Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
Việt Nam bắt được con cá tháng tư to nhất thế giới
Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) - Hàng năm cứ vào ngày 1 tháng Tư, cá... Tháng Tư lại vượt “vũ môn” nhảy tưng tưng đầy trên... in- tợc- nét, thiên hạ bắt được đủ loại đủ cỡ. Sau khi đem cân đo đong đếm tất cả những con bắt được từ trước đến nay, cả thế giới đã đồng ý nhất trí không ai có thể chối cãi rằng, “con” của Việt Nam bắt được là to nhất thế giới.
Trước hết xin quí vị một tràng pháo tay thật to thật dài cho nước Việt Nam anh hùng đỉnh cao trí tuệ, cái nôi của loài người; có Hà Nội là thủ đô của phẩm giá con người; có đảng CS quang vinh muôn năm; có đạo đức Hồ Chí Minh; có quân đội trung với đảng, có công an chỉ biết còn đảng còn mình; có sổ hưu đáng được bảo vệ hơn là biên cương giang sơn biển đảo; có đủ thứ nhờ quyền làm chủ tập thể trong đó nổi bật là đất đai thuộc sở hữu toàn dân do đảng quản lý..
Nhưng mà con cá Tháng Tư Việt Nam bắt được là loại cá gì? Tả nó đầy đủ thì rất ư là dài dòng nhiêu khê, trong phạm vi bài này, chỉ xin ngắn gọn. Đó là một loài cá rất lạ về kích thước lẫn màu sắc và dinh dưỡng. Về kích thước thì cực kỳ to, thường được gọi theo tiếng nước láng giềng mỗi lần môi hở răng rụng là vĩ đại. Về màu sắc thì, khi mới bắt được, mình nó một bên xanh nước biển một bên đỏ au như máu, chính giữa có cái đốm vàng khè đè lên, nhưng sau đó một chặp thì màu xanh biến mất, nhường cho màu đỏ luôn. Về mặt dinh dưỡng, thì hồi chưa “xực”, ai cũng “nghe nói mà ham”, nhưng khi được nếm thì tự nhiên nóng ran cả người, ngứa gan kinh khủng, còn vùng nhạy cảm thì bị phỏng cực kỳ nặng, không riêng gì phái nam mà cả phái nữ cũng bị phỏng luôn, từ già đến trẻ, sắp chết cũng như còn nằm trong bụng mẹ.
Em Xi (MC) nói đến đây thì bỗng dưng muốn khóc, do đột xuất bị mất lửa vì tiếng la ó của tuyệt đại bộ phận khán giả: Xì, tưởng con gì chứ con Giải phóng ai còn lạ gì nó. Nó bị dân Việt Nam bắt phải từ 38 năm nay ai cũng biết rồi còn phải hỏi.
Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) - Hàng năm cứ vào ngày 1 tháng Tư, cá... Tháng Tư lại vượt “vũ môn” nhảy tưng tưng đầy trên... in- tợc- nét, thiên hạ bắt được đủ loại đủ cỡ. Sau khi đem cân đo đong đếm tất cả những con bắt được từ trước đến nay, cả thế giới đã đồng ý nhất trí không ai có thể chối cãi rằng, “con” của Việt Nam bắt được là to nhất thế giới.
Trước hết xin quí vị một tràng pháo tay thật to thật dài cho nước Việt Nam anh hùng đỉnh cao trí tuệ, cái nôi của loài người; có Hà Nội là thủ đô của phẩm giá con người; có đảng CS quang vinh muôn năm; có đạo đức Hồ Chí Minh; có quân đội trung với đảng, có công an chỉ biết còn đảng còn mình; có sổ hưu đáng được bảo vệ hơn là biên cương giang sơn biển đảo; có đủ thứ nhờ quyền làm chủ tập thể trong đó nổi bật là đất đai thuộc sở hữu toàn dân do đảng quản lý..
Nhưng mà con cá Tháng Tư Việt Nam bắt được là loại cá gì? Tả nó đầy đủ thì rất ư là dài dòng nhiêu khê, trong phạm vi bài này, chỉ xin ngắn gọn. Đó là một loài cá rất lạ về kích thước lẫn màu sắc và dinh dưỡng. Về kích thước thì cực kỳ to, thường được gọi theo tiếng nước láng giềng mỗi lần môi hở răng rụng là vĩ đại. Về màu sắc thì, khi mới bắt được, mình nó một bên xanh nước biển một bên đỏ au như máu, chính giữa có cái đốm vàng khè đè lên, nhưng sau đó một chặp thì màu xanh biến mất, nhường cho màu đỏ luôn. Về mặt dinh dưỡng, thì hồi chưa “xực”, ai cũng “nghe nói mà ham”, nhưng khi được nếm thì tự nhiên nóng ran cả người, ngứa gan kinh khủng, còn vùng nhạy cảm thì bị phỏng cực kỳ nặng, không riêng gì phái nam mà cả phái nữ cũng bị phỏng luôn, từ già đến trẻ, sắp chết cũng như còn nằm trong bụng mẹ.
Em Xi (MC) nói đến đây thì bỗng dưng muốn khóc, do đột xuất bị mất lửa vì tiếng la ó của tuyệt đại bộ phận khán giả: Xì, tưởng con gì chứ con Giải phóng ai còn lạ gì nó. Nó bị dân Việt Nam bắt phải từ 38 năm nay ai cũng biết rồi còn phải hỏi.
Trễ quá rồi!
Con vợ hắn thật là phiền phức, luôn thích làm chuyện ngược đời. Buổi tối lúc hắn cần yên tĩnh đọc sách, xem tin tức thì bả hút bụi, giặt sấy quần áo ồn ào không chịu được. Sáng đi làm bả bày đặt pha cà-phê mang theo, vụng về làm đổ hư hết xấp giấy tờ. Tội nghiệp mấy thằng con, bả “đè” ra cắt tóc dù không học qua khóa hớt tóc nào. Chúng không dám lên tiếng, nhưng nhìn thật giống Ngô Như Ý (y như ngố!). Dòng họ Trùm Sò, bả thuộc vanh vách tuần này chợ hạ giá món gì, thứ gì mua ở đâu mới rẻ, có khi mua nhằm của ôi chẳng xài được. Hể “quởn” thì phôn mấy bà bạn chỉ vẽ nhau đủ điều, toàn là chuyện đàn bà. Hắn còn việc đất nước đại sự, còn biết bao thú tiêu khiển thanh cao nên chẳng chấp làm gì.
Bà làm việc như trâu, thế mà bỗng dưng lại lăn ra bệnh. Nhà thương chưa biết lý do gì, chỉ biết bệnh nặng có liên hệ tới phổi. Uả, bả có hút thuốc, có buồn phiền gì đâu mà tổn hại đến phổi. Hắn phì phèo ngày cả gói mà đã sao, hổng lẽ mấy thằng cha rỗi hơi nói về tai hại của người ngửi khói thuốc, second hand smoker là có thiệt!
Nằm bệnh viện, bà yếu ớt căn dặn: Anh ráng lo cho con, nấu cơm thì phải thế này thế này, giặt quần áo thì phải chờ tới khuya điện mới rẻ, trong giờ làm việc giá sẽ mắc gấp ba. Mới mấy tuần thiếu bả mà nhà ra như cái bãi rác. Bố con hắn ăn uống thất thường, ba đứa con tóc dài ngứa ngáy, hắn chở ra tiệm, họ tính tiền như cắt tóc người lớn. Hắn hay chê bà không biết nấu món ngon lạ miệng, nhưng thiếu canh rau hằng ngày hắn bỗng thấy thèm. Hóa đơn tiền nhà, tiền điện về, hắn ký trả mà ngẩn người ra - không hiểu sao bao nhiêu năm nay bả có thể lo với đồng lương ít ỏi, lại còn gởi về Việt Nam cho mẹ hắn xây nhà. Hắn nhớ ra có những cuối tuần bả dậy sớm sắp hàng để mua được đồ rẻ, chỉ dành riêng cho vài chục người tới sớm nhất. Lâu lâu đi tiệc, hắn hơi mắc cở vì bả không biết cách ăn mặc sang trọng, bây giờ hắn mới bắt đầu hiểu vì sao. Hắn bắt chước tự pha cà-phê cho đỡ tốn tiền, nhưng đã lỡ quen hương vị ly Starbucks thơm phức hằng ngày nên chịu thua. Hắn thầm van vái cho vợ mau khỏe lại. Kỳ này bà về, hắn sẽ cố gắng đổi thái độ.
Hôm nay bác sĩ gọi hắn, giải thích dài dòng nhưng điểm chính là bảo hắn hãy lo hậu sự. Vợ hắn đã bắt đầu mê sảng. Hắn cầm tay muốn nói lời ngọt ngào xin lỗi nhưng miệng cứng đơ không nói nổi, mà có nói được thì bả cũng có hiểu đâu, trễ quá rồi!
Con vợ hắn thật là phiền phức, luôn thích làm chuyện ngược đời. Buổi tối lúc hắn cần yên tĩnh đọc sách, xem tin tức thì bả hút bụi, giặt sấy quần áo ồn ào không chịu được. Sáng đi làm bả bày đặt pha cà-phê mang theo, vụng về làm đổ hư hết xấp giấy tờ. Tội nghiệp mấy thằng con, bả “đè” ra cắt tóc dù không học qua khóa hớt tóc nào. Chúng không dám lên tiếng, nhưng nhìn thật giống Ngô Như Ý (y như ngố!). Dòng họ Trùm Sò, bả thuộc vanh vách tuần này chợ hạ giá món gì, thứ gì mua ở đâu mới rẻ, có khi mua nhằm của ôi chẳng xài được. Hể “quởn” thì phôn mấy bà bạn chỉ vẽ nhau đủ điều, toàn là chuyện đàn bà. Hắn còn việc đất nước đại sự, còn biết bao thú tiêu khiển thanh cao nên chẳng chấp làm gì.
Bà làm việc như trâu, thế mà bỗng dưng lại lăn ra bệnh. Nhà thương chưa biết lý do gì, chỉ biết bệnh nặng có liên hệ tới phổi. Uả, bả có hút thuốc, có buồn phiền gì đâu mà tổn hại đến phổi. Hắn phì phèo ngày cả gói mà đã sao, hổng lẽ mấy thằng cha rỗi hơi nói về tai hại của người ngửi khói thuốc, second hand smoker là có thiệt!
Nằm bệnh viện, bà yếu ớt căn dặn: Anh ráng lo cho con, nấu cơm thì phải thế này thế này, giặt quần áo thì phải chờ tới khuya điện mới rẻ, trong giờ làm việc giá sẽ mắc gấp ba. Mới mấy tuần thiếu bả mà nhà ra như cái bãi rác. Bố con hắn ăn uống thất thường, ba đứa con tóc dài ngứa ngáy, hắn chở ra tiệm, họ tính tiền như cắt tóc người lớn. Hắn hay chê bà không biết nấu món ngon lạ miệng, nhưng thiếu canh rau hằng ngày hắn bỗng thấy thèm. Hóa đơn tiền nhà, tiền điện về, hắn ký trả mà ngẩn người ra - không hiểu sao bao nhiêu năm nay bả có thể lo với đồng lương ít ỏi, lại còn gởi về Việt Nam cho mẹ hắn xây nhà. Hắn nhớ ra có những cuối tuần bả dậy sớm sắp hàng để mua được đồ rẻ, chỉ dành riêng cho vài chục người tới sớm nhất. Lâu lâu đi tiệc, hắn hơi mắc cở vì bả không biết cách ăn mặc sang trọng, bây giờ hắn mới bắt đầu hiểu vì sao. Hắn bắt chước tự pha cà-phê cho đỡ tốn tiền, nhưng đã lỡ quen hương vị ly Starbucks thơm phức hằng ngày nên chịu thua. Hắn thầm van vái cho vợ mau khỏe lại. Kỳ này bà về, hắn sẽ cố gắng đổi thái độ.
Hôm nay bác sĩ gọi hắn, giải thích dài dòng nhưng điểm chính là bảo hắn hãy lo hậu sự. Vợ hắn đã bắt đầu mê sảng. Hắn cầm tay muốn nói lời ngọt ngào xin lỗi nhưng miệng cứng đơ không nói nổi, mà có nói được thì bả cũng có hiểu đâu, trễ quá rồi!
Đừng trách những ông Mỹ vàng
Châu Văn Thịnh
Nhớ lại ngày xưa, cha ông của chúng ta đã thường nói đến những ông Tây đen, Tây trắng, nhưng không nghe nói đến ông Tây Vàng; vì thưở đó, rất ít Tây vàng. Vàng ở đây, không phải là quý hóa như Vàng, mà là những người Việt Nam da Vàng, đã đi làm tay sai cho Tây. Những “ông” da vàng mũi tẹt này, có một số không có quốc tịch Tây, mà chỉ làm tay sai cho Tây thôi.
Những ngày nay, thì ở bên Tây, ngoài Tây trắng, Tây đen, thì đã có rất nhiều những người là dân Tây vàng. Ở bên nước Huê Kỳ cũng vậy. Hồi quân đội “đồng minh” Mỹ đổ bộ lên bờ biển tại cảng Đà Nẵng, thì dân ta đã gọi: Mỹ trắng, Mỹ đen, nhưng cũng chưa có Mỹ vàng.
Còn sau ngày 30/4/1975, khi Cộng sản Bắc Việt đã cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa, thì một số đông người Việt đã đến tỵ nạn Cộng sản tại nước Mỹ. Nhưng cho đến sau này, thì có thêm một số đông đảo người Việt đã sang sinh sống trên đất Mỹ, nhưng không phải là người tỵ nạn Cộng sản, mà chỉ đi Mỹ bằng những “diện” khác nhau:
1 - Sang Mỹ theo “diện” cựu tù “cải tạo” (HO)
2 - Đoàn tụ vì có vợ chồng là Mỹ vàng.
3 - Đi ca hát do các trung tâm băng nhạc bảo trợ.
4 - Đi du lịch rồi tìm nhiều cách để ở lại Mỹ.
Trong những thành phần đó, có một số đông đảo đã trở thành những ông, bà Mỹ da Vàng. Nói cho gọn là Mỹ Vàng… khè. Cũng có một số là Việt cộng, đi theo diện kết hôn vợ chồng với Mỹ vàng, đã và đang hoạt động cho Cộng sản một cách hợp pháp trên đất Mỹ.
Và gần đây, có một ông Mỹ Vàng đã làm cho cộng đồng người Việt phải phản đối bằng những cách này, hay cách khác. Ông Mỹ Vàng đó, là Ls Hoàng Duy Hùng, nhưng trách làm gì, vì ông Mỹ Vàng Hùng không còn là một người Việt Nam nữa, ông đã chối bỏ cội nguồn Việt Nam như chính ông Hùng đã nói rằng, ông là người Hoa Kỳ, phục vụ cho chính phủ Hoa Kỳ, cho quyền lợi của Hoa kỳ, trong đó có người Mỹ da trắng, da đen, người Mễ, Phi Luật Tân, Cam Bốt… trong đó có người Việt Nam.
Những điều đó, Hoàng Duy Hùng đã nói ra, không cần che giấu. Do đó, cũng như tất cả chúng ta cần phải có sự hiểu biết, hầu đừng để ý đến, đừng trách những việc làm của những ông Mỹ đen, Mỹ trắng, hay Mỹ vàng.
Vì nếu, nếu thôi, nếu một mai đây, do thời vận đẩy đưa một ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng có trở thành một ông “Đại sứ Mỹ” tại Việt Mam, dù ngày đó, đất nước Việt Nam không còn chế độ Cộng sản nữa, thì “ông đại sứ” Hoàng duy Hùng cũng giống như ông đại sứ Henry Cabot Lodge của ngày xưa vậy; thì “ông đại sứ” Mỹ vàng hay Mỹ trắng cũng phải hành động như nhau.
Nghĩa là ngày xưa, ông đại sứ Henry Cabot Lodge đã tìm mọi cách để giết chết cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm như thế nào, thì nếu có thời cơ, thì “ông đại sứ” Hoàng Duy Hùng cũng sẽ hành động giống y như Henry Cabot Lodge vậy. Không làm khác được.
Hôm qua, khi ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng đến “tham quan” nước Việt Nam Cộng sản, lúc xuống sân bay Nội Bài của xứ người, ông Mỹ Vàng đã được “nhà báo” cũng Mỹ Vàng Nguyễn Phương Hùng “phỏng vấn”. Ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng đã khẳng định như đinh đóng cột rằng:
“Tôi đến Việt Nam với tư cách là một dân cử, tôi là người của Hoa Kỳ, tôi phục vụ cho quyền lợi của chính phủ Hoa Kỳ…”
Xin mọi người hãy suy nghĩ: có bao giờ các vị phản đối hay phiền trách chuyện các ông tổng Thống Mỹ, các ông bà Ngoại trưởng, Bộ trưởng của Mỹ, dù Mỹ Đen hay Mỹ trắng, khi họ tới Việt Nam. Huống thay ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng, chỉ là một nghị viên thôi mà. Nhưng kể ra khi nói mình là “dân cử” thì đối với Mỹ trắng, Mỹ đen thì bình thường. Tuy nhiên, mặc dù cũng được các cử tri bỏ phiếu bầu vào ghế nghị viên, nhưng đối với người Việt Nam, thì các dân biểu mới được gọi là dân cử.
Cũng vậy, ngày nay, trên các báo chí người ta thường ca tụng: “vẻ vang dân Việt” đối với những người trẻ thành công ở xứ người, có những người trẻ đã trở thành Khoa học gia, Tiến sĩ, Dân biểu, Thứ trưởng, Thị trưởng v…v… cho đến các Sĩ quan cao cấp của các quốc gia. Điều này, không phủ nhận, sự thành công của tuổi trẻ gốc Việt. Đặc biệt là tại Mỹ, đã làm cho ngoại quốc cũng nể phục. Nhưng có một điều chắc chắn rằng: Những người này, họ đều phục vụ cho quyền lợi của nước Mỹ, hay các nước khác, chứ họ không bao giờ phục vụ cho đất nước Việt Nam, dù không còn chế độ Cộng sản.
Một thí dụ không phủ nhận được: Nếu một mai vì một lý do nào đó, mà các Sĩ quan Mỹ Vàng, lớn, nhỏ, mà họ phải tham chiến ở bất cứ một nước nào, kể cả ở nước Việt Nam. Thì những Sĩ quan Mỹ Vàng này, họ cũng sẵn sàng nhả đạn, bắn thẳng vào đầu của những người cần phải tiêu diệt để “phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ”, chứ không làm khác được. Điều đó, đã chứng minh qua những hành động của mấy ông tướng Tây Vàng Nguyễn Văn Hinh, (con trai của thủ tướng “công thần đại điểm” Nguyễn Văn Tâm), Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân… đã từng phục tùng tướng cướp Bảy Viễn, tức Lê Văn Viễn của nước Pháp vậy.
Vì thế, mà một số người Việt, đã có con cháu thành công, đã tham gia vào chính trường của các nước, nhưng họ không hề nói ra cho ai được biết; bởi vì họ nghĩ rằng: con cái của họ đã và đang phục vụ cho nước đang cưu mạng họ, xem như một sự đền ơn cho con cái họ được học hành đến nơi, tới chốn, nhưng thực sự, con cái của họ không làm được điều gì để giúp ích cho đất nước Việt Nam thân yêu của họ. Do đó, họ tự thấy không có gì để hãnh diện mà khoe khoang cả.
