Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Đừng quá 'tự sướng' về phẩm chất người Việt
Chúng ta vẫn thường được nghe trên báo đài về các phẩm chất của người Việt như: cần cù chịu khó, có tố chất thông minh và sáng tạo, thân thiện và mến khách... Nhưng sự thật có phải như thế hay chúng ta đang tự huyễn hoặc mình bằng những điều hoa mỹ?
Những nhận định đánh giá này có khi là xuất phát từ chủ quan của người Việt mình, khi thì được trích dẫn từ góc nhìn của một người bạn nước ngoài nào đó. Chưa biết điều đó có thật sự đúng và khách quan hay không nhưng đôi lúc cũng làm cho tôi (và có lẽ cũng rất nhiều người khác) cảm thấy rất tự hào.
Tôi chưa có dịp đi ra nước ngoài để có thể có một sự trải nghiệm hoặc so sánh với người dân các nước khác xem thử dân mình có thật sự nổi bật hơn với những đức tính nói trên hay không.
Thế nhưng với những cảm nhận những gì đang xảy ra trong cuộc sống, cùng với những câu chuyện từ trên báo chí và của những người quen biết từng sống ở nhiều nước trên thế giới tôi chợt giật mình tự hỏi những gì lâu nay mình vẫn tự hào có phải là một sự huyễn hoặc hay ít ra đó là những đánh giá vội vàng, khiên cưỡng.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng tính cần cù chịu khó: nếu chịu khó lang thang trong các quán cà phê có mặt ở khắp nơi từ phố xá cho đến thôn quê ta không khỏi ngỡ ngàng bởi có vô số người đủ mọi thành phần, lứa tuổi đang rất nhàn rỗi bên những ly cà phê (hoặc nước giải khát) bất kể là nắng hay là mưa, trong giờ hành chính hay ngoài giờ, ngày nghỉ hay ngày làm việc.
Trong số đó có rất ít người đến để bàn công việc mà chủ yếu họ đến để “giết” thời gian. Mà nào đâu chỉ có quán cà phê, ở các quán nhậu, quán bi-a cũng có những cảnh tượng tương tự. Hoặc có điều kiện thâm nhập vào các công sở hẳn sẽ không khó khăn lắm để mục sở thị không khí là việc uể oải, “câu giờ” của nhiều công chức nhà nước...Lúc đó chắc hẳn mọi người sẽ tự hỏi cái chất cần cù, siêng năng, chịu khó đang thật sự ở mức nào?
Còn với đức tính thông minh, sáng tạo thì chúng ta phải đặt vấn đề là có bao nhiêu phát minh khoa học, bao nhiêu giải pháp công nghệ của người Việt được thế giới công nhận? Trong tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, y tế, giáo dục… có bao nhiêu phần trăm hàm lượng công nghệ mang nhãn hiệu made in Việt Nam?
Khó có câu trả lời thật chính xác nhưng ta có thể nói ngay rằng những thành quả đó là rất ít, thậm chí là không đáng kể. Thật đáng buồn hơn khi hiện tại chúng ta hầu như chưa làm chủ được các kỹ thuật công nghệ nguồn .
Sự thân thiện và hiếu khách của người Việt thì sao? Thật sự thì cũng khó đồng tình khi chúng ta thường xuyên nghe sự ta thán của không ít của du khách nước ngoài, các đối tác làm ăn kể cả các Việt kiều về việc các nhân viên hải quan, tiếp viên hàng không Việt Nam - những người được coi là tiếp tân của quốc gia, sao thường xuyên thiếu vắng nụ cười .
Cũng tương tự khi đến các công sở nhà nước, các bệnh viện, trên xe buýt… chúng ta cũng hiếm khi nhận được sự niềm nở ân cần. Rồi thì nạn chặt chém du khách, nạn chèo kéo, bu bám du khách ở rất nhiều điểm du lịch nổi tiếng trên cả nước đã chứng minh điều ngược lại cho nhận định về sự thân thiện và hiếu khách.
Chưa kể một số mặt khác như kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác làm việc theo nhóm, ý thức cộng đồng, tính cầu thị và khả năng học hỏi của người Việt mình cũng không được đánh giá cao.
Nói như thế tôi không có ý định phủ nhận cũng như đánh giá thấp tất cả những đức tính tốt đẹp của tất cả người Việt mình, cũng không phải là một cách nhìn tự ti. Ở đâu đó và ở những thời điểm nào đó cũng có không ít con dân đất Việt đang hăng say miệt mài lao động sáng tạo và gặt hái được những thành công đáng ghi nhận.
Cũng có biết bao nhiêu con người dù trong gian khó vẫn lạc quan yêu đời, vẫn luôn luôn nở nụ cười đem lại cho cuộc sống này những gam màu tươi mát. Chỉ có điều nó chưa thật sự trở thành sâu rộng, phổ biến đến mức nổi bật và mang tính đại diện cho cả dân tộc.
Tuy nhiên tôi vẫn tin rằng tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam đều có sẵn những đức tính cần cù thông minh, sáng tạo và cũng cực kỳ thân thiện hiếu khách. Vấn đề là chúng ta phải làm sao gợi dậy được những đức tính đó.
Thế nhưng để làm sao cho những đức tính đó được bộc lộ, phát huy và lan tỏa một cách rộng khắp để trở thành như một thứ “quốc bảo” thì có lẽ còn quá nhiều việc phải làm.
Lê Quảng Đại
Chúng ta vẫn thường được nghe trên báo đài về các phẩm chất của người Việt như: cần cù chịu khó, có tố chất thông minh và sáng tạo, thân thiện và mến khách... Nhưng sự thật có phải như thế hay chúng ta đang tự huyễn hoặc mình bằng những điều hoa mỹ?
Những nhận định đánh giá này có khi là xuất phát từ chủ quan của người Việt mình, khi thì được trích dẫn từ góc nhìn của một người bạn nước ngoài nào đó. Chưa biết điều đó có thật sự đúng và khách quan hay không nhưng đôi lúc cũng làm cho tôi (và có lẽ cũng rất nhiều người khác) cảm thấy rất tự hào.
Tôi chưa có dịp đi ra nước ngoài để có thể có một sự trải nghiệm hoặc so sánh với người dân các nước khác xem thử dân mình có thật sự nổi bật hơn với những đức tính nói trên hay không.
Thế nhưng với những cảm nhận những gì đang xảy ra trong cuộc sống, cùng với những câu chuyện từ trên báo chí và của những người quen biết từng sống ở nhiều nước trên thế giới tôi chợt giật mình tự hỏi những gì lâu nay mình vẫn tự hào có phải là một sự huyễn hoặc hay ít ra đó là những đánh giá vội vàng, khiên cưỡng.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng tính cần cù chịu khó: nếu chịu khó lang thang trong các quán cà phê có mặt ở khắp nơi từ phố xá cho đến thôn quê ta không khỏi ngỡ ngàng bởi có vô số người đủ mọi thành phần, lứa tuổi đang rất nhàn rỗi bên những ly cà phê (hoặc nước giải khát) bất kể là nắng hay là mưa, trong giờ hành chính hay ngoài giờ, ngày nghỉ hay ngày làm việc.
Trong số đó có rất ít người đến để bàn công việc mà chủ yếu họ đến để “giết” thời gian. Mà nào đâu chỉ có quán cà phê, ở các quán nhậu, quán bi-a cũng có những cảnh tượng tương tự. Hoặc có điều kiện thâm nhập vào các công sở hẳn sẽ không khó khăn lắm để mục sở thị không khí là việc uể oải, “câu giờ” của nhiều công chức nhà nước...Lúc đó chắc hẳn mọi người sẽ tự hỏi cái chất cần cù, siêng năng, chịu khó đang thật sự ở mức nào?
Còn với đức tính thông minh, sáng tạo thì chúng ta phải đặt vấn đề là có bao nhiêu phát minh khoa học, bao nhiêu giải pháp công nghệ của người Việt được thế giới công nhận? Trong tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, y tế, giáo dục… có bao nhiêu phần trăm hàm lượng công nghệ mang nhãn hiệu made in Việt Nam?
Khó có câu trả lời thật chính xác nhưng ta có thể nói ngay rằng những thành quả đó là rất ít, thậm chí là không đáng kể. Thật đáng buồn hơn khi hiện tại chúng ta hầu như chưa làm chủ được các kỹ thuật công nghệ nguồn .
Sự thân thiện và hiếu khách của người Việt thì sao? Thật sự thì cũng khó đồng tình khi chúng ta thường xuyên nghe sự ta thán của không ít của du khách nước ngoài, các đối tác làm ăn kể cả các Việt kiều về việc các nhân viên hải quan, tiếp viên hàng không Việt Nam - những người được coi là tiếp tân của quốc gia, sao thường xuyên thiếu vắng nụ cười .
Cũng tương tự khi đến các công sở nhà nước, các bệnh viện, trên xe buýt… chúng ta cũng hiếm khi nhận được sự niềm nở ân cần. Rồi thì nạn chặt chém du khách, nạn chèo kéo, bu bám du khách ở rất nhiều điểm du lịch nổi tiếng trên cả nước đã chứng minh điều ngược lại cho nhận định về sự thân thiện và hiếu khách.
Chưa kể một số mặt khác như kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác làm việc theo nhóm, ý thức cộng đồng, tính cầu thị và khả năng học hỏi của người Việt mình cũng không được đánh giá cao.
Nói như thế tôi không có ý định phủ nhận cũng như đánh giá thấp tất cả những đức tính tốt đẹp của tất cả người Việt mình, cũng không phải là một cách nhìn tự ti. Ở đâu đó và ở những thời điểm nào đó cũng có không ít con dân đất Việt đang hăng say miệt mài lao động sáng tạo và gặt hái được những thành công đáng ghi nhận.
Cũng có biết bao nhiêu con người dù trong gian khó vẫn lạc quan yêu đời, vẫn luôn luôn nở nụ cười đem lại cho cuộc sống này những gam màu tươi mát. Chỉ có điều nó chưa thật sự trở thành sâu rộng, phổ biến đến mức nổi bật và mang tính đại diện cho cả dân tộc.
Tuy nhiên tôi vẫn tin rằng tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam đều có sẵn những đức tính cần cù thông minh, sáng tạo và cũng cực kỳ thân thiện hiếu khách. Vấn đề là chúng ta phải làm sao gợi dậy được những đức tính đó.
Thế nhưng để làm sao cho những đức tính đó được bộc lộ, phát huy và lan tỏa một cách rộng khắp để trở thành như một thứ “quốc bảo” thì có lẽ còn quá nhiều việc phải làm.
Lê Quảng Đại
Huy Phương và ‘Những Người Thua Trận’
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - Ðộc giả yêu thích giọng văn, bút pháp và cách trình bày suy tư, cảm nhận của nhà văn Huy Phương
về các vấn đề chính trị, xã hội diễn ra trong cuộc sống hằng ngày, sẽ tiếp tục nhận được bộ sưu tập những bài viết mới của ông qua tạp ghi
“Những Người Thua Trận” ra mắt vào đầu năm 2013.

Tạp ghi “Những Người Thua Trận” của nhà văn Huy Phương. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Giải thích tựa đề quyển tạp ghi mang tên “Những Người Thua Trận,” nhà văn Huy Phương cho biết, “Tên tập truyện này không dính dáng gì đến tác phẩm 'Bên Thắng Cuộc' của tác giả Huy Ðức. Tên tập truyện cũng chính là tên của một bài tạp ghi đã đăng trên báo lâu rồi, từ đầu năm 2012, trước khi tác phẩm 'Bên Thắng Cuộc' ra đời.”
Tạp ghi “Những Người Thua Trận” của Huy Phương khởi nguồn bằng cảm hứng của một chuyến viếng thăm Stone Mountain Park, nơi có hòn núi đá lớn khắc hình ba vị lãnh tụ của miền Nam thua trận trong cuộc nội chiến của Hoa Kỳ kéo dài bốn năm.
“Tôi thấy tinh thần vinh danh người thua trận của người Mỹ quá cao đẹp, trong khi tinh thần thua-được của Việt Nam quá tàn nhẫn.” Tác giả “Những Người Thua Trận” nhận xét.
Từ lời nói của viên tướng miền Bắc Ulysses S. Grant từ Tháng Tư, 1865, “Những người miền Nam bây giờ là đồng bào của chúng ta, và chúng ta không nên có thái độ đắc chí trên sự suy sụp của họ,” nhà văn Huy Phương “nhìn lại cuộc đầu hàng miền Nam ngày 30 Tháng Tư, 1975 tại Dinh Ðộc Lập Sài Gòn.”
Ông cảm thấy đau lòng trước cách hành xử vô học của viên sĩ quan miền Bắc, qua lời lẽ mà hắn dùng khi nói với Tổng Thống Dương Văn Minh, “Ai là Dương Văn Minh? Dương Văn Minh hãy bước ra và quỳ xuống... Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!” Hay những cảnh trả thù trong ngày 30 Tháng Tư, 1975 được kể lại, từ việc “ngôi mộ của Trung úy dù Nguyễn Văn Ngọc ở xã Long Hồ, dù đã chết từ hơn một năm trước, vẫn bị họ đào mả lên, đưa cả quan tài ra giữa chợ Ngã Tư Long Hồ để cho phá nát bằng cốt mìn,” đến việc “chúng bắt anh Nguyễn Văn Chấp, cảnh sát đặc biệt xã Phước Hiệp, đánh bằng cây tầm vong, xong nấu nước sôi dội từ trên đầu xuống cho đến chết. Vợ con xin xác đem về chôn nhưng không được”...
Ông mượn lời nhà văn Dương Thu Hương, “...Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ” để kết luận cho bài viết của mình trước khi buông xuống một nỗi niềm “Ðọc lịch sử, nhiều khi muốn khóc.”
***
Bài viết trên mở đầu cho tập tạp ghi mới nhất của nhà văn Huy Phương, bao gồm 54 bài viết, cùng 3 bài nhận xét về tác giả Huy Phương của Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, Linh Mục Nguyễn Thái, và Ký giả Phạm Trần ở Washington DC. Ðây là sự thu thập những bài viết từng xuất hiện trên tờ Người Việt ở mục “Tạp Ghi” trong thời gian qua.
Nói thêm về sự ra đời của quyển tạp ghi này, nhà văn Huy Phương cho rằng, “Tôi cộng tác với Người Việt cũng 17, 18 năm, những bài tạp ghi đăng trên đó người ta coi xong không giữ lại được, cho nên tôi thu thập lại, in thành sách để những ai có cảm tình với tôi sẽ có cơ hội đọc lại, giữ lại những quyển sách đó.”
“Có khi hai năm, có khi một năm rưỡi, tôi lại cho ra đời một cuốn. 'Những Người Thua Trận' là cuốn tạp ghi thứ bảy. Sự ra đời của quyển này cũng có thể gây nên sự phiền lòng cho những người thương mến mình, vì họ phải mua sách.” Tác giả, nguyên sĩ quan thông tin báo chí QLVNCH, nói một cách hóm hỉnh.
Quả thật, nhiều tạp ghi trước đây của ông, như “Quê nhà-Quê người,” “Hạnh Phúc Xót Xa,” “Nước Mỹ Lạnh Lùng,” “Ði Lấy Chồng Xa”... phải tái bản nhiều lần để đáp ứng nhu cầu của độc giả yêu mến.
Người chuyên viết tạp ghi trên tờ Người Việt chia sẻ, “Ðiều rất mừng là có nhiều độc giả ưa thích đọc những bài tạp ghi này, do nó gần gũi với đời sống xung quanh, vấn đề nước Mỹ, xảy ra trong cộng đồng nước Mỹ, trong cộng đồng người Việt và bên quê nhà. Những chuyện xảy ra khiến mình suy nghĩ, tác động đến đời sống hằng ngày, và khiến người ta xúc động.”
So với những tạp ghi trước đây, “Những Người Thua Trận” của Huy Phương dường như chú trọng nhiều hơn đến những vấn đề mang tính thời sự chính trị, đề cập nhiều hơn đến thân phận người lính VNCH, bày tỏ suy tư nhiều hơn về những vấn đề mang tầm vóc quốc gia. Có thể dễ dàng nhận thấy điều này qua những bài viết như “Thương những nấm mồ,” “Anh phải sống,” “Ðảng, tên đầy tớ phản phúc,” “Mậu Thân và nỗi đau của Huế,” “Ba bản án, một đòn thù,” “Chế độ đầu gấu,” “Những cặp kính trắng,” “Ðạo đức... mắm tôm,” “Ly nước đã đầy,” “Nói và làm,” “Chửi, vũ khí của dân đen”...
Lý giải về những nội dung này, nhà văn Huy Phương cho rằng, “Do năm viết những bài tạp ghi này có nhiều biến động, nhiều chuyện trong nước xảy ra làm tôi xao động. Những vấn đề xã hội, chính trị luôn tác động đến chuyện viết lách của tôi.”
Tuy nhiên, bên cạnh những vấn đề mang tính vận mệnh đất nước, người đọc vẫn thấy bàng bạc trong “Những Người Thua Trận” là những câu chuyện rất đời, rất gần gũi, rất “Huy Phương” như “Bài hát sau cùng,” “Cuối năm nghĩ đến tuổi già,” “Vu Lan: nghĩ đến tấm lòng cha mẹ,” “Xin một chút bận rộn cho đời,” “Lời tạ lỗi muộn màng,” “Không một mái nhà,” “Cổng chùa đã khép hay Cửa từ tâm chưa mở,.”..
Tuy nhiên, dù ở bất cứ nội dung nào, nói như Ký giả Phạm Trần ở Washington DC, “Mỗi tác phẩm, mỗi câu chuyện kể của Huy Phương có thể làm cho người đọc khó chịu, bức xúc và căm ghét, nhưng mỗi chữ, mỗi câu văn của ông đều có chứa hơi thở và lòng nhân hậu của một nhà văn. Ông rất yêu đời, rất bình yên và nhũn nhặn dễ thương nhưng cũng có khi bực dọc, phiền muộn, và ghét cay ghét đắng với những gì ông nhìn thấy hay cảm nhận được ở xung quanh một con người hay một sự vật.”
Trong khi đó, nhận xét về “nghiệp cầm bút” của Huy Phương, Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa cho rằng, “Ông viết vì sự thôi thúc vô hình của một quan niệm về đạo lý. Ông tiếp tục kê vai vào cây Thánh giá chung của cả dân tộc dù chẳng ai bắt, không ai đòi và dù nhiều người trau chuốt một cây Thánh giá lấp lánh trên ngực. Ðộng lực có thể là tình bằng hữu với các chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, hay lòng yêu nước, hoặc sự ái ngại về quê hương, xã tắc, đồng hương, đồng bào,...”
Cuối cùng, đọc Huy Phương, qua quyển tạp ghi thứ bảy mang tên “Những Người Thua Trận” này, lại một lần nữa nhận ra “Huy Phương viết nhẹ nhàng, viết táo bạo và đôi khi cũng rất cay nghiệt và gay gắt như muốn bung ra khỏi chiếc cũi sắt của tâm hồn, nhưng cuối cùng ông lại nhũn nhặn, khôi hài và rất dễ thương.” (Phạm Trần)
Kính mời quý độc giả tham dự buổi ra mắt “Những Người Thua Trận” của nhà văn Huy Phương vào lúc 1:30 trưa Thứ Bảy, 2 Tháng Ba, tại Trung Tâm Công Giáo, 1538 N. Century Blvd, Santa Ana, CA 92703.
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - Ðộc giả yêu thích giọng văn, bút pháp và cách trình bày suy tư, cảm nhận của nhà văn Huy Phương
về các vấn đề chính trị, xã hội diễn ra trong cuộc sống hằng ngày, sẽ tiếp tục nhận được bộ sưu tập những bài viết mới của ông qua tạp ghi
“Những Người Thua Trận” ra mắt vào đầu năm 2013.
Tạp ghi “Những Người Thua Trận” của nhà văn Huy Phương. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Giải thích tựa đề quyển tạp ghi mang tên “Những Người Thua Trận,” nhà văn Huy Phương cho biết, “Tên tập truyện này không dính dáng gì đến tác phẩm 'Bên Thắng Cuộc' của tác giả Huy Ðức. Tên tập truyện cũng chính là tên của một bài tạp ghi đã đăng trên báo lâu rồi, từ đầu năm 2012, trước khi tác phẩm 'Bên Thắng Cuộc' ra đời.”
Tạp ghi “Những Người Thua Trận” của Huy Phương khởi nguồn bằng cảm hứng của một chuyến viếng thăm Stone Mountain Park, nơi có hòn núi đá lớn khắc hình ba vị lãnh tụ của miền Nam thua trận trong cuộc nội chiến của Hoa Kỳ kéo dài bốn năm.
“Tôi thấy tinh thần vinh danh người thua trận của người Mỹ quá cao đẹp, trong khi tinh thần thua-được của Việt Nam quá tàn nhẫn.” Tác giả “Những Người Thua Trận” nhận xét.
Từ lời nói của viên tướng miền Bắc Ulysses S. Grant từ Tháng Tư, 1865, “Những người miền Nam bây giờ là đồng bào của chúng ta, và chúng ta không nên có thái độ đắc chí trên sự suy sụp của họ,” nhà văn Huy Phương “nhìn lại cuộc đầu hàng miền Nam ngày 30 Tháng Tư, 1975 tại Dinh Ðộc Lập Sài Gòn.”
Ông cảm thấy đau lòng trước cách hành xử vô học của viên sĩ quan miền Bắc, qua lời lẽ mà hắn dùng khi nói với Tổng Thống Dương Văn Minh, “Ai là Dương Văn Minh? Dương Văn Minh hãy bước ra và quỳ xuống... Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!” Hay những cảnh trả thù trong ngày 30 Tháng Tư, 1975 được kể lại, từ việc “ngôi mộ của Trung úy dù Nguyễn Văn Ngọc ở xã Long Hồ, dù đã chết từ hơn một năm trước, vẫn bị họ đào mả lên, đưa cả quan tài ra giữa chợ Ngã Tư Long Hồ để cho phá nát bằng cốt mìn,” đến việc “chúng bắt anh Nguyễn Văn Chấp, cảnh sát đặc biệt xã Phước Hiệp, đánh bằng cây tầm vong, xong nấu nước sôi dội từ trên đầu xuống cho đến chết. Vợ con xin xác đem về chôn nhưng không được”...
Ông mượn lời nhà văn Dương Thu Hương, “...Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ” để kết luận cho bài viết của mình trước khi buông xuống một nỗi niềm “Ðọc lịch sử, nhiều khi muốn khóc.”
***
Bài viết trên mở đầu cho tập tạp ghi mới nhất của nhà văn Huy Phương, bao gồm 54 bài viết, cùng 3 bài nhận xét về tác giả Huy Phương của Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, Linh Mục Nguyễn Thái, và Ký giả Phạm Trần ở Washington DC. Ðây là sự thu thập những bài viết từng xuất hiện trên tờ Người Việt ở mục “Tạp Ghi” trong thời gian qua.
Nói thêm về sự ra đời của quyển tạp ghi này, nhà văn Huy Phương cho rằng, “Tôi cộng tác với Người Việt cũng 17, 18 năm, những bài tạp ghi đăng trên đó người ta coi xong không giữ lại được, cho nên tôi thu thập lại, in thành sách để những ai có cảm tình với tôi sẽ có cơ hội đọc lại, giữ lại những quyển sách đó.”
“Có khi hai năm, có khi một năm rưỡi, tôi lại cho ra đời một cuốn. 'Những Người Thua Trận' là cuốn tạp ghi thứ bảy. Sự ra đời của quyển này cũng có thể gây nên sự phiền lòng cho những người thương mến mình, vì họ phải mua sách.” Tác giả, nguyên sĩ quan thông tin báo chí QLVNCH, nói một cách hóm hỉnh.
Quả thật, nhiều tạp ghi trước đây của ông, như “Quê nhà-Quê người,” “Hạnh Phúc Xót Xa,” “Nước Mỹ Lạnh Lùng,” “Ði Lấy Chồng Xa”... phải tái bản nhiều lần để đáp ứng nhu cầu của độc giả yêu mến.
Người chuyên viết tạp ghi trên tờ Người Việt chia sẻ, “Ðiều rất mừng là có nhiều độc giả ưa thích đọc những bài tạp ghi này, do nó gần gũi với đời sống xung quanh, vấn đề nước Mỹ, xảy ra trong cộng đồng nước Mỹ, trong cộng đồng người Việt và bên quê nhà. Những chuyện xảy ra khiến mình suy nghĩ, tác động đến đời sống hằng ngày, và khiến người ta xúc động.”
