Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Image
'' Mây Đã Qua Cầu ''

Thích Tánh Tuệ
Nén hương lòng tưởng niệm nhạc sỹ Phạm Duy.

'' ...Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi, mẹ hiền ru những câu xa vời..'' câu hát này, bài hát này hầu như người Việt chúng ta ai ai cũng thuộc, những ngôn từ bắt đầu của bài hát thật tự nhiên, giản dị, ai cũng có thể nghĩ ra, ấy vậy mà để biến nó thành Tình Ca, thành lời nhạc bay đến chạm vào trái tim của người Việt và ngự trị hẳn trong đó suốt mấy thập niên qua thì chỉ có Phạm Duy mới có thể. Ngày trước, khi còn là một cậu thiếu niên choai choai tôi đã '' mê '' nhạc của họ Phạm và họ Trịnh rồi, những dòng nhạc của họ không biết tự khi nào đã trở thành một phần đời sống của riêng tôi, nghĩa là một loại dưỡng chất tinh thần không thể thiếu và hẳn nhiên trước đó từ lâu, dòng nhạc của họ đã trở thành đời sống của ngàn vạn trái tim yêu nhạc Việt rồi.

Ngày xưa, trước khi khoát lên người chiếc áo nâu nhà Phật tôi đã nguyện chia tay với con người đam mê âm nhạc của mình, tôi tập thoát ly đam mê những âm thanh trần thế để hướng tâm về con đường giải thoát thanh cao, và thật sự là tôi đã làm được điều đó. Khi tìm đến với kinh kệ nhà Phật tôi đã không còn đắm mình với '' Đưa em tìm động hoa vàng '','' Tình hoài hương '','' Giọt mưa trên lá '' hay '' Em đi lễ chùa này ''... nửa, nhưng như thế không có nghĩa là tôi đã đoạn tuyệt được hẳn với những hạt giống (chủng tử) đã ăn sâu vào tiềm thức của mình trong độ tuổi hoa niên. Cách đây vài hôm, khi nghe tin nhạc sỹ Phạm Duy qua đời, cả người tôi, cả thế giới tâm hồn tôi như ngừng đọng, sững sờ.. dù đã biết vô thường là bản chất của vạn hữu. Những dòng nhạc của một thời tôi sống với, từ lâu ngỡ đã chìm vào quên lãng, bỗng trỗi dậy trong tôi từng hồi, từng hồi, dạt dào, bất tận... và tôi đã cúi đầu xin phép con người tu sỹ trong tôi rằng.. hãy cho phép tôi được để yên '' tình trạng '' này và xem đó như thể là một biểu hiện của sự thương tiếc, tưởng niệm về một con người tài ba đã từng là một phần đời sống của mình trong quá khứ.

Hai hôm nay tôi nhận được nhiều điện thư của các bạn trong đạo cũng như ngoài đời, họ chia sẻ cảm xúc của họ về tin người nhạc sỹ vừa nằm xuống.Trong số những bức điện thư forward tới tôi có khá nhiều bài viết của những cây bút tôi quen tên ở Hải ngoại đã tống tiễn người nhạc sỹ với giọng điệu phỉ báng, chỉ trích, chê bai nặng nề.. , tôi đọc qua mà chỉ biết '' ngậm ngùi '' cho người vừa khuất núi, tôi buồn cho một con người đã suốt đời cống hiến mật ngọt cho cuộc đời để rồi khi nằm xuống thế nhân đã đền ơn ông, đã tiễn ông bằng vô vàn... lời cay, chén đắng. Ở khía cạnh nào đó, có thể vì họ quá thương nhạc sỹ nên giờ trở thành oán trách cái con người mà họ cho rằng đã không còn đứng '' chung chiến tuyến '' với mình? Nói chi thì nói, bản chất của cuộc đời là tình cảm, ai mà đi ngược lại với tình cảm của ta là lập tức bị ta không ưa rồi? '' không ưa '' là cấp độ nhẹ, còn oán ghét là cấp độ sâu. Khi cái ghét đã lên đến đỉnh điểm, họ không ngại bới móc đời tư, chuyện gia đình, chuyện tình cảm cá nhân của người họ ghét để làm cho hả dạ một lần sau cuối,'' nghĩa tử nghĩa tận '' họ không màng.

Với tôi, Phạm Duy, và một vài nhạc sỹ VN lừng danh khác họ là những người nhạc sỹ mang trong mình một trái tim yêu quê hương VN tha thiết, tình yêu của họ còn vượt trên cả tình yêu của chúng ta, vì nếu không yêu quê hương nồng nàn thì Phạm Duy không thể nào có..'' Tôi yêu đất nước tôi từ khi mới ra đời..'' được? Chỉ vì họ yêu quê hương theo cái cách của họ, thái độ yêu quê hương, đất nước của họ người đời không cùng tận được rồi từ đó hiểu sai họ mà thôi.

Ta có thể ví von rằng mọi thể chế chính trị giống như là chiếc áo, (là lớp áo bên ngoài), còn quê hương chính là phần thân thể, là máu mủ thịt xương. Một khi ta không ưa chiếc áo này thì ta có thể thay đổi chiếc áo khác, thậm chí ta có thể xé toạc nó ném đi nơi khác, nhưng đối với thân thể thì ta không làm như thế được, vì vậy, với những người tha thiết yêu quê hương, một khi mất nó đi, họ cảm thấy họ như đã mất đi chính bản thân mình, cái khao khát trở về với quê hương của họ chính là cái khao khát được trở lại với chính bản thân họ, dù rằng quê hương đó đã không còn toàn vẹn, lành lặn như xưa, nhưng họ thà như thế còn hơn là mất hẳn. Có khi vì ai ai cũng mặc áo thì họ cũng mặc nhưng chưa chắc họ đã yêu thích chiếc áo mà họ đang mặc trên người. Và đôi khi ta bước song hành với một người nào đó nhưng chắc gì tâm hồn ta cũng đi cùng với họ, chuyện vợ chồng người ta còn có câu : '' đồng sàng dị mộng '' cơ mà! - Vị thầy bổn sư tế độ cho tôi cũng đã để lại những dòng thơ trác tuyệt cho quê hương như : '' Mái chùa che chở hồn dân tộc. Nếp sống muôn đời của tổ tông ''. Phải, cái '' hồn dân tộc '' đó là sao mà tìm ra, làm sao mà cảm nhận ở xứ lạ quê người được, người ta chỉ có thể '' hít thở '' được nó trên chính nơi mình đã ''chôn nhau cắt rốn'' mà thôi! Thầy tôi đã viết như thế nhưng Người đã nằm xuống trên đất Mỹ sau mấy mươi năm sống lưu vong, Người đã không một lần trở về chỉ đơn giản vì không thích mặc ''chiếc áo'' của người ta. Mỗi người đều có lý và đều đúng trong sự lựa chọn của mình.

Phàm làm người thì không ai toàn vẹn cả, thế nhưng khi một mảnh giấy trắng bị rớt lên đó một giọt mực đen thì người ta chỉ '' nhìn chằm hăm '' vào cái giọt mực đen kia rồi chê bai, bình phẩm mà quên đi diện tích sạch sẽ còn lại trên trang giấy, đó chính là cố tật lớn nhất của con người. Người ta nhân danh đạo đức rồi tự cho mình cái quyền lên án, rêu rao lầm lỗi của người khác, trong khi đằng sau họ, trong tim họ còn dẫy đầy tội lỗi và bóng tối mênh mông ... Trước đây khi hát bài : ''Một cõi đi về '' của Trịnh, khi hát đến đoạn: '' Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng'' tôi cứ lấy làm thắc mắc rằng tại sao ông ấy không dùng chữ ..'' Con tim nhân gian '' nghe có hay và dễ hiểu hơn không? nhưng bây giờ thì tôi đã '' ngộ '' ra cái thâm sâu của Trịnh, rằng đôi tay kia chính là hành động được điều khiển bởi con tim, nếu con tim đã không độ lượng thì lập tức ..'' ta sẽ ra tay cho mà biết ''. Ôi, thói đời cay nghiệt, ôi lòng người eo hẹp nói mãi cũng không cùng...

Chỉ còn vỏn vẹn mươi hôm nửa là bước sang năm mới, dẫu biết vô thường không hẹn cùng ai nhưng tôi vẫn tiếc sao cây Cổ Thụ Âm Nhạc VN không lưu lại nhân gian ít ra thêm một mùa Xuân nửa. Thôi thì.. ông hãy '' Ôm trăng đánh giấc bên đồi Dạ Lan '' đi nhé! Là nghệ sỹ, tôi chắc từ lâu ông đã hiểu: '' Đời ghét, thương vốn dĩ là thường! '' nhưng ông cứ tin một điều rằng họ ghét ông như ghét vị cay của ớt song họ vẫn cứ ăn, ghét vị đắng của rượu mà họ vẫn cứ uống, ghét con người ông nhưng '' tâm hồn '' của ông thì họ vẫn cứ ngày đêm cùng nhau hát say sưa, hiểu như thế thì ông ở bên kia ông hãy cứ vui và yêu thương họ, ông nhé!

Xin tạ ơn ông đã có mặt điểm tô cho đời và cũng đã cùng '' khóc cười theo mệnh nước nỗi trôi ''. Xin mượn lời nhạc của ông để tiễn đưa ông trong tiếng chuông mõ nhà chùa : ''... Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi, đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người ..''

(*) Em Lễ Chùa Này :
''..Rồi từ đây vườn chùa thanh vắng, tiễn đưa em ngày tháng qua mau. Một nụ mai vừa nở trong nắng, hỡi em ơi mây đã qua cầu
Image
''... Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi, đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người ..''

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Ðường Chiều Lá Rụng

Quỳnh Giao
Một buổi chiều cuối năm, chúng tôi cùng hát với nhau dù chỉ được một phần cả Ngàn Lời Ca của Phạm Duy. Trong có 24 tiếng để anh chị em tổ chức một buổi sinh hoạt impromtu mà trang nghiêm, Quỳnh Giao nhận lời hát Kỷ Niệm và Ðường Chiều Lá Rụng.

Kỷ Niệm là ca khúc vừa sáng tác xong là Phạm Duy đưa cho con bé hát trên đài phát thanh. Hơn hai chục năm sau đó, khi mình còn ở miền Ðông và thực hiện lấy băng nhạc Hát Cho Kỷ Niệm theo lối thủ công nghệ, ông cẩn thận gửi lời giới thiệu qua một cassette. Ðấy là kỷ niệm khó phai, nghe lại là nhạt nhòa nước mắt.

Còn Ðường Chiều Lá Rụng là một dấu ấn khác của Phạm Duy, được ông viết khi còn trẻ, vào năm 1965, căn cứ theo tập nhạc “Hát vào Ðời” xuất bản năm 1969. Nhưng trong cuốn “Ngàn Lời Ca,” thì ông viết từ năm 1958, sau khi đi du học bên Pháp về. Ðiều này có lẽ cũng đúng, vì ông đã dùng những điều học được áp dụng cho ca khúc. Ðây là bài hát có nhạc thuật cao nhất của ông, với nét ngũ cung u uẩn và những chuyển đoạn liên tục, vừa khó hát, khó nghe và khó hòa âm.

Năm đó, khi vừa ráo mực, ông đưa tác phẩm cho nhạc sĩ Vũ Thành. Là trưởng phòng văn nghệ của đài Phát Thanh Sài Gòn và trưởng ban nhạc đại hòa tấu và hợp xướng Phương Hoa, Vũ Thành cũng cộng tác với đài Tiếng Nói Tự Do của Hoa Kỳ, chuyên phát các chương trình ra miền Bắc. Nổi tiếng khó tính, Vũ Thành lưỡng lự khi soạn hòa âm, vì Ðường Chiều Lá Rụng không dễ viết.

Nguyên tác của Phạm Duy là nhịp ý dìu dặt thiết tha trên ton Si thứ với nhiều quãng năm giảm (quinte diminué) làm nhiều ca sĩ trẹo lưỡi. Hát đúng giọng thì phải xuống nốt Fa thăng thấp (dưới hàng kẻ ba dòng) và lên nốt Fa thăng cao nhất (dòng kẻ thứ năm). Vũ Thành sửa lại, dùng nhịp 4/4 theo lối chậm rãi kể lể của một bản Slow và viết nhiều nốt liên ba (triolet) trong toàn bài, rồi còn hạ một cung, tức là ton La thứ. Viết xong, Vũ Thành quyết định thu thanh cho chương trình của đài Tiếng Nói Tự Do để phát ra Bắc, và vì thế trong Nam mình không được nghe.

Ông chọn Thái Thanh để trình bày tác phẩm bất hủ này. Ðấy là một chọn lựa tuyệt vời.

Thường ngày Thái Thanh vẫn nổi tiếng là cường điệu. Bà làm cho ca khúc thổn thức rũ rượi hơn và nồng nàn hơn nguyên bản. Nhưng với Ðường Chiều Lá Rụng qua hòa âm Vũ Thành thì mọi lối quằn quại điệu nghệ bỗng nhiên biến mất. Bài hát quá khó, khiến bà phải cẩn trọng từng chữ, hát sai và không theo dàn nhạc thì Vũ Thành “quạt” ngay, chẳng nể nang ai cả!

Thái Thanh hát nghiêm chỉnh, lại có cả dàn phụ họa của Anh Ngọc, Nhật Bằng, Phượng Bằng, Kim Tước, Mai Hương và Quỳnh Giao nữa, nên ca khúc là một tuyệt chiêu.

Như có lần người viết đã kể, khi di tản năm 1975, tài sản duy nhất được Vũ Thành đem theo là một số băng ghi âm các ca khúc quý giá ông làm cho đài Tiếng Nói Tự Do. Trong đó có Ðường Chiều Lá Rụng.

Tại hải ngoại, khi thực hiện đĩa nhạc thứ hai với tên Tiếng Chuông Chiều Thu, Quỳnh Giao chọn Ðường Chiều Lá Rụng vì yêu mến tác phẩm trứ danh này. Nhưng đưa cho Duy Cường nghe tape nhạc Vũ Thành thì bị lắc đầu: “Em không bao giờ làm giống ai và chẳng bị ảnh hưởng của ai hết!” Ðúng quá chứ! Rồi Duy Cường cũng loay hoay mãi không viết được. Anh không chịu đổi qua nhịp Slow như Vũ Thành, dù nhịp này dễ hát hơn nhiều.

Cuối cùng Duy Cường hòa âm theo kiểu ad lib, là tự do, chẳng có nhịp gì hết.

Cái khó là xưa nay ca sĩ hát ad lib thì nhạc sĩ đệm theo, chứ bao giờ lại có sự ngược là nhạc sĩ đàn ad lib và ca sĩ phải hát theo! Cường nói: “Chỉ có chị mới hát theo dàn nhạc được, và vì chị nên em mới thử nghiệm điều này.”

Hôm thu âm tại phòng thu Tomlinson, Phạm Duy đến nghe. Cô cháu hát thử câu đầu “chiều rơi trên đường vắng có ta rơi giữa chiều” bằng hai cách. Cách thứ nhất gần giống lối diễn tả của Thái Thanh, là láy vào chữ “vắng” và chữ “rơi.” Cách thứ hai là chỉ láy vào chữ “ta” mà thôi. Và hát rất đều giọng, nghiêm trang. Phạm Duy chọn cách thứ hai. Viết lại như vậy để chúng ta hiểu ý người sáng tác.

Cho tới giờ dường như số người hát Ðường Chiều Lá Rụng chỉ đếm trên đầu ngón tay của một bàn tay. Riêng Phạm Duy thì nhắc đến ba người là Thái Thanh, Kim Tước và Quỳnh Giao. Mà người nghe chắc cũng ít. Nhạc đã thế, lời ca lại chẳng nhắm vào cảm quan mà đầy não tính...

Quỳnh Giao đã viết nhiều nên không dám nói thêm về các lời từ của Phạm Duy khi ông đưa tình yêu lên tận cõi chết. Ðường Chiều Lá Rụng là một tiêu biểu rực rỡ và rã rời nhất với hình ảnh đầy chất siêu thực. Nhưng giờ đây, khi ông đã ra đi, mà mình hát lại với nước mắt lưng tròng thì ca khúc lại tái sinh như một bức họa. Ông chuyển cung như dùng màu sắc để đổi ánh sáng và có nhiều câu báo hiệu lối viết sẽ thấy ở Trịnh Công Sơn về sau.

Một kỷ niệm cuối là khi ghi âm bài này với hòa âm của Duy Cường, Quỳnh Giao đã ỷ vào chỗ thân tình mà xin sửa một chữ ở câu cuối! Phạm Duy nghe lại, gật gù và cho phép!

Chiều tan trên đường tối, có ta như rã rời

Hồn ta như gò mối, đang chờ phút đầu thai.

Quỳnh Giao xin phép hát là “Hồn ta như gò mối, IM chờ phút đầu thai...”

Lá đã rụng, ông đã im. Chúng ta đang chờ ông trở lại.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Chim Kêu Vượn Hú

Trần Mộng Tú

Những năm tháng của mấy chục năm về trước, mỗi độ Tết âm lịch về, lòng tôi lúc nào cũng buồn buồn. Một nỗi buồn không sao tránh được. Nỗi buồn đó như thói quen, như bệnh lâu ngày, như một công thức đời sống bám chặt lấy mình. Là người Việt tha hương lâu năm khi Tết Nguyên Đán về chắc chắn không nhiều thì ít lòng ai cũng nao nao buồn, khi sửa soạn lòng mình để đón một năm mới ở xứ người. Cười đấy, nói đấy, nhưng bỗng dưng có lúc ngồi lặng thinh, im ắng, ứa nước mắt một riêng mình, nhớ về quê nhà, nhớ ông bà, cha mẹ dù còn sống hay đã qua đời.

