?

- Hày, Sao không? Để ngộ ngâm cho nị nghe nha!

Quảng Đông ăn cá bỏ đầu

Triều Châu len lén xỏ xâu đem dìa.

Thấy có người khen thơ mình, lại là người Hoa, tôi khoái chí.

- Thế... bài thơ nào nị thích nhất? Nó nói về cái gì? Tình cha, tình mẹ hay tình yêu?

- Chời ơi! Nị hỏi nhiều quá, ngộ đâu có biết!

Tôi ngó lom lom A Tỷ, mồm há hốc.

- Vậy sao nị khen hay. Hay ở chỗ nào?

- Không giấu gì nị. Con vợ ngộ mất ngủ mấy năm trời. Uống đủ thứ thuốc, đêm nào cũng vẫn nằm thao thức, thở ra thở vô. Có cái CD của nị, mới mở ra, chưa đầy nửa tiếng, con vợ nó lăn ra ngủ khò khò hồi nào không hay. Lâu dồi, nó muốn gặp nị, để...trả ơn.

Tôi tiu nghỉu.

- Nị nói giỡn hay nói thiệt, cha nội?

A Tỷ ôm gọn tôi vào lòng.

- Hày, có bao giờ ngộ nói láo nị đâu. Bi giờ mình qua bên kia làm một tô mì đi!

Tôi kéo tay A Tỷ ra, lắc đầu.

- Nị mới làm một bụng rồi. Để khi khác.

Cà kê dê ngỗng một lát, A Tỷ đành chấp nhận lời từ chối của tôi. Trước khi từ giã, lão hứa sẽ mời tôi dự lễ vu quy của con gái lão trong vòng vài tháng nữa. Con nhỏ và thằng nhỏ thương nhau từ những năm đầu đại học. Bây giờ, vừa tốt nghiệp, hai đứa nhỏ quyết định lấy nhau. Tôi gục gặc đầu, ậm ừ trong họng, rồi quay lưng đi. Nhưng bên tai còn nghe văng vẳng giọng A Tỷ vang vang trong gió. Hày, ông sui của ngộ cũng giống như nị, qua diện HO, dân Sài Gòn.

Vài tháng nữa, trông đợi mãi, chẳng thấy bóng dáng tấm thiệp vu quy nào của A Tỷ gửi đến. Thời gian sau, tôi lại gặp lão ở góc chợ Thuận Phát. Thấy A Tỷ, tôi cất giọng phàn nàn ngay.

- Cả tháng nay tôi trông dài cả cổ ra mà có thấy thiệp cưới của ngộ gửi đâu? Bộ nị quên thằng bạn nghèo này sao?

A Tỷ cúi đầu, mếu máo.

- Cha thằng nhỏ nhất định không chịu làm sui với người Tàu. Thằng chả nói người Tàu chiếm đất, chiếm đảo của người Việt. Bi giờ muốn chiếm luôn con trai của y nữa sao?

Tôi bùi ngùi vỗ vai A Tỷ.

- Chuyện qua rồi. Đừng buồn nữa. Nị về ráng an ủi và khuyên lơn con nhỏ. Mất thằng nhỏ này, còn khối thằng nhỏ khác, lo gì!

Mặc tôi chia xẻ, cảm thông, A Tỷ vẫn mếu máo.

- Ngộ là người Việt gốc Hoa. Sinh đẻ ở Việt Nam thì quê hương ngộ chính là Việt Nam. Ngộ cũng đi lính Cộng Hòa, cũng chống Tàu. Vậy mà người ta vẫn không ưa ngộ.

Phạm Hồng Ân -

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Người Lính Thủy Quân Lục Chiến bên bờ Bến Hải
Kính dâng hương hồn người chiến sĩ vô danh

Nguyễn Ngọc Ẩn

Trời trên đầu vẫn nắng chang chang. Dưới chân là sỏi đá khô cằn. Đất ở đây như không đủ sức mời mọc cho cây đâm rễ nên quang cảnh mang một vẻ trơ trụi, hoang sơ thế nào.

Đoàn tù vẫn lầm lũi bước. Cách từng quãng một là cán binh CS miền Bắc, vai mang khẩu AK-47, đầu đội mũ tai bèo, chân dép râu cũng tiếp nối từng bước như đoàn tù nhưng chắc chắn là mang trong họ một trạng thái tinh thần hoàn toàn khác. Họ là những kẻ chiến thắng, đang giải đoàn tù binh, sản phẩm của chiến bại, về Bắc. Trước là họ có dịp phô trương cái “anh hùng” của họ ở trong B, sau là biết đâu họ có thể có dịp tạt qua thăm nhà một lần sau bao nhiêu năm gia nhập bộ đội để đi “giải phóng miền Nam ruột thịt, đang oằn oại dưới ách thống trị bạo tàn của Mỹ Thiệu” và quan trọng và chắc chắn hơn hết là họ được tránh xa vùng lửa đạn có thể làm họ “đi gặp HCM” bất cứ lúc nào...

Trước đó không lâu mà tưởng chừng như ở vào thế kỷ khác, quân CS đã bất ngờ vượt vùng phi quân sự để tràn xuống tấn công miền Nam. Trở tay không kịp, các căn cứ hoả lực ở vùng phía Nam Phi Quân Sự bị đánh tan vỡ, quân đội VNCH đã lập tức gởi ngay quân ở trong miền Nam ra cứu viện và các đơn vị Biệt động quân gồm 3 Liên Đoàn Tổng Trừ Bị được đưa ra và trong đó, Liên Đoàn 5 BĐQ là đơn vị ra tới đầu tiên mà trong đó có tôi với tư cách Y sĩ điều trị của Liên Đoàn.

Tôi là một bác sĩ, tính tới hôm ra tới Quảng Trị là ngày 5/4/72 thì tôi mới ra trường chưa được 5 tháng, do đó tôi còn ở dưới quyền một đàn anh là Y Sĩ Trưởng của đơn vị, hiện anh đang trở về làm việc ở hậu cứ khi có tôi ra thay ở mặt trận (hai anh em chúng tôi thay phiên nhau đi hành quân mỗi người nửa tháng).

Tuy tôi không được dự các cuộc họp hành quân nhưng theo tin tức tôi thu nhặt được từ các sĩ quan trẻ trong BCH Liên Đoàn thì tôi biết, Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai, Tư Lệnh SĐ3BB là sĩ quan cao cấp nhất được trên chỉ định làm Tư Lệnh mặt trận và ông đã điều quân như sau: LĐ5 chịu tuyến cực Bắc của mặt trận là thị trấn Đông Hà chạy dài về phía Nam ở hướng Tây của quốc lộ 1. Kế tiếp là LĐ4 BĐQ rồi tới LĐ7 BĐQ tiếp tục phòng thủ và chiến đấu để giữ gìn phía Tây QL 1. Còn về hướng Đông là phía biển thì mặt trận chắc chắn sẽ nhẹ hơn sẽ do SĐ 3 BB, sau trận đánh mấy ngày trước đã mỏi mòn trấn giữ.

Nhưng tới trận phục kích chót của quân CS vào BCH/LĐ trong đêm 30/4/72, trên đường rút quân của đơn vị tôi sau khi thành phố Quảng Trị đã thất thủ thì đơn vị tôi chính thức cũng đã bị xoá tên trong trận chiến. Hỏi làm sao không xóa tên tại chỗ được khi một Liên đoàn BĐQ như đơn vị tôi mà có những 18 sĩ quan bị bắt làm tù binh trong đó phải kể đến: Tiểu Đoàn Trưởng và TĐ phó TĐ 38 BĐQ, sĩ quan trưởng ban 3 LĐ, sĩ quan trưởng ban Truyền Tin LĐ, bác sĩ (tôi), Đại Đội Trưởng Trinh Sát của LĐ và bao nhiêu sĩ quan cấp thấp khác ở các ban ngành của cả BCH LĐ cũng như của TĐ 38 là TĐ đi bọc hậu cho LĐ trên đường rút quân. Dĩ nhiên tôi được biết sau nầy là sau khi tập trung lại ở Huế, LĐ được đưa về để “làm máy lại,” tái tạo. bổ sung các cấp từ sĩ quan đến binh sĩ và tung vào hành quân 2 tháng sau đó. Còn chúng tôi, 18 sĩ quan xấu số, trên con đường định mệnh không biết sẽ đi về đâu, đang bị xỏ xâu vào nhau và lầm lũi bước đi về hướng Bắc.

Tôi viết hồi nãy là LĐ tôi có 18 sĩ quan bị bắt là do về tới chỗ tạm giam gặp nhau chớ còn lúc giải đi trên đường thì làm sao tôi biết được? Cá nhân tôi thì trừ một số ít sĩ quan trong đơn vị là tôi biết mặt, hầu như tất cả anh em tù binh ở Quảng trị tôi mới gặp đều như gặp lần đầu, tôi mới biết mặt họ mà họ cũng mới biết mặt tôi. “À, anh là bác sĩ mới về đó hả ? Tui có nghe mà chưa gặp, không dè mình gặp trong hoàn cảnh nầy, thiệt xui !!”

Nãy giờ tôi mãi nói về đơn vị tôi, thực sự ra, đoàn tù binh bị giải đi về hướng bắc nầy hàng mấy trăm người là ít gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ của mọi binh chủng có mặt trong trận Quảng Trị hồi tháng 4/72: TQLC, BĐQ, Thiết Giáp, Bộ Binh, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và cả dân sự là mấy anh ở các ngành gọi là “ác ôn” dưới con mắt của CS như Chiêu Hồi, Xây Dựng Nông Thôn ...

