Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Tử huyệt của đảng: Quân đội
Nguyễn Tâm Linh
(Danlambao) - Nỗi sợ lớn nhất của đảng cộng sản Việt Nam đang dần trở thành hiện thực, nguy cơ tự diễn biến từ một mối nguy hiểm mơ hồ nay đã hiển hiện trước mắt. Cảm nhận được nguy cơ tự diễn biến trong quân đội ngày một lớn cùng với khả năng mất quyền kiểm soát quân đội dẫn đến sụp đổ chế độ như đã từng xảy ra tại các quốc gia cộng sản Đông Âu đã khiến thượng tầng chính trị Việt Nam có những bước đi trước. Ấy là khi các tờ báo chính thống như Tiền Phong, Tạp Chí Cộng Sản, Quân Đội Nhân Dân ồ ạt tung ra các bài báo với luận điểm tuyệt đối hóa sự lãnh đạo của đảng với quân đội, khẳng định quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội do chính đảng cộng sản Việt Nam tổ chức thành lập, quân đội phải tuyệt đối trung thành với đảng.
Khẳng định sở hữu quân đội: Hệ lụy và mục đích
Hầu như, tất cả các bài viết đăng trên các tờ báo chính thống trên đều khẳng định chắc chắn rằng: “quân đội nhân dân Việt Nam là do đảng cộng sản Việt Nam thành lập, tổ chức và lãnh đạo” trong bài viết “Quân đội không thể và không nên trung lập về chính trị – Lịch sử đã cảnh báo” [1] đăng trên tạp chí cộng sản đã nhấn mạnh: “Quân đội đó, trước hết là do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập; là một bộ phận cấu thành của Đảng và trước tiên là để thực hiện các mục tiêu chính trị và quân sự của Đảng”. Còn ở bài viết “Không có quân đội đứng ngoài chính trị” [2], trung tướng Nguyễn Tiến Bình tiếp tục khẳng định “Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện”.
Như vậy, khi những quan điểm đó được khẳng định trên Tạp Chí Cộng Sản (cơ quan lý luận chính trị của trung ương đảng cộng sản Việt Nam) và trên báo Quân Đội Nhân Dân (cơ quan của quân ủy trung ương và bộ quốc phòng, tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam), đảng cộng sản Việt Nam đã công khai thừa nhận quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của đảng, hoàn toàn không phải quân đội quốc gia nên không thể phi đảng phái hóa, tuyệt đối không thể đứng ngoài chính trường và phục vụ, bảo vệ quyền lợi của nhân dân.
Sự khẳng định quyền sở hữu quân đội vào thời điểm này có thể được xem như một bất ngờ lớn. Sự khẳng định này sẽ đem đến nhiều hệ lụy khôn lường cho đảng cộng sản.
Khi khẳng định quân đội là một bộ phận cấu thành của đảng, được đảng tổ chức và rèn luyện. quân đội phải tuyệt đối trung thành với đảng thì quân đội đó sẽ không được sử dụng lãnh thổ Việt Nam cho các hoạt động của mình, không được sử dụng ngân sách quốc phòng trích từ tiền thuế do nhân dân đóng góp. Bên cạnh đó, công dân Việt Nam không phải đảng viên hoặc cảm tình đảng có quyền hợp pháp từ chối thực hiện nghĩa vụ quân sự với một đội quân của một tổ chức chính trị.
Đặc biệt, khi công khai quyền sở hữu quân đội, đảng cũng gián tiếp thừa nhận quân đội nhân dân Việt Nam là cú lừa lịch sử với dân tộc khi đội quân này không phải do nhân dân thông qua đại diện của mình thành lập tổ chức nhưng bao nhiêu năm qua lại sử dụng tiền thuế của nhân dân cho các hoạt động của mình. Nếu vẫn giữ lập trường cũ, đảng sẽ phải giải trình, hoàn trả toàn bộ tiền thuế theo tỷ giá hiện hành và chịu trách nhiệm trước nhân dân vì sự lừa dối đó. Ngoài ra, đảng cộng sản cũng sẽ phải đối mặt với việc kiện tụng đòi bồi thường những mất mát của nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam khi ép buộc họ thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc, đổ xương máu cho một đội quân không phải đại diện cho quốc gia mình.
Hơn nữa, khi không phải là quân đội quốc gia, với những hoạt động trong quá khứ, quân đội nhân dân Việt Nam có thể bị cộng đồng thế giới xem như một lực lượng khủng bố, rất có khả năng phải hứng chịu những cáo buộc liên quan tới tội ác chống lại nhân loại và điều đó đồng nghĩa với việc sẽ hứng chịu những lệnh cấm vận triệt để từ Liên Hợp Quốc.
Công khai không chấp nhận quốc gia hóa quân đội, hiến định sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng với quân đôi, đảng đã tạo ra một tiền lệ không hay. Khi chiếu theo nguyên tắc bình đẳng, thì tất cả đảng phái khác, các hội đoàn, tổ chức chính trị đều có quyền thành lập quân đội. Khi đó, Việt Nam sẽ thành một chiến trường cho các đội quân đó thi thố. Trớ trêu thay, đội quân nào cũng có thể xưng danh quân đội nhân dân Việt Nam.
Như vậy, có thể thấy, cái giá của việc công khai quyền sở hữu quân đội là quá đắt với đảng. Không lẽ, những nhà lý luận quân sự của đảng lại không thấy điều đó? Hay, cái giá đó chính là “chi phí cơ hội” mà đảng sẵn sàng chấp nhận vì những mục đích lớn hơn ẩn phía sau những lời khẳng định ấy?
Điều gì khiến đảng cộng sản Việt Nam phải chơi một ván bài với chi phí cá cược cao đến như thế, khi cuộc chơi trên chính trường Việt Nam vẫn là màn độc diễn của đảng? Để làm rõ điều này, cần phải xem lại những biến cố và thách thức gần đây với thượng tầng đảng cộng sản Việt Nam.
Chưa bao giờ, quyền lực của đảng bị thách thức như hiện nay, tại hội nghị trung ương 6, nhóm lợi ích (giai cấp?!) nằm trong đảng đã vô hiệu hóa quyền lực đầu não của đảng là bộ chính trị. Thực tế, tại hội nghị trung ương 6, nhóm lợi ích đã kết vòng hoa tang tiễn đảng với bản chất là một tổ chức chính trị vào dĩ vãng. Làm được điều tưởng chừng như không thể ấy, họ đã có sự giúp đỡ không thể tuyệt vời hơn với sự trở cờ của quân đội, điều mà những lãnh đạo bảo thủ trong đảng không ngờ tới. Thế nên, sẽ chẳng có gì bất ngờ khi những lãnh đạo đó tận dụng khoảng thời gian mà đối thủ đang tơi tả để đưa quân đội với tư cách công cụ bạo lực của đảng về phía mình, sẵn sàng cho những cuộc chơi chính trị tiếp theo.
Kinh tế Việt Nam đang có dấu hiện sụp đổ do khủng hoảng kinh tế kéo dài cùng với sự lãnh đạo kém cỏi của đảng. Tình trạng này có thể thổi bùng những bất mãn xã hội đã tích tụ bấy lâu nay, châm ngòi cho các cuộc đấu tranh của nhân dân. Kinh nghiệm từ Liên Xô và các nước Đông Âu đã chỉ ra rằng, quân đội sẽ đứng về phía nhân dân khi áp lực từ phong trào dân sự đủ lớn. Mất quyền kiểm soát quân đội, chính phủ các nước cộng sản này nhanh chóng sụp đổ. Cũng cần phải thấy rằng, tại các nước cộng sản đã sụp đổ trước đây, quân đội đã mất niềm tin vào đảng cầm quyền khi nhận thức được vấn đề chính của quốc gia. Điều này khiến các quốc gia trong hệ thống xã hội chủ nghĩa còn rơi rớt lại làm tất cả mọi cách để giữ quyền kiểm soát quân đội, cột chặt quân đội quốc gia vào ý thức hệ của mình, qua đó chi phối, sử dụng công cụ bạo lực trong vấn đề đối nội nhằm giữ quyền lực trước những biến cố có thể xảy ra. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ, khi tính chính danh của quyền lực bị thách thức nghiêm trọng, bởi ngoài sử dụng bạo lực để duy trì quyền lực liệu còn phương pháp nào tối ưu hơn?.
Thế nên, để giữ quyền lực tuyệt đối, với những đặc quyền đặc lợi không tưởng thì cái giá bị xem là quá đắt ấy, khi chưa thật sự có một đối thủ xứng tầm thách thức xem ra cũng đáng để chấp nhận. Nhưng về lâu dài, kiểu chơi dao này sớm muộn cũng dẫn tới đứt… mạng.
Khẳng định tử huyệt: Đảng ôm bom
Khẳng định quân đội là công cụ bạo lực của riêng mình, đảng sẽ có những ưu thế lớn trong cuộc chiến giữ quyền lực. Thế nhưng, ưu thế đó chỉ mang tính thời điểm. Khi phong trào dân sự đủ mạnh, ưu thế bạo lực đảng đang có sẽ trở thành quả bom ngay trong lòng đảng. Đó không đơn thuần là một quả bom thông thường mà sẽ là một quả bom hạt nhân, với sức công phá khủng khiếp đủ để đưa đảng vào dĩ vãng.
Đảng đang siết chặt chiếc thòng lọng ý thức hệ vào quân đội, nhưng hiệu quả của chiếc thòng lòng đó gần như con số không với ngay cả đảng và các quân nhân xuất thân bình dân trong quân đội. Có chăng, chỉ là trao thêm quyền lợi và quyền lực cho nhóm tướng tá lãnh đạo và các sỹ quan xuất thân “hoàng gia” (COCC). Điều này không giải quyết vấn đề chỗ dựa cho đảng trong cuộc chiến quyền lực, bởi khi để các lãnh đạo quân đội tham gia quá sâu vào chính trường, trao quá nhiều quyền lực cho nhóm tướng lĩnh lãnh đạo thì càng tạo thêm nguy cơ tiềm ẩn về quyền lực của đảng. An ninh quyền lực chưa chắc được đảm bảo thì có thể đối diện với bất ổn vì suy cho cùng, dù lãnh đạo quân đội có là một gã thất phu đi chăng nữa thì gã vẫn có súng.
Vấn đề của quân đội, nếu xem xét kỹ còn trầm trọng hơn vấn đề của đảng, quân đội đã tha hóa trầm trọng, năng lực chiến đấu kém cỏi, tham nhũng, chạy chức chạy quyền tràn lan từ thượng tầng tướng lĩnh tới tận cấp phân đội. Cơ chế quản lý lỗi thời đã tạo điều kiện cho quân đội tha hóa, thì việc để quân đội làm kinh tế đẩy lực lượng tha hóa tới mức không thể cứu chữa. Quân đội làm kinh tế đã tạo ra những tên tư sản lưu manh mang quân hàm và súng. Đây chính là kíp nổ chính của quả bom mà đảng đang cố gắng ôm.
Ngoài ra, mâu thuẫn của nhóm sỹ quan “hoàng gia” mang nhiều đặc quyền đặc lợi với đại bộ phận quân nhân xuất thân bình dân, sống với mức thu nhập chỉ đủ thoi thóp trong cơn bão giá cũng là một nguy cơ tiềm ẩn. Khẳng định “quân đội là một bộ phận cấu thành của đảng” thì mâu thuẫn bắt nguồn từ đó, sẽ khiến đảng đi tới con đường sụp đổ nhanh nhất. Khi sức mạnh chính của quân đội không nằm ở ý thức hệ, cũng không phải từ đám sỹ quan con ông cháu cha mà ở đám đông quân nhân bình dân kia. Bất mãn của đội quân đó đã được kiểm nghiệm tại các chính thể đã sụp đổ ở Đông Âu, gần đây nhất là quân đội Iraq thời Saddam Hussein hay quân đội Libia của Gadafi, trước các biến cố mang tính thời đại, họ đã quay súng trở về với nhân dân, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang đối lập, đẩy nhanh hơn quá trình sụp đổ của chế độ.
Sự chuẩn bị đưa quân đội thống nhất làm một bộ phận của đảng đã được các bộ phận có liên quan thực hiện một cách tỉ mỉ, từ việc áp dụng nghị quyết 51 của bộ chính trị về chế độ chính ủy trong quân đội, đến các bài báo xuất hiện dày đặc trên loại hình báo chí chính thống và bản dự thảo hiến pháp bổ sung sửa đổi hiến pháp năm 1992. Dù vậy, đảng cũng không thể lường hết những rủi ro mà mình sẽ phải hứng chịu. Vấn đề sống còn của đảng nằm ở yếu tố quân đội và chấp nhận đánh bài ngửa bằng lá bài quân đội. Xem ra, lần này đảng đang như một vị vua già quẫn trí.
Điều 71, bản dự thảo sửa đổi hiến pháp, đã cố ý bỏ cụm “nhà nước xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng” từ điều 46 hiến pháp năm 1992 với dụng ý gì? [3] Phải chăng là một màn tung hỏa mù, gây lẫn lộn trong danh xưng quân đội quốc gia hay quân đội của tổ chức chính trị. Cụm từ “Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng được xây dựng” trong điều 71, bản dự thảo sửa đổi hiến pháp, có thể được dự trù để trong trường hợp khi cần có thể ngụy xưng quân đội quốc gia, khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lợi ích cho đảng có thể công khai thừa nhận là quân đội của đảng nên tuyệt đối trung thành vì lợi ích của đảng.
Nên nhớ rằng, nhân dân là chủ thể đóng thuế để nuôi toàn bộ bộ máy nhà nước, trong đó một phần tiền thuế được trích ra để nuôi quân đội quốc gia. Việc điều hành công việc của quốc gia dù do bất kỳ cơ quan nào cũng phải chiếu theo ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Chỉ duy nhất nhân dân thông qua đại diện của mình là quốc hội mới có quyền thành lập, tổ chức, xây dựng quân đội lấy danh nghĩa quân đội quốc gia, được phép sử dụng ngân sách của nhà nước, được quyền sử dụng không phận, hải phận và địa phận cho các hoạt động hợp pháp của mình. Nếu hiến pháp cố tình viết một cách mù mờ như vậy, thì công dân ai cũng có quyền xây dựng quân đội, khi đó e rằng đảng có kịp vứt quả bom kia hay không?
Vì thế, khi đảng đã không thể tự điều chỉnh, không thể thay đổi được chính bản thân của đảng thì việc đảng lạm dụng bạo lực, lôi kéo quân đội về phía mình để chiến thắng chỉ mang tính hiện tượng, nhất thời. Còn về lâu dài, chính đảng sẽ chết ngay trên tử huyệt của mình dẫu có ra sức che dấu, củng cố hay ngụy biện. Có lẽ, đó là con đường và cái kết không thể tránh khỏi của bất kỳ một chính thể đọc tài nào thành hình, tồn tại dựa trên bạo lực và sợ hãi.
Nguyễn Tâm Linh
Nguyễn Tâm Linh
(Danlambao) - Nỗi sợ lớn nhất của đảng cộng sản Việt Nam đang dần trở thành hiện thực, nguy cơ tự diễn biến từ một mối nguy hiểm mơ hồ nay đã hiển hiện trước mắt. Cảm nhận được nguy cơ tự diễn biến trong quân đội ngày một lớn cùng với khả năng mất quyền kiểm soát quân đội dẫn đến sụp đổ chế độ như đã từng xảy ra tại các quốc gia cộng sản Đông Âu đã khiến thượng tầng chính trị Việt Nam có những bước đi trước. Ấy là khi các tờ báo chính thống như Tiền Phong, Tạp Chí Cộng Sản, Quân Đội Nhân Dân ồ ạt tung ra các bài báo với luận điểm tuyệt đối hóa sự lãnh đạo của đảng với quân đội, khẳng định quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội do chính đảng cộng sản Việt Nam tổ chức thành lập, quân đội phải tuyệt đối trung thành với đảng.
Khẳng định sở hữu quân đội: Hệ lụy và mục đích
Hầu như, tất cả các bài viết đăng trên các tờ báo chính thống trên đều khẳng định chắc chắn rằng: “quân đội nhân dân Việt Nam là do đảng cộng sản Việt Nam thành lập, tổ chức và lãnh đạo” trong bài viết “Quân đội không thể và không nên trung lập về chính trị – Lịch sử đã cảnh báo” [1] đăng trên tạp chí cộng sản đã nhấn mạnh: “Quân đội đó, trước hết là do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập; là một bộ phận cấu thành của Đảng và trước tiên là để thực hiện các mục tiêu chính trị và quân sự của Đảng”. Còn ở bài viết “Không có quân đội đứng ngoài chính trị” [2], trung tướng Nguyễn Tiến Bình tiếp tục khẳng định “Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện”.
Như vậy, khi những quan điểm đó được khẳng định trên Tạp Chí Cộng Sản (cơ quan lý luận chính trị của trung ương đảng cộng sản Việt Nam) và trên báo Quân Đội Nhân Dân (cơ quan của quân ủy trung ương và bộ quốc phòng, tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam), đảng cộng sản Việt Nam đã công khai thừa nhận quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của đảng, hoàn toàn không phải quân đội quốc gia nên không thể phi đảng phái hóa, tuyệt đối không thể đứng ngoài chính trường và phục vụ, bảo vệ quyền lợi của nhân dân.
Sự khẳng định quyền sở hữu quân đội vào thời điểm này có thể được xem như một bất ngờ lớn. Sự khẳng định này sẽ đem đến nhiều hệ lụy khôn lường cho đảng cộng sản.
Khi khẳng định quân đội là một bộ phận cấu thành của đảng, được đảng tổ chức và rèn luyện. quân đội phải tuyệt đối trung thành với đảng thì quân đội đó sẽ không được sử dụng lãnh thổ Việt Nam cho các hoạt động của mình, không được sử dụng ngân sách quốc phòng trích từ tiền thuế do nhân dân đóng góp. Bên cạnh đó, công dân Việt Nam không phải đảng viên hoặc cảm tình đảng có quyền hợp pháp từ chối thực hiện nghĩa vụ quân sự với một đội quân của một tổ chức chính trị.
Đặc biệt, khi công khai quyền sở hữu quân đội, đảng cũng gián tiếp thừa nhận quân đội nhân dân Việt Nam là cú lừa lịch sử với dân tộc khi đội quân này không phải do nhân dân thông qua đại diện của mình thành lập tổ chức nhưng bao nhiêu năm qua lại sử dụng tiền thuế của nhân dân cho các hoạt động của mình. Nếu vẫn giữ lập trường cũ, đảng sẽ phải giải trình, hoàn trả toàn bộ tiền thuế theo tỷ giá hiện hành và chịu trách nhiệm trước nhân dân vì sự lừa dối đó. Ngoài ra, đảng cộng sản cũng sẽ phải đối mặt với việc kiện tụng đòi bồi thường những mất mát của nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam khi ép buộc họ thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc, đổ xương máu cho một đội quân không phải đại diện cho quốc gia mình.
Hơn nữa, khi không phải là quân đội quốc gia, với những hoạt động trong quá khứ, quân đội nhân dân Việt Nam có thể bị cộng đồng thế giới xem như một lực lượng khủng bố, rất có khả năng phải hứng chịu những cáo buộc liên quan tới tội ác chống lại nhân loại và điều đó đồng nghĩa với việc sẽ hứng chịu những lệnh cấm vận triệt để từ Liên Hợp Quốc.
Công khai không chấp nhận quốc gia hóa quân đội, hiến định sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng với quân đôi, đảng đã tạo ra một tiền lệ không hay. Khi chiếu theo nguyên tắc bình đẳng, thì tất cả đảng phái khác, các hội đoàn, tổ chức chính trị đều có quyền thành lập quân đội. Khi đó, Việt Nam sẽ thành một chiến trường cho các đội quân đó thi thố. Trớ trêu thay, đội quân nào cũng có thể xưng danh quân đội nhân dân Việt Nam.
Như vậy, có thể thấy, cái giá của việc công khai quyền sở hữu quân đội là quá đắt với đảng. Không lẽ, những nhà lý luận quân sự của đảng lại không thấy điều đó? Hay, cái giá đó chính là “chi phí cơ hội” mà đảng sẵn sàng chấp nhận vì những mục đích lớn hơn ẩn phía sau những lời khẳng định ấy?