Có một năm, chỉ còn một vài ngày nữa là Tết. Tôi lái xe từ chợ về nhà, trời chưa vào tối, nhưng là mùa đông nên âm u, lái xe giữa đường bỗng nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ quê nhà thăm thẳm làm lòng quặn thắt, phải tạt xe vào lề đường, vừa bật lên khóc nức nở, vừa gọi phôn cho cô em (đang làm việc ở sở), em tôi cũng bối rối nhưng chẳng biết nói gì hơn là vài câu an ủi: mình phải buồn là chuyện tự nhiên thôi.

Những năm gần đây tôi lại mang một tâm trạng khác. Tôi đối diện với tuổi đời, biết là mình đã sống, đã kinh qua buồn vui, biết “Niềm vui ngọt ngào nhất của đất trời đều là kết quả của những ưu phiền” nên lòng tôi chỉ mang mang một nỗi buồn rất nhẹ nhàng về năm tháng, lại thấy tâm an khi nghĩ mẹ cha đã ở một chốn tốt đẹp và đang chúc phúc cho con cháu. Còn mình, thì theo lẽ đương nhiên của đất trời sẽ được gặp lại mẹ cha một ngày nào đó.

Tưởng lòng mình đã lắng xuống với buồn vui, nhưng mấy tháng cuối năm nay, đọc cái bản tin về một người mẹ trẻ, ôm hai đứa con nhỏ nhẩy lầu ở Đại Hàn, chết cả ba mẹ con, tôi không sao giữ cho tâm an được. Khổ đến thế nào mà cô phải đi đến quyết tâm cả ba mẹ con cùng chết.

Má ơi! Đừng gả con xa
chim kêu vượn hú biết nhà má đâu

Câu ca dao của miền Nam thời xa xưa đó bỗng quay về trong trí tôi mấy ngày cuối năm. Thuở đó, gả con xa có nghĩa là gả con sang làng khác, sang tỉnh khác. Là đưa dâu, đón dâu hết một ngày đò dọc hay đi bằng xe hàng một chặng đường dài từ sáng đến chiều. Cô gái đi làm dâu xa, khi sanh đứa con đầu lòng mới được về cho mẹ chăm nom “Con so nhà mạ/Con rạ nhà chồng”. Sanh con cứng cáp rồi lại quay về bên chồng. Có khi cả năm tới tết mới được ôm con về thăm cha mẹ, hay cha mẹ ốm đau lắm hoặc qua đời mới được về trả hiếu. Vì cô đã thuộc về dâu con nhà người. Cha mẹ thương nhớ con nhưng gái lớn thì phải theo chồng, nên tuy khóc nhưng cũng mừng vì con có gia đình. Nếu con được vào gia đình khá giả, tử tế cha mẹ hãnh diện, an tâm; nếu chẳng may con lấy phải chồng nghèo cũng khuyên con chịu thương chịu khó gánh vác giang san bên chồng, ở cho phải đạo dâu con. Số cô có vất vả lắm cũng là thức khuya, dậy sớm, làm đủ mọi việc trong gia đình. Số cô có khổ lắm thì gặp anh chồng vô tích sự, còn cờ bạc, rượu chè, gặp mẹ chồng cay nghiệt bắt bẻ. Như thế đã là quá sức chịu đựng cho một người phụ nữ rồi và làng trên, xóm dưới, ai cũng chê trách cái gia đình bên chồng cay nghiệt đó.


Chữ “Má ơi” cho ta biết câu hát đó phát xuất ở miền Nam nước Việt. Gái quê của miền tây Nam Bộ đẹp nổi tiếng. Gái Mỹ Tho, Cần Thơ, Bến Tre, gái Cao Lãnh, Nha Mân cô nào cũng đẹp, cũng da trắng, tóc dài. Hình ảnh những cô gái dậy thì trong chiếc áo bà ba ngồi bên sạp trái cây là hình ảnh những du khách ngoại quốc cho in vào những tấm thiệp lưu niệm gửi đi khắp nơi trên thế giới.

Cha mẹ chỉ gả cô sang làng khác, sang tỉnh khác thôi mà cô đã tức tưởi kêu lên như vậy rồi. Bây giờ cô lìa cha mẹ, xa anh em, xa làng, xa nước, sang tận Đại Hàn, Đài Loan, Trung Quốc lấy chồng.

Cô đi lấy chồng, một người chồng lớn hơn cô từ 10 đến 20 tuổi, người chồng tàn tật hay người chồng mang bệnh tâm thần, có cô chồng gần bằng tuổi cha mình. Cô không nói cùng chung ngôn ngữ, cô không biết gia cảnh nhà chồng, cô bước lên máy bay, bay tít lên vòm trời rồi hạ xuống một vùng đất hoàn toàn xa lạ. Cô kêu lên “Má ơi!”

Nhưng má cô không thể nào nghe được tiếng kêu đó nữa. Cô mất liên lạc với gia đình, với quê nhà, ngay khi bước chân vào nhà chồng. Cô bị hành hạ, đánh đập, cô không biết chỗ trốn, không biết chỗ chạy. Nhà chồng trấn lột hết giấy tờ tùy thân của cô, cô không có một tờ giấy nào chứng minh cô là một người vợ đến từ phương xa, cô không có ngôn ngữ để giãi bầy.

Ở Đại Hàn, cô bị cả nhà chồng đánh đập. Cô bị đánh đến gẫy xương, cô chết, xác vứt xuống hầm như vất một con chó chết; cô bị đánh đến dập gan, nát phổi, cô chết ngay bên cạnh đứa con sơ sinh; hay cô tự tử vì không còn lối nào thoát ra được sự hành hạ ngoài cái chết. Cô ôm cả hai đứa con thơ dại nhẩy từ lầu cao xuống để ba mẹ con cùng chết. Đó là cách duy nhất có thể bảo vệ mình và con mình.

Ở Đài Loan, sau khi làm vợ vài tháng, cô bị đánh đập gán cho bao nhiêu tội cô không hề có, trước khi họ mang đi bán, như bán một con heo vào những động mãi dâm. Cô mất hết đường về.

Ở Trung Quốc, hình ảnh những cô dâu Việt Nam mặc áo dài truyền thống được quảng cáo trên tường, trên cột đèn ngoài phố, với cái giá rẻ mạt kèm theo những hàng chữ: Không còn trinh, được đổi cô khác. Cô về đến nhà chồng mới hay mình được đem về làm con vật tế thần cho từ bố chồng, anh chồng, đến em trai của chồng. Người ta coi như mua về được một con nô lệ vừa lao động trong việc đồng áng vừa phục vụ tình dục cho những người đàn ông trong nhà. Cô cũng không bao giờ trốn được họa chăng là phép lạ.

Nhưng phép lạ, đôi khi cũng xẩy ra nên thế giới bên ngoài mới biết được những nghịch cảnh mà những cô gái Việt Nam gánh chịu. Có cô đã trốn thoát.

Tại sao biết những chuyện bất hạnh như thế có thể xẩy ra cho mình mà các cô gái quê, vẫn theo nhau vào Sài Gòn tìm đến những dịch vụ hôn nhân với người nước ngoài.

Các bà mẹ vẫn hân hoan khi có con gái lấy chồng Hàn, chồng Đài Loan. Vì cũng trong mười cô chết thì có một cô may mắn sống, một cô không bị nhà chồng hành hạ và mang được tiền về cho cha mẹ ở cái làng nghèo nàn bên Việt Nam. Cái làng mà ruộng đồng, ao cá, không còn vì đất đai bị chiếm hết để xây cao ốc hay công xưởng, nhà máy. Có khi bị chiếm để xây những nghĩa địa cho các đại gia hay các ông lớn (chưa chết,) những ngôi nhà mồ, đắp tô với rồng bay phượng múa, phỏng theo mô hình cung điện của các vua chúa thời xưa bên Trung Hoa.

Có bà mẹ đã nói: “Ôi! Trời kêu ai nấy dạ. Đâu có phải ai lấy chồng Hàn, chồng Đài Loan cũng chết hay cũng bị mang bán cả đâu. May mắn nó mang tiền về xây nhà mới cho mình chứ lấy chồng Việt để ôm nhau chết đói à?” Có bà ngoại, bà nội nhìn con cháu bé lên bốn lên năm cất tiếng khen: “Con bé này xinh quá, nuôi cho mau lớn rồi gả chồng Hàn.”

Tôi đã nhiều lần đọc được những cái tin như thế, nghe lòng bải hoải cả mấy tuần. Cứ tự hỏi: Sao ở trong nước, không có phu nhân hay một tiểu thư nào là vợ, con, của một ông bộ trưởng, ông tổng giám đốc, ông thủ tướng hay một đại gia nào đó với gia tài cả trăm triệu, cả bạc tỷ Mỹ kim, đứng lên làm một việc gì tốt lành cho những cô gái này, như: xây trường dạy nghề, hướng dẫn công việc, cho mượn vốn buôn bán, để cứu giúp những cô gái quê, ít học, có một công việc nuôi thân. Tôi nghĩ nếu các cô được hướng dẫn thì cái tỷ lệ mang thân làm dâu Hàn, dâu Đài Loan, dâu Trung Quốc sẽ bớt đi nhiều. Hay ít ra giúp họ tìm cho rõ ngọn nguồn trước khi ký vào những tờ giấy hôn thú mang rủi nhiều hơn may đó.

Cái động lực nào đã đưa các cô đến chỗ không sợ hãi trước những chuyện người chồng Hàn có thể đánh vợ cho đến chết, hay hành hạ cho đến lúc người phụ nữ phải tự tử để an thân. Người chồng Đài Loan có thể mang vợ đi bán cho ổ mãi dâm, hoặc chuyện phải làm nô lệ tình dục cho cả một gia đình bên Trung Quốc. Kinh hoàng quá!

Cái xã hội cô đang sống có đưa bàn tay nào ra, níu cô lại, giúp đỡ cô hay cũng chính cái xã hội đó thản nhiên nhìn cô bước vào một thế giới cô không có khả năng hình dung ra trước được. Đau thương quá!

Cô đi lấy chồng như thế đau khổ cho cô, tủi nhục cho cha mẹ đã đành mà còn xấu hổ cho cả một quốc gia nữa. Ông anh tôi ở tiểu bang California, một hôm kể cho tôi nghe, ở cái club anh chơi tennis, anh gặp một người đàn ông Đại Hàn mới nhập hội chơi. Sau vài lần chơi chung, cà phê, ăn sáng hai người có vẻ hợp lắm. Một hôm anh Đại Hàn hỏi anh tôi người nước nào, anh tôi nói là người Việt Nam. Hôm sau thấy anh ta lạnh lùng ra mặt và có ý tránh không nói chuyện, mới đầu anh tôi không để ý, sau thấy mình hỏi anh ta lờ như không nghe. Anh tôi thấy vậy cũng phớt tỉnh. Anh không thích tôi thì tôi cũng chẳng cần thích anh. Bẵng độ hai ba tuần không nói với nhau, anh Đại Hàn bỗng một hôm quay lại thú thật: Mới đầu tôi tưởng ông là người Hoa hay người Phi, tôi không biết ông là Việt Nam. Tôi không thích dân Việt Nam, một cái dân gì mà cứ mang con gái họ bán hết cho nước này nước khác làm vợ. Người Hàn tử tế coi thường người Việt ở chỗ đó. Anh tôi nổi xùng. Thế cái thằng đi mua vợ rẻ có đáng khinh không? Hai bên lý sự một hồi, bất phân thắng bại. Bây giờ họ nói chuyện với nhau trong lúc chơi banh, nhưng vẫn không phải bạn. Một bên mua vợ giá rẻ và một bên bán vợ với bất cứ giá nào. Bên nào đáng khinh hơn.

Anh tôi kết luận: Nhục cho cả nước, anh em mình sang tận đây rồi mà vẫn nhục lây.

Có con mà gả chồng gần
Có bát canh cần nó cũng mang sang.

Tôi được người lớn tuổi hơn giảng cho nghe: canh cần là do chữ tần tảo (một loại rau tần / tảo là rau) Ngày trước người nghèo có thể kiếm rau tần trong vườn nấu những bát canh đạm bạc. Người con gái nghèo đi kiếm rau tần cả ngày được gọi là tần tảo. Nên mới có chữ “tần tảo” chỉ cho người phụ nữ chịu khó làm việc trong hoàn cảnh túng thiếu.

Bây giờ ở Việt Nam, các cô gái quê dù có muốn tần tảo cũng hiếm có cơ hội, cô không lấy chồng gần, vì người chồng gần cũng chẳng có việc làm, cả hai vợ chồng cô giỏi lắm cũng chỉ kiếm được một bát canh cho cả gia đình, làm sao cô có cơ hội để đem sang chia cho cha cho mẹ được. Cô đành phải lấy chồng xa, cô coi thân cô như một cuộc bài may rủi. Biết đâu cô chẳng kiếm được người tử tế, biết đâu cô chẳng mang tiền về cho mẹ uống thuốc, cho mẹ có một bát canh thịt thơm ngon, cho cha sửa nhà, mua sắm truyền hình, tủ lạnh, biết đâu…, biết đâu…, biết đâu…Cô lại chết thảm thương như thế. Cô không kêu được: “Má ơi!” nữa rồi.

“Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.”

Tâm nào còn an được để đón xuân về!

Trần Mộng Tú
Feb. 2013

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

Valentine của Em

Đỗ Xuân Tê

‘Yêu’ dù bằng ngôn ngữ nào, theo tuần báo Time,thì vẫn là cảm xúc tuyệt vời nhất trên thế gian. Cho nên hạnh phúc thay cho những ai biết ‘yêu’ và ‘được yêu’. Hàng năm cứ vào ngày 14 tháng hai, người ta lại khơi dậy và trao nhau những cảm xúc thắm thiết dành cho tình yêu của những người đang yêu. Họ là những tình nhân, có thể là những cặp vợ chồng trẻ, có khi là những đôi tình già, thậm chí lan tỏa sang cả những em bé ở lứa tuổi học trò, như các trường tiểu học Mỹ chỗ tôi ở, các cháu cũng được cô giáo khuyến khích làm những tấm thiệp nhỏ trao tặng cho các bạn cùng lớp nhân ngày lễ tình yêu mà thế giới quen gọi là Valentine’s Day.

Nói đến thiệp trao gửi cho nhau thì trái tim luôn là biểu tượng hàng đầu, màu hồng là màu được ưa thích, Nội dung thì đa dạng, có thể là một câu hay một đoạn thơ tình, có thể là một danh ngôn về tình yêu, kể cả các câu thơ trích từ Kinh thánh (trong sách Thi Thiên, Nhã ca, I Cô-rinh-tô). Có điều rất phổ cập là qua nhiều thế kỷ, nếu tính từ thế kỷ thư 14 khi Ngày Tình Nhân được chính thức thừa nhận, thì phần cuối của tấm thiệp bao giờ người nam cũng viết kèm theo một nhóm từ rất lạ nhưng rất quen, gởi từ Valentine của Em (From Your Valentine).

Vậy Valentine là ai? một người hay một loài hoa/ một địa danh hay một điển tích? Cứ theo truyền thuyết thì Valentine là tên một ông thánh được người đời quen gọi là Saint Valentine. Ông là một tu sĩ Thiên Chúa Giáo được giáo hội công giáo phong thánh vì không chịu từ bỏ đức tin của mình trước khi lên đoạn đầu đài. Nhưng giới trẻ lại ngợi ca ông về việc ông làm dành cho tình yêu lứa đôi của họ để rồi khi chết đi được xưng tụng như ‘ông thánh của Tình yêu’ (Saint of Love). Chuyện kể khi sinh thời, với tư cách một linh mục, ông là người hay cử hành lễ hôn phối cho các đôi tình nhân trẻ yêu thương nhau. Có điều lễ thường được tổ chức ‘chui’, vì theo luật của đế quốc La mã thời ấy, vua có lệnh cấm các thanh niên không được cưới vợ khi có lệnh gọi vào lính để phục vụ cho nhu cầu chiến trường. Họ cho rằng khi vương vấn chuyện vợ con thì sẽ không dành hết tinh thần phục vụ cho cuộc đời quân ngũ. nhất là khi ấy La mã là một đế quốc rộng lớn, quân lính thường phải đi xa và đồn trú ở những vùng đất xa xôi ngoài biên cương. Valentine rất thông cảm điều này và không ngần ngại thường xuyên giúp đỡ các cặp tình nhân trẻ khi được yêu cầu, dù ông biết cái giá phải trả khi bị phát hiện là mức án tử hình dành cho những ai làm trái lệnh vua. Ngược lại ông rất hạnh phúc khi thấy những con chiên trẻ của mình được nên vợ nên chồng và hưởng được sự mặn nồng của tình chăn gối theo giáo luật và không phải ân hận nếu một mai người tình của mình gặp cảnh ‘sinh Bắc tử Nam’ ngoài quan ải.

Chuyện kể về ông thánh Valentine còn nhiều kỳ bí khi vua Claudius II, một người luôn chống đạo đã dành cho vị tu sĩ một cơ hội thoát án tử hình nếu ông chịu chối bỏ niềm tin nơi Thiên Chúa. Ông giữ vững đức tin và sau đó bị chặt đầu sau một thời gian tù tội. Trong tù ông được viên cai ngục dành cho vài đặc ân. Ông phải lòng người con gái mù của viên cai ngục, nhiều lá thư tình được gởi chui và thư của ai thì chỉ biết phía dưới những cánh thư rơi thế nào cũng có dòng chữ, ‘From Your Valentine’. Lại càng ly kỳ khi có giai thoại lúc hiển thánh chính Valentine đã chữa khỏi tật khiếm thi cho người con gái ông yêu, thật hư thế nào thì cũng vẫn là huyền thoại.