Nhưng nói để cho những người bình dân dễ hiểu rằng: Có những bậc cha mẹ vì đã quá kỳ vọng vào những đứa con trai, được gọi là “quý tử” của mình, cho nên họ đã tin chắc rằng con cái của họ sau khi công thành danh toại, thì chúng sẽ phụng dưỡng cha mẹ như chính mình đã hết lòng thương yêu đùm bọc chúng. Nhưng rồi khi những đứa “quý tử” ấy sống trong giàu sang, thì lại đem cha mẹ của mình bỏ vào viện dưỡng lão, hay tại Việt Nam, thì bất hạnh hơn nữa, vì các bậc cha mẹ phải nằm đường, ngủ chợ, vì bị các “quý tử” thẳng tay xua đuổi ra khỏi nhà!
Chúng ta phải suy nghĩ cho thật kỹ, để đừng kỳ vọng vào bất cứ những ai, kể cả con cái, để rồi phải thất vọng nặng nề. Và cũng nói, để chúng ta phải suy nghĩ về việc ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng. Bởi vì, ông Mỹ Vàng này đã nhờ sự góp phần của những cử tri gốc việt tại Houston, cho nên Hoàng Duy Hùng mới từ “Chủ tịch cộng đồng” rồi trở thành “nghị viên”. Cả hai cái chức đó, đều có những lá phiếu của cử tri gốc Việt. Những cử tri này, mới đáng trách, còn như tôi đây, không có bỏ phiếu cho ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng, nên không có trách một ông Mỹ Vàng đi phục vụ cho quyền lợi của nước Mỹ.
Châu Văn Thịnh
Châu Văn Thịnh
Nhớ lại ngày xưa, cha ông của chúng ta đã thường nói đến những ông Tây đen, Tây trắng, nhưng không nghe nói đến ông Tây Vàng; vì thưở đó, rất ít Tây vàng. Vàng ở đây, không phải là quý hóa như Vàng, mà là những người Việt Nam da Vàng, đã đi làm tay sai cho Tây. Những “ông” da vàng mũi tẹt này, có một số không có quốc tịch Tây, mà chỉ làm tay sai cho Tây thôi.
Những ngày nay, thì ở bên Tây, ngoài Tây trắng, Tây đen, thì đã có rất nhiều những người là dân Tây vàng. Ở bên nước Huê Kỳ cũng vậy. Hồi quân đội “đồng minh” Mỹ đổ bộ lên bờ biển tại cảng Đà Nẵng, thì dân ta đã gọi: Mỹ trắng, Mỹ đen, nhưng cũng chưa có Mỹ vàng.
Còn sau ngày 30/4/1975, khi Cộng sản Bắc Việt đã cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa, thì một số đông người Việt đã đến tỵ nạn Cộng sản tại nước Mỹ. Nhưng cho đến sau này, thì có thêm một số đông đảo người Việt đã sang sinh sống trên đất Mỹ, nhưng không phải là người tỵ nạn Cộng sản, mà chỉ đi Mỹ bằng những “diện” khác nhau:
1 - Sang Mỹ theo “diện” cựu tù “cải tạo” (HO)
2 - Đoàn tụ vì có vợ chồng là Mỹ vàng.
3 - Đi ca hát do các trung tâm băng nhạc bảo trợ.
4 - Đi du lịch rồi tìm nhiều cách để ở lại Mỹ.
Trong những thành phần đó, có một số đông đảo đã trở thành những ông, bà Mỹ da Vàng. Nói cho gọn là Mỹ Vàng… khè. Cũng có một số là Việt cộng, đi theo diện kết hôn vợ chồng với Mỹ vàng, đã và đang hoạt động cho Cộng sản một cách hợp pháp trên đất Mỹ.
Và gần đây, có một ông Mỹ Vàng đã làm cho cộng đồng người Việt phải phản đối bằng những cách này, hay cách khác. Ông Mỹ Vàng đó, là Ls Hoàng Duy Hùng, nhưng trách làm gì, vì ông Mỹ Vàng Hùng không còn là một người Việt Nam nữa, ông đã chối bỏ cội nguồn Việt Nam như chính ông Hùng đã nói rằng, ông là người Hoa Kỳ, phục vụ cho chính phủ Hoa Kỳ, cho quyền lợi của Hoa kỳ, trong đó có người Mỹ da trắng, da đen, người Mễ, Phi Luật Tân, Cam Bốt… trong đó có người Việt Nam.
Những điều đó, Hoàng Duy Hùng đã nói ra, không cần che giấu. Do đó, cũng như tất cả chúng ta cần phải có sự hiểu biết, hầu đừng để ý đến, đừng trách những việc làm của những ông Mỹ đen, Mỹ trắng, hay Mỹ vàng.
Vì nếu, nếu thôi, nếu một mai đây, do thời vận đẩy đưa một ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng có trở thành một ông “Đại sứ Mỹ” tại Việt Mam, dù ngày đó, đất nước Việt Nam không còn chế độ Cộng sản nữa, thì “ông đại sứ” Hoàng duy Hùng cũng giống như ông đại sứ Henry Cabot Lodge của ngày xưa vậy; thì “ông đại sứ” Mỹ vàng hay Mỹ trắng cũng phải hành động như nhau.
Nghĩa là ngày xưa, ông đại sứ Henry Cabot Lodge đã tìm mọi cách để giết chết cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm như thế nào, thì nếu có thời cơ, thì “ông đại sứ” Hoàng Duy Hùng cũng sẽ hành động giống y như Henry Cabot Lodge vậy. Không làm khác được.
Hôm qua, khi ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng đến “tham quan” nước Việt Nam Cộng sản, lúc xuống sân bay Nội Bài của xứ người, ông Mỹ Vàng đã được “nhà báo” cũng Mỹ Vàng Nguyễn Phương Hùng “phỏng vấn”. Ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng đã khẳng định như đinh đóng cột rằng:
“Tôi đến Việt Nam với tư cách là một dân cử, tôi là người của Hoa Kỳ, tôi phục vụ cho quyền lợi của chính phủ Hoa Kỳ…”
Xin mọi người hãy suy nghĩ: có bao giờ các vị phản đối hay phiền trách chuyện các ông tổng Thống Mỹ, các ông bà Ngoại trưởng, Bộ trưởng của Mỹ, dù Mỹ Đen hay Mỹ trắng, khi họ tới Việt Nam. Huống thay ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng, chỉ là một nghị viên thôi mà. Nhưng kể ra khi nói mình là “dân cử” thì đối với Mỹ trắng, Mỹ đen thì bình thường. Tuy nhiên, mặc dù cũng được các cử tri bỏ phiếu bầu vào ghế nghị viên, nhưng đối với người Việt Nam, thì các dân biểu mới được gọi là dân cử.
Cũng vậy, ngày nay, trên các báo chí người ta thường ca tụng: “vẻ vang dân Việt” đối với những người trẻ thành công ở xứ người, có những người trẻ đã trở thành Khoa học gia, Tiến sĩ, Dân biểu, Thứ trưởng, Thị trưởng v…v… cho đến các Sĩ quan cao cấp của các quốc gia. Điều này, không phủ nhận, sự thành công của tuổi trẻ gốc Việt. Đặc biệt là tại Mỹ, đã làm cho ngoại quốc cũng nể phục. Nhưng có một điều chắc chắn rằng: Những người này, họ đều phục vụ cho quyền lợi của nước Mỹ, hay các nước khác, chứ họ không bao giờ phục vụ cho đất nước Việt Nam, dù không còn chế độ Cộng sản.
Một thí dụ không phủ nhận được: Nếu một mai vì một lý do nào đó, mà các Sĩ quan Mỹ Vàng, lớn, nhỏ, mà họ phải tham chiến ở bất cứ một nước nào, kể cả ở nước Việt Nam. Thì những Sĩ quan Mỹ Vàng này, họ cũng sẵn sàng nhả đạn, bắn thẳng vào đầu của những người cần phải tiêu diệt để “phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ”, chứ không làm khác được. Điều đó, đã chứng minh qua những hành động của mấy ông tướng Tây Vàng Nguyễn Văn Hinh, (con trai của thủ tướng “công thần đại điểm” Nguyễn Văn Tâm), Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân… đã từng phục tùng tướng cướp Bảy Viễn, tức Lê Văn Viễn của nước Pháp vậy.
Vì thế, mà một số người Việt, đã có con cháu thành công, đã tham gia vào chính trường của các nước, nhưng họ không hề nói ra cho ai được biết; bởi vì họ nghĩ rằng: con cái của họ đã và đang phục vụ cho nước đang cưu mạng họ, xem như một sự đền ơn cho con cái họ được học hành đến nơi, tới chốn, nhưng thực sự, con cái của họ không làm được điều gì để giúp ích cho đất nước Việt Nam thân yêu của họ. Do đó, họ tự thấy không có gì để hãnh diện mà khoe khoang cả.
Nhưng nói để cho những người bình dân dễ hiểu rằng: Có những bậc cha mẹ vì đã quá kỳ vọng vào những đứa con trai, được gọi là “quý tử” của mình, cho nên họ đã tin chắc rằng con cái của họ sau khi công thành danh toại, thì chúng sẽ phụng dưỡng cha mẹ như chính mình đã hết lòng thương yêu đùm bọc chúng. Nhưng rồi khi những đứa “quý tử” ấy sống trong giàu sang, thì lại đem cha mẹ của mình bỏ vào viện dưỡng lão, hay tại Việt Nam, thì bất hạnh hơn nữa, vì các bậc cha mẹ phải nằm đường, ngủ chợ, vì bị các “quý tử” thẳng tay xua đuổi ra khỏi nhà!
Chúng ta phải suy nghĩ cho thật kỹ, để đừng kỳ vọng vào bất cứ những ai, kể cả con cái, để rồi phải thất vọng nặng nề. Và cũng nói, để chúng ta phải suy nghĩ về việc ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng. Bởi vì, ông Mỹ Vàng này đã nhờ sự góp phần của những cử tri gốc việt tại Houston, cho nên Hoàng Duy Hùng mới từ “Chủ tịch cộng đồng” rồi trở thành “nghị viên”. Cả hai cái chức đó, đều có những lá phiếu của cử tri gốc Việt. Những cử tri này, mới đáng trách, còn như tôi đây, không có bỏ phiếu cho ông Mỹ Vàng Hoàng Duy Hùng, nên không có trách một ông Mỹ Vàng đi phục vụ cho quyền lợi của nước Mỹ.
Châu Văn Thịnh
‘Tôi vừa ở bệnh viện về!’
Sunday, March 31, 2013 3:59:19 PM
Tạp ghi Huy Phương
-“Tôi vừa ở bệnh viện về! Anh từ phòng cấp cứu mới ra!” nghe từa tựa như hai câu mở đầu trong bài thơ “Ðôi Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng. Câu nói không mang những nỗi reo vui như thời thơ ấu: “Buổi sáng hôm ấy, một buổi sáng đầy sương thu và gió lạnh...” hay “Je vais vous dire ce que me rappellent tous les ans...”
Ở tuổi già, nhất là tuổi già ốm đau ở hải ngoại, ai mà không đôi lần đã thốt ra câu nói này!
Nhưng lần này ở bệnh viện về, tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn. Nếu có lê thê vài chi tiết, đó không phải là muốn quan trọng hóa vấn đề, mà là cần thiết để chuyên chở những điều mà tôi thực tâm muốn bày tỏ và tâm sự với bạn bè tôi, những vị cao niên vừa bước qua khỏi tuổi 65.
Ở tuổi già chúng ta có nhiều bệnh không dẫn đến cái chết, nhưng chúng ta vẫn lo sợ và cần đến sự cấp cứu. Buổi sáng hôm ấy, khi thức giấc tôi cảm thấy một dòng nước từ mũi trái đang chảy ra, lấy mảnh khăn giấy chặm thì mới hốt hoảng nhận ra đó là một dòng máu tươi. Thời thơ ấu, hình như ai trong chúng ta cũng đã có một lần bị “chảy máu cam” vì chạy chơi ngoài nắng, hay đánh lộn ngoài đường “chảy máu mũi,” được mẹ vã nước lạnh lên trán, nhét những đọt lá dâu non vào mũi. Chuyện này tái diễn nhiều lần, chỉ sau một phút là máu ngưng chảy.
Nhưng lần này, tuổi đã già, lại đang ở nơi xứ sở đang có nền y tế khá tốt, dòng máu từ mũi liên tục chảy mươi phút, bịt kín mũi thì máu chảy xuống miệng, lỡ máu chảy không ngừng thì sao? Chỉ còn cách gọi cấp cứu để vào bệnh viện.
Ở phòng cấp cứu, nhân viên y tế không cho uống thuốc cầm máu, chỉ tìm cách chặn chỗ máu chảy, nhất là khi chỗ ấy lại là lỗ mũi nữa, thì quả là một cực hình. Bác sĩ đưa vào lỗ mũi một vật tương tự như đầu lọc của một điếu thuốc lá, nhưng có kích thước lớn và dài hơn nhiều, xong bơm một dung dịch vào đó, khiến vật ấy căng phồng lên, chận không cho máu chảy thêm (Rhino Rocket.) Chảy máu mũi là một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nên không thể vào bệnh viện để tốn kém cho ngân sách y tế, nên máu hết chảy thì về nhà.
Về đến nhà, máu tiếp tục chảy thì lại phòng cấp cứu, on-off như vậy đến lần thứ tư. Lần đầu hốt hoảng nên gọi 9-1-1, ba lần sau bình tĩnh hơn, và nghĩ là không đến nỗi chết, nên nhờ con lái xe đưa vào bệnh viện.
“Sự bất quá tam!” Ðến lần thứ tư, thấy bệnh nhân “lỗ mũi ăn trầu” lại xuất hiện, bác sĩ trực hội ý với các bác sĩ chuyên môn về tai-mũi-họng cho bệnh nhân vào bệnh viện, và mời một toán giải phẫu chuyên môn đến ngay trong vòng một tiếng đồng hồ sau, đưa chúng tôi lên bàn mổ. Kỹ thuật này gọi “demolization” tương tự như thông tim, thời gian là 60 phút, dùng đường tĩnh mạch từ đùi phải để đưa một bong bóng nhỏ lên tận một mạch máu nhỏ trên mũi để làm cho máu ngưng chảy.
Lần này tôi có thể yên tâm về nhà, hy vọng triệu chứng “hộc máu mũi” này không còn xảy ra nữa, vì cách đây 9 tháng chuyện này đã xảy và tôi đã phải vào bệnh viện một lần rồi.
Tôi khai báo với các bạn là tôi chỉ có Medicare-Medicaid, một thứ bảo hiểm y tế mà người mang quốc tịch Mỹ ở đây ai trên 65 tuổi cũng có, không cần phải đi làm một ngày.
Theo chỉ dẫn trong sách y khoa, chỉ khi nào chảy máu mũi trên 20 phút mới đi bác sĩ (không gọi 9-1-1 để cấp cứu) vì đây là một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng. Với một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng, cơ quan y tế Mỹ đã làm cho tôi một cuộc “tiểu giải phẫu” với một toán chuyên khoa về tim mạch, mà tốn phí không dưới $30,000.
Một trường hợp nguy hiểm đến tính mạng như một người bạn tôi mới đây, vào bệnh viện cấp cứu vì bệnh tim, làm by-pass, phải có đến ba bác sĩ túc trực bên giường bệnh, chi phí lên đến $80,000, mà người bạn tôi không phải móc túi chi ra một đồng. Ðó là nói về ca mổ, chưa tính nằm bệnh viện hơn tuần, thuốc men, tiền ăn uống, tiền xe cấp cứu. Ở đây cũng có những vị cao niên, may mắn chưa vào bệnh viện một lần, nhưng cũng có người vào ra cấp cứu và bệnh viện “như đi chợ,” vậy thử hỏi chi phí y tế mà chính phủ Mỹ trả cho những dịch vụ y tế này lên đến con số bao nhiêu?
Ngoài chuyện housing, tiền trợ cấp sinh sống hằng tháng, tiền trả cho bác sĩ và dược phòng, sống yên như vậy, tuổi già chúng ta cũng đã làm khổ “nhà nước” bao nhiêu rồi. Nay chỉ một cơn đau, một lần vào bệnh viện, chúng ta đã “đốt” hết của quỹ y tế 50, 70 nghìn đô la.
Sở dĩ tôi nói “vòng vo Tam Quốc” như vậy là để nhắc lại chuyện “Cá Tháng Tư” mà tôi đã “thả” ra ngày này, cách đây hai năm. Giả dụ, chính phủ sẵn lòng cấp cho những ai là di dân trên 65 tuổi ở đất Mỹ này, một số tiền, một lần $30,000 nếu họ bằng lòng rời bỏ nước Mỹ này để về nơi quê quán, mà không trở lại. Câu chuyện “giả tưởng” nhưng rất có nhiều người tin vì trong chúng ta cũng có nhiều người có con cái, thân nhân ở Việt Nam, hay vì tuổi già cô đơn, con cái tệ bạc, nếu có được một số tiền về quê xây dựng lại cuộc đời, yên vui tuổi già, họ sẵn sàng chấp nhận. Thật ra, số đông cao niên còn bịn rịn, lưu luyến cái đất Mỹ này cũng vì còn trợ cấp tài chánh, nhà cửa, y tế tương đối đầy đủ mà về lại cố hương, không bao giờ có được.
Ðề nghị của tôi có lợi cho nước Mỹ.
Trong trường hợp của tôi và người bạn bị bệnh tim trong câu chuyện ở trên, nếu chấp thuận nhận mỗi người $30,000 và đã trở về nước, thì chính phủ Mỹ hai năm nay đã “saving” được một số tiền khá lớn. Con số này nếu nhân lên với con số “cao niên tị nạn” bằng lòng với giải pháp “rời” nước Mỹ như trên, quỹ y tế của liên bang Hoa Kỳ sẽ đỡ được một gánh nặng. Tiếc rằng chưa có vị dân cử nào ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn “chộp” được con “Cá Tháng Tư” của tôi.
Tôi nghĩ đến một chuyện chẳng may, nếu một ngày nọ, quỹ y tế của nước Mỹ không còn hay nghèo đi, lấy gì để trả y phí cho trường hợp của tôi hay bạn tôi. Nước Mỹ thật sự đang giàu có, trong bệnh viện, từ cây kim chích, miếng bông, hộp khăn giấy, cái khẩu trang, bịch nước biển, chiếc khăn trải giường... và những vật dụng y tế, thuốc men đắt tiền, chưa lúc nào thấy thiếu. Nhưng liệu với lối hành xử như chúng ta hiện nay, trong tương lai, chúng ta hay con cháu còn được hưởng những tiện nghi như bây giờ không.
Cho tất cả mọi người trên 65 tuổi, có lợi tức thấp hay không có lợi tức, ngoài trợ cấp gia cư, y tế, lương thực, chính phủ phải trả thêm tiền viện dưỡng lão có y tá, săn sóc người bệnh ngoại chẩn, dịch vụ săn sóc tại gia, nhu cầu khám bệnh và thử nghiệm, dụng cụ y khoa dài hạn (giường nằm, xe lăn, gậy chống, tã lót...) Như vậy cũng chưa đủ, các bạn cao niên, trong khi còn lái xe được, còn kiếm chỗ day-care để đến đó ban ngày, vui chơi, ăn uống, tập thể dục, làm theraphy, chơi computer. Thuốc men thì nửa xài nửa bỏ, bác sĩ chiều bệnh nhân, khi thì xin thuốc bao tử cho bà cô bên nhà, khi thì cần thuốc dán đau lưng cho ông anh rể ở quê. Nhức mỏi? (Ai già trên 70, như cỗ xe quá thời gian mà không xộc xệch,) thì tìm đến các “pain center” than van, nhõng nhẽo như những đứa trẻ, để có người đắp nước ấm, xoa bóp, chạy điện. Tiền ấy ai trả?