Điều gì khiến đảng cộng sản Việt Nam phải chơi một ván bài với chi phí cá cược cao đến như thế, khi cuộc chơi trên chính trường Việt Nam vẫn là màn độc diễn của đảng? Để làm rõ điều này, cần phải xem lại những biến cố và thách thức gần đây với thượng tầng đảng cộng sản Việt Nam.
Chưa bao giờ, quyền lực của đảng bị thách thức như hiện nay, tại hội nghị trung ương 6, nhóm lợi ích (giai cấp?!) nằm trong đảng đã vô hiệu hóa quyền lực đầu não của đảng là bộ chính trị. Thực tế, tại hội nghị trung ương 6, nhóm lợi ích đã kết vòng hoa tang tiễn đảng với bản chất là một tổ chức chính trị vào dĩ vãng. Làm được điều tưởng chừng như không thể ấy, họ đã có sự giúp đỡ không thể tuyệt vời hơn với sự trở cờ của quân đội, điều mà những lãnh đạo bảo thủ trong đảng không ngờ tới. Thế nên, sẽ chẳng có gì bất ngờ khi những lãnh đạo đó tận dụng khoảng thời gian mà đối thủ đang tơi tả để đưa quân đội với tư cách công cụ bạo lực của đảng về phía mình, sẵn sàng cho những cuộc chơi chính trị tiếp theo.
Kinh tế Việt Nam đang có dấu hiện sụp đổ do khủng hoảng kinh tế kéo dài cùng với sự lãnh đạo kém cỏi của đảng. Tình trạng này có thể thổi bùng những bất mãn xã hội đã tích tụ bấy lâu nay, châm ngòi cho các cuộc đấu tranh của nhân dân. Kinh nghiệm từ Liên Xô và các nước Đông Âu đã chỉ ra rằng, quân đội sẽ đứng về phía nhân dân khi áp lực từ phong trào dân sự đủ lớn. Mất quyền kiểm soát quân đội, chính phủ các nước cộng sản này nhanh chóng sụp đổ. Cũng cần phải thấy rằng, tại các nước cộng sản đã sụp đổ trước đây, quân đội đã mất niềm tin vào đảng cầm quyền khi nhận thức được vấn đề chính của quốc gia. Điều này khiến các quốc gia trong hệ thống xã hội chủ nghĩa còn rơi rớt lại làm tất cả mọi cách để giữ quyền kiểm soát quân đội, cột chặt quân đội quốc gia vào ý thức hệ của mình, qua đó chi phối, sử dụng công cụ bạo lực trong vấn đề đối nội nhằm giữ quyền lực trước những biến cố có thể xảy ra. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ, khi tính chính danh của quyền lực bị thách thức nghiêm trọng, bởi ngoài sử dụng bạo lực để duy trì quyền lực liệu còn phương pháp nào tối ưu hơn?.
Thế nên, để giữ quyền lực tuyệt đối, với những đặc quyền đặc lợi không tưởng thì cái giá bị xem là quá đắt ấy, khi chưa thật sự có một đối thủ xứng tầm thách thức xem ra cũng đáng để chấp nhận. Nhưng về lâu dài, kiểu chơi dao này sớm muộn cũng dẫn tới đứt… mạng.
Khẳng định tử huyệt: Đảng ôm bom
Khẳng định quân đội là công cụ bạo lực của riêng mình, đảng sẽ có những ưu thế lớn trong cuộc chiến giữ quyền lực. Thế nhưng, ưu thế đó chỉ mang tính thời điểm. Khi phong trào dân sự đủ mạnh, ưu thế bạo lực đảng đang có sẽ trở thành quả bom ngay trong lòng đảng. Đó không đơn thuần là một quả bom thông thường mà sẽ là một quả bom hạt nhân, với sức công phá khủng khiếp đủ để đưa đảng vào dĩ vãng.
Đảng đang siết chặt chiếc thòng lọng ý thức hệ vào quân đội, nhưng hiệu quả của chiếc thòng lòng đó gần như con số không với ngay cả đảng và các quân nhân xuất thân bình dân trong quân đội. Có chăng, chỉ là trao thêm quyền lợi và quyền lực cho nhóm tướng tá lãnh đạo và các sỹ quan xuất thân “hoàng gia” (COCC). Điều này không giải quyết vấn đề chỗ dựa cho đảng trong cuộc chiến quyền lực, bởi khi để các lãnh đạo quân đội tham gia quá sâu vào chính trường, trao quá nhiều quyền lực cho nhóm tướng lĩnh lãnh đạo thì càng tạo thêm nguy cơ tiềm ẩn về quyền lực của đảng. An ninh quyền lực chưa chắc được đảm bảo thì có thể đối diện với bất ổn vì suy cho cùng, dù lãnh đạo quân đội có là một gã thất phu đi chăng nữa thì gã vẫn có súng.
Vấn đề của quân đội, nếu xem xét kỹ còn trầm trọng hơn vấn đề của đảng, quân đội đã tha hóa trầm trọng, năng lực chiến đấu kém cỏi, tham nhũng, chạy chức chạy quyền tràn lan từ thượng tầng tướng lĩnh tới tận cấp phân đội. Cơ chế quản lý lỗi thời đã tạo điều kiện cho quân đội tha hóa, thì việc để quân đội làm kinh tế đẩy lực lượng tha hóa tới mức không thể cứu chữa. Quân đội làm kinh tế đã tạo ra những tên tư sản lưu manh mang quân hàm và súng. Đây chính là kíp nổ chính của quả bom mà đảng đang cố gắng ôm.
Ngoài ra, mâu thuẫn của nhóm sỹ quan “hoàng gia” mang nhiều đặc quyền đặc lợi với đại bộ phận quân nhân xuất thân bình dân, sống với mức thu nhập chỉ đủ thoi thóp trong cơn bão giá cũng là một nguy cơ tiềm ẩn. Khẳng định “quân đội là một bộ phận cấu thành của đảng” thì mâu thuẫn bắt nguồn từ đó, sẽ khiến đảng đi tới con đường sụp đổ nhanh nhất. Khi sức mạnh chính của quân đội không nằm ở ý thức hệ, cũng không phải từ đám sỹ quan con ông cháu cha mà ở đám đông quân nhân bình dân kia. Bất mãn của đội quân đó đã được kiểm nghiệm tại các chính thể đã sụp đổ ở Đông Âu, gần đây nhất là quân đội Iraq thời Saddam Hussein hay quân đội Libia của Gadafi, trước các biến cố mang tính thời đại, họ đã quay súng trở về với nhân dân, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang đối lập, đẩy nhanh hơn quá trình sụp đổ của chế độ.
Sự chuẩn bị đưa quân đội thống nhất làm một bộ phận của đảng đã được các bộ phận có liên quan thực hiện một cách tỉ mỉ, từ việc áp dụng nghị quyết 51 của bộ chính trị về chế độ chính ủy trong quân đội, đến các bài báo xuất hiện dày đặc trên loại hình báo chí chính thống và bản dự thảo hiến pháp bổ sung sửa đổi hiến pháp năm 1992. Dù vậy, đảng cũng không thể lường hết những rủi ro mà mình sẽ phải hứng chịu. Vấn đề sống còn của đảng nằm ở yếu tố quân đội và chấp nhận đánh bài ngửa bằng lá bài quân đội. Xem ra, lần này đảng đang như một vị vua già quẫn trí.
Điều 71, bản dự thảo sửa đổi hiến pháp, đã cố ý bỏ cụm “nhà nước xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng” từ điều 46 hiến pháp năm 1992 với dụng ý gì? [3] Phải chăng là một màn tung hỏa mù, gây lẫn lộn trong danh xưng quân đội quốc gia hay quân đội của tổ chức chính trị. Cụm từ “Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng được xây dựng” trong điều 71, bản dự thảo sửa đổi hiến pháp, có thể được dự trù để trong trường hợp khi cần có thể ngụy xưng quân đội quốc gia, khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lợi ích cho đảng có thể công khai thừa nhận là quân đội của đảng nên tuyệt đối trung thành vì lợi ích của đảng.
Nên nhớ rằng, nhân dân là chủ thể đóng thuế để nuôi toàn bộ bộ máy nhà nước, trong đó một phần tiền thuế được trích ra để nuôi quân đội quốc gia. Việc điều hành công việc của quốc gia dù do bất kỳ cơ quan nào cũng phải chiếu theo ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Chỉ duy nhất nhân dân thông qua đại diện của mình là quốc hội mới có quyền thành lập, tổ chức, xây dựng quân đội lấy danh nghĩa quân đội quốc gia, được phép sử dụng ngân sách của nhà nước, được quyền sử dụng không phận, hải phận và địa phận cho các hoạt động hợp pháp của mình. Nếu hiến pháp cố tình viết một cách mù mờ như vậy, thì công dân ai cũng có quyền xây dựng quân đội, khi đó e rằng đảng có kịp vứt quả bom kia hay không?
Vì thế, khi đảng đã không thể tự điều chỉnh, không thể thay đổi được chính bản thân của đảng thì việc đảng lạm dụng bạo lực, lôi kéo quân đội về phía mình để chiến thắng chỉ mang tính hiện tượng, nhất thời. Còn về lâu dài, chính đảng sẽ chết ngay trên tử huyệt của mình dẫu có ra sức che dấu, củng cố hay ngụy biện. Có lẽ, đó là con đường và cái kết không thể tránh khỏi của bất kỳ một chính thể đọc tài nào thành hình, tồn tại dựa trên bạo lực và sợ hãi.
Nguyễn Tâm Linh
Đầu tư trên xác chết
Nguyễn Hưng Quốc

Dân chúng ở Caracas đón đoàn xe chở quan tài cố Tổng thống Venezuela Hugo Chavez.
Chính phủ Venezuela quyết định bỏ ý đồ ướp và phơi bày vĩnh viễn xác của cố Tổng thống Hugo Chavez
Dân chúng ở Caracas đón đoàn xe chở quan tài cố Tổng thống Venezuela Hugo Chavez. Chính phủ Venezuela quyết định bỏ ý đồ ướp và phơi bày vĩnh viễn xác của cố Tổng thống Hugo Chavez
May quá, chính phủ Venezuela vừa quyết định bỏ ý đồ ướp và phơi bày vĩnh viễn xác của cố Tổng thống Hugo Chavez sau khi đoàn chuyên gia được mời từ Nga sang cho là công việc ướp xác, nếu có thể thực hiện được, cũng sẽ rất khó khăn, mất thời gian và tốn kém: Xác của ông phải để lại ở Nga ít nhất bảy tháng. Chính phủ Venezuela tuyên bố bỏ cuộc. Như vậy, trên bàn tiệc chính trị thế giới, sẽ đỡ được một món ăn trên tấm thực đơn độc tài: xác lãnh tụ.
Trong thế kỷ 20 và hơn mười năm đầu của thế kỷ 21, trên thế giới có chín lãnh tụ được ướp xác dài hạn (hoặc với ý định dài hạn), bao gồm, theo thứ tự thời gian:
1. Vladimir Lenin (Nga): Chết ngày 21/1/1924, xác được ướp và bày trong lăng Lenin tại Moscow. Các nhà khoa học cho cái xác hiện được bày trong tủ kính chỉ có khoảng 10% cơ thể của Lenin: ngoài các bộ phận bên trong bị cắt bỏ khi ướp, các bộ phận bên ngoài cũng dần dần bị phân hủy, do đó, người ta phải thay thế bằng đồ giả (ví dụ tai và mũi đều bằng sáp, tròng mắt là hai viên bi!).
2. Georgi Dimitrov (Bulgaria): Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Bulgaria, chết ngày 2/7/1949, xác được ướp và bày trong lăng tại Sofia. Tháng 8/1999, khi chế độ Cộng sản sụp đổ, xác bị đem hỏa táng, sau đó, chôn; và lăng cũng bị đập nát.
3. Joseph Stalin: Sau khi chết vào ngày 5/3/1953, xác được ướp vào bày bên cạnh Lenin, tuy nhiên, đến năm 1961, trong chiến dịch xét lại và chống nạn sùng bái cá nhân, Nikita Krushchev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, đã quyết định mang xác Stalin đi chôn trong một nghĩa trang nhỏ ngay sau lăng.
4. Klement Gottwald (Tiệp Khắc): Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, chết ngày 14/3/1953, xác được ướp và bày trong lăng tại Prague, nhưng đến năm 1962, một phần vì phong trào chống sùng bái cá nhân tại Liên Xô, môt phần vì xác bắt đầu bị hư thối trầm trọng, nên bị mang đem đốt.
5. Hồ Chí Minh: Chết ngày 2/9/1969, xác được ướp và cho đến nay, vẫn được bày trong lăng ở Hà Nội.
6. Mao Trạch Đông: Chết ngày 9/9/1976, xác được ướp và bày trong lăng ngay trong Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh.
7. Ferdinand Marcos: Chết ngày 28/9/1989 tại Hawaii, được vợ, bà Imelda, ướp xác; và bốn năm sau, mang về bày trong khuôn viên gia đình. Đến nay, người ta vẫn không biết cái xác được bày trong tủ kính ấy thật hay giả. Có nhiều tin đồn cho xác thật của Marcos đã được mang đi chôn, còn xác trong tủ kính chỉ được làm bằng sáp. (Trong một bài báo đăng trên The New York Times ngày 9/3/2011, phóng viên Seth Mydans tường thuật: lăng của Marcos rất quạnh quẽ, hầu như không có ai chăm sóc, kể cả việc quét dọn; có thời gian công ty điện lực dọa cắt điện vì không ai trả hóa đơn. Điều đó càng củng cố niềm tin cái xác trong tủ kính không phải là xác thật.)
8. Kim Il-Sung (Kim Nhật Thành): Chết ngày 8/7/1994, xác được ướp và bày trong Cung tưởng niệm Kumsusan tại Bắc Triều Tiên.
9. Kim Jong-il (Kim Chính Nhật): Chết ngày 17/12/2011, xác cũng được ướp và bày như bố.
Nhìn vào bản danh sách trên, chúng ta thấy một số điểm chung:
Thứ nhất, trừ Marcos của Philippines, tất cả những người còn lại đều là lãnh tụ Cộng sản.
Thứ hai, tất cả, kể cả Marcos, đều là những lãnh tụ độc tài và nổi tiếng là tàn bạo.
Dưới thời Lenin, có khoảng từ 6 đến 8 triệu người bị chết hoặc vì chiến tranh hoặc vì đói hoặc vì bị thanh trừng. Thời Stalin, các sử gia đưa ra nhiều con số nạn nhân khác nhau, nhưng trung bình là khoảng 51 triệu người, trong đó có khoảng 20 triệu bị giết chết trong thập niên 1930 (trước đệ nhị thế chiến). Thời Mao Trạch Đông, có khoảng từ 40 đến 72 triệu người bị chết (hoặc bị giết hoặc bị đói do chính sách “đại nhảy vọt” của đảng). http://necrometrics.com/20c5m.htm
Tại Bắc Hàn, dưới thời Kim Nhật Thành, theo ước tính của R.J. Rummel, có khoảng từ 710.000 đến 3.549.000 người bị giết chết.
Riêng Marcos, trong 20 năm làm tổng thống Philippines (1966-1986), đã tham nhũng và thâm lạm công quỹ đến khoảng 5 tỉ Mỹ kim, thậm chí, có chuyên gia còn cho là nhiều hơn nữa.
Hồ Chí Minh, chỉ riêng trong các cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào giữa thập niên 1950, đã giết chết cả hàng chục ngàn người. Gần đây, một số người cho ông làm vậy là do sức ép của Liên Xô và đặc biệt, của các cố vấn Trung Quốc. Tuy nhiên, có sức ép hay không, với tư cách là người lãnh đạo cao nhất của miền Bắc lúc ấy, ông cũng không thể tránh được trách nhiệm giết hại rất nhiều đồng bào vô tội của mình.
Thứ ba, trừ trường hợp cái xác của Marcos còn bị nghi ngờ, có ba xác đã bị đem đi hỏa táng và chôn, trên thế giới hiện nay, chỉ còn năm xác còn được bày, trong đó, Bắc Triều Tiên chiếm kỷ lục với hai xác: Đó cũng là một nước độc tài nhất, tàn bạo nhất và cũng nghèo đói nhất. Trong khi đó, chi phí ướp xác Kim Nhật Thành năm 1994 (do Nga thực hiện) mất khoảng một triệu Mỹ kim; chi phí bảo quản bằng khoảng 800.000 Mỹ kim.
Thứ tư, trong năm cái xác còn lại ấy, xác của Lenin, theo dự đoán của nhiều người, có lẽ sẽ được mang đem hỏa táng hoặc đem đi chôn sớm. Như vậy, sẽ chỉ còn lại bốn xác: Tất cả đều nằm ở châu Á và thuộc ba quốc gia theo chế độ Cộng sản trong mấy quốc gia Cộng sản cuối cùng trên thế giới.
Thứ năm, trừ trường hợp của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật, chúng ta không thể biết rõ, tất cả những người còn lại đều bị ướp xác hầu như hoàn toàn ngoài ý muốn. Lenin muốn được chôn cạnh mộ của mẹ ông ở St. Petersburg. Trước khi chết, Hồ Chí Minh đã nói rõ ý định của mình: thiêu xác và chia tro ra làm ba phần cho ba miền Nam, Trung và Bắc. Mao Trạch Đông cũng muốn được hỏa táng.
Với cả ba người, quyết định ướp xác và bày trong tủ kính đều do những người thừa kế quyền hành. Với xác Lenin, đó là quyết định của Stalin; với hai người sau, là Bộ Chính trị.
Bộ Chính trị Việt Nam quyết định khá sớm, lúc Hồ Chí Minh đang hấp hối, do đó, Bác sĩ Sergi Debov, trưởng ban ướp xác của điện Kremlin được mời sang Việt Nam hai ngày trước khi ông tắt thở để chuẩn bị.
Ở Trung Quốc, thoạt đầu Bộ Chính trị chỉ ra chỉ thị ướp xác Mao Trạch Đông trong vòng 15 ngày để tổ chức lễ truy điệu, nhưng sau đó, đổi ý, họ muốn ướp xác vĩnh viễn. Vì quyết định muộn, lúc xác đã bắt đầu có dấu hiệu phân hủy, việc ướp xác trở thành cực kỳ khó khăn. Theo lời Zhisui Li, bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông, có lúc mặt Mao Trạch Đông căng phồng lên, tròn như một quả bóng, còn cổ thì phình ra bằng cái đầu! Da trên má thì rách toạc từng chỗ. Trông rất dị dạng. Các bác sĩ phải tìm cách nắn bóp rồi vá víu lại để trông có vẻ bình thường. Lúc ấy, quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô đã rất căng thẳng nên không thể xin Liên Xô giúp được. Trung Quốc cử một phái đoàn sang Việt Nam hỏi kinh nghiệm ướp xác Hồ Chí Minh (vốn được Nga giúp) nhưng Việt Nam từ chối. Cuối cùng họ cũng tự xoay xở được, dĩ nhiên, kẻ chịu đựng sự mày mò thử nghiệm của họ chính là cái xác chết của Mao Trạch Đông!
Vấn đề là: Tại sao những người kế quyền Cộng sản lại thích ướp và bày xác của các lãnh tụ quá cố của mình như vậy?
Câu trả lời thường nghe nhất là do tâm lý sùng bái cá nhân, xem cá nhân lãnh tụ như thần thánh, muốn họ trở thành bất tử ngay trước mắt mọi người.
Tuy nhiên, đó chỉ là lý do phụ. Lý do chính là người ta muốn lợi dụng tâm lý sùng bái để đầu tư quyền lực và quyền lợi của mình trên huyền thoại của những cái xác ấy. Ví dụ, ở Nga, theo Nina Tumarkin, trong cuốn Lenin Lives! The Lenin Cult in Russia, năm 1924, lúc Lenin mất, giới lãnh đạo Cộng sản sợ là cái chết của ông sẽ dẫn đến sự sụp đổ của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa vừa mới được xây dựng ở Nga. Họ đều biết phần lớn sức mạnh của chế độ đều nằm ở uy tín và huyền thoại bao quanh Lenin. Họ rất hoảng loạn. Khi thấy khoảng hơn 700.000 người bất chấp cả băng tuyết lạnh buốt ở Moscow để đến viếng thi hài Lenin, Stalin và Bộ Chính trị mới quyết định khai thác ngay cái xác ấy: Mang đi ướp và bày cho mọi người xem!