Chỉ biết nhiều thế kỷ sau tên ông và ngày ông chết trở thành biểu tượng cho tình yêu và Valentine’s Day bỗng nhiên là dịp kỷ niệm và trao đổi tình yêu thương cho mọi lứa tuổi trên toàn thế giới. Sớm nhất và nhiệt tình nhất vẫn là từ Mỹ, ngày Valentine được đồng hóa với văn hóa Mỹ, chẳng vậy mà nhiều nước chống sự giao lưu và sự tràn ngập của văn hóa Mỹ đã cấm luốn cả ngày Valentine! Nhưng theo dòng thời gian và xu thế thời đại, chẳng ai nỡ cấm đoán chuyện tình yêu , hai quốc gia đông dân nhất thế giới là Trung quốc (một nước chống đế quốc Mỹ) và Ấn độ (một nước chống văn hóa Mỹ) cuối cùng kẻ trước người sau đã công khai du nhập Valentine’s Day và hồ hởi tham gia chẳng thua gì ở Mỹ.

Riêng Việt nam mình, ngay trước 75 cũng hiếm người biết và kỷ niệm Ngày Tình Nhân, nhưng dù nay là nước cộng sản, giới trẻ thủ đô và các tỉnh thành phía nam nhớ ngày 14 tháng hai còn hơn ngày thành lập Đảng 3/2 hàng năm. Chi tiết này tôi đọc được trên tờ Tuổi Trẻ. Đây cũng là tín hiệu đáng mừng, chỉ tiếc một điều các con cháu của những nhà tư bản đỏ đã tiêu sài bằng những hình thức vui chơi quà cáp vô cùng tốn kém làm mất ý nghĩa nguyên thủy của ngày Valentine’s Day.

Ngày nay tại nhiều nước, Valentine’s Day được giới làm ăn coi như một đòn bẩy kinh tế, sự tiêu pha và mua sắm dành cho ngày này chỉ đứng sau dịp lễ Nô-en và đầu năm. Khởi đầu trao gởi cho nhau chỉ là thiệp và hoa hồng, sau thêm kẹo hoặc đồ ngọt thường là chocolate, và bây giờ thì theo đà ưa thích quà tặng nên đồ trang sức và các vật dụng kỹ thuật số được coi như chỉ dấu đánh giá độ mặn nồng …từ Valentine của em. Nhớ lại thuở còn lãng mạn, ở Mỹ có một hãng kẹo mang tên Necco, chuyên đề sản xuất loại kẹo bột có hình trái tim tên là Sweethearts, hàng năm xuất xưởng cả 5-7 tỷ viên. Trên viên kẹo luôn có hai hàng chữ in rất khéo, một ngắn một dài ghi các ngôn từ được khách hàng ưa thích qua một cuộc thăm dò bình chọn hàng năm, mặt kia chỉ chừng hai ba chữ, nổi bật nhất vần là ‘Marry Me’, ‘Love You’ … gần đây có cả ‘Tweet Me’, ‘Text Me’. Thương hiệu này cũng độc đáo ở chỗ, sản xuất 11 tháng, nhưng chỉ bán ra trong 3 tuần trước ngày Valentine. Sau lễ các viên kẹo bị hãng thu hồi và đem hủy vì …quá đát (mất thời gian tính).Thực sự số thu về không là bao và dù bị các hãng chocolate cạnh tranh nhưng thương vụ vẫn phát đạt và tồn tại từ hơn một trăm năm nay.

Đầu xuân tản mạn chuyện người tu sĩ có tên Valentine, một huyền thoại dẫn đến sự sản sinh dấu ấn lãng mạn của tình yêu qua ngày Valentine’s Day, để rồi ngẫm lại đã bao năm nước chảy qua cầu, biết bao nhiêu cặp tình nhân đã yêu nhau và vẫn còn nhớ nhau qua những tấm thiệp và hoa hồng. Nhưng cũng không ít những mối tình dang dở, yêu nhau rồi phụ nhau, yêu nhau rồi xa nhau , dù viện ra bất cứ lý do gi thì tình yêu thời buổi này vẫn là cái gì mong manh dễ vỡ, bất giác tôi nhớ một đoạn thơ của một người nữ khi cô viết tặng tôi,

Bạn tìm đâu một tình yêu vĩnh cửu
Bạn tìm đâu tình ái chẳng đổi thay
Chuyện tình nào cũng có phút đắm say
Nhưng đoạn kết vẫn chỉ là dang dở

Là một người chứng kiến nhiều cuộc tình chia tay, trong đó có cả những người thân của mình, tôi vẫn không tin ‘tình chỉ đẹp khi còn dang dở’ mà nhân ngày Valentine’s Day, xin chúc những người trẻ hãy yêu nhau bằng chính con tim của mình, yêu nhau chẳng phải chỉ là ‘cởi áo (ối à) cho nhau’ mà bằng sự tin cậy nhau, tha thứ cho nhau và vượt lên số phận qua đức tin của mỗi người.

Đỗ Xuân Tê
Cali, Valentine’s Day 2013

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Người Đẹp Và Suối Tóc

Quỳnh Giao
Một thương tóc xõa đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương đôi mắt như sao hiền mùa thu…

Chúng ta đều biết Đông và Tây ít khi gặp nhau và người Việt mình khác dân Tây phương về nhiều lĩnh vực. Chuyện ấy lý luận cả tháng chắc cũng không hết. Trong mục tạp ghi hôm nay, người viết chỉ dám đề cập đến cái rất riêng trong những cái chung của hai thế giới. Cái chung là Đông Tây gì thì cũng yêu cái đẹp và thích ca tụng vẻ đẹp. Cái riêng là cách tán tụng vẻ đẹp. Nói cho "huy hoàng" vào ngày cuối năm thì sự dị biệt của người mình và người ngoại quốc chính là "mỹ quan".

Bảo rằng huy hoàng để cho vui thôi chứ người ta có nhiều cách so sánh chuyện riêng và chung của hai nếp văn hoá, trong khi Quỳnh Giao chỉ dám thu hẹp vào một lĩnh vực nhỏ xíu... bằng sợi tóc. Đó là những khúc tình ca viết về mỹ nhân với suối tóc.

Ngẫm lại thì nhạc ngoại quốc có lời từ ca tụng nhiều nhất là đôi mắt, ngay sau đó tới… thân hình. Còn các nhà thơ và giới sáng tác của chúng ta chỉ cần mê đôi mắt và.. tụng mái tóc thì "cũng đủ lãng quên đời". Hèn chi mà Đinh Hùng viết "một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc...."

Vì vậy, xin nói về mái tóc trong các nhạc khúc xa xưa.

Từ thuở phôi thai của nền tân nhạc, Thẩm Oánh có bài “Suối Huyền” nhịp Slow, viết theo giai điệu Hạ Uy Di, nghe lả lướt óng chuốt, tiếc là đã lâu không còn ai hát lại nữa. Người viết thì còn nhớ hình bìa in ảnh cô Tâm Vấn với mái tóc dài, dợn sóng và khóe mắt hồ thu. Cũng theo lời thân mẫu kể lại thì ông viết để tặng mái tóc nổi tiếng ấy.

Suối huyền, lả buông làn tóc
Thướt tha, óng chuốt uốn lưng ong…

Nhớ lại thì cả Thẩm Oánh và Văn Phụng đều cùng thấy mái tóc óng mượt chảy xuôi như môt dòng suối.

Khi kết duyên cùng Châu Hà, nhạc sĩ Văn Phụng viết bài “Suối Tóc”, với lời của Thy Vân. Ca khúc có nét tân kỳ quý phái với điệu Boston dìu dặt như nhịp bước của đôi tình nhân. Không biết tác giả có lời yêu cầu với ông Thy Vân không, mà lời ca thì rõ là để tả mái tóc thời ấy của cô Châu Hà. Buông dài đến tận lưng, mầu nâu nhạt óng ả. Cho đến nay, ca khúc này vẫn còn được hát, đơn ca hay song ca, tam ca đều hay. Và dĩ nhiên người hát bài này tình tứ nhất là Châu Hà. Chứ còn ai nữa!..

Tìm cho thấy liễu xanh xanh lả lơi
Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai…

Cũng có khi ca dao được dùng làm tựa đề như bài “Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài” của Phạm Duy một thời được những người con trong gia đình là ban Dreamers hát hằng đêm tại phòng trà Ritz. Như các tình ca khác của Phạm Duy, đến nay bài này vẫn thịnh hành. Cách hay nhất là song ca nam nữ.

Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc
Thuở ấy anh vừa thôi học xong
Yêu anh yêu anh em làm thơ
Yêu em yêu em anh soạn nhạc…

Nhạc sĩ Nguyển Hiền có nét nhạc bay bướm mềm mại và viết bài “Mái Tóc Dạ Hương” phổ thơ Đinh Hùng rất đạt. Nhịp Boston êm đềm và cung Trưởng trong sáng làm cho ca khúc dễ hát dễ nghe. Ngày xưa Thanh Lan hát bài này trong cassette của Phạm Mạnh Cương rất dễ thương.

Từ giã hoàng hôn trong mắt em
Tôi đi tìm những phố không đèn
Gió mùa thu sớm bao dư vị
Của chút ân tình hương tóc quen…

Cũng trong băng nhạc Phạm Mạnh Cương, Thanh Lan có hát bài “ Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè”. Bài hát có tựa đề giống tên dịch từ một cuốn phim chiếu ở Sài Gòn thời 70.

Ca khúc này được Phạm Mạnh Cương viết trên cung Trưởng, nhịp Boston .

Em buông lơi tóc thề
Tình mình theo cơn lốc về
Em như mưa nắng hạ
Hôn bờ biển xanh sỏi đá…

Hồi còn làm nhân viên cho phòng kỹ thuật cho đài phát thanh Sài Gòn, nhạc sĩ Hoài Linh có sáng tác bài “Về Đâu Mái Tóc Người Thương”, thường được Thanh Thúy trình bầy và thính giả rất thích vì tưởng tượng ngay ra mái tóc rất đặc biệt của người nữ ca sĩ có nét đẹp rất Liêu Trai...

Hồn lỡ sa vào đôi mắt em
Chiều nao xoã tóc ngồi bên rèm…

Ra hải ngoại, Quỳnh Giao được nghe và thích bài “Tóc Mây”, về sau mới biết là của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Bài này thường được các nhạc sinh học hát chọn để trình bầy, vì nét nhạc lên bổng xuống trầm thật thướt tha và lả lướt. Nhịp Slow chậm rãi trên cung Trưởng trong sáng. Người viết nghe nhiều version, nhưng thích nhất là giọng Thái Hiền khi diễn tả ca khúc này. Cô diễn tả được nét bơ vơ, phát âm rõ ràng tròn trịa và không cường điệu.

Như cánh hoa đêm đong đưa nụ tình
Gọi mời cơn gió hôn lá trên cao
Như cánh chim đêm bơ vơ một mình
Trời bao nhiêu gió tóc bao nhiêu tình…

Cũng ở hải ngoại , Thanh Trang của “Duyên Thề” sáng tác thêm nhiều ca khúc trữ tình đẹp cả từ lẫn nhạc. Bài anh viết về mái tóc phổ thơ Hà Nguyên Dũng có tựa đề rất nên thơ là “Tóc Em Vẫn Là Hương Của Mẹ”. Nét nhạc mang âm hưởng cổ kính của đất Thần Kinh.

Trời đang nắng bỗng mưa nào ai biết
Mưa ướt rồi mái tóc xoã phai hương
Anh yêu lắm mùi hương trên làn tóc
Em đi qua thơm ngát cả con đường…

Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng thường sáng tác tình ca, có bài “Tóc Thề Đi Đâu Mà Vội” phổ thơ Hoàng Lan Chi, nhịp Luân Vũ nhịp nhàng, êm ái. Hát lên là nhớ lại thuở mặc áo dài trắng đứng trong sân trường.

Em đi đâu mà vội
Nắng đã xếp hàng chưa?
Tóc còn bờ vai xõa
Cho ai lời hẹn xưa…

Chắc là còn nhiều lắm mà khuôn khổ một bài tạp ghi không cho người viết kể lể nhiều hơn. Người Tây phương ít khi rưng rưng chỉ vì một sợi tóc, chứ người Việt chúng ta lãng mạn mà kín đáo. Thương mái tóc là nhớ cả dáng người. Phải chăng vì mái tóc là biểu tượng của sự dịu dàng thơm tho, và cả nét đẹp của tâm hồn người yêu mái tóc nữa?

Nghĩ lại thì lối ca tụng cái đẹp tinh khiết và thánh thiện đó là một phong cách văn minh mà mình nên gìn giữ.

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Image

Ngày Tình Nhân (Valentines Day)
Mây-cao-Nguyên


Thú thật với bạn, tôi rất ghét khi đưa nhà tôi đi ăn tiệm, mà phải đứng sắp hàng để được sắp chỗ ngồi. Bạn có quở trách hay chỉ trích tôi là người thiếu kiên nhẫn thì tôi cũng đành chịu. Tôi thường tránh những ngày lễ lớn, đặc biệt là ngày Lễ Tình Nhân, tôi thường đi trước một, hai ngày. Tối qua (13 tháng 2 năm 2013) vợ chồng chúng tôi đã đi ăn tối (có đốt đèn cầy đấy nhé!) tại nhà hàng The Keg,cách nhà khoảng 10 phút lái xe. Trên đường, vừa lái xe vừa thả hồn một cách say đắm qua những lời ca, tiếng nhạc thật trữ tình, lãng mạn của Pháp, lời Việt, mang tựa đề: “Tình yêu bất diệt” có nội dung như sau, xin gửi hầu bạn: “Cho dù tuổi anh đã xế chiều, em biết rõ rằng anh vẫn yêu em. Anh đã tặng em tuổi thanh xuân đẹp nhất. Khi ấy ta đã nguyện yêu nhau đến hơi thở cuối cùng. Và chiều nay hãy cho em sống lại thanh xuân cũ. Hãy ôm em trong cánh tay anh. Em muốn đi lại quãng đường tình, vì em biết em yêu anh quá. Chiều nay hãy cùng em nhảy điệu vũ năm nào. Cho em sống lại tình yêu nồng cháy, cho em lại cảm giác như cánh chim giải thoát, muốn bay vút lên cao. Anh thấy ánh lên trong mắt em, kỷ niệm đẹp nhất của đôi ta, em là cuộc phiêu lưu duy nhất đời anh. Trong tình yêu anh thề như thế. Bao năm trôi qua mà tại sao ta vẫn hạnh phúc bên nhau em nhỉ? Nhưng anh biết hạnh phúc được dệt từ những điều đơn sơ nhỏ bé và tuổi đời càng cao càng bền chặt ân tình. Mọi người chăm sóc đôi ta nhưng em cảm thấy mình vững hơn trong vòng tay anh. Tình yêu chúng ta đã dệt nên những kỷ niệm tuyệt vời. Giờ đây mình đã xế chiều, anh chẳng hề hối tiếc. Những năm tháng kề vai sánh bước, tim em sưởi ấm tim anh. Ngày ngày anh nguyền xin Thiên Chúa, được yêu em đến cuối cuộc đời. Đến khi anh nhắm mắt xuôi tay. Tim anh điệu vũ năm nào vẫn còn. Chiều nay hãy cùng em nhảy điệu vũ năm nào. Cho em sống lại tình yêu nồng cháy. Cho em lại cảm như caq1nh chim giải thoát muốn bay vút lên cao. Anh thấy ánh lên trong mắt em, kỷ niệm đẹp nhất của đôi ta. Em là cuộc phiêu lưu duy nhất đời anh. Trong tình yêu anh thề như thế. Em là cuộc phiêu lưu duy nhất đời anh. Trong tình yêu anh thề như thế”.

Tiến sĩ Toyotome (người Nhật Bản) đã nói: “Ở đời không ai lại không muốn được yêu, vì nền tảng của một đời sống hạnh phúc chính là sự an bình và thỏa mãn khi được yêu.

Tuy nhiên, chúng ta biết rất ít về tình yêu cũng như đường lối đi đến tình yêu. Chẳng mấy khi có ai giải thích cho chúng ta hiểu tường tận tình yêu là gì. Cũng không có mấy ai ghi tên học những lớp về tình yêu. Đã thế, trong phạm vi giáo dục, vấn đề quan trọng và cần thiết này lại thường bị bỏ quên một cách đáng tiếc”.

Không ai định nghĩa nổi tình yêu là gì!?. Cách đây không lâu, tôi có đọc một thiên tiểu luận viết về những sự bí mật của con tim của một học giả người Trung Đông, ông Kahlil Gibran (1883-1931), là một thi sĩ, triết gia, nghệ sĩ, đã ra đời trên một phần đất từng sinh sản bao nhiêu nhà tiên tri và phần đất đó hiện đang bừng bừng lửa đạn của chiến tranh Trung Đông: Li-Băng. Hàng triệu người xử dụng ngôn ngữ Arabic đã biết đến ông và coi ông như một thiên tài.

Nhưng hơn thế nữa, tiếng tăm ông lan rộng ra khỏi lãnh vực Cận Đông. Thơ, văn của ông đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ khác nhau. Những sáng tác về hội họa của ông cũng từng được triển lãm ở những thủ đô nổi tiếng trên thế giới và được so sánh, đánh giá ngang với những danh họa của William Blake.

Điều đáng nói là trong 20 năm cuối của đời người, ông đã sống ở Mỹ, là nơi ông đã sáng tác bằng Anh ngữ những tác phẩm giá trị để đời.

