Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image


TS Cù Huy Hà Vũ:
Nếu tôi chết, nhân dân Việt Nam sẽ trả thù cho tôi!


Danlambao -
Hôm 1/6/2013, LS Nguyễn Thị Dương Hà đã đến trại giam số 5 - Bộ CA (Yên Định, Thanh Hóa) để thăm nuôi chồng là tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, người hiện đang tuyệt thực đến ngày thứ 6 liên tục để phản đối hành vi ‘cố ý giết người’ của giám thị trại.

Bất chấp sự giám sát chặt chẽ của CA, TS Cù Huy Hà Vũ đã đọc lại toàn văn bức thư của ông cho vợ ghi chép lại, với lời xác quyết vẫn mạnh mẽ như ngày nào: “Tôi, Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ hi sinh tính mạng của mình để dân tộc Việt Nam hồi sinh. Tôi quyết tử để Tổ Quốc quyết sinh.”

Bức thư sau đó đã được người vợ tần tảo của ông là LS Nguyễn Thị Dương Hà ghi lại trọn vẹn. Nội dung thư là những lời chia sẻ của vị tiến sĩ luật danh tiếng trong hoàn cảnh tù đày, sức khỏe ngày một suy yếu do cuộc tuyệt thực phản kháng đã bước sang ngày thứ 6 liên tục.

Xin được nhắc lại, TS Luật Cù Huy Hà Vũ chính thức tuyệt thực từ hôm 27/5/2013. Đây là hành động nhằm phản kháng trước những hành vi trả thù đê tiện của cán bộ trại giam tên Lường Văn Tuyến, kẻ đã và đang liên tục thực hiện âm mưu hãm hại TS Vũ.

Được biết, TS Vũ có tiền sử bệnh tim, cao huyết áp, đau nửa đầu... Nhiều ý kiến lo ngại đây có thể sẽ là bức thư cuối cùng của TS Cù Huy Hà Vũ nếu bộ CA VN tiếp tục đẩy ông vào đường cùng.

Qua bức thư, chúng ta có thể thấy TS Cù Huy Hà Vũ dù trong cảnh tù đày vẫn rất tỉnh táo và mạnh mẽ, thể hiện qua những tuyên bố rực lửa như ngày nào.

Dưới đây là toàn văn bức thư của TS Cù Huy Hà Vũ do LS Dương Hà ghi lại và phổ biến:

*

Ngày 1 tháng 6 năm 2013

Gửi từ Trại tù số 5 – Bộ Công an tại Yên Định, Thanh Hóa

Tôi, TS Luật Cù Huy Hà Vũ, bị Tòa án nước CHXHCN Việt Nam kết án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” mà tôi luôn khẳng định là tôi hoàn toàn vô tội. Hôm nay, ngày 1/6/2013, tôi gặp vợ tôi là Nguyễn Thị Dương Hà và con trai tôi là Cù Huy Xuân Đức lên thăm tôi do việc tôi tuyệt thực để phản đối hành vi phạm pháp của Giám thị Lường Văn Tuyến.

Tôi có ý kiến như sau:

Ngày 11/11/2012, tôi đã gửi Giám thị Trại giam số 5 – Bộ Công an Lường Văn Tuyến một đơn tố cáo Lê Văn Chiến, cán bộ Trại giam số 5 Bộ Công an tố cáo “cố ý giết công dân Cù Huy Hà Vũ”.

Tôi đã gửi đơn trên cơ sở điểm a, khoản 1 Điều 168 và khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 169 Bộ luật Thi hành án Hình sự, thế nhưng đến ngày 12/5/2013, tức sau 180 ngày mà Giám thị Lường Văn Tuyến đã không giải quyết Tố cáo này của tôi mà còn tiếp tục cho cán bộ Lê Văn Chiến vào trực phòng tôi. Do đó ngày 12/5/2013, tôi tiếp tục gửi yêu cầu giải quyết đơn tố cáo ngày 11/11/2012 và ghi rõ trong trường hợp không giải quyết đơn tố cáo của tôi thì sau hai tuần tôi sẽ tuyệt thực phản đối!

Đến ngày 27/7/2013, tôi đã tuyệt thực, cho đến hôm nay 1/6/2013 là 6 ngày tôi vẫn tiếp tục tuyệt thực để phản đối việc Giám thị Lường Văn Tuyến xâm phạm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của tôi như không trả lời Đơn tố cáo, không cho gặp vợ không quá 24 giờ ở phòng riêng, không cho gửi thư cho gia đình, không cho nhận một số đồ vật thiết yếu không thuộc danh mục cấm, 10 đầu tài liệu mà Tòa án đã dùng làm chứng cứ kết tội tôi để tôi kháng cáo.

Tôi tiếp tục tuyệt thực cho đến khi nào giám thị Tuyến giải quyết đơn và các quyền lợi hợp pháp khác của tôi.

Nếu tôi chết thì nhân dân Việt Nam sẽ trả thù cho tôi bằng cách đưa ra vành móng ngựa tất cả những kẻ nào đã chỉ đạo bắt, truy tố, kết án, bỏ tù tôi trái pháp luật cũng như xử tù giám thị trại giam số 5 Lường Văn Tuyến và những kẻ có liên quan đã đẩy tôi đến chỗ tuyệt thực dẫn đến cái chết của tôi tại trại giam số 5 Bộ Công an.

Tôi, Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ luôn đấu tranh vì công lý, dân chủ, nhân quyền, vì phẩm giá của con người ở Việt Nam, luôn chống chế độ độc đảng độc tài, đàn áp con người ở Việt Nam. Tôi cũng luôn chiến đấu để bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Do đó, Tôi, Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, luôn sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình để nhân dân Việt Nam sống trong tự do và dân chủ và được tôn trọng các quyền con người của mình, để Tổ Quốc Việt Nam luôn độc lập và toàn vẹn về chủ quyền và lãnh thổ.

Tôi, Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ hi sinh tính mạng của mình để dân tộc Việt Nam hồi sinh. Tôi quyết tử để Tổ Quốc quyết sinh.

Tôi xin gửi lời chào kính trọng và chân thành tới toàn thể nhân dân Việt Nam, tới toàn thể nhân dân các nước, các chính phủ: chính phủ Hoa Kỳ, chính phủ 27 nước liên minh Châu Âu, chính phủ Australia, Canada … và các tổ chức trên thế giới đã ủng hộ tôi mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh của tôi vì công lý, dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam vì phẩm giá và quyền làm người của nhân dân Việt Nam. Tôi tin tưởng rằng trong tương lai không xa nước Việt Nam sẽ trở thành một nước dân chủ thực sự, có chế độ chính trị đa đảng và có Nhà nước hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phân lập. Tôi tin tưởng rằng nhân dân Việt Nam sẽ là chủ nhân thật sự của đất nước mà trước mắt là thực hiện quyền phúc quyết đó với dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 cũng như đối với mọi dự thảo Hiến pháp khác.

Tôi luôn yêu thương vợ tôi là Nguyễn Thị Dương Hà, con trai trưởng là Cù Huy Xuân Đức, con trai út là Cù Huy Xuân Hiếu, cháu đích tôn Cù Huy Xuân Hoàng, con dâu Hoàng Kim Thanh và các thành viên khác của đại gia đình tôi của tộc Cù Huy – tộc Ngô Xuân và quê hương Hà Tĩnh cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời tôi.

Tôi xin nói lại tại sao tôi quyết lấy tính mạng của mình để đấu tranh vì công lý, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, vì độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam nói chung, đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm nhân quyền của giám thị Lường Văn Tuyến nói riêng có 3 lý do cơ bản sau:

1. Truyền thống gia đình tôi là gia đình yêu nước nồng nàn từ đời cụ Vương “Cù Ngọc Xán” đã là chỉ huy căn cứ địa của Lê Lợi tại Hương Sơn Hà Tĩnh cho đến các cụ, ông tôi, bố tôi Nhà thơ - Bộ trưởng Cù Huy Cận, Nhà thơ Xuân Diệu luôn đấu tranh vì quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam và của từng người Việt Nam.

2. Tôi là Tiến sĩ luật, do đó tôi biết rõ là phải đấu tranh trên cơ sở pháp luật và bằng đấu tranh của tôi, tôi tin tưởng đã và đang đóng góp quyết liệt vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

3. Tôi năm nay đã 56 tuổi tây, 57 tuổi ta, nên đã có đủ kinh nghiệm và hiểu biết về những hành vi phản dân chủ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về sự đàn áp của chính quyền cộng sản Việt Nam đối với nhân dân Việt Nam, do đó tôi phải đấu tranh để chấm dứt những hành vi phạm pháp đó.

