Một cậu bé cùng biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 09/12/2012
AFP photo
Hôm thứ Năm 16 tháng Năm, 2013 vừa rồi, lại thêm một “Ngày Lịch Sử” trong dòng sử hiện đại VN, kỳ này, diễn ra tại Pháp đình Long An, khi hình ảnh 2 sinh viên yêu nước Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha trong y phục trong trắng của tuổi học trò, với gương mặt sáng ngời, với những lời biện hộ dõng dạc, hùng hồn, đanh thép, không hề nao núng trước bạo quyền – nói theo lời blogger Hải Huỳnh - đã “làm cho cả phòng xử án bàng hoàng và không khí chùng xuống”. Nguyễn Phương Uyên khẳng định:
Tôi là sinh viên yêu nước, nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì những người trẻ khác sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước. Nếu một sinh viên, tuổi trẻ như tôi mà bị kết án tù vì yêu nước thì thật sự tôi không cam tâm...
Việc tôi làm thì tôi chịu, xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước, và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn.
Và Đinh Nguyên Kha kiên quyết:
Tôi trước sau vẫn là một người yêu nước, yêu dân tộc tôi. Tôi không hề chống dân tộc tôi, tôi chỉ chống đảng cộng sản. Mà chống đảng thì không phải là tội.
Những câu nói trước toà, theo lời nhà thơ Hoàng Hưng, “Kha và Uyên đã đi vào lịch sử”.
Trong khi đó các luật sư bào chữa cũng đã lập luận sắc bén khiến công tố lẫn chánh án đuối lý, ra sức chống chế, không trưng ra được vật chứng, không có nhân chứng; giới gọi là “cầm cân nẩy mực” ấy chỉ viện dẫn những điều mơ hồ để rồi áp đặt 8 năm cộng thêm 2 năm tù giam cho tội cố ý gây thương tích trong 1 vụ án khác dành cho Đinh Nguyên Kha, và 6 năm tù giam đối với Phương Uyên, cùng 3 năm quản thúc cho mỗi nạn nhân này của chế độ.
Khi lên tiếng ca ngợi “Tuyệt vời tuổi trẻ VN”, blogger Quê Choa – tức nhà văn Nguyễn Quang Lập – nhận xét:
Bản án quá nặng nhưng không lạ, ở cái nơi “dân chủ vạn lần hơn” thường vẫn có những bản án như thế. Bản án chắc chắn không có răn đe được ai. Nó càng làm chất cao thêm niềm uất hận và càng chứng tỏ khẩu hiệu vì dân do dân thảm hại đến thế nào.
Trước cảnh lao lý ấy của 2 người trẻ yêu nước, blogger Nguyễn Thông không khỏi viết lên “Huyết thư”, rằng:
Xưa chích máu viết thư ra trận
Được tôn vinh cao cả anh hùng
Nay lấy máu đuổi quân Tàu cộng
Cửa nhà tù ưu ái ghi công.
Bức tranh tương phản
Qua bài “Vụ Phương Uyên: Món quà đắt chào đón ngoại xâm”, blogger J.B. Nguyễn Hữu Vinh nêu lên một loạt câu hòi rằng “Vì sao, hai thanh niên đã kiên cường chống Trung Cộng xâm lược, đã lên tiếng bảo vệ chủ quyền biển đảo, lãnh thổ đất nước theo đúng như lời ông Hồ Chí Minh đã nói lại bị kết án nặng nề đến thế? Vì sao, một phiên tòa xét xử “công khai” lại ngăn chặn, bắt bớ những ai đến dự phiên tòa? (Hay là) Nhà nước sợ những người dân đến dự phiên tòa thấy rõ ‘tội trạng’ của hai thanh niên này là đã dùng máu viết vào mảnh vải “có nội dung không hay về Trung Quốc”? Có phải câu hỏi cuối này đã là câu trả lời cho những câu hỏi trên?”.
Blogger Nguyễn Hữu Vinh mô tả một bức tranh tương phản “Anh hùng” và “hèn hạ” rằng, trong khi “Đinh Nguyên Kha, bị bắt khi 24 tuổi, Nguyễn Phương Uyên, một cô gái mới 20 tuổi, đã biết nói lên tiếng nói của mình vì lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc”, thì:
Một Đảng Cộng sản là đội quân tiên phong, một nhà nước Xã hội Chủ nghĩa ưu việt với quân đội “bách chiến bách thắng” đã lặng im khi lãnh thổ Tổ Quốc bị xâm chiếm, quân thù đang ngày đêm giày xéo Tổ Quốc mình. Đến mức, việc chủ quyền đất nước, biển đảo của Tổ Quốc lại được giao cho Hội Nghề cá lên tiếng!
Nguyễn Phương Uyên và Nguyễn Đình Kha tại phiên tòa sơ thẩm Tòa Án Long An hôm 16/5/2013. AFP photo
Và trong khi cô gái yêu nước Phương Uyên chỉ mới 20 tuổi đầu đã dõng dạc trước toà rằng:
Tôi là sinh viên yêu nước, nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì những người trẻ khác sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước. Nếu một sinh viên, tuổi trẻ như tôi mà bị kết án tù vì yêu nước thì thật sự tôi không cam tâm.
Thì, nhà báo Nguyễn Hữu Vinh cáo giác, “ đám quan tham đang ngày đêm đục khoét đất nước, rước giặc vào nhà bằng nhiều cách, nhiều ngả khác nhau. Cũng trong khi đó, các lãnh đạo Đảng CS chỉ chăm lo 16 chữ vàng và 4 tốt với kẻ xâm lăng chỉ vì ‘chung ý thức hệ’. Thử hỏi ai yêu nước và ai phản bội? Rồi một thanh niên dù mới 25 tuổi cũng đã khẳng định rõ ràng khái niệm đơn giản nhất là “Đất nước, Dân tộc, Tổ Quốc không có nghĩa là Đảng Cộng sản”, vậy mà cả hệ thống chính trị “đầy mình học thuyết Mác – Lênin”, với đầy đủ học hàm, học vị, đã không thể hiểu – hay không muốn hiểu - điều đó.
Theo blogger Nguyễn Hữu Vinh, “Họ đang cố tình đánh tráo khái niệm, đồng hóa quan niệm để kết tội những người đã không để cho nhóm lợi ích làm mưa làm gió trên đầu trên cổ dân tộc;…Trong phiên tòa này, họ đã kết tội hai thanh niên, họ đã thực hiện được điều họ muốn”. Blogger Nguyễn Hữu Vinh khẳng định rằng:
Những lời biện hộ đanh thép trước tòa là những lời kết tội đám người cố tình nhắm bắt, bịt tai trước lẽ phải và những tiếng nói lương tri của người dân Việt Nam. Bản án nặng nề dành cho hai em trong phiên tòa hôm nay, món quà quý dâng cho ngoại bang nhân ngày bọn chúng ra lệnh cấm đánh cá trên biển Việt Nam, liệu có làm vừa lòng bọn quan thầy đang muốn thôn tính cả đất nước ta, đưa dân tộc ta vào vòng nô lệ? Tôi tin là chưa đủ. Và con đường thoát khỏi ách nô lệ của đất nước ta còn dài.
Qua Kiến nghị mới đây gởi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang yêu cầu ra chỉ thị trả tự do ngay cho sinh viên Nguyễn Phương Uyên, gần 200 công dân Việt nhấn mạnh rằng “Chừng nào Biển Đông còn dập dồn những con sóng xâm lược của các thế lực hiếu chiến trong giới cầm quyền Bắc Kinh thì tuổi trẻ Việt Nam phải nung nấu và tỏ rõ tinh thần yêu nước, khí phách quật cường của Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Lê Lợi, Nguyễn Huệ từng viết nên những trang sử vàng của dân tộc, từng khắc trên cánh tay hai chữ Sát Thát, đánh tan tác quân xâm lược “ra đến biển chưa thôi trống ngực, về đến Tàu còn đổ mồ hôi” như Nguyễn Trãi từng viết trong “Bình Ngô Đại cáo”! Phải thường xuyên nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết căm ghét, phỉ nhổ những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống do “úy tử tham sinh”, muốn “ngôi cao, lộc lớn”, đã hèn nhát cúi đầu theo giặc, treo một tấm gương nhơ bẩn trong lịch sử, muôn đời bị nhân dân nguyền rủa”.
Bản án nên dành cho ai?
Blogger Vũ Đông Hà lưu ý rằng ở đất nước này hiện nay, nếu bạn biết “còng lưng, ngồi lom khom trước những tên tàu lạ và khúm núm rằng:
“Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân đội Nhân dân VN luôn trân trọng biết ơn Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân giải phóng nhân dân TQ”, VN luôn “coi trọng phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị tốt đẹp và bền vững lâu dài với TQ”, thì “bạn có cơ hội lên làm Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng”. Rồi bạn cũng sẽ trở thành tân UV BCT của đảng nếu “ghế mới chưa kịp ngồi đã lủi thủi sang Bắc Kinh khấu đầu và lúm khúm với những lời Lê Chiêu Thống”, hoặc “cái ghế Tổng Bí Thư đảng cũng sẽ được xiết bù lon nếu bạn hướng về cung đình phương bắc với những cụm từ trân trọng biết ơn, quan hệ hữu nghị tốt đẹp và bền vững, gia tài để lại cho thế hệ mai sau...”. Nhưng, blogger Vũ Đông Hà lưu ý tiếp:
Nếu bạn treo lên hàng rào kẽm gai tinh thần của Trần Bình Trọng, ý chí của Lý Thường Kiệt, thái độ của Hưng Đạo Vương đối với bá quyền phương Bắc hàng chữ máu “Tàu khựa cút khỏi biển Đông”, bạn sẽ được tập đoàn Lê Chiêu Thống đã, đang và luôn miệt mài học tập gương đạo đức của Trần Dân Tiên, đang khòm lưng đánh vần hàng chữ 16 vàng bốn tốt, ban cho bản án từ 6 đến 8 năm tù ở và 3 năm tù quản chế.
Và nhà báo Vũ Đông Hà khẳng định rằng “ Bản án dành cho Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, nếu nhìn cho kỹ, suy cho sâu, chính là bản án dành cho chế độ”.
Qua bài “ Tiếng nói Uyên, Kha trước toà, lời cảnh tỉnh cuối cùng cho đảng CSVN”, nhà thơ Hoàng Hưng muốn bày tỏ bằng tất cả lòng yêu thương cảm kích, với niềm hứng khởi cùng lòng tin vững chắc, rằng “Phiên toà xử Kha, Uyên là một dấu mốc lịch sử trên con đường đấu tranh dân chủ của VN”. Tác giả nhận thấy:
Lần đầu tiên, những người rất trẻ, một nữ sinh tuổi 21, một thanh niên tuổi 25, thể hiện ý thức chính trị rõ ràng, nhận thức sắc bén, lòng tin vững vàng trong hành động của mình. Những kẻ toan tính hạ thấp, bôi bẩn việc làm yêu nước của Phương Uyên bằng cách gán cho cô động cơ muốn có cái máy ảnh và vài đồng tiền còm… đã thất bại thảm hại. Kể cả một số vị có lòng muốn giảm án cho cô với lý do cô nhẹ dạ, bồng bột, chắc hôm nay thấy chính mình mới bồng bột vì đã đánh giá thấp thế hệ con em. Lần đầu tiên, những lời “nhận tội, xin khoan hồng” quen thuộc đưọc ngụy tạo nhờ thủ đoạn khủng bố cộng với lừa phỉnh đã bị hai con người rất trẻ lật ngược trước pháp đình bằng lời khẳng định đanh thép “tôi không có tội”, hay “chỉ có một tội là yêu nước”.
Và nhà thơ Hoàng Hưng không quên lưu ý rằng “Nếu nhà cầm quyền đã lúng túng và lo sợ vì một tiếng bom Đoàn Văn Vươn - một hành động “tự phát” chỉ vì “con giun xéo lắm cũng quằn”, thì tiếng nói ôn hoà dõng dạc của hai người gái, trai rất trẻ Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên chính là lời cảnh cáo cuối cùng cho chế độ độc tài toàn trị”.
Hối lộ, chuyện đương nhiên tại Việt Nam Friday, May 24, 2013 4:43:44 PM
HÀ NỘI (NV) .- Kết quả khảo sát “Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam 2012” (PAPI 2012) cho thấy,
tại Việt Nam, rất nhiều người vẫn xem hối lộ là chuyện đương nhiên.
Không tin vào những hứa hẹn chống tham nhũng, đa số dân chúng Việt Nam xem hối lộ là chuyện đương nhiên. (Hình: Internet)
Đây là cuộc khảo sát lần thứ hai. Cả hai cuộc khảo sát, thực hiện vào năm 2011 và 2012 được tiến hành dưới sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc.
PAPI 2012 đã phỏng vấn 14,000 người và các câu trả lời của họ cho thấy, hối lộ là chuyện phải chấp nhận, không thể khác, do quá phổ biến nên đã thành bình thường.
Số người tỏ ra đồng tình với nhận định phải hối lộ mới được chăm sóc y tế đã tăng từ 31% vào năm 2011 lên 42% vào năm 2012. Tương tự, số người tỏ ra đồng tình với nhận định phải hối lộ mới được cấp giấy tờ nhà đất đã tăng từ 21% vào năm 2011 lên 32% vào năm 2012. Nói cách khác, tình trạng hối lộ để được việc đã tăng đáng kể.
PAPI 2012 còn cho thấy, có tới 44% số người được hỏi tin là phải hối lộ mới xin được việc làm trong các cơ quan nhà nước. Đáng lưu ý là có tới 75% tin rằng nhà cầm quyền cấp tỉnh, thành phố cùng cho rằng việc xử lý các vụ tham nhũng chưa nghiêm túc. Có thể vì vậy nên khi tham gia PAPI 2012, đa số người được phỏng vấn cho biết họ không muốn tố cáo tham nhũng.
Một điểm đáng chú ý khác là đa số người được phỏng vấn không hài lòng với dịch vụ và thủ tục hành chính công. Lý do chính khiến họ không hài lòng là công chức thiếu tôn trọng dân và kém hiểu biết chuyên môn.
Ông Đặng Ngọc Dinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hỗ trợ Phát triển Cộng đồng, một tổ chức tham gia PAPI 2012, giải thích với VOA về lý do, hối lộ được nhiều người tại Việt Nam xem là chuyện đương nhiên. Theo đó, khi vào bệnh viện, nhiều người đưa phong bì cho bác sĩ để ‘bồi dưỡng’, khi đến một cơ quan nhà nước làm giấy tờ, nhiều người nghĩ tới chuyện ‘bôi trơn’.
Khi có rất nhiều người quan niệm và hành xử như vậy thì điều đó đồng nghĩa với chuyện bộ máy không ‘trơn’. Khi bộ máy bị khô dầu thì ‘bôi trơn’ là một hành động tích cực. Khi người dân không tin vào hiệu quả của việc chống tham nhũng, không hài lòng về thái độ và năng lực của công chức, họ sẽ chấp nhận đưa hối lộ để được việc mà không phải gánh chịu quá nhiều phiền toái.
Cũng nhân dịp công bố PAPI 2012. ông Jairo Acuña Alfaro, Cố vấn chính sách về Cải cách hành chính công và Chống tham nhũng của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại Việt Nam, nhận định, hối lộ, tham nhũng “ảnh hưởng nhiều nhất tới người nghèo”. Với mức thu nhập như hiện nay, việc các gia đình tại Việt Nam phải trả các khoản “chi phí không chính thức” thật sự là một gánh nặng cho họ.
