Bình Luận Thời Sự
CÁC ANH ĐÂU RỒI ?
Vậy là ngày mai họ đưa hai người yêu nước Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình ra tòa.
Lại một phiên tòa của những kẻ bán nước xét xử người yêu nước như nhiều phiên tòa từng diễn ra trên đất nước Việt Nam suốt từ 37 năm nay. Những phiên tòa phi lý vô nhân và bất công đã khiến cho hàng chục ngàn gia đình nát tan ly loạn vì người thân của họ vì quá yêu nước mà lụy vòng lao lý tù đày mà không ít người trong số đó, sau phiên toàn rồi không bao giờ trở về nữa.
Và ngày mai này đến lượt các anh phải ra tòa, chỉ bởi các anh đã nói thay cho triệu người Việt Nam về nỗi ưu tư trước thảm họa mất nước, trước nguy cơ bị diệt vong hay đồng hóa của giống nòi.
Có đâu trên thế gian này lòng yêu nước cần phải được kín giấu, nếu không muốn bị xỉ vả, bị đấu tố, bị giam cầm tra tấn và bị tù đày ?
Có đâu trên thế gian này sự gian trá, lường láo, bịp bợm và phản trắc lại được tôn vinh là quang vinh muôn năm, là đời đời sống mãi… ?
Truyền thuyết một mẹ trăm con của Việt Tộc khiến người Việt gọi nhau bằng hai tiếng “Đồng Bào” nghe gần gũi thân thương và cao cả quá, nhưng sao lại mỉa mai và nghịch lý đến thế này, sao lại vị bất đồng chủng mà quay lại giết hại đồng bào mình ?
Sao lại “Quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” mà lại không anh em với những người cùng mình sinh ra từ một bọc trứng ?
Phải chăng vì đất nước này vốn tồn tại nhiều nghịch lý, nên con người ta cảm thấy bình thường trước nghịch lý và phản cảm trước những cái chân thiện mỹ ?
Đâu rồi những ngày sinh viên, trí thức, Phật tử miền nam xuống đường chống lại cuộc chiến tranh ngăn chặn làn sóng đỏ của chính thể Quốc Gia đang bảo vệ nền tự do cho đồng bào Nam Việt trước họa xâm lược của cộng quân Bắc Việt ?
Đâu rồi phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe và nghe đồng bào tôi hát”? Đâu rồi phong trào vận động người dân đấu tranh đòi chấm dứt cuộc chiến chống cộng của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, phản đối sự hiện diện của quân đội đồng minh Hoa Kỳ trên đất nước Việt Nam trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng, đòi lật đổ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, đòi Hoa Kỳ phải rút hết quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam, để cho “Bác cùng chúng cháu hành quân vào Sài Gòn…” đánh đổ giai cấp tư sản xanh để xây dựng nên giai cấp tư sản đỏ ? Để rồi hàng hàng lớp lớp người dân Sài Gòn và cả Miền Nam phải đánh đổi hết cả gia sản và cả tính mạng của mình nữa để vượt biển đi tìm tự do, bởi những bài xích tự do của những sinh viên trí thức này.
Đâu rồi sinh viên y khoa Trương Thìn, Đâu rồi các nhà thơ Lê Văn Ngăn, Lê Gành, Trần Vàng Sao, Trần Phá Nhạc, Đông Trình, Đoàn Khắc Xuyên, Hoàng Nghĩa ? Đâu rồi các nhạc sỹ Trần Quang Long, Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập, Trương Quốc Khánh, Trần Long Ẩn, Nguyễn Văn Sanh, La Hữu Vang, Nguyễn Xuân Tân, Nguyễn Tuấn Kiệt, Nguyễn Nam, Nguyễn Phú Yên,.. Vũ Đức Sao Biển, Xuân An, Hải Hà, La Hữu Vang với "Dậy Mà Đi" "Tổ Quốc Ơi Ta Đã Nghe", "Hát Trong Làn Khói Đạn"?
Đâu rồi các "Hội Tết Quang Trung Sài Gòn" năm 1967 ? Đâu rồi "Đêm nhạc Tôn Thất Lập" ở Đại học Dược khoa Sài Gòn năm 1967 ? Đâu rồi "Đêm thơ nhạc" ở Đại học Sư phạm Huế vào tháng 12 năm 1967 xuống đường, với các chiến dịch đốt xe tăng Mỹ, để đón xe tăng của Nga Sô Trung Cộng vào nghiền nát hàng ngàn đồng bào đang trên đường lánh nạn, trước khi húc đổ cổng Dinh Độc Lập và treo ngọn cờ máu lên nóc dinh để báo hiệu sự cáo chung của một nền tự do dân chủ của dân tộc.
Tôi không biết từ sau ngày miền Nam bị hoàn toàn nhuộm đỏ nhờ sự đóng góp không nhỏ cả các sinh viên, trí thức, thi sỹ, nhạc sỹ và của các anh, đã có ai trong số các anh lại phải cũng đồng bào miền Nam băng rừng, vượt biển đi tìm tự do? Có ai trong số các anh phải vĩnh viễn nằm lại dưới lòng biển lạnh, và co ai đã may mắn đến được bến bờ tự do, để các anh có thể thấy được cái giá trị đích thực của tự do cũng như cái giá mà con người phải trả để đạt được nó. Bởi do cái thói tục ở đời khi người ta đang có cái gì trong tầm tay thì không biết trân trọng giữ gìn, thậm chí còn “xuống đường” chống báng lại nó, để khi nó vuột khỏi tầm tay thì con người ta lại phải quay quắt kiếm tìm mà cuộc tìm kiếm không phải chỉ trả giá bằng bạc vàng mà còn bằng chính cả mạng sống.
Các anh Trương Thìn, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng… Các anh có công lớn lắm trong công cuộc đánh đuổi đế quốc Mỹ ra khỏi miền nam tự do để tiếp rước đế quốc Đại Hán về cho cả mọi miền đất nước. Lịch sử đảng cộng sản đã ghi nhận công lao của các anh rằng: “Có lẽ trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, chưa có cuộc "ra quân" nào của giới trí thức rầm rộ và có ảnh hưởng trực tiếp, sâu rộng như phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe. Phong trào này đã góp phần không nhỏ trong việc tập hợp thanh niên, học sinh, sinh viên tham gia phong trào đấu tranh tại các đô thị miền Nam Việt Nam trong những năm chiến tranh.”. Vâng, chúng tôi cũng xác nhận rằng các anh là các công thần của chế độ cộng sản. Nhưng hiện giờ các anh đang làm gì? Ở đâu và đang sinh sống ra sao? Sao không xuống đường biểu tình chống Trung Cộng?
Các anh có biết rằng hiện nay, có nhiều người thuộc thế hệ các anh, thuộc thế hệ em, cháu các anh cũng vì lòng yêu nước, nhưng hơi khác các anh một chút- là họ yêu nước mà không yêu CNXH- điểm giống các anh là họ cũng đã làm thơ cũng đã viết nhạc, nhưng thơ của họ đơn sơ, không đồ sộ như những tập san Đồng Dao, Đối Diện, Đứng Dậy của các anh, thơ của họ chỉ mộc mạc như tâm hồn của họ rằng: “Vì Danh Dự Dân Tộc, Chống Giặc Tàu - Vì Tương Lai Đất Nước, Chống Tham Nhũng ” và nhạc của họ cũng giản dị chân chất như tấm lòng người Nam bộ chứ không được đồ sộ như những tập nhạc "Hát cho đồng bào tôi nghe" - tức Chúng ta đã đứng dậy - với lời tựa hùng hồn sắt máu của anh Huỳnh Tấn Mẫm năm xưa. Ấy vậy mà họ đã bị bắt giam cầm, bị tra tấn và ngày mai đây họ phải ra tòa để bị xét xử về tội yêu nước, về ý thức và tinh thần dân tộc chứ không phải tinh thần quốc tế vô sản.
Các anh có biết những vụ việc này không?
Các anh suy nghĩ như thế nào?
Sao các anh không tiếp tục “Hát cho đồng bào tôi nghe và nghe đồng bào tôi hát” nữa đi?
Sao các anh chỉ biết chống lại những người xây dựng và bảo vệ tự do, mà không dám chống lại những người mang đến thảm họa cho đất nước và tai ương cho dân tộc?
Sao các anh chỉ dám chống lại những người biết tôn trọng các anh, tôn trọng cả phẩm giá làm người của đồng bào các anh, mà các anh không biết chống lại những người đang chà đạp mọi quyền tự do căn bản của các anh và của cả dân tộc này?
Sao các anh chỉ chống lại và bức tử một thể chế chính trị đã xây dựng và bảo về cho các anh đầy đủ mọi quyền tự do, kể cả quyền được chống lại họ mà các anh không biết chống lại một chế độ độc tài toàn trị đã tước đoạt của các anh và đồng bào các anh hết tất cả mọi quyền tự do, dân chủ cũng như quyền làm ngừơi và họ đang cõng rắn về cắn gà nhà và đang rước cả voi về dày mả Tổ?
Các anh Trương Thìn, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng… và các thi sỹ nhạc sỹ, các sinh viên trí thức của Việt Nam đang ở đâu?
SAO KHÔNG XUỐNG ĐƯỜNG?
Nguyễn Thu Trâm
Vậy là ngày mai họ đưa hai người yêu nước Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình ra tòa.
Lại một phiên tòa của những kẻ bán nước xét xử người yêu nước như nhiều phiên tòa từng diễn ra trên đất nước Việt Nam suốt từ 37 năm nay. Những phiên tòa phi lý vô nhân và bất công đã khiến cho hàng chục ngàn gia đình nát tan ly loạn vì người thân của họ vì quá yêu nước mà lụy vòng lao lý tù đày mà không ít người trong số đó, sau phiên toàn rồi không bao giờ trở về nữa.
Và ngày mai này đến lượt các anh phải ra tòa, chỉ bởi các anh đã nói thay cho triệu người Việt Nam về nỗi ưu tư trước thảm họa mất nước, trước nguy cơ bị diệt vong hay đồng hóa của giống nòi.
Có đâu trên thế gian này lòng yêu nước cần phải được kín giấu, nếu không muốn bị xỉ vả, bị đấu tố, bị giam cầm tra tấn và bị tù đày ?
Có đâu trên thế gian này sự gian trá, lường láo, bịp bợm và phản trắc lại được tôn vinh là quang vinh muôn năm, là đời đời sống mãi… ?
Truyền thuyết một mẹ trăm con của Việt Tộc khiến người Việt gọi nhau bằng hai tiếng “Đồng Bào” nghe gần gũi thân thương và cao cả quá, nhưng sao lại mỉa mai và nghịch lý đến thế này, sao lại vị bất đồng chủng mà quay lại giết hại đồng bào mình ?
Sao lại “Quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” mà lại không anh em với những người cùng mình sinh ra từ một bọc trứng ?
Phải chăng vì đất nước này vốn tồn tại nhiều nghịch lý, nên con người ta cảm thấy bình thường trước nghịch lý và phản cảm trước những cái chân thiện mỹ ?
Đâu rồi những ngày sinh viên, trí thức, Phật tử miền nam xuống đường chống lại cuộc chiến tranh ngăn chặn làn sóng đỏ của chính thể Quốc Gia đang bảo vệ nền tự do cho đồng bào Nam Việt trước họa xâm lược của cộng quân Bắc Việt ?
Đâu rồi phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe và nghe đồng bào tôi hát”? Đâu rồi phong trào vận động người dân đấu tranh đòi chấm dứt cuộc chiến chống cộng của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, phản đối sự hiện diện của quân đội đồng minh Hoa Kỳ trên đất nước Việt Nam trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng, đòi lật đổ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, đòi Hoa Kỳ phải rút hết quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam, để cho “Bác cùng chúng cháu hành quân vào Sài Gòn…” đánh đổ giai cấp tư sản xanh để xây dựng nên giai cấp tư sản đỏ ? Để rồi hàng hàng lớp lớp người dân Sài Gòn và cả Miền Nam phải đánh đổi hết cả gia sản và cả tính mạng của mình nữa để vượt biển đi tìm tự do, bởi những bài xích tự do của những sinh viên trí thức này.
Đâu rồi sinh viên y khoa Trương Thìn, Đâu rồi các nhà thơ Lê Văn Ngăn, Lê Gành, Trần Vàng Sao, Trần Phá Nhạc, Đông Trình, Đoàn Khắc Xuyên, Hoàng Nghĩa ? Đâu rồi các nhạc sỹ Trần Quang Long, Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập, Trương Quốc Khánh, Trần Long Ẩn, Nguyễn Văn Sanh, La Hữu Vang, Nguyễn Xuân Tân, Nguyễn Tuấn Kiệt, Nguyễn Nam, Nguyễn Phú Yên,.. Vũ Đức Sao Biển, Xuân An, Hải Hà, La Hữu Vang với "Dậy Mà Đi" "Tổ Quốc Ơi Ta Đã Nghe", "Hát Trong Làn Khói Đạn"?
Đâu rồi các "Hội Tết Quang Trung Sài Gòn" năm 1967 ? Đâu rồi "Đêm nhạc Tôn Thất Lập" ở Đại học Dược khoa Sài Gòn năm 1967 ? Đâu rồi "Đêm thơ nhạc" ở Đại học Sư phạm Huế vào tháng 12 năm 1967 xuống đường, với các chiến dịch đốt xe tăng Mỹ, để đón xe tăng của Nga Sô Trung Cộng vào nghiền nát hàng ngàn đồng bào đang trên đường lánh nạn, trước khi húc đổ cổng Dinh Độc Lập và treo ngọn cờ máu lên nóc dinh để báo hiệu sự cáo chung của một nền tự do dân chủ của dân tộc.
Tôi không biết từ sau ngày miền Nam bị hoàn toàn nhuộm đỏ nhờ sự đóng góp không nhỏ cả các sinh viên, trí thức, thi sỹ, nhạc sỹ và của các anh, đã có ai trong số các anh lại phải cũng đồng bào miền Nam băng rừng, vượt biển đi tìm tự do? Có ai trong số các anh phải vĩnh viễn nằm lại dưới lòng biển lạnh, và co ai đã may mắn đến được bến bờ tự do, để các anh có thể thấy được cái giá trị đích thực của tự do cũng như cái giá mà con người phải trả để đạt được nó. Bởi do cái thói tục ở đời khi người ta đang có cái gì trong tầm tay thì không biết trân trọng giữ gìn, thậm chí còn “xuống đường” chống báng lại nó, để khi nó vuột khỏi tầm tay thì con người ta lại phải quay quắt kiếm tìm mà cuộc tìm kiếm không phải chỉ trả giá bằng bạc vàng mà còn bằng chính cả mạng sống.
Các anh Trương Thìn, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng… Các anh có công lớn lắm trong công cuộc đánh đuổi đế quốc Mỹ ra khỏi miền nam tự do để tiếp rước đế quốc Đại Hán về cho cả mọi miền đất nước. Lịch sử đảng cộng sản đã ghi nhận công lao của các anh rằng: “Có lẽ trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, chưa có cuộc "ra quân" nào của giới trí thức rầm rộ và có ảnh hưởng trực tiếp, sâu rộng như phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe. Phong trào này đã góp phần không nhỏ trong việc tập hợp thanh niên, học sinh, sinh viên tham gia phong trào đấu tranh tại các đô thị miền Nam Việt Nam trong những năm chiến tranh.”. Vâng, chúng tôi cũng xác nhận rằng các anh là các công thần của chế độ cộng sản. Nhưng hiện giờ các anh đang làm gì? Ở đâu và đang sinh sống ra sao? Sao không xuống đường biểu tình chống Trung Cộng?
Các anh có biết rằng hiện nay, có nhiều người thuộc thế hệ các anh, thuộc thế hệ em, cháu các anh cũng vì lòng yêu nước, nhưng hơi khác các anh một chút- là họ yêu nước mà không yêu CNXH- điểm giống các anh là họ cũng đã làm thơ cũng đã viết nhạc, nhưng thơ của họ đơn sơ, không đồ sộ như những tập san Đồng Dao, Đối Diện, Đứng Dậy của các anh, thơ của họ chỉ mộc mạc như tâm hồn của họ rằng: “Vì Danh Dự Dân Tộc, Chống Giặc Tàu - Vì Tương Lai Đất Nước, Chống Tham Nhũng ” và nhạc của họ cũng giản dị chân chất như tấm lòng người Nam bộ chứ không được đồ sộ như những tập nhạc "Hát cho đồng bào tôi nghe" - tức Chúng ta đã đứng dậy - với lời tựa hùng hồn sắt máu của anh Huỳnh Tấn Mẫm năm xưa. Ấy vậy mà họ đã bị bắt giam cầm, bị tra tấn và ngày mai đây họ phải ra tòa để bị xét xử về tội yêu nước, về ý thức và tinh thần dân tộc chứ không phải tinh thần quốc tế vô sản.
Các anh có biết những vụ việc này không?
Các anh suy nghĩ như thế nào?
Sao các anh không tiếp tục “Hát cho đồng bào tôi nghe và nghe đồng bào tôi hát” nữa đi?
Sao các anh chỉ biết chống lại những người xây dựng và bảo vệ tự do, mà không dám chống lại những người mang đến thảm họa cho đất nước và tai ương cho dân tộc?
Sao các anh chỉ dám chống lại những người biết tôn trọng các anh, tôn trọng cả phẩm giá làm người của đồng bào các anh, mà các anh không biết chống lại những người đang chà đạp mọi quyền tự do căn bản của các anh và của cả dân tộc này?
Sao các anh chỉ chống lại và bức tử một thể chế chính trị đã xây dựng và bảo về cho các anh đầy đủ mọi quyền tự do, kể cả quyền được chống lại họ mà các anh không biết chống lại một chế độ độc tài toàn trị đã tước đoạt của các anh và đồng bào các anh hết tất cả mọi quyền tự do, dân chủ cũng như quyền làm ngừơi và họ đang cõng rắn về cắn gà nhà và đang rước cả voi về dày mả Tổ?
Các anh Trương Thìn, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng… và các thi sỹ nhạc sỹ, các sinh viên trí thức của Việt Nam đang ở đâu?
SAO KHÔNG XUỐNG ĐƯỜNG?
Nguyễn Thu Trâm
Obama Đón Tập Cận Bình...
Tác giả : Trần Khải
Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama sẽ đón Tập Cận Bình để họp Thượng Đỉnh ở một trang trại Nam California vào Thứ Sáu và Thứ Bảy này.
Đề tài thì nhiều lắm. Từ an ninh, tới thương mại, tới tin tặc, tới nhân quyền.
Nhưng tại sao lại đưa về nơi sa mạc Palm Springs, nơi nóng thê thảm và động đất thường xuyên, để đón họ Tập? Có phải vì Obama muốn tiện đường bay lên San Jose sau đó để gây quỹ cho Đảng Dân Chủ. Chuyện gây quỹ là chuyện nhỏ, nên thấy như thế. Thêm nữa, phi cơ bay nhanh lắm, đâu phải chuyện người xưa phải võng, phải cáng, phải ngồi lưng ngựa ngày dài tháng rộng.
Hay phải chăng Obama muốn dụ Tập Cận Bình tới gần Little Saigon (lái xe cỡ 1 giờ và 38 phút, từ Little Saigon tới Palm Springs) để dân gốc Việt và gốc Tây Tạng rủ nhau tới biểu tình cho dễ?
Không hẳn như thế. Obama không nghĩ tới chuyện như thế. Nhưng hẳn là đã từng đắn đo, rằng có nên trải thảm đỏ Bạch Ốc để đón Tập Cận Bình hay không?
Nếu đón họ Tập ở Bạch Ốc, nghĩa là sẽ thêm hào quang cho họ Tập, thêm cả hào quang cho phu nhân họ Tập là bà Bành Lệ Viện, vốn đã là một ngôi sao âm nhạc ở Bắc Kinh và mang quân hàm Thiếu Tướng quân lực Trung Quốc.
Trong khi đó, tội nghiệp cho các nhà bất đông chính kiến đang bị giam hay quản chế ở Bắc Kinh, mà Obama từng lớn tiếng đòi trả tự do, như Giải Nobel Hòa Bình 2010 Lưu Hiểu Ba, người chấp bút viết lên hiến Chương 08 đòi tự do dân chủ tại Trung Quốc và bị giam từ năm 2009 tới giờ.
Thêm nữa, cũng chẳng thể vui gì, nếu Obama đón Tập Cận Bình trong khi số người tự thiêu ở Tây Tạng đã khoảng 120 người rồi.
Nhung hãy nhìn thấy, Obama đã đón các nhân vật khác trang trọng, mới thấy rằng Obama rủ Tập Cận Bình ra sa mạc Nam Cali hẳn là có lý do.
Obama đã đón Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Phòng Bản Đồ của Bạch Ốc vào ngày 16-7-2011, và chấp nhận để bị Trung Quốc phản đối. Tại sao đón ở Phòng Bản Đồ? Có phải là để chỉ lên một góc thiệt cao ở Hy Mã Lạp Sơn, rằng có một vùng khoanh lại, ghi rõ chữ “quốc gia Tây Tạng”? Chúng ta không biết chính xác, nhưng hẳn là có lý do vậy.
Obama cũng đón lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi ở Phòng Bầu Dục của Bạch Ốc ngày 19-9-2012. Phòng này là nơi làm việc, nên có ý nghĩa là thảm đỏ trang trọng.
Obama đón cựu tướng Thein Sein, người trở thành Tổng Thống Miến Điện đầu tiên sau khi ông này chuyển cả nước từ nền quân phiệt sang chế độ dân chủ đa đảng tuyệt vời. Lần này cũng ở Phòng Bầu Dục của Bạch Ốc.
Thế rời, ngày 21-3-2013, Obama đón người viết blog nổi tiếng nhất của Cuba là cô Yoani Sanchez tại Bạch Ốc, người bị chế độ Fidel Castro xem là chống lại thiên đường cộng sản của Cuba.
Như thế, Obama muốn đón ai thì đón, bất kể làm mích lòng người này, nhà nước kia.
Vậy thì tại sao đón Tập Cận Bình ở sa mạc Nam Cali, nơi bước ra phố là nóng kinh khủng?