Tôi luôn luôn biết ơn các bậc đã sinh thành ra tôi là nhà thơ - Bộ trưởng khai quốc Cù Huy Cận; mẹ tôi bác sĩ Ngô Thị Xuân Như; bác ruột và cha nuôi tôi là nhà thơ Ngô Xuân Diệu đã có công sinh và dạy dỗ tôi nên người.

Nếu tôi có chết trong cuộc tuyệt thực này thì tôi đã luôn xứng đáng với các bậc sinh thành ra tôi. Tôi cũng luôn nhớ bố vợ tôi là ông Nguyễn Bá Phụng và mẹ vợ tôi là bà Dương Thị Kính, đó là những con người đã yêu thương tôi như con ruột.

Toàn thể gia đình tôi, vợ Tôi, các con trai tôi và cháu nội tôi sẽ tiếp tục con đường đấu tranh vì công lý, nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tôi, vì dân vì nước như đã nói ở trên.

(Sau khi đọc xong thư cho vợ là Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, TS Cù Huy Hà Vũ nói thêm)

Tôi hoàn toàn không ăn là để đấu tranh, tôi tuyệt thực không phải là vì muốn tự tử, tự sát, mà là để phản đối các hành vi xâm phạm quyền lợi hợp pháp của tôi, của giám thị Lường Văn Tuyến nói riêng và của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nói chung.

Danlambao

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Biểu tình chống xâm lược là yêu nước

Hiền Sỹ
(Danlambao) - Trong thời gian gần đây, Trung cộng đang gia tăng cường độ ở Biển Đông nhằm thể hiện sức mạnh bành trướng của mình trong cuộc họp Shangri-La, Singapore. Lẽ ra phải phản đối quyết liệt và đưa sự việc tòa án quốc tế thì chính quyền cộng sản Việt Nam tiếp tục chọn giải pháp yên lặng. Ngoài ra họ tiếp tục cho bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh lặp đi lặp lại những lời mà nhân dân Việt Nam đã nghe đến nhàm tai “Chúng ta phải giữ vững lập trường ngoại giao vì hòa bình, ổn định”.

Đứng trước tình trạng nhu nhược của chính quyền cộng sản, nhân dân Việt Nam không thể nào chấp nhận nước Việt Nam dần dần rơi vào tay kẻ thù ngàn đời của dân tộc. Và lần này cũng thế, nhân dân Việt Nam một lần nữa quyết tâm đứng lên bằng lời kêu gọi của các công dân trên khắp lãnh thổ Việt Nam tiến hành “biểu tình Phản đối Trung Quốc gây hấn và xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên biển Đông” vào 08h30 ngày Chủ Nhật 02.06.2013, tại Hà Nội: Khu vực Hồ Gươm, tại Sài Gòn: Công viên 30/4.

Nhà nước cộng sản thường lập luận về những cuộc biểu tình chống giặc Trung Quốc xâm lăng như sau: biểu tình gây bất ổn an ninh trật tự, Trung cộng đâu có sợ Việt Nam biểu tình, tại sao yêu nước đi biểu tình thì không hăng hái xin ra Hoàng Sa - Trường Sa giữ đảo, biểu tình là tập dượt chống lại chính quyền. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ muốn nói với đảng cộng sản, những điều mà đảng cộng sản biện minh cho hành động đàn áp lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam là hoàn toàn vô lý. Vì sao lại nói như vậy?

Thứ nhất, biểu tình có gây bất ổn an ninh trật tự hay không? Thực ra là không. Vì trên thực tế chưa có bất cứ một cuộc biểu tình của nhân dân Việt Nam chống Trung cộng gây nên cảnh bất ổn, phá phách hay mất an ninh. Tất cả các cuộc tuần hành xuống đường phản đối giặc Tầu đều diễn ra trong trật tự và thậm chí không ảnh hưởng gì đến giao thông. Hơn thế nữa, biểu tình thể hiện chính kiến, lòng yêu nước của nhân dân chính là quyền của con người đã được nhà nước Việt Nam công nhận khi ký công ước Nhân quyền. Vậy tại sao nhân dân biểu tình chống xâm lược một cách ôn hòa lại bị vu cáo cho tội “gây rối trật tự an ninh “. Đây thực chất chỉ là một cái cớ để ngăn không cho biểu tình chống Tầu mà thôi.

Thứ hai, đảng cộng sản nói Trung cộng không sợ nhân dân Việt Nam biểu tình cũng là sai. Vì trên thực tế trong lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, chúng ta chưa bao giờ cam tâm làm nô lệ cho giặc Tầu. Biểu tình phản đối những hành động ngang ngược của Trung cộng chính là thể hiện ý chí của dân tộc mà những Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo đã làm. Giặc Tầu trong lịch sử đã thua chúng ta rất nhiều lần không phải bởi chúng ta có quân đội đông đảo, vũ khí vượt trội mà giặc Tầu thua chúng ta vì chúng ta có tinh thần đoàn kết và tự hào dân tộc. Xuống đường biểu tình phản đối những hành động ngang ngược của Trung cộng chính là thể hiện tinh thần đoàn kết và tự hào dân tộc tốt hơn bất cứ hình thức nào. Như vậy, đảng cộng sản ngăn cấm biểu tình chính là ngăn cấm sự đoàn kết của dân tộc trước quân xâm lược. Đây chính là hành động thể hiện mưu toan bán nước mà đảng cộng sản đang tiến hành.

Thứ ba, đảng cộng sản cho rằng nếu đã yêu nước, dám xuống đường biểu tình tại sao không đi ra Hoàng Sa - Trường Sa giữ đảo. Đây là một luận điệu bỏ bóng đá người quen thuộc của đảng cộng sản Việt Nam. Tại sao lại nói như vậy? vì trên thực tế, yêu nước thể hiện trong trái tim và khối óc của mỗi cá nhân. Tuy nhiên không phải cá nhân nào cũng có khả năng ra biển đảo trực tiếp đương đầu với quân thù. Mỗi người yêu nước bằng cách thể hiện và việc làm cụ thể khác nhau nhưng cốt yếu đó là trong tim có lòng yêu nước thì đó chính là chính nghĩa. Đảng cộng sản không thể bắt một cụ già, một em nhỏ thể hiện lòng yêu nước giống một anh thanh niên. Nói như vậy để thấy, mỗi người có quyền thể hiện lòng yêu nước bằng một việc làm cụ thể khác nhau, tùy thuộc khả năng và hoàn cảnh của bản thân. Đi biểu tình chống quân xâm lược chính là việc khẳng định tinh thần yêu nước và thể hiện sức mạnh đoàn kết dân tộc.

Thứ tư, đảng cộng sản cho rằng biểu tình chống Trung cộng chỉ là cái cớ để biểu tình chống chính quyền. Trên thực tế, chưa có bất cứ một cuộc biểu tình nào có khẩu hiệu của người dân kêu gọi lật đổ chính quyền mặc dù với những tội ác, việc làm của đảng thì ở những nước dân chủ tự do, nhân dân có xuống đường đòi lật đổ chính quyền cũng là điều đương nhiên. Như vậy đảng cộng sản đã vu cáo cho hành động yêu nước của nhân dân một cách trắng trợn. Và suy cho cùng thì nếu đảng yêu dân tộc, biết lo cho dân thì “Cây ngay không sợ chết đứng”, cớ sao lại “Có tật giật mình” trước nhân dân như vậy?. Điều này có lẽ đảng tự rõ hơn ai hết.

Nhân dân Việt Nam trong lịch sử chưa bao giờ sợ hãi bọn cướp nước đến từ Phương Bắc. Chúng tôi đang thể hiện tình yêu nước đó bằng việc biểu dương sức mạnh đoàn kết và lòng tự hào dân tộc thông qua các cuộc biểu tình ôn hòa. Đảng cộng sản thậm chí không cho chúng tôi thể hiện sự đoàn kết, thể hiện sự tự hào dân tộc và thể hiện quyền cơ bản của con người thì tại sao đảng lại bắt chúng tôi phải yêu nước theo kiểu nhu nhược mà đảng đang áp đặt. Người dân Việt Nam hoàn toàn có quyền thể hiện lòng yêu nước của mình mà không cần ai cho phép, không cần ai định hướng cả. Lòng yêu nước, căm thù giặc xuất phát từ chính trái tim của chúng tôi sẽ cuốn phăng những kẻ cướp nước và bán nước Việt Nam.

Hiền Sỹ

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nhớ lại chuyện Thiên An Môn

Ngô Nhân Dụng

Tháng Năm năm 1989, một người bạn Trung Hoa chia sẻ với tôi những giờ phút hồi hộp cùng theo dõi tin tức về cuộc biểu tình của giới sinh viên, trí thức, và các công nhân tại Bắc Kinh, đã kéo dài suốt mấy tuần lễ. Lúc đó, các báo, các đài, cả thế giới cũng loan báo các hình ảnh và tin tức mỗi ngày, mỗi giờ.