Theo vị cố vấn này, PAPI 2012 cho thấy sự lan tràn của tệ nạn tham nhũng và tham nhũng là một nguồn thu nhập quan trọng cho các viên chức. Muốn chống tham nhũng có hiệu quả, các cơ quan chống tham nhũng của Việt Nam phải được hoạt động độc lập để có thể điều tra tham nhũng một cách khách quan theo nguyên tắc “tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”.
Trong buổi công bố kết quả PAPI 2012, bà Pratibha Mehta, Điều phối viên thường trú của Liên Hiệp Quốc, cho rằng, khi điều kiện kinh tế tốt hơn và học vấn cao hơn, dân chúng thường đòi hỏi nhà nước phải cung cấp dịch vụ hành chính hiệu quả và chất lượng hơn, ít quan liêu hơn và đặc biệt không còn tham nhũng. Suốt quá trình vận động, hướng tới một xã hội thịnh vượng, dân chủ, với nền kinh tế thị trường vững mạnh, hệ thống hành chính của Việt Nam phải giữ vai trò chính trong công cuộc xóa đói giảm nghèo và “chỉ chú trọng tăng trưởng kinh tế thì sẽ không thể đạt được mục tiêu”. (G.Đ)
Tiền đã đổi luật chơi trong đảng
Các nhà quan sát thời sự đều đồng ý rằng Nguyễn Phú Trọng đã bị Nguyễn Tấn Dũng đánh bại thảm thương trong kỳ hội nghị Trung Ương Ðảng Cộng sản vừa qua, họ gọi là “Trung Ương Bẩy,” viết là TW7. Nhưng đằng sau “hiện tượng” đó, có những vấn đề sâu xa hơn, cho thấy trên sân banh chính trị đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay luật chơi đang thay đổi; ngay các cầu thủ cũng không biết họ đang theo “luật chơi” nào.
Nguyễn Tấn Dũng biết sử dụng một thứ luật chơi mới cho nên làm bàn liên tiếp, còn Nguyễn Phú Trọng thì vẫn quen đá theo lối cũ cho nên luôn luôn bị việt vị. Hiện tượng này không phải mới bắt đầu thấy trong TW7 mà đã diễn ra từ năm ngoái. Trong trận đá Hội nghị TW6, Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đồng loạt tấn công với khí thế rất phấn khởi, mà sau cùng Nguyễn Tấn Dũng vẫn không bị lung lay.
Ðối với quý vị không quen theo dõi thời sự, cần phải giải thích thêm vài lời. Hiện nay đảng Cộng sản đang cai trị nước Việt Nam. Có 175 người được gọi là Ban Chấp hành Trung ương Ðảng nắm quyền chọn người vào các chức vụ trong đảng và trong chính phủ. Họ bầu ra một nhóm 14 người gọi là Bộ Chính Trị, trong hội nghị TW7 đầu Tháng Năm 2013 mới bầu thêm hai người nữa thành 16. Ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư, một chức vụ xưa nay vẫn được coi là đứng đầu đảng. Nhưng hai ứng viên ông đề nghị vào Bộ Chính Trị, Nguyễn Bá Thanh và Vương Ðình Huệ đều bị rớt; hai người mới được vô, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân đều thuộc phe Nguyễn Tấn Dũng. Thấy rõ bên nào thắng, bên nào thua.
Ít tiền thì thua?
Ông Nguyễn Phú Trọng đã chuẩn bị cho các ứng viên của mình trong nhiều bước. Thứ nhất là tái lập hai ban chuyên môn của Trung Ương Ðảng đã bị xóa bỏ từ năm 2007, là Ban Kinh Tế và Ban Nội Chính. Sau đó, cử hai người “phe ta” đứng đầu các ban này, tin tưởng rằng đến kỳ họp TW7 hai người đó sẽ được bầu vào Bộ Chính Trị; vì các trưởng ban khác đều được ngồi trong đó cả. Chuẩn bị kỹ như thế mà lại thua, cho nên thất bại của ông Nguyễn Phú Trọng kỳ này càng đau đớn hơn.
Trong lịch sử các đảng Cộng sản, thường thì người làm tổng bí thư nắm toàn quyền cài đặt người vào Bộ Chính Trị, trong ngôn ngữ của họ gọi là “cơ cấu.” Nhà báo Huy Ðức mới kể chuyện hồi Ðỗ Mười là tổng bí thư, ông lần lượt gọi hai người thuộc Bộ Chính Trị tới, nói với mỗi ông rằng: “Kỳ này tôi nghỉ, anh thấy sao?” Ông thứ nhất thật thà hỏi: “Thế ai sẽ thay anh?” Ông thứ hai thì đập tay xuống bàn kêu lên: “Trời ơi, đất nước đang như thế này làm sao anh nghỉ được?” Kết quả, ông thứ nhất bị mất chức, không được Ðỗ Mười cơ cấu cho nữa, còn ông thứ nhì giữ nguyên được ghế ủy viên Bộ Chính Trị.
Thời Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, cho tới Ðỗ Mười chức tổng bí thư trong đảng Cộng sản tương đương với ngôi hoàng đế trong thời quân chủ chuyên chế. Không đoán được ý tổng bí thư là mất chức, có khi còn mất mạng. Ngày nay luật chơi đã thay đổi.
Cái gì đã làm thay đổi luật chơi?
Tiền!
Nói một cách văn hoa, cái làm thay đổi luật chơi trong đảng Cộng sản là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Trong khẩu hiệu này, phần thứ nhất “kinh tế thị trường” sinh ra tiền. Cho dân được phép làm ăn tự do hơn, nhờ thế đô la từ nước ngoài đổ vào nhiều hơn, trước mắt thấy nhiều cơ hội làm tiền hơn. Phần thứ hai “Xã hội Chủ nghĩa” tức là vẫn nắm chặt quyền hành tập trung vào trong tay đảng. Nắm quyền thì khai thác được lòng sợ hãi, dùng đồng tiền thì kích thích lòng tham.
Ngày xưa, thứ năng lượng chính yếu đẩy cho cả guồng máy đảng vận hành là lòng sợ hãi, giống như dùng than đá hay xăng; còn lòng tham đóng vai phụ trợ, giống như dầu nhớt giúp máy chạy êm hơn. Ngày xưa, trên bảo dưới phải nghe, vì chức tổng bí thư nắm được đảng thì nắm quyền điều động cả bộ máy cưỡng chế; ra lệnh cho quân đội, công an, và các tổ chức mật vụ. Ngày nay, các khẩu hiệu và chiêu bài đó phai nhạt dần dần, thần thánh đã hết thiêng. Lòng sợ hãi không còn là năng lượng chính yếu nữa, lòng tham lên ngôi thay thế.
Sau khi Chủ nghĩa Xã hội lại có thêm Kinh tế Thị trường thì hai yếu tố quyền và tiền quyện lại với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, tạo thành một cơ chế vận hành mới điều động cả guồng máy đảng. Quyền chức không, chưa đủ. Người ta cần thứ quyền nào tạo ra được đồng tiền. Hậu quả là, đối với tất cả xã hội bên ngoài thì kẻ nào nắm quyền sẽ có cơ hội kiếm được nhiều tiền. Còn ở bên trong đảng thì chức vụ nào có khả năng chia chác cơ hội kiếm tiền cho người khác thì sẽ được bên dưới kính sợ; đến khi bỏ phiếu, sẽ được người ta theo lời “hướng dẫn.”
Trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, Ðại hội thứ chín, năm 2001 bắt đầu gia đoạn đồng tiền lên ngôi. Ðại hội này chọn một nhân vật lu mờ, không khả năng mà cũng không có cá tính; Nông Ðức Mạnh được bầu lại làm tổng bí thư Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng. Chọn một người như vậy cho lên làm “hoàng đế” cho thấy khuynh hướng giảm bớt sức nặng và vai trò của quyền. Nhưng đại hội đó cũng “xác định đường lối kinh tế là đưa nước ta trở thành nước công nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, vân vân.” Nói đến “phát triển lực lượng sản xuất” tức là mục tiêu kiếm tiền đã được đề cao.
Nông Ðức Mạnh ngồi yên trên cái ghế tổng bí thư suốt 10 năm là giai đoạn “quá độ,” quyền đang giảm giá, tiền dần dần lên ngôi. Kể từ đại hội lần thứ 11 của đảng Cộng sản thì vai trò của đồng tiền nổi bật lên.
Người thấy được sự thay đổi sớm nhất là ông Nguyễn Tấn Dũng. Có lẽ nhờ kinh nghiệm làm ăn với nhiều thứ nghề nghiệp và chức vụ khi còn sống ở miền Nam, Nguyễn Tấn Dũng đã dần dần nhận ra thứ quy luật mới đang thành hình trong cuộc chơi giành quyền hành trong đảng. Nguyễn Tấn Dũng đã nằm trong guồng máy công an, lại từng nắm quyền điều khiển cả Ngân Hàng Trung Ương, cho nên hiểu được cuộc vận hành của cả đồng tiền lẫn bạo lực.
Từ khi làm thủ tướng năm 2006, ông ta đã vận dụng các quy luật mới để củng cố địa vị. Nguyễn Tấn Dũng tập trung quyền điều động các xí nghiệp quốc doanh vào phủ thủ tướng, thay vì chia quyền cho các “bộ chủ quản” theo lối cũ. Từ đó, người đóng vai thủ tướng tạo cơ hội kiếm tiền cho tay chân của mình; phân phát cơ hội kiếm tiền để mua lòng trung thành của đồng đảng. Các ủy viên Trung Ương Ðảng được chia chỗ trong Hội Ðồng Quản Trị của các doanh nghiệp nhà nước. Các chương trình kinh tế đều nhằm tạo cơ hội kiếm tiền cho những thủ túc chứng tỏ lòng trung thành. Khi người dân Việt Nam nhận thấy cả guồng máy cai trị là một mạng lưới tham nhũng chằng chịt liên kết với nhau, người cầm đầu mạng lưới đó là ông thủ tướng.
Nguyễn Phú Trọng không nhìn ra là trên sân banh luật chơi đã thay đổi. Cho nên ra sân hai lần đều thất bại. Năm ngoái, tính lật Nguyễn Tấn Dũng mà không lật được. Năm nay, hai đàn em đều không vào được Bộ Chính Trị. Người Hà Nội vẫn nói Lú như Trọng, nhưng chắc không ai ngờ ông ta lú đến như vậy. Khi đọc diễn văn kết thúc hội nghị Trung Ương 7, ông Nguyễn Phú Trọng phải giới thiệu Bộ Chính Trị có thêm hai ủy viên mới, mà không thèm nhắc đến tên người nào cả. Thái độ đó chỉ cho mọi người thấy là ông quá “cay cú.” Mà cay cú như vậy thì ông sẽ phải tìm cách phản công. Phương pháp phản công duy nhất là thay đổi lại luật chơi. Còn nhiều thứ luật chơi khác có thể thay đổi tình thế. Người Việt mình vẫn nói “Nó lú nhưng chú nó khôn. Nếu ông Nguyễn Phú Trọng không nghĩ ra kế nào thì “các chú” của ông chắc chắn khôn hơn thế nào cũng nghĩ ra!
Bảo Thủ, Cấp Tiến và Trục Lợi Ngô Nhân Dụng
Khi phân tích các cuộc đấu chính trị trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam, người ta hay gắn cho các phe phái những nhãn hiệu như Bảo Thủ, hay Cấp Tiến; hoặc cho là có phe thân Trung Cộng, phe thân Nga, hay muốn ngả sang Mỹ. Phân loại theo cách đó có phần lý thuyết quá, chỉ mô tả các hiện bên ngoài mà không nêu rõ động cơ căn bản của mỗi phe nhóm. Nếu nhìn từ bên trong, sẽ thấy bên Bảo Thủ thì nhấn mạnh tới quyền, bên Cấp Tiến chú trọng đến tiền hơn.
Bản chất những người mang danh hiệu Bảo Thủ là nặng óc giáo điều: Họ lo sợ phải từ bỏ các lý thuyết của Mác-Lênin, sợ mất cái nhãn hiệu “xã hội chủ nghĩa” dù có lúc cũng thú nhận họ chẳng biết nội dung nó là gì. Những người được gọi là Ðổi Mới, là Cấp Tiến, phần lớn là do lối nhìn thực tế thúc đẩy. Có thay đổi thì mới tạo cơ hội làm giầu bằng “kinh tế thị trường.” Ngay một lãnh tụ bảo thủ nhất là Ðỗ Mười cũng từng chúc Tết cả nước bằng một câu: “Chúc đồng bào làm ăn phát tài.”
Phe giáo điều coi việc bảo vệ quyền là quan trọng nhất; phải dùng các khẩu hiệu trong chủ nghĩa, lý thuyết để biện minh cho quyền của đảng, vì đảng “đi đúng hướng của lịch sử.” Phe thực tế thì trước hết nhắm làm sao có tiền.
Nhiều người thực tâm muốn đời sống dân chúng khá giả hơn; mà họ thấy chỉ có một cách là phải thay đổi chế độ nhiều hơn nữa, vì thế được gọi là Cấp Tiến.
Nhưng trong cả hai phe đều có một “thành phần thứ ba” chen vào, đó là những người “thực tế nhất.” Nhóm này có thể tuyên bố theo cả hai giọng, nói giọng Bảo Thủ được, nói giọng Cấp Tiến cũng được, miễn là đạt mục đích sau cùng của họ, là trục lợi. Người ta còn gọi đám này là theo ‘chủ nghĩa cơ hội.” Thành ra, trên sân đấu chính trị nội bộ đảng Cộng sản có tới ba đội banh. Hai đội Bảo Thủ và Cấp Tiến đá với nhau, nhóm nào kéo được thành phần Trục Lợi vào đông hơn thì cán cân sẽ ngả về phía đó. Trong hai kỳ hội nghị Trung Ương Ðảng 6 và 7 vừa qua, phe Bảo Thủ của Nguyễn Phú Trọng thua nặng vì thành phần Trục Lợi ngả sang Nguyễn Tấn Dũng; vì phe đó mới có khả năng ban phát cơ hội kiếm tiền. Khi Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ tướng thì “Ban Kinh Tế” trong Trung Ương Ðảng cũng bị giải tán; quyền lực kinh tế được thu về một mối. Nhưng nếu gọi phe nhóm Nguyễn Tấn Dũng là Cấp Tiến thì cũng sai, vì mục đích chính của họ cũng chỉ là Trục Lợi.
Xưa nay, trừ các bậc chân tu rất hiếm hoi, Danh, Lợi và Quyền vẫn là những động cơ thúc đẩy hành vi của con người, nhất là các nhà chính trị. Nhưng họ cần biện minh cho các động cơ thầm kín của mình, cho nên ngoài việc sử dụng guồng máy đàn áp còn phải nói tới những mục đích hoặc lý tưởng cao xa hơn. Phe Bảo Thủ khoác bộ mặt giáo điều cũng vì họ cần nhân danh “Chủ nghĩa Mác-Lênin,” cần nhắc đi nhắc lại nhãn hiệu này. Ðể chứng tỏ họ có quyền nắm đầu người khác vì vẫn “mang sứ mệnh lịch sử.” Nửa thế kỷ trước đây, các tiền nhân của họ đã làm chết hàng triệu, hàng chục triệu người dân Nga, dân Trung Quốc với các chính sách kinh tế tàn bạo và ngu ngốc; tất cả đã được biện minh bằng các lý thuyết do các ông Karl Marx và Lenin “soi sáng.” Ngày nay, phe Bảo Thủ ở Việt Nam vẫn dùng các khẩu hiệu đó để chứng tỏ Ðảng Cộng sản chỉ tiếp tục “sứ mạng” do “lịch sử trao phó” từ hồi nào không biết. Chủ nghĩa Mác-Lênin bảo đảm uy tín của nhóm người cầm quyền, nói văn hoa hơn thì gọi là “tính chính thống” (legitimacy) của chế độ.