Chúng ta có ý định tham gia một cuộc biểu tình chống việc cắt giảm Medicare chứ? Thì trước hết, chúng ta phải tiêu pha dè sẻn, hợp lý! Cũng như chúng ta đòi nước Mỹ phải có biện pháp kinh tế với Việt Nam, trong khi chính chúng ta “tuồn” hàng chục tỉ đô la về nước mỗi năm. Ðiều đó có mâu thuẫn chăng?
Thấy những tiện nghi, đặc biệt là tiện nghi y tế mà chúng ta may mắn được hưởng hôm nay, trong lòng tôi thấy mang ơn nước Mỹ. Ðối với cá nhân tôi, nước Mỹ chẳng có món nợ nào, như nhiều người Việt Nam đã kêu gào nước Mỹ đang mắc nợ họ. Tôi không những chỉ mang nợ những ưu đãi vật chất của quốc gia này, mà còn mang ơn mối tình cảm của những nhân viên ngành y tế tận tâm, dịu dàng với bệnh nhân, mà tôi không dám dùng hai chữ “từ mẫu” để tránh một sự liên tưởng đau lòng. Tôi mang ơn những sự đón tiếp sốt sắng trong phòng cấp cứu, dù lúc đó đồng hồ trên tường đã chỉ ba giờ sáng. Tôi mang ơn người bác sĩ đã “xin lỗi” tôi, hay người y tá đã nắm chặt tay tôi khi tôi rên rỉ vì không chịu nổi cơn đau.
Tôi sợ rồi đây, các bạn trẻ của tôi sắp bước vào tuổi 66, 67 (mà không còn là 65 nữa,) và cả con cháu của tôi, những thế hệ lỡ đường sẽ không còn được hưởng hạnh phúc như tôi nữa!
Sunday, March 31, 2013 3:59:19 PM
Tạp ghi Huy Phương
-“Tôi vừa ở bệnh viện về! Anh từ phòng cấp cứu mới ra!” nghe từa tựa như hai câu mở đầu trong bài thơ “Ðôi Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng. Câu nói không mang những nỗi reo vui như thời thơ ấu: “Buổi sáng hôm ấy, một buổi sáng đầy sương thu và gió lạnh...” hay “Je vais vous dire ce que me rappellent tous les ans...”
Ở tuổi già, nhất là tuổi già ốm đau ở hải ngoại, ai mà không đôi lần đã thốt ra câu nói này!
Nhưng lần này ở bệnh viện về, tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn. Nếu có lê thê vài chi tiết, đó không phải là muốn quan trọng hóa vấn đề, mà là cần thiết để chuyên chở những điều mà tôi thực tâm muốn bày tỏ và tâm sự với bạn bè tôi, những vị cao niên vừa bước qua khỏi tuổi 65.
Ở tuổi già chúng ta có nhiều bệnh không dẫn đến cái chết, nhưng chúng ta vẫn lo sợ và cần đến sự cấp cứu. Buổi sáng hôm ấy, khi thức giấc tôi cảm thấy một dòng nước từ mũi trái đang chảy ra, lấy mảnh khăn giấy chặm thì mới hốt hoảng nhận ra đó là một dòng máu tươi. Thời thơ ấu, hình như ai trong chúng ta cũng đã có một lần bị “chảy máu cam” vì chạy chơi ngoài nắng, hay đánh lộn ngoài đường “chảy máu mũi,” được mẹ vã nước lạnh lên trán, nhét những đọt lá dâu non vào mũi. Chuyện này tái diễn nhiều lần, chỉ sau một phút là máu ngưng chảy.
Nhưng lần này, tuổi đã già, lại đang ở nơi xứ sở đang có nền y tế khá tốt, dòng máu từ mũi liên tục chảy mươi phút, bịt kín mũi thì máu chảy xuống miệng, lỡ máu chảy không ngừng thì sao? Chỉ còn cách gọi cấp cứu để vào bệnh viện.
Ở phòng cấp cứu, nhân viên y tế không cho uống thuốc cầm máu, chỉ tìm cách chặn chỗ máu chảy, nhất là khi chỗ ấy lại là lỗ mũi nữa, thì quả là một cực hình. Bác sĩ đưa vào lỗ mũi một vật tương tự như đầu lọc của một điếu thuốc lá, nhưng có kích thước lớn và dài hơn nhiều, xong bơm một dung dịch vào đó, khiến vật ấy căng phồng lên, chận không cho máu chảy thêm (Rhino Rocket.) Chảy máu mũi là một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nên không thể vào bệnh viện để tốn kém cho ngân sách y tế, nên máu hết chảy thì về nhà.
Về đến nhà, máu tiếp tục chảy thì lại phòng cấp cứu, on-off như vậy đến lần thứ tư. Lần đầu hốt hoảng nên gọi 9-1-1, ba lần sau bình tĩnh hơn, và nghĩ là không đến nỗi chết, nên nhờ con lái xe đưa vào bệnh viện.
“Sự bất quá tam!” Ðến lần thứ tư, thấy bệnh nhân “lỗ mũi ăn trầu” lại xuất hiện, bác sĩ trực hội ý với các bác sĩ chuyên môn về tai-mũi-họng cho bệnh nhân vào bệnh viện, và mời một toán giải phẫu chuyên môn đến ngay trong vòng một tiếng đồng hồ sau, đưa chúng tôi lên bàn mổ. Kỹ thuật này gọi “demolization” tương tự như thông tim, thời gian là 60 phút, dùng đường tĩnh mạch từ đùi phải để đưa một bong bóng nhỏ lên tận một mạch máu nhỏ trên mũi để làm cho máu ngưng chảy.
Lần này tôi có thể yên tâm về nhà, hy vọng triệu chứng “hộc máu mũi” này không còn xảy ra nữa, vì cách đây 9 tháng chuyện này đã xảy và tôi đã phải vào bệnh viện một lần rồi.
Tôi khai báo với các bạn là tôi chỉ có Medicare-Medicaid, một thứ bảo hiểm y tế mà người mang quốc tịch Mỹ ở đây ai trên 65 tuổi cũng có, không cần phải đi làm một ngày.
Theo chỉ dẫn trong sách y khoa, chỉ khi nào chảy máu mũi trên 20 phút mới đi bác sĩ (không gọi 9-1-1 để cấp cứu) vì đây là một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng. Với một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng, cơ quan y tế Mỹ đã làm cho tôi một cuộc “tiểu giải phẫu” với một toán chuyên khoa về tim mạch, mà tốn phí không dưới $30,000.
Một trường hợp nguy hiểm đến tính mạng như một người bạn tôi mới đây, vào bệnh viện cấp cứu vì bệnh tim, làm by-pass, phải có đến ba bác sĩ túc trực bên giường bệnh, chi phí lên đến $80,000, mà người bạn tôi không phải móc túi chi ra một đồng. Ðó là nói về ca mổ, chưa tính nằm bệnh viện hơn tuần, thuốc men, tiền ăn uống, tiền xe cấp cứu. Ở đây cũng có những vị cao niên, may mắn chưa vào bệnh viện một lần, nhưng cũng có người vào ra cấp cứu và bệnh viện “như đi chợ,” vậy thử hỏi chi phí y tế mà chính phủ Mỹ trả cho những dịch vụ y tế này lên đến con số bao nhiêu?
Ngoài chuyện housing, tiền trợ cấp sinh sống hằng tháng, tiền trả cho bác sĩ và dược phòng, sống yên như vậy, tuổi già chúng ta cũng đã làm khổ “nhà nước” bao nhiêu rồi. Nay chỉ một cơn đau, một lần vào bệnh viện, chúng ta đã “đốt” hết của quỹ y tế 50, 70 nghìn đô la.
Sở dĩ tôi nói “vòng vo Tam Quốc” như vậy là để nhắc lại chuyện “Cá Tháng Tư” mà tôi đã “thả” ra ngày này, cách đây hai năm. Giả dụ, chính phủ sẵn lòng cấp cho những ai là di dân trên 65 tuổi ở đất Mỹ này, một số tiền, một lần $30,000 nếu họ bằng lòng rời bỏ nước Mỹ này để về nơi quê quán, mà không trở lại. Câu chuyện “giả tưởng” nhưng rất có nhiều người tin vì trong chúng ta cũng có nhiều người có con cái, thân nhân ở Việt Nam, hay vì tuổi già cô đơn, con cái tệ bạc, nếu có được một số tiền về quê xây dựng lại cuộc đời, yên vui tuổi già, họ sẵn sàng chấp nhận. Thật ra, số đông cao niên còn bịn rịn, lưu luyến cái đất Mỹ này cũng vì còn trợ cấp tài chánh, nhà cửa, y tế tương đối đầy đủ mà về lại cố hương, không bao giờ có được.
Ðề nghị của tôi có lợi cho nước Mỹ.
Trong trường hợp của tôi và người bạn bị bệnh tim trong câu chuyện ở trên, nếu chấp thuận nhận mỗi người $30,000 và đã trở về nước, thì chính phủ Mỹ hai năm nay đã “saving” được một số tiền khá lớn. Con số này nếu nhân lên với con số “cao niên tị nạn” bằng lòng với giải pháp “rời” nước Mỹ như trên, quỹ y tế của liên bang Hoa Kỳ sẽ đỡ được một gánh nặng. Tiếc rằng chưa có vị dân cử nào ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn “chộp” được con “Cá Tháng Tư” của tôi.
Tôi nghĩ đến một chuyện chẳng may, nếu một ngày nọ, quỹ y tế của nước Mỹ không còn hay nghèo đi, lấy gì để trả y phí cho trường hợp của tôi hay bạn tôi. Nước Mỹ thật sự đang giàu có, trong bệnh viện, từ cây kim chích, miếng bông, hộp khăn giấy, cái khẩu trang, bịch nước biển, chiếc khăn trải giường... và những vật dụng y tế, thuốc men đắt tiền, chưa lúc nào thấy thiếu. Nhưng liệu với lối hành xử như chúng ta hiện nay, trong tương lai, chúng ta hay con cháu còn được hưởng những tiện nghi như bây giờ không.
Cho tất cả mọi người trên 65 tuổi, có lợi tức thấp hay không có lợi tức, ngoài trợ cấp gia cư, y tế, lương thực, chính phủ phải trả thêm tiền viện dưỡng lão có y tá, săn sóc người bệnh ngoại chẩn, dịch vụ săn sóc tại gia, nhu cầu khám bệnh và thử nghiệm, dụng cụ y khoa dài hạn (giường nằm, xe lăn, gậy chống, tã lót...) Như vậy cũng chưa đủ, các bạn cao niên, trong khi còn lái xe được, còn kiếm chỗ day-care để đến đó ban ngày, vui chơi, ăn uống, tập thể dục, làm theraphy, chơi computer. Thuốc men thì nửa xài nửa bỏ, bác sĩ chiều bệnh nhân, khi thì xin thuốc bao tử cho bà cô bên nhà, khi thì cần thuốc dán đau lưng cho ông anh rể ở quê. Nhức mỏi? (Ai già trên 70, như cỗ xe quá thời gian mà không xộc xệch,) thì tìm đến các “pain center” than van, nhõng nhẽo như những đứa trẻ, để có người đắp nước ấm, xoa bóp, chạy điện. Tiền ấy ai trả?
Chúng ta có ý định tham gia một cuộc biểu tình chống việc cắt giảm Medicare chứ? Thì trước hết, chúng ta phải tiêu pha dè sẻn, hợp lý! Cũng như chúng ta đòi nước Mỹ phải có biện pháp kinh tế với Việt Nam, trong khi chính chúng ta “tuồn” hàng chục tỉ đô la về nước mỗi năm. Ðiều đó có mâu thuẫn chăng?
Thấy những tiện nghi, đặc biệt là tiện nghi y tế mà chúng ta may mắn được hưởng hôm nay, trong lòng tôi thấy mang ơn nước Mỹ. Ðối với cá nhân tôi, nước Mỹ chẳng có món nợ nào, như nhiều người Việt Nam đã kêu gào nước Mỹ đang mắc nợ họ. Tôi không những chỉ mang nợ những ưu đãi vật chất của quốc gia này, mà còn mang ơn mối tình cảm của những nhân viên ngành y tế tận tâm, dịu dàng với bệnh nhân, mà tôi không dám dùng hai chữ “từ mẫu” để tránh một sự liên tưởng đau lòng. Tôi mang ơn những sự đón tiếp sốt sắng trong phòng cấp cứu, dù lúc đó đồng hồ trên tường đã chỉ ba giờ sáng. Tôi mang ơn người bác sĩ đã “xin lỗi” tôi, hay người y tá đã nắm chặt tay tôi khi tôi rên rỉ vì không chịu nổi cơn đau.
Tôi sợ rồi đây, các bạn trẻ của tôi sắp bước vào tuổi 66, 67 (mà không còn là 65 nữa,) và cả con cháu của tôi, những thế hệ lỡ đường sẽ không còn được hưởng hạnh phúc như tôi nữa!
Thư giãn cuối tuần: NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA ANH VƯƠN VÀ CHỊ DẬU

Nhà anh Vươn: Chum mẻ vại vỡ đang cười hềnh hệch vào kết quả phiên tòa ô nhục.
Những khác biệt sau đây giữa chị Dậu (Tắt đèn) và anh Vươn (Tắt điện) cho thấy là ngày nay chúng ta "cưỡng chế" toàn diện và triệt để hơn thời xưa:
1. Chị Dậu không nộp sưu thuế nên bị cưỡng chế, anh Vươn mặc dù vẫn nộp thuế đầy đủ vẫn bị cưỡng chế.
2. Nếu ngày xưa chị Dậu có công "quai đê, lấn biển" thì chắc chắn sẽ được người ta lập đền thờ như thần, ngày nay mà "quai đê, lấn biển" (như anh Vươn) thì chỉ có... phá sản và tù tội mà thôi!
3. Đoàn cưỡng chế nhà chị Dậu chỉ có "chức sắc" của làng, còn đoàn cưỡng chế nhà anh Vươn có cả "cường hào" cấp tỉnh (đại ca Đỗ Hữu Ca..), cấp huyện (Khanh, Mải), cấp xã (Liêm..) cùng đông đảo lực lượng "vũ trang nhân dân" (Công An, Thủy-Lục quân..). Trong đoàn CHÓ tham gia cưỡng chế thậm chí có cả "CHÓ nghiệp vụ" nữa.
4. Chị Dậu nói khi bị cưỡng chế: "Mày bắt chồng bà, bà sẽ cho mày xem ...", nhưng đến bây giờ nhiều nhà sử học vẫn chưa tìm ra là chị đã cho những "người thi hành công vụ" thời đó "XEM" cái gì. Anh Vươn tuy không nói nhưng đã cho lực lượng cưỡng chế "xem" một màn diễn như thế nào là "lấy yếu địch mạnh", "dùng ít chọi nhiều" và như thế nào là "chiến tranh nhân dân" theo đúng nghĩa của nó?.
5. Tỉ lệ thương vong của quân chính quyền trong "trận đánh đẹp" quá cao, trong khi trong "trận đánh xấu" ngày xưa của chị Dậu không thấy nói có "đồng chí" nào bị thương hoặc mất sức lao động cả.
6. Sau trận đánh của chị Dậu không thấy triều đình Huế ra "kết luận" gì về vụ này mà cũng không thấy một chức sắc nào bị kỉ luật, trong khi trong vụ anh Vươn thì Thủ tướng ra ngay "kết luận" là "cưỡng chế sai pháp luật" và hàng loạt "đầy tớ của dân" bị "kỉ luật". (Có ai còn dám kết luận là chế độ ta không "ưu việt hơn" bọn thực dân, phong kiến nữa không???)
7. Khi cưỡng chế, đàn chó nhà chị Dậu vẫn bình yên (sau này bán cho cụ Nghị Quế) , trong khi chó nhà anh Vươn thì một con thì bị đoàn cưỡng chế bắt... làm thịt, một con thì bị thương bơi sông chạy trốn mới thoát .. vào nồi.
8. Nhà chị Dậu sau khi cưỡng chế vẫn còn, trong khi "cái chòi" anh Vươn thì bị ... san phẳng.
9. Mặc dù cũng "tự xử" nhưng chị Dậu không bị kết tội "giết người" hay "chống người thi hành công vụ" và thậm chí sau này vẫn được cụ chánh tổng cho vào "biên chế" (làm vú nuôi). Còn anh Vươn thì chắc chắn nhẹ cũng một vài năm "bóc lịch" và đừng hòng mơ sau này vào "biên chế nhà nước" nhé (dù chỉ là một chân...gác cổng!.
10. Cùng chống "cưỡng chế" cả, nhưng theo cách nhìn của "Đảng ta" thì chị Dậu là một tấm gương bất khuất, chống áp bức bạo tàn.. của người phụ nữ Việt Nam, những người ủng hộ chị là những người có tình thương yêu "giai cấp", còn anh Vươn lại là một ... tội phạm và những người ủng hộ anh là những "thế lực thù địch" hoặc các "phần tử cơ hội chính trị"!!!
11. Chị Dậu là nguồn cảm hứng cho nhà văn Ngô Tất Tố viết ra tác phẩm "Tắt đèn" và tác phẩm đó đã được xuất bản ngay trong thời kì "thực dân, phong kiến". Ngày nay sẽ không một ai trong "đội quân hùng hậu" trong cái gọi là Hội Nhà Văn Việt Nam của chúng ta có cảm hứng và can đảm để viết tác phẩm "Tắt điện" về anh Vươn, và nếu giả sử có ai đó "dám viết" đi chăng nữa thì chắc chắn cũng không được xuất bản?
12. Khác biệt về vai trò của người phụ nữ trong hai "sự kiện" chị Dậu và anh Vươn: Trong "sự kiện" chị Dậu thì người phụ nữ đóng vai trò CHỦ ĐỘNG theo dạng: Bám trụ chiến đấu, "Giặc đến nhà, đàn bà cũng (PHẢI) đánh", trong khi hai người phụ nữ trong "Tắt điện" là chị Thương và chị Hiền lại hoàn toàn đóng vai trò BỊ ĐỘNG theo dạng: Không tham chiến, nhưng... "Giặc đến nhà, đàn bà cũng (BỊ) đánh". Mặc dù vậy mà hai chị Thương và Hiền lại còn phạm tội "chống người thi hành công vụ", trong khi chị Dậu thì không !!!!
.....
Xét cho cùng, chị Dậu và anh Vươn chỉ có một điểm (và chỉ duy nhất một điểm) giống nhau là : "Tiền đồ" của họ đều "tối đen như mực"!
Nhà anh Vươn: Chum mẻ vại vỡ đang cười hềnh hệch vào kết quả phiên tòa ô nhục.
Những khác biệt sau đây giữa chị Dậu (Tắt đèn) và anh Vươn (Tắt điện) cho thấy là ngày nay chúng ta "cưỡng chế" toàn diện và triệt để hơn thời xưa:
1. Chị Dậu không nộp sưu thuế nên bị cưỡng chế, anh Vươn mặc dù vẫn nộp thuế đầy đủ vẫn bị cưỡng chế.
2. Nếu ngày xưa chị Dậu có công "quai đê, lấn biển" thì chắc chắn sẽ được người ta lập đền thờ như thần, ngày nay mà "quai đê, lấn biển" (như anh Vươn) thì chỉ có... phá sản và tù tội mà thôi!
