Bình Luận Thời Sự
Mở mắt vẫn bị... mờ
Wednesday, March 13, 2013 5:35:03 PM
Ngô Nhân Dụng
Nhờ các phóng viên báo Tuổi Trẻ ở Sài Gòn mọi người mới biết trẻ em Việt Nam đã được tập thói quen nhìn cờ Trung Quốc treo trên mái trường học. Bài báo đăng cả hình ảnh trong tập sách “Bé Tập Kể Chuyện” do nhà xuất bản Dân Trí ấn hành.
Ngay trang bìa là hình hai em gái đi học, trên nóc ngôi trường phấp phới lá cờ đỏ năm sao. Một bìa khác viết trên đầu trang, quảng cáo mục đích của sách học: Nắm bắt hệ thống các kiến thức trước tuổi đi học.
Nếu trước khi lên 5 hay 6 tuổi, trước khi đến trường học, mà trẻ em biết hình lá quốc kỳ các nước trên thế giới thì cũng không hại gì. Nhưng cuốn sách “Bé Tập Kể Chuyện” lại không giới thiệu đó là cờ của Trung Quốc; mà chỉ giới thiệu nó là cờ mà thôi. Ðể một lá cờ nước khác trên ngôi trường, cho trẻ em nước mình tập đọc, thì thật không hiểu nổi! Các em sẽ tập một thói quen, là coi cờ Trung Quốc là cờ, lá cờ duy nhất, và lầm tưởng đó là cờ của chính các em.
Nếu họ in lá cờ một quốc gia khác như cờ Mexico, cờ Campuchia, thì chỉ chứng tỏ là nhà xuất bản ngu dốt, không hiểu tâm lý trẻ em mà thôi. Nhưng để lá cờ Trung Quốc thì đáng bị kết tội phản quốc. Bởi vì chính phủ Cộng sản Trung Quốc đang chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của nước ta, sau khi đem quân tấn công đổ máu năm 1974. Cộng sản Trung Quốc cũng đánh chiếm một phần quần đảo Trường Sa của chúng ta vào năm 1988. Cả hai lần, các chiến sĩ Việt Nam đã bỏ mình vì nước. Trung Cộng còn ngang ngược đặt ra một đơn vị hành chánh Tam Sa để chính thức hóa việc cướp nước của họ. Sau vụ Hoàng Sa năm 1974, vụ Trường Sa năm 1988, sau cả vụ tấn công biên giới năm 1979, chính quyền hai nước chưa hề chính thức ký một hiệp ước ngưng chiến nào cả. Có thể coi như hai quốc gia vẫn ở trong tình trạng chiến tranh. Trong hoàn cảnh đó, đem lá cờ của Trung Quốc dậy cho trẻ biết đó là “cờ,” mà không nói rõ, có thể đưa ra tòa về tội phản nghịch.
Sau khi hành động phản nghịch đó được phô bày trên bài báo, người ta kinh ngạc về phản ứng của các cơ quan nhà nước phụ trách về giáo dục. Trước hết, Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo không hề hay biết gì về cuốn sách dạy trẻ này, cho tới khi nhà báo vạch ra. Họ mở mắt hay nhắm mắt? Sau khi báo chí phanh phui, các quan giáo dục chỉ cho biết họ sẽ “rà soát!” Sẽ, chứ chưa làm gì ngay cả! Hình ảnh những lá cờ bay phấp phới trên trang sách, mở mắt ra thì phải nhìn thấy và hành động ngay lập tức chứ? Nó đâu phải mấy trái mìn chôn dưới đất mà cần phải rà soát mới thấy? Hay họ mở mắt nhưng mắt vẫn mờ vì những lý do mờ ám? Cái nhà nước này ngồi đó ăn cơm của dân để làm cái gì? Tại sao khi một bác sĩ chỉ dịch bản tài liệu “Dân chủ là gì” thì bị bắt bỏ tù ngay; còn khi một nhà xuất bản nhồi sọ trẻ em bằng lá cờ ngoại quốc thì còn phải đi rà soát ?
Càng ngạc nhiên hơn nữa khi chúng ta nghe những lời chạy chữa của bà Bùi Thị Hương, người chịu trách nhiệm xuất bản của nhà xuất bản Dân Trí. Bà giải thích: “Ðây là sách dịch, mua bản quyền của đối tác nước ngoài... Chúng tôi đã kiểm tra hợp đồng bản quyền thì thấy các điều khoản trong đó rất chặt chẽ, đơn vị phát hành sách phải giữ nguyên xi nội dung gồm phần chữ và hình ảnh như bản gốc, không được phép thay đổi.” Bà còn bào chữa: “Hình ảnh trong sách là hình ảnh trường của Trung Quốc thì phải treo cờ Trung Quốc chứ không thể treo cờ Việt Nam được. Tôi thấy nội dung và hình ảnh rất bình thường, không có gì nặng nề.”
Công tác chữa chạy này theo đúng mô hình quen thuộc, đúng đường lối của Ðảng Ta. Thứ nhất, là chối tội. Thứ hai là gian trá.
Chối tội rằng “nội dung và hình ảnh cuốn sách rất bình thường.” Nhưng đem dạy trẻ em ba, bốn tuổi về lá cờ, cho trẻ em thấy hình ảnh đầu tiên trong sách của lá cờ, mà lại dùng cờ một quốc gia đang xâm chiếm nước mình, thì đó là hành động rất “nặng nề,” không thể coi là bình thường được! Gieo rắc những hạt giống đầu tiên vào trí óc trẻ em, trắng tinh như những trang giấy mới, thì phải thận trọng! Làm sai rồi sẽ không thể dễ dàng xóa đi được. Lối chối tội này giống hệt như sau cuộc cải cách ruộng đất tàn sát hàng trăm ngàn đồng bào. Như nhà văn Lưu Quang Vũ viết: “Có những cái sai không thể sửa được!”
Gian trá, cho nên mới nói đây là sách dịch, cho nên họ vẽ cờ gì mình phải giữ, không thể sửa chữa được; như bà Bùi Thị Hương nói “phải giữ nguyên xi nội dung gồm phần chữ và hình ảnh như bản gốc, không được phép thay đổi.” Người đọc chỉ cần coi một trang trong cuốn sách cũng thấy đây không phải là sách dịch.
Trang 14 trong một cuốn sách cho trẻ em tập đọc chữ C. Phần trên có các hình ảnh như Cây, con Cua, con Cá, lá Cờ, trái Cam, vân vân. Dưới là những chữ viết để tập đọc.
Nếu đây là một cuốn sách tập đọc của trẻ em Trung Hoa thì chắc chắn không thể có từng trang cho mỗi chữ A, B, C được. Chữ Tàu không dùng mẫu tự ABC. Trẻ em bên Tàu sẽ tập đọc từ những chữ ít nét, dần dần đọc đến chữ nhiều nét. Như vậy thì không thể nào có vấn đề “giữ nguyên xi nội dung gồm phần chữ và hình ảnh như bản gốc” như bà Hương nói. Cam đoan trong bản gốc, nếu có, không có trang nào dạy trẻ em Trung Hoa tập đọc mà lại vẽ hình quả cam cùng với con cua và lá cờ được. Ðó là những chữ rất nhiều nét, khó nhớ, chắc học hết bậc tiểu học các em mới tập nhớ được.
Khi bà Bùi Thị Hương quả quyết, “...chắc sẽ không thể sửa nội dung sách,” và “không thể thay cờ Trung Quốc thành cờ Việt Nam bởi như thế là vi phạm hợp đồng” thì chính mắt bà có biết nội dung bản chữ Hán thế nào không? Có trang nào dạy trẻ em Trung Hoa học các chữ A, B, C hay không? Họ có thay đổi nội dung khi chuyển sách của họ thành sách dạy trẻ em nói tiếng Việt hay không?
Cho nên phải nghi ngờ: Không biết thật sự có một bản gốc nào hay không; hay là đây là một sáng tác của các đồng chí Trung Quốc giúp dạy trẻ em nói tiếng Việt? Nếu có bản gốc, nó đã được dịch “nguyên xi” hay là được phóng tác? Nếu khi phóng tác, người ta đã phải đã sửa tất cả thứ tự trong nội dung, biến đổi lối dậy chữ Hán sang dạy chữ Việt được, thì tại sao không thay đổi được một cái hình lá cờ? Ai làm công việc dịch hoặc phóng tác mấy cuốn sách dạy trẻ em 3, 4 tuổi này? Với mục đích nào? Tại sao một nhà xuất bản của Hội Khuyến Học Việt Nam mà lại khuyến khích cho trẻ em tập nhìn lá cờ Trung Quốc, tập gọi đó là cờ, ngay từ khi các em chưa vào lớp Một? Họ có nằm trong một âm mưu nhồi sọ để đồng hóa trẻ em Việt Nam hay không?
Ngày xưa có ông thi sĩ của đảng cộng sản hân hoan khi được nghe: “Tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin.” Nếu sau này có thể sẽ thấy những em bé Việt Nam khi nhìn thấy lá cờ Trung Cộng treo trên trụ sở huyện Tam Sa bèn reo lên: Cờ! Cờ! Yêu biết mấy mấy khi nghe con tập nói!
Công việc nhồi sọ trẻ em Việt Nam này đã có dụng ý man trá ngay từ đầu, khi nhà xuất bản tự giới thiệu, “Cuốn sách được biên tập dựa trên chương trình giáo dục mầm non của Bộ Giáo Dục Ðào Tạo,” nhưng không nói đó là Bộ Giáo Dục Ðào Tạo đóng tại Bắc Kinh. Nguồn gốc Bắc Kinh của cuốn sách chỉ là một minh chứng cho câu nói nổi tiếng của ông Lê Duẩn: “Ta Ðánh Miền Nam là Ðánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc...”
Nhờ các nhà báo lanh mắt và có lương tâm, một âm mưu nhồi sọ và đồng hóa đã bị vạch ra. Như nhà thơ Bùi Chí Vinh đã viết:
Nhân dân ngửi ra mùi bá quyền qua Luật biển năm 1982...
Thi sĩ đánh hơi mùi bành trướng qua Tuyên bố ứng xử biển Ðông... đã hóa trò hề
Tất cả đã ngửi, đã đánh hơi, đã báo động nhiều lần nhưng chẳng ai nghe
Ðã không nghe lại còn bịt miệng Tú Xương, khóa mồm Cao Bá Quát
Hèn chi đến hôm nay mở mắt vẫn bị... mờ!
Wednesday, March 13, 2013 5:35:03 PM
Ngô Nhân Dụng
Nhờ các phóng viên báo Tuổi Trẻ ở Sài Gòn mọi người mới biết trẻ em Việt Nam đã được tập thói quen nhìn cờ Trung Quốc treo trên mái trường học. Bài báo đăng cả hình ảnh trong tập sách “Bé Tập Kể Chuyện” do nhà xuất bản Dân Trí ấn hành.
Ngay trang bìa là hình hai em gái đi học, trên nóc ngôi trường phấp phới lá cờ đỏ năm sao. Một bìa khác viết trên đầu trang, quảng cáo mục đích của sách học: Nắm bắt hệ thống các kiến thức trước tuổi đi học.
Nếu trước khi lên 5 hay 6 tuổi, trước khi đến trường học, mà trẻ em biết hình lá quốc kỳ các nước trên thế giới thì cũng không hại gì. Nhưng cuốn sách “Bé Tập Kể Chuyện” lại không giới thiệu đó là cờ của Trung Quốc; mà chỉ giới thiệu nó là cờ mà thôi. Ðể một lá cờ nước khác trên ngôi trường, cho trẻ em nước mình tập đọc, thì thật không hiểu nổi! Các em sẽ tập một thói quen, là coi cờ Trung Quốc là cờ, lá cờ duy nhất, và lầm tưởng đó là cờ của chính các em.
Nếu họ in lá cờ một quốc gia khác như cờ Mexico, cờ Campuchia, thì chỉ chứng tỏ là nhà xuất bản ngu dốt, không hiểu tâm lý trẻ em mà thôi. Nhưng để lá cờ Trung Quốc thì đáng bị kết tội phản quốc. Bởi vì chính phủ Cộng sản Trung Quốc đang chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của nước ta, sau khi đem quân tấn công đổ máu năm 1974. Cộng sản Trung Quốc cũng đánh chiếm một phần quần đảo Trường Sa của chúng ta vào năm 1988. Cả hai lần, các chiến sĩ Việt Nam đã bỏ mình vì nước. Trung Cộng còn ngang ngược đặt ra một đơn vị hành chánh Tam Sa để chính thức hóa việc cướp nước của họ. Sau vụ Hoàng Sa năm 1974, vụ Trường Sa năm 1988, sau cả vụ tấn công biên giới năm 1979, chính quyền hai nước chưa hề chính thức ký một hiệp ước ngưng chiến nào cả. Có thể coi như hai quốc gia vẫn ở trong tình trạng chiến tranh. Trong hoàn cảnh đó, đem lá cờ của Trung Quốc dậy cho trẻ biết đó là “cờ,” mà không nói rõ, có thể đưa ra tòa về tội phản nghịch.
Sau khi hành động phản nghịch đó được phô bày trên bài báo, người ta kinh ngạc về phản ứng của các cơ quan nhà nước phụ trách về giáo dục. Trước hết, Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo không hề hay biết gì về cuốn sách dạy trẻ này, cho tới khi nhà báo vạch ra. Họ mở mắt hay nhắm mắt? Sau khi báo chí phanh phui, các quan giáo dục chỉ cho biết họ sẽ “rà soát!” Sẽ, chứ chưa làm gì ngay cả! Hình ảnh những lá cờ bay phấp phới trên trang sách, mở mắt ra thì phải nhìn thấy và hành động ngay lập tức chứ? Nó đâu phải mấy trái mìn chôn dưới đất mà cần phải rà soát mới thấy? Hay họ mở mắt nhưng mắt vẫn mờ vì những lý do mờ ám? Cái nhà nước này ngồi đó ăn cơm của dân để làm cái gì? Tại sao khi một bác sĩ chỉ dịch bản tài liệu “Dân chủ là gì” thì bị bắt bỏ tù ngay; còn khi một nhà xuất bản nhồi sọ trẻ em bằng lá cờ ngoại quốc thì còn phải đi rà soát ?
Càng ngạc nhiên hơn nữa khi chúng ta nghe những lời chạy chữa của bà Bùi Thị Hương, người chịu trách nhiệm xuất bản của nhà xuất bản Dân Trí. Bà giải thích: “Ðây là sách dịch, mua bản quyền của đối tác nước ngoài... Chúng tôi đã kiểm tra hợp đồng bản quyền thì thấy các điều khoản trong đó rất chặt chẽ, đơn vị phát hành sách phải giữ nguyên xi nội dung gồm phần chữ và hình ảnh như bản gốc, không được phép thay đổi.” Bà còn bào chữa: “Hình ảnh trong sách là hình ảnh trường của Trung Quốc thì phải treo cờ Trung Quốc chứ không thể treo cờ Việt Nam được. Tôi thấy nội dung và hình ảnh rất bình thường, không có gì nặng nề.”
Công tác chữa chạy này theo đúng mô hình quen thuộc, đúng đường lối của Ðảng Ta. Thứ nhất, là chối tội. Thứ hai là gian trá.
Chối tội rằng “nội dung và hình ảnh cuốn sách rất bình thường.” Nhưng đem dạy trẻ em ba, bốn tuổi về lá cờ, cho trẻ em thấy hình ảnh đầu tiên trong sách của lá cờ, mà lại dùng cờ một quốc gia đang xâm chiếm nước mình, thì đó là hành động rất “nặng nề,” không thể coi là bình thường được! Gieo rắc những hạt giống đầu tiên vào trí óc trẻ em, trắng tinh như những trang giấy mới, thì phải thận trọng! Làm sai rồi sẽ không thể dễ dàng xóa đi được. Lối chối tội này giống hệt như sau cuộc cải cách ruộng đất tàn sát hàng trăm ngàn đồng bào. Như nhà văn Lưu Quang Vũ viết: “Có những cái sai không thể sửa được!”
Gian trá, cho nên mới nói đây là sách dịch, cho nên họ vẽ cờ gì mình phải giữ, không thể sửa chữa được; như bà Bùi Thị Hương nói “phải giữ nguyên xi nội dung gồm phần chữ và hình ảnh như bản gốc, không được phép thay đổi.” Người đọc chỉ cần coi một trang trong cuốn sách cũng thấy đây không phải là sách dịch.
Trang 14 trong một cuốn sách cho trẻ em tập đọc chữ C. Phần trên có các hình ảnh như Cây, con Cua, con Cá, lá Cờ, trái Cam, vân vân. Dưới là những chữ viết để tập đọc.
Nếu đây là một cuốn sách tập đọc của trẻ em Trung Hoa thì chắc chắn không thể có từng trang cho mỗi chữ A, B, C được. Chữ Tàu không dùng mẫu tự ABC. Trẻ em bên Tàu sẽ tập đọc từ những chữ ít nét, dần dần đọc đến chữ nhiều nét. Như vậy thì không thể nào có vấn đề “giữ nguyên xi nội dung gồm phần chữ và hình ảnh như bản gốc” như bà Hương nói. Cam đoan trong bản gốc, nếu có, không có trang nào dạy trẻ em Trung Hoa tập đọc mà lại vẽ hình quả cam cùng với con cua và lá cờ được. Ðó là những chữ rất nhiều nét, khó nhớ, chắc học hết bậc tiểu học các em mới tập nhớ được.
Khi bà Bùi Thị Hương quả quyết, “...chắc sẽ không thể sửa nội dung sách,” và “không thể thay cờ Trung Quốc thành cờ Việt Nam bởi như thế là vi phạm hợp đồng” thì chính mắt bà có biết nội dung bản chữ Hán thế nào không? Có trang nào dạy trẻ em Trung Hoa học các chữ A, B, C hay không? Họ có thay đổi nội dung khi chuyển sách của họ thành sách dạy trẻ em nói tiếng Việt hay không?
Cho nên phải nghi ngờ: Không biết thật sự có một bản gốc nào hay không; hay là đây là một sáng tác của các đồng chí Trung Quốc giúp dạy trẻ em nói tiếng Việt? Nếu có bản gốc, nó đã được dịch “nguyên xi” hay là được phóng tác? Nếu khi phóng tác, người ta đã phải đã sửa tất cả thứ tự trong nội dung, biến đổi lối dậy chữ Hán sang dạy chữ Việt được, thì tại sao không thay đổi được một cái hình lá cờ? Ai làm công việc dịch hoặc phóng tác mấy cuốn sách dạy trẻ em 3, 4 tuổi này? Với mục đích nào? Tại sao một nhà xuất bản của Hội Khuyến Học Việt Nam mà lại khuyến khích cho trẻ em tập nhìn lá cờ Trung Quốc, tập gọi đó là cờ, ngay từ khi các em chưa vào lớp Một? Họ có nằm trong một âm mưu nhồi sọ để đồng hóa trẻ em Việt Nam hay không?
Ngày xưa có ông thi sĩ của đảng cộng sản hân hoan khi được nghe: “Tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin.” Nếu sau này có thể sẽ thấy những em bé Việt Nam khi nhìn thấy lá cờ Trung Cộng treo trên trụ sở huyện Tam Sa bèn reo lên: Cờ! Cờ! Yêu biết mấy mấy khi nghe con tập nói!
Công việc nhồi sọ trẻ em Việt Nam này đã có dụng ý man trá ngay từ đầu, khi nhà xuất bản tự giới thiệu, “Cuốn sách được biên tập dựa trên chương trình giáo dục mầm non của Bộ Giáo Dục Ðào Tạo,” nhưng không nói đó là Bộ Giáo Dục Ðào Tạo đóng tại Bắc Kinh. Nguồn gốc Bắc Kinh của cuốn sách chỉ là một minh chứng cho câu nói nổi tiếng của ông Lê Duẩn: “Ta Ðánh Miền Nam là Ðánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc...”
Nhờ các nhà báo lanh mắt và có lương tâm, một âm mưu nhồi sọ và đồng hóa đã bị vạch ra. Như nhà thơ Bùi Chí Vinh đã viết:
Nhân dân ngửi ra mùi bá quyền qua Luật biển năm 1982...
Thi sĩ đánh hơi mùi bành trướng qua Tuyên bố ứng xử biển Ðông... đã hóa trò hề
Tất cả đã ngửi, đã đánh hơi, đã báo động nhiều lần nhưng chẳng ai nghe
Ðã không nghe lại còn bịt miệng Tú Xương, khóa mồm Cao Bá Quát
Hèn chi đến hôm nay mở mắt vẫn bị... mờ!
Hiến pháp: Con dao hai lưỡi
Nguyễn Hưng Quốc Các quốc gia trên thế giới có rất nhiều điểm khác nhau. Khác về địa lý. Về diện tích. Về dân số. Về kinh tế. Về văn hoá. Về chế độ chính trị. Về sức mạnh quân sự. Về chỉ số dân chủ, minh bạch cũng như hạnh phúc. Rất nhiều. Hầu như chỉ có một điểm chung dễ thấy nhất: Nước nào cũng có hiến pháp. Không có hiến pháp thành văn thì có hiến pháp bất thành văn (như trường hợp Anh, Israel và New Zealand). Không những phổ biến, hiến pháp còn là một điều khẩn cấp và thiết yếu: Trong thời hiện đại, bất cứ quốc gia mới nào được ra đời - từ nội chiến hoặc từ sự tan rã của chế độ thực dân hay, gần đây, chế độ Cộng sản - cũng đều xem việc viết hiến pháp là một trong những công việc được ưu tiên hàng đầu.
Tính chất phổ biến, khẩn cấp và có vẻ như thiết yếu ấy cho thấy hai mặt tích cực và tiêu cực của hiến pháp.
Tích cực: Hầu như ở đâu người ta cũng nhận ra tầm quan trọng đặc biệt của hiến pháp.
Tầm quan trọng ấy thể hiện ở mấy điểm chính:
Thứ nhất, hiến pháp là khung pháp lý căn bản nhất để xây dựng cấu trúc của các thiết chế chính quyền với những cơ quan và những chức danh lớn nhất - những nơi có nhiều quyền hành nhất trong một quốc gia.
Thứ hai, hiến pháp là cơ sở tạo nên tính chính đáng của nhà cầm quyền. Nó giống như lễ rửa tội cho một chế độ. Được hiến pháp công nhận, trên nguyên tắc, là được nhân dân trong nước và được quốc tế công nhận. Có thể nói, hiến pháp và việc thực thi theo hiến pháp, làm cho giới lãnh đạo vừa có thẩm quyền (authority) vừa có quyền lực (power).