Còn phe Cấp Tiến, họ lấy gì để biện minh cho độc quyền thống trị của đảng? Bây giờ mà còn nói đến các chủ nghĩa xưa cũ thì dân không ai tin nữa. Phải viện ra những điều thực tế hơn. Như khi hô khẩu hiệu “Dân giầu, nước mạnh, xã hội văn minh;” nói theo lối chuyên môn gọi là dùng “hiệu quả kinh tế” để biện minh việc cầm quyền. Nếu được đủ ăn, kinh tế phát triển đều đặn, thì chắc dân cũng thỏa mãn, không ai đặt vấn đề lý thuyết về “tính chính thống” nữa.
Còn nhóm thứ ba, phái Trục Lợi, họ có thể sử dụng các khẩu hiệu của cả hai phe; miễn sao bảo vệ và tạo thêm cơ hội làm giầu. Họ sẵn sàng nói như phe Cấp Tiến, vì khi kinh tế được cởi trói thì chính họ là những người được tư bản hóa đầu tiên. Nếu việc cởi trói tiếp tục mà họ thấy có thể mở thêm cửa cho họ làm giầu, thì họ sẽ ủng hộ.
Nhưng nhóm tư bản Trục Lợi khác với các nhà kinh doanh khai sơn phá thạch ở các nước tư bản thật sự; những người đó thường tự bỏ sức, bỏ công phu và sáng kiến tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới. Những đại gia đỏ khác, vì họ không cần đóng góp gì cho đời sống kinh tế quốc dân; chìa khóa thành công (kiếm tiền) của họ là móc ngoặc, quan hệ. Cho nên các đại gia sẽ không còn ủng hộ những thay đổi mới, khi nào họ thấy sẽ mở cửa cho những người khác có thể bước vào cạnh tranh với họ. Khi đó, nhóm Trục Lợi sẽ nói năng giống như những người Bảo Thủ.
Về mặt đối ngoại, phe Bảo Thủ tự nhiên phải dựa trên đảng Cộng sản Trung Hoa. Bởi vì Trung Quốc là quốc gia lớn duy nhất trên thế giới vẫn còn đề cao chủ nghĩa cộng sản. Dựa vào Trung Cộng, phe Bảo Thủ có thể thừa hưởng uy tín của “mô hình Trung Quốc.” Nhưng phe Cấp Tiến cũng vẫn phải chiều theo Trung Cộng, vì đó là quốc gia duy nhất có khả năng gây rối, phá hoại bất cứ chính quyền Việt Nam nào. Họ có một mạng lưới tình báo lan rộng và xâm nhập sâu nhất; một mạng lưới bao bọc bằng lợi lộc trùm lên nhiều người nhất. Như một anh con trai của một ông bộ trưởng Việt Nam đã khoe rằng anh được mời làm phó tổng giám đốc một công ty bên Trung Quốc, mà chẳng phải làm gì cả. Anh muốn đi Trung Quốc lúc nào cũng được; ở bên đó có nhà, có xe đi, không ai bắt đến sở, tự do muốn làm gì thì làm. Nếu một ông con trai của một vị bộ trưởng cũng được ưu ái như thế, thì không biết còn bao nhiêu người Việt khác được Trung Cộng tặng những bổng lộc lớn lao hơn? Những người đó có thể thuộc cả ba thành phần Bảo Thủ, Cấp Tiến, và Trục Lợi.
Cho nên phân chia các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam ra hai phe, phe thân Trung Quốc và phe chống, là điều không cần thiết. Với mỗi cá nhân thì chắc không có người Việt nào muốn thân Trung Quốc. Nhưng khi hành động cụ thể thì không một người nào dám chống Trung Quốc.
Cuộc đấu Dũng-Trọng đã trở thành tranh chấp giữa hai cá nhân; không còn mang tính phe phái, không có thể phân biệt bằng đường lối hay khuynh hướng khác nhau nữa. Nhiều người cho đây là cuộc đấu giữa hai tổ chức, là Ðảng và Nhà nước. Nhưng đó chỉ là sự phân biệt về hình thức; vì Nguyễn Phú Trọng đứng đầu Ðảng, Nguyễn Tấn Dũng nắm Nhà nước. Nhưng tất cả 175 ủy viên trung ương dự hội nghị cũng chính là đảng. Họ vẫn lo bảo vệ đảng; vì nếu không còn đảng thì họ mất địa vị quyết định số phận của 90 triệu người dân. Phe đa số trong hội nghị này vừa là đảng, vừa là nhà nước; họ bỏ phiếu theo Nguyễn Tấn Dũng vì thấy đó là cách có lợi nhất, chứ không phải vì họ theo nhà nước, chống đảng.
Từ lâu nay phe Bảo Thủ trong đảng phải tỏ ra thân thiện với Trung Quốc hơn; vì đó là chỗ dựa về chủ nghĩa, khi mà họ còn phải đề cao giáo điều để biện minh cho quyền hành của đảng. Ông Nguyễn Phú Trọng vẫn được coi là người cầm cờ trong nhóm này. Nhưng nhưng chắc Cộng sản Trung Hoa cũng không lo lắng gì khi Nguyễn Phú Trọng thua Nguyễn Tấn Dũng. Bởi vì họ giống như một chủ sòng bài. Các con bạc vào sòng bài sát phạt nhau, có bên thắng, bên thua, nhưng chủ sòng lúc nào cũng thu tiền.
Ðiều có thể khiến Trung Cộng phải quan tâm là chính phe được gọi bảo thủ có thể bắt đầu tự tách họ ra khỏi nhãn hiệu cũ. Một nhà quan sát trong nước đã nhận xét: Bài diễn văn bế mạc hội nghị Trung Ương 7 của ông Nguyễn Phú Trọng dài 4812 chữ nhưng không thấy một chữ nào nhắc đến Chủ nghĩa Xã hội, không nhắc tới một chữ Mác-Lê nào. Ðiều này cho thấy cầu thủ Trọng sẵn sàng thay đổi nhãn hiệu. Hay là ông ta cũng muốn thay đổi luật chơi trên sân banh? Trong thời gian tới chúng ta phải theo dõi mới thấy được kịch bản mới sẽ diễn ra thế nào.
Bắt blogger Trương Duy Nhất vì đụng “lấy phiếu tín nhiệm” Tuesday, May 28, 2013 3:50:01 PM
HÀ NỘI (NV) .- Có một số dấu hiệu cho thấy blogger Trương Duy Nhất bị bắt,
vì tổ chức thăm dò mức độ tín nhiệm của công chúng đối với lãnh đạo Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ CSVN.
Blogger Trương Duy Nhất được an ninh CSVN đưa ra phi trường Đà Nẵng để di lý về Hà Nội. Tuy bị “bắt khẩn cấp” nhưng blogger này
không bị còng tay. Phải chăng đó là thỏa thuận để Trương Duy Nhất đóng blog trước khi rời khỏi nhà vào trại giam. (Hình: Tuổi Trẻ)
Blogger Trương Duy Nhất, 49 tuổi, từng là phóng viên của báo Công an Quảng Nam – Đà Nẵng, phóng viên thường trú của báo Đại Đoàn kết tại miền Trung, cách nay khoảng ba năm, tuyên bố rời bỏ làng báo Việt Nam để dành thời gian cho việc viết blog.
Ông bị Cục An ninh Điều tra của Công an CSVN cho người từ Hà Nội tới Đà Nẵng “bắt khẩn cấp” hôm Thứ Bảy 26 tháng 5-2013, với cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước Việt Nam, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.
Vụ khởi tố, “bắt khẩn cấp” blogger Trương Duy Nhất đang là một trong những đề tài được bàn luận sôi nổi trên các diễn đàn điện tử, trang blog và facebook.
Đến nay thì người ta tin rằng blogger này bị bắt vì đã kêu gọi độc giả của trang blog “Một góc nhìn khác”, tham gia bày tỏ mức độ tín nhiệm đối với lãnh đạo Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ CSVN nhằm “so sánh sự tín nhiệm trong Quốc hội với sự tín nhiệm ngoài dân chúng”.
Hồi cuối năm ngoái, Quốc hội CSVN tuyên bố sẽ tổ chức “lấy phiếu tín nhiệm” và “bỏ phiếu tín nhiệm” hàng năm đối với 49 nhân vật là lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo Quốc hội, Thủ tướng và các thành viên trong nội các. Nếu nhân vật nào bị 2/3 đại biểu Quốc hội xác định là “tín nhiệm thấp” thì Quốc hội CSVN sẽ tiến hành “bỏ phiếu tín nhiệm” để quyết định có miễn nhiệm hay không.
Nhân đó, blogger Trương Duy Nhất kêu gọi độc giả bày tỏ mức độ tín nhiệm đối với 12/49 nhân vật mà Quốc hội CSVN sắp “lấy phiếu tín nhiệm”. Kết quả bày tỏ mức độ tín nhiệm trên trang blog “Một góc nhìn khác” thể hiện trong bảng bên dưới:
Kết quả thăm dò dư luận do blogger Trương Duy Nhất thực hiện.
Theo kết quả “lấy phiếu tín nhiệm” trong dân, do blogger Trương Duy Nhất thực hiện trên blog “Một Góc Nhìn Khác” thì ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch Nhà nước CSVN dẫn đầu cả về số phiếu bầu (958) lẫn mức độ “Tín nhiệm cao” (13%). Ông Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng CSVN xếp thứ nhì về số phiếu bầu (820) và dẫn đầu về mức độ… “Không tín nhiệm” (76%).
Cũng theo kết quả này, trừ Chủ tịch Nhà nước và một nữ phó Chủ tịch Quốc hội, mười nhân vật còn lại đều cần được “bò phiếu tín nhiệm” để quyết định có miễn nhiệm hay không.
Trân Internet, một blogger bình luận: “Không biết ‘Bỏ phiếu cùng Quốc hội’ của blogger Trương Duy Nhất và kết quả thu thập được từ ‘Thùng phiếu điện tử’ do blogger này công bố có tác động gì tới chính trường hay không (?) nhưng mới đây, Quốc hội loan báo sẽ không cho báo giới tham dự buổi báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc chuẩn bị tổ chức ‘lấy phiếu tín nhiệm’, ‘bỏ phiếu tín nhiệm’ và các phiên thảo luận về vấn đề này”.
Còn vài lý do khác khiến nhiều người tin rằng, blogger Trương Duy Nhất bị bắt bởi đã tổ chức thăm dò mức độ tín nhiệm của dân chúng đối với lãnh đạo Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ CSVN.
Thứ nhất, blog “Một Góc Nhìn Khác” của blogger Trương Duy Nhất bị đóng ngay vào thời điểm blogger này bị bắt. Điều chưa từng có tiền lệ. Thứ hai, Công an CSVN đã vội vàng bắt Trương Duy Nhất theo hình thức “bắt khẩn cấp”, dù rằng điều đó trái với quy định của Luật Tố tụng Hình sự ở Việt Nam về trường hợp thế nào thì người ta bị bắt khẩn cấp. (G.Đ)
“Đúng như dự kiến, chỉ ít lâu sau khi Việt Nam lên tiếng chính thức phản đối, vào hôm qua 28/05/2013, Bắc Kinh đã bác bỏ lời tố cáo của Hà Nội, theo đó tàu Trung Quốc đã đâm vỡ tàu cá của ngư dân Việt Nam hoạt động tại vùng quần đảo Hoàng Sa. Không những thế Bắc Kinh còn tố cáo ngược lại là chính tàu cá Việt Nam đã vi phạm vùng biển của Trung Quốc. Phản ứng của Trung Quốc đã bị dư luận báo chí Việt Nam cực lực đả kích.
Theo Tân Hoa Xã, trong buổi họp báo thường kỳ, ông Hồng Lỗi, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc xác định rằng: «Các cáo buộc của Việt Nam hoàn toàn sai với thực tế».
Đối với Trung Quốc, lỗi hoàn toàn về phía Việt Nam vì tàu cá Việt Nam «đã xâm nhập bất hợp pháp vùng quần đảo Tây Sa của Trung Quốc, vi phạm chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc, vi phạm luật lệ Trung Quốc», do đó các cơ quan chức năng của Trung Quốc có quyền thực hiện các biện pháp thực thi luật pháp”. Tây Sa là tên Trung Quốc đặt cho quần đảo Hoàng Sa mà họ đã dùng võ lực chiếm toàn bộ vào năm 1974.
Bắc Kinh đã đưa ra các tuyên bố nói trên sau khi Bộ Ngoại giao Việt Nam lên tiếng phản đối sự kiện tàu Trung Quốc mới đây đã đâm vào một tàu cá Việt Nam đang hoạt động trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Việt Nam cũng yêu cầu Trung Quốc xử lý nghiêm khắc hành vi của tàu Trung Quốc.
Theo thông tin từ phía Việt Nam, ngày 20/05/2013, tàu đánh cá mang số hiệu QNg 90917 TS ở Quảng Ngãi cùng 15 ngư dân đang đánh bắt tại một khu vực hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, thì bị một chiếc tàu Trung Quốc mang số hiệu 264 đã đâm thẳng vào, vừa làm mạn tàu Việt Nam bị hỏng, vừa đe dọa tính mạng của người trên tàu...
Bản tin VnMedia cho thấy một hình ảnh khác, mà báo này gọi là “Ấn Độ không để Trung Quốc yên tại Biển Đông?”
Bản tin ngày 30-5-2013 viết:
“Ấn Độ đã phái 4 tàu chiến, trong đó có một tàu khu trục tiên phong và một tàu khu trục tàng hình, đi thực hiện nhiệm vụ triển khai dài ngày ngoài khơi xa, từ Eo biển chiến lược Malacca đến Malaysia, Việt Nam và Philippines. Trong hành trình này, các tàu chiến của Ấn Độ sẽ đi qua những vùng tranh chấp nóng bỏng ở Biển Đông – nơi Trung Quốc đang có các cuộc đối đầu căng thẳng với một loạt nước láng giềng...” (hết trích)
Như thế để làm gì? Tàu chiến Ấn Độ có tính giao chiến với tàu chiến Hoa Lục không?
Trong khi đó, bản tin VOA từ Washington DC cho biết, một học giả Trung Quốc bày tỏ quan điểm rằng Bắc Kinh nên tấn công khi cần thiết để giải quyết các tranh chấp lãnh hải trên Biển Nam Trung Hoa, Việt Nam gọi là Biển Đông, mà các nước khác đang chiếm bất hợp pháp.
Bản tin VOA viết:
“Thông tấn xã Đài Loan CNA hôm 28 tháng 5 trích lời Giáo sư Hàn Húc Đông của đại học Quốc phòng Trung Quốc trong một cuộc phỏng vấn mới đây với một đài phát thanh ở Thượng Hải nói rằng rất khó giải quyết các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực thông qua quyền lực mềm, như “vận động ngoại giao,” mà thay vào đó Bắc Kinh nên "tấn công bất cứ lúc nào cần thiết đối với bất kỳ nỗ lực nào của các nước khác nhằm kiểm soát các đảo nhỏ trên Biển Đông."