Sau đây, nhân Ngày Lễ Tình Nhân (Valentines Day) 14 tháng 2 năm 2013, tôi xin chuyển ngữ một trong những thiên tiểu luận của ông, có một đoạn nói về tình yêu như sau, xin gửi hầu bạn: Vị sứ giả cùng với môn đồ đi lên một đỉnh đồi cao, đang ngồi thiền dưới gốc cây cổ thụ. Bỗng nhiên, có một người con gái xinh đẹp, rụt rè đến gần và hỏi: “Thưa Ngài, tình yêu là gì? Con nghe nói đã nhiều mà chưa bao giờ hiểu được. Con từng thấy những cặp tình nhân tay trong tay đi ngang qua và những cặp vợ chồng già ngồi kề bên nhau bên khung cửa sổ”. Vị sứ giả nhìn cái vẻ ngây thơ của nàng và từ tốn giảng giải:

*Tình yêu là đôi mắt của người tình, rượu hồng của tâm trí và chất nuôi dưỡng của con tim.

*Tình yêu là một đóa hoa hồng nở rộ vào lúc bình minh, người con gái trinh nguyên hôn và áp nó vào ngực mình.

*Tình yêu là kho chứa toàn báu vật, và là nguyên thủy của lạc thú và khởi điểm của sự an bình và trầm mặc.

*Tình yêu là nụ cười hiền dịu trên đôi môi của mỹ nhân. Khi người thanh niên đang yêu say đắm quên hết mọi lao khổ và trọn cuộc đời của hắn trở nên một thực thể của những giấc mơ dịu dàng.

*Tình yêu là thánh mộ trong tâm hồn của đứa bé được người từ mẫu sùng bái.

*Tình yêu như mọi lứa tuổi-xây dựng hôm nay và hủy diệt ngày mai.

*Tình yêu như vị thần linh tạo nên những tàn phế.

*Tình yêu nhẹ nhàng như tiếng thở của một bông hoa tím.

*Đời sống không có tình yêu như cây cối không đơm hoa kết trái..v.v…


Học giả Gibran còn cho rằng: “Tình yêu được gột rửa bằng những hạt nước mắt sẽ vĩnh viễn tinh khiết và xinh đẹp. Và tình yêu là sự tự do độc nhất trên trần gian, bỡi vì nó nâng cao thần trí mà những luật lệ của nhân loại và những hiện tượng của thiên nhiên không làm thay đổi hướng đi của nó”.

Và một thiên tiểu luận khác cũng không kém phần quan trọng của học giả người Trung Đông, dưới tựa đề: Niềm vui và nỗi buồn, có nội dung như sau: “Có hai người đàn ông mặt mũi hốc hác, tiều tụy, đôi gò má xương xẩu tiến lại, một người cất tiếng hỏi vị Thiền Sư: “Bạch Thầy, hãy dạy cho chúng con biết làm cách nào để xua đuổi nỗi buồn và hiểu được căn nguyên của niềm vui để cuộc đời chúng con bớt đau khổ”.

Vị Thiền Sư từ tốn trả lời:

*Ta sẽ không đổi nụ cười cho bất cứ loại tài sản nào. Và cũng không biến cải dòng lệ của ta, do bản ngã đau buồn đem lại, để được an bình.

*Đây là niềm hy vọng nóng bỏng mà trọn cuộc đời của ta trên quả đất này sẽ mãi là những giọt nước mắt và nụ cười.

*Những giọt nước mắt tinh lọc tâm hồn và tiết lộ cho ta sự bí mật của cuộc đời và sự huyền bí của nó.

*Nụ cười mang ta lại gần gủi với đồng loại của ta.

*Nhờ những hạt nước mắt ta mới hòa nhập được với những kẻ nản lòng, nụ cười tiêu biểu cho niềm vui trên sự hiện hữu của ta.

*Sự đói khát triền miên cho tình yêu và vẻ đẹp là niềm ước vọng của ta;

*Bây giờ ta mới biết rằng những người chỉ biết tích lủy của cải cho thật nhiều thì thật là khốn khổ, nhưng theo ta nghĩ những tiếng thở dài của những cặp tình nhân êm ái hơn dòng nhạc của chiếc thất-huyền-cầm.

*Khi màn đêm buông xuống, những cánh hoa khép lại an ngủ với tình yêu.

Và lúc rạng đông, chúng hé mở làn môi để đón nhận những nụ hôn êm ái của mặt trời, được tô điểm rực rỡ do những áng mây thoảng qua.

*Kiếp hoa là sự hy vọng, thỏa lòng và an bình; nước mắt và nụ cười.

Nước biến mất và bốc hơi cho đến khi biến thành mây tụ lại trên những đồi cao và thung lũng.

*Và khi mây gặp gió, nó lại rơi trên những cánh đồng và nhập với dòng suối róc rách chảy ra đại dương.

*Đời sống của mây là một đời sống chia ly và kết hợp nước mắt và nụ cười.

*Như vậy tinh thần tự lìa bỏ thể xác và bước vào thế giới vô hình, trôi qua như những làn mây trên thung lũng sầu thảm và dãy trường sơn hạnh phúc cho mãi đến khi gặp hơi thở của tử thần và trở về khởi điểm.

*Đại dương vô tận của tình yêu và vẻ đẹp đó là Thượng Đế.

*Và nắm giữ những sự bí mật từ đó về sau bằng phương tiện của tư tưởng phàm nhân.

*Nhưng hãy cứ việc đi thay vì bước vào cánh đồng để xem con ong vo ve trên những cánh hoa thơm, ngọt và con ó nhào xuống bắt mồi.

*Bước vào nhà hàng xóm của ngươi để nhìn đứa bé say mê trước ánh lửa, trong khi người mẹ đang bận rộn công việc bếp núc.

*Hãy giống như con ong, và đừng phí những ngày xuân xanh châm bẩm vào công việc của con ó.

*Hãy giống như đứa trẻ thơ rạng rỡ trước ánh lửa hồng và quên đi người mẹ.

*Tất cả những gì ngươi thấy đã và còn đang là, của chính các ngươi.

*Hãy tiếp tục đi. Đừng chần chừ, chậm trễ. Đi thẳng đến là đang tiến về sự hoàn hảo.

*Thẳng tiến và đừng sợ gai góc hoặc đá nhọn trên bước đường đời.

Trước khi bạn đọc tiếp, xin mời bạn đọc những điều sau đây để suy ngẫm:

*Muốn đoạt được hạnh phúc trong gia đình, muốn có một người bạn đời ly tưởng, việc đó không quan trọng bằng tự hỏi chính mình đã là người ly tưởng chưa đã?.

*Khó mà thương yêu được một lần thứ hai người mà mình đã hết thương yêu.

*Thường thường người ta thường hay nói mối tình đầu là mối tình đẹp nhất, nhưng chính mối tình cuối cùng mới thật sự là mối tình bất diệt.

*Những con tim đã hàn gắn với nhau rồi thì không xa cách nữa mà chỉ có thể….xé nát với nhau thôi.

*Không bao giờ người ta yêu như người ta đã được yêu bởi vì thế nên muốn đạt được hạnh phúc trong trường tình ái chúng ta phải cho tất cả mà không đòi hỏi được gì.

*Tình yêu chân thật không phân biệt giai cấp, , tuổi tác, địa vị, danh vọng…Nó san bằng tất cả. Nó là vị thân của tình cảm.

*Tạo hóa sinh ra người đàn bà gần như chỉ để cho mình nhận được yêu thương hơn là để thưởng thức, như những đóa hoa thơm làm cho những kẻ chung quanh cảm nhận được trước khi chính mình thụ hưởng, người đàn bà thật đúng là những đóa hoa tình ái.

*Thường thường ai ai cũng cho rằng tình yêu là sự đồng y cả trai gái. Nhưng khổ một điều khi tình yêu tan vỡ bất cứ vì một ly do gì thì người đời thường lên án người đàn ông và tỏ lòng thương hại người đàn bà, nếu ngược lại người đàn bà phụ bạc chồng thì người đời lại cho rằng chính vì người đàn ông không biết bảo tồn hạnh phúc.

*Không biết bao nhiêu chiếc thuyền tình chứa chan hy vọng, nhưng sau cùng đành tan rã chỉ vì người vợ hay chồng thường hay chỉ trích nhau.

*Sợ tình yêu là sợ cuộc sống, và sợ cuộc sống thì đã chết ba phần.

*Ái tình thật ra là một chuyện xưa cũ và quá tầm thường, nhưng chính nó cũng là một vấn đề quan trọng nhất của con người.

*Tình yêu như danh dự, đã một lần mất đi thì không bao giờ trở lại.

*Hãy tin ở tình yêu, dù nó mang đến sự thống khổ chớ khép kín con tim mình.

*Tình yêu cắn rứt bạn, xay nghiến bạn, đánh ngã bạn, nhưng hãy mở hồn đón nhận nó.

*Những vết thương do tình yêu gây ra dù không làm cho người ta chết, nhưng cũng không bao giờ chữa khỏi được.

*Tình yêu là một tình cảm vĩ đại nhất, nó sáng tạo nên điều kỳ diệu, sáng tạo nên những con người mới, nó làm ra những giá trị vĩ đại nhất của con người.

*Khi lửa tình đã thôi thúc tung hoành thì ngay cả sương tuyết cũng bốc cháy, ly trí cũng bị dục vọng chế ngự.

*Trên thế gian chẳng có vị thần nào đẹp hơn mặt trời, chẳng có ngọn lửa nào kỳ diệu hơn là ngọn lửa tình yêu.

*Có một người vợ (hoặc người chồng) ngoại tình mà vẫn còn chung sống được là tự đào huyệt chôn mình.

*Nuốt được cái cay đắng trong cái cay đắng mới làm được hạng người trên loài người.

*Đàn ông hung dữ với ai cũng được trừ vợ ra.

*Tình yêu làm cho trái tim chai đá cũng phải hiền dịu.

*Nếu một người lừa tôi lần đầu thì sự xấu hổ thuộc về anh ta. Nếu lần thứ hai thì cái ô nhục thuộc về tôi.

*Tranh đấu để chống lại trái tim của người đàn bà khó khăn không thua gì uống hết một biển nước..

*Trong tình yêu câu nói mà người đàn ông thích nhất là Em Yêu Anh nhưng cũng chính câu nói ấy người đàn bà giết người đàn ông hữu hiệu nhất.


Xin bạn hãy nghe đây: “Không ai giàu có hơn kẻ biết tận dụng dấn thân vào việc thể hiện tình yêu; vì mãnh lực là hình thức biểu hiện cao độ niềm khát vọng của con người. Sức mạnh là mối liên lạc giữa sự đòi hỏi và sự đáp ứng những nhu cầu nhân sinh, là kẻ đi tiên phong đề xướng mọi tiến bộ của nhân loại, là phương tiện giúp trí tưởng tượng chấp cánh hành động. Và mọi động lực của tình yêu đều được thánh hóa vì nó mang lại niềm vui tự mãn cho ai thực hiện được nó”.

Tình yêu đẹp lắm bạn ạ, như cái ông đại-thi-hào của Pháp quốc: Victor Hugo đã từng van lơn người tình: “Chúng ta mãi mãi yêu nhau nghe em! Tình yêu…như ngọn lửa không thể dập tắt, như bông hoa không bao giờ tàn”. Nhưng, cũng một thi hào người Pháp bị tình yêu đá giò lái mấy cú cũng khá đau, nên đã để lại hai câu thơ thời danh:

“Bể tình là cánh đồng hoa,
Đố ai mắc phải không sa lệ sầu”.


Bạn quí mến, Những điều hoàn mỹ nhất, tốt đẹp nhất trên thế giới không thể nào thấy hoặc ngay cả sờ mó được. Chúng chỉ được cảm nhận với tâm hồn. Tình yêu là một sức mạnh kinh khủng hơn bất cứ một sức mạnh nào khác. Nó vô hình- người ta không thể nào thấy hoặc đo lường. Tuy nhiên, nó đủ mạnh để biến thể con người của bạn trong một giây phút, và dâng hiến cho bạn nhiều niềm vui hơn bất cứ một sự chiếm hữu vật chất nào mà bạn đạt được. Tình yêu chính là bản Thánh ca êm dịu mà nhân loại sùng kính. Tại sao lại có Ngày Tình Nhân (Valentines Day) vào tháng Hai mỗi năm?. Nhiều câu chuyện lịch sử rất mơ hồ truyền tụng từ cả nghìn năm pha trộn giữa nguồn gốc tôn giáo và xã hội. Sau cùng hầu hết các nước Tây phương và Mỹ châu đều mừng lễ hội Valentine. Đặt tên theo Thánh Valentine, một Linh Mục Công giáo từ thế kỷ thứ năm ở La Mã, ngày Valentine bây giờ trở nên một ngày đặc biệt được ăn mừng tổ chức khắp nơi trên thế giới.

Lịch sử thật về ngày Lễ Tình Nhân không có chắc chắn lắm, các học giả và các sử gia cung cấp những dữ liệu khác nhau về nguyên thủy của ngày lễ này. Nguyên thủy của Ngày Lễ Valentine được người ta tin phát xuất từ buổi hội của hệ phái Lupercalia của La Mã tổ chức mỗi năm vào ngày 15 tháng 2, khoảng thời gian từ 13 đến 15 tháng Hai. 14 tháng 2 sau đó trở nên Ngày của Thánh Valentine, một ngày lễ dành cho các tín đồ Công giáo để tưởng nhớ đến Thánh Valentine. Tất cả các học giả cũng đều đồng y chọn ngày này làm ngày tưởng niệm một vị Linh mục đã bị cầm tù và sau đó bị hành quyết vì đã bất tuân lệnh của Hoàng Đế. Linh Mục Valentine đã giúp đỡ cho những vệ binh thành lập gia đình với những người họ yêu mến trong lúc hôn nhân đã bị Hoàng Đế La Mã Claudius II cấm tuyệt, vì ông tin rằng sự gắn bó tình cảm với gia đình sẽ biến họ trở thành những đội quân tồi tệ.

Theo truyền thuyết dương gian, Valentine đã si tình người con gái mù lòa con của tên cai ngục và sau đó nhờ phép lạ cô này đã hồi phục lại nhãn quan. Vào ngày ông bị chúng đưa đi hành quyết, ông để lại một tấm thiệp cho người yêu có ghi hàng chữ: “From your Valentine”. Chính ba chữ này vẫn còn xử dụng như muốn nói với nhau rằng: “Anh yêu em” vào ngày Lễ Tình Nhân.

Ngày 14 tháng 2 ngày nay không còn là dành riêng cho thời cổ La Mã và những người có gốc công giáo, là ngày chung cho những cặp tình nhân khắp nơi trên thế giới để tổ chức ăn mừng cuộc tình lãng mạn của họ.

Đây là thời điểm để họ hiến tặng cho nhau những bó hoa, những hộp kẹo sô-cô-la, những bữa ăn sang trọng đốt đèn cầy, uống rượu…

Các tiệm bán hoa chắc chắn vào ngày này rất đắc khách. Tại khu bán đấu giá hoa Aalsmeer ở Tân-Tây-Lan, tọa lạc trong một dãy nhà rộng cỡ chín khu vận động, các thương buôn đã bán hơn 50 triệu cây hoa hồng và 22 triệu bó hoa cắt sẵn. Phần lớn các thương buôn này mua đấu giá được sau đó họ sẽ xuất cảng đi khắp nơi để kiếm lời. Một mệnh phụ tại Dubai (Trung Đông) đã đặt mua một trăm năm chục ngàn hoa hồng.

Hãng đấu giá này có sự tiếp tay của những nhà trồng tỉa gồm có 3500 thành viên ngay trong xứ Tân-Tây-Lan, nhưng cũng có những quốc gia khác như: Israel, Kenya, Zambia và Zimbabwe cũng gửi sản phẩm của họ qua đây để bán đấu giá.

Không phải chỉ có ngành kinh doanh về hoa được mua bán phát triển hàng năm; người ta ước lượng rằng trên một tỷ thiệp mừng được những cặp tình nhân gửi cho nhau vào cái ngày lãng mạn này để bày tỏ tình yêu của họ trao cho nhau.

Còn một truyền khác, tôi xin kể hầu bạn: Vào thế kỷ thứ ba, từng bày sói đói chạy rong quanh thành La Mã (Rome) bắt trộm cừu. Theo tin tưởng của các người chăn cừu thời bấy giờ, Thần Lupercus là vị Thần bảo vệ các mục tử và bầy cừu. Mỗi tháng Hai người La Mã tổ chức mừng lễ Thần Bảo Vệ họ gọi là Lupercalia để kính Lupercus cầu mong Thần sẽ canh giữ họ và bầy cừu được bình yên trong năm. Cũng trong ngày lễ này để kính nữ thần Juno Februata, vợ của thần Jupiter là vị thần lớn nhất trong các vị thần, tương đương như thần Zeus trong thần thoại Hy Lạp, tên các thiếu nữ được ghi và bỏ vào một hộp để các chàng trai rút thăm. Những thanh niên thiếu nữ trúng thăm sẽ thành đôi bạn trong suốt năm, khởi đầu từ tháng Ba.

Khi Ki-Tô Giáo bành trướng, các giáo sĩ tìm cách thay thế các phong tục này, lễ kính thần bảo vệ mục tử và bầy cừu được thay thế bằng Lễ Thánh Valentine. Các thanh niên nam nữ cũng rút thăm, nhưng thay vì tên bạn gái, bạn trai, thì các thanh niên sẽ rút thăm tên các thánh nam, các thiếu nữ rút thăm tên các thánh nữ, để noi gương các ngài trong suốt năm.