Thứ ba, hiến pháp là nền tảng và là tiêu chí để dựa theo đó nhà cầm quyền soạn thảo các bộ luật khác nhằm điều hành đất nước cả trong quan hệ đối nội cũng như đối ngoại. Không có nền tảng và tiêu chí chung ấy, không thể có sự nhất quán trong các chính sách; không có sự nhất quán, chế độ không thể có một bản sắc riêng được.
Thứ tư, hiến pháp nêu lên một số lý tưởng và giá trị mà cả dân tộc đồng thuận và theo đuổi không những trong hiện tại mà còn cả trong tương lai. Những lý tưởng và giá trị ấy vừa có chức năng tạo nên bản sắc cho quốc gia vừa có chức năng nối kết các công dân lại với nhau thành một cộng đồng. Chính ý niệm về bản sắc và sự nối kết ấy là những thành tố quan trọng trong việc tạo nên sức mạnh của đất nước.
Thứ năm, hiến pháp là khế ước giữa những người cai trị và những người bị trị.
Trong khế ước ấy, những người cai trị biết được giới hạn quyền lực của mình và những người bị trị chấp nhận vị thế bị trị của mình: Một mặt, họ thừa nhận quyền lực của giới lãnh đạo; mặt khác, họ tự nguyện tuân thủ các quy định trong hiến pháp.
Một hiến pháp lý tưởng, trong một quốc gia dân chủ thực sự, thường bao gồm các yếu tố chính:
Một, nhắm đến mục tiêu chính là giới hạn quyền lực của giới lãnh đạo. Quyền lực bao giờ cũng có khuynh hướng trở thành độc tôn và sẵn sàng chà đạp lên người khác. Hiến pháp được đặt ra, trước hết, là để ngăn chận tình trạng lạm quyền và lộng quyền ấy. Nó ngăn chận bằng cách đặt ra những quy trình đi đến quyền lực, sự phân bố quyền lực, những giới hạn của quyền lực và những sự kiểm soát nghiêm nhặt mà những người có quyền lực phải chấp nhận.
Hai, nhắm đến mục tiêu bảo vệ những người bị trị. Xin lưu ý: Hiến pháp, tự bản chất, được viết là để nhằm bảo vệ những người bị trị chứ không phải bảo vệ những người cai trị. Giới cai trị không cần được bảo vệ: Họ đã có sẵn mọi quyền lực để tự bảo vệ họ. Chỉ có những người bị trị, những người dân thường, những người có quyền (right) và đã ủy thác thẩm quyền (authority) cho những kẻ có quyền lực (power), mới cần được bảo vệ, trước hết và quan trọng hơn hết, bảo vệ quyền sống như một con người, quyền tự do như một cá nhân và quyền ủy thác như một công dân (thể hiện qua việc bầu cử một cách tự do, minh bạch và bình đẳng).
Ba, những giá trị được đề ra trong hiến pháp phải có tính chất phổ quát, nghĩa là đặt trên nền tảng tôn trọng nhân quyền với ba nội dung chính là: tôn trọng sự bình đẳng của con người, tôn trọng quyền tự do của cá nhân và tôn trọng quyền tham gia của mọi công dân trong quá trình điều hành đất nước.
Bốn, nó là một sự chỉ dẫn và cũng là một sự bảo đảm cho một hệ thống pháp quyền (rule of law) thực sự. Quan hệ giữa hiến pháp và pháp quyền là một quan hệ hai chiều: Hiến pháp tăng cường sức mạnh cho pháp quyền và pháp quyền, ngược lại, làm cho hiến pháp có hiệu lực và giá trị. Không có hiến pháp (thành văn hoặc bất thành văn), pháp quyền sẽ không có nội dung cụ thể, từ đó, không có ý nghĩa. Không có pháp quyền, hiến pháp chỉ là những sự tuyên truyền suông.
Ở trên là những ý nghĩa tích cực của hiến pháp. Nhận ra ý nghĩa ấy, trong thời hiện đại, hầu như mọi chính trị gia, một cách thực lòng hay chỉ giả vờ, đều bày tỏ sự quan tâm đến hiến pháp. Đó là lý do chính giải thích tính chất phổ thông, khẩn cấp và có vẻ thiết yếu của hiến pháp ở mọi quốc gia. Tuy nhiên, chính sự kiện nước nào cũng có hiến pháp, dân chủ có hiến pháp, đã đành; độc tài cũng có hiến pháp, và hiến pháp của họ có khi cũng rất hay, cho thấy là hiến pháp không nhất thiết gắn liền với dân chủ, tự do, nhân quyền và pháp quyền. Bản hiến pháp Mỹ năm 1789 đã trở thành nền tảng để xây dựng chế độ dân chủ ở Mỹ, và từ đó, ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới. Nhưng cũng với các bản hiến pháp dày cộm và đẹp đẽ trên tay, Stalin, Hitler và Mao Trạch Đông đã giết chết cả hàng chục triệu người, không thua kém bất cứ tên bạo chúa khát máu nào trong lịch sử nhân loại, kể cả ở các thời chưa từng có ý niệm hiến pháp. Trong ba người vừa kể, hầu hết các nạn nhân của Stalin và Mao Trạch Đông đều là chính dân chúng nước họ, những kẻ, trên nguyên tắc, được xem là đồng-tác giả của hiến pháp nước họ.
Điều đó cho thấy, một, tuy trên lý thuyết, hiến pháp ra đời cùng với ý niệm dân chủ, nhưng trên thực tế, tự bản thân nó, hiến pháp không là gì cả; và hai, hiến pháp có những mặt tiêu cực: được/bị sử dụng như một công cụ để trấn áp nhân dân.
Hiến pháp được/bị sử dụng cho những mục tiêu xấu như thế nào?
Thứ nhất, nó chỉ nhắm đến mục đích trao quyền nhưng lại làm ngơ trước vấn đề phân quyền và hạn chế quyền lực. Bằng cách ấy, nó chỉ có tác dụng củng cố chế độ độc tài và toàn trị.
Thứ hai, với dân chúng, nó chỉ đặt ra vấn đề bổn phận và trách nhiệm nhưng lại không nhấn mạnh vào các quyền chính trị, xã hội và pháp lý của họ. Bằng cách ấy, nó tước đoạt các quyền căn bản của người dân, biến dân chúng thành những tên nô lệ hiện đại nhằm phục vụ cho giới cầm quyền tham lam và tàn bạo.
Thứ ba, ngay cả khi được viết bằng một thứ ngôn ngữ rất tiến bộ, phù hợp với các yêu cầu chung trên thế giới, nhưng nếu không được thi hành, một bản hiến pháp cũng không có giá trị gì trừ việc trở thành cái cớ pháp lý để chính quyền đàn áp nhân dân.
Trong ba mục tiêu trên, hai mục tiêu đầu có thể được nhìn thấy ngay trên văn bản; mục tiêu thứ ba chỉ có thể được nhìn thấy bằng cách phân tích chu cảnh chính trị (political context) của quốc gia. Ở khía cạnh này, Việt Nam cũng giống hầu hết các quốc gia độc tài khác, thường sử dụng hiến pháp như một cách để biện chính cho quyền lực của mình và để tạo thế chính đáng cho chế độ của mình. Khi họ biết dân chúng đánh mất niềm tin ở họ, khi trong nước càng ngày càng có nhiều người phản đối họ, họ bèn bày vẽ ra chuyện viết lại hoặc sửa đổi hiến pháp, sau đó, thông qua hiến pháp để có thể lu loa với mọi người, trong cũng như ngoài nước, là họ đã được nhân dân ủy thác cả thẩm quyền và quyền lực. Tệ hơn nữa, sau đó, họ có thể sử dụng hiến pháp ấy như một công cụ để trấn áp dân chúng và duy trì sự độc tài của mình.
Nói hiến pháp là một con dao hai lưỡi là vì thế.
Nguyễn Hưng Quốc Các quốc gia trên thế giới có rất nhiều điểm khác nhau. Khác về địa lý. Về diện tích. Về dân số. Về kinh tế. Về văn hoá. Về chế độ chính trị. Về sức mạnh quân sự. Về chỉ số dân chủ, minh bạch cũng như hạnh phúc. Rất nhiều. Hầu như chỉ có một điểm chung dễ thấy nhất: Nước nào cũng có hiến pháp. Không có hiến pháp thành văn thì có hiến pháp bất thành văn (như trường hợp Anh, Israel và New Zealand). Không những phổ biến, hiến pháp còn là một điều khẩn cấp và thiết yếu: Trong thời hiện đại, bất cứ quốc gia mới nào được ra đời - từ nội chiến hoặc từ sự tan rã của chế độ thực dân hay, gần đây, chế độ Cộng sản - cũng đều xem việc viết hiến pháp là một trong những công việc được ưu tiên hàng đầu.
Tính chất phổ biến, khẩn cấp và có vẻ như thiết yếu ấy cho thấy hai mặt tích cực và tiêu cực của hiến pháp.
Tích cực: Hầu như ở đâu người ta cũng nhận ra tầm quan trọng đặc biệt của hiến pháp.
Tầm quan trọng ấy thể hiện ở mấy điểm chính:
Thứ nhất, hiến pháp là khung pháp lý căn bản nhất để xây dựng cấu trúc của các thiết chế chính quyền với những cơ quan và những chức danh lớn nhất - những nơi có nhiều quyền hành nhất trong một quốc gia.
Thứ hai, hiến pháp là cơ sở tạo nên tính chính đáng của nhà cầm quyền. Nó giống như lễ rửa tội cho một chế độ. Được hiến pháp công nhận, trên nguyên tắc, là được nhân dân trong nước và được quốc tế công nhận. Có thể nói, hiến pháp và việc thực thi theo hiến pháp, làm cho giới lãnh đạo vừa có thẩm quyền (authority) vừa có quyền lực (power).
Thứ ba, hiến pháp là nền tảng và là tiêu chí để dựa theo đó nhà cầm quyền soạn thảo các bộ luật khác nhằm điều hành đất nước cả trong quan hệ đối nội cũng như đối ngoại. Không có nền tảng và tiêu chí chung ấy, không thể có sự nhất quán trong các chính sách; không có sự nhất quán, chế độ không thể có một bản sắc riêng được.
Thứ tư, hiến pháp nêu lên một số lý tưởng và giá trị mà cả dân tộc đồng thuận và theo đuổi không những trong hiện tại mà còn cả trong tương lai. Những lý tưởng và giá trị ấy vừa có chức năng tạo nên bản sắc cho quốc gia vừa có chức năng nối kết các công dân lại với nhau thành một cộng đồng. Chính ý niệm về bản sắc và sự nối kết ấy là những thành tố quan trọng trong việc tạo nên sức mạnh của đất nước.
Thứ năm, hiến pháp là khế ước giữa những người cai trị và những người bị trị.
Trong khế ước ấy, những người cai trị biết được giới hạn quyền lực của mình và những người bị trị chấp nhận vị thế bị trị của mình: Một mặt, họ thừa nhận quyền lực của giới lãnh đạo; mặt khác, họ tự nguyện tuân thủ các quy định trong hiến pháp.
Một hiến pháp lý tưởng, trong một quốc gia dân chủ thực sự, thường bao gồm các yếu tố chính:
Một, nhắm đến mục tiêu chính là giới hạn quyền lực của giới lãnh đạo. Quyền lực bao giờ cũng có khuynh hướng trở thành độc tôn và sẵn sàng chà đạp lên người khác. Hiến pháp được đặt ra, trước hết, là để ngăn chận tình trạng lạm quyền và lộng quyền ấy. Nó ngăn chận bằng cách đặt ra những quy trình đi đến quyền lực, sự phân bố quyền lực, những giới hạn của quyền lực và những sự kiểm soát nghiêm nhặt mà những người có quyền lực phải chấp nhận.
Hai, nhắm đến mục tiêu bảo vệ những người bị trị. Xin lưu ý: Hiến pháp, tự bản chất, được viết là để nhằm bảo vệ những người bị trị chứ không phải bảo vệ những người cai trị. Giới cai trị không cần được bảo vệ: Họ đã có sẵn mọi quyền lực để tự bảo vệ họ. Chỉ có những người bị trị, những người dân thường, những người có quyền (right) và đã ủy thác thẩm quyền (authority) cho những kẻ có quyền lực (power), mới cần được bảo vệ, trước hết và quan trọng hơn hết, bảo vệ quyền sống như một con người, quyền tự do như một cá nhân và quyền ủy thác như một công dân (thể hiện qua việc bầu cử một cách tự do, minh bạch và bình đẳng).
Ba, những giá trị được đề ra trong hiến pháp phải có tính chất phổ quát, nghĩa là đặt trên nền tảng tôn trọng nhân quyền với ba nội dung chính là: tôn trọng sự bình đẳng của con người, tôn trọng quyền tự do của cá nhân và tôn trọng quyền tham gia của mọi công dân trong quá trình điều hành đất nước.
Bốn, nó là một sự chỉ dẫn và cũng là một sự bảo đảm cho một hệ thống pháp quyền (rule of law) thực sự. Quan hệ giữa hiến pháp và pháp quyền là một quan hệ hai chiều: Hiến pháp tăng cường sức mạnh cho pháp quyền và pháp quyền, ngược lại, làm cho hiến pháp có hiệu lực và giá trị. Không có hiến pháp (thành văn hoặc bất thành văn), pháp quyền sẽ không có nội dung cụ thể, từ đó, không có ý nghĩa. Không có pháp quyền, hiến pháp chỉ là những sự tuyên truyền suông.
Ở trên là những ý nghĩa tích cực của hiến pháp. Nhận ra ý nghĩa ấy, trong thời hiện đại, hầu như mọi chính trị gia, một cách thực lòng hay chỉ giả vờ, đều bày tỏ sự quan tâm đến hiến pháp. Đó là lý do chính giải thích tính chất phổ thông, khẩn cấp và có vẻ thiết yếu của hiến pháp ở mọi quốc gia. Tuy nhiên, chính sự kiện nước nào cũng có hiến pháp, dân chủ có hiến pháp, đã đành; độc tài cũng có hiến pháp, và hiến pháp của họ có khi cũng rất hay, cho thấy là hiến pháp không nhất thiết gắn liền với dân chủ, tự do, nhân quyền và pháp quyền. Bản hiến pháp Mỹ năm 1789 đã trở thành nền tảng để xây dựng chế độ dân chủ ở Mỹ, và từ đó, ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới. Nhưng cũng với các bản hiến pháp dày cộm và đẹp đẽ trên tay, Stalin, Hitler và Mao Trạch Đông đã giết chết cả hàng chục triệu người, không thua kém bất cứ tên bạo chúa khát máu nào trong lịch sử nhân loại, kể cả ở các thời chưa từng có ý niệm hiến pháp. Trong ba người vừa kể, hầu hết các nạn nhân của Stalin và Mao Trạch Đông đều là chính dân chúng nước họ, những kẻ, trên nguyên tắc, được xem là đồng-tác giả của hiến pháp nước họ.
Điều đó cho thấy, một, tuy trên lý thuyết, hiến pháp ra đời cùng với ý niệm dân chủ, nhưng trên thực tế, tự bản thân nó, hiến pháp không là gì cả; và hai, hiến pháp có những mặt tiêu cực: được/bị sử dụng như một công cụ để trấn áp nhân dân.
Hiến pháp được/bị sử dụng cho những mục tiêu xấu như thế nào?
Thứ nhất, nó chỉ nhắm đến mục đích trao quyền nhưng lại làm ngơ trước vấn đề phân quyền và hạn chế quyền lực. Bằng cách ấy, nó chỉ có tác dụng củng cố chế độ độc tài và toàn trị.
Thứ hai, với dân chúng, nó chỉ đặt ra vấn đề bổn phận và trách nhiệm nhưng lại không nhấn mạnh vào các quyền chính trị, xã hội và pháp lý của họ. Bằng cách ấy, nó tước đoạt các quyền căn bản của người dân, biến dân chúng thành những tên nô lệ hiện đại nhằm phục vụ cho giới cầm quyền tham lam và tàn bạo.
Thứ ba, ngay cả khi được viết bằng một thứ ngôn ngữ rất tiến bộ, phù hợp với các yêu cầu chung trên thế giới, nhưng nếu không được thi hành, một bản hiến pháp cũng không có giá trị gì trừ việc trở thành cái cớ pháp lý để chính quyền đàn áp nhân dân.
Trong ba mục tiêu trên, hai mục tiêu đầu có thể được nhìn thấy ngay trên văn bản; mục tiêu thứ ba chỉ có thể được nhìn thấy bằng cách phân tích chu cảnh chính trị (political context) của quốc gia. Ở khía cạnh này, Việt Nam cũng giống hầu hết các quốc gia độc tài khác, thường sử dụng hiến pháp như một cách để biện chính cho quyền lực của mình và để tạo thế chính đáng cho chế độ của mình. Khi họ biết dân chúng đánh mất niềm tin ở họ, khi trong nước càng ngày càng có nhiều người phản đối họ, họ bèn bày vẽ ra chuyện viết lại hoặc sửa đổi hiến pháp, sau đó, thông qua hiến pháp để có thể lu loa với mọi người, trong cũng như ngoài nước, là họ đã được nhân dân ủy thác cả thẩm quyền và quyền lực. Tệ hơn nữa, sau đó, họ có thể sử dụng hiến pháp ấy như một công cụ để trấn áp dân chúng và duy trì sự độc tài của mình.
Nói hiến pháp là một con dao hai lưỡi là vì thế.
10,000 Cán Bộ CS Ra Hải Ngoại
Tác giả : Vi Anh
Tin Việt Báo, dẫn nguồn của Đảng Ủy Ngoài Nước, cơ quan phụ trách về “công tác Đảng” hải ngoại, tiết lộ hiện đang có “hơn mười nghìn đảng viên đang sinh hoạt trong các tổ chức đảng trực thuộc Đảng ủy Ngoài nước.” Và báo Nhân Dân, tiếng nói chánh thức của Đảng CSVN, ngày 6-3-2013 cũng không giấu diếm hiện nay có “hơn mười nghìn đảng viên đang sinh hoạt trong các tổ chức đảng trực thuộc Đảng ủy Ngoài nước.” Báo này cũng nói “có hơn 4,5 triệu người Việt Nam sinh sống, lao động và học tập tại 103 quốc gia và vùng lãnh thổ, hơn 500.000 lao động xuất khẩu, hơn 100.000 lưu học sinh,
Nếu tính về hoạt động sách động của CS, số 10.000 cán bộ này rất lớn. Vi trùng tuy nhỏ nhưng hoạt động, năng động nên có thể gây bịnh giết người nếu con người lơ là không phòng vệ, thiếu kháng thể. Ngày xưa trong làng xã VN Cộng Hoà, Việt Cộng chỉ có vài người. Nhưng VC đầu hôm bắn chỗ này vài phát, gần sáng đền chỗ kia bắn vài phát, anh em dân vệ, bảo an phải đối phó, mất ăn, mất ngủ, dân làng ngán đi chợ, không dám cho con đến trường, đợi chánh quyền mở đường rồi mới dám đi.
Với CS, kiểm soát người dân là công tác chính. Kiểm soát người dân ở ngoại quốc càng quan trọng hơn. Vì ở nội địa CS có nhiều định chế kềm kẹp, che dấu, tuyên truyển một chiều, người dân khó động tịnh, khó bày tỏ bất mãn, chống đối.
Còn ở ngoại quốc, nhứt là ở những nước Tây Phương văn minh, xã hội tự do, người dân tự do tìm đường mưu sinh, hạnh phúc. Người Việt ra khỏi nước đễ tìm cách ở lại qua hôn nhân, đầu tư nhập cư, hay sống không giấy tờ cũng có thể được như cả chục người Hispanics ở Mỹ,v.v...
Nên CS phải tổ chức kiểm soát chặt chẽ. Nhứt là ở những nước có người Việt tỵ nạn CS định cư như ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc đại đa số đã thành công dân sở tại như Mỹ, Úc, Pháp, người Việt “xuất cảng lao động”, công tác, du học, đầu tư, du lịch rất dễ tìm cách ở lại, do bà con giúp đỡ và luật pháp cũng dể dàng.
Bên cạnh công tác kiểm soát người Việt “xuất cảnh” (500 ngàn xuất khẩu lao động, 100 ngàn du học, hàng 100 ngàn du lịch, cán bộ đảng viên đi công tác), cán bộ CS ở hải ngoại còn phải làm công tác “địch vận” nữa – tức chống lại tập thể người Việt tỵ nạn CS mà CS Hà nội gọi là “lực lượng thù địch”.
Số người Việt tỵ nạn CS nay đã gần 40 năm rồi, quá một thế hệ xã hội học rồi. Số người này trên thực tế đã lập được kỳ tích: một Việt Nam Hải Ngoại rồi. Về tinh thần và chánh trị, tập thể Việt Nam Hải Ngoại này đã trở thành như “Pháp Quốc Hải Ngoại” thời nước Pháp bị Đức Quốc Xã chiếm đóng.
Nhờ tiến bộ khoa học, kỹ thuật của Tin Học, truyền thông tiếng Việt trong đó có phát thanh, phát hình, báo chí chuyển qua cable, satellite và Internet, các cộng đồng người Việt tỵ nạn CS ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc châu đã kết nối dễ dàng với nhau. Tuy không có chánh quyền, chưa có chánh phủ lưu vong cấp trung ương, không có riêng một lãnh thổ, nhưng nhờ có cảm nghĩ thuộc về nhau (sense of belonging), cùng chung một căn cước tỵ nạn CS, và chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN nên đã cùng làm ra một Việt Nam Hải ngoại.
CS Hà nội là những người chuyên môn lũng đoạn hàng ngũ người Việt Quốc gia và chuyên nghiệp cướp chánh quyền đâu có dễ gì buông tha cho những người Việt Nam hải Ngọai. Nên việc CS đánh phá các cộng đồng VN ở hải ngoại và VN hải ngoại là chuyện đương nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên cả. Chuyện họ tung hàng chục ngàn cán bộ đảng viên CS ra hải ngoại để làm công tác dân, địch vận, tuyên truyền đen trắng xám là chuyện bình thường trong chánh trị “địch và ta” của CS.