Anh bạn họ Hà, tên Khoa quê ở Bắc Kinh, là một sinh viên được chính phủ Canada cấp học bổng sang học Ph.D.. Hơn một chục sinh viên Trung Quốc cùng sang một đợt; anh chọn học về ngành quản trị (management) ở ngay trường tôi, cho nên quen nhau. Tôi chú ý đến anh khi biết gia đình anh là nạn nhân của cuộc Cách mạng Văn hóa do Mao Trạch Đông phát động; rồi trở thành bạn vì tính tình anh thành thật, cởi mở. Cha anh Khoa là một giáo sư, mẹ là một bác sĩ, cả hai anh đều bị đày từ Bắc Kinh về miền núi xa xôi trong thời gian Mao Trạch Đông huy động Vệ Binh Đỏ đi tiêu diệt các đối thủ trong Đảng Cộng sản như Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ. Anh không được đi học trong nhiều năm, cho tới khi gia đình được trở lại Bắc Kinh năm 1980. Anh tự học tiếng Anh bằng cách nghe các đài BBC và VOA, và sau khi tốt nghiệp cao học về kinh tế, anh xin được học bổng. Khoa hay thắc mắc, tìm hiểu về xã hội Canada, tiếp xúc với người Canada, khác với đa số sinh viên Trung Quốc khác, họ thường chỉ tụ tập với nhau, rất dè dặt khi phải gặp người địa phương. Tuy nhiên, trong thời gian các cuộc biểu tình diễn ra tại Thiên An Môn thì các sinh viên Trung Quốc còn đối xử dè dặt giữa họ với nhau nữa.



Đó là lý do Khoa thường trò chuyện với tôi trong thời gian đó, vì anh có thể giãi bày tâm sự tự do hơn. Khoa rất hào hứng theo dõi các hình ảnh trên ti vi, anh còn điện thoại về Bắc Kinh hỏi thêm tin tức với mẹ, bà đã được hành nghề bác sĩ trở lại. Vào cuối tháng Năm, năm 1989 đó, Khoa rất lạc quan. Anh tin rằng nước Trung Hoa đang thay đổi lớn. Cũng như nhiều thanh niên, trí thức Trung Hoa khác, anh nhớ lại biến cố ngày 4 tháng 5 năm 1919, một khúc quanh trong lịch sử Trung Hoa vào thế kỷ trước. Khoa tin rằng giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Hoa sẽ đáp ứng các đòi hỏi của dân. Bởi vì họ đều thành tâm muốn đất nước họ thay đổi; nhất là họ không phải là những người tự coi mình là lãnh tụ siêu việt, quen khinh thường đám dân đen như bọn Mao Trạch Đông. Khi ông Triệu Tử Dương ra Quảng trường Thiên An Môn nói chuyện với các sinh viên, Khoa hết sức hào hứng. Anh càng lạc quan hơn.

Niềm vui lớn của Khoa là thấy dư luận cả thế giới chú ý đến cuộc biểu tình kéo dài nhiều ngày này. Anh lớn lên trong một xã hội mỗi ngày được nghe loa hô hào toàn thế giới đoàn kết, vì một lý tưởng rất xa xôi. Trong những ngày Thiên An Môn, Khoa được chứng kiến cả thế giới đoàn kết thật. Ai cũng chú ý đến câu chuyện xẩy ra ở bên Tàu, ai cũng mong các lý tưởng tự do dân chủ được thể hiện, thành đời sống thật, ở một nước mà suốt năm ngàn trước không hề có lúc nào áp dụng chế độ dân chủ. Một người Trung Quốc như Khoa cảm thấy hãnh diện khi trái tim nhân loại chung quanh đang đập cùng một nhịp với đồng bào anh ở Trung Quốc. Anh lại là một cựu sinh viên Bắc Đại, anh hãnh diện về các giáo sư và bạn học cùng trường Đại học Bắc Kinh với anh.

Tháng Năm năm 1989 không phải là lần đầu tiên loài người khắp nơi cùng hướng về một dân tộc, một quốc gia đang nổi lên đòi tự do dân chủ. Năm 1956 dân Hungary đã đốt ngọn đuốc tự do lên khắp đường phố Budapest; rồi bị xe tăng Nga dập tắt. Nhờ mấy phóng viên ngoại quốc có mặt tại chỗ, những hình ảnh của nổi dậy đòi tự do của dân Hungary được phổ biến khắp nơi.Cả loài người kính phục, ngưỡng mộ những anh hùng vô danh người Hungary. Cả loài người khóc khi chứng kiến đoạn kết tấn bi kịch. Năm 1968, cả thế giới lại chia sẽ nỗi hào hứng của thanh niên, sinh viên Paris đi biểu tình. Họ nạy cả những tảng đá lót đường để đánh nhau với cảnh sát. Cũng năm đó, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc cũng mở cửa cho dân được tự do hơn, dân Tiệp được hưởng một một Mùa Xuân Praha, cho tới khi xe tăng của Nga tới đè bẹp.

Những người đã sống qua kinh nghiệm các năm 1956, 1968 đều giữ trong đầu các hình ảnh hào hứng đó. Bởi vì trong một đời người không phải lúc nào chúng ta cũng được chứng kiến cảnh nhân loại cùng hướng về một phía, cùng nuôi hy vọng vào một mục tiêu như vậy. Chứng kiến cảnh đó, chúng ta cảm thấy tin tưởng hơn vào những lý tưởng của nhân loại. Những chữ “Tự Do, Công Bằng, Dân Chủ, Tình Huynh Đệ,” vân vân, vốn diễn tả những lý tưởng có thật, chứ không phải chỉ là những khẩu hiệu trống rỗng sau khi bị lạm dụng.

Tôi được chia sẻ với người bạn sinh viên Trung Quốc những tình tự đó, cùng nuôi niềm hy vọng cho dân tộc anh. Mà tôi cũng biết, nếu Trung Quốc thay đổi thì nước mình cũng sẽ thay đổi. Tuy nhiên, vào lúc đó, tôi không cảm thấy lạc quan như Khoa. Có lẽ vì tôi già hơn anh hàng chục tuổi. Có lẽ cũng vì hồi thơ ấu tôi hay đọc truyện Tàu. Những thanh niên Trung Hoa cùng tuổi với Khoa không có cơ hội đọc truyện Tàu, vì chính sách xóa bỏ quá khứ của Đảng Cộng sản. Tôi nói với Khoa: Nếu cuộc biểu tình này kéo dài, Đảng Cộng sản họ sẽ đem lính tới dẹp. Bởi vì từ bao lâu nay Đảng Cộng sản vẫn đóng vai vua. Mấy tuần nay, tôi thấy hình như ở Bắc Kinh không có ông vua nào cả. Hầu như cả triều đình Trung Nam Hải tê liệt; không ai quyết định điều gì cả. Sẽ tới lúc những người lãnh đạo đảng họ sẽ nói, như trong truyện cổ họ vẫn nói: Một nước không thể không có vua trong một ngày được. Hoặc là Đảng Cộng sản phải tuyên bố thoái vị, truyền ngôi cho người khác, mà phải làm lễ đăng quang ngay. Nếu không thì phải tiêu diệt những người chống đối. Truyện Tàu xưa nay vẫn như thế.

Cho tới ngày 4 tháng 6 năm 1989, Đặng Tiểu Bình đã ra tay. Ông ta chứng tỏ nước Tàu vẫn có vua quan, triều đình, trên bảo dưới phải nghe. Cho tới nay, năm 2013, triều đại cộng sản đó vẫn ngự trị. Gần đây khi đọc các tài liệu mới về cuộc đời Mao Trạch Đông, người ta mới thấy ông đúng là một vị vua khai sáng triều đại, giống như Lưu Bang, Triệu Khuông Dẫn hay Chu Nguyên Chương. Họ đủ tham vọng để quyết tâm cướp lấy vai trò lãnh đạo trong lúc xã hội nhiễu nhương; anh hùng hào kiệt khắp chốn cùng nổi lên. Họ cũng phải có máu tàn ác đủ để tiêu diệt hết những kẻ cạnh tranh với mình. Khi lên ngôi, họ vẫn giữ được thói quen tàn bạo thời nội chiến để tiêu diệt đến các đồng chí của mình.