Tôi biết mình đi về hướng Bắc là vì dễ thôi, mặt trời bao giờ cũng mọc và ở suốt ngày bên tay phải tôi, có điều đi tới đâu thì mình không biết được, chỉ biết đôi chân quen mang giày dép, nay phải để trần dẩm lên sỏi đá, mỗi bước chân là hai hàng nước mắt chảy ra. Tôi không khóc đâu, nước mắt chảy là do cái đau đớn buốt lên từ lòng bàn chân bắn thẳng lên óc làm nước mắt tự động chảy thôi chớ phải nói, lòng căm giận đầy ngập trong tim thì dễ gì tôi khóc được?

Cái bụng thì cồn cào, từ hồi bị bắt tới giờ cũng đã 5, 6 ngày rồi còn gì mà tôi chỉ được có mấy nắm cơm vắt nhỏ xíu bằng bàn tay (mỗi bửa ăn là nửa vắt!), còn khát thì còn nói gì! Nắng, nóng, hoạt động (đi bộ ròng rã) mà không hề có nước uống, nhìn chung quanh mình, tôi thấy ai cũng ở vào tình trạng gọi là khát rã họng là đúng chữ nhất!

Đã vậy mà thôi đâu, trong khi hạ sĩ quan hay binh sĩ thì cứ chậm rãi đi thành hàng một, còn chúng tôi, sĩ quan đâu được như vậy. Chúng dùng sợi dây dài cột tay trái người đi trước vào tay trái người đi sau thành từng hàng dài cho tới khi nào sợi dây hết thì chúng dùng sợi dây khác nên không có con số nhất định mỗi xâu là bao nhiêu người mà chỉ do độ dài ngắn của sợi dây...

Tôi thì đi lọt vào áp chót của một sợi dây, vừa bước đi khập khiểng do đau hai lòng bàn chân tột cùng, vừa đau đớn cho số phận của riêng mình kể gì nói cho hết.

Tuy lúc đầu lệnh của bọn cán binh là tù binh phải đi thành hàng một nhưng phải nói, do bị xâu chùm lại với nhau (với không biết có phải do lòng hai bàn chân của các sĩ quan thì “tiểu thơ” hơn anh em hạ sĩ quan và binh sĩ hay không?) mà đám tù sĩ quan đi chậm hơn đám tù đa số kia nhiều nên việc chúng tôi đi hàng xâu bên nầy song song với những anh lính của chúng tôi cách đó vài mét là thường. Có khi tên bộ đội đi gần đó mở miệng quát tháo, có khi chúng cũng mặc kệ mấy thằng tù, đi kiểu nào thì đi, miễn cứ đi là được rồi...

Từ lúc bị bắt đưa về cái nhà lá làm nơi tập trung đám tù binh mới bắt ngoài mặt trận cho tới ngày hôm nay, tôi đã bị đưa đi qua không biết bao nhiêu là cảnh vật thay đổi đủ kiểu. Chỗ gần nơi tôi bị bắt (sau nầy tôi mới biết là quận Hải Lăng) thì có ruộng lúa, lúa cao ngang ngực như lúa sạ ở Đồng Tháp Mười, còn giải đi thì lúc qua xóm Cửa Việt, chúng tôi đi dọc dài theo bờ biển cát êm mịn xinh đẹp với tiếng sóng vỗ rì rào. Nhưng cảnh vật khi họ dẫn chúng tôi từ phía đông QL 1 băng dần về phía núi rừng phía tây thì thay đổi hẳn, những đám rừng lúc trước giờ chỉ là những cây với những cành trơ trụi vì bom đạn làm tôi nhớ tới bài hát "Sương Trắng Miền Quê Ngoại" có 2 câu thơ:

Gio Linh ơi, đất thiêng chừ run rẩy
Tội lũ chim rừng không chỗ đậu vì bom...

Con đường càng đi về hướng Tây Bắc càng trơ trụi, sỏi đá khô cằn. Chỉ vài ngày đi bộ là tôi đã thấy thấm mùi đời lắm rồi nhưng ở trong tư thế không biết làm sao nên tôi cứ nhắm mắt mà bước theo những bước chân của những người bạn xấu số đồng cảnh của mình.

Tới buổi trưa hôm đó thì đoàn tù (hay đúng ra là cái xâu của tôi) đang bước chân qua một dòng nước nhỏ bề ngang chừng 1 mét. Ai cũng cố dừng lại để cúi người xuống hầu ké một ngụm nước và vì chúng tôi bị xâu lại với nhau nên sự bò xuống uống nước không thể làm cùng lúc bao nhiêu người được. Vì thế mới có sự trùng trình ở chỗ lạch nước nầy. Lúc tôi vừa uống nước xong thì có tên bộ đội nhóc đứng gần đâu đó cất tiếng:

- Chúng mầy có biết dòng nước nầy có tên gì không?

Khi không nghe ai trả lời cả (hoặc bận uống nước hoặc không bận cũng chẳng buồn trả lời làm gì) hắn ta nói tiếp, giọng oang oang đầy vẽ tự hào:

- Sông Bến Hải đấy chúng mầy ạ! Hễ chúng mầy bước qua nó là chúng mầy đã chính thức đặt chân lên miền Bắc xã hội chủ nghĩa của chúng tao rồi đấy!

Trong lúc tôi còn bàng hoàng vì đây chỉ là một lạch nước nhỏ xíu mà người ta có thể bước ngang được dễ dàng mà lại là thượng nguồn của một con sông lịch sử, con sông chia cắt hai miền Nam Bắc của nước mình từ mấy mươi năm qua bổng, hết sức bất ngờ ngoài sự tưởng tượng của tôi hay bất kỳ ai, một anh lính TQLC, chúng tôi biết anh là TQLC do tù binh vẫn còn bộ đồ lính trên người tuy lon lá đều đã bị tháo gở, anh ở trong đám binh sĩ đi gần chúng tôi, nhào lên bóp cổ tên bộ đội nhóc, vừa bóp cổ vừa gặc gặc cho cái siết cổ thêm mạnh trong khi miệng anh bật lên bao nhiêu là tiếng Đức, tiếng Đan Mạch, và đối tượng để anh chửi rủa là HCM, là “cha già kính yêu” của bọn bộ đội. Anh chửi rủa rất to tiếng trong khi nắm tay siết chung quanh cổ tên bộ đội như hai gọng kềm căm thù đã nung nấu từ hồi nào đến giờ, giờ mới có dịp phát huy.

Tên bộ đội cố hết sức dãy dụa, tuy tay còn cầm khẩu AK nhưng mọi thứ đều thành vô dụng trong lúc nầy. Rồi một tên bộ đội khác nhanh chân chạy đến, bắn ngay một phát súng vào chân anh lính TQLC, anh đau đớn nên lỏng vòng tay và tên bộ đội vùng thoát ra được, hắn không ngần ngại đá một phát vào anh lính lúc nầy đã nằm xuống đất...

Sự việc viết lại tưởng như dông dài nhưng thực ra đã diễn ra trong chớp mắt trước sự ngỡ ngàng của đám tù binh chúng tôi. Rồi đám bộ đội đã tụ tập đến chung quanh anh lính miền Nam, một tên có vẻ là cao cấp nhất trong bọn đã nói gì không rõ với lũ thuộc cấp, sau đó hắn quay sang chúng tôi, ra lệnh mở trói xâu cho 2 sĩ quan tù binh ở cuối xâu và... tôi là một trong hai sĩ quan tù binh đó. Hắn ra lệnh cho đám bộ đội kia rồi không biết lấy ở đâu ra mà ngay sau đó vài phút là một tên đã đưa đến cho chúng tôi một cây đòn dài, một tên khác thì đưa chúng tôi một cái võng rồi tên chỉ huy ra lệnh cho hai anh em chúng tôi “cáng” anh lính đi tiếp.

Tôi thì vì phản xạ nghề nghiệp nên khi vừa được “mở xâu” là đã chạy ngay đến anh lính TQLC đang nằm dưới đất để xem xét vết thương của anh nhưng ngay lập tức, một tên bộ đội đã xua tôi đứng dậy để làm nhiệm vụ cáng anh TQLC. Tuy nhiên trong một tích tắc đó, tôi cũng đã thấy được anh lính thần sắc đã tả tơi sau mấy ngày làm tù binh cho bọn chết đói, bộ quân phục sọc ngang cố hữu của binh chủng oai hùng ngày nào giờ cũng xác xơ giống như chủ nó, và viên đạn đi vào đùi anh lính, tôi đã không nhìn kịp coi có lỗ đạn ra hay không cũng như không thử mạch nên không biết có trúng động mạch đùi không và hơn hết, không biết cái chân có còn nhúc nhích được không nữa. Tuy nhiên, tôi cũng đã xé được từ cái áo thun của chính tôi được một miếng vải để cột ngay phía trên vết thương trong khi miệng thì nói với mấy thằng bộ đội:

- Mấy anh muốn cáng anh nầy thì ít ra cũng phải để cho tôi băng bó sơ anh ấy cái chớ......

Một tên bộ đội thì nói:

- Thường ngày chúng mầy là sĩ quan quen nạt nộ lính, hôm nay cho chúng mầy cáng lính của chúng mầy để đền tội......