Một mặt CS dùng nhiều chiêu bài chiêu dụ như hòa giải hòa hợp, để quá khứ ra sau hướng về tương lai phía trước, đem tiền tài, tri thức, kinh nghiệm về xây dựng quê hương. Mặt khác lên án ai không theo CS là “lực lượng thù địch”, móc nối người trong cộng đồng bôi tro, trét trấu, hề hóa nhân vật công đồng và người Việt hải ngọai kiên định lập trường chống CS. Như CS tuyên truyền đen, trắng, xám rằng chống Cộng là “chống gậy”, biểu tình chống Cộng chỉ còn có ”bảy tám người”, đi biểu tình tranh dấu cho tự do tôn giáo, tự do, dân chủ, nhân quyền VN, tòan vẹn lãnh thổ VN bị chụp hình thì khó “tránh đâu” khi hữu sự xin visa về VN, v.v...
Nhưng hầu hết người Việt tỵ nạn CS là thành phần ưu tú của Việt Nam Cộng Hoà, thừa hưởng tinh thần quốc gia của quốc gia dân tộc VN, với cả triệu người Miền Bắc di cư vào Nam năm 1954.
Tinh thần quốc gia đó đã giúp cho tập thể người Việt tỵ nạn trong xã hội tự do tuy có khi bất đồng nhưng không bất hoà. Lúc nào cũng đứng chung trong mẫu số chống Cộng và bảo tồn văn hoá Việt.
Nhờ vậy nhiệm vụ bảo vệ cộng đồng là nhiệm vụ chung, nhiệm vụ của mỗi một người. Một em học sinh thấy cô giáo đưa cờ CS VN ra nói cớ VN, cũng thưa cô không phải và vế nhà thưa với ba má, ba má báo động với cộng đồng để can thiệp với trường trong việc bảo vệ màu cờ sắc áo của VN.
Đa số phê bình thái độ đứng ngòai chờ các tổ chức cộng đồng, hội đòan, đòan thể làm cho mình hưởng là thiếu tinh thần công dân giáo dục, thiếu tinh thần cộng đồng, thiều tình liên đới, và quên nguồn gốc của mình.
Và nhờ vậy mà mấy chục năm qua CS Hà nội không làm gì được Việt Nam Hải ngoại. Lãnh đạo nhà nước CSVN là những người bị đồng bào biểu tình chống đối nhứt thế giới. Cờ của CS chỉ treo được ru rú trong sứ quán. Vấn đề nhân quyền VN trở thành trở ngại trung tâm trong ngoại giao giữa Hà nội và các nước. Người Việt hải ngoại và đồng bào trong nước hết sợ CS, đang “bám thắc lưng địch” mà đấu tranh để giành lại quyển sống và quyền làm chủ đất nước./.( Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh
Tin Việt Báo, dẫn nguồn của Đảng Ủy Ngoài Nước, cơ quan phụ trách về “công tác Đảng” hải ngoại, tiết lộ hiện đang có “hơn mười nghìn đảng viên đang sinh hoạt trong các tổ chức đảng trực thuộc Đảng ủy Ngoài nước.” Và báo Nhân Dân, tiếng nói chánh thức của Đảng CSVN, ngày 6-3-2013 cũng không giấu diếm hiện nay có “hơn mười nghìn đảng viên đang sinh hoạt trong các tổ chức đảng trực thuộc Đảng ủy Ngoài nước.” Báo này cũng nói “có hơn 4,5 triệu người Việt Nam sinh sống, lao động và học tập tại 103 quốc gia và vùng lãnh thổ, hơn 500.000 lao động xuất khẩu, hơn 100.000 lưu học sinh,
Nếu tính về hoạt động sách động của CS, số 10.000 cán bộ này rất lớn. Vi trùng tuy nhỏ nhưng hoạt động, năng động nên có thể gây bịnh giết người nếu con người lơ là không phòng vệ, thiếu kháng thể. Ngày xưa trong làng xã VN Cộng Hoà, Việt Cộng chỉ có vài người. Nhưng VC đầu hôm bắn chỗ này vài phát, gần sáng đền chỗ kia bắn vài phát, anh em dân vệ, bảo an phải đối phó, mất ăn, mất ngủ, dân làng ngán đi chợ, không dám cho con đến trường, đợi chánh quyền mở đường rồi mới dám đi.
Với CS, kiểm soát người dân là công tác chính. Kiểm soát người dân ở ngoại quốc càng quan trọng hơn. Vì ở nội địa CS có nhiều định chế kềm kẹp, che dấu, tuyên truyển một chiều, người dân khó động tịnh, khó bày tỏ bất mãn, chống đối.
Còn ở ngoại quốc, nhứt là ở những nước Tây Phương văn minh, xã hội tự do, người dân tự do tìm đường mưu sinh, hạnh phúc. Người Việt ra khỏi nước đễ tìm cách ở lại qua hôn nhân, đầu tư nhập cư, hay sống không giấy tờ cũng có thể được như cả chục người Hispanics ở Mỹ,v.v...
Nên CS phải tổ chức kiểm soát chặt chẽ. Nhứt là ở những nước có người Việt tỵ nạn CS định cư như ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc đại đa số đã thành công dân sở tại như Mỹ, Úc, Pháp, người Việt “xuất cảng lao động”, công tác, du học, đầu tư, du lịch rất dễ tìm cách ở lại, do bà con giúp đỡ và luật pháp cũng dể dàng.
Bên cạnh công tác kiểm soát người Việt “xuất cảnh” (500 ngàn xuất khẩu lao động, 100 ngàn du học, hàng 100 ngàn du lịch, cán bộ đảng viên đi công tác), cán bộ CS ở hải ngoại còn phải làm công tác “địch vận” nữa – tức chống lại tập thể người Việt tỵ nạn CS mà CS Hà nội gọi là “lực lượng thù địch”.
Số người Việt tỵ nạn CS nay đã gần 40 năm rồi, quá một thế hệ xã hội học rồi. Số người này trên thực tế đã lập được kỳ tích: một Việt Nam Hải Ngoại rồi. Về tinh thần và chánh trị, tập thể Việt Nam Hải Ngoại này đã trở thành như “Pháp Quốc Hải Ngoại” thời nước Pháp bị Đức Quốc Xã chiếm đóng.
Nhờ tiến bộ khoa học, kỹ thuật của Tin Học, truyền thông tiếng Việt trong đó có phát thanh, phát hình, báo chí chuyển qua cable, satellite và Internet, các cộng đồng người Việt tỵ nạn CS ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc châu đã kết nối dễ dàng với nhau. Tuy không có chánh quyền, chưa có chánh phủ lưu vong cấp trung ương, không có riêng một lãnh thổ, nhưng nhờ có cảm nghĩ thuộc về nhau (sense of belonging), cùng chung một căn cước tỵ nạn CS, và chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN nên đã cùng làm ra một Việt Nam Hải ngoại.
CS Hà nội là những người chuyên môn lũng đoạn hàng ngũ người Việt Quốc gia và chuyên nghiệp cướp chánh quyền đâu có dễ gì buông tha cho những người Việt Nam hải Ngọai. Nên việc CS đánh phá các cộng đồng VN ở hải ngoại và VN hải ngoại là chuyện đương nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên cả. Chuyện họ tung hàng chục ngàn cán bộ đảng viên CS ra hải ngoại để làm công tác dân, địch vận, tuyên truyền đen trắng xám là chuyện bình thường trong chánh trị “địch và ta” của CS.
Một mặt CS dùng nhiều chiêu bài chiêu dụ như hòa giải hòa hợp, để quá khứ ra sau hướng về tương lai phía trước, đem tiền tài, tri thức, kinh nghiệm về xây dựng quê hương. Mặt khác lên án ai không theo CS là “lực lượng thù địch”, móc nối người trong cộng đồng bôi tro, trét trấu, hề hóa nhân vật công đồng và người Việt hải ngọai kiên định lập trường chống CS. Như CS tuyên truyền đen, trắng, xám rằng chống Cộng là “chống gậy”, biểu tình chống Cộng chỉ còn có ”bảy tám người”, đi biểu tình tranh dấu cho tự do tôn giáo, tự do, dân chủ, nhân quyền VN, tòan vẹn lãnh thổ VN bị chụp hình thì khó “tránh đâu” khi hữu sự xin visa về VN, v.v...
Nhưng hầu hết người Việt tỵ nạn CS là thành phần ưu tú của Việt Nam Cộng Hoà, thừa hưởng tinh thần quốc gia của quốc gia dân tộc VN, với cả triệu người Miền Bắc di cư vào Nam năm 1954.
Tinh thần quốc gia đó đã giúp cho tập thể người Việt tỵ nạn trong xã hội tự do tuy có khi bất đồng nhưng không bất hoà. Lúc nào cũng đứng chung trong mẫu số chống Cộng và bảo tồn văn hoá Việt.
Nhờ vậy nhiệm vụ bảo vệ cộng đồng là nhiệm vụ chung, nhiệm vụ của mỗi một người. Một em học sinh thấy cô giáo đưa cờ CS VN ra nói cớ VN, cũng thưa cô không phải và vế nhà thưa với ba má, ba má báo động với cộng đồng để can thiệp với trường trong việc bảo vệ màu cờ sắc áo của VN.
Đa số phê bình thái độ đứng ngòai chờ các tổ chức cộng đồng, hội đòan, đòan thể làm cho mình hưởng là thiếu tinh thần công dân giáo dục, thiếu tinh thần cộng đồng, thiều tình liên đới, và quên nguồn gốc của mình.
Và nhờ vậy mà mấy chục năm qua CS Hà nội không làm gì được Việt Nam Hải ngoại. Lãnh đạo nhà nước CSVN là những người bị đồng bào biểu tình chống đối nhứt thế giới. Cờ của CS chỉ treo được ru rú trong sứ quán. Vấn đề nhân quyền VN trở thành trở ngại trung tâm trong ngoại giao giữa Hà nội và các nước. Người Việt hải ngoại và đồng bào trong nước hết sợ CS, đang “bám thắc lưng địch” mà đấu tranh để giành lại quyển sống và quyền làm chủ đất nước./.( Vi Anh)
Tiền có cứu được đảng hay không?
Ngô Nhân Dụng
Hôm Thứ Năm, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam công bố kế hoạch sẽ bơm 30 ngàn tỷ đồng (1.4 tỷ đôla Mỹ) vào nền kinh tế để cứu khu vực bất động sản và giải quyết khối nợ xấu đè nặng trên hệ thống ngân hàng.
Theo thông tư chính thức thì kế hoạch này, sẽ áp dụng trong ba năm kể từ ngày 15 Tháng Tư, nhằm giúp các người dân muốn mua nhà nhỏ. Nhưng mục đích chính ai cũng thấy là họ muốn cứu các ngân hàng của nhà nước đang ôm cả đống “nợ xấu;” đồng thời cứu cả những người đang ôm những cao ốc đang xây nửa chừng phải ngưng, hoặc ngôi nhà hay căn hộ không thể đem bán hay cho thuê được. Tóm lại, là đem tiền chung của toàn dân ra giúp một số những tay đầu cơ bất động sản; cùng các ngân hàng tham dự vào cơn sốt đầu cơ địa ốc trong mấy năm qua.
Năm năm trước, nhiều người nghĩ Việt Nam là một nền kinh tế đang lên, một con cọp Á Châu mới, với triển vọng chạy theo các con cọp Nam Hàn, Ðài Loan, Singapore thời 1980. Nhưng trong ba năm qua, kinh tế Việt Nam chìm ngập trong lạm phát, thất nghiệp, tỷ lệ tăng trưởng giảm sút, hệ thống ngân hàng sa lầy vì quả bong bóng địa ốc được thổi phồng lên đang chờ sắp bể. Hành động bơm gần tỷ rưỡi đô la vào hệ thống ngân hàng trước hết là để cứu thị trường địa ốc. Giống như kinh tế Mỹ hiện nay đang bị trì trệ vì giá địa ốc sụt giảm chưa lên, kinh tế Việt Nam cũng khó hy vọng cải thiện nếu thị trường địa ốc sống ngắc ngoải.
Hơn một tỷ đô la được bơm vào sẽ cứu rất nhiều người. Những người đó là ai? Các nhà đầu cơ địa ốc ở Việt Nam phần lớn chính là các viên chức đảng cộng sản đứng đầu các doanh nghiệp nhà nước, những cán bộ trong ngành tài chánh, ngân hàng, và những người liên hệ mật thiết với họ. Họ không cần dùng tiến vốn riêng mà có thể dùng ngay tiền của các doanh nghiệp nhà nước để đầu cơ bất động sản. Trên hết, họ có thể vay tiền dễ dàng của các ngân hàng do đảng cộng sản kiểm soát để mua nhà, đất rồi bán lại kiếm lời. Ðây là một thị trường địa ốc không theo luật cung cầu tự nhiên.
Trong các nền kinh tế bình thường, số nhà cửa được xây cất là do nhu cầu của người tiêu thụ. Thị trường địa ốc lên hay xuống trước hết là do số cầu thúc đẩy. Thị trường có thể mất quân bình khi số cầu lên quá cao vì chính sách tiền tệ dễ dãi. Khi đó, nhiều người không đủ khả năng trả nợ cũng vay để mua nhà và được ngân hàng chấp nhận cho vay, như đã thấy ở Mỹ trong những năm trước 2007; vì thế gây ra khủng hoảng. Nhưng ở Việt Nam, thị trường địa ốc lại được thúc đẩy vì số cung; và cơn khủng hoảng cũng từ đó sinh ra.
Những người có quyền kiểm soát các món tiền lớn, đứng đầu các ngân hàng và xí nghiệp quốc doanh, họ nắm tiền trong tay nhưng không nghĩ tới, hoặc không biết cách sử dụng tiền vào các việc đầu tư ích lợi cho xí nghiệp và tạo công việc làm. Họ lại thấy phương pháp dùng tiền sinh lợi dễ dàng nhất là địa ốc. Số tiền họ đem vào thị trường này đẩy giá nhà, đất lên cao, tạo ra một thứ nhu cầu không có thật. Nhiều người khác, các tư nhân, thấy giá lên thì cũng đua nhau mua để hy vọng sẽ bán kiếm lời. Các công ty xây dựng thúc đẩy cho thị trường lên cao hơn với những dự án xây cất các khu cư trú đắt tiền. Họ được các quan chức trong đảng cộng sản hỗ trợ vì thấy có lợi. Trước hết là các quan chức địa phương tìm cách chiếm đất của nông dân để bán cho các công ty xây dựng với giá cao hơn. Thuế mua bán địa ốc lại là một nguồn thu lợi lớn trong ngân sách các thành phố và thị xã, cho nên người ta càng khuyến khích xây cất thêm.
Một lý do khác khiến việc xây cất được đẩy mạnh dù không có nhu cầu tiêu thụ, là các quan chức trung ương nắm quyền ký giấy phép xây cất. Một chữ ký cho phép xây một khu gia cư có thể đem lại những món tiền hối lộ hàng chục triệu Mỹ kim, hoặc nhiều hơn. Ngay khi nhận được giấy phép, nhà thầu đã sẵn sàng dâng cho các quan chức món quà họ sẽ tặng, là dành riêng cho các quan một khu đất nào đẹp nhất, một ngôi nhà to nhất, tùy ý lựa chọn, và cho đứng tên ai thụ hưởng cũng được! Ðây là một cách hối lộ ít dấu vết và rất dễ chối tội nếu có người khui ra.
Loại quan chức, cán bộ thứ ba là những người ngồi ở các ngân hàng, có quyền khai thác việc xây cất để kiếm lợi riêng. Mỗi chữ ký cho vay tiền của họ cũng có giá trị ngang chữ ký cho phép của các quan trong Bộ Xây Dựng! Hơn nữa, chính các quan chức có quyền sử dụng tiền của công dùng tiền đầu cơ địa ốc đã đẩy giá lên cao hơn. Năm 2011, lợi tức đầu người của Việt Nam đứng hàng thứ 120 trên thế giới; nhưng chỉ số giá nhà đất cao đứng hàng thứ 20! Với nhu cầu kiếm chác của các quan chức ba loại trên, thị trường địa ốc ở Việt Nam đã phát triển mạnh trong mấy năm; mặc dù không liên quan đến nhu cầu nhà đất của người tiêu thụ. Khi kinh tế xuống thấp, cả thị trường địa ốc bị tê liệt, như đã thấy trong hai năm qua.
Nền kinh tế trì trệ từ năm 2011 là một đòn giáng nặng vào nhóm người đầu cơ địa ốc. Năm 2008 tiền thuê văn phòng ở Sài Gòn có lúc giá lên tới 80 đô la một mét vuông, đầu năm 2012 xuống chỉ còn 30 đô la, nếu có người thuê. Tại các thành phố lớn, từ Sài Gòn ra Hà Nội, hàng trăm công trường đang xây cất dở dang bị bỏ phế. Một dự án cao ốc xây được một tầng thì bỏ ngang, biến cả tầng dưới cùng thành nơi cho thuê để xe gắn máy, cho các anh “bảo vệ” kiếm chút cháo! Tại Hà Nội, công ty địa ốc quốc doanh của thành phố trước đây có 600 nhân viên, đến năm 2012 chỉ còn 60 người làm việc.
Khi nhà cửa xây lên bán không được, các nhà thầu không có tiền trả nợ các ngân hàng, các ngân hàng chứa đầy những món nợ xấu. Ngay lúc đó, chính các ngân hàng lại bị khó khăn vì chính quyền lo chống lạm phát, ra lệnh phải giảm số tiền cho vay. Trong ba năm từ năm 2010, số xí nghiệp bị phá sản đã tăng vọt vì không thể đi vay nợ mới để trang trải nợ cũ. Ngân Hàng Trung Ương năm ngoái thú nhận có 10% số nợ trong cả hệ thống ngân hàng không thể đòi lại được; tỷ lệ nợ xấu cao nhất cả vùng Ðông Châu Á. Nhưng ngân hàng Standard Chartered ở Hồng Kông ước tính tỷ lệ nợ xấu từ 15% đến 20%.
Ðầu Tháng Ba vừa qua, Hiệp Hội Bất Ðộng Sản thành phố tại Sài Gòn đã xin chính phủ đánh thuế vào các tài khoản tiết kiệm trên 500 triệu đồng gửi trong các ngân hàng; để lấy số tiền đó “hỗ trợ cho các doanh nghiệp khác.” Nói giản dị, họ xin đảng cộng sản thu tiền của dân trong nhóm này, rồi bỏ vào túi một nhóm khác! Mà nhóm khác họ muốn giúp đó, không cần nói, ai cũng biết là các công ty bất động sản, đại đa số là các cán bộ, quan chức đã đi đầu cơ! Trước những lời phản đối của các công dân mạng, chính quyền cộng sản không dám đặt ra thứ thuế này. Thay vào đó, kế hoạch bơm 30 ngàn tỷ đồng vào hệ thống ngân hàng nhằm mục tiêu giúp các ngân hàng của nhà nước đang chồng chất nợ xấu; cũng là một hành động đáp ứng đòi hỏi của các nhà đầu cơ địa ốc. Nhưng họ cứu chữa cơn khủng hoảng này được không, và được bao lâu?
Nếu tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam là từ 10%, con số của Ngân Hàng Nhà Nước, đến 20% là con số các ngân hàng ngoại quốc ước tính; thì riêng trong lãnh vực địa ốc, số nợ xấu phải cao hơn, có thể từ 20 đến 30%. Lấy số trung bình, coi như 25%, một phần tư, các món nợ xây cất và buôn bất động sản không thể đòi được. Tháng Tám năm 2012, Bộ Xây Dựng ở Việt Nam cho biết tổng số nợ liên quan đến ngành bất động sản là khoảng 1 triệu tỷ đồng, tức 47.8 tỷ đôla Mỹ. Bây giờ có thể tính tròn con số đó lên 60 tỷ. Tính 25% tỷ số nợ xấu, thì trong lãnh vực địa ốc số nợ khó đòi lại cũng lên tới 15 tỷ đô la.
Số tiền 1.4 tỷ đô la sắp bơm vào hệ thống ngân hàng và thị trường bất động sản chưa bằng một phần 10 tổng số nợ xấu trong ngành địa ốc. Ðây cũng là một hành động lấy tiền chung của toàn dân đem đi cứu các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các quan chức đảng. Nhưng cứu được bao lâu? Việc bơm tiền vào thị trường bất động sản có thể gây ra một phản ứng ngược, là các chuyên gia đầu cơ thấy có thể vay tiền dễ dàng (chắc chắn họ vay dễ hơn và sẽ được vay trước những người dân bình thường); họ lại đi vay thêm để tiếp tục đầu cơ nữa, vì họ thấy triển vọng nhiều người khác sẽ có tiền mua nhà. Và như vậy thì thị trường địa ốc sẽ thêm một cơn sốt khác trước khi bể vỡ.
Trong khi toàn dân phải đối phó với cảnh kinh tế trì trệ, đem tiền đi giúp các nhà đầu cơ bất động sản chỉ khiến nỗi uất ức của dân chúng càng lên cao. Người dân đang thấy rõ là kinh tế chỉ có thể phục hoạt được nếu cả hệ thống kinh tế được thay đổi, với những người có khả năng biết lo cho dân chứ không phải chỉ biết lo cho bè đảng, tay chân của mình.
Ngô Nhân Dụng
Hôm Thứ Năm, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam công bố kế hoạch sẽ bơm 30 ngàn tỷ đồng (1.4 tỷ đôla Mỹ) vào nền kinh tế để cứu khu vực bất động sản và giải quyết khối nợ xấu đè nặng trên hệ thống ngân hàng.
Theo thông tư chính thức thì kế hoạch này, sẽ áp dụng trong ba năm kể từ ngày 15 Tháng Tư, nhằm giúp các người dân muốn mua nhà nhỏ. Nhưng mục đích chính ai cũng thấy là họ muốn cứu các ngân hàng của nhà nước đang ôm cả đống “nợ xấu;” đồng thời cứu cả những người đang ôm những cao ốc đang xây nửa chừng phải ngưng, hoặc ngôi nhà hay căn hộ không thể đem bán hay cho thuê được. Tóm lại, là đem tiền chung của toàn dân ra giúp một số những tay đầu cơ bất động sản; cùng các ngân hàng tham dự vào cơn sốt đầu cơ địa ốc trong mấy năm qua.