Đó cũng chính là lý do khiến Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Hàn quyết định ướp xác lãnh tụ của họ. Họ biết họ yếu. Họ cần thần hộ mạng: Đó là những cái xác đã được khoét hết tất cả các cơ quan nội tạng, được ướp bằng vô số các hóa chất khác nhau để cho khỏi hư thối.
Chế độ họ còn tồn tại được, quyền lực và sự ưu đãi của họ còn kéo dài được một phần là nhờ những cái xác ấy. Bởi vậy, đừng hy vọng người ta sẽ mang những cái xác ấy đi chôn sớm. Không đâu. Giới lãnh đạo không dại dột đến như vậy: Những cái xác ấy còn nuôi được họ mà!
Nguyễn Hưng Quốc

Dân chúng ở Caracas đón đoàn xe chở quan tài cố Tổng thống Venezuela Hugo Chavez.
Chính phủ Venezuela quyết định bỏ ý đồ ướp và phơi bày vĩnh viễn xác của cố Tổng thống Hugo Chavez
Dân chúng ở Caracas đón đoàn xe chở quan tài cố Tổng thống Venezuela Hugo Chavez. Chính phủ Venezuela quyết định bỏ ý đồ ướp và phơi bày vĩnh viễn xác của cố Tổng thống Hugo Chavez
May quá, chính phủ Venezuela vừa quyết định bỏ ý đồ ướp và phơi bày vĩnh viễn xác của cố Tổng thống Hugo Chavez sau khi đoàn chuyên gia được mời từ Nga sang cho là công việc ướp xác, nếu có thể thực hiện được, cũng sẽ rất khó khăn, mất thời gian và tốn kém: Xác của ông phải để lại ở Nga ít nhất bảy tháng. Chính phủ Venezuela tuyên bố bỏ cuộc. Như vậy, trên bàn tiệc chính trị thế giới, sẽ đỡ được một món ăn trên tấm thực đơn độc tài: xác lãnh tụ.
Trong thế kỷ 20 và hơn mười năm đầu của thế kỷ 21, trên thế giới có chín lãnh tụ được ướp xác dài hạn (hoặc với ý định dài hạn), bao gồm, theo thứ tự thời gian:
1. Vladimir Lenin (Nga): Chết ngày 21/1/1924, xác được ướp và bày trong lăng Lenin tại Moscow. Các nhà khoa học cho cái xác hiện được bày trong tủ kính chỉ có khoảng 10% cơ thể của Lenin: ngoài các bộ phận bên trong bị cắt bỏ khi ướp, các bộ phận bên ngoài cũng dần dần bị phân hủy, do đó, người ta phải thay thế bằng đồ giả (ví dụ tai và mũi đều bằng sáp, tròng mắt là hai viên bi!).
2. Georgi Dimitrov (Bulgaria): Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Bulgaria, chết ngày 2/7/1949, xác được ướp và bày trong lăng tại Sofia. Tháng 8/1999, khi chế độ Cộng sản sụp đổ, xác bị đem hỏa táng, sau đó, chôn; và lăng cũng bị đập nát.
3. Joseph Stalin: Sau khi chết vào ngày 5/3/1953, xác được ướp vào bày bên cạnh Lenin, tuy nhiên, đến năm 1961, trong chiến dịch xét lại và chống nạn sùng bái cá nhân, Nikita Krushchev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, đã quyết định mang xác Stalin đi chôn trong một nghĩa trang nhỏ ngay sau lăng.
4. Klement Gottwald (Tiệp Khắc): Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, chết ngày 14/3/1953, xác được ướp và bày trong lăng tại Prague, nhưng đến năm 1962, một phần vì phong trào chống sùng bái cá nhân tại Liên Xô, môt phần vì xác bắt đầu bị hư thối trầm trọng, nên bị mang đem đốt.
5. Hồ Chí Minh: Chết ngày 2/9/1969, xác được ướp và cho đến nay, vẫn được bày trong lăng ở Hà Nội.
6. Mao Trạch Đông: Chết ngày 9/9/1976, xác được ướp và bày trong lăng ngay trong Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh.
7. Ferdinand Marcos: Chết ngày 28/9/1989 tại Hawaii, được vợ, bà Imelda, ướp xác; và bốn năm sau, mang về bày trong khuôn viên gia đình. Đến nay, người ta vẫn không biết cái xác được bày trong tủ kính ấy thật hay giả. Có nhiều tin đồn cho xác thật của Marcos đã được mang đi chôn, còn xác trong tủ kính chỉ được làm bằng sáp. (Trong một bài báo đăng trên The New York Times ngày 9/3/2011, phóng viên Seth Mydans tường thuật: lăng của Marcos rất quạnh quẽ, hầu như không có ai chăm sóc, kể cả việc quét dọn; có thời gian công ty điện lực dọa cắt điện vì không ai trả hóa đơn. Điều đó càng củng cố niềm tin cái xác trong tủ kính không phải là xác thật.)
8. Kim Il-Sung (Kim Nhật Thành): Chết ngày 8/7/1994, xác được ướp và bày trong Cung tưởng niệm Kumsusan tại Bắc Triều Tiên.
9. Kim Jong-il (Kim Chính Nhật): Chết ngày 17/12/2011, xác cũng được ướp và bày như bố.
Nhìn vào bản danh sách trên, chúng ta thấy một số điểm chung:
Thứ nhất, trừ Marcos của Philippines, tất cả những người còn lại đều là lãnh tụ Cộng sản.
Thứ hai, tất cả, kể cả Marcos, đều là những lãnh tụ độc tài và nổi tiếng là tàn bạo.
Dưới thời Lenin, có khoảng từ 6 đến 8 triệu người bị chết hoặc vì chiến tranh hoặc vì đói hoặc vì bị thanh trừng. Thời Stalin, các sử gia đưa ra nhiều con số nạn nhân khác nhau, nhưng trung bình là khoảng 51 triệu người, trong đó có khoảng 20 triệu bị giết chết trong thập niên 1930 (trước đệ nhị thế chiến). Thời Mao Trạch Đông, có khoảng từ 40 đến 72 triệu người bị chết (hoặc bị giết hoặc bị đói do chính sách “đại nhảy vọt” của đảng). http://necrometrics.com/20c5m.htm
Tại Bắc Hàn, dưới thời Kim Nhật Thành, theo ước tính của R.J. Rummel, có khoảng từ 710.000 đến 3.549.000 người bị giết chết.
Riêng Marcos, trong 20 năm làm tổng thống Philippines (1966-1986), đã tham nhũng và thâm lạm công quỹ đến khoảng 5 tỉ Mỹ kim, thậm chí, có chuyên gia còn cho là nhiều hơn nữa.
Hồ Chí Minh, chỉ riêng trong các cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào giữa thập niên 1950, đã giết chết cả hàng chục ngàn người. Gần đây, một số người cho ông làm vậy là do sức ép của Liên Xô và đặc biệt, của các cố vấn Trung Quốc. Tuy nhiên, có sức ép hay không, với tư cách là người lãnh đạo cao nhất của miền Bắc lúc ấy, ông cũng không thể tránh được trách nhiệm giết hại rất nhiều đồng bào vô tội của mình.
Thứ ba, trừ trường hợp cái xác của Marcos còn bị nghi ngờ, có ba xác đã bị đem đi hỏa táng và chôn, trên thế giới hiện nay, chỉ còn năm xác còn được bày, trong đó, Bắc Triều Tiên chiếm kỷ lục với hai xác: Đó cũng là một nước độc tài nhất, tàn bạo nhất và cũng nghèo đói nhất. Trong khi đó, chi phí ướp xác Kim Nhật Thành năm 1994 (do Nga thực hiện) mất khoảng một triệu Mỹ kim; chi phí bảo quản bằng khoảng 800.000 Mỹ kim.
Thứ tư, trong năm cái xác còn lại ấy, xác của Lenin, theo dự đoán của nhiều người, có lẽ sẽ được mang đem hỏa táng hoặc đem đi chôn sớm. Như vậy, sẽ chỉ còn lại bốn xác: Tất cả đều nằm ở châu Á và thuộc ba quốc gia theo chế độ Cộng sản trong mấy quốc gia Cộng sản cuối cùng trên thế giới.
Thứ năm, trừ trường hợp của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật, chúng ta không thể biết rõ, tất cả những người còn lại đều bị ướp xác hầu như hoàn toàn ngoài ý muốn. Lenin muốn được chôn cạnh mộ của mẹ ông ở St. Petersburg. Trước khi chết, Hồ Chí Minh đã nói rõ ý định của mình: thiêu xác và chia tro ra làm ba phần cho ba miền Nam, Trung và Bắc. Mao Trạch Đông cũng muốn được hỏa táng.
Với cả ba người, quyết định ướp xác và bày trong tủ kính đều do những người thừa kế quyền hành. Với xác Lenin, đó là quyết định của Stalin; với hai người sau, là Bộ Chính trị.
Bộ Chính trị Việt Nam quyết định khá sớm, lúc Hồ Chí Minh đang hấp hối, do đó, Bác sĩ Sergi Debov, trưởng ban ướp xác của điện Kremlin được mời sang Việt Nam hai ngày trước khi ông tắt thở để chuẩn bị.
Ở Trung Quốc, thoạt đầu Bộ Chính trị chỉ ra chỉ thị ướp xác Mao Trạch Đông trong vòng 15 ngày để tổ chức lễ truy điệu, nhưng sau đó, đổi ý, họ muốn ướp xác vĩnh viễn. Vì quyết định muộn, lúc xác đã bắt đầu có dấu hiệu phân hủy, việc ướp xác trở thành cực kỳ khó khăn. Theo lời Zhisui Li, bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông, có lúc mặt Mao Trạch Đông căng phồng lên, tròn như một quả bóng, còn cổ thì phình ra bằng cái đầu! Da trên má thì rách toạc từng chỗ. Trông rất dị dạng. Các bác sĩ phải tìm cách nắn bóp rồi vá víu lại để trông có vẻ bình thường. Lúc ấy, quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô đã rất căng thẳng nên không thể xin Liên Xô giúp được. Trung Quốc cử một phái đoàn sang Việt Nam hỏi kinh nghiệm ướp xác Hồ Chí Minh (vốn được Nga giúp) nhưng Việt Nam từ chối. Cuối cùng họ cũng tự xoay xở được, dĩ nhiên, kẻ chịu đựng sự mày mò thử nghiệm của họ chính là cái xác chết của Mao Trạch Đông!
Vấn đề là: Tại sao những người kế quyền Cộng sản lại thích ướp và bày xác của các lãnh tụ quá cố của mình như vậy?
Câu trả lời thường nghe nhất là do tâm lý sùng bái cá nhân, xem cá nhân lãnh tụ như thần thánh, muốn họ trở thành bất tử ngay trước mắt mọi người.
Tuy nhiên, đó chỉ là lý do phụ. Lý do chính là người ta muốn lợi dụng tâm lý sùng bái để đầu tư quyền lực và quyền lợi của mình trên huyền thoại của những cái xác ấy. Ví dụ, ở Nga, theo Nina Tumarkin, trong cuốn Lenin Lives! The Lenin Cult in Russia, năm 1924, lúc Lenin mất, giới lãnh đạo Cộng sản sợ là cái chết của ông sẽ dẫn đến sự sụp đổ của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa vừa mới được xây dựng ở Nga. Họ đều biết phần lớn sức mạnh của chế độ đều nằm ở uy tín và huyền thoại bao quanh Lenin. Họ rất hoảng loạn. Khi thấy khoảng hơn 700.000 người bất chấp cả băng tuyết lạnh buốt ở Moscow để đến viếng thi hài Lenin, Stalin và Bộ Chính trị mới quyết định khai thác ngay cái xác ấy: Mang đi ướp và bày cho mọi người xem!
Đó cũng chính là lý do khiến Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Hàn quyết định ướp xác lãnh tụ của họ. Họ biết họ yếu. Họ cần thần hộ mạng: Đó là những cái xác đã được khoét hết tất cả các cơ quan nội tạng, được ướp bằng vô số các hóa chất khác nhau để cho khỏi hư thối.
Chế độ họ còn tồn tại được, quyền lực và sự ưu đãi của họ còn kéo dài được một phần là nhờ những cái xác ấy. Bởi vậy, đừng hy vọng người ta sẽ mang những cái xác ấy đi chôn sớm. Không đâu. Giới lãnh đạo không dại dột đến như vậy: Những cái xác ấy còn nuôi được họ mà!

Có tội ác kinh sợ hơn giết người
Le Nguyen
(Danlambao) - Theo nhận xét khách quan, những vụ chết người chưa rõ nguyên nhân thì cơ quan chức năng có trách nhiệm tiến hành điều tra để tìm nguyên nhân gây ra tử vong và công việc khám nghiệm tử thi, lập thành biên bản pháp y để xác định cái chết do tai nạn hay do ai đó sát hại, là bước quan trọng đầu tiên để định hình vụ việc, có truy tố hay không truy tố các nghi can ra tòa để quan tòa phán xét vô tội hay có tội về vụ án gây chết người.
Những ngày qua người dân thành phố Vĩnh Yên phát hiện thi thể Nguyễn Tuấn Anh dưới cống thoát nước và qua khám nghiệm tử thi, cơ quan hữu trách cho rằng nạn nhân say rượu ngã xuống cống thoát nước chết. Việc khám nghiệm đưa ra ý kiến mập mờ dẫn đến nghi ngờ có dấu hiệu bao che để lọt tội phạm nên đã gặp sự phản ứng quyết liệt của thân nhân người chết bởi trên thân thể nạn nhân có nhiều dấu vết khả nghi, không cần chuyên môn vẫn nhận ra nguyên nhân chết là do bị sát hại nhưng biên bản không “nhấn mạnh” yếu tố quan trọng này!
Ở thế chẳng đặng đừng, thân nhân người bị hại vượt qua nỗi đau mang quan tài xuống đường, diễu hành qua các tuyến phố, khởi phát cuộc hành trình đi tìm công lý, đòi hỏi công lý phải được thực thi, yêu cầu “chính quyền” trả lại sự thật cho người bị hại, phải truy bắt tội phạm truy tố ra tòa chịu trách nhiệm về tội ác của chúng gây ra.
Cuộc hành trình đi tìm công lý của gia đình nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh được sự hưởng ứng của hàng ngàn người dân thành phố Vĩnh Yên, tạo được kết quả bước đầu, là buộc cơ quan điều tra bộ công an phải vào cuộc tiến hành bắt khẩn cấp, truy tố các nghi can tội danh giết người nhằm xoa dịu phẫn nộ trong lòng thân nhân của người bị hại và nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
Không khó để thấy mục đích đem quan tài xuống đường của thân nhân người bị hại, họ chỉ muốn cái chết của người thân của họ phải được cơ quan cảnh sát điều tra làm sáng tỏ, cơ quan chức năng không được ngang nhiên che giấu tội phạm và kẻ gây án cho dù là ai vẫn phải bị luật pháp trừng trị đích đáng đúng người đúng tội chứ không thể để tội phạm nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật gây mất ổn định trật tự xã hội như thời gian dài trước đây.
Sức mạnh số đông xuống đường đòi hỏi cơ quan điều tra làm rõ nguyên nhân gây chết người là chính đáng đã làm cho thế lực ma quỷ lùi phải bước.
Mặc dù vậy thế lực ngầm đằng sau băng đảng tội phạm này vẫn không từ bỏ bản chất gian manh lật lọng tương kế tựu kế, thiết kế âm mưu vu khống cho người dân lương thiện bị kẻ xấu kích động lợi dụng qua lời phát biểu lộ rõ ý đồ định hướng dư luận xã hội của ông Phùng Quang Hùng, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, một quan chức có con rễ bị người nhà nạn nhân tố cáo là có liên quan đến cái chết của Nguyễn Tuấn Anh. Lời phát biểu của ông Hùng có đoạn như sau:
“... Đã giao cơ quan công an phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan thu thập thông tin, tư liệu xem xét toàn diện vụ việc hàng nghìn người mang quan tài diễu phố... Nếu có đủ dấu hiệu vi phạm pháp luật, cơ quan công an sẽ tiến hành khởi tố vụ án gây rối trật tự công cộng theo quy định pháp luật...”
Qua lời nói không thấy ông chủ tịch Hùng có thiện chí giải quyết, đi tìm nguyên nhân gây chết người theo hướng tích cực, lời phát biểu chỉ làm cho vụ việc thêm nghiêm trọng rắc rối phức tạp hơn.
Chắc chắn không mấy ai tin ông chủ tịch Phùng Quang Hùng với lý lịch trích ngang có văn bằng thạc sĩ kinh tế nhiều năm kinh nghiệm làm chủ nhiệm nhiều hợp tác xã nông nghiệp, lại kém cỏi đến đỗi không thấy được lý do người dân đem quan tài đi diễu phố? Ông chỉ nỗ lực tập trung nghiệp vụ công an, an ninh vào việc thu thập chứng cứ đe dọa khởi tố, gán ghép người dân gây rối trật tự công cộng nhằm ý đồ gì?... Che dấu dung dưỡng tội ác, làm phù phép hô biến cho bị hại thành tội nhân như đảng cộng sản đã từng?
Phát biểu có tính định hướng của ông chủ tịch Hùng cùng với một số thông tin được chỉnh sửa theo chỉ đạo của cơ quan truyền thông nhà nước nhằm đánh lạc hướng sự quan tâm của dư luận xã hội về nội dung biên bản pháp y “say rượu ngả xuống mương chết” nguyên nhân dẫn đến vụ việc quan tài xuống phố diễu hành, có đoạn viết: “Trong nỗi đau mất người thân, người nhà nạn nhân đã bị một số đối tượng kích động, không kiềm chế được hành động nên đã mang quan tài đi diễu hành gây mất trật tự công cộng trên địa bàn?”
Đọc các nguồn thông tin lề đảng chỉnh sửa vô tội vạ, tiền hậu bất nhất, không khỏi nhịn được cười, thế mà nó lại được sự phụ họa của bà luật sư Nguyễn thị Hiên, phó giám đốc công ty luật Thiên Minh: “Cơ quan công an cần phải xem xét làm rõ hành vi gây rối trong vụ án để tránh trường hợp tạo tiền lệ xấu để những đối tượng xấu lợi dụng kích động gây mất an ninh trật tự xã hội.”
Là luật sư chắc hẳn bà Hiên cơ bản không mù cũng như phải hiểu luật pháp hơn các ông tiến sĩ Nguyễn Phú trọng chuyên ngành xây dựng đảng, ông giáo sư “viện sĩ” thiếu tướng Bùi Phan Kỳ ở viện chiến lược quốc phòng, ông thạc sĩ kinh tế Phùng Quang Hùng chuyên nghề làm chủ nhiệm hợp tác xã...
Có lẽ, với nghề luật dù vắng khách, dù ít hay nhiều cũng có người mướn tư vấn khiếu nại tố cáo oan sai và cho dù không thấy tận mắt nhưng bà luật sư Hiên thế nào cũng có nghe bà con dân oan, có không ít người nguyên là gia đình liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, bộ đội cụ Hồ... với huân huy chương đầy ngực mang cờ “tổ quốc” ôm “ảnh bác” đi khiếu kiện từ thuở tóc còn xanh cho đến khi bạc trắng mái đầu, kể cả âm thầm đi xuống mồ rồi vẫn không tìm được công lý!
Bấy nhiêu sự kiện hiện thực xã hội cụ thể vừa kể, đủ cho người dân nhận ra bản chất luật pháp và con người suy thoái của đám quan chức trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được cô sinh viên dễ thương Nguyễn Phương Uyên đúc kết, thu gọn trong hai câu thơ sống động rất thật:
“Núp dưới ảnh bác và cờ đảng
Bọn cơ hội bóc lột dân lành.”
Thử hỏi nếu không có thân nhân người bị hại bức xúc đem quan tài xuống phố diễu hành đánh động dư luận xã hội thì chính quyền thành phố Vĩnh yên, cá nhân lãnh đạo trách nhiệm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, cơ quan điều tra tội phạm hình sự bộ công an có nhanh chóng vào cuộc đáp ứng yêu cầu bắt giữ, khởi tố nghi can giết người trả lại sự thật cho người chết?