Trong khi tôi băng bó cho anh lính TQLC thì anh bạn tù sĩ quan của tôi (anh thuộc SĐ3BB, rất tiếc tôi không còn nhớ tên anh) đã nhanh nhẹn cột hai đầu cái võng vào cái đòn dài để hoàn thành cái cáng tức là có sau đó, chúng tôi sẽ gánh anh thương binh nằm trên đó. Nhưng khi chúng tôi mở cái võng ra cho ngay ngắn và sửa soạn để khiêng anh thương binh đặt lên thì anh đã nói:

- Tui cám ơn mấy ông lo cho tui nhưng tui làm là tui chịu, tui hổng có làm phiền tới mấy ông đâu. Mấy ông cứ đi đi, tui hổng để mấy ông khiêng tui đâu......

- Anh nói gì lạ vậy, tôi nói. Anh để chúng tôi khiêng anh đi, ít ra tới chỗ nào đó mình mới có thể có phương tiện chữa cho anh được chớ.

Nói qua nói lại gì thì nói, hai lần chúng tôi đặt anh thương binh lên võng, hai lần anh đều lăn ra khỏi cái võng. Bọn bộ đội quay quần chung quanh nóng ruột, chúng hối thúc chúng tôi liền miệng nhưng - tôi nhớ đời câu nói nầy - anh thương binh nói:

- Mấy thằng VC nầy nói cái gì sinh Bắc tử Nam, tui thì dốt thiệt nhưng quyết sinh Nam tử Nam, tui không phải như mấy ông để tụi nó dẩn ra ngoài Bắc để hành hạ rồi chết ngoài đó đâu. Đây nè, tay tui còn xâm 2 chữ “Sát Cộng”, mấy ông tưởng tui sợ chết mà chịu sống chung với tụi chó đẻ nầy hả?

Tới đó thì bọn bộ đội chịu hết nổi, tên chỉ huy bèn quát:

- Thôi hai thằng nầy về hàng trở lại đi để thằng nầy lại cho chúng tao!

Bọn bộ đội đưa 2 thằng tù sĩ quan trở về xâu trở lại rồi ra lệnh tiếp tục lên đường. Tôi còn cố nhìn lại anh thương binh TQLC đang nằm dưới đất, cổ còn cố ngểnh lên để nhìn theo chúng tôi như tiển, như đưa... Bọn cán binh CS thì bàn soạn xì xào...

Được một khoảng xa vài trăm thước, tôi nghe một tiếng súng nổ ở phía sau. Chỉ một tiếng súng nổ phá tan cái yên tỉnh của buổi trưa hè mà như đã phá nát cái định kiến cố hữu vẫn có trong lòng tôi, anh lính TQLC, tuy vì lý do thiếu văn hoá một chút nên dùng toàn những từ ngữ máy nước để chửi bọn CS nhưng đã đánh thức dậy trong tôi, đã nói vào tri thức tôi rằng, những tự hào tôi đã và đang có là một người ngang tàng không biết sợ, với cái học vấn hơn người thường một chút để tự cho mình là một người trí thức. Hay nhìn xuống những người không được may mắn có cái học vấn của tôi hay các sĩ quan khác, phải đi hạ sĩ quan hay binh sĩ và cho họ là những người không đáng được kính trọng, họ chỉ là để phục vụ cho chúng tôi, các sĩ quan ăn trên ngồi trước, tất cả những suy nghĩ đó đều sai hết.

Chỉ có một kết luận duy nhất, tôi là một thằng hèn, tôi đã vì sự sống của chính tôi, vì gia đình và vì... tiếc của đời, tôi đâu có dám làm như một anh lính thường ở đơn vị TQLC, không chấp nhận sinh Nam tử Bắc, thẳng tay chửi bới già Hồ để ung dung đi vào cõi chết!

Cái chết của anh là một bài học lớn cho tôi mà suổt đời, tôi đã không bao giờ dám quên. Từ đó, tôi đã không bao giờ coi lon lá nhà binh, bằng cấp bỏ trong túi hay tiền tài vật chất có trong cuộc sống là thực sự giá trị con người (có ở hoàn cảnh khốn cùng mới thấy lon lá hay ông lớn chừng nào lại dễ thành thằng hèn, thằng ăng-ten chừng nấy).

Chỉ có Danh Dự, xin dùng chữ hoa ở đây, mới xác định giá trị con người. Xin cám ơn anh, một người tôi đã không được hân hạnh biết tên biết tuổi, đã dạy cho tôi một bài học vô cùng thắm thía mà suốt đời tôi sẽ ghi nhớ trong lòng.

Nước mắt chảy dài trên má tôi, lần nầy không phải vì cái buốt đưa lên từ hai bàn chân đi đất mà là từ trái tim, khối óc chợt nhận ra cái hèn không dám chết của mình.

Nguyễn Ngọc Ẩn

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Quận Trưởng Triệu Phong - Chuẩn Úy Lê Đình Lời khóa 4/71

MX Giang Văn Nhân

Xe hậu trạm của TĐ3/TQLC chạy qua nhà thờ Hội Yên, hướng về Mỹ Thủy, trên xe là những quân nhân mới từ Sàigòn ra bổ sung cho tiểu đoàn sau hơn một tháng hoán đổi khu vực trách nhiệm từ Sư Đoàn Nhảy Dù, xe bỗng quẹo phải trên đường 555, rồi dừng lại xóm nhà thuộc thôn Đơn Quế, nơi có Bộ Chỉ Huy của TĐ3/TQLC.

Sau những thủ tục trình diện Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Cảnh, Thượng Sĩ Sinh Ban 1 Hành Quân đọc tên ba Chuẩn Úy khóa 4/71 về đại đội 2:

- Đỗ Hữu Đôn, Lê Đình Lời và Trần Trung Ngôn

Thượng Sĩ Nhất Võ Lách Thường Vụ Đại Đội 2 hướng dẫn ba người về đại đội. Trên đường đi, cả ba muốn biết sơ về đơn vị mình, với giọng nói từ tốn vùng Ninh Hòa của thường vụ:

- Đại đội bị tổn thất nặng, Đại Úy Đại Đội Trưởng bị thương từ tháng 7, một thiếu úy hy sinh, hai thiếu úy bị thương, hạ sĩ quan và binh sĩ thương vong 30%, hiện tại chỉ còn Thiếu Úy Nguyễn Văn Lãm Đại Đội Phó XLTV và Chuẩn Úy Khúc Thừa Thế Trung Đội Trưởng trung đội súng nặng .

Sau khi gặp Thiếu Úy Lãm, Lời nổi bật vì dáng to, chắc và khỏe được chỉ định Trung Đội Trưởng Trung Đội 23. Ngôn dáng dấp thư sinh, có đôi mắt tinh anh, Trung Đội Trưởng Trung Đội 21. Riêng Đôn OJT với trung đội 22, Thiếu Úy Nguyễn Văn Phán mới được Tiểu Đoàn thuyên chuyển qua. Bên ngoài các trung đội phó đang long ngóng chờ các ông thầy mới của mình.

Buổi đầu trình diện, Thiếu Úy Lãm có mồi và những lon bia dành cho các alpha tới tàn cuộc. Dưới bóng cây sầu đông, Thượng Sĩ Nhất Thường Vụ khề khà đối ẩm cùng các Trung Sĩ Trung Đội phó. Đôn được Trung Sĩ Nguyễn Văn Hai Trung Đội Phó và hiệu thính viên khiêng về trung đội. Lời thì chân đá Nam, tay vung Bắc được Trung Sĩ Nhất Trần Văn Nuôi kè về vị trí. Ngôn theo Trung Sĩ Nhất Nguyễn Tấn Thành, anh đã tưới bia trộn lẫn thức ăn trên suốt đoạn đường về tuyến.

Lời và Ngôn cùng quê ở Tây Ninh, nơi mà mùa nắng không khí oi bức khó chịu, nhưng so với Quảng Trị nơi có gió Nam Lào khô rát cùng không khí ngột ngạt chiến tranh quả là khủng khiếp
Image
Thời gian này Lời làm quen với sinh hoạt đại đội, những kinh nghiệm quý báu của anh em hạ sĩ quan và binh sĩ cấp tiểu đội như Hạ Sĩ Nhất Điền méo, Hạ Sĩ Phúc, Hạ Sĩ Chánh, Binh Nhì Voi xạ thủ đại liên… Anh tiếp xúc và trò chuyện thân mật với mọi người, hòa nhịp với những người lính trẻ tuổi đôi mươi, đùa giỡn, ca hát trong đêm vang vọng âm thanh sóng vỗ ở làng chài Mỹ Thủy.