Hẳn nhiên không phải vì bênh vực Biển Đông của Việt Nam nơi các lãnh tụ Hà Nội cam kết sẽ có niềm tin chiến lược để duy trì hòa bình, ổn định... với đàn anh Phương Bắc?
Hay phải chăng, Obama muốn chứng tỏ rằng Obama trải thảm xương rồng để đón Tập Cận Bình?
Nhưng Việt Nam có thành vấn đề gì không, khi Obama đón Tập Cận Bình? Chúng ta không biết, và có thể đoán là không có đề tài thảo luận đó, may ra là đề tài ổn định Châu Á -- cả vùng biển, và hàng không.
Nhưng hẳn là Obama cũng biết rằng Việt Nam đang có những chuyển động làm Bắc Kinh không hài lòng, vì những cuộc biểu tình chông Trung Qu6c. Và cụ thể, giới trí thức, nhân sĩ trong các Kiến Nghị và Thư Ngỏ luôn luôn kể tội Trung Quốc âm mưu lấn chiếm Việt Nam và cứ đòi Hà Nội phải chuyển sang chế độ đa đảng để thóng nhất ý chí toàn dân nhằm chống Tàu...
Hôm 6-6-2013 cũng là ngày có một chuyển động mới ở VN: bản văn có tên “Phản Đối Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Trình Quốc Hội Khóa XIII Tại Kỳ Họp Thứ 5” đã phổ biến trên mạng Bauxite VN, mang chữ ký 40 trí thức.
Bản văn từ các vị naỳ, nguyên còn có tên là những người thực hiện Kiến Nghị 72.
Bản văn mới nói rõ: cần dẹp bỏ chế độ độc đảng, để chuyển sang đa đang, đoàn kết toàn dân để chống Tàu.
Bản văn 40 trí thức ký tên này viết, trích:
“Dự Thảo Hiến Pháp (DTHP) vẫn khăng khăng bám giữ thể chế toàn trị của một đảng gắn với ý thức hệ và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lênin, một học thuyết tuy đã có vai trò lịch sử nhất định trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc nhưng nay đã bị thực tế chứng minh rõ là không tưởng và có nhiều sai lầm được coi là nguyên lý xây dựng xã hội mới, dẫn tới sự sụp đổ chế độ chính trị-xã hội ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa cách đây hơn hai mươi năm, và vì vậy đã bị loài người tiến bộ bác bỏ.
Việc hiến định sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với xã hội và nhà nước là biểu hiện rõ nét nhất của tinh thần phản dân chủ; tự nó đã khiến cho những điều ghi trong DTHP về quyền lực của nhân dân và của các tổ chức do dân bầu cũng như các quyền cơ bản của con người và của công dân chỉ là cái vỏ, không có thực chất, như đã thể hiện rõ trong thực tế nước ta nhiều năm qua.
Duy trì sự độc quyền toàn trị của giới cầm quyền nhân danh ĐCSVN chi phối toàn bộ quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị là nguyên nhân cơ bản khiến cho đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện và đang bị thách thức trầm trọng về nhiều mặt như hiện nay. Sự độc quyền toàn trị cũng là nguyên nhân gốc hủy hoại vai trò lãnh đạo của ĐCSVN... (...)
Chúng tôi tin tưởng đồng bào trong và ngoài nước nhận rõ việc sửa đổi Hiến pháp lần này là cơ hội thuận lợi để cải cách thể chế chính trị, đòi hỏi phải kiên trì đấu tranh để từng bước dân chủ hóa xã hội, xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự của dân, do dân, vì dân, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Quá trình đấu tranh này cũng là quá trình hòa giải, hoà hợp dân tộc, khép lại quá khứ, vượt qua mọi định kiến, hướng tới tương lai của đất nước và dân tộc. Mỗi người chúng ta, tùy theo cương vị và hoàn cảnh của mình hãy góp sức một cách thiết thực và hiệu quả vào quá trình vận động dân chủ bằng các hình thức đấu tranh ôn hòa, công khai, minh bạch...” (hết trích)
Viết như thế là đúng tinh thần của những khách quý của Obama, những người mà Obama đã trải thảm đỏ ở Bạch Ốc để đón linh đình.
Viết như Kiến nghị 72 và bản văn 40 người ký tên mới hôm qua là đúng tinh thần của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Thein Sein, Aung San Suu Kyi, cô Yoani Sanchez...
Còn với những người hắc ám thì đưa ra đón ở trang trại ngoài sa mạc Nam Cali, nơi Palm Springs thành phố nóng thê thảm và ưa động đất. Và không chừng trong khi tiếp đón Tập Cận Bình, Obama sẽ nhủ thầm rằng làm sao cho xảy ra một trận động đất nhằm cho Tập Cận Bình và Bành Lệ Viện hoảng hốt chơi...
Điều chúng ta biết chắc rằng: Obama không ưa bất kỳ tay độc tài nào cả. Dù là độc tài Bắc Kinh, hay độc tài Hà Nội.
Tác giả : Trần Khải
Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama sẽ đón Tập Cận Bình để họp Thượng Đỉnh ở một trang trại Nam California vào Thứ Sáu và Thứ Bảy này.
Đề tài thì nhiều lắm. Từ an ninh, tới thương mại, tới tin tặc, tới nhân quyền.
Nhưng tại sao lại đưa về nơi sa mạc Palm Springs, nơi nóng thê thảm và động đất thường xuyên, để đón họ Tập? Có phải vì Obama muốn tiện đường bay lên San Jose sau đó để gây quỹ cho Đảng Dân Chủ. Chuyện gây quỹ là chuyện nhỏ, nên thấy như thế. Thêm nữa, phi cơ bay nhanh lắm, đâu phải chuyện người xưa phải võng, phải cáng, phải ngồi lưng ngựa ngày dài tháng rộng.
Hay phải chăng Obama muốn dụ Tập Cận Bình tới gần Little Saigon (lái xe cỡ 1 giờ và 38 phút, từ Little Saigon tới Palm Springs) để dân gốc Việt và gốc Tây Tạng rủ nhau tới biểu tình cho dễ?
Không hẳn như thế. Obama không nghĩ tới chuyện như thế. Nhưng hẳn là đã từng đắn đo, rằng có nên trải thảm đỏ Bạch Ốc để đón Tập Cận Bình hay không?
Nếu đón họ Tập ở Bạch Ốc, nghĩa là sẽ thêm hào quang cho họ Tập, thêm cả hào quang cho phu nhân họ Tập là bà Bành Lệ Viện, vốn đã là một ngôi sao âm nhạc ở Bắc Kinh và mang quân hàm Thiếu Tướng quân lực Trung Quốc.
Trong khi đó, tội nghiệp cho các nhà bất đông chính kiến đang bị giam hay quản chế ở Bắc Kinh, mà Obama từng lớn tiếng đòi trả tự do, như Giải Nobel Hòa Bình 2010 Lưu Hiểu Ba, người chấp bút viết lên hiến Chương 08 đòi tự do dân chủ tại Trung Quốc và bị giam từ năm 2009 tới giờ.
Thêm nữa, cũng chẳng thể vui gì, nếu Obama đón Tập Cận Bình trong khi số người tự thiêu ở Tây Tạng đã khoảng 120 người rồi.
Nhung hãy nhìn thấy, Obama đã đón các nhân vật khác trang trọng, mới thấy rằng Obama rủ Tập Cận Bình ra sa mạc Nam Cali hẳn là có lý do.
Obama đã đón Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Phòng Bản Đồ của Bạch Ốc vào ngày 16-7-2011, và chấp nhận để bị Trung Quốc phản đối. Tại sao đón ở Phòng Bản Đồ? Có phải là để chỉ lên một góc thiệt cao ở Hy Mã Lạp Sơn, rằng có một vùng khoanh lại, ghi rõ chữ “quốc gia Tây Tạng”? Chúng ta không biết chính xác, nhưng hẳn là có lý do vậy.
Obama cũng đón lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi ở Phòng Bầu Dục của Bạch Ốc ngày 19-9-2012. Phòng này là nơi làm việc, nên có ý nghĩa là thảm đỏ trang trọng.
Obama đón cựu tướng Thein Sein, người trở thành Tổng Thống Miến Điện đầu tiên sau khi ông này chuyển cả nước từ nền quân phiệt sang chế độ dân chủ đa đảng tuyệt vời. Lần này cũng ở Phòng Bầu Dục của Bạch Ốc.
Thế rời, ngày 21-3-2013, Obama đón người viết blog nổi tiếng nhất của Cuba là cô Yoani Sanchez tại Bạch Ốc, người bị chế độ Fidel Castro xem là chống lại thiên đường cộng sản của Cuba.
Như thế, Obama muốn đón ai thì đón, bất kể làm mích lòng người này, nhà nước kia.
Vậy thì tại sao đón Tập Cận Bình ở sa mạc Nam Cali, nơi bước ra phố là nóng kinh khủng?
Hẳn nhiên không phải vì bênh vực Biển Đông của Việt Nam nơi các lãnh tụ Hà Nội cam kết sẽ có niềm tin chiến lược để duy trì hòa bình, ổn định... với đàn anh Phương Bắc?
Hay phải chăng, Obama muốn chứng tỏ rằng Obama trải thảm xương rồng để đón Tập Cận Bình?
Nhưng Việt Nam có thành vấn đề gì không, khi Obama đón Tập Cận Bình? Chúng ta không biết, và có thể đoán là không có đề tài thảo luận đó, may ra là đề tài ổn định Châu Á -- cả vùng biển, và hàng không.
Nhưng hẳn là Obama cũng biết rằng Việt Nam đang có những chuyển động làm Bắc Kinh không hài lòng, vì những cuộc biểu tình chông Trung Qu6c. Và cụ thể, giới trí thức, nhân sĩ trong các Kiến Nghị và Thư Ngỏ luôn luôn kể tội Trung Quốc âm mưu lấn chiếm Việt Nam và cứ đòi Hà Nội phải chuyển sang chế độ đa đảng để thóng nhất ý chí toàn dân nhằm chống Tàu...
Hôm 6-6-2013 cũng là ngày có một chuyển động mới ở VN: bản văn có tên “Phản Đối Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Trình Quốc Hội Khóa XIII Tại Kỳ Họp Thứ 5” đã phổ biến trên mạng Bauxite VN, mang chữ ký 40 trí thức.
Bản văn từ các vị naỳ, nguyên còn có tên là những người thực hiện Kiến Nghị 72.
Bản văn mới nói rõ: cần dẹp bỏ chế độ độc đảng, để chuyển sang đa đang, đoàn kết toàn dân để chống Tàu.
Bản văn 40 trí thức ký tên này viết, trích:
“Dự Thảo Hiến Pháp (DTHP) vẫn khăng khăng bám giữ thể chế toàn trị của một đảng gắn với ý thức hệ và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lênin, một học thuyết tuy đã có vai trò lịch sử nhất định trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc nhưng nay đã bị thực tế chứng minh rõ là không tưởng và có nhiều sai lầm được coi là nguyên lý xây dựng xã hội mới, dẫn tới sự sụp đổ chế độ chính trị-xã hội ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa cách đây hơn hai mươi năm, và vì vậy đã bị loài người tiến bộ bác bỏ.
Việc hiến định sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với xã hội và nhà nước là biểu hiện rõ nét nhất của tinh thần phản dân chủ; tự nó đã khiến cho những điều ghi trong DTHP về quyền lực của nhân dân và của các tổ chức do dân bầu cũng như các quyền cơ bản của con người và của công dân chỉ là cái vỏ, không có thực chất, như đã thể hiện rõ trong thực tế nước ta nhiều năm qua.
Duy trì sự độc quyền toàn trị của giới cầm quyền nhân danh ĐCSVN chi phối toàn bộ quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị là nguyên nhân cơ bản khiến cho đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện và đang bị thách thức trầm trọng về nhiều mặt như hiện nay. Sự độc quyền toàn trị cũng là nguyên nhân gốc hủy hoại vai trò lãnh đạo của ĐCSVN... (...)
Chúng tôi tin tưởng đồng bào trong và ngoài nước nhận rõ việc sửa đổi Hiến pháp lần này là cơ hội thuận lợi để cải cách thể chế chính trị, đòi hỏi phải kiên trì đấu tranh để từng bước dân chủ hóa xã hội, xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự của dân, do dân, vì dân, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Quá trình đấu tranh này cũng là quá trình hòa giải, hoà hợp dân tộc, khép lại quá khứ, vượt qua mọi định kiến, hướng tới tương lai của đất nước và dân tộc. Mỗi người chúng ta, tùy theo cương vị và hoàn cảnh của mình hãy góp sức một cách thiết thực và hiệu quả vào quá trình vận động dân chủ bằng các hình thức đấu tranh ôn hòa, công khai, minh bạch...” (hết trích)
Viết như thế là đúng tinh thần của những khách quý của Obama, những người mà Obama đã trải thảm đỏ ở Bạch Ốc để đón linh đình.
Viết như Kiến nghị 72 và bản văn 40 người ký tên mới hôm qua là đúng tinh thần của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Thein Sein, Aung San Suu Kyi, cô Yoani Sanchez...
Còn với những người hắc ám thì đưa ra đón ở trang trại ngoài sa mạc Nam Cali, nơi Palm Springs thành phố nóng thê thảm và ưa động đất. Và không chừng trong khi tiếp đón Tập Cận Bình, Obama sẽ nhủ thầm rằng làm sao cho xảy ra một trận động đất nhằm cho Tập Cận Bình và Bành Lệ Viện hoảng hốt chơi...
Điều chúng ta biết chắc rằng: Obama không ưa bất kỳ tay độc tài nào cả. Dù là độc tài Bắc Kinh, hay độc tài Hà Nội.
Những bàn chân nổi giận
Tương Lai
Tháng trước, Tòa Án tỉnh Long An Việt Nam đã kết án nặng nề hai sinh viên yêu nước ở độ tuổi 20. Trong những tội danh bị áp đặt có tội "nói xấu Trung Quốc". Những cáo buộc này đã chạm vào điểm nhạy cảm bậc nhất trong tâm thế người Việt Nam là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Người ta phẫn nộ, vì như thế là ai đó đã hợp đồng với Trung Quốc xâm lược để quay lại đàn áp người yêu nước. Bi kịch lớn nhất của một số người lãnh đạo Việt Nam là sự ám ảnh về cái gọi là "cùng chung một ý thức hệ xã hội chủ nghĩa" nên đã không quyết liệt đáp trả những thủ đoạn bành trướng nham hiểm và những hành động xâm lược ngang ngược của Trung Quốc. Nhưng lại quyết liệt đàn áp những người yêu nước, bóp nghẹt dân chủ, bưng bít thông tin và khủng bố tư tưởng công dân mình. Đầu tuần này, công an Hà Nội đã trấn áp một cuộc biểu tình chống Trung Quốc và bắt nhiều người, hành hung, đánh đập họ, trong đó có cả phụ nữ
Dân tộc Việt Nam có quyền tự hào về truyền thống bất khuất, quật cường của mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước trong vị thế oái oăm nằm sát cạnh một láng giềng khổng lồ chưa bao giờ từ bỏ giấc mộng bành trướng nhằm nuốt chửng Việt Nam. Đất nước này đã từng chìm đắm cả nghìn năm Bắc thuộc. Trong cái đêm dài đau đớn ấy, kẻ thù luôn tìm cách đồng hóa dân tộc Việt. Và chúng đã thất bại.
Việt Nam đã từng đánh bại đế quốc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII và những kẻ xâm lược khác trong thế kỷ XV, XVIII và XX. Bản lĩnh dân tộc Việt đã được hun đúc qua những cuộc chiến tranh khốc liệt chống ngoại xâm. Nhưng hôm nay, bất chấp luật pháp quốc tế và chà đạp lên nguyên tắc và đạo lý, Trung Quốc đã ngang nhiên thực hiện mộng bành trướng trên Biển Đông, cái "lưỡi bò" ham hố và bẩn thỉu đang thè ra chực nuốt cả vùng biển rộng lớn, nơi có trữ lượng dầu mỏ đủ đáp ứng cơn khát nguyên liệu của một nền kinh tế đang cố ngoi lên vị thế siêu cường. Nơi đây cũng là con đường huyết mạch trên biển để Trung Quốc thực hiện tham vọng của họ. Vì thế, những “bàn chân nổi giận” đã rầm rập xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược.
Cùng với những cuộc biểu tình ấy, những khiếu kiện tập thể của nông dân cũng dồn dập bùng lên. Sự nối kết giữa tầng lớp trí thức với giới trẻ ở đô thị và nông dân – những người bị đẩy vào cuộc sống đói nghèo vì mất đất sản xuất khi người ta nhân danh "sở hữu toàn dân" để tước đoạt quyền sở hữu mảnh đất cha ông họ để lại mà không được đền bù thỏa đáng. Cùng với điều đó, mạng lưới thông tin qua Internet đã trỗi lên như nấm sau cơn mưa biểu thị tinh thần yêu nước bất chấp mọi đàn áp đang mở ra một cục diện mới.
Sự nổi giận của người Việt Nam lại càng tăng lên khi một số những người lãnh đạo lùi bước trước những hành động tội ác của Trung Quốc xâm lược Việt Nam nhưng lại quyết liệt đàn áp người yêu nước đấu tranh đòi dân chủ và tự do. "Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa " là một khái niệm rất mơ hồ, nhưng những người lãnh đạo lại dùng nó để duy trì một hệ thống chính trị đã quá lỗi thời.
Nếu không có những đổi mới ở thập niên 80, nền kinh tế tập trung có lẽ đã đưa Việt Nam đi đến bờ vực sụp đổ. Tuy nhiên, những cải cách kinh tế đó đã bị đình trệ vì không có cải cách chính trị song hành. Tuy nói rất nhiều về một nhà nước "của dân do dân và vì dân" nhưng người ta chưa bao giờ muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền và một xã hội dân sự đúng với ý nghĩa đích thực của nó
Với cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước thắng lợi, Việt Nam đã nhận được sự đồng cảm, lòng tôn trọng và ngưỡng mộ của nhiều người yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đáng tiếc là từ đỉnh cao của chiến thắng, người ta lại duy trì một hệ thống chính trị lạc hậu và một hệ tư tưởng giáo điều nên nền kinh tế Việt Nam đã không thể phát triển mạnh mẽ như nó cần làm và có đủ điều kiện để làm. Để rồi họ trở thành mục tiêu phê phán của cộng đồng quốc tế về đàn áp dân chủ và vi phạm nhân quyền
Chính vì một số nhà lãnh đạo Việt Nam bị "cái mũ kim cô" của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán siết chặt nên đã đẩy đất nước ra khỏi quỹ đạo dân chủ để gánh chịu lạc hậu và lạc điệu so với thế giới văn minh, một thế giới mà Việt Nam đang rất cần hòa nhập để đất nước có điều kiện phát triển.
Ấy thế mà từ lâu, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội để thay thế bằng một "Chủ nghĩa tư bản mang màu sắc Trung Quốc" man rợ nhằm nuôi dưỡng mộng bành trướng của cha ông họ mà họ chưa bao giờ từ bỏ. Cho nên, cái gọi là "cùng chung thức hệ" mà ai đó đưa ra chỉ là cái bình phong che đậy cho tham vọng quyền lực, nhằm giữ bằng được cái ghế mà họ đang ngồi. Những ngôn từ đạo đức giả được đưa ra, rồi mười sáu chữ bịp bợm về "láng giềng hữu nghị" được tung hứng chỉ là trò khôi hài.
Nhằm bảo vệ cái ghế quyền lực của một số người đang giành được những vị thế quan trọng, để củng cố và mở rộng những lợi ích béo bở của mình, người ta đang quay lưng lại với nhân dân. Một số trí thức và nhân sĩ, trong đó có người viết bài này, đã đưa ra hàng loạt kiến nghị về thực thi dân chủ và nhân quyền trong Hiến pháp nhằm hướng tới việc tạo ra một hệ thống chính trị thực sự dân chủ. Tuy nhiên, đề xuất của chúng tôi đã gặp phải những lời lăng mạ và vu khống trên các tờ báo chính thống được chỉ đạo sát sao.
Người ta đã không thấy được rằng, một khi phong trào yêu nước chống ngoại xâm gắn kết được với cuộc đấu tranh dân chủ và thực hiện quyền con người đã được ghi vào trong Hiến pháp, sẽ đẩy tới những bước hợp trội trong sự phát triển, tạo ra những đột phá không lường trước được, hình thành một cục diện mới, đưa đất nước đi lên.
Cho nên, càng sử dụng bạo lực và đàn áp, càng cho thấy sự phi dân chủ, vô nhân tính của những người sử dụng nó.
Người lãnh đạo nắm bắt được cục diện mới, nhanh nhạy đáp ứng được lợi ích dân tộc, đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết và trước hết, sẽ nhận được hậu thuẫn mạnh mẽ của dân và sự đồng tình của bạn bè quốc tế.
Ngược lại, nếu tiếp tục quay lưng lại với dân, nấp dưới chiêu bài ý thức hệ đã lỗi thời, bám chặt mô hình toàn trị phản dân chủ, chỉ cốt giữ cho được cái ghế quyền lực đã rệu rã và đưa đất nước vào ngõ cụt không lối thoát, thì sự cáo chung là điều không thể tránh khỏi.
Tương Lai
Tháng trước, Tòa Án tỉnh Long An Việt Nam đã kết án nặng nề hai sinh viên yêu nước ở độ tuổi 20. Trong những tội danh bị áp đặt có tội "nói xấu Trung Quốc". Những cáo buộc này đã chạm vào điểm nhạy cảm bậc nhất trong tâm thế người Việt Nam là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Người ta phẫn nộ, vì như thế là ai đó đã hợp đồng với Trung Quốc xâm lược để quay lại đàn áp người yêu nước. Bi kịch lớn nhất của một số người lãnh đạo Việt Nam là sự ám ảnh về cái gọi là "cùng chung một ý thức hệ xã hội chủ nghĩa" nên đã không quyết liệt đáp trả những thủ đoạn bành trướng nham hiểm và những hành động xâm lược ngang ngược của Trung Quốc. Nhưng lại quyết liệt đàn áp những người yêu nước, bóp nghẹt dân chủ, bưng bít thông tin và khủng bố tư tưởng công dân mình. Đầu tuần này, công an Hà Nội đã trấn áp một cuộc biểu tình chống Trung Quốc và bắt nhiều người, hành hung, đánh đập họ, trong đó có cả phụ nữ
Dân tộc Việt Nam có quyền tự hào về truyền thống bất khuất, quật cường của mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước trong vị thế oái oăm nằm sát cạnh một láng giềng khổng lồ chưa bao giờ từ bỏ giấc mộng bành trướng nhằm nuốt chửng Việt Nam. Đất nước này đã từng chìm đắm cả nghìn năm Bắc thuộc. Trong cái đêm dài đau đớn ấy, kẻ thù luôn tìm cách đồng hóa dân tộc Việt. Và chúng đã thất bại.