3. Đoàn cưỡng chế nhà chị Dậu chỉ có "chức sắc" của làng, còn đoàn cưỡng chế nhà anh Vươn có cả "cường hào" cấp tỉnh (đại ca Đỗ Hữu Ca..), cấp huyện (Khanh, Mải), cấp xã (Liêm..) cùng đông đảo lực lượng "vũ trang nhân dân" (Công An, Thủy-Lục quân..). Trong đoàn CHÓ tham gia cưỡng chế thậm chí có cả "CHÓ nghiệp vụ" nữa.
4. Chị Dậu nói khi bị cưỡng chế: "Mày bắt chồng bà, bà sẽ cho mày xem ...", nhưng đến bây giờ nhiều nhà sử học vẫn chưa tìm ra là chị đã cho những "người thi hành công vụ" thời đó "XEM" cái gì. Anh Vươn tuy không nói nhưng đã cho lực lượng cưỡng chế "xem" một màn diễn như thế nào là "lấy yếu địch mạnh", "dùng ít chọi nhiều" và như thế nào là "chiến tranh nhân dân" theo đúng nghĩa của nó?.
5. Tỉ lệ thương vong của quân chính quyền trong "trận đánh đẹp" quá cao, trong khi trong "trận đánh xấu" ngày xưa của chị Dậu không thấy nói có "đồng chí" nào bị thương hoặc mất sức lao động cả.
6. Sau trận đánh của chị Dậu không thấy triều đình Huế ra "kết luận" gì về vụ này mà cũng không thấy một chức sắc nào bị kỉ luật, trong khi trong vụ anh Vươn thì Thủ tướng ra ngay "kết luận" là "cưỡng chế sai pháp luật" và hàng loạt "đầy tớ của dân" bị "kỉ luật". (Có ai còn dám kết luận là chế độ ta không "ưu việt hơn" bọn thực dân, phong kiến nữa không???)
7. Khi cưỡng chế, đàn chó nhà chị Dậu vẫn bình yên (sau này bán cho cụ Nghị Quế) , trong khi chó nhà anh Vươn thì một con thì bị đoàn cưỡng chế bắt... làm thịt, một con thì bị thương bơi sông chạy trốn mới thoát .. vào nồi.
8. Nhà chị Dậu sau khi cưỡng chế vẫn còn, trong khi "cái chòi" anh Vươn thì bị ... san phẳng.
9. Mặc dù cũng "tự xử" nhưng chị Dậu không bị kết tội "giết người" hay "chống người thi hành công vụ" và thậm chí sau này vẫn được cụ chánh tổng cho vào "biên chế" (làm vú nuôi). Còn anh Vươn thì chắc chắn nhẹ cũng một vài năm "bóc lịch" và đừng hòng mơ sau này vào "biên chế nhà nước" nhé (dù chỉ là một chân...gác cổng!.
10. Cùng chống "cưỡng chế" cả, nhưng theo cách nhìn của "Đảng ta" thì chị Dậu là một tấm gương bất khuất, chống áp bức bạo tàn.. của người phụ nữ Việt Nam, những người ủng hộ chị là những người có tình thương yêu "giai cấp", còn anh Vươn lại là một ... tội phạm và những người ủng hộ anh là những "thế lực thù địch" hoặc các "phần tử cơ hội chính trị"!!!
11. Chị Dậu là nguồn cảm hứng cho nhà văn Ngô Tất Tố viết ra tác phẩm "Tắt đèn" và tác phẩm đó đã được xuất bản ngay trong thời kì "thực dân, phong kiến". Ngày nay sẽ không một ai trong "đội quân hùng hậu" trong cái gọi là Hội Nhà Văn Việt Nam của chúng ta có cảm hứng và can đảm để viết tác phẩm "Tắt điện" về anh Vươn, và nếu giả sử có ai đó "dám viết" đi chăng nữa thì chắc chắn cũng không được xuất bản?
12. Khác biệt về vai trò của người phụ nữ trong hai "sự kiện" chị Dậu và anh Vươn: Trong "sự kiện" chị Dậu thì người phụ nữ đóng vai trò CHỦ ĐỘNG theo dạng: Bám trụ chiến đấu, "Giặc đến nhà, đàn bà cũng (PHẢI) đánh", trong khi hai người phụ nữ trong "Tắt điện" là chị Thương và chị Hiền lại hoàn toàn đóng vai trò BỊ ĐỘNG theo dạng: Không tham chiến, nhưng... "Giặc đến nhà, đàn bà cũng (BỊ) đánh". Mặc dù vậy mà hai chị Thương và Hiền lại còn phạm tội "chống người thi hành công vụ", trong khi chị Dậu thì không !!!!
.....
Xét cho cùng, chị Dậu và anh Vươn chỉ có một điểm (và chỉ duy nhất một điểm) giống nhau là : "Tiền đồ" của họ đều "tối đen như mực"!
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Chia rẽ là... chết?
Tạp ghi Huy Phương Chưa có một dân tộc nào mà sự chia rẽ, phân hóa đã nằm ngay trong khởi thủy, từ lúc mới tạo lập, thành hình. Ðó phải chăng là chuyện trăm trứng của Lạc Long Quân và bà Âu Cơ ngày xửa ngày xưa! Trăm trứng ấy nở thành trăm người con trai. Ðang ăn yên ở yên, hòa thuận một nhà thì một ngày kia, bỗng Lạc Long Quân “trở chứng” nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau được.”
Thế là hai người bèn chia con, kéo nhau đi mỗi người mỗi ngã, năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biển. Truyền thuyết này không giải thích anh em khắc nhau như thế nào đến nỗi không ở với nhau được mà phải ruột thịt cắt đứt, thân ái chia lìa?
Từ đó, cùng là dòng dõi Rồng Tiên, nhưng họ khinh ghét nhau, xem nhau như thù địch.
Mảnh đất miền Trung chật hẹp lại hiểm trở, núi non lại gần biển cả, được cắt ra nhiều mảnh bằng những con sông, người Việt trong lịch sự đã nhiều lần dùng những con sông này, để cắt đất, dựng lên biên giới cho sự thù nghịch, không đội Trời chung.
Con sông chia cắt Nam-Bắc đầu tiên trong lịch sử là sông Gianh, còn được gọi là Linh Giang, nằm về phía Bắc tỉnh Quảng Bình là ranh giới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1786) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672). Ðất nước chia cắt, bên kia sông là Bắc Hà, bên này sông là Nam Hà, bên ấy là Ðàng Ngoài, bên này là Ðàng Trong.
Trong thời Pháp thuộc, Việt Nam bị chia ra làm ba kỳ: Nam Kỳ (Cochinchine) đặt dưới quyền cai trị của Pháp, Trung Kỳ (Annam) và Bắc Kỳ (Tonkin) thuộc chế độ bảo hộ. Hầu hết người bình dân Việt Nam vẫn nghĩ đây là ba nước riêng biệt. Người Nam vẫn coi mình là người Việt (Diệt), còn Huế và Hà Nội là nước Huế, nước Bắc. Nhiều người cho đây là chính sách “chia để trị” của Ðế Quốc Pháp, nhưng người Việt Nam, khi không ai “chia để trị” cũng tự mình chia năm, xẻ bảy.
Sau hơn mười năm, cuộc chiến tranh Quốc-Cộng dằng dai, làm tan nát đất nước, ngày 20 Tháng Bảy 1954, kết thúc bằng Hội Nghị Geneve, Thụy Sĩ, đã chia cắt Việt Nam ra hai miền Nam-Bắc, lấy con sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị, gần với vĩ tuyến 17 làm đường ranh giới. Sau gần 21 năm, đất Việt Nam “gọi là thống nhất” nhưng thực sự lại càng chia rẽ sâu xa về nhân tâm, chính kiến khó hàn gắn được.
Cái chế độ quái đản phát xuất từ Liên Xô đã làm nhiều quốc gia tan nát, chia rẽ trầm trọng. Nước Ðức đã sớm thức tỉnh vì dân trí cao, thống nhất trở thành một đất nước không cộng sản, nhưng Bắc Hàn còn mê ngủ với chế độ bưng bít, phong kiến, so với Nam Hàn còn cách biệt quá xa về kinh tế, văn hóa, khó lòng cho người dân được mở mắt mở lòng, tự do đến với loài người văn minh.
Cuộc đấu tranh giai cấp của chế độ cộng sản đã xô đẩy đất nước và con người Việt Nam vào chỗ chia rẽ hết sức khốn nạn. Dù trong thời Pháp thuộc, ở Việt Nam, nông nghiệp là chủ yếu, dù là có phú nông, trung nông nhưng không hề có chế độ nông nô, người có của, kẻ có công, đã tạo nên sự no ấm và thái bình cho xóm làng. Sau khi chiếm được miền Bắc, dưới chỉ đạo của đàn anh Trung Cộng, Bắc Việt đã cho phát động chiến dịch cải cách ruộng đất. Ðội Cải Cách Ruộng đất ra mắt làng xã, chiến dịch này chủ trương tất cả các gia đình trong xã làng phải được phân loại thành 5 thành phần: địa chủ, phú nông, bần nông, cố nông. Gia đình có hai con lợn đã có thể gọi là phú nông.
Thành phần địa chủ còn được đội cải cách phân loại thêm một lần nữa thành: địa chủ gian ác, địa chủ thường, địa chủ có ủng hộ kháng chiến.
Chia rẽ nông dân, để giảm sức chống đối, đó là đường lối của chiến dịch. Khẩu hiệu của chiến thuật là: “Dựa vào bần cố nông, tranh thủ trung nông, cô lập phú nông, tập trung mũi nhọn vào địa chủ.” Ðó là chiến thuật “bẻ đũa thì bẻ từng chiếc.” Ai gây chia rẽ thâm độc bằng bọn cộng sản. Theo con số của nhiều nhà nghiên cứu, 15,000 người đã bị xử tử công khai hay bị bỏ đói cho đến chết. Theo báo Nhân Dân thì chiến dịch sửa sai cũng gây thêm chết chóc khi những người được phục hồi trả thù những người đã đấu tố họ oan ức, hoặc chưa kịp trả thù thì đã bị thủ tiêu trước.
Cộng sản luôn luôn hô to khẩu hiệu “Ðoàn Kết, Ðoàn Kết, Ðại Ðoàn Kết,” nhưng thực tế cộng sản là chế độ tìm cách phân loại nhân dân trầm trọng, chia rẽ dân tộc. Sau khi chiếm miền Nam, chế độ phân chia thành phần nhân dân thực hiện gay gắt, ai là “có công với cách mạng,” ai là “có nợ máu với nhân dân” rạch ròi, minh bạch. Chế độ tuyển sinh vào đại học cũng phân chia ra 13 thành phần, trong đó con cái “Ngụy” được xếp “ưu tiên” vào hạng chót. Chúng kêu gọi đoàn kết “để xây dựng đất nước,”nhưng dùng “hồng” thay “chuyên” nên bao nhiêu trí thức đã phải bỏ nước ra đi, chết sông chết biển, nay chúng lại nhọc công mở chiến dịch kêu gọi nhân tài về “phục vụ đất nước!”
Ðối với ngay trong hàng ngũ cán bộ, ăn ở cũng chia thành phần “đại táo” “tiểu táo,” chết cũng phân biệt chỗ chôn, như nghĩa trang Mai Dịch là một nghĩa trang liệt sĩ ở Hà Nội, chỉ dành cho những nhân vật có “đóng góp” cho đảng như các thứ trưởng, bộ trưởng, các ủy viên trung ương đảng trở lên; các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ được giải thưởng Hồ Chí Minh; các tướng lĩnh xuất sắc; anh hùng lực lượng vũ trang v.v... trong khi ở miền Nam, tại nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi, Ðại Tướng Lê Văn Tỵ cũng có thể nằm gần một người dân thường.
Không có một chế độ nào chia cách phân biệt bằng chế độ cộng sản. Hà Nội đã có câu ca dao sau đây để chỉ nơi tiêu thụ, mua bán hàng hóa:
“Hàng Bài là chợ Vua Quan, (Bộ Chính Trị)
Nhà thờ là chợ trung gian nịnh thần (bộ trưởng và đảng viên cao cấp)
Ðồng Xuân là chợ thương nhân,
Vỉa hè là chợ nhân dân, anh hùng!”
Dưới mắt người miền Nam thì sau năm 1975, người miền Bắc được chia làm ba loại: Bắc Kỳ Cũ (mộ phu vào những năm 41-42 hay di dân vào Nam sinh sống,) Bắc Kỳ 54 và Bắc Kỳ 75.
Có lẽ trong các loại chia rẽ, kỳ thị, đối với người Việt Nam Nam Bắc có lẽ là vấn đề nhậy cảm nhất. Vì miền Nam khí hậu tốt, đất đai màu mỡ, nên sau năm 1975, cộng sản đã chủ trương đưa hàng triệu người Bắc vào Nam, chiếm cứ đất đai, nhất là vùng cao nguyên, vừa là để đồng hóa miền Nam vừa để giãn dân miền Bắc. Tuy vậy, miền Nam ngày nay vẫn mang mặc cảm Bắc thuộc.
Trở lại với bản tính dân tộc, người Việt được xem là một dân tộc thông minh, cần cù, chăm chỉ nhưng đại... chia rẽ. Một người Việt Nam là tuyệt hảo, nhưng ba người Việt ngồi lại là... sinh chuyện, vì không ai phục ai, không ai nhường ai. Cổ nhân nói “tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư- trong ba người cùng đi, tất phải có một người là thầy ta!” nhưng chúng ta phải nói lại: “Trong ba người Việt cùng đi, ai cũng cho mình là thầy cả, chẳng ai nhận là học trò của ai.”
Trong hoàn cảnh phải bỏ nước ra đi, dựa vào sự chết để tìm sự sống, đáng lẽ người Việt hải ngoại phải đoàn kết hết lòng để tìm ra sinh lộ, nhưng ở đâu chúng ta cũng thấy phơi bày sự chia rẽ, bất phục lẫn nhau. Tình trạng các hội đoàn, cộng đồng ở hải ngoại, không nói riêng gì nước Mỹ, đã có nhiều nơi chia rẽ, phân hóa trầm trọng, dùng mọi cách để bêu xấu, công kích nhau. Nhiều hội đoàn tuy cùng một màu áo, cùng một mục đích đấu tranh, nhưng lại không thể ngồi chung với nhau, mà chia thành hai ba hội đoàn, làm mất đi sức mạnh đoàn kết.
Ngay trong một địa phương, một cộng đồng đại diện người Việt đã được tổ chức bầu bán, nhưng cũng còn một cộng đồng khác, khi ẩn khi hiện, nay ra tuyên cáo này, mai có thông cáo khác, để chứng tỏ sự có mặt của mình, cũng như để cho những ý kiến cộng đồng kia đưa ra là sai. Tình trạng tôn giáo ở nhiều địa phương cũng vậy!
Trên Internet mỗi ngày, người đọc gặp phải những bài viết chửi bới, với loại văn phong hạ cấp, không phải dành cho kẻ thù đã khiến cho anh phải bỏ nước ra đi, mà chính cho bạn bè, đồng hương, đồng ngũ của anh hay là những người chỉ vì không... đồng ý với anh. Vậy mà chúng ta luôn luôn cho mình là người yêu nước, kêu gào, đòi hỏi “giải thể” chế độ, đòi hỏi những chuyện long trời lở đất, trong khi chính cá nhân nhỏ bé, ích kỷ của mình chưa bước qua nổi cái tôi, cái danh, cái ích kỷ đang đè nặng trong lòng, thì mong gì chúng ta làm nổi được chuyện lớn.
Bản chất của cộng sản là chia rẽ, nhưng cũng dùng chính sách “chia để trị” nhất là trong chính sách đối với người Việt hải ngoại. Nhưng bản chất chia rẽ trong máu huyết của những con người gọi là “con Rồng, cháu Tiên,” đã có từ nguồn gốc, từ thời khai thiên, lập địa, chắc ngày một ngày hai, khó lòng mà gột rửa.
“Gió mưa là bệnh của Trời
Chia rẽ là tật của người Việt Nam!”
“Bệnh” hy vọng chữa lành, còn “tật” phải còn xem lại.
Tạp ghi Huy Phương Chưa có một dân tộc nào mà sự chia rẽ, phân hóa đã nằm ngay trong khởi thủy, từ lúc mới tạo lập, thành hình. Ðó phải chăng là chuyện trăm trứng của Lạc Long Quân và bà Âu Cơ ngày xửa ngày xưa! Trăm trứng ấy nở thành trăm người con trai. Ðang ăn yên ở yên, hòa thuận một nhà thì một ngày kia, bỗng Lạc Long Quân “trở chứng” nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau được.”
Thế là hai người bèn chia con, kéo nhau đi mỗi người mỗi ngã, năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biển. Truyền thuyết này không giải thích anh em khắc nhau như thế nào đến nỗi không ở với nhau được mà phải ruột thịt cắt đứt, thân ái chia lìa?
Từ đó, cùng là dòng dõi Rồng Tiên, nhưng họ khinh ghét nhau, xem nhau như thù địch.
Mảnh đất miền Trung chật hẹp lại hiểm trở, núi non lại gần biển cả, được cắt ra nhiều mảnh bằng những con sông, người Việt trong lịch sự đã nhiều lần dùng những con sông này, để cắt đất, dựng lên biên giới cho sự thù nghịch, không đội Trời chung.
Con sông chia cắt Nam-Bắc đầu tiên trong lịch sử là sông Gianh, còn được gọi là Linh Giang, nằm về phía Bắc tỉnh Quảng Bình là ranh giới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1786) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672). Ðất nước chia cắt, bên kia sông là Bắc Hà, bên này sông là Nam Hà, bên ấy là Ðàng Ngoài, bên này là Ðàng Trong.
Trong thời Pháp thuộc, Việt Nam bị chia ra làm ba kỳ: Nam Kỳ (Cochinchine) đặt dưới quyền cai trị của Pháp, Trung Kỳ (Annam) và Bắc Kỳ (Tonkin) thuộc chế độ bảo hộ. Hầu hết người bình dân Việt Nam vẫn nghĩ đây là ba nước riêng biệt. Người Nam vẫn coi mình là người Việt (Diệt), còn Huế và Hà Nội là nước Huế, nước Bắc. Nhiều người cho đây là chính sách “chia để trị” của Ðế Quốc Pháp, nhưng người Việt Nam, khi không ai “chia để trị” cũng tự mình chia năm, xẻ bảy.
Sau hơn mười năm, cuộc chiến tranh Quốc-Cộng dằng dai, làm tan nát đất nước, ngày 20 Tháng Bảy 1954, kết thúc bằng Hội Nghị Geneve, Thụy Sĩ, đã chia cắt Việt Nam ra hai miền Nam-Bắc, lấy con sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị, gần với vĩ tuyến 17 làm đường ranh giới. Sau gần 21 năm, đất Việt Nam “gọi là thống nhất” nhưng thực sự lại càng chia rẽ sâu xa về nhân tâm, chính kiến khó hàn gắn được.
Cái chế độ quái đản phát xuất từ Liên Xô đã làm nhiều quốc gia tan nát, chia rẽ trầm trọng. Nước Ðức đã sớm thức tỉnh vì dân trí cao, thống nhất trở thành một đất nước không cộng sản, nhưng Bắc Hàn còn mê ngủ với chế độ bưng bít, phong kiến, so với Nam Hàn còn cách biệt quá xa về kinh tế, văn hóa, khó lòng cho người dân được mở mắt mở lòng, tự do đến với loài người văn minh.