Đại đội được trang bị, bổ sung quân số đầy đủ, trung đội Lời được 40 người, một cấp số thật lý tưởng như đã học ở Trường Bộ Binh Thủ Đức. Một buổi sáng, Lời nghe anh em binh sĩ kháo nhau là tiểu đoàn sắp sửa trở lại thị xã Quảng Trị. Chiều ngày 25 tháng 8 Đại Úy Đại Đội Trưởng xuất viện về đại đội với Chuẩn Úy Trần Tuấn Dũng khóa 5/71. Đại Úy Nguyên Thảo tập họp đại đội nói chuyện với toàn thể anh em về tình hình và nhiệm vụ sắp tới. Ngày hôm sau, lệnh chuẩn bị, xe hậu trạm vào tiếp tế lương thực, đặc biệt có 3 ngày lương khô. Các sĩ quan dán liên hợp bản đồ tỉnh Quảng Trị, và nhận lệnh sẽ vào vùng hành quân vào sáng mai. Lời và các bạn đồng khóa được hướng dẫn một vài căn bản về xử dụng khóa ngụy thoại trên bản đồ, ví dụ như khóa Hoàng Oanh, vị trí của đại đội hiện giờ là Hoàng Oanh phải 12 lên 9, vài quy tắc như vị trí Cổ Thành, địch có thể quan sát ta dễ dàng, tránh bị bắn sẻ… .Lời nhìn Ngôn và Đôn, trong ánh mắt mỗi người có chút suy tư, anh thầm nghĩ đây là lần đầu tiên mà cả ba sẵn sàng nhập vào cuộc chơi sanh tử, bên cạnh Nguyên Thảo, Thiếu Úy Lãm và Thiếu Úy Phán, cùng những quân nhân dầy dạn, nét mặt họ vẫn bình thản vì đã bao lần xuất quân và chấp nhận “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” của người lính Tổng Trừ Bị

Gần tới khu vực xuống xe đã thấy pháo nổ mù trời trước mặt. Xe vừa dừng lại, tất cả mau lẹ nhảy xuống và tạt rộng ra hai bên đường. Trung đội Lời bám theo trung đội của Thiếu Úy Phán chạy nhanh qua cầu Ba Bến (sau này mới biết đây là điểm chuẩn, có thể là hỏa tập của địch).

Theo chỉ định của đại đội phó, Lời cho trung đội theo chân người hướng dẫn của TĐ8 đến hoán đổi vị trí một trung đội. Pháo 130 nổ rải rác trong khu vực hoán đổi. Đạn đạo pháo binh yểm trợ của ta từ phía sau bay qua đầu và nổ xa về hướng Tây. Lời làm theo phản ứng với người khinh binh phía trước, lúc chạy qua khoảng trống và bám vào những đống gạch đổ nát. Từng bước gay go, may mắn cuộc đổi quân hoàn tất không bị tổn thất vì pháo 130 ly.


Đổ Hữu Đôn hy sinh ngay buổi sáng đầu tiên tại chiến tuyến. Ban ngày án binh bất động, pháo 130 ly của địch và pháo 105, cùng 155 của ta đua nhau nổ, anh em ngoài nhiệm vụ canh gác, quan sát, chia nhau ngủ, ngụy thoại truyền tin mang mặt nạ tức là đánh địch vào ban đêm, từng toán rời vị trí tìm địch và tiêu diệt bằng lựu đạn.
Image Sau những chiến thắng diệt chốt sát tận bờ thành, cùng những tổn thất về nhân mạng, Đại Đội 3 vào hoán đổi nhưng trung đội của Lời và Thiếu Úy Phán ở lại tăng phái. Đêm hôm đó Đại Đội 3 tiếp tục dồn nổ lực vào thành Đinh Công Tráng, và mờ sáng một trung đội đã chiếm được bờ thành.

Nhận lệnh của ĐĐT Giang Văn Nhận, hai trung đội tăng phái (Ch/Úy Lời và Th/Úy Phán) tiến trước cùng đại đội theo sau từng bước thanh toán mục tiêu. Địch vẫn cố bám vào hầm hố và ẩn núp trong các vị trí đổ nát cầm cự, nhưng trước tinh thần chiến thắng vì đã vào được mục tiêu của TQLC, một số địch quân bị chết tại chỗ, một số chống trả chờ bóng đêm để tẩu thoát hoặc ra hàng. Lê Đình Lời cảm thấy lần đầu tiên trong cuộc đời mình, nỗi hân hoan kỳ lạ khó diễn tả, lúc này anh không nghĩ gì đến sự sống và cái chết. Lính của ba trung đội gặp nhau bên những đống gạch chắn ngang lúc nửa đêm, sau khi diệt toán chốt tại đóng gạch cao to, trời mờ mờ sáng, nhận diện rõ cổng thành, cùng toàn bộ bờ thành sát bên cạnh, Lời rút nhanh lá Quốc Kỳ Việt Nam, khinh binh Lương Văn Tòng reo hò mang lá cờ cùng anh em cả ba trung đội dựng lên trên đầu cổng thành Quảng Trị. Đó là sáng ngày 15 tháng 9 năm 1972. Lời không có may mắn được tiểu đoàn đề nghị đặc cách Thiếu Úy trong chiến thắng mà hình ảnh phổ biến khắp miền Nam ngay sau đó.


Tháng 11 đại đội vào thay thế tuyến thôn Nại Cửu, đêm 13 địch đồng loạt tấn công, địch ném bê ta và dùng súng phun lửa xịt thẳng vào hầm trú ẩn của Lời. Khi nghe bê ta nổ, Lời đánh thức Minh và phóng nhanh ra khỏi hầm trước khi lửa chụp xuống. Trung đội 22 kế bên cũng bị tấn công tương tự, một số khác tấn công vào trung đội 21 và 24. Pháo binh yểm trợ và hỏa châu soi sáng trận địa. Địch thảm bại, thừa thắng các trung đội tiến chiếm vị trí của địch mở rộng vùng kiểm soát. Khinh binh Chót và Minh hiệu thính viên tử trận, tịch thu toàn bộ 2 súng phun lửa, 12 AK và 2 B40. Phòng Tâm Lý Chiến có đến BCH Tiểu Đoàn chụp chung hình chiến lợi phẩm (gom lại của các đại đội) với anh em bảo vệ cánh A.

Sau một thời gian ở bệnh viện Quảng Trị, rồi đồi Lê Huấn, và được ba ngày ở đồi Dương ngay ngã ba Long Hưng, ngày 21 tháng 1 năm 1973 lại lên đường theo cánh B vào chợ Sãi hoán đổi TĐ1/TQLC. Đại đội bố trí ở hướng Bắc chợ Sãi, cách quân đường 100 thước. Sau một ngày củng cố vị trí, quan sát địch tình, đêm 22, Thiếu Úy Phán bung trung đội ra xa khoảng 50 thước lập đầu cầu rồi cho hai bán tiểu đội tiến vào. Họ vào được dãy hầm đầu, tung lựu đạn làm cháy sáng thuốc bồi cùng tiếng nổ phụ. Địch bên trong bắn chận và ném bê ta. Sức nổ của bê ta ép chặt lòng ngực vài người, Thạch Rong bị nghẹn thở, tản thương gấp về tiểu đoàn.
Image
Dựng cờ ngày 15 tháng 9 năm 1972
(Trích Chiến Sĩ Cộng Hoà số 273 –1-10-1972)
Đêm 23, sau khi pháo binh tác xạ bắn phủ đầu, trung đội 22 vừa lập xong đầu cầu, Lời điều động trung đội tấn công vào mục tiêu là quận Triệu Phong, anh đã đánh bật địch ra khỏi chi khu vào lúc 3 giờ sáng. Lời thấy trong khu nhà xập có nhiều vật dụng linh tinh dường như đây là BCH hay T.O.C của chi khu Triệu Phong.

Lựu đạn cùng bao cát từ cánh B tại chợ Sãi chuyển vào quận. Trên máy PRC 25 cấp trung đội, tiếng nói trực tiếp của Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3/TQLC, gởi lời chúc mừng:

_ Kể từ giờ phút này, Chuẩn Úy Lê Đình Lời là “Quận Trưởng Quận Triệu Phong”.

Khoảng 5 giờ sáng địch bắt đầu phản công, súng cối pháo tập trung vào chi khu, hỏa lực bắn dữ dội vào khu vực đầu cầu của trung đội 22, sau đó đồng loạt xung phong vào trung đội 23. Lời đã đánh cận chiến trên đường lui quân về đại đội. Hỏa lực rào cản của trung đội 22 và pháo binh do Nguyên Thảo điều chỉnh hiệu quả , hai trung đội lui về tuyến phòng thủ an toàn.

8 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, lệnh ngưng bắn có hiệu lực, đại đội vào chi khu gói poncho thi hài của bốn binh sĩ đã hy sinh đem về chợ Sãi, tại đây họ được bọc trong túi nylon rồi chuyển vô Huế..

Giữa năm 1973, Lời, Ngôn được thuyên chuyển về BCH tiểu đoàn, Ngôn Trưởng Ban Chiến Tranh Chánh Trị (B5), Lời thay Tr/úy Hào làm Trưởng Ban An Ninh Tình Báo (B2). Dù trong hoàn cảnh nào, trong lòng người quân nhân Đại Đội 2/ TĐ3 TQLC, Thiếu Úy Lê Đình Lời mãi mãi là người hùng Cổ Thành Quảng Trị và là Quân Trưởng Quận Triệu Phong.

MX Giang Văn Nhân

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

MÙA XUÂN CỦA NGƯỜI ĐIÊN
Phạm Phong Dinh

Sài Gòn những ngày cuối đông ủ ê như một người bệnh nằm trăn trở trên giường. Những tòa cao ốc xám xịt và rêu mốc oằn thân phiền buồn nhìn xuống những con đường đầy những chiếc xe đạp cũ kỹ bên dưới những chiếc lưng còng. Những chú heo từ trên những chiếc lan can lầu thò mõm ra khỏi những lỗ gạch tường nhìn khoảng bầu trời âm u, ngao ngán bỏ lửng chiếc máng còn một nửa thức ăn, điều gọi là thức ăn của những lát thân chuối xắt mỏng chát ngắt trộn với vụn cám đắng nghét. Thức ăn bạc bẽo như thế nên những cô chú heo rầu rĩ và ốm o.