So với những tạp ghi trước đây, “Những Người Thua Trận” của Huy Phương dường như chú trọng nhiều hơn đến những vấn đề mang tính thời sự chính trị, đề cập nhiều hơn đến thân phận người lính VNCH, bày tỏ suy tư nhiều hơn về những vấn đề mang tầm vóc quốc gia. Có thể dễ dàng nhận thấy điều này qua những bài viết như “Thương những nấm mồ,” “Anh phải sống,” “Ðảng, tên đầy tớ phản phúc,” “Mậu Thân và nỗi đau của Huế,” “Ba bản án, một đòn thù,” “Chế độ đầu gấu,” “Những cặp kính trắng,” “Ðạo đức... mắm tôm,” “Ly nước đã đầy,” “Nói và làm,” “Chửi, vũ khí của dân đen”...
Lý giải về những nội dung này, nhà văn Huy Phương cho rằng, “Do năm viết những bài tạp ghi này có nhiều biến động, nhiều chuyện trong nước xảy ra làm tôi xao động. Những vấn đề xã hội, chính trị luôn tác động đến chuyện viết lách của tôi.”
Tuy nhiên, bên cạnh những vấn đề mang tính vận mệnh đất nước, người đọc vẫn thấy bàng bạc trong “Những Người Thua Trận” là những câu chuyện rất đời, rất gần gũi, rất “Huy Phương” như “Bài hát sau cùng,” “Cuối năm nghĩ đến tuổi già,” “Vu Lan: nghĩ đến tấm lòng cha mẹ,” “Xin một chút bận rộn cho đời,” “Lời tạ lỗi muộn màng,” “Không một mái nhà,” “Cổng chùa đã khép hay Cửa từ tâm chưa mở,.”..
Tuy nhiên, dù ở bất cứ nội dung nào, nói như Ký giả Phạm Trần ở Washington DC, “Mỗi tác phẩm, mỗi câu chuyện kể của Huy Phương có thể làm cho người đọc khó chịu, bức xúc và căm ghét, nhưng mỗi chữ, mỗi câu văn của ông đều có chứa hơi thở và lòng nhân hậu của một nhà văn. Ông rất yêu đời, rất bình yên và nhũn nhặn dễ thương nhưng cũng có khi bực dọc, phiền muộn, và ghét cay ghét đắng với những gì ông nhìn thấy hay cảm nhận được ở xung quanh một con người hay một sự vật.”
Trong khi đó, nhận xét về “nghiệp cầm bút” của Huy Phương, Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa cho rằng, “Ông viết vì sự thôi thúc vô hình của một quan niệm về đạo lý. Ông tiếp tục kê vai vào cây Thánh giá chung của cả dân tộc dù chẳng ai bắt, không ai đòi và dù nhiều người trau chuốt một cây Thánh giá lấp lánh trên ngực. Ðộng lực có thể là tình bằng hữu với các chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, hay lòng yêu nước, hoặc sự ái ngại về quê hương, xã tắc, đồng hương, đồng bào,...”
Cuối cùng, đọc Huy Phương, qua quyển tạp ghi thứ bảy mang tên “Những Người Thua Trận” này, lại một lần nữa nhận ra “Huy Phương viết nhẹ nhàng, viết táo bạo và đôi khi cũng rất cay nghiệt và gay gắt như muốn bung ra khỏi chiếc cũi sắt của tâm hồn, nhưng cuối cùng ông lại nhũn nhặn, khôi hài và rất dễ thương.” (Phạm Trần)
Kính mời quý độc giả tham dự buổi ra mắt “Những Người Thua Trận” của nhà văn Huy Phương vào lúc 1:30 trưa Thứ Bảy, 2 Tháng Ba, tại Trung Tâm Công Giáo, 1538 N. Century Blvd, Santa Ana, CA 92703.

Van Cliburn không còn nữa
Tạp Ghi Quỳnh Giao Sáu tháng sau khi nước Mỹ giật mình và xấu hổ vì bị Liên Bang Xô Viết qua mặt khi phóng vệ tinh Sputnik lên không gian, một người đã rửa hận cho Hoa Kỳ, đó là danh cầm Van Cliburn.
Sau thắng lợi chấn động về kỹ thuật và ngay giữa thời Chiến Tranh Lạnh, Liên Xô muốn chứng tỏ thêm sự ưu việt văn hóa nên cho phép tổ chức cuộc thi quốc tế về dương cầm có tên của nhạc sĩ đại tài người Nga là Tchaikosky. Giải Tchaikovsky đầu tiên được tổ chức vào năm 1958. Nhưng năm đó một nhạc sĩ người Mỹ, ở miệt Texas cao bồi đã đoạt giải nhất, ở tuổi 23.
Tuần báo Time khi ấy hứng khởi đưa chuyện này làm chủ đề, với cái tựa đề đầy vẻ hả dạ: “Tay Texas đã chinh phục nước Nga”. Hình như chữ “chinh phục” này không quá đáng.
Người ta kể rằng khi vào vòng chung kết và trình tấu bản Concerto số Một của Tchaikovsky và Concerto số Ba của Rachmaninoff, tay dương cầm thủ người Mỹ khiến khán giả bật dậy vỗ tay tán thưởng trong tám phút liền. Ban giám khảo lúng túng hỏi ý thượng cấp và câu hỏi được đưa lên đến cấp tối cao. Khi ấy, lãnh tụ Nikita Kruschev đã thắc mắc rồi có câu trả lời cũng thuộc loại để đời như tài nghệ của Van Cliburn: “Hắn giỏi nhất hay sao? Nếu đúng vậy thì cứ trao giải!”
Khi trở về như một người mặc áo gấm về làng, Van Cliburn được đón mừng bằng một đám rước tưng bừng trên đường phố New York, vinh dự đầu tiên được dành cho một tay chơi nhạc cổ điển. Với nhiều người, Van Cliburn đã rửa mặt cho nước Mỹ trong một cuộc đấu về văn hóa và nghệ thuật ngay trên đất địch!
Sinh năm 1934 tại một thành phố của Louisiana, lên ba Van Cliburn học dương cầm với bà mẹ là tay dương cầm thủ, học trò của một môn sinh của Franz Liszt. Lên sáu thì cùng gia đình về ở một làng quê hẻo lánh của Texas, và tiếp tục theo đuổi nghề đàn, 12 tuổi đoạt giải nhất toàn quốc và trình tấu với dàn nhạc Giao hưởng Houston. Vào trường Juilliard rất nổi tiếng ở New York ở tuổi 17, học đàn với một nữ giáo sư người Nga lưu vong và sở trường về nhạc cổ điển Nga trong thời lãng mạn. Nhờ tài nghệ của mình, ở tuổi hai mươi, Van Cliburn được mời trình diễn tại Carnegie Hall và trở thành một diệu thủ của Hoa Kỳ trước khi chinh phục khán thính giả người Nga, rồi cả thế giới sau này.
Trong thế kỷ 20, Hoa Kỳ có ông “Vua” Elvis Presley như một quái tượng âm nhạc. Trong thế giới của nhạc cổ điển thì danh cầm Liberace là một trường hợp nổi tiếng khác với đại chúng. Nhưng, về tài nghệ trình tấu dương cầm, Vladimir Horowitz mới được coi là bậc thầy. Với nhiều người, như tờ Time đã viết sau này, Van Cliburn là một tập hợp của cả ba nhân vật Horowitz, Liberace và Presley. Xưa nay, nhạc cổ điển không là sản phẩm cho đông đảo quần chúng, nhưng Van Cliburn đã phá vỡ bức tường âm thanh và đưa loại nhạc này vào nhiều gia đình.
Năm 2001, ông được vinh danh tại Kennedy Center, rồi được trao giải Medal of Freedom của tổng thống vào năm 2003, một năm sau thì được Huân Chương Hữu Nghị của Liên Bang Nga. Tức là trong hai năm lãnh hai giải thưởng cao quý nhất của hai nước. Một vinh dự phù du khác là Van Cliburn đã trình diễn trước nhiều nguyên thủ quốc gia và cho 11 đời tổng thống Hoa Kỳ, từ Eisenhower cho đến Obama. Ðấy là danh vọng của một nghệ sĩ đã lên đến tột đỉnh.
Nhưng để lại cho đời là các đĩa nhạc bán chạy nhất, nhiều lần lên tới hạng bạch kim, platinum. Nổi tiếng hơn cả vì bắt được cái thần của nhạc vẫn là các bản Concerto của Tchaikovsky, Grieg, Beethoven, Rachmaninov hay Prokofiev mà chúng ta có thể mua và nghe lại để thưởng thức.
Không chỉ trình tấu cho đời, Van Cliburn còn góp công đào tạo danh thủ dương cầm cho nước Mỹ qua Van Cliburn Foundation và các giải thưởng mang tên Van Cliburn International Competition mà ông là một giám khảo lâu đời nhất. Bốn năm một lần, chúng ta lại nghe nói đến giải thưởng này, một lần hy hữu là vào năm 2009, lần thứ 13 của giải thưởng khi có hai người cùng đoạt giải nhất mà cùng đến từ Á Châu, một người Nhật là nhạc sĩ mù và người kia là một thiếu niên Trung Quốc.
Van Cliburn thuộc vào nòi con vạc, là thức rất khuya vì tập luyện đến gần sáng và dù đã luống tuổi, mắc bệnh ung thư, ông tiếp tục làm việc đến những ngày cuối. Ông tạ thế hôm 27 vừa qua tại thành phố Forth Worth của Texas, một thành phố có hân hạnh chứng kiến những cuộc thi và trình tấu dương cầm mang tên Van Cliburn. Xứ Texas nào có phải là vùng đất thô lỗ như nhiều người lầm tưởng.
Năm nay, khi có lễ trao giải thứ 14, chúng ta sẽ ngậm ngùi nhớ lại nhân vật kỳ tài này.
ĐIỀU BẤT NGỜ TRONG MỘT PHIÊN TÒA
Minh Diện Tương phản với thân hình đồ sộ của vị Hội thẩm nhân dân ngồi trên cao đối diện, bị cáo là một cô gái đứng lọt thỏm trong vành móng ngựa. Bộ đồ sọc quá rộng khoác lên thân hình mảnh dẻ, càng làm cô nhỏ bé hơn. Vị Hội thẩm nhân dân là một người đàn ông mặc Complet đen, thắt Cravate đỏ chót, mặt mũi phương phi, bóng lộn, giấu cặp mắt ti hí sau tròng kính cận. Ông ta là một đại biểu hội đồng nhân dân, được mời làm thành viên hội đồng xét xử theo quy định.
Chủ tọa phiên tòa là một phụ nữ đứng tuổi, khuôn mặt có vẻ nhân hậu, nhưng nhìn vô cảm, lạnh lùng và ngay đơ như một bức tượng nặn bằng sáp.
Bà e hèm, lên giọng, hỏi người con gái đứng trong vành móng ngựa:
- Bị cáo đã nghe rõ bản cáo trạng của Viện kiểm sát chưa?
- Thưa rõ!
- Bị cáo thừa nhận là mình đã hành nghề mại dâm 3 năm phải không?
- Dạ thưa, chính xác là 4 năm, 4 tháng, 13 ngày ạ!
- Trước khi làm gái mại dâm bị cáo làm gì?
- Thưa tòa, tôi là sinh viên, kiêm bí thư chi đoàn!
- Là một bí thư chi đoàn sao lại sa ngã như vậy?
Cô gái vén mớ tóc rủ xuống trán, khoe khuôn mặt trái xoan trắng mịn, đôi mắt đen dưới cặp lông mày nét ngang. Phòng xử án bỗng lao xao vì vẻ đẹp kiêu sa của bị cáo. Mọi người đâu biết đó chính là Thảo Hiền, một hoa khôi sinh viên từng rực rỡ trong đêm đăng quang mấy năm trước.
Thảo Hiền trả lời câu hỏi của bà thẩm phán bằng giọng nói nhẹ nhàng, nhưng chua xót, đắng cay:
- Thưa tòa! Tôi sinh ra trong một gia ở ngoại thành, bố tôi làm công nhân ngành thủy điện mẹ làm nội trợ. Tôi là chị của hai đứa em còn đang đi học. Kinh tế gia đình không khá giả nhưng cũng không thuộc diện đói nghèo. Năm 18 tuổi tôi bước chân vào một trường đại học có danh tiếng trong thành phố. Tôi chăm ngoan, học giỏi, mơ ước dành được một suất học bổng tu nghiệp ở nước ngoài. Cũng năm ấy đoàn trường chọn tôi đi thi hoa khôi sinh viên và tôi đã được trao vương miện. Sau cuộc thi, tôi nổi tiếng và được cơ cấu vào ban cán sự đoàn, được cử đi học bồi dưỡng, về làm bí thư đoàn lớp, trở thành một nhân tố lãnh đạo xuất sắc. Bí thư đoàn trường là một sinh viên tốt nghiệp từ hai khóa trước, được giữ lại trường, đang phấn đấu lên chức trưởng khoa. Anh ta đã có vợ con, luôn tỏ ra là một người đạo đức, đề cao lý tưởng cộng sản, rất có uy tín với sinh viên. Đối với tôi, người bí thư đoàn trường ấy là thần tượng, là tấm gương sáng để tôi noi theo.
Phòng xử án im lặng nghe lời khai của bị cáo. Riêng ông Hội thẩm nhân dân cứ ngọ nguậy như bị kiến đốt. Cái mặt phương phi của ông ta đẫm mồ hôi.Bị cáo nói tiếp:
- Bí thư đoàn trường hứa sau khi tôi tốt nghiệp sẽ đươc giữ lại làm bí thư đoàn, anh tachuyển sang làm trưởng khoa chuyên môn. Từ đó tôi ít quan tâm tới việc học chuyên môn mà chỉ chăm hoạt động phong trào đoàn. Mùa hè năm ấy tôi dẫn đầu một nhóm năm mươi sinh viên về nông thôn trong phong trào “Mùa hè xanh”, tôi đã được đưa vào danh sách “đối tượng đảng” chuẩn bị kết nạp.
Bà chủ tọa hỏi:
- Là một sinh viên mà không quan tâm tới kiến thức chuyên môn?
- Thưa tòa! Đúng như vậy! Vì kiến thức không phải là phương tiện cho thanh niên bước vào đời, càng không thể giành được một vị trí trong xã hội!
- Thế cái gì là phương tiện? Sắc đẹp phải không?
- Thưa tòa, không!
- Thế là cái gì?
- Thưa tòa! Tôi đã nói rồi, khi tôi vào đảng, tôi sẽ là bí thư đoàn trường như người tiền nhiệm, đó là sự bảo đảm vững chắc cho tương lai, không cần kiến thức ạ !
- Điều gì khiến cô thất vọng, bỏ học làm gái mãi dâm?
Thảo Hiền lau nước mắt. Cô nhớ lại bữa tiệc cuối năm ở văn phòng đoàn trường, và trả lời:
- Thưa tòa! Có gì đau đớn hơn, một người con gái, tỉnh dậy sau một cơn mê man, thấy thân thể mình lõa lồ trên nền nhà giữa một đống thức ăn và bia rượu đổ lênh láng?
- Kẻ nào đã hại cô?
- Không phải một mà là hai, thưa tòa! Đó chính là bí thư đoàn trường và một hiệu phó, hai người tôi kính phục nhất. Hai con người đó không hề say, vẫn ngồi nhìn thân thể tôi, tỏ ra thích thú, hứa hẹn sẽ kết nạp đảng cho tôi nếu tiếp tục… cống hiến cho họ!...
Bà chủ tọa phiên tòa ngắt lời khai cùa bị cáo.
Vị đại diện viện kiểm sát hý hoáy ghi chép, trên gương mặt không hề biểu lộ xúc động. Viên hội thẩm gục mặt xuống, như để tránh ánh mắt của bị cáo chĩa vào mình. Chờ cho không khí trong phiên tòa bớt ồn ào, bà chủ tọa đọc những dòng chữ ghi trên tờ giấy, giống một bài lên lớp hơn một câu hỏi của quan tòa:
- Kẻ làm hại cô chỉ là cá biệt. Chung quanh cô còn tổ chức đảng, đoàn, hội sinh viên, ngoài ra còn pháp luật. Đảng, nhà nước ta luôn luôn tôn trọng, bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của công dân, mọi người bình đẳng trước pháp luật, pháp luật rất nghiêm minh, không phân biệt kẻ đó là ai, trừng trị nghiêm khắc những kẻ xâm phạm nhân phẩm, thân thể người khác. Lẽ ra cô phải tố cáo kẻ xâm hại mình trước tổ chức, phải vạch mặt kẻ xấu, làm cho tổ chức trong sạch thì cô lại tự biến mình thành kẻ xấu xa hơn!
Bị cáo bấu tay vào vành móng ngựa, gương mặt cô ửng đỏ rồi tái đi, ngực phập phồng thoi thóp.Cô nói:
- Thưa tòa! Tôi đã làm như bà, kết quả là tôi bị đuổi khỏi trường đại học!
- Tại sao không tố cáo trước pháp luật?
- Thưa tòa! Tôi đã tố cáo và kết quả bị kết tội vu khống. Ba má tôi đã phải bán nhà để chạy cho tôi khỏi phải vào tù!
Bà chủ tọa phiên tòa lặng im suy nghĩ. Khuôn mặt bà không bớt đi vẻ ngay đơ như nặn bằng sáp toát ra chút hồn, hình như những lời khai chân thật của bị cáo có tác động tới bà.
Ngược lại, vị ủy viên công tố không mảy may xúc động. Đối với ông ta lời một con điếm thì không thể tin được! Ông đập tay xuống mặt bàn ra oai, giọng nói rít qua kẽ răng:
- Cô đã khai những tình tiết đó trong hồ sơ. Nhưng không có bằng chứng? Và dù có bằng chứng cũng không giúp cô bào chữa cho tội làm gái điếm! Hiểu không?
- Thưa tòa! Tôi không chối tội làm gái điếm ạ! Tôi công nhận mình làm gái điếm 4 năm 4 tháng 13 ngày, trong khi ông chỉ ghi trong cáo trạng có 3 năm ạ! Tuy là một con điếm nhưng tôi không nói dối ạ!
Tiếng cười vang lên trong phòng xử án. Khuôn mặt lưỡi cày của công tố viên ngay đuỗn ra, tím bầm như một trái nho chín. Ông ta đập bàn yêu cầu mọi người im lặng, rồi đứng dậy chỉ tay vào mặt bị cáo:
- Bị cáo nghiêm túc ! Cô làm gái mại dâm là vi phạm pháp luật. Cô đã dùng nhan sắc và những lời nói ngon ngọt của mình để dụ dỗ những người đàn ông, trấn lột tiền bạc của người ta, phá hoại hạnh phúc gia đình người ta, cái nghề của cô là nghề đốn mạt nhất, vậy mà còn ngang ngạnh xỏ xiên, tự ca mình không nói dối?
Ông ủy viên công tố lấy khăn mùi soa lau cái mặt nhẫy mồ hôi sau tràng diễn thuyết hùng hồn. Khuôn mặt ông như biến dạng vì căng thẳng, cay cú trước câu nói kháy của bị cáo.
Bà chủ tọa hỏi bị cáo:
- Cô có suy nghĩ ghì về ý kiến cùa vị đại diện Viện kiểm sát không? Tôi cho cô suy nghĩ và phát biểu ngắn gọn
Ánh nắng xuyên qua cửa sổ vào phòng xử án, làm cho không khi nóng nực càng trở nên oi nồng. Nhưng mọi người vẫn tỏ ra nghiêm túc. Những người đến dự phiên tòa hôm nay ngoài bố Thảo Hiền, còn có bạn bè cô và một số cán bộ đoàn, cán bộ phụ nữ. Họ được phân công đến dự để về đúc kết thành bài học giáo dục đoàn viên, hội viên, tu dưỡng đạo đức phòng tránh tội phạm mại dâm. Bị cáo Thảo Hiền nhiều lần ngoái đầu lại, cô cố tránh ánh mắt như lạc thần của người cha.
Từ khi phải bán nhà lo cho cô khỏi vào tù, ba má cô ở nhà thuê. Tiền lương của ba cô không đủ trả tiền thuê nhà lo nơi ở tạm vợ con. Đứa đứa em lớn phải bỏ học đi phụ hồ. Hơn một nay mẹ cô bị tai biến mạch máu não nằm liệt, ba cô phải bỏ việc ở nhà chăm nom vợ. Đồng tiền cô kiếm được đã là khoản thu nhập chính để thuốc thang cho mẹ và nuôi gia đình. Bây giờ cô đi tù thì ai nuôi cha mẹ?Thào Hiền lấy tay lau nước mắt.
Mười tám tuổi cô háo hức lao vào công tác đoàn, một tổ chức hứa hẹn tìm được công danh, quyền lợi dễ dàng nhất. Cô không biết đó cũng là nơi chất đầy tham vọng và dối trá, được bao bọc hào quang, làm lóa mắt nhiều người. Khi bị cướp mất thứ quý nhất của người con gái, cô vẫn ngây thơ tưởng rằng đó chỉ là hai kẻ xấu xa, không phải tất cả. Cô lại phải trả giá cho niềm tin ngây thơ ấy. Cái thế giới quyền lực mà cô bị cuộn xoáy vào, gắn kết với nhau, bao bọc nhau, là một thứ cặn bã xấu xa nhất. Đằng sau những chiếc ghế, và ngay cả bục giảng, là sự mục ruỗng, lừa lọc, thù ghét, thủ đoạn, giả dối. Sau khi bị cưỡng hiếp, nếu cô chấp nhận làm một con điếm trá hình, chắc chắn cô sẽ được vào đảng, trở thành bí thư đoàn trường. Cô sẽ là một nữ thần đội vương miện vàng.Nhưng trong ngực cô vẫn còn trái tim non trẻ, chưa bị đồng hóa, đã phản ứng theo bản năng, nên cô bị hất văng ra lề xã hội một cách không thương tiếc, trước con mắt ngạo nghễ của những kẻ đang khoác trên ngưởi bộ y phục bảnh bao, nhân danh những gì tốt đẹp nhất của một chế độ.
Hơn ba năm qua, Thảo Hiền đã nếm trải bao nhiêu khổ nhục, sự lăng mạ, khinh ghét, cô đã biến thành một kẻ dạn dĩ như vô cảm. Nước mắt Thảo Hiền bao lần thấm ướt gối. Cô khóc cho cha mẹ mình, cuộc đời mình, một cuộc đời thất vọng đến mức sáng ngủ dậy phải bấu vào mặt xem còn biết đau không? Thế rồi lại phải gạt nước mắt, tô lại hàng mi, quệt thỏi son lên đôi môi, trát phấn lên hai má đã sớm xuất hiện những nếp nhăn trước tuồi, cố che giấu tuổi xuân sắp tàn, làm mới lại mình để tiếp tục bán thân xác, vìmưu sinh, vì cha mẹ.
Thảo Hiền không hề dối trá, không đánh lừa ai như viên công tố nói, cô không trấn lột ai, không phá hạnh phúc của ai. Cô lương thiện hơn ngàn lần những cán bộ, đảng viên đủ cỡ mà cô đã gặp.
Bây giờ cô nói gì đây, lời cuối cùng, để ba mẹ tha thứ cho cô, bạn bè thông cảm cho cô, để những cán bộ đoàn, hội ngồi kia thức tỉnh, đừng lóa mắt như cô từng bị lóa mắt, để cho khuôn mặt bà chủ tọa có thêm chút tình người, ông công tố viên kia bớt hung hăng kết tội người...
Thảo Hiền cố rướn cao người, lấy hết canđảm, nói rành rọt:
- Thưa bà chủ tọa, thưa hội đồng xét xử! Tôi xin bà chủ tọa hãy hỏi vị hội thẩm ngồi cạnh bà, xem ông ta có còn nhớ tôi không? Tên tôi khi còn là sinh viên, là Lê Thị Hiền và ông ta chính là người bí thư đoàn trường ngày ấy! Một kẻ từng là thủ phạm đang ngồi ghế quan tòa đó ạ!
Cả phòng xử án ồ lên. Viên hội thẩm bật dậy lao vào phòng trong. Bà chủ tọa phiên tòa ngồi ngay đơ như bức tượng. Bà ta hoàn toàn không ngờ một tình tiết quá bất ngờ như vậy. Bà vụt nhớ ra thái độ cùa viên hội thẩm nhân dân từ đầu không được tự nhiên. Nhẽ ra ông ta nên khôn ngoan hơn, là nên rút lui khỏi ghế hội thẩm, xin hoãn phiên tòa khi nhận ra bị cáo từng là người bị mình làm hại mấy năm trước.