Năm năm trước, nhiều người nghĩ Việt Nam là một nền kinh tế đang lên, một con cọp Á Châu mới, với triển vọng chạy theo các con cọp Nam Hàn, Ðài Loan, Singapore thời 1980. Nhưng trong ba năm qua, kinh tế Việt Nam chìm ngập trong lạm phát, thất nghiệp, tỷ lệ tăng trưởng giảm sút, hệ thống ngân hàng sa lầy vì quả bong bóng địa ốc được thổi phồng lên đang chờ sắp bể. Hành động bơm gần tỷ rưỡi đô la vào hệ thống ngân hàng trước hết là để cứu thị trường địa ốc. Giống như kinh tế Mỹ hiện nay đang bị trì trệ vì giá địa ốc sụt giảm chưa lên, kinh tế Việt Nam cũng khó hy vọng cải thiện nếu thị trường địa ốc sống ngắc ngoải.
Hơn một tỷ đô la được bơm vào sẽ cứu rất nhiều người. Những người đó là ai? Các nhà đầu cơ địa ốc ở Việt Nam phần lớn chính là các viên chức đảng cộng sản đứng đầu các doanh nghiệp nhà nước, những cán bộ trong ngành tài chánh, ngân hàng, và những người liên hệ mật thiết với họ. Họ không cần dùng tiến vốn riêng mà có thể dùng ngay tiền của các doanh nghiệp nhà nước để đầu cơ bất động sản. Trên hết, họ có thể vay tiền dễ dàng của các ngân hàng do đảng cộng sản kiểm soát để mua nhà, đất rồi bán lại kiếm lời. Ðây là một thị trường địa ốc không theo luật cung cầu tự nhiên.
Trong các nền kinh tế bình thường, số nhà cửa được xây cất là do nhu cầu của người tiêu thụ. Thị trường địa ốc lên hay xuống trước hết là do số cầu thúc đẩy. Thị trường có thể mất quân bình khi số cầu lên quá cao vì chính sách tiền tệ dễ dãi. Khi đó, nhiều người không đủ khả năng trả nợ cũng vay để mua nhà và được ngân hàng chấp nhận cho vay, như đã thấy ở Mỹ trong những năm trước 2007; vì thế gây ra khủng hoảng. Nhưng ở Việt Nam, thị trường địa ốc lại được thúc đẩy vì số cung; và cơn khủng hoảng cũng từ đó sinh ra.
Những người có quyền kiểm soát các món tiền lớn, đứng đầu các ngân hàng và xí nghiệp quốc doanh, họ nắm tiền trong tay nhưng không nghĩ tới, hoặc không biết cách sử dụng tiền vào các việc đầu tư ích lợi cho xí nghiệp và tạo công việc làm. Họ lại thấy phương pháp dùng tiền sinh lợi dễ dàng nhất là địa ốc. Số tiền họ đem vào thị trường này đẩy giá nhà, đất lên cao, tạo ra một thứ nhu cầu không có thật. Nhiều người khác, các tư nhân, thấy giá lên thì cũng đua nhau mua để hy vọng sẽ bán kiếm lời. Các công ty xây dựng thúc đẩy cho thị trường lên cao hơn với những dự án xây cất các khu cư trú đắt tiền. Họ được các quan chức trong đảng cộng sản hỗ trợ vì thấy có lợi. Trước hết là các quan chức địa phương tìm cách chiếm đất của nông dân để bán cho các công ty xây dựng với giá cao hơn. Thuế mua bán địa ốc lại là một nguồn thu lợi lớn trong ngân sách các thành phố và thị xã, cho nên người ta càng khuyến khích xây cất thêm.
Một lý do khác khiến việc xây cất được đẩy mạnh dù không có nhu cầu tiêu thụ, là các quan chức trung ương nắm quyền ký giấy phép xây cất. Một chữ ký cho phép xây một khu gia cư có thể đem lại những món tiền hối lộ hàng chục triệu Mỹ kim, hoặc nhiều hơn. Ngay khi nhận được giấy phép, nhà thầu đã sẵn sàng dâng cho các quan chức món quà họ sẽ tặng, là dành riêng cho các quan một khu đất nào đẹp nhất, một ngôi nhà to nhất, tùy ý lựa chọn, và cho đứng tên ai thụ hưởng cũng được! Ðây là một cách hối lộ ít dấu vết và rất dễ chối tội nếu có người khui ra.
Loại quan chức, cán bộ thứ ba là những người ngồi ở các ngân hàng, có quyền khai thác việc xây cất để kiếm lợi riêng. Mỗi chữ ký cho vay tiền của họ cũng có giá trị ngang chữ ký cho phép của các quan trong Bộ Xây Dựng! Hơn nữa, chính các quan chức có quyền sử dụng tiền của công dùng tiền đầu cơ địa ốc đã đẩy giá lên cao hơn. Năm 2011, lợi tức đầu người của Việt Nam đứng hàng thứ 120 trên thế giới; nhưng chỉ số giá nhà đất cao đứng hàng thứ 20! Với nhu cầu kiếm chác của các quan chức ba loại trên, thị trường địa ốc ở Việt Nam đã phát triển mạnh trong mấy năm; mặc dù không liên quan đến nhu cầu nhà đất của người tiêu thụ. Khi kinh tế xuống thấp, cả thị trường địa ốc bị tê liệt, như đã thấy trong hai năm qua.
Nền kinh tế trì trệ từ năm 2011 là một đòn giáng nặng vào nhóm người đầu cơ địa ốc. Năm 2008 tiền thuê văn phòng ở Sài Gòn có lúc giá lên tới 80 đô la một mét vuông, đầu năm 2012 xuống chỉ còn 30 đô la, nếu có người thuê. Tại các thành phố lớn, từ Sài Gòn ra Hà Nội, hàng trăm công trường đang xây cất dở dang bị bỏ phế. Một dự án cao ốc xây được một tầng thì bỏ ngang, biến cả tầng dưới cùng thành nơi cho thuê để xe gắn máy, cho các anh “bảo vệ” kiếm chút cháo! Tại Hà Nội, công ty địa ốc quốc doanh của thành phố trước đây có 600 nhân viên, đến năm 2012 chỉ còn 60 người làm việc.
Khi nhà cửa xây lên bán không được, các nhà thầu không có tiền trả nợ các ngân hàng, các ngân hàng chứa đầy những món nợ xấu. Ngay lúc đó, chính các ngân hàng lại bị khó khăn vì chính quyền lo chống lạm phát, ra lệnh phải giảm số tiền cho vay. Trong ba năm từ năm 2010, số xí nghiệp bị phá sản đã tăng vọt vì không thể đi vay nợ mới để trang trải nợ cũ. Ngân Hàng Trung Ương năm ngoái thú nhận có 10% số nợ trong cả hệ thống ngân hàng không thể đòi lại được; tỷ lệ nợ xấu cao nhất cả vùng Ðông Châu Á. Nhưng ngân hàng Standard Chartered ở Hồng Kông ước tính tỷ lệ nợ xấu từ 15% đến 20%.
Ðầu Tháng Ba vừa qua, Hiệp Hội Bất Ðộng Sản thành phố tại Sài Gòn đã xin chính phủ đánh thuế vào các tài khoản tiết kiệm trên 500 triệu đồng gửi trong các ngân hàng; để lấy số tiền đó “hỗ trợ cho các doanh nghiệp khác.” Nói giản dị, họ xin đảng cộng sản thu tiền của dân trong nhóm này, rồi bỏ vào túi một nhóm khác! Mà nhóm khác họ muốn giúp đó, không cần nói, ai cũng biết là các công ty bất động sản, đại đa số là các cán bộ, quan chức đã đi đầu cơ! Trước những lời phản đối của các công dân mạng, chính quyền cộng sản không dám đặt ra thứ thuế này. Thay vào đó, kế hoạch bơm 30 ngàn tỷ đồng vào hệ thống ngân hàng nhằm mục tiêu giúp các ngân hàng của nhà nước đang chồng chất nợ xấu; cũng là một hành động đáp ứng đòi hỏi của các nhà đầu cơ địa ốc. Nhưng họ cứu chữa cơn khủng hoảng này được không, và được bao lâu?
Nếu tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam là từ 10%, con số của Ngân Hàng Nhà Nước, đến 20% là con số các ngân hàng ngoại quốc ước tính; thì riêng trong lãnh vực địa ốc, số nợ xấu phải cao hơn, có thể từ 20 đến 30%. Lấy số trung bình, coi như 25%, một phần tư, các món nợ xây cất và buôn bất động sản không thể đòi được. Tháng Tám năm 2012, Bộ Xây Dựng ở Việt Nam cho biết tổng số nợ liên quan đến ngành bất động sản là khoảng 1 triệu tỷ đồng, tức 47.8 tỷ đôla Mỹ. Bây giờ có thể tính tròn con số đó lên 60 tỷ. Tính 25% tỷ số nợ xấu, thì trong lãnh vực địa ốc số nợ khó đòi lại cũng lên tới 15 tỷ đô la.
Số tiền 1.4 tỷ đô la sắp bơm vào hệ thống ngân hàng và thị trường bất động sản chưa bằng một phần 10 tổng số nợ xấu trong ngành địa ốc. Ðây cũng là một hành động lấy tiền chung của toàn dân đem đi cứu các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các quan chức đảng. Nhưng cứu được bao lâu? Việc bơm tiền vào thị trường bất động sản có thể gây ra một phản ứng ngược, là các chuyên gia đầu cơ thấy có thể vay tiền dễ dàng (chắc chắn họ vay dễ hơn và sẽ được vay trước những người dân bình thường); họ lại đi vay thêm để tiếp tục đầu cơ nữa, vì họ thấy triển vọng nhiều người khác sẽ có tiền mua nhà. Và như vậy thì thị trường địa ốc sẽ thêm một cơn sốt khác trước khi bể vỡ.
Trong khi toàn dân phải đối phó với cảnh kinh tế trì trệ, đem tiền đi giúp các nhà đầu cơ bất động sản chỉ khiến nỗi uất ức của dân chúng càng lên cao. Người dân đang thấy rõ là kinh tế chỉ có thể phục hoạt được nếu cả hệ thống kinh tế được thay đổi, với những người có khả năng biết lo cho dân chứ không phải chỉ biết lo cho bè đảng, tay chân của mình.
Câu chuyện nhỏ của tôi
Phạm Thanh Nghiên
Tôi bị bắt với một lý do rất... cười: tọa kháng tại nhà với biểu ngữ (được phía Cơ quan An ninh điều tra kết luận rằng mang nội dung xấu): “Trường Sa - Hoàng Sa là của Việt Nam. Phản đối công hàm bán nước ngày 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng”. Hơn 16 tháng sau ra tòa, tôi nhận bản án 4 năm tù giam, thêm 3 năm quản chế về cái gọi là tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” mà không hề dính dáng đến việc “tọa kháng”, hành vi trực tiếp được nhà cầm quyền làm lý cớ bắt bỏ tù.
Hai chứng nhân “quan trọng” được đưa từ Thanh Hóa vào làm công cụ buộc tội bị cáo. Ông Nhiểm, ông Kính trông tội nghiệp với bộ mặt méo mó, khắc khổ ngồi lọt thỏm, bị bao vây giữa vô vàn những mật vụ dưới hàng ghế dự khán, thay vì ở vị trí dành cho người làm chứng theo quy định một phiên tòa: “Nếu thời gian quay trở lại hoặc có cơ hội khác, tôi vẫn sẽ giúp đỡ họ - những ngư dân Thanh Hóa - dù tôi biết trước có thể những con người này sẽ quay lại kết tội tôi. Họ buộc phải làm thế. Và tôi sẵn sàng tha thứ cho họ.” Tôi đã nói những lời này trước tòa dành cho những ngư dân Thanh Hóa tôi đã gặp và giúp đỡ hồi cuối tháng hai năm 2008.
Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi sẽ không tường thuật lại chuyến đi Thanh Hóa cùng Ngô Quỳnh. Bạn đọc nào quan tâm và muốn tìm hiểu sự thật, xin tìm đọc bài viết “Uất ức - biển ta ơi!” tôi viết năm 2008. Tôi tin rằng, nếu ai còn là người Việt Nam thì không thể không đau xót trước việc đồng bào mình bị bắt giết ngay trên lãnh hải của Tổ Quốc mình, cũng như không thể phủ nhận Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Chỉ vì vạch trần và tố cáo một sự thật bị Đảng và Nhà nước giấu nhẹm, chỉ vì đòi quyền lợi chính đáng cho những nạn nhân, ngư dân Thanh Hóa mà tôi và Ngô Quỳnh đã bị tước mất tự do - dù là một thứ tự do đang hấp hối.
Biệt giam:
Những ngày đầu, tôi bị giam chung với các nữ tù hình sự khác. Trong cuộc vật lộn mưu sinh, trở thành đủ loại tội phạm (họ vẫn thường tự hào rằng phải rất bản lĩnh mới dám thách thức pháp luật) thì sự xuất hiện của một cô gái nhỏ bé bị gán tội “chống Nhà Nước...” là điều ngoài sức tưởng tượng. Từ ngạc nhiên, tò mò rồi thiện cảm, chúng tôi trở nên gần gũi với nhau. Được vài hôm, những ánh mắt thân thiện, cảm mến biến mất. Thay vào đó là thái độ dè dặt, lảng tránh pha chút sợ sệt. Chính sách cô lập bắt đầu có hiệu quả!
Sắp đến giờ cơm chiều. Tiếng ổ khóa vang lên chát chúa. Tiếp đó là giọng nói lạnh tanh của quản giáo: “Phạm Thanh Nghiên chuẩn bị nội vụ!”. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía tôi, lo lắng, thương cảm, hoảng hốt: “Chết rồi, bị đi ép cung rồi”, “chị ơi! Biệt giam rồi.”, “khổ thân, người bé như cái kẹo, chịu sao nổi cháu ơi”. Mỗi người góp một tí, từ chai mắm, gói lạc, ít bột canh, cuộn băng vệ sinh... tất cả được đùm vào một túi ni-lông, ấn vội vào tay tôi. Tôi không đủ thời gian đùn đẩy. Nhận cũng tốt. Đây sẽ là vốn liếng giúp tôi “cầm cự”, chờ đợi đến lúc nhận được quà tiếp tế từ gia đình. Tôi không sợ biệt giam, không sợ bị ép cung. Tôi sợ những ánh mắt thương cảm của họ. Những tình cảm rất con người mà vì một sức ép đáng sợ nào đó, họ đã buộc phải thủ tiêu đi.
Tôi bước ra cửa, không ngoái lại nhìn. Sau lưng, vài giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhà tù, thì ra vẫn còn chỗ cho tình thương yêu và lòng nhân ái.
Dẫn tôi đi là người cán bộ tên C. Sau này tôi được nghe nhiều chuyện về ông ta, chủ yếu thành tích làm giàu bất chính và đánh tù. Tôi cắp túi quần áo, chân đất đi trên những con hẻm nhếch nhác vì mưa phùn, qua những dãy nhà giam lạnh ngắc và cũ kỹ. Trong những bức tường lặng câm kia là những sự chờ đợi và tuyệt vọng. Chờ đợi để được phán xử không theo cách của con người, rồi hiến mình cho sự khổ ải và hao mòn trong các trại cải tạo.
Khu giam giữ mới có khoảng sân khá rộng. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, C giao tôi cho đồng nghiệp. Tôi đi theo K, cảm giác như đang bị nuốt vào một đường hầm. Lần đầu tiên kể từ khi bị bắt, tôi mới thực sự thấy hết cái âm u của chốn ngục tù. Chỉ khi dừng lại, tôi mới biết mình đang đứng trước một cánh cửa. Cửa mở, hai đồng tử của tôi giãn ra: đây là nơi dành cho con người ư?
Cái gọi là buồng giam rộng chừng 6m2. Hai bệ xi-măng đối diện nhau (chừa một lối đi hẹp ở giữa, tù quen gọi là “xa lộ”) dùng làm chỗ nằm. Từ cửa đến chân bệ nằm còn khoảng trống nho nhỏ để đồ ăn. Trong buồng không có nhà vệ sinh nên phải dùng bô. Chỗ để bô cách chỗ để đồ ăn chừng 3 bước chân. Một trong hai bệ nằm có gắn cố định một cùm sắt, dùng để cùm chân những người tù bị kỷ luật hoặc tử tù chờ ngày thi hành án. Tôi vào sau L vài ngày, đương nhiên phải nằm chung với cái cùm. L thường mắng tôi vì tội hay cho chân vào cùm. Bảo tôi không chịu kiêng kỵ, có ngày bị cùm thật cũng nên. Hàng ngày tôi đi bộ dọc trên “xa lộ”, coi như tập thể dục. Đoạn đường ngắn mấy bước chân, đi vài vòng phải nghỉ một lần để khỏi chóng mặt.
Mỗi ngày hai lần: sáng và chiều, công an mở cửa cho tù nhân ra ngoài làm vệ sinh cá nhân và lấy cơm. Mỗi lần chừng 20 đến 30 phút. Hầu như ngày nào tôi cũng phải đi cung nên mọi việc, từ giặt giũ, đổ bô, lấy cơm, rửa bát… L phải kiêm hết. Có hôm, chưa làm vệ sinh xong, điều tra viên đã đứng đợi ngoài cửa. Chắc chỉ có tù nhân lương tâm chúng tôi mới phải trải qua tình trạng ngồi bệ xí trong sự chờ đợi và thúc giục của cả cai tù lẫn điều tra viên mà thôi. Gần 4 tháng biệt giam, tôi phải đi cung hàng chục lần, chưa kể thời gian ở buồng chung hơn một năm. Chuyện này xin được kể trong một dịp khác.
L có tật xấu, đi ngoài vô tội vạ, không theo giờ giấc. Nhiều hôm cứ đóng cửa buồng cô nàng mới đi, mỗi lần như thế lại chữa ngượng: “Em luyện mãi mà không được, cứ nhìn thấy công an là nó lại thụt vào. Hình như c*t sợ công an chị ạ”. Hai cái bô chứa đầy “sản phẩm” của L. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Đã thế, cô nàng còn lên lớp tôi: “Chị phải uống thật nhiều nước mới tốt cho sức khỏe, người đâu mà gầy đét, trông chán lắm”. Tôi bảo: “Có hai cái ngai vàng, mày ngự cả hai, chị uống nhiều nước thì chứa vào đâu?”. Cô nàng nhe hàm răng ám khói thuốc cười trừ. Nhìn L, tôi thấm thía hai câu thơ (được cho là của ông Hồ): “Cửa tù khi mở không đau bụng, đau bụng thì không mở cửa tù”.
Cánh cửa sắt, may quá có sáu lỗ thông hơi (to bằng quả trứng chim cút) - thứ duy nhất làm chúng tôi tạm quên mình đang ở trong một cái hộp. Hàng ngày được ra ngoài, tôi thường vãi cơm ra sân để dụ lũ chim sẻ đến. Qua sáu cái lỗ thông hơi quý giá đó, tôi và L luân phiên nhau chiêm ngưỡng, ngắm nghía chúng. L ước: “Giá biết bay như chúng, em sẽ bay về ôm hôn thằng Cu cho thật đã”. Rồi như tiếc rẻ “Nhưng làm con chim bay được thì lại không lắc, không phê được. Làm người như em, tuy tù tội nhưng được biết mùi đời. Sướng thân! Như chị thì thiệt, chả biết đếch gì. Chán chết”. Tôi không thích tranh cãi với L những lúc như thế. Lũ chim vô tâm, chúng nhặt nhạnh những hạt cơm cuối cùng rồi bay đi, mặc kệ tôi ngẩn ngơ. Không có cách nào gọi chúng lại. Tôi tủi thân, đâm ra giận chúng, hôm sau không vãi cơm cho chúng nữa. Theo thói quen, lũ chim bay đến ngơ ngác, tìm kiếm rồi bỏ đi. Tôi buồn! Từ đó không dám tự trừng phạt mình nữa.
Một lần đi cung:
Một vật gì giống như con rắn nằm lù lù giữa sân. Vừa nhận ra thứ đó dành cho mình, một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Sau cái rùng mình, mặt tôi nóng ran, hai thái dương giật liên tục. Không thể để cơn phẫn nộ được dịp bung ra. Tôi sẽ luồn chân vào đó. Phải nếm trải hết mọi cay đắng của người tù. Tôi đứng im, ngoan ngoãn cho K xiềng chân mình. Nét ái ngại lộ rõ trên gương mặt anh ta: “Chị Nghiên đi chậm thôi, sẽ đỡ đau”. Tôi hít một hơi thở sâu chờ K mở cửa. Ánh mắt tôi đập vào ánh mắt người điều tra viên. Dù cố tỏ ra tự nhiên, nhưng tôi biết anh ta chứ không phải tôi đang bị chi phối bởi cái xiềng chân. Tôi không đi chậm như lời khuyên của K. Bị thôi thúc bởi lòng kiêu hãnh, tôi bước thật nhanh bất chấp hai vòng xích đập vào mắt cá chân đau điếng. Tôi không cho phép anh ta có cơ hội thấy tôi trong bộ dạng chậm chạp và đáng thương. Chỉ thể hiện ở bước đi thôi chưa đủ, tôi bông phèng:
- Này anh, giúp tôi một việc được không?
- Việc gì chị?
- Nhờ anh đăng ký với kỷ lục ghi-nét, công nhận tôi là người phụ nữ có cái lắc chân to và độc nhất thế giới nhé?
Bị bất ngờ, anh ta im lặng. Sau một hồi, tính háo thắng trỗi dậy, anh ta trả đũa:
- Nếu bây giờ tôi bắc thang cho chị trèo tường về, chị có về không?
- Sao nghiệp vụ anh kém thế?
- Gì cơ?
- Tôi bảo nghiệp vụ anh kém vì anh đi điều tra tôi mà không hiểu gì về tôi. Này nhé, tôi vào đây một cách đường hoàng thì cũng đường hoàng rời khỏi đây. Không phải các anh tùy tiện bắt rồi thả vô tội vạ là được.
Có lẽ anh ta thấy tiếc về câu hỏi vừa rồi.
Một cán bộ trực trại và một điều tra viên khác đã chầu sẵn ở buồng hỏi cung. Chờ tôi ngồi xuống, trực trại rướn người qua mặt tôi, kéo thanh sắt vốn được bắt vít cố định nơi tay vịn, khóa lại. Động tác rất dứt khoát với vẻ mặt rất nghiêm trọng. Chắc đấy là thứ công cụ được phát minh ra để bảo vệ các nhân viên điều tra khi hỏi cung những tên tội phạm thuộc diện đặc biệt nguy hiểm. Thế ra, tôi được liệt vào loại “đặc biệt nguy hiểm” cơ đấy. Tôi quan sát việc liên quan đến mình như một kẻ thực sự bị thuần phục. Xong việc, viên trực trại lui về đứng phía sau tôi (chắc sẵn sàng tung đòn cứu đồng đội nếu đối tượng manh động). Hai điều tra viên đặt hồ sơ lên bàn:
- Chúng ta bắt đầu làm việc!