Nếu quan tài không xuống đường, chỉ việc làm đơn khiếu nại tố cáo theo như cái gọi là theo luật pháp quy định rồi ngồi chờ công lý như hàng hà sa số nạn nhân của chế độ này, liệu vụ việc Nguyễn Tuấn Anh có chìm vào im lặng đáng sợ như trường hợp Nguyễn Công Nhật, tội phạm gợi ý đưa hối lộ, rũ vợ nạn nhân vào khách sạn có thu âm làm bằng chứng nhưng cơ quan điều tra bộ công an vẫn kết luận không đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay trường hợp nhà báo chống tiêu cực Hoàng Khương lập kế đưa tiền cho bọn tham nhũng để có bằng chứng cấu thành tội tham nhũng lại bị bọn cường quyền “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống...” cấu kết buộc tội đưa hối lộ để tống tù?
Biến cố đem quan tài xuống đường của người dân Vĩnh Phúc là sáng kiến, là kinh nghiệm máu xương kết đọng lại của nhiều năm đấu tranh đòi công lý không hiệu quả do tự phát manh mún nhỏ lẻ và xuống đường quy mô tương đối lớn ở thành phố Vĩnh Yên vừa qua đã buộc kẻ thi hành luật pháp phải nhanh chóng nhập cuộc giải quyết rốt ráo vụ việc, không đùn đẩy trách nhiệm, xem dân như quả bóng đá lên đá xuống như họ thường làm bấy lâu nay và xuống đường ở Vĩnh Yên cho chúng ta thấy chỉ có xuống đường đấu tranh quyết liệt với tội ác mới có thể ngăn chận, đẩy lùi làm chùn bước sự tồn tại của liên minh ma quỷ xã hội đen cấu kết với thế lực đỏ hiếp đáp, cướp bóc, giết hại dân lành táo tợn.
Có lẽ trong biến cố Vĩnh Yên, chúng ta đều nhận ra những luận điệu vu khống “... đối tượng xấu lợi dụng kích động...” những lập luận loanh quanh chối tội “...phân biệt khám nghiệm với kết luận giám định...” những ngôn ngữ côn đồ mang tính đe dọa “...thu thập thông tin có dấu hiệu vi phạm...sẽ tiến hành khởi tố vụ án gây rối trật tự công cộng...” của đám quan chức cùng với các chiếc loa của đảng. Tất cả không ngoài mục đích đối phó tình thế nhằm xoa dịu phẫn nộ và cả khả năng che giấu tội phạm?
Thật ra, chuyện giết người như trường hợp của Nguyễn Tuấn Anh trên bình diện xã hội khá nghiêm trọng nhưng so với tội ác của đảng cộng sản gây ra thì chuyện Nguyễn Tuấn Anh quả là nhỏ như con thỏ không có gì phải ầm ĩ. Điều thật sự đáng quan ngại là trong xã hội đang tồn tại khá phổ biến ở khắp nơi các thế lực đỏ bảo kê, nuôi dưỡng xã hội đen vừa làm quần chúng tự phát, vừa làm “cảm tử quân” đóng thế trong các phi vụ phi nghĩa phi nhân phi pháp và đôi khi trở thành vật tế thần cho thế lực đỏ đổ vấy để chạy tội, chối tội khi bị lộ.
Mắc xích cực hại này đã, đang là nguyên nhân làm băng hoại xã hội, làm tê liệt lý tưởng tưởng như “cao đẹp” cũng như phá nát, triệt tiêu mọi tiềm năng xây dựng phát triển đất nước.
Nhìn lại toàn bộ quá trình mấy mươi năm xây dựng phát triển sau chiến tranh, theo cặp mắt khách quan với cái đầu tỉnh táo chúng ta sẽ thấy đảng cộng lãnh đạo xây một nhưng phá mười. Hậu quả hay nói cách khác là di sản cộng sản để lại là một xã hội ruỗng nát, một lớp người hư hoại vô cùng tệ hại sẽ trở thành gánh nặng cho một nước Việt Nam không cộng sản trong tương lai.
Giả sử rằng sau một đêm thức giấc bỗng dưng đảng cộng sản biến mất khỏi đất nước Việt Nam là có thật, sẽ không hề dễ cho các lực lượng, đảng phái thay thế đảng cộng sản thiết lập chính thể dân chủ, hội nhập đời sống văn minh của cộng đồng nhân loại bởi tàn dư cộng sản vô cùng khủng khiếp, mức độ ảnh hưởng của băng hoại sa đọa suy thoái hơn tất cả mọi chế độ đã đến rồi đi trong lịch sử chính trị nhân loại.
Cái chết của Nguyễn Tuấn Anh tại Vĩnh Yên không chỉ đơn giản cô đọng trong tội ác giết người mà nó nằm trong chuỗi hệ thống liên minh tội ác của thế lực đỏ cấu kết xã hội đen hiện diện lan tràn trong mọi ngõ ngách đời sống ở khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam và thế lực ngầm của tàn dư cộng sản rất liều lĩnh, rất ghê sợ, chúng dám làm tất... từ giết người cướp của, kể cả không loại trừ khả năng buôn dân bán nước... kinh sợ hơn tội ác giết người cần xóa sạch trong đời sống.
Le Nguyen
Bắc Hàn Thê Thảm
Tác giả : Trần Khải
Lính cũng đói thê thảm. Thế là trốn sang Trung Quốc ào ạt. Đó là tình hình gần đây, nhiều chiến binh Bắc Hàn rủ nhau trốn sang Trung Quốc.
Thông tấn Yonhap cho biết có 12 chiến binh Bắc Hàn có vũ trang đã đào tỵ sang tỉnh Jilin ở bên kia biên giới TQ đầu tháng này, nhưng đã bị lính TQ bắt và giải giao về lại Bắc Hàn.
Hồi cuối tháng trước, 2 lính Bắc Hàn đã nổ súng và giết chết viên sĩ quan chỉ huy của họ và trốn sang tỉnh Jilin, làm cho các chuyên gia phân tích suy đoán là đã có gì dị thường xảy ra trong các đơn vị quân đội đồn trú dọc biên giới TQ.
Nhóm 12 chiến binh Bắc Hàn đóng ở một đồn biên giới đã trốn sang đất TQ làm 2 nhóm, nhưng giải giao lại cho nhà cầm quyền Bắc Hàn sau khi bị lính TQ bắt, theo một nguồn tin ngoạị giao ở Bắc Kinh hôm Thứ Năm.
Một nguồn tin khác ở thành phố Yanji của TQ, gần biên giới Bắc Hàn, nói rằng có 2 chiến binh Bắc Hàn khác đã bắn chết viên sĩ quan chỉ huy của họ và vượt biên giới để vào thị trấn Changbai, tỉnh Jilin, làm cho các chiến binh Trung Quốc gần đó phảỉ báo động, vây bắt.
Tình hình đaò ngũ tập thể có thể vì thiếu ăn. Viện trợ quốc tế gửi vào Bắc Hàn đã giảm nhiều kể từ khi nước này bắn một phi đạn hồi tháng 4-2012, làm thiếu ăn cho cả lính lẫn dân. Với thực phẩm tập trung cho các viên chức và binh đội ở thủ đô Bình Nhưỡng và các đơn vị trú đóng gần biêng iới Nam Hàn, lính ở biên giới gần TQ ăn tập trung vào bắp và khoai mà họ tự trồng.
Một nguồn tin cho biết rằng với mùa xuân tới và lương thực tồn kho giảm vì mùa màng gay gắt, đang có nhiều lính Bắc Hàn đaò ngũ hơn.
Trong khi đó, TQ cũng tập trung giảỉ giao về Bắc Hàn những thường dân đào tỵ.
Yonhap nói có 8 người Bắc Hàn đào tỵ bị an ninh TQ bắt ở Yanji đầu tháng này đã bị đưa vào trại tạm giam cho người đào tỵ ở Tumen và tất cả đã bị giao về Bắc Hàn, theo nguồn tin này. Trong nhóm đó có 5 trẻ em, một số trong đó được cho biết là họ bị bắt khi đang xin ăn trên lãnh thổ TQ.
Đặc biệt có một trong 2 công dân Nam Hàn bị bắt cùng với các người Bắc Hàn đào tỵ đã được bàn giao cho chính phủ Nam Hàn để trục xuất về Seoul hôm Thứ Tư. Họ là những người trước đó đaò tỵ từ Bắc Hàn và gần đây trở vào TQ để giúp gia đình họ thoát khỏi Bắc Hàn.
Cũng cần phải nên lên hiện tượng: Trẻ em lưu lạc là một hoàn cảnh đau lòng ở bên kia biên giới Bắc Hàn, phía lãnh thổ Trung Quốc, nơi nhiều chục ngàn phụ nữ Bắc Hàn đã vượt biên vào lưu tán.
Nhật báo Chosun Ilbo ở Nam Hàn kể rằng có khoảng 40,000 trẻ em, con của các bà mẹ Bắc Hàn, bị “bỏ rơi ở Trung Quốc.” Báo này nói, như thế là hàng chục ngàn trẻ em con của các bà mẹ Bắc Hàn không được bảo vệ gì ở TQ.
Một bản phúc trình của Ủy Hội Nhân Quyền Quốc Gia (National Human Rights Commission) thuộc chính phủ Nam Hàn dựa vào những cuộc phỏng vấn những người Bắc Hàn đảo tỵ lưu lạc hay đang sống ở 14 khu vực tại các tỉnh Liaoning, Jilin, Heilongjiang và Shandong thuộc TQ hồi năm ngoái, nói rằng ước đoán hiện đang có từ 20,000 tới 30,000 trẻ em dưới 19 tuổi sinh tại Trung Quốc bởi các bà mẹ Bắc Hàn. Thống kê này cũng dựa vào ước tính của các hội bất vụ lợi NGO của người Nam Hàn và các nhà nghiên cứu tại đại học Hoa Kỳ Johns Hopkins University.
Trong khi đó, bản tin VOA hôm 21-3-2013 cho biết Liên Hiệp Quốc đã lập một ủy ban để điều tra những vụ vi phạm nhân quyền tại Bắc Hàn và nói rằng một số vi phạm có thể lên đến mức “tội phạm chống nhân loại.”
Bản tin VOA nói rằng Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã thống nhất thông qua một nghị quyết hôm thứ Năm, gi cho ủy ban điều tra những vụ vi phạm nhân quyền “có hệ thống, sâu rộng và nghiêm trọng” tại Bắc Hàn.
Nghị quyết cũng lên án những vụ tra tấn và những trại lao động dành cho tù chính trị tại Bắc Hàn. Liên hiệp châu Âu và Nhật Bản đưa ra nghị quyết, được Hoa Kỳ ủng hộ.
Các tổ chức nhân quyền từ lâu đã kêu gọi những nỗ lực quốc tế nhằm chấm dứt những vi phạm nhân quyền tại Bắc Hàn, được xem như tệ hại nhất trên thế giới.
Tổ chức theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch cho biết cuộc điều tra của Liên Hiệp Quốc sẽ giúp phơi bày “nhiều thập niên vi phạm” của chính phủ Bắc Hàn.
Dĩ nhiên, các giới chức Bắc Hàn đã phủ nhận những cáo buộc là họ có vi phạm nhân quyền.
Thực tế cần ghi nhận: Những người vượt tuyến Bắc Hàn hiện nay, cũng như những người vượt tuyến từ Bắc Việt vào Nam thời xưa, là bằng chứng sinh động nhất về một xã hội bưng bít, ngộp thở của các thiên đường xã hội chủ nghĩa vậy.
Và ước mơ của đại đa số những người dân này chỉ muốn làm sao vào được các nước “tư bản đang giãy chết.”
Tác giả : Trần Khải
Lính cũng đói thê thảm. Thế là trốn sang Trung Quốc ào ạt. Đó là tình hình gần đây, nhiều chiến binh Bắc Hàn rủ nhau trốn sang Trung Quốc.
Thông tấn Yonhap cho biết có 12 chiến binh Bắc Hàn có vũ trang đã đào tỵ sang tỉnh Jilin ở bên kia biên giới TQ đầu tháng này, nhưng đã bị lính TQ bắt và giải giao về lại Bắc Hàn.
Hồi cuối tháng trước, 2 lính Bắc Hàn đã nổ súng và giết chết viên sĩ quan chỉ huy của họ và trốn sang tỉnh Jilin, làm cho các chuyên gia phân tích suy đoán là đã có gì dị thường xảy ra trong các đơn vị quân đội đồn trú dọc biên giới TQ.
Nhóm 12 chiến binh Bắc Hàn đóng ở một đồn biên giới đã trốn sang đất TQ làm 2 nhóm, nhưng giải giao lại cho nhà cầm quyền Bắc Hàn sau khi bị lính TQ bắt, theo một nguồn tin ngoạị giao ở Bắc Kinh hôm Thứ Năm.
Một nguồn tin khác ở thành phố Yanji của TQ, gần biên giới Bắc Hàn, nói rằng có 2 chiến binh Bắc Hàn khác đã bắn chết viên sĩ quan chỉ huy của họ và vượt biên giới để vào thị trấn Changbai, tỉnh Jilin, làm cho các chiến binh Trung Quốc gần đó phảỉ báo động, vây bắt.
Tình hình đaò ngũ tập thể có thể vì thiếu ăn. Viện trợ quốc tế gửi vào Bắc Hàn đã giảm nhiều kể từ khi nước này bắn một phi đạn hồi tháng 4-2012, làm thiếu ăn cho cả lính lẫn dân. Với thực phẩm tập trung cho các viên chức và binh đội ở thủ đô Bình Nhưỡng và các đơn vị trú đóng gần biêng iới Nam Hàn, lính ở biên giới gần TQ ăn tập trung vào bắp và khoai mà họ tự trồng.
Một nguồn tin cho biết rằng với mùa xuân tới và lương thực tồn kho giảm vì mùa màng gay gắt, đang có nhiều lính Bắc Hàn đaò ngũ hơn.
Trong khi đó, TQ cũng tập trung giảỉ giao về Bắc Hàn những thường dân đào tỵ.
Yonhap nói có 8 người Bắc Hàn đào tỵ bị an ninh TQ bắt ở Yanji đầu tháng này đã bị đưa vào trại tạm giam cho người đào tỵ ở Tumen và tất cả đã bị giao về Bắc Hàn, theo nguồn tin này. Trong nhóm đó có 5 trẻ em, một số trong đó được cho biết là họ bị bắt khi đang xin ăn trên lãnh thổ TQ.
Đặc biệt có một trong 2 công dân Nam Hàn bị bắt cùng với các người Bắc Hàn đào tỵ đã được bàn giao cho chính phủ Nam Hàn để trục xuất về Seoul hôm Thứ Tư. Họ là những người trước đó đaò tỵ từ Bắc Hàn và gần đây trở vào TQ để giúp gia đình họ thoát khỏi Bắc Hàn.
Cũng cần phải nên lên hiện tượng: Trẻ em lưu lạc là một hoàn cảnh đau lòng ở bên kia biên giới Bắc Hàn, phía lãnh thổ Trung Quốc, nơi nhiều chục ngàn phụ nữ Bắc Hàn đã vượt biên vào lưu tán.
Nhật báo Chosun Ilbo ở Nam Hàn kể rằng có khoảng 40,000 trẻ em, con của các bà mẹ Bắc Hàn, bị “bỏ rơi ở Trung Quốc.” Báo này nói, như thế là hàng chục ngàn trẻ em con của các bà mẹ Bắc Hàn không được bảo vệ gì ở TQ.
Một bản phúc trình của Ủy Hội Nhân Quyền Quốc Gia (National Human Rights Commission) thuộc chính phủ Nam Hàn dựa vào những cuộc phỏng vấn những người Bắc Hàn đảo tỵ lưu lạc hay đang sống ở 14 khu vực tại các tỉnh Liaoning, Jilin, Heilongjiang và Shandong thuộc TQ hồi năm ngoái, nói rằng ước đoán hiện đang có từ 20,000 tới 30,000 trẻ em dưới 19 tuổi sinh tại Trung Quốc bởi các bà mẹ Bắc Hàn. Thống kê này cũng dựa vào ước tính của các hội bất vụ lợi NGO của người Nam Hàn và các nhà nghiên cứu tại đại học Hoa Kỳ Johns Hopkins University.
Trong khi đó, bản tin VOA hôm 21-3-2013 cho biết Liên Hiệp Quốc đã lập một ủy ban để điều tra những vụ vi phạm nhân quyền tại Bắc Hàn và nói rằng một số vi phạm có thể lên đến mức “tội phạm chống nhân loại.”
Bản tin VOA nói rằng Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã thống nhất thông qua một nghị quyết hôm thứ Năm, gi cho ủy ban điều tra những vụ vi phạm nhân quyền “có hệ thống, sâu rộng và nghiêm trọng” tại Bắc Hàn.
Nghị quyết cũng lên án những vụ tra tấn và những trại lao động dành cho tù chính trị tại Bắc Hàn. Liên hiệp châu Âu và Nhật Bản đưa ra nghị quyết, được Hoa Kỳ ủng hộ.
Các tổ chức nhân quyền từ lâu đã kêu gọi những nỗ lực quốc tế nhằm chấm dứt những vi phạm nhân quyền tại Bắc Hàn, được xem như tệ hại nhất trên thế giới.
Tổ chức theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch cho biết cuộc điều tra của Liên Hiệp Quốc sẽ giúp phơi bày “nhiều thập niên vi phạm” của chính phủ Bắc Hàn.
Dĩ nhiên, các giới chức Bắc Hàn đã phủ nhận những cáo buộc là họ có vi phạm nhân quyền.
Thực tế cần ghi nhận: Những người vượt tuyến Bắc Hàn hiện nay, cũng như những người vượt tuyến từ Bắc Việt vào Nam thời xưa, là bằng chứng sinh động nhất về một xã hội bưng bít, ngộp thở của các thiên đường xã hội chủ nghĩa vậy.
Và ước mơ của đại đa số những người dân này chỉ muốn làm sao vào được các nước “tư bản đang giãy chết.”

Tâm tình của một Công Dân Tự Do
Duy Tâm
(Danlambao) - Khi tôi viết bài này, là tôi có đọc bài "Sĩ khí cũng đổi màu" tôi chỉ là một cá nhân bình thường, đứng trước vận mệnh đất nước. Là con dân tôi hiểu và ý thức trách nhiệm, do vậy tôi mới dám bạo dạn phát biểu ý kiến, cảm nhận bức xúc, không thể im lặng.
Thưa các bạn, tôi người đã ký tên vào lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do khá sớm trong tổng số ở (900-1000). Bản Tuyên Bố Công Dân Tự Do được ra đời nhằm ủng hộ Nguyễn Đắc Kiên, người tiên phong dõng mãnh tuyên bố 5 bước quyền công dân, để trả lời ông tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, đã phát biểu tại Vĩnh Phúc trước đó một ngày, ngày 25-2-2013.
Các bạn thân mến, chúng ta ký tên không những ủng hộ Nguyễn Đắc Kiên, cũng đồng thời tiếp sức Kiến nghị 72, mà còn nói lên nguyện vọng của chính chúng ta, không chấp nhận sự lừa bịp, dối trá, của CSVN. Chúng ta mong đất nước chúng ta đa đảng, mong lấy lại niềm tin cho Dân Tộc...
Thưa các bạn, Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do được cập nhật trên Danlambao, đến nay được một tháng có 8500 Công Dân đã ký, số người ký xem ra khiêm nhường, nhưng xin đừng lấy đó làm nản, tuy chậm mà chắc, đủ nói lên nguyện vọng của chính người ký.
Chúng ta hiểu rằng, chính mình ký vào Lời Tuyên bố rất là quan trọng, nó là một cú đấm thôi sơn vào cái mõ láo khoét của chế độ lưu manh, côn đồ CSVN. Nó quan trọng đến mức Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do phải ra đời và hiểu được mục đích của nó nên chúng ta có đủ nghị lực can đảm để tham gia, để góp phần đấu tranh cho đại cuộc sớm thành công.
Xin cám ơn, Nguyễn Đắc Kiên, người tiên phong đột phá bức tường sợ hãi, từ lâu đã bao phủ lên thế hệ chúng tôi, ra trước ánh sáng, từng bước, từng bước, phải đòi cho bằng được quyền sống của con người.
Xin lỗi, dù sau này, Nguyễn Đắc Kiên, có đổi ngựa giữa đường, tương tự như ông Nguyễn Đình Lộc đi chăng nữa, thì Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do vẫn là điểm đến của những Công Dân Việt Nam.