Cuộc đấu tranh giai cấp của chế độ cộng sản đã xô đẩy đất nước và con người Việt Nam vào chỗ chia rẽ hết sức khốn nạn. Dù trong thời Pháp thuộc, ở Việt Nam, nông nghiệp là chủ yếu, dù là có phú nông, trung nông nhưng không hề có chế độ nông nô, người có của, kẻ có công, đã tạo nên sự no ấm và thái bình cho xóm làng. Sau khi chiếm được miền Bắc, dưới chỉ đạo của đàn anh Trung Cộng, Bắc Việt đã cho phát động chiến dịch cải cách ruộng đất. Ðội Cải Cách Ruộng đất ra mắt làng xã, chiến dịch này chủ trương tất cả các gia đình trong xã làng phải được phân loại thành 5 thành phần: địa chủ, phú nông, bần nông, cố nông. Gia đình có hai con lợn đã có thể gọi là phú nông.
Thành phần địa chủ còn được đội cải cách phân loại thêm một lần nữa thành: địa chủ gian ác, địa chủ thường, địa chủ có ủng hộ kháng chiến.
Chia rẽ nông dân, để giảm sức chống đối, đó là đường lối của chiến dịch. Khẩu hiệu của chiến thuật là: “Dựa vào bần cố nông, tranh thủ trung nông, cô lập phú nông, tập trung mũi nhọn vào địa chủ.” Ðó là chiến thuật “bẻ đũa thì bẻ từng chiếc.” Ai gây chia rẽ thâm độc bằng bọn cộng sản. Theo con số của nhiều nhà nghiên cứu, 15,000 người đã bị xử tử công khai hay bị bỏ đói cho đến chết. Theo báo Nhân Dân thì chiến dịch sửa sai cũng gây thêm chết chóc khi những người được phục hồi trả thù những người đã đấu tố họ oan ức, hoặc chưa kịp trả thù thì đã bị thủ tiêu trước.
Cộng sản luôn luôn hô to khẩu hiệu “Ðoàn Kết, Ðoàn Kết, Ðại Ðoàn Kết,” nhưng thực tế cộng sản là chế độ tìm cách phân loại nhân dân trầm trọng, chia rẽ dân tộc. Sau khi chiếm miền Nam, chế độ phân chia thành phần nhân dân thực hiện gay gắt, ai là “có công với cách mạng,” ai là “có nợ máu với nhân dân” rạch ròi, minh bạch. Chế độ tuyển sinh vào đại học cũng phân chia ra 13 thành phần, trong đó con cái “Ngụy” được xếp “ưu tiên” vào hạng chót. Chúng kêu gọi đoàn kết “để xây dựng đất nước,”nhưng dùng “hồng” thay “chuyên” nên bao nhiêu trí thức đã phải bỏ nước ra đi, chết sông chết biển, nay chúng lại nhọc công mở chiến dịch kêu gọi nhân tài về “phục vụ đất nước!”
Ðối với ngay trong hàng ngũ cán bộ, ăn ở cũng chia thành phần “đại táo” “tiểu táo,” chết cũng phân biệt chỗ chôn, như nghĩa trang Mai Dịch là một nghĩa trang liệt sĩ ở Hà Nội, chỉ dành cho những nhân vật có “đóng góp” cho đảng như các thứ trưởng, bộ trưởng, các ủy viên trung ương đảng trở lên; các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ được giải thưởng Hồ Chí Minh; các tướng lĩnh xuất sắc; anh hùng lực lượng vũ trang v.v... trong khi ở miền Nam, tại nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi, Ðại Tướng Lê Văn Tỵ cũng có thể nằm gần một người dân thường.
Không có một chế độ nào chia cách phân biệt bằng chế độ cộng sản. Hà Nội đã có câu ca dao sau đây để chỉ nơi tiêu thụ, mua bán hàng hóa:
“Hàng Bài là chợ Vua Quan, (Bộ Chính Trị)
Nhà thờ là chợ trung gian nịnh thần (bộ trưởng và đảng viên cao cấp)
Ðồng Xuân là chợ thương nhân,
Vỉa hè là chợ nhân dân, anh hùng!”
Dưới mắt người miền Nam thì sau năm 1975, người miền Bắc được chia làm ba loại: Bắc Kỳ Cũ (mộ phu vào những năm 41-42 hay di dân vào Nam sinh sống,) Bắc Kỳ 54 và Bắc Kỳ 75.
Có lẽ trong các loại chia rẽ, kỳ thị, đối với người Việt Nam Nam Bắc có lẽ là vấn đề nhậy cảm nhất. Vì miền Nam khí hậu tốt, đất đai màu mỡ, nên sau năm 1975, cộng sản đã chủ trương đưa hàng triệu người Bắc vào Nam, chiếm cứ đất đai, nhất là vùng cao nguyên, vừa là để đồng hóa miền Nam vừa để giãn dân miền Bắc. Tuy vậy, miền Nam ngày nay vẫn mang mặc cảm Bắc thuộc.
Trở lại với bản tính dân tộc, người Việt được xem là một dân tộc thông minh, cần cù, chăm chỉ nhưng đại... chia rẽ. Một người Việt Nam là tuyệt hảo, nhưng ba người Việt ngồi lại là... sinh chuyện, vì không ai phục ai, không ai nhường ai. Cổ nhân nói “tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư- trong ba người cùng đi, tất phải có một người là thầy ta!” nhưng chúng ta phải nói lại: “Trong ba người Việt cùng đi, ai cũng cho mình là thầy cả, chẳng ai nhận là học trò của ai.”
Trong hoàn cảnh phải bỏ nước ra đi, dựa vào sự chết để tìm sự sống, đáng lẽ người Việt hải ngoại phải đoàn kết hết lòng để tìm ra sinh lộ, nhưng ở đâu chúng ta cũng thấy phơi bày sự chia rẽ, bất phục lẫn nhau. Tình trạng các hội đoàn, cộng đồng ở hải ngoại, không nói riêng gì nước Mỹ, đã có nhiều nơi chia rẽ, phân hóa trầm trọng, dùng mọi cách để bêu xấu, công kích nhau. Nhiều hội đoàn tuy cùng một màu áo, cùng một mục đích đấu tranh, nhưng lại không thể ngồi chung với nhau, mà chia thành hai ba hội đoàn, làm mất đi sức mạnh đoàn kết.
Ngay trong một địa phương, một cộng đồng đại diện người Việt đã được tổ chức bầu bán, nhưng cũng còn một cộng đồng khác, khi ẩn khi hiện, nay ra tuyên cáo này, mai có thông cáo khác, để chứng tỏ sự có mặt của mình, cũng như để cho những ý kiến cộng đồng kia đưa ra là sai. Tình trạng tôn giáo ở nhiều địa phương cũng vậy!
Trên Internet mỗi ngày, người đọc gặp phải những bài viết chửi bới, với loại văn phong hạ cấp, không phải dành cho kẻ thù đã khiến cho anh phải bỏ nước ra đi, mà chính cho bạn bè, đồng hương, đồng ngũ của anh hay là những người chỉ vì không... đồng ý với anh. Vậy mà chúng ta luôn luôn cho mình là người yêu nước, kêu gào, đòi hỏi “giải thể” chế độ, đòi hỏi những chuyện long trời lở đất, trong khi chính cá nhân nhỏ bé, ích kỷ của mình chưa bước qua nổi cái tôi, cái danh, cái ích kỷ đang đè nặng trong lòng, thì mong gì chúng ta làm nổi được chuyện lớn.
Bản chất của cộng sản là chia rẽ, nhưng cũng dùng chính sách “chia để trị” nhất là trong chính sách đối với người Việt hải ngoại. Nhưng bản chất chia rẽ trong máu huyết của những con người gọi là “con Rồng, cháu Tiên,” đã có từ nguồn gốc, từ thời khai thiên, lập địa, chắc ngày một ngày hai, khó lòng mà gột rửa.
“Gió mưa là bệnh của Trời
Chia rẽ là tật của người Việt Nam!”
“Bệnh” hy vọng chữa lành, còn “tật” phải còn xem lại.
Từ Diva đến Ði Vô
Quỳnh Giao
Người Việt Nam chúng ta thường nghĩ rằng dân mình hay cường điệu. Phải chăng là vì mình học được nếp văn hóa ưa thích điểm tô của Trung Hoa? Một bữa tiệc cưới thì phải có mấy món ăn chơi gọi là “bát bửu,” bánh trung thu hai lòng trứng thì gọi là “lưỡng nguyệt,” con vịt nướng được gọi là “vịt tỳ bà” vì được tách đôi cho dẹp để có cái dạng của cây đàn tỳ bà trước khi cho vào lò nướng!
Chuyện hiện đại hơn và trong lĩnh vực trình diễn tân nhạc, gần đây ta thấy xuất hiện toàn những danh ca. Một ca sĩ bậc trung cũng có thể được long trọng giới thiệu là danh ca. Rồi gần đây hơn nữa còn có hiện tượng lạm phát “diva.” Lần này thì ta không bị ảnh hưởng Trung Hoa mà là học được nghệ thuật quảng cáo của Hoa Kỳ, với thành tích cường điệu còn hơn các ông bà bầu của chúng ta.
Có gốc gác là tiếng Ý hàm nghĩa là “nữ thần,” xưa kia chữ “diva” được dùng để tôn vinh giọng nữ xuất chúng trong các vở Opera. Nó cũng tương tự như “prima dona” mà mình có thể dịch là “đệ nhất phu nhân.” Sau này, các nữ ca sĩ hát nhạc phổ thông cho đại chúng mà ta gọi là nhạc pop cũng được dân Mỹ xưng tụng là “diva.” Vào tới Việt Nam thì “diva” đã thành một tập thể còn đông hơn số nhân viên kéo màn! Một đạo binh toàn những nữ tướng mà thôi.
Người ta không để ý rằng nạn lạm phát làm hạ giá tất cả.
Sau khi cường điệu phóng đại, dân Mỹ ngày nay dùng chữ “diva” theo ý mỉa mai: “diva” là nàng kênh kiệu, mắc chứng tự mê. Nàng có cái ngã vĩ đại và chỉ biết đòi hỏi cho riêng mình mà chẳng cần đến người khác. Ðược gọi là “diva” với cú liếc mắt bĩu môi thì chính là bị phê phán đấy!
Ai ai cũng biết chữ “nhân vô thập toàn,” nhưng hiện tượng tự mê đến độ mang tật như thế đã được các nhà tâm lý học để ý tìm hiểu. Và họ phát giác ra vài điều đáng yêu sau đây.
Con người ta có thể tự mê, nhưng trước nhất là phải tự trọng. Một “diva” mà tự mê quá mức đã mất dần tính chất tự trọng vì quên hẳn người khác. Nghệ sĩ tự trọng ra trước sân khấu thì phải tự chuẩn bị một cách tươm tất kỹ lưỡng.
Ðó là điều tốt, vì không ai thích những người trình diễn cẩu thả, ra cái vẻ bất cần đời mà cũng chẳng cần đến khán thính giả.
Khi ấy, các nhà tâm lý học mới phân biệt loại “diva” lành mạnh và loại “diva” đành hanh. Ðành hanh là người chỉ biết khai thác mọi phương tiện để làm nổi chính mình, và ganh tị với đồng nghiệp. Lành mạnh là người thiết tha đến người khác nên chia sẻ tất cả, từ hào quang, ánh đèn màu, tiếng nhạc đến tiếng vỗ tay của cử tọa.
Ðược chia sẻ sân khấu hay diễn đàn với một “diva” lành mạnh tử tế thì ai cũng vui vẻ và góp phần hoàn thành tiết mục cho mỹ mãn. Nếu phải phục vụ một diva đành hanh và xấu nết thì mọi người đều ngán ngẩm. Họ chỉ muốn làm xong tiết mục cho có để tìm nơi thư giãn trong sự hậm hực. Về dài thì mối giao tình với nghệ thuật sẽ không bền.
Về dài, “diva” tự mê và khinh bạc sẽ là người cô đơn, sống trong ảm đạm khi tài sắc đã hết. Trước khi đi đến cõi tận ấy, nhiều người bị khủng hoảng tâm thần vì chỉ nghĩ đến chuyện sai khiến người khác khi họ hết biết mình là ai nữa.
Nhưng vì sao có chức năng thăng hoa, nghệ thuật lại có thể làm giảm nhân cách con người đến như vậy?
Một nghệ sĩ hài hước của Hoa Kỳ tại New York đã có câu trả lời anh ta học được từ một nàng call girl tạm dịch là gái gọi: Ban đầu, nàng “chạc” một chuyến qua đò là năm trăm nên bị khinh như mẻ. Vì vậy, nàng đòi ba ngàn thì được khách quý như vàng và coi như “diva.” Vì vậy, tay danh hài này cũng ra vẻ khó khăn để được người đời kính trọng, dù thâm tâm thì chẳng đến nỗi vậy.
Phải chăng, chính là sự sùng chuộng quá đáng của chúng ta đã làm hư các nghệ sĩ, khiến họ đeo kim tuyến mà cứ tưởng mình là kim cương thật. Ðứng đâu cũng tưởng là cái bệ nên cứ sợ bị hạ bệ?
Mà các ông cũng chẳng thoát tội này đâu.
“Divas” là cho các bà, chứ nam giới thì gọi là “divos.” Ðấy là các ca sĩ hát nhạc cổ điển hay cả nhạc rock, nhạc pop. Nhưng, ngoài sân khấu nghệ thuật, nhiều nhà bình luận hay cố vấn kinh doanh, quản trị cũng bị gọi là “divos.” Theo nét văn hóa Ấn Ðộ, họ được gọi là “pandit” hay “pundit” là học giả, đại trí thức, nhưng với ý tiêu cực là “thầy bàn.” Nói theo các cụ thì họ “phán như thánh sống”!
Vì vậy, lấp lánh trong phòng trà thì ta có “diva,” còn ồn ào ngoài quán cóc thì các ông lại có “divo”...
Quỳnh Giao
Người Việt Nam chúng ta thường nghĩ rằng dân mình hay cường điệu. Phải chăng là vì mình học được nếp văn hóa ưa thích điểm tô của Trung Hoa? Một bữa tiệc cưới thì phải có mấy món ăn chơi gọi là “bát bửu,” bánh trung thu hai lòng trứng thì gọi là “lưỡng nguyệt,” con vịt nướng được gọi là “vịt tỳ bà” vì được tách đôi cho dẹp để có cái dạng của cây đàn tỳ bà trước khi cho vào lò nướng!
Chuyện hiện đại hơn và trong lĩnh vực trình diễn tân nhạc, gần đây ta thấy xuất hiện toàn những danh ca. Một ca sĩ bậc trung cũng có thể được long trọng giới thiệu là danh ca. Rồi gần đây hơn nữa còn có hiện tượng lạm phát “diva.” Lần này thì ta không bị ảnh hưởng Trung Hoa mà là học được nghệ thuật quảng cáo của Hoa Kỳ, với thành tích cường điệu còn hơn các ông bà bầu của chúng ta.
Có gốc gác là tiếng Ý hàm nghĩa là “nữ thần,” xưa kia chữ “diva” được dùng để tôn vinh giọng nữ xuất chúng trong các vở Opera. Nó cũng tương tự như “prima dona” mà mình có thể dịch là “đệ nhất phu nhân.” Sau này, các nữ ca sĩ hát nhạc phổ thông cho đại chúng mà ta gọi là nhạc pop cũng được dân Mỹ xưng tụng là “diva.” Vào tới Việt Nam thì “diva” đã thành một tập thể còn đông hơn số nhân viên kéo màn! Một đạo binh toàn những nữ tướng mà thôi.
Người ta không để ý rằng nạn lạm phát làm hạ giá tất cả.
Sau khi cường điệu phóng đại, dân Mỹ ngày nay dùng chữ “diva” theo ý mỉa mai: “diva” là nàng kênh kiệu, mắc chứng tự mê. Nàng có cái ngã vĩ đại và chỉ biết đòi hỏi cho riêng mình mà chẳng cần đến người khác. Ðược gọi là “diva” với cú liếc mắt bĩu môi thì chính là bị phê phán đấy!
Ai ai cũng biết chữ “nhân vô thập toàn,” nhưng hiện tượng tự mê đến độ mang tật như thế đã được các nhà tâm lý học để ý tìm hiểu. Và họ phát giác ra vài điều đáng yêu sau đây.
Con người ta có thể tự mê, nhưng trước nhất là phải tự trọng. Một “diva” mà tự mê quá mức đã mất dần tính chất tự trọng vì quên hẳn người khác. Nghệ sĩ tự trọng ra trước sân khấu thì phải tự chuẩn bị một cách tươm tất kỹ lưỡng.
Ðó là điều tốt, vì không ai thích những người trình diễn cẩu thả, ra cái vẻ bất cần đời mà cũng chẳng cần đến khán thính giả.
Khi ấy, các nhà tâm lý học mới phân biệt loại “diva” lành mạnh và loại “diva” đành hanh. Ðành hanh là người chỉ biết khai thác mọi phương tiện để làm nổi chính mình, và ganh tị với đồng nghiệp. Lành mạnh là người thiết tha đến người khác nên chia sẻ tất cả, từ hào quang, ánh đèn màu, tiếng nhạc đến tiếng vỗ tay của cử tọa.
Ðược chia sẻ sân khấu hay diễn đàn với một “diva” lành mạnh tử tế thì ai cũng vui vẻ và góp phần hoàn thành tiết mục cho mỹ mãn. Nếu phải phục vụ một diva đành hanh và xấu nết thì mọi người đều ngán ngẩm. Họ chỉ muốn làm xong tiết mục cho có để tìm nơi thư giãn trong sự hậm hực. Về dài thì mối giao tình với nghệ thuật sẽ không bền.
Về dài, “diva” tự mê và khinh bạc sẽ là người cô đơn, sống trong ảm đạm khi tài sắc đã hết. Trước khi đi đến cõi tận ấy, nhiều người bị khủng hoảng tâm thần vì chỉ nghĩ đến chuyện sai khiến người khác khi họ hết biết mình là ai nữa.
Nhưng vì sao có chức năng thăng hoa, nghệ thuật lại có thể làm giảm nhân cách con người đến như vậy?
Một nghệ sĩ hài hước của Hoa Kỳ tại New York đã có câu trả lời anh ta học được từ một nàng call girl tạm dịch là gái gọi: Ban đầu, nàng “chạc” một chuyến qua đò là năm trăm nên bị khinh như mẻ. Vì vậy, nàng đòi ba ngàn thì được khách quý như vàng và coi như “diva.” Vì vậy, tay danh hài này cũng ra vẻ khó khăn để được người đời kính trọng, dù thâm tâm thì chẳng đến nỗi vậy.
Phải chăng, chính là sự sùng chuộng quá đáng của chúng ta đã làm hư các nghệ sĩ, khiến họ đeo kim tuyến mà cứ tưởng mình là kim cương thật. Ðứng đâu cũng tưởng là cái bệ nên cứ sợ bị hạ bệ?
Mà các ông cũng chẳng thoát tội này đâu.