Tôi lơ đễnh nhìn lên trần nhà.
- Chúng ta làm việc thôi chị Nghiên.
- Anh bảo gì cơ?
Vẻ ngoan ngoãn lúc đầu của tôi khiến họ không chuẩn bị tâm lý đối phó cho sự phản công.
- Chúng ta vào việc…
- Làm gì có chuyện ấy. Các anh nghĩ tôi sẽ làm việc với các anh trong tình trạng này sao?
- Đây là quy định của…
- Là quy định của các anh thôi. Nguyên tắc của tôi là không làm việc với các anh trong tình trạng này.
Hai điều tra viên nhìn tôi chằm chằm. Tôi tiếp tục nhìn lên trần nhà, lưng dựa ra sau, các ngón tay gõ gõ vào thanh sắt chắn ngang trước mặt, chân đung đưa khiến cái xiềng cọ xuống nền nhà phát ra thứ âm thanh khô khốc, nghe đến sốt ruột. Cuối cùng, một trong hai người điều tra viên phải ra hiệu cho trực trại mở xiềng chân và thanh sắt chắn ngang ra.
Tôi thôi nhìn lên trần nhà:
- Đây sẽ là lần đầu và cũng là lần cuối tôi cho phép các anh làm thế. Nếu việc này còn tái diễn thì các anh sẽ chỉ nhận được một thứ duy nhất từ tôi, đó là sự im lặng. Mong các anh nhớ cho.
Trở về buồng giam, tôi mệt mỏi nằm vật xuống. Nhìn L với đôi mắt đỏ hoe, tôi đâm cáu. Cô nàng mặc cho tôi mắng mỏ, cứ sấn vào xoa xoa bóp bóp chỗ đau cho tôi. Tôi hất hủi cô nàng để khỏi phải thương hại mình. Tôi nghĩ đến chú Nghĩa, đến Ngô Quỳnh và các anh em khác bị bắt cùng đợt với tôi. Không biết họ bị đối xử ra sao? Nhưng tôi tin, dù ở trong hoàn cảnh nào thì những người anh em ấy (sẽ không cáu gắt bạn tù vô lối như tôi) mà sẽ ngạo nghễ và nở nụ cười nhân ái vì nhà tù là sự lựa chọn “bất khả kháng”, là cánh cửa duy nhất để đến với tự do.
Viết sau những ngày mới ra tù.
Phạm Thanh Nghiên
Phạm Thanh Nghiên
Tôi bị bắt với một lý do rất... cười: tọa kháng tại nhà với biểu ngữ (được phía Cơ quan An ninh điều tra kết luận rằng mang nội dung xấu): “Trường Sa - Hoàng Sa là của Việt Nam. Phản đối công hàm bán nước ngày 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng”. Hơn 16 tháng sau ra tòa, tôi nhận bản án 4 năm tù giam, thêm 3 năm quản chế về cái gọi là tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” mà không hề dính dáng đến việc “tọa kháng”, hành vi trực tiếp được nhà cầm quyền làm lý cớ bắt bỏ tù.
Hai chứng nhân “quan trọng” được đưa từ Thanh Hóa vào làm công cụ buộc tội bị cáo. Ông Nhiểm, ông Kính trông tội nghiệp với bộ mặt méo mó, khắc khổ ngồi lọt thỏm, bị bao vây giữa vô vàn những mật vụ dưới hàng ghế dự khán, thay vì ở vị trí dành cho người làm chứng theo quy định một phiên tòa: “Nếu thời gian quay trở lại hoặc có cơ hội khác, tôi vẫn sẽ giúp đỡ họ - những ngư dân Thanh Hóa - dù tôi biết trước có thể những con người này sẽ quay lại kết tội tôi. Họ buộc phải làm thế. Và tôi sẵn sàng tha thứ cho họ.” Tôi đã nói những lời này trước tòa dành cho những ngư dân Thanh Hóa tôi đã gặp và giúp đỡ hồi cuối tháng hai năm 2008.
Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi sẽ không tường thuật lại chuyến đi Thanh Hóa cùng Ngô Quỳnh. Bạn đọc nào quan tâm và muốn tìm hiểu sự thật, xin tìm đọc bài viết “Uất ức - biển ta ơi!” tôi viết năm 2008. Tôi tin rằng, nếu ai còn là người Việt Nam thì không thể không đau xót trước việc đồng bào mình bị bắt giết ngay trên lãnh hải của Tổ Quốc mình, cũng như không thể phủ nhận Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Chỉ vì vạch trần và tố cáo một sự thật bị Đảng và Nhà nước giấu nhẹm, chỉ vì đòi quyền lợi chính đáng cho những nạn nhân, ngư dân Thanh Hóa mà tôi và Ngô Quỳnh đã bị tước mất tự do - dù là một thứ tự do đang hấp hối.
Biệt giam:
Những ngày đầu, tôi bị giam chung với các nữ tù hình sự khác. Trong cuộc vật lộn mưu sinh, trở thành đủ loại tội phạm (họ vẫn thường tự hào rằng phải rất bản lĩnh mới dám thách thức pháp luật) thì sự xuất hiện của một cô gái nhỏ bé bị gán tội “chống Nhà Nước...” là điều ngoài sức tưởng tượng. Từ ngạc nhiên, tò mò rồi thiện cảm, chúng tôi trở nên gần gũi với nhau. Được vài hôm, những ánh mắt thân thiện, cảm mến biến mất. Thay vào đó là thái độ dè dặt, lảng tránh pha chút sợ sệt. Chính sách cô lập bắt đầu có hiệu quả!
Sắp đến giờ cơm chiều. Tiếng ổ khóa vang lên chát chúa. Tiếp đó là giọng nói lạnh tanh của quản giáo: “Phạm Thanh Nghiên chuẩn bị nội vụ!”. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía tôi, lo lắng, thương cảm, hoảng hốt: “Chết rồi, bị đi ép cung rồi”, “chị ơi! Biệt giam rồi.”, “khổ thân, người bé như cái kẹo, chịu sao nổi cháu ơi”. Mỗi người góp một tí, từ chai mắm, gói lạc, ít bột canh, cuộn băng vệ sinh... tất cả được đùm vào một túi ni-lông, ấn vội vào tay tôi. Tôi không đủ thời gian đùn đẩy. Nhận cũng tốt. Đây sẽ là vốn liếng giúp tôi “cầm cự”, chờ đợi đến lúc nhận được quà tiếp tế từ gia đình. Tôi không sợ biệt giam, không sợ bị ép cung. Tôi sợ những ánh mắt thương cảm của họ. Những tình cảm rất con người mà vì một sức ép đáng sợ nào đó, họ đã buộc phải thủ tiêu đi.
Tôi bước ra cửa, không ngoái lại nhìn. Sau lưng, vài giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhà tù, thì ra vẫn còn chỗ cho tình thương yêu và lòng nhân ái.
Dẫn tôi đi là người cán bộ tên C. Sau này tôi được nghe nhiều chuyện về ông ta, chủ yếu thành tích làm giàu bất chính và đánh tù. Tôi cắp túi quần áo, chân đất đi trên những con hẻm nhếch nhác vì mưa phùn, qua những dãy nhà giam lạnh ngắc và cũ kỹ. Trong những bức tường lặng câm kia là những sự chờ đợi và tuyệt vọng. Chờ đợi để được phán xử không theo cách của con người, rồi hiến mình cho sự khổ ải và hao mòn trong các trại cải tạo.
Khu giam giữ mới có khoảng sân khá rộng. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, C giao tôi cho đồng nghiệp. Tôi đi theo K, cảm giác như đang bị nuốt vào một đường hầm. Lần đầu tiên kể từ khi bị bắt, tôi mới thực sự thấy hết cái âm u của chốn ngục tù. Chỉ khi dừng lại, tôi mới biết mình đang đứng trước một cánh cửa. Cửa mở, hai đồng tử của tôi giãn ra: đây là nơi dành cho con người ư?
Cái gọi là buồng giam rộng chừng 6m2. Hai bệ xi-măng đối diện nhau (chừa một lối đi hẹp ở giữa, tù quen gọi là “xa lộ”) dùng làm chỗ nằm. Từ cửa đến chân bệ nằm còn khoảng trống nho nhỏ để đồ ăn. Trong buồng không có nhà vệ sinh nên phải dùng bô. Chỗ để bô cách chỗ để đồ ăn chừng 3 bước chân. Một trong hai bệ nằm có gắn cố định một cùm sắt, dùng để cùm chân những người tù bị kỷ luật hoặc tử tù chờ ngày thi hành án. Tôi vào sau L vài ngày, đương nhiên phải nằm chung với cái cùm. L thường mắng tôi vì tội hay cho chân vào cùm. Bảo tôi không chịu kiêng kỵ, có ngày bị cùm thật cũng nên. Hàng ngày tôi đi bộ dọc trên “xa lộ”, coi như tập thể dục. Đoạn đường ngắn mấy bước chân, đi vài vòng phải nghỉ một lần để khỏi chóng mặt.
Mỗi ngày hai lần: sáng và chiều, công an mở cửa cho tù nhân ra ngoài làm vệ sinh cá nhân và lấy cơm. Mỗi lần chừng 20 đến 30 phút. Hầu như ngày nào tôi cũng phải đi cung nên mọi việc, từ giặt giũ, đổ bô, lấy cơm, rửa bát… L phải kiêm hết. Có hôm, chưa làm vệ sinh xong, điều tra viên đã đứng đợi ngoài cửa. Chắc chỉ có tù nhân lương tâm chúng tôi mới phải trải qua tình trạng ngồi bệ xí trong sự chờ đợi và thúc giục của cả cai tù lẫn điều tra viên mà thôi. Gần 4 tháng biệt giam, tôi phải đi cung hàng chục lần, chưa kể thời gian ở buồng chung hơn một năm. Chuyện này xin được kể trong một dịp khác.
L có tật xấu, đi ngoài vô tội vạ, không theo giờ giấc. Nhiều hôm cứ đóng cửa buồng cô nàng mới đi, mỗi lần như thế lại chữa ngượng: “Em luyện mãi mà không được, cứ nhìn thấy công an là nó lại thụt vào. Hình như c*t sợ công an chị ạ”. Hai cái bô chứa đầy “sản phẩm” của L. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Đã thế, cô nàng còn lên lớp tôi: “Chị phải uống thật nhiều nước mới tốt cho sức khỏe, người đâu mà gầy đét, trông chán lắm”. Tôi bảo: “Có hai cái ngai vàng, mày ngự cả hai, chị uống nhiều nước thì chứa vào đâu?”. Cô nàng nhe hàm răng ám khói thuốc cười trừ. Nhìn L, tôi thấm thía hai câu thơ (được cho là của ông Hồ): “Cửa tù khi mở không đau bụng, đau bụng thì không mở cửa tù”.
Cánh cửa sắt, may quá có sáu lỗ thông hơi (to bằng quả trứng chim cút) - thứ duy nhất làm chúng tôi tạm quên mình đang ở trong một cái hộp. Hàng ngày được ra ngoài, tôi thường vãi cơm ra sân để dụ lũ chim sẻ đến. Qua sáu cái lỗ thông hơi quý giá đó, tôi và L luân phiên nhau chiêm ngưỡng, ngắm nghía chúng. L ước: “Giá biết bay như chúng, em sẽ bay về ôm hôn thằng Cu cho thật đã”. Rồi như tiếc rẻ “Nhưng làm con chim bay được thì lại không lắc, không phê được. Làm người như em, tuy tù tội nhưng được biết mùi đời. Sướng thân! Như chị thì thiệt, chả biết đếch gì. Chán chết”. Tôi không thích tranh cãi với L những lúc như thế. Lũ chim vô tâm, chúng nhặt nhạnh những hạt cơm cuối cùng rồi bay đi, mặc kệ tôi ngẩn ngơ. Không có cách nào gọi chúng lại. Tôi tủi thân, đâm ra giận chúng, hôm sau không vãi cơm cho chúng nữa. Theo thói quen, lũ chim bay đến ngơ ngác, tìm kiếm rồi bỏ đi. Tôi buồn! Từ đó không dám tự trừng phạt mình nữa.
Một lần đi cung:
Một vật gì giống như con rắn nằm lù lù giữa sân. Vừa nhận ra thứ đó dành cho mình, một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Sau cái rùng mình, mặt tôi nóng ran, hai thái dương giật liên tục. Không thể để cơn phẫn nộ được dịp bung ra. Tôi sẽ luồn chân vào đó. Phải nếm trải hết mọi cay đắng của người tù. Tôi đứng im, ngoan ngoãn cho K xiềng chân mình. Nét ái ngại lộ rõ trên gương mặt anh ta: “Chị Nghiên đi chậm thôi, sẽ đỡ đau”. Tôi hít một hơi thở sâu chờ K mở cửa. Ánh mắt tôi đập vào ánh mắt người điều tra viên. Dù cố tỏ ra tự nhiên, nhưng tôi biết anh ta chứ không phải tôi đang bị chi phối bởi cái xiềng chân. Tôi không đi chậm như lời khuyên của K. Bị thôi thúc bởi lòng kiêu hãnh, tôi bước thật nhanh bất chấp hai vòng xích đập vào mắt cá chân đau điếng. Tôi không cho phép anh ta có cơ hội thấy tôi trong bộ dạng chậm chạp và đáng thương. Chỉ thể hiện ở bước đi thôi chưa đủ, tôi bông phèng:
- Này anh, giúp tôi một việc được không?
- Việc gì chị?
- Nhờ anh đăng ký với kỷ lục ghi-nét, công nhận tôi là người phụ nữ có cái lắc chân to và độc nhất thế giới nhé?
Bị bất ngờ, anh ta im lặng. Sau một hồi, tính háo thắng trỗi dậy, anh ta trả đũa:
- Nếu bây giờ tôi bắc thang cho chị trèo tường về, chị có về không?
- Sao nghiệp vụ anh kém thế?
- Gì cơ?
- Tôi bảo nghiệp vụ anh kém vì anh đi điều tra tôi mà không hiểu gì về tôi. Này nhé, tôi vào đây một cách đường hoàng thì cũng đường hoàng rời khỏi đây. Không phải các anh tùy tiện bắt rồi thả vô tội vạ là được.
Có lẽ anh ta thấy tiếc về câu hỏi vừa rồi.
Một cán bộ trực trại và một điều tra viên khác đã chầu sẵn ở buồng hỏi cung. Chờ tôi ngồi xuống, trực trại rướn người qua mặt tôi, kéo thanh sắt vốn được bắt vít cố định nơi tay vịn, khóa lại. Động tác rất dứt khoát với vẻ mặt rất nghiêm trọng. Chắc đấy là thứ công cụ được phát minh ra để bảo vệ các nhân viên điều tra khi hỏi cung những tên tội phạm thuộc diện đặc biệt nguy hiểm. Thế ra, tôi được liệt vào loại “đặc biệt nguy hiểm” cơ đấy. Tôi quan sát việc liên quan đến mình như một kẻ thực sự bị thuần phục. Xong việc, viên trực trại lui về đứng phía sau tôi (chắc sẵn sàng tung đòn cứu đồng đội nếu đối tượng manh động). Hai điều tra viên đặt hồ sơ lên bàn:
- Chúng ta bắt đầu làm việc!
Tôi lơ đễnh nhìn lên trần nhà.
- Chúng ta làm việc thôi chị Nghiên.
- Anh bảo gì cơ?
Vẻ ngoan ngoãn lúc đầu của tôi khiến họ không chuẩn bị tâm lý đối phó cho sự phản công.
- Chúng ta vào việc…
- Làm gì có chuyện ấy. Các anh nghĩ tôi sẽ làm việc với các anh trong tình trạng này sao?
- Đây là quy định của…
- Là quy định của các anh thôi. Nguyên tắc của tôi là không làm việc với các anh trong tình trạng này.
Hai điều tra viên nhìn tôi chằm chằm. Tôi tiếp tục nhìn lên trần nhà, lưng dựa ra sau, các ngón tay gõ gõ vào thanh sắt chắn ngang trước mặt, chân đung đưa khiến cái xiềng cọ xuống nền nhà phát ra thứ âm thanh khô khốc, nghe đến sốt ruột. Cuối cùng, một trong hai người điều tra viên phải ra hiệu cho trực trại mở xiềng chân và thanh sắt chắn ngang ra.
Tôi thôi nhìn lên trần nhà:
- Đây sẽ là lần đầu và cũng là lần cuối tôi cho phép các anh làm thế. Nếu việc này còn tái diễn thì các anh sẽ chỉ nhận được một thứ duy nhất từ tôi, đó là sự im lặng. Mong các anh nhớ cho.
Trở về buồng giam, tôi mệt mỏi nằm vật xuống. Nhìn L với đôi mắt đỏ hoe, tôi đâm cáu. Cô nàng mặc cho tôi mắng mỏ, cứ sấn vào xoa xoa bóp bóp chỗ đau cho tôi. Tôi hất hủi cô nàng để khỏi phải thương hại mình. Tôi nghĩ đến chú Nghĩa, đến Ngô Quỳnh và các anh em khác bị bắt cùng đợt với tôi. Không biết họ bị đối xử ra sao? Nhưng tôi tin, dù ở trong hoàn cảnh nào thì những người anh em ấy (sẽ không cáu gắt bạn tù vô lối như tôi) mà sẽ ngạo nghễ và nở nụ cười nhân ái vì nhà tù là sự lựa chọn “bất khả kháng”, là cánh cửa duy nhất để đến với tự do.
Viết sau những ngày mới ra tù.
Phạm Thanh Nghiên

Câu chuyện nhỏ của tôi
Phạm Thanh Nghiên
Tôi bị bắt với một lý do rất... cười: tọa kháng tại nhà với biểu ngữ (được phía Cơ quan An ninh điều tra kết luận rằng mang nội dung xấu): “Trường Sa - Hoàng Sa là của Việt Nam. Phản đối công hàm bán nước ngày 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng”. Hơn 16 tháng sau ra tòa, tôi nhận bản án 4 năm tù giam, thêm 3 năm quản chế về cái gọi là tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” mà không hề dính dáng đến việc “tọa kháng”, hành vi trực tiếp được nhà cầm quyền làm lý cớ bắt bỏ tù.
Hai chứng nhân “quan trọng” được đưa từ Thanh Hóa vào làm công cụ buộc tội bị cáo. Ông Nhiểm, ông Kính trông tội nghiệp với bộ mặt méo mó, khắc khổ ngồi lọt thỏm, bị bao vây giữa vô vàn những mật vụ dưới hàng ghế dự khán, thay vì ở vị trí dành cho người làm chứng theo quy định một phiên tòa: “Nếu thời gian quay trở lại hoặc có cơ hội khác, tôi vẫn sẽ giúp đỡ họ - những ngư dân Thanh Hóa - dù tôi biết trước có thể những con người này sẽ quay lại kết tội tôi. Họ buộc phải làm thế. Và tôi sẵn sàng tha thứ cho họ.” Tôi đã nói những lời này trước tòa dành cho những ngư dân Thanh Hóa tôi đã gặp và giúp đỡ hồi cuối tháng hai năm 2008.
Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi sẽ không tường thuật lại chuyến đi Thanh Hóa cùng Ngô Quỳnh. Bạn đọc nào quan tâm và muốn tìm hiểu sự thật, xin tìm đọc bài viết “Uất ức - biển ta ơi!” tôi viết năm 2008. Tôi tin rằng, nếu ai còn là người Việt Nam thì không thể không đau xót trước việc đồng bào mình bị bắt giết ngay trên lãnh hải của Tổ Quốc mình, cũng như không thể phủ nhận Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Chỉ vì vạch trần và tố cáo một sự thật bị Đảng và Nhà nước giấu nhẹm, chỉ vì đòi quyền lợi chính đáng cho những nạn nhân, ngư dân Thanh Hóa mà tôi và Ngô Quỳnh đã bị tước mất tự do - dù là một thứ tự do đang hấp hối.
Biệt giam:
Những ngày đầu, tôi bị giam chung với các nữ tù hình sự khác. Trong cuộc vật lộn mưu sinh, trở thành đủ loại tội phạm (họ vẫn thường tự hào rằng phải rất bản lĩnh mới dám thách thức pháp luật) thì sự xuất hiện của một cô gái nhỏ bé bị gán tội “chống Nhà Nước...” là điều ngoài sức tưởng tượng. Từ ngạc nhiên, tò mò rồi thiện cảm, chúng tôi trở nên gần gũi với nhau. Được vài hôm, những ánh mắt thân thiện, cảm mến biến mất. Thay vào đó là thái độ dè dặt, lảng tránh pha chút sợ sệt. Chính sách cô lập bắt đầu có hiệu quả!
Sắp đến giờ cơm chiều. Tiếng ổ khóa vang lên chát chúa. Tiếp đó là giọng nói lạnh tanh của quản giáo: “Phạm Thanh Nghiên chuẩn bị nội vụ!”. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía tôi, lo lắng, thương cảm, hoảng hốt: “Chết rồi, bị đi ép cung rồi”, “chị ơi! Biệt giam rồi.”, “khổ thân, người bé như cái kẹo, chịu sao nổi cháu ơi”. Mỗi người góp một tí, từ chai mắm, gói lạc, ít bột canh, cuộn băng vệ sinh... tất cả được đùm vào một túi ni-lông, ấn vội vào tay tôi. Tôi không đủ thời gian đùn đẩy. Nhận cũng tốt. Đây sẽ là vốn liếng giúp tôi “cầm cự”, chờ đợi đến lúc nhận được quà tiếp tế từ gia đình. Tôi không sợ biệt giam, không sợ bị ép cung. Tôi sợ những ánh mắt thương cảm của họ. Những tình cảm rất con người mà vì một sức ép đáng sợ nào đó, họ đã buộc phải thủ tiêu đi.
Tôi bước ra cửa, không ngoái lại nhìn. Sau lưng, vài giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhà tù, thì ra vẫn còn chỗ cho tình thương yêu và lòng nhân ái.