Việt Nam đã từng đánh bại đế quốc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII và những kẻ xâm lược khác trong thế kỷ XV, XVIII và XX. Bản lĩnh dân tộc Việt đã được hun đúc qua những cuộc chiến tranh khốc liệt chống ngoại xâm. Nhưng hôm nay, bất chấp luật pháp quốc tế và chà đạp lên nguyên tắc và đạo lý, Trung Quốc đã ngang nhiên thực hiện mộng bành trướng trên Biển Đông, cái "lưỡi bò" ham hố và bẩn thỉu đang thè ra chực nuốt cả vùng biển rộng lớn, nơi có trữ lượng dầu mỏ đủ đáp ứng cơn khát nguyên liệu của một nền kinh tế đang cố ngoi lên vị thế siêu cường. Nơi đây cũng là con đường huyết mạch trên biển để Trung Quốc thực hiện tham vọng của họ. Vì thế, những “bàn chân nổi giận” đã rầm rập xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược.
Cùng với những cuộc biểu tình ấy, những khiếu kiện tập thể của nông dân cũng dồn dập bùng lên. Sự nối kết giữa tầng lớp trí thức với giới trẻ ở đô thị và nông dân – những người bị đẩy vào cuộc sống đói nghèo vì mất đất sản xuất khi người ta nhân danh "sở hữu toàn dân" để tước đoạt quyền sở hữu mảnh đất cha ông họ để lại mà không được đền bù thỏa đáng. Cùng với điều đó, mạng lưới thông tin qua Internet đã trỗi lên như nấm sau cơn mưa biểu thị tinh thần yêu nước bất chấp mọi đàn áp đang mở ra một cục diện mới.
Sự nổi giận của người Việt Nam lại càng tăng lên khi một số những người lãnh đạo lùi bước trước những hành động tội ác của Trung Quốc xâm lược Việt Nam nhưng lại quyết liệt đàn áp người yêu nước đấu tranh đòi dân chủ và tự do. "Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa " là một khái niệm rất mơ hồ, nhưng những người lãnh đạo lại dùng nó để duy trì một hệ thống chính trị đã quá lỗi thời.
Nếu không có những đổi mới ở thập niên 80, nền kinh tế tập trung có lẽ đã đưa Việt Nam đi đến bờ vực sụp đổ. Tuy nhiên, những cải cách kinh tế đó đã bị đình trệ vì không có cải cách chính trị song hành. Tuy nói rất nhiều về một nhà nước "của dân do dân và vì dân" nhưng người ta chưa bao giờ muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền và một xã hội dân sự đúng với ý nghĩa đích thực của nó
Với cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước thắng lợi, Việt Nam đã nhận được sự đồng cảm, lòng tôn trọng và ngưỡng mộ của nhiều người yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đáng tiếc là từ đỉnh cao của chiến thắng, người ta lại duy trì một hệ thống chính trị lạc hậu và một hệ tư tưởng giáo điều nên nền kinh tế Việt Nam đã không thể phát triển mạnh mẽ như nó cần làm và có đủ điều kiện để làm. Để rồi họ trở thành mục tiêu phê phán của cộng đồng quốc tế về đàn áp dân chủ và vi phạm nhân quyền
Chính vì một số nhà lãnh đạo Việt Nam bị "cái mũ kim cô" của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán siết chặt nên đã đẩy đất nước ra khỏi quỹ đạo dân chủ để gánh chịu lạc hậu và lạc điệu so với thế giới văn minh, một thế giới mà Việt Nam đang rất cần hòa nhập để đất nước có điều kiện phát triển.
Ấy thế mà từ lâu, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội để thay thế bằng một "Chủ nghĩa tư bản mang màu sắc Trung Quốc" man rợ nhằm nuôi dưỡng mộng bành trướng của cha ông họ mà họ chưa bao giờ từ bỏ. Cho nên, cái gọi là "cùng chung thức hệ" mà ai đó đưa ra chỉ là cái bình phong che đậy cho tham vọng quyền lực, nhằm giữ bằng được cái ghế mà họ đang ngồi. Những ngôn từ đạo đức giả được đưa ra, rồi mười sáu chữ bịp bợm về "láng giềng hữu nghị" được tung hứng chỉ là trò khôi hài.
Nhằm bảo vệ cái ghế quyền lực của một số người đang giành được những vị thế quan trọng, để củng cố và mở rộng những lợi ích béo bở của mình, người ta đang quay lưng lại với nhân dân. Một số trí thức và nhân sĩ, trong đó có người viết bài này, đã đưa ra hàng loạt kiến nghị về thực thi dân chủ và nhân quyền trong Hiến pháp nhằm hướng tới việc tạo ra một hệ thống chính trị thực sự dân chủ. Tuy nhiên, đề xuất của chúng tôi đã gặp phải những lời lăng mạ và vu khống trên các tờ báo chính thống được chỉ đạo sát sao.
Người ta đã không thấy được rằng, một khi phong trào yêu nước chống ngoại xâm gắn kết được với cuộc đấu tranh dân chủ và thực hiện quyền con người đã được ghi vào trong Hiến pháp, sẽ đẩy tới những bước hợp trội trong sự phát triển, tạo ra những đột phá không lường trước được, hình thành một cục diện mới, đưa đất nước đi lên.
Cho nên, càng sử dụng bạo lực và đàn áp, càng cho thấy sự phi dân chủ, vô nhân tính của những người sử dụng nó.
Người lãnh đạo nắm bắt được cục diện mới, nhanh nhạy đáp ứng được lợi ích dân tộc, đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết và trước hết, sẽ nhận được hậu thuẫn mạnh mẽ của dân và sự đồng tình của bạn bè quốc tế.
Ngược lại, nếu tiếp tục quay lưng lại với dân, nấp dưới chiêu bài ý thức hệ đã lỗi thời, bám chặt mô hình toàn trị phản dân chủ, chỉ cốt giữ cho được cái ghế quyền lực đã rệu rã và đưa đất nước vào ngõ cụt không lối thoát, thì sự cáo chung là điều không thể tránh khỏi.
VN: Biểu Tình Chiến Thuật Mới
Tác giả : Vi Anh
Không có cái khôn nào hơn cái khôn bình dân.Văn chương bình dân là của dân chúng, ca dao, tục ngữ, hát ru, v.v... bao hàm tất cả mọi phạm trù của cuộc sống, mọi bộ môn khoa học kỹ thuật, thì đâu có nhà bác học nào qua nổi. Dân giàu, nước mạnh nói cái khó nó bó cái khôn. Dân nghèo, nước yếu, hoàn cảnh bị thiếu thốn, áp bức bóc lột, phải cố gắng bắt cái khó ló ra cái khôn, biến đau thương thành hành động để sống còn, biến giấc mơ vươn lên thành hiện thực. Những chân lý có vẻ ngược đời này có thể thấy qua cuộc biểu tình của người dân Việt Nam nói chung sống trong gọng kềm CS, Mới đây người dân Việt trong nước thực hiện một chiến thuật biểu tình mới trong hoàn cảnh Đảng Nhà Nước CSVN độc tài đảng trị toàn diện gia tăng trấn áp người dân yêu nước nghiệt ngã nhứt, thô bạo nhứt trong mấy tuần lễ vừa qua. Nghe rồi đọc lại phóng sự rất lý thú, đầy đủ thông tin, nghị luận và âm chứng của những người trong cuộc, của biên tập viên Mặc Lâm của Đài Phát Thanh Á châu Tự do, RFA, ngày 4 tháng 6 năm 2013, người Việt hải ngoại cảm thấy thán phục đồng bào yêu nước thương dân đang cố gắng uốn mình qua ngỏ hẹp, tương kế tựu kế biểu tình chống Trung Cộng. Vì bị Đảng Nhà Nước VNCS đàn áp nghiệt ngã, bạo tàn. Nên trong khó khổ đồng bào ló ra cái khôn là chiến thuật mới biểu tình đầy sáng tạo ít ai ngờ nhưng rất hữu hiệu.
Một là “biểu tình nằm”. Nhớ cách đây mấy năm, Hoà Thượng Thích Quảng Độ, một nhà tu trong thời VN bị pháp nạn và quốc nạn do CS gây ra, số ngày tù CS của Ngài nhiều hơn số ngày ở ngoài, có kêu gọi “ biểu tình tại gia”. Lúc bấy giờ có người nói biểu tình là xuống đường, biểu thị sư chống đối hay ủng hộ mà ở nhà thì biểu tình cái nổi gì. Nhưng suy cho cùng, nghĩ cho cạn, thì đó quả là một chiến thuật vô cùng lợi hại. Đó là chống Cộng nhưng tự bảo vệ được mình, mình có còn tự do, thì mới còn chống Cộng được. Như những đồng bào trong nước đang lợi dụng Hiền Pháp của CS về quyên công dân hữu danh vô thực để đấu với CS hiện thời. Biểu tình tại gia là tẩy chay CS, gạt CS ra ngoài xã hội, ngoài cuộc đời, thì kinh tế, chánh trị gì của CS cũng chết hết. Hành động của CS đối với dân như CS đấm vào khoảng chân không.
Bây giờ bà con cô bác mình ở trong nước làm cho CS bối rối, mất bình tĩnh, bằng cách “ biểu tình nằm”. Phóng sự RFA phát lời của nhà báo tự do JB Nguyễn Hữu Vinh nói lên áp phê của chiến thuật này như sau: ”Hình ảnh hàng chục người nằm im lặng giữa đường bên cạnh những chiếc xe công vụ còn công an thì đứng nhìn mà không kịp nghĩ ra biện pháp nào đối phó cho thấy đám đông quần chúng thật sự dấn thân vào việc biều tình và hoàn toàn có khả năng đáp ứng với tình thế mới nều bị đàn áp thô bạo.
Hai, đem trẻ em đi biểu tình. “Chị Trần Thị Nga, một người nổi tiếng vì công khai tố cáo những hành vi lừa đảo của nhiều doanh nghiệp nhà nước trong việc xuất khẩu lao động sang Đài Loan vì vậy trong thời gian gần đây chị liên tục bị công an sách nhiễu và đi bất cứ đâu cũng bị theo dõi và trù dập. Trong cuộc biểu tình lần này chị bị bắt và mang con theo vào trại Lộc Hoà.
Thử tưởng tượng người dân và báo chí quốc tế bất bình thế nào khi thấy công an, côn đồ bắt trẻ em vào nhốt trong gọi trại phục hồi nhân phẩm nổi tiếng chuyên giam dân xì ke, ma tuý, đỉ điếm. Chắc chắn truyền thông chuyên nghiệp sẽ không bỏ qua những tin và hình này. CS Hà nội sẽ gục mặt nhục nhã trước thế giới.
Ba là nhảy qua cửa sổ xe khi công an chở về trại giam. Chị Bùi Minh Hằng người bị bắt thẩy lên xe đưa đi nói “Người trên xe đấu tranh rất dữ bởi vì không có lý do gì để bắt họ, họ đấu tranh rất quyết liệt. Sau đó một số người khi xe chạy qua cầu đã đòi nhảy qua cửa ô tô xuống cầu, họ chấp nhận cái chết. Khi ấy chúng tôi phải giữ họ lại vì thấy rất nguy hiểm. Lúc xe ngừng đèn đỏ ở một số chỗ thì một số người biểu tình nhảy xuống vì họ không chịu chấp nhận bị bắt vô lý như vậy. Còn lại trong xe có bốn năm người bị chở về trại Lộc Hà trong đó có hai phóng viên nước ngoài.”
Bốn là công khai, dũng cảm biểu tình đông hơn các kỳ trước, người trẻ nhiều hơn người lớn tuổi vì chấp nhận đau thương. Phóng sự RFA viết, “Cuộc biểu tình chống Trung Quốc diễn ra tại Hà Nội lần này có nhiều sắc thái khác biệt hơn những lần trước. Người đi biểu tình công khai cho chính quyền biết ngày giờ và địa điểm..Không ai trong nhóm biểu tình tỏ ra sợ hãi mặc dù có rất nhiều người tham gia biểu tình lần đầu tiên và họ đã chấp nhận đối diện với những côn đồ cũng như công can chìm nổi.” Phụ nữ cũng tăng và nhiều người ngạc nhiên vì có cả trẻ em 5 tuổi được mẹ bồng đi biểu tình và cùng bị bắt vào trại Lộc Hà với mẹ.
Năm là biểu tình xa luân chiến. Chị Bùi minh Hằng nói với RFA, “Sau khi họ bắt đoàn biểu tình lần thứ nhất thì người dân lại tiếp cục biều tình lần thứ hai. Lần thứ hai họ lại bị bắt lên xe buýt thì họ lại biều tình lần thứ ba... cuốc biểu tình xảy ra liên tục cứ bắt hết đợt này thì họ lại biểu tình đợt khác trên đường bờ hồ. Tôi đang chụp ảnh trước cửa bưu điện thì nó bắt đến đợt thứ ba. Tôi nhìn thấy tên an ninh nó chỉ cho đám côn đồ cái đám đi bắt người mà không mặc đồng phục gì hết, sau đó nó bắt tôi lên xe buýt.”
Sáu là không cho công an xoá dấu vết, thương tích. Ô. Trương văn Dũng người bị côn đồ do công an sấp xếp dùng còng số 8 đập vỡ đầu rồi mang ném ra đường kể lại: “Chúng nó thấy tình huống của tôi nguy kịch như vậy thì cho y tá vào để cố tình xóa dấu vết vì máu me đầy hết trên người tôi. Tôi bất hợp tác với y tá vì không phải chúng nó cấp cứu tôi mà chỉ muốn xóa dấu vết mà thôi. Lúc sau chúng nó bàn tính với nhau nếu để tôi như thế mà đi ra ngoài thì không thể được. Nó tiếp tục cho hơn một chục thằng nhảy vào giữ chân tay tôi, đầu tôi và bịt cả mồm tôi lại để cho y tá lau vết thương trên đầu tôi và không lấy lời khai gì cả.Một lúc sau nó bảo tôi bây giờ anh tự đi về tôi từ chối và nói không thể nào đi được. Lúc ấy nó mới cho 4 thằng khênh tôi ra ngoài đặt tôi ngay sát lề đường quốc lộ. Lúc ấy anh em đến và chụp hình tôi như anh thấy.”
Sau cùng, phải nói chiến thuật mới của đồng bào biểu tình, như biểu tình nằm, bồng con đi biểu, nhảy xe, không cho xoá thương tích, máu me là bất bạo động, nhưng vô cùng vang động, chấn động. Chính công an cũng bối rối, không biết giải quyết ra sao. Và công luận quốc tế coi CS Hà nội là một chế độ phi nhân, phi nghĩa, trấn áp người bày tỏ ý kiến một cách ôn hoà bằng bạo động.
Đến đổi Ông Joe Yun, quyền Phụ tá Ngoại trưởng phụ trách khu vực Đông Á, phát biểu trước một tiểu ban của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, rằng “Chúng tôi thừa nhận rằng tình hình hiện tại, dù là bất cứ vấn đề gì, đã đi lùi. Không có gì phải bàn cãi,” Mỹ phải gây sức ép đối với VN.
Và bất bạo động chỉ là một chiến thuật cần để tránh bị chụp mũ chống nhân viên công lực. Nhưng đến một giai đoạn nào đó nó cũng tiến đến bạo động vì tự vệ là bản năng, là phòng vệ chánh đáng của con người. Nhứt là khi nhà cầm quyền dùng bạo lực, bạo lực sẽ kêu gọi bạo lực là lẽ cố nhiên, là trường họp bất khả kháng, đáng giảm khinh hay bãi miển./. (Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh
Không có cái khôn nào hơn cái khôn bình dân.Văn chương bình dân là của dân chúng, ca dao, tục ngữ, hát ru, v.v... bao hàm tất cả mọi phạm trù của cuộc sống, mọi bộ môn khoa học kỹ thuật, thì đâu có nhà bác học nào qua nổi. Dân giàu, nước mạnh nói cái khó nó bó cái khôn. Dân nghèo, nước yếu, hoàn cảnh bị thiếu thốn, áp bức bóc lột, phải cố gắng bắt cái khó ló ra cái khôn, biến đau thương thành hành động để sống còn, biến giấc mơ vươn lên thành hiện thực. Những chân lý có vẻ ngược đời này có thể thấy qua cuộc biểu tình của người dân Việt Nam nói chung sống trong gọng kềm CS, Mới đây người dân Việt trong nước thực hiện một chiến thuật biểu tình mới trong hoàn cảnh Đảng Nhà Nước CSVN độc tài đảng trị toàn diện gia tăng trấn áp người dân yêu nước nghiệt ngã nhứt, thô bạo nhứt trong mấy tuần lễ vừa qua. Nghe rồi đọc lại phóng sự rất lý thú, đầy đủ thông tin, nghị luận và âm chứng của những người trong cuộc, của biên tập viên Mặc Lâm của Đài Phát Thanh Á châu Tự do, RFA, ngày 4 tháng 6 năm 2013, người Việt hải ngoại cảm thấy thán phục đồng bào yêu nước thương dân đang cố gắng uốn mình qua ngỏ hẹp, tương kế tựu kế biểu tình chống Trung Cộng. Vì bị Đảng Nhà Nước VNCS đàn áp nghiệt ngã, bạo tàn. Nên trong khó khổ đồng bào ló ra cái khôn là chiến thuật mới biểu tình đầy sáng tạo ít ai ngờ nhưng rất hữu hiệu.
Một là “biểu tình nằm”. Nhớ cách đây mấy năm, Hoà Thượng Thích Quảng Độ, một nhà tu trong thời VN bị pháp nạn và quốc nạn do CS gây ra, số ngày tù CS của Ngài nhiều hơn số ngày ở ngoài, có kêu gọi “ biểu tình tại gia”. Lúc bấy giờ có người nói biểu tình là xuống đường, biểu thị sư chống đối hay ủng hộ mà ở nhà thì biểu tình cái nổi gì. Nhưng suy cho cùng, nghĩ cho cạn, thì đó quả là một chiến thuật vô cùng lợi hại. Đó là chống Cộng nhưng tự bảo vệ được mình, mình có còn tự do, thì mới còn chống Cộng được. Như những đồng bào trong nước đang lợi dụng Hiền Pháp của CS về quyên công dân hữu danh vô thực để đấu với CS hiện thời. Biểu tình tại gia là tẩy chay CS, gạt CS ra ngoài xã hội, ngoài cuộc đời, thì kinh tế, chánh trị gì của CS cũng chết hết. Hành động của CS đối với dân như CS đấm vào khoảng chân không.
Bây giờ bà con cô bác mình ở trong nước làm cho CS bối rối, mất bình tĩnh, bằng cách “ biểu tình nằm”. Phóng sự RFA phát lời của nhà báo tự do JB Nguyễn Hữu Vinh nói lên áp phê của chiến thuật này như sau: ”Hình ảnh hàng chục người nằm im lặng giữa đường bên cạnh những chiếc xe công vụ còn công an thì đứng nhìn mà không kịp nghĩ ra biện pháp nào đối phó cho thấy đám đông quần chúng thật sự dấn thân vào việc biều tình và hoàn toàn có khả năng đáp ứng với tình thế mới nều bị đàn áp thô bạo.
Hai, đem trẻ em đi biểu tình. “Chị Trần Thị Nga, một người nổi tiếng vì công khai tố cáo những hành vi lừa đảo của nhiều doanh nghiệp nhà nước trong việc xuất khẩu lao động sang Đài Loan vì vậy trong thời gian gần đây chị liên tục bị công an sách nhiễu và đi bất cứ đâu cũng bị theo dõi và trù dập. Trong cuộc biểu tình lần này chị bị bắt và mang con theo vào trại Lộc Hoà.
Thử tưởng tượng người dân và báo chí quốc tế bất bình thế nào khi thấy công an, côn đồ bắt trẻ em vào nhốt trong gọi trại phục hồi nhân phẩm nổi tiếng chuyên giam dân xì ke, ma tuý, đỉ điếm. Chắc chắn truyền thông chuyên nghiệp sẽ không bỏ qua những tin và hình này. CS Hà nội sẽ gục mặt nhục nhã trước thế giới.
Ba là nhảy qua cửa sổ xe khi công an chở về trại giam. Chị Bùi Minh Hằng người bị bắt thẩy lên xe đưa đi nói “Người trên xe đấu tranh rất dữ bởi vì không có lý do gì để bắt họ, họ đấu tranh rất quyết liệt. Sau đó một số người khi xe chạy qua cầu đã đòi nhảy qua cửa ô tô xuống cầu, họ chấp nhận cái chết. Khi ấy chúng tôi phải giữ họ lại vì thấy rất nguy hiểm. Lúc xe ngừng đèn đỏ ở một số chỗ thì một số người biểu tình nhảy xuống vì họ không chịu chấp nhận bị bắt vô lý như vậy. Còn lại trong xe có bốn năm người bị chở về trại Lộc Hà trong đó có hai phóng viên nước ngoài.”
Bốn là công khai, dũng cảm biểu tình đông hơn các kỳ trước, người trẻ nhiều hơn người lớn tuổi vì chấp nhận đau thương. Phóng sự RFA viết, “Cuộc biểu tình chống Trung Quốc diễn ra tại Hà Nội lần này có nhiều sắc thái khác biệt hơn những lần trước. Người đi biểu tình công khai cho chính quyền biết ngày giờ và địa điểm..Không ai trong nhóm biểu tình tỏ ra sợ hãi mặc dù có rất nhiều người tham gia biểu tình lần đầu tiên và họ đã chấp nhận đối diện với những côn đồ cũng như công can chìm nổi.” Phụ nữ cũng tăng và nhiều người ngạc nhiên vì có cả trẻ em 5 tuổi được mẹ bồng đi biểu tình và cùng bị bắt vào trại Lộc Hà với mẹ.