Ngoại giao chỉ phát huy tác dụng khi có quân đội đứng sau," học giả quốc phòng này nói, và đặt câu hỏi tại sao Bắc Kinh lại không có ngay hành động quân sự khi mà bãi Cỏ Mây và bãi cạn Scarborough thuộc chủ quyền của Trung Quốc...”(hết trích)
Đánh luôn, khỏi đàm?
Tuy nhiên, có một khía cạnh khác cần cảnh giác: tất cả các cơ sở kinh doanh ngoaị quốc vùng ven biển cần phải bị nghi ngờ có thể sẽ trở thành ngọn hải đăng cho các cuộc đổ bộ ven biển VN tương lai, khi quân đội TQ hung hăng dùng vũ lực.
Lý do nói thế, vì có một công ty dầu khí Thái Lan dự tính bơm 27 tỷ USD vaà làm nhà máy lọc dầu ở Bình Định, một nơi ven biển.
Không bao giờ quên anh Trà Khan
Ðêm nay, mưa rơi kéo dài, tuy không lớn, nhưng tiếng mưa đều đều trên mái hiên nhà, gian phòng nơi tôi ngồi trở nên hắt hiu vắng lạnh.
Tiếng nhạc nhà ai bên hàng xóm đã từng thức khuya hằng đêm, như vô tình lọt qua khe hở nơi tôi ngồi, một thứ âm thanh như nhắc nhở người bỏ nước ra đi, đừng bao giờ quên người chiến sĩ đã nằm xuống năm xưa “...Tôi nhớ tên anh như nhớ trông ai, tôi nhớ tên anh muôn kiếp không phai,... Tôi nhớ tên anh vào nghìn đời sau còn nhớ...” Tiếng nhạc lời ca trầm bổng tưởng như tiếng lòng của hồn thiêng sông núi vọng lên từ lòng đất mẹ, tâm tư tôi như cuốn trôi theo dòng nhạc buồn gục đầu trong đêm vắng ấy. Tôi có cảm nghĩ giấy bút cũng buồn theo!
Tôi viết những dòng cảm tác này, trên một đất khách lạc loài, cách quê mẹ nghìn trùng xa thẳm. Nhưng! không vì nghìn trùng xa thẳm ấy, mà “cách mặt xa lòng.” Song! Trong tôi, vẫn da diết nhớ về quê mẹ, như một trẻ thơ vừa mới bỏ vú mẹ hôm qua.
Bởi vì tôi không phải là rêu phong gỗ đá, mà trong tôi đang chan chứa tràn đầy tình yêu quê hương xứ sở, trong đó có tình người chiến hữu của tôi năm xưa.
Với tình yêu thiêng liêng ấy, vì nó không phải là một thứ ân tình “mâm cao cổ đầy” để đãi thực khách, một khi đã “hết xôi thì rồi việc.” Cũng vì thế, Lacordaire nói rằng: “Tình yêu quê hương nảy sinh trong lòng người, nó là tâm tình sâu thẳm và được nuôi dưỡng bằng lịch sử của quá khứ và kỷ niệm của cuộc sống cá nhân, nơi đó tập trung những gì ta đã thấy, ta đã làm, và ta đã sống từ những ngày lành của tuổi ấu thơ, đến những xao động của thời lão thành, và viễn tượng của mồ mả ông cha.”
Cuộc chiến Nam Bắc đã chấm dứt từ lâu! Một thứ an bình trong đau khổ của kẻ mất quê hương, những khăn sô của thiếu phụ vẫn còn đó, những anh em thiếu chân, cụt tay, đui mù vẫn còn lê lết bên lề đường xin ăn, làm sao tôi quên được, vì họ là những chiến binh cùng tôi một chiến tuyến, và cùng tôi có chung một ý thức hệ!
Vì thế tôi không thể vui, một khi quê hương đã mất, nhạc buồn nói về đời lính, là niềm xúc cảm vô biên, bằng những gợi nhớ, gợi thương, một khi bắt gặp những lời ca tiếng hát “người tình không chân dung” “bây giờ anh ở đâu” hay “tấm thẻ bài mang tên anh” v.v... thì môi tôi thiếu hẳn một nụ cười, vì nụ cười chỉ là giọt nước mắt khô không lệ!
Những bước chân ngày hai buổi trên lối đi về, tôi đếm bước bằng những ngày tàn mà nghe hồn nhỏ lệ! Trên miền đất tạm dung, nơi đây nơi đó, tôi vẫn thấy cô đơn, một thứ cô đơn lưu đày và mất mát miên viễn, vì nó không phải là nơi tôi mở mắt chào đời. Cho dầu, nơi tôi đang ở là một đất nước sang giàu, rộn tiếng hát câu cười, nhiều niềm vui giải trí. Nhưng không đánh đổi được cảm xúc nhớ thương, mỗi khi nghĩ về quê mẹ “ruột đau chín chiều.”
Tháng Tư lại về trên đất khách, là nỗi buồn của kẻ mất quê hương. Tôi nhắm mắt để cố quên đời chiến sĩ. Nhưng cố quên lòng lại càng nhớ thêm, đó là điều ngang trái nhất trong tôi.
Ba mươi tám năm trôi qua. Và đây, cũng là ngày giỗ thứ ba mươi tám, nơi mà anh đã nằm xuống!
Mau quá anh nhỉ! một nén hương xưa không còn đâu nữa! vì nó đã tan biến theo mây khói và đã trở thành băng giá. Hơn nữa, nó còn lạnh lùng như tảng băng ở miền Bắc Cực vậy!
Nhưng! riêng tôi! Lúc nào, trong mọi lúc, mọi nơi, và mọi hoàn cảnh, dẫu phải vất vả lo cho nghiệp sống nơi chính mình. Nhưng trong tôi, lúc nào cũng còn tồn tại một nén hương lòng ngầm chảy mãi trong tim, như một lời tri ân mãi nhớ không nguôi ơn anh! và các anh đã vì nước quên mình!
Ngày đau thương trọng đại, khi nước nhà xóa sổ, lại có những người chiến sĩ hào hùng của QLVNCH vì đại nghĩa quên mình, để cứu vớt cho những người còn sống một niềm vinh dự to lớn, là khỏi bị ám ảnh tủi nhục “hàng thần lơ láo, phận mình ra chi” đó là những vị tướng lãnh, biết chọn đến cái chết cao cả “chết vinh hơn sống nhục.”
Tôi là một người lính, như mọi người lính trận bình thường của QLVNCH. Nhưng cho dầu giấy đã rách nhưng vẫn giữ lấy lề, và không để cho “giậu đổ bìm leo” như lời nói người xưa. Vả cũng đừng để một ai đó bóp méo sự thật, ở những người lính VNCH đã nằm xuống.
Lúc nhớ anh, tôi thường thuộc nằm lòng bài thơ “Anh hùng vô danh” của tác giả Ðằng Phương, cho dù vô danh hay hữu danh, các anh cũng đã giữ vững được thế đứng của chính mình. Vì nước quên mình “nước còn thì còn tất cả” nước mất bản thân theo nước mà mất. Toàn dân Miền Nam Việt Nam chân chính nghiêng mình, và muôn đời tôn vinh và thương kính các anh!
Thời gian trôi qua, năm tháng trôi theo. Quá khứ lui dần vào quá khứ. Nhưng! dư âm vang vọng như một Tháng Tư 75 vẫn còn lảng vảng đâu đây.
Những lời hịch truyền xuống từ dưới trướng các anh, là một lời lệnh “Phép Công Là Trọng Niềm Tây Sá Nào.” Kể từ đó, từng sư đoàn đến sư đoàn, không chậm trễ một phút giây, nhất tề tung quân diệt loài quỷ ác, bảo vệ từng tất đất của đất mẹ, mà tổ tiên nghìn đời có công dựng nước và giữ nước với câu nói “nếu ngươi lấy một tất đất của thánh tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải bị tru di.”
Trên chiến trường bốn vùng chiến thuật, từ Bình Long Anh Dũng, Kom Tum Kiêu Hùng, đến Quảng Trị Bách Chiến Bách Thắng, nơi nào cũng có dấu chân các anh. Chiến trường rực màu khói lửa, những người lính dưới trướng các anh không lùi bước trước họng súng của kẻ thù.
Chiến công hiển hách, báo cáo dồn dập đến tận Bản Doanh Hành Quân Các Anh, đã làm cho Quân Dân Miền Nam nức lòng tin tưởng vào thế tất thắng cuối cùng của người lính QLVNCH.
Nhưng cô đơn và đau đớn thay! Tôi chẳng biết chọn một lời lẽ nào để diễn tả đúng với niềm đau năm tháng ấy. Một khi phải “giã từ vũ khí” cũng là lúc người lính VNCH nhìn súng súng thẹn! nhìn gươm, gươm xấu hổ!
Nhưng! Người lính thua trận, cho dầu đã hụt hẫng thế đứng, nhưng vẫn nghiêng về một phía chinh nghĩa, dù vinh hay nhục nhất thiết không sống chung và đi chung cùng loài ác quỷ.
Sự cô đơn của người lính, là mang theo một thứ mặt cảm chán chường, không còn dám nhìn thẳng, sống trong tâm trạng như người “lạ mặt,” trên quê mẹ, cũng như trên đất nước“lạ mặt lạ người.” Mặc dầu đó là đất nước của mình và là những người thân của chính mình. Nhưng! họ nhìn người lính thua trận, như nhìn người không quen. Cho dầu, mới ngày hôm qua còn chơi bời quyến luyến.
Hôm nay! Mùa Xuân trên miền đất lưu vong đã bắt đầu. Tôi miên ngẫm đến ngày giỗ của VNCH. Ngày của Tổ Quốc Vấn Khăn Tang! Ngày của Quân Dân Miền Nam Việt Nam oai hùng bức tử. Ngày của các bọn thế lực “Ðồng Chí Ngoại Lai,” sau những ngoắt ngoéo về chính trị, bọn chúng cùng nhau manh tâm bán đứng Miền Nam Việt Nam cho giặc phương bắc. Và cũng là ngày người lính VNCH bị trói tay cột chân bởi người Ðồng Minh Mỹ. Họ đã phản bội không báo trước, thật đáng ghê tởm.
Người lính VNCH không còn một viên đạn diệt thù. Không còn một trái hỏa châu soi sáng!
Chúng tôi cần soi sáng! Soi sáng để nhận diện rõ bộ mặt xảo trá, lật lọng gian manh của kẻ thù. Bọn chúng vẫn dùng cái “điệp khúc đường xưa lối cũ” Từ Mậu Thân lật lọng cho đến Hiệp Ðịnh Pari phản bội. Và lẫn ngầm cái hỗ trợ nhịp nhàng cho kẻ thù phương Bắc, bởi người bạn đồng minh “cốt lõi” trắng trợn phản bội “khi xanh như lá lúc bạc hơn vôi.”
30 tháng 4! Ngày giỗ! Ngày giỗ của bao chiến sĩ hào hùng của QLVNCH đã ngã xuống trên đất mẹ. Máu xương của các anh đã nhuộm thắm trên nương khoai, ruộng vườn, từ bìa rừng nầy đến đồi cao dốc thẳm nọ, nơi nào cũng có in chiến tích hiển hách và máu xương của các anh, cho Miền Nam được phú cường, cho người người được ấm no hạnh phúc.
Nhưng! Hỡi anh! Trách người một, trách ta mười, bởi vì ta quá tin lời ở người bạn đồng minh “chung thủy” “chung tình,” “chung sức.” Nên giờ thì “nghĩ mình, mình lại thương mình bấy nhiêu.”
Tiếc thay cho cuộc chiến kéo dài trên 20 năm, đã mang lại cho người lính VNCH những gì? Tưởng không đơn giản, như lời một người tình nói với người yêu “ngủ đi em mộng bình thường.” Không ai có thể dại dột tin đến thế. Thế mà! Chúng nó gói trọn “Ta trong Ta,” và bỏ Ta vào trong cái gọi là “Giấc Ngủ Nam Kha” khi bừng mắt dậy thấy mình tay không.
“Không Bao Giờ Quên Anh” bằng những lời tâm sự với những Anh Hồn Vị Quốc Vong Thân. Như một lời tình buồn ngắn nhất cũng là lời dài nhất, mà trong ba mươi tám năm qua, người lính sống còn trong cuộc chiến, đã chưa có dịp thực hiện những điều thiết thực, để tưởng nhớ đến người lính đã nằm xuống, ở giờ thứ 25 của cuộc chiến 75.
Và đã 20 năm, lạc bước lưu đày. Lần đầu tiên tôi đến thăm thủ đô nước Mỹ! Như để trắc nghiệm lại lòng mình, là nơi chốn ấy có gì đẹp lắm không? đã làm cho thiên hạ trên thế gian này, thường ca tụng không ngớt lời về nước Mỹ, là nơi thiên đường tuyệt diệu!
Ðứng trước tòa Bạch Ốc! Hận lòng trai, tim như hụt hẫng nhịp đập. Tôi tự cảm thấy mình xấu hổ vì bị mang nỗi nhục mất nước, nên không lấy gì làm vui! và cũng không lấy gì làm “mặn mòi” cho lắm.
Tiếp nối những suy nghĩ, đã kéo tôi đến kết luận, như một “định đề” khá “mỉa mai” vì cảnh vật nơi này không “đeo sầu,” song lòng người lính năm xưa “đeo sầu” thế nên“người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.”
Và hơn thế nữa, nơi đây đã gợi cho tôi “cái quá khứ” “nhiều đắng lắm cay” cho dân tộc tôi, và cho đất nước tôi, trong một hoàn cảnh đầy nghiệt ngã “gừng cay, muối mặn” một khi gợi nhớ đến, đã làm môi tôi mặn, mắt tôi cay. Vì thế, tôi không nhìn được cái đẹp hùng vĩ ở nơi này, chỉ thấy tâm tư mình ray rứt bằng những mất mát đắng cay, những tang thương đổ nát.
Thì liền sau đó! Cuộn phim dĩ vãng năm xưa từ từ quay thật chậm trước mặt tôi, như một vết nhơ hận lòng. Dư âm tiếng nói ngày ấy còn vang vọng đâu đây. Tổng Thống Kennedy nói gì và sau đó TT Johnson hứa gì, rồi Bộ Trưởng Quốc Phòng Mc Namara đến Sài Gòn xác nhận lời cam kết ra sao, và liền sau đó TT Nixon hành động ra sao và làm gì?
Thế rồi! Ðã đến lúc gừng không còn cay, muối đã hết mặn, các ông đành bỏ tôi! đưa Miền Nam đến cảnh nước mất nhà tan!
Thưa anh, người đã hy sinh trong cuộc chiến 75! Cuộc chiến đã tàn. Nhưng dư âm vẫn còn đó! Mặc dầu tóc đầu chúng tôi nay đã bạc. Nhưng, lòng chúng tôi không bạc như tuyết, không trắng như vôi! Khi nghĩ về đất nước, nhớ đến các anh! một xót xa trên chót vót của xót xa vô cùng tận.
Những lời này về anh, và tất cả cho các anh! Những người chiến sĩ thân yêu đã vì nước quên mình!
Khi “Màu Cờ Vàng” đã hóa thành “Màu Cờ Trắng” lệnh từ Dinh Ðộc Lập truyền ra.
Rồi sau đó, biểu tượng hào hùng của người lính VNCH, là những vị tướng: Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ và Phạm Văn Phú. Các ngài đã hiên ngang đạp lên lệnh đầu hàng, lấy tự sát làm cứu cánh cho chính mình là vĩnh viễn ra đi, nước mất là mất theo nước, nhất định không hàng giặc.
Lẫm liệt thay! Hiển hách thay! “Hãy chém đầu thần rồi sẽ hàng” của một Trần Thủ Ðộ trên hai trăm năm trước, vẫn còn in bóng trong tim các ngài.