Đến thế kỷ thứ tư thì tục lệ cũ lại trở lại, các thanh niên lại rút thăm tên các thanh nữ để làm bạn với nhau trong năm cho mãi tới thế kỷ 16 các giáo sĩ lại cố gắng tạo một tục lệ noi theo gương thánh như giáo hội đã làm vào thế kỷ thứ ba, nhưng cũng không thành công.

Theo truyền thuyết Thiên Chúa Giáo thì có bảy người mang tên Valentine, có những hành động tốt đáng kính. Một trong những truyền thuyết đó là Thánh Valentine, một linh mục dưới triều đại hoàng đế Claudius. Ngài được kẻ giàu, người nghèo, người trẻ người già, nam nữ nói chung từ tất cả mọi tầng lớp kính mến. Vào thời hoàng đế Claudius đang bắt lính gắt gao để sai đi đánh các nước phương xa. Vì ít ai tình nguyện đi nại cớ vướng bận gia đình, vợ con. Hoàng đế tức giận ra lệnh đình chỉ chuyện lập gia đình và hủy bỏ các cuộc hứa hôn.

Linh Mục Valentine cho là sai trái vông bằng, và ngài vẫn tiếp tục cử hành các hôn lễ. Hoàng đế biết được bèn ra lệnh giam tù ngài cho đến chết.

Theo truyền thuyết khác, trong thời gian bị tù ngài chữa bệnh mù cho con gái viên coi tù và giúp cô vào đạo. Hoàng đế giận dữ sai quân lính đánh và chém đầu vào ngày 14 tháng 2 năm 269.

Cũng có truyền thuyết từ trong tù Valentine thường thư từ liên lạc với cô gái viên cai tù, thường ky tên: “Từ Valentine của bạn”. Có lẽ vì câu này mà sau này người ta thường viết thư chúc tụng, tỏ dấu yêu mến nhau, thường lấy câu này để gián tiếp tỏ tình yêu mến của mình với một người nào đó, từ Valentine của bạn, từ một người ái mộ bí mật…

Năm 496, Giáo Hoàng Gelasius tuyên bố mừng Lễ Thánh Valentine, quan thầy các cặp đính hôn, hay những người muốn lập gia đình. Trong dịp lễ này những người thân trao đổi thư từ yêu thương.

Nói chung, tập tục này rất hay, tạo cơ hội cho mọi người tỏ lòng quí mến của mình đối với những người thân yêu, không cần đồ sộ, xa hoa, không cần phải loè loẹt, phung phí, chỉ một đôi dòng, một chút quan tâm, một chút thương yêu, quí mến cũng đủ.

Tôi xin chân thành cầu chúc bạn một ngày Lễ Tình Thương, một mùa thương yêu, trọn đời yêu đương bên người yêu, người thân, vợ chồng, con cái và bạn hữu các nơi.

Nhân ngày Lễ Tình Nhân, chúng ta hãy cùng nhau suy ngẫm những điều sau đây:

*Đừng quay lưng lại với tình yêu khi nó đang ở trước mặt bạn. Đừng đẩy tình yêu đi xa bởi nếu làm thế, một ngày nào đó bạn sẽ nghĩ rằng: “Tại sao mình lại để tình yêu bay đi?”.

*Khi thật sự quan tâm đến một người, bạn sẽ không lo tìm kiếm khuyết điểm, không chú y đến câu trả lời, không săm soi những lỗi lầm của người họ. Thay vào đó, bạn đấu tranh với sai sót, chấp nhận khuyết điểm và không cần đến những lời bào chữa.

*Con người không ai là hoàn hảo. Không có gì bảo đảm rằng bạn sẽ tìm được một người theo đúng những gì bạn đã vẽ ra.

*Nếu thật sự yêu thương và trân trọng ai đó, hãy làm cho họ hiểu và ở bên bạn.

*Dù có thành công hay thất bại, bạn cũng không có gì để hối tiếc vì đã không sống và yêu hết mình.

*Hãy cho những người yêu thương mình và chính mình một cơ hội. Đừng bỏ cuộc quá sớm khi mọi thứ vẫn còn có thể!.

*Tương lai tươi sáng thường dựa trên quá khứ đã quên lãng.

*Bạn không thể sống thanh thản nếu bạn không vứt bỏ mọi nỗi buồn đã qua.

*Đừng bao giờ nói không còn yêu nữa nếu nước mắt của người kia vẫn có thể giữ chân bạn.

*Đừng khóc vì mọi việc đã qua, hãy cười vì mọi việc đang chờ phía trước.

*Đừng chạy theo vẻ bên ngoài hào nhoáng, nó có thể phai nhạt theo thời gian.

*Đừng chạy theo tiền bạc, một ngày kia nó cũng sẽ mất đi.

*Bạn chưa cần đến 3 giây để nói: “I Love You”, chưa đến 3 phút để giải thích câu nói ấy, chưa đến 3 ngày để cảm nhận được y nghĩa của nó, nhưng để chứng minh câu nói đơn giản ấy thì cả cuộc đời vẫn là chưa đủ.

*Cũng như vậy: chỉ cần thời gian một phút thì bạn đã có thể cảm thấy thích một người. Một giờ để mà thương một người. Một ngày để mà yêu một người. Nhưng mà bạn sẽ mất cả đời để quên một người.

*Hãy làm những gì bạn muốn làm, mơ những gì bạn muốn mơ, tới đâu bạn muốn tới, trở thành những gì bạn muốn, bởi bạn chỉ có một cuộc sống và một cơ hội để làm tất cả những gì bạn muốn.

*Sự xa cách, làm phôi phai tình yêu hời hợt và làm thắm nồng thắm thêm tình yêu tha thiết, như cơn gió thổi tắt ngọn nến và làm bùng cháy lên đống lửa.

*Ai cũng có khúc nhạc lòng. Nếu biết lắng nghe chúng ta có thể nghe được tiếng hát của lòng nhau.

*Có một sự thật là bạn sẽ không biết bạn có gì cho đến khi đánh mất nó. Nhưng cũng có một sự thật khác là bạn cũng sẽ không biết mình đang tìm kiếm cái gì cho đến khi có nó.

*Tình yêu không phải là cách bạn quên như thế nào mà là việc bạn tha thứ ra sao, không phải là bạn đã thấy những gì mà bạn cảm nhận về điều đó ra sao và hơn hết, không phải là bạn để họ ra đi như thế nào mà là bạn đã cố gắng giữ họ lại chưa.

*Tại sao bạn nhắm mắt khi ngủ? Khi tưởng tượng? Khi hôn? Và khi cầu nguyện?. Đó là bởi vì những điều tốt đẹp nhất trên thế gian này không thể nhìn thấy được.


Các triết gia, văn, thi sĩ và những đầu óc vĩ đại đều nhìn nhận: Tình yêu như một liều thuốc trường sinh hàn gắn những vết thương lòng của nhân loại. Một văn hào Mỹ đã phát biểu quan điểm của ông như sau: Tình yêu chính là chiếc cầu vòng giữa cuộc đời đầy mây đen u ám. Nó là buổi mai và là ánh sao hôm. Chiếu giải trên muôn người, và trải những tia sáng trên mộ huyệt thâm u. Nó là mẹ của nghệ thuật, là nguồn cảm hứng của thi ca, của nhà ái quốc và của triết gia. Nó là không khí và ánh sáng của mọi trái tim, là kẻ xây dựng nên những mái ấm, là kẻ thắp lên ngọn lửa trong mỗi trái tim. Nó đã là kẻ đầu tiên mơ tưởng đến cõi bất diệt. Nó rót nhạc du dương đầy tràn thế giới, vì âm nhạc là tiếng nói của tình yêu. Tình yêu là một nhà ảo thuật, một kẻ quyến rũ, biến đổi những vật vô giá trị thành nguồn vui, và lấy đất sét tầm thường tạo nên những vị đế vương, những nữ hoàng. Nó là mùi hương của đóa hoa tim kỳ lạ, và không có đam mê thánh thiện đó, không có phút ngất ngây kỳ diệu ấy, chúng ta không còn bằng cầm thú, nhưng với tình yêu, trái đất là thiên đường và chúng ta là những vị thần linh. Tình yêu là sự hóa thân. Nó cao thượng, thánh hóa và đáng được tôn vinh....tình yêu là một mặc khải, một sáng tạo. Thế giới phải mượn vẻ đẹp của tình yêu và thiên đường cũng phải mượn vinh quang của tình yêu . Công ly, sự hiến thân, bác ái và tình thương là con đẻ của tình yêu....Không có tình yêu, mọi vinh quang đều phai mờ, những tráng lệ nguy nga đều sụp đổ khỏi gian trần, nghệ thuật chết rũ, âm nhạc mất hết y nghĩa và chỉ còn là những chuyển động của không gian, và nhân đức cũng chẳng còn tồn tại.

Để kết thúc tiểu đề viết về Ngày Tình Nhân, xin mời bạn đọc sự nhận định của ông Henry Drummon, ông đã viết một bài luận án nổi tiếng về tình yêu dưới tựa đề: “Một điều vĩ đại nhất trên thế giới: Tôi chưa bao giờ gặp một người nào bất đồng với định đề tình yêu là một điều vĩ đại nhất trên thế giới, nhưng tôi thường nói chuyện với những người thất vọng bỏ công đi tìm nó. Những hệ lụy nhân sinh mà con người đem đến cho nhau trong cuộc sống giao tiếp hàng ngày không phải là ít, vì cá tính của mỗi người không ai giống ai hết. Tình yêu đến không phải cho những người chỉ có vóc dáng xinh đẹp hoặc tài năng- Xinh đẹp và tài năng không bao giờ làm cho những sự liên hệ gắn bó lâu dài. Tình yêu là một điều mà bạn cần phải làm, phải hành động, và phải khổ công mới có được....”.

Một bác sĩ tâm ly khác cũng khá nổi tiếng, ông Viktor Frankl, gốc Do Thái, bị Đức Quốc Xã bắt cầm tù trong hơn ba năm và bị chuyển từ trại tập trung này đến trại tập trung khác, nhiều lần đã kể lại rằng ông đã khám phá một phương pháp để sống sót là cạo râu mỗi buổi sáng, cho dầu bạn có bệnh cách mấy đi nữa cũng mặc, không có dao cạo râu cũng phải dùng một miếng mảnh chai bể để cạo. Bỡi vì, mỗi buổi sáng, tù nhân đứng sắp hàng để điểm danh, những tù nhân bệnh hoạn không thể đi làm lao động đều bị đưa vào lò hơi ngạt. Nếu bạn cạo râu, và mặt mày nhẵn nhụi, bạn sẽ có cơ may thoát được bàn tay của tử thần trong ngày hôm đó.

Thân thể của họ càng ngày càng tiều tụy vì chỉ được phát hai lát bánh mì mỏng và một loon cháo lỏng. Chín người tù chen chúc nhau trên một tấm ván trần trụi bề ngang hai thước và chung nhau hai tấm mền. Vào lúc ba giờ sáng ba tiếng còi lạnh người đánh thức tù nhân thức dậy để đi lao động.

Một buổi sáng khi đoàn tù tiến ra để làm đường rầy xe lửa cách xa trại tập trung hàng dặm trong cơn giá buốt, bọn cai tù quát tháo, chửu bới và dùng báng súng đánh đập hối thúc. Người nào bị đau chân được người bạn bên cạnh dìu cho đi. Người tù đi cạnh bác sĩ Frankl, che miệng trong cổ áo kéo cao, thì thầm: “Nếu vợ con chúng ta có thể chứng kiến được cảnh này bây giờ! Tôi hy vọng họ sẽ được đối xử khá hơn trong trại của họ và không biết điều gì đang xãy ra cho chúng ta đây”.

Bác sĩ Frankl viết: “Ý tưởng này đã mang lại hình bóng thân yêu của vợ tôi trong tâm trí. Và trong khi chúng tôi lầm lủi đi hàng dặm đường, trượt ngã trên những tảng băng, dìu dắt, và lê lết té lên, té xuống, không có gì đáng nói, nhưng cả hai chúng tôi đều biết; mỗi một chúng tôi đang nghĩ đến người vợ yêu quí của mình.

Thỉnh thoảng tôi nhìn lên trời, những vị hành tinh đang bắt đầu nhạt nhòa và tia nắng hồng ban mai đang ló dạng đàng sau những cụm mây xám. Nhưng tâm trí của tôi gắn bó với hình ảnh dịu dàng, xinh đẹp của người vợ hiền. Tôi nghe được tiếng hồi đáp, thấy được nụ cười, một ánh mắt nhìn thẳng thắn và an ủi của nàng đang động viên tinh thần của tôi.

Một y tưởng làm cho tôi sững sờ: lần đầu tiên trong đời, tôi đã thấy được chân ly đã được các thi nhân dệt thành những áng thơ tuyệt vời và được các nhạc sĩ phổ thành nhạc, và cũng đã được các triết gia ca tụng qua những mỹ từ bất hủ.

Chân ly- rằng tình yêu là mục tiêu tối hậu và cao cả nhất mà con người ước ao, mong mỏi. Rồi từ đó tôi đã nắm được cái y nghĩa của sự bí mật lớn lao nhất mà thi văn, tư tưởng và niềm tin đều có cùng một điểm tương đồng: “Cứu vớt linh hồn của nhân loại là xuyên qua tình yêu và trong tình yêu”.

Nếu tất cả chúng ta coi tình yêu là mục tiêu tối hậu trong cuộc sống và tin tưởng trong những khả năng hầu như vô giới hạn để ban phát và đón nhận nó, thì cuộc đời có thể sống trong niềm vui bất tận.

Mây Cao Nguyên

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Vài ghi nhận về văn học hải ngoại năm 2012
Nguyễn Mạnh Trinh

Vào dịp đầu xuân, thử nhìn về một năm sách báo đã qua ở hải ngoại. Bài viết dưới đây dựa vào một số tác phẩm mà chúng tôi có được trong tay. Xin nêu ra một vài ghi nhận.

Vài nhà xuất bản…

Trước hết xin nói về một số nhà xuất bản. Như nhà xuất bản Văn Mới với Nguyễn Khoa Kha, Thư Ấn Quán của Trần Hoài Thư hay Tiếng Quê Hương của Uyên Thao...

Văn Mới là một nhà xuất bản đã đóng góp rất nhiều tác phẩm cho văn học Việt Nam ở hải ngoại. Trả lời câu hỏi tại sao lại có sự trì trệ trong ngành xuất bản, Nguyễn Khoa Kha cho biết: “Những thập niên trước, khi người Việt bắt đầu lưu lạc ra hải ngoại, sách báo không có nhiều. Chúng ta rất trân quý những cuốn sách được mang theo và rồi những cuốn sách của văn học miền Nam trước 1975 được in lại và phát hành... Nhưng những năm về sau, thời giờ rảnh rỗi ít hơn mà phim chưởng, video ca nhạc cũng như chương trình trên TV đã chiếm nhiều thời giờ của người đọc sách. Những thế hệ sau, trẻ hơn nên tiếng Việt không nhuần để đọc và đời sống hội nhập với dòng chính nên bận rộn với chuyện học hành, công việc, ở nhà thì truyền hình, iPhone, iPad… nên thời giờ đọc sách Việt ngữ gần như không có.

“Một sự kiện nữa là sách vở, báo chí ở trong nước được đem bầy bán ở các tiệm sách chiếm cả nửa tổng số rồi. Sách ở trong nước có nhiều điều kiện thuận lợi để in ấn, lại vừa hấp dẫn vừa rẻ. Những chủ nhân tiệm sách nắm được thị hiếu ấy nên chú trọng nhiều đến việc bầy bán các văn hóa phẩm từ trong nước. Mặc dù hiện chúng ta có rất nhiều trung tâm dạy Việt ngữ đủ mọi trình độ ở các trường học, chùa chiền, nhà thờ. Con em chúng ta phải nói tiếng Việt giỏi để thành một tiềm năng cho chúng ta hy vọng. Cây có cội, nước có nguồn. Cội nguồn tiếng Việt chúng ta vững, thì văn hóa Việt cũng vững vàng để ngành xuất bản cũng có ảnh hưởng tốt theo. Đó là những ý kiến thô thiển của chúng tôi về những vấn đề mà chúng ta tìm hiểu. Năm mới, hy vọng sẽ tốt đẹp như những câu chúc lành cố hữu của dân tộc Việt Nam.”
”
Nhà văn Trần Hoài Thư, chủ nhân một nhà xuất bản khác, Thư Ấn Quán, cũng có nhận xét: “Việc xuất bản gắn liền với việc phát hành. Theo ý tôi, việc phát hành đang ở vào tình trạng bi quan nên việc xuất bản không lấy gì sáng sủa cho mấy. Tác giả hầu như chỉ dựa vào việc ra mắt để hy vọng sách đến tay độc giả (?). Chứ tác giả chỉ chờ độc giả tìm đến thì quả khó khăn. Người đọc càng ngày càng vắng do hậu quả từ Internet, báo chợ, băng đọc truyện... Nói tóm lại, mỗi tác phẩm ra đời là cả một sự hy sinh lớn của tác giả. Tuy vậy, không nên thấy nhiều tác phẩm được quảng cáo xuất hiện mà nghĩ đến trăm hoa đua nở. Hãy nghĩ đến những thùng đầy sách chất trong nhà kho, không biết làm sao để tiêu thụ cho hết.

“Không phải riêng gì trong ngành xuất bản của người Việt hải ngoại, mà ngay cả người Mỹ cũng thế. Bởi vậy, phương pháp ‘Book-On-Demand’ (In theo nhu cầu) ngày càng được phát triển.