Nhưng trên hết, họ phải là những người coi đám dân đen như cỏ rác. Như trâu, chó. Để sai khiến thì được. Để cùng chia quyền quyết định thì không. Khi các nhà viết truyện Tàu kể lại các nhân vật nói rằng; “Nước không thể một ngày không có vua” thì họ vẫn giữ trong đầu hình ảnh một ông vua nắm quyền tuyệt đối. Ông vua đó nhân danh “Thiên mệnh” (Ông Trời) ngồi trên đầu đám dân đen. Khi nào loài người còn tin tưởng đó là cách sống tự nhiên và duy nhất trong xã hội, thì câu trên vẫn là một chân lý, không ai dám bàn cãi cả. Nếu người dân một nước tin tưởng, chấp nhận, hay cam chịu sống theo lối đó, thì họ cứ thế tiếp tục sống như các người dân Trung Hoa đời Đường, đời Minh, đời Thanh và đời Mao.

Vậy ở các nước sống trong thể chế tự do dân chủ thì sao? Có thể sống “một ngày không có vua” được không?

Trong mấy năm qua, có những nước ở Châu Âu không thành lập được chính phủ trong thời gian rất lâu, có khi cả năm trời nước không có chính phủ; Hà Lan là một trường hợp điển hình nhất. Trong khoảng thời gian đó, guồng máy nhà nước chạy ra sao? Người dân sống ra sao? Một điều hiển nhiên là tại nước đó, các công chức vẫn tới sở làm việc, làm đúng các công việc mà họ vẫn phải làm. Cảnh sát vẫn điều khiển lưu thông và đi bắt kẻ gian. Những người thợ vẫn đến xưởng, các tài xế vẫn lái xe, các bà nội trợ vẫn đi ra chợ, chợ vẫn mở cửa. Thầy cô giáo, học sinh vẫn đến trường. Nghĩa là đời sống cả xã hội, trong toàn thể quốc gia vẫn chạy đều, dù các ông, bà thủ tướng hay bộ trưởng đều đã từ chức, chỉ được lưu nhiệm tạm thời xử lý thường vụ.

Ngay tại nước Mỹ cũng vậy. Trong mấy năm qua, trước và sau khi ông Obama tái đắc cử, người Mỹ cũng than phiền là chính quyền tê liệt, vì ông Tổng thống và Quốc hội không thể thỏa hiệp với nhau về ngân sách. Lúc bí quá, thì họ thỏa hiệp tạm trong một thời gian ngắn, chờ “hiệp sau” đấu lại. Tờ tuần báo Economist nhận xét: Mỹ đang đi theo đường Châu Âu!

Tất nhiên, không có dân nước nào lại muốn bộ máy chính quyền bế tắc cả. Nhưng ở các nước tự do dân chủ thì dù “không có vua” kinh tế vẫn chạy, xã hội, văn hóa, giáo dục vẫn chạy. Vì người ta thu xếp đời sống dựa trên luật lệ; những điều luật công khai, khách quan, được mọi người thỏa thuận cùng theo. Đó là một thứ “hợp đồng xã hội.”

Ở các nước độc tài thì ngược lại, người ta tổ chức cuộc sống theo quyền hành của người trên. Ý kiến, mệnh lệnh của người trên cao hơn luật lệ. Khi không có “chỉ thị” thì họ lúng túng không biết làm gì. Vì họ chỉ sợ làm sai ý bề trên!

Trong thời gian nghe tin tức hàng ngày ở Thiên An Môn, năm 1989, tôi cứ bị ám ảnh với mấy chữ “Nước không thể một ngày không có vua.” Tôi đã dùng câu nói cổ xưa trong truyện Tàu đó để đoán với chú bạn trẻ người Trung Quốc là thế nào Đảng Cộng sản Trung Hoa cũng sẽ đàn áp các sinh viên và công nhân. Bởi vì họ quen làm vua; quen suy nghĩ như vua. Khi nào một tỷ người dân Trung Hoa vẫn còn cam chịu có ông vua trên đầu mình, thì thế nào Đảng Cộng sản cũng đàn áp. Họ đàn áp vì lý luận: “Nước không thể một ngày không có vua được.”

Sau biến cố ngày 4 tháng 6 năm 1989, anh bạn Khoa của tôi đã xin tị nạn chính trị. Anh học tiếp chương trình Ph.D. ở một đại học khác, về kinh tế học. Bây giờ anh là một giáo sư đại học tại Canada. Anh mới gặp tôi tháng trước. Mỗi năm anh vẫn về nước Tàu làm công việc tuyển sinh, do nhà trường giao phó. Tôi hỏi: Cậu có về Trung Quốc dạy học một vài năm hay không? Khoa nói: Không thể về đấy sống được. Ô nhiễm quá. Không khí ô nhiễm, dễ nhìn thấy nhất, ai cũng biết. Nhưng nước ô nhiễm mới ghê, mà ít người để ý. Khoa kể, hồi nhỏ anh sống một thời gian ở Vân Nam. Mấy năm rồi anh trở về thành phố cũ. Cái hồ nước mà thời xưa anh thường nhảy xuống bơi lội, nước trong veo; bây giờ cũng cái hồ đó nước đóng váng và đen ngầu, không loài tôm cá nào sống được. Khoa công nhận: Nếu cái chế độ độc tài, tham nhũng này còn kéo dài thì môi trường sống sẽ bị hủy hoại, thế hệ các trẻ em Trung Hoa bây giờ mới sinh ra sẽ gánh chịu hậu quả!

N.N.D.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nguyễn Tấn Dũng né Trung Cộng
Ngô Nhân Dụng


Cả bài diễn văn của ông Nguyễn Tấn Dũng đọc tại Hội nghị Shangri-La, Singapore, chỉ hô khẩu hiệu, rất nhiều khẩu hiệu,
chỉ nói những quy tắc chung chung, nhưng không dám đả động tới một điều gì cụ thể.
Đặc biệt, Nguyễn Tấn Dũng né tránh không dám đụng tới Trung Cộng, ngay cả khi bị một nữ ký giả của Bắc Kinh thách thức.

Image
Nguyễn Tấn Dũng

Nói những chuyện chung chung thì cũng giống như hô khẩu hiệu, một tập quán của các cán bộ cộng sản. Những ý kiến được Nguyễn Tấn Dũng nêu lên, nếu ai nói thì cũng nói giống như vậy. Và nói ở đâu, nói lúc nào cũng thích hợp cả! Thí dụ, Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi các nước “cần tuân thủ luật pháp quốc tế, đề cao trách nhiệm của các quốc gia – nhất là các nước lớn …” Nói như vậy thì ai chẳng nói được? Hoặc một câu được coi là ý kiến mới mẻ đối với Cộng sản Việt Nam: “Chúng ta có thể kỳ vọng nhiều hơn vào vai trò của các nước lớn, nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc, hai cường quốc có vai trò và trách nhiệm lớn nhất (tôi xin nhấn mạnh là lớn nhất)” (nhấn mạnh trong nguyên văn). Nhưng câu nói này, về vai trò của Trung Quốc và Mỹ, nếu đặt vào miệng bất cứ một người nào, dù đó là tổng thống Phi Luật Tân, thủ tướng Campuchia, cũng đều nói như vậy cả. Điều mà người dân Việt Nam muốn một ông thủ tướng phải nói lên, là những gì gay go nhất trong mối quan hệ riêng giữa Việt Nam và Trung Quốc; nhưng không được ông ta nêu lên, dù chỉ nói bóng bẩy.

Bài diễn văn hô toàn khẩu hiệu, giống như các tay quản giáo thường lên lớp, sau khi học thuộc lòng. Nguyễn Tấn Dũng nêu ra các quy tắc ứng sử, các nhu cầu an ninh trong vùng Biển Đông; những điều ai cũng biết cả rồi. Nhưng Dũng lại không dám nêu tên một nước nào cụ thể đã vi phạm các quy tắc hay thỏa hiệp đó. Trong lúc Nguyễn Tấn Dũng nói ở Singapore thì ở trong nước Việt Nam lòng người đang sôi sục. Giới trí thức, thanh niên Việt Nam đang hô hào biểu tình chống Cộng sản Trung Hoa lấn cướp. Vì các tàu hải giảm, chiến hạm Trung Cộng vẫn tiến vào những vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam; lính Trung Quốc tiếp tục bắt người Việt, đâm cho vỡ tàu, bắn súng vào tàu đánh cả của người Việt Nam. Nguyễn Tấn Dũng hoàn toàn không dám nhắc đến tên chính quyền Trung Quốc, thủ phạm của các hành động xâm lược trắng trợn đó, mặc dù đã nhắc tới các xung đột đang gây căng thẳng trong vùng. Tóm lại, cả bài diễn văn là một màn múa võ tránh né, không dám nói gì tới những mối lo cụ thể của nước Việt Nam, không dám nói tới mối đe dọa của Trung Cộng trên vùng biển nước ta ngay trong lúc này.