M.D
Minh Diện Tương phản với thân hình đồ sộ của vị Hội thẩm nhân dân ngồi trên cao đối diện, bị cáo là một cô gái đứng lọt thỏm trong vành móng ngựa. Bộ đồ sọc quá rộng khoác lên thân hình mảnh dẻ, càng làm cô nhỏ bé hơn. Vị Hội thẩm nhân dân là một người đàn ông mặc Complet đen, thắt Cravate đỏ chót, mặt mũi phương phi, bóng lộn, giấu cặp mắt ti hí sau tròng kính cận. Ông ta là một đại biểu hội đồng nhân dân, được mời làm thành viên hội đồng xét xử theo quy định.
Chủ tọa phiên tòa là một phụ nữ đứng tuổi, khuôn mặt có vẻ nhân hậu, nhưng nhìn vô cảm, lạnh lùng và ngay đơ như một bức tượng nặn bằng sáp.
Bà e hèm, lên giọng, hỏi người con gái đứng trong vành móng ngựa:
- Bị cáo đã nghe rõ bản cáo trạng của Viện kiểm sát chưa?
- Thưa rõ!
- Bị cáo thừa nhận là mình đã hành nghề mại dâm 3 năm phải không?
- Dạ thưa, chính xác là 4 năm, 4 tháng, 13 ngày ạ!
- Trước khi làm gái mại dâm bị cáo làm gì?
- Thưa tòa, tôi là sinh viên, kiêm bí thư chi đoàn!
- Là một bí thư chi đoàn sao lại sa ngã như vậy?
Cô gái vén mớ tóc rủ xuống trán, khoe khuôn mặt trái xoan trắng mịn, đôi mắt đen dưới cặp lông mày nét ngang. Phòng xử án bỗng lao xao vì vẻ đẹp kiêu sa của bị cáo. Mọi người đâu biết đó chính là Thảo Hiền, một hoa khôi sinh viên từng rực rỡ trong đêm đăng quang mấy năm trước.
Thảo Hiền trả lời câu hỏi của bà thẩm phán bằng giọng nói nhẹ nhàng, nhưng chua xót, đắng cay:
- Thưa tòa! Tôi sinh ra trong một gia ở ngoại thành, bố tôi làm công nhân ngành thủy điện mẹ làm nội trợ. Tôi là chị của hai đứa em còn đang đi học. Kinh tế gia đình không khá giả nhưng cũng không thuộc diện đói nghèo. Năm 18 tuổi tôi bước chân vào một trường đại học có danh tiếng trong thành phố. Tôi chăm ngoan, học giỏi, mơ ước dành được một suất học bổng tu nghiệp ở nước ngoài. Cũng năm ấy đoàn trường chọn tôi đi thi hoa khôi sinh viên và tôi đã được trao vương miện. Sau cuộc thi, tôi nổi tiếng và được cơ cấu vào ban cán sự đoàn, được cử đi học bồi dưỡng, về làm bí thư đoàn lớp, trở thành một nhân tố lãnh đạo xuất sắc. Bí thư đoàn trường là một sinh viên tốt nghiệp từ hai khóa trước, được giữ lại trường, đang phấn đấu lên chức trưởng khoa. Anh ta đã có vợ con, luôn tỏ ra là một người đạo đức, đề cao lý tưởng cộng sản, rất có uy tín với sinh viên. Đối với tôi, người bí thư đoàn trường ấy là thần tượng, là tấm gương sáng để tôi noi theo.
Phòng xử án im lặng nghe lời khai của bị cáo. Riêng ông Hội thẩm nhân dân cứ ngọ nguậy như bị kiến đốt. Cái mặt phương phi của ông ta đẫm mồ hôi.Bị cáo nói tiếp:
- Bí thư đoàn trường hứa sau khi tôi tốt nghiệp sẽ đươc giữ lại làm bí thư đoàn, anh tachuyển sang làm trưởng khoa chuyên môn. Từ đó tôi ít quan tâm tới việc học chuyên môn mà chỉ chăm hoạt động phong trào đoàn. Mùa hè năm ấy tôi dẫn đầu một nhóm năm mươi sinh viên về nông thôn trong phong trào “Mùa hè xanh”, tôi đã được đưa vào danh sách “đối tượng đảng” chuẩn bị kết nạp.
Bà chủ tọa hỏi:
- Là một sinh viên mà không quan tâm tới kiến thức chuyên môn?
- Thưa tòa! Đúng như vậy! Vì kiến thức không phải là phương tiện cho thanh niên bước vào đời, càng không thể giành được một vị trí trong xã hội!
- Thế cái gì là phương tiện? Sắc đẹp phải không?
- Thưa tòa, không!
- Thế là cái gì?
- Thưa tòa! Tôi đã nói rồi, khi tôi vào đảng, tôi sẽ là bí thư đoàn trường như người tiền nhiệm, đó là sự bảo đảm vững chắc cho tương lai, không cần kiến thức ạ !
- Điều gì khiến cô thất vọng, bỏ học làm gái mãi dâm?
Thảo Hiền lau nước mắt. Cô nhớ lại bữa tiệc cuối năm ở văn phòng đoàn trường, và trả lời:
- Thưa tòa! Có gì đau đớn hơn, một người con gái, tỉnh dậy sau một cơn mê man, thấy thân thể mình lõa lồ trên nền nhà giữa một đống thức ăn và bia rượu đổ lênh láng?
- Kẻ nào đã hại cô?
- Không phải một mà là hai, thưa tòa! Đó chính là bí thư đoàn trường và một hiệu phó, hai người tôi kính phục nhất. Hai con người đó không hề say, vẫn ngồi nhìn thân thể tôi, tỏ ra thích thú, hứa hẹn sẽ kết nạp đảng cho tôi nếu tiếp tục… cống hiến cho họ!...
Bà chủ tọa phiên tòa ngắt lời khai cùa bị cáo.
Vị đại diện viện kiểm sát hý hoáy ghi chép, trên gương mặt không hề biểu lộ xúc động. Viên hội thẩm gục mặt xuống, như để tránh ánh mắt của bị cáo chĩa vào mình. Chờ cho không khí trong phiên tòa bớt ồn ào, bà chủ tọa đọc những dòng chữ ghi trên tờ giấy, giống một bài lên lớp hơn một câu hỏi của quan tòa:
- Kẻ làm hại cô chỉ là cá biệt. Chung quanh cô còn tổ chức đảng, đoàn, hội sinh viên, ngoài ra còn pháp luật. Đảng, nhà nước ta luôn luôn tôn trọng, bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của công dân, mọi người bình đẳng trước pháp luật, pháp luật rất nghiêm minh, không phân biệt kẻ đó là ai, trừng trị nghiêm khắc những kẻ xâm phạm nhân phẩm, thân thể người khác. Lẽ ra cô phải tố cáo kẻ xâm hại mình trước tổ chức, phải vạch mặt kẻ xấu, làm cho tổ chức trong sạch thì cô lại tự biến mình thành kẻ xấu xa hơn!
Bị cáo bấu tay vào vành móng ngựa, gương mặt cô ửng đỏ rồi tái đi, ngực phập phồng thoi thóp.Cô nói:
- Thưa tòa! Tôi đã làm như bà, kết quả là tôi bị đuổi khỏi trường đại học!
- Tại sao không tố cáo trước pháp luật?
- Thưa tòa! Tôi đã tố cáo và kết quả bị kết tội vu khống. Ba má tôi đã phải bán nhà để chạy cho tôi khỏi phải vào tù!
Bà chủ tọa phiên tòa lặng im suy nghĩ. Khuôn mặt bà không bớt đi vẻ ngay đơ như nặn bằng sáp toát ra chút hồn, hình như những lời khai chân thật của bị cáo có tác động tới bà.
Ngược lại, vị ủy viên công tố không mảy may xúc động. Đối với ông ta lời một con điếm thì không thể tin được! Ông đập tay xuống mặt bàn ra oai, giọng nói rít qua kẽ răng:
- Cô đã khai những tình tiết đó trong hồ sơ. Nhưng không có bằng chứng? Và dù có bằng chứng cũng không giúp cô bào chữa cho tội làm gái điếm! Hiểu không?
- Thưa tòa! Tôi không chối tội làm gái điếm ạ! Tôi công nhận mình làm gái điếm 4 năm 4 tháng 13 ngày, trong khi ông chỉ ghi trong cáo trạng có 3 năm ạ! Tuy là một con điếm nhưng tôi không nói dối ạ!
Tiếng cười vang lên trong phòng xử án. Khuôn mặt lưỡi cày của công tố viên ngay đuỗn ra, tím bầm như một trái nho chín. Ông ta đập bàn yêu cầu mọi người im lặng, rồi đứng dậy chỉ tay vào mặt bị cáo:
- Bị cáo nghiêm túc ! Cô làm gái mại dâm là vi phạm pháp luật. Cô đã dùng nhan sắc và những lời nói ngon ngọt của mình để dụ dỗ những người đàn ông, trấn lột tiền bạc của người ta, phá hoại hạnh phúc gia đình người ta, cái nghề của cô là nghề đốn mạt nhất, vậy mà còn ngang ngạnh xỏ xiên, tự ca mình không nói dối?
Ông ủy viên công tố lấy khăn mùi soa lau cái mặt nhẫy mồ hôi sau tràng diễn thuyết hùng hồn. Khuôn mặt ông như biến dạng vì căng thẳng, cay cú trước câu nói kháy của bị cáo.
Bà chủ tọa hỏi bị cáo:
- Cô có suy nghĩ ghì về ý kiến cùa vị đại diện Viện kiểm sát không? Tôi cho cô suy nghĩ và phát biểu ngắn gọn
Ánh nắng xuyên qua cửa sổ vào phòng xử án, làm cho không khi nóng nực càng trở nên oi nồng. Nhưng mọi người vẫn tỏ ra nghiêm túc. Những người đến dự phiên tòa hôm nay ngoài bố Thảo Hiền, còn có bạn bè cô và một số cán bộ đoàn, cán bộ phụ nữ. Họ được phân công đến dự để về đúc kết thành bài học giáo dục đoàn viên, hội viên, tu dưỡng đạo đức phòng tránh tội phạm mại dâm. Bị cáo Thảo Hiền nhiều lần ngoái đầu lại, cô cố tránh ánh mắt như lạc thần của người cha.
Từ khi phải bán nhà lo cho cô khỏi vào tù, ba má cô ở nhà thuê. Tiền lương của ba cô không đủ trả tiền thuê nhà lo nơi ở tạm vợ con. Đứa đứa em lớn phải bỏ học đi phụ hồ. Hơn một nay mẹ cô bị tai biến mạch máu não nằm liệt, ba cô phải bỏ việc ở nhà chăm nom vợ. Đồng tiền cô kiếm được đã là khoản thu nhập chính để thuốc thang cho mẹ và nuôi gia đình. Bây giờ cô đi tù thì ai nuôi cha mẹ?Thào Hiền lấy tay lau nước mắt.
Mười tám tuổi cô háo hức lao vào công tác đoàn, một tổ chức hứa hẹn tìm được công danh, quyền lợi dễ dàng nhất. Cô không biết đó cũng là nơi chất đầy tham vọng và dối trá, được bao bọc hào quang, làm lóa mắt nhiều người. Khi bị cướp mất thứ quý nhất của người con gái, cô vẫn ngây thơ tưởng rằng đó chỉ là hai kẻ xấu xa, không phải tất cả. Cô lại phải trả giá cho niềm tin ngây thơ ấy. Cái thế giới quyền lực mà cô bị cuộn xoáy vào, gắn kết với nhau, bao bọc nhau, là một thứ cặn bã xấu xa nhất. Đằng sau những chiếc ghế, và ngay cả bục giảng, là sự mục ruỗng, lừa lọc, thù ghét, thủ đoạn, giả dối. Sau khi bị cưỡng hiếp, nếu cô chấp nhận làm một con điếm trá hình, chắc chắn cô sẽ được vào đảng, trở thành bí thư đoàn trường. Cô sẽ là một nữ thần đội vương miện vàng.Nhưng trong ngực cô vẫn còn trái tim non trẻ, chưa bị đồng hóa, đã phản ứng theo bản năng, nên cô bị hất văng ra lề xã hội một cách không thương tiếc, trước con mắt ngạo nghễ của những kẻ đang khoác trên ngưởi bộ y phục bảnh bao, nhân danh những gì tốt đẹp nhất của một chế độ.
Hơn ba năm qua, Thảo Hiền đã nếm trải bao nhiêu khổ nhục, sự lăng mạ, khinh ghét, cô đã biến thành một kẻ dạn dĩ như vô cảm. Nước mắt Thảo Hiền bao lần thấm ướt gối. Cô khóc cho cha mẹ mình, cuộc đời mình, một cuộc đời thất vọng đến mức sáng ngủ dậy phải bấu vào mặt xem còn biết đau không? Thế rồi lại phải gạt nước mắt, tô lại hàng mi, quệt thỏi son lên đôi môi, trát phấn lên hai má đã sớm xuất hiện những nếp nhăn trước tuồi, cố che giấu tuổi xuân sắp tàn, làm mới lại mình để tiếp tục bán thân xác, vìmưu sinh, vì cha mẹ.
Thảo Hiền không hề dối trá, không đánh lừa ai như viên công tố nói, cô không trấn lột ai, không phá hạnh phúc của ai. Cô lương thiện hơn ngàn lần những cán bộ, đảng viên đủ cỡ mà cô đã gặp.
Bây giờ cô nói gì đây, lời cuối cùng, để ba mẹ tha thứ cho cô, bạn bè thông cảm cho cô, để những cán bộ đoàn, hội ngồi kia thức tỉnh, đừng lóa mắt như cô từng bị lóa mắt, để cho khuôn mặt bà chủ tọa có thêm chút tình người, ông công tố viên kia bớt hung hăng kết tội người...
Thảo Hiền cố rướn cao người, lấy hết canđảm, nói rành rọt:
- Thưa bà chủ tọa, thưa hội đồng xét xử! Tôi xin bà chủ tọa hãy hỏi vị hội thẩm ngồi cạnh bà, xem ông ta có còn nhớ tôi không? Tên tôi khi còn là sinh viên, là Lê Thị Hiền và ông ta chính là người bí thư đoàn trường ngày ấy! Một kẻ từng là thủ phạm đang ngồi ghế quan tòa đó ạ!
Cả phòng xử án ồ lên. Viên hội thẩm bật dậy lao vào phòng trong. Bà chủ tọa phiên tòa ngồi ngay đơ như bức tượng. Bà ta hoàn toàn không ngờ một tình tiết quá bất ngờ như vậy. Bà vụt nhớ ra thái độ cùa viên hội thẩm nhân dân từ đầu không được tự nhiên. Nhẽ ra ông ta nên khôn ngoan hơn, là nên rút lui khỏi ghế hội thẩm, xin hoãn phiên tòa khi nhận ra bị cáo từng là người bị mình làm hại mấy năm trước.
M.D

XẢ . . . STRESS (không phải uống thuốc)
Bs. Đỗ Hồng Ngọc
Không có stress có lẽ con người cũng không thể tồn tại. Thế nhưng, vượt ngưỡng đến một mức nào đó thì con người cũng…không thể tồn tại, bởi chính stress gây ra nhiều thứ bệnh về thể chất và tâm thần, nên rất cần biết cách “xả” stress trong cuộc sống đầy căng thẳng, âu lo hiện nay.
Stress là một phản ứng bảo vệ, khi cơ thể bị một mối đe dọa, mối nguy hiểm xảy đến cho nó. Người ta gọi nó là phản ứng (hay đáp ứng) “chiến đấu hoặc bỏ chạy” (fight or flight response), nghĩa là trong tình huống đó, chỉ có hai cách để chọn lựa: chiến đấu để sinh tồn hoặc bỏ chạy để… sinh tồn!
Lúc đó, cơ thể phải huy động toàn lực để đối phó. Não thùy sẽ ra lệnh tiết các kích thích tố cần thiết, nào adrénaline, nào norepinephrine, cortisol…ồ ạt đổ vào máu. Tim đập nhanh để bơm máu về các cơ bắp lớn, phổi hổn hển tăng tốc bơm oxy, đường huyết vọt lên cao nhằm tăng cường khẩn cấp năng lượng, đồng tử mắt nở to để nhìn cho rõ, tai vểnh lên, mũi phồng ra… Tóm lại, mọi thứ đều phải trong tư thế sẵn sàng. Trong lúc các mạch máu lớn chuyển máu đến các bắp cơ thì mạch máu nhỏ ngoại biên co thắt lại, để nếu có bị thương thì máu cũng không bị mất nhiều… Vì thế mà người bị stress thường mặt mày tái ngắt, xanh lè, tay chân đơ cứng!
Stress cấp tính có những phản ứng mạnh hơn ta tưởng. Một người đang đứng trước chuồng cọp, thấy cọp sổng chuồng thì… phân, nước tiểu tóe ra mà không hay, tay chân bủn rủn, ngất xỉu. Nguy cơ qua đi, hiểm họa chấm dứt thì mọi thứ lại trở về trật tự cũ. Tim đập chậm lại, hơi thở điều hòa, bắp cơ buông xả. Nếu sự đe dọa không mãnh liệt nhưng cứ dồn dập, hết lớp này tới lớp khác, đến một lúc vượt quá mức chịu đựng gọi là “mất bù” thì sẽ tạo ra những hiệu ứng âm thầm gây tác hại không lường được lên thể chất và tâm thần của ta.
Thời đại ngày nay, con người ít có dịp chiến đấu một mất một còn trước thú dữ hay trước “hòn tên mũi đạn” như xưa. Nhưng con người ngày nay lại phải thường xuyên đối đầu với những “hòn tên mũi đạn” còn nguy hiểm hơn, kiểu “bề ngoài thơn thớt nói cười / bề trong nham hiểm giết người không dao”. Stress vượt qua ngưỡng lúc nào không hay và dẫn tới vô số bệnh tật mà bác sĩ cũng phải bó tay, đành gắn cho những cái tên mơ hồ như “rối loạn chức năng”, “mệt mỏi kinh niên”, “rối loạn thần kinh thực vật”… Đại học Y khoa Harvard ước tính có từ 60%- 90% bệnh nhân (ở Mỹ) tìm đến bác sĩ là do stress.
Stress liên quan đến rất nhiều bệnh lý như nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, tiểu đường, suyễn, đau nhức kinh niên, mất ngủ, dị ứng, nhức đầu, đau thắt lưng, một số bệnh ngoài da, ung thư, tai nạn thương tích, tự tử, trầm cảm, giảm miễn dịch v.v… Tóm lại là rất phức tạp. Bác sĩ nếu không quan tâm đúng mức – đau đâu chữa đó – thì chỉ chữa đựơc triệu chứng bên ngoài còn cái gốc sâu thẳm bên trong là stress vẫn không đựơc giải tỏa, bệnh vẫn cứ luẩn quẩn loanh quanh , chuyển từ “bệnh” này qua “bệnh” khác, và do đó, chất lựơng cuộc sống bị giảm sút rõ rệt! Nhiều khi ta tưởng cholesterol xấu tăng cao trong máu là do thức ăn, nhưng không phải, do stress nhiều hơn! Tiểu đường tưởng do ăn nhiều chất ngọt, thực ra do stress nhiều hơn. Ta thấy đời sống càng căng thẳng, bệnh tiểu đường càng phát triển mạnh!. Ở nước ta mới mấy năm trước, tiểu đường chỉ lai rai, bây giờ thì… “năm sau cao hơn năm trước”, lan tràn cả ở thành thị lẫn nông thôn! Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế, người làm việc ở những khu vực dễ bị sa thải thì chết vi tim mạch, tai biến mạch máu não cao gấp đôi các khu vực khác…!
Stress thay đổi từ người này sang người khác. Cùng một sự việc, với người này thì nổi điên lên còn với người kia chỉ là một trò cười, với người này là cả một sự sụp đổ, với người kia là một bài học… Cùng là con ông bà “viên ngoại họ Vương”, cùng “sắm sửa bô hành chơi xuân”, mà Thúy Kiều thì khóc sướt mướt, thở than, nằm mộng, làm mười khúc đoan trường đầy nước mắt trong khi Thúy Vân ngạc nhiên sao chị mình “kỳ cục” vậy! Hẳn là bên trong Thúy Kiều có cái gì đó khác với Thúy Vân, bởi bên ngoài thì cả hai đều “mười phân vẹn mười” cả!
Người dễ bị stress là người thường có tính quá lo lắng, cầu toàn, hay tự chỉ trích, thiếu quyết đoán, hay do dự… Nếu bị thêm sức ép từ bên ngoài thì dễ suy sụp, dễ bị vượt ngưỡng! Nhiều học sinh học giỏi mà thi rớt cho là “học tài thi phận” một phần chính là do stress! Gia đình kỳ vọng nhiều quá, tạo một áp lực vô hình, khiến em không còn là chính mình nữa!
Những dấu hiệu sớm để nhận biết stress là có vấn đề về trí nhớ như hay quên, mất định hướng, thường hoang mang…
Về cảm xúc thì dễ dao động, bứt rứt, dễ bị kích động, tâm tính bất thường, hay cáu gắt, lúc nào cũng có cảm giác bị tràn ngập, rất khó tìm được sự thư giãn. Trong lúc nghỉ ngơi mà vẫn cứ lo lắng, thậm chí còn lo lắng nhiều hơn!
Các triệu chứng về thể chất dễ nhận ra như nhức đầu, đau lưng, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn, chóng mặt.. Đặc biệt đau cột sống cổ hay cột sống thắt lưng. Cứ tưởng là loãng xương, là gai cột sống, là thoát vị điã đệm gì gì đó, thực ra gốc ở stress.
Người bị stress dễ bị bệnh vặt, cảm cúm triền miên vì sức đề kháng giảm sút đáng kể, dễ bị mất ngủ, tức ngực, tim đập nhanh và … dễ nổi mụn, nổi chàm trên da. Không có gì ngạc nhiên vì ở trong phôi thai, não và da vốn cùng xuất phát từ một lá mầm ngoai bì (ectoderme). Não mà bất an thì da cũng nhăn nhúm, nổi mụn, nổi chàm, chữa hoài không khỏi, thoa mỹ phẩm đắc tiền cũng vô ích. Não mà an vui thì da cũng tưoi nhuận, hồng hào, sáng láng.
Người bị stress còn hay có những hành vi bất thường như tự dưng thèm ăn, ăn hoài, lên cân đột ngột; hoặc bỗng nhiên bỏ ăn, sụt ký đột ngột…
Có người còn đi qua đi lại, đi tới đi lui, cắn móng tay, nhai nhóp nhép. Các huần luyện viện bóng đá, ông nào cũng hay đi qua đi lại, đi tới đi lui, nhai nhóp nhép “sinh-gom” hoặc phì phèo thuốc lá liên tục giữa lúc hai đội bóng vờn nhau trên sân. Họ bị stress. Nhưng đó là một thứ stress cấp, coi căng vậy mà hiền, chóng qua, hết trận đấu là xong, lại bắt tay nhau vui vẻ! Còn cái thứ stress nhai nhóp nhép kiểu “gặm một khối căm hờn trong cũi sắt”… mới là thứ stress nặng, mạn tính, triền miên, sinh đủ thứ chuyện.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh.
Nguyên tắc là đừng tự đòi hỏi mình phải luôn hoàn hảo, phải luôn luôn đúng!
Cũng đừng bao giờ so sánh mình với người khác. Con vịt là con vịt mà con gà là… con gà. Con gà mà dại dột so với con vịt thì sẽ chìm nghỉm trong nước! Lục súc tranh công không thể nào vui đựơc! Một khi đã so sánh thì dù hơn, dù kém, dù ngang bằng cũng đều khổ!
Nên tránh những kẻ chuyên “phun” nọc độc! Họ rất sung sướng khi “tiêm” được nọc độc cho kẻ khác. Tránh những kẻ nhỏ mọn, đố kỵ, "đâm bị thóc, thọc bị gạo"
Bói ra ma quét nhà ra rác, dị đoan mê tín… làm ta căng thẳng lo lắng vô lối. Một lời nói, một cử chỉ của thầy thuốc cũng có thể gây stress trầm trọng không ngờ. Bác sĩ vừa xem phim X quang vừa lắc lắc cái đầu đủ cho bệnh nhân thót tim, nhưng thực ra chì vì bác sĩ mỏi cổ do cả đêm thức coi bóng đá. Bác sĩ chỉ cần “phán” một câu mơ hồ như tim hơi lớn, gan hơi yếu, phổi hơi dơ… đủ cho bệnh nhân sống trong hoang mang ám ảnh dài lâu. Lời nói của bác sĩ không chỉ mang thông tin, mà còn truyền cảm xúc, gây stress, bởi người bệnh luôn ở trong một trạng thái tâm lý rất nhạy cảm khi tiếp xúc với thầy thuốc.