Chỉ mới có mấy năm đón nhận hòa bình mà những tòa nhà cao ốc đẹp đẽ của ngày nào đã trở thành dột nát, loang lổ và xấu xí đến mủi lòng. Thầy thợ, công nhân, giáo chức, cán bộ, viên chức nhồi nhét nhau, chen chúc ngụ cư trong những tòa cao ốc này. Cha chung không ai chăm sóc, nên cầu tiêu cầu tiểu nghẹt cứng hôi thối. Tường vôi ẩm thấp vì nước thải và phân heo chảy tràn lan đóng rêu xanh biếc. Những cánh cửa kêu than kẽo kẹt vì bản lề rỉ sét. Hàng đống rác bốc mùi thối rữa nằm dồn đống trên lề đường mỏi mòn chờ những người phu dọn rác è ạch kéo những chiếc xe cút kít đến.

Thành phố Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông giờ đây, trong một ngày cuối đông sắp sửa sang xuân ngơ ngác, cằn cỗi như một mệnh phụ nhan sắc đã phai tàn. Ngoài chợ Bến Thành hàng quán bán hàng xuân trong một khung cảnh nhộn nhịp nhưng gượng gạo và giả tạo. Lấy cái gì, có cái gì mà mua sắm để đón xuân sau những cú đổi tiền tàn bạo. Người dân sạch trắng túi, mỗi người chỉ còn vài tờ giấy lộn trong túi, mà chỉ sau vài tuần chúng đã nhàu nát thảm hại. Hình lão già cười toe toét trên những tờ giấy súc ấy trong cơn nhăn nhúm đã trở nên méo móm kỳ quặc.

Thạnh ngồi bên chân một cây cột đèn đường giở lon guigoz cơm ra ăn. Bữa cơm trưa thật đạm bạc. Có gì đâu, chỉ là một nhúm cơm ăn với xả trộn với mắm ruốc. Nhưng Thạnh hài lòng với thực đơn của chàng. Mua một miếng mỡ bầy nhầy loại rẻ tiền nhất, cho vào cái chảo gang cũ đã bể mất hết một cái quay hun lửa cho nó phọt nước mỡ ra, rồi đổ hổ lốn xả bằm với mắm ruốc vào. Vậy là Thạnh đã có được một tuần hay hơn thức ăn mặn để đưa những hạt cơm xam xám đầy những hạt bông cỏ vào chiếc bao tử lép kẹp của chàng. Người dân thành phố còng lưng đua nhau lượm những hạt sạn và hạt cỏ hằng hà sa số nằm chen lẫn với những hạt gạo vàng ngoách và đục ngầu. Sau một ngày làm việc mệt mỏi, Thạnh chỉ muốn chui vào tấm mền nhà binh rách ngủ vùi, nên chàng chẳng buồn lượm sạn đá và hột cỏ, mà chúng có thể làm cho chiếc bao tử bị lủng và sưng phồng. Nhưng Thạnh cóc cần. Chàng chẳng phải đã là một con người chết rồi hay sao, chỉ là một cái xác chết tạm thời còn thở và đi đứng vậy thôi.

Vừa vá chiếc ruột xe đạp của khách hàng xong, mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, chiếc dạ dày của Thạnh nhốn nháo đòi hỏi, nên Thạnh giở cơm ra ăn. Thạnh ngồi trên cái hộp gỗ đựng đồ nghề, duỗi cái đầu gối cụt được tháp vào bằng một cái chân gỗ, thoải mái tựa lưng vào cột đèn đường vừa ăn vừa ngước trông những chú heo trên tòa cao ốc bên kia đường. Thạnh nhìn cái bánh xe đạp, trời ơi cái ta-lông của nó chắc người chủ nghèo rớt mồng tơi, đã chằng không biết bao nhiêu là sợi nylon. Cái ta-lông của chiếc bánh xe làm Thạnh liên tưởng đến cuộc đời tan nát của chàng, mà ngày xưa ở lính người ta gọi là banh ta-lông mỗi khi đơn vị bị tổn thất tả tơi.

Nghề ngỗng hạ bạc, hôm đắt hôm ế, nhưng Thạnh vẫn thấy chàng còn may mắn lắm, bởi vẫn có thể kiếm được vài đồng tiền hình lão già râu để sống còn. Chàng có một mái nhà, không, một cái chòi lụp xụp bên con kinh nước đen mà khi ở tù về chàng đã theo các bạn tù thuộc dạng con bà phước đến lấn chiếm dựng lên. Bọn chàng thường cụng ly cười buồn với nhau, nhớ tiếc những ngày thương phế binh xuống đường cắm dùi giành đất.

Bỗng nhiên Thạnh có một cái cảm giác, rằng có một ai đang nhìn trộm chàng. Thạnh giật mình quay sang, thì chàng trông thấy một người đàn bà rách rưới đang ngồi xổm bên cạnh từ bao giờ. Thạnh đặt chiếc lon guigoz xuống lạ lùng hỏi:
- Chị cần gì, chị muốn sửa xe phải không?
Người đàn bà không trả lời, đôi mắt đục ngầu không ánh lên một vẻ cảm xúc nào, nàng nhìn chằm chằm vào chiếc lon cơm của chàng, miệng lẩm bẩm:
- Cơm, cơm, con tôi... con... con...

Thạnh quan sát kỹ hơn người đối diện, con tim chùng xuống trong một nỗi buồn. Trời ơi, chàng đã rách rưới lắm rồi mà nàng còn tả tơi gấp nhiều lần hơn. Chiếc áo bà ba đã sờn rách nhiều chỗ để hở cả da thịt, chiếc quần không biết phải gọi là màu gì, vì nó đã biến thành màu nâu đỏ, cái ống quần bị xẻ rách để thò ra một mảnh da trắng ngà. Thạnh ái ngại nhìn khuôn mặt lem luốc của người đàn bà dưới một mái tóc rối bời, cứng ngắt như những cọng rễ tre. Điều mà Thạnh còn có thể nhận ra với chút ngạc nhiên, sau chiếc mặt nạ xấu xí ấy vẫn còn vướng vất vài đường nét kiêu sa của một cô gái đẹp. Người đàn bà chợt thò tay chộp lấy chiếc lon cơm của Thạnh, nhưng đã nhanh hơn, Thạnh chặn lấy bàn tay của nàng:
- Chị làm gì vậy?
Người đàn bà thều thào:
- Cơm... cơm... con... con...

Thạnh buông tay người thiếu phụ ra thở dài ngao ngán, trong lòng rên lên. Một người đàn bà đã mất trí. Chàng đã nghèo kiết xác đến tận cùng, mà người đàn bà này vừa điên khùng vừa đói khổ hơn nhiều. Thạnh bần thần không biết phải phản ứng như thế nào, bởi chàng mới vừa ăn được một ít, cái thân thể trong độ tuổi tráng niên của chàng hãy còn cái cảm giác thèm thuồng cơm lắm, chàng khó thể nhịn đói đến chiều được. Nhưng nhìn người đàn bà thảm hại thế kia, Thạnh thấy không đành, có lẽ chàng phải uống nước lã trừ cơm vậy. Chị Hai bán thuốc lá ngồi cách chàng chừng năm, bảy thước nói với sang:
- Anh ơi, bà điên đó, đừng để ý làm gì!
Thạnh hỏi lại:
- Chị biết bà này không?
- Ừ biết, tui là người hàng xóm của bà ấy. Anh không biết đâu, ngày xưa bà ta là bà Thiếu Tá đi xe Jeep không hà. Chặc, giờ đây nghe nói chồng đi tù ngoài Bắc đã chết mất xác, bà Thiếu Tá nghèo đói thảm hại như vậy.

Thạnh giật mình động lòng. Thì ra là người vợ lính. Không cần biết ông ta là thiếu tá hay binh nhì, trước mặt chàng đơn thuần là người vợ của một chiến hữu trong cơn thất thế. Thạnh trao chiếc lon guigoz vào tay bà Thiếu Tá:
- Chị lấy đi, nhưng buổi chiều chị trở lại trả cho tôi cái lon nghe.
Ánh mắt người thiếu phụ sáng lên một nỗi vui mừng, nàng ôm chặt cái hộp nhôm trong lòng như một báu vật. Thạnh ngậm ngùi hỏi:
- Chị ăn gì chưa?
Im lặng. Người điên làm sao hiểu được, nghe được âm thanh của thế giới người tỉnh. Thạnh bảo:
- Chị ngồi đây chờ tôi, tôi mua bánh mì cho chị ăn.
Người điên chỉ nghe được hai tiếng bánh mì và ăn, nên nàng nhìn Thạnh có vẻ như hiểu chút. Thạnh khập khểnh đến cái xe bánh mì ở gần đấy mua một ổ bánh mì chan nước sốt thịt, điều mà cái túi tiền còm chàng có thể cáng đáng. Thạnh trở lại trao ổ bánh mì cho bà Thiếu Tá:
- Chị ăn đi.
Không khách sáo gì, người đàn bà chộp lấy ổ bánh mình đưa lên miệng nhai ngấu nghiến, hẳn nàng đã nhịn đói nhiều ngày lắm rồi. Thật tội nghiệp, người điên làm sao có thể sinh tồn trong cái xã hội mà tất cả mọi con người bình thường đều bị đày đọa đến tận cùng này. Đột nhiên, người đàn bà ngừng nhai, nàng cột sợi giây thun vòng quanh tờ giấy bọc bánh mì lập lại điệp khúc cũ:
- Bánh mì... con... con...
Thạnh hiểu ngay rằng người mẹ này muốn dành hết phần ăn cho những đứa con ở nhà. Ôi, cao cả làm sao tình mẫu tử thiêng liêng. Đã là người mất trí, mà trong tận đáy tiềm thức của nàng, thiên chức làm mẹ vẫn bừng sống mãnh liệt. Thạnh hỏi chị bán thuốc lá:
- Chị ơi, gia đình bà này bây giờ ra sao rồi?
- Còn sao với trăng gì nữa. Chồng đi tù chết, bà hóa điên, hai đứa con bệnh hoạn vì đói. Hàng xóm tụi tui cũng có giúp đỡ ít nhiều nhưng chính chúng tôi còn không biết ngày mai ra sao nữa, bữa đói bữa no.