Một ý kiến được coi là “mới nhất” do Nguyễn Tấn Dũng nói lên ở hội nghị, là nhắc tới vai trò của Mỹ ở trong vùng Đông Nam Á. Nhưng ngay khi phát biểu ý kiến này, Nguyễn Tấn Dũng cũng không dám nêu ra như một điều mình suy nghĩ, mà chỉ nhắc lại lời người khác, đã nói từ năm ngoái! Dũng nói: “Tôi cũng đồng tình với ý kiến của Ngài Thủ tướng Sinh-ga-po Lý Hiển Long trong bài phát biểu tại Bắc Kinh tháng 9 năm 2012, cho rằng sự hợp tác tin cậy và trách nhiệm giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ đóng góp tích cực cho lợi ích chung của khu vực.” Nói như vậy để chứng tỏ với Bắc Kinh rằng việc đặt Mỹ lên ngang hàng với Trung Quốc trong vùng biển Đông Nam Á “không phải ý kiến tôi!” Lý Hiển Long đã nói từ năm ngoái rồi, tôi chỉ nhắc lại sau khi không thấy các đồng chí phản đối Lý Hiển Long thôi!

Đến lúc họp báo, trả lời câu hỏi của các ký giả, Nguyễn Tấn Dũng vẫn tiếp tục “không dám nói cụ thể,” “không dám gọi thẳng tên.” Chắc trước khi đi Singapore Nguyễn Tấn Dũng đã hứa sẽ kiên trì tuân thủ đường lối nói “vô tội vạ” này, không dám “đi chệch hướng.” Bài diễn văn rõ ràng chỉ nói những điều “vô thưởng vô phạt,” “không làm ai mất lòng.” Dùng ngôn ngữ quen thuộc của đồng bào ta bây giờ, đó là một thái độ “vô cảm.”

Thái độ vô cảm này chỉ có một lý do: Sợ phản ứng của Bắc Kinh. Nếu trước khi đi phó hội, Nguyễn Tấn Dũng chưa cam kết với sứ quán Trung Cộng ở Hà Nội sẽ theo lối nói vô cảm, thì chắc cả Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định quy tắc sống đó rồi. Nguyễn Tấn Dũng kiên quyết không chỉ đích danh Trung Quốc! Không được nhắc đến các tội ác cụ thể của Bắc Kinh! Kể từ khi Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng kéo nhau sang Thành Đô xin quy thuận năm 1992, các lãnh tụ cộng sản Việt Nam không có lựa chọn nào khác. Những người cầm đầu đảng hay chính phủ ở Việt Nam không ai dám nói thẳng những nỗi bất bình của dân Việt đối với Trung Cộng nữa.

Cho nên, khi trả lời các câu hỏi trong lúc họp báo, Nguyễn Tấn Dũng đã giữ một thái độ tránh né, đến mức độ phải coi là hèn nhát. Như khi một ký giả ngoại quốc nhắc lại rằng trong bài phát biểu Nguyễn Tấn Dũng đã nói việc phải dùng luật pháp quốc tế giải quyết các tranh chấp trong vùng biển. Vin vào câu đó, ký giả này hỏi rằng Nguyễn Tấn Dũng có ủng hộ việc Phi Luật Tân đang nộp đơn thưa kiện Trung Quốc trước tòa án quốc tế hay không?

Ai cũng phải công nhận Tổng thống Aquino đang sử dụng luật pháp quốc tế khi cần giải quyết các xung đột quyền lợi với Trung Quốc! Trước câu hỏi này, câu trả lời hiển nhiên là ông Aquino làm đúng! Nhưng Nguyễn Tấn Dũng không dám trả lời rằng mình ủng hộ hành động của Phi Luật Tân. Cũng không dám trả lời một cách chung chung, thí dụ, có thể nói rằng “Việc thưa kiện nhau ra tòa án chắc phải tốt hơn là để các tầu chiến bắn vào nhau!”

Trái lại, Nguyễn Tấn Dũng, sau khi ngồi im nghe lời thông dịch để suy nghĩ, đến lúc bắt đầu nói thì cũng chỉ nhắc lại, một lần nữa, các ý kiến chung chung như “hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển,” vân vân, để chứng tỏ mình vẫn thuộc bài. Sau cùng, câu nói mà mọi người chờ đợi để trả lời người hỏi thì lai nghe rất nhạt nhẽo. Dũng bảo: Về vấn đề này chúng tôi đã có thông cáo từ trước rồi! Xin phép không nhắc lại, sợ mất thời giờ!

Ngay cả việc mở miệng nhắc lại nội dung nói rất đại cương của bản thông cáo đó, Dũng cũng không dám nhắc tới. Người ta đến đây đặt câu hỏi cốt để biết ý kiến và thái độ của chính quyền nước Việt Nam, chứ đâu phải đến để nghe chỉ dẫn đi tìm đọc cái gì? Có ai biết bản thông cáo cũ đó có thật không? Nó nói những gì? Nhưng Dũng vẫn giữ vững đường lối: Không nói một lời nào ủng hộ việc chính phủ Phi Luật Tân thưa kiện Trung Cộng! Tức là không nói một lời nào có thể khiến các đồng chí Bắc Kinh nổi giận!

Nhưng các đồng chí từ Bắc Kinh tới vẫn không tha cho Dũng. Một cô ký giả người Trung Quốc đã đứng lên nhân danh Nhật báo Nhân Dân ở Bắc Kinh để đặt câu hỏi. Cô ta mặc bộ quân phục, với cả hàng huy chương đeo trước ngực! Quả nhiên, cô chính là một thiếu tướng trong quân đội Trung Quốc! Cô nhắc lại một câu Nguyễn Tấn Dũng đã nói: “Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền.”

Người Việt Nam nghe hai chữ “đâu đó” đã thấy một thái độ lảng tránh hèn nhát rồi, vì không dám nói thẳng là ai, ở đâu! Nhưng cô thiếu tướng tự xưng ký giả báo Nhân Dân (Bắc Kinh) lại vin vào câu nói của Nguyễn Tấn Dũng mà khiêu khích, đặt thẳng một câu hỏi, đòi Dũng phải nói rõ hơn: Xin ông cho biết rõ ràng khi ông nói câu đó thì ông ám chỉ chuyện gì xẩy ra ở nước nào vậy? Và khi ông nói tới “những hành động trái với luật pháp quốc tế” thì xin ông làm ơn cho biết đó là vi phạm những điều luật nào vậy? Đúng là một câu hỏi khiêu khích, thách thức xem Nguyễn Tấn Dũng có dám nói thẳng thắn hay không!

Nếu quý vị ở địa vị một vị thủ tướng nước Việt Nam thì quý vị sẽ trả lời sao? Chắc chắn phải nói đến các hành động Trung Cộng cho tàu hải giám chạy vào vùng biển Việt Nam, tầu chiến Trung Cộng đóng vai cướp biển bắn phá tầu đánh cá, bắt cóc ngư dân Việt Nam. Những chuyện đó có thật, cả thế giới đều biết, có gì phải giấu giếm?

Nhưng Nguyễn Tấn Dũng đã không dám nhân cơ hội này vạch ra những vụ vi phạm luật biển quốc tế của chính quyền Bắc Kinh! Dũng lại tiếp tục ca sáu câu đã thuộc lòng: Hòa bình, ổn định, phát triển, tự do hàng hải, vân vân. Sau cùng, cũng trả lời cô ký giả báo Nhân Dân ở Bắc Kinh bằng cách né: Chuyện này đã nói có lẽ mọi người đã biết cả rồi, tôi không cần nhắc lại nữa!

Điều nên biết là trong hội nghị lần này, một vị thiếu tướng Trung Cộng khác, Thích Kiến Quốc (Qi Jianquo, 戚建国) cầm đầu phái đoàn quân đội sang dự. Ông ta đã ngang nhiên tuyên bố rằng việc tàu chiến của nước ông đi tuần trong vùng biển Đông Nam Á là tự nhiên, vì vùng đó thuộc lãnh hải Trung Quốc! Ông tướng chuyên viên ngoại giao, phó tư lệnh quân đội họ Thích đã khẳng định một điều hoàn toàn sai sự thật. Cả phái đoàn Nguyễn Tấn Dũng có mặt hội nghị, nghe nói thế nhưng không ai dám lên tiếng, ít nhất cũng để nói rằng chính phủ Việt Nam không đồng ý với ông tướng này! Sau đó đến lượt nghe cô thiếu tướng phóng viên đặt câu hỏi thách thức giữa làng, giữa chợ, các nhà báo khắp thế giới sẽ nghĩ thế nào khi thấy Nguyễn Tấn Dũng không dám trả lời thẳng vào câu hỏi của cô?