Có nhiều cách “xả” stress!
Nhậu nhẹt, hút thuốc lá, ma túy… cũng là một cách xả stress, nhưng rõ ràng là có hại, “chạy ô mồ mắc ô mả”!
Nhảy múa, ca hát, viết nhật ký, viết blog…. là những cách xả stress tốt. Nói chuyện tào lao (tám) cũng là một cách xả stress… , miễn là đừng có “chuyển lửa” từ người này qua người khác! Thực ra, nói ra đựơc với ai đó, một bạn thân thiết, một người có khả năng lắng nghe, một người sẵn sàng làm “thùng rác” cho mình thì mình sẽ cảm thấy nhẹ gánh! Không có bạn bè để tâm sự thì có thể tâm sự cùng tượng đá. Trải lòng ra một lúc, tượng đá cũng xiêu. “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” là vậy! “Chửi chó mắng mèo”, “Giận cá chém thớt” cũng được. Đập bể mấy cái ly cái dĩa… cũng hay! Có điều nên chọn trứơc một ít ly tách, chén dĩa mẻ, để dành sẵn, khi nào cần thì đập nghe vừa rôm rã vừa đỡ tốn kém!
Nguyên tắc chung là phải làm một cái gì đó cho năng lượng bị dồn nén trong stress có chỗ “xì” ra, thoát ra.
Ta vẫn thường nói “xả xú bắp”, “xả hơi” đó thôi…
Tóm lại, đừng có ngồi đó mà gậm nhấm, suy nghĩ vẩn vơ. Giặt đồ, nấu ăn, rửa chén, lau nhà gì cũng tốt. Chạy bộ, đánh đấm, la hét, khóc lóc… cũng đựơc. Đọc sách, xem phim càng hay, miễn là biết chọn phim, chọn sách!
Thấy người chồng trằn trọc mãi không ngủ được, lăn qua lộn lại cả đêm, người vợ hỏi có chuyện gì vậy anh? “Anh mắc nợ anh John hàng xóm một số tiền, hẹn ngày mai trả mà không có một xu dính túi!”. Người chồng đau khổ nói. Lập tức bà vợ tung mền dậy, chạy ra bờ rào gọi với sang nhà hàng xóm: “Anh John ơi, ngày mai chồng tôi chưa có tiền trả cho anh đâu nhé!”. Xong, bà quay vào bảo chồng: "Anh yên tâm ngủ đi, bây giờ là lúc để cho anh John trằn trọc". Cô vợ đã rất thông minh! Cô đã “chuyển lửa” từ chồng mình sang … chồng hàng xóm. Chắc chắn anh John sẽ trằn trọc cho tới sáng, còn ông chồng cô sẽ ngủ ngon!
“Chuyển” như vậy vẫn chỉ là ở bên ngoài. Chuyển bên trong hay hơn. Chuyện xưa kể bà mẹ già có hai cô con gái, một cô bán dù, một cô bán giày vải. Cô bán dù sống nhờ những ngày mưa, cô bán giày làm ăn khá nhờ những ngày nắng ấm. Bà mẹ lo buồn cho cô bán giày suốt những ngày mưa và đau khổ cho cô bán dù ngày nắng ráo. Có người biết chuyện khuyên bà sao không làm ngược lại, mừng cho cô bán dù ngày mưa và mừng cho cô bán giày ngày nắng?
Não ta có một đặc điểm lý thú là không thể cùng lúc nghĩ tới hai việc. Đã nghĩ điều này thì quên điều kia. Và người ta đã “lợi dụng” đặc điểm này để dịch chuyển các điểm tập trung trên võ não từ vùng này sang vùng khác. Chẳng hạn đang giận sôi lên thì… xảy ra động đất hay cháy nhà, lập tức vùng “giận sôi” của vỏ não tắt ngấm để nhường chỗ cho vùng sợ hãi! Ta biết giận dữ hay sợ hãi đều tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Nó có thể làm ta kiệt sức, suy sụp, thở không ra hơi… Có thể chọn cách nào khác chuyển dịch hay hơn, có lợi cho sức khỏe hơn chăng? ***Có đó***.
Đó là cách thở sâu, thở bụng, đưa hơi xuống huyệt… đan điền (dưới rún chừng 4 cm). Nó giúp làm cho ta tĩnh tâm lại, nó chuyển dịch vùng căng thẳng ở vỏ não qua vùng êm ái của … cái rún, với điều kiện là phải để tâm quan sát xem cái hơi thở đó nó vào ra lên xuống ra sao.
Khi chú tâm vào hơi thở, lắng nghe hơi thở , quan sát nó, dòm ngó nó, nghiền ngẫm nó… thì ta đã đánh “lạc hứơng” cảm xúc ta rồi! Vỏ não khi đã tập trung vào hơi thở thì “quên” tập trung vào các chuyện linh tinh khác.
Cách đơn giản này có khả năng giải stress rất tốt. Tập luyện đúng mức, não thùy sẽ tiết ra một kích thích tố gọi là endorphine, một thứ á-phiện nội sinh, làm cho dịu nhẹ toàn thân, tạo sự sảng khoái, lâng lâng, mà không gây tác dụng phụ.
Thiền, yoga, dưỡng sinh, tài chí, khí công… đều là những cách làm cho thân tâm hợp nhất, làm cho ta quay trở lại với chính mình bằng cách lắng nghe hơi thở của chính mình (có thể kết hợp với động tác hay không cần động tác) đó thôi. Hiện nay các kỹ thuật này ngày càng được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi ở các Trung tâm y khoa lớn trên thế giới để trị liệu các bệnh do stress gây ra, các chứng trầm cảm, tâm thần, lo âu, đau nhức…, kể cả nghiện rượu, thuốc lá, ma túy… một cách rất có hiệu quả.
BS Đỗ Hồng Ngọc
Khi niềm tin đã mất
“Tháng giêng là tháng ăn chơi”, đó là chuyện đáng nói nhất ở VN vào lúc này. Trong đó lễ hội ở khắp các đình chùa miếu mạo là những nét chính, một phong tục từ ngàn xưa cha ông ta đã để lại. Nhưng không phải người dân VN nào cũng có cơ hội được đi lễ hội. Cuộc sống vô cùng khó khăn chật vật, hầu hết những người lao động chưa hết tết đã phải lao vào kiếm sống. Chỉ những người dư giả chút đỉnh hoặc nhà khá giả, nhà giàu mới đủ khả năng đi lễ hội. Một dòng người chảy xuôi ngược từ tỉnh này qua tỉnh khác, từ Nam ra Bắc rồi lại từ Bắc vô Nam đến với lễ hội.
Theo thống kê, hiện nay ở VN có khoảng 8.000 lễ hội, trong đó phần lớn là lễ hội dân gian. Có ảnh hưởng tới đời sống văn hóa của số đông người dân. Mỗi lễ hội đều có cốt cách, sắc thái riêng thu hút khách thập phương đến với hội làng mình.
Ước tính năm nay số người đi lễ hội tăng hơn nhiều so với mọi năm. Như số khách đi chùa Hương năm nay so với năm 2012 tăng khoảng 8%, khoảng 1,5 triệu lượt và kéo dài tới 3 tháng. Còn rất nhiều các lễ hội khác số khách cũng đều tăng đáng kể.
Vì sao số người đi lễ hội ngày càng nhiều?
Một sự thật hiển nhiên là con người khi chẳng còn biết tin vào cái gì thì chỉ còn biết gửi hết niềm tin vào những giấc mơ hư ảo. Từ tiền tài, bổng lộc, bằng cấp, sức khỏe cho đến tình duyên, đều trông cậy vào “một phép lạ nhiệm màu” từ trên trời rơi xuống. Mục đích vật chất, vị lợi, cầu xin thánh thần phù hộ cho đủ thứ cần thiết thực dụng đã biến cửa đền chùa thành một nơi phàm tục nhất. Nơi con người mong có thật nhiều lợi lộc mà chẳng cần làm gì.
Tôi cần phải xác định ngay đây không phải là vấn đề tín ngưỡng và cũng không phải tất cả mọi người đến lễ hội đều có một mục đích như nhau. Cũng có người đến lễ hội nhân dịp du xuân theo đúng ý nghĩa nhớ về nguồn cội hoặc chỉ để vui chơi “xem cho biết”.
Nhưng cũng có những người chen lấn, giành giật cành lộc, giẫm đạp xin ấn đền Trần; trèo tường, chui cửa chùa Bái Đính; hay ăn xin, rải tiền, cướp chiếu, xin nước thánh... đang khiến nhiều lễ hội không còn là lễ hội mà là nơi người ta cố chen lấn để mua thần bán thánh. Bởi trong cuộc đời thường họ đã quá vất vả cũng không thể nào khá hơn được nữa.
Bao nhiêu lợi lộc trong cuộc sống thực tế đã bị đánh cắp hay đúng hơn bị ăn cướp mất rồi. Từ thằng du côn, dân anh chị có số má đến anh có một tí quyền lực cũng có thể vơ vét hết công việc kiếm ăn ngay từ trong ngõ hẹp của người lương thiện. Vậy thần thánh tượng trưng cho quyền lực mơ hồ hư ảo chính là nơi cho họ cái hy vọng cuối cùng.
Còn anh giàu muốn giữ của hay muốn giàu hơn, quan nhỏ muốn làm quan lớn. Đi lễ chùa, cầu Trời khấn Phật chính là cái “điểm tựa” thứ hai của họ. Ngoài đời có đàn anh, có phe nhóm che chắn, nhưng để “bảo đảm an toàn” hơn, họ cần có thêm một điểm tựa tâm linh mà họ nghĩ rằng không ai có thể phá đám được. Vì thế họ sẵn sàng lao vào các nghi thức trời ơi, các trò mê tín giữa lễ hội, giành giựt bằng được dịp may hiếm có này. Họ sẵn sàng nhét tiền thật, “tiền tươi” vào bất cứ chỗ nào trong pho tượng Phật, cùng lắm thì nhét dưới cái bệ gạch Phật đang ngồi. Chẳng biết Phật có thể xài tiền dương gian hay không, họ vẫn cứ hối lộ. Dường như hối lộ đã biến thành một thói quen bởi lâu nay, muốn làm bất cứ cái gì cũng phải có tiền đi trước. Không tiền thì đến bệnh viện cũng chỉ nằm ngoài hành lang chứ đừng hòng cấp cứu. Thế nên hối lộ thần thánh biến thành “chuyện tự nhiên như người Hà Nội”. Họ làm với tất cả cái gọi là “lòng thành”, nhưng chính “lòng thành” dúi tiền vào tay Phật đã phản bội giá trị đích thực của Thần Thánh.
Văn hóa dân tộc hay kinh doanh?
Lễ và hội ở khắp các vùng quê xưa kia là đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh vui chơi giải trí của dân cư sống bằng nông nghiệp là chính, theo thời vụ mùa màng và gắn với đất đai tự nhiên. Vui chơi ngày xuân để đền bù suốt 12 tháng làm lụng vất vả. Cúng bái đầu năm là để nhớ ơn tổ tiện, nhớ công đức người dựng làng, dựng nước nên mới có Bàn Thờ Tổ, có Thánh Hoàng Làng, chứ không phải cứ có lễ hội Thánh Hoàng Làng mới được ăn xôi, ăn “oản”. Tiếc rằng cái ý nghĩa đáng trân tọng đó đã bị người đời nay phản bội. Một số nơi tổ chức lễ hội là để kiếm thêm tiền cho địa phương hay cho chính các quan chức địa phương. Rồi các con buôn ở khắp nơi cũng nhào đến lễ hội để kiếm ăn, chặt chém, bói toán lừa bịp đủ kiểu, kể cả ăn cắp vặt. Người đi lễ hội cứ ngay ngáy đề phòng đủ chuyện từ ăn uống, di chuyển đến mua sắm lễ và… chuẩn bị “xung phong” vào nơi nào được coi là linh ứng nhất. Cho nên không chỉ người tổ chức lễ hội phản bội cha ông mà nhiều du khách cũng tham gia trò chơi này. Mượn danh nghĩa “Văn hóa dân tộc”, “Uống nước nhớ nguồn”...nhiều nơi tổ chức lễ hội rầm rộ thật ra là để “kinh doanh” hơn là “truyền thống” làm cho ý nghĩa thực của lễ hội dần dần bị mai một!
Ở đây tôi chỉ điểm lại vài lễ hội chính đã và đang diễn ra tại VN trong tháng giêng này.
Những cảnh chướng tai gai mắt ở lễ hội
Lễ hội lớn nhất và lâu nhất, phải kể đến lễ hội chùa Hương. Đã từ nhiều năm lễ hội này đã để lại nhiều điều tai tiếng. Từ sáng ngày15-2, đã có hàng ngàn du khách từ khắp nơi đổ về dự lễ khai hội chùa Hương năm 2013. Ngay trong sáng ngày khai hội, một số hình ảnh chưa được đẹp mắt vẫn còn tồn tại như tình trạng ứ đọng gần như vô tổ chức tại khu vực cáp treo khiến du khách chật vật chen lấn. Các nhà hàng, quán ăn ở chùa Hương vẫn bày bán đủ các loại thịt động vật cho khách hành hương về đất Phật, trông thật chướng mắt. Trong động Hương Tích; tiền lẻ, gạo, muối trắng bị rải ở nhiều nơi.
Một điểm đáng nói là hiện tượng các chủ đò “chặt chém” du khách đi đò trên suối Yến đã giảm đáng kể. Một du khách phải trả 85.000 đồng (gồm 35.000 đồng tiền xuống đò, 50.000 đồng tiền vé thắng cảnh) thì người chèo đò chỉ “xin” thêm 15.000 đồng gọi là “tiền bồi dưỡng” – một từ ngữ rất quen ở VN. Tuy nhiên, rất đông du khách phàn nàn về việc bị các quán, hàng ăn “chém đẹp”. Như một bát mì tôm trứng, hay một bát phở bò tái (thực chất là thịt heo) có giá từ 55.000 - 60.000 đồng, một chai nước C2 cũng có giá từ 15.000 - 18.000 đồng, một hột vịt lộn cũng có giá 15.000 đồng…Thật ra hiện tượng chặt chém trong những ngày lễ tết đã trở thành một “thói quen” ở khắp nơi. Ngay như ở sân bay Nội Bài - Hà Nội, giá cũng tăng vô tội vạ. Du khách đành “chịu trận”.
Khai ấn đền Trần, lễ hội của quan
Cách đây năm bảy năm, hầu như người ta chỉ biết đến lễ khai ấn đền Trần, nhưng nay thì huyện Hưng Hà, Thái Bình cũng phát ấn, rồi Yên Tử, Quảng Ninh cũng đóng dấu khai ấn, và cả đền thờ ở tuốt Thanh Hóa cũng phát ấn nhà Trần.
Xưa kia lễ hội là việc của cộng đồng, người dân địa phương đến chơi hội, cùng nhau tổ chức những trò chơi thú vị đầy tính cách dân gian, không tốn kém như đu dây, ném vịt, bịt mắt đập nồi đất hoặc nam nữ ca hát đối đáp chung vui. Nhưng nay chính quyền nhiều địa phương muốn nâng lễ hội lên “tầm cao mới”, họ phân công cán bộ, lập ban tổ chức rồi cố gắng mời thật nhiều quan chức, càng có vị trí cao càng tốt về dự lễ. Người ta truyền tai nhau là nơi nào linh thiêng thì lãnh đạo mới về! Lãnh đạo được đón tiếp rất long trọng, hầu hạ chu đáo.
Trước khi lễ hội đền Trần diễn ra, ban tổ chức khẳng định sẽ trả lại lễ hội cho cộng đồng, nhưng đáng tiếc, trong số 1.000 người được cấp thẻ vào đền trong giờ thiêng, quan chức và người nhà chính quyền địa phương chiếm nhiều nhất.
Các vị lãnh đạo chính quyền cũng có tín ngưỡng, cũng có quyền được đi lễ. Nhưng Lễ làng thì có dính dáng gì các quan chức nhà nước mà họ phải làm đình đám. Nếu các quan muốn tham dự thì nên đến với tư cách cá nhân, đừng lạm dụng quyền quan chức mà đến lễ hội để thể hiện mình, ăn nhậu rồi lại bắt nghệ sĩ phục vụ. Điều này không thể chấp nhận được!
Trong đêm khai ấn đền Trần (Nam Định), không chỉ đua nhau ném tiền vào kiệu rước, hàng ngàn người còn chen nhau chui vào đền, giành giật hoa và cành lộc trên ban thờ mang ra ngoài khiến buổi lễ trở nên hỗn loạn.
Khi đền Trần bắt đầu phát ấn, để có được một lá ấn, người dân phải trả ít nhất 15.000 đồng và theo quy định mỗi người chỉ được mua 1 - 2 lá. Tuy nhiên, những người vô tổ chức cũng nhiều không kém. Người ta không ngần ngại trèo qua đầu người khác để xông vào đòi mua ấn trước.
Nhiều người chui vào mua tuồn ra cho “anh em” bên ngoài rồi lại chui vào mua tiếp.
Từ đó, tình trạng lộn xộn liên tiếp diễn bởi trong số này có nhiều người vào lấy ấn với mục đích ra cửa bán lại cho người ngại xếp hàng. Hàng ngàn người cứ hùng hục xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để giành giật cơ hội mua bằng được lá ấn nhằm thăng quan tiến chức. Trong khi bổng lộc, may mắn chưa thấy đâu, nhiều người bị xô ngã, mất trộm, rạch túi.
Những cảnh nhếc nhác ở lễ hội khác
Tương tự, hàng ngàn người đổ về xin lộc bà Chúa Kho ngày đầu năm khiến nơi này đông nghẹt. Đâu đâu cũng thấy những mâm lễ đầy ắp tiền, vàng mã ghi đầy đủ tên tuổi, địa chỉ, sao chiếu mạng của chủ nhân. Cảnh khấn thuê, cò mồi đốt vàng hương, lấy tiền công đức... vẫn diễn ra.
Dọc đường dẫn vào đền bà Chúa Kho, người già, trẻ em, người khuyết tật nằm bất động hay lê lết xin tiền du khách. Nhiều trẻ em bị ép buộc, lạm dụng để kiếm tiền, trước sự bất lực của Ban quản lý di tích.
Tình trạng lộn xộn, ý thức kém còn diễn ra ngay tại di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Mặc dù Ban quản lý di tích đã căng hàng rào không cho khách sờ đầu rùa đội bia đá nhưng nhiều bậc phụ huynh vẫn cố tình bế con qua hàng rào để vào sờ đầu rùa mong học giỏi. Con cứ việc chơi, chuyện học hành đỗ đạt đã có Thánh lo!
Du khách còn bắt chước, đua nhau ném tiền lẻ vào khu vực bia đá. Thậm chí, nhiều người còn gấp nhỏ tiền nhét vào miệng rùa đá cầu may.
Với mong muốn sinh con trai, hàng ngàn thanh niên đã đổ về huyện Tam Dương (Vĩnh Phúc) để cướp chiếu trong lễ “đúc Bụt”. Nhiều người cướp được một sợi chiếu cói cũng cảm thấy may mắn.
Còn Hội làng Lim - Bắc Ninh, xưa nay vốn nổi tiếng về hát quan họ. Một thứ văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với các “liền anh liền chị chân quê” trình diễn cho khách thập phương vui hội rất đặc sắc, không nơi nào có. Nhưng năm nay lại có nhiều dư luận ì xèo về cách nhận tiền “boa” của khách.
Bạn NVM cho biết: Hành động của các “liền anh, liền chị” ở hội Lim giống như mấy ca sĩ nghiệp dư phòng trà nhận tiền boa. Nếu có khác là ở các phòng trà, khán giả có thể nhét tiền boa vào áo lót, khe ngực của ca sĩ. Còn các “liền anh, liền chị” ở đây thì ngửa tay ra để nhận tiền.
Lễ hội ở Sài Gòn
Trở lại với TP Sài Gòn, ngày 24-2, người Sài Gòn tấp nập đổ về các ngôi chùa. Các ngôi chùa lớn như Giác Lâm (Q.Tân Bình), Vĩnh Nghiêm (Q.3), Xá Lợi (Q.3),... từ sớm đã đông người lễ Phật, cầu an, cầu siêu, cầu lộc năm mới.
Ngày rằm, các vật phẩm cúng được bán với giá cao gấp ba lần ngày thường. Gặp khách nơi xa đến, người bán cứ ấn đồ cúng vào tay khách bảo cứ vào chùa cúng cho kịp giờ tốt rồi ra tính tiền, nhiều người cả tin mang vào cúng xong khi trở ra bị tính tiền giá... trên trời. Bà Lê Thị Mành từ Bình Dương đến núi Sam viếng chùa than vãn: “Chỉ chục ký gạo, chục ký muối với hai ốp nhang, hai bó hoa mà bị chặt tới 2 triệu đồng”.
Quanh các ngôi chùa, có đội “cò” luôn bám theo khách gạ gẫm đến các am miếu trên núi xem bói, mua chim thả phóng sinh, mua bùa chú, cúng giải hạn cầu may. May chưa thấy đã thấy khá nhiều trường hợp bị kẻ gian móc túi, lừa gạt...
Văn hóa hỏng mất rồi
- Đôc giả Phạm Xuân Nguyên sau khi đi lễ hội chùa Hương về đã cay đắng thốt lên: “Thật khủng khiếp khi chứng kiến cảnh đền chùa, di tích trong những ngày lễ hội: một bãi rác khổng lồ, một đống chen chúc, xô đẩy, một phòng trưng bày lộ thiên tạp pí lù của tham vọng kỳ quặc của con người. Đem bạc dán dắt đầy mình tượng là một trong những hành động khó chịu điển hình nhất của lễ hội không chỉ xuân này.
Đi hội tội người, tội cả thánh thần tiên Phật, tội cả văn hóa tâm linh tinh thần. Văn hóa lễ hội của chúng ta hỏng mất rồi. Nó hỏng trong cái hỏng chung của văn hóa tinh thần của người Việt ta lâu nay. Bây giờ có ai đi hội để ngắm nhìn thưởng lãm cái đẹp, cái hay của những di tích đình chùa nữa đâu. Người ta cứ đi cứ đến cứ vái cứ cúng nhưng về hỏi là đi đâu, nơi đó sự tích thế nào, kiến trúc ra sao, có gì hay gì đẹp thì lại chẳng biết, chẳng thèm biết.
Tiếc rằng hết năm này qua năm khác, vẫn không thấy chính quyền địa phương có được các biện pháp quản lý cụ thể và hữu hiệu nào để ngăn chặn những điều bát nháo cứ xảy ra ngang nhiên tại những nơi thiêng liêng của người Việt!
Nhìn những điều tồi tệ vẫn xảy ra ngay ở lễ hội chùa Hương và một số nơi khác mà thấy buồn cho sự xuống cấp của đạo đức, văn hóa và nếp sống của nhiều người Việt ngày nay....”
Lễ hội văn hóa bát nháo, nhạt nhòa bản sắc, còn lễ hội tâm linh thì lôm côm, sặc mùi thực dụng. Tưởng đâu năm nay, vấn nạn này bớt được phần nào nhưng lại có phần tồi tệ hơn. Mùa lễ hội vẫn còn tiếp tục diễn ra sôi nổi đến hết “tháng ăn chơi” trên khắp cả nước.
Cần phải loại bỏ tổ chức phi văn hóa
Để kết luận cho bài này, xin mượn lời bàn của một ông già có tên Yamaha
- “Hãy loại bỏ vĩnh viễn những lễ hội khuyến khích văn hóa cướp giựt, không khuyến khích con người cố tâm rèn tài luyện đức, chỉ mong muốn thu gặt mà không bỏ công sức. Về nhân cách, những con người đó đang tự biến bản thân mình thành một loại ăn mày, một loại cái bang.