Năm là biểu tình xa luân chiến. Chị Bùi minh Hằng nói với RFA, “Sau khi họ bắt đoàn biểu tình lần thứ nhất thì người dân lại tiếp cục biều tình lần thứ hai. Lần thứ hai họ lại bị bắt lên xe buýt thì họ lại biều tình lần thứ ba... cuốc biểu tình xảy ra liên tục cứ bắt hết đợt này thì họ lại biểu tình đợt khác trên đường bờ hồ. Tôi đang chụp ảnh trước cửa bưu điện thì nó bắt đến đợt thứ ba. Tôi nhìn thấy tên an ninh nó chỉ cho đám côn đồ cái đám đi bắt người mà không mặc đồng phục gì hết, sau đó nó bắt tôi lên xe buýt.”
Sáu là không cho công an xoá dấu vết, thương tích. Ô. Trương văn Dũng người bị côn đồ do công an sấp xếp dùng còng số 8 đập vỡ đầu rồi mang ném ra đường kể lại: “Chúng nó thấy tình huống của tôi nguy kịch như vậy thì cho y tá vào để cố tình xóa dấu vết vì máu me đầy hết trên người tôi. Tôi bất hợp tác với y tá vì không phải chúng nó cấp cứu tôi mà chỉ muốn xóa dấu vết mà thôi. Lúc sau chúng nó bàn tính với nhau nếu để tôi như thế mà đi ra ngoài thì không thể được. Nó tiếp tục cho hơn một chục thằng nhảy vào giữ chân tay tôi, đầu tôi và bịt cả mồm tôi lại để cho y tá lau vết thương trên đầu tôi và không lấy lời khai gì cả.Một lúc sau nó bảo tôi bây giờ anh tự đi về tôi từ chối và nói không thể nào đi được. Lúc ấy nó mới cho 4 thằng khênh tôi ra ngoài đặt tôi ngay sát lề đường quốc lộ. Lúc ấy anh em đến và chụp hình tôi như anh thấy.”
Sau cùng, phải nói chiến thuật mới của đồng bào biểu tình, như biểu tình nằm, bồng con đi biểu, nhảy xe, không cho xoá thương tích, máu me là bất bạo động, nhưng vô cùng vang động, chấn động. Chính công an cũng bối rối, không biết giải quyết ra sao. Và công luận quốc tế coi CS Hà nội là một chế độ phi nhân, phi nghĩa, trấn áp người bày tỏ ý kiến một cách ôn hoà bằng bạo động.
Đến đổi Ông Joe Yun, quyền Phụ tá Ngoại trưởng phụ trách khu vực Đông Á, phát biểu trước một tiểu ban của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, rằng “Chúng tôi thừa nhận rằng tình hình hiện tại, dù là bất cứ vấn đề gì, đã đi lùi. Không có gì phải bàn cãi,” Mỹ phải gây sức ép đối với VN.
Và bất bạo động chỉ là một chiến thuật cần để tránh bị chụp mũ chống nhân viên công lực. Nhưng đến một giai đoạn nào đó nó cũng tiến đến bạo động vì tự vệ là bản năng, là phòng vệ chánh đáng của con người. Nhứt là khi nhà cầm quyền dùng bạo lực, bạo lực sẽ kêu gọi bạo lực là lẽ cố nhiên, là trường họp bất khả kháng, đáng giảm khinh hay bãi miển./. (Vi Anh)
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
Ðảng Cộng Sản Việt Nam nếm mùi dân chủ
Trần Bình Nam
Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại Quốc Hội ngày 10 Tháng Sáu là một thử thách quan trọng của đảng Cộng Sản Việt Nam. Và có thể nó là bước mở đầu cho cơn lốc dân chủ tại Việt Nam.
Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm này không phải là một sáng kiến mới. Nguyên tắc bỏ phiếu tín nhiệm các chức vụ Nhà nước do Quốc Hội bổ nhiệm được ấn định bởi Nghị Quyết thứ 35 của Quốc Hội khóa X vào Tháng Mười Một năm 2001. Nghị quyết này quy định rằng:
“Lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCN) là quy trình hàng năm các đại biểu Quốc Hội tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm dưới hình thức bỏ phiếu kín các chức danh lãnh đạo nhà nước và chính phủ.” (theo Wikipedia)
Nhưng như một thông lệ các văn kiện trong một nước Cộng sản (trong đó có nước Cộng sản Việt Nam) từ bản Hiến Pháp, đến nội quy sinh hoạt Quốc Hội hội đều chứa đựng những điều tốt đẹp nhất về tự do dân chủ nhưng chỉ để làm cảnh chứ không bao giờ được đem ra áp dụng. Mọi quyết định, tín nhiệm ai, không tín nhiệm ai, làm gì đều do Bộ Chính Trị quyết định, rồi (nếu cần) thì mang ra Quốc Hội biểu quyết theo lệnh. Các cuộc biểu quyết của Quốc Hội để “nhân dân hóa” quyết định của Bộ Chính Trị do đó khi nào cũng trên 90%.
Hôm 10 Tháng Sáu, một ngày sẽ đi vào lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, lần đầu tiên Quốc Hội Khóa XIII áp dụng nguyên tắc bỏ phiếu tín nhiệm một cách tự do các chức vụ chủ chốt do Quốc Hội bổ nhiệm với biểu quyết đa số. Có tất cả 47 chức vụ chủ chốt do Quốc hội bổ nhiệm trong đó có Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quốc Hội, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và hầu hết các viên chức lớn trong bộ máy Nhà nước.
Có nhiều nguyên nhân đưa đến quyết định thực hiện cuộc bỏ phiếu tín nhiệm này. Trong năm qua sự bất hòa giữa các đảng viên cao cấp trong Bộ Chính Trị gồm một bên là Trương Tấn Sang, chủ tịch nước (liên minh với Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng), bên kia là Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng chính phủ (liên minh với Nguyễn Sinh Hùng, chủ tịch Quốc Hội) đã đến mức trầm trọng có thể xé nát đảng mà Bộ Chính Trị không có phương giải quyết vì bản chất phe phái không dân chủ của chính Bộ Chính Trị. Cho nên có thể có sáng kiến dùng nguyên tắc bỏ phiếu tín nhiệm với một cuộc bỏ phiếu hoàn toàn tự do tại Quốc Hội để đa số đánh giá các phe phái trong cuộc tranh chấp.
Và như được quy định bởi Nghị Quyết 35, một trong những mục đích của việc đánh giá tín nhiệm này là để loại bỏ những vị trí chưa làm tròn chức trách. Việc loại bỏ thực hiện qua nhiều công đoạn. Sau vòng lấy phiếu tín nhiệm, phải cần đến 2/3 đại biểu Quốc Hội đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc bị hơn một nửa Quốc Hội đánh giá “tín nhiệm thấp” hai năm liên tục, một vị trí nào đó mới đứng trước nguy cơ mất chức. Tuy nhiên việc mất chức chỉ diễn ra trong vòng bỏ phiếu “tín nhiệm” hay “bất tín nhiệm” trong kỳ họp Quốc Hội sau.
Trong số 492 đại biểu Quốc Hội hiện diện (theo RFA) không kể vài phiếu trắng, ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nước được 66.27% tín nhiệm cao, 5.62% tín nhiệm thấp. Trong khi ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng, địch thủ chính của ông Trương Tấn Sang chỉ được 42.17% ủng hộ cao và 32.13% tín nhiệm thấp. Ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội được 65.86% tín nhiệm cao, và chỉ 5.02% tín nhiệm thấp.
Kết quả cuộc bỏ phiếu là một thông điệp quan trọng của đảng cho ông Nguyễn Tấn Dũng. Nếu hiểu “tín nhiệm thấp” là “bất tín nhiệm” (người cộng sản thường sợ sự thật không muốn dùng danh từ có tính bi quan) thì tác dụng tâm lý của cuộc biểu quyết đối với Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có tính quyết định. Nếu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng còn bám trụ được qua bao nhiêu phong ba bão táp cho đến giờ này (vì ông không có văn hóa từ chức mà chỉ có một thứ văn hóa là lệnh một chiều của đảng) thì ông cũng khó trụ được ở chức vụ thủ tướng trước cơn gió dân chủ nội bộ.
Nhưng ảnh hưởng của cuộc bỏ phiếu tín nhiệm lần này sẽ không ngừng ở việc tạm giải quyết việc tranh chấp nội bộ đảng mà nó có thể có ảnh hưởng đến sinh hoạt đảng một cách căn bản. Ðây là lần đầu tiên các đảng viên được nếm mùi dân chủ. Chất men dân chủ khi đã nếm thì không thể khước từ được nữa.
Nó có thể là cơ hội mở cổng dân chủ như năm 1986 Tổng bí thư đảng Cộng Sản Liên bang Xô viết Mikhail Gorbachev mở cổng dân chủ bằng hai chương trình “cởi mở” (Glasnost) và “Tái cấu Trúc” (Perestroika) và đã cuốn trôi một chế độ độc tài đảng trị.
Phải chăng một cơn bão đang hình thành tại Việt Nam?
Trần Bình Nam
Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại Quốc Hội ngày 10 Tháng Sáu là một thử thách quan trọng của đảng Cộng Sản Việt Nam. Và có thể nó là bước mở đầu cho cơn lốc dân chủ tại Việt Nam.
Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm này không phải là một sáng kiến mới. Nguyên tắc bỏ phiếu tín nhiệm các chức vụ Nhà nước do Quốc Hội bổ nhiệm được ấn định bởi Nghị Quyết thứ 35 của Quốc Hội khóa X vào Tháng Mười Một năm 2001. Nghị quyết này quy định rằng:
“Lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCN) là quy trình hàng năm các đại biểu Quốc Hội tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm dưới hình thức bỏ phiếu kín các chức danh lãnh đạo nhà nước và chính phủ.” (theo Wikipedia)
Nhưng như một thông lệ các văn kiện trong một nước Cộng sản (trong đó có nước Cộng sản Việt Nam) từ bản Hiến Pháp, đến nội quy sinh hoạt Quốc Hội hội đều chứa đựng những điều tốt đẹp nhất về tự do dân chủ nhưng chỉ để làm cảnh chứ không bao giờ được đem ra áp dụng. Mọi quyết định, tín nhiệm ai, không tín nhiệm ai, làm gì đều do Bộ Chính Trị quyết định, rồi (nếu cần) thì mang ra Quốc Hội biểu quyết theo lệnh. Các cuộc biểu quyết của Quốc Hội để “nhân dân hóa” quyết định của Bộ Chính Trị do đó khi nào cũng trên 90%.
Hôm 10 Tháng Sáu, một ngày sẽ đi vào lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, lần đầu tiên Quốc Hội Khóa XIII áp dụng nguyên tắc bỏ phiếu tín nhiệm một cách tự do các chức vụ chủ chốt do Quốc Hội bổ nhiệm với biểu quyết đa số. Có tất cả 47 chức vụ chủ chốt do Quốc hội bổ nhiệm trong đó có Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quốc Hội, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và hầu hết các viên chức lớn trong bộ máy Nhà nước.
Có nhiều nguyên nhân đưa đến quyết định thực hiện cuộc bỏ phiếu tín nhiệm này. Trong năm qua sự bất hòa giữa các đảng viên cao cấp trong Bộ Chính Trị gồm một bên là Trương Tấn Sang, chủ tịch nước (liên minh với Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng), bên kia là Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng chính phủ (liên minh với Nguyễn Sinh Hùng, chủ tịch Quốc Hội) đã đến mức trầm trọng có thể xé nát đảng mà Bộ Chính Trị không có phương giải quyết vì bản chất phe phái không dân chủ của chính Bộ Chính Trị. Cho nên có thể có sáng kiến dùng nguyên tắc bỏ phiếu tín nhiệm với một cuộc bỏ phiếu hoàn toàn tự do tại Quốc Hội để đa số đánh giá các phe phái trong cuộc tranh chấp.
Và như được quy định bởi Nghị Quyết 35, một trong những mục đích của việc đánh giá tín nhiệm này là để loại bỏ những vị trí chưa làm tròn chức trách. Việc loại bỏ thực hiện qua nhiều công đoạn. Sau vòng lấy phiếu tín nhiệm, phải cần đến 2/3 đại biểu Quốc Hội đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc bị hơn một nửa Quốc Hội đánh giá “tín nhiệm thấp” hai năm liên tục, một vị trí nào đó mới đứng trước nguy cơ mất chức. Tuy nhiên việc mất chức chỉ diễn ra trong vòng bỏ phiếu “tín nhiệm” hay “bất tín nhiệm” trong kỳ họp Quốc Hội sau.
Trong số 492 đại biểu Quốc Hội hiện diện (theo RFA) không kể vài phiếu trắng, ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nước được 66.27% tín nhiệm cao, 5.62% tín nhiệm thấp. Trong khi ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng, địch thủ chính của ông Trương Tấn Sang chỉ được 42.17% ủng hộ cao và 32.13% tín nhiệm thấp. Ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội được 65.86% tín nhiệm cao, và chỉ 5.02% tín nhiệm thấp.
Kết quả cuộc bỏ phiếu là một thông điệp quan trọng của đảng cho ông Nguyễn Tấn Dũng. Nếu hiểu “tín nhiệm thấp” là “bất tín nhiệm” (người cộng sản thường sợ sự thật không muốn dùng danh từ có tính bi quan) thì tác dụng tâm lý của cuộc biểu quyết đối với Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có tính quyết định. Nếu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng còn bám trụ được qua bao nhiêu phong ba bão táp cho đến giờ này (vì ông không có văn hóa từ chức mà chỉ có một thứ văn hóa là lệnh một chiều của đảng) thì ông cũng khó trụ được ở chức vụ thủ tướng trước cơn gió dân chủ nội bộ.
Nhưng ảnh hưởng của cuộc bỏ phiếu tín nhiệm lần này sẽ không ngừng ở việc tạm giải quyết việc tranh chấp nội bộ đảng mà nó có thể có ảnh hưởng đến sinh hoạt đảng một cách căn bản. Ðây là lần đầu tiên các đảng viên được nếm mùi dân chủ. Chất men dân chủ khi đã nếm thì không thể khước từ được nữa.
Nó có thể là cơ hội mở cổng dân chủ như năm 1986 Tổng bí thư đảng Cộng Sản Liên bang Xô viết Mikhail Gorbachev mở cổng dân chủ bằng hai chương trình “cởi mở” (Glasnost) và “Tái cấu Trúc” (Perestroika) và đã cuốn trôi một chế độ độc tài đảng trị.
Phải chăng một cơn bão đang hình thành tại Việt Nam?
Cần đổi luật chơi trên Biển Ðông
Ngô Nhân Dụng Sau bài viết về cuộc gặp gỡ giữa Tập Cận Bình với Obama ở California, một người Việt sống ở Ðức đã góp ý kiến. Ông Âu Dương Thệ, nhà nghiên cứu chính trị, đồng ý rằng hai nước Mỹ và Trung Quốc sẽ không thể vì vùng Biển Ðông mà gây chiến với nhau; tuy nhiên, số phận dân tộc Việt Nam sẽ không nhờ thế mà được yên ổn.
Ông Âu Dương Thệ nhắc lại lời Tập Cận Bình nói rằng “biển Ðông đủ rộng cho hai nước;” ngầm hiểu là Bắc Kinh sẵn sàng chia khu vực ảnh hưởng với Washington. Nhưng chính quyền Trung Cộng vẫn luôn nhấn mạnh rằng vùng “Chín đoạn” gồm cả biển Ðông của nước ta thuộc “quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc,” không khác gì Ðài Loan và Tây Tạng. Suy ra, sách lược của Tập Cận Bình là: Không trực tiếp đối đầu với Mỹ nhưng sẽ tìm cách để Mỹ không thể can thiệp vào “quyền lợi cốt lõi” của họ.
Bắc Kinh phải làm gì để đạt được cả hai điều kiện, vừa đóng vai chủ nhân ông khai thác vùng “lưỡi bò,” vừa không “gây rắc rối” để Mỹ lấy cớ can thiệp? Tiến Sĩ Âu Dương Thệ, như nhiều người quan sát khác, đều thấy rằng sách lược tốt nhất của họ là làm sao tóm được cả nhóm người cầm quyền ở Việt Nam, bỏ vào trong túi! Nằm trong túi, phải giữ im lặng, không bao giờ gây ồn ào dù bị lấn ép.
Hiện nay mỗi lần Trung Cộng lấn bước, chính quyền cộng sản ở Việt Nam cũng được gửi văn thư lên tiếng phản đối, nhưng họ phải nói trong khuôn khổ “quan hệ song phương.” Giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng hay Trương Tấn Sang luôn luôn theo đúng đường lối song phương này, được quy định bằng “16 chữ vàng.” Chấp nhận giải quyết các bất đồng bằng đối thoại song phương, nghĩa là chỉ được nói chuyện như các “đồng chí, anh em,” giữa hai đảng cộng sản, giữa hai chính quyền cộng sản. Họ không được phép nêu các bất đồng trước các hội nghị quốc tế, cũng không được thưa kiện ra các tòa án quốc tế khi có tranh chấp về chủ quyền. Giống như trong một gia đình mà người chồng vũ phu đánh vợ thường xuyên, nhưng lối xóm không thể nào can thiệp vì người vợ lúc nào cũng chỉ nhỏ nhẹ năn nỉ chồng xin tha, mà không bao giờ lớn tiếng kêu cứu!
Chúng ta biết rằng năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã nộp đơn thưa kiện việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa ngay sau khi hải quân ta không đủ sức giữ. Ðảng Cộng Sản Việt Nam chưa bao giờ làm một hành động tương tự, dù Trung Cộng đã chiếm đất, chiếm đảo, và lấn áp nhiều lần.
Khi đã ràng buộc được chính quyền Cộng Sản Việt Nam trong quy tắc “song phương” này, Bắc Kinh không phải lo có nước khác cản trở việc xâm chiếm Biển Ðông theo lối tằm ăn dâu của họ. Chiến thuật của Trung Cộng là đặt cả thế giới trước một chuỗi những “sự kiện đã rồi.” Mỗi tuần, mỗi tháng, họ lấn thêm một bước bằng các hành động lấn áp. Mỗi sự kiện đã rồi này đánh dấu một bước thắng lợi của họ, thắng thế trên thực tế hoặc trên danh nghĩa. Họ tiếp tục tiến từng bước một trên con đường bành trướng từ năm 1974 đến nay, đặt thế giới trước cảnh “ván đã đóng thuyền.” Năm 1988 họ chiếm thêm một số đảo ở Trường Sa, mở đường cho Mã Lai Á bắt chước. Trong hai chục năm qua, hải thuyền của họ lấn áp, cướp bóc, giết hại các ngư dân Việt Nam. Họ đưa tầu chiến hộ tống ngư dân Trung Quốc vào vùng biển này. Họ đặt ra đơn vị hành chánh Tam Sa để chính thức hóa việc chiếm đoạt Hoàng Sa và một phần Trường Sa. Họ lập sân bay, tổ chức du lịch trên các đảo đã chiếm. Họ ngăn cấm các hãng khai thác dầu khí không được cộng tác với Việt Nam. Họ tấn công các thuyền đánh cá để dần dần ngư phủ Việt Nam chán nản không dám lái thuyền vào những vùng bị họ cấm đoán.
Khi Trung Cộng tiếp tục lấn dần, lấn dần mà chính quyền Việt Nam không công khai phản đối trước mặt thế giới, cũng không lên tiếng trong các hội nghị, không nạp đơn kiện ra tòa án quốc tế (như Phi Luật Tân đã làm), thì các nước khác trong vùng, kể cả nước Mỹ, không có lý do nào để can thiệp. Như vậy là Bắc Kinh có thể đạt được hai mục tiêu một lúc: Lấn chiếm Biển Ðông mà không gây tranh chấp với Mỹ, vẫn mặc nhiên công nhận Mỹ là một đấu thủ có mặt trong sân chơi Ðông Nam Á.
Trong cuộc chơi lớn trong vùng này, nhu cầu chiến lược của Trung Cộng là gì? Trước hết, họ cần bảo vệ con đường thông thương qua Eo biển Malacca, giữa Singapore và Indonesia. Dầu khí và nguyên liệu cung cấp cho nền kinh tế Trung Quốc tùy thuộc con đường huyết mạch này. Trung Cộng không thể bỏ qua bài học lịch sử Ðại Chiến Thứ Hai. Năm 1941 Nhật Bản phải tấn công xuống Ðông Nam Á; do đó phải gây chiến với Mỹ, cũng vì con đường tiếp tế này bị Anh, Mỹ ngăn cản. Ðầu năm 1944 quân đội Nhật Bản bắt đầu thua trận, cũng vì tất cả các tầu chở nguyên liệu và dầu khí qua đây bị chặn lại. Gia tăng các căn cứ hải quân trong vùng là một bảo đảm nguồn tiếp liệu cho kinh tế Trung Cộng.
Nhưng các cường quốc Ðông Bắc Á như Nhật Bản, Nam Hàn, cũng đều cần con đường biển qua vùng Ðông Nam Á, tại sao không nước nào bày những trò lấn áp hung hãn như Trung Cộng đã thi hành đối với Việt Nam? Vì các nước trên không sợ họ bị Mỹ ngăn cản. Họ đều là đồng minh của Mỹ, trong khi Trung Cộng vẫn coi Mỹ là một đối thủ, từ sau cuộc chiến tranh Cao Ly năm 1950. Giữa Mỹ và Trung Cộng còn một mâu thuẫn lâu dài là Ðài Loan. Ðể củng cố sức mạnh trước khi phải đối đầu trực tiếp với Mỹ, có thể trong thế kỷ tới, Trung Cộng sẽ bành trướng trong vùng Ðông Nam Á, dùng đó làm một nơi thử thách. Vừa để thăm dò phản ứng của Mỹ, Ấn Ðộ, vừa đe dọa các đồng minh của Mỹ trong vùng này. Hơn nữa, trong cuộc chơi lớn này, Trung Cộng có thể dùng Việt Nam làm nơi thí nghiệm các chiến thuật lấn lướt, ép buộc, xâm chiếm, trước khi đem thử áp dụng với các nước Ðông Nam Á khác. Họ đã thử một lần, với Phi Lật Tân, áp dụng các chiến thuật đã dùng ở Việt Nam.