Nó cũng là bản trắc nghiệm, đối với những nhà trí thức thích đổi màu, và giúp những mọi người nhận diện được những con thò lò chính trị núp bóng Công Dân.
Thưa các bạn, chúng ta phải nói, phải đấu tranh, để quyền Công Dân được Tự Do, để Tổ Quốc không bị diệt vong, chúng ta cùng nắm tay nhau dậy mà đi đồng bào ơi, Triệu con Tim một Tiếng Nói. Sự im lặng trước nỗi đau của đồng bào ruột thịt là sự vô cảm đáng tiếc.
Duy Tâm

Việt Nam - Chuyện đất nước tôi
Nguyễn Tâm Linh
(Danlambao) - Dưới mắt Thượng Đế, tôi chỉ là miếng giẻ rách hôi hám bị mối mọt cắn nát, chẳng còn gì! Cho dù như thế tôi vẫn còn được thương xót!
Giữa xã hội loài người, tôi như con ốc bị sóng gió bão đời vùi dập, xô đẩy ra khỏi đất nước, trôi giạt đến lục địa xứ người, nằm lẻ loi trên một hòn đảo nhỏ. Tại nơi đây tôi được an ủi, nâng đỡ, dạy dỗ, học hỏi làm bạn với cỏ cây, chim muông... chuyện trò cùng gió, mây, trăng, sao suốt khoảng thời gian từ xanh tóc đến bạc đầu.
Điều tôi muốn chia sẻ cùng bạn đọc cái ấm ức đã bị dồn nén bấy lâu, nay được dịp trào ra cũng vì Satan với “quyền lực vô hình” không chịu buông tha đất nước VN, khiến dân tộc tôi sống đời bất hạnh, “phải khản tiếng kêu oan, đành bó tay chịu trận, ứa nước mắt đứng nhìn” giang sơn tơi tả bởi tay đảng CS. Lòng dân vẫn còn ôm đắng cay, ruột gan ghim gút sự oán hận từ trong nước ra tới hải ngoại thì làm cách nào nhận được bông trái của sự tha thứ, thương xót từ trơi cao?
Nay biết thêm thực trạng đất nước: các cấp lãnh đạo CS “điều đình cách bừa bãi”, đang đóng nốt đoạn cuối vở tuồng, thông đồng với giặc, “ăn hối lộ nên không còn đếm xỉa đến quyền lợi” dân tộc. Đưa tay kết ước với bọn tài phiệt, dở thủ đoạn “bóc lột dân nghèo và chứa đầy vựa lẫm bao nhiêu thóc lúa cướp đoạt của nông dân”, bày trò ly gián dân lành với Thượng Đế Hằng Hữu.
Còn thế hệ trẻ vẫn bị đảng “lừa dối, dẫn đi lầm đường lạc lối” trong mọi lãnh vực “như người say xiêu tới xiêu lui” để rồi nay mai đây “sẽ bỏ chạy tán loạn như đàn hươu bị săn bắt, như bầy cừu tản lạc không ai chăn”.
I.
Thực tế trước mặt, hình ảnh hiện rõ, đôi mắt thấy được sự thật? Khoảng cách xa tầm nhìn, đâu còn thấy từng chi tiết? Xa thấy mờ dần? Xa quá đâu còn nhận dạng được gì? Nghe cũng chẳng khác chi! Âm thanh mời gọi, kề tai thầm thì, nghe như ru ngủ? Xa quá cố lắng tai nghe được gì?
Bạn tìm cách nghe thử âm ba giữa chợ đời ra sao? Có phân biệt được lời nào an ủi, khích lệ? Toàn là tiếng ồn ào tranh cãi, hơn thua? Đây là cớ để con người đến với nhau bày tỏ ‘cái tôi’ rõ nét mà quên thân phận mình là kẻ đang mù lòa, điếc lác, quờ quạng đi giữa trưa hè, tưởng mình là học giả, là nhân sĩ, trí thức...
Bóp méo lịch sử, dạy dỗ trẻ thơ học theo trường đảng, xa lìa đạo đức, săn tìm lợi bất nghĩa... Báo chí lề đảng tung tin thật, giả đâu ai biết? Hình ảnh trên sách báo, trên hệ thống truyền hình được pha trộn, thêm thắt, ghép nối, thật hay giả, giả hay thật, hướng dẫn con người tin theo, nghe theo sự chỉ đạo của kẻ có thẩm quyền?
Tin tức thế giới tràn ngập, truyền thông qua mạng lưới ‘một chiều’, ‘nhào nắn sự thật’... đâu có người nào có đủ thời gian theo dõi hết, gạn lọc đúng sai? Ai đó vẫn mê say học mà không hỏi, cố lục tìm tin tức thế giới, dữ kiện tài liệu lịch sử... rồi ước tính, đánh giá, bình luận, đưa ra nào là quốc sách, chiến lược, chiến thuật, cương lĩnh... giải phóng đất nước theo ý mình? Thấy buồn!
Có người bạn học hỏi tôi: “Nước Mỹ, một đất nước giàu có nhất, hùng mạnh nhất, sao lại thiếu nợ hàng ngàn tỉ đô la, đã thiếu nợ mà còn đi viện trợ khắp nơi, không chịu ngồi yên, lạ lùng!” Tôi chịu phép, chỉ cười trừ, đọc một câu nhớ nằm lòng: “Nghe một bên chỉ thấy vài khía cạnh, nghe đôi bên mới biết trọn vấn đề!”
Tôi hỏi lại: “Làm cách nào bạn biết đất nước họ giàu có, hùng mạnh nhất, biết họ nầy nọ? Có phải tại mắt thấy, tai nghe lời đồn đãi qua tài liệu, phim ảnh, sách báo, truyền thanh, TV... mà quyết đoán họ là cường quốc số một trên thế giới?” (1)
“Dân ngồi làm khán giả, có ai đi hết khắp năm châu bốn biển để so sánh, đánh giá, và thấy hết, biết rõ trên sân khấu, hậu trường? Dù được làm diễn viên chính, cũng chẳng biết gì hơn ngoài chuyện thuộc kịch bản, phải đóng cho trọn vai tuồng? Vì ‘tập đoàn tài phiệt’ là ‘đạo diễn’ nắm quyền lực vô hình trong tay, đang túng truyền thông thế giới và mọi lãnh vực kinh tế, chinh trị, quân sự...”
Nay nhìn về VN, đảng CS vẫn tiếp tục chà đạp người dân yêu nước, “xâm phạm nhân quyền mà Đấng Tạo Hóa dành cho con người, làm lệch cán cân công lý, áp bức, bóc lột dân lành. Dĩ nhiên Chúa Tể hoàn vũ không bao giờ bỏ qua.”
CSVN phải làm đúng theo kịch bản soạn sẵn - gây thêm hận thù vào lòng người (thứ mà Satan cần đến) - không cho tự do yêu nước mọc rễ, đâm chồi, ra hoa, ra trái ngọt trên quê hương.
‘Nhân quyền’ chỉ là cớ để nói tới nói lui giũa phiên chợ... tìm cách co kéo thời gian, đợi cho đến lúc súng đạn, chiến xa, đại pháo, phản lực cơ, chiến hạm... tới được đất nước VN đủ số như dự tính thì biến cố... đã xảy đến rồi! Thương trường biến dạng... chiến trường?
Một khi người dân hiểu được “Thượng Đế là pháo đài kiên cố bất khả xâm phạm” đến lúc đó đã quá muộn!
Đảng CSVN “không hiểu biết gì về vận nước” hay không thiết tha đến? Họ “tìm cách giấu ý đồ... làm những việc chùng lén trong bóng tối” cùng khối ASEAN thi nhau vay tiền đóng học phí, học ngón đòn thế thủ, thế công hòng chống trả lại bọn giặc đang hăm he, lăm le? Dù đã biết, đã thấy Tầu Cộng “không đếm xỉa đến những lời cam kết, mặc dù đã long trọng ký kết...” Họ “chẳng coi ai ra gì!”
Còn Mỹ thì muốn VN phải thực thi nhân quyền đúng như họ đòi hỏi mới chịu “làm ăn chung”? Nghe lạ?
Nhân quyền hay lợi quyền?
Vũ khí loại nào có thể chống trả khi Tầu Cộng đã dùng quân tình báo từng đếm hết các vị trí chiến lược trên đất nước VN để “đặt kế hoạch tiến công” (?) “Chúng len lỏi khắp nơi như bầy rắn độc” và con mắt ‘cú vọ’ từ trên không gian nhìn xuống, định rõ tọa độ mục tiêu... Một cái bấm nút. “Tránh đâu cho thoát!”(?)
Khi khí thế đã sẵn sàng, vũ khí chiến tranh hiện đại được đem ra thử nghiệm thì lúc đó số phận dân VN thật hẩm hiu? Hà Nội “không được làm thủ đô nữa, chỉ còn là một nơi đổ nát. Cả đất nước đều điêu tàn thê thảm”? “Cầu cứu với ai?”
Vũ khí không nằm im trong kho để mà chờ đợi... chờ cho đến khi giặc Tầu Cộng đồng hóa được dân tộc VN?
II.
Nhìn về quá khứ, không nhắc đến thời điểm tiền nhân mình bị Bắc thuộc, bị Tây đô hộ... chỉ khơi lại cái ngày ‘cha già dân tộc’ cướp được chính quyền ngày 2.9.1945 từ chính phủ Quốc Gia Trần Trọng Kim - áp đặt cái chế độ Cộng Sản - trên miền Bắc rồi đến miền Nam năm 1975, rồi cả nước thống nhất, tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa.
Bao nhiêu năm đã qua, cái chế độ “chết tiệt” đó vẫn còn cựa còn quậy vì được cưu mang, được o bế... là diễn viên chính sáng giá vùng Đông Nam Á, càng ngày càng “biến giống” khiến ngoại nhân các nước “thèm thuồng”? Còn người dân trong nước thì cúi mặt, thở dài ngao ngán, mong chờ...
VN nay như “miếng mồi ngon”? Đảng CSVN được nhà đạo diễn kề tai nói nhỏ - thủ diễn cho thật xuất sắc - đóng trọn vai cho đến hồi hạ màn kết thúc! Phần thưởng lúc vãng tuồng: “Âm phủ xôn xao tổ chức cuộc tiếp đón...”
“Suốt 70 năm, tức là một đời vua.”
Theo sử liệu, vén lại cái hồi đầu màn kịch: Hồ chí Minh (2), đảng viên ‘Đảng CS Quốc tế đệ tam’, chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thực hiện tuyên ngôn Đảng CS của Karl Marx: ‘Cách mạng ruộng đất là điều kiện giải phóng dân tộc’.
HCM là kẻ chủ xướng chính sách ‘cải cách ruộng đất’ rập khuôn theo mô hình ‘thổ địa cải cách’ của Mao trạch Đông - đấu tố cực kỳ man rợ - có cố vấn Tầu Cộng đi kèm, thị sát. Hàng trăm ngàn người bị tố khổ, chết không nhắm mắt, chết bị trâu bừa cày đứt đầu lúc chôn sống, cổ bị đập gãy bằng cuốc hay cho đi mò tôm... chết trong tức tưởi xót xa! Thân nhân bị họa lây, số người sống sót tìm cách trốn chạy (1953-1956).
Đây là bước khởi đầu HCM cùng Việt Minh vén màn kịch... gây nên lòng ‘hận thù giai cấp’ tràn ngập giữa dân giàu, dân nghèo (địa chủ và bần cố nông), tìm cách cướp đoạt tài sản người có ruộng vườn, tiền của, gây nên ‘phong trào đấu tố’ thật dã man. Lật ngược đạo đức: con tố cha, vợ tố chồng, đầy tớ tố chủ, bạn bè, anh em, đồng chí...
Sau đợt sửa sai, ‘cha già dân tộc’ chùi nước mắt, tạ lỗi trước nhân dân để xoa dịu bớt lòng căm thù, đưa ra chủ trương của đảng cs: ‘Lập lại công bằng xã hội, thiết lập nền chuyên chính vô sản, chia lại ruộng đất cho nông dân’.
Người miền Bắc nghe sao quá ngọt ngào như lời mẹ ru con, ủng hộ đảng hết mình!
Đợi cho tình hình lắng dịu đến năm 1959, chính phủ VNDCCH xóa bỏ quyền tư hữu để tiến đến quyền sở hữu tập thể, thành lập ‘hợp tác xã’. Nông dân héo lòng xót dạ vì biết mình đã lọt bẫy rập! Đất đai dần dần tập trung vào tay Nhà Nước.
Năm 1960-1975, sống dưới chế độ ‘tem phiếu’người dân phải chấp nhận ‘sinh Bắc tử Nam’. Không còn con đường nào khác để lựa chọn?
Ngày 30.4.1975, ngày miền Nam “gặt lấy những nỗi sầu muộn, đau thương, không còn nghe tiếng hát con gặt và tiếng reo vui”. Người dân “van xin các thần tượng dựng trên các đỉnh đồi núi nhưng không ai cứu giúp, nài nỉ kêu cầu các thần tượng trong đền miễu nhưng chẳng được nhậm lời”. Đứng nhìn, chỉ thấy màu cờ máu sao vàng phần phật tung bay với khẩu hiệu: ‘Đảng ta là đảng cầm quyền’.
Cũng trong năm nầy ‘Việt Nam Dân chủ Cộng hòa’ trưởng thành, đổi tên ‘Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam’.
Năm 1976 ‘Đảng Lao Động’ hiện lại nguyên hình ‘Đảng Cộng Sản’.
Năm 1980 là giai đoạn cuối (?). Quyền sở hữu đất đai trên toàn lãnh thổ VN thuộc ‘NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ’ – quốc hữu hóa toàn diện – ‘NHÂN DÂN LÀM CHỦ’ nghe sướng làm sao!
Ruộng đất biến thành sân gôn để bọn ‘chuyên chính vô sản’ giải trí. Đất đai được ‘đỉnh cao trí tuệ’ tự do qui hoạch, ngoại nhân được mua hay thuê mướn dài hạn. Nhà cửa, tài sản người dân phải di dời vì các dự án phát triển đất nước... để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN, đỉnh điểm là ‘vô sản’ trở thành ‘tư bản đỏ’.
Giờ đây trên khắp các tỉnh thành, dân oan đi ‘khiếu kiện’, đấm ngực, than dài, vừa đi vừa chùi vội nước mắt, “thèm nhớ” quá khứ “nhưng bây giờ đâu còn nữa!” Nhìn cái hiện tại đang bị CS ngược đãi với lòng quặn đau trộn với nỗi oán hờn, căm thù khôn nguôi! Đúng như Satan sai khiến!
CSVN đã ‘giải phóng dân tộc’ một cách thật điệu nghệ, tuyệt vời! Chủ trương đúng, thực hiện đúng đường lối theo ‘tuyên ngôn Đảng CS quốc tế.’
Đem cái chủ nghĩa CS tàn bạo vào đất nước để giải phóng dân tộc làm chết mấy triệu sanh linh. Nay đảng CS vẫn “tiếp tục đi sâu vào con đường sai lạc, không chịu nhìn nhận sự thật”. Các cấp lãnh đạo dù thấy hiểm họa nguy cơ trước mắt, họ vô cảm vì tiền của che mờ lương tri. Họ đang nắm trong tay quyền lực sắt máu, bày đủ chuyện để gây khốn khó cho dân lành, trên dưới chia nhau “ăn hết mùa màng, cướp mất nồi cơm” của nhân dân, nên họ giàu có, sống vinh thân phì da, không cần biết gì khác! Họ “chỉ thích nằm dài, ngủ gà ngủ gật, mơ mộng hão huyền với một lòng tham không đáy, không bao giờ thỏa mãn”.
Bao nhiêu năm đã qua, CS vẫn được hưng thịnh? Không bị “báo ứng nhãn tiền” vẫn dùng “môi lừa bịp, lưỡi dối trá” làm cho đạo đức sợ hãi trốn biệt tăm, gây cho đất nước “đầy dẫy bất công, bất nghĩa”. Để rồi một ngày nào đó “họ phải trả lại những món lợi bất chính, không nuốt được xơ múi gì” vì lẽ “của phi nghĩa CHÚA không cho tiêu hóa”.
III.
Cái di hại lòng căm thù qua thế hệ nầy đến thế hệ tiếp nối vẫn tác động vào lòng người không bao giờ dứt! Kẻ đầu đàn chính là Satan, làm mù lòng một nhân vật, đóng vai chính trên sân khấu chính trường VN, là kẻ đem cái ‘chủ nghĩa Cộng Sản’ từ phương trời xa tít đến đất nước VN, để chia lìa tình yêu đời đời của Thượng Đế ra khỏi lòng người, đánh mất đi sự tha thứ từ thiên thượng.
Cộng Sản là thứ gì mà sao trên thế giới ngày trước thủ lĩnh khối thế giới Tự Do phải ra tay trừ khử, sợ hậu hoạn? VNCH là tiền đồn chống CS bị xóa sổ? Sao chừa lại vài nước đếm trên đầu ngón tay trong đó còn VN?
Chuyện cấm vận CSVN ngày nào, nay được ‘mở trói’ từng phần để rồi nhìn thấy được trên đất nước VN đổi mới? Cái bộ mặt trát phấn bôi vôi bên ngoài có che giấu được cái mục rữa bên trong? Đất nước được phục hồi sinh lực? Dự án tái thiết theo kiểu tầm vóc quốc tế? Đường cao tốc ‘hữu hảo’ xuyên biên giới. Cao ốc mọc lên như nấm. Đường sá, cầu cống được xây dựng tràn lan từ Nam ra Bắc. Xe cộ như nước, nhà cửa như nêm. Lê dân chen chúc nhau kiếm sống trên khắp đường phố chật chội, ồn ào! Sau cơn mưa, người dân lội nước bì bõm vì... thấy trời lại sáng?
Xí nghiệp đủ hạng mục mở rộng cửa đón nhận người dân đến kiếm sống – ‘lao động là vinh quang’ – chủ là dân, ngoại nhân hay bọn lãnh đạo CS?
Ngân hàng đủ loại danh xưng, đưa kinh tế thị trường theo ‘định hướng XHCN’ lên non hay xuống biển?
Người dân sống để phục vụ bọn chính khách, bọn thương gia, bọn mang danh cách mạng, bọn con ông cháu cha kẻ cầm quyền hiện nay?
Thế hệ trẻ ngày nay, con cháu ‘bác Hồ’ được ưu tiên đi du học, đa số đến Mỹ, được huấn luyện học đủ ngành, đủ nghề chuyên môn, dự bị cho tương lai VN xán lạn? Con cháu những người tù cải tạo CS, số lượng cũng không ít, theo cha đến Mỹ cũng được dạy dỗ chu đáo. Cả hai đều được trọng dụng, ngồi chung xây dựng lại tổ quốc VN? Cả hai “tắm rửa bằng xà phòng và các thuốc tẩy, vẫn không gột sạch được” mối hận thù đã dính khắng trong ruột, trong gan?
Việt Nam “giống như gạo sắp bỏ vào cối xay” (?)
Lòng ước mong dân tộc tôi đến với Thiên Phụ, biết run sợ trước ‘quyền lực hữu hình’ và nghe được lời hứa: “Chỉ một làn gió đủ tiêu diệt tất cả. Tuy nhiên, người nào ẩn náu trong TA sẽ được đất nước làm sản nghiệp”.
Nguyễn Tâm Linh
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Thắng và bại
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA) Kỷ niệm 10 năm chiến tranh Iraq, mấy tuần vừa qua, giới bình luận chính trị Tây phương bàn tán sôi nổi về vấn đề: cuối cùng, Mỹ đã thắng hay bại?
Nhìn chiến tranh Iraq như một trận đánh, đương nhiên là Mỹ thắng. Thắng rất dễ dàng. Quân Mỹ và đồng minh bắt đầu tấn công vào ngày 20 tháng Ba năm 2003. Đến ngày 9 tháng Tư, tức 20 ngày sau, họ đã chiếm được thủ đô Baghdad. Bên Iraq, có 9.200 binh sĩ bị giết chết; phía đồng minh, Mỹ có 139 và Anh có 33 binh sĩ bị tử vong.