Ðất nước rơi vào tay giặc thù, ngôi vị của các ngài, là lấy sự tận trung để đền đáp Sơn Hà Xã Tắc, lấy sự tận hiếu đễ đền đáp công ơn thê nhi gia tộc.
Ðược tin buồn các ngài tuẫn tiết, theo gương trung liệt tiền nhân, đã là lúc “máu chảy ruột mềm. Toàn Quân Dân Cán Chính Miền Nam khi nghe hung tin, tim như rạn vỡ, bàng hoàng như trong cơn chiêm bao. Thương nhớ đến các ngài, thương nhớ nhất đời!
“ống Vi Tướng, Tử Vi Thần, Anh Hùng Tử Khí Thiên Bất Tử.” Các ngài đã trở thành vị thánh thời đại 75, của một Võ Tánh, của Ngô Tùng Châu, của Hoàng Diệu, của Nguyễn Tri Phương v.v...
Bại trận là nhục. Ðầu hạng còn nhục nhã hơn nữa. Nhục mất nước! Và kéo theo biết bao nhiêu điều sỉ nhục! Nhục không dám chết! Nhục không chết được!
Nhưng thưa các ngài! Chúng tôi biết sống là nhục, nhưng phải sống để chịu nhục! Còn hơn là phải vào luồn ra cúi, tìm chút “công thừa việc bẩn” từ kẻ thắng ban cho.
Rồi mai này, bảng vàng bia đá sẽ khắc tên các ngài. Tên các ngài sẽ ghi đậm nét trên trang sử Việt. Các ngài mất đi đã làm rạng tiết nghìn thu cho cháu con mai hậu muôn đời tôn thờ kính phục. Tên các ngài sẽ được đời lưu danh thiên cổ. Chúng tôi mãi nhớ các ngài, cho dù ở bất cứ không gian và thời gian nào.
Các ngài tuẫn tiết không phải ở nơi chiến địa hiểm nghèo, mà ở trên cái bến cuối cùng của cuộc sống.
Các ngài nằm xuống cho hận thù vào lãng quên, cho hậu thế tôn vinh nhớ đời. Cái chết hiên ngang của các ngài, nơi có trụ cờ vàng ba sọc đỏ, ngạo nghễ phất phới bay trong gió, đã làm nhân chứng cho bất cứ sự hy sinh cao cả nào khác.
Thưa các ngài! Người đã ngủ yên bỏ lại đằng sau bao phiền lụy của cuộc sống. Linh hồn các Ngài đã về với hồn thiên sông núi, nơi chốn bồng lai, hay đã tự tại nơi chốn thiên đường nào đó, nếu linh thiêng xin phù hộ cho con dân nước Việt sớm thoát khỏi cảnh gông cùm cộng sản.
Thương thay! Các ngài ra đi, ra đi trong đớn đau buốt lạnh. Không bạn bè tiễn đưa chào kính! không một lời điếu văn, không một tiếng kèn truy điệu, v.v...
Ba mươi tám năm trôi qua, là trên mười bốn nghìn ngày mang nỗi buồn của kẻ mất quê hương. Mặc dầu thế, chúng tôi, trong mỗi lúc của từng mỗi lúc, lúc nào cũng cảm thấy hình bóng các Ngài luôn mãi ở bên cạnh chúng tôi trong suốt mọi chặng đường trên quê mẹ, cũng như mọi nơi, mọi miền trên đất khách.
Chúng tôi người lính! Xin một phút cúi mặt! Vì cho đến nay vẫn chưa đúc được tượng, chưa lập được đền thờ để tưởng nhớ đến các ngài. Mặc dầu, tiểu bang California nói chung và Orange County nói riêng, cộng đồng Người Việt tỵ nạn trên dưới nửa triệu người, và được mang cái tên khá hãnh diện là “Thủ Ðô Của Người Tỵ Nạn”.
Là những người lính thân phận lạc loài trên một đất nước tạm dung. Chúng tôi chỉ có tấm lòng, nhưng không “đủ tài” “đủ sức” và nghĩ rằng, “một cây làm chẳng nên non” chúng tôi rất cần nhiều bàn tay của muôn triệu bàn tay. Từ trí thức khoa bảng, từ những anh hùng hào kiệt, từ những mạnh thường quân, cho đến các cơ sở thương mai có tầm vóc, đến những hội đoàn, đoàn thể, các trung tâm băng nhạc nổi tiếng.
Và hơn thế nữa! đằng sau lưng của các hội đoàn nói trên, còn có một lực lượng khá hùng hậu, đó là hội cựu tù nhân chính trị, sao không cùng nhau làm những việc hết sức cao cả, là phát động phong trào “tất cả cho một đền thờ của người chiến sĩ vị quốc vong thân!” Và cũng là lúc để cho người bản xứ thấy rằng, dân tộc Việt Nam là một dân tộc “uống nước nhớ nguồn” và có văn hóa. Nhưng tiếc thay, chúng tôi “cùng trông lại mà cùng chẳng thấy.”
Rồi mai đây không sớm thì muộn, Việt Nam có tự do dân chủ. Không còn bóng dáng người cộng sản. Nếu chúng tôi chưa làm được. Nhưng chúng tôi vẫn còn một hy vọng khi “tre tàn thì măng mọc” con cháu chúng tôi sẽ tiếp tục làm cho bằng được, một khi trở về quê hương nơi chỗ các ngài nằm xuống, sẽ xây đền thờ tưởng niệm các ngài, để mọi người dân Việt Nam lui tới nhang khói nhớ ơn các ngài.
Lời tâm sự tuy mộc mạc, nhưng rất chân thành, chúng tôi không dám “múa rìu qua mắt thợ” chắc chắn có nhiều lỗi lầm thiếu sót ngoài ý muốn. Mong người đọc rộng lòng khoan dung. Và cũng xin đừng để những lời này “gác ngoại vòng thôi.”
Sau cùng, chúng tôi xin mượn lời thơ “một năm người có mười hai tháng, ta trọn năm dài một tháng tư” Như tự nhủ lòng là mãi nhớ đến các anh và “Không Bao Giờ Quên Anh.”
Tác giả : Vi Anh
Hối lộ, tham nhũng tràn ngập VN. Không phải chỉ trong nhà cầm quyền CSVN mà còn lây lan vào cơ quan ngoại giao của Mỹ ở VN nữa.
Tin đài phát thanh VOA, tiếng nói chánh thức của Hoa kỳ, ngày = 26.05.2013 loan tải “Một nhà ngoại giao Mỹ bị truy tố vì bán visa tại Việt Nam”. Đó là Ô. Michael Sestak, 42 tuổi, đã bán mỗi visa vào Mỹ cho người Việt Nam với giá từ 50.000 đến 70.000 Mỹ Kim. Ông dùng tiền này mua nhà đất tại Thái Lan. Số visa được bán chưa biết bao nhiêu, nhưng theo cáo trạng dài 28 trang giấy, Ông Sestak đã nhận “nhiều triệu Mỹ Kim hối lộ” ở Việt Nam. Ông đã dùng nhiều mánh khóe để chuyển tiền ra khỏi Việt Nam, và sau đó dùng tiền này để mua bất động sản tại Phuket và Bangkok ở Thái Lan.
Nhưng Ông không “hạ cánh an toàn” – nói theo kiểu Thủ Tướng CS Võ văn Kiệt - như một số cán bộ đảng viên CS có chức có quyền.Trái lại viên chức lãnh sự này của Mỹ bị chánh quyền Mỹ, sắp sửa đưa ra công lý và công luận trừng trị.
Theo hãng tin McClatchy cho biết Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sợ mang tiếng có ý giấu diếm “để xứ lý nội bộ” nhưng không được với pháp luật và báo chí Mỹ. Công lực Mỹ đã mở cuộc điều tra cách nay 10 tháng và kết thúc tuần trước, sau khi một người Việt Nam vào tháng 7 năm ngoái, tố giác với chính phủ Hoa Kỳ rằng, chỉ riêng một ngôi làng ở miền Trung Việt Nam, đã có từ 50 đến 70 người đi định cư ở Hoa Kỳ bằng cách hối lộ để có visa.
Báo News & Observer của Mỹ cho biết theo cuộc điều tra từ ngày 1.5.2012 đến ngày 6.9.2012, tòa lãnh sự nhận 31.386 hồ sơ xin cấp thị thực và từ chối 35,1%. Trong cùng thời gian, Sestak giải quyết 5.489 hồ sơ và chỉ từ chối 8,2% số đó. Tỷ lệ từ chối thị thực của Sestak giảm xuống còn 3,8% trong tháng 8, không lâu trước khi ông rời khỏi tòa lãnh sự.
Sestak bắt đầu làm việc cho Tổng Lãnh sự Mỹ tại TP.SG từ tháng 8.2010 cho đến tháng 9.2012. Vào thời điểm này Ông nghỉ đi để chuẩn bị tái ngũ vào phục vụ trong hải quân. Ông Sestak phụ trách bộ phận giải quyết thị thực và theo lời ông Dinits, ông Sestak “có tiếng” là hào phóng và châm chước trong các hồ sơ thị thực.
Ông Sestak, 42 tuổi, bị bắt tại Nam California cách đây khoảng một tuần. Cơ quan điều tra vin lịnh Toà bắt giữ có yêu cầu Toà không cho đương sự đóng tiền thế chân tại ngoại hầu tra vì đương sự có khả năng bỏ trốn. Văn phòng Chưởng lý Mỹ ở Washington và luật sư của ông Sestak đều từ chối trả lời báo News & Observer.
Còn tình trạng hối lộ tham nhũng trong guồng máy công quyền của Đảng Nhà Nước CS còn phổ biến, trầm kha, đã trở thành quốc nạn, hết thuốc chữa rồi. Đây không phải là thông tin, nghị luận của ngưới Việt mà CSVN gọi là “nặng quá khứ nên quá khích" với CS hay là “lực lượng thù địch”. Trái lại đây là sưu khảo của cơ quan thường trú của Liên Hiệp Quốc với những con số lạnh lùng, vô tư tự nó nói lên quốc nạn này của VN một cuộc khảo sát mới được công bố với sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc, có tên gọi Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI).
Tin Đài VOA của Mỹ, kết quả thăm dò 14,000 người do Trung Tâm Nghiên Cứu Hỗ Trợ Phát Triển Cộng Đồng của LHQ ở Hà nội, cho biết tệ trạng hối lộ tham nhũng đã trở thành quá thường như cơm bữa ở VN, với tên gọi hàng ngày là "lót tay" hay "bôi trơn". Nó trở thành quá bình thường trong những ngành nghề được trọng vọng như y tế, giáo dục, khiến không ai ngạc nhiên khi phải đưa phong bì "bồi dưỡng" cho giáo sư chủ nhiệm, cho bác sĩ trị bịnh cho người nhà.
Trả lời VOA Việt Ngữ, ông Đặng Ngọc Dinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hỗ trợ Phát triển Cộng đồng (CECODES), nói: “Thí dụ như khi vào bệnh viện, thì họ coi chuyện phải đưa phong bì cho bác sĩ, mà người ta dùng từ rất hay là bồi dưỡng bác sĩ hoặc là khi họ đến một cơ quan để làm giấy chứng nhận, đặc biệt là chứng nhận sử dụng đất hay xin phép xây dựng, thì họ dùng từ rất hay là bôi trơn, tức là bôi cho nó trơn đi thì bộ máy mới làm được. Hiện tượng đó rất nhiều.”
Giọt lệ ăn năn cho Việt Nam 38 năm sau ngày Sài Gòn sụp đổ
Vann Phan
Những giọt lệ ăn năn này xin được dâng lên anh linh các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Cảnh Sát Quốc Gia cùng các viên chức và cán bộ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh xương máu để bảo vệ Miền Nam Tự Do cho đến giây phút cuối cùng.
Ba mươi tám năm sau ngày Sài Gòn sụp đổ, đất nước Việt Nam đồng khô, hồ cạn hiện đang là một kẻ tử tù bị kết tội vong ân, bội nghĩa trong tay ân nhân nham hiểm Bắc Kinh, treo mình tòn teng chờ chết dưới trời Hè nhiệt đới trên chiếc cọc được đóng xuyên qua thân người, chọc thủng từ hậu môn, lách qua tim (để cho lâu chết), rồi trổ ra cửa miệng, y hệt một phạm nhân can tội đại hình bị hành quyết theo kiểu đóng cọc xuyên thân (impalement), như từng được mô tả cặn kẽ trong tiểu thuyết “Chiếc cầu trên sông Drina” của nhà văn Nam Tư, Ivo Andric.
Phải biết rằng Việt Nam là một đối tượng từng bị bao kẻ thù tranh chấp đất đai tại Ðông Nam Á thi nhau nguyền rủa (curse) bao đời. Sau cái chết đầy dằn vật như thể là bị quả báo đó, nếu thân nhân không được phép chôn cất, tử thi của tử tội sẽ bị từng bầy kên kên từ núi rừng Việt Bắc thâm u và đường Trường Sơn ào ào lá đỏ bay đến mổ thịt, rỉa xương, cũng tương tự lối xử phanh thây mà vua quan nhà Nguyễn đã dành cho vua tôi nhà Tây Sơn, từ Hoàng Ðế Cảnh Thịnh trở xuống, sau khi Chúa Nguyễn Ánh chiếm được thành Thăng Long, bắt được hậu duệ của Hoàng Ðế Quang Trung, kẻ thù truyền kiếp từng đánh cho ông xất bất, xang bang đến độ phải cầu viện Xiêm La và Pháp trợ chiến...
“Mùa Xuân đem đổi cho nhân thế, lấy một mùa Ðông lạnh chết hồn”
Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, ngày Sài Gòn sụp đổ, dân chúng Việt Nam đã được những người cộng sản chiến thắng bảo cho biết rằng họ đã hoàn toàn thoát ách thực dân và đế quốc của ngoại bang, và rằng họ đã được chính các đồng bào và “đồng chí” của mình trực tiếp cai trị. Kết quả, Việt Nam ngày nay, trước hết, là một xã hội gần như tuyệt đối không có cương thường, đạo lý, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, là các điểm nổi bật trong truyền thống văn hóa tuyệt vời đã có từ mấy ngàn năm trước của dân tộc. (1) Kế đó, Việt Nam là một đất nước xác xơ, với môi trường sống bị băng hoại, với rừng vàng, biển bạc và mỏ dầu khí bị chính quyền cộng sản thi nhau moi, hút cạn kiệt tự bao giờ, với nền kinh tế suy sụp không gượng nổi, và với các quyền tự do, dân chủ của dân chúng bị chính cái chế độ do nhân dân làm chủ kia trâng tráo tịch thu. Rồi gái, trai trong nước đua nhau bán thân và bán sức lao động cho ngoại quốc để lấy tiền, đất canh tác bị chính quyền đoạn mãi hoặc cho ngoại quốc thuê mướn dài hạn, trong khi biên cương và biển, đảo của Việt Nam, từ Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc cho tới Hoàng Sa và Trường Sa, cứ bị Trung Cộng liên tục xâm lấn, còn ngư dân Việt Nam thì thường xuyên bị người Trung Cộng cấm đánh cá và bắt giam hay, tệ hại hơn, bị bắn chết tức tưởi ngay trong vùng biển quen thuộc của mình. Oái oăm thay, trước thảm cảnh đó của đồng bào, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chỉ biết phản đối chiếu lệ, rồi vì hèn nhát mà lại không dám lôi quan thầy Trung Cộng ra kiện trước tòa án quốc tế như phản ứng của Philippines, một quốc gia nạn nhân khác trong cuộc tranh chấp lãnh thổ với nước láng giềng phương Bắc hỗn láo đang cần phải được ai đó “dạy cho một bài học” đau điếng để nhớ đời.