“Thư Ấn Quán là một cơ sở dựa vào phương pháp này. Vui và hãnh diện lắm anh à. Từ nay không cần lệ thuộc vào nhà in nữa. Và hãnh diện vì đây là sáng kiến của mình, do mình tự tìm tòi, khảo cứu và sáng tạo. Từ nay, không cần nhìn tác phẩm của mình tồn kho chất đống nữa. Chỉ in theo yêu cầu. Nhờ vậy mà trong vòng hơn ba năm, Thư Ấn Quán đã thầm lặng xuất bản hoặc tái bản 42 tác phẩm. Có cuốn in chừng 50 tập. Có cuốn trên 700 tập. Có cuốn in tặng, có cuốn bán. Ngoài ra, chúng tôi còn cho ra đời tạp chí Thư Quán Bản Thảo, không một trang quảng cáo thương mại, chỉ dành để biếu tặng. Qui tụ hầu hết các bạn hữu chúng ta, mà đa số ở trong nước. Tính đến nay đã 16 tập rồi. Mỗi tập dày khoảng 200 trang. Cũng nhờ ở tấm lòng của người đọc nên tạp chí này càng ngày càng sống vững. Hiện tại chúng tôi đang tập trung chuẩn bị làm số về các nhà văn đã quá cố hay còn ở trong nước, rất qui mô và dồi dào tài liệu. Đặc biệt là bài vở do bạn bè của các nhà văn ở trong nước thực hiện.”…”

Nhà văn UyênThao, người chủ trương nhà xuất bản Tiếng Quê Hương, có lần đã phát biểu: “Một sự thực đáng buồn là hiện tại ở thời điểm bây giờ văn học Việt Nam hải ngoại đang ở trong tình trạng trì trệ cả về người đọc lẫn người viết. Độc giả Việt ngữ dần dần số lượng càng eo hẹp vì nhiều lý do và người viết thì cũng hao hụt, lớp lớn tuổi ra đi và lớp trẻ hơn chưa đủ để thay thế.
Nhưng có một sự kiện lạ đáng ngạc nhiên: hàng tuần hàng tháng vẫn có những cuốn sách mới ra đời và ở những nơi đông dân cư Việt Nam vẫn có những buổi ra mắt sách trang trọng. Như vậy chúng ta có nên lạc quan về tình trạng xuất bản sách không?”
”
Năm nay, sự thực có lẽ bi quan nhưng ở bề mặt nổi vẫn có nhiều điều để hy vọng. Có những người nặng nợ văn chương đã kiên quyết làm những công việc mà ai nhìn vào cũng thấy đầy trở ngại. Như hai nhà văn Uyên Thao và nhà văn Trần Phong Vũ thành lập tủ sách Tiếng Quê Hương tới nay đã hơn 12 năm và đã xuất bản được 54 tác phẩm với những cuốn sách đẹp, phần lớn là bìa cứng, có giá trị, đúng tiêu chuẩn về nội dung và hình thức. Dù có sự giới hạn độc giả cũng như giảm bớt mãi lực sách vở vì suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng thành quả đã đạt được của tủ sách Tiếng Quê Hương cho phép chúng ta có những nhận định đầy hy vọng.

Tủ sách này được thành lập vào đầu năm 2000, vài tháng sau khi nhà văn Uyên Thao đặt chân lên nước Mỹ, và tác phẩm đầu tiên được phát hành vào tháng 9 cùng năm là tập truyện ngắn Thân Phận Ma Trơi của Nguyễn Thụy Long, một nhà văn còn sống ở trong nước.

Trong năm 2012, cuốn Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc của nhà phê bình văn học Thụy Khuê đã bán hết và đang sửa soạn tái bản. Tác phẩm biên khảo này do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương ấn hành. Những nhà văn trong Nhân Văn Giai Phẩm không những đã tạo thành một biến cố quan trọng trong lịch sử văn học mà còn là một biến cố trong lịch sử chính trị Việt Nam. Thế mà trong một thời gian dài, sự thật bị chế độ Cộng sản thay đổi và người dân miền Bắc lúc ấy hầu như biết sự thật này theo cung cách một chiều của chế độ. Về sau này, qua cuộc đổi mới, mới có những sự kiện được nhìn lại, được phân tích và nhận định từ những chứng liệu cũ. Do đó, sự thật lịch sử văn học chính trị được phần nào bạch hóa.

Một cuốn sách khác, Cung Trầm Tưởng, một hành trình thơ (1948-2008), cũng là một tác phẩm độc đáo của nhà xuất bản Tiếng Quê Hương. Thường thường, các nhà xuất bản khá ngại ngùng khi in thơ, nhất là một tuyển tập thơ dày hơn 600 trang bìa cứng. Thế mà, sự đón nhận của độc giả khá nồng nhiệt. Tác phẩm ghi nhận những chặng đường thi ca của một thi sĩ trải dài theo những tiến trình của văn học Việt Nam.

Với Cung Trầm Tưởng, ở giai đoạn đầu tiên, thơ là tình ca, là những cảm giác mới lạ của trái tim nguyên xi, của một thời tuổi trẻ. Và sau năm 1975, thơ in ở hải ngoại là những cảm xúc của con người trong nghịch cảnh của đời sống. Thơ của suy tưởng của những tháng ngày tù tội của một người chọn lựa thế đứng chính trị của mình chống lại chế độ độc tài áp bức…

…và một vài tác giả/tác phẩm

Năm 2012, nhà văn Nhật Tiến đã hoàn tất 4 tác phẩm. Với bộ sách 3 cuốn đã hoàn tất Hành Trình Chữ Nghĩa, trong cương vị của một nhà văn ông phác họa lại một chặng đường văn học của mình với những thời điểm lồng trong đời sống lịch sử dân tộc. Đây là một tư liệu văn học ghi chép lại những sự kiện nhưng không theo thứ tự thời gian. Tác giả từ những thời điểm đáng nhớ của lịch sử để có những nhận xét về sinh hoạt văn chương trong thời gian và không gian lúc đó. Và, tác phẩm Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác ghi chép về một thời đại đặc biệt của dân tộc gửi cho những thế hệ sau.…

Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp cho tái bản thi tập Tôi Cùng Gió Mùa và in thêm hai tác phẩm mới là Thơ Nguyễn Xuân Thiệp (gồm những bài thơ sáng tác sau năm 1975) và tập tạp bút Tản mạn bên tách cà phê. Dù là thơ hay văn, ông cũng viết với tâm hồn của một thi sĩ. Những bài viết trên tạp chí Phố Văn do ông chủ trương là những tùy bút đi gần với cuộc sống hiện tại nhưng là những ý nghĩ lãng mạn và thú vị của một người tìm được ý nghĩa của cuộc nhân sinh. Thơ của ông trầm lắng, không phải là những suy tư xốc nổi mà là những giọt nước thuần khiết nhỏ xuống từ những mạch ngầm tưởng như thinh lặng mà ngầm chứa những xao động như sóng cuộn ở tâm tư. Đọc thơ về thời kỳ tù ngục lưu đầy của Nguyễn Xuân Thiệp tôi hiểu được sự nâng niu nghệ thuật và thái độ sống thực viết thực của kẻ sĩ Việt Nam trong cơn biến động của lịch sử.

Tản mạn bên tách cà phê của Nguyễn Xuân Thiệp với đề tài của những bài viết thay đổi tùy theo ngẫu hứng của tác giả. Có những chuyện trọng đại như nội chiến Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam, mái nhà thế giới, cách mạng văn hóa bên Trung Hoa, cách mạng nhung ở Tiệp Khắc. Cũng có chuyện về những sinh vật hèn mọn như con ve, con dế, bầy chim én, con hải âu, hay những vật tưởng như tầm thường - cánh diều, cái chong chóng, hòn đá, chiếc lá vàng, ngọn rau con cá trong vàm, cái nhẫn cỏ. Lại có cả những bài viết về các món ăn hấp dẫn: thịt chó và phở, rau càng cua, bát canh hoa lý, món giả cầy ăn trong một chiều trở lạnh, măng hầm chân giò và miến xào lươn, món crawfish ăn ở tiệm Golden Corral cùng với cô ca sĩ một đêm mưa lái xe lạc đường...

Nhà văn Nguyễn Văn Sâm trình làng hai tác phẩm. Một là tập truyện Quê Hương Vụn Vỡ gồm 20 truyện ngắn xoay quanh không gian và thời gian ở quê nhà và xứ người. Những mảnh đời đặc biệt Việt Nam qua văn phong rặc ròng Nam Bộ đã tạo thành một tác phẩm độc đáo của văn học Việt Nam ở hải ngoại. Tác phẩm thứ hai Người Hùng Bình Định nổi loạn Truông Mây do Nguyễn Văn Sâm giới thiệu và phiên dich là một công trình văn hóa lớn. Dịch từ văn bản chữ Nôm Văn Đoan Diễn Ca, ông đã làm sống lại truyện Chàng Lía, một anh hùng dân giả mà hai câu ca dao mô tả: Chiều chiều én liệng Truông Mây/cảm thương chú Lía bị vây giữa rừng. Trong công việc tái tạo lại những tác phẩm văn học cổ bị thất truyền, ở trong nước có cả một viện Hán Nôm với số nhân viên cả trăm người mà mỗi cuốn sách phải cả chục năm mới xong thì ở hải ngoại một loạt các tác tác phẩm chữ nôm do Nguyễn Văn Sâm và một vài người cộng tác phải là một công việc biểu lộ nỗ lực hết mình. Công việc ấy có lẽ phải có sự đóng góp của nhiều người hơn để những gia tài văn hóa dân tộc không bị mai một.

Nhà xuất bản Văn Mới năm qua đã in Căn nhà An Đông của mẹ tôi, một tư liệu văn học viết dưới hình thức truyện ngắn và hồi ký của nhà văn Nguyễn Tường Thiết. Ở đây bóng dáng một nhà văn lớn, một nhà cách mạng, một nghệ sĩ bao trùm và qua tác phẩm của Nguyễn Tường Thiết, chân dung Nhất Linh, thân phụ của tác giả, rõ nét hơn với cả những chi tiết đời thường làm người đọc thích thú bất ngờ. Kể lại chuyện mình cũng như kể lại chuyện của người cha qua hình bóng căn nhà của mẹ ở chợ An Đông, những trang hồi ký hoặc truyện ngắn như những nhát cọ phác họa lên bức tranh chân dung sinh động và có nhiều nét gần gũi với độc giả qua những thế thời của vận nước điêu linh.
“
Những Người Muôn Năm Cũ tập truyện ngắn Huy Phương, một người nổi tiếng với thể loại tạp ghi. Tác phẩm gồm 18 truyện ngắn với những mảnh đời và những phận người của quá khứ và hiện tại, của khung trời quê hương hay nơi chốn lưu lạc. Nhân vật của Huy Phương là tổng hợp của nhiều nhân dáng mà có khi trong những độc giả có những nét tương tự. Đời người lính nối tiếp thành đời người tù, rồi đời người bị lưu vong ở chính quê hương mình lại thành đời người lưu lạc thực, những mảng đời ấy, những tâm tư ấy đã dàn trải lên những trang sách để mỗi người nhìn lại mình chính xác hơn và cũng ngậm ngùi thêm cho đất nước dân tộc trong một thời đại bi đát.

Với nhan đề chỉ có một chữ độc nhất, những tác phẩm của Song Thao đã mở ra một phương trời mà chữ nghĩa như những vó ngựa đi vào những cuộc trường hành. Phiếm 12 nối tiếp 11 tác phẩm đã xuất bản từ trước với những đề tài và phong cách viết gợi lại rất nhiều óc tò mò của độc giả. Từ đời sống thực đến văn chương, từ khoa học đến nghệ thuật, từ những nhân vật nổi bật của lịch sử Việt Nam và thế giới, những câu hỏi mở ra từ một chữ ngắn ngủi nhưng dài ra từ những khai triển, những sưu khảo để người đọc có ấn tượng rõ hơn và cũng hiểu biết vấn đề thấu đáo hơn. Phiếm của Song Thao là những câu chuyện kể xoay quanh một đề tài được viết bằng một thứ ngôn ngữ sinh động có lúc làm độc giả nở nụ cười nhưng chính yếu vẫn là trình bày những điều có thể mới lạ nhưng cũng có thể đã có nhiều người biết. Đọc Phiếm, có thể bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu. Từ những bài viết, là những thế giới khác nhau, có lúc ảnh hưởng thời cuộc nhưng có lúc là những vấn đề muôn thuở của con người. Yêu thương, giận hờn, hiền lành, đạo đức, những cảm quan của con người được đào xới để làm nổi bật ra sự sống động của văn chương.

Cũng trong năm 2012, mặc dù không phải là tác phẩm thuần túy văn học, người đọc có thể có trong tay tập hồi ký Ký Ức Huỳnh Văn Lang trải dài từ những không gian, thời gian khác nhau và chia thành ba thời kỳ mà tác giả đã đề cập đến trong bài mở đầu. Quyển thứ ba, viết về thời kỳ sống lưu vong, từ ngày 27 tháng Tư năm 1975 đến nay. Đối tượng là đời sống của một người tị nạn với một gia đình một vợ bốn con. Tác phẩm chú trọng mô tả cuộc sống những người tị nạn trong một môi trường văn hóa và kinh tế của một xã hội còn nhiều xa lạ với người Việt Nam.

Và sau cùng nhà văn / khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh năm qua cũng đã cho in tác phẩm Vui Đời Toán Học. Thường trong ý nghĩ chung của mọi người văn chương và toán học dường như có một chút gì xung khắc nhau. Một bên thì khô khan, một bên thì lãng mạn. Nhưng đọc Vui Đời Toán học của nhà văn Nguyễn Xuân Vinh, độc giả dường như không thấy cái cảm giác tiền chế ấy.
…
Bài viết này không phải là một tổng kết tình hình văn học hải ngoại năm 2012. Lý do vì văn học Việt Nam ở hải ngoại trải rộng ra cả thế giới chứ không chỉ ở vài thành phố có người Việt trên đất Mỹ mà còn ở nhiều nước khác, quốc gia khác. Và khó lòng một cá nhân với tài liệu hạn hẹp dù cố gắng cũng không thể nào đưa ra được một cái nhìn đầy đủ hơn. Do đó bài viết này chỉ là những ghi nhận của một người thu lượm được từ một số sách vở báo chí trong tầm tay, những điều mình đọc thấy, cảm thấy về một dòng sinh hoạt văn học gần gũi và phiến diện.

Âu cũng là một thiếu sót đáng tiếc.[NMT]

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Cô Nguyễn Thị Hàm Anh – người viết bài này – sống ở Sài Gòn. Cô là con ông Thượng Sĩ Nguyễn Ðức Long.
Ông Thượng Sĩ là nhà phê bình văn học có tiếng ở Hà Nội những năm từ 1950 đến 1954. Ông đã qua đời ở Sài Gòn khoảng năm 2000.
Viết ở Rừng Phong đã đăng bài “Mai Châu Mùa Em..” của cô Hàm Anh. Hôm nay, mời quí vị đọc một bài viết mới của cô Hàm Anh.
Ðây là những lời một người ở Sài Gòn phê phán một số ca sĩ Việt ở Hoa Kỳ về nước ca hát. CTHÐ.



TIẾNG HÁT HOÀNG HÔN

Nguyễn Thị Hàm Anh
Anh chị tôi rủ đi nghe nhạc. Có hai ca sĩ hải ngoại mới về, Duy Quang và Elvis Phương. Hai ca sĩ cũ nổi tiếng từ xa xưa, một thời của quá khứkhông mơ hồ … Sau này, qua băng đĩa lưu hành lậu, những giọng hát ấy vẫn khiến người nghe thấy lòng nức nở khi cất lên những bài tình ca bất hủ. Có rất nhiều tình ca do nhạc sĩ VN sáng tác, lúc này hay lúc khác, nơi nọ hay nơi kia. Nhưng đặc biệt, tình ca trong quãng thời gian hai mươi năm đó đã đạt đến đỉnh cao, cả về số lượng lẫn chất lượng, là một phần lộng lẫy trong gia tài âm nhạc Việt nam.

Tuy nhiên, những bài hát từng đưa họ lên đỉnh cao danh vọng, đậu lại trong lòng gnười nghe thì bị cấm, không được trình diễn, dù nội dung chỉ ca tụng tình yêu. Đêm nhạc được tổ chức dưới tên L’histoire d’un Amour, tức họ xuất hiện chỉ để trình nhạc tình Pháp. Bởi vì nhạc Pháp có vẻ vô hại, nhạc tình của Pháp lại càng vô hại. Thính giả chỉ thưởng thức nhạc, chẳng mấy ai biết đến lý lịch của các nhạc sĩ sáng tác ra những bài hát đó. Và lý lịch của các nhạc sĩ viết tình ca này hẳn là “ trong sạch”!

Hai đêm nhạc được quảng cáo trước cửa phòng trà và dân hoài cổ truyền miệng nhau đi xem. Nói đi xem có vẻ chính xác hơn đi nghe bởi người ta vẫn thuờng nghe hai giọng ca này qua dĩa và thấp thoáng đâu đó qua video nên không tới nỗi lạ lẫm. Vả lại nhạc nghe qua dỉã dĩ nhiên hay hơn, vì âm thanh phòng trà thường tất chát chúa, chói tai.

Do vậy, chính đi là để nhìn hai ca sĩ bằng xương bằng thịt giờ đây thế nào, có thay đổi nhiều so với ngày xưa chăng. Đi xem họ hát như thể nhặt nhạnh chút gì của một thời xa xưa bỗng nhiên rơi rớt lại, quay về những kỷ niệm bị lãng quên, lục lọi tìm một mảnh của chính mình bị cất dấu, ẩn nấp trong xó xỉnh đâu đó phủ đầy bụi bặm, nấm mốc của thời gian lạnh lùng.