Với tư cách một thủ tướng, người đứng đầu chính phủ một nước đang bị Trung Cộng đè nén, bắt nạt, kinh thường, thì thái độ đó né tránh này chỉ làm nhục quốc thể. Vì tất cả các nhà báo có mặt trong phòng, và hầu hết khán giả coi cuộc phỏng vấn trên ti vi sau này, họ đều biết những gì đã và đang xẩy ra giữa Trung Cộng và Việt Nam. Họ phải biết trước câu hỏi khiêu khích đó, người cầm đầu chính quyền Việt Nam phải nói sự thật ra thế nào. Khi thấy Nguyễn Tấn Dũng né tránh, mọi người phải tự hỏi: Tại sao một thủ tướng nước Việt Nam lại không dám nói thẳng những vụ vi phạm đó ra?

Trước thái độ hèn yếu đó, người ngoại quốc coi ti vi sẽ thấy cái tên viết đặt trước mặt ông Nguyễn Tấn Dũng rất thích hợp, khi hiểu theo nghĩa tiếng Anh. Thay vì viết họ “Nguyễn,” giống như họ ông Chipman ngồi kế bên, không hiểu sao ban tổ chức họp báo lại ghi tên cúng cơm của ông thủ tướng là DUNG. Mà trong tiếng Anh, một ngôn ngữ chính thức của Singapore, thì chữ đó có nghĩa là đồ phế thải, dùng để bón ruộng!

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Mảnh ghép cuối của một âm mưu
Le Nguyen
(Danlambao) - Chiến tranh lạnh chấm dứt, kho tài liệu bí mật của nhiều quốc gia mở cửa để cho những ai quan tâm muốn tìm hiểu sự thật lịch sử đến tham khảo và nhiều văn kiện lịch sử liên quan đến ông Hồ Chí Minh, đến đảng cộng sản Việt Nam đã được bạch hóa, chỉ ra Việt Nam Cộng Hòa với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ai mới đích thực là ngụy quyền, là tay sai bán nước?

Đến hôm nay sự thật đã phơi bày, nhiều người biết ông Hồ Chí Minh có trăm tên nghìn mặt, nhận tiền ngoại bang hoạt động tích cực cho cộng sản quốc tế đệ tam và sự thật về cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân chống thực dân đế quốc, cuộc chiến đấu thần thánh chống Mỹ cứu nước. Thật ra rút gọn lại chỉ là ý chí “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” của tên đồ tể Mao Trạch Đông cùng với hành động tự nguyện làm tay sai “ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc” được phát ra từ mồm của ông tổng bí thư Lê Duẩn, đại diện tập đoàn tay sai bán nước, đảng cộng sản Việt Nam.

Sự thật lịch sử về bác đảng đã được phơi bày “lõa lồ” khó che đậy dưới thời đại kỹ thuật số nhưng bản chất bịp bợm dối trá thâm căn cố đế có nguồn gốc bác đảng vẫn tồn tại và di họa đáng sợ do bác đảng gây ra cho đất nước dân tộc Việt Nam vẫn còn đang tiếp diễn.

Một trong những di họa của bác đảng là chuỗi mật ước, hiệp ước gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và di họa này chính là bức công hàm bán nước mờ mờ ảo ảo, nửa công khai nửa bí mật do ông Phạm Văn Đồng, cố thủ tướng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký ngày 14/09/1958 lên tiếng ủng hộ tuyên bố chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng ngày 04/09/1958 dưới sự chỉ đạo sâu sát của bác đảng

Ngay thời điểm công bố, không ai biết đó là công hàm bán nước, trừ những kẻ lãnh đạo chủ động thực hiện hành vi “làm ra, phát tán” bởi nội dung công hàm Phạm Văn Đồng không có chữ nào liên quan đến Hoàng Sa, Trường sa là của Trung Cộng cả, công hàm chỉ lên tiếng ủng hộ chung chung về chủ quyền lãnh hải của nhà nước Trung Cộng.

Sự thật thì nhân dân Việt Nam, kể cả đảng viên trung, cao cấp của cộng đảng Việt nam cũng không hề biết cũng như không tiếp cận được với bản tuyên bố chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, nghĩa là công hàm gián tiếp công nhận Hoàng Sa, Trường sa thuộc về Trung Cộng nhưng có mấy ai được hiểu, được biết sự thật về bức công hàm!...

Mãi cho đến giai đoạn khốc liệt nhất của chiến tranh huynh đệ tương tàn, cộng sản quốc tế dốc toàn lực xe tăng, đại pháo...thúc đẩy tập đoàn lính đánh thuê cộng sản Bắc Việt đánh chiếm Miền Nam tự do thì gần 20 năm nằm mai phục, năm 1974 Trung Cộng ra tay, chúng xua tàu chiến cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam trước sự im lặng đồng lõa của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Miền Bắc.

Bị ngoại bang xâm phạm chủ quyền là vấn đề lớn của đất nước và để đối phó với sự trỗi dậy của tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam bởi sự xâm lăng của Trung Cộng. Đảng cộng sản Việt Nam không dám khinh thường, chúng vận dụng tuyên giáo mở hết công suất loa đài tuyên truyền định hướng dư luận như “...Hoàng Sa là đảo chim ỉa không giá trị chi cả...nước bạn xã hội chủ nghĩa anh em đánh chiếm giữ hộ khi Việt Nam thống nhất, bạn sẽ trả lại cho ta...” và cho đến khi công hàm Phạm Văn Đồng bị lộ, bộ phận tuyên giáo vẫn chống chế ngụy biện rằng “...công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi đến nước bạn vì lý do hoàn cảnh...chứ đảng, nhà nước ta đâu có công nhận Hoàng, Trường Sa là của Trung Cộng...”

Mùa Xuân năm 1975, cộng sản Bắc Việt hoàn thành nhiệm vụ làm tay sai cộng sản quốc tế nhuộm đỏ Miền Nam cũng là lúc Trung Cộng lộ dần ý đồ lãnh thổ và lộ rõ tham vọng bá quyền Đại Hán. Chúng giật dây tay sai khờ me đỏ quấy phá biên giới Tây Nam, chủ động mở chiến tranh xâm lược đánh phá toàn tuyến biên giới phía Bắc và cho đến lúc toàn khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu, cả thành trì xã hội chủ nghĩa Liên Xô sụp đổ, cộng sản Việt Nam quay trở lại Thành Đô, Trung Quốc năm 1990, ký kết mật ước tiếp tục làm tay sai cho Trung Cộng.

Tiếp theo sau hội nghị Thành Đô là hiệp ước lãnh thổ năm 1999 giao đất biên giới Ải Nam Quan, nửa Thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm, Núi Lão Sơn... và hiệp ước lãnh hải năm 2000 mất hơn chục nghìn cây số vuông vịnh Bắc Bộ về tay Trung Cộng. Hành động bán nước rành rạnh không thể chối cãi của cộng đảng Việt Nam đã gặp sự phản ứng quyết liệt của những người Việt Nam yêu nước và để che dấu hành vi bán nước, đảng cộng sản Việt Nam tuyên truyền bịp bợm đổ cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá, nói xấu đảng nhà nước chứ “đảng ta” vì dân, vì nước... không hề bán nước cho Tàu!

Bên cạnh đó đảng chỉ đạo tay chân ra tay trấn áp những ai vạch trần bộ mặt thật của cái gọi là hiệp ước phân định biên giới. Mãi cho đến bây giờ cộng đảng Việt Nam không hề công khai trưng dẫn bản đồ biên giới lãnh thổ, lãnh hải mà hai đảng Việt – Trung đã thậm thụt ký kết với nhau và mọi người chỉ với con mắt thường vẫn thấy một phần đất đai, biển đảo của Việt Nam “có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý...” đã thuộc về Trung Cộng?

Đứng nhìn những phần lãnh thổ mất dần vào tay giặc và đứng trước hành động hung hăng, ngang ngược đến độ man rợ rượt đuổi, bắt giữ, bắn giết ngư dân ta trên Biển Đông. Những người con yêu của tổ quốc đã không thể ngồi yên, khởi đầu từ một số ít lên tiếng cảnh giác âm mưu xâm lược trên các trang mạng lề dân đến số đông rầm rập xuống đường bày tỏ thái độ với kẻ thù truyền kiếp Phương Bắc, chịu sự trù dập bắt bớ đánh đập dã man của côn an côn đồ cộng sản và tất cả đều không sờn lòng.