Nhưng điều đáng nói hơn hết vẫn là, kể từ khi toàn thể dân chúng Việt Nam từ Nam chí Bắc đã thấm thía cuộc sống lầm than, cơ cực và thiếu tự do, dân chủ dưới chế độ độc tài, công an trị tại Việt Nam và đồng loạt mở mắt ra nhờ các phương tiện truyền thông báo chí trên mạng lưới điện toán, trong đó có những bài viết trên các blog cá nhân “lề trái,” hầu hết dân chúng tại Việt Nam bỗng dưng nhận ra chính mình mới là kẻ chiến bại trong cuộc nội chiến, tức cuộc Chiến Tranh Việt Nam, vừa qua trong khi chỉ có các thành phần lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới là kẻ chiến thắng và đang tận hưởng một cách tham lam và chụp giựt thành quả của chiến thắng đó. Cái tội nặng nhất của tuyệt đại đa số dân chúng Việt Nam lúc bấy giờ, cũng như phần lớn thế giới bên ngoài Việt Nam, là đã “trót nghe theo lời u mê” rằng những người cộng sản Việt Nam mới là những người thật sự yêu nước, và rằng Miền Nam Việt Nam phải được “giải phóng” khỏi vòng “kềm kẹp của Mỹ-Ngụy” thì dân tộc Việt Nam mới được hưởng “độc lập, tự do, hạnh phúc.” Rồi từ cuối thập niên 1990 tới nay, lúc phong trào “dân oan khiếu kiện” vì bị chính quyền cộng sản cướp đất và cướp tài sản bắt đầu lan rộng từ Hà Nội cho tới Sài Gòn, các thành phần được chính quyền cộng sản gọi là gia đình anh hùng, liệt sĩ và các thành phần từng là cán bộ, bộ đội cũng như những người đã đóng góp xương máu vào công cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để giải phóng Miền Nam cùng những thành phần từng được coi là “công thần” của chế độ hiện nay tại Hà Nội lại cảm thấy chính họ cũng là kẻ chiến bại trong cuộc chiến tranh tương tàn và cực kỳ phi lý giữa hai miền Nam, Bắc do chính những người cộng sản Việt Nam gây ra trong suốt 2 thập niên hồi hạ bán thế kỷ 20 và hiện đang là nạn nhân đáng thương bị chính quyền cộng sản, từ địa phương cho tới trung ương, hà hiếp và bóc lột không chút nương tay.
Hồi tưởng lại, những người Việt Nam, còn có lòng công chính và không bị u mê vì ý thức hệ cộng sản lỗi thời hoặc tối mặt vì đồng tiền dầu khí từ Việt Nam chuyển qua, đều thấy rằng khoảng thời gian vỏn vẹn 21 năm của hai nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam huy hoàng tại Miền Nam Việt Nam, từ 1954 đến 1975, nay đang lùi sâu vào dĩ vãng như một giấc mơ thần tiên không có cách nào níu kéo được.
Vì đâu nên nỗi
Miền Nam Tự Do mất đi, lỗi tại ai đây?
Suốt gần 4 thập niên qua, cái chết tức tưởi của Miền Nam Tự Do trước cuộc xâm lược bạo tàn của Cộng Sản Bắc Việt và cộng sản quốc tế, ngoài việc gây nên làn sóng tranh công, giành phần phải bên phía những kẻ chiến thắng, còn gây ra những cuộc tranh cãi triền miên về chuyện ai là kẻ đã gây ra lỗi lầm tai hại đưa đến sự tan rã của quân đội và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Bên phía những kẻ thắng, cuộc tranh công và giành phần phải về phía mình để xem ai là kẻ có công nhất trong cuộc chinh phục Miền Nam Tự Do và đem lại thống nhất đất nước từ Nam Quan cho đến Cà Mau, dưới lá cờ đỏ đẫm máu, đã liên tục diễn ra bên trong giới lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, từ Tướng Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam Trần Văn Trà và Phó Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam Nguyễn Văn Linh (lúc bấy giờ) cho tới Ðại Tướng Văn Tiếng Dũng của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam và cả Tổng Bí Thư Lê Duẫn của Cộng Sản Bắc Việt.
Bên phía những kẻ thua, trong suốt 38 năm qua, các thành phần thân Cộng vẫn luôn đổ lỗi cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trong khi những kẻ có cảm tình với Việt Nam Cộng Hòa thì đổ lỗi cho phe phản chiến (tại Miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ), báo chí Mỹ, “thành phần thứ ba” tại Miền Nam Việt Nam do Tướng Dương Văn Minh cầm đầu, việc Ðồng Minh Mỹ lật đổ và sát hại Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963, và việc chính phủ Hoa Kỳ phản bội chính phủ và dân chúng Miền Nam Việt Nam sau cuộc Tổng Công Kích của quân cộng sản hồi Tết Mậu Thân 1968. Các tướng lãnh bất tài và tham nhũng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thỉnh thoảng, vẫn bị cả hai phía thân Cộng và chống Cộng quy trách nhiệm đã gây ra cuộc thất bại dẫn tới sự sụp đổ của Sài Gòn và cái chết của Việt Nam Cộng Hòa.
Ðiều đáng nói là, kể từ khoảng cuối thập niên 1970, lúc phong trào thuyền nhân (boat people) lên cao, với hàng loạt người Việt Nam, bất kể sống chết, bỏ nước ra đi để trốn tránh chế độ cộng sản hà khắc, tàn bạo và thiếu khả năng quản trị đất nước đang làm chấn động thế giới, đa số dân chúng tại Miền Nam Việt Nam đã đổ cái lỗi gây ra sự thất bại của Việt Nam Cộng Hòa lên đầu các thành phần phản chiến trong xã hội Miền Nam Việt Nam, trong đó có giới trí thức tại Sài Gòn và những kẻ “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” suốt thời kỳ chiến tranh cũng như các thành phần cộng sản nằm vùng tại Miền Nam Việt Nam, những kẻ đã hăng say che giấu, nuôi dưỡng và tiếp tế cho các chiến binh cộng sản (đặc biệt là các “bà mẹ chiến sĩ”), từ quân du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cho tới quân chính quy của Cộng Sản Bắc Việt, để họ đánh lại Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ðiều đáng tiếc là tập thể những “sinh viên tranh đấu” một thời tại Huế, Ðà Nẵng và Sài Gòn, những sinh viên du học ngoại quốc bằng tiền của chính phủ và nhân dân Miền Nam Việt Nam (nhưng khi thành tài lại chỉ mong về nước phục vụ cho cộng sản để chống lại Việt Nam Cộng Hòa), khi thức tỉnh và biết mình lầm rồi thì đã quá muộn vì Việt Nam Cộng Hòa đã mất rồi trong khi giống nòi và quê hương đang bị đảng Cộng Sản Việt Nam đưa vào chốn lầm than - đúng y như câu “dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than” trong bài “Tiến Quân Ca,” quốc ca của Cộng Sản Việt Nam - cho dù giờ đây, thỉnh thoảng, một vài phần tử trong số người đó có biểu lộ đôi chút sĩ khí khi lên tiếng chống lại đường lối độc tài và phi nhân bản của giới lãnh đạo độc đảng tại Việt Nam.
Ðến đây, thiết tưởng ai cũng rõ những thành phần nào phải chịu trách nhiệm và nhìn nhận tội lỗi của mình trước tổ quốc Việt Nam trong việc gây ra cái chết của Việt Nam Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam cách nay 38 năm, dẫn tới cuộc sống lầm than của toàn thể dân chúng Việt Nam và nguy cơ lớn lao mất nước vào tay Trung Cộng hiện nay.
Xin đừng tiếp tục chỉ đổ lỗi cho cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cố Tổng Thống Dương Văn Minh hoặc “các tướng lãnh bất tài và tham nhũng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” nữa. Cũng xin đừng tiếp tục chỉ đổ lỗi cho Ðồng Minh Hoa Kỳ đã “phản bội” và “bỏ rơi” Miền Nam Tự Do vào tay quân cộng sản để cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải tan rã và Sài Gòn phải sụp đổ trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975, đơn giản chỉ là vì người Mỹ không thể nào chiến thắng ở Việt Nam, cho dù họ có chấp nhận hy sinh thêm bao nhiêu nghìn chiến sĩ trên chiến trường đi nữa, khi một bộ phận không nhỏ trong dân chúng Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, dù vì bất cứ lý do gì, từng phản đối cuộc chiến tranh chống Cộng Sản Bắc Việt xâm lược và cứ mong muốn thay thế chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bằng các nhà lãnh đạo của Cộng Sản Bắc Việt mà họ cứ lầm tưởng là yêu nước hơn, giỏi giang hơn, và nhất là ít tham nhũng hơn hoặc không hề tham nhũng gì cả! (Nhiều lá thư từ chiến trường của các cựu chiến binh Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam gởi về cho thân nhân nơi quê nhà đã biểu lộ niềm uất hận khi thấy một số lớn dân chúng vùng nông thôn và một số không nhỏ giới trí thức thành phố tại Miền Nam Việt Nam có thiện cảm với quân cộng sản, trốn quân dịch, và chỉ muốn đuổi quân Ðồng Minh Hoa Kỳ đi để rước quân Giải Phóng Miền Nam vào.
Phải chăng yếu tố này đã góp phần làm lớn mạnh thêm phong trào “phản chiến” tại Mỹ hồi các thập niên 1960 và 1970, dẫn tới việc Mỹ “phản bội” Miền Nam Tự Do?)
Có điều, cả Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Tổng Thống Richard M. Nixon đều đúng khi cho rằng chính báo chí Mỹ, kẻ bị ám ảnh hết sức nặng nề về cái huyền thoại Hồ Chí Minh từ hồi 1945, là “thủ phạm” chính giúp phe cộng sản chiến thắng tại Miền Nam Việt Nam. Vì báo chí Mỹ không vào được Hà Nội, nơi chẳng hề có tự do báo chí, họ chỉ chăm chú chỉ trích Sài Gòn và Hoa Thịnh Ðốn, dẫn với việc lập thuyết sai lầm rằng Cộng Sản Bắc Việt là nạn nhân trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, rằng cuộc chiến chống Cộng tại Miền Nam Việt Nam là không có chính nghĩa, và việc Hoa Kỳ đưa quân vào trợ giúp Việt Nam Cộng Hòa là vô luân lý.
Ðiều mỉa mai là, sau khi Việt Nam đã bị Trung Quốc đánh cho sưng gan, giập mật, bể lá lách từ biên giới Hoa-Việt cho tới hải đảo trên Biển Ðông từ 1979 tới nay, những người Việt Nam nào, từng a dua theo Trung Quốc, vỗ tay reo mừng - kiểu “mẹ vỗ tay reo mừng hòa bình” - khi thấy Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa hồi năm 1974 (vì cứ lầm tưởng như Phạm Văn Ðồng, thủ tướng của họ, rằng Trung Quốc chiếm Hoàng Sa là để “giữ hộ” cho người Cộng Sản Việt Nam, chờ khi nào Miền Bắc đánh thắng Miền Nam sẽ đem trả lại) thì nay, chính những con người đó, phải nhỏ những giọt lệ ăn năn cho tổ quốc khi nhận chân được rằng bậc thầy Trung Quốc vĩ đại của họ đang dùng trăm phương, ngàn kế để lấn chiếm cho bằng hết các vùng biên giới và biển đảo của Việt Nam.
Cuối cùng, trong số những giọt lệ ăn năn về việc Việt Nam Tự Do mất vào tay cộng sản, có cả nước mắt của những kẻ thường ân hận rằng mình đã chẳng đóng góp gì hoặc chưa đóng góp hết sức mình vào “cuộc kháng chiến thần thánh” - chữ của Tổng Thống Thiệu - của quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa chống lại Cộng Sản Bắc Việt xâm lược trước đây. Ðiều này cũng tương tự như tâm trạng của những đứa con bất hiếu với cha mẹ trong nền văn hóa Việt Nam, luôn ray rứt rằng, ngày cha mẹ còn sống, mình đã không lo phụng dưỡng các vị cho đúng mức, để đợi khi cha mẹ đã khuất núi rồi, hồi tưởng lại, mới nhỏ giọt nước mắt ăn năn.
“Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời!”
Ngày đó, trước năm 1975, lúc tổ chức Liên Hiệp Quốc chưa có quá 80 thành viên, và trong khi thế giới đang bị chia đôi vì ý thức hệ độc tài cộng sản và tự do, dân chủ đối nghịch nhau, Việt Nam Cộng Hòa, dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, đã được gần 50 quốc gia chính thức công nhận. Vì quốc thể được nâng cao và vì quốc dân hiếu hòa hòa và đạo đức, tổng thống Việt Nam Cộng Hòa đi công du đến đâu cũng được hoan nghênh và trọng vọng, từ Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc cho tới Úc Ðại Lợi và Ðại Hàn Dân Quốc.
Ngày đó, nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa tràn đầy giá trị nhân bản, và trình độ giáo huấn tại các học đường không hề thua kém bất cứ quốc gia tiên tiến nào trên thế giới. Học sinh Việt Nam phải học đức dục trước khi học công dân giáo dục, phải biết lễ, nghĩa, liêm, sỉ trước khi ra ngoài đời, phải biết thờ mẹ, kính cha, nhường nhịn anh, chị em trong nhà trước khi dấn thân phục vụ xã hội. Những sinh viên, học sinh được xuất ngoại du học đều là những thành phần sĩ tử ưu tú, chứ không phải là những kẻ chuyên đút lót và hối lộ để thăng tiến trên bước đường công danh, áp dụng thủ đoạn cạnh tranh bằng cách triệt hạ người khác xuống để nâng mình lên cao đặng chiếm ngôi vị độc tôn mà không chịu tìm cách tự thăng hoa cho chính mình.
Ngày đó, giữa lúc cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam Tự Do của Miền Bắc Cộng Sản đang độ khốc liệt, tuy nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa chưa phát triển mấy và công, kỹ nghệ trong nước đang còn phôi thai, dân chúng Miền Nam Việt Nam đã hưởng được một cuộc sống no cơm, ấm áo, quân nhân, công chức đi làm ai cũng đủ sức bao biện cho vợ con ở nhà, và ngay cả giới phu phen, thợ thuyền cũng vẫn rủng rỉnh đồng ra, đồng vào cuối một ngày lao động, đừng nói gì tới giới tiểu thương và doanh gia.
Ngày đó, tôn ti, trật tự xã hội được tôn trọng, dân chúng Việt Nam Cộng Hòa hiền hòa ai cũng biết lễ nghĩa, liêm sỉ, học trò thì kính thầy, mến bạn, công, tư chức đi làm thì cần kiệm, thanh liêm, chuyện tham nhũng được coi là điều xấu hổ, điếm nhục gia phong. Trong xã hội, ai cũng muốn sống sao cho lương thiện, thầy giáo ra thầy giáo, bác sĩ ra bác sĩ, và các nhà tu hành không hề nghĩ tới chuyện đội lốt nhà tu để lường gạt tín đồ, đừng nói chi đến làm chính trị để khống chế chính quyền theo mưu đồ của cộng sản trong sách lược lâu dài của họ là thôn tính Miền Nam Việt Nam. Thời đó, tội phạm cũng có chứ chẳng phải không, nhưng chưa bao giờ nhiều và dã man, trắng trợn như bây giờ, khi trong xã hội xảy ra như cơm bữa những cảnh chồng giết vợ, con giết mẹ, thầy lợi dụng tình dục của trò, và công an, thay vì bảo vệ dân, lại ngang xương bắn giết dân lành mà không hề bị trừng phạt.