Nhìn rộng hơn một tí, toàn bộ cuộc chiến tranh, từ lúc khởi chiến (tháng 3/2003) đến lúc rút quân (tháng 12/2011), cũng có thể nói Mỹ thắng. Mỹ chiếm được Iraq, bắt và treo cổ Saddam Hussein, đập đổ được chế độ độc tài, dần dần hình thành nên một chế độ dân cử tương đối dân chủ, và cuối cùng, rút quân ra khỏi Iraq một cách an toàn. Như vậy là thắng chứ còn gì nữa?
Thế nhưng, nhiều người vẫn cứ băn khoăn. Lý do đơn giản: Cần phải đặt cuộc chiến Iraq vào hai chu cảnh lớn: Một, trong một cuộc chiến tranh lớn hơn: chiến tranh chống khủng bố và độc tài; và hai, trong thế địa chính trị tại vùng Trung Đông.
Nhớ, tướng Tommy Franks của Mỹ đã đặt ra tám mục tiêu chính khi đánh Iraq năm 2003: “Một, chấm dứt chế độ Saddam Hussein. Hai, phát hiện, cô lập và tiêu hủy các loại vũ khí sát thương hàng loạt (mass destruction). Ba, tìm kiếm, bắt và trục xuất khủng bố ra khỏi Iraq. Bốn, sưu tầm tài liệu tình báo liên quan đến các mạng lưới khủng bố. Năm, sưu tầm các tài liệu liên quan đến mạng lưới vũ khí hủy diệt hàng loạt phi pháp trên phạm vi toàn cầu. Sáu, giải tỏa lệnh cấm vận và tiến hành tức khắc các cuộc viện trợ nhân đạo cho dân chúng Iraq. Bảy, bảo đảm an toàn cho các mỏ dầu khí và tài nguyên thiên nhiên vốn thuộc về nhân dân Iraq. Và cuối cùng, giúp người dân Iraq tạo điều kiện chuyển tiếp sang một chính phủ đại biểu do dân bầu để quản trị đất nước của họ.”
Không phải mục tiêu nào ở trên cũng được hoàn thành. Ngoài chuyện không có các loại vũ khí sát thương hàng loạt hay các mạng lưới khủng bố toàn cầu nào ở Iraq, thất bại chính của Mỹ không chừng là nằm ở mục tiêu cuối cùng. Sau khi Mỹ chiếm Iraq một cách dễ dàng, Iraq trải qua những năm tháng nội chiến triền miên. Khủng bố nối tiếp khủng bố. Chỉ riêng tại thủ đô Baghdad, người ta ước tính mỗi ngày có khoảng từ 11 đến 33 người bị giết chết trong các cuộc đặt bom ở các khu dân sự, kể cả chợ búa và đền thờ.
Về phương diện chính trị, các phe phái liên tục chống đối nhau. Đúng là Iraq đã bắt đầu xây dựng được một số nền tảng cho một chế độ dân chủ, tuy nhiên, tương lai chính trị của nước này vẫn đầy bất an.
Cái giá của cuộc chiến này khá cao. Về nhân mạng, 115.376 người Iraq bị giết chết từ năm 2003 đến 2011.
Về phía đồng minh, số binh sĩ bị chết của Mỹ là 4.488; của Anh là 179, của Ý 33, của Ba Lan 30, của Ukraine 18, Bulgaria 13, v.v.. Về tài chính, chi phí cho cuộc chiến tranh ấy, về phía Mỹ, là khoảng trên 845 tỉ đồng.
Chính vì vậy, nhiều học giả Mỹ đặt vấn đề: Một, liệu cuộc chiến tranh ấy có đáng không? Và hai, có thể xem là Mỹ thắng trận không?
Không có câu trả lời nào thật dứt khoát và thuyết phục hẳn. Eric S. Margolis, tác giả cuốn sách American Raj: Liberation or Domination? trả lời thẳng thừng: Mỹ thất bại. Fred Kaplan cho đó là một cuộc chiến tranh không cần thiết nhưng cũng cho rất khó trả lời câu hỏi ai thắng ai.
Christian Whiton, chủ tịch Hamilton Foundation, lại cho là Mỹ thành công, hơn nữa, hai lần thành công: vừa lật đổ được một chế độ được xem là độc tài và tàn bạo nhất thế giới vừa xây dựng được cơ sở cho một nền dân chủ lâu dài tại Iraq.
Một số người đề nghị chờ thời gian trả lời: Mỹ thành công nếu chính phủ dân chủ mới phôi thai ở Iraq càng ngày càng vững mạnh; ngược lại, Mỹ thất bại nếu nó sụp đổ và Iraq lại sống dưới chế độ độc tài như thời Sadam Hussein.
Gai góc hơn là vấn đề địa chính trị (geopolitics). Một trong những động cơ chính của Mỹ khi quyết định tấn công và xâm chiếm Iraq là biến Iraq thành một quốc gia dân chủ thân Mỹ, từ đó, biến nước này thành một trung tâm quyền lực của Mỹ để, một mặt, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa ở các nước Hồi giáo Trung Đông, mặt khác, sẵn sàng trấn áp mọi cuộc chiến tranh chống Mỹ trong tương lai. Cả hai đều gắn liền với địa chính trị.
Tuy nhiên, ở cả hai khía cạnh này, dường như Mỹ không thành công, hoặc ít nhất, chưa thành công.
Thứ nhất, nền dân chủ ở Iraq còn rất mỏng manh và yếu ớt.
Thứ hai, do tính chất mỏng manh và yếu ớt ấy, Iraq cũng không thể đóng vai trò một căn cứ địa chính trị hay quân sự đáng tin cậy cho Mỹ. Sau năm 2003, Mỹ đã xây dựng Tòa Đại sứ tại Baghdad, một Tòa đại sứ lớn và tốn kém nhất của Mỹ với chi phí hơn 750 triệu trên một mảnh đất rộng trên 104 mẫu Anh, nơi, thoạt đầu, chứa đến 16.000 nhân viên, trong đó, có đến 2.000 nhân viên ngoại giao, với tham vọng xem đó như một đầu não ngoại giao và an ninh trong khu vực. Tuy nhiên, với lý do nêu trên, tham vọng này dường như chỉ là một ảo tưởng.
Thứ ba, việc xâm lăng Iraq - nhất là việc không phát hiện bất cứ một thứ vũ khí hủy diệt hàng loạt nào ở Iraq cũng như việc không thể tìm ra chứng cứ nào về mối quan hệ giữa Saddam Hussein và al-Qaeda vốn là những lý do chính được đưa ra để gây chiến - đã gây bất bình cho cộng đồng Hồi giáo tại Trung Đông.
Thứ tư, quan trọng hơn hết, cuộc chiến tranh Iraq dường như làm cho Iran, kẻ thù của cả Mỹ lẫn Iraq trước đây, mạnh hơn hẳn. Mạnh vì hai lý do: Một, đối thủ chính và nguy hiểm nhất của Iran là Saddam Hussein đã bị tiêu diệt; và hai, phái Shia, một giáo phái thuộc Hồi giáo đang cầm quyền tại Iran càng ngày càng phát triển mạnh, nắm rất nhiều quyền lực tại Iraq, thay cho giáo phái Sunni trước đây. Với sự thắng thế của phái Shi’ite, Iran có thể sẽ có một lực lượng đồng minh rất đáng kể ở Iraq.
Dĩ nhiên, vẫn có người phản bác các nhận định trên với lý do chính: Bất kể những thất bại ở lãnh vực này hay lãnh vực khác, Mỹ cũng đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh khủng bố vốn mở màn sau biến cố 11 tháng 9 năm 2001. Lực lượng khủng bố, trên cơ bản, đã bị dẹp tan, không còn là một đe dọa lớn đối với Mỹ cũng như trên thế giới nữa. Vì thế, Mỹ có thể an tâm quay về với một đối thủ mới xuất hiện ở phương Đông: Trung Quốc.
Như vậy, cuộc bàn cãi về chuyện thắng hay bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Iraq từ năm 2003 cho đến nay vẫn còn tiếp tục và có lẽ sẽ còn tiếp tục dài dài.
Thật ra, đó cũng là điều bình thường. Chuyện thắng hay bại là một vấn đề phức tạp hơn hẳn những gì chúng ta thường nghĩ. Thường, nghĩ về chiến tranh hay chính trị, chúng ta hay tự giới hạn mình ở một biến cố hay một sự kiện nào đó. Như một cái gì biệt lập và đơn lập. Trong khi, trên thực tế, bất cứ sự kiện hay biến cố nào cũng nằm trong một chu cảnh (context) với nhiều quan hệ chằng chịt theo nhiều chiều và với nhiều kích thước khác nhau, từ kích thước địa chính trị đến kích thước lịch sử. Bởi vậy, không hiếm trường hợp thắng một trận đánh nhưng lại thua một cuộc chiến tranh hay thua một cuộc chiến tranh nhỏ nhưng lại thắng một cuộc chiến tranh lớn. Hoặc ngược lại.
Thời Chiến tranh lạnh, Mỹ hòa ở chiến tranh Triều Tiên, và có thể gọi là thua, như nhiều người đã nói, cuộc chiến tranh ở Việt Nam, nhưng lại thắng trong toàn bộ cuộc chiến tranh lạnh, nghĩa là thắng toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Cũng có thể nói, phần nào, Mỹ thắng Liên Xô ở cuộc chiến tranh tại Afghanistan từ 1979 đến 1989. Dù hai bên không hề trực tiếp đụng độ với nhau, nhưng ai cũng biết suốt thời gian chín năm ấy, Mỹ và nhiều đồng minh của Mỹ, từ Pakistan đến Anh, Saudi Arabia (và, kể cả Trung Quốc) đã đổ tiền giúp đỡ các kháng chiến quân người Afghanistan rất nhiều. Không những giúp đỡ tiền bạc mà còn giúp vũ khí và cả việc huấn luyện quân sự, bao gồm các chiến thuật du kích và, thậm chí, các phương pháp khủng bố. Cuối cùng, không chịu đựng nổi, từ đầu năm 1987, Liên Xô quyết định rút quân: Giữa năm 1988, rút một nửa, đến đầu năm 1989 thì rút toàn bộ. Phe tự do hoan hỉ xem đó như một chiến thắng.
Nhưng chiến thắng ấy, oái oăm thay, lại mở đầu cho một thất bại của Mỹ trong trận chiến chống khủng bố: Một trong những lực lượng được Mỹ giúp đỡ và huấn luyện để chống lại Liên Xô thời ấy, sau này, đã trở thành một lực lượng Hồi giáo cực đoan mang tên al-Qaeda, trong đó có cả Osama bin Laden: Chính những người ấy, vào năm 2001, đã tổ chức cuộc tấn công khủng bố khủng khiếp ngay trên đất Mỹ.
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA) Kỷ niệm 10 năm chiến tranh Iraq, mấy tuần vừa qua, giới bình luận chính trị Tây phương bàn tán sôi nổi về vấn đề: cuối cùng, Mỹ đã thắng hay bại?
Nhìn chiến tranh Iraq như một trận đánh, đương nhiên là Mỹ thắng. Thắng rất dễ dàng. Quân Mỹ và đồng minh bắt đầu tấn công vào ngày 20 tháng Ba năm 2003. Đến ngày 9 tháng Tư, tức 20 ngày sau, họ đã chiếm được thủ đô Baghdad. Bên Iraq, có 9.200 binh sĩ bị giết chết; phía đồng minh, Mỹ có 139 và Anh có 33 binh sĩ bị tử vong.
Nhìn rộng hơn một tí, toàn bộ cuộc chiến tranh, từ lúc khởi chiến (tháng 3/2003) đến lúc rút quân (tháng 12/2011), cũng có thể nói Mỹ thắng. Mỹ chiếm được Iraq, bắt và treo cổ Saddam Hussein, đập đổ được chế độ độc tài, dần dần hình thành nên một chế độ dân cử tương đối dân chủ, và cuối cùng, rút quân ra khỏi Iraq một cách an toàn. Như vậy là thắng chứ còn gì nữa?
Thế nhưng, nhiều người vẫn cứ băn khoăn. Lý do đơn giản: Cần phải đặt cuộc chiến Iraq vào hai chu cảnh lớn: Một, trong một cuộc chiến tranh lớn hơn: chiến tranh chống khủng bố và độc tài; và hai, trong thế địa chính trị tại vùng Trung Đông.
Nhớ, tướng Tommy Franks của Mỹ đã đặt ra tám mục tiêu chính khi đánh Iraq năm 2003: “Một, chấm dứt chế độ Saddam Hussein. Hai, phát hiện, cô lập và tiêu hủy các loại vũ khí sát thương hàng loạt (mass destruction). Ba, tìm kiếm, bắt và trục xuất khủng bố ra khỏi Iraq. Bốn, sưu tầm tài liệu tình báo liên quan đến các mạng lưới khủng bố. Năm, sưu tầm các tài liệu liên quan đến mạng lưới vũ khí hủy diệt hàng loạt phi pháp trên phạm vi toàn cầu. Sáu, giải tỏa lệnh cấm vận và tiến hành tức khắc các cuộc viện trợ nhân đạo cho dân chúng Iraq. Bảy, bảo đảm an toàn cho các mỏ dầu khí và tài nguyên thiên nhiên vốn thuộc về nhân dân Iraq. Và cuối cùng, giúp người dân Iraq tạo điều kiện chuyển tiếp sang một chính phủ đại biểu do dân bầu để quản trị đất nước của họ.”
Không phải mục tiêu nào ở trên cũng được hoàn thành. Ngoài chuyện không có các loại vũ khí sát thương hàng loạt hay các mạng lưới khủng bố toàn cầu nào ở Iraq, thất bại chính của Mỹ không chừng là nằm ở mục tiêu cuối cùng. Sau khi Mỹ chiếm Iraq một cách dễ dàng, Iraq trải qua những năm tháng nội chiến triền miên. Khủng bố nối tiếp khủng bố. Chỉ riêng tại thủ đô Baghdad, người ta ước tính mỗi ngày có khoảng từ 11 đến 33 người bị giết chết trong các cuộc đặt bom ở các khu dân sự, kể cả chợ búa và đền thờ.
Về phương diện chính trị, các phe phái liên tục chống đối nhau. Đúng là Iraq đã bắt đầu xây dựng được một số nền tảng cho một chế độ dân chủ, tuy nhiên, tương lai chính trị của nước này vẫn đầy bất an.
Cái giá của cuộc chiến này khá cao. Về nhân mạng, 115.376 người Iraq bị giết chết từ năm 2003 đến 2011.
Về phía đồng minh, số binh sĩ bị chết của Mỹ là 4.488; của Anh là 179, của Ý 33, của Ba Lan 30, của Ukraine 18, Bulgaria 13, v.v.. Về tài chính, chi phí cho cuộc chiến tranh ấy, về phía Mỹ, là khoảng trên 845 tỉ đồng.
Chính vì vậy, nhiều học giả Mỹ đặt vấn đề: Một, liệu cuộc chiến tranh ấy có đáng không? Và hai, có thể xem là Mỹ thắng trận không?
Không có câu trả lời nào thật dứt khoát và thuyết phục hẳn. Eric S. Margolis, tác giả cuốn sách American Raj: Liberation or Domination? trả lời thẳng thừng: Mỹ thất bại. Fred Kaplan cho đó là một cuộc chiến tranh không cần thiết nhưng cũng cho rất khó trả lời câu hỏi ai thắng ai.
Christian Whiton, chủ tịch Hamilton Foundation, lại cho là Mỹ thành công, hơn nữa, hai lần thành công: vừa lật đổ được một chế độ được xem là độc tài và tàn bạo nhất thế giới vừa xây dựng được cơ sở cho một nền dân chủ lâu dài tại Iraq.
Một số người đề nghị chờ thời gian trả lời: Mỹ thành công nếu chính phủ dân chủ mới phôi thai ở Iraq càng ngày càng vững mạnh; ngược lại, Mỹ thất bại nếu nó sụp đổ và Iraq lại sống dưới chế độ độc tài như thời Sadam Hussein.
Gai góc hơn là vấn đề địa chính trị (geopolitics). Một trong những động cơ chính của Mỹ khi quyết định tấn công và xâm chiếm Iraq là biến Iraq thành một quốc gia dân chủ thân Mỹ, từ đó, biến nước này thành một trung tâm quyền lực của Mỹ để, một mặt, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa ở các nước Hồi giáo Trung Đông, mặt khác, sẵn sàng trấn áp mọi cuộc chiến tranh chống Mỹ trong tương lai. Cả hai đều gắn liền với địa chính trị.
Tuy nhiên, ở cả hai khía cạnh này, dường như Mỹ không thành công, hoặc ít nhất, chưa thành công.
Thứ nhất, nền dân chủ ở Iraq còn rất mỏng manh và yếu ớt.
Thứ hai, do tính chất mỏng manh và yếu ớt ấy, Iraq cũng không thể đóng vai trò một căn cứ địa chính trị hay quân sự đáng tin cậy cho Mỹ. Sau năm 2003, Mỹ đã xây dựng Tòa Đại sứ tại Baghdad, một Tòa đại sứ lớn và tốn kém nhất của Mỹ với chi phí hơn 750 triệu trên một mảnh đất rộng trên 104 mẫu Anh, nơi, thoạt đầu, chứa đến 16.000 nhân viên, trong đó, có đến 2.000 nhân viên ngoại giao, với tham vọng xem đó như một đầu não ngoại giao và an ninh trong khu vực. Tuy nhiên, với lý do nêu trên, tham vọng này dường như chỉ là một ảo tưởng.
Thứ ba, việc xâm lăng Iraq - nhất là việc không phát hiện bất cứ một thứ vũ khí hủy diệt hàng loạt nào ở Iraq cũng như việc không thể tìm ra chứng cứ nào về mối quan hệ giữa Saddam Hussein và al-Qaeda vốn là những lý do chính được đưa ra để gây chiến - đã gây bất bình cho cộng đồng Hồi giáo tại Trung Đông.
Thứ tư, quan trọng hơn hết, cuộc chiến tranh Iraq dường như làm cho Iran, kẻ thù của cả Mỹ lẫn Iraq trước đây, mạnh hơn hẳn. Mạnh vì hai lý do: Một, đối thủ chính và nguy hiểm nhất của Iran là Saddam Hussein đã bị tiêu diệt; và hai, phái Shia, một giáo phái thuộc Hồi giáo đang cầm quyền tại Iran càng ngày càng phát triển mạnh, nắm rất nhiều quyền lực tại Iraq, thay cho giáo phái Sunni trước đây. Với sự thắng thế của phái Shi’ite, Iran có thể sẽ có một lực lượng đồng minh rất đáng kể ở Iraq.
Dĩ nhiên, vẫn có người phản bác các nhận định trên với lý do chính: Bất kể những thất bại ở lãnh vực này hay lãnh vực khác, Mỹ cũng đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh khủng bố vốn mở màn sau biến cố 11 tháng 9 năm 2001. Lực lượng khủng bố, trên cơ bản, đã bị dẹp tan, không còn là một đe dọa lớn đối với Mỹ cũng như trên thế giới nữa. Vì thế, Mỹ có thể an tâm quay về với một đối thủ mới xuất hiện ở phương Đông: Trung Quốc.
Như vậy, cuộc bàn cãi về chuyện thắng hay bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Iraq từ năm 2003 cho đến nay vẫn còn tiếp tục và có lẽ sẽ còn tiếp tục dài dài.
Thật ra, đó cũng là điều bình thường. Chuyện thắng hay bại là một vấn đề phức tạp hơn hẳn những gì chúng ta thường nghĩ. Thường, nghĩ về chiến tranh hay chính trị, chúng ta hay tự giới hạn mình ở một biến cố hay một sự kiện nào đó. Như một cái gì biệt lập và đơn lập. Trong khi, trên thực tế, bất cứ sự kiện hay biến cố nào cũng nằm trong một chu cảnh (context) với nhiều quan hệ chằng chịt theo nhiều chiều và với nhiều kích thước khác nhau, từ kích thước địa chính trị đến kích thước lịch sử. Bởi vậy, không hiếm trường hợp thắng một trận đánh nhưng lại thua một cuộc chiến tranh hay thua một cuộc chiến tranh nhỏ nhưng lại thắng một cuộc chiến tranh lớn. Hoặc ngược lại.