Nếu Việt Nam bị khuất phục thì kế hoạch bành trướng của Trung Cộng trong cả vùng Ðông Nam Á sẽ thành công hơn một nửa. Kinh nghiệm từ năm 1974, 1988, cho họ thấy là đối với Việt Nam thì cứ tiến tới, mỗi bước tiến thêm thì chân họ càng vững chơn. Họ không cần một chính quyền Việt Nam “thân Trung Quốc,” vì chỉ cần người “thân” khi đối xử ngang hàng với nhau. Ðối với Trung Cộng thì ở Việt Nam chỉ cần có những người đó “sợ” họ là đủ. Mỗi lần bị Trung Cộng “nắn gân,” cho tới nay Cộng Sản Việt Nam đều cắn răng nhịn nhục, như Phạm Văn Ðồng (1958), Nguyễn Văn Linh (1992) đã làm. Các kinh nghiệm đó khiến cho Trung Cộng khinh thường, sẵn sàng dùng Việt Nam làm nơi thí nghiệm các hành động xâm lấn, trước khi áp dụng cho các nước khác trong vùng.
Một lý do khác khiến Trung Cộng muốn kiểm soát vùng Lưỡi Bò, Cửu Ðoạn Tuyến, là họ tin rằng chung quanh quần đảo Trường Sa có nhiều mỏ dầu khí. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng của Mỹ, trong vùng Biển Ðông số lượng dự trữ dầu khoảng bảy tỷ thùng, nhiều lắm là 20 tỷ; tương đương với số dầu dự trữ của Trung Quốc bây giờ. Nhưng các nhà khảo sát Trung Quốc lại đoán rằng trữ lượng dầu trong vùng phải lớn gấp mười lần, tới 200 tỷ thùng; con số lớn hơn số dự trự của Canada (175 tỷ) và gấp đôi Kuwait. Do đó, họ tin là nếu khai thác được cả vùng lưỡi bò thì số dầu sản xuất ở đây, đại đa số trong quần đảo Trường Sa; mỗi năm có thể cung cấp một phần tư nhu cầu năng lượng của Trung Quốc, trong hàng thế kỷ nữa. Hiện Việt Nam vẫn kiểm soát nhiều hòn đảo nhất trong vùng Trường Sa. Vì thế, lấn áp được Việt Nam thì sẽ dần dần chiếm được quyền khai thác tài nguyên dầu khí trong cả vùng.
Ðối với nước Mỹ, quốc gia nào làm chủ các mỏ dầu khí trong vùng này cũng không quan trọng. Họ chỉ cần bảo đảm tất cả đều cùng theo luật chơi kinh tế, tức là tự do trao đổi, tự do ký hợp đồng, tự do cạnh tranh. Trong 30 năm nữa, nước Mỹ sẽ không còn lệ thuộc vào dầu lửa như hiện nay, vì các nguồn năng lượng mới đang được tìm tòi, khai phá, trên khắp cả thế giới. Và trong tương lai ngay các xe hơi cũng sẽ không lệ thuộc máy chạy bằng xăng nữa. Nhưng dù nước nào làm chủ các mỏ dầu, dù công ty nào trúng thầu khai thác mỏ, thì cho tới nước Mỹ vẫn đứng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ kỹ thuật cho công nghiệp dầu khí; mà trong tương lai chắc cũng khó nước nào theo kịp. Cho nên nước Mỹ có thể cứ khoanh tay đứng ngoài các cuộc tranh chấp ở Biển Ðông.
Cuối cùng, chỉ có người Việt Nam phải lo bảo vệ các quyền lợi của mình trong vùng Biển Ðông. Mà cho tới nay, người Việt thấy rõ ràng mình đang bị thiệt thòi.
Cho nên, tất cả mọi người Việt Nam đều thấy đã tới lúc quan hệ giữa nước mình và Cộng Sản Trung Hoa phải thay đổi. Phải đổi luật chơi giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Nhưng thay đổi như thế nào? Làm sao để Trung Cộng phải chấp nhận thay đổi? Chúng ta có thể theo gương một nước, là Miến Ðiện. Miến Ðiện cũng từng theo một thứ chủ nghĩa xã hội, từng đóng vai một chư hầu của Cộng Sản Trung Hoa trong gần hai thế hệ. Bây giờ, họ giao thiệp theo các quy tắc mới. Mà Cộng Sản Trung Hoa vẫn phải chấp nhận. Chúng ta sẽ xem Miến Ðiện thay đổi luật chơi như thế nào.
Ngô Nhân Dụng Sau bài viết về cuộc gặp gỡ giữa Tập Cận Bình với Obama ở California, một người Việt sống ở Ðức đã góp ý kiến. Ông Âu Dương Thệ, nhà nghiên cứu chính trị, đồng ý rằng hai nước Mỹ và Trung Quốc sẽ không thể vì vùng Biển Ðông mà gây chiến với nhau; tuy nhiên, số phận dân tộc Việt Nam sẽ không nhờ thế mà được yên ổn.
Ông Âu Dương Thệ nhắc lại lời Tập Cận Bình nói rằng “biển Ðông đủ rộng cho hai nước;” ngầm hiểu là Bắc Kinh sẵn sàng chia khu vực ảnh hưởng với Washington. Nhưng chính quyền Trung Cộng vẫn luôn nhấn mạnh rằng vùng “Chín đoạn” gồm cả biển Ðông của nước ta thuộc “quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc,” không khác gì Ðài Loan và Tây Tạng. Suy ra, sách lược của Tập Cận Bình là: Không trực tiếp đối đầu với Mỹ nhưng sẽ tìm cách để Mỹ không thể can thiệp vào “quyền lợi cốt lõi” của họ.
Bắc Kinh phải làm gì để đạt được cả hai điều kiện, vừa đóng vai chủ nhân ông khai thác vùng “lưỡi bò,” vừa không “gây rắc rối” để Mỹ lấy cớ can thiệp? Tiến Sĩ Âu Dương Thệ, như nhiều người quan sát khác, đều thấy rằng sách lược tốt nhất của họ là làm sao tóm được cả nhóm người cầm quyền ở Việt Nam, bỏ vào trong túi! Nằm trong túi, phải giữ im lặng, không bao giờ gây ồn ào dù bị lấn ép.
Hiện nay mỗi lần Trung Cộng lấn bước, chính quyền cộng sản ở Việt Nam cũng được gửi văn thư lên tiếng phản đối, nhưng họ phải nói trong khuôn khổ “quan hệ song phương.” Giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng hay Trương Tấn Sang luôn luôn theo đúng đường lối song phương này, được quy định bằng “16 chữ vàng.” Chấp nhận giải quyết các bất đồng bằng đối thoại song phương, nghĩa là chỉ được nói chuyện như các “đồng chí, anh em,” giữa hai đảng cộng sản, giữa hai chính quyền cộng sản. Họ không được phép nêu các bất đồng trước các hội nghị quốc tế, cũng không được thưa kiện ra các tòa án quốc tế khi có tranh chấp về chủ quyền. Giống như trong một gia đình mà người chồng vũ phu đánh vợ thường xuyên, nhưng lối xóm không thể nào can thiệp vì người vợ lúc nào cũng chỉ nhỏ nhẹ năn nỉ chồng xin tha, mà không bao giờ lớn tiếng kêu cứu!
Chúng ta biết rằng năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã nộp đơn thưa kiện việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa ngay sau khi hải quân ta không đủ sức giữ. Ðảng Cộng Sản Việt Nam chưa bao giờ làm một hành động tương tự, dù Trung Cộng đã chiếm đất, chiếm đảo, và lấn áp nhiều lần.
Khi đã ràng buộc được chính quyền Cộng Sản Việt Nam trong quy tắc “song phương” này, Bắc Kinh không phải lo có nước khác cản trở việc xâm chiếm Biển Ðông theo lối tằm ăn dâu của họ. Chiến thuật của Trung Cộng là đặt cả thế giới trước một chuỗi những “sự kiện đã rồi.” Mỗi tuần, mỗi tháng, họ lấn thêm một bước bằng các hành động lấn áp. Mỗi sự kiện đã rồi này đánh dấu một bước thắng lợi của họ, thắng thế trên thực tế hoặc trên danh nghĩa. Họ tiếp tục tiến từng bước một trên con đường bành trướng từ năm 1974 đến nay, đặt thế giới trước cảnh “ván đã đóng thuyền.” Năm 1988 họ chiếm thêm một số đảo ở Trường Sa, mở đường cho Mã Lai Á bắt chước. Trong hai chục năm qua, hải thuyền của họ lấn áp, cướp bóc, giết hại các ngư dân Việt Nam. Họ đưa tầu chiến hộ tống ngư dân Trung Quốc vào vùng biển này. Họ đặt ra đơn vị hành chánh Tam Sa để chính thức hóa việc chiếm đoạt Hoàng Sa và một phần Trường Sa. Họ lập sân bay, tổ chức du lịch trên các đảo đã chiếm. Họ ngăn cấm các hãng khai thác dầu khí không được cộng tác với Việt Nam. Họ tấn công các thuyền đánh cá để dần dần ngư phủ Việt Nam chán nản không dám lái thuyền vào những vùng bị họ cấm đoán.
Khi Trung Cộng tiếp tục lấn dần, lấn dần mà chính quyền Việt Nam không công khai phản đối trước mặt thế giới, cũng không lên tiếng trong các hội nghị, không nạp đơn kiện ra tòa án quốc tế (như Phi Luật Tân đã làm), thì các nước khác trong vùng, kể cả nước Mỹ, không có lý do nào để can thiệp. Như vậy là Bắc Kinh có thể đạt được hai mục tiêu một lúc: Lấn chiếm Biển Ðông mà không gây tranh chấp với Mỹ, vẫn mặc nhiên công nhận Mỹ là một đấu thủ có mặt trong sân chơi Ðông Nam Á.
Trong cuộc chơi lớn trong vùng này, nhu cầu chiến lược của Trung Cộng là gì? Trước hết, họ cần bảo vệ con đường thông thương qua Eo biển Malacca, giữa Singapore và Indonesia. Dầu khí và nguyên liệu cung cấp cho nền kinh tế Trung Quốc tùy thuộc con đường huyết mạch này. Trung Cộng không thể bỏ qua bài học lịch sử Ðại Chiến Thứ Hai. Năm 1941 Nhật Bản phải tấn công xuống Ðông Nam Á; do đó phải gây chiến với Mỹ, cũng vì con đường tiếp tế này bị Anh, Mỹ ngăn cản. Ðầu năm 1944 quân đội Nhật Bản bắt đầu thua trận, cũng vì tất cả các tầu chở nguyên liệu và dầu khí qua đây bị chặn lại. Gia tăng các căn cứ hải quân trong vùng là một bảo đảm nguồn tiếp liệu cho kinh tế Trung Cộng.
Nhưng các cường quốc Ðông Bắc Á như Nhật Bản, Nam Hàn, cũng đều cần con đường biển qua vùng Ðông Nam Á, tại sao không nước nào bày những trò lấn áp hung hãn như Trung Cộng đã thi hành đối với Việt Nam? Vì các nước trên không sợ họ bị Mỹ ngăn cản. Họ đều là đồng minh của Mỹ, trong khi Trung Cộng vẫn coi Mỹ là một đối thủ, từ sau cuộc chiến tranh Cao Ly năm 1950. Giữa Mỹ và Trung Cộng còn một mâu thuẫn lâu dài là Ðài Loan. Ðể củng cố sức mạnh trước khi phải đối đầu trực tiếp với Mỹ, có thể trong thế kỷ tới, Trung Cộng sẽ bành trướng trong vùng Ðông Nam Á, dùng đó làm một nơi thử thách. Vừa để thăm dò phản ứng của Mỹ, Ấn Ðộ, vừa đe dọa các đồng minh của Mỹ trong vùng này. Hơn nữa, trong cuộc chơi lớn này, Trung Cộng có thể dùng Việt Nam làm nơi thí nghiệm các chiến thuật lấn lướt, ép buộc, xâm chiếm, trước khi đem thử áp dụng với các nước Ðông Nam Á khác. Họ đã thử một lần, với Phi Lật Tân, áp dụng các chiến thuật đã dùng ở Việt Nam.
Nếu Việt Nam bị khuất phục thì kế hoạch bành trướng của Trung Cộng trong cả vùng Ðông Nam Á sẽ thành công hơn một nửa. Kinh nghiệm từ năm 1974, 1988, cho họ thấy là đối với Việt Nam thì cứ tiến tới, mỗi bước tiến thêm thì chân họ càng vững chơn. Họ không cần một chính quyền Việt Nam “thân Trung Quốc,” vì chỉ cần người “thân” khi đối xử ngang hàng với nhau. Ðối với Trung Cộng thì ở Việt Nam chỉ cần có những người đó “sợ” họ là đủ. Mỗi lần bị Trung Cộng “nắn gân,” cho tới nay Cộng Sản Việt Nam đều cắn răng nhịn nhục, như Phạm Văn Ðồng (1958), Nguyễn Văn Linh (1992) đã làm. Các kinh nghiệm đó khiến cho Trung Cộng khinh thường, sẵn sàng dùng Việt Nam làm nơi thí nghiệm các hành động xâm lấn, trước khi áp dụng cho các nước khác trong vùng.
Một lý do khác khiến Trung Cộng muốn kiểm soát vùng Lưỡi Bò, Cửu Ðoạn Tuyến, là họ tin rằng chung quanh quần đảo Trường Sa có nhiều mỏ dầu khí. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng của Mỹ, trong vùng Biển Ðông số lượng dự trữ dầu khoảng bảy tỷ thùng, nhiều lắm là 20 tỷ; tương đương với số dầu dự trữ của Trung Quốc bây giờ. Nhưng các nhà khảo sát Trung Quốc lại đoán rằng trữ lượng dầu trong vùng phải lớn gấp mười lần, tới 200 tỷ thùng; con số lớn hơn số dự trự của Canada (175 tỷ) và gấp đôi Kuwait. Do đó, họ tin là nếu khai thác được cả vùng lưỡi bò thì số dầu sản xuất ở đây, đại đa số trong quần đảo Trường Sa; mỗi năm có thể cung cấp một phần tư nhu cầu năng lượng của Trung Quốc, trong hàng thế kỷ nữa. Hiện Việt Nam vẫn kiểm soát nhiều hòn đảo nhất trong vùng Trường Sa. Vì thế, lấn áp được Việt Nam thì sẽ dần dần chiếm được quyền khai thác tài nguyên dầu khí trong cả vùng.
Ðối với nước Mỹ, quốc gia nào làm chủ các mỏ dầu khí trong vùng này cũng không quan trọng. Họ chỉ cần bảo đảm tất cả đều cùng theo luật chơi kinh tế, tức là tự do trao đổi, tự do ký hợp đồng, tự do cạnh tranh. Trong 30 năm nữa, nước Mỹ sẽ không còn lệ thuộc vào dầu lửa như hiện nay, vì các nguồn năng lượng mới đang được tìm tòi, khai phá, trên khắp cả thế giới. Và trong tương lai ngay các xe hơi cũng sẽ không lệ thuộc máy chạy bằng xăng nữa. Nhưng dù nước nào làm chủ các mỏ dầu, dù công ty nào trúng thầu khai thác mỏ, thì cho tới nước Mỹ vẫn đứng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ kỹ thuật cho công nghiệp dầu khí; mà trong tương lai chắc cũng khó nước nào theo kịp. Cho nên nước Mỹ có thể cứ khoanh tay đứng ngoài các cuộc tranh chấp ở Biển Ðông.
Cuối cùng, chỉ có người Việt Nam phải lo bảo vệ các quyền lợi của mình trong vùng Biển Ðông. Mà cho tới nay, người Việt thấy rõ ràng mình đang bị thiệt thòi.
Cho nên, tất cả mọi người Việt Nam đều thấy đã tới lúc quan hệ giữa nước mình và Cộng Sản Trung Hoa phải thay đổi. Phải đổi luật chơi giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Nhưng thay đổi như thế nào? Làm sao để Trung Cộng phải chấp nhận thay đổi? Chúng ta có thể theo gương một nước, là Miến Ðiện. Miến Ðiện cũng từng theo một thứ chủ nghĩa xã hội, từng đóng vai một chư hầu của Cộng Sản Trung Hoa trong gần hai thế hệ. Bây giờ, họ giao thiệp theo các quy tắc mới. Mà Cộng Sản Trung Hoa vẫn phải chấp nhận. Chúng ta sẽ xem Miến Ðiện thay đổi luật chơi như thế nào.
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Lòng tin và sự xấu hổ Monday, June 17, 2013 5:50:42 PM
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Nhân nhắc đến khái niệm lòng tin chiến lược trong bài nói chuyện của ông Nguyễn Tấn Dũng, chúng ta thử bàn về chuyện lòng tin trong chính trị nói chung. Nói đến lòng tin, ở đây tôi chỉ muốn tập trung vào sự tin cậy (trust, chứ không phải faith hay belief) và chỉ giới hạn trong phạm vi chính trị đối nội, trong nội bộ một quốc gia.
Trước hết, hầu như ai cũng biết sự tin cậy là một trong những yếu tố quan trọng nhất để mọi người có thể sinh hoạt chung với nhau trong xã hội, từ phạm vi nhỏ và riêng tư nhất là gia đình và bạn bè đến những phạm vi lớn hơn như các cơ sở làm ăn buôn bán hoặc các đoàn thể và cuối cùng, sinh hoạt chính trị trong cả nước. Nền tảng của cái gọi là đạo đức công dân, thật ra, là vấn đề tin cậy: Mình tin người khác và làm cho người khác tin mình bằng cách, trước hết, tự mình làm cho mình đáng tin cậy. Nền tảng của dân chủ, nghĩ cho cùng, cũng là sự tin cậy: Tin cậy vào thiện chí của người khác và vào quyết định của đa số (biểu hiện cụ thể nhất là qua các lá phiếu).
Trong chính trị đối nội, lòng tin có ba loại: Tin vào các nhà lãnh đạo, tin vào các tổ chức công quyền và tin vào cơ chế.
Trong các tổ chức công quyền, nổi bật nhất là lập pháp (tập trung vào Quốc Hội - ở một số nước, có hai hình thức chính Thượng Viện và Hạ Viện), hành pháp (tập trung vào phủ tổng thống và/hoặc văn phòng thủ tướng) và tư pháp (qua hình ảnh của tòa án cũng như công an). Ranh giới giữa lòng tin vào các nhà lãnh đạo và các tổ chức công quyền không hoàn toàn rạch ròi: Ở các cơ quan hành pháp, người ta có khuynh hướng nhìn vào người lãnh đạo cao nhất (tổng thống hoặc/và thủ tướng); còn ở các cơ quan khác, từ lập pháp đến tư pháp, vai trò tập thể nổi bật hơn vai trò của cá nhân, do đó, người ta có thói quen nhìn vào cả cơ quan hơn hơn là từng người cụ thể, ngay cả là người lãnh đạo cao nhất.
Ðối với các nhà lãnh đạo, lòng tin cũng có nhiều loại: Một, tin vào cá tính và đạo đức của họ; và hai, tin vào lý tưởng cũng như các chính sách mà họ theo đuổi. Trong hai loại lòng tin ấy, cá tính của người lãnh đạo là yếu tố quan trọng đầu tiên, có vai trò thu hút quần chúng nhất. Không có cá tính mạnh và không có sức cuốn hút quần chúng, không ai có thể trở thành lãnh tụ được, nhất là ở các quốc gia dân chủ, nơi để trở thành lãnh tụ, người ta phải trải qua những cuộc tranh cử và bầu cử gay gắt, trước hết, trong nội bộ đảng, và sau đó, trong phạm vi quốc gia. Nhưng yếu tố đầu tiên này tức khắc trở thành thứ yếu khi người ta trở thành lãnh tụ thực sự. Khi trở thành lãnh tụ, yếu tố được quần chúng quan tâm nhất lại là lý tưởng và từ đó, chính sách của họ. Lý tưởng, vốn thường lớn và chung chung, là yếu tố đầu tiên để gây chú ý và sự đồng cảm. Tuy nhiên, yếu tố chính để quần chúng đánh giá giới lãnh đạo chính là đường lối và chính sách, tức những khía cạnh nhằm hiện thực hóa lý tưởng mà họ tuyên truyền. Ðối với đường lối và chính sách, ba điều kiện căn bản nhất là: Một, rõ ràng; hai, nhất quán; và ba, hiệu quả. Xuyên suốt từ đầu đến cuối, vấn đề đạo đức của nhà lãnh đạo luôn luôn là một vấn đề quan trọng. Có điều, ở đây là đạo đức công dân chứ không phải là đạo đức cá nhân. Những cái gọi là hiền lành, khiêm tốn, hòa nhã, dễ thương, mau nước mắt, v.v. đều thuộc loại đạo đức cá nhân. Là đạo đức cá nhân, chúng chỉ có ý nghĩa trong phạm vi liên-cá nhân, giữa người này và người khác, trong một không gian có giới hạn. Ðiều người ta quan tâm nhất ở nhà lãnh đạo là thứ đạo đức công dân, trong đó, nổi bật nhất là sự trong sạch, tinh thần trách nhiệm và tôn trọng pháp luật, bởi vậy, ba cái xấu thường dễ bị theo dõi và lên án nhất chính là tham nhũng, vô trách nhiệm và lạm dụng quyền hành.
Ðối với các tổ chức, nội dung của cái gọi là lòng tin chỉ tập trung chủ yếu vào khía cạnh thực hành với hai nội dung chính: Năng lực và tính hiệu quả. Tiêu chí để đánh giá việc thực hành là hiến pháp và luật pháp. Nói đến năng lực và tính hiệu quả của các cơ quan, người ta phải đối chiếu việc thực hành của các cơ quan ấy so với các quy định ghi trong hiến pháp và luật pháp. Nếu nhiệm vụ chính của công an, chẳng hạn, là bảo đảm an ninh và an toàn trong xã hội thì năng lực và tính hiệu quả của công an cần phải được đo lường và đánh giá trên mức độ tội phạm các loại trong xã hội.