Người đàn bà chợt đứng lên, nàng ôm chiếc hộp và khúc bánh mì bỏ chạy. Thạnh chống tay trỗi dậy muốn đuổi theo, nhưng chàng phải dừng, vì ngại khi chàng vắng mặt thì cái thùng đồ nghề, cái cần câu cơm của chàng sẽ mọc cánh bay mất. Thôi đành gắng chờ bà ta trở lại vậy. Chàng có linh tính rằng nàng sẽ trở lại. Nhưng Thạnh đã lầm. Thành phố đã lên đèn, bà bán thuốc lá đang dọn thùng chuẩn bị về mà bà Thiếu Tá vẫn biệt tăm. Thạnh hỏi chị:
- Chị Hai ơi, chị có thể cho tôi biết chỗ ở của bà Thiếu Tá không?
- Ừ, anh biết cái xóm nhỏ trong con đường hẻm dẫn xuống con rạch nước đen có đám rau muống không? Anh đến đó hỏi bà Thiếu Tá, chặc, hay hỏi bọn con nít nhà bà điên, thì ai cũng biết.
- Bà Thiếu Tá mà ở nơi tăm tối vậy sao?
- Cái anh này ngớ ngẩn, nhà cửa bị tịch thu, bà ta đem con chạy vào xóm tụi tôi cất chòi ở, còn có cái mái che mưa nắng là may lắm rồi.
- Nhưng tại sao bà ta điên, thiếu gì bà tá tướng có chồng đi tù và chết?
Chị Hai nhìn Thạnh bằng ánh mắt hờn trách:
- Anh ơi, mỗi người trong bốn triệu dân Sài Gòn này đều có một câu chuyện bi thảm riêng, chuyện nào cũng có thể khiến cho người ta hóa điên hay tự tử chết được.
- Nhưng ít ra câu chuyện của bà Thiếu Tá phải bi thương đến độ bà phải dở điên dở khùng như thế chứ?
Người đàn ba bán thuốc lá cắn môi, đôi mắt rơm rớm nước mắt:
- Là đàn ông, anh không thấu hiểu nỗi đau đớn của đàn bà chúng tôi đâu. Đói khổ chúng tôi còn chịu được chứ... chứ... Mà thôi anh cứ hỏi bà ta thì hiểu.
Cái tính tò mò thiên bẩm của loài người thúc giục Thạnh hỏi dồn:
- Thì chị cứ nói đi, tôi hiểu rồi thì biết đâu tôi chẳng hăng hái cùng hàng xóm của chị giúp đỡ cho bà ta.
Chị Hai bĩu môi:
- Nhìn anh rách rưới thảm hại thế kia mà đòi giúp đỡ ai.
- Ông bà mình dạy lá rách rùm lá nát mà chị.
Chị Hai thở dài sầu não:
- Chẳng lẽ tôi phải nói trắng ra với anh là người đàn bà đáng thương ấy đã bị bọn chó đẻ muốn làm nhục trong lúc chồng đi tù. Không thỏa mãn thì chúng đuổi bà ta đi, ăn cướp nhà người ta. Nhục nhã, chồng chết, con bệnh đói, anh không hóa điên thì anh hóa thành cái gì?

Thạnh rụng rời vịn tay vào cây cột đèn, chàng lảo đảo muốn ngã, đầu óc dao động, trước mắt chàng hàng vạn đốm sáng đủ màu sắc nhảy múa trong một điệu luân vũ điên cuồng như muốn trêu cợt chàng. Dẫu biết rằng chúng nó là một lũ quỷ không tim có thể làm bất cứ chuyện ác độc nào, nhưng mỗi lần nghe kể một câu chuyện thương tâm, chàng không thể không đau lòng. Ôi ở thành phố Sài Gòn này, mỗi một người dân đều mang mển trong lòng một câu chuyện bi thảm riêng. Nếu người ta có thể hứng được nước mắt của mỗi con người ấy thì có lẽ nó đủ góp nên thành một đại dương mặn đắng.

Theo lời chỉ dẫn của chị Hai bán thuốc lá, Thạnh dễ dàng tìm được cái chòi lá của bà Thiếu Tá. Cái chòi của chàng bên bờ con kinh nước đen đã tồi tàn lắm rồi, mà cái chòi của bà càng thảm hại hơn, không biết phải gọi là cái gì. Khi Thạnh đến thì con hẻm đã chìm trong một vùng ánh sáng mờ nhạt từ chiếc bóng đèn trên cao. Đã là mùa đông chớm sang xuân rồi, đâu có còn là mùa mưa nữa, mà con hẻm thật lầy lội, Thạnh bước lõm bõm trong bùn sình đặc quánh. Khi chàng gõ vào cánh cửa gỗ tạp khép lỏng lẻo trên một cái khung méo mó, thì chẳng có ai trả lời hết. Đứng đợi mãi sốt ruột, Thạnh buộc phải đẩy nhẹ cánh cửa thò đầu nhìn vào:
- Xin lỗi, có ai trong nhà không?
Bên trong tối đen như mực, nhưng có tiếng rên rỉ đáp lời chàng. Thạnh mở toang cánh cửa tìm chút ánh sáng, chợt chàng buột miệng kêu lên:
- Ồ, trời ơi!
Thạnh đã trông thấy gì? Người đàn bà đang nằm còng queo trên một chiếc giường ọp ẹp ôm trong lòng hai đứa con nhỏ, mà tiếng rên rỉ xuất phát từ đấy. Thạnh bước đến ngồi xuống nhìn cho rõ. Giữa vùng ánh sáng xám mờ, chàng trông thấy hai đốm sáng mệt mỏi từ một đứa bé gái, nó rên ư ử. Thạnh hỏi:
- Chị ơi, chị cho tôi hỏi?
Người đàn bà nằm bất động, Thạnh không rõ nàng ra sao rồi, nhưng đứa bé gái thều thào trả lời:
- Chú ơi, con khát... con nóng...
Thạnh ngồi phệt xuống đưa tay lên sờ trán con bé, chàng hoảng hốt kêu:
- Trời, nóng thế này, cháu làm sao vậy?
Con bé khóc:
- Con không biết, con mệt, con... con... đói, con khát.
Thạnh đành phải lay người đàn bà dậy:
- Chị ơi, chị dậy đi, con của chị...
Người đàn bà mở mắt ngơ ngác nhìn, trông thấy một cái bóng đen lù lù nàng kêu rú kinh hãi, ôm hai đứa bé rúc vào góc nhà. Thạnh trấn an người thiếu phụ:
- Đừng sợ, tôi đây mà, tôi là người vá xe đạp hồi chiều…
Đứa bé gái chợt ngã ra nằm dài trên sàn đất ngất xỉu. Thạnh bò đến kéo nó dậy ôm vào lòng:
- Cháu... tỉnh dậy đi!
Con bé mở mắt nhìn, Thạnh rùng mình nhìn thấy sự chết trong ánh mắt của nó.
- Cháu mệt lắm rồi, cháu thở không được...
Thạnh vỗ về con bé:
- Đừng lo, chú đưa con đi nhà thương.
Thạnh quay sang nói với người mẹ:
- Tôi đưa cháu nó đi bệnh viện, chị ở nhà chờ tôi đừng đi đâu nghe.
Thạnh đưa tay muốn sờ trán thằng bé trai trong lòng bà Thiếu Tá, nhưng bà ta đã co rúm người ôm chặt nó hơn. Thạnh đoán rằng nàng sợ chàng bắt nó đi. Thạnh nhẹ nhàng đặt mấy khúc bánh mì và chai nước xuống:
- Chị cho cháu ăn và chị cũng ăn cho lại sức.