“Divas” là cho các bà, chứ nam giới thì gọi là “divos.” Ðấy là các ca sĩ hát nhạc cổ điển hay cả nhạc rock, nhạc pop. Nhưng, ngoài sân khấu nghệ thuật, nhiều nhà bình luận hay cố vấn kinh doanh, quản trị cũng bị gọi là “divos.” Theo nét văn hóa Ấn Ðộ, họ được gọi là “pandit” hay “pundit” là học giả, đại trí thức, nhưng với ý tiêu cực là “thầy bàn.” Nói theo các cụ thì họ “phán như thánh sống”!
Vì vậy, lấp lánh trong phòng trà thì ta có “diva,” còn ồn ào ngoài quán cóc thì các ông lại có “divo”...
Cuộc Sống không cho ai quá nhiều.
Ở một đất nước giàu có của Châu Âu, có một cô ca sĩ rất nổi tiếng. Tuy mới chỉ 30 tuổi nhưng danh tiếng cô đã vang dội khắp nơi, hơn nữa cô có một người chồng như ý và một gia đình hạnh phúc mỹ mãn. Một lần, sau khi tổ chức thành công một đêm diễn, cô ca sĩ cùng chồng và con trai bị đám đông người hâm hộ cuồng nhiệt bao quanh. Mọi người tranh nhau chuyện trò với cô. Những lời lẽ tán tụng khen ngợi tràn ngập cả sân khấu.
Có người khen cô tuổi nhỏ chí lớn, vừa tốt nghiệp đại học đã bước chân vào nhà hát tầm cỡ quốc gia và trở thành nữ ca sĩ trụ cột của nhà hát. Có người tán tụng rằng mới có 25 tuổi mà cô đã được lựa chọn là một trong 10 nữ ca sĩ có giọng háy opera xuất sắc nhất thế giới. Có người lại ngưỡng mộ cô có người chồng tuyệt vời, một cậu con trai kháu khỉnh, dễ thương.
Trong khi mọi người thi nhau bà luận, cô ca sĩ này chỉ im lặng lắng nghe, không thể hiện thái độ gì. Khi mọi người nói xong cô chậm rãi nói: “Trước tiên, tôi cảm ơn những lời ngợi khen của mọi người dành cho tôi và những người trong gia đình tôi. Tôi hy vọng có thể chia sẻ niềm vui này với mọi người. Nhưng các bạn chỉ nhìn thấy một số mặt trong cuộc sống của tôi còn một số mặt khác, các bạn vẫn chưa nhìn thấy. Cậu con trai của tôi mà mọi người khen là bé kháu khỉnh, đáng yêu, thật bất hạnh, nó là 1 đứa trẻ bị câm. Ngoài ra, nó còn có một người chị tâm thần và thường xuyên bị nhốt ở nhà.”
Mọi người đều ngơ ngác, sửng sốt nhìn nhau, dường như rất khó chấp nhận một sự thật như thế. Lúc này, cô ca sĩ mới điềm tĩnh nói với mọi người: “Tất cả những chuyện này nói lên điều gì? Có lẽ chúng nói lên một triết lý, đó là, Thượng đế rất công bằng, ngài không cho ai quá nhiều thứ bao giờ.”
Thượng đế rất công bằng , ngài không cho ai quá ít, cũng không cho ai quá nhiều. Vì thế, đừng nên chỉ nhìn thấy hoặc ngưỡng mộ những thứ người khác có, mà nên nghĩ và trân trọng những thứ bạn đang có, cho dù đó không phải là những vinh quang tột đỉnh.
Vậy nên, nếu ai hỏi bạn “Bạn có hạnh phúc không?” Bạn hãy trả lời rằng :”Mình hạnh phúc. Hạnh phúc theo cách sống và những gì mình đang có trên đời này. “
Ở một đất nước giàu có của Châu Âu, có một cô ca sĩ rất nổi tiếng. Tuy mới chỉ 30 tuổi nhưng danh tiếng cô đã vang dội khắp nơi, hơn nữa cô có một người chồng như ý và một gia đình hạnh phúc mỹ mãn. Một lần, sau khi tổ chức thành công một đêm diễn, cô ca sĩ cùng chồng và con trai bị đám đông người hâm hộ cuồng nhiệt bao quanh. Mọi người tranh nhau chuyện trò với cô. Những lời lẽ tán tụng khen ngợi tràn ngập cả sân khấu.
Có người khen cô tuổi nhỏ chí lớn, vừa tốt nghiệp đại học đã bước chân vào nhà hát tầm cỡ quốc gia và trở thành nữ ca sĩ trụ cột của nhà hát. Có người tán tụng rằng mới có 25 tuổi mà cô đã được lựa chọn là một trong 10 nữ ca sĩ có giọng háy opera xuất sắc nhất thế giới. Có người lại ngưỡng mộ cô có người chồng tuyệt vời, một cậu con trai kháu khỉnh, dễ thương.
Trong khi mọi người thi nhau bà luận, cô ca sĩ này chỉ im lặng lắng nghe, không thể hiện thái độ gì. Khi mọi người nói xong cô chậm rãi nói: “Trước tiên, tôi cảm ơn những lời ngợi khen của mọi người dành cho tôi và những người trong gia đình tôi. Tôi hy vọng có thể chia sẻ niềm vui này với mọi người. Nhưng các bạn chỉ nhìn thấy một số mặt trong cuộc sống của tôi còn một số mặt khác, các bạn vẫn chưa nhìn thấy. Cậu con trai của tôi mà mọi người khen là bé kháu khỉnh, đáng yêu, thật bất hạnh, nó là 1 đứa trẻ bị câm. Ngoài ra, nó còn có một người chị tâm thần và thường xuyên bị nhốt ở nhà.”
Mọi người đều ngơ ngác, sửng sốt nhìn nhau, dường như rất khó chấp nhận một sự thật như thế. Lúc này, cô ca sĩ mới điềm tĩnh nói với mọi người: “Tất cả những chuyện này nói lên điều gì? Có lẽ chúng nói lên một triết lý, đó là, Thượng đế rất công bằng, ngài không cho ai quá nhiều thứ bao giờ.”
Thượng đế rất công bằng , ngài không cho ai quá ít, cũng không cho ai quá nhiều. Vì thế, đừng nên chỉ nhìn thấy hoặc ngưỡng mộ những thứ người khác có, mà nên nghĩ và trân trọng những thứ bạn đang có, cho dù đó không phải là những vinh quang tột đỉnh.
Vậy nên, nếu ai hỏi bạn “Bạn có hạnh phúc không?” Bạn hãy trả lời rằng :”Mình hạnh phúc. Hạnh phúc theo cách sống và những gì mình đang có trên đời này. “
ĐA THỌ - ĐA KHỔ
hoanghaithuy Người Tầu có thành ngữ “Ða thọ đa nhục.” Người sống lâu bị nhục nhiều.
Ông cha tôi – các ông Việt ngày xưa – hay dùng thành ngữ “Ða thọ đa nhục.”
Tôi không cho là người già bị nhục. Tôi thấy người ta càng nhiều tuổi càng khổ. Khổ vì không còn hưởng thụ gì được sự đời mà phải chịu những bệnh tật do già yêú sinh ra: Người già không tự lo được cho thân mình, mắt mờ, tai điếc, trí nhớ mất, sống nhờ người khác. Người già vua chúa hay cùng đinh, tỷ phú hay anh nghèo rớt một xu dính túi không có, kẻ quyền uy chấn động thế giới một thời hiển hách hay anh phó thường dân cả đời cơm nhà, quà vợ, khi tuổi già đến đều có những nỗi khổ như nhau.
Người ta qua 60 tuổi được kể là già. Ở Việt Nam những năm 1940-1950 người 50 tuổi được gọi là cụ.
Khổng Tử chỉ nói về Người đến tuổi 70: “Thất thập nhi tùy tâm sở dục.”
Tôi nghĩ ông muốn nói : “Người bẩy mươi tuổi muốn làm gì thì làm..” Nhưng người bẩy mươi tuổi còn làm gì được nữa. Người bẩy mươi cả Bốn Tứ Khoái đều không hưởng được, không làm được.
Năm nay – 2013 – tôi tám mươi tuổi. Một ngày đầu Xuân Kỳ Hoa Ðất Trích 2013, tôi viết bài này.
Năm 2000, khi chia tay nhau lúc nửa đêm ở trước một Nhà Dành cho Người Già Thu Nhập Thấp – Housing for Old Seniors Low Income – ở San Jose, ông bạn già của tôi nói:
- “Ðọc những bài viết của toa để nhớ, để thương Sài Gòn của chúng ta.”
Ông cầm tay tôi:
- “Viết. Viết nữa. Viết đến năm toa tám mươi. Viết cho bọn moa đọc.”
Ðêm mùa đông San Jose lạnh giá bao quanh chúng tôi khi chúng tôi từ biệt nhau, chúng tôi bắt tay nhau lần cuối.
Năm 2000 tôi 68 tuổi. Ông bạn HO già hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi không biết hôm nay ông còn ở cõi đời này hay không. Thời gian và không gian làm chúng tôi không biết nhau sống chết ra sao.
Tám mươi tuổi tôi vẫn viết. Tôi không còn viết phóng tác truyện dài. Tôi viết những bài như bài này.
Thời gian Sống, Yêu và Viết của tôi không còn bao lâu nữa, nên với nỗi Buồn vì phải xa mãi những người tôi yêu thương, hôm nay tôi viết những dòng chữ này.
o O o
Tôi bị ám ảnh bởi cái Chết, tôi ghét Chết, tôi sợ Chết, tôi không muốn Chết. Không phải bây giờ trong tuổi già, tuổi gần đất, xa trời, tôi mới sợ Chết, tôi sợ Chết từ những năm tôi năm, sáu tuổi, khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ.
Nhà tôi ở cuối thị xã Hà Ðông, nhà có lầu, tiếng Bắc là nhà gác, nhà hai tầng. Trên gác nhìn ra tôi thấy cánh đồng với những nấm mồ rải rác trong những ô ruộng, ở gác sau nhìn ra tôi thấy Nhà Thương Hà Ðông và bãi tha ma ở cuối Nhà Thương. Những đêm mưa tôi thấy những chấm lửa lập lòe trong bãi tha ma. Về sau tôi biết đó là những ánh đèn của những người đi soi bắt ếch. Những năm xưa ấy tôi tưởng đó là những đốm lửa ma trơi.
Năm tôi năm, sáu tuổi, mẹ tôi 27, 28 tuổi. Tôi sợ mẹ tôi chết, người ta đem mẹ tôi ra chôn ở ngoài đồng. Mẹ tôi phải nằm một mình giữa cánh đồng vắng, lạnh, cô đơn, nơi mẹ tôi nằm ngập nước, đêm đông, mưa phùn, gió bấc, mẹ tôi khổ biết chừng nào..
Ðó là nguyên nhân thứ nhất làm tôi ghét Chết, tôi sợ Chết.
Mời bạn đọc một chuyện Sống, Yêu và Chết tôi thấy trên Internet.
- * Trong phiên xử ở Tòa Án Phoenix, Arizona, bị cáo là Ông George Sanders, 86 tuổi, bị xử vì tội giết vợ. Tất cả mọi người có mặt tại toà, từ công tố viên đến chánh án, kể cả con cháu của kẻ bị cáo, đều thấy bị cáo phạm tội giết người, nhưng tất cả đều cho rằng đây là trường hợp pháp luật nên thông cảm, thương hại, tha thứ hơn là trừng phạt kẻ có tội.
Anh cháu của bị cáo George Sanderss nói trước tòa:
- “Ông tôi sống để thương yêu bà tôi. Suối đời ông tôi làm mọi việc để bà tôi có hạnh phúc. Mối tình của ông bà tôi là mối tình lớn. Tôi tin ông tôi bị bắt buộc phải làm việc ấy vì yêu thương bà tôi, bà tôi chịu đau quá nhiều rồi, ông tôi không thể để bà tôi chịu đau nhiều hơn nữa. “
Ông Sanders bị bắt Tháng Bẩy năm 2012 sau khi ông nói với cảnh sát bà Virginia, vợ ông, 81 tuổi, xin ông làm bà chết. Vì ông Sanders nhận tội nên toà án không dùng đến đoàn bồi thẩm, nhưng ông vẫn có thể bị kết án đến 12 năm tù.
Bà Virginia bị bệnh nan y năm 1969, bà liệt bại, bà phải ngồi xe lăn. Năm 1970, ông bà sang sống ở Arizona vì khí hậu ở đây ấm nóng.
Ông Sanders là Cựu Chiến Binh Thế Chiến II. Ông là người nuôi và săn sóc bà vợ. Ông nấu ăn cho bà, làm mọi việc trong nhà. Mỗi sáng ông giúp bà trang điểm, mỗi tháng ông đưa bà tới Nhà Thẩm Mỹ để bà làm tóc, làm móng tay.
Năm tháng qua, sức khoẻ của ông Sanders suy mòn. Ông phải đặt máy trợ tim, ông không còn săn sóc chu đáo được bà. Rồi bà Virginia bị ung thư phá ra ở chân, bà phải vào một Nursing home để người ta lo cho bà sống qua những ngày tàn cuối đời.
Ông Sanders nói với những viên chức điều tra:
- “Ðây là giọt nước làm tràn ly nước. Virginia nhất quyết không chịu vào Nursing home. Vợ tôi tự cắt những ngón chân bị ung thối.”
Ông nói:
- “Vợ tôi xin tôi cho bà ấy chết. Tôi nói tôi không thể.”
Vợ tôi nói:
- “Anh làm được mà. Em biết anh làm được.”
Sanders cầm khẩu súng lục, ông lấy khăn bông quấn ngoài khẩu súng, nhưng ông không sao bóp cò súng được.
Ông kể:
- “Vợ tôi nói:
- “Bắn đi anh. Cho em đươc chết.”
Tôi nói lời cuối với vợ tôi:
- “Em sẽ không cảm thấy đau.”
Và:
- “Anh yêu em. Vĩnh biệt em”
Tôi nổ súng.”
Trước toà, người con trai của ông Sandsers nói:
- “Tôi muốn quí toà biết rằng tôi yêu thương mẹ tôi, tôi cũng yêu thương bố tôi như thế.”
Steve Sandes, anh con, nghẹn ngào kể:
- “Bố tôi yêu thương mẹ tôi trong 62 năm. Những đau đớn thể xác và việc chịu đau vô ích đã làm bố mẹ tôi đi đến quyết định ấy.. Tôi không kết tội bố tôi. Với tôi bố tôi là người tôi cảm phục nhất.”
Ông già George Sanders chỉ nói trong khoảng một phút, giọng ông run run:
- “Tôi gặp Viginia năm nàng 15 tuổi, tôi yêu nàng từ năm nàng 15 tuổi. Tôi yêu nàng khi nàng 81 tuổi. Có nàng làm vợ là một ân phúc Thiên Chuá ban cho tôi. Tôi sung sướng được chăm sóc nàng. Tôi làm theo ý muốn của nàng. Tôi xin lỗi các vị vì vợ chồng tôi mà các vị phải bận lòng.”
Ông Công tố đề nghị ông Chánh án không phạt tù giam George Sanders, ông nói toà nên xử án treo.
Ông Chánh án John Disworth nói ông đặt nặng tình nhân đạo trong vụ án này. Ông nói:
- “Bị cáo phạm tội giết người, nhưng được toà giảm nhẹ mức án.”
Ông tuyên phạt ông già George Sanders 2 năm tù treo. TÙ treo không bị cảnh sát kiểm xoát.
o O o
Chuyện ông bà Sanders làm tôi suy nghĩ lan man. Tôi nhớ chuyện Cái Bát Gỗ tôi đọc những năm tôi 10 tuổi.
Anh con thấy ông bố già run tay, khi ăn hay đánh rơi bát cơm, bát vỡ. Anh làm cái bát bằng gỗ cho ông già ăn cơm. Ông có làm rơi bát, bát gỗ không bị vỡ.
Một hôm anh thấy thằng con nhỏ của anh hí hoáy đục đẽo một cục gỗ, anh hỏi nó đục gỗ làm gì, con anh nói:
“Con làm cái bát gỗ, để khi bố già, con cho bố ăn cơm.”
Chuyện – dường như – ở trong sách Quốc Văn Ðộc Bản – đã 70 năm tôi không quên nó – nó đây là chuyện cái Bát Gỗ – nhưng chẳng có dịp nào tôi nhớ nó. Hôm nay tôi nhớ nó.
Từ sau năm 1975 ở Hoa Kỳ Nhà Xuất Bản Xuân Thu in lại tất cả những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư. Nhưng sách Quốc Văn Ðộc Bản – sách có nhiều bài thật hay – thì không thấy in lại. Tôi không biết tại sao Quốc Văn Ðộc Bản không được in lại ở Hoa Kỳ. Tôi đã đọc lại tất cả những sách Giáo Khoa Thư được in lại ở Hoa Kỳ, tôi muốn đọc lại những bài trong Quốc Văn Ðộc Bản.
Tôi nhớ lâu rồi, từ những năm 1950 khi tôi chưa gập Tình Yêu Vợ Chồng, tôi đọc trên trang sách nào đó lời một ông Tầu viết:
“Vợ chồng như hai con chim tình cờ cùng đậu trên một cành cây. Ðến lức phải bay đi, mỗi con bay đi một phiá.”
Năm xưa còn trẻ, tôi muốn phản đối lời diễn tả trên. Ông Tầu muốn nói vợ chồng là chuyện ngẫu nhiên, chẳng có tình nghĩa gì giữa vợ và chồng. Hôm nay tôi mới dịp viết ra lời phản đối.
Ông bác sĩ điều trị cho vợ chồng tôi mỗi tuần một ngày vào chẩn bệnh cho những ông bà già trong một Housing for Old Seniors – Housing này có nhiều ông bà già Mỹ trắng – ông nói:
“Có những cặp vợ chồng về già không nhìn được mặt nhau.”
Lời kể của ông làm tôi buồn. Vợ chồng sống với nhau đến già, ở chung một nhà già – mỗi người một phòng – sắp ra nghĩa địa, sắp vào hũ sành mà thù hận nhau đến không nhìn mặt nhau?? Thù hận gì dữ dội đến thế? Những người ấy thật khổ.
Bát đại khổ não ghi Tám Nỗi Khổ Lớn của con người:
Sinh, Lão, Bệnh, Tử: 4 Khổ ai cũng phải chịu.
Muốn có mà không có: Khổ 5
Có mà không giữ được: Khổ 6.
Yêu nhau mà không được cùng sống: Khổ 7.
Ghét nhau mà phải sống gần nhau: Khổ 8.
Có người chỉ phải chịu có 7 Khổ. Ðó là những người không yêu ai cả.
Nhiều người Việt phải chịu cả 8 Khổ. Ðó những người thù ghét bọn Việt Cộng mà cứ phải sống với bọn Việt Cộng.
o O o
Mùa thu mây trắng xây thành.
Tình Em mầy ấy có xanh da trời.
Hoa lòng Em có về tươi?
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?
Tôi làm bài thơ trên Tháng Bẩy năm 1954 ở Vũng Tầu, ngày chúng tôi yêu nhau. Cuộc Tình của chúng tôi đã dài trong 60 năm. Cuộc Tình Vợ Chồng. Trong cuộc đời Tám Khổ này, nàng và tôi chỉ phải chịu có Bẩy Khổ.
Năm 1979 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, nhớ Nàng, tôi làm bài thơ:
Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu
Tình ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ?
Thời gian nào rộng cho vừa Tình ta.
Hoa lòng Em vẫn tươi hoa,
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai.
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em
Mặt trời có lặn về đêm,
Sớm mai Em dậy bên thềm lại soi.
Cuộc đời có khóc, có cười,
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay.