Ðối với cơ chế, lòng tin chủ yếu tập trung vào tính lý tưởng, tính hiệu quả và sự bền vững của nó.
Qua ba loại lòng tin ở trên, chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt giữa các xã hội dân chủ và các xã hội phi dân chủ.
Ở các xã hội dân chủ, từ Mỹ đến Úc và toàn bộ các quốc gia Tây Âu và Bắc Âu, dân chúng có thể mất lòng tin vào giới lãnh đạo hay các cơ quan công quyền, nhưng họ luôn luôn tin tưởng vào cơ chế. Cơ chế dân chủ mà họ thiết lập và hoàn thiện suốt cả trăm năm hoặc lâu hơn nữa không những có tính lý tưởng cao, phù hợp với những bảng giá trị phổ quát của nhân lại (tôn trọng tự do cá nhân và sự bình đẳng giữa mọi người cũng như tinh thần thượng tôn pháp luật) mà còn có tính hiệu quả trong việc vận hành kinh tế, an sinh xã hội và đặc biệt, quản trị đất nước. Hơn nữa, mọi người còn tin tưởng vào sự bền vững của nó: Một mặt, giới lãnh đạo hay các cơ quan công quyền có thể thay đổi, nhưng cơ chế dân chủ thì không; mặt khác, chính cơ chế ấy bảo đảm mọi sự thay đổi quyền lực đều diễn ra một cách êm thấm, không gây nên bất cứ một xáo trộn nào trong xã hội. Chính vì vậy, ở hầu hết các nước dân chủ, tâm lý quần chúng thường khá an tâm sau các cuộc bầu cử. Trong bầu cử, người ta có thể tranh đấu với nhau một cách dữ dội nhưng bầu cử xong, tuy có kẻ thắng người thua và tuy sẽ có những chính sách khác nhau, mọi người vẫn biết rõ một điều: Tự do, dân chủ, nhân quyền và pháp chế vẫn được tôn trọng và duy trì. Dưới chính phủ mới, một số người có thể bị cắt bớt một phần trong các trợ cấp thất nghiệp hay trợ cấp xã hội, chẳng hạn, nhưng chắc chắn, sẽ không có ai bị bỏ đói, bị tước đoạt đất đai hay bị bắt bỏ tù một cách vô lý vì một số phát ngôn hay vì tham gia một cuộc biểu tình nào đó.
Cũng chính vì tin cậy vào cơ chế nên ở các quốc gia Tây phương, hầu như không ai nghĩ đến chuyện gây bạo loạn để lật đổ chính quyền. Mọi sự thay đổi, nếu có, đều diễn ra bên trong cơ chế, với các luật chơi gắn liền với cơ chế.
Ở các nước phi dân chủ, ngược lại, điều người ta ít tin nhất, lại là cơ chế. Thoạt đầu, chế độ phi dân chủ nào cũng khuếch đại tính lý tưởng của nó để thu phục nhân tâm. Nhiều người sẵn sàng tin và có người sẵn sàng hy sinh tính mạng để thực hiện các lý tưởng ấy. Nhưng cái thiếu nhất của các chế độ độc tài là tính hiệu quả. Khái niệm hiệu quả ở đây không chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế mà còn trải rộng ra mọi phạm vi khác, từ luật pháp đến xã hội, văn hóa, chính trị và nhân quyền. Cứ nói mãi đến tự do nhưng đi đâu cũng đối đầu với công an, lúc nào cũng có nguy cơ bị công an còng tay hay đạp vào mặt; cứ nói mãi đến dân chủ, nhưng tranh cử thì hạn chế, bầu cử thì gian lận, bộ máy công quyền đều được giao phó cho những kẻ bất tài nhưng có nhiều “quan hệ”... dần dần người ta sẽ mất hết niềm tin. Chính vì có sự trái ngược giữa tính lý tưởng và tính hiệu quả như vậy, mọi chế độ độc tài đều thiếu hẳn tính ổn định và bền vững. Kiểu tuyên truyền ưu tiên cho ổn định ở các nước độc tài, trong đó có Việt Nam, là một lối ngụy biện đầy nghịch lý, bởi, tự bản chất, đã độc tài thì không thể ổn định, và vì không ổn định, nó cũng không thể bền vững.
Ðó chính là tình trạng ở Việt Nam hiện nay.
Lần lượt, nhiều người, ngay cả những kẻ từng cúc cung phục vụ chế độ gần như cả đời, đều nhận ra một điểm: Tất cả các khuyết điểm ở Việt Nam đều bắt rễ từ một cái lỗi chính, có người gọi là “lỗi hệ thống”. Lỗi hệ thống tức là lỗi ở cơ chế. Lỗi ở cơ chế chủ yếu là lỗi ở ba khía cạnh: Một, phương thức lên cầm quyền (thường, một cách chính đáng, phải gắn liền với các cuộc bầu cử tự do); hai, ở phương thức phân quyền (yêu cầu tối thiểu là tính chất độc lập của tư pháp, và đằng sau nó, lực lượng công an); và ba, phương thức kiểm soát quyền lực (chỉ đáng tin cậy khi, thứ nhất, người kiểm soát độc lập với người bị/được kiểm soát; và thứ hai, từ nhiều nguồn khác nhau. Ở Tây phương, cơ cấu kiểm soát quyền lực thường chằng chịt nhiều tầng và từ nhiều góc độ khác nhau, từ tư pháp đến truyền thông, các tổ chức chính trị đối lập, các tổ chức phi chính phủ và, bàng bạc khắp nơi, dân chúng).
Lâu nay, dường như chính quyền Việt Nam cảm thấy tuyệt vọng trong việc củng cố lòng tin của dân chúng vào cơ chế nên bộ máy tuyên truyền của họ thường hiếm khi đề cập đến cơ chế, vốn gắn liền với chế độ. Họ chỉ sử dụng biện pháp tiêu cực là cấm đoán việc phê phán cơ chế hoặc lâu lâu vẽ vời vài chuyện nhăng nhít (trong đó, mới nhất là việc bỏ phiếu tín nhiệm giới lãnh đạo) để mị dân hoặc lừa dân với ảo tưởng là cơ chế ấy đang trong tiến trình tự hoàn thiện. Nhưng cố gắng xây dựng lòng tin dựa trên lời hứa hẹn là nó đang tự thay đổi và hoàn thiện chỉ là một trò chơi nửa vời của những kẻ đang biết là mình thua cuộc. Nó thiếu hẳn tự tin. Và cũng thiếu lòng tin ở cơ chế.
Trước đây, bộ máy đảng và chính quyền tập trung thật nhiều công sức vào việc gây dựng lòng tin vào các nhà lãnh đạo bằng cách thần thánh hóa, hoặc ít nhất, thần tượng hóa một người nào đó, trước là Hồ Chí Minh, sau là Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng và Võ Nguyên Giáp. Nhưng với giới lãnh đạo thuộc các thế hệ sau, các nỗ lực ấy bị biến thành tuyệt vọng ngay cả trước khi họ bắt đầu thực hiện. Lý do chính, tôi nghĩ, là do sự phát triển của truyền thông. Với thế hệ lãnh đạo đầu tiên, việc thần thánh hóa tương đối dễ: Dưới mắt dân chúng, ông Hồ Chí Minh, chẳng hạn, lâu lâu mới thoáng qua một lần. Toàn bộ hình ảnh của ông là do các cán bộ tuyên truyền hoặc chính ông vẽ ra. Không ai có thể kiểm tra được cả. Giới lãnh đạo gần đây, đi đâu cũng có các ống kính chĩa vào ghi hình và ghi âm, rất dễ bộc lộ những sự hớ hênh trong cả trí tuệ lẫn nhân cách. Huống gì hầu hết các nhà lãnh đạo gần đây đều thuộc loại kém cỏi. Họ khó đủ sức để giữ được lòng tin của quần chúng.
Dĩ nhiên, nói đến lòng tin của dân chúng đối với lãnh đạo Việt Nam, chúng ta khó tìm ra một bằng chứng cụ thể nào để phân tích. Bầu cử thì gian lận; các cuộc điều tra dư luận thì bị cấm đoán, mọi cố gắng tìm kiếm số liệu đều trở thành vô vọng. Nhưng ít nhất cũng có một số người biết chắc chắn là dân chúng không tin giới lãnh đạo: Ðó chính là giới lãnh đạo hiện nay. Biết, nên họ sợ và tìm mọi cách để tránh né việc đối đầu với việc bày tỏ cách đánh giá của dân chúng. Họ biết chắc chắn một điều: Nếu để dân chúng tự do bộc lộ lòng tin, họ sẽ chỉ đạt được số âm.
Như vậy, ở đây, chúng ta lại thấy một khía cạnh khác: Ở Việt Nam, không phải chỉ có việc dân chúng mất lòng tin vào cơ chế, cơ quan công quyền và giới lãnh đạo mà còn có hiện tượng bản thân giới lãnh đạo cũng không tin vào cơ chế và đặc biệt, vào quần chúng. Họ không bao giờ dám để dân chúng phát biểu một cách tự do và trung thực. Họ cũng không dám để dân chúng được tự do lựa chọn. Ðây đó, họ giải thích lý do tại sao Việt Nam không thể đa đảng: Ða đảng sẽ gây nên hỗn loạn. Tại sao đa đảng, ở các nơi khác không gây nên hỗn loạn mà ở Việt Nam thì có? Họ trả lời: Tại dân trí Việt Nam còn thấp! Nói thế tức là không tin vào trí tuệ, vào phán đoán, và cuối cùng, sự lựa chọn của dân chúng.
Trên diễn đàn quốc tế, giới lãnh đạo Việt Nam nói đến lòng tin, nhưng một trong những bi kịch lớn nhất ở Việt Nam là không ai tin ai cả. Trong quan hệ xã hội, người ta không tin nhau. Trong quan hệ chính trị, dân chúng không tin nhà cầm quyền và nhà cầm quyền, ngược lại, cũng không tin dân chúng. Khi lòng tin bị đánh mất, yếu tố thống trị mọi quan hệ xã hội và chính trị chỉ còn là sự giả dối.
Giả dối thì ở đâu cũng có, nhưng ở Việt Nam, sự giả dối có hai điểm đặc biệt: Thứ nhất, nó không phải chỉ hiện diện, thậm chí, không phải chỉ phổ biến mà còn thống trị mọi sinh hoạt và mọi loại quan hệ; và thứ hai, chính vì tính chất thống trị ấy, nó trở thành một điều bình thường, không còn làm cho ai xấu hổ cả.
Không có một xã hội nào có thể lành mạnh nếu thiếu sự tin cậy và không có một nền đạo đức nào có thể đứng vững nếu thiếu sự xấu hổ.
Tiếc, Việt Nam thiếu cả hai.
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Nhân nhắc đến khái niệm lòng tin chiến lược trong bài nói chuyện của ông Nguyễn Tấn Dũng, chúng ta thử bàn về chuyện lòng tin trong chính trị nói chung. Nói đến lòng tin, ở đây tôi chỉ muốn tập trung vào sự tin cậy (trust, chứ không phải faith hay belief) và chỉ giới hạn trong phạm vi chính trị đối nội, trong nội bộ một quốc gia.
Trước hết, hầu như ai cũng biết sự tin cậy là một trong những yếu tố quan trọng nhất để mọi người có thể sinh hoạt chung với nhau trong xã hội, từ phạm vi nhỏ và riêng tư nhất là gia đình và bạn bè đến những phạm vi lớn hơn như các cơ sở làm ăn buôn bán hoặc các đoàn thể và cuối cùng, sinh hoạt chính trị trong cả nước. Nền tảng của cái gọi là đạo đức công dân, thật ra, là vấn đề tin cậy: Mình tin người khác và làm cho người khác tin mình bằng cách, trước hết, tự mình làm cho mình đáng tin cậy. Nền tảng của dân chủ, nghĩ cho cùng, cũng là sự tin cậy: Tin cậy vào thiện chí của người khác và vào quyết định của đa số (biểu hiện cụ thể nhất là qua các lá phiếu).
Trong chính trị đối nội, lòng tin có ba loại: Tin vào các nhà lãnh đạo, tin vào các tổ chức công quyền và tin vào cơ chế.
Trong các tổ chức công quyền, nổi bật nhất là lập pháp (tập trung vào Quốc Hội - ở một số nước, có hai hình thức chính Thượng Viện và Hạ Viện), hành pháp (tập trung vào phủ tổng thống và/hoặc văn phòng thủ tướng) và tư pháp (qua hình ảnh của tòa án cũng như công an). Ranh giới giữa lòng tin vào các nhà lãnh đạo và các tổ chức công quyền không hoàn toàn rạch ròi: Ở các cơ quan hành pháp, người ta có khuynh hướng nhìn vào người lãnh đạo cao nhất (tổng thống hoặc/và thủ tướng); còn ở các cơ quan khác, từ lập pháp đến tư pháp, vai trò tập thể nổi bật hơn vai trò của cá nhân, do đó, người ta có thói quen nhìn vào cả cơ quan hơn hơn là từng người cụ thể, ngay cả là người lãnh đạo cao nhất.
Ðối với các nhà lãnh đạo, lòng tin cũng có nhiều loại: Một, tin vào cá tính và đạo đức của họ; và hai, tin vào lý tưởng cũng như các chính sách mà họ theo đuổi. Trong hai loại lòng tin ấy, cá tính của người lãnh đạo là yếu tố quan trọng đầu tiên, có vai trò thu hút quần chúng nhất. Không có cá tính mạnh và không có sức cuốn hút quần chúng, không ai có thể trở thành lãnh tụ được, nhất là ở các quốc gia dân chủ, nơi để trở thành lãnh tụ, người ta phải trải qua những cuộc tranh cử và bầu cử gay gắt, trước hết, trong nội bộ đảng, và sau đó, trong phạm vi quốc gia. Nhưng yếu tố đầu tiên này tức khắc trở thành thứ yếu khi người ta trở thành lãnh tụ thực sự. Khi trở thành lãnh tụ, yếu tố được quần chúng quan tâm nhất lại là lý tưởng và từ đó, chính sách của họ. Lý tưởng, vốn thường lớn và chung chung, là yếu tố đầu tiên để gây chú ý và sự đồng cảm. Tuy nhiên, yếu tố chính để quần chúng đánh giá giới lãnh đạo chính là đường lối và chính sách, tức những khía cạnh nhằm hiện thực hóa lý tưởng mà họ tuyên truyền. Ðối với đường lối và chính sách, ba điều kiện căn bản nhất là: Một, rõ ràng; hai, nhất quán; và ba, hiệu quả. Xuyên suốt từ đầu đến cuối, vấn đề đạo đức của nhà lãnh đạo luôn luôn là một vấn đề quan trọng. Có điều, ở đây là đạo đức công dân chứ không phải là đạo đức cá nhân. Những cái gọi là hiền lành, khiêm tốn, hòa nhã, dễ thương, mau nước mắt, v.v. đều thuộc loại đạo đức cá nhân. Là đạo đức cá nhân, chúng chỉ có ý nghĩa trong phạm vi liên-cá nhân, giữa người này và người khác, trong một không gian có giới hạn. Ðiều người ta quan tâm nhất ở nhà lãnh đạo là thứ đạo đức công dân, trong đó, nổi bật nhất là sự trong sạch, tinh thần trách nhiệm và tôn trọng pháp luật, bởi vậy, ba cái xấu thường dễ bị theo dõi và lên án nhất chính là tham nhũng, vô trách nhiệm và lạm dụng quyền hành.
Ðối với các tổ chức, nội dung của cái gọi là lòng tin chỉ tập trung chủ yếu vào khía cạnh thực hành với hai nội dung chính: Năng lực và tính hiệu quả. Tiêu chí để đánh giá việc thực hành là hiến pháp và luật pháp. Nói đến năng lực và tính hiệu quả của các cơ quan, người ta phải đối chiếu việc thực hành của các cơ quan ấy so với các quy định ghi trong hiến pháp và luật pháp. Nếu nhiệm vụ chính của công an, chẳng hạn, là bảo đảm an ninh và an toàn trong xã hội thì năng lực và tính hiệu quả của công an cần phải được đo lường và đánh giá trên mức độ tội phạm các loại trong xã hội.
Ðối với cơ chế, lòng tin chủ yếu tập trung vào tính lý tưởng, tính hiệu quả và sự bền vững của nó.
Qua ba loại lòng tin ở trên, chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt giữa các xã hội dân chủ và các xã hội phi dân chủ.
Ở các xã hội dân chủ, từ Mỹ đến Úc và toàn bộ các quốc gia Tây Âu và Bắc Âu, dân chúng có thể mất lòng tin vào giới lãnh đạo hay các cơ quan công quyền, nhưng họ luôn luôn tin tưởng vào cơ chế. Cơ chế dân chủ mà họ thiết lập và hoàn thiện suốt cả trăm năm hoặc lâu hơn nữa không những có tính lý tưởng cao, phù hợp với những bảng giá trị phổ quát của nhân lại (tôn trọng tự do cá nhân và sự bình đẳng giữa mọi người cũng như tinh thần thượng tôn pháp luật) mà còn có tính hiệu quả trong việc vận hành kinh tế, an sinh xã hội và đặc biệt, quản trị đất nước. Hơn nữa, mọi người còn tin tưởng vào sự bền vững của nó: Một mặt, giới lãnh đạo hay các cơ quan công quyền có thể thay đổi, nhưng cơ chế dân chủ thì không; mặt khác, chính cơ chế ấy bảo đảm mọi sự thay đổi quyền lực đều diễn ra một cách êm thấm, không gây nên bất cứ một xáo trộn nào trong xã hội. Chính vì vậy, ở hầu hết các nước dân chủ, tâm lý quần chúng thường khá an tâm sau các cuộc bầu cử. Trong bầu cử, người ta có thể tranh đấu với nhau một cách dữ dội nhưng bầu cử xong, tuy có kẻ thắng người thua và tuy sẽ có những chính sách khác nhau, mọi người vẫn biết rõ một điều: Tự do, dân chủ, nhân quyền và pháp chế vẫn được tôn trọng và duy trì. Dưới chính phủ mới, một số người có thể bị cắt bớt một phần trong các trợ cấp thất nghiệp hay trợ cấp xã hội, chẳng hạn, nhưng chắc chắn, sẽ không có ai bị bỏ đói, bị tước đoạt đất đai hay bị bắt bỏ tù một cách vô lý vì một số phát ngôn hay vì tham gia một cuộc biểu tình nào đó.
Cũng chính vì tin cậy vào cơ chế nên ở các quốc gia Tây phương, hầu như không ai nghĩ đến chuyện gây bạo loạn để lật đổ chính quyền. Mọi sự thay đổi, nếu có, đều diễn ra bên trong cơ chế, với các luật chơi gắn liền với cơ chế.
Ở các nước phi dân chủ, ngược lại, điều người ta ít tin nhất, lại là cơ chế. Thoạt đầu, chế độ phi dân chủ nào cũng khuếch đại tính lý tưởng của nó để thu phục nhân tâm. Nhiều người sẵn sàng tin và có người sẵn sàng hy sinh tính mạng để thực hiện các lý tưởng ấy. Nhưng cái thiếu nhất của các chế độ độc tài là tính hiệu quả. Khái niệm hiệu quả ở đây không chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế mà còn trải rộng ra mọi phạm vi khác, từ luật pháp đến xã hội, văn hóa, chính trị và nhân quyền. Cứ nói mãi đến tự do nhưng đi đâu cũng đối đầu với công an, lúc nào cũng có nguy cơ bị công an còng tay hay đạp vào mặt; cứ nói mãi đến dân chủ, nhưng tranh cử thì hạn chế, bầu cử thì gian lận, bộ máy công quyền đều được giao phó cho những kẻ bất tài nhưng có nhiều “quan hệ”... dần dần người ta sẽ mất hết niềm tin. Chính vì có sự trái ngược giữa tính lý tưởng và tính hiệu quả như vậy, mọi chế độ độc tài đều thiếu hẳn tính ổn định và bền vững. Kiểu tuyên truyền ưu tiên cho ổn định ở các nước độc tài, trong đó có Việt Nam, là một lối ngụy biện đầy nghịch lý, bởi, tự bản chất, đã độc tài thì không thể ổn định, và vì không ổn định, nó cũng không thể bền vững.
Ðó chính là tình trạng ở Việt Nam hiện nay.
Lần lượt, nhiều người, ngay cả những kẻ từng cúc cung phục vụ chế độ gần như cả đời, đều nhận ra một điểm: Tất cả các khuyết điểm ở Việt Nam đều bắt rễ từ một cái lỗi chính, có người gọi là “lỗi hệ thống”. Lỗi hệ thống tức là lỗi ở cơ chế. Lỗi ở cơ chế chủ yếu là lỗi ở ba khía cạnh: Một, phương thức lên cầm quyền (thường, một cách chính đáng, phải gắn liền với các cuộc bầu cử tự do); hai, ở phương thức phân quyền (yêu cầu tối thiểu là tính chất độc lập của tư pháp, và đằng sau nó, lực lượng công an); và ba, phương thức kiểm soát quyền lực (chỉ đáng tin cậy khi, thứ nhất, người kiểm soát độc lập với người bị/được kiểm soát; và thứ hai, từ nhiều nguồn khác nhau. Ở Tây phương, cơ cấu kiểm soát quyền lực thường chằng chịt nhiều tầng và từ nhiều góc độ khác nhau, từ tư pháp đến truyền thông, các tổ chức chính trị đối lập, các tổ chức phi chính phủ và, bàng bạc khắp nơi, dân chúng).