Thạnh kêu xích lô đưa con bé đến phòng mạch chui của một người bạn trước kia là một sĩ quan trợ y trong quân đội. Trên đường đi thì Thạnh được biết con bé có cái tên rất đẹp là Trần Nguyễn Thùy Trang, mẹ nó là Nguyễn Thùy Trinh, còn chú bé út là Trần Nguyễn Quốc Trân. Người chủ gia đình là ông Trần Quốc Kiến. Ông Thiếu Tá thật khéo đặt tên cho con. Thạnh ngại không muốn đưa bé Trang vào bệnh viện, bởi ai người ta tiếp nhận những con người cùng khổ không có sổ hộ khẩu như chàng và Thùy Trang. Ông bạn vàng của Thạnh thật là một con người có tấm lòng, anh đưa cho Thạnh mấy viên Ampicyline:
- Con nhỏ này nó bị cảm lạnh, phổi có thể sưng, tôi cho nó mấy viên trụ sinh uống tạm, anh lấy cái toa này mua thêm thuốc cho nó.
Người trợ y thở dài sườn sượt:
- Tôi chỉ còn có ngần ấy, tôi đã cho ra quá nhiều đến nỗi bây giờ tôi không còn gì. Tương lai đen như cái mõm chó mực, chắc tụi mình đi móc bọc sớm!
Thạnh ấn vào tay bạn mấy đồng tiền, nhưng anh ta đã giãy nãy đẩy ra:
- Thôi ông ơi, ông rách nát tả tơi quá rồi, dẫu sao tôi làm chui cũng còn khá hơn ông nhiều. Ông giữ lấy mà mua thuốc cho nó.

Thuốc men đắt kinh khủng, và hiếm nữa, không loại trừ mua lầm thuốc giả. Nhưng Thạnh không còn sự chọn lựa nào khác, chàng đành dốc túi đến chỗ bán thuốc mà bạn chàng giới thiệu. Số tiền còm cõi của Thạnh mua chẳng được mấy viên thuốc, nhưng thượng đế lòng lành thương người hoạn nạn, hay có lẽ con bé đang trong độ tuổi trẻ còn chống cự được với bệnh tật nên nó đã vượt qua được cơn hiểm nghèo. Sau chuyện này, số tiền để dành ít ỏi của Thạnh cạn sạch, nhưng chàng thấy có bổn phận vẫn phải giúp đỡ cái gia đình của người chiến hữu không chân dung này. Nhờ sự giới thiệu của chị Hai, Thạnh nhận được một mối bán vé số cho con bé Thùy Trang. Thùy Trang đòi đi bán khắp thành phố, nhưng Thạnh đã bảo:
- Không, con cứ ngồi bên chú không đi đâu hết, bán được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
- Nhưng như vậy thì ế chết, lấy gì trả tiền cho người ta.
- Kệ nó, vé số ế biết đâu con sẽ trúng được... độc đắc không chừng.
Con bé miễn cưỡng ngồi bên Thạnh trên một cái ghế nhỏ, trước mặt là một kệ gỗ bày bán mấy tập vé số ít ỏi đến não lòng. Công cuộc bán vé số không mấy khá, con bé cứ đòi đi bán dạo, Thạnh đành miễn cưỡng ưng thuận:
- Được, nhưng con chỉ được đi từ đầu đường này đến đầu đường dưới kia rồi trở lại và không bao giờ biến mất trước mắt chú.
Con bé kéo thêm thằng Quốc Trân ra ngồi gần bên Thạnh, còn nó bắt đầu cuộc bán dạo. Công cuộc làm ăn xem chừng khấm khá hơn. Những khi trở về ngồi nghỉ, con bé tẩn mẩn nhặt mấy cái ruột xe lên xem rồi trề môi phê bình:
- Nói xin lỗi chú, chứ chú đánh giấy nhám không được tròn trịa, để con làm cho chú coi nè.
Con nhỏ khéo tay thật. Hai bàn tay nó vờn cái ruột xe cũ thoăn thoắt như một nhạc sĩ lướt trên phím đàn. Chẳng mấy chốc mà một cái vệt tròn trịa nham nhám đã sẵn sàng để Thạnh trét keo lên. Thạnh phục con nhỏ sát đất:
- Thùy Trang siêu thật, chú phải làm đệ tử của con thì đúng hơn.
Con bé mỉm cười hiền hậu:
- Từ nay khi có dịp con sẽ giúp chú vá xe.
- Ừ, mai sau này chú chắc là con nếu không làm kỹ sư thì cũng là bác sĩ giải phẫu tài ba.
Con bé cúi đầu cười buồn:
- Có ai người ta cho tụi con đi học đâu mà mơ chú ơi!

Thỉnh thoảng bà Thùy Trinh đến ngồi xổm bên chân cột đèn nhìn chú cháu Thạnh làm ăn. Thạnh không biết được liệu trong cái thế giới mờ mịt của những người mất trí, nàng có cảm nhận được những gì đang xảy ra trước mắt không. Thạnh nghĩ là có, bởi ánh mắt của bà luôn dành sự trìu mến cho những đứa con bé bỏng của bà. Thạnh ra chợ cũ mua mấy bộ quần áo rẻ tiền nhưng còn khá lành lặn đưa cho Thùy Trang:
- Mấy cháu mặc thay đổi, còn cái này tối về con thay cho mẹ.
Thùy Trang rưng rưng nước mắt:
- Chú là người dưng mà sao chú tốt với mẹ và tụi cháu quá vậy?
- Với mẹ và mấy con hay với ai thì chú cũng có bổn phận phải làm như vậy thôi.

Thạnh chạnh lòng nhìn sang bà Thùy Trinh. Chàng bảo con bé hàng ngày lau rửa thân thể và chải gỡ cho mẹ, nên giờ đây trước mắt Thạnh không còn là một người đàn bà dơ dáy lem luốc của mấy ngày trước, mà là một người thiếu phụ xinh đẹp hiền lành ngồi lặng thinh, co ro trong mảnh áo mỏng dưới những cơn gió bấc của mùa đông thổi về. Thạnh băn khoăn không biết cuộc sống vô nghĩa của gia đình ông Thiếu Tá Kiến và chính bản thân chàng sẽ kéo dài được bao lâu. Chàng còn lê lết tấm thân tàn tật này trên lề đường đến bao giờ… Thạnh không nhìn thấy được tương lai, bởi ngay cả hiện tại mà chàng cũng đã thấy nó đen tối như cái đêm ba mươi mà chàng sắp sửa đón nhận hôm nay. Thoắt cái đã là ngày Ba Mươi Tết rồi.
Con bé Thùy Trang bán xong một xấp vé số, nó quày trở lại vui vẻ nói với ông chú hờ:
- Tối nay mẹ và tụi con mời chú đến mừng giao thừa với gia đình.
Thạnh cười phì:
- Những người nghèo rách mồng tơi như chú cháu mình mà vẫn đón giao thừa sao?
- Phải đón chứ, nghèo đón theo nghèo.
- Ừ, chú sẽ đến, nhưng mà mẹ với mấy con định đãi chú món những gì đó?
Đôi mắt trong trẻo của Thùy Trang ánh lên vẻ bí mật:
- Chú đến thì sẽ rõ.
Thạnh cốc nhẹ lên đầu con bé:
- Ừ được, nhưng đừng bày vẽ tốn kém.
Chàng nói hơi thừa, bởi gia đình bà Thùy Trinh cái chòi lá trống trước trống sau, lấy gì mà bày vẽ. Con bé nhổm dậy định đi tiếp, thì chị Hai bán thuốc lá bỗng chạy sang mặt mũi tái xanh, chỉ có mấy bước mà chị thở hổn hển nói không ra lời:
- Anh Thạnh, Trang, Trân, ba mấy con đã... đã... về kìa...

Thạnh sửng sốt không tin những gì chị Hai vừa nói, chàng nhìn về hướng cái thùng thuốc lá của chị thì thấy một người đàn ông mặc một bộ y phục kaki cũ bạc màu, trên vai quảy một cái túi vải nhỏ chắp vá bằng những mảnh vụn ba lô cũ. Đúng là cung cách của một anh tù giống như bọn chàng mấy năm trước không lầm vào đâu được. Thạnh bàng hoàng đứng lên nhìn cho rõ hơn khuôn mặt khắc khổ của người tù, dù đã tàn tạ mà khuôn mặt chữ điền của ông vẫn còn vướng vất rất nhiều nét kiên nghị của một người lính. Người đàn ông nửa như chạy, nửa như ngập ngừng bước tới hỏi:
- Xin lỗi, anh là anh Thạnh, Trung Úy Thạnh?
Thạnh ngẩn ngơ cứ mãi nhìn người khách, trong ý nghĩ quay cuồng bao câu hỏi, chàng không nghe thấy ông nói gì. Ông khách ngồi xuống, gần như là quỳ trước mặt hai đứa bé, khóe mắt ông tràn đầy nước, ông run run nắm tay chúng giọng nghẹn đặc:
- Có phải mấy con là Thùy Trang và Quốc Trân, ba... ba... là ba... của các con...

Cuộc tương phùng trên hè phố trong ngày giao thừa, sự xúc động đã làm cho ông khách gục đầu xuống khóc òa, ông không nói thêm được gì nữa. Hai đứa bé ngơ ngác nhìn Thạnh cầu cứu. Thạnh ngồi xuống bên ông khách hỏi:
- Ông là... Thiếu Tá Kiến, Trần Quốc Kiến?
Người đàn ông ngước lên, đôi má sạm đen của ông đầm đìa nước mắt:
- Phải tôi là Kiến, còn Trung Úy...
Thạnh nắm tay ông Kiến vui mừng nói:
- Giờ này mà còn Trung Úy gì nữa ông thầy. Trời ơi, ông còn sống mà người ta nói ông chết rồi.
Kiến cười buồn:
- Đúng là tôi đã chết, bạn bè khiêng ra ngoài rừng chôn, nhưng thượng đế lại cho tôi sống, bạn bè lại khiêng vào. Có lẽ lời đồn đại tam sao thất bản về thành phố, người ta tưởng tôi đã chết.
Thạnh quay sang hai đứa nhỏ:
- Vui quá mấy con ơi, đây là ba con đã trở về. Thùy Trang có nhận ra ba con không?