Thu về trời lại xanh mây.
Ðầy trời ta thấy những ngày ta yêu.
Càng yêu, yêu lại càng nhiều.
Nhớ Em, Anh nhắn một điều: “Yêu Em.”
Năm 2013 tôi đổi hai tiếng trong bài thơ:
“Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Sáu mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.”
o O o
12 giờ buổi trưa tháng Sáu, 2012, Nàng bước hụt, ngã nhào qua bốn bực thềm cửa, nàng ngất đi. Ngồi bên nàng trong nắng trưa mùa hạVirginia, chờ Ambulance đến, nước mắt tôi ưá ra.
Trong ICU – Ai Si Yu – Intensive Care Unit – tỉnh lại, nàng nói:
“Xin Thiên Chuá tha tội cho em.”
Tôi nói:
“Em có tội gì. Mà Em có tội gì, Thiên Chuá cũng tha cho Em rồi.”
Nàng chỉ bị rập xương nên không bị mổ, không bị ghép xương, không phải bó bột. Về nhà nằm, uống Vitamin D, chờ vết xương nứt lành lại.
Tình trạng bi đát. Nhiều người nói người trẻ khi bị nứt xương mới mong vết xương nứt liền lại, người già 70 thì vô phương. Nếu vết xương nứt không lành, nàng sẽ phải nằm mãi trên giường.
Tôi hầu nàng ngày đêm. Gần như suốt ngày đêm, tôi xin Ðức Mẹ Maria cho nàng đi lại được. Tôi chỉ xin Ðức Mẹ cho nàng đi được từ giuờng ngủ vào nhà bếp, vào toilet, ra ngồi bàn ăn cơm, nàng tự tắm được.
Bộ Xã Hội cấp cho nàng đủ thứ nàng cần dùng: Xe đẩy, gậy chống, ghế để ngồi tắm.. Chuyên viên y tế – therapist – đến nhà mỗi tuần ba lần, giúp nàng ngồi lên, tập đi.
Một tháng sau nàng đi được.
o O o
Ba năm nay Nàng có tới ba, bốn lần đau nặng, hai ba lần nàng tự nhiên ngã. Một lần nàng hôn mê. Ðêm khuya trong bệnh viện, nằm trên cái canapé nghe tiếng nàng thở khò khè, tôi nghĩ:
“Tiếng thở này tắt là..”
Tôi cầu xin:
“Xin Mẹ cho vợ chồng con được sống với nhau 5 năm nữa.”
Tôi không muốn tôi chết trước nàng, tôi không muốn nàng chết trước tôi.
Nàng chết trước tôi không biết tôi sống ra sao. Tám mươi tuổi, tôi sống với nàng 60 năm, tôi sống dựa vào nàng. Tôi sống bằng Tình Yêu của nàng.
Năm 1976 gặp lại nhau, Lê Trọng Nguyễn nói:
“Tao không biết mày có đi được không. Tao cứ tưởng mày làm USIS là mày đi được. Hôm tao gặp thằng S. ở trong khu nhà mày, tao hỏi nó mày có đi được không? Nó nói mày không đi được. Tao kêu lên: “Làm sao nó sống? Nó sống bằng gì? ” S. nó nói:
“Nó sống bằng Tình Yêu của vợ nó.”
Người bạn cùng tuổi tôi – 80 – lấy vợ cùng năm với tôi – năm 1954 – vợ chồng anh cũng sống với nhau 60 năm, một sáng từ Cali anh gọi phone cho tôi báo tin vợ anh qua đời, tôi hỏi:
“Ðau lắm không?”
Ðau thì tôi biết bạn tôi đau nhưng tôi muốn biết anh đau đến ngần nào.
Hỏi dễ, trả lời khó. Bạn tôi nói:
“Ðứt ruột, nát gan.”
Lần cuối tôi gặp ông Lê Văn Ba, ông hơn tôi 10 tuổi, ông nói với tôi:
“Tôi nói với bà nhà tôi: Bà nên đi trước tôi là hơn, tôi đi trước bà, bà sẽ khổ lắm.”
Năm sau ông đi trước bà. Ðứng bên quan tài ông, tôi nhớ lời ông nói.
Ông bạn HO có bà vợ bại liệt, ông phải đưa bà vào Nursing Home. Ðể bà ở lại ông một mình lái xe về. Dọc đường ông run tay lái, mát ông mờ. Ông đậu xe bên đường, xuống đi bộ vài vòng lấy lại tinh thần. Khi trở lại tìm xe, ông quên không nhớ ông đậu xe ở đâu. Ông mở cellphone gọi ông bạn đến giúp.
hoanghaithuy Người Tầu có thành ngữ “Ða thọ đa nhục.” Người sống lâu bị nhục nhiều.
Ông cha tôi – các ông Việt ngày xưa – hay dùng thành ngữ “Ða thọ đa nhục.”
Tôi không cho là người già bị nhục. Tôi thấy người ta càng nhiều tuổi càng khổ. Khổ vì không còn hưởng thụ gì được sự đời mà phải chịu những bệnh tật do già yêú sinh ra: Người già không tự lo được cho thân mình, mắt mờ, tai điếc, trí nhớ mất, sống nhờ người khác. Người già vua chúa hay cùng đinh, tỷ phú hay anh nghèo rớt một xu dính túi không có, kẻ quyền uy chấn động thế giới một thời hiển hách hay anh phó thường dân cả đời cơm nhà, quà vợ, khi tuổi già đến đều có những nỗi khổ như nhau.
Người ta qua 60 tuổi được kể là già. Ở Việt Nam những năm 1940-1950 người 50 tuổi được gọi là cụ.
Khổng Tử chỉ nói về Người đến tuổi 70: “Thất thập nhi tùy tâm sở dục.”
Tôi nghĩ ông muốn nói : “Người bẩy mươi tuổi muốn làm gì thì làm..” Nhưng người bẩy mươi tuổi còn làm gì được nữa. Người bẩy mươi cả Bốn Tứ Khoái đều không hưởng được, không làm được.
Năm nay – 2013 – tôi tám mươi tuổi. Một ngày đầu Xuân Kỳ Hoa Ðất Trích 2013, tôi viết bài này.
Năm 2000, khi chia tay nhau lúc nửa đêm ở trước một Nhà Dành cho Người Già Thu Nhập Thấp – Housing for Old Seniors Low Income – ở San Jose, ông bạn già của tôi nói:
- “Ðọc những bài viết của toa để nhớ, để thương Sài Gòn của chúng ta.”
Ông cầm tay tôi:
- “Viết. Viết nữa. Viết đến năm toa tám mươi. Viết cho bọn moa đọc.”
Ðêm mùa đông San Jose lạnh giá bao quanh chúng tôi khi chúng tôi từ biệt nhau, chúng tôi bắt tay nhau lần cuối.
Năm 2000 tôi 68 tuổi. Ông bạn HO già hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi không biết hôm nay ông còn ở cõi đời này hay không. Thời gian và không gian làm chúng tôi không biết nhau sống chết ra sao.
Tám mươi tuổi tôi vẫn viết. Tôi không còn viết phóng tác truyện dài. Tôi viết những bài như bài này.
Thời gian Sống, Yêu và Viết của tôi không còn bao lâu nữa, nên với nỗi Buồn vì phải xa mãi những người tôi yêu thương, hôm nay tôi viết những dòng chữ này.
o O o
Tôi bị ám ảnh bởi cái Chết, tôi ghét Chết, tôi sợ Chết, tôi không muốn Chết. Không phải bây giờ trong tuổi già, tuổi gần đất, xa trời, tôi mới sợ Chết, tôi sợ Chết từ những năm tôi năm, sáu tuổi, khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ.
Nhà tôi ở cuối thị xã Hà Ðông, nhà có lầu, tiếng Bắc là nhà gác, nhà hai tầng. Trên gác nhìn ra tôi thấy cánh đồng với những nấm mồ rải rác trong những ô ruộng, ở gác sau nhìn ra tôi thấy Nhà Thương Hà Ðông và bãi tha ma ở cuối Nhà Thương. Những đêm mưa tôi thấy những chấm lửa lập lòe trong bãi tha ma. Về sau tôi biết đó là những ánh đèn của những người đi soi bắt ếch. Những năm xưa ấy tôi tưởng đó là những đốm lửa ma trơi.
Năm tôi năm, sáu tuổi, mẹ tôi 27, 28 tuổi. Tôi sợ mẹ tôi chết, người ta đem mẹ tôi ra chôn ở ngoài đồng. Mẹ tôi phải nằm một mình giữa cánh đồng vắng, lạnh, cô đơn, nơi mẹ tôi nằm ngập nước, đêm đông, mưa phùn, gió bấc, mẹ tôi khổ biết chừng nào..
Ðó là nguyên nhân thứ nhất làm tôi ghét Chết, tôi sợ Chết.
Mời bạn đọc một chuyện Sống, Yêu và Chết tôi thấy trên Internet.
- * Trong phiên xử ở Tòa Án Phoenix, Arizona, bị cáo là Ông George Sanders, 86 tuổi, bị xử vì tội giết vợ. Tất cả mọi người có mặt tại toà, từ công tố viên đến chánh án, kể cả con cháu của kẻ bị cáo, đều thấy bị cáo phạm tội giết người, nhưng tất cả đều cho rằng đây là trường hợp pháp luật nên thông cảm, thương hại, tha thứ hơn là trừng phạt kẻ có tội.
Anh cháu của bị cáo George Sanderss nói trước tòa:
- “Ông tôi sống để thương yêu bà tôi. Suối đời ông tôi làm mọi việc để bà tôi có hạnh phúc. Mối tình của ông bà tôi là mối tình lớn. Tôi tin ông tôi bị bắt buộc phải làm việc ấy vì yêu thương bà tôi, bà tôi chịu đau quá nhiều rồi, ông tôi không thể để bà tôi chịu đau nhiều hơn nữa. “
Ông Sanders bị bắt Tháng Bẩy năm 2012 sau khi ông nói với cảnh sát bà Virginia, vợ ông, 81 tuổi, xin ông làm bà chết. Vì ông Sanders nhận tội nên toà án không dùng đến đoàn bồi thẩm, nhưng ông vẫn có thể bị kết án đến 12 năm tù.
Bà Virginia bị bệnh nan y năm 1969, bà liệt bại, bà phải ngồi xe lăn. Năm 1970, ông bà sang sống ở Arizona vì khí hậu ở đây ấm nóng.
Ông Sanders là Cựu Chiến Binh Thế Chiến II. Ông là người nuôi và săn sóc bà vợ. Ông nấu ăn cho bà, làm mọi việc trong nhà. Mỗi sáng ông giúp bà trang điểm, mỗi tháng ông đưa bà tới Nhà Thẩm Mỹ để bà làm tóc, làm móng tay.
Năm tháng qua, sức khoẻ của ông Sanders suy mòn. Ông phải đặt máy trợ tim, ông không còn săn sóc chu đáo được bà. Rồi bà Virginia bị ung thư phá ra ở chân, bà phải vào một Nursing home để người ta lo cho bà sống qua những ngày tàn cuối đời.
Ông Sanders nói với những viên chức điều tra:
- “Ðây là giọt nước làm tràn ly nước. Virginia nhất quyết không chịu vào Nursing home. Vợ tôi tự cắt những ngón chân bị ung thối.”
Ông nói:
- “Vợ tôi xin tôi cho bà ấy chết. Tôi nói tôi không thể.”
Vợ tôi nói:
- “Anh làm được mà. Em biết anh làm được.”
Sanders cầm khẩu súng lục, ông lấy khăn bông quấn ngoài khẩu súng, nhưng ông không sao bóp cò súng được.
Ông kể:
- “Vợ tôi nói:
- “Bắn đi anh. Cho em đươc chết.”
Tôi nói lời cuối với vợ tôi:
- “Em sẽ không cảm thấy đau.”
Và:
- “Anh yêu em. Vĩnh biệt em”
Tôi nổ súng.”
Trước toà, người con trai của ông Sandsers nói:
- “Tôi muốn quí toà biết rằng tôi yêu thương mẹ tôi, tôi cũng yêu thương bố tôi như thế.”
Steve Sandes, anh con, nghẹn ngào kể:
- “Bố tôi yêu thương mẹ tôi trong 62 năm. Những đau đớn thể xác và việc chịu đau vô ích đã làm bố mẹ tôi đi đến quyết định ấy.. Tôi không kết tội bố tôi. Với tôi bố tôi là người tôi cảm phục nhất.”
Ông già George Sanders chỉ nói trong khoảng một phút, giọng ông run run:
- “Tôi gặp Viginia năm nàng 15 tuổi, tôi yêu nàng từ năm nàng 15 tuổi. Tôi yêu nàng khi nàng 81 tuổi. Có nàng làm vợ là một ân phúc Thiên Chuá ban cho tôi. Tôi sung sướng được chăm sóc nàng. Tôi làm theo ý muốn của nàng. Tôi xin lỗi các vị vì vợ chồng tôi mà các vị phải bận lòng.”
Ông Công tố đề nghị ông Chánh án không phạt tù giam George Sanders, ông nói toà nên xử án treo.
Ông Chánh án John Disworth nói ông đặt nặng tình nhân đạo trong vụ án này. Ông nói:
- “Bị cáo phạm tội giết người, nhưng được toà giảm nhẹ mức án.”
Ông tuyên phạt ông già George Sanders 2 năm tù treo. TÙ treo không bị cảnh sát kiểm xoát.
o O o
Chuyện ông bà Sanders làm tôi suy nghĩ lan man. Tôi nhớ chuyện Cái Bát Gỗ tôi đọc những năm tôi 10 tuổi.
Anh con thấy ông bố già run tay, khi ăn hay đánh rơi bát cơm, bát vỡ. Anh làm cái bát bằng gỗ cho ông già ăn cơm. Ông có làm rơi bát, bát gỗ không bị vỡ.
Một hôm anh thấy thằng con nhỏ của anh hí hoáy đục đẽo một cục gỗ, anh hỏi nó đục gỗ làm gì, con anh nói:
“Con làm cái bát gỗ, để khi bố già, con cho bố ăn cơm.”
Chuyện – dường như – ở trong sách Quốc Văn Ðộc Bản – đã 70 năm tôi không quên nó – nó đây là chuyện cái Bát Gỗ – nhưng chẳng có dịp nào tôi nhớ nó. Hôm nay tôi nhớ nó.
Từ sau năm 1975 ở Hoa Kỳ Nhà Xuất Bản Xuân Thu in lại tất cả những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư. Nhưng sách Quốc Văn Ðộc Bản – sách có nhiều bài thật hay – thì không thấy in lại. Tôi không biết tại sao Quốc Văn Ðộc Bản không được in lại ở Hoa Kỳ. Tôi đã đọc lại tất cả những sách Giáo Khoa Thư được in lại ở Hoa Kỳ, tôi muốn đọc lại những bài trong Quốc Văn Ðộc Bản.
Tôi nhớ lâu rồi, từ những năm 1950 khi tôi chưa gập Tình Yêu Vợ Chồng, tôi đọc trên trang sách nào đó lời một ông Tầu viết:
“Vợ chồng như hai con chim tình cờ cùng đậu trên một cành cây. Ðến lức phải bay đi, mỗi con bay đi một phiá.”
Năm xưa còn trẻ, tôi muốn phản đối lời diễn tả trên. Ông Tầu muốn nói vợ chồng là chuyện ngẫu nhiên, chẳng có tình nghĩa gì giữa vợ và chồng. Hôm nay tôi mới dịp viết ra lời phản đối.
Ông bác sĩ điều trị cho vợ chồng tôi mỗi tuần một ngày vào chẩn bệnh cho những ông bà già trong một Housing for Old Seniors – Housing này có nhiều ông bà già Mỹ trắng – ông nói:
“Có những cặp vợ chồng về già không nhìn được mặt nhau.”
Lời kể của ông làm tôi buồn. Vợ chồng sống với nhau đến già, ở chung một nhà già – mỗi người một phòng – sắp ra nghĩa địa, sắp vào hũ sành mà thù hận nhau đến không nhìn mặt nhau?? Thù hận gì dữ dội đến thế? Những người ấy thật khổ.
Bát đại khổ não ghi Tám Nỗi Khổ Lớn của con người:
Sinh, Lão, Bệnh, Tử: 4 Khổ ai cũng phải chịu.
Muốn có mà không có: Khổ 5
Có mà không giữ được: Khổ 6.
Yêu nhau mà không được cùng sống: Khổ 7.
Ghét nhau mà phải sống gần nhau: Khổ 8.
Có người chỉ phải chịu có 7 Khổ. Ðó là những người không yêu ai cả.
Nhiều người Việt phải chịu cả 8 Khổ. Ðó những người thù ghét bọn Việt Cộng mà cứ phải sống với bọn Việt Cộng.
o O o
Mùa thu mây trắng xây thành.
Tình Em mầy ấy có xanh da trời.
Hoa lòng Em có về tươi?
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?
Tôi làm bài thơ trên Tháng Bẩy năm 1954 ở Vũng Tầu, ngày chúng tôi yêu nhau. Cuộc Tình của chúng tôi đã dài trong 60 năm. Cuộc Tình Vợ Chồng. Trong cuộc đời Tám Khổ này, nàng và tôi chỉ phải chịu có Bẩy Khổ.
Năm 1979 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, nhớ Nàng, tôi làm bài thơ:
Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu
Tình ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ?
Thời gian nào rộng cho vừa Tình ta.
Hoa lòng Em vẫn tươi hoa,
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai.
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em
Mặt trời có lặn về đêm,
Sớm mai Em dậy bên thềm lại soi.
Cuộc đời có khóc, có cười,
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay.
Thu về trời lại xanh mây.
Ðầy trời ta thấy những ngày ta yêu.
Càng yêu, yêu lại càng nhiều.
Nhớ Em, Anh nhắn một điều: “Yêu Em.”
Năm 2013 tôi đổi hai tiếng trong bài thơ:
“Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Sáu mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.”
o O o
12 giờ buổi trưa tháng Sáu, 2012, Nàng bước hụt, ngã nhào qua bốn bực thềm cửa, nàng ngất đi. Ngồi bên nàng trong nắng trưa mùa hạVirginia, chờ Ambulance đến, nước mắt tôi ưá ra.
Trong ICU – Ai Si Yu – Intensive Care Unit – tỉnh lại, nàng nói:
“Xin Thiên Chuá tha tội cho em.”
Tôi nói:
“Em có tội gì. Mà Em có tội gì, Thiên Chuá cũng tha cho Em rồi.”
Nàng chỉ bị rập xương nên không bị mổ, không bị ghép xương, không phải bó bột. Về nhà nằm, uống Vitamin D, chờ vết xương nứt lành lại.
Tình trạng bi đát. Nhiều người nói người trẻ khi bị nứt xương mới mong vết xương nứt liền lại, người già 70 thì vô phương. Nếu vết xương nứt không lành, nàng sẽ phải nằm mãi trên giường.
Tôi hầu nàng ngày đêm. Gần như suốt ngày đêm, tôi xin Ðức Mẹ Maria cho nàng đi lại được. Tôi chỉ xin Ðức Mẹ cho nàng đi được từ giuờng ngủ vào nhà bếp, vào toilet, ra ngồi bàn ăn cơm, nàng tự tắm được.
Bộ Xã Hội cấp cho nàng đủ thứ nàng cần dùng: Xe đẩy, gậy chống, ghế để ngồi tắm.. Chuyên viên y tế – therapist – đến nhà mỗi tuần ba lần, giúp nàng ngồi lên, tập đi.