Dẫn tôi đi là người cán bộ tên C. Sau này tôi được nghe nhiều chuyện về ông ta, chủ yếu thành tích làm giàu bất chính và đánh tù. Tôi cắp túi quần áo, chân đất đi trên những con hẻm nhếch nhác vì mưa phùn, qua những dãy nhà giam lạnh ngắc và cũ kỹ. Trong những bức tường lặng câm kia là những sự chờ đợi và tuyệt vọng. Chờ đợi để được phán xử không theo cách của con người, rồi hiến mình cho sự khổ ải và hao mòn trong các trại cải tạo.
Khu giam giữ mới có khoảng sân khá rộng. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, C giao tôi cho đồng nghiệp. Tôi đi theo K, cảm giác như đang bị nuốt vào một đường hầm. Lần đầu tiên kể từ khi bị bắt, tôi mới thực sự thấy hết cái âm u của chốn ngục tù. Chỉ khi dừng lại, tôi mới biết mình đang đứng trước một cánh cửa. Cửa mở, hai đồng tử của tôi giãn ra: đây là nơi dành cho con người ư?
Cái gọi là buồng giam rộng chừng 6m2. Hai bệ xi-măng đối diện nhau (chừa một lối đi hẹp ở giữa, tù quen gọi là “xa lộ”) dùng làm chỗ nằm. Từ cửa đến chân bệ nằm còn khoảng trống nho nhỏ để đồ ăn. Trong buồng không có nhà vệ sinh nên phải dùng bô. Chỗ để bô cách chỗ để đồ ăn chừng 3 bước chân. Một trong hai bệ nằm có gắn cố định một cùm sắt, dùng để cùm chân những người tù bị kỷ luật hoặc tử tù chờ ngày thi hành án. Tôi vào sau L vài ngày, đương nhiên phải nằm chung với cái cùm. L thường mắng tôi vì tội hay cho chân vào cùm. Bảo tôi không chịu kiêng kỵ, có ngày bị cùm thật cũng nên. Hàng ngày tôi đi bộ dọc trên “xa lộ”, coi như tập thể dục. Đoạn đường ngắn mấy bước chân, đi vài vòng phải nghỉ một lần để khỏi chóng mặt.
Mỗi ngày hai lần: sáng và chiều, công an mở cửa cho tù nhân ra ngoài làm vệ sinh cá nhân và lấy cơm. Mỗi lần chừng 20 đến 30 phút. Hầu như ngày nào tôi cũng phải đi cung nên mọi việc, từ giặt giũ, đổ bô, lấy cơm, rửa bát… L phải kiêm hết. Có hôm, chưa làm vệ sinh xong, điều tra viên đã đứng đợi ngoài cửa. Chắc chỉ có tù nhân lương tâm chúng tôi mới phải trải qua tình trạng ngồi bệ xí trong sự chờ đợi và thúc giục của cả cai tù lẫn điều tra viên mà thôi. Gần 4 tháng biệt giam, tôi phải đi cung hàng chục lần, chưa kể thời gian ở buồng chung hơn một năm. Chuyện này xin được kể trong một dịp khác.
L có tật xấu, đi ngoài vô tội vạ, không theo giờ giấc. Nhiều hôm cứ đóng cửa buồng cô nàng mới đi, mỗi lần như thế lại chữa ngượng: “Em luyện mãi mà không được, cứ nhìn thấy công an là nó lại thụt vào. Hình như c*t sợ công an chị ạ”. Hai cái bô chứa đầy “sản phẩm” của L. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Đã thế, cô nàng còn lên lớp tôi: “Chị phải uống thật nhiều nước mới tốt cho sức khỏe, người đâu mà gầy đét, trông chán lắm”. Tôi bảo: “Có hai cái ngai vàng, mày ngự cả hai, chị uống nhiều nước thì chứa vào đâu?”. Cô nàng nhe hàm răng ám khói thuốc cười trừ. Nhìn L, tôi thấm thía hai câu thơ (được cho là của ông Hồ): “Cửa tù khi mở không đau bụng, đau bụng thì không mở cửa tù”.
Cánh cửa sắt, may quá có sáu lỗ thông hơi (to bằng quả trứng chim cút) - thứ duy nhất làm chúng tôi tạm quên mình đang ở trong một cái hộp. Hàng ngày được ra ngoài, tôi thường vãi cơm ra sân để dụ lũ chim sẻ đến. Qua sáu cái lỗ thông hơi quý giá đó, tôi và L luân phiên nhau chiêm ngưỡng, ngắm nghía chúng. L ước: “Giá biết bay như chúng, em sẽ bay về ôm hôn thằng Cu cho thật đã”. Rồi như tiếc rẻ “Nhưng làm con chim bay được thì lại không lắc, không phê được. Làm người như em, tuy tù tội nhưng được biết mùi đời. Sướng thân! Như chị thì thiệt, chả biết đếch gì. Chán chết”. Tôi không thích tranh cãi với L những lúc như thế. Lũ chim vô tâm, chúng nhặt nhạnh những hạt cơm cuối cùng rồi bay đi, mặc kệ tôi ngẩn ngơ. Không có cách nào gọi chúng lại. Tôi tủi thân, đâm ra giận chúng, hôm sau không vãi cơm cho chúng nữa. Theo thói quen, lũ chim bay đến ngơ ngác, tìm kiếm rồi bỏ đi. Tôi buồn! Từ đó không dám tự trừng phạt mình nữa.
Một lần đi cung:
Một vật gì giống như con rắn nằm lù lù giữa sân. Vừa nhận ra thứ đó dành cho mình, một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Sau cái rùng mình, mặt tôi nóng ran, hai thái dương giật liên tục. Không thể để cơn phẫn nộ được dịp bung ra. Tôi sẽ luồn chân vào đó. Phải nếm trải hết mọi cay đắng của người tù. Tôi đứng im, ngoan ngoãn cho K xiềng chân mình. Nét ái ngại lộ rõ trên gương mặt anh ta: “Chị Nghiên đi chậm thôi, sẽ đỡ đau”. Tôi hít một hơi thở sâu chờ K mở cửa. Ánh mắt tôi đập vào ánh mắt người điều tra viên. Dù cố tỏ ra tự nhiên, nhưng tôi biết anh ta chứ không phải tôi đang bị chi phối bởi cái xiềng chân. Tôi không đi chậm như lời khuyên của K. Bị thôi thúc bởi lòng kiêu hãnh, tôi bước thật nhanh bất chấp hai vòng xích đập vào mắt cá chân đau điếng. Tôi không cho phép anh ta có cơ hội thấy tôi trong bộ dạng chậm chạp và đáng thương. Chỉ thể hiện ở bước đi thôi chưa đủ, tôi bông phèng:
- Này anh, giúp tôi một việc được không?
- Việc gì chị?
- Nhờ anh đăng ký với kỷ lục ghi-nét, công nhận tôi là người phụ nữ có cái lắc chân to và độc nhất thế giới nhé?
Bị bất ngờ, anh ta im lặng. Sau một hồi, tính háo thắng trỗi dậy, anh ta trả đũa:
- Nếu bây giờ tôi bắc thang cho chị trèo tường về, chị có về không?
- Sao nghiệp vụ anh kém thế?
- Gì cơ?
- Tôi bảo nghiệp vụ anh kém vì anh đi điều tra tôi mà không hiểu gì về tôi. Này nhé, tôi vào đây một cách đường hoàng thì cũng đường hoàng rời khỏi đây. Không phải các anh tùy tiện bắt rồi thả vô tội vạ là được.
Có lẽ anh ta thấy tiếc về câu hỏi vừa rồi.
Một cán bộ trực trại và một điều tra viên khác đã chầu sẵn ở buồng hỏi cung. Chờ tôi ngồi xuống, trực trại rướn người qua mặt tôi, kéo thanh sắt vốn được bắt vít cố định nơi tay vịn, khóa lại. Động tác rất dứt khoát với vẻ mặt rất nghiêm trọng. Chắc đấy là thứ công cụ được phát minh ra để bảo vệ các nhân viên điều tra khi hỏi cung những tên tội phạm thuộc diện đặc biệt nguy hiểm. Thế ra, tôi được liệt vào loại “đặc biệt nguy hiểm” cơ đấy. Tôi quan sát việc liên quan đến mình như một kẻ thực sự bị thuần phục. Xong việc, viên trực trại lui về đứng phía sau tôi (chắc sẵn sàng tung đòn cứu đồng đội nếu đối tượng manh động). Hai điều tra viên đặt hồ sơ lên bàn:
- Chúng ta bắt đầu làm việc!
Tôi lơ đễnh nhìn lên trần nhà.
- Chúng ta làm việc thôi chị Nghiên.
- Anh bảo gì cơ?
Vẻ ngoan ngoãn lúc đầu của tôi khiến họ không chuẩn bị tâm lý đối phó cho sự phản công.
- Chúng ta vào việc…
- Làm gì có chuyện ấy. Các anh nghĩ tôi sẽ làm việc với các anh trong tình trạng này sao?
- Đây là quy định của…
- Là quy định của các anh thôi. Nguyên tắc của tôi là không làm việc với các anh trong tình trạng này.
Hai điều tra viên nhìn tôi chằm chằm. Tôi tiếp tục nhìn lên trần nhà, lưng dựa ra sau, các ngón tay gõ gõ vào thanh sắt chắn ngang trước mặt, chân đung đưa khiến cái xiềng cọ xuống nền nhà phát ra thứ âm thanh khô khốc, nghe đến sốt ruột. Cuối cùng, một trong hai người điều tra viên phải ra hiệu cho trực trại mở xiềng chân và thanh sắt chắn ngang ra.
Tôi thôi nhìn lên trần nhà:
- Đây sẽ là lần đầu và cũng là lần cuối tôi cho phép các anh làm thế. Nếu việc này còn tái diễn thì các anh sẽ chỉ nhận được một thứ duy nhất từ tôi, đó là sự im lặng. Mong các anh nhớ cho.
Trở về buồng giam, tôi mệt mỏi nằm vật xuống. Nhìn L với đôi mắt đỏ hoe, tôi đâm cáu. Cô nàng mặc cho tôi mắng mỏ, cứ sấn vào xoa xoa bóp bóp chỗ đau cho tôi. Tôi hất hủi cô nàng để khỏi phải thương hại mình. Tôi nghĩ đến chú Nghĩa, đến Ngô Quỳnh và các anh em khác bị bắt cùng đợt với tôi. Không biết họ bị đối xử ra sao? Nhưng tôi tin, dù ở trong hoàn cảnh nào thì những người anh em ấy (sẽ không cáu gắt bạn tù vô lối như tôi) mà sẽ ngạo nghễ và nở nụ cười nhân ái vì nhà tù là sự lựa chọn “bất khả kháng”, là cánh cửa duy nhất để đến với tự do.
Viết sau những ngày mới ra tù.
Phạm Thanh Nghiên
Mặt Trận Nổ Lặng Lẽ?
Tác giả : Trần Khải
Có phải Cuộc Chiến Triều Tiên đã bùng nổ? Lần này, trông như chuyện phong thần thời xa xưa: phóng chưởng đánh từ xa.
Từ sáng Thứ Tư, Bắc Hàn đã bị tấn công trên không gian mạng dữ dội, theo lời một viên chức chính phủ Nam Hàn. Ông thêm rằng, chính phủ Seoul đang tìm hiểu xem ai đứng đằng sau trận “phóng chưởng từ xa” này.
Thông tấn ITAR-TASS của Nga cho biết mạng Internet Bắc Hàn đã bị tấn công dữ dội từ ngoài vào. Cơ quan thông tấn này có một trụ sở ở Bình Nhưỡng, đã có bản tin như thế vào đêm Thứ Tư.
Trong khi đó, các trang web của Bắc Hàn đã tắt mạng cho tới chiều Thứ Năm.
Kể cả các mạng loa kèn nổi tiếng như nhật báo Rodong Sinmun, thông tấn xã KCNA và mạng Naenara, đều không xem được từ Nam Hàn...
Ai đã xuất chiêu tấn công Bắc Hàn như thế? Có phải đàn anh Trung Quốc vĩ đại đang dạy dỗ đàn em, hay là tin tặc Nam Hàn đang dạy cho người anh em ruột thịt phải biết thế nào là lễ độ?
Hay phải chăng, biết đâu đấy, Viện Đại Học Tin Tặc Hà Nội đang cho thi tốt nghiệp đã ra nhầm đề thi là đánh biểu diễn cho sập mạng Internet Bắc Hàn?
Báo Chosun Ilbo từ Nam Hàn ghi lời một chuyên gia ở một viện nghiên cứu của chính phủ Nam Hàn nói trận tấn công ở tầm mức dồn dập này không thể nào từ một cá nhân tin tặc nổi, vì tất cả các trang web trên các dàn máy chủ ở Bắc Hàn đều bị ảnh hưởng và trận tấn công kéo dài tới 2 ngày.
Viên chức này nói rằng chính phủ Nam Hàn không liên hệ gì vụ tấn công này.
Nhà nghiên cứu Ryu Dong-ryeol ở Viện Hoa Học Cảnh Sát Nam Hàn (Police Science Institute) nói rằng không thể hình dung được toàn bộ mạng Internet của Bắc Hàn laị bị tấn công dài như thế, “cũng có thể rằng chính chế độ Bắc Hàn tự bày ra trò như thế để thoát khỏi thế bế tắc quốc tế hiện nay.”
Cũng cần nhắc rằng tuần trước, Bắc Hàn đã gây nhiễu sóng định vị toàn cầu Global Positioning System tại Nam Hàn từ Thứ Sáu trước đó, và kéo dài cho tới hôm Thứ Ba.
Một viên chức Nam Hàn nói đó cũng là điều khó hiểu vì không gây thiệt haị gì được mà cứ tiếp tục mãi.
Chỉ có một trường hợp được báo cáo là thiết bị định vị GPS của một phi cơ dân sự gần phi trường quốc tế Incheon International Airport bị hỏng hồi Chủ Nhật trước. Viên chức Nam Hàn nói rằng nguồn tấn công nhiễu sóng là từ bên kia giới tuyến, từ Kaesong và núi Mt. Kumgang, với các sóng phát ra gây nhiễu cho Nam Hàn từ đó: “Những sóng gây nhiễu liên tục, nhiều tới nỗi chúng tôi không thể nói chính xác khi nào và bao nhiêu lần sóng gây nhiễu phát ra.”
Viên chức chính phủ từ Dinh Tổng Thống Nam Hàn nói “chắc chắn” rằng Bắc Hàn tấn công bằng cách gây nhiễu sóng vì dò ra nguồn tấn công chính xác dễ dàng.
Viên chức này nói: “Miền Bắc nên tức khắc ngưng tấn công vì như thế trái với tinh thần Quy Ước Viễn Thông Quốc Tế.”
Kim Hee-jung, phát ngôn nhân Tổng Thống Nam Hàn, cũng nói: “Như thế hiển nhiên là vi phạm luật quốc tế, nhưng không có điều khoản phạt nào minh bạch cho kiểu gây nhiễu sóng này, nên chính phủ Nam Hàn đang xem lại để xét những gì có thể trừng phạt.”
Bộ Trưởng An Ninh Nam Hàn Maeng Hyung-kyu cũng nói rằng đợt tin tặc tấn công Nam Hàn hồi Thứ Sáu trước là “gấp 7 lần” dày đặc so với trận tin tặc tấn công hai năm trước, nhưng Nam Hàn kịp thời ngăn chận để không bị thiệt hại gì: “Trận tấn công nhắm vào trang web của 40 cơ quan bộ ngành chính phủ Nam Hàn vào 3 đợt. Tổng cộng có 77,000 máy điện toán ma bị ảnh hưởng bởi 7 trang web chia sẻ hồ sơ được dùng để tấn công.”
Như thế, có phảỉ sau đó Bắc Hàn tự giả bộ bị tin tặc tấn công để cho biết rằng Bắc Hàn cũng bị tin tặc tấn công y hệt như Nam Hàn. Nhưng rồi làm sao giấu được vụ nhiễu sóng Nam Hàn, vì gây nhiễu sóng GPS là bị lộ nguồn rồi.
Hay phải chăng, tin tặc Trung Quốc đang dạy dỗ Bắc Hàn sau khi thấy Bắc Hàn vừa gây nhiễu sóng Nam Hàn vừa ngay sau đợt tin tặc tấn công Seoul?
Khó hiểu, rất khó hiểu.
Nhưng hiển nhiên là có những mặt trận đang lặng lẽ giao chiến đó vậy.
Tác giả : Trần Khải
Có phải Cuộc Chiến Triều Tiên đã bùng nổ? Lần này, trông như chuyện phong thần thời xa xưa: phóng chưởng đánh từ xa.
Từ sáng Thứ Tư, Bắc Hàn đã bị tấn công trên không gian mạng dữ dội, theo lời một viên chức chính phủ Nam Hàn. Ông thêm rằng, chính phủ Seoul đang tìm hiểu xem ai đứng đằng sau trận “phóng chưởng từ xa” này.
Thông tấn ITAR-TASS của Nga cho biết mạng Internet Bắc Hàn đã bị tấn công dữ dội từ ngoài vào. Cơ quan thông tấn này có một trụ sở ở Bình Nhưỡng, đã có bản tin như thế vào đêm Thứ Tư.
Trong khi đó, các trang web của Bắc Hàn đã tắt mạng cho tới chiều Thứ Năm.
Kể cả các mạng loa kèn nổi tiếng như nhật báo Rodong Sinmun, thông tấn xã KCNA và mạng Naenara, đều không xem được từ Nam Hàn...
Ai đã xuất chiêu tấn công Bắc Hàn như thế? Có phải đàn anh Trung Quốc vĩ đại đang dạy dỗ đàn em, hay là tin tặc Nam Hàn đang dạy cho người anh em ruột thịt phải biết thế nào là lễ độ?
Hay phải chăng, biết đâu đấy, Viện Đại Học Tin Tặc Hà Nội đang cho thi tốt nghiệp đã ra nhầm đề thi là đánh biểu diễn cho sập mạng Internet Bắc Hàn?
Báo Chosun Ilbo từ Nam Hàn ghi lời một chuyên gia ở một viện nghiên cứu của chính phủ Nam Hàn nói trận tấn công ở tầm mức dồn dập này không thể nào từ một cá nhân tin tặc nổi, vì tất cả các trang web trên các dàn máy chủ ở Bắc Hàn đều bị ảnh hưởng và trận tấn công kéo dài tới 2 ngày.
Viên chức này nói rằng chính phủ Nam Hàn không liên hệ gì vụ tấn công này.
Nhà nghiên cứu Ryu Dong-ryeol ở Viện Hoa Học Cảnh Sát Nam Hàn (Police Science Institute) nói rằng không thể hình dung được toàn bộ mạng Internet của Bắc Hàn laị bị tấn công dài như thế, “cũng có thể rằng chính chế độ Bắc Hàn tự bày ra trò như thế để thoát khỏi thế bế tắc quốc tế hiện nay.”
Cũng cần nhắc rằng tuần trước, Bắc Hàn đã gây nhiễu sóng định vị toàn cầu Global Positioning System tại Nam Hàn từ Thứ Sáu trước đó, và kéo dài cho tới hôm Thứ Ba.
Một viên chức Nam Hàn nói đó cũng là điều khó hiểu vì không gây thiệt haị gì được mà cứ tiếp tục mãi.
Chỉ có một trường hợp được báo cáo là thiết bị định vị GPS của một phi cơ dân sự gần phi trường quốc tế Incheon International Airport bị hỏng hồi Chủ Nhật trước. Viên chức Nam Hàn nói rằng nguồn tấn công nhiễu sóng là từ bên kia giới tuyến, từ Kaesong và núi Mt. Kumgang, với các sóng phát ra gây nhiễu cho Nam Hàn từ đó: “Những sóng gây nhiễu liên tục, nhiều tới nỗi chúng tôi không thể nói chính xác khi nào và bao nhiêu lần sóng gây nhiễu phát ra.”
Viên chức chính phủ từ Dinh Tổng Thống Nam Hàn nói “chắc chắn” rằng Bắc Hàn tấn công bằng cách gây nhiễu sóng vì dò ra nguồn tấn công chính xác dễ dàng.
Viên chức này nói: “Miền Bắc nên tức khắc ngưng tấn công vì như thế trái với tinh thần Quy Ước Viễn Thông Quốc Tế.”
Kim Hee-jung, phát ngôn nhân Tổng Thống Nam Hàn, cũng nói: “Như thế hiển nhiên là vi phạm luật quốc tế, nhưng không có điều khoản phạt nào minh bạch cho kiểu gây nhiễu sóng này, nên chính phủ Nam Hàn đang xem lại để xét những gì có thể trừng phạt.”
Bộ Trưởng An Ninh Nam Hàn Maeng Hyung-kyu cũng nói rằng đợt tin tặc tấn công Nam Hàn hồi Thứ Sáu trước là “gấp 7 lần” dày đặc so với trận tin tặc tấn công hai năm trước, nhưng Nam Hàn kịp thời ngăn chận để không bị thiệt hại gì: “Trận tấn công nhắm vào trang web của 40 cơ quan bộ ngành chính phủ Nam Hàn vào 3 đợt. Tổng cộng có 77,000 máy điện toán ma bị ảnh hưởng bởi 7 trang web chia sẻ hồ sơ được dùng để tấn công.”
Như thế, có phảỉ sau đó Bắc Hàn tự giả bộ bị tin tặc tấn công để cho biết rằng Bắc Hàn cũng bị tin tặc tấn công y hệt như Nam Hàn. Nhưng rồi làm sao giấu được vụ nhiễu sóng Nam Hàn, vì gây nhiễu sóng GPS là bị lộ nguồn rồi.
Hay phải chăng, tin tặc Trung Quốc đang dạy dỗ Bắc Hàn sau khi thấy Bắc Hàn vừa gây nhiễu sóng Nam Hàn vừa ngay sau đợt tin tặc tấn công Seoul?
Khó hiểu, rất khó hiểu.
Nhưng hiển nhiên là có những mặt trận đang lặng lẽ giao chiến đó vậy.

Vĩnh Yên biểu tình bước sang ngày thứ 2 liên tiếp, CA bắt giam 4 nghi phạm
CTV Danlambao -
Như bản tin đã đưa trên Danlambao hôm qua về cuộc biểu tình lớn tại Vĩnh Phúc sau nghi án con rể chủ tịch Vĩnh Phúc giết người, ném xác nạn nhân xuống cống nước. Vào sáng hôm nay, 18/3/2013, gia đình nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh cùng đông đảo nhân dân tiếp tục tập trung mang quan tài nạn nhân đi đòi công lý. Cuộc biểu tình bước sang ngày thứ 2 liên tiếp, với sự tham gia của hàng ngàn người dân phẫn uất, bên cạnh là sự xuất hiện của hơn 2000 công an sắc phục đủ loại.