Elvis Phương về nước từ trước, đã hát rải rác chỗ này chỗ nọ nhưng đa6y là lần đầu tiên Duy Quang xuất hiện trước công chúng. Hai ca sĩ này chỉ hát trong hai đêm nên chị tôi phải gọi điện thoại đặt chỗ trước. Hôm sau họ sẽ chuyển sang chỗ khác.

Nhớ hồi Giao Linh mới xuất hiện cách đây mấy năm. Khi ấy ca sĩ hải ngoại về nước rất it’ nên bà được đón tiếp nồng nhiệt. Người ta hào hứng đi xem người ca sĩ khi xưa có mái tóc đặc biệt một bên cúp vào, một bên cong ra. Cái gì xa xôi, chỉ nghe tiếng đương nhiên được tò mò muốn thấy hình. Thế nhưng, chỉ sau một thời gian rất ngắn, được ngự trị ở vài phòng trà trung tâm thì với mấy bài hát ma-ri hết hơi, Giao Linh cùng Tuấn Vũ mau chóng bị dạt ra cho đến khi tên của hai ca sĩ này xuất hiện trên tấm banderole ở rạp Hào Huê, Chợ Lớn và mấy quán ăn tầm tầm thì kể như vị trí của họ tắt ngúm nơi thành phố.

Hương Lan cũng vậy, giọng hát ngọt ngào của ca sĩ này từng rung động lòng người xa xứ với những bài hát mang âm hưởng dân ca, nhưng chíng ngay trên quê hương thì đâu có ai hoài hương để lúc nào cũng sẵn sàng mềm lòng trước mấy bài hát bông bầu, bông bí. Không kể vô vàn người hát trong nước, nổi tiếng hoặc không nổi tiếng, đều hát ngọt như vậy hoặc hơn vậy, hát những bài như thế và vô số bài mùi mẫn hơn thế, nên chi Hương Lan cũng xuất hiện trên TV trong một chương trình ca nhạc lem nhem nào đó mà không hề ai để ý đến.

Tiếng tăm của hai ca sĩ hải ngoại Duy Quang và Elvis Phương có phần nổi trội bởi lẽ thức uống đều tính phụ thu khá cao. Chỉ những ca sĩ ngôi sao mới có phần phụ thu này.

Đêm nhạc tình Pháp bắt đầu. Những bài hát của thời hoàng kim xa lơ xa lắc được các ca sĩ trẻ hoặc không nổi tiếng lắm hát trước. Aline lầu tình trên cát, Les flots du Danube, L’amour c’est pour rien, Apres Toi, Bang Bang… Một ca sĩ tên Quang Vượng hát rất hay. Rồi Duy Quang bước ra sân khấu. Biết là đêm nhạc Pháp, nhưng dường trong lòng mọi người vẫn mong mỏi một chút “xé rào” để được nghe phảng phất những âm giai mơ mòng phổ thơ Tuệ Mai. Thôi bàn học cũ, Sách vở từng năm. Nhớ người tóc xõa. Ôn bài dưới trăng. Thôi chăn gối lẻ. Gửi lại giường xưa. Hương đào ngây thơ. Ủ dùm cho nhé…hoặc da diết đến nao lòng. Người từ trăm năm. Về khơi tình động. Ta chạy vòng vòng. Ta chạy mòn chân. Nào có hay đời cạn. nào có hay cạn đời.. Hồ như một người từ trăm năm về thật nhưng hình ảnh không đẹp bằng lời thơ Nguyễn Tất Nhiên.

Duy Quang đứng xa trên sân khấu, đầu như hơi hói, tóc như nhuộm nâu, lưng như hơi gù, cổ đưa ra phía trước và một bàn tay buông thõng. Bà chị chắc lưỡi kêu tướng mạo Duy Quang coi chán đời quá! Ông anh lắc đầu nói thì soi gương thử xem, bà tưởng mới vài năm phù du trôi qua sao, ngồi quanh đây” đời đã xanh rêu ” cả, nào có ai khá hơn ai. MC luôn ra rả giới thiệu khán giả của phòng trà hôm nay toàn những mái đầu bạc rất quen thuộc với ca sĩ và những bản nhạc của thập niên được trình bày đây. Bà chị lại rên rỉ. Thử nhìn xem, ngoại trừ vài vị ở độ tuổi ngoài tám mươi mới bạc. Còn lại đều đen nhánh, toàn người trăm năm không phai tóc nhuộm, bói không ra một sợi sương sương. Đám trẻ loe hoe tưởng có chi lạ, ngồi đến giữa chương trình bỏ về hết. Số người ráng ngồi đến cuối buổi là biết niên kỷ bao nhiêu rồi. Tên MC thật không biết điều, cứ lôi tuổi tác người ta ra “ bêu riếu”, về hưu sơm sớm cho được việc.

Duy Quang hát lời Việt của ba bốn bản nhạc Phạp Chắc chắn Duy Quang được nhắc tơi bởi chỉ rất thích hợp với những bài thuộc loại… Đưa em về dưới mưa. Nói năng chi cũng thừa … hay …Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ. Này cô em tóc demi garcon. Chiều hôm nay đón gió. Cô có tình cờ nhìn thấy anh …Chắc ca sĩ này biết rõ chỗ yếu của mình nên mau chóng rút lui nhường phần cuối chương trình cho Elvis Phương.

Nổi danh hồi nào trong ban nhạc Đại Bàng, vốn học trường Tây nên ca sĩ này hát đúng giọng Pháp. Tuy nhiên Elvis Phương không phải là người duy nhất hát nhạc Pháp đúng giọng, lại càng không phải người hát nhạc Pháp đúng giọng hay nhất. Khán giả cũng không phải tất cả đều am tường để mê nhạc Pháp. Nhạc ngoại quốc không mau chóng và dễ dàng đi ngay vào lòng người như … Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời. Đồng cỏ nào xanh ngắt lưng trời… Ngày nào bầu trời còn mây bay. Lòng ta vẫn thấy yêu thương hoài. .. Tôi muốn làm một thứ cỏ cây. Vui trong nắng và quên ưu phiền…

Đối với đa số, nghe loại nhạc như vậy hiểu liền và thấm liền. Quan trọng hơn hết, mới thấy đó là Elvis Phương của họ, ca sĩ thuở nào của đám đông khán giả thuở nào!

Vì thế, mặc dù nhạc Pháp đúng giọng và hát hay, nhưng khán giả vẫn thấy điều đó không đủ, chưa đúng. Mọi người ngồi nghe một cách kiên nhẫn, ngán ngẩm, ngắm người ca sĩ la hét, gào rú nhảy nhót liên tục mười mấy bài trên sân khấu mà chẳng thưởng thức bao nhiêu, chỉ thấy thương gì đâu! Elvis Phương cố gắng giữ gìn phong độ và khán giả thưà nhận ca si này vẫn còn phong độ. Tuy nhiên đừng tỏ ra, đừng cố gắng chứng minh một điều gì cả thì tốt hơn. Bởi vì trong chữ “ vẫn” , trong sự cố gắng đó đã hàm ý vớt vát, pha vào điều gì chua chát rồi. La hét, nhảy nhót quá chừng dành cho choi choi đi. Kán giả không đợi xem màn đó. Thấy ca sĩ trình diễn trên sân khấu mà bắt mệt. Cả ca sĩ và khán giả đều là người từ trăm năm, lắng dịu một chút thì hay hơn, nhất là mọi người đến đây chỉ muốn gặp Elvis Phương để hoài niệm, không phải để sôi sùngsục trong điệu rock mà họ đã quá mệt nhọc nơi cuộc sống hàng ngày. Họ sẽ chọn để nghe rock ở một phòng trà với khung cảnh và không khí khác, với những ca sĩ khác chứ không phải ca sĩ này.

Dường như chịu hết nổi, một khán giả yêu cầu nhạc Việt. Ngập ngừng một chút, Elvis Phương hát một bản nhạc xưa, quá xưa chắc từ hồi chưa sinh ra đời, nên không cách nào tôi nhớ được tựa. Không khí phòng trà nóng hẳn lên, mọi người nghe một cách hào hứng, vỗ tay rào rào chứ không phải vỗ tay vì lịch sự. Hết bài, vài giọng la lên hát nhạc Việt đi, rõ ràng ai nấy nóng lòng mong chờâm điệu dào dạt của những bài tình ca quen thuộc. Ca sĩ lại hát một bài ngày xưa Thanh Thúy thường hát. Khán giả có chiều thất vọng, nhưng biết sao , thôi thì nghe đỡ một hai bài như vậy, còn hơn đi về không được bài nào như ý. Chỉ hai đêm nhạc thôi chứ kéo dài cũng chẳng ai đi lần thứ hai

Đúng là biết sao! Bởi vì với nhạc ngoại quốc còn có thể tổ chức được vài đêm hát chứ bông bầu bông bí thì …ai thèm đi.

Bà chị than đi nghe hát như tới gặp người tình xưa, mới vỡ lẽ người tình thương nhớ chỉ tồn tại trong ký ức, là hình ảnh mơ hồ chìm vào kỷ niệm. Thời gian như dừng hẳn từ lần cuối cùng chia tay đó, giờ nhìn lại thất vọng não nề và giấc mơ dài theo năm tháng bỗng phút chốc vỡ tan thành bọt bóng!

Thật ra số tuổi của họ vẫn còn hát lâu dài, chưa phải muộn, chưa đến lúc rời sân khấu. Nhưng cách họ quay về, cách xuất hiện sau một thời gian quá dài vắng bóng khi trong lòng người hâm mộ chỉ giữ hình ảnh ngày cũ, và lưu giọng hát của họ không thay đổi qua băng diã. Sóng đời đã xô nhiều đợt đổi thay. Những con người thật sự sao chỉ hiện ra trên tấm phông lạc nhạt và chính họ gợi nên vẻ gì gượng gạo, ánh sáng hắt ra ánh hồi quang, dù rực rỡ, vẫn chỉ là vạt nắng níu keó của buổi tà dương.

Người ca sĩ không thể hát một mình đối bóng. Họ cần sân khấu và ánh đèn, cần khán giả nên chi có một phòng trà được mở raở Saigon dành cho các ca sĩ qua thời. Có thể tìm thấy Hồng Vân, Lan Ngọc… và một số ca sĩ sau này như Nhã Phương…Phòng trà tuy cũng đèn đuốc xanh đỏ nhưng sàn nhà ciment và bà quản lý mập mạp mặc đồ bộ, tay cầm quyển sổ nhỏ đi tới đi lui dòm ngó, chỉ huy mọi việc. Phòng trà chia thành hai gian. Gian ngoài sôi động hơn một chút, gian trong trầm lắng với những nhạc sĩ tóc trắng như bông chơi đàn với tất cả sự mê say, nâng niu và vội vã vì thời gian được cầm lấy cây đàn đang đàn dần co lại, sợi dây đàn đứt lúc nào không biết để thanh âm nao nức sẽ im bặt trên chiếc bục trống vắng. Nên dưới không khí rất thân thuộc đó là sự hiu hắt khiến lòng người tự nhiên chùng xuống.

Saigon có số lượng thính giả đông đảo hơn hải ngoại. Vì thế ca sĩ cũ hải ngoại về hát tìm lại vang bóng là điều đương nhiên.

Nhạc sĩ Phạm Duy cũng thế. Ông mơ ước sống lại ánh hào quang rỡ ràng của thời gian hai mươi năm xưa kia, ông muốn quay về nhằm mục đích mưu sinh hay vì lý do nào khác không rõ!. Chỉ có đie6`u những câu tuyên bố qụy lụy của ông khiến mọi người ngỡ ngàng. Thật ra từ cách đây vài năm, nhạc của ông đã được phát ra qua băng dĩa khá nhiều tại các quán cà phê. Nhạc cổ điển, nhạc jazz… kén chọn thính giả thường chỉ tồn tại ở ít quán trong thành phố. Còn hầu hết tình ca du dương, trầm bổng nằm tại quán bar, cà phê. Để phân biệt “ đẳng cấp”, các quán lịch sự thường chỉ chơi “nhạc Trịnh”, nhưng quanh đi quẩn laị nghe hoài bấy nhiêu bài cũng phát chán. Về sau, gần đây, nhạc Phạm Duy đà từ từ thay thế nhạc Trịnh. Trong không khí êm đềm của các quán nước tao nhã, người nghe thả hồn vào thế giới ngập tràn những giai điệu và ca từ đặc biệt của ông… tìm sâu trong muôn thuở, tìm sau lưng bốn mùa,tìm nhau như thiên cổ tìm ngàn thu, gặp nhau trong hơi thở của cuộc đời …Quả Phạm Duy không cần hạ mình đến thế. Giá trị nhạc của ông đã được khẳng định và không thể vùi dấu mãi. Những bài hát đã vang lên trong các quánnhạc ở Saigon, Dalat, NhaTrang … như mọi giá trị văn hoá đích thực khác, sẽ tồn tại vĩnh viễn đứng ngoài mọi biến cố cuộc đời.

Có vẻ Phạm Duy không biết đến điều đó, hay ông vẫn lo lắng bị bỏ quên, vẫn thấy … ngại, hay om xòm được coi là một trong những phương thức quảng cáo thông thường … Thôi thì dù chưa bị đánh, cũng xin hàng trước cho chắc ăn. Và nếu tỏ ra sự nhu nhã như vậy, may ra bài hát của ông sẽ được chính thức phổ biến rộng rãi. Ông sẽ xuất hiện, sẽ ôm cây đàn hát không phải ở quán nước, phòng trà tẹp nhẹp mà trong những nhà hát to lớn mở những live show gây được tiếng vanh ồn ào. Một giấc mơ quá đẹp có thể giải thích pha6`n nào cho thái độ lạ lùng đạp lên chính mình của ông. Đẹp quá vì đó chỉ là một giấc mơ, và đến giờ giấc mơ vẫn là điều không tưởng.

Dẫu sao Phạm Duy quá mệt mỏi để có thể chờ đợi lâu, tấm hình chụp trên báo cho thấy ông đã phải ngồi xe lăn khi về tới phi trường. Thời gian của ông không còn bao nhiêu nữa. Ông trở nên gấp rút, vội vã. Ông hối hả xưng tội, nghĩ ra tội để có cái mà hối lỗi. Có còn kịp để ông được hát những bản nhạc của mìnhtrước công chúng thành phố đông đúc cuồng nhiệt như ông tưởng tượng không ? Bằng bất cứ giá nào ? Nhiều người không giận mà chỉ cảm thấy dâng lên cảm giác ngậm ngùi ve6` những cuộc sống mà hoàng hôn đã mênh mông vây tỏa. Nắng úa tàn làm mờ nhòa, lầm lạc nhân ảnh. Một ngày gần cạn, những sôi nổi của bình minh ấm áp, của trưa gắt nồng nàn đã qua đi. Chỉ còn hoàng hôn nghỉ ngơi và tiếng hát vọng từ quá khứ dành cho sự trầm ngâm, hồi tưởng …

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ai Bảo Em Là Giai Nhân...

Em là gái trong song cửa Anh là mây bốn phương trời Anh theo cánh gió chơi vơi Em vẫn nằm trong nhung lụa Em chỉ là em gái thôi Người em sầu mộng của muôn đời Tình em như tuyết giăng đầu núi Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời Ai bảo em là giai nhân Cho đời anh đau khổ Ai bảo em ngồi bên song Cho vươn nợ thi nhân Ai bảo em là giai nhân Cho lệ tràn đêm xuân Cho tình tàn trước ngõ Cho mộng tràn gối chăn Ai bảo em là giai nhân Cho hồn anh rơi rụng Ai bảo em cười như xuân Cho chết lòng thi nhân Ai bảo em là giai nhân Cho rượu hồng chua cay Cho nụ tình xa bay Cho lệ buồn đêm nay

Trong Thi nhân Việt Nam (của Hoài Thanh, Hoài Chân), Lưu Trọng Lư được đánh giá cao với những bài thơ nổi tiếng như: Nắng mới, Tiếng thu, Thơ sầu rụng, Một mùa đông, Giang hồ, Còn chi nữa, Thú đau thương, Chiều cổ… Bài thơ Một mùa đông kể lại một câu chuyện tình thơ mộng nhưng dang dở của thi sĩ với nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị.

Lưu Trọng Lư thuộc thế hệ mở đầu của phong trào Thơ Mới. Những bài thơ mang âm hưởng trữ tình lãng mạn, thanh thoát, giàu nhạc điệu của ông, được công chúng đương thời nồng nhiệt chào đón, đã góp phần đem lại sự chiến thắng cho Thơ Mới trong buổi ban đầu.
Điềm Phùng Thị tên thật là Phùng Thị Cúc. Bà là nhà điêu khắc nổi tiếng trên thế giới, được bầu là Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học, văn học và nghệ thuật châu Âu. Bà được đưa vào danh sách những tài năng lớn của nghệ thuật thế kỷ XX trong từ điển Larousse.

Phùng Thị Cúc sinh ngày 18/8/1920 tại làng Châu Ê, xã Thủy Bằng, ven đô Huế, quê nội ở xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Bà là con ông Phùng Duy Cẩn từng làm quan triều Nguyễn, có thời làm tham công chỉ huy việc xây lăng Khải Định. Mồ côi mẹ từ lúc 3 tuổi, bà theo cha sống ở Tây Nguyên. 6 tuổi đã theo cha sống khắp các tỉnh vùng cao nguyên trung phần ròng rã 9 năm, rồi mới về Huế học Trường Đồng Khánh.