Một tháng sau nàng đi được.
o O o
Ba năm nay Nàng có tới ba, bốn lần đau nặng, hai ba lần nàng tự nhiên ngã. Một lần nàng hôn mê. Ðêm khuya trong bệnh viện, nằm trên cái canapé nghe tiếng nàng thở khò khè, tôi nghĩ:
“Tiếng thở này tắt là..”
Tôi cầu xin:
“Xin Mẹ cho vợ chồng con được sống với nhau 5 năm nữa.”
Tôi không muốn tôi chết trước nàng, tôi không muốn nàng chết trước tôi.
Nàng chết trước tôi không biết tôi sống ra sao. Tám mươi tuổi, tôi sống với nàng 60 năm, tôi sống dựa vào nàng. Tôi sống bằng Tình Yêu của nàng.
Năm 1976 gặp lại nhau, Lê Trọng Nguyễn nói:
“Tao không biết mày có đi được không. Tao cứ tưởng mày làm USIS là mày đi được. Hôm tao gặp thằng S. ở trong khu nhà mày, tao hỏi nó mày có đi được không? Nó nói mày không đi được. Tao kêu lên: “Làm sao nó sống? Nó sống bằng gì? ” S. nó nói:
“Nó sống bằng Tình Yêu của vợ nó.”
Người bạn cùng tuổi tôi – 80 – lấy vợ cùng năm với tôi – năm 1954 – vợ chồng anh cũng sống với nhau 60 năm, một sáng từ Cali anh gọi phone cho tôi báo tin vợ anh qua đời, tôi hỏi:
“Ðau lắm không?”
Ðau thì tôi biết bạn tôi đau nhưng tôi muốn biết anh đau đến ngần nào.
Hỏi dễ, trả lời khó. Bạn tôi nói:
“Ðứt ruột, nát gan.”
Lần cuối tôi gặp ông Lê Văn Ba, ông hơn tôi 10 tuổi, ông nói với tôi:
“Tôi nói với bà nhà tôi: Bà nên đi trước tôi là hơn, tôi đi trước bà, bà sẽ khổ lắm.”
Năm sau ông đi trước bà. Ðứng bên quan tài ông, tôi nhớ lời ông nói.
Ông bạn HO có bà vợ bại liệt, ông phải đưa bà vào Nursing Home. Ðể bà ở lại ông một mình lái xe về. Dọc đường ông run tay lái, mát ông mờ. Ông đậu xe bên đường, xuống đi bộ vài vòng lấy lại tinh thần. Khi trở lại tìm xe, ông quên không nhớ ông đậu xe ở đâu. Ông mở cellphone gọi ông bạn đến giúp.
Bush-Obama: Một ngày không giống mọi ngày
Nguyễn Văn Khanh
Trong 7 năm qua - tính từ ngày ông bắt đầu xuất hiện ở chính trường quốc gia trong vai trò thượng nghị sĩ đại diện cho tiểu bang Illinois
ở tòa nhà Quốc Hội Liên Bang - Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama đã nhắc đến người tiền nhiệm George W. Bush cả ngàn lần
qua những bài phát biểu ông đọc trước công chúng, qua những cuộc họp với những thành viên nòng cốt và những người ủng hộ trong đảng Dân Chủ,
hoặc qua những phiên họp với các cố vấn về chính sách đối nội cũng như đối ngoại ông thấy cần phải thực hiện.
Tổng Thống Barack Obama (trái) và cựu Tổng Thống George W. Bush tại lễ khai trương Thư Viện Tổng Thống George W. Bush tại Dallas,
Texas, hôm Thứ Năm. (Hình: Alex Wong/Getty Images)
Tựu trung, những phát biểu ông Obama đưa ra để nói với ông “W” đều mang ý nghĩa tiêu cực. Ngay từ lúc còn là thượng nghị sĩ, ông lên tiếng chỉ trích cuộc chiến Iraq “là cuộc chiến sai lầm, sẽ bị lịch sử lên án,” đến khi ra tranh cử tổng thống ông cam kết “một trong những điều tôi sẽ làm ngay sau khi vào Tòa Bạch Ốc là rút quân về nước trong thời hạn sớm nhất.” Về mặt chính trị, ông cho rằng “Washington không làm được việc vì chính sách của ông Bush,” hứa hẹn sẽ thay đổi “cái nhìn và cách hoạt động” của chính trường thủ đô. Trong lãnh vực kinh tế, ngay trong bài diễn văn đọc tối đắc cử nhiệm kỳ đầu ông đã bảo với mọi người “di sản tôi nhận lãnh (từ ông Bush) quá nặng nề,” sau đó nhiều lần bảo thêm “kinh tế khó khăn, èo uột không phải vì tôi.”
Ngay cả khi nhờ Cựu Tổng Thống Bill Clinton đọc bài diễn văn đề cử trước Ðại Hội Ðảng Dân Chủ hồi cuối mùa Hè năm ngoái ông cũng nhắc nhở phải thêm vào câu “chẳng ai có tài cán để giải quyết gánh nặng kinh tế mà ông nhận lãnh (từ ông Bush) chỉ trong một nhiệm kỳ.” Ông Obama đổ hết trách nhiệm cho ông W, tới mức độ những cuộc thăm dò cử tri trước bầu cử 2012 cho thấy người dân Mỹ tin rằng “thời kỳ đổ lỗi cho người khác đã qua, đã đến lúc ông Obama phải làm việc vì quyền hành đang nằm trong tay của ông.”
Nếu những lời phát biểu công khai đó của vị tổng thống Dân Chủ được xem là “nặng tay” với người tiền nhiệm Cộng Hòa, những gì nghe được từ những người thân cận nhất với ông cho thấy còn nặng nề hơn nữa. Trong phiên họp đầu tiên với ban tham mưu vận động bầu cử, ông bảo thẳng “nếu làm tổng thống để làm như ông ta (W) thì tôi không làm,” sau đó khi tiếp xúc với những người giúp tiền tranh cử, ông còn nói “tôi là người sẽ thay đổi, sẽ xây dựng lại những đổ vỡ mà ông W để lại sau 8 năm cầm quyền,” nhắc đi nhắc lại lời hứa hẹn “sẽ chấn chỉnh nền kinh tế tồi tệ” kèm theo một danh sách thật dài những điều ông nghĩ ông W đã làm sai - hay làm chưa đúng - và những kế hoạch sửa chữa ông sẽ làm nếu được cử tri tín nhiệm trong vai trò người lãnh đạo.
Chỉ có hai lần trước công chúng, vị tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ lên tiếng ca ngợi vị tổng thống thứ 43. Lần đầu hồi giữa năm ngoái khi ông W cùng gia đình trở lại Washington D.C. dự buổi lễ treo bức họa chân dung ở Tòa Bạch Ốc, hôm đó ông Obama nói rằng mặc dù quan điểm chính trị có khác nhau, nhưng “Tổng Thống George W. Bush và tôi cùng có chung ước muốn là nước Mỹ phải vững mạnh,” nhắc nhở mọi người đừng quên ông W đã lèo lái con thuyền quốc gia vượt qua sóng gió và thử thách “sau biến cố 11 Tháng Chín 2001.”
Lần thứ nhì mới ngày hôm qua trong buổi lễ khánh thành thư viện của ông W ở Dallas, ông Obama liệt kê những điều ông W đã làm được trong thời gian nắm quyền, từ chuyện hợp tác với Quốc Hội để cải tổ hệ thống giáo dục, xã hội, cho tới chính sách về ngoại giao, nhấn mạnh đến chương trình trợ giúp Phi Châu phòng chống HIV/AIDS được đẩy thật mạnh khi ông Bush còn ở Tòa Bạch Ốc. Bên cạnh đó, đương nhiên vẫn là các nỗ lực vượt bực cùng với những quyết định kịp thời ông Bush đã đưa ra ngay sau biến cố 11 Tháng Chín, nhấn mạnh tới những gì ông Bush đã làm khi muốn cải tổ luật di trú để “nước Mỹ là một quốc gia thượng tôn luật pháp và là quốc gia của người di dân.” Vẫn theo ông Obama, nếu luật cải tổ di trú mọi người đang trông chờ được Thượng và Hạ Viện thông qua, “thành quả này, phần lớn, nhờ vào công sức của Tổng Thống George W. Bush.”
Ðiều ông Obama tranh không nói đến là 2 cuộc chiến và kinh tế, ông cũng chẳng nói gì đến một phần chính sách được bắt đầu dưới thời W mà ông đang tiếp tục thực hiện, từ việc sử dụng máy bay không người lái để truy kích khủng bố ở nước ngoài - trong đó có cả quyết định tiêu diệt những công dân Mỹ đang hoạt động chung với al-Qaeda ở ngoại quốc, hay chuyện đưa thêm quân vào Afghanistan hồi 2009 để “ổn định tình hình” như ông Bush từng làm đối với chiến trường Iraq hồi 2007.
Lấy chương trình sử dụng máy bay không người lái để truy kích khủng bố làm thí dụ. Ông W dùng loại máy bay này từ năm 2004 cho đến 2009, chỉ thị thực hiện 49 phi vụ trong đó 48 phi vụ ở vùng biên giới Pakistan-Afghanistan và 1 phi vụ ở Yemen. Từ khi nhậm chức đến giờ ông Obama cho phép quân đội thực hiện 379 phi vụ, trong đó có 72 phi vụ ở Yemen. Phúc trình của viện nghiên cứu New America Foundation cho biết thành quả đạt được là bắn hạ gần 3,000 tên khủng bố, chỉ riêng ở Yemen đã giết được 1,000 tên hợp tác hay hoạt động theo chỉ thị của al-Qaeda.
Ông Peter Feaver, cựu phụ tá đặc trách an ninh quốc phòng dưới thời Tổng Thống Clinton và Tổng Thống George W. Bush, cho rằng những điều ông Obama đang làm và rất thành công “chính là những điều được khởi đầu và cũng thành công chẳng kém từ thời ông Bush.” Chuyên gia James Phillip của Viện The Heritage Foundation nhắc lại từ đầu, ông Bush đã nói phải dùng máy bay không người lái để truy kích khủng bố ở những địa điểm Hoa Kỳ khó có thể đưa quân đến, “chính sách này được ông Obama tận dụng và đem lại kết quả tốt không ngờ,” Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Lindsey Graham bảo “nhiều người ngạc nhiên” khi thấy ông Obama thường chỉ trích ông Bush nhưng lại sử dụng kế hoạch quân sự của ông Bush, “riêng tôi, tôi chẳng ngạc nhiên mà còn chúc mừng quyết định thật sáng suốt của Tổng Thống Obama.”
Ngay chuyện nợ nần, 2 vị tổng thống Dân Chủ và Cộng Hòa cũng giống nhau: ông Bush vay đã nhiều để cho vào 2 cuộc chiến, ông Obama vay còn nhiều hơn, dù trong lúc vận động tranh cử ông Obama từng chê bai ông Bush “thiếu trách nhiệm” khi để cho quốc gia lâm vào cảnh nợ nần, nhưng khi bị chỉ trích ông lại quay sang đổ lỗi, bảo phải vay tiền để giải quyết những khó khăn do ông Bush để lại.
Nguyễn Văn Khanh
Trong 7 năm qua - tính từ ngày ông bắt đầu xuất hiện ở chính trường quốc gia trong vai trò thượng nghị sĩ đại diện cho tiểu bang Illinois
ở tòa nhà Quốc Hội Liên Bang - Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama đã nhắc đến người tiền nhiệm George W. Bush cả ngàn lần
qua những bài phát biểu ông đọc trước công chúng, qua những cuộc họp với những thành viên nòng cốt và những người ủng hộ trong đảng Dân Chủ,
hoặc qua những phiên họp với các cố vấn về chính sách đối nội cũng như đối ngoại ông thấy cần phải thực hiện.
Tổng Thống Barack Obama (trái) và cựu Tổng Thống George W. Bush tại lễ khai trương Thư Viện Tổng Thống George W. Bush tại Dallas,
Texas, hôm Thứ Năm. (Hình: Alex Wong/Getty Images)
Tựu trung, những phát biểu ông Obama đưa ra để nói với ông “W” đều mang ý nghĩa tiêu cực. Ngay từ lúc còn là thượng nghị sĩ, ông lên tiếng chỉ trích cuộc chiến Iraq “là cuộc chiến sai lầm, sẽ bị lịch sử lên án,” đến khi ra tranh cử tổng thống ông cam kết “một trong những điều tôi sẽ làm ngay sau khi vào Tòa Bạch Ốc là rút quân về nước trong thời hạn sớm nhất.” Về mặt chính trị, ông cho rằng “Washington không làm được việc vì chính sách của ông Bush,” hứa hẹn sẽ thay đổi “cái nhìn và cách hoạt động” của chính trường thủ đô. Trong lãnh vực kinh tế, ngay trong bài diễn văn đọc tối đắc cử nhiệm kỳ đầu ông đã bảo với mọi người “di sản tôi nhận lãnh (từ ông Bush) quá nặng nề,” sau đó nhiều lần bảo thêm “kinh tế khó khăn, èo uột không phải vì tôi.”
Ngay cả khi nhờ Cựu Tổng Thống Bill Clinton đọc bài diễn văn đề cử trước Ðại Hội Ðảng Dân Chủ hồi cuối mùa Hè năm ngoái ông cũng nhắc nhở phải thêm vào câu “chẳng ai có tài cán để giải quyết gánh nặng kinh tế mà ông nhận lãnh (từ ông Bush) chỉ trong một nhiệm kỳ.” Ông Obama đổ hết trách nhiệm cho ông W, tới mức độ những cuộc thăm dò cử tri trước bầu cử 2012 cho thấy người dân Mỹ tin rằng “thời kỳ đổ lỗi cho người khác đã qua, đã đến lúc ông Obama phải làm việc vì quyền hành đang nằm trong tay của ông.”
Nếu những lời phát biểu công khai đó của vị tổng thống Dân Chủ được xem là “nặng tay” với người tiền nhiệm Cộng Hòa, những gì nghe được từ những người thân cận nhất với ông cho thấy còn nặng nề hơn nữa. Trong phiên họp đầu tiên với ban tham mưu vận động bầu cử, ông bảo thẳng “nếu làm tổng thống để làm như ông ta (W) thì tôi không làm,” sau đó khi tiếp xúc với những người giúp tiền tranh cử, ông còn nói “tôi là người sẽ thay đổi, sẽ xây dựng lại những đổ vỡ mà ông W để lại sau 8 năm cầm quyền,” nhắc đi nhắc lại lời hứa hẹn “sẽ chấn chỉnh nền kinh tế tồi tệ” kèm theo một danh sách thật dài những điều ông nghĩ ông W đã làm sai - hay làm chưa đúng - và những kế hoạch sửa chữa ông sẽ làm nếu được cử tri tín nhiệm trong vai trò người lãnh đạo.
Chỉ có hai lần trước công chúng, vị tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ lên tiếng ca ngợi vị tổng thống thứ 43. Lần đầu hồi giữa năm ngoái khi ông W cùng gia đình trở lại Washington D.C. dự buổi lễ treo bức họa chân dung ở Tòa Bạch Ốc, hôm đó ông Obama nói rằng mặc dù quan điểm chính trị có khác nhau, nhưng “Tổng Thống George W. Bush và tôi cùng có chung ước muốn là nước Mỹ phải vững mạnh,” nhắc nhở mọi người đừng quên ông W đã lèo lái con thuyền quốc gia vượt qua sóng gió và thử thách “sau biến cố 11 Tháng Chín 2001.”
Lần thứ nhì mới ngày hôm qua trong buổi lễ khánh thành thư viện của ông W ở Dallas, ông Obama liệt kê những điều ông W đã làm được trong thời gian nắm quyền, từ chuyện hợp tác với Quốc Hội để cải tổ hệ thống giáo dục, xã hội, cho tới chính sách về ngoại giao, nhấn mạnh đến chương trình trợ giúp Phi Châu phòng chống HIV/AIDS được đẩy thật mạnh khi ông Bush còn ở Tòa Bạch Ốc. Bên cạnh đó, đương nhiên vẫn là các nỗ lực vượt bực cùng với những quyết định kịp thời ông Bush đã đưa ra ngay sau biến cố 11 Tháng Chín, nhấn mạnh tới những gì ông Bush đã làm khi muốn cải tổ luật di trú để “nước Mỹ là một quốc gia thượng tôn luật pháp và là quốc gia của người di dân.” Vẫn theo ông Obama, nếu luật cải tổ di trú mọi người đang trông chờ được Thượng và Hạ Viện thông qua, “thành quả này, phần lớn, nhờ vào công sức của Tổng Thống George W. Bush.”
Ðiều ông Obama tranh không nói đến là 2 cuộc chiến và kinh tế, ông cũng chẳng nói gì đến một phần chính sách được bắt đầu dưới thời W mà ông đang tiếp tục thực hiện, từ việc sử dụng máy bay không người lái để truy kích khủng bố ở nước ngoài - trong đó có cả quyết định tiêu diệt những công dân Mỹ đang hoạt động chung với al-Qaeda ở ngoại quốc, hay chuyện đưa thêm quân vào Afghanistan hồi 2009 để “ổn định tình hình” như ông Bush từng làm đối với chiến trường Iraq hồi 2007.
Lấy chương trình sử dụng máy bay không người lái để truy kích khủng bố làm thí dụ. Ông W dùng loại máy bay này từ năm 2004 cho đến 2009, chỉ thị thực hiện 49 phi vụ trong đó 48 phi vụ ở vùng biên giới Pakistan-Afghanistan và 1 phi vụ ở Yemen. Từ khi nhậm chức đến giờ ông Obama cho phép quân đội thực hiện 379 phi vụ, trong đó có 72 phi vụ ở Yemen. Phúc trình của viện nghiên cứu New America Foundation cho biết thành quả đạt được là bắn hạ gần 3,000 tên khủng bố, chỉ riêng ở Yemen đã giết được 1,000 tên hợp tác hay hoạt động theo chỉ thị của al-Qaeda.
Ông Peter Feaver, cựu phụ tá đặc trách an ninh quốc phòng dưới thời Tổng Thống Clinton và Tổng Thống George W. Bush, cho rằng những điều ông Obama đang làm và rất thành công “chính là những điều được khởi đầu và cũng thành công chẳng kém từ thời ông Bush.” Chuyên gia James Phillip của Viện The Heritage Foundation nhắc lại từ đầu, ông Bush đã nói phải dùng máy bay không người lái để truy kích khủng bố ở những địa điểm Hoa Kỳ khó có thể đưa quân đến, “chính sách này được ông Obama tận dụng và đem lại kết quả tốt không ngờ,” Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Lindsey Graham bảo “nhiều người ngạc nhiên” khi thấy ông Obama thường chỉ trích ông Bush nhưng lại sử dụng kế hoạch quân sự của ông Bush, “riêng tôi, tôi chẳng ngạc nhiên mà còn chúc mừng quyết định thật sáng suốt của Tổng Thống Obama.”
Ngay chuyện nợ nần, 2 vị tổng thống Dân Chủ và Cộng Hòa cũng giống nhau: ông Bush vay đã nhiều để cho vào 2 cuộc chiến, ông Obama vay còn nhiều hơn, dù trong lúc vận động tranh cử ông Obama từng chê bai ông Bush “thiếu trách nhiệm” khi để cho quốc gia lâm vào cảnh nợ nần, nhưng khi bị chỉ trích ông lại quay sang đổ lỗi, bảo phải vay tiền để giải quyết những khó khăn do ông Bush để lại.