Lâu nay, dường như chính quyền Việt Nam cảm thấy tuyệt vọng trong việc củng cố lòng tin của dân chúng vào cơ chế nên bộ máy tuyên truyền của họ thường hiếm khi đề cập đến cơ chế, vốn gắn liền với chế độ. Họ chỉ sử dụng biện pháp tiêu cực là cấm đoán việc phê phán cơ chế hoặc lâu lâu vẽ vời vài chuyện nhăng nhít (trong đó, mới nhất là việc bỏ phiếu tín nhiệm giới lãnh đạo) để mị dân hoặc lừa dân với ảo tưởng là cơ chế ấy đang trong tiến trình tự hoàn thiện. Nhưng cố gắng xây dựng lòng tin dựa trên lời hứa hẹn là nó đang tự thay đổi và hoàn thiện chỉ là một trò chơi nửa vời của những kẻ đang biết là mình thua cuộc. Nó thiếu hẳn tự tin. Và cũng thiếu lòng tin ở cơ chế.
Trước đây, bộ máy đảng và chính quyền tập trung thật nhiều công sức vào việc gây dựng lòng tin vào các nhà lãnh đạo bằng cách thần thánh hóa, hoặc ít nhất, thần tượng hóa một người nào đó, trước là Hồ Chí Minh, sau là Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng và Võ Nguyên Giáp. Nhưng với giới lãnh đạo thuộc các thế hệ sau, các nỗ lực ấy bị biến thành tuyệt vọng ngay cả trước khi họ bắt đầu thực hiện. Lý do chính, tôi nghĩ, là do sự phát triển của truyền thông. Với thế hệ lãnh đạo đầu tiên, việc thần thánh hóa tương đối dễ: Dưới mắt dân chúng, ông Hồ Chí Minh, chẳng hạn, lâu lâu mới thoáng qua một lần. Toàn bộ hình ảnh của ông là do các cán bộ tuyên truyền hoặc chính ông vẽ ra. Không ai có thể kiểm tra được cả. Giới lãnh đạo gần đây, đi đâu cũng có các ống kính chĩa vào ghi hình và ghi âm, rất dễ bộc lộ những sự hớ hênh trong cả trí tuệ lẫn nhân cách. Huống gì hầu hết các nhà lãnh đạo gần đây đều thuộc loại kém cỏi. Họ khó đủ sức để giữ được lòng tin của quần chúng.
Dĩ nhiên, nói đến lòng tin của dân chúng đối với lãnh đạo Việt Nam, chúng ta khó tìm ra một bằng chứng cụ thể nào để phân tích. Bầu cử thì gian lận; các cuộc điều tra dư luận thì bị cấm đoán, mọi cố gắng tìm kiếm số liệu đều trở thành vô vọng. Nhưng ít nhất cũng có một số người biết chắc chắn là dân chúng không tin giới lãnh đạo: Ðó chính là giới lãnh đạo hiện nay. Biết, nên họ sợ và tìm mọi cách để tránh né việc đối đầu với việc bày tỏ cách đánh giá của dân chúng. Họ biết chắc chắn một điều: Nếu để dân chúng tự do bộc lộ lòng tin, họ sẽ chỉ đạt được số âm.
Như vậy, ở đây, chúng ta lại thấy một khía cạnh khác: Ở Việt Nam, không phải chỉ có việc dân chúng mất lòng tin vào cơ chế, cơ quan công quyền và giới lãnh đạo mà còn có hiện tượng bản thân giới lãnh đạo cũng không tin vào cơ chế và đặc biệt, vào quần chúng. Họ không bao giờ dám để dân chúng phát biểu một cách tự do và trung thực. Họ cũng không dám để dân chúng được tự do lựa chọn. Ðây đó, họ giải thích lý do tại sao Việt Nam không thể đa đảng: Ða đảng sẽ gây nên hỗn loạn. Tại sao đa đảng, ở các nơi khác không gây nên hỗn loạn mà ở Việt Nam thì có? Họ trả lời: Tại dân trí Việt Nam còn thấp! Nói thế tức là không tin vào trí tuệ, vào phán đoán, và cuối cùng, sự lựa chọn của dân chúng.
Trên diễn đàn quốc tế, giới lãnh đạo Việt Nam nói đến lòng tin, nhưng một trong những bi kịch lớn nhất ở Việt Nam là không ai tin ai cả. Trong quan hệ xã hội, người ta không tin nhau. Trong quan hệ chính trị, dân chúng không tin nhà cầm quyền và nhà cầm quyền, ngược lại, cũng không tin dân chúng. Khi lòng tin bị đánh mất, yếu tố thống trị mọi quan hệ xã hội và chính trị chỉ còn là sự giả dối.
Giả dối thì ở đâu cũng có, nhưng ở Việt Nam, sự giả dối có hai điểm đặc biệt: Thứ nhất, nó không phải chỉ hiện diện, thậm chí, không phải chỉ phổ biến mà còn thống trị mọi sinh hoạt và mọi loại quan hệ; và thứ hai, chính vì tính chất thống trị ấy, nó trở thành một điều bình thường, không còn làm cho ai xấu hổ cả.
Không có một xã hội nào có thể lành mạnh nếu thiếu sự tin cậy và không có một nền đạo đức nào có thể đứng vững nếu thiếu sự xấu hổ.
Tiếc, Việt Nam thiếu cả hai.
Bí mật động trời việc Mỹ do thám toàn thế giới
Giám đốc tình báo đối ngoại Mỹ và Nhà Trắng cuối cùng đã xác nhận một sự thật: chính quyền Barack Obama đang giám sát toàn bộ thế giới.
Làm thế nào mà Mỹ có thể xử lý khối lượng dữ liệu khổng lồ như vậy?

Trung tâm dữ liệu Utah của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ đang thu thập dữ liệu điện tử của nhiều người khắp thế giới. Ảnh: AP.
Ở phía nam hồ Muối lớn tại bang Utah, đơn vị tình báo đối ngoại của Mỹ tên là Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) đang giữ một trong những bí mật đắt giá nhất.
Lưu dữ liệu cả thế giới trong 100 năm tới
Ở phía nam hồ, trên diện tích 100.000 m2 gần doanh trại quân đội William, NSA đang xây khu nhà rộng lớn để chứa hàng loạt máy tính siêu nhanh.
Trong dự án trị giá khoảng 2 tỷ USD này, hệ thống máy tính ở đây có khả năng lưu trữ lượng dữ liệu khổng lồ, tối thiểu là 5 tỷ gigabyte. Chỉ riêng lượng điện dùng để chạy hệ thống làm mát các máy chủ cũng tiêu tốn 40 triệu USD mỗi năm.
cựu nhân viên NSA là Thomas Drake và Bill Binney hồi tháng 3 nói với báo Spiegel (Đức) rằng, cơ sở của NSA sẽ sớm thu thập dữ liệu cá nhân khắp nơi trên thế giới và lưu trữ trong vài thập kỷ. Những dữ liệu điện tử này bao gồm địa chỉ email, hội thoại trên Skype, tìm kiếm trên Google, video trên YouTube, chia sẻ trên Facebook, giao dịch điện tử qua ngân hàng…
Theo một chuyên gia từng làm cho NSA, các máy chủ đặt ở Utah đủ lớn để có thể lưu trữ toàn bộ dữ liệu điện tử của loài người trong vòng 100 năm tới.
Giám đốc NSA James Clapper cuối tuần qua thừa nhận sự tồn tại của chương trình giám sát quy mô lớn mà Washington đang thực hiện. Tổng thống Barack Obama còn giải thích rằng, Quốc hội Mỹ cho phép thực hiện chương trình này, nhưng người dân Mỹ không nằm trong diện bị giám sát.
Theo tài liệu tuyệt mật do cựu nhân viên CIA Edward Snowden tiết lộ, giới tình báo Mỹ bắt đầu tiếp cận máy chủ của các hãng dịch vụ internet lớn từ năm 2007.
Microsoft, Yahoo, Google, Facebook, PalTalk, YouTube, Skype, AOL… đều nằm trong diện này. Gần đây nhất, Apple cho biết, sẵn sàng hợp tác từ tháng 10/2012. Các hãng công nghệ hàng đầu thế giới như Google, Facebook… cuối tuần qua nói rằng, họ không tiết lộ thông tin của người dùng mà không có lệnh của tòa án.
Tuy nhiên, nhiều người vẫn tin rằng, NSA lấy dữ liệu từ hệ thống máy chủ của các hãng công nghệ. Nếu những điều trong tài liệu bị rò rỉ là có thật, thì điều đó nghĩa là NSA biết mọi hành động của tất cả người sử dụng dịch vụ của các công ty trên. Washington Post dẫn lời một sĩ quan tình báo giấu tên nói rằng, NSA có thể “xem các ý tưởng của bạn hình thành khi bạn gõ trên bàn phím”.
Tuyển 1.600 chuyên gia ngôn ngữ

Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ đang thực hiện chương trình tuyệt mật Prism.
Utah là nơi sinh sống của cộng đồng người Mormon lớn nhất thế giới. Cộng đồng dân cư sùng đạo và ái quốc này đang cử các nhà truyền giáo trẻ đi khắp thế giới, rất nhiều trong số đó được Lực lượng Vệ binh quốc gia bang Utah tuyển dụng.
Lữ đoàn Tình báo Quân đội thứ 300 của lực lượng này đang tuyển dụng 1.600 nhà ngôn ngữ học. NSA có thể tiếp cận những chuyên gia ngôn ngữ này bất kỳ lúc nào. Một người trong cuộc (xin giấu tên) nói rằng, các nhà ngôn ngữ học được sử dụng để “phân tích thông tin liên lạc quốc tế”.
Trong tài liệu mật bị rò rỉ nói trên, chương trình giám sát khổng lồ của NSA được gọi là “Prism”. Tài liệu cho thấy dòng dữ liệu di chuyển từ châu Âu sang châu Á, từ khu vực Thái Bình Dương sang Nam Mỹ hay bất kỳ đâu đều đi qua các máy chủ đặt tại Mỹ.
Trước đây, chính quyền George Bush hợp pháp hóa việc nghe lén của chính phủ. Tuy nhiên, chính quyền Barack Obama đã đổi mới luật gây tranh cãi này vào tháng 12/2012 để cho phép mở rộng chương trình giám sát, ví dụ tất cả người sử dụng Google ở ngoài lãnh thổ Mỹ hay giao tiếp giữa công dân Mỹ với người ở nước ngoài đều bị theo dõi.
Cuối tuần qua, trước sự chỉ trích của các nhà hoạt động và người dân về chương trình giám sát bí mật vừa bị tiết lộ, Tổng thống Obama lý luận rằng, không thể đảm bảo an ninh 100%, không thể có sự riêng tư 100% và không thể không có sự bất tiện.
Tuy nhiên, Bộ trưởng Tư pháp Đức, bà Sabine Leutheusser-Schnarrenberger, không đồng ý với quan điểm này.
“Một xã hội càng giám sát, kiểm soát, theo dõi công dân của mình thì xã hội đó càng ít tự do. Trong một nhà nước dân chủ, an ninh bản thân nó không phải là mục đích, mà là phụng sự để đảm bảo quyền tự do”, bà Sabine nói.
Ngày 11/6, các quan chức Liên minh châu Âu và chính khách Đức yêu cầu phía Mỹ làm rõ về chương trình bí mật thu thập dữ liệu về người nước ngoài.
Do thám qua internet và vệ tinh
Không chỉ giám sát người dùng internet, NSA còn do thám trên quy mô toàn cầu qua nhiều phương tiện khác, như vệ tinh. Mỹ đã lắp đặt hàng loạt ăng-ten hiệu suất cao ở nhiều nước để thu tín hiệu điện thoại di động.
Đến nay, điều các chuyên gia nghi ngờ nhiều năm đã trở nên rõ ràng, rằng NSA đang theo dõi tất cả các dạng trao đổi, liên lạc điện tử trên toàn thế giới. Điều này làm dấy lên câu hỏi quan trọng: Làm sao mà một cơ quan tình báo với 40.000 nhân viên có thể xử lý khối dữ liệu đồ sộ đến thế?
Câu trả lời nằm trong khái niệm “dữ liệu lớn” (big data) được nói đến nhiều gần đây. Nhờ công nghệ lưu trữ dữ liệu kiểu mới, người ta có thể kết nối những dạng dữ liệu hoàn toàn khác nhau và phân tích chúng bằng phương pháp hoàn toàn tự động.
Giám đốc tình báo đối ngoại Mỹ và Nhà Trắng cuối cùng đã xác nhận một sự thật: chính quyền Barack Obama đang giám sát toàn bộ thế giới.
Làm thế nào mà Mỹ có thể xử lý khối lượng dữ liệu khổng lồ như vậy?

Trung tâm dữ liệu Utah của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ đang thu thập dữ liệu điện tử của nhiều người khắp thế giới. Ảnh: AP.
Ở phía nam hồ Muối lớn tại bang Utah, đơn vị tình báo đối ngoại của Mỹ tên là Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) đang giữ một trong những bí mật đắt giá nhất.
Lưu dữ liệu cả thế giới trong 100 năm tới
Ở phía nam hồ, trên diện tích 100.000 m2 gần doanh trại quân đội William, NSA đang xây khu nhà rộng lớn để chứa hàng loạt máy tính siêu nhanh.
Trong dự án trị giá khoảng 2 tỷ USD này, hệ thống máy tính ở đây có khả năng lưu trữ lượng dữ liệu khổng lồ, tối thiểu là 5 tỷ gigabyte. Chỉ riêng lượng điện dùng để chạy hệ thống làm mát các máy chủ cũng tiêu tốn 40 triệu USD mỗi năm.
cựu nhân viên NSA là Thomas Drake và Bill Binney hồi tháng 3 nói với báo Spiegel (Đức) rằng, cơ sở của NSA sẽ sớm thu thập dữ liệu cá nhân khắp nơi trên thế giới và lưu trữ trong vài thập kỷ. Những dữ liệu điện tử này bao gồm địa chỉ email, hội thoại trên Skype, tìm kiếm trên Google, video trên YouTube, chia sẻ trên Facebook, giao dịch điện tử qua ngân hàng…
Theo một chuyên gia từng làm cho NSA, các máy chủ đặt ở Utah đủ lớn để có thể lưu trữ toàn bộ dữ liệu điện tử của loài người trong vòng 100 năm tới.
Giám đốc NSA James Clapper cuối tuần qua thừa nhận sự tồn tại của chương trình giám sát quy mô lớn mà Washington đang thực hiện. Tổng thống Barack Obama còn giải thích rằng, Quốc hội Mỹ cho phép thực hiện chương trình này, nhưng người dân Mỹ không nằm trong diện bị giám sát.
Theo tài liệu tuyệt mật do cựu nhân viên CIA Edward Snowden tiết lộ, giới tình báo Mỹ bắt đầu tiếp cận máy chủ của các hãng dịch vụ internet lớn từ năm 2007.
Microsoft, Yahoo, Google, Facebook, PalTalk, YouTube, Skype, AOL… đều nằm trong diện này. Gần đây nhất, Apple cho biết, sẵn sàng hợp tác từ tháng 10/2012. Các hãng công nghệ hàng đầu thế giới như Google, Facebook… cuối tuần qua nói rằng, họ không tiết lộ thông tin của người dùng mà không có lệnh của tòa án.
Tuy nhiên, nhiều người vẫn tin rằng, NSA lấy dữ liệu từ hệ thống máy chủ của các hãng công nghệ. Nếu những điều trong tài liệu bị rò rỉ là có thật, thì điều đó nghĩa là NSA biết mọi hành động của tất cả người sử dụng dịch vụ của các công ty trên. Washington Post dẫn lời một sĩ quan tình báo giấu tên nói rằng, NSA có thể “xem các ý tưởng của bạn hình thành khi bạn gõ trên bàn phím”.
Tuyển 1.600 chuyên gia ngôn ngữ

Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ đang thực hiện chương trình tuyệt mật Prism.
Utah là nơi sinh sống của cộng đồng người Mormon lớn nhất thế giới. Cộng đồng dân cư sùng đạo và ái quốc này đang cử các nhà truyền giáo trẻ đi khắp thế giới, rất nhiều trong số đó được Lực lượng Vệ binh quốc gia bang Utah tuyển dụng.
Lữ đoàn Tình báo Quân đội thứ 300 của lực lượng này đang tuyển dụng 1.600 nhà ngôn ngữ học. NSA có thể tiếp cận những chuyên gia ngôn ngữ này bất kỳ lúc nào. Một người trong cuộc (xin giấu tên) nói rằng, các nhà ngôn ngữ học được sử dụng để “phân tích thông tin liên lạc quốc tế”.
Trong tài liệu mật bị rò rỉ nói trên, chương trình giám sát khổng lồ của NSA được gọi là “Prism”. Tài liệu cho thấy dòng dữ liệu di chuyển từ châu Âu sang châu Á, từ khu vực Thái Bình Dương sang Nam Mỹ hay bất kỳ đâu đều đi qua các máy chủ đặt tại Mỹ.
Trước đây, chính quyền George Bush hợp pháp hóa việc nghe lén của chính phủ. Tuy nhiên, chính quyền Barack Obama đã đổi mới luật gây tranh cãi này vào tháng 12/2012 để cho phép mở rộng chương trình giám sát, ví dụ tất cả người sử dụng Google ở ngoài lãnh thổ Mỹ hay giao tiếp giữa công dân Mỹ với người ở nước ngoài đều bị theo dõi.
Cuối tuần qua, trước sự chỉ trích của các nhà hoạt động và người dân về chương trình giám sát bí mật vừa bị tiết lộ, Tổng thống Obama lý luận rằng, không thể đảm bảo an ninh 100%, không thể có sự riêng tư 100% và không thể không có sự bất tiện.
Tuy nhiên, Bộ trưởng Tư pháp Đức, bà Sabine Leutheusser-Schnarrenberger, không đồng ý với quan điểm này.
“Một xã hội càng giám sát, kiểm soát, theo dõi công dân của mình thì xã hội đó càng ít tự do. Trong một nhà nước dân chủ, an ninh bản thân nó không phải là mục đích, mà là phụng sự để đảm bảo quyền tự do”, bà Sabine nói.
Ngày 11/6, các quan chức Liên minh châu Âu và chính khách Đức yêu cầu phía Mỹ làm rõ về chương trình bí mật thu thập dữ liệu về người nước ngoài.
Do thám qua internet và vệ tinh
Không chỉ giám sát người dùng internet, NSA còn do thám trên quy mô toàn cầu qua nhiều phương tiện khác, như vệ tinh. Mỹ đã lắp đặt hàng loạt ăng-ten hiệu suất cao ở nhiều nước để thu tín hiệu điện thoại di động.
Đến nay, điều các chuyên gia nghi ngờ nhiều năm đã trở nên rõ ràng, rằng NSA đang theo dõi tất cả các dạng trao đổi, liên lạc điện tử trên toàn thế giới. Điều này làm dấy lên câu hỏi quan trọng: Làm sao mà một cơ quan tình báo với 40.000 nhân viên có thể xử lý khối dữ liệu đồ sộ đến thế?
Câu trả lời nằm trong khái niệm “dữ liệu lớn” (big data) được nói đến nhiều gần đây. Nhờ công nghệ lưu trữ dữ liệu kiểu mới, người ta có thể kết nối những dạng dữ liệu hoàn toàn khác nhau và phân tích chúng bằng phương pháp hoàn toàn tự động.
LS Lê Quốc Quân 'bị đối xử khắc nghiệt'

Luật sư Lê Quốc Quân sắp ra tòa với cáo buộc 'trốn thuế' ngày 9/7 Luật sư Lê Quốc Quân, người sắp ra tòa hôm 9/7 vì cáo buộc trốn thuế, đang bị 'phân biệt đối xử và tạm giam trong môi trường khắc nghiệt', theo cáo buộc của gia đình ông.
Trao đổi với BBC hôm 20/6/2013, bà Nguyễn Thị Thu Hiền, vợ của luật sư kiêm nhà vận động cho dân chủ, cho hay bà được biết qua lời kể của luật sư bào chữa vào thăm rằng ông Quân và em ruột ông, Lê Đình Quán, bị phân biệt đối xử.
Các bài liên quanYêu cầu Ngoại trưởng Kerry về LS QuânYêu cầu Ngoại trưởng Kerry về LS Quân'Chưa ai tiếp xúc ông Lê Quốc Quân '
Chủ đề liên quanChính trị Việt Nam, Nhân quyền
Bà Hiền nói:
"Anh Quân bị giam chung với 40 người trong phòng giam, anh cũng thường xuyên bị nằm ở nơi gần nhà vệ sinh,"
"Anh bị phân biệt đối xử, mỗi lần gia đình tiếp tế cho anh, người ta chỉ cho tiếp vào độ một chục chai nước."
"Trong khi đó, những người bị giam khác có thể được nhận tới cả vài chục chai nước một lúc."
Bà Hiền còn cho hay thêm không chỉ chồng bà mà người em chồng, bị giam giữ riêng rẽ, cũng chịu sự phân biệt.
Bà nói:
"Em chồng tôi, Lê Đình Quán bị giam tới nay là 7 tháng rưỡi.
"Em chồng tôi bị giam chung với 53 người và cũng bị phân biệt đối xử," bà đưa ra lời cáo buộc.
"Các điều kiện trọng đó rất hà khắc, họ bị hạn chế không cho tập thể dục, bị hạn chế giao tiếp."
Bà Hiền cho hay cho tới nay bà và gia đình chưa được gặp mặt trực tiếp chồng bà mà mọi liên hệ có được đều thông qua luật sư.
"Hiện tại thì gia đình vẫn chưa được gặp anh ấy, chỉ có các luật sư được gặp để làm việc.
"Tới nay luật sư Bùi Quang Nghiêm đã gặp được một lần,
"Các luật sư khác là Trần Nam Sơn và Hà Huy Sơn được gặp từ 4 tới 5 lần."
BBC chưa có điều kiện kiểm chứng những cáo buộc này với nhà chức trách ở Việt Nam.
Truyền thông Việt Nam cho tới nay chỉ đưa tin ít ỏi về vụ xử án ông Lê Quốc Quân dự kiến vào ngày 9/7 tới.
'Làm thơ trong tù'"Qua các luật sư , tôi được biết là sức khỏe của chồng tôi không được tốt, nhất là trong hoàn cảnh giam giữ rất nóng bức, chật chội. Nhưng tinh thần của anh ấy rất cao"
Vợ LS Lê Quốc Quân
Vợ của nhà hoạt động dân chủ và là một blogger theo Công giáo cho hay chồng bà tuy sức khỏe "có vấn đề" nhưng vẫn vững vàng về tâm lý và tinh thần.