Ở Mỹ, hàng năm người ta tổ chức những lễ hội tôn vinh những cố gắng của con người là chính. VN ta trong những năm qua tệ nạn cướp giật ngày càng nhiều, các vụ tranh cướp khai thác trộm tài nguyên phát triển, tham nhũng, giả dối, ngày càng có khuynh hướng tăng lên , cẩu tặc, đinh tặc, mua quan bán chức, chạy băng cấp, chạy chức quyền và bao nhiêu chuyện tệ hại khác gia tăng. Có lẽ xuất phát từ những mơ mộng mông lung, muốn không làm mà có ăn như những lễ hội vay tiền bà chúa Kho, cướp ấn đền Trần... mà ra. Theo tôi những nhà lãnh đạo hãy mạnh dạn dẹp bỏ những lễ hội không văn hóa như thế. Tương lai một dân tộc không thể dựa vào sự xin xỏ, sự cướp bóc hay mộng mơ đánh quả. Mà phải từ sự miệt mài phấn đấu của từng cá nhân. Ngay cả tương lai một con người, một gia đình cũng vậy. Đó là những hiện tượng báo trước sự suy vong của con người, gia đình và đất nước. Cần phải quyết liệt ngăn chặn ngay. Cần phải kỷ luật những người tổ chức các lễ hội phi văn hóa ấy”.
- Bạn Quang Hòa đưa ra kết luận gọn hơn:
“Mấy ngày sau Tết, mỗi lẫn xem TV, tôi không hiểu vì sao thay vì cổ vũ cho đồng bào cố gắng lao động sản xuất, dường như các phương tiện truyền thông cố tình kéo Tết thật dài ra và quảng cáo ghê gớm cho lễ hội. Ngưới ta cứ nói “đậm đà bản sắc dân tộc”. Tôi nói, muốn biết văn hóa nước ta giờ đây nó bát nháo, xuống cấp như thế nào, cứ đến lễ hội mà xem”.
Chắc chắn tôi không phải bình luận gì thêm khi niềm tin đã bị đánh cắp thì tất cả cùng theo nhau xuống dốc. Nhưng cách đi tìm niềm tin đích thực không phải là dựa vào người khác hoặc bất cứ một thế lực hư ảo nào, không phải ngồi đó mà than vãn, chờ đợi trong mơ hồ mà phải do chính con người tạo nên bằng chính nghị lực, sự kiên trì và dũng cảm của mình.
Văn Quang 01-3-2013
“Tháng giêng là tháng ăn chơi”, đó là chuyện đáng nói nhất ở VN vào lúc này. Trong đó lễ hội ở khắp các đình chùa miếu mạo là những nét chính, một phong tục từ ngàn xưa cha ông ta đã để lại. Nhưng không phải người dân VN nào cũng có cơ hội được đi lễ hội. Cuộc sống vô cùng khó khăn chật vật, hầu hết những người lao động chưa hết tết đã phải lao vào kiếm sống. Chỉ những người dư giả chút đỉnh hoặc nhà khá giả, nhà giàu mới đủ khả năng đi lễ hội. Một dòng người chảy xuôi ngược từ tỉnh này qua tỉnh khác, từ Nam ra Bắc rồi lại từ Bắc vô Nam đến với lễ hội.
Theo thống kê, hiện nay ở VN có khoảng 8.000 lễ hội, trong đó phần lớn là lễ hội dân gian. Có ảnh hưởng tới đời sống văn hóa của số đông người dân. Mỗi lễ hội đều có cốt cách, sắc thái riêng thu hút khách thập phương đến với hội làng mình.
Ước tính năm nay số người đi lễ hội tăng hơn nhiều so với mọi năm. Như số khách đi chùa Hương năm nay so với năm 2012 tăng khoảng 8%, khoảng 1,5 triệu lượt và kéo dài tới 3 tháng. Còn rất nhiều các lễ hội khác số khách cũng đều tăng đáng kể.
Vì sao số người đi lễ hội ngày càng nhiều?
Một sự thật hiển nhiên là con người khi chẳng còn biết tin vào cái gì thì chỉ còn biết gửi hết niềm tin vào những giấc mơ hư ảo. Từ tiền tài, bổng lộc, bằng cấp, sức khỏe cho đến tình duyên, đều trông cậy vào “một phép lạ nhiệm màu” từ trên trời rơi xuống. Mục đích vật chất, vị lợi, cầu xin thánh thần phù hộ cho đủ thứ cần thiết thực dụng đã biến cửa đền chùa thành một nơi phàm tục nhất. Nơi con người mong có thật nhiều lợi lộc mà chẳng cần làm gì.
Tôi cần phải xác định ngay đây không phải là vấn đề tín ngưỡng và cũng không phải tất cả mọi người đến lễ hội đều có một mục đích như nhau. Cũng có người đến lễ hội nhân dịp du xuân theo đúng ý nghĩa nhớ về nguồn cội hoặc chỉ để vui chơi “xem cho biết”.
Nhưng cũng có những người chen lấn, giành giật cành lộc, giẫm đạp xin ấn đền Trần; trèo tường, chui cửa chùa Bái Đính; hay ăn xin, rải tiền, cướp chiếu, xin nước thánh... đang khiến nhiều lễ hội không còn là lễ hội mà là nơi người ta cố chen lấn để mua thần bán thánh. Bởi trong cuộc đời thường họ đã quá vất vả cũng không thể nào khá hơn được nữa.
Bao nhiêu lợi lộc trong cuộc sống thực tế đã bị đánh cắp hay đúng hơn bị ăn cướp mất rồi. Từ thằng du côn, dân anh chị có số má đến anh có một tí quyền lực cũng có thể vơ vét hết công việc kiếm ăn ngay từ trong ngõ hẹp của người lương thiện. Vậy thần thánh tượng trưng cho quyền lực mơ hồ hư ảo chính là nơi cho họ cái hy vọng cuối cùng.
Còn anh giàu muốn giữ của hay muốn giàu hơn, quan nhỏ muốn làm quan lớn. Đi lễ chùa, cầu Trời khấn Phật chính là cái “điểm tựa” thứ hai của họ. Ngoài đời có đàn anh, có phe nhóm che chắn, nhưng để “bảo đảm an toàn” hơn, họ cần có thêm một điểm tựa tâm linh mà họ nghĩ rằng không ai có thể phá đám được. Vì thế họ sẵn sàng lao vào các nghi thức trời ơi, các trò mê tín giữa lễ hội, giành giựt bằng được dịp may hiếm có này. Họ sẵn sàng nhét tiền thật, “tiền tươi” vào bất cứ chỗ nào trong pho tượng Phật, cùng lắm thì nhét dưới cái bệ gạch Phật đang ngồi. Chẳng biết Phật có thể xài tiền dương gian hay không, họ vẫn cứ hối lộ. Dường như hối lộ đã biến thành một thói quen bởi lâu nay, muốn làm bất cứ cái gì cũng phải có tiền đi trước. Không tiền thì đến bệnh viện cũng chỉ nằm ngoài hành lang chứ đừng hòng cấp cứu. Thế nên hối lộ thần thánh biến thành “chuyện tự nhiên như người Hà Nội”. Họ làm với tất cả cái gọi là “lòng thành”, nhưng chính “lòng thành” dúi tiền vào tay Phật đã phản bội giá trị đích thực của Thần Thánh.
Văn hóa dân tộc hay kinh doanh?
Lễ và hội ở khắp các vùng quê xưa kia là đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh vui chơi giải trí của dân cư sống bằng nông nghiệp là chính, theo thời vụ mùa màng và gắn với đất đai tự nhiên. Vui chơi ngày xuân để đền bù suốt 12 tháng làm lụng vất vả. Cúng bái đầu năm là để nhớ ơn tổ tiện, nhớ công đức người dựng làng, dựng nước nên mới có Bàn Thờ Tổ, có Thánh Hoàng Làng, chứ không phải cứ có lễ hội Thánh Hoàng Làng mới được ăn xôi, ăn “oản”. Tiếc rằng cái ý nghĩa đáng trân tọng đó đã bị người đời nay phản bội. Một số nơi tổ chức lễ hội là để kiếm thêm tiền cho địa phương hay cho chính các quan chức địa phương. Rồi các con buôn ở khắp nơi cũng nhào đến lễ hội để kiếm ăn, chặt chém, bói toán lừa bịp đủ kiểu, kể cả ăn cắp vặt. Người đi lễ hội cứ ngay ngáy đề phòng đủ chuyện từ ăn uống, di chuyển đến mua sắm lễ và… chuẩn bị “xung phong” vào nơi nào được coi là linh ứng nhất. Cho nên không chỉ người tổ chức lễ hội phản bội cha ông mà nhiều du khách cũng tham gia trò chơi này. Mượn danh nghĩa “Văn hóa dân tộc”, “Uống nước nhớ nguồn”...nhiều nơi tổ chức lễ hội rầm rộ thật ra là để “kinh doanh” hơn là “truyền thống” làm cho ý nghĩa thực của lễ hội dần dần bị mai một!
Ở đây tôi chỉ điểm lại vài lễ hội chính đã và đang diễn ra tại VN trong tháng giêng này.
Những cảnh chướng tai gai mắt ở lễ hội
Lễ hội lớn nhất và lâu nhất, phải kể đến lễ hội chùa Hương. Đã từ nhiều năm lễ hội này đã để lại nhiều điều tai tiếng. Từ sáng ngày15-2, đã có hàng ngàn du khách từ khắp nơi đổ về dự lễ khai hội chùa Hương năm 2013. Ngay trong sáng ngày khai hội, một số hình ảnh chưa được đẹp mắt vẫn còn tồn tại như tình trạng ứ đọng gần như vô tổ chức tại khu vực cáp treo khiến du khách chật vật chen lấn. Các nhà hàng, quán ăn ở chùa Hương vẫn bày bán đủ các loại thịt động vật cho khách hành hương về đất Phật, trông thật chướng mắt. Trong động Hương Tích; tiền lẻ, gạo, muối trắng bị rải ở nhiều nơi.
Một điểm đáng nói là hiện tượng các chủ đò “chặt chém” du khách đi đò trên suối Yến đã giảm đáng kể. Một du khách phải trả 85.000 đồng (gồm 35.000 đồng tiền xuống đò, 50.000 đồng tiền vé thắng cảnh) thì người chèo đò chỉ “xin” thêm 15.000 đồng gọi là “tiền bồi dưỡng” – một từ ngữ rất quen ở VN. Tuy nhiên, rất đông du khách phàn nàn về việc bị các quán, hàng ăn “chém đẹp”. Như một bát mì tôm trứng, hay một bát phở bò tái (thực chất là thịt heo) có giá từ 55.000 - 60.000 đồng, một chai nước C2 cũng có giá từ 15.000 - 18.000 đồng, một hột vịt lộn cũng có giá 15.000 đồng…Thật ra hiện tượng chặt chém trong những ngày lễ tết đã trở thành một “thói quen” ở khắp nơi. Ngay như ở sân bay Nội Bài - Hà Nội, giá cũng tăng vô tội vạ. Du khách đành “chịu trận”.
Khai ấn đền Trần, lễ hội của quan
Cách đây năm bảy năm, hầu như người ta chỉ biết đến lễ khai ấn đền Trần, nhưng nay thì huyện Hưng Hà, Thái Bình cũng phát ấn, rồi Yên Tử, Quảng Ninh cũng đóng dấu khai ấn, và cả đền thờ ở tuốt Thanh Hóa cũng phát ấn nhà Trần.
Xưa kia lễ hội là việc của cộng đồng, người dân địa phương đến chơi hội, cùng nhau tổ chức những trò chơi thú vị đầy tính cách dân gian, không tốn kém như đu dây, ném vịt, bịt mắt đập nồi đất hoặc nam nữ ca hát đối đáp chung vui. Nhưng nay chính quyền nhiều địa phương muốn nâng lễ hội lên “tầm cao mới”, họ phân công cán bộ, lập ban tổ chức rồi cố gắng mời thật nhiều quan chức, càng có vị trí cao càng tốt về dự lễ. Người ta truyền tai nhau là nơi nào linh thiêng thì lãnh đạo mới về! Lãnh đạo được đón tiếp rất long trọng, hầu hạ chu đáo.
Trước khi lễ hội đền Trần diễn ra, ban tổ chức khẳng định sẽ trả lại lễ hội cho cộng đồng, nhưng đáng tiếc, trong số 1.000 người được cấp thẻ vào đền trong giờ thiêng, quan chức và người nhà chính quyền địa phương chiếm nhiều nhất.
Các vị lãnh đạo chính quyền cũng có tín ngưỡng, cũng có quyền được đi lễ. Nhưng Lễ làng thì có dính dáng gì các quan chức nhà nước mà họ phải làm đình đám. Nếu các quan muốn tham dự thì nên đến với tư cách cá nhân, đừng lạm dụng quyền quan chức mà đến lễ hội để thể hiện mình, ăn nhậu rồi lại bắt nghệ sĩ phục vụ. Điều này không thể chấp nhận được!
Trong đêm khai ấn đền Trần (Nam Định), không chỉ đua nhau ném tiền vào kiệu rước, hàng ngàn người còn chen nhau chui vào đền, giành giật hoa và cành lộc trên ban thờ mang ra ngoài khiến buổi lễ trở nên hỗn loạn.
Khi đền Trần bắt đầu phát ấn, để có được một lá ấn, người dân phải trả ít nhất 15.000 đồng và theo quy định mỗi người chỉ được mua 1 - 2 lá. Tuy nhiên, những người vô tổ chức cũng nhiều không kém. Người ta không ngần ngại trèo qua đầu người khác để xông vào đòi mua ấn trước.
Nhiều người chui vào mua tuồn ra cho “anh em” bên ngoài rồi lại chui vào mua tiếp.
Từ đó, tình trạng lộn xộn liên tiếp diễn bởi trong số này có nhiều người vào lấy ấn với mục đích ra cửa bán lại cho người ngại xếp hàng. Hàng ngàn người cứ hùng hục xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để giành giật cơ hội mua bằng được lá ấn nhằm thăng quan tiến chức. Trong khi bổng lộc, may mắn chưa thấy đâu, nhiều người bị xô ngã, mất trộm, rạch túi.
Những cảnh nhếc nhác ở lễ hội khác
Tương tự, hàng ngàn người đổ về xin lộc bà Chúa Kho ngày đầu năm khiến nơi này đông nghẹt. Đâu đâu cũng thấy những mâm lễ đầy ắp tiền, vàng mã ghi đầy đủ tên tuổi, địa chỉ, sao chiếu mạng của chủ nhân. Cảnh khấn thuê, cò mồi đốt vàng hương, lấy tiền công đức... vẫn diễn ra.
Dọc đường dẫn vào đền bà Chúa Kho, người già, trẻ em, người khuyết tật nằm bất động hay lê lết xin tiền du khách. Nhiều trẻ em bị ép buộc, lạm dụng để kiếm tiền, trước sự bất lực của Ban quản lý di tích.
Tình trạng lộn xộn, ý thức kém còn diễn ra ngay tại di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Mặc dù Ban quản lý di tích đã căng hàng rào không cho khách sờ đầu rùa đội bia đá nhưng nhiều bậc phụ huynh vẫn cố tình bế con qua hàng rào để vào sờ đầu rùa mong học giỏi. Con cứ việc chơi, chuyện học hành đỗ đạt đã có Thánh lo!
Du khách còn bắt chước, đua nhau ném tiền lẻ vào khu vực bia đá. Thậm chí, nhiều người còn gấp nhỏ tiền nhét vào miệng rùa đá cầu may.
Với mong muốn sinh con trai, hàng ngàn thanh niên đã đổ về huyện Tam Dương (Vĩnh Phúc) để cướp chiếu trong lễ “đúc Bụt”. Nhiều người cướp được một sợi chiếu cói cũng cảm thấy may mắn.
Còn Hội làng Lim - Bắc Ninh, xưa nay vốn nổi tiếng về hát quan họ. Một thứ văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với các “liền anh liền chị chân quê” trình diễn cho khách thập phương vui hội rất đặc sắc, không nơi nào có. Nhưng năm nay lại có nhiều dư luận ì xèo về cách nhận tiền “boa” của khách.
Bạn NVM cho biết: Hành động của các “liền anh, liền chị” ở hội Lim giống như mấy ca sĩ nghiệp dư phòng trà nhận tiền boa. Nếu có khác là ở các phòng trà, khán giả có thể nhét tiền boa vào áo lót, khe ngực của ca sĩ. Còn các “liền anh, liền chị” ở đây thì ngửa tay ra để nhận tiền.
Lễ hội ở Sài Gòn
Trở lại với TP Sài Gòn, ngày 24-2, người Sài Gòn tấp nập đổ về các ngôi chùa. Các ngôi chùa lớn như Giác Lâm (Q.Tân Bình), Vĩnh Nghiêm (Q.3), Xá Lợi (Q.3),... từ sớm đã đông người lễ Phật, cầu an, cầu siêu, cầu lộc năm mới.
Ngày rằm, các vật phẩm cúng được bán với giá cao gấp ba lần ngày thường. Gặp khách nơi xa đến, người bán cứ ấn đồ cúng vào tay khách bảo cứ vào chùa cúng cho kịp giờ tốt rồi ra tính tiền, nhiều người cả tin mang vào cúng xong khi trở ra bị tính tiền giá... trên trời. Bà Lê Thị Mành từ Bình Dương đến núi Sam viếng chùa than vãn: “Chỉ chục ký gạo, chục ký muối với hai ốp nhang, hai bó hoa mà bị chặt tới 2 triệu đồng”.
Quanh các ngôi chùa, có đội “cò” luôn bám theo khách gạ gẫm đến các am miếu trên núi xem bói, mua chim thả phóng sinh, mua bùa chú, cúng giải hạn cầu may. May chưa thấy đã thấy khá nhiều trường hợp bị kẻ gian móc túi, lừa gạt...
Văn hóa hỏng mất rồi
- Đôc giả Phạm Xuân Nguyên sau khi đi lễ hội chùa Hương về đã cay đắng thốt lên: “Thật khủng khiếp khi chứng kiến cảnh đền chùa, di tích trong những ngày lễ hội: một bãi rác khổng lồ, một đống chen chúc, xô đẩy, một phòng trưng bày lộ thiên tạp pí lù của tham vọng kỳ quặc của con người. Đem bạc dán dắt đầy mình tượng là một trong những hành động khó chịu điển hình nhất của lễ hội không chỉ xuân này.
Đi hội tội người, tội cả thánh thần tiên Phật, tội cả văn hóa tâm linh tinh thần. Văn hóa lễ hội của chúng ta hỏng mất rồi. Nó hỏng trong cái hỏng chung của văn hóa tinh thần của người Việt ta lâu nay. Bây giờ có ai đi hội để ngắm nhìn thưởng lãm cái đẹp, cái hay của những di tích đình chùa nữa đâu. Người ta cứ đi cứ đến cứ vái cứ cúng nhưng về hỏi là đi đâu, nơi đó sự tích thế nào, kiến trúc ra sao, có gì hay gì đẹp thì lại chẳng biết, chẳng thèm biết.
Tiếc rằng hết năm này qua năm khác, vẫn không thấy chính quyền địa phương có được các biện pháp quản lý cụ thể và hữu hiệu nào để ngăn chặn những điều bát nháo cứ xảy ra ngang nhiên tại những nơi thiêng liêng của người Việt!
Nhìn những điều tồi tệ vẫn xảy ra ngay ở lễ hội chùa Hương và một số nơi khác mà thấy buồn cho sự xuống cấp của đạo đức, văn hóa và nếp sống của nhiều người Việt ngày nay....”
Lễ hội văn hóa bát nháo, nhạt nhòa bản sắc, còn lễ hội tâm linh thì lôm côm, sặc mùi thực dụng. Tưởng đâu năm nay, vấn nạn này bớt được phần nào nhưng lại có phần tồi tệ hơn. Mùa lễ hội vẫn còn tiếp tục diễn ra sôi nổi đến hết “tháng ăn chơi” trên khắp cả nước.
Cần phải loại bỏ tổ chức phi văn hóa
Để kết luận cho bài này, xin mượn lời bàn của một ông già có tên Yamaha
- “Hãy loại bỏ vĩnh viễn những lễ hội khuyến khích văn hóa cướp giựt, không khuyến khích con người cố tâm rèn tài luyện đức, chỉ mong muốn thu gặt mà không bỏ công sức. Về nhân cách, những con người đó đang tự biến bản thân mình thành một loại ăn mày, một loại cái bang.
Ở Mỹ, hàng năm người ta tổ chức những lễ hội tôn vinh những cố gắng của con người là chính. VN ta trong những năm qua tệ nạn cướp giật ngày càng nhiều, các vụ tranh cướp khai thác trộm tài nguyên phát triển, tham nhũng, giả dối, ngày càng có khuynh hướng tăng lên , cẩu tặc, đinh tặc, mua quan bán chức, chạy băng cấp, chạy chức quyền và bao nhiêu chuyện tệ hại khác gia tăng. Có lẽ xuất phát từ những mơ mộng mông lung, muốn không làm mà có ăn như những lễ hội vay tiền bà chúa Kho, cướp ấn đền Trần... mà ra. Theo tôi những nhà lãnh đạo hãy mạnh dạn dẹp bỏ những lễ hội không văn hóa như thế. Tương lai một dân tộc không thể dựa vào sự xin xỏ, sự cướp bóc hay mộng mơ đánh quả. Mà phải từ sự miệt mài phấn đấu của từng cá nhân. Ngay cả tương lai một con người, một gia đình cũng vậy. Đó là những hiện tượng báo trước sự suy vong của con người, gia đình và đất nước. Cần phải quyết liệt ngăn chặn ngay. Cần phải kỷ luật những người tổ chức các lễ hội phi văn hóa ấy”.
- Bạn Quang Hòa đưa ra kết luận gọn hơn:
“Mấy ngày sau Tết, mỗi lẫn xem TV, tôi không hiểu vì sao thay vì cổ vũ cho đồng bào cố gắng lao động sản xuất, dường như các phương tiện truyền thông cố tình kéo Tết thật dài ra và quảng cáo ghê gớm cho lễ hội. Ngưới ta cứ nói “đậm đà bản sắc dân tộc”. Tôi nói, muốn biết văn hóa nước ta giờ đây nó bát nháo, xuống cấp như thế nào, cứ đến lễ hội mà xem”.
Chắc chắn tôi không phải bình luận gì thêm khi niềm tin đã bị đánh cắp thì tất cả cùng theo nhau xuống dốc. Nhưng cách đi tìm niềm tin đích thực không phải là dựa vào người khác hoặc bất cứ một thế lực hư ảo nào, không phải ngồi đó mà than vãn, chờ đợi trong mơ hồ mà phải do chính con người tạo nên bằng chính nghị lực, sự kiên trì và dũng cảm của mình.
Văn Quang 01-3-2013
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Nỗi buồn người Việt phải giả danh thành người... Nhật
Xin chào các độc giả ! Dạo gần đây tôi có đọc một số bài viết về những thói quen xấu của người Việt. Thật sự tôi thấy những gì các bạn nói hoàn toàn đúng. Phải chăng vì nhưng lý do nay mà người Việt bị phân biệt đối xử khi đi du lịch nước ngoài?
Tôi xin chia xẻ về một số kinh nghiệm bị kỳ thị mà mình đã từng trải nghiệm như sau: Tôi là người Việt gốc Hoa và cao gần 1m8 nên vóc dáng và khuôn mặt tôi không giống người Việt lắm, ngay cả khi ở Việt Nam nếu tôi không nói tiếng Việt thì cũng không ai nhận ra.
Trong 1 chuyến du lịch đi Campuchia, khi qua tới nước bạn, đi ăn uống ở nhà hàng hay vào những nơi bán quà lưu niệm, người bản địa khi biết mình là người Việt Nam thì thực sự không mấy mặn mà tiếp đón lắm, trong khi đối với những người ngoại quốc cùng đoàn thì họ khá niềm nở và nhiệt tình, điều này làm tôi vừa khó chịu vừa ngạc nhiên.
Biết điều này nên những lần tiếp theo khi vào, tôi không nói mình là người Việt mà nói mình là người Nhật (do tôi nói tiếng Nhật rất lưu loát) nên tôi nhậnđược sự đón tiếp rất nhiệt tình mặc dù tôi không mua gì cả.
Trong một lần khác tôi đi Đài Loan và Hàn Quốc, rút kinh nghiệm lần trước tôi không nói mình là người Việt, thế là tôi lại nhận được sự ưu ái đặc biệt hơn những người Việt đi cùng. Tôi không lấy điều này làm thích thú, mà là rất đau, nỗi đau cho cả dân tộc.