Năm 1946, bà tốt nghiệp nha khoa tại Trường Đại học Y khoa Hà Nội khóa đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Toàn quốc kháng chiến, bà ra vùng tự do phục vụ cho cách mạng. Vì một cơn bạo bệnh, Phùng Thị Cúc được đưa sang Pháp điều trị. Tại Pháp sau khi khỏi bệnh, Phùng Thị Cúc tiếp tục theo học và tốt nghiệp bác sĩ nha khoa. Sau đó Phùng Thị Cúc đã kết hôn với bác sĩ Bửu Điềm. Tên Điềm Phùng Thị ra đời từ đó. Mãi đến năm 30 tuổi, bà mới đến với nghệ thuật điêu khắc. Vào năm 46 tuổi, bà có cuộc triển lãm đầu tiên và được công chúng Pháp chào đón nồng hậu. 36 tác phẩm điêu khắc của bà được đặt khắp lãnh thổ nước Pháp. Tên tuổi của Điềm Phùng Thị đã nổi danh khắp châu Âu. Những năm cuối đời bà quay về sống ở quê hương và đã mất ở Huế năm 2002.

Trở lại với thời điểm và nguyên cớ ra đời của bài thơ Một mùa đông. Khi đó Cúc mới là một cô nữ sinh, từ Huế ra Hà Nội học Trường Thăng Long. Trên chuyến tàu tốc hành Huế – Hà Nội, cô được người chị là bạn của Lưu Trọng Lư gửi gắm nhà thơ trông nom giùm em gái, với lời dặn thân tình "Dọc đường giúp em một chút".

Cúc là một cô gái Huế sang trọng, đài các, hoa khôi của Trường Đồng Khánh. Gương mặt kiều diễm với đôi mắt đẹp mang nét buồn vời vợi cùng nụ cười thiên thần có má lúm đồng tiền đã hút hồn nhà thơ đa tình của chúng ta ngay từ phút đầu gặp gỡ. Suốt chặng đường dài hai người cũng chẳng có chuyện gì nhiều để nói với nhau. Cúc im lặng ngắm cảnh dọc đường. Và nhà thơ thì lẳng lặng nhìn ngắm giai nhân.

Khi tàu về đến ga Hà Nội, nhìn thấy trên gương mặt người đẹp thoáng chút lo lắng, vì đây là lần đầu tiên cô tới Thủ đô, nhà thơ đã hỏi địa chỉ và tình nguyện đưa cô đến tận nơi. Thi sĩ đã thực hiện đúng lời bạn dặn dò và chắc hẳn đó cũng là "mệnh lệnh của trái tim" chàng.

Tìm đến đúng địa chỉ, Lưu Trọng Lư đưa Cúc lên tận căn gác nhỏ, nơi có căn phòng của những người bạn, người chị của cô đang ở. Chào hỏi, dặn dò rồi bịn rịn chia tay. Khi vừa xuống gác, ra đến đường thì tình cờ Lưu Trọng Lư gặp thi sĩ Phạm Hầu – người bạn nhỏ của nhà thơ khi đó đang học Cao Đẳng Mỹ thuật ở Hà Nội. Phạm Hầu mời Lư vào nhà chơi. Khi lên gác, bước vào một căn phòng, mở cửa sổ ra, nhà thơ giật mình khi nhìn thấy người bạn đường xinh đẹp mà mình vừa chia tay ít phút trước đây đang ở ngay bên khung cửa sổ của căn phòng đối diện. Vậy là không một chút đắn đo, Lư quay sang nói ngay với bạn: "Mình ở luôn đây với cậu được không?". Phạm Hầu nhiệt tình vui vẻ đồng ý ngay. Lưu Trọng Lư vui sướng ngây ngất. Nhà thơ chỉ còn biết cảm ơn trời đất đã run rủi cho mình được gặp mối duyên may mắn kỳ lạ này. Suốt mùa đông năm đó, giữa cái giá lạnh của tiết trời Hà Nội nhà thơ đã được sống trong sự ấm áp dịu nhẹ của một mối tình sáng trong, thơ mộng.

Ở căn phòng bên này cô gái cũng không thể vô tình. Bởi ngay lần đầu tiên, khi nhà thơ nhìn qua cửa sổ đã bắt gặp đôi mắt Cúc mở to, sững sờ nhìn người anh "dẫn đường" rồi sau đó bối rối mỉm cười rời khỏi khung cửa. Sau này, thật lạ lùng mỗi khi nhà thơ bất thần mở cửa sổ lại nhìn thấy Cúc: khi thì đang ngồi đọc sách ôn bài, khi thì đang cắm một lọ hoa. Cũng có khi Cúc chẳng làm gì, ngồi suy tư mơ mộng. Cũng có khi nghe một tiếng ho nhẹ, nhà thơ mở hé cửa nhìn sang lại bắt gặp nụ cười bối rối, e thẹn của người đẹp. Cũng có lần khi mở cửa sổ, nàng không hề ngước lên nhìn, cho đến lúc cánh cửa như tự nó khép lại. Lại có lần không biết vì chuyện gì, Cúc ném sang bên này một cái nhìn hờn giận, trách móc khiến nhà thơ ngơ ngẩn suốt một buổi chiều.

Mọi việc dường như chẳng có gì khác lạ: Cửa sổ mở rồi lại đóng, đóng rồi lại mở. Thế nhưng sự trông đợi nhớ nhung đã thấm vào gan ruột từng ngày từng ngày một. Làm sao có thể nhớ hết được biết bao lần Cúc đã vào trong giấc mơ của thi sĩ đa tình, đã trở thành nguồn cảm hứng cho bài thơ Một mùa đông ra đời. Bài thơ gồm 4 đoạn kể lại một "love story" trong mộng ảo mà thấm đẫm những nỗi đau có thật.

Đôi mắt em lặng buồn
Nhìn thôi mà chẳng nói,
Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng không cùng.

Yêu hết một mùa đông
Không một lần đã nói,
Nhìn nhau buồn vời vợi
Có nói cũng không cùng.

Trời hết một mùa đông
Gió bên thềm thổi mãi,
Qua rồi mùa ân ái:
Đàn sếu đã sang sông.

Em ngồi trong song cửa
Anh đứng dựa tường hoa,
Nhìn nhau mà lệ ứa,
Một ngày một cách xa.

Đây là dải Ngân Hà,
Anh là chim Ô thước
Sẽ bắc cầu nguyện ước
Một đêm một lần qua.

Để mặc anh đau khổ,
Ái ân giờ tận số,
Khép chặt đôi cánh song!
Khép cả một tấm lòng!


Nhà thơ đã lí giải thật tài tình tâm trạng và nỗi lòng của mình. Có lẽ đây là đoạn thơ có những câu thơ ấn tượng hơn cả:

Em chỉ là người em gái thôi,
Người em sầu mộng của muôn đời,
Tình em như tuyết giăng đầu núi,
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.

Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vướng víu nợ thi nhân?

Ai bảo em là giai nhân
Cho lệ tràn đêm xuân?
Cho tình tràn trước ngõ?
Cho mộng tràn gối chăn?


Thật thú vị khi được biết rằng trong bài thơ lãng mạn này lại chứa đựng những câu chuyện hoàn toàn có thực. Nhà thơ Lưu Trọng Lư kể rằng, sau một thời gian sống cạnh nhau, tình cảm của hai người cũng có "bước phát triển" mới. Theo sự sắp đặt của những người bạn, có lần hai người đã đi chơi chùa Thầy cùng với một nhóm bạn. Sau một hồi leo núi, nhìn chung quanh chẳng thấy ai, chàng và nàng ngượng ngập đi bên nhau. Đến trưa cả nhóm mới trở lại sân chùa cùng ăn trưa. Bữa trưa có gà quay và rượu vang Pháp. Bắt chước mọi người, Cúc cũng uống vài li rượu nho. Đôi má ửng hồng và cặp môi nhuốm màu nho chín, rơi trên trán vài lọn tóc đen nhánh… Tất cả đã tạo thành một hình tượng nghệ thuật có sức ám ảnh lớn:

Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm
Em vẫn đùa nô uống rượu say.
Em có biết đâu đời vắng lạnh,
Lạnh buồn như ngọn gió heo may.
Môi em đượm sặc mùi nho tươi,
Đôi má em hồng chúm nụ cười,
Đôi mắt em say màu sáng lạn,
Trán em để lỏng làn tóc rơi.
Tuy môi em uống, lòng anh say,
Lời em càng nói càng chua cay
Anh muốn van em đừng nói nữa,
Lệ buồn sẽ nhỏ trong đêm nay.
Hãy xếp lại muôn vàn ân ái
Đừng trách nhau, đừng ái ngại nhau,
Thuyền yêu không ghé bến sầu
Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng.
Hãy như chiếc sao băng băng mãi
Để lòng buồn, buồn mãi không thôi.


Câu chuyện tình thơ mộng đã không dẫn đến một kết thúc có hậu. Họ mãi mãi là một đôi tình thân giữa một nghìn trùng xa cách. Đến năm 1975 họ mới có dịp gặp lại nhau. Cúc từ Pari về Hà Nội. Người em gái bé bỏng ngây thơ hôm nào đã là bà Điềm Phùng Thị – một điêu khắc gia nổi tiếng thế giới. Hôm đó Hội Nhà văn mở tiệc mừng các trí thức, nghệ sĩ ở nước ngoài về, trong đó có Điềm Phùng Thị và họa sĩ Mai Trung Thứ là người đã say mê vẽ bức chân dung Tôn Nữ Lệ Minh (vợ nhà thơ Lưu Trọng Lư) năm 17 tuổi. Nhà văn Nguyễn Tuân đã dắt tay Điềm Phùng Thị đến chỗ vợ chồng nhà thơ Lưu Trọng Lư đang ngồi và nói: "Đối mặt nhau rồi, ngâm lại bài thơ ngày xưa đi." Tên tuổi của nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị được lưu danh trong từ điển Larousse, đó là một niềm tự hào đáng kể. Nhưng cũng là một niềm vinh hạnh lớn khi bà trở thành nhân vật chính trong một bài thơ nổi tiếng của thi sĩ Lưu Trọng Lư



GLN

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Niệm Khúc Cuối

Tiếng hát SĨ PHÚ - Sáng tác: NGÔ THỤY MIÊN

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=IoUWAgr1mk


Dù cho mưa tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời
Dù cho mây hay cho bão tố có kéo qua đây
Dù có gió, có gió lạnh đầy, có tuyết bùn lầy
Có lá buồn gầy, dù sao, dù sao đi nữa tôi vẫn yêu em.
Tựa vai nhau cho nhau yên vui ấm áp cuộc đời
Tìm môi nhau, cho nhau rã nát, rã nát tim đau
Vừa đôi tay, ước muốn tù đầy,
Tóc rối bạc màu vết dấu tình sầu
Nhìn em, nhìn em giây phút, muốn nói yêu em.
Xin cho tôi, tôi như cơn ngủ, ru em, đưa em một lần
Ru em vào mộng, đưa em vào đời, một thời yêu đương.
Cho tôi xin em như gối mộng, cho tôi ôm em vào lòng.
Xin cho một lần, cho đêm mặn nồng, yêu thương vợ chồng
Dù mai đây ai đưa em đi đến cuối cuộc đời
Dù cho em, em đang tâm xé, xé nát tim tôi
Dù có ước, có ước ngàn lời, có trách một đời
Cũng đã muộn rồi
Tình ơi! dù sao đi nữa xin vẫn yêu em …

Trong lịch sử nhân loại tình yêu luôn là bí ẩn, là đề tài vô tận của thơ ca và nhạc họa. Xuân Diệu đã ví von rằng :"Yêu là chết ở trong lòng một ít” . Nhưng thực chất tình yêu là gì thì vẫn là một câu hỏi lớn mà bao nhà thơ, nhà triết gia, nhạc sĩ tài ba…muốn tìm hiểu và khám phá qua mỗi thi phẩm, nhạc phẩm của mình.
Nhắc đến tình yêu, là nhắc đến những định nghĩa đẹp đẽ và sâu sắc. Tôi đã nghe và cảm rất nhiều ca khúc về tình yêu mang âm điệu buồn và khơi gợi những tâm trạng đau đớn, mỏi mệt. Nhưng "Niệm khúc cuối" đem lại cho nhiều người, và cả tôi trong đó,cái cảm giác trái tim đã thắt đau mà tâm hồn vẫn nhẹ bẫng. Và nếu một lần nghe "Niệm khúc cuối" sẽ là một lần để cho tâm hồn ấy được tự do, một lần tự giải thoát nỗi lòng và để nhớ một thời ta đã yêu...

Người ta dễ phải lòng nhau bằng ánh mắt gần gũi, một nụ cười dễ mến, và có thể bằng tiếng sét ái tình. Rồi gắn bó, trọn vẹn một lời thề thì phải dành nhiều thời gian nhiều lần, để khoảnh khắc ấy là mãi mãi. Một khi đã hiểu từng nhịp tin yêu, đã biết rằng dù bất kì điều gì có thể lay động, thì tình yêu sẽ vẫn cận kề, người ta sẵn sàng để bảo vệ tình cảm ấy. Như trong một khoảnh khắc, người ta có thể thốt lên rằng ...

Dù cho mưa tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời
Dù cho mây hay cho bão tố có kéo qua đây
Dù có gió, có gió lạnh đầy, có tuyết bùn lầy
Có lá buồn gầy, dù sao, dù sao đi nữa tôi vẫn yêu em

Cuộc đời là một ca khúc bí ẩn, và người ta biết rằng muốn nó hay và ý nghĩa thì chắc phải tìm cảm hứng nơi tình yêu. Thế nên vượt qua thách thức cuộc đời, tình cảm vẫn trọn vẹn dành cho một người dường như là điều kiên định nhất.. Chẳng thế mà, dù mang nặng nỗi lòng hờn tủi, lời nói yêu thương vẫn muốn trao đi thật nhẹ, thật khẽ. Lời đầu cho ca khúc mở ra như thế, và cho dù có thế, "..vẫn yêu em"!
Khi yêu người ta thường hay mơ mộng lãng mạn, rồi ngay cả lúc tình yêu không trọn vẹn, vẫn ước ao về nhau. Như trong lời ca khúc, "giấc mộng" phải chăng chỉ đơn giản là yêu và được yêu lâu dài. Nhưng chính khi điều tưởng đơn giản đối với những người yêu nhau mặn nồng ấy không thể thành hiện thực, một lần nữa vết thương lòng càng như bị cắt sâu thêm.
Yêu dù khó khăn và trắc trở đến đâu nhưng chỉ một phút giây bên nhau cũng thấy êm ấm và bình yên. Và ai cũng biết rằng, hạnh phúc nhất cho cả cuộc hành trình dài một đời người là tìm được nửa yêu thương của mình, với cái kết có hậu là trọn vẹn bên nhau. Nhưng chữ ngờ ở đời đâu ai có thể dự đoán được. Cũng trong hoàn cảnh trái ngang như thế, mà trong một ca khúc khác, "Bản tình cuối", Ngô Thụy Miên đã chiêm nghiệm rằng:

Ngày nào người cho ta biết tình yêu đắm say
Ngày nào đời cho ta biết tình là đắng cay

Dịu dàng và đắm say, những phím nhạc của "Niệm Khúc Cuối" dẫn dắt người nghe quên đi cảm giác về nỗi buồn u uẩn mà lướt nhẹ trên những dòng cảm xúc ấy và gây xúc động bằng chính âm hưởng dịu êm, tha thiết. "Niệm khúc cuối" được viết vào đầu thập niên 70 cùng với một loạt các ca khúc cùng thời của tác giả Ngô Thụy Miên như "Dấu tình sầu", "Bản tình cuối",.. nên mang ít nhiều phong cách lãng mạn và hướng về những câu chuyện tình buồn ướt át. Riêng ca khúc "Niệm Khúc Cuối" đã được rất nhiều ca sĩ nổi tiếng hải ngoại (Dalena, Khánh Ly, Elvis Phương, Ái Vân ..) và trong nước (Đàm Vĩnh Hưng, Lam Trường, Khánh Ngọc, Lê Hiếu, Hồng Ân,..) thể hiện theo nhiều bản phối và theo các phong cách khác nhau. Nhưng đọng lại trong các bản thu âm ấy vẫn là chất nhạc ấm áp, giai điệu lắng đọng du dương thể hiện cảm xúc về một thứ tình cảm lãng mạn nhất: tình yêu!
Ở những lời cuối của bài hát, tâm sự về một tình yêu quá nhiều mong ước được thổ lộ một cách chân thành:

Dù mai đây ai đưa em đi đến cuối cuộc đời

Dù cho em, em đan tâm xé, xé nát tim tôi
Dù có ước, có ước ngàn lời, có trách một đời
Cũng đã muộn rồi
Tình ơi! dù sao đi nữa xin vẫn yêu em


Nếu như ở những phần đầu của ca khúc, người ta chỉ nhận thấy nỗi niềm day dứt nhớ, và mong ước quá đỗi giản dị nhưng không thực : "cho tôi xin một lần, yêu thương vợ chồng”, thì ở khúc cuối bài hát sự thật trước mắt trở lại hiện thực. Cái hiện thực ".. dù có ước, có ước ngàn lời, có trách một đời, cũng đã muộn rồi.." chỉ được nhắc đến khi người ta hiểu, ước mơ và kỉ niệm chỉ thật đẹp khi mọi thứ đã qua. Nếu con người ta đã dắt nhau qua biết bao khó khăn, nhưng cuối cùng lại phải nhường lại hạnh phúc cho người "đưa em đi đến cuối cuộc đời", mơ ước mãi rồi cũng chỉ có thể thốt lên một lời cay đắng:"Tình ơi! dù sao đi nữa xin vẫn yêu em".

TRẦN HUYỀN NHUNG

Post Reply