Thời Chiến tranh lạnh, Mỹ hòa ở chiến tranh Triều Tiên, và có thể gọi là thua, như nhiều người đã nói, cuộc chiến tranh ở Việt Nam, nhưng lại thắng trong toàn bộ cuộc chiến tranh lạnh, nghĩa là thắng toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Cũng có thể nói, phần nào, Mỹ thắng Liên Xô ở cuộc chiến tranh tại Afghanistan từ 1979 đến 1989. Dù hai bên không hề trực tiếp đụng độ với nhau, nhưng ai cũng biết suốt thời gian chín năm ấy, Mỹ và nhiều đồng minh của Mỹ, từ Pakistan đến Anh, Saudi Arabia (và, kể cả Trung Quốc) đã đổ tiền giúp đỡ các kháng chiến quân người Afghanistan rất nhiều. Không những giúp đỡ tiền bạc mà còn giúp vũ khí và cả việc huấn luyện quân sự, bao gồm các chiến thuật du kích và, thậm chí, các phương pháp khủng bố. Cuối cùng, không chịu đựng nổi, từ đầu năm 1987, Liên Xô quyết định rút quân: Giữa năm 1988, rút một nửa, đến đầu năm 1989 thì rút toàn bộ. Phe tự do hoan hỉ xem đó như một chiến thắng.
Nhưng chiến thắng ấy, oái oăm thay, lại mở đầu cho một thất bại của Mỹ trong trận chiến chống khủng bố: Một trong những lực lượng được Mỹ giúp đỡ và huấn luyện để chống lại Liên Xô thời ấy, sau này, đã trở thành một lực lượng Hồi giáo cực đoan mang tên al-Qaeda, trong đó có cả Osama bin Laden: Chính những người ấy, vào năm 2001, đã tổ chức cuộc tấn công khủng bố khủng khiếp ngay trên đất Mỹ.
Tôi gọi các anh là anh hùng?
Đoàn Hòa Bình (Danlambao) - Bất kỳ người lính Việt Nam nào, dù dưới chế độ nào đi nữa khi mà họ sẵn sàng bỏ mạng mình để bảo vệ Tổ Quốc và đồng bào của chúng ta mà chiến đấu với giặc ngoại xâm thì đều là anh hùng cả. Có khi chưa cần phải cầm súng mặt đối mặt với quân thù mà đã trở thành anh hùng rồi: như anh hùng Nguyễn Đắc Kiên, anh hùng Nguyễn Hoàng Vi, anh hùng Phạm Thanh Nghiên, và còn nhiều anh hùng nữa đang bị đày đọa trong các nhà tù ở nước ta hiện nay...
Bằng lòng can đảm, ý chí bất khuất trước bạo quyền phi nhân, không sợ hãi và sẵn sàng hiến thân chịu ngục tù để bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ của Tổ Quốc, Tự Do cho công dân, yên ổn cho đồng bào mình thì các vị đó cũng đã đủ trở thành anh hùng dân tộc rồi.
Có khi như anh thư Nguyễn Thị Thương ở Tiên Lãng chỉ với tấm lòng hi sinh chấp nhận mất để xã hội được cũng được tôi ngưỡng mộ như anh hùng rồi
Còn về chiến tranh thì cái gì ra cái đó. Ăn thua là cuộc chiến nào? Bên kia chiến tuyến là ai? Mục tiêu của cuộc chiến là cái gì?
Thí dụ như cuộc nội chiến Nam Bắc bên nước Mỹ mấy trăm năm về trước.
Cuộc chiến tranh này cũng như bất cứ cuộc chiến tranh nào khi kết thúc cũng phải có kẻ thắng và người thua: nhưng ở đây không có anh hùng mà chỉ có chính nghĩa hoặc không chánh nghĩa thắng mà thôi. Mà vì lẽ đó sau khi kết thúc chiến tranh Bắc quân vẫn cho ngựa và lương thực để Nam quân trở về quê quán.
Ở nước ta cũng vậy, khi kết thúc cuộc chiến 1954-1975, Bộ đội người Việt miền Bắc xâm lăng người Việt miền Nam là do chế độ miền Bắc làm tay sai cho Trung Cộng và Liên Xô (tuyên bố của Lê Duẩn), vì họ cùng chung ý thức hệ Mác Lênin với mục tiêu là để nhuộm đỏ phần còn lại của Châu Á.
Bộ đội người Việt miền Bắc lúc đó không phải là anh hùng, mà chỉ là công cụ tay sai cho Quốc Tế cộng sản thông qua chế độ miền Bắc để giết hại đồng bào anh em ruột thịt người Việt miền Nam của mình.
Sao vậy?
- Tại vì các anh ấy không có Tổ Quốc, không còn Danh Dự bản thân và không biết Trách Nhiệm mà lại còn tàn ác với chính đồng bào của mình.
Ngược lại, trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam chống giặc diệt chủng Pôn Pốt và biên giới phía Bắc chống giặc bành trướng Bác Kinh thì cũng chính các anh bấy giờ mới là anh hùng.
Cũng như các anh lính Việt Nam bị giặc Tầu giết hại ở bải Gạc Ma cũng là anh hùng, mặc dầu các anh ấy không có đủ vũ khí để chống lại quân thù nhưng đã đang làm cái công việc là bảo vệ biển đảo của Tổ Quốc VN.
Bây giờ nếu các anh trong cái gọi là quân đội nhân dân gì đó dám bung ra biển Đông đi, để bảo vệ các ngư dân ta đang đánh bắt cá ở những vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa của Tổ Quốc VN mình đang bị giặc Tầu uy hiếp, thì tôi sẽ gọi các anh là anh hùng.
Trước mắt chỉ cần các anh trả cái nợ, là hàng ngày có con cá trên mâm cơm của các anh và đồng lương (tiền thuế của ngư dân) mà các anh xòe tay ra lãnh hàng tháng, cũng là từ những mẽ lưới của các ngư dân Việt Nam mình mà ra.
Còn như đợi đến lúc cái đảng cầm quyền này bị đồng bào ta đòi lật đổ, để chấm dứt sự cai trị độc tài và theo lệnh của cái đảng này mà các anh quay ngược nòng súng bắn thẳng vào đồng bào mình, thì lúc đó tôi không biết gọi các anh là cái gì nữa!
Phải không đồng bào, các bạn và các anh?
Đoàn Hòa Bình
Đoàn Hòa Bình (Danlambao) - Bất kỳ người lính Việt Nam nào, dù dưới chế độ nào đi nữa khi mà họ sẵn sàng bỏ mạng mình để bảo vệ Tổ Quốc và đồng bào của chúng ta mà chiến đấu với giặc ngoại xâm thì đều là anh hùng cả. Có khi chưa cần phải cầm súng mặt đối mặt với quân thù mà đã trở thành anh hùng rồi: như anh hùng Nguyễn Đắc Kiên, anh hùng Nguyễn Hoàng Vi, anh hùng Phạm Thanh Nghiên, và còn nhiều anh hùng nữa đang bị đày đọa trong các nhà tù ở nước ta hiện nay...
Bằng lòng can đảm, ý chí bất khuất trước bạo quyền phi nhân, không sợ hãi và sẵn sàng hiến thân chịu ngục tù để bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ của Tổ Quốc, Tự Do cho công dân, yên ổn cho đồng bào mình thì các vị đó cũng đã đủ trở thành anh hùng dân tộc rồi.
Có khi như anh thư Nguyễn Thị Thương ở Tiên Lãng chỉ với tấm lòng hi sinh chấp nhận mất để xã hội được cũng được tôi ngưỡng mộ như anh hùng rồi
Còn về chiến tranh thì cái gì ra cái đó. Ăn thua là cuộc chiến nào? Bên kia chiến tuyến là ai? Mục tiêu của cuộc chiến là cái gì?
Thí dụ như cuộc nội chiến Nam Bắc bên nước Mỹ mấy trăm năm về trước.
Cuộc chiến tranh này cũng như bất cứ cuộc chiến tranh nào khi kết thúc cũng phải có kẻ thắng và người thua: nhưng ở đây không có anh hùng mà chỉ có chính nghĩa hoặc không chánh nghĩa thắng mà thôi. Mà vì lẽ đó sau khi kết thúc chiến tranh Bắc quân vẫn cho ngựa và lương thực để Nam quân trở về quê quán.
Ở nước ta cũng vậy, khi kết thúc cuộc chiến 1954-1975, Bộ đội người Việt miền Bắc xâm lăng người Việt miền Nam là do chế độ miền Bắc làm tay sai cho Trung Cộng và Liên Xô (tuyên bố của Lê Duẩn), vì họ cùng chung ý thức hệ Mác Lênin với mục tiêu là để nhuộm đỏ phần còn lại của Châu Á.
Bộ đội người Việt miền Bắc lúc đó không phải là anh hùng, mà chỉ là công cụ tay sai cho Quốc Tế cộng sản thông qua chế độ miền Bắc để giết hại đồng bào anh em ruột thịt người Việt miền Nam của mình.
Sao vậy?
- Tại vì các anh ấy không có Tổ Quốc, không còn Danh Dự bản thân và không biết Trách Nhiệm mà lại còn tàn ác với chính đồng bào của mình.
Ngược lại, trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam chống giặc diệt chủng Pôn Pốt và biên giới phía Bắc chống giặc bành trướng Bác Kinh thì cũng chính các anh bấy giờ mới là anh hùng.
Cũng như các anh lính Việt Nam bị giặc Tầu giết hại ở bải Gạc Ma cũng là anh hùng, mặc dầu các anh ấy không có đủ vũ khí để chống lại quân thù nhưng đã đang làm cái công việc là bảo vệ biển đảo của Tổ Quốc VN.
Bây giờ nếu các anh trong cái gọi là quân đội nhân dân gì đó dám bung ra biển Đông đi, để bảo vệ các ngư dân ta đang đánh bắt cá ở những vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa của Tổ Quốc VN mình đang bị giặc Tầu uy hiếp, thì tôi sẽ gọi các anh là anh hùng.
Trước mắt chỉ cần các anh trả cái nợ, là hàng ngày có con cá trên mâm cơm của các anh và đồng lương (tiền thuế của ngư dân) mà các anh xòe tay ra lãnh hàng tháng, cũng là từ những mẽ lưới của các ngư dân Việt Nam mình mà ra.
Còn như đợi đến lúc cái đảng cầm quyền này bị đồng bào ta đòi lật đổ, để chấm dứt sự cai trị độc tài và theo lệnh của cái đảng này mà các anh quay ngược nòng súng bắn thẳng vào đồng bào mình, thì lúc đó tôi không biết gọi các anh là cái gì nữa!
Phải không đồng bào, các bạn và các anh?
Đoàn Hòa Bình
Vì sao Bắc Hàn lên giọng đe dọa Mỹ?
Võ Long Triều
Từ lâu vùng Châu Á-Thái Bình Dương thường gặp bất ổn vì biển Ðông dậy sóng, bởi lẽ Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố cái lưỡi bò của họ
liếm gần hết 80% vùng biển này. Những quần đảo thuộc chủ quyền của các nước khác do đó trở thành sở hữu của Bắc Kinh.

Binh sĩ Nam Hàn ở khu quân sự Bàn Môn Ðiếm chia cách hai miền Nam-Bắc Triều Tiên nhìn sang phần đất Bắc Hàn.
(Hình: Jung Yeon-je/AFP/Getty Images)
Ngày 11 Tháng Ba năm 2009, tàu khảo sát USNS Impeccable của Mỹ hoạt động cách Hải Nam 75 dặm bị 5 tàu Trung Quốc bao vây đuổi ra khỏi vùng, ba tháng sau lại thêm một lần va chạm giữa tàu ngầm Trung Quốc và một khu trục Hải Quân Hoa Kỳ. Ngoài ra còn nhiều sự bạo hành của Bác Kinh đối với các nước Việt Nam, Philippines, Nhật Bản, khiến Hoa Kỳ phải chuyển hướng hoạt động về Châu Á-Thái Bình Dương để bảo vệ “lợi ích quốc gia” của mình là quyền tự do hàng hải và bảo vệ những đồng minh của Hoa Kỳ. Ðiều đó làm Bắc Kinh bất bình, phản đối và tranh cãi giữa hai cường quốc đứng đầu thế giới.
Sự bất ổn trong vùng càng tăng mạnh, tăng nhanh khi Bắc Triều tiên lớn tiếng đe dọa tấn công phủ đầu Hoa Kỳ. Sau cuộc thử vũ khí hạt nhân lần thứ 3 của Bình Nhưỡng ngày 12 Tháng Ba, 2013, Chủ Tịch Kim Jong Un cho đó là một chiến thắng chính trị và quân sự vĩ đại, buộc cộng đồng quốc tế phải công nhận nước này là “quốc gia sở hữu tên lửa chiến lược và vũ khí hạt nhân.” Bắc Triều Tiên là một quốc gia vừa nghèo vừa đói, công kỹ nghệ kém cỏi, thua xa Nam Hàn. Người ta tự hỏi ai đã giúp cho Bình Nhưỡng tạo được những thành quả mà họ đang phô trương. Trong lúc Iran có nhiều khả năng tài chánh và kỹ thuật hơn mà còn đang vất vả với việc tinh chế uranium, đã vậy còn bị Liên Hiệp Quốc kiểm tra, kềm chế, trừng phạt.
Dư luận cho rằng nhà lãnh đạo trẻ tuổi Kim Jong Un đang chơi một canh bạc táo bạo với Mỹ hơn cả thân phụ của ông là Kim Jong II với mục đích là được thế giới công nhận như một cường quốc hạt nhân. Sự táo bạo này cho phép Bình Nhưỡng huênh hoang đưa ra những lời tuyên bố xấc xược của một nước nhược tiểu nghèo đói mà dám trực tiếp đe dọa Hoa Kỳ rằng: “Sẽ đánh phủ đầu Mỹ bằng vũ khí hạt nhân.” Tướng Kyang Pyo-Yong chỉ huy tối cao quân đội Triều Tiên cảnh báo, tên lửa tầm xa với đầu đạn hạt nhân đã vào vị trí có thể vươn đến lục địa Mỹ. Và “Mỹ đừng quên căn cứ Andersen ở Guam, nơi máy bay B-52 cất cánh và các căn cứ hải quân ở đảo Okinawa, nơi các tàu ngầm hạt nhân xuất phát, đều nằm trong tầm bắn của các loại vũ khí chính xác của chúng tôi.”
Ngày 12 Tháng Ba Bắc Hàn tuyên bố hiệp ước đình chiến 1950-1953 vô giá trị, đồng thời Bình Nhưỡng cắt đường dây nóng với Nam Hàn, đáp trả lệnh trừng phạt mới của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Ngày 19 Tháng Ba, Bình Nhưỡng công khai đe dọa chiến tranh “xóa sổ Hàn Quốc,” cảnh báo rằng quốc gia này sẽ đối diện với “đòn hủy diệt cuối cùng” vì Seoul cùng đồng minh Hoa Kỳ hối thúc nghị quyết cứng rắn hơn để trừng phạt Bắc Hàn.
Dĩ nhiên việc Bắc Triều Tiên đe dọa đánh phủ đầu Mỹ quốc bằng vũ khí hạt nhân thật khó hiểu, khó tin và khôi hài. Dù sao cố vấn an ninh của Tổng Thống Obama, ông Tom Donilon đã lên tiếng: “Mỹ không chấp nhận những lời đe dọa của Bắc Triều Tiên và sẽ không đứng nhìn quốc gia này tìm cách phát triển tên lửa hạt nhân có thể nhắm tới Mỹ.”
Tổng Thống Obama lên án vụ thử hạt nhân của Triều tiên và cho rằng hành động mang tính “khiêu khích” này sẽ không giúp Bắc Hàn được an toàn hơn. Trong khi đó Bộ Trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel công bố rằng tuy Mỹ thắt lưng buộc bụng về tài chánh, song vẫn chi một tỷ USD để bổ sung thêm 14 hệ thống đánh chận tên lửa từ mặt đất ở Alaska.
Theo các nhà phân tích thì tên lửa Nodong của Triều Tiên không phải là vũ khí tấn công chính xác với tầm xa hơn hai ba dặm. Nó chỉ là loại vũ khí mang tính chính trị nhiều hơn là công cụ quân sự hiệu quả. Ngoài ra tình báo Mỹ tin rằng Bình Nhưỡng chưa đủ khả năng thu nhỏ đầu đạn hạt nhân.
Như vậy phải hiểu rằng những lời đe dọa lập đi lập lại của Bắc Triều Tiên chỉ là một trò đùa dai, một sự “thấu cáy” có chủ đích, vì biết chắc rằng Mỹ không thèm lưu ý, và chính Kim Jong Un cũng không khi nào dám thực hiện. Ngoài ra ông cũng biết chắc, ông có được sự hậu thuẫn và bảo kê của Trung Quốc. Quan thầy cộng sản đã xuôi ông nội của ông là Kim Nhật Thành (Kim Il Sung) tấn công Nam Hàn sau Ðệ Nhị Thế Chiến, với sự trợ giúp quân đội và vũ khí của Trung Quốc và Liên Xô.
Theo hãng tin Kyodo của Nhật Bản ngày 7 Tháng Hai năm 2013, Kim Jong Un đã cử đặc phái viên cao cấp nhứt tới Trung Quốc để giải bài trong bối cảnh bị Mỹ và đồng minh gây sức ép buộc phải từ bỏ kế hoạch thử hạt nhân. Kết quả ngày 12 Tháng Ba 2013, Trung Quốc tuyên bố sẽ không bỏ rơi đồng minh Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên, mặc dù Trung Quốc bị bắt buộc phải hùa theo, bỏ phiếu trừng phạt nước này vì Trung Quốc cũng bị ràng buộc bởi Hiệp Ước Cấm Phổ Biến Vũ Khí Hạt Nhân (Nuclear Non-Proliferation Treaty). Vì vậy mà các giới chức Hoa Kỳ nói họ tin rằng Trung Quốc sẽ hợp tác với Mỹ để thực thi các biện pháp chế tài chống lại Bắc Triều Tiên. Mỹ còn chưa hiểu thấu những sự gian xảo, lừa đảo của quốc tế cộng sản.
Sự thật đó chỉ là bề ngoài, thực tế bên trong khi Bắc Triều Tiên công khai đe dọa gây chiến tranh làm rối loạn ít nhiều sự an ninh trong vùng, khiến Mỹ và đồng minh phải bận tâm đề phòng thì sẽ có lợi cho ai? Nếu không phải là lợi cho Trung Quốc. Mỹ đang vướng mắc ở Trung Ðông với hai quốc gia Afganistan và Iraq, nay mới hướng về Châu Á vừa bị Trung Cộng phản đối chính sách can thiệp, cản trở sự bành trướng của Bắc Kinh, vừa gặp đồng minh đồng chí của Trung Quốc là Kim Jong Un hăm dọa buộc Mỹ phải căn giản lực lượng để phòng ngừa và đối phó.
Thật ra nếu không có Trung Quốc chống lưng thì chắc chắn Bắc Triều Tiên không thể nào dám lớn lối, và nếu dám liều lĩnh thì chắc Mỹ cũng đã cho Bình Nhưỡng một bài học đích đáng rồi. Theo tin Thời Báo Hoàng Cầu (Global Times) đại quân khu Thẩm Dương của Trung Quốc kéo pháo, đưa tăng ra dãy Trường Bạch Sơn, giáp biên giới Bắc Triều Tiên, diễn tập khả năng ứng phó với tình huống bất ngờ có thể xẩy ra, chừng đó quân đội Trung Quốc sẽ kéo vào đóng quân bên trong lãnh thổ Triều Tiên nếu cần.
Gần đây Kim Jong Un còn ra lệnh cho quân đội phải sẵn sàng tác chiến và Bình Nhưỡng đã từng báo động giả, tập cho quần chúng chuẩn bị chiến tranh. Nhưng thực tế người ta có thể tin chắc rằng sẽ không có chạm súng vì một mặt Hoa Kỳ còn phải dè chừng Trung Quốc, mặt khác Kim Jong Un không dại khờ thiêu thân đưa cả nước vào máu lửa của vũ khí hạt nhân. Cho nên tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ông Ban Ki-Moon, tin rằng hiệp ước đình chiến 60 tuổi vẫn còn “quan trọng.”