Thế nhưng có một sự thật phũ phàng hơn, là trên chuyến bay của hãng Vietnam Airline, lượt đi khi nhân viên chào tôi bằng tiếng Nhật, tôi đáp lại tôi là người Việt thế là từ phút ấy về sau nhân viên luôn lạnh lùng, có hỏi gì thì cũng trả lời cộc lốc, trong khi những người bên cạnh tôi luôn được chăm sóc đặc biệt. Thế là ở chặng về, tôi chủ động nói tiếng Nhật, các bạn chắc cũng đoán được điều tôi muốn nói rồi nhỉ!
Thế còn dạo gần đây, có nhiều chị em phụ nữ lấy chồng Âu - Mỹ rồi lên báo phê phán đàn ông Việt kém này kém nọ, tỏ ra hãnh diện lắm thì phải! Nhưng họ đâu biết rằng họ tự bôi tro trét trấu vào mặt chính bản thân mình, chính dân tộc mình. Các bạn có biết chồng Tây của các bạn nghĩ gì khi bạn phê phán chính dân tộc của mình không? Các bạn nhìn Trung Quốc xem, họ cũng có nhiều tật xấu đó, tỉlệ kết hôn giữa phụ nữ Trung Quốc và người nước ngoài cao gấp mấy chục lần Việt Nam, nhưng chưa có người nào "dũng cảm" như các bạn "dám" đúng lên phê phán dân tộc của mình cả! Ngay cả người Việt còn không tôn trọng lẫn nhau thì sao đòi hỏi người nước khác tôn trọng mình? Giờ tôi có thể thốt lên rằng trên thế giới này chỉ có người Việt mới kỳ thị chính dân tộc của mình.
Có lẽ sắp tới tôi còn phải làm người nước ngoài bất đắc dĩ dài dài rồi!!!
Kính chào.
Độc giả Leeson
(từ Osaka Japan)
Người Việt mạnh yếu chổ nào ?
Đỗ Thông Minh
Chuyện quá khứ thắng hay thua, không quan trọng bằng nhìn lại mình bây giờ để hướng vào tương lai. Trong chúng ta, chắc ai cũng có dịp nhìn lại mình, nhìn lại dân tộc mình. Vui buồn lẫn lộn bởi những xấu tốt do chính mình tạo ra và tự hỏi nguyên do từ đâu? Khi nhìn ra thế giới, nói chung, chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc trên thế giới, thế nên, xin miễn được đề cao người mình, những cái hay cái tốt mà nhiều người đã nói tới, mà hãy cùng nhau nhìn thẳng vào khuyết điểm của mình, để may ra có sửa chữa, thăng tiến hơn không.
Thấy người mà nghĩ đến ta, chúng tôi thấy chúng ta phải quan tâm nhiều hơn và đúng mức đối với vấn đề của dân tộc, vì rằng, nói chung dân tộc ta kém xa các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới. Còn lý do tại sao chúng ta kém, chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào sự thực. Ðã có hằng trăm cuốn sách khen người Việt rồi, nếu chúng ta tự mãn với những điều đó, liệu chúng ta khá lên không, hay từ bao trăm năm qua vẫn thế. Văn hóa Việt có những ưu khuyết điểm nào? Ai cũng biết một số ưu điểm, nhưng phải biết khai thác ưu điểm và quan trọng hơn là nhìn thẳng vào khuyết điểm lớn để sửa chữa ngay.
Ai chẳng tự ái, muốn bênh vực dân tộc mình, nhưng nhìn lại từ thời hữu sử tới nay đã hơn 2.000 năm qua, chúng ta chỉ có một số thời gian ngắn yên bình thịnh trị, còn hầu hết là chiến tranh, không nội chiến thì ngoại xâm. Nội chiến vì chúng ta chia rẽ, còn ngoại xâm vì chúng ta ở một vùng địa lý chính trị quan trọng mà lại không biết giữ. Tại sao dân tộc ta cứ mãi mãi lầm than, khốn khổ như vậy?
Học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược trang 6 đã viết: “Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả các tính tốt và các tính xấu. Ðại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quí sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi qủy quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn có sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.”.
Học giả Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Ðất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) trang 68 cũng nhận xét rằng: “Người mình phần đông thường ranh vặt, qủy quyệt, bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng. Tâm địa nông nổi, khoác lác, hiếu danh…”.
Chúng ta có rất nhiều gương bất khuất, dám hy sinh tính mạng để bảo vệ đất nước, dám vượt biển, vượt biên tìm tự do. Nhưng nói chung các hành vi ấy còn thụ động và tiêu cực. Không trực tiếp góp phần cụ thể trong việc phát triển đất nước. Chúng ta với những đức tính tốt, cũng đã có nhiều thành tựu, nhưng những tính xấu đã làm lu mờ hay làm tan nát ít nhiều những thành tựu đó.
Ðã từng có cuốn “Người Nhật Xấu Xí”, “Người Mỹ Xấu Xí” và mới đây có cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí” của ông Bá Dương, do ông Nguyễn Hồi Thủ dịch ra tiếng Việt, mà tạp chí Thế Kỷ 21 và một số người cho là chỉ cần thay chữ “Trung Quốc” bằng chữ “Việt Nam” thì cũng đúng thôi. Cuốn sách xuất bản ở Ðài Loan và năm 2000 được in và phát hành tại Trung Quốc là điều chúng ta càng nên quan tâm. Tôi không đồng ý lắm với ông Bá Dương vì lối phê bình mang nặng tính tự ty mặc cảm, bài bác tất cả những gì của mình, trong khi mới nhìn của người một cách phiến diện mà đã khen ngợi một cách quá đáng. Năm 2001, có cuốn “Tổ Quốc Ăn Năn” của ông Nguyễn Gia Kiểng, cuốn sách đào sâu nhiều khuyết điểm trong văn hóa, lịch sử nhưng có nhiều dữ kiện khó xác định và đi quá xa gây ra nhiều tranh luận và cuốn “Văn Hóa Trì Trệ Nhìn Từ Hà Nội Ðầu Thế Kỷ 21″ của bà Lê Thị Huệ đã nêu lên nhiều khuyết điểm của người mình. Năm 2002, nghe nói ở Việt Nam cũng có cuốn “Người Việt Xấu Xí” của ông Trần Quốc Vượng…
Chúng tôi công nhận là họ đã can đảm nói lên những điều xấu của người mình, là một trong những điều tối kỵ, ít ai dám nói tới. Ðôi khi chúng ta cần gạt bỏ tự ái để nhìn thẳng vào sự thật, cố gắng sửa chữa để tiến thân, cho mình cũng như cho dân tộc. Chúng tôi thấy hơn bao giờ hết, đây là dịp người Việt thẳng thắn nhìn lại người mình, cởi mở và dọn mình để mang tâm thức lớn, cùng nhân loại bước vào thế kỷ 21. Nói vậy chứ cũng đã trễ lắm rồi, bây giờ mà sửa soạn thì may ra vài chục hay cả trăm năm sau mới bắt đầu có kết quả.
Người Việt có những tính tốt nào? Người Việt hiếu học ư, cũng hiếu học đấy, nhưng vẫn chỉ là một số nào đó, một số lớn vẫn ít học, cho là nghề dạy nghề, tức tùy tiện tới đâu hay tới đó. Mà đa số trong số hiếu học ấy vẫn mang nặng tinh thần từ chương, quan lại, trọng bằng cấp từ ngàn xưa. Họ học để tìm sự giầu có, phong lưu cho bản thân và gia đình hơn là giúp đời. Họ được gọi là trí thức, nhưng chỉ biết tri thức chuyên môn, hầu như họ sống cách biệt, không dính gì tới đại đa số đồng hương mà họ cho là thấp kém. Kiến thức tổng quát của họ là một mớ hời hợt, thường có được là qua những buổi trà dư tửu hậu, chứ không qua sách vở nghiêm túc. Nói chi tới dân thường, có nhiều người cả năm không mua một cuốn sách, một tờ báo. Họ chỉ thích nghe lóm và chỉ đọc sách báo khi có ai đó mua thì mượn đọc ké thôi. Người mình lại dễ tin, đọc một bản tin trên báo hay nghe truyền miệng mà đã tin, nên dễ bị kẻ xấu lừa.
Nhờ tới họ việc gì, luôn luôn họ giẫy nẩy lên trả lời là bận lắm, bận lắm; Biết họ bận gì không? Họ bận kiếm nhiều tiền để mua nhà, mua xe, chứng tỏ sự thành đạt của mình với chung quanh. Ðể tỏ ra là cha mẹ có trách nhiệm, họ luôn luôn bận lo cho tương lai học hành của con cái, thúc đẩy con học những ngành yên ấm mà kiếm được nhiều tiền chứ không tạo cho chúng tinh thần xã hội, góp phần xây dựng đất nước… Trong khi họ mới lớp tuổi 40, 50 mà đã tự cho là “già rồi” không thấy tự học hành lo cho chính cuộc đời của họ và xã hội mà họ đang sống. Họ lúc nào cũng bận quây quần với vợ con, bận tụm đám bạn bè vui chơi!!!
Người Việt luôn nặng tình cảm, đôi khi đến độ che mờ lý trí. Chúng ta có được tinh thần gia đình thương yêu, đùm bọc khá cao, nhưng qua những cuộc đổi đời mới đây, một số gia đình cũng bắt đầu tan nát. Tinh thần hiếu khách, dù là nhà nghèo, nhưng hầu hết người Việt có gì cũng sẵn sàng đem ra cho khách dùng.
Người Việt có những tính xấu gì? Có thể nói là thiếu ý chí, thiếu sáng tạo, thiếu nghiên cứu, thiếu mạo hiểm, thiếu tầm nhìn xa, nói dối quanh, ít nhận lỗi, thiếu trật tự, thiếu nguyên tắc, thiếu tôn trọng của công, ăn cắp vặt, tự cao, tự ty, ỷ lại, thù dai, nặng mê tín, mau chán, thiếu tinh thần dân chủ vì độc đoán ít dung hợp ý kiến người khác, lúc nào cũng có cả trăm lý do để trễ hoặc không giữ lời hứa, nặng tình cảm mà thiếu lý trí, tinh thần địa phương, tôn giáo… Nhưng đáng kể là thói ích kỷ và nhất là đố kỵ làm trầm trọng thêm sự chia rẽ, đó là những cố tật lớn nhất đã làm cho người Việt không đoàn kết, hợp quần, tiến nhanh lên được.
Tại sao trong khi hầu hết người Nhật và Hoa thường tìm đến cộng động của họ thì có một số khá nhiều người Việt tìm cách xa lánh nếu không muốn nói là sợ chính cộng đồng của mình (trừ khi gặp khó khăn cần giúp đỡ)?
Chúng ta không thể thay đổi truyền thuyết chia ly giữa Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, hẹn khi cần mới gọi nhau hợp sức. Tức là bình thường thì chia rẽ, chỉ khi không sống được mới đoàn kết, rồi lại chia rẽ. Nhưng chúng ta, bằng lòng thành và ý chí phải vượt qua “định mệnh” không hay này.
Về bản thân người Việt, thân hình nhỏ bé, tuổi thọ thấp, sức lực kém, không bền bỉ, mà làm việc lại hay qua loa, tắc trách, đại khái nếu không nói là cẩu thả, nên nói chung năng suất kém.
Chúng ta thử nhìn xem, trong bất cứ một nhà ăn quốc tế như ở các trường Ðại Học có nhiều nhóm người thuộc nhiều nước thì nhóm nào nhỏ người nhất, lộn xộn và ồn ào nhất có nhiều phần chắc đó là nhóm người Việt. Nhóm này còn thêm cái tật hút thuốc, xả rác khá bừa bãi nữa.
Nay đã là đầu thế kỷ 21, thử nhìn lưu thông ở các thành phố lớn Việt Nam xem. Thật là loạn không đâu bằng. Người ngoại quốc nào đến Việt Nam cũng sợ khi phải hòa mình vào dòng xe cộ đó, và nhất là khi băng qua đường. Tỷ lệ tai nạn xẩy ra rất cao, ai cũng ta thán, thế mà bao năm qua vẫn mạnh ai nấy chạy, mạnh ai nấy đi. Những ngã năm, ngã bảy xe đông nghẹt mà hầu như không chia làn đường, nhiều nơi không có bệ tròn để đi vòng, không cảnh sát hướng dẫn lưu thông, Từ mọi phía xe cứ đổ dồn thẳng vào rồi mạnh ai người nấy tìm đường tiến lên. Ðã cấm đốt pháo được mà sao tệ nạn lưu thông đầy rẫy, mỗi một chuyện cỡi xe gắn máy phải đội nón an toàn đã bao năm qua vẫn chưa giải quyết được. Sống trong xã hội mà dường như có rất đông người Việt hầu như không muốn bất cứ một luật lệ nhỏ nào ràng buộc mình. Cứ làm đại, làm càn rồi tới đâu hay tới đó!?
Chúng tôi vẫn nghĩ, một dân tộc có văn hóa cao, thực sự hùng mạnh không thể nào nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chỉ biết xâu xé nhau. Chính tính xấu chung của người Việt mới nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chia rẽ mà sinh ra chiến tranh, chiến tranh mới đào sâu thêm hố chia rẽ và làm lụn bại dân tộc. Thất phu hữu trách mà, vận nước hôm nay là trách nhiện chung của mọi người, không chỉ có người lãnh đạo mà người dân cũng chung trách nhiệm.
Thử nhìn các lãnh vực văn, thơ, nhạc của chúng ta mà xem, đâu đâu cũng than mây khóc gió là chính. Ðồng ý là có nhiều chuyện buồn nên sáng tác nội dung buồn, nhưng buồn mãi vậy ích lợi gì, sao không tìm cách giải quyết cái buồn. Có biết đâu những tư tưởng yếm thế đó càng làm cho tình hình xấu thêm. Nếu có tư tưởng nào tích cực thì muôn đời vẫn chỉ thuần là tư tưởng, vì chính tác giả của tư tưởng ấy chỉ viết hay nói ra cho sướng, nói ra để lấy tiếng với đời, chứ chính họ không có trách nhiệm thực thi.
Những gì cụ Phan Bội Châu báo động, kêu than trong cuốn “Tự Thán” đã gần một thế kỷ qua mà như đang xẩy ra quanh đây thôi. Nếu chúng ta không có can đảm trị căn bệnh ngàn năm của mình thì dù có hết chiến tranh, dân Việt vẫn mãi mãi khó mà vươn lên được.
Chí sĩ Phan Bội Châu đã hy sinh cả cuộc đời vì nước, vào sinh ra tử không tiếc thân, thế mà trong cuốn “Tự Phán”, cụ đã thẳng thắn nhận đủ thứ lỗi về phần mình. Cụ hối hận nhất là không đủ tri thức về ngoại ngữ và tình hình thế giới. Nhưng trong đó, cụ cũng không quên nêu lên một số khuyết điểm chính của người mình thời đó. Như người lãnh đạo không lo cứu nước, dân không lo việc nước. Chỉ tranh thắng với nhau trên bàn cờ, hay cốc rượu, mà bỏ mặc vận nước cho ngoại xâm dầy xéo…
Ai cũng biết, Nhật Bản là một đảo quốc, đất hẹp, dân đông, nhưng người Nhật đã khéo léo thu thập tinh hoa thế giới để bồi đắp quê hương mình trở thành một cường quốc, đôi khi vượt qua cả những nước bậc thầy của họ trước đó. Thật là hiện tượng hiếm có, không mấy dân tộc nào làm được. Nhật Bản có thể ví như một nhà nghèo mà đông con, thế mà đã nuôi được cho tất cả các con ăn học thành tài. Nên đây thật là tấm gương lớn cho người Việt chúng ta học hỏi vậy.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại và hiện đại đã có những chọn lựa hướng đi khác nhau.
Khi Pháp đòi Việt Nam mở cửa và đe dọa bằng cách bắn phá đồn Ðà Nẵng năm 1856, Việt Nam đã chủ trương bế môn tỏa cảng. Thế nên năm 1858, Pháp đem 14 tàu chiến và 3.000 lính đến bắn tan đồn lũy Ðà Nẵng. Phía Việt Nam chống cự đến cùng, để rồi bị thua và toàn quốc bị đô hộ 80 năm. Chúng ta có tính can trường và bất khuất, nhưng thiếu khôn ngoan về một tầm nhìn xa cho đất nước chăng? Ðặc biệt Việt Nam hầu như chỉ dựa vào một cường quốc, khi sợ nước nào thì chỉ dựa theo nước đó, thiếu tầm nhìn toàn diện. Thật vậy, khi thấy Pháp Quốc mạnh thì bỏ Trung Hoa theo Pháp Quốc, rồi theo Nhật Bản, theo Hoa Kỳ hay Liên Xô. Theo đuổi chính sách như vậy, dễ bị một cường quốc lấn át và khi các cường quốc này yếu đi thì hoang mang, không biết trông vào đâu. Sau Thế Chiến Thứ 2, thế giới có phong trào giải thực, hàng chục quốc gia được độc lập một cách dễ dàng, riêng một số nhà lãnh đạo Việt Nam chọn con đường chiến tranh, hy sinh khoảng 4 triệu người và 30 năm. Ðiều này đã khiến quốc gia bị tụt hậu, trở thành chậm tiến và nhất là phân hóa, chưa biết bao giờ mới hàn gắn được.
Tại sao Việt Nam ở bao lơn Thái Bình Dương, vị trí địa lý chính trị cực kỳ quan trọng như vậy mà chỉ trở thành mục tiêu cho các đế quốc xâm lăng, còn không học hỏi để tự vươn lên được? Tại sao các đế quốc nhìn ra vị thế quan trọng của Việt Nam mà chính người Việt lại không nhìn ra và tự tạo cho mình một vị thế tương xứng như vậy? Tại sao người Việt đã đầu tư quá nhiều vào chiến tranh mà chúng ta vẫn thiếu hẳn một đường hướng xây dựng, phát triển quốc gia thích hợp? Với lối phát triển quốc gia trong nhiều thế kỷ qua, bao giờ Việt Nam mới theo kịp các nước trung bình trên thế giới, tức ngang với tầm vóc đáng lẽ phải có về dân số và diện tích của Việt Nam?
Trong lúc đó, năm 1853, khi bị Hoa Kỳ uy hiếp, Nhật Bản cắn răng chịu nhục, quyết định bỏ chính sách bế môn tỏa cảng. Nhưng họ mở rộng ngoại giao, không chỉ với Hoa Kỳ mà với cả ngũ cường, thêm Anh, Pháp, Nga, Ðức… mặt khác, họ cố gắng học hỏi ở các nước ấy, để 30, 40 năm sau vươn lên ngang hàng. Nhưng Nhật đã bắt chước các đế quốc, đi vào con đường chiến tranh sai lầm, góp phần gây nên Thế Chiến Thứ 2, hy sinh khoảng 3,1 triệu người và đất nước tan hoang. Sau Thế Chiến Thứ 2, Nhật Bản đứng trước một tương lai cực kỳ đen tối chưa từng có. Nhưng họ đã chọn con đường xây dựng quốc gia bằng hòa bình, cố gắng làm việc, chỉ 25 năm sau, Nhật Bản lại trở thành cường quốc.
Giờ đây, vận nước vẫn còn lênh đênh, mà người lãnh đạo lẫn người dân, nhiều người vẫn như xưa, chưa thức tỉnh. Ðặc biệt, nay có cả mấy triệu người được ra nước ngoài, tri thức thăng tiến bội phần, nhưng chỉ có một phần nhỏ quan tâm tới cộng đồng và đất nước, còn phần lớn mạnh ai nấy lo làm giàu cá nhân… Thật là hỡi ơi!
Vài chục năm trước, chúng tôi có được đọc trong một cuốn sách, đại ý thuật lại lời một người trí thức Nhật với một người Việt ở Việt Nam ngay sau khi Thế Chiến Thứ 2 vừa chấm dứt năm 1945. Người Nhật ấy nói rằng, vì thua trận, từ nay đất nước Nhật Bản bước vào thời kỳ đen tối, còn Việt Nam sẽ thoát khỏi nạn thực dân, được độc lập và tương lai sáng lạn. Nghĩ vậy, thế nhưng người Nhật đã cố gắng phục hưng đất nước một cách nhanh chóng. Trong khi đó, tình hình Việt Nam đã không diễn biến như hoàn cảnh thuận lợi cho phép.
Tại sao có điều nghịch lý là sách giáo khoa Nhật Bản viết nước Nhật vốn “rất nghèo tài nguyên”, mà nay người Nhật xây dựng thành “giàu có”, còn sách giáo khoa Việt Nam có lúc viết nước Việt vốn “rừng vàng biển bạc” mà lại hóa ra “nghèo nàn”? Tại sao người Việt chỉ biết đem tài nguyên sẵn có và nông phẩm là thứ đơn giản và rẻ nhất đi bán? Dù ai cũng biết đây là thứ kinh tế mới chỉ ngang tầm thời trung cổ.
Ngay nước gần chúng ta như Thái Lan cũng ở tình trạng tương tự, nhưng khéo ngoại giao hơn, không tốn xương máu mà vẫn giữ được hòa bình để phát triển.
Do đó, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là không chỉ thu học kỹ thuật của người, mà cần để ý đến văn hóa, là mặt tinh hoa tạo nên tinh thần người Nhật hay người Ðức. Có tinh thần mạnh thì như họ, dù thua Thế Chiến Thứ 2, cũng nhanh chóng vươn lên. Tinh thần yếu thì dù đất nước có giàu có cũng sẽ bị lụn bại đi như nhiều đế quốc trước đây trong lịch sử.
Vậy người Việt bị thua kém, tụt hậu vì những khâu nào? Tại sao đa số người Việt mua thực phẩm là món ăn vật chất hàng ngày, có thể mua nhạc hàng tháng để giải trí mà có khi cả năm mới mua một cuốn sách là món ăn tinh thần? Tại sao, người Việt dù có 2 triệu ở hải ngoại hay 80 triệu ở quốc nội, mỗi tựa sách (đầu sách) cũng chỉ in trung bình khoảng 1.000 cuốn? Như vậy người Việt có thực sự chăm tìm tòi, học hỏi không? Nếu bảo rằng sách đắt thì số người Việt tới thư viện sao cũng không cao. Nói chung, không có dân tộc nào tiến mạnh mà sách vở lại nghèo nàn. Bởi chính sách vở là kho kiến thức, làm nền tảng để phát triển. Người Nhật tiến mạnh được là nhờ họ biết tích lũy kinh nghiệm. Người đi trước khi học hỏi, họ ghi chép rất cẩn thận, sau này nhiều người trong số đó viết sách để lại cho người đi sau và cứ thế. Có những người Việt giỏi, nhưng không chị khó viết sách để lại, nếu người ấy mất đi thì bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy hàng mấy chục năm cũng mất theo luôn, thật là uổng phí. Hơn nữa, ai cũng rõ, nếu hiểu biết chỉ được thu thập thuần bằng binh nghiệm chưa hẳn đã là chính xác và phổ quát, lúc viết sách, người viết sẽ phải tham khảo rất nhiều, khi đó, từ các suy nghĩ cho tới dữ kiện mới dần dần được hoàn chỉnh hơn. Tại sao người Việt ở cả trong và ngoài nước được kể là học khá, nhất là về toán, mà không tìm ra một công thức hay có được một phát minh thực dụng đáng kể nào? Tại sao lúc nào cũng đầy người tụ ở quán cà phê và hiệu ăn mà không hề nghe có lấy được tên một nhà thám hiểm Việt Nam nào? Tại sao chúng ta thiếu hẳn óc tìm tòi, mạo hiểm, nhẫn nại và cố gắng?
Người ngoại quốc nào nghe người Việt nói cũng thấy lạ, thấy hay, vì líu lo như chim, âm thanh trầm bổng như có nhạc. Bởi tiếng Việt có khoảng 15.000 âm với 6 dấu thinh/giọng, lên xuống như “sắc, huyền”, uốn éo như “hỏi, ngã”, rung động như “r”… thế nhưng, đa số người Việt không biết gì về nhạc cả. Trong khi tiếng Nhật rất nghèo nàn về âm, chỉ có 120 âm, mà đa số người Nhật rất giỏi nhạc, có nhiều nhạc trưởng hòa tấu hàng quốc tế, còn đi sửa các dàn organ cho cả Âu Châu… Người Việt hầu hết chỉ biết mua nhạc cụ chơi, tới khi hỏng thì chịu, thấy tình trạng bết bát quá, chính người Nhật phải qua sửa giúp nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng Việt Nam khoảng đầu thập niên 90.