Thùy Trang lạ lùng nhìn người đàn ông, trong cái ký ức bé thơ của nó những hình ảnh cũ ngày xưa lũ lượt hiện về. Ông Kiến đi tù lúc hai chị em Thùy Trang chỉ có mấy tuổi, mười năm sau ông trở về, những gì còn đọng lại trong tiềm thức của Thùy Trang dường như đã phai nhạt hết. Nhưng cái tình cha con thiêng liêng dường như có một mãnh lực siêu hình khiến cho Thùy Trang nhận ra ngay người cha đã chết của nó. Thùy Trang ngã vào lòng ông Kiến khóc lớn:
- Ba... ba...
Ông Kiến ôm hai đứa nhỏ vào lòng, cái thân hình gầy mòn nhưng mà cao to của ông ấp ủ hai con chim nhỏ dưới đôi cánh của một con đại bàng lớn bằng một tình yêu thương dạt dào. Chị Hai bỗng ú ớ kêu:
- Ông Thiếu Tá ơi, bà nhà ông đã đến kìa.
Kiến giật mình nhìn lên. Đây mới chính là điều mà ông trông chờ nhất. Ba cha con đứng nhìn người đàn bà từ xa đi đến, rồi nàng ngồi xổm xuống bên chân cái cột đèn quen thuộc. Ông Kiến nấc nghẹn gọi, giọng khàn đặc đứt quãng:
- Mình... mình... anh đã về...
Đôi mắt vô hồn của bà Thùy Trinh đăm đăm nhìn về một cõi vô hình nào mà chỉ nàng biết rõ. Bà không nhìn thấy ông Kiến, hay bất cứ người xa lạ nào khác. Nhưng tình mẫu tử kỳ lạ đã luôn khiến bà nhìn thấy mối nguy của những đứa con, Thùy Trinh nhảy đến giằng lấy hai đứa nhỏ từ trong tay ông Kiến:
- Con tôi... con tôi...
Ông Kiến nắm lấy bàn tay gầy guộc nổi đầy gân xanh của vợ khóc nức nở:
- Em... mình... mình... ra đến nông nỗi này sao, anh là Kiến của em đây!
Thùy Trinh ôm hai đứa bé vào lòng lùi dần, nàng sợ hãi muốn bỏ chạy, miệng lắp bắp:
- Con tôi... con tôi...
Thùy Trang lắc mạnh tay mẹ khóc lóc:
- Mẹ ơi... ba đã về...

Nhưng Thùy Trinh vẫn ngơ ngác như một cái cây vô tri, nàng buông hai đứa con ra rồi lại ngồi phệt xuống. Chứng kiến tấn bi kịch tương phùng, chị Hai cũng khóc. Vừa thấm nước mắt chị kể cho ông Kiến nghe chuyện gia đình ông, rằng vợ ông nổi điên là vì không muốn thân thể bị hoen ố, và vì bị đuổi ra khỏi nhà, nhưng trên hết là bởi nghe tin ông đã chết. Mặc cho người qua lại trên hè phố đứng nhìn, ông Kiến khụyu người xuống bên vợ khóc nấc từng lúc:
- Mình ơi, trời ơi... tội nghiệp mình biết dường nào.
Thạnh bước đến tìm lời an ủi:
- Ông thầy nên đưa bà về nhà trước rồi tính sau.
Khi mọi người đã ngồi trên chiếc giường ọp ẹp trong cái chòi lá tồi tàn, ông Kiến phục xuống lạy Thạnh:
- Anh Thạnh, Trung Úy Thạnh... xin anh nhận tôi mấy lạy này...
Thạnh kinh hoảng nhào xuống đỡ ông Kiến dậy:
- Thiếu Tá làm gì vậy?
Kiến ngã vào lòng Thạnh khóc lớn:
- Trung Úy Thạnh, suốt đời gia đình chúng tôi đội ơn Trung Úy.
Không dằn được cơn não lòng, Thạnh cũng khóc, hai người đàn ông ôm nhau nức nở như hai đứa trẻ bị mẹ đánh đòn oan.
- Ông thầy đừng nói vậy, mình là chiến hữu với nhau, tôi có bổn phận...
Độc giả không thích một cái kết cuộc quá bi thương vẫn có thể tin rằng thượng đế đã đang nhìn thấy hết những nỗi khổ đau của người trần gian và ngài sẽ cứu.

oOo

Năm năm sau. Cũng trong một ngày cuối đông sắp sang xuân, Thạnh cùng vợ và mấy người bạn trong cái xóm nhỏ bên bờ con kinh nước đen đang ngồi quanh bàn tiệc đón giao thừa, thì có một người khách lạ ăn vận tươm tất bước vào:
- Xin lỗi, đây có phải là nhà của ông Lê Văn Thạnh?
Thạnh đứng lên:
- Tôi là Thạnh đây, xin lỗi ông có gì cần?
Ông khách vui vẻ xoa tay:
- Tốt quá, xin mời ông ra ngoài nhận quà Tết.
Thạnh nhìn sang vợ ngơ ngác, trong lòng dậy lên một dấu hỏi to tướng. Thạnh có quen biết ai đâu mà nhận quà, hay là người ta lầm.
- Ông có chắc là tôi không?
Ông khách cười tươi:
- Ông là Trung Úy Lê Văn Thạnh, Tiểu Đoàn Địa Phương Quân ở Kontum? Nếu đúng thì xin ông ra nhận quà.
Thạnh nắm tay vợ cùng bước ra ngoài, ông khách bước theo chỉ vào… Trời ơi! Thạnh có nhìn lầm không? Một chiếc xe gắn máy bóng loáng, mới toanh.
- Đây là quà của gia đình ông Trần Quốc Kiến ở Hoa Kỳ gởi về, họ ân cần dặn dò tôi phải tìm đúng nhà ông Trung Úy Lê Văn Thạnh.
Ông khách vẫy một người đàn ông đang ngồi chờ trên một chiếc gắn máy khác ôm một gói to tướng đến:
- Còn đây là quà đón Tết của công ty bán xe Đại Phát chúng tôi. Hà hà, kính chúc gia đình Trung Úy sang năm mới tấn tài, tấn phát, vạn sự may mắn và an lành.
Vợ Thạnh gục vào vai chàng khóc thút thít:
- Anh ơi... em không thể tưởng tượng được.

Thạnh hiểu ngay rằng gia đình ông Kiến gởi về cho chàng một cái cần câu cơm. Từ nay gia đình nhỏ bé của chàng sẽ sống nhờ vào chiếc xe này. Mấy người bạn vây quanh nói lời chia mừng, Thạnh mở bức thư của ông Kiến ra. Một xấp tiền dầy cộm hiện ra trước mắt. Mắt nhòa lệ, những giòng chữ rắn rỏi của ông Kiến nhảy múa trên bàn tay run rẩy của Thạnh.

“Anh Thạnh rất thân mến của gia đình chúng tôi,
Đầu thư kính thăm anh chị luôn được mạnh khỏe và nhiều điều an lành. Đây là món quà nhỏ không phải của tôi hay của Thùy Trinh mà là của Thùy Trang với Quốc Trân gởi về cho chú thím của chúng nó. Các cháu vẫn luôn nhắc nhở những ngày ngồi bán vé số và cùng vá xe với chú Thạnh, mà chúng nó cho là những ngày đẹp đẽ nhất trong đời. Cháu Thùy Trang và cháu Quốc Trân nhắn lời là thế nào các cháu cũng về thăm chú thím Thạnh. Còn số tiền nhỏ mọn này, gia đình chúng tôi nhờ anh phân chia lại cho anh em chiến hữu trong xóm, gọi là chút quà mừng Xuân. Kèm theo đây là mấy hàng của vợ tôi gởi cho anh”.

Con tim như muốn vỡ ra trăm mảnh vì quá cảm xúc, Thạnh trao bức thư cho vợ đọc tiếp.

“Kính ân nhân,
Nhờ sự giúp đỡ của ân nhân mà tôi đã được trở về với thế giới của những người bình thường. Nhưng xin phép được gọi ân nhân là anh Thạnh. Anh Thạnh! Con bé Thùy Trang mà anh cứu sống đang rất bận rộn trong năm đầu tiên ở Trường Y, cháu sẽ theo đuổi ngành giải phẫu chuyên khoa. Thùy Trang nói vì đó là ước vọng, là lời anh nói với bé ngày xưa. Điều mà tôi luôn ghi khắc trong lòng cho đến trọn đời là xin anh cho gia đình chúng tôi được giữ mãi chiếc lon guigoz ân tình như là một báu vật của gia đình. Xin được kính lời thăm chị, kính chúc anh chị một năm mới vạn sự như ý và tốt lành. Thùy Trinh và gia đình”.

Phạm Phong Dinh

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Ngày Quân lực Việt Nam Cộng hòa 19-6-1971, 19-6-1973

Image
Xin click vào hình để xem youtube Ngày Quân Lực VNCH

Ngày Quân Lực VNCH

Post Reply