Những lời đe dọa thách thức của Kim Jong Un chỉ là sự múa may quay cuồng theo lệnh của Bắc Kinh. Sự múa may đó rất có lợi cho Bình Nhưỡng vì được các quốc gia trên thế giới công nhận, với sự nghi ngờ hay tin thật, là một cường quốc có vũ khí hạt nhân. Có thật hay không? Và có được bao nhiêu đầu đạn? Ðiều đó không quan trọng. Vấn đề là Triều Tiên đã tuyên bố được rằng quốc gia chúng tôi là một cường quốc hạt nhân. Canh bạc táo bạo Kim Jong Un chơi với Mỹ sinh lợi là ở chỗ đó. Về phần Bắc Kinh cũng đã tạo được một đồng minh non trẻ, một quốc gia vệ tinh sẵn sàng liều lĩnh nghe theo lệnh của quan thầy.
Võ Long Triều
Từ lâu vùng Châu Á-Thái Bình Dương thường gặp bất ổn vì biển Ðông dậy sóng, bởi lẽ Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố cái lưỡi bò của họ
liếm gần hết 80% vùng biển này. Những quần đảo thuộc chủ quyền của các nước khác do đó trở thành sở hữu của Bắc Kinh.

Binh sĩ Nam Hàn ở khu quân sự Bàn Môn Ðiếm chia cách hai miền Nam-Bắc Triều Tiên nhìn sang phần đất Bắc Hàn.
(Hình: Jung Yeon-je/AFP/Getty Images)
Ngày 11 Tháng Ba năm 2009, tàu khảo sát USNS Impeccable của Mỹ hoạt động cách Hải Nam 75 dặm bị 5 tàu Trung Quốc bao vây đuổi ra khỏi vùng, ba tháng sau lại thêm một lần va chạm giữa tàu ngầm Trung Quốc và một khu trục Hải Quân Hoa Kỳ. Ngoài ra còn nhiều sự bạo hành của Bác Kinh đối với các nước Việt Nam, Philippines, Nhật Bản, khiến Hoa Kỳ phải chuyển hướng hoạt động về Châu Á-Thái Bình Dương để bảo vệ “lợi ích quốc gia” của mình là quyền tự do hàng hải và bảo vệ những đồng minh của Hoa Kỳ. Ðiều đó làm Bắc Kinh bất bình, phản đối và tranh cãi giữa hai cường quốc đứng đầu thế giới.
Sự bất ổn trong vùng càng tăng mạnh, tăng nhanh khi Bắc Triều tiên lớn tiếng đe dọa tấn công phủ đầu Hoa Kỳ. Sau cuộc thử vũ khí hạt nhân lần thứ 3 của Bình Nhưỡng ngày 12 Tháng Ba, 2013, Chủ Tịch Kim Jong Un cho đó là một chiến thắng chính trị và quân sự vĩ đại, buộc cộng đồng quốc tế phải công nhận nước này là “quốc gia sở hữu tên lửa chiến lược và vũ khí hạt nhân.” Bắc Triều Tiên là một quốc gia vừa nghèo vừa đói, công kỹ nghệ kém cỏi, thua xa Nam Hàn. Người ta tự hỏi ai đã giúp cho Bình Nhưỡng tạo được những thành quả mà họ đang phô trương. Trong lúc Iran có nhiều khả năng tài chánh và kỹ thuật hơn mà còn đang vất vả với việc tinh chế uranium, đã vậy còn bị Liên Hiệp Quốc kiểm tra, kềm chế, trừng phạt.
Dư luận cho rằng nhà lãnh đạo trẻ tuổi Kim Jong Un đang chơi một canh bạc táo bạo với Mỹ hơn cả thân phụ của ông là Kim Jong II với mục đích là được thế giới công nhận như một cường quốc hạt nhân. Sự táo bạo này cho phép Bình Nhưỡng huênh hoang đưa ra những lời tuyên bố xấc xược của một nước nhược tiểu nghèo đói mà dám trực tiếp đe dọa Hoa Kỳ rằng: “Sẽ đánh phủ đầu Mỹ bằng vũ khí hạt nhân.” Tướng Kyang Pyo-Yong chỉ huy tối cao quân đội Triều Tiên cảnh báo, tên lửa tầm xa với đầu đạn hạt nhân đã vào vị trí có thể vươn đến lục địa Mỹ. Và “Mỹ đừng quên căn cứ Andersen ở Guam, nơi máy bay B-52 cất cánh và các căn cứ hải quân ở đảo Okinawa, nơi các tàu ngầm hạt nhân xuất phát, đều nằm trong tầm bắn của các loại vũ khí chính xác của chúng tôi.”
Ngày 12 Tháng Ba Bắc Hàn tuyên bố hiệp ước đình chiến 1950-1953 vô giá trị, đồng thời Bình Nhưỡng cắt đường dây nóng với Nam Hàn, đáp trả lệnh trừng phạt mới của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Ngày 19 Tháng Ba, Bình Nhưỡng công khai đe dọa chiến tranh “xóa sổ Hàn Quốc,” cảnh báo rằng quốc gia này sẽ đối diện với “đòn hủy diệt cuối cùng” vì Seoul cùng đồng minh Hoa Kỳ hối thúc nghị quyết cứng rắn hơn để trừng phạt Bắc Hàn.
Dĩ nhiên việc Bắc Triều Tiên đe dọa đánh phủ đầu Mỹ quốc bằng vũ khí hạt nhân thật khó hiểu, khó tin và khôi hài. Dù sao cố vấn an ninh của Tổng Thống Obama, ông Tom Donilon đã lên tiếng: “Mỹ không chấp nhận những lời đe dọa của Bắc Triều Tiên và sẽ không đứng nhìn quốc gia này tìm cách phát triển tên lửa hạt nhân có thể nhắm tới Mỹ.”
Tổng Thống Obama lên án vụ thử hạt nhân của Triều tiên và cho rằng hành động mang tính “khiêu khích” này sẽ không giúp Bắc Hàn được an toàn hơn. Trong khi đó Bộ Trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel công bố rằng tuy Mỹ thắt lưng buộc bụng về tài chánh, song vẫn chi một tỷ USD để bổ sung thêm 14 hệ thống đánh chận tên lửa từ mặt đất ở Alaska.
Theo các nhà phân tích thì tên lửa Nodong của Triều Tiên không phải là vũ khí tấn công chính xác với tầm xa hơn hai ba dặm. Nó chỉ là loại vũ khí mang tính chính trị nhiều hơn là công cụ quân sự hiệu quả. Ngoài ra tình báo Mỹ tin rằng Bình Nhưỡng chưa đủ khả năng thu nhỏ đầu đạn hạt nhân.
Như vậy phải hiểu rằng những lời đe dọa lập đi lập lại của Bắc Triều Tiên chỉ là một trò đùa dai, một sự “thấu cáy” có chủ đích, vì biết chắc rằng Mỹ không thèm lưu ý, và chính Kim Jong Un cũng không khi nào dám thực hiện. Ngoài ra ông cũng biết chắc, ông có được sự hậu thuẫn và bảo kê của Trung Quốc. Quan thầy cộng sản đã xuôi ông nội của ông là Kim Nhật Thành (Kim Il Sung) tấn công Nam Hàn sau Ðệ Nhị Thế Chiến, với sự trợ giúp quân đội và vũ khí của Trung Quốc và Liên Xô.
Theo hãng tin Kyodo của Nhật Bản ngày 7 Tháng Hai năm 2013, Kim Jong Un đã cử đặc phái viên cao cấp nhứt tới Trung Quốc để giải bài trong bối cảnh bị Mỹ và đồng minh gây sức ép buộc phải từ bỏ kế hoạch thử hạt nhân. Kết quả ngày 12 Tháng Ba 2013, Trung Quốc tuyên bố sẽ không bỏ rơi đồng minh Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên, mặc dù Trung Quốc bị bắt buộc phải hùa theo, bỏ phiếu trừng phạt nước này vì Trung Quốc cũng bị ràng buộc bởi Hiệp Ước Cấm Phổ Biến Vũ Khí Hạt Nhân (Nuclear Non-Proliferation Treaty). Vì vậy mà các giới chức Hoa Kỳ nói họ tin rằng Trung Quốc sẽ hợp tác với Mỹ để thực thi các biện pháp chế tài chống lại Bắc Triều Tiên. Mỹ còn chưa hiểu thấu những sự gian xảo, lừa đảo của quốc tế cộng sản.
Sự thật đó chỉ là bề ngoài, thực tế bên trong khi Bắc Triều Tiên công khai đe dọa gây chiến tranh làm rối loạn ít nhiều sự an ninh trong vùng, khiến Mỹ và đồng minh phải bận tâm đề phòng thì sẽ có lợi cho ai? Nếu không phải là lợi cho Trung Quốc. Mỹ đang vướng mắc ở Trung Ðông với hai quốc gia Afganistan và Iraq, nay mới hướng về Châu Á vừa bị Trung Cộng phản đối chính sách can thiệp, cản trở sự bành trướng của Bắc Kinh, vừa gặp đồng minh đồng chí của Trung Quốc là Kim Jong Un hăm dọa buộc Mỹ phải căn giản lực lượng để phòng ngừa và đối phó.
Thật ra nếu không có Trung Quốc chống lưng thì chắc chắn Bắc Triều Tiên không thể nào dám lớn lối, và nếu dám liều lĩnh thì chắc Mỹ cũng đã cho Bình Nhưỡng một bài học đích đáng rồi. Theo tin Thời Báo Hoàng Cầu (Global Times) đại quân khu Thẩm Dương của Trung Quốc kéo pháo, đưa tăng ra dãy Trường Bạch Sơn, giáp biên giới Bắc Triều Tiên, diễn tập khả năng ứng phó với tình huống bất ngờ có thể xẩy ra, chừng đó quân đội Trung Quốc sẽ kéo vào đóng quân bên trong lãnh thổ Triều Tiên nếu cần.
Gần đây Kim Jong Un còn ra lệnh cho quân đội phải sẵn sàng tác chiến và Bình Nhưỡng đã từng báo động giả, tập cho quần chúng chuẩn bị chiến tranh. Nhưng thực tế người ta có thể tin chắc rằng sẽ không có chạm súng vì một mặt Hoa Kỳ còn phải dè chừng Trung Quốc, mặt khác Kim Jong Un không dại khờ thiêu thân đưa cả nước vào máu lửa của vũ khí hạt nhân. Cho nên tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ông Ban Ki-Moon, tin rằng hiệp ước đình chiến 60 tuổi vẫn còn “quan trọng.”
Những lời đe dọa thách thức của Kim Jong Un chỉ là sự múa may quay cuồng theo lệnh của Bắc Kinh. Sự múa may đó rất có lợi cho Bình Nhưỡng vì được các quốc gia trên thế giới công nhận, với sự nghi ngờ hay tin thật, là một cường quốc có vũ khí hạt nhân. Có thật hay không? Và có được bao nhiêu đầu đạn? Ðiều đó không quan trọng. Vấn đề là Triều Tiên đã tuyên bố được rằng quốc gia chúng tôi là một cường quốc hạt nhân. Canh bạc táo bạo Kim Jong Un chơi với Mỹ sinh lợi là ở chỗ đó. Về phần Bắc Kinh cũng đã tạo được một đồng minh non trẻ, một quốc gia vệ tinh sẵn sàng liều lĩnh nghe theo lệnh của quan thầy.

Tuyên bố về vụ án và phiên tòa tại Tiên Lãng, Hải Phòng
Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam và Anh Chị Em Tín hữu Công giáo.
Ngày 2 đến 5-4-2013 tới đây, quý nông dân Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Đoàn Văn Vệ, Nguyễn Thị Thương, Phạm Thị Hiền sẽ bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam -qua Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng- đưa ra xét xử về tội gọi là “giết người” theo điểm D khoản 1 điều 93 Bộ luật Hình sự, và “chống người thi hành công vụ” theo điểm D khoản 2 điều 257 Bộ luật Hình sự, sau khi họ đã bị bắt giam hoặc quản chế hơn một năm trời (từ 05-01-2012).
Suốt thời gian 15 tháng này, nhân dân mọi giới lẫn giới chức cầm quyền, công luận trong lẫn ngoài nước, người Việt lẫn người ngoại quốc, đều theo dõi sát sao vụ việc tại cống Rộc, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, và hầu hết đều bênh vực cho các bị can nói trên, coi họ như là những nạn nhân vô tội của một vụ cưỡng chiếm đất đai tài sản do người của nhà cầm quyền.
Ai cũng tưởng sau khi sự thật đã bị phơi bày thì công lý sẽ được thực thi và các nông dân được hoàn trả tự do, tài sản lẫn danh dự. Thế nhưng công luận đã hết sức bàng hoàng và phẫn nộ khi ngày 18-03-2013 vừa qua, “tòa án nhân dân” thành phố Hải Phòng đã quyết định đưa họ ra xét xử với các tội danh nói trên, sau một quá trình điều tra lắm mưu đồ và đầy gian lận.
Hiệp thông với tiếng kêu cứu của mẹ và vợ các bị can, với những phân tích xác đáng của các chuyên gia luật độc lập và những đòi hỏi đúng đắn của nhiều tầng lớp đồng bào, nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền chúng tôi tuyên bố:
1- Sau mấy chục năm hi sinh tất cả nguồn lực, sức khỏe và thậm chí sinh mạng để quai đê lấn biển theo chủ trương của nhà nước, tạo ra khu đầm nuôi tôm tại bãi bồi ngoài đê biển, các nông dân nói trên thực sự là những anh hùng khai phá, những công dân đầy công trạng, xứng đáng được biểu dương và hưởng thụ công sức của họ lâu dài.
Thế nhưng, vì lòng tham lam vô đáy, nhà cầm quyền tại Hải Phòng, Tiên Lãng, Vinh Quang đã lợi dụng Luật đất đai đầy bất công, lạm dụng quyền chính trị độc tài, sử dụng các lực lượng công cụ (như tòa án, công an, quân đội...) để cùng nhau thực hiện nhiều hành vi trái pháp luật và đạo lý nhằm chiếm đoạt thành quả của các công dân gương mẫu trong lao động nói trên. Đỉnh điểm của loạt hành vi ô nhục đó là sáng ngày 5-1-2012, một đoàn bao gồm công an, cán bộ, bộ đội -mạo danh “cưỡng chế”- đã ập đến bao vây, bắt bớ, nổ súng, cướp bóc và tàn phá tài sản của họ, kể cả những tài sản, nhà cửa ngoài vùng cưỡng chế.
Trước tình huống bất ngờ bị cướp phá tài sản và uy hiếp tính mạng do những kẻ “nhân danh chính quyền”, “thi hành công vụ” nhưng thực chất chỉ là một bọn cướp ngày không hơn không kém, các công dân nói trên đã buộc lòng phải ngăn chặn. Đây là hành động tự vệ hết sức chính đáng. Sự việc đã được hệ thống truyền thông lề đảng lẫn lề dân loan báo rộng rãi và hầu hết đều đồng tình bênh vực. Thậm chí chính Thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng cũng đã kết luận về động thái của nhà cầm quyền Tiên Lãng: “Đấy là việc làm trái cả pháp lý lẫn đạo đức”.
Thành thử chúng tôi cực lực phản đối đảng và nhà cầm quyền CSVN -qua Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hải Phòng (vốn cũng chỉ là công cụ của đảng)- sắp truy tố các công dân vô tội nói trên về tội “Giết người” và “Chống người thi hành công vụ”. Đây là sự thóa mạ công lý, thách thức công luận, chà đạp nhân quyền và vi phạm luật pháp quốc gia (nhất là công pháp quốc tế) một cách ngang nhiên trắng trợn. Đây cũng là sự bao che lấp liếm cho hành vi đàn áp nhân dân và cướp bóc tư sản của nhà cầm quyền địa phương vùng đất Cảng.
2- Sở dĩ có vụ án và phiên tòa đang làm toàn dân và quốc tế công phẫn như thế, chính là vì tại Việt Nam đang tồn tại một đảng cầm quyền và một nhà cầm quyền độc tài độc đoán, không do dân bầu, chẳng được dân chọn, thao túng quốc hội lẫn tòa án, độc dụng công an lẫn quân đội, tự tạo Hiến pháp, bày ra luật pháp chỉ có lợi cho riêng đảng, phe, nhóm mình. Cụ thể là họ đã bày ra Luật Đất đai hết sức phi lý và bất công, khẳng định kiểu hư ảo lường gạt: “đất đai thuộc về toàn dân” và kiểu độc chiếm trắng trợn: “…do nhà nước đại diện sở hữu” để biến mình thành ông chủ độc nhất của mọi tài nguyên trên đất Việt! Hơn 20 năm qua, bộ luật với nguyên tắc quái đản đó đã khiến cho hàng triệu nông dân bị tước đoạt ruộng vườn, lâm vào cảnh dở sống dở chết, lếch thếch kiện tụng cách vô vọng từ địa phương tới trung ương, từ đời ông đến đời cháu, thậm chí nhiều người còn bị hành hung, bức tử và tống ngục, khiến đất nước rơi vào cảnh xáo trộn xã hội và bất ổn chính trị không cùng, chưa kể đến sự suy thoái kinh tế chung. Những cảnh tượng tang thương đau lòng đã và đang xảy ra ở nhiều nơi trên đất nước như Văn Giang, Vụ Bản, Dương Nội, Phước Long, Thủ Thiêm… tại các vườn hoa công cộng lẫn trước các cơ quan công quyền…
3- Liên quan tới những vụ việc vừa nói, bản “Hiến pháp dự thảo sửa đổi” mà nhà cầm quyền đưa ra cho toàn dân từ đầu năm nay vẫn là thứ “cương lĩnh của đảng CS” (lời mở đầu), vẫn tiếp tục khẳng định đảng là “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” (điều 4), không chịu bất cứ quyền kiểm soát nào, vẫn tiếp tục duy trì nguyên tắc sai trái: “Đất đai tài nguyên quốc gia thuộc sở hữu toàn dân cho Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (điều 57). Rồi để bảo vệ độc quyền chính trị và độc hữu tài nguyên này, HP dự thảo sửa đổi lại ngang nhiên tuyên bố: “Lực lượng vũ trang nhân dân [tức công an, quân đội, dân phòng…] phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam” (trước cả Tổ quốc và nhân dân), “có nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước” (trước cả nhân dân nữa) (điều 70). Mới đây lại còn có dự thảo bộ Công an đề xuất cho bắn người bị coi là “chống cán bộ thi hành công vụ”!
Viết những điều như thế, phải chăng đảng và nhà cầm quyền CSVN muốn hợp pháp hóa những gì họ đã làm trong quá khứ, đặc biệt qua vụ Tiên Lãng, và sẽ làm trong các vụ Tiên Lãng tương lai mà họ dự đoán sẽ ngày càng có cơ bùng nổ sau khi tân Hiến pháp và tân Luật đất đai được “đổi mới như cũ” với nhiều tiềm năng tai hại cho đất nước và dân tộc?
4- Chúng tôi thiết tha kêu gọi đồng bào trong lẫn ngoài nước, các trí thức, các lãnh đạo tinh thần, các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền, các cơ quan truyền thông, các tòa đại sứ ngoại quốc tại Việt Nam, hãy lên tiếng tố cáo vụ án bất công, phản đối phiên tòa rừng rú chống lại gia đình ông Đoàn Văn Vươn. Để ủng hộ tinh thần và chính nghĩa của các bị cáo, xin tất cả Quý vị hãy kéo nhau về tòa án Hải Phòng, hãy đồng loạt “xuống đường trên mạng” và tốt hơn nữa hãy đồng loạt “xuống đường trên phố” để bày tỏ ý chí và sức mạnh của toàn dân. Ý chí và sức mạnh đập tan áp bức độc tài, đòi hỏi công lý sự thật, xây dựng tự do dân chủ!
Chúng tôi nguyện cầu Thiên Chúa ban cho những ai có tâm hồn thiện chí, ao ước chân lý, công bình, tình thương và tự do cho Việt Nam, biết can đảm, ôn hòa và đoàn kết đáp lại 2 thách thức to lớn hiện thời: “Các phiên tòa kết tội nạn nhân” và “Việc lấy ý kiến đồng tình với HP” của đảng CS.
Làm tại Việt Nam ngày 29-03-2013, Thứ Sáu Tuần Thánh, kỷ niệm việc Chúa Giê-su đã bị kết án tử trong một “tòa án nhân dân” vì bênh vực công lý, tình thương và sự thật.
Đại diện Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền:
- Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải
- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi
- với sự hiệp thông của Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý đang ở trong lao tù Cộng sản.