Ngày đó, lâu lâu cũng có cảnh đấu tranh, xuống đường, hoan hô, đả đảo của sinh viên, học sinh cũng như của các nhà tu hành, nhưng những thành phần đối lập với chính quyền Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không hề bị đàn áp dã man theo cái kiểu hiện đang diễn ra sờ sờ trước mắt từ Sài Gòn cho tới Hà Nội bây giờ. Và, trong một chừng mực nào đó, cho dù đất nước đang lâm cảnh chiến tranh, quyền đối kháng chính trị của dân chúng Miền Nam Việt Nam vẫn được nhà cầm quyền tôn trọng. Thời đó, tù chính trị cũng có, nhưng chắc chắn là không thể nhiều như bây giờ, khi những người cầm bút - tiêu biểu là các bloggers - chỉ cần viết lên tư tưởng chống quân Tàu xâm lược là đã bị chính quyền cộng sản Việt Nam khủng bố, bắt bớ, giam cầm và đày đọa như thể chính họ bị xúc phạm và chống đối vậy. Và, vào lúc bấy giờ, ngay cả các tù nhân bị giam tại Côn Ðảo hay Phú Quốc cũng vẫn được chính phủ chăm nom đầy đủ, từ cái ăn, cái mặc cho tới sức khỏe, mặc dù trong số này có nhiều kẻ vẫn coi chế độ Sài Gòn là kẻ thù không đội trời chung, và từng thề quyết tiêu diệt cho bằng được “bọn Mỹ-Diệm” và “bọn Mỹ-Thiệu” mới vừa lòng.
Ngày đó, nền văn hóa và nghệ thuật Việt Nam đang ở đỉnh cao. Các minh tinh, tài tử Việt Nam luôn sáng ngời trên vòm trời điện ảnh Á Châu, và các lực sĩ Việt Nam thường chiếm nhiều giải thưởng cao quý trên vận động trường quốc tế, đặc biệt là trong hai bộ môn bóng bàn và bóng tròn. Về âm nhạc, cho tới nay, những nhạc phẩm và ca sĩ trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam vẫn luôn được đánh giá cao, tới mức vượt thời gian. Về văn chương, những tác giả và tác phẩm thời đó vẫn được các thế hệ sau này, cả hải ngoại lẫn trong nước, trân trọng và ngợi ca. Các bộ môn báo chí, phim ảnh, tân nhạc, hát bội, cải lương và kịch nghệ thời đó thật đa dạng, muôn màu, muôn sắc, đua nhau nở rộ trong vườn hoa tư tưởng và nghệ thuật của Miền Nam Tự Do, vốn luôn dành đất sống thênh thang cho giới văn nghệ sĩ, kể cả những kẻ có tư tưởng phản chiến một thời như Trịnh Công Sơn.
Ngày đó, Sài Gòn đang giữ ngôi vị “Hòn Ngọc Viễn Ðông,” như lời nhạc “người ơi, Sài Gòn chốn đây là Ngọc Viễn Ðông vốn đã lừng danh...” của Văn Phụng, và đường sá tại Sài Gòn - cũng như tại các đô thị khác trong nước - dù luôn đông đúc những người và xe cộ, vẫn đẹp đẽ, sạch sẽ, tươm tất, như được diễn tả qua ý nhạc trong ca khúc “Ghé Bến Sài Gòn” của Y Vân: “Ngựa xe như nước trên đường vẫn qua mau, người ra thăm bến câu chào nói xôn xao, phố xá thênh thang đón chân tôi đến chung vui... Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi...” Mặc dù các thành phần dân chúng Miền Nam Việt Nam không mấy ai giàu tiền, lắm bạc như giới tư sản đỏ bây giờ, số lượng xe hơi lưu thông trên đường phố tại các thành thị lúc nào cũng nhiều hơn, đông đúc hơn, bởi vì đường sá luôn được bảo trì tốt hơn, và các phương tiện chuyên chở công cộng - như xe buýt và xe lam - được dân chúng sử dụng nhiều hơn. Vì thế, sau cơn mưa, trời luôn trở lại sáng trên đường phố Sài Gòn và các đô thị khác, chứ không hề có cảnh tối tăm, ngập lụt, bì bõm và sặc mùi xú uế (vì rác rưởi đủ loại có dịp trào lên) như bây giờ. Hiện nay, hệ thống cống rãnh trong thành phố từ Bắc chí Nam vẫn thường hay nghẽn kẹt vì tình trạng xây cất bừa bãi, trong khi lòng đường thì cứ liên tục bị các “lô-cốt” nằm ụ choán chỗ, để cho bọn gian thương từ hai bên đường tha hồ túa ra chận dòng xe đang chạy lại mà buôn bán, chụp giựt. Ba mươi tám năm xưa, ngày mất Sài Gòn, nhạc sĩ Nam Lộc đã nghẹn ngào, nức nở: “Sài Gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời. Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời...”
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo...
Ôi! Một thời an bình và thịnh trị trong lịch sử Việt Nam đã qua rồi! Biết đến bao giờ mới tìm lại được nét vàng son xưa và nghe lại được tiếng xưa đây? Ðâu có ai ngờ rằng, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi có hai thập niên thôi, đất nước và dân tộc Việt Nam, mặc dù đang bị cuộc chiến tranh xâm lược của cộng sản Bắc Việt gieo tang tóc, điêu linh, nhà tan, cửa nát, dân chúng Miền Nam Việt Nam đã được hưởng những tháng, năm huy hoàng như thế, với một nền văn hóa và văn minh ngời sáng hơn bao giờ hết. Cái di sản văn hóa và văn minh mà Miền Nam Tự Do để lại cho dân tộc Việt Nam quả là to lớn, và thành thật mà nói, chưa thấy thời đại nào trong lịch sử dân tộc có thể sánh kịp với thời đại đã vội qua đi kia, với đền đài, biệt thự tráng lệ, với đường phố thênh thang, với quan chức thanh liêm, mẫu mực, với binh hùng, tướng mạnh “sinh vi tướng, tử vi thần,” với trai thanh, gái lịch, với rể hiền, dâu thảo, con ngoan... (2)
Việt Nam rồi sẽ về đâu?
Khi nhìn vào các thành quả của Mùa Xuân Ả Rập (Arab Spring) từ mấy năm qua tại các quốc gia Trung Ðông, người dân Việt Nam nào lại không mơ ước đất nước mình cũng sẽ có được những đổi thay kỳ diệu như thế, để tổ quốc mình thoát khỏi cảnh tối tăm, đọa đày hiện tại? Nhưng không ai có thể làm gì hơn được khi, khác với dân chúng Ả Rập luôn no đủ vì nguồn lợi dầu hỏa của quốc gia nên họ tha hồ xuống đường, chiếm đóng công viên mà cắm lều, dựng trại đặng biểu tình, tranh đấu ngày này qua ngày khác (cho tới khi nào cách mạng thành công mới thôi), người dân đen Việt Nam, từ Nam chí Bắc, đang bị miếng cơm, manh áo trói buộc chặt chẽ hằng ngày, hằng giờ, khiến không có ai dám bỏ nhà, bỏ cửa xuống đường biểu tình chống chính quyền cộng sản quá vài, ba ngày, chỉ vì cứ sợ cha mẹ, anh em, vợ, chồng, con cái mình ở nhà bị bỏ đói. (Ðó là chưa nói đến sự thể các nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ luôn bị chính quyền cộng sản bắt bớ, giam cầm và bách hại, trong khi thân nhân của họ ở ngoài thì thường xuyên bị đám côn đồ quốc doanh hành hung, hăm dọa, để rồi, nếu cuối cùng được thả ra, các nhà tranh đấu này đều đâm ra ngán ngẩm, nhụt chí, và dần dà thôi không dám tranh đấu nữa).
Mà nếu dân chúng có biểu tình chống đối được vài, ba ngày gì đó thì, trên thực tế, cũng chẳng ăn thua gì đối với chính quyền Cộng Sản Việt Nam, với cả hai lực lượng nanh nọc và được trang bị đến tận răng, là quân đội và công an, đều đứng về phía chính quyền độc tài để giữ vững các đặc quyền, đặc lợi mà nhà nước đã ban cho họ, nhằm bảo vệ tới hơi thở cuối cùng chế độ - chứ không phải tổ quốc - và bảo vệ Ðiều 4 trong Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay, với mục đích tối hậu là giữ vững độc quyền “đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại” và đời đời cai trị đất nước cho đảng Cộng Sản Việt Nam. (3)
Tới đây, chúng ta sẽ cảm thấy nhóm từ ngữ “bạo lực cách mạng” có một ý nghĩa hết sức thực tế. Thật vậy, tự cổ chí kim, từ hồi Cách Mạng Pháp năm 1789 cho tới cuộc cách mạng tự do, dân chủ của Boris Yeltsin lật đổ chế độ cộng sản tại Liên Xô hồi năm 1991, những cuộc thay đổi thể chế tại bất cứ nơi đâu đều cần có sự can thiệp của bạo lực, tức là sức mạnh của các lực lượng vũ trang, cho dù đó là bạo lực đã đưa Vua Louis 16 của Pháp lên đoạn đầu đài, sát hại hai nhà độc tài Nicolae Ceaucescu của Lỗ Ma Ni, hoặc đó là thứ bạo lực đã bị tinh thần yêu tự do, dân chủ vô hiệu hóa, như trong trường hợp của quân đội Liên Xô khi họ từ chối không chịu nã đạn tiêu diệt các lực lượng đối kháng của Yeltsin. Một bằng chứng khác về vai trò thiết yếu của sức mạnh quân sự trong mọi cuộc đấu tranh là chính phủ và nhân dân Miền Nam tự do đã sụp đổ ngay tức khắc trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chiếc xương sống của đất nước, một trong những đội quân tinh nhuệ và kiêu hùng nhất Á Châu thời đó (với các đại đơn vị vũ bão hàng đầu cỡ Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Ðộng Quân) bị Ðồng Minh Hoa Kỳ và Tổng Thống Dương Văn Minh ép vào cái thế phải đầu hàng không điều kiện kẻ thù cộng sản.
Trong tình thế hiện tại, ngày về quê hương của những con người Việt Nam ôm mộng phục quốc có vẻ như vẫn còn xa lắc lê thê, bởi vì, ngoài sức mạnh của bạo lực, chính quyền Cộng Sản Việt Nam hiện có trong tay một thứ vũ khí vạn năng, là tiền bạc, một loại vũ khí có khả năng vô hiệu hóa mọi cuộc tấn công của kẻ địch bằng cách mua chuộc con người, kể cả những tổ chức của người Việt hải ngoại đang yểm trợ cho các phong trào đòi tự do, dân chủ tại Việt Nam. Ðiều đáng lo ngại vẫn là Trung Cộng thừa khả năng tài chánh để mua chuộc toàn bộ các lực lượng Quân Ðội Nhân Dân và Công An Nhân Dân Việt Nam, khiến họ sẵn sàng nghe theo mệnh lệnh của Trung Cộng mà xả thân bảo vệ cho Ðảng Cộng Sản Việt Nam, vốn là những nhà lãnh đạo luôn ngoan ngoãn tuân phục “thánh ý”của Thiên Triều Bắc Kinh. (4)
Nếu quả thật Quân Ðội Nhân Dân và Công An Nhân Dân của Cộng Sản Việt Nam hiện đang là hai lực lượng then chốt có khả năng lật đổ chế độ cộng sản đương quyền tại Việt Nam thì chỉ khi nào các lực lượng đó bị vô hiệu hóa, hoặc khi nào họ bất ngờ trở về với dân tộc mà quay súng bắn vào đầu các nhà cai trị cộng sản ngoan cố tại Hà Nội thì đất nước Việt Nam mới có cơ may thoát khỏi xích xiềng và ách cai trị bạo tàn của chính người đồng chủng từ hơn nửa thế kỷ qua, hay ít ra cũng là từ 38 năm sau ngày Sài Gòn sụp đổ.
Ghi chú:
(1) Niềm ô nhục và cũng là cái vô luân lý của xã hội Việt Nam ngày nay là sự thể các thiếu nữ bây giờ coi chuyện bán thân lấy tiền là một việc làm chính đáng, viện cớ Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã phạm tội trước họ khi đưa đất nước vào chỗ nghèo đói, khốn cùng. Một bản tin trên nhật báo Người Việt, số ra ngày 23 Tháng Năm, cho biết báo chí Singapore, lân quốc phía Nam của Việt Nam, đã lên tiếng tố cáo “gái Việt rao bán trinh trên mạng.” Nguồn tin này cho biết khách có thể chọn “gái trinh Việt” ở bất cứ địa điểm nào họ muốn, từ sân bay cho đến khách sạn, nhà hàng,...
(2) Từ năm 1975, với cái chết của Việt Nam Cộng Hòa, một trong hai quốc gia đồng cảnh ngộ đất nước bị chia đôi và từng là đồng minh thân thiết trong cuộc chiến chống Cộng tại Việt Nam, con phượng hoàng Ðại Hàn Dân Quốc, nay đang tung cánh bay cao trên bầu trời thế giới, với những sản phẩm kỹ nghệ và điện toán thần sầu, ai thấy mà không yêu thích và kính nể? Gặp nhau trên cõi vĩnh hằng, cố Tổng Thống Lý Thừa Vãn có thể đã nói với cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm câu này: “Dân tộc của ngài coi vậy mà xui xẻo hơn dân tộc chúng tôi quá đỗi!”
(3) Cuối cùng thì cũng dẫn tới cảnh Cả Nước Xuống Hố mà thôi, khi tất cả đều bị nhận chìm xuống đáy Biển Nam Hải (South China Sea) đỏ lừ, chứ đâu có mong gì được chôn xác dưới đáy Biển Ðông xanh ngắt như các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trong trận quyết tử với hải quân Trung Cộng để bảo vệ Quần Ðảo Hoàng Sa của tổ quốc Việt Nam thân yêu hồi năm 1974!
(4) Phải nói rằng Hoa Kỳ, tức là Nixon và Kissinger, đã sai lầm nghiêm trọng khi đưa chủ nghĩa tư bản phồn vinh vào Trung Cộng hồi thập niên 1970, những tưởng chủ nghĩa tư bản rồi ra sẽ đè bẹp chủ nghĩa cộng sản tại quốc gia Á Châu khổng lồ kia. Sự thật, Trung Cộng đã tương kế, tựu kế, khéo léo lợi dụng chủ nghĩa vật chất (materialism), vốn là cùng đích của cả 2 chủ nghĩa tư bản và cộng sản, để đánh lại Hoa Kỳ là nước ham mê vật chất nhất thế giới, qua việc họ đã và đang dùng đồng tiến tích lũy được trong công cuộc cải cách kinh tế để mua chuộc toàn bộ 3 ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp của Mỹ, đặng dần dà quy phục dân tộc Mỹ vào tay người Ðại Hán. Cộng Sản Việt Nam, đệ tử ruột của Trung Cộng, cũng đang xuất chiêu y như vậy đối với những người Việt hải ngoại và cả các thành phần chống đối họ ở trong nước.
Tình hình và xu hướng chính trị tại Việt Nam hiện nay
Nguyễn Hưng Quốc
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (trái) và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Theo dõi tình hình chính trị Việt Nam, hầu như giới quan sát, từ người Việt đến người ngoại quốc, đều đi đến kết luận giống nhau: Chưa bao giờ Việt Nam yếu như hiện nay.