Theo tin từ nhà báo Trần Quang Thành gửi đến Danlambao cho biết: Đến 13 giờ hôm nay, thứ hai, 18/3/2013, hàng người dân tỉnh Vĩnh Phúc trong đó có có người thân của nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh vẫn đang tập trung đấu tranh với nhà cầm quyền nhằm yêu cầu làm sáng tỏ cái chết của người dân vô tội.
Đông đảo mọi người tập trung trên một bãi rộng phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên. Hàng ngàn công an cũng đã được huy động để bao vây và ngăn chặn người dân đến tham dự đám tang.


Gia đình nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh và người dân không chấp nhận kết luận của pháp y vì thiếu khách quan, nhiều mâu thuẫn, không chính xác. Người dân khẳng định vụ án có dấu hiệu bị bao che, để lọt tội kẻ chủ mưu. Nghi phạm cầm đầu cũng được xác định là con rể và con gái chủ tịch tỉnh Vĩnh Phúc. Được biết, nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh năm nay 27 tuổi, đã có vợ và một bé gái 2 tuổi. Hiện nay, vợ anh Nguyễn Tuấn Anh đang mai thai bé thứ 2, sắp đến ngày sinh thì chồng bị sát hại.

Mặc dù ban đầu, cơ quan pháp y CA khẳng định nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh tử vong do ‘say rượu’, ‘sặc nước’, ‘chết đuối’... Tuy nhiên chỉ sau một ngày, Giám đốc CA Vĩnh Phúc là ông thiếu tướng Phùng Tiến Bộ đã quay ngoắt 180 độ khi thông báo đã khởi tố vụ án ‘giết người’, thực hiện lệnh bắt giam 4 nghi phạm là Phùng Mạnh Tuấn (21 tuổi, ở Tam Dương, Vĩnh Phúc); Phùng Đức Tú (tức Đen, 19 tuổi ở Tam Dương); 3 nghi phạm khác là Nguyễn Văn Tính (16 tuổi, ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng); Nguyễn Văn Định (30 tuổi ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng) và Đặng Quốc Tú (33 tuổi ở TX. Phú Thọ).
Chủ tịch tỉnh Vĩnh Phúc là ông Phùng Quang Hùng vẫn một mực khẳng định con rể và con gái ông này không liên quan đến vụ giết người. Có tin nói rằng, vào thời điểm xảy ra vụ việc, cả con gái và con rể của ông Phùng Quang Hùng có mặt tại hiện trường nơi nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh bị giết.
Hiện không rõ 2 nghi phạm giết người là Phùng Mạnh Tuấn, Phùng Đức Tú có họ hàng gì với Chủ tịch tỉnh Phùng Quang Hùng, hoặc tướng CA Phùng Tiến Bộ hay không.
CTV Danlambao
Tức nước vỡ bờ
Tuesday, March 19, 2013 6:10:42 PM
Ngô Nhân Dụng Tạp Chí Dân Chủ (Journal of Democracy) mới ra một số đặc biệt với chủ đề là “Trung Quốc tới cảnh tức nước vỡ bờ,” trong tiếng Anh viết là “China at the Tipping Point.” Tipping Point là sắp lật đến nơi, một ẩn dụ về tình trạng một vật nặng (thí dụ, hòn đá, tảng tuyết) nghiêng dần dần tới một độ nghiêng nào đó thì trọng tâm lệch ra ngoài và lật đổ, kéo theo những hòn đá hay các đám tuyết khác. Trong tiếng Việt chúng ta dùng hình ảnh tức nước vỡ bờ; khi nước dâng lên cao quá sẽ tới lúc bờ đê phải sụp đổ.
Tình trạng sắp lật đến nơi của cộng sản Trung Quốc cũng không khác gì ở Việt Nam. Khối người dân uất ức, chán ghét và khinh bỉ chế độ ngày càng đông hơn. Hiện nay đại đa số dân Việt cũng như dân Trung Quốc đã chán và khinh đám quan chức nắm quyền rồi. Nhưng nhiều người còn sợ, đại đa số thì thờ ơ, lãnh đạm. Nhưng đến lúc số người uất ức đông đúc hơn, nỗi phẫn uất của họ mạnh hơn và vượt lên trên nỗi sợ hãi, thì số người dân công khai đòi thay đổi các chính sách của đảng sẽ lên cao, lôi cuốn theo những người khác, giúp họ hết sợ. Và phong trào này sẽ đưa tới những đòi hỏi phải thay đổi cả chế độ. Các đảng cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam biết như vậy, và họ đang tìm cách ngăn không cho hiện tượng đó xẩy ra, càng lâu càng tốt. Họ ngăn cản được bao lâu, điều này không thể đoán trước được. Nhưng một điều ai cũng thấy, là lòng dân đang ngày càng phẫn uất, như mực nước ngày càng dâng cao hơn.
Cuộc biểu tình tại Vĩnh Phúc trong mấy ngày qua cho thấy lòng phẫn uất đã đưa tới hành động. Cái chết của anh Nguyễn Tuấn Anh cũng chỉ một trong trăm, ngàn cái chết oan khuất khác đã xẩy ra,. Một số được đăng trên báo chí từ mấy năm qua. Ông Trịnh Xuân Tùng bị một trung tá công an đả thương đến nỗi thiệt mạng. Ông Nguyễn Lập Phương chết một cách bí ẩn trong đồn công an ở Hải Phòng sau bốn ngày bị giam. Ông Ðặng Ngọc Trung chết một ngày sau khi bị bắt giam ở đồn công an Bình Phước. Cả ba vụ đều xẩy ra vào đầu năm 2011. Nhưng ba vụ này chưa gây ra những cuộc biểu tình đông đảo khiến chế độ phải đưa hàng ngàn công an tới trấn áp như trong vụ Vĩnh Phú này.
Trong vụ Vĩnh Phú, có đủ những sự kiện tiêu biểu cho các tội ác của chế độ cộng sản hiện nay, ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc. Thứ nhất là đám con cái các quan chức lộng hành, tự coi họ có quyền sống bất chấp pháp luật. Giống như Lý Khải Minh, một sinh viên Trung Hoa lái xe cán chết người trong một trường đại học thuộc tỉnh Hà Bắc trong năm 2010. Sau đó Lý Khải Minh còn đưa tay dọa những người bạn của nạn nhân tới ngăn không cho hắn bỏ đi: “Có giỏi thì kiện đi! Bố tao là Lý Cương!” Lý Cương là phó giám đốc công an địa phương. Một vụ cãi nhau trong quán rượu đã khiến anh Nguyễn Tuấn Anh tử vong, chỉ vì anh đụng phải con cái của bọn cường hào. Vì họ nghĩ rằng cả các khâu điều tra, truy tố và xét xử của bộ máy tư pháp sẽ không dám đụng tới họ.
Thứ hai, là cả bộ máy chính quyền, công an, tòa án nằm trong tay một đảng cộng sản, từ trên xuống dưới. Họ đồng lõa với nhau ăn gian nói dối, bất chấp công lý và đạo đức, để bảo vệ đặc quyền của các quan chức và gia đình họ. Trong vụ Vĩnh Phúc, các bác sĩ hay y tá của tổ chức pháp y đã làm giấy chứng nhận là anh Nguyễn Tuấn Anh chết vì say rượu rồi ngã xuống nước chết đuối. Nhưng gia đình cho biết thi thể nạn nhân có nhiều vết tích bầm tím, miệng thì gẫy răng, cho thấy anh đã bị đánh gần chết trước khi bị đẩy xuống nước. Khi gia đình phẫn uất kêu oan thì cả bộ máy công an được sử dụng để đàn áp.
Từ trước đến nay, người dân có thể thờ ơ, lãnh đạm trước những nỗi khổ của những người phải kêu oan khi bị mất ruộng, mất đất, hay bị bắt giam vô lý. Nhưng có dân chúng nước nào có thể chịu đựng cảnh lộng hành của một giai cấp quyền thế coi mạng người như rác mãi hay không? Có người dân ở đâu có thể thản nhiên trước cảnh cả guồng máy cai trị được sử dụng chỉ để bảo vệ đặc quyền của một nhóm quan chức tham ô mãi hay không? Hàng ngàn công an từ Hà Nội kéo nhau về Vĩnh Phú đàn áp một gia đình mất con là một hình ảnh đánh thức lương tâm của tất cả mọi người dân Việt Nam.
Một vụ Vĩnh Phúc khiến người ta nhớ lại tất cả những vụ giết người trước đó. Ai cũng phải tự hỏi bao giờ sẽ đến lượt mình? Ai sẽ là nạn nhân sắp tới, chịu số phận giống như Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Lập Phương, hay Trịnh Xuân Tùng? Nếu vụ Vĩnh Phúc chưa là lúc tức nước vỡ bờ thì sẽ còn nhiều vụ khác.
Tại Trung Quốc, đảng cộng sản biết phản ứng nhanh chóng để làm dịu nỗi phẫn uất của dân. Trong vụ Lý Cương năm 2010, sau khi các công dân mạng khắp nước phản đối, Cương được lệnh phải lên ngay truyền hình toàn quốc khóc lóc nhận lỗi đã không biết dậy con. Nhưng từ đó tới nay, còn bao nhiêu chuyện khác xẩy ra và được đưa lên mạng, lòng người dân vừa ghét, vừa khinh đảng cộng sản ngày càng lên cao. Trong tuần trước, 500 triệu người Trung Hoa trong lục địa vào mạng coi hình ảnh hàng ngàn con heo chết trôi trên con sông ở Thượng Hải. Đó chính là một hình ảnh tiêu biểu cho một chế độ chỉ biết làm giầu mà không thèm bảo vệ môi trường sống của người dân. Dân Trung Quốc lên mạng cũng phơi bầy cảnh chênh lệch giầu nghèo khiến nỗi bất mãn ngày càng sâu xa.
Năm nay, các đại biểu quốc hội Trung Quốc đi dự phiên họp đầu tiên đã ăn mặc rất khiêm tốn, vì năm năm trước các công dân mạng đã trình ầy hình ảnh của các đại biểu với những bộ y phục đắt tiền, những đồng hồ của đàn ông và ví sách tay đắt tiền của phụ nữ.
Tuần báo Economist tuần này cho biết trong Quốc hội Trung Cộng có 70 người là tỷ phú đô la Mỹ; còn trong quốc hội Mỹ không ai có tài sản đến một tỷ đô la. Người giầu nhất Trung Quốc hiện nay, với tài sản 13 tỷ, cũng là một đại biểu quốc hội từ năm 2002. Ông Tống Khánh Hậu (Zong Qinghou, 宗慶後) vốn là một người tự lập thân ở tỉnh Triết Giang. Chỉ được đi học trung học, ông đi làm công việc lao động ở một trường học tại Hàng Châu; rồi mở quán bán nước ngọt trong trường. Chung vốn với hai giáo sư, ông mở một công ty bán sữa, từ đó tiến tới một đại công ty tên là Wahaha (Oa Cáp Cáp, nghĩa là cô gái uống nước, 娃哈哈). Tống Khánh Hậu dùng quan hệ với đảng Cộng sản để mua bán với một công ty sữa lớn của Pháp là Groupe Danone, rồi dùng quan hệ với Danone để làm các cán bộ đảng kính trọng. Năm 1996 Wahaha liên kết với Danone mở nhiều công ty chung, trong đó Danone bỏ vốn 70 tỷ đô la Mỹ và được cho 51% cổ phần. Nhưng đến năm 2007, Danone tố cáo Tống Khánh Hậu đã đem tiền của các công ty chung đó mở các xí nghiệp riêng, cùng bán một thứ sản phẩm sữa. Vụ này được đưa lên báo chí khắp thế giới. Hai bên đi tới thỏa hiệp để khỏi phải ra tòa. Tạp chí Kinh Tài ở Trung Quốc còn cho biết Tống Khánh Hậu bị công an hỏi thăm về tội trốn thuế. Nhưng Tống Khánh Hậu đã trở thành một đảng viên cộng sản ngay khi đảng này mở cửa nhận các nhà tư bản, và đắc cử đại biểu quốc hội từ năm 2002, cho nên không ai nói đến tội trốn thuế nữa.
Không biết đi học lại từ lúc nào mà trong tiểu sử của ông ghi ông có bằng MBA của Đại học Triết Giang. Năm 2008, mấy tờ báo loan tin cả Tống Khánh Hậu và vợ là Thi Ấu Trân (Shi Youzhen, 施幼珍) đều có “thẻ xanh,” tức là di dân thường trú ở Mỹ; và con gái hai người, Kelly Zong (Tống Phức Lợi, 宗馥莉) là công dân nước Mỹ. Điều này không đáng ngạc nhiên. Trong năm 2011 đã có 150,000 người dân Trung Cộng xin làm di dân thường trú ở Mỹ. Theo Nhật báo Wall Street Journal thì trong 12 tháng, tính đến tháng Chín năm 2012 đã có 225 tỷ đô la được chuyển từ Trung Quốc sang các nước Mỹ, Canada, Úc, vân vân. Trong khi đó thì luật lệ chỉ cho phép mỗi người dân Trung Cộng được đem ra ngoài mỗi năm tối đa 50,000 đô la!
Tại Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, các nhà tư bản đỏ đang chuyển tiền bạc ra nước ngoài, cho con cái đi du học nước ngoài, lấy vợ hay chồng ngoại quốc, trở thành dân thường trú và lấy quốc tịch ngoại quốc. Nơi nhận được nhiều tiền và đông người nhất là nước Mỹ. Con cái ông Nguyễn Tấn Dũng đã đi theo con đường du học và kết hôn đó; và chắc còn nhiều trường hợp khác. Tại Hương Cảng, khi các đại biểu đối lập tố cáo mấy nhân viên cấp “phó chưởng quan” trong chính quyền đang giữ quy chế di dân thường trú tại Mỹ, nhiều người đã xin trả lại “thẻ xanh” cho chính phủ Mỹ. Ở Trung Quốc và Việt Nam chưa thấy trường hợp nào.
Đây có thể coi là là một chiến thuật trong kế hoạch rút dù, hay hạ cánh an toàn, của các lãnh tụ cộng sản. Cô Huỳnh Thục Vi coi đó là một cảnh “tháo chạy” của họ để chuẩn bị cho ngày chế độ sụp đổ. Chắc họ chưa lâm vào cảnh “tháo chạy;” nhưng vẫn cẩn thận, chuẩn bi sẵn sàng. Bởi vì họ cũng đầy đủ tin tức và có trí thông minh để hiểu rằng chế độ này không thể tồn tại mãi được. Nỗi bất mãn ngày càng gia tăng, sẽ đưa tới cảnh tức nước vỡ bờ.
Hai đảng cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam đang tìm cách thay đổi chế độ cho bớt tàn ác, giảm bớt niềm uất hận của dân. Nhưng họ sẽ lâm vào một thế lưỡng nan. Thế lưỡng nan là: Không thay đổi thì sẽ đến cảnh tức nước vỡ bờ; nhưng nếu thay đổi thì lại mở đường cho dân đòi hỏi thay đổi nhiều hơn. Đây là một bài học của chế độ quân chủ Pháp trước cuộc cách mạng 1789. Như Alexis de Tocqueville đã nhận xét, trong cuốn “Chế độ cũ và Cách mạng” (L'Ancien Régime et la Révolution, 1856), chế độ quân chủ sụp đổ không phải vì vua Louis XVI chống lại việc thay đổi, mà vì ông ta chấp nhận thay đổi. Dân Việt Nam và dân Trung Hoa hiện nay có trình độ cao hơn dân Pháp vào thế kỷ 18. Các mạng lưới thông tin trên internet của họ cũng rộng lớn hơn. Nỗi uất ức của họ mạnh không kém. Không ai đoán trước được lúc nào sẽ đến cảnh tức nước vỡ bờ. Nhưng không cách nào tránh được.
Tuesday, March 19, 2013 6:10:42 PM
Ngô Nhân Dụng Tạp Chí Dân Chủ (Journal of Democracy) mới ra một số đặc biệt với chủ đề là “Trung Quốc tới cảnh tức nước vỡ bờ,” trong tiếng Anh viết là “China at the Tipping Point.” Tipping Point là sắp lật đến nơi, một ẩn dụ về tình trạng một vật nặng (thí dụ, hòn đá, tảng tuyết) nghiêng dần dần tới một độ nghiêng nào đó thì trọng tâm lệch ra ngoài và lật đổ, kéo theo những hòn đá hay các đám tuyết khác. Trong tiếng Việt chúng ta dùng hình ảnh tức nước vỡ bờ; khi nước dâng lên cao quá sẽ tới lúc bờ đê phải sụp đổ.
Tình trạng sắp lật đến nơi của cộng sản Trung Quốc cũng không khác gì ở Việt Nam. Khối người dân uất ức, chán ghét và khinh bỉ chế độ ngày càng đông hơn. Hiện nay đại đa số dân Việt cũng như dân Trung Quốc đã chán và khinh đám quan chức nắm quyền rồi. Nhưng nhiều người còn sợ, đại đa số thì thờ ơ, lãnh đạm. Nhưng đến lúc số người uất ức đông đúc hơn, nỗi phẫn uất của họ mạnh hơn và vượt lên trên nỗi sợ hãi, thì số người dân công khai đòi thay đổi các chính sách của đảng sẽ lên cao, lôi cuốn theo những người khác, giúp họ hết sợ. Và phong trào này sẽ đưa tới những đòi hỏi phải thay đổi cả chế độ. Các đảng cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam biết như vậy, và họ đang tìm cách ngăn không cho hiện tượng đó xẩy ra, càng lâu càng tốt. Họ ngăn cản được bao lâu, điều này không thể đoán trước được. Nhưng một điều ai cũng thấy, là lòng dân đang ngày càng phẫn uất, như mực nước ngày càng dâng cao hơn.
Cuộc biểu tình tại Vĩnh Phúc trong mấy ngày qua cho thấy lòng phẫn uất đã đưa tới hành động. Cái chết của anh Nguyễn Tuấn Anh cũng chỉ một trong trăm, ngàn cái chết oan khuất khác đã xẩy ra,. Một số được đăng trên báo chí từ mấy năm qua. Ông Trịnh Xuân Tùng bị một trung tá công an đả thương đến nỗi thiệt mạng. Ông Nguyễn Lập Phương chết một cách bí ẩn trong đồn công an ở Hải Phòng sau bốn ngày bị giam. Ông Ðặng Ngọc Trung chết một ngày sau khi bị bắt giam ở đồn công an Bình Phước. Cả ba vụ đều xẩy ra vào đầu năm 2011. Nhưng ba vụ này chưa gây ra những cuộc biểu tình đông đảo khiến chế độ phải đưa hàng ngàn công an tới trấn áp như trong vụ Vĩnh Phú này.
Trong vụ Vĩnh Phú, có đủ những sự kiện tiêu biểu cho các tội ác của chế độ cộng sản hiện nay, ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc. Thứ nhất là đám con cái các quan chức lộng hành, tự coi họ có quyền sống bất chấp pháp luật. Giống như Lý Khải Minh, một sinh viên Trung Hoa lái xe cán chết người trong một trường đại học thuộc tỉnh Hà Bắc trong năm 2010. Sau đó Lý Khải Minh còn đưa tay dọa những người bạn của nạn nhân tới ngăn không cho hắn bỏ đi: “Có giỏi thì kiện đi! Bố tao là Lý Cương!” Lý Cương là phó giám đốc công an địa phương. Một vụ cãi nhau trong quán rượu đã khiến anh Nguyễn Tuấn Anh tử vong, chỉ vì anh đụng phải con cái của bọn cường hào. Vì họ nghĩ rằng cả các khâu điều tra, truy tố và xét xử của bộ máy tư pháp sẽ không dám đụng tới họ.
Thứ hai, là cả bộ máy chính quyền, công an, tòa án nằm trong tay một đảng cộng sản, từ trên xuống dưới. Họ đồng lõa với nhau ăn gian nói dối, bất chấp công lý và đạo đức, để bảo vệ đặc quyền của các quan chức và gia đình họ. Trong vụ Vĩnh Phúc, các bác sĩ hay y tá của tổ chức pháp y đã làm giấy chứng nhận là anh Nguyễn Tuấn Anh chết vì say rượu rồi ngã xuống nước chết đuối. Nhưng gia đình cho biết thi thể nạn nhân có nhiều vết tích bầm tím, miệng thì gẫy răng, cho thấy anh đã bị đánh gần chết trước khi bị đẩy xuống nước. Khi gia đình phẫn uất kêu oan thì cả bộ máy công an được sử dụng để đàn áp.
Từ trước đến nay, người dân có thể thờ ơ, lãnh đạm trước những nỗi khổ của những người phải kêu oan khi bị mất ruộng, mất đất, hay bị bắt giam vô lý. Nhưng có dân chúng nước nào có thể chịu đựng cảnh lộng hành của một giai cấp quyền thế coi mạng người như rác mãi hay không? Có người dân ở đâu có thể thản nhiên trước cảnh cả guồng máy cai trị được sử dụng chỉ để bảo vệ đặc quyền của một nhóm quan chức tham ô mãi hay không? Hàng ngàn công an từ Hà Nội kéo nhau về Vĩnh Phú đàn áp một gia đình mất con là một hình ảnh đánh thức lương tâm của tất cả mọi người dân Việt Nam.
Một vụ Vĩnh Phúc khiến người ta nhớ lại tất cả những vụ giết người trước đó. Ai cũng phải tự hỏi bao giờ sẽ đến lượt mình? Ai sẽ là nạn nhân sắp tới, chịu số phận giống như Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Lập Phương, hay Trịnh Xuân Tùng? Nếu vụ Vĩnh Phúc chưa là lúc tức nước vỡ bờ thì sẽ còn nhiều vụ khác.
Tại Trung Quốc, đảng cộng sản biết phản ứng nhanh chóng để làm dịu nỗi phẫn uất của dân. Trong vụ Lý Cương năm 2010, sau khi các công dân mạng khắp nước phản đối, Cương được lệnh phải lên ngay truyền hình toàn quốc khóc lóc nhận lỗi đã không biết dậy con. Nhưng từ đó tới nay, còn bao nhiêu chuyện khác xẩy ra và được đưa lên mạng, lòng người dân vừa ghét, vừa khinh đảng cộng sản ngày càng lên cao. Trong tuần trước, 500 triệu người Trung Hoa trong lục địa vào mạng coi hình ảnh hàng ngàn con heo chết trôi trên con sông ở Thượng Hải. Đó chính là một hình ảnh tiêu biểu cho một chế độ chỉ biết làm giầu mà không thèm bảo vệ môi trường sống của người dân. Dân Trung Quốc lên mạng cũng phơi bầy cảnh chênh lệch giầu nghèo khiến nỗi bất mãn ngày càng sâu xa.