Từ những trải nghiệm thực tế đắng lòng đó giúp cho người dân dần nhận diện sự bạc nhược hèn kém, bán nước để giữ đảng, thà mất nước chứ không để mất đảng của cộng sản Việt Nam nên người dân yêu nước đã nhận ra sự thật để chuyển biến nhận thức. Từ nhắc nhở ôn hòa “Hãy Cảnh Giác Với Bắc Triều” như Luật Sư Lê Chí Quang của hơn thập kỷ trước, bước sang hành động quyết liệt, kiên quyết với cả ngoại xâm lẫn nội thù qua tư duy “...Tàu khựa cút khỏi Biển Đông... Đi chết đi đảng cộng sản Việt Nam bán nước...” như hai sinh viên Phương Uyên – Nguyên Kha.

Dưới sức ép ngày càng gia tăng của người dân yêu nước vượt qua sợ hãi lên tiếng đòi hỏi đảng cộng sản đưa ra những biện pháp cụ thể hiệu quả thích hợp đối với kẻ thù xâm lược bởi họa mất nước không còn là nguy cơ tiềm ẩn nữa mà nó đã diễn biến xấu đi theo từng ngày và đòi hỏi đảng cộng sản phải ngưng ngay hành động trấn áp nhân dân, ru ngủ nhân dân qua các luận điệu mỵ dân, diễn trò như “...để đảng nhà nước lo...Trung Quốc Không sợ các tờ truyền đơn...góp đá cho trường sa...xuống đường biểu tình chỉ làm cho tình hình phức tạp...yêu nước sao không tình nguyện ra giữ đảo?...”

Song song với lập luận tuyên truyền bịp bợm nhỏ lẻ vớ vẩn trẻ con của tuyên truyền viên, dư luận viên theo bài bản tuyên giáo để che dấu sự thật, lừa gạt nhân dân, là những phát ngôn của các ông lãnh đạo đảng, nhà nước được oang oang phát đi phát lại đến phát nhàm trên các phương tiện loa đài, trên các diễn đàn quốc gia lẫn quốc tế có cùng một nội dung có nhiều phần ngớ ngẩn đến độ buồn cười như bài phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng tại đối thoại Shangri - La ở Singapore vào ngày 31/05/2013 mới đây:
Image
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Đối thoại Shangri-La. Ảnh: VGP.
“... Chúng tôi mong muốn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc một khi nguyên tắc độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác bình đẳng cùng có lợi được cam kết và nghiêm túc thực hiện...

...Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Việt Nam không là đồng minh quân sự của nước nào và không để nước ngoài nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam không liên minh với nước này để chống lại nước khác...

...Việt Nam trước sau như một kiên trì nguyên tắc giải quyết bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Các bên liên quan đều phải kiềm chế, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực...

...Việt Nam khẳng định tuân thủ nhất quán Tuyên bố nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông; nỗ lực làm hết sức mình cùng ASEAN và Trung Quốc nghiêm túc thực hiện DOC và sớm đạt được COC.

...Là quốc gia ven biển, Việt Nam khẳng định và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình theo đúng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982...” (1)


Chúng ta thấy toàn văn bài phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ có một ý “niềm tin chiến lược” được gọi là mới “lạ” đến độ kỳ cục! Sự thật thì khái niệm niềm tin chiến lược (strategy trust) là ý tưởng vay mượn của ông Tập Cận Bình phát biểu trong chuyến Mỹ du vào tháng 02/2012 đã bị các còm sĩ bóc trần trên diễn đàn báo lề dân và đa phần nội dung của bài phát biểu liên quan đến chủ quyền biển đảo chỉ tập trung lại nội dung cũ rích những lời phát biểu của các lãnh đạo đảng, nhà nước cộng sản đã từng nói trước đây.

Thế nhưng, các ông bà kính đảng yêu bác Hồ cứ tin rằng những lời lu loa, giải quyết chủ quyền Biển Đông bằng biện pháp hòa bình dựa trên cơ sở UNCLOS (Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển năm 1982), DOC (Tuyên Bố Về Cách Ứng Xử trên Biển Đông), COC (Bộ Quy Tắc Ứng Xử Trên Biển Đông) là chiến lược khôn ngoan của lãnh đạo đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam mà không nhận ra rằng UNCLOS (2), DOC (3), COC (4) là mảnh ghép cuối cùng của âm mưu cướp trắng Biển Đông có sự tiếp tay của ngụy quyền tay sai bán nước cộng sản Việt Nam!

Nói thẳng ra là đến nước nầy rồi thì luật pháp quốc tế UNCLOS, DOC, COC đã trở thành vô dụng bởi bằng chứng pháp lý mà cộng đảng Việt trao cho Cộng đảng Tàu cùng với cái bẫy giải quyết tranh chấp song phương, không quốc tế hóa Biển Đông trên cơ sở 16 chữ vàng 4 tốt tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Cộng có thời gian thành lập thành phố Tam Sa xua tàu chiến giả dạng tàu cá, tàu hải giám tràn ngập Biển Đông và Trung Cộng đã tỏ rõ lập trường về Biển Đông qua lời phát biểu của tên trung tướng Thích Kiến Quốc, phó tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Hoa tại diễn đàn đối thoại Shangri-La:

Image
Trung Tướng Thích Kiến Quốc, Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc phát biểu tại Đối thoại Shangri-La
tại Singapore vào ngày 02 tháng 6 năm 2013.
“...ai cũng hiểu tại sao tàu chiến trung Quốc lại tuần tra ở Biển Đông...Trung Quốc có chủ quyền ở vùng biển này...đó là lập trường rất rõ ràng, và những hoạt động của hải quân Trung Quốc ở các vùng biển này là hợp pháp, không phải tranh cãi...” (5)

Hẳn trong chúng ta ai cũng thấy, nếu Trung Cộng có đầy đủ bằng chứng mua bán, sang nhượng chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa từ đảng cộng sản Việt Nam thì Việt Nam dù có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý không thể trang cãi...cũng không thể thắng được bằng chứng pháp lý mà Trung Cộng được cộng sản Việt Nam nhận tiền hoặc giá trị vật chất tương đương trao tay và COC sẽ là mảnh ghép pháp lý cuối cùng cho chủ quyền Hoàng, Trường Sa để đại diện Trung Cộng tự tin, mạnh miệng tuyên bố “...hoạt động của hải quân Trung Quốc ở các vùng (lưỡi bò) biển (Đông) này là hợp pháp, không thể tranh cãi...”

Có lẽ, những gì xảy ra trong quá khứ xa của bác đảng và các động thái trong thời gian gần của lãnh đạo đảng cộng sản Việt nam hiện tại liên quan đến đất đai, biển đảo thì số phận lãnh thổ, lãnh hải trong đó có Biển Đông của ông cha ta để lại đã an bài. Do đó, muốn xoay chuyển tình thế, muốn bảo vệ chủ quyền ngăn chận hiểm họa mất nước, giành lại những gì Việt Nam đã mất vào tay giặc phương bắc, không còn cách nào khác là phải loại bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam và thay thế thể chế chính trị độc tài man rợ bằng thể chế chính trị dân chủ văn minh.

Le Nguyen

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Cờ vàng trong bản án Nguyên Kha và Phương Uyên

Trần Trung Đạo-
“Khi còn nhỏ, tôi chỉ nhìn thấy lá cờ vàng từ góc độ của một sân trường trung học. Khi lớn lên, học hỏi thêm, tôi nhìn lá cờ vàng từ góc độ của chế độ mà tôi đã sống, từ miền Nam tự do mà tôi đã ra đi, từ đất nước mà tôi yêu quý. Và hôm nay, tôi nhìn lá cờ vàng từ trái tim trong sáng của Phương Uyên, một em bé gái Việt Nam vừa mới lớn và đang đập theo nhịp đập của tương lai dân tộc. Chính nghĩa dân tộc rồi sẽ thắng. Cuối cùng, chỉ có người Việt Nam mới ôm ấp và đeo đuổi giấc mơ tự do dân chủ cho chính mình và tương lai của con cháu mình. Không ai xót thương và cứu vớt dân tộc Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam. Nếu tất cả chúng ta cùng biết đau một nỗi đau chung và cùng biết đeo đuổi một giấc mơ Việt Nam như Nguyên Kha, Phương Uyên đang theo đuổi, tôi tin cuộc vận động tự do dân chủ và phục hồi chủ quyền đất nước sẽ sớm thành công. Điểm hẹn huy hoàng của lịch sử có thể chỉ còn năm phút nữa nhưng nếu không ai đứng dậy và bước đi, năm phút sẽ qua nhanh và mục tiêu không bao giờ đạt đến. Hãy đứng lên và cùng đi với Nguyên Kha, Phương Uyên và tuổi trẻ Việt Nam.”
*
Một em du sinh kể tôi nghe câu chuyện em hỏi mua một lá cờ vàng ba sọc đỏ tại một tiệm Việt Nam trong những ngày mới đặt chân đến Mỹ để theo học đại học.