Tuy nhiên, nói đến cái yếu của Việt Nam, phần lớn đều tập trung vào quan hệ đối ngoại, chủ yếu giữa Việt Nam và Trung Quốc. Có thể nói, ở châu Á, không có nước nào bị Trung Quốc “ăn hiếp” nhiều như Việt Nam. Với Nhật Bản hay Philippines, họ chỉ dòm ngó một hai hòn đảo; với Việt Nam, họ dòm ngó cả chùm đảo và cả một vùng biển mênh mông. Với các nước khác, lâu lâu họ đưa tàu đánh cá hay tàu hải giám lượn qua lượn lại vài vòng thị uy; với Việt Nam, họ tung tàu đánh cá và tàu hải giám ào ạt như vào chỗ không người, hơn nữa, còn bắt bớ, thậm chí, hãm hại cả ngư dân Việt Nam. Cũng có thể nói, trước sự đe dọa của Trung Quốc, không có nước nào có phản ứng nhu nhược như Việt Nam. Nhật Bản dám dọa đánh chìm tàu Trung Quốc, Philippines đem Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế, còn Việt Nam? Ngay cả một lời lên án, họ cũng không dám nói; và khi, trước áp lực của dân chúng, phải nói, thì chỉ nói một cách… thì thầm. Vừa lên án vừa run lẩy bẩy.
Tuy nhiên, cái yếu của Việt Nam còn thể hiện ở nhiều lãnh vực khác nữa. Phân tích những cái yếu ấy, chúng ta dễ thấy xu hướng phát triển của tình hình chính trị tại Việt Nam hiện nay.
Trước hết là lãnh đạo yếu.
Nói đến lãnh đạo chủ yếu là nói đến đảng Cộng sản, và nói đến “yếu” là nói đến tương quan quyền lực với các thiết chế khác. Công thức phân quyền ở Việt Nam, ai cũng biết, là “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý”. Suốt hơn nửa thế kỷ, hầu như mọi quyền lực đều nằm trong tay đảng. Còn nhà nước, như chính lời thú nhận của Phạm Văn Đồng, người làm Thủ tướng lâu nhất ở Việt Nam (1955-1987), với những người quen: Chưa có ai làm Thủ tướng lâu mà bất lực như ông. Ông không những bị lép vế trước Lê Duẩn, Tổng Bí thư, mà còn bị lép vế cả trước Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đảng. Là Thủ tướng, Phạm Văn Đồng hoàn toàn không có quyền hạn gì trong việc chọn lựa, bổ nhiệm hoặc cách chức các Bộ trưởng hay Thứ trưởng, thậm chí, các giám đốc Sở ở địa phương. Quyền lực tập trung hết trong tay giới lãnh đạo đảng, chủ yếu là Tổng Bí thư. Tuy nhiên, sau Lê Duẩn, rõ ràng quyền lực của Tổng Bí thư cứ giảm dần. Quyền lực của các Tổng Bí thư kế tiếp Lê Duẩn, từ Trường Chinh (14/7/1986-18/12/1986) đến Nguyễn Văn Linh (1986-1991) và Đỗ Mười (1991-1997), không thể so sánh được với Lê Duẩn. Tuy nhiên, dù vậy, họ vẫn giống như những ông vua. Yếu thế, nhưng vẫn là vua. Chỉ từ Lê Khả Phiêu (1997-2001) trở đi, quyền lực của Tổng Bí thư mới bắt đầu mờ nhạt. Hơn nữa, càng lúc càng mờ nhạt. Nông Đức Mạnh (2001-2011) mờ nhạt hơn Lê Khả Phiêu. Đến nay, mờ nhạt nhất là Nguyễn Phú Trọng, người được lên làm Tổng Bí thư từ ngày 19 tháng 1 năm 2011.
Vai trò mờ nhạt của Nguyễn Phú Trọng thể hiện rõ nhất là qua hai lần thua cuộc trước Nguyễn Tấn Dũng. Lần thứ nhất, ở hội nghị Trung ương 6 vào tháng 10 năm 2012, khi Nguyễn Phú Trọng liên kết với Trương Tấn Sang tấn công Nguyễn Tấn Dũng - người được gọi là “đồng chí X” -, nhưng cuối cùng, cả hai đều thất bại. Lần thứ hai, mới đây, ở hội nghị Trung ương 7 vào đầu tháng 5/2013, Nguyễn Phú Trọng lại thất bại trước Nguyễn Tấn Dũng lần nữa khi đề nghị đưa Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị nhưng bị Trung ương đảng bác bỏ. Thế vào đó, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân được bầu. Cả hai đều là người của Nguyễn Tấn Dũng.
Có thể nói, trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, chưa bao giờ có một Tổng Bí thư nào lại thua cuộc một cách thê thảm và nhục nhã đến như vậy.
Nhưng việc Tổng Bí thư và cùng với ông, cả cái Đảng do ông lãnh đạo yếu thế và việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chứng tỏ quyền lực mạnh mẽ của mình như vậy có làm cho chính phủ mạnh hơn không?
Không.
Thủ tướng mạnh. Nhưng chính phủ vẫn yếu. Nguyễn Tấn Dũng mạnh đủ để thoát các đòn tấn công hiểm hóc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nhà nước Trương Tấn Sang, nhưng chính phủ do ông cầm đầu, trên nguyên tắc, vẫn phải được lãnh đạo bởi đảng. Các chính sách lớn vẫn do đảng quyết định.
Như vậy, ở đây, chúng ta thấy một nghịch lý: Người có chức năng lãnh đạo thì yếu; còn người mạnh lại không thể lãnh đạo. Hậu quả là ở Việt Nam hiện nay, giới cầm quyền, từ đảng đến chính phủ, chỉ quản lý (management) chứ không hề có lãnh đạo (leadership). Sự khác biệt căn bản giữa quản lý và lãnh đạo là với quản lý, người ta chỉ làm theo mệnh lệnh và chỉ nhắm tới những mục tiêu ngắn hạn; nhưng khi không có lãnh đạo, người ta vừa không có tầm nhìn xa lại vừa không có mệnh lệnh cụ thể để thực hiện. Một nền quản lý thiếu lãnh đạo bao giờ cũng vừa thiển cận vừa lúng túng, vá víu và đầy mâu thuẫn. Chúng ta có thể thấy rõ những điều đó qua các chính sách và cung cách làm việc của nhà cầm quyền Việt Nam những năm gần đây. Rõ nhất là qua cuộc thảo luận về thay đổi Hiến pháp do chính họ đề xướng. Thoạt đầu, bảo không có vùng cấm trong thảo luận; sau, lại lên án kịch liệt những người kiến nghị. Thoạt đầu, hứa hẹn như một sự thay đổi lớn lao; sau, cứ thu hẹp dần lại. Thoạt đầu, định thay đổi cả tên nước; sau, lại loại bỏ ý định ấy, v.v.. Nhưng nguy hiểm nhất là thái độ lúng ta lúng túng của họ trong việc đấu tranh với Trung Quốc để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ. Ngoài vài lời thề nguyền là sẽ không bán nước, cho đến nay, vẫn không có ai trong giới lãnh đạo phác họa được một chiến lược rõ ràng, chưa nói đến việc có hiệu quả hay không. Một chút rõ ràng cũng không có.
Đảng lãnh đạo yếu, chính phủ cũng yếu, hậu quả tất nhiên là đất nước yếu theo. Tất cả những sự nhu nhược được đề cập ở phần đầu bài viết này đều là hậu quả của hai cái yếu ấy. Ngư dân Việt Nam đi đánh cá ngoài biển cả bị “tàu lạ” đâm chìm, bắt bớ hay giết chết, không có ai can thiệp. Dân chúng hàng ngày phải ăn uống hoặc tiêu dùng những thứ độc hại được nhập cảng chính thức hay qua các con đường không chính thức không hề được ai bảo vệ. Kinh tế ngày càng kiệt quệ, gánh nặng nợ nần trên đầu người càng ngày càng chồng chất, không có ai quan tâm. Những người có lòng với đất nước đứng lên chống lại Trung Quốc bị đối xử như tội phạm. Mở các trang báo ngoại quốc, mỗi khi thấy tin tức về Việt Nam, đoán mười lần đến chín lần đúng: tin xấu. Nếu không phải tham nhũng thì là trấn áp.
Đảng yếu, chính phủ cũng yếu. Vậy thì ai mạnh?
Thứ nhất, các phe phái mạnh.
Thật ra, đảng Cộng sản lúc nào cũng có nạn phe phái. Trong hồi ký của mình, Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Ban chấp hành Trung ương đảng và Tổng biên tập báo Nhân Dân, giám đốc nhà xuất bản Sự Thật, kể, lúc Hồ Chí Minh còn sống và ngay cả trước mặt Hồ Chí Minh, các thành viên trong Bộ Chính trị cũng không thèm nói chuyện với nhau. Hồ Chí Minh khuyên mấy cũng không được. Nhưng, dù vậy, những sự xung khắc ấy chỉ dừng lại ở phạm vi cá nhân. Không có phe hay nhóm nào dám công khai chống lại phe Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Thành ra, Lê Duẩn và dưới bóng Lê Duẩn, Lê Đức Thọ tha hồ tác oai tác quái. Sau này, các phe phái nổi lên rõ hơn, nhưng không có lúc nào các phe phái lại tấn công nhau một cách công khai như bây giờ. Trước, nếu tranh chấp, hầu như chỉ dừng lại trong phạm vi mấy người trong Bộ Chính trị với nhau; bây giờ, chúng bày ra trước Trung ương đảng gồm cả gần 200 người; hơn nữa, còn tràn ra cả trước quần chúng, dù được ngụy trang dưới mật danh “đồng chí X”.
Thứ hai, vai trò của các nhóm lợi ích. Cần nói ngay, ở nước nào cũng có các nhóm lợi ích luôn tìm cách ảnh hưởng đến các chính sách của nhà nước. Ở các quốc gia dân chủ, các nhóm lợi ích ấy có thể là các nhà tài phiệt, các công đoàn, các tổ chức xã hội dân sự, các hội nghề nghiệp, v.v.. Các nhóm lợi ích ấy thường hoạt động công khai, một cách trực tiếp, dưới hình thức kiến nghị hoặc thậm chí, đình công và biểu tình, hoặc qua trung gian các cơ quan lobby chính thức, chuyên đi ngả tắt. Ở Việt Nam, trước đây, ngay cả sự hiện diện của cái gọi là “nhóm lợi ích” như thế cũng không thể có, thậm chí, không thể tưởng tượng được. Thế nhưng gần đây, các nhóm lợi ích ấy lại phát triển rất mạnh và khuynh đảo cả tình hình chính trị Việt Nam.
Theo Trần Kinh Nghị, chiến thắng của Nguyễn Tấn Dũng đối với Nguyễn Phú Trọng trong hai kỳ hội nghị 6 và 7 của Trung ương đảng vừa qua chính là chiến thắng của nhóm lợi ích đối với nhóm bảo thủ. Mới đây, trong bài “Đổi luật chơi trong đảng”, nhà bình luận chính trị Ngô Nhân Dụng cũng có quan niệm tương tự khi cho lý do chính khiến Nguyễn Tấn Dũng chiến thắng liên tiếp là nhờ biết sử dụng một thứ luật chơi mới: dựa trên tiền.
Thường, để cai trị, người ta sử dụng một trong hai, hoặc cả hai yếu tố: quyền và tiền. Quyền để khai thác lòng sợ hãi; tiền để kích thích lòng tham. Trước, người ta chỉ dùng quyền; bây giờ, người ta dùng cả quyền lẫn tiền. Theo Ngô Nhân Dụng:
“Từ khi làm thủ tướng năm 2006, […] Nguyễn Tấn Dũng tập trung quyền điều động các xí nghiệp quốc doanh vào phủ thủ tướng, thay vì chia quyền cho các “bộ chủ quản” theo lối cũ. Từ đó, người đóng vai thủ tướng tạo cơ hội kiếm tiền cho tay chân của mình; phân phát cơ hội kiếm tiền để mua lòng trung thành của đồng đảng. Các ủy viên Trung Ương Ðảng được chia chỗ trong Hội Ðồng Quản Trị của các doanh nghiệp nhà nước. Các chương trình kinh tế đều nhằm tạo cơ hội kiếm tiền cho những thủ túc chứng tỏ lòng trung thành. Khi người dân Việt Nam nhận thấy cả guồng máy cai trị là một mạng lưới tham nhũng chằng chịt liên kết với nhau, người cầm đầu mạng lưới đó là ông thủ tướng.”
Như vậy, cái mà Trần Kinh Nghị gọi là nhóm lợi ích ấy chủ yếu là những kẻ vừa có quyền vừa có tiền. Sức mạnh của Nguyễn Tấn Dũng so với Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang chính là sức mạnh của nhóm lợi ích vừa có quyền vừa có tiền ấy.
Sự thao túng của nhóm lợi ích ấy dẫn đến hai hệ quả:
Thứ nhất, nó tạo ra một vẻ dân chủ giả, thường được gọi là dân chủ trong nội bộ đảng (intra-Party democracy). Bộ Chính trị đề nghị kỷ luật Thủ tướng, Trung ương đảng bác bỏ: Bộ Chính trị chịu thua. Tổng Bí thư đích thân đề cử Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị, Trung ương đảng bác bỏ: Tổng Bí thư chịu thua. Giới quan sát chính trị quốc tế, ở xa, dễ ngỡ đó là dân chủ. Nhưng không phải. Một là, thứ dân chủ nội bộ ấy không biến thành dân chủ xã hội (social democracy). Hai là, nó chỉ là cuộc đấu đá quyền lực trong nội bộ. Chứ không phải là dân chủ.
Thứ hai, sự thắng thế của các nhóm lợi ích vừa có quyền vừa có tiền ấy biến đảng Cộng sản thành một đám mafia không những khuynh loát chính trị mà còn vét kiệt hết tài nguyên của đất nước và tài sản của dân chúng, ngay cả của những người dân chưa ra đời (với số nợ khổng lồ nó tạo ra!).
Điều đáng chú ý là tất cả các hiện tượng trên, từ chuyện đảng và chính phủ yếu đến chuyện phe phái và các nhóm lợi ích mạnh đều cũng xuất hiện ở Trung Quốc. Trong bài “The end of the CCP’s resilient authoritarianism? A tripartite assessment of shifting power in China” đăng trên tạp chí The China Quarterly năm 2012, Cheng Li cũng phân tích các hiện tượng tương tự tại Trung Quốc. Chỉ có hai sự khác biệt lớn. Thứ nhất, ở mức độ: Cũng yếu, nhưng cái yếu của đảng và chính phủ Việt Nam ở mức trầm trọng hơn hẳn ở Trung Quốc. Ở Trung Quốc, quyền hạn của Chủ tịch đảng chưa bao giờ bị thách thức một cách nghiêm trọng như ở Việt Nam. Quyền lực của Tập Cận Bình cũng như của Hồ Cẩm Đào chưa bao giờ lớn bằng Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình nhưng dù sao vẫn nghiêng trời lệch đất; cả Trung ương đảng cũng không dám chống lại. Thứ hai, theo Cheng Li, nhiều nhà phân tích chiến lược tin tưởng: đảng Cộng sản Trung Quốc có thể yếu và càng ngày càng yếu, nhưng đất nước Trung Quốc thì vẫn mạnh.
Còn Việt Nam?
Chính cái mạnh không cưỡng nổi của Trung Quốc là một tai họa cho Việt Nam. Việt Nam càng yếu, cái họa ấy càng lớn.