Năm nay, các đại biểu quốc hội Trung Quốc đi dự phiên họp đầu tiên đã ăn mặc rất khiêm tốn, vì năm năm trước các công dân mạng đã trình ầy hình ảnh của các đại biểu với những bộ y phục đắt tiền, những đồng hồ của đàn ông và ví sách tay đắt tiền của phụ nữ.
Tuần báo Economist tuần này cho biết trong Quốc hội Trung Cộng có 70 người là tỷ phú đô la Mỹ; còn trong quốc hội Mỹ không ai có tài sản đến một tỷ đô la. Người giầu nhất Trung Quốc hiện nay, với tài sản 13 tỷ, cũng là một đại biểu quốc hội từ năm 2002. Ông Tống Khánh Hậu (Zong Qinghou, 宗慶後) vốn là một người tự lập thân ở tỉnh Triết Giang. Chỉ được đi học trung học, ông đi làm công việc lao động ở một trường học tại Hàng Châu; rồi mở quán bán nước ngọt trong trường. Chung vốn với hai giáo sư, ông mở một công ty bán sữa, từ đó tiến tới một đại công ty tên là Wahaha (Oa Cáp Cáp, nghĩa là cô gái uống nước, 娃哈哈). Tống Khánh Hậu dùng quan hệ với đảng Cộng sản để mua bán với một công ty sữa lớn của Pháp là Groupe Danone, rồi dùng quan hệ với Danone để làm các cán bộ đảng kính trọng. Năm 1996 Wahaha liên kết với Danone mở nhiều công ty chung, trong đó Danone bỏ vốn 70 tỷ đô la Mỹ và được cho 51% cổ phần. Nhưng đến năm 2007, Danone tố cáo Tống Khánh Hậu đã đem tiền của các công ty chung đó mở các xí nghiệp riêng, cùng bán một thứ sản phẩm sữa. Vụ này được đưa lên báo chí khắp thế giới. Hai bên đi tới thỏa hiệp để khỏi phải ra tòa. Tạp chí Kinh Tài ở Trung Quốc còn cho biết Tống Khánh Hậu bị công an hỏi thăm về tội trốn thuế. Nhưng Tống Khánh Hậu đã trở thành một đảng viên cộng sản ngay khi đảng này mở cửa nhận các nhà tư bản, và đắc cử đại biểu quốc hội từ năm 2002, cho nên không ai nói đến tội trốn thuế nữa.
Không biết đi học lại từ lúc nào mà trong tiểu sử của ông ghi ông có bằng MBA của Đại học Triết Giang. Năm 2008, mấy tờ báo loan tin cả Tống Khánh Hậu và vợ là Thi Ấu Trân (Shi Youzhen, 施幼珍) đều có “thẻ xanh,” tức là di dân thường trú ở Mỹ; và con gái hai người, Kelly Zong (Tống Phức Lợi, 宗馥莉) là công dân nước Mỹ. Điều này không đáng ngạc nhiên. Trong năm 2011 đã có 150,000 người dân Trung Cộng xin làm di dân thường trú ở Mỹ. Theo Nhật báo Wall Street Journal thì trong 12 tháng, tính đến tháng Chín năm 2012 đã có 225 tỷ đô la được chuyển từ Trung Quốc sang các nước Mỹ, Canada, Úc, vân vân. Trong khi đó thì luật lệ chỉ cho phép mỗi người dân Trung Cộng được đem ra ngoài mỗi năm tối đa 50,000 đô la!
Tại Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, các nhà tư bản đỏ đang chuyển tiền bạc ra nước ngoài, cho con cái đi du học nước ngoài, lấy vợ hay chồng ngoại quốc, trở thành dân thường trú và lấy quốc tịch ngoại quốc. Nơi nhận được nhiều tiền và đông người nhất là nước Mỹ. Con cái ông Nguyễn Tấn Dũng đã đi theo con đường du học và kết hôn đó; và chắc còn nhiều trường hợp khác. Tại Hương Cảng, khi các đại biểu đối lập tố cáo mấy nhân viên cấp “phó chưởng quan” trong chính quyền đang giữ quy chế di dân thường trú tại Mỹ, nhiều người đã xin trả lại “thẻ xanh” cho chính phủ Mỹ. Ở Trung Quốc và Việt Nam chưa thấy trường hợp nào.
Đây có thể coi là là một chiến thuật trong kế hoạch rút dù, hay hạ cánh an toàn, của các lãnh tụ cộng sản. Cô Huỳnh Thục Vi coi đó là một cảnh “tháo chạy” của họ để chuẩn bị cho ngày chế độ sụp đổ. Chắc họ chưa lâm vào cảnh “tháo chạy;” nhưng vẫn cẩn thận, chuẩn bi sẵn sàng. Bởi vì họ cũng đầy đủ tin tức và có trí thông minh để hiểu rằng chế độ này không thể tồn tại mãi được. Nỗi bất mãn ngày càng gia tăng, sẽ đưa tới cảnh tức nước vỡ bờ.
Hai đảng cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam đang tìm cách thay đổi chế độ cho bớt tàn ác, giảm bớt niềm uất hận của dân. Nhưng họ sẽ lâm vào một thế lưỡng nan. Thế lưỡng nan là: Không thay đổi thì sẽ đến cảnh tức nước vỡ bờ; nhưng nếu thay đổi thì lại mở đường cho dân đòi hỏi thay đổi nhiều hơn. Đây là một bài học của chế độ quân chủ Pháp trước cuộc cách mạng 1789. Như Alexis de Tocqueville đã nhận xét, trong cuốn “Chế độ cũ và Cách mạng” (L'Ancien Régime et la Révolution, 1856), chế độ quân chủ sụp đổ không phải vì vua Louis XVI chống lại việc thay đổi, mà vì ông ta chấp nhận thay đổi. Dân Việt Nam và dân Trung Hoa hiện nay có trình độ cao hơn dân Pháp vào thế kỷ 18. Các mạng lưới thông tin trên internet của họ cũng rộng lớn hơn. Nỗi uất ức của họ mạnh không kém. Không ai đoán trước được lúc nào sẽ đến cảnh tức nước vỡ bờ. Nhưng không cách nào tránh được.
Mỹ 'gặt hái' gì sau cuộc chiến Iraq
4.500 lính Mỹ thiệt mạng, 32.000 binh sĩ bị thương cùng với chi phí lên tới trên ba nghìn tỷ USD,
là những thống kê về cuộc chiến mà Mỹ phát động tại Iraq. Một thập kỷ trôi qua, nước Mỹ có được gì từ cuộc chiến này?
Khói lửa bốc cao ở Baghdad trong màn mở đầu của cuộc chiến Iraq 10 năm trước. Ảnh: AFP Khi kỷ niệm 5 năm cuộc chiến Iraq (19/3/2008), Tổng thống Mỹ George W. Bush nói rằng dù cái giá phải trả là rất đắt, nhưng “đây là cuộc chiến Mỹ có thể và phải thắng”. Ông còn nói thêm rằng: “Tôi vẫn còn phải đấu tranh, cả về tâm lý và thể chất, về những thiệt hại nó gây ra đối với tôi cũng như với vô số người khác”.
Ngày 19/3 năm nay là ngày kỷ niệm 10 năm cuộc xâm lược “sốc và kinh hoàng” và hơn một năm tiểu đoàn cuối cùng của quân Mỹ rút khỏi nước này. Tuy nhiên, theo điều tra dư luận của Trung tâm nghiên cứu Pew, chỉ có 4 trên 10 người Mỹtừng tham chiến ở đó tin vào những lý do tiến hành cuộc chiến tranh có thể biện minh cho sự tổn thất về máu và của cải của nước Mỹ.
Khoảng gần 4.500 lính Mỹ đã bị giết và trên 32.000 lính bị thương, bao gồm hàng nghìn trường hợp bị thương nặng ở đầu và cột sống. Số thương vong của người Iraq thậm chí còn được cho là lớn kinh khủng: trong khoảng từ 100.000 đến 600.000 người. Phí tổn của cuộc chiến có thể vượt con số ba nghìn tỷ USD.
Trong khi cuộc chiến ở Iraq đã chấm dứt, sự hy sinh của các cựu chiến binh vẫn tiếp tục diễn ra trong thế giới dân sự mà họ luôn thấy mình “xa lạ” và cô lập.
Ann Weeby, là người sinh ra ở thành phố Boyne, Michigan, được phái sang Iraq ngay từ ngày đầu cuộc chiến và được biên chế vào sư đoàn không vận số 101 lúc đó dưới sự chỉ huy của thiếu tướng David Petraeus đóng tại Mosul, phía bắc Iraq.
Cô Weeby nhớ lại: “Mục tiêu của chúng tôi là tìm bằng chứng vũ khí giết người hàng loạt (WMD) và truy lùng Saddam Hussein”.
“Sau khi không tìm thấy vũ khí hủy diệt hàng loạt và Saddam bị bắt, tôi không nghĩ là sự hiện diện quân sự của Mỹ lại kéo dài như vậy”, Weeby nói thêm.
Trích dẫn một thống kê đáng lo ngại mới được công bố gần đây của Bộ Cựu chiến binh, Weeby nói: “Lính Mỹ hiện đang phải chịu đau khổ, và trong một số trường hợp họ đang chết, bởi vì sự tồn đọng khiếu lại ở Bộ Cựu chiến binh đã ngăn cản không cho họ được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe (tâm thần). Hiện nay mỗi ngày có hai mươi hai cựu chiến binh Mỹ tự tử!".
Ông Leon Panetta, cựu bộ trưởng bộ quốc phòng, phát biểu với lính Mỹ ở Baghdad trước khi họ rút về nước với lập luận rằng nhiệm vụ cốt lõi của lính Mỹ lúc đó đã được hoàn thành. “Chắc chắn giá phải trả là rất cao. Nhưng những người đó không hy sinh vô ích. Họ đã khai sinh ra một nước Iraq độc lập, tự do và có chủ quyền”, Panetta nhấn mạnh.
Toby Dodge, một nhà phân tích tại viện nghiên cứu Chatham House có trụ sở ở Anh cho rằng Iraq đã biến thành một nhà nước cảnh sát có cảm tình với Iran. Đó là nơi mà các tay súng người Sunni và những kẻ đánh bom khủng bố của lực lượng al-Qaeda dường như thoải mái đánh phá, giết hại hàng trăm người mỗi tuần. Kết luận của ông Dodge là: 10 năm sau khi thay đổi chế độ ở Iraq, không có gì thay đổi cả.
Trong một báo cáo viết cho Chatham House, Dodge nhận định: “Cuộc sống của những người thường dân Iraq, về mặt quan hệ với nhà nước và kinh tế, hiện rất giống tình hình họ phải đối mặt ở đất nước này trước khi có sự thay đổi chế độ”.
Rất nhiều cựu chiến binh từ cuộc chiến Iraq thừa nhận rằng họ đã chiến đấu vì những người đồng đội của mình chứ không phải là cho việc xây dựng bất kỳ một “hòn đảo dân chủ” nào trong thế giới Arab.
Robert Contreras, người hai lần sang chiến đấu ở Iraq, đã trở về nước để hoàn thành bậc học cao đẳng, nơi mà anh đã cố gắng hòa nhập với các bạn sinh viên khác, nói: “Câu hỏi chung nhất mà tôi thường gặp là tôi đã bao giờ giết người chưa.”
“Về cá nhân mà nói, tôi không phải đến đó để chiến đấu cho Iraq. Tôi đến đó để bảo vệ những người cùng tôi chiến đấu, với tất cả khả năng của mình”, Contreras nói, để trả lời câu hỏi liệu cuộc chiến thắng lợi hay thất bại.
Contreras cũng phát triển những triệu chứng của bệnh rối loạn stress sau sang chấn (PTSD). “Tôi thường bị hồi hộp khi ở những nơi đông người và không thấy thoải mái ở tất cả mọi nơi, trừ khi ở nhà”, anh nói.
Các cựu chiến binh như Weeby và Contreras đã tìm ra cách chữa bệnh cho mình để tạo ra những ý nghĩ tích cực từ kinh nghiệm sau cuộc chiến ở Iraq, cũng là để đối phó tốt hơn với một số nghi vấn dai dẳng về tương lai của Iraq. Cách của họ là kết thân với những đồng đội cựu chiến binh khác.
Weeby là một người ủng hộ tích cực đối với những cựu chiến binh khu vực Vịnh San Francisco trong khi Contreras làm việc trong Hội cựu chiến binh Iraq và Afghanistan (IAVA), một tổ chức phi lợi nhuận đầu tiên và lớn nhất, đại diện cho các cựu chiến binh trong hai cuộc chiến tranh đó.
Cả hai hiện đang ở thủ đô Washington và tham gia cuộc tiến công “Bão táp tại quốc hội”, gây sức ép buộc quốc hội Mỹ giải quyết những vấn đề cơ bản của cựu chiến binh, ví dụ như tỷ lệ thất nghiệp 9,4% và chương trình y tế bị thu hẹp.
Weeby tâm sự: “Trở về nước với một nhận thức mới về cuộc sống và tự do, tôi đã quyết tâm cống hiến sự nghiệp của mình cho việc giúp đỡ những đồng nghiệp khác”.
Các tư lệnh quân đội Mỹ có thể lập luận rằng cuộc chiến ở Iraq đã mang lại những thay đổi quan trọng ở đó. Người Iraq ngày nay khá hơn khi không còn Saddam Hussein và chí ít họ đã giành được một nền dân chủ non trẻ cũng như tổ chức các cuộc bầu cử toàn quốc.
Tuy nhiên, tròn 10 năm kể từ sau cuộc chiến “sốc và kinh hoàng” dự định mở đường cho một nước Iraq được giải phóng, cũng như một “chiến lược chuyển tiếp của tự do” dự định sẽ tràn ngập khắp khu vực Trung Đông, những người Iraq giờ đây lại trở thành nạn nhân của hết làn sóng bạo lực sắc tộc này đến làn sóng bạo lực khác. Và rất nhiều “chiến sĩ giải phóng” Mỹ đang phải chiến đấu cho sự sống còn của chính bản thân họ ngay tại quê nhà.
Phạm Ngọc Uyển
(theo NBC News)
4.500 lính Mỹ thiệt mạng, 32.000 binh sĩ bị thương cùng với chi phí lên tới trên ba nghìn tỷ USD,
là những thống kê về cuộc chiến mà Mỹ phát động tại Iraq. Một thập kỷ trôi qua, nước Mỹ có được gì từ cuộc chiến này?
Khói lửa bốc cao ở Baghdad trong màn mở đầu của cuộc chiến Iraq 10 năm trước. Ảnh: AFP Khi kỷ niệm 5 năm cuộc chiến Iraq (19/3/2008), Tổng thống Mỹ George W. Bush nói rằng dù cái giá phải trả là rất đắt, nhưng “đây là cuộc chiến Mỹ có thể và phải thắng”. Ông còn nói thêm rằng: “Tôi vẫn còn phải đấu tranh, cả về tâm lý và thể chất, về những thiệt hại nó gây ra đối với tôi cũng như với vô số người khác”.
Ngày 19/3 năm nay là ngày kỷ niệm 10 năm cuộc xâm lược “sốc và kinh hoàng” và hơn một năm tiểu đoàn cuối cùng của quân Mỹ rút khỏi nước này. Tuy nhiên, theo điều tra dư luận của Trung tâm nghiên cứu Pew, chỉ có 4 trên 10 người Mỹtừng tham chiến ở đó tin vào những lý do tiến hành cuộc chiến tranh có thể biện minh cho sự tổn thất về máu và của cải của nước Mỹ.
Khoảng gần 4.500 lính Mỹ đã bị giết và trên 32.000 lính bị thương, bao gồm hàng nghìn trường hợp bị thương nặng ở đầu và cột sống. Số thương vong của người Iraq thậm chí còn được cho là lớn kinh khủng: trong khoảng từ 100.000 đến 600.000 người. Phí tổn của cuộc chiến có thể vượt con số ba nghìn tỷ USD.
Trong khi cuộc chiến ở Iraq đã chấm dứt, sự hy sinh của các cựu chiến binh vẫn tiếp tục diễn ra trong thế giới dân sự mà họ luôn thấy mình “xa lạ” và cô lập.
Ann Weeby, là người sinh ra ở thành phố Boyne, Michigan, được phái sang Iraq ngay từ ngày đầu cuộc chiến và được biên chế vào sư đoàn không vận số 101 lúc đó dưới sự chỉ huy của thiếu tướng David Petraeus đóng tại Mosul, phía bắc Iraq.
Cô Weeby nhớ lại: “Mục tiêu của chúng tôi là tìm bằng chứng vũ khí giết người hàng loạt (WMD) và truy lùng Saddam Hussein”.
“Sau khi không tìm thấy vũ khí hủy diệt hàng loạt và Saddam bị bắt, tôi không nghĩ là sự hiện diện quân sự của Mỹ lại kéo dài như vậy”, Weeby nói thêm.
Trích dẫn một thống kê đáng lo ngại mới được công bố gần đây của Bộ Cựu chiến binh, Weeby nói: “Lính Mỹ hiện đang phải chịu đau khổ, và trong một số trường hợp họ đang chết, bởi vì sự tồn đọng khiếu lại ở Bộ Cựu chiến binh đã ngăn cản không cho họ được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe (tâm thần). Hiện nay mỗi ngày có hai mươi hai cựu chiến binh Mỹ tự tử!".
Ông Leon Panetta, cựu bộ trưởng bộ quốc phòng, phát biểu với lính Mỹ ở Baghdad trước khi họ rút về nước với lập luận rằng nhiệm vụ cốt lõi của lính Mỹ lúc đó đã được hoàn thành. “Chắc chắn giá phải trả là rất cao. Nhưng những người đó không hy sinh vô ích. Họ đã khai sinh ra một nước Iraq độc lập, tự do và có chủ quyền”, Panetta nhấn mạnh.
Toby Dodge, một nhà phân tích tại viện nghiên cứu Chatham House có trụ sở ở Anh cho rằng Iraq đã biến thành một nhà nước cảnh sát có cảm tình với Iran. Đó là nơi mà các tay súng người Sunni và những kẻ đánh bom khủng bố của lực lượng al-Qaeda dường như thoải mái đánh phá, giết hại hàng trăm người mỗi tuần. Kết luận của ông Dodge là: 10 năm sau khi thay đổi chế độ ở Iraq, không có gì thay đổi cả.
Trong một báo cáo viết cho Chatham House, Dodge nhận định: “Cuộc sống của những người thường dân Iraq, về mặt quan hệ với nhà nước và kinh tế, hiện rất giống tình hình họ phải đối mặt ở đất nước này trước khi có sự thay đổi chế độ”.
Rất nhiều cựu chiến binh từ cuộc chiến Iraq thừa nhận rằng họ đã chiến đấu vì những người đồng đội của mình chứ không phải là cho việc xây dựng bất kỳ một “hòn đảo dân chủ” nào trong thế giới Arab.
Robert Contreras, người hai lần sang chiến đấu ở Iraq, đã trở về nước để hoàn thành bậc học cao đẳng, nơi mà anh đã cố gắng hòa nhập với các bạn sinh viên khác, nói: “Câu hỏi chung nhất mà tôi thường gặp là tôi đã bao giờ giết người chưa.”
“Về cá nhân mà nói, tôi không phải đến đó để chiến đấu cho Iraq. Tôi đến đó để bảo vệ những người cùng tôi chiến đấu, với tất cả khả năng của mình”, Contreras nói, để trả lời câu hỏi liệu cuộc chiến thắng lợi hay thất bại.
Contreras cũng phát triển những triệu chứng của bệnh rối loạn stress sau sang chấn (PTSD). “Tôi thường bị hồi hộp khi ở những nơi đông người và không thấy thoải mái ở tất cả mọi nơi, trừ khi ở nhà”, anh nói.
Các cựu chiến binh như Weeby và Contreras đã tìm ra cách chữa bệnh cho mình để tạo ra những ý nghĩ tích cực từ kinh nghiệm sau cuộc chiến ở Iraq, cũng là để đối phó tốt hơn với một số nghi vấn dai dẳng về tương lai của Iraq. Cách của họ là kết thân với những đồng đội cựu chiến binh khác.
Weeby là một người ủng hộ tích cực đối với những cựu chiến binh khu vực Vịnh San Francisco trong khi Contreras làm việc trong Hội cựu chiến binh Iraq và Afghanistan (IAVA), một tổ chức phi lợi nhuận đầu tiên và lớn nhất, đại diện cho các cựu chiến binh trong hai cuộc chiến tranh đó.
Cả hai hiện đang ở thủ đô Washington và tham gia cuộc tiến công “Bão táp tại quốc hội”, gây sức ép buộc quốc hội Mỹ giải quyết những vấn đề cơ bản của cựu chiến binh, ví dụ như tỷ lệ thất nghiệp 9,4% và chương trình y tế bị thu hẹp.
Weeby tâm sự: “Trở về nước với một nhận thức mới về cuộc sống và tự do, tôi đã quyết tâm cống hiến sự nghiệp của mình cho việc giúp đỡ những đồng nghiệp khác”.
Các tư lệnh quân đội Mỹ có thể lập luận rằng cuộc chiến ở Iraq đã mang lại những thay đổi quan trọng ở đó. Người Iraq ngày nay khá hơn khi không còn Saddam Hussein và chí ít họ đã giành được một nền dân chủ non trẻ cũng như tổ chức các cuộc bầu cử toàn quốc.
Tuy nhiên, tròn 10 năm kể từ sau cuộc chiến “sốc và kinh hoàng” dự định mở đường cho một nước Iraq được giải phóng, cũng như một “chiến lược chuyển tiếp của tự do” dự định sẽ tràn ngập khắp khu vực Trung Đông, những người Iraq giờ đây lại trở thành nạn nhân của hết làn sóng bạo lực sắc tộc này đến làn sóng bạo lực khác. Và rất nhiều “chiến sĩ giải phóng” Mỹ đang phải chiến đấu cho sự sống còn của chính bản thân họ ngay tại quê nhà.
Phạm Ngọc Uyển
(theo NBC News)