Trong một lần đi mua sắm tại một tiệm tạp hóa do người Việt làm chủ tại Washington DC, thấy gần quầy tính tiền có để một số cờ Mỹ, Việt loại để bàn, em ngỏ ý muốn mua một lá. “Thưa bác, cờ này để trưng bày hay để bán, nếu bán cháu muốn mua một lá.” Em du sinh hỏi. Bác chủ tiệm nhìn em từ đầu đến chân. Qua giọng nói, cách ăn mặc, bác chủ tiệm, vốn cũng là người gốc Bắc, biết rõ chẳng những em vừa mới Việt Nam mà còn thuộc tỉnh nào ở miền Bắc nữa. “Cậu mua để làm gì?” Bác hỏi lại với giọng nghi ngờ. “Thưa bác, đấy là việc của cháu. Cháu chỉ muốn biết cờ này có bán không thôi ạ.” Em trả lời. Bác chủ tiệm vốn đã không thiện cảm lại càng khó chịu với cách trả lời hụt hẫng của em. Trong suy nghĩ của bác xuất hiện nhiều phỏng đoán nhưng không có một phỏng đoán nào tốt. Bác nghĩ đến việc “thằng Cộng con” này có thể mua để đốt, để xé bỏ, để ném xuống sông Potomac cho khuất mắt. Bác đưa tay kéo hàng cờ nhỏ cắm trên tấm bảng gỗ nhỏ lại gần tưởng như em sẽ giật chạy. “Cậu biết cờ này là cờ gì không?” Bác chủ tiệm gằn giọng như một công tố viên đang trưng bằng chứng lịch sử trước bị can. “Thưa không ạ, cháu chỉ biết đây là cờ vàng.” Em du sinh kiên nhẫn đáp tuy trong bụng than thầm “Mua một lá cờ sao khó thế”. “Đây là cờ quốc gia!” Bác chủ tiệm nhấn mạnh từng chữ. Và rồi không chờ em đáp, bác giảng cho em du sinh nghe một bài về ý nghĩa lá cờ vàng. “Không bán, cậu ra khỏi chỗ này đi.” Bác giận dữ kết luận. Em lặng lẽ ra về.

Mấy năm sau, câu chuyện đã trở thành chuyện vui trong những ngày đầu di du học, em thú thiệt với tôi khi bác chủ tiệm hỏi em cũng không biết mua để làm gì. Em không thể đem cờ về Việt Nam, không thể trưng bày cờ trong phòng khách, trong lớp học nhưng em hỏi mua vì thật sự muốn biết thêm về lá cờ vàng ba sọc đỏ. Đó là một phần của lịch sử Việt Nam. Không phải riêng em du sinh, dần dần càng nhiều người Việt thuộc thế hệ em muốn biết về lá cờ vàng. Sau khi hệ thống CS Đông Âu sụp đổ, lãnh đạo các nước CS Á Châu không còn cách nào khác nên phải “tự diễn biến hòa bình” để tồn tại. Cánh cửa thông tin hé mở, ánh sáng khoa học qua những khe hở rọi vào và em là một trong những con chim nhỏ may mắn nhìn được bầu trời từ kẻ hở đó.

Tuy chưa có cơ hội nắm bắt hết ý nghĩa lịch sử, các em có đủ nhận thức để tự đặt vấn đề, rằng nếu cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của tất cả mọi xấu xa, tội ác như các em được dạy thì những gì các em đang thừa hưởng hôm nay, từ những bản tình ca các em hát mỗi ngày cho đến những bài thơ đậm đà tình dân tộc, những bài văn ca ngợi tình người, tình cha mẹ, gia đình, làng xóm, và ngay cả trong cách cách ăn, cách mặc, cách nói năng lễ độ, lối sống tự do thoải mái do ai để lại?

Dĩ nhiên không phải đến từ chính sách trồng người đang làm thui chột khả năng sáng tạo của các em, không phải từ nền giáo dục ngu dân dưới mái trường xã hội chủ nghĩa đang biến các em thành những con người vô cảm. Và nếu không phải từ hôm nay, có thể là sản phẩm để lại từ một chế độ đang bị đảng CS nguyền rủa mỗi ngày. Tìm hiểu về lá cờ vàng, do đó, đang là một trào lưu mới trong thế hệ trẻ Việt Nam.

Mới đầy, cờ vàng ba sọc đỏ lần nữa là trung tâm của vụ án Nguyên Kha và Phương Uyên. Một quan điểm cho rằng, sở dĩ đảng CS giáng xuống đời hai em những bản án nặng nề chỉ vì Phương Uyên in lá cờ vàng làm truyền đơn và đem dán tại vài địa điểm. Theo lời mẹ của Phương Uyên kể lại nội dung phiên tòa, Phương Uyên không từ chối có in lá cờ vàng ba sọc đỏ nhưng chỉ vì em muốn tìm hiểu về lịch sử.

Lời phát biểu của em Nguyễn Thiện Thành khi trả lời phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do sau đây lần nữa xác định lời khai của Phương Uyên trước tòa: “Khi học lịch sử chúng tôi hiểu được màu cờ vàng là màu truyền thống của dân tộc VN trong xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử và lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ có từ thời vua Thành Thái 1890 một triều đại Kháng Pháp, và vua Thành Thái bị lưu đày. Chúng tôi sử dụng lá cờ gần nhất trong lịch sử VN để nói lên tinh thần dân tộc bất khuất.”

Nhưng tại sao các em lại phải đi tìm một lá cờ, trong trường hợp này là cờ vàng ba sọc đỏ, để nói lên tinh thần bất khuất chống ngoại xâm?

Bởi vì lá cờ đỏ sao vàng không “nói lên tinh thần dân tộc bất khuất”. Tổ quốc là không gian, thời gian, nguồn cội và là căn nhà chung của một giống dân có cùng một lịch sử, văn hóa, truyền thống, lãnh thổ, vùng trời, vùng biển. Ngay trong Đại Tự Điển do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo và nhà Xuất bản Văn hóa Thông Tin ấn hành năm 1998 cũng định nghĩa tổ quốc là “Đất nước, gắn liền với bao thế hệ ông cha, tổ tiên của mình: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổ quốc Việt Nam của chúng ta.” Đảng CS, về đối nội, nhẫn tâm bỏ tù từ cụ già đến em bé vị thành niên nhưng đối ngoại chỉ biết cúi đầu trước Trung Quốc ngang ngược. Đọc những lời phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam của các phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN từ Lê Dũng trước kia đến Lương Thanh Nghị ngày nay gần như chỉ có một nội dung ngoại giao sáo rỗng tuy khác nhau ngày tháng. Lãnh đạo đảng biết rằng việc chỉ trích nặng lời chỉ càng thêm tổn hại cho mối quan hệ về sau giữa hai đảng chứ chẳng làm Trung Quốc nhả ra một thước đất nào. Trung Quốc biết điều đó rất rõ nên cũng rất ít quan tâm đến những lời phản đối lấy lệ của phía Việt Nam.

Bởi vì lá cờ đỏ sao vàng chỉ đại diện cho đảng CS độc tài. Dù người vẽ cờ là Lê Quang Sô, Nguyễn Hữu Tiến, Hồ Tri Hạ hay nhập từ Trung Quốc, Liên Xô, lá cờ đỏ sao vàng vẫn là lá cờ CS và đã được đại hội Xứ Ủy Nam Kỳ thông qua tại Tân Hương vào tháng Bảy 1940. Chỉ cần đọc lại lịch sử thế giới trong phần tư thế kỷ qua thôi, từ 15 nước thuộc Liên Bang Xô Viết cho đến 8 nước Cộng Sản Đông Âu, 3 nước Cộng Sản vùng Baltics (Latvia, Lithuania, Estonia), Cộng Sản Phi châu (Ethiopia), Cộng Sản Á Châu (Kampuchea), có quốc gia thay đổi ít như Ba Lan hay quốc gia thay đổi hoàn toàn như Nga, nhưng không có một nước nào tiếp tục sử dụng lá cờ của chế độ Cộng Sản làm cờ đại diện cho quốc gia thời kỳ sau Cộng Sản. Trong quan điểm đó, thương hiệu nền đỏ sao vàng của đảng CSVN chỉ gắn liền với sự cai trị của đảng CS không thể gọi là cờ tổ quốc và càng không nên dùng để biểu dương lòng yêu nước của mình. Lý luận cho rằng chỉ cờ búa liềm mới là cờ đảng CS còn cờ đỏ sao vàng là cờ tổ quốc chẳng khác gì bảo Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Quốc hội CSVN, nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là những cơ quan hoàn toàn độc lập chứ không phải là một tổ chức trực thuộc trung ương đảng CSVN và đều do các ủy viên Bộ Chính Trị trực