Trong tiến trình phát triển quốc gia, cụ thể là trên bình diện kinh tế, từ khâu đầu tư, tụ vốn, lập công ty, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu, nghiên cứu, sản xuất, cải tiến, quản lý phẩm chất, quản lý tài chính, quảng cáo, buôn bán, phân phối, bảo trì, tái biến chế, bảo vệ môi sinh… Tất nhiên làm ăn cá thể thì người Việt thường chỉ mạnh ở khâu buôn bán nhỏ hoặc kinh doanh hiệu ăn lấy công làm lời.
Ngay khâu buôn bán, người bán thường chú trọng mua hàng ngoại hạng nhất về bán kiếm lời và người tiêu dùng cũng lo bỏ ra thật nhiều tiền tìm mua hàng ngoại hạng nhất để khoe mà nhiều khi không biết dùng hoặc không cần dùng tới! Tại sao lại chuộng “hàng ngoại” đến như vậy? Hàng hóa ở Việt Nam ngày nay khá nhiều, nhưng người Việt không tự sản xuất lấy được khoảng 10% trong cấu thành sản phẩm đó. “Sản xuất” nếu có, “hàng nội” nếu có, thực ra chỉ là đốt giai đoạn, dùng máy ngoại quốc rồi nhập vật liệu và làm gia công. Sau này, khi máy hư hỏng thì lại mua máy mới, không dần dần tự chế máy thay thế như người Nhật hay Hoa được.
Cạnh tranh trong thương trường, người Việt thường tìm cách hạ nhau, coi thành công của người khác là thiệt hại của mình; như bầy cua trong rọ, cứ kẹp nhau để rồi kết quả là không con nào ra khỏi rọ được. Người Hoa Kỳ có châm ngôn làm ăn đại ý rằng: “Cạnh tranh là tự cải tiến sản phẩm của mình chứ không phải bỏ thuốc độc vào hàng của người khác.”. Người Nhật thì chủ trương: “Khách là nhất. Khách nuôi nhân viên chứ không phải chủ, phải làm sao cho vừa lòng khách.”.
Sự phồn vinh rất “giả tạo” hiện nay ở Việt Nam là do sự cởi mở về kinh tế, nhưng phần lớn là do tiền từ bên ngoài. Trong gần 30 năm qua, Việt Kiều gởi về khoảng 30 đến 40 tỷ Mỹ Kim, cộng thêm một số tiền đầu tư của ngoại quốc 40 đến 45 tỷ MK (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này). Tổng Sản Lượng Quốc Dân (GDP) trong thời gian đó khoảng 450 tỷ Mỹ Kim. Với số tiền khổng lồ đó, nếu có chính sách giáo dục, kinh tế tốt hơn và nhất là không bị quốc nạn tham nhũng thì mức sống của người dân có lẽ đã gấp hai, gấp ba lần hiện nay, mức chênh lệch lợi tức giữa người thành thị và nông thôn sẽ không quá xa. Ở hải ngoại cũng vậy, với nhà cửa rộng lớn, xe hơi sang trọng tất nhiên do nhiều nỗ lực cá nhân, nhưng yếu tố chính cũng là do may mắn từ môi trường thuận tiện sẵn có, như thể “đẻ bọc điều, chuột sa hũ gạo”. Chứ xét về bản chất, không khác với người trong nước.
Phải chăng các điều trên chỉ là những câu hỏi luôn làm trăn trở, bứt rứt một số rất ít những người Việt có tâm huyết với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Phải chăng còn đại đa số thì không quan tâm và bằng lòng với công việc buôn bán nhỏ hay đi làm thuê hiện tại? Vì kiếm thật nhiều tiền cho mình và gia đình là quá đủ và hết thì giờ để nghĩ và làm thêm bất cứ chuyện gì khác? Thử hỏi như vậy Việt Nam sẽ đi về đâu?
Tất nhiên, đã là con người thì dân tộc nào cũng có đủ các tính tốt và xấu, nhưng người Việt dường như bị nhiễm nhiều tính xấu ở mức độ rất trầm trọng.
Chúng tôi xin mạo muội bầy tỏ phần nào những ưu tư đối với đất nước và dân tộc. Xin tất cả chúng ta hãy cùng thành tâm nhìn lại mình, vì tương lai đất nước, để thế hệ mai sau có được cuộc sống đáng sống hơn, hãy tự chế để bỏ dần các khuyết điểm mà tăng tiến các ưu điểm.
Đỗ Thông Minh
Tháng Mười 4, 2012
Đỗ Thông Minh
Chuyện quá khứ thắng hay thua, không quan trọng bằng nhìn lại mình bây giờ để hướng vào tương lai. Trong chúng ta, chắc ai cũng có dịp nhìn lại mình, nhìn lại dân tộc mình. Vui buồn lẫn lộn bởi những xấu tốt do chính mình tạo ra và tự hỏi nguyên do từ đâu? Khi nhìn ra thế giới, nói chung, chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc trên thế giới, thế nên, xin miễn được đề cao người mình, những cái hay cái tốt mà nhiều người đã nói tới, mà hãy cùng nhau nhìn thẳng vào khuyết điểm của mình, để may ra có sửa chữa, thăng tiến hơn không.
Thấy người mà nghĩ đến ta, chúng tôi thấy chúng ta phải quan tâm nhiều hơn và đúng mức đối với vấn đề của dân tộc, vì rằng, nói chung dân tộc ta kém xa các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới. Còn lý do tại sao chúng ta kém, chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào sự thực. Ðã có hằng trăm cuốn sách khen người Việt rồi, nếu chúng ta tự mãn với những điều đó, liệu chúng ta khá lên không, hay từ bao trăm năm qua vẫn thế. Văn hóa Việt có những ưu khuyết điểm nào? Ai cũng biết một số ưu điểm, nhưng phải biết khai thác ưu điểm và quan trọng hơn là nhìn thẳng vào khuyết điểm lớn để sửa chữa ngay.
Ai chẳng tự ái, muốn bênh vực dân tộc mình, nhưng nhìn lại từ thời hữu sử tới nay đã hơn 2.000 năm qua, chúng ta chỉ có một số thời gian ngắn yên bình thịnh trị, còn hầu hết là chiến tranh, không nội chiến thì ngoại xâm. Nội chiến vì chúng ta chia rẽ, còn ngoại xâm vì chúng ta ở một vùng địa lý chính trị quan trọng mà lại không biết giữ. Tại sao dân tộc ta cứ mãi mãi lầm than, khốn khổ như vậy?
Học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược trang 6 đã viết: “Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả các tính tốt và các tính xấu. Ðại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quí sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi qủy quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn có sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.”.
Học giả Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Ðất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) trang 68 cũng nhận xét rằng: “Người mình phần đông thường ranh vặt, qủy quyệt, bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng. Tâm địa nông nổi, khoác lác, hiếu danh…”.
Chúng ta có rất nhiều gương bất khuất, dám hy sinh tính mạng để bảo vệ đất nước, dám vượt biển, vượt biên tìm tự do. Nhưng nói chung các hành vi ấy còn thụ động và tiêu cực. Không trực tiếp góp phần cụ thể trong việc phát triển đất nước. Chúng ta với những đức tính tốt, cũng đã có nhiều thành tựu, nhưng những tính xấu đã làm lu mờ hay làm tan nát ít nhiều những thành tựu đó.
Ðã từng có cuốn “Người Nhật Xấu Xí”, “Người Mỹ Xấu Xí” và mới đây có cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí” của ông Bá Dương, do ông Nguyễn Hồi Thủ dịch ra tiếng Việt, mà tạp chí Thế Kỷ 21 và một số người cho là chỉ cần thay chữ “Trung Quốc” bằng chữ “Việt Nam” thì cũng đúng thôi. Cuốn sách xuất bản ở Ðài Loan và năm 2000 được in và phát hành tại Trung Quốc là điều chúng ta càng nên quan tâm. Tôi không đồng ý lắm với ông Bá Dương vì lối phê bình mang nặng tính tự ty mặc cảm, bài bác tất cả những gì của mình, trong khi mới nhìn của người một cách phiến diện mà đã khen ngợi một cách quá đáng. Năm 2001, có cuốn “Tổ Quốc Ăn Năn” của ông Nguyễn Gia Kiểng, cuốn sách đào sâu nhiều khuyết điểm trong văn hóa, lịch sử nhưng có nhiều dữ kiện khó xác định và đi quá xa gây ra nhiều tranh luận và cuốn “Văn Hóa Trì Trệ Nhìn Từ Hà Nội Ðầu Thế Kỷ 21″ của bà Lê Thị Huệ đã nêu lên nhiều khuyết điểm của người mình. Năm 2002, nghe nói ở Việt Nam cũng có cuốn “Người Việt Xấu Xí” của ông Trần Quốc Vượng…
Chúng tôi công nhận là họ đã can đảm nói lên những điều xấu của người mình, là một trong những điều tối kỵ, ít ai dám nói tới. Ðôi khi chúng ta cần gạt bỏ tự ái để nhìn thẳng vào sự thật, cố gắng sửa chữa để tiến thân, cho mình cũng như cho dân tộc. Chúng tôi thấy hơn bao giờ hết, đây là dịp người Việt thẳng thắn nhìn lại người mình, cởi mở và dọn mình để mang tâm thức lớn, cùng nhân loại bước vào thế kỷ 21. Nói vậy chứ cũng đã trễ lắm rồi, bây giờ mà sửa soạn thì may ra vài chục hay cả trăm năm sau mới bắt đầu có kết quả.
Người Việt có những tính tốt nào? Người Việt hiếu học ư, cũng hiếu học đấy, nhưng vẫn chỉ là một số nào đó, một số lớn vẫn ít học, cho là nghề dạy nghề, tức tùy tiện tới đâu hay tới đó. Mà đa số trong số hiếu học ấy vẫn mang nặng tinh thần từ chương, quan lại, trọng bằng cấp từ ngàn xưa. Họ học để tìm sự giầu có, phong lưu cho bản thân và gia đình hơn là giúp đời. Họ được gọi là trí thức, nhưng chỉ biết tri thức chuyên môn, hầu như họ sống cách biệt, không dính gì tới đại đa số đồng hương mà họ cho là thấp kém. Kiến thức tổng quát của họ là một mớ hời hợt, thường có được là qua những buổi trà dư tửu hậu, chứ không qua sách vở nghiêm túc. Nói chi tới dân thường, có nhiều người cả năm không mua một cuốn sách, một tờ báo. Họ chỉ thích nghe lóm và chỉ đọc sách báo khi có ai đó mua thì mượn đọc ké thôi. Người mình lại dễ tin, đọc một bản tin trên báo hay nghe truyền miệng mà đã tin, nên dễ bị kẻ xấu lừa.
Nhờ tới họ việc gì, luôn luôn họ giẫy nẩy lên trả lời là bận lắm, bận lắm; Biết họ bận gì không? Họ bận kiếm nhiều tiền để mua nhà, mua xe, chứng tỏ sự thành đạt của mình với chung quanh. Ðể tỏ ra là cha mẹ có trách nhiệm, họ luôn luôn bận lo cho tương lai học hành của con cái, thúc đẩy con học những ngành yên ấm mà kiếm được nhiều tiền chứ không tạo cho chúng tinh thần xã hội, góp phần xây dựng đất nước… Trong khi họ mới lớp tuổi 40, 50 mà đã tự cho là “già rồi” không thấy tự học hành lo cho chính cuộc đời của họ và xã hội mà họ đang sống. Họ lúc nào cũng bận quây quần với vợ con, bận tụm đám bạn bè vui chơi!!!
Người Việt luôn nặng tình cảm, đôi khi đến độ che mờ lý trí. Chúng ta có được tinh thần gia đình thương yêu, đùm bọc khá cao, nhưng qua những cuộc đổi đời mới đây, một số gia đình cũng bắt đầu tan nát. Tinh thần hiếu khách, dù là nhà nghèo, nhưng hầu hết người Việt có gì cũng sẵn sàng đem ra cho khách dùng.
Người Việt có những tính xấu gì? Có thể nói là thiếu ý chí, thiếu sáng tạo, thiếu nghiên cứu, thiếu mạo hiểm, thiếu tầm nhìn xa, nói dối quanh, ít nhận lỗi, thiếu trật tự, thiếu nguyên tắc, thiếu tôn trọng của công, ăn cắp vặt, tự cao, tự ty, ỷ lại, thù dai, nặng mê tín, mau chán, thiếu tinh thần dân chủ vì độc đoán ít dung hợp ý kiến người khác, lúc nào cũng có cả trăm lý do để trễ hoặc không giữ lời hứa, nặng tình cảm mà thiếu lý trí, tinh thần địa phương, tôn giáo… Nhưng đáng kể là thói ích kỷ và nhất là đố kỵ làm trầm trọng thêm sự chia rẽ, đó là những cố tật lớn nhất đã làm cho người Việt không đoàn kết, hợp quần, tiến nhanh lên được.
Tại sao trong khi hầu hết người Nhật và Hoa thường tìm đến cộng động của họ thì có một số khá nhiều người Việt tìm cách xa lánh nếu không muốn nói là sợ chính cộng đồng của mình (trừ khi gặp khó khăn cần giúp đỡ)?
Chúng ta không thể thay đổi truyền thuyết chia ly giữa Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, hẹn khi cần mới gọi nhau hợp sức. Tức là bình thường thì chia rẽ, chỉ khi không sống được mới đoàn kết, rồi lại chia rẽ. Nhưng chúng ta, bằng lòng thành và ý chí phải vượt qua “định mệnh” không hay này.
Về bản thân người Việt, thân hình nhỏ bé, tuổi thọ thấp, sức lực kém, không bền bỉ, mà làm việc lại hay qua loa, tắc trách, đại khái nếu không nói là cẩu thả, nên nói chung năng suất kém.
Chúng ta thử nhìn xem, trong bất cứ một nhà ăn quốc tế như ở các trường Ðại Học có nhiều nhóm người thuộc nhiều nước thì nhóm nào nhỏ người nhất, lộn xộn và ồn ào nhất có nhiều phần chắc đó là nhóm người Việt. Nhóm này còn thêm cái tật hút thuốc, xả rác khá bừa bãi nữa.
Nay đã là đầu thế kỷ 21, thử nhìn lưu thông ở các thành phố lớn Việt Nam xem. Thật là loạn không đâu bằng. Người ngoại quốc nào đến Việt Nam cũng sợ khi phải hòa mình vào dòng xe cộ đó, và nhất là khi băng qua đường. Tỷ lệ tai nạn xẩy ra rất cao, ai cũng ta thán, thế mà bao năm qua vẫn mạnh ai nấy chạy, mạnh ai nấy đi. Những ngã năm, ngã bảy xe đông nghẹt mà hầu như không chia làn đường, nhiều nơi không có bệ tròn để đi vòng, không cảnh sát hướng dẫn lưu thông, Từ mọi phía xe cứ đổ dồn thẳng vào rồi mạnh ai người nấy tìm đường tiến lên. Ðã cấm đốt pháo được mà sao tệ nạn lưu thông đầy rẫy, mỗi một chuyện cỡi xe gắn máy phải đội nón an toàn đã bao năm qua vẫn chưa giải quyết được. Sống trong xã hội mà dường như có rất đông người Việt hầu như không muốn bất cứ một luật lệ nhỏ nào ràng buộc mình. Cứ làm đại, làm càn rồi tới đâu hay tới đó!?
Chúng tôi vẫn nghĩ, một dân tộc có văn hóa cao, thực sự hùng mạnh không thể nào nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chỉ biết xâu xé nhau. Chính tính xấu chung của người Việt mới nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chia rẽ mà sinh ra chiến tranh, chiến tranh mới đào sâu thêm hố chia rẽ và làm lụn bại dân tộc. Thất phu hữu trách mà, vận nước hôm nay là trách nhiện chung của mọi người, không chỉ có người lãnh đạo mà người dân cũng chung trách nhiệm.
Thử nhìn các lãnh vực văn, thơ, nhạc của chúng ta mà xem, đâu đâu cũng than mây khóc gió là chính. Ðồng ý là có nhiều chuyện buồn nên sáng tác nội dung buồn, nhưng buồn mãi vậy ích lợi gì, sao không tìm cách giải quyết cái buồn. Có biết đâu những tư tưởng yếm thế đó càng làm cho tình hình xấu thêm. Nếu có tư tưởng nào tích cực thì muôn đời vẫn chỉ thuần là tư tưởng, vì chính tác giả của tư tưởng ấy chỉ viết hay nói ra cho sướng, nói ra để lấy tiếng với đời, chứ chính họ không có trách nhiệm thực thi.
Những gì cụ Phan Bội Châu báo động, kêu than trong cuốn “Tự Thán” đã gần một thế kỷ qua mà như đang xẩy ra quanh đây thôi. Nếu chúng ta không có can đảm trị căn bệnh ngàn năm của mình thì dù có hết chiến tranh, dân Việt vẫn mãi mãi khó mà vươn lên được.
Chí sĩ Phan Bội Châu đã hy sinh cả cuộc đời vì nước, vào sinh ra tử không tiếc thân, thế mà trong cuốn “Tự Phán”, cụ đã thẳng thắn nhận đủ thứ lỗi về phần mình. Cụ hối hận nhất là không đủ tri thức về ngoại ngữ và tình hình thế giới. Nhưng trong đó, cụ cũng không quên nêu lên một số khuyết điểm chính của người mình thời đó. Như người lãnh đạo không lo cứu nước, dân không lo việc nước. Chỉ tranh thắng với nhau trên bàn cờ, hay cốc rượu, mà bỏ mặc vận nước cho ngoại xâm dầy xéo…
Ai cũng biết, Nhật Bản là một đảo quốc, đất hẹp, dân đông, nhưng người Nhật đã khéo léo thu thập tinh hoa thế giới để bồi đắp quê hương mình trở thành một cường quốc, đôi khi vượt qua cả những nước bậc thầy của họ trước đó. Thật là hiện tượng hiếm có, không mấy dân tộc nào làm được. Nhật Bản có thể ví như một nhà nghèo mà đông con, thế mà đã nuôi được cho tất cả các con ăn học thành tài. Nên đây thật là tấm gương lớn cho người Việt chúng ta học hỏi vậy.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại và hiện đại đã có những chọn lựa hướng đi khác nhau.
Khi Pháp đòi Việt Nam mở cửa và đe dọa bằng cách bắn phá đồn Ðà Nẵng năm 1856, Việt Nam đã chủ trương bế môn tỏa cảng. Thế nên năm 1858, Pháp đem 14 tàu chiến và 3.000 lính đến bắn tan đồn lũy Ðà Nẵng. Phía Việt Nam chống cự đến cùng, để rồi bị thua và toàn quốc bị đô hộ 80 năm. Chúng ta có tính can trường và bất khuất, nhưng thiếu khôn ngoan về một tầm nhìn xa cho đất nước chăng? Ðặc biệt Việt Nam hầu như chỉ dựa vào một cường quốc, khi sợ nước nào thì chỉ dựa theo nước đó, thiếu tầm nhìn toàn diện. Thật vậy, khi thấy Pháp Quốc mạnh thì bỏ Trung Hoa theo Pháp Quốc, rồi theo Nhật Bản, theo Hoa Kỳ hay Liên Xô. Theo đuổi chính sách như vậy, dễ bị một cường quốc lấn át và khi các cường quốc này yếu đi thì hoang mang, không biết trông vào đâu. Sau Thế Chiến Thứ 2, thế giới có phong trào giải thực, hàng chục quốc gia được độc lập một cách dễ dàng, riêng một số nhà lãnh đạo Việt Nam chọn con đường chiến tranh, hy sinh khoảng 4 triệu người và 30 năm. Ðiều này đã khiến quốc gia bị tụt hậu, trở thành chậm tiến và nhất là phân hóa, chưa biết bao giờ mới hàn gắn được.
Tại sao Việt Nam ở bao lơn Thái Bình Dương, vị trí địa lý chính trị cực kỳ quan trọng như vậy mà chỉ trở thành mục tiêu cho các đế quốc xâm lăng, còn không học hỏi để tự vươn lên được? Tại sao các đế quốc nhìn ra vị thế quan trọng của Việt Nam mà chính người Việt lại không nhìn ra và tự tạo cho mình một vị thế tương xứng như vậy? Tại sao người Việt đã đầu tư quá nhiều vào chiến tranh mà chúng ta vẫn thiếu hẳn một đường hướng xây dựng, phát triển quốc gia thích hợp? Với lối phát triển quốc gia trong nhiều thế kỷ qua, bao giờ Việt Nam mới theo kịp các nước trung bình trên thế giới, tức ngang với tầm vóc đáng lẽ phải có về dân số và diện tích của Việt Nam?
Trong lúc đó, năm 1853, khi bị Hoa Kỳ uy hiếp, Nhật Bản cắn răng chịu nhục, quyết định bỏ chính sách bế môn tỏa cảng. Nhưng họ mở rộng ngoại giao, không chỉ với Hoa Kỳ mà với cả ngũ cường, thêm Anh, Pháp, Nga, Ðức… mặt khác, họ cố gắng học hỏi ở các nước ấy, để 30, 40 năm sau vươn lên ngang hàng. Nhưng Nhật đã bắt chước các đế quốc, đi vào con đường chiến tranh sai lầm, góp phần gây nên Thế Chiến Thứ 2, hy sinh khoảng 3,1 triệu người và đất nước tan hoang. Sau Thế Chiến Thứ 2, Nhật Bản đứng trước một tương lai cực kỳ đen tối chưa từng có. Nhưng họ đã chọn con đường xây dựng quốc gia bằng hòa bình, cố gắng làm việc, chỉ 25 năm sau, Nhật Bản lại trở thành cường quốc.
Giờ đây, vận nước vẫn còn lênh đênh, mà người lãnh đạo lẫn người dân, nhiều người vẫn như xưa, chưa thức tỉnh. Ðặc biệt, nay có cả mấy triệu người được ra nước ngoài, tri thức thăng tiến bội phần, nhưng chỉ có một phần nhỏ quan tâm tới cộng đồng và đất nước, còn phần lớn mạnh ai nấy lo làm giàu cá nhân… Thật là hỡi ơi!
Vài chục năm trước, chúng tôi có được đọc trong một cuốn sách, đại ý thuật lại lời một người trí thức Nhật với một người Việt ở Việt Nam ngay sau khi Thế Chiến Thứ 2 vừa chấm dứt năm 1945. Người Nhật ấy nói rằng, vì thua trận, từ nay đất nước Nhật Bản bước vào thời kỳ đen tối, còn Việt Nam sẽ thoát khỏi nạn thực dân, được độc lập và tương lai sáng lạn. Nghĩ vậy, thế nhưng người Nhật đã cố gắng phục hưng đất nước một cách nhanh chóng. Trong khi đó, tình hình Việt Nam đã không diễn biến như hoàn cảnh thuận lợi cho phép.
Tại sao có điều nghịch lý là sách giáo khoa Nhật Bản viết nước Nhật vốn “rất nghèo tài nguyên”, mà nay người Nhật xây dựng thành “giàu có”, còn sách giáo khoa Việt Nam có lúc viết nước Việt vốn “rừng vàng biển bạc” mà lại hóa ra “nghèo nàn”? Tại sao người Việt chỉ biết đem tài nguyên sẵn có và nông phẩm là thứ đơn giản và rẻ nhất đi bán? Dù ai cũng biết đây là thứ kinh tế mới chỉ ngang tầm thời trung cổ.
Ngay nước gần chúng ta như Thái Lan cũng ở tình trạng tương tự, nhưng khéo ngoại giao hơn, không tốn xương máu mà vẫn giữ được hòa bình để phát triển.
Do đó, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là không chỉ thu học kỹ thuật của người, mà cần để ý đến văn hóa, là mặt tinh hoa tạo nên tinh thần người Nhật hay người Ðức. Có tinh thần mạnh thì như họ, dù thua Thế Chiến Thứ 2, cũng nhanh chóng vươn lên. Tinh thần yếu thì dù đất nước có giàu có cũng sẽ bị lụn bại đi như nhiều đế quốc trước đây trong lịch sử.