"Tôi xác nhận là chồng tôi có gửi ra các bài thơ mà trên mạng cũng đã giới thiệu,"
"Tất cả có bốn bài thơ. Tôi đọc nét chữ dù được khắc và giọng văn, thì biết ngay là của chồng tôi."
"Qua các luật sư , tôi được biết là sức khỏe của chồng tôi không được tốt, nhất là trong hoàn cảnh giam giữ rất nóng bức, chật chội,
"Nhưng tinh thần của anh ấy rất cao. Anh ấy và chúng tôi luôn khẳng định là không hề có tội..."
Tuần này, trên mạng xã hội xuất hiện bốn bài thơ mà gia đình xác nhận là của Luật sư Lê Quốc Quân làm và gửi ra từ trong tù, đó là các bài: 'Hỏa Lò vọng sóng biển Đông', 'Tặng người bạn tù', 'Chí người ngục sỹ' và bài thơ tặng ba con nhỏ của ông có tựa đề 'An Thái Việt'.
Văn bản Quyết định về việc đưa LS Quân ra xét xử mà BBC được tiếp cận viết ông Quân sẽ ra tòa cùng với một người khác, bà Phạm Thị Phương, nguyên là kế toán trưởng công ty VietnamCredit.
Bà Phương bị bắt hồi tháng 11/2012 trong vụ án liên quan công ty VietnamCredit mà em trai ông Lê Quốc Quân là Lê Đình Quản làm giám đốc.
Ông Quản cũng đã bị bắt tạm giam từ hồi đó với cáo buộc Trốn thuế, nhưng chưa rõ ngày sẽ đưa ra xét xử.
Nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế, một số quốc gia phương Tây đã lên tiếng phản đối hoặc quan ngại về vụ bắt giữ ông Lê Quốc Quân và người thân của ông.
Các ý kiến cho rằng các vụ bắt giữ có ý đồ chính trị nhắm vào ông Quân do ông là một blogger và nhà hoạt động vận cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo.
Gần đây, Chủ tịch Trung tâm Công lý và Nhân quyền Robert F. Kennedy (RFK Center) do cháu gái của Cố Tổng thống Mỹ John Kennedy lãnh đạo đã gửi thư cho Thủ tướng Việt Nam.
Bức thư yêu cầu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bảo vệ quyền lợi chính đáng cho luật sư nhân quyền đang bị giam cầm.

Luật sư Lê Quốc Quân sắp ra tòa với cáo buộc 'trốn thuế' ngày 9/7 Luật sư Lê Quốc Quân, người sắp ra tòa hôm 9/7 vì cáo buộc trốn thuế, đang bị 'phân biệt đối xử và tạm giam trong môi trường khắc nghiệt', theo cáo buộc của gia đình ông.
Trao đổi với BBC hôm 20/6/2013, bà Nguyễn Thị Thu Hiền, vợ của luật sư kiêm nhà vận động cho dân chủ, cho hay bà được biết qua lời kể của luật sư bào chữa vào thăm rằng ông Quân và em ruột ông, Lê Đình Quán, bị phân biệt đối xử.
Các bài liên quanYêu cầu Ngoại trưởng Kerry về LS QuânYêu cầu Ngoại trưởng Kerry về LS Quân'Chưa ai tiếp xúc ông Lê Quốc Quân '
Chủ đề liên quanChính trị Việt Nam, Nhân quyền
Bà Hiền nói:
"Anh Quân bị giam chung với 40 người trong phòng giam, anh cũng thường xuyên bị nằm ở nơi gần nhà vệ sinh,"
"Anh bị phân biệt đối xử, mỗi lần gia đình tiếp tế cho anh, người ta chỉ cho tiếp vào độ một chục chai nước."
"Trong khi đó, những người bị giam khác có thể được nhận tới cả vài chục chai nước một lúc."
Bà Hiền còn cho hay thêm không chỉ chồng bà mà người em chồng, bị giam giữ riêng rẽ, cũng chịu sự phân biệt.
Bà nói:
"Em chồng tôi, Lê Đình Quán bị giam tới nay là 7 tháng rưỡi.
"Em chồng tôi bị giam chung với 53 người và cũng bị phân biệt đối xử," bà đưa ra lời cáo buộc.
"Các điều kiện trọng đó rất hà khắc, họ bị hạn chế không cho tập thể dục, bị hạn chế giao tiếp."
Bà Hiền cho hay cho tới nay bà và gia đình chưa được gặp mặt trực tiếp chồng bà mà mọi liên hệ có được đều thông qua luật sư.
"Hiện tại thì gia đình vẫn chưa được gặp anh ấy, chỉ có các luật sư được gặp để làm việc.
"Tới nay luật sư Bùi Quang Nghiêm đã gặp được một lần,
"Các luật sư khác là Trần Nam Sơn và Hà Huy Sơn được gặp từ 4 tới 5 lần."
BBC chưa có điều kiện kiểm chứng những cáo buộc này với nhà chức trách ở Việt Nam.
Truyền thông Việt Nam cho tới nay chỉ đưa tin ít ỏi về vụ xử án ông Lê Quốc Quân dự kiến vào ngày 9/7 tới.
'Làm thơ trong tù'"Qua các luật sư , tôi được biết là sức khỏe của chồng tôi không được tốt, nhất là trong hoàn cảnh giam giữ rất nóng bức, chật chội. Nhưng tinh thần của anh ấy rất cao"
Vợ LS Lê Quốc Quân
Vợ của nhà hoạt động dân chủ và là một blogger theo Công giáo cho hay chồng bà tuy sức khỏe "có vấn đề" nhưng vẫn vững vàng về tâm lý và tinh thần.
"Tôi xác nhận là chồng tôi có gửi ra các bài thơ mà trên mạng cũng đã giới thiệu,"
"Tất cả có bốn bài thơ. Tôi đọc nét chữ dù được khắc và giọng văn, thì biết ngay là của chồng tôi."
"Qua các luật sư , tôi được biết là sức khỏe của chồng tôi không được tốt, nhất là trong hoàn cảnh giam giữ rất nóng bức, chật chội,
"Nhưng tinh thần của anh ấy rất cao. Anh ấy và chúng tôi luôn khẳng định là không hề có tội..."
Tuần này, trên mạng xã hội xuất hiện bốn bài thơ mà gia đình xác nhận là của Luật sư Lê Quốc Quân làm và gửi ra từ trong tù, đó là các bài: 'Hỏa Lò vọng sóng biển Đông', 'Tặng người bạn tù', 'Chí người ngục sỹ' và bài thơ tặng ba con nhỏ của ông có tựa đề 'An Thái Việt'.
Văn bản Quyết định về việc đưa LS Quân ra xét xử mà BBC được tiếp cận viết ông Quân sẽ ra tòa cùng với một người khác, bà Phạm Thị Phương, nguyên là kế toán trưởng công ty VietnamCredit.
Bà Phương bị bắt hồi tháng 11/2012 trong vụ án liên quan công ty VietnamCredit mà em trai ông Lê Quốc Quân là Lê Đình Quản làm giám đốc.
Ông Quản cũng đã bị bắt tạm giam từ hồi đó với cáo buộc Trốn thuế, nhưng chưa rõ ngày sẽ đưa ra xét xử.
Nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế, một số quốc gia phương Tây đã lên tiếng phản đối hoặc quan ngại về vụ bắt giữ ông Lê Quốc Quân và người thân của ông.
Các ý kiến cho rằng các vụ bắt giữ có ý đồ chính trị nhắm vào ông Quân do ông là một blogger và nhà hoạt động vận cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo.
Gần đây, Chủ tịch Trung tâm Công lý và Nhân quyền Robert F. Kennedy (RFK Center) do cháu gái của Cố Tổng thống Mỹ John Kennedy lãnh đạo đã gửi thư cho Thủ tướng Việt Nam.
Bức thư yêu cầu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bảo vệ quyền lợi chính đáng cho luật sư nhân quyền đang bị giam cầm.
Tư Sang Ngang, Sang Nhượng
Tác giả : Vi Anh Người dân Việt trong nước nhứt là dân Miền Nam thường dùng thứ, tên và thói quen đặc biệt để gọi một người. Thí dụ như “Tám Đồng Thời” vì người tên Tám này có cái tật hay dùng chữ đồng thời khi nói chuyện là liên tục chêm chữ này vào. Blogger Người Xe Ôm gọi Chủ Tích Nước là Tư Sang Nham Hiểm. Nhưng nếu xét về lâu về dài người Miền Nam có lý khi gọi Tư Sang là Tư Sang Ngang, Sang Nhượng. Điều này có thể thấy khi Tư Sang sang ngang, bỏ con đường của Phe Đối Mới của cán bộ đảng viên gốc Miền Nam bắc tiến cứu nguy kinh tế VN, bước qua theo phe thủ cựu gốc CS Bắc Việt. Và sang ngang khi Tư Sang nói ngược lại những lời tuyên bố trước đây cứng rắn đối với TC để lấy lòng dân, khác với bây giờ đang có thái độ cúc cung tận tuỵ thần phục TC trong chuyến đi Bắc Kinh diện kiến Thiên Triều, do Chủ Tịch Nước và Đảng TC Tập cận Bình triệu hồi qua Tàu nhận lịnh. Và cũng có thể thấy Tư Sang sang nhượng biển đảo VN cho quân Tàu Cộng qua thái độ, hành động ký, tên đề dấu đóng trên cả chục hiệp ước do Tập cận Bình đưa ra như sắc lịnh của thiên tử. Sau dây là sự kiện.
Một là sang ngang, rẽ bước với phe Đổi Mới kinh tế xuất phát từ Miền Nam. Người Việt thường có câu, ăn quen mà nhịn không quen. Còn người Tàu có câu nhứt bất tín, vạn bất tín. Tư Sang là một trong vài người CS từng đứng đầu thành uỷ và uỷ ban của Saigon Gia Định, hậu thân của Nam kỳ Cộng sản Đảng thời Ông Hồ chưa gom bị 3 đảng CS của ba kỳ (Bắc kỳ Cộng sản Đảng, Trung kỳ Cộng sản Đảng và Nam kỳ CS Đảng) thành Đảng CSVN.
Tư Sang người ở Đức Hoà xứ khóm Bến Lức nổi tiếng, lên học Saigon, theo sinh viên đấu tranh bị bể trốn ra bưng biền, theo CS đến khi ra thành, Saigon Gia định đổi tên thành phố Hồ chí Minh.
Tư Sang được Ông Võ văn Kiệt từng là bí thư thành uỷ Saigon Gia Định cất nhắc và kéo theo ra Bắc, vào Hà nội nắm đảng quyền với chức vu 5 Trưởng Ban Kinh tế rồi Trưởng Ban Bí Thư Trung Ương Đảng, trước Ba Dũng rất lâu. Nhưng khi thấy Ba Dũng dân Cà mau lên làm thủ tướng rất ngon ăn, khoái làm thủ tưởng muốn chết nên bẻ chỉa sang ngang chạy theo CS Bắc Việt, ăn công ký kết bè với Nguyễn Phú Trọng để cưa cẳng ghế của Ba Dũng. Nhưng Trọng và Sang thua nặng. Gần đây Tư Sang được Quốc Hội đảng cử dân bầu cho điểm tín nhiệm cao hơn Ba Dũng thủ tướng, trước khi được Tập cận Bình triệu dụng sang Bắc Kinh.
Hai là sang ngang từ lập trường cứng rắn với TC sang thần phục TC trong chuyến triều kiến Thiên Triều. Trong vai trò chủ tịch nước để lấy lòng dân, Sang có những lời lẽ cứng rắn với TC trong vấn đề Biển Đông bị TC liếm mất 80% với đường lưỡi bò và hai đảo Hoàng sa và Trường sa của VN,.
Sau khi Thủ Tướng Dũng được đánh giá cao khi có lời lẽ cứng rắn đối với TC tại hội nghị quốc tế Sangri-la, và sau khi Chủ Tịch Tâp cận Bình có cuộc họp thượng đĩnh với TT Obama ở Sunnyland thuộc Nam California, nơi có cộng đồng người Việt tỵ nạn đông nhứt nước Mỹ, thì có lịnh của Thiên Triều triệu Sang sang gặp Tập cận Bình, Chủ Tich Đảng Nhà Nước của TC.
Ba là sang nhượng biển đảo của VN cho TC. Tin thông tấn Xã AFP của Pháp trích dẩn nguồn tin của thông tấn xã của TC là Tân Hoa Xã, cho biết ngày 19/06/2013, Chủ Tịch Nước VNCS là Trương tấn Sang đã thỏa thuận với Tập cận Bình (1) giải quyết mọi tranh chấp về lãnh thổ giữa hai nước phải được thông qua đàm phán song phương, không áp dụng bất cứ hành động nào có thể làm phức tạp hóa và mở rộng tranh chấp, đề phòng quốc tế hóa vấn đề Nam Hải (Biển Đông); (2) lập đường dây điện thoại nóng giữa Bắc Kinh và Hà nội về hoạt động ngư nghiệp, mỗi bên có thể thông báo cho bên kia trong vòng 48 tiếng đồng hồ các vấn đề liên quan đến ngư dân và tàu cá; (3) Hai bên ký nhiều văn bản hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, kinh tế, chính sách ngoại giao.
Những thoả hiệp mà Tư Sang thò tay mặt đặt tay trái chấp bút là những văn kiện làm cho biển đảo của VN, thế đứng của VN từ chết tới bị thương, lom khom trước TC.
Giải quyết biển đảo song phương tay đôi với TC là thiệt hại và thiệt thòi vì lý kẻ mạnh của con sói bao giờ cũng thắng lý của con trừu con mà La Fontaine nhà thơ ngụ ngôn Pháp đã sáng tác mô tả thành bài thơ ngụ ngôn.
Giải quyết biển đảo song phương tay đôi với TC là bó tay VN, biến VN thành một nước tận cùng cô đơn trước làn sóng bành trướng của TC quậy đục nước trên biển Á châu Thái Bình Dương. Các nước khác Mỹ, Nhựt kề cả ASEAN có muốn giúp VN cũng không làm được vì VN phủ nhận sự can thiệp của các nước qua hiệp ước song phương giữa Hà nội và Bắc Kinh.
Giải quyết biển đảo song phương với TC là thừa nhận, hợp thức hoá hành động cướp cạn của TC đối với biển đảo của VN. Cũng như nhà bị cướp. chủ nhà đồng ý bàn bạc chia phần, sống chung với kẻ cướp. Đó rõ ràng là sang nhượng cho kẻ cướp mà không được tiền bạc gì, hoàn toàn mất trắng.
Tư Sang giải quyết song phương biển đảo của VN cho TC qua tay Tập cận Bình là tạo hố sâu chia rẽ nội bộ Đảng giữa phe thủ cựu thân Tàu thêm sâu sắc với phe Đổi Mới thiên theo Mỹ.
Và hố sâu ngăn cách chia rẽ thêm trầm trọng giữa đảng quyền do Trọng Sang cầm đầu và nhà nước do Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng nắm. Đó là mưu sâu kế độc, vòng vo tam quốc của Tập cận Bình của TC./.(Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh Người dân Việt trong nước nhứt là dân Miền Nam thường dùng thứ, tên và thói quen đặc biệt để gọi một người. Thí dụ như “Tám Đồng Thời” vì người tên Tám này có cái tật hay dùng chữ đồng thời khi nói chuyện là liên tục chêm chữ này vào. Blogger Người Xe Ôm gọi Chủ Tích Nước là Tư Sang Nham Hiểm. Nhưng nếu xét về lâu về dài người Miền Nam có lý khi gọi Tư Sang là Tư Sang Ngang, Sang Nhượng. Điều này có thể thấy khi Tư Sang sang ngang, bỏ con đường của Phe Đối Mới của cán bộ đảng viên gốc Miền Nam bắc tiến cứu nguy kinh tế VN, bước qua theo phe thủ cựu gốc CS Bắc Việt. Và sang ngang khi Tư Sang nói ngược lại những lời tuyên bố trước đây cứng rắn đối với TC để lấy lòng dân, khác với bây giờ đang có thái độ cúc cung tận tuỵ thần phục TC trong chuyến đi Bắc Kinh diện kiến Thiên Triều, do Chủ Tịch Nước và Đảng TC Tập cận Bình triệu hồi qua Tàu nhận lịnh. Và cũng có thể thấy Tư Sang sang nhượng biển đảo VN cho quân Tàu Cộng qua thái độ, hành động ký, tên đề dấu đóng trên cả chục hiệp ước do Tập cận Bình đưa ra như sắc lịnh của thiên tử. Sau dây là sự kiện.
Một là sang ngang, rẽ bước với phe Đổi Mới kinh tế xuất phát từ Miền Nam. Người Việt thường có câu, ăn quen mà nhịn không quen. Còn người Tàu có câu nhứt bất tín, vạn bất tín. Tư Sang là một trong vài người CS từng đứng đầu thành uỷ và uỷ ban của Saigon Gia Định, hậu thân của Nam kỳ Cộng sản Đảng thời Ông Hồ chưa gom bị 3 đảng CS của ba kỳ (Bắc kỳ Cộng sản Đảng, Trung kỳ Cộng sản Đảng và Nam kỳ CS Đảng) thành Đảng CSVN.
Tư Sang người ở Đức Hoà xứ khóm Bến Lức nổi tiếng, lên học Saigon, theo sinh viên đấu tranh bị bể trốn ra bưng biền, theo CS đến khi ra thành, Saigon Gia định đổi tên thành phố Hồ chí Minh.
Tư Sang được Ông Võ văn Kiệt từng là bí thư thành uỷ Saigon Gia Định cất nhắc và kéo theo ra Bắc, vào Hà nội nắm đảng quyền với chức vu 5 Trưởng Ban Kinh tế rồi Trưởng Ban Bí Thư Trung Ương Đảng, trước Ba Dũng rất lâu. Nhưng khi thấy Ba Dũng dân Cà mau lên làm thủ tướng rất ngon ăn, khoái làm thủ tưởng muốn chết nên bẻ chỉa sang ngang chạy theo CS Bắc Việt, ăn công ký kết bè với Nguyễn Phú Trọng để cưa cẳng ghế của Ba Dũng. Nhưng Trọng và Sang thua nặng. Gần đây Tư Sang được Quốc Hội đảng cử dân bầu cho điểm tín nhiệm cao hơn Ba Dũng thủ tướng, trước khi được Tập cận Bình triệu dụng sang Bắc Kinh.
Hai là sang ngang từ lập trường cứng rắn với TC sang thần phục TC trong chuyến triều kiến Thiên Triều. Trong vai trò chủ tịch nước để lấy lòng dân, Sang có những lời lẽ cứng rắn với TC trong vấn đề Biển Đông bị TC liếm mất 80% với đường lưỡi bò và hai đảo Hoàng sa và Trường sa của VN,.
Sau khi Thủ Tướng Dũng được đánh giá cao khi có lời lẽ cứng rắn đối với TC tại hội nghị quốc tế Sangri-la, và sau khi Chủ Tịch Tâp cận Bình có cuộc họp thượng đĩnh với TT Obama ở Sunnyland thuộc Nam California, nơi có cộng đồng người Việt tỵ nạn đông nhứt nước Mỹ, thì có lịnh của Thiên Triều triệu Sang sang gặp Tập cận Bình, Chủ Tich Đảng Nhà Nước của TC.
Ba là sang nhượng biển đảo của VN cho TC. Tin thông tấn Xã AFP của Pháp trích dẩn nguồn tin của thông tấn xã của TC là Tân Hoa Xã, cho biết ngày 19/06/2013, Chủ Tịch Nước VNCS là Trương tấn Sang đã thỏa thuận với Tập cận Bình (1) giải quyết mọi tranh chấp về lãnh thổ giữa hai nước phải được thông qua đàm phán song phương, không áp dụng bất cứ hành động nào có thể làm phức tạp hóa và mở rộng tranh chấp, đề phòng quốc tế hóa vấn đề Nam Hải (Biển Đông); (2) lập đường dây điện thoại nóng giữa Bắc Kinh và Hà nội về hoạt động ngư nghiệp, mỗi bên có thể thông báo cho bên kia trong vòng 48 tiếng đồng hồ các vấn đề liên quan đến ngư dân và tàu cá; (3) Hai bên ký nhiều văn bản hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, kinh tế, chính sách ngoại giao.
Những thoả hiệp mà Tư Sang thò tay mặt đặt tay trái chấp bút là những văn kiện làm cho biển đảo của VN, thế đứng của VN từ chết tới bị thương, lom khom trước TC.
Giải quyết biển đảo song phương tay đôi với TC là thiệt hại và thiệt thòi vì lý kẻ mạnh của con sói bao giờ cũng thắng lý của con trừu con mà La Fontaine nhà thơ ngụ ngôn Pháp đã sáng tác mô tả thành bài thơ ngụ ngôn.
Giải quyết biển đảo song phương tay đôi với TC là bó tay VN, biến VN thành một nước tận cùng cô đơn trước làn sóng bành trướng của TC quậy đục nước trên biển Á châu Thái Bình Dương. Các nước khác Mỹ, Nhựt kề cả ASEAN có muốn giúp VN cũng không làm được vì VN phủ nhận sự can thiệp của các nước qua hiệp ước song phương giữa Hà nội và Bắc Kinh.
Giải quyết biển đảo song phương với TC là thừa nhận, hợp thức hoá hành động cướp cạn của TC đối với biển đảo của VN. Cũng như nhà bị cướp. chủ nhà đồng ý bàn bạc chia phần, sống chung với kẻ cướp. Đó rõ ràng là sang nhượng cho kẻ cướp mà không được tiền bạc gì, hoàn toàn mất trắng.
Tư Sang giải quyết song phương biển đảo của VN cho TC qua tay Tập cận Bình là tạo hố sâu chia rẽ nội bộ Đảng giữa phe thủ cựu thân Tàu thêm sâu sắc với phe Đổi Mới thiên theo Mỹ.
Và hố sâu ngăn cách chia rẽ thêm trầm trọng giữa đảng quyền do Trọng Sang cầm đầu và nhà nước do Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng nắm. Đó là mưu sâu kế độc, vòng vo tam quốc của Tập cận Bình của TC./.(Vi Anh)