Vậy người Việt bị thua kém, tụt hậu vì những khâu nào? Tại sao đa số người Việt mua thực phẩm là món ăn vật chất hàng ngày, có thể mua nhạc hàng tháng để giải trí mà có khi cả năm mới mua một cuốn sách là món ăn tinh thần? Tại sao, người Việt dù có 2 triệu ở hải ngoại hay 80 triệu ở quốc nội, mỗi tựa sách (đầu sách) cũng chỉ in trung bình khoảng 1.000 cuốn? Như vậy người Việt có thực sự chăm tìm tòi, học hỏi không? Nếu bảo rằng sách đắt thì số người Việt tới thư viện sao cũng không cao. Nói chung, không có dân tộc nào tiến mạnh mà sách vở lại nghèo nàn. Bởi chính sách vở là kho kiến thức, làm nền tảng để phát triển. Người Nhật tiến mạnh được là nhờ họ biết tích lũy kinh nghiệm. Người đi trước khi học hỏi, họ ghi chép rất cẩn thận, sau này nhiều người trong số đó viết sách để lại cho người đi sau và cứ thế. Có những người Việt giỏi, nhưng không chị khó viết sách để lại, nếu người ấy mất đi thì bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy hàng mấy chục năm cũng mất theo luôn, thật là uổng phí. Hơn nữa, ai cũng rõ, nếu hiểu biết chỉ được thu thập thuần bằng binh nghiệm chưa hẳn đã là chính xác và phổ quát, lúc viết sách, người viết sẽ phải tham khảo rất nhiều, khi đó, từ các suy nghĩ cho tới dữ kiện mới dần dần được hoàn chỉnh hơn. Tại sao người Việt ở cả trong và ngoài nước được kể là học khá, nhất là về toán, mà không tìm ra một công thức hay có được một phát minh thực dụng đáng kể nào? Tại sao lúc nào cũng đầy người tụ ở quán cà phê và hiệu ăn mà không hề nghe có lấy được tên một nhà thám hiểm Việt Nam nào? Tại sao chúng ta thiếu hẳn óc tìm tòi, mạo hiểm, nhẫn nại và cố gắng?
Người ngoại quốc nào nghe người Việt nói cũng thấy lạ, thấy hay, vì líu lo như chim, âm thanh trầm bổng như có nhạc. Bởi tiếng Việt có khoảng 15.000 âm với 6 dấu thinh/giọng, lên xuống như “sắc, huyền”, uốn éo như “hỏi, ngã”, rung động như “r”… thế nhưng, đa số người Việt không biết gì về nhạc cả. Trong khi tiếng Nhật rất nghèo nàn về âm, chỉ có 120 âm, mà đa số người Nhật rất giỏi nhạc, có nhiều nhạc trưởng hòa tấu hàng quốc tế, còn đi sửa các dàn organ cho cả Âu Châu… Người Việt hầu hết chỉ biết mua nhạc cụ chơi, tới khi hỏng thì chịu, thấy tình trạng bết bát quá, chính người Nhật phải qua sửa giúp nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng Việt Nam khoảng đầu thập niên 90.
Trong tiến trình phát triển quốc gia, cụ thể là trên bình diện kinh tế, từ khâu đầu tư, tụ vốn, lập công ty, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu, nghiên cứu, sản xuất, cải tiến, quản lý phẩm chất, quản lý tài chính, quảng cáo, buôn bán, phân phối, bảo trì, tái biến chế, bảo vệ môi sinh… Tất nhiên làm ăn cá thể thì người Việt thường chỉ mạnh ở khâu buôn bán nhỏ hoặc kinh doanh hiệu ăn lấy công làm lời.
Ngay khâu buôn bán, người bán thường chú trọng mua hàng ngoại hạng nhất về bán kiếm lời và người tiêu dùng cũng lo bỏ ra thật nhiều tiền tìm mua hàng ngoại hạng nhất để khoe mà nhiều khi không biết dùng hoặc không cần dùng tới! Tại sao lại chuộng “hàng ngoại” đến như vậy? Hàng hóa ở Việt Nam ngày nay khá nhiều, nhưng người Việt không tự sản xuất lấy được khoảng 10% trong cấu thành sản phẩm đó. “Sản xuất” nếu có, “hàng nội” nếu có, thực ra chỉ là đốt giai đoạn, dùng máy ngoại quốc rồi nhập vật liệu và làm gia công. Sau này, khi máy hư hỏng thì lại mua máy mới, không dần dần tự chế máy thay thế như người Nhật hay Hoa được.
Cạnh tranh trong thương trường, người Việt thường tìm cách hạ nhau, coi thành công của người khác là thiệt hại của mình; như bầy cua trong rọ, cứ kẹp nhau để rồi kết quả là không con nào ra khỏi rọ được. Người Hoa Kỳ có châm ngôn làm ăn đại ý rằng: “Cạnh tranh là tự cải tiến sản phẩm của mình chứ không phải bỏ thuốc độc vào hàng của người khác.”. Người Nhật thì chủ trương: “Khách là nhất. Khách nuôi nhân viên chứ không phải chủ, phải làm sao cho vừa lòng khách.”.
Sự phồn vinh rất “giả tạo” hiện nay ở Việt Nam là do sự cởi mở về kinh tế, nhưng phần lớn là do tiền từ bên ngoài. Trong gần 30 năm qua, Việt Kiều gởi về khoảng 30 đến 40 tỷ Mỹ Kim, cộng thêm một số tiền đầu tư của ngoại quốc 40 đến 45 tỷ MK (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này). Tổng Sản Lượng Quốc Dân (GDP) trong thời gian đó khoảng 450 tỷ Mỹ Kim. Với số tiền khổng lồ đó, nếu có chính sách giáo dục, kinh tế tốt hơn và nhất là không bị quốc nạn tham nhũng thì mức sống của người dân có lẽ đã gấp hai, gấp ba lần hiện nay, mức chênh lệch lợi tức giữa người thành thị và nông thôn sẽ không quá xa. Ở hải ngoại cũng vậy, với nhà cửa rộng lớn, xe hơi sang trọng tất nhiên do nhiều nỗ lực cá nhân, nhưng yếu tố chính cũng là do may mắn từ môi trường thuận tiện sẵn có, như thể “đẻ bọc điều, chuột sa hũ gạo”. Chứ xét về bản chất, không khác với người trong nước.
Phải chăng các điều trên chỉ là những câu hỏi luôn làm trăn trở, bứt rứt một số rất ít những người Việt có tâm huyết với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Phải chăng còn đại đa số thì không quan tâm và bằng lòng với công việc buôn bán nhỏ hay đi làm thuê hiện tại? Vì kiếm thật nhiều tiền cho mình và gia đình là quá đủ và hết thì giờ để nghĩ và làm thêm bất cứ chuyện gì khác? Thử hỏi như vậy Việt Nam sẽ đi về đâu?
Tất nhiên, đã là con người thì dân tộc nào cũng có đủ các tính tốt và xấu, nhưng người Việt dường như bị nhiễm nhiều tính xấu ở mức độ rất trầm trọng.
Chúng tôi xin mạo muội bầy tỏ phần nào những ưu tư đối với đất nước và dân tộc. Xin tất cả chúng ta hãy cùng thành tâm nhìn lại mình, vì tương lai đất nước, để thế hệ mai sau có được cuộc sống đáng sống hơn, hãy tự chế để bỏ dần các khuyết điểm mà tăng tiến các ưu điểm.
Đỗ Thông Minh
Tháng Mười 4, 2012
Một người làm thương mãi biết hổ thẹn
Tạp ghi Huy Phương
Cổ nhân vẫn cho rằng “phi thương bất phú”. Kỹ sư, giáo viên, công chức đồng lương cố định là lẽ đương nhiên; bác sĩ, luật sư ngay thẳng, không làm điều mờ ám thì lợi tức cũng giới hạn. Duy chỉ có giới thương mãi tùy thời cơ, đối tượng, nhu cầu mà xoay chuyển, thu lợi tức cho mình, cho nên người ta có nói: “Người mua lầm chứ người bán không lầm.” Có món mua một bán hai, nhưng cũng có món mua một bán mười.
Thời VNCH có bao nhiêu người kể cả giới có chức có quyền, trong khi quân đội đổ máu ngoài chiến trường, thì hậu phương người ta “tuồn” thuốc tây, xăng, gạo, vải vóc và cả... vũ khí cho địch quân để làm giàu, chỉ vì đồng tiền, dù là đồng tiền vấy máu. Thị trấn nhỏ bé Gò Dầu Hạ sát biên giới Cambodia, dân số không đến vài chục nghìn mà đã có hơn 10 nhà thuốc tây, thuốc thời đó không cần toa bác sĩ, bán cho ai, nếu không mua đem về tiếp tế cho Việt Cộng bên kia biên giới.
Bây giờ trong khi Trung Cộng thôn tính Hoàng Sa, Trường Sa, ngang ngược trên biển Ðông, bắt bớ giam cầm ngư phủ Việt Nam ngay trong hải phận quốc tế, cắt dây cáp của tàu dò dầu khí của Việt Nam, lập làng, thuê đất, thuê rừng, khai thác bauxit trên đất Việt Nam, toàn dân phải chịu nhục vì tập đoàn cai trị muốn bán nước. Trong khi đó thì bọn con buôn, sẵn sàng vì lợi nhuận, nhập hàng độc hại giết người vào để giết dân mình, con buôn du lịch thì tổ chức cho đồng bào mình, viếng thăm đất nhà của bọn bành trướng, nơi mà gần đây đã có cửa hiệu trương bảng cấm người Việt Nam và chó mà không biết nhục. Ngay cả các dịch vụ du lịch người Việt tị nạn ở Mỹ, ở Úc, ở Canada, ở Âu Châu... mỗi năm đã tổ chức bao nhiêu chuyến du hành đi thăm Bắc Kinh, Thượng Hải... đem thêm ngoại tệ cho đất nước này, qua các trạm hải quan của Trung Cộng mà không thấy xấu hổ, đứng chụp ảnh tại quảng trường Thiên An Môn mà không nghe mùi máu tanh của 5,000 người đã chết chỉ vì đòi hỏi dân chủ trong đêm 4 Tháng Sáu, 1989.
Nhưng những nhà buôn kiếm lời trên những chuyến du lịch đi Trung Cộng không quan tâm đến điều này, dù họ là những người Việt Nam, vô cảm vì nỗi đau chung của người Việt.
Công ty du lịch của ông Trần Nguyên Thắng ở ngay đất Bolsa này đã làm được một điều mà tôi nghĩ chưa một công ty du lịch nào làm được, đó là ông từ chối làm tour cho đồng bào của ông đi Trung Quốc. Ở đây là đất tự do, ông không là giám đốc một công ty du lịch của nhà nước CSVN, làm dịch vụ theo chỉ thị, nên ông có quyền làm ăn theo ý ông. Ai thấy tiền mà không tham, vì tour du lịch Trung Cộng là tour rẻ nhất, dễ ăn nhất, vì rẻ nên có nhiều người tham dự.
Trước hết, ông giám đốc công ty du lịch này không ưa Cộng Sản, ông cho rằng: “Văn hóa Cộng Sản là một thứ văn hóa tồi tệ nhất trong lịch sử Á Châu. Ðấu tố giai cấp, tình yêu giai cấp đã đạp đổ đi tất cả mọi truyền thống cũ. Ðể sống sót trong hệ thống Cộng Sản, con người buộc phải sống thay đổi nhiều bộ mặt để có miếng ăn, để có chỗ ngủ. Ðời sống dạy cho cán bộ, cho người dân phải biết cách luồn lách, biết cách nịnh bợ, biết cách sống giả nhân giả nghĩa, biết cách bè phái tham nhũng hối lộ để sống còn trong xã hội đó. Có người nào trong tổ chức chính phủ và đảng của Trung Cộng ngày nay đã không từng là những Hồng Vệ Binh năm xưa dưới thời của Mao Trạch Ðông. Những hung thần con nít đó đã làm lại lịch sử và nền văn hóa Cộng Sản cho đất nước Trung Hoa.”
Chỉ nói riêng về danh xưng của đất nước Cộng Sản đông dân nhất thế giới này, vì sao phải gọi họ là Trung Quốc như CSVN đã gọi, mà không gọi họ là Trung Cộng cho chính danh? Tôi đã đồng ý với Trần Nguyên Thắng khi ông viết rằng: “...Danh từ Trung Quốc hình thành từ tên Trung Hoa Dân Quốc từ thời Tôn Dật Tiên, tên mà Thống Chế Tưởng Giới Thạch vẫn dùng khi đến Ðài Loan. Còn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa với Cộng Sản chủ nghĩa do đảng Cộng Sản chỉ huy không gọi là Trung Cộng thì gọi là gì bây giờ. Có chữ ‘Quốc’ nào trong cái tên đó đâu! Ðến danh từ tên mà cũng có ý lừa đảo lập lờ, nếu họ thật tốt thì có sợ gì mà không tự nhận là Trung Cộng. Vì thế tôi không gọi họ là Trung Quốc mà gọi họ là Trung Cộng cho đúng tên và chính danh.”
Là một người hướng dẫn du lịch nhiều năm, đi nhiều nơi trên thế giới, ông Thắng cho rằng danh lam thắng cảnh của Trung Cộng không thể so sánh được với Ai Cập, Peru, Ấn Ðộ, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Slovenia, Cambodia, Miến Ðiện và ngay cả Việt Nam. Ông chê văn hóa Trung Cộng còn thấp kém vì chỉ biết dối trá, lọc lừa, chụp giựt, ăn cắp, chen lấn, vô lễ... Không giấu diếm, sợ hãi vì còn mong muốn đi về Việt Nam, ông Trần Nguyên Thắng, một người kiếm tiền lương thiện bằng những tour du lịch, cũng cho rằng “chế độ cộng sản hiện nay tại Việt Nam còn tệ nạn tham nhũng, thối nát, quan liêu...”
Trong một bài báo gần đây sau khi có tin một nhà hàng ở Bắc Kinh treo bảng “miễn tiếp khách Nhật, Phi, Việt và chó,” ông đã mong có một ngày nào đó khi về Việt Nam ông sẽ mở một cửa hàng, với những thực phẩm “đặc biệt” để dành cho cán bộ Cộng Sản và... lợn: “For Communist members and pig only!”
Tôi không quen ông Trần Nguyên Thắng của công ty du lịch mang tên ông, cũng như chưa hề giáp mặt ông một lần, nhưng tôi nghĩ ông là người can đảm, biết hổ thẹn và có tấm lòng yêu nước.
Trong giới làm thương mãi, không ai chê tiền, ông cũng cần tiền, nhưng không phải ở chỗ đó, vì ông còn biết nhục.
Tạp ghi Huy Phương
Cổ nhân vẫn cho rằng “phi thương bất phú”. Kỹ sư, giáo viên, công chức đồng lương cố định là lẽ đương nhiên; bác sĩ, luật sư ngay thẳng, không làm điều mờ ám thì lợi tức cũng giới hạn. Duy chỉ có giới thương mãi tùy thời cơ, đối tượng, nhu cầu mà xoay chuyển, thu lợi tức cho mình, cho nên người ta có nói: “Người mua lầm chứ người bán không lầm.” Có món mua một bán hai, nhưng cũng có món mua một bán mười.
Thời VNCH có bao nhiêu người kể cả giới có chức có quyền, trong khi quân đội đổ máu ngoài chiến trường, thì hậu phương người ta “tuồn” thuốc tây, xăng, gạo, vải vóc và cả... vũ khí cho địch quân để làm giàu, chỉ vì đồng tiền, dù là đồng tiền vấy máu. Thị trấn nhỏ bé Gò Dầu Hạ sát biên giới Cambodia, dân số không đến vài chục nghìn mà đã có hơn 10 nhà thuốc tây, thuốc thời đó không cần toa bác sĩ, bán cho ai, nếu không mua đem về tiếp tế cho Việt Cộng bên kia biên giới.
Bây giờ trong khi Trung Cộng thôn tính Hoàng Sa, Trường Sa, ngang ngược trên biển Ðông, bắt bớ giam cầm ngư phủ Việt Nam ngay trong hải phận quốc tế, cắt dây cáp của tàu dò dầu khí của Việt Nam, lập làng, thuê đất, thuê rừng, khai thác bauxit trên đất Việt Nam, toàn dân phải chịu nhục vì tập đoàn cai trị muốn bán nước. Trong khi đó thì bọn con buôn, sẵn sàng vì lợi nhuận, nhập hàng độc hại giết người vào để giết dân mình, con buôn du lịch thì tổ chức cho đồng bào mình, viếng thăm đất nhà của bọn bành trướng, nơi mà gần đây đã có cửa hiệu trương bảng cấm người Việt Nam và chó mà không biết nhục. Ngay cả các dịch vụ du lịch người Việt tị nạn ở Mỹ, ở Úc, ở Canada, ở Âu Châu... mỗi năm đã tổ chức bao nhiêu chuyến du hành đi thăm Bắc Kinh, Thượng Hải... đem thêm ngoại tệ cho đất nước này, qua các trạm hải quan của Trung Cộng mà không thấy xấu hổ, đứng chụp ảnh tại quảng trường Thiên An Môn mà không nghe mùi máu tanh của 5,000 người đã chết chỉ vì đòi hỏi dân chủ trong đêm 4 Tháng Sáu, 1989.
Nhưng những nhà buôn kiếm lời trên những chuyến du lịch đi Trung Cộng không quan tâm đến điều này, dù họ là những người Việt Nam, vô cảm vì nỗi đau chung của người Việt.
Công ty du lịch của ông Trần Nguyên Thắng ở ngay đất Bolsa này đã làm được một điều mà tôi nghĩ chưa một công ty du lịch nào làm được, đó là ông từ chối làm tour cho đồng bào của ông đi Trung Quốc. Ở đây là đất tự do, ông không là giám đốc một công ty du lịch của nhà nước CSVN, làm dịch vụ theo chỉ thị, nên ông có quyền làm ăn theo ý ông. Ai thấy tiền mà không tham, vì tour du lịch Trung Cộng là tour rẻ nhất, dễ ăn nhất, vì rẻ nên có nhiều người tham dự.
Trước hết, ông giám đốc công ty du lịch này không ưa Cộng Sản, ông cho rằng: “Văn hóa Cộng Sản là một thứ văn hóa tồi tệ nhất trong lịch sử Á Châu. Ðấu tố giai cấp, tình yêu giai cấp đã đạp đổ đi tất cả mọi truyền thống cũ. Ðể sống sót trong hệ thống Cộng Sản, con người buộc phải sống thay đổi nhiều bộ mặt để có miếng ăn, để có chỗ ngủ. Ðời sống dạy cho cán bộ, cho người dân phải biết cách luồn lách, biết cách nịnh bợ, biết cách sống giả nhân giả nghĩa, biết cách bè phái tham nhũng hối lộ để sống còn trong xã hội đó. Có người nào trong tổ chức chính phủ và đảng của Trung Cộng ngày nay đã không từng là những Hồng Vệ Binh năm xưa dưới thời của Mao Trạch Ðông. Những hung thần con nít đó đã làm lại lịch sử và nền văn hóa Cộng Sản cho đất nước Trung Hoa.”
Chỉ nói riêng về danh xưng của đất nước Cộng Sản đông dân nhất thế giới này, vì sao phải gọi họ là Trung Quốc như CSVN đã gọi, mà không gọi họ là Trung Cộng cho chính danh? Tôi đã đồng ý với Trần Nguyên Thắng khi ông viết rằng: “...Danh từ Trung Quốc hình thành từ tên Trung Hoa Dân Quốc từ thời Tôn Dật Tiên, tên mà Thống Chế Tưởng Giới Thạch vẫn dùng khi đến Ðài Loan. Còn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa với Cộng Sản chủ nghĩa do đảng Cộng Sản chỉ huy không gọi là Trung Cộng thì gọi là gì bây giờ. Có chữ ‘Quốc’ nào trong cái tên đó đâu! Ðến danh từ tên mà cũng có ý lừa đảo lập lờ, nếu họ thật tốt thì có sợ gì mà không tự nhận là Trung Cộng. Vì thế tôi không gọi họ là Trung Quốc mà gọi họ là Trung Cộng cho đúng tên và chính danh.”
Là một người hướng dẫn du lịch nhiều năm, đi nhiều nơi trên thế giới, ông Thắng cho rằng danh lam thắng cảnh của Trung Cộng không thể so sánh được với Ai Cập, Peru, Ấn Ðộ, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Slovenia, Cambodia, Miến Ðiện và ngay cả Việt Nam. Ông chê văn hóa Trung Cộng còn thấp kém vì chỉ biết dối trá, lọc lừa, chụp giựt, ăn cắp, chen lấn, vô lễ... Không giấu diếm, sợ hãi vì còn mong muốn đi về Việt Nam, ông Trần Nguyên Thắng, một người kiếm tiền lương thiện bằng những tour du lịch, cũng cho rằng “chế độ cộng sản hiện nay tại Việt Nam còn tệ nạn tham nhũng, thối nát, quan liêu...”
Trong một bài báo gần đây sau khi có tin một nhà hàng ở Bắc Kinh treo bảng “miễn tiếp khách Nhật, Phi, Việt và chó,” ông đã mong có một ngày nào đó khi về Việt Nam ông sẽ mở một cửa hàng, với những thực phẩm “đặc biệt” để dành cho cán bộ Cộng Sản và... lợn: “For Communist members and pig only!”
Tôi không quen ông Trần Nguyên Thắng của công ty du lịch mang tên ông, cũng như chưa hề giáp mặt ông một lần, nhưng tôi nghĩ ông là người can đảm, biết hổ thẹn và có tấm lòng yêu nước.
Trong giới làm thương mãi, không ai chê tiền, ông cũng cần tiền, nhưng không phải ở chỗ đó, vì ông còn biết nhục.

Vàng thật hay đồng thau?
Ngày xửa ngày xưa, bên Ai Cập có một vị hiền triết tên là Zun-Nun. Ngày kia, một anh thanh niên đến và hỏi ông:
“Thưa ngài, tôi không hiểu tại sao những người đáng kính như ngài luôn ăn mặc theo một cách giống nhau và luôn luôn đơn giản như vậy. Chẳng lẽ không cần chưng diện một tí, không phải để khoe khoang, nhưng còn vì mục đích khác nữa chứ, thưa ngài?”.
Nhà hiền triết chỉ cười và cởi chiếc nhẫn ở tay ra, trao cho chàng trai và nói: “Này anh bạn trẻ, ta sẽ trả lời câu hỏi của cậu, nhưng trước tiên cậu phải giúp ta việc này đã. Hãy cầm lấy chiếc nhẫn này và đi đến khu chợ bên kia đường, cậu hãy đổi nó lấy một đồng vàng”.
Cầm chiếc nhẫn đen đúa của Zun-Nun trên tay, chàng thanh niên tỏ vẻ nghi ngại: “Một đồng vàng? Tôi không chắc là chiếc nhẫn có thể bán được với giá đó”.
“Thử trước đã chàng trai, ai biết được điều gì có thể xảy ra?”. Chàng trai trẻ phóng nhanh ra chợ. Anh ta đem chiếc nhẫn vào hàng tơ lụa, rau cải, thịt cá và rất nhiều nơi khác. Nhưng sự thực là không ai đồng ý trả cho anh ta với cái giá đó. Anh ta quay về gặp Zun-Nun và nói: “Thưa ngài, không một ai đồng ý bỏ ra một số tiền nhiều hơn một đồng bạc để mua chiếc nhẫn này cả”.
Với một nụ cười nhẹ nhàng trên khuôn mặt trầm tĩnh, nhà hiền triết đáp lời: “Bây giờ anh hãy ra tiệm vàng ở cuối đường, đưa chiếc nhẫn này cho ông chủ. Đừng yêu cầu giá bán nhưng chỉ lắng nghe xem ông ta trả giá bao nhiêu”.
Chàng thanh niên đi đến tiệm vàng theo yêu cầu và sau đó quay về với vẻ mặt khác hẳn. Anh ta nói: “Thưa ngài, những lái buôn ở chợ rõ ràng không biết giá trị của chiếc nhẫn này, người chủ tiệm vàng đã đồng ý mua chiếc nhẫn này với giá một ngàn đồng vàng, và giá trị thật của nó thì gấp cả ngàn lần so với cái giá của những con buôn ở chợ”.
Zun-Nun mỉm cười và ôn tồn nói: “Đó là câu trả lời cho câu hỏi của anh. Không thể đánh giá con người mà chỉ dựa vào cách ăn mặc bề ngoài. Những lái buôn ở chợ định giá theo kiểu đó. Nhưng những nhà buôn vàng thì không như thế. Vàng và đá quý tồn tại bên trong mỗi con người, chỉ có thể được nhận ra và xác định giá trị nếu anh có thể nhìn thấu tâm hồn.
Cần có con tim để nhìn và cả một quá trình dài lâu. Chúng ta không thể ngang nhiên đánh giá người khác mà chỉ dựa vào những lời lẽ và cách cư xử trong một lúc nào đó. Nhiều lúc cái mà ta nghĩ là vàng hóa ra là đồng thau, nhưng thứ ta tưởng là đồng thau thì lại chính là vàng thật". !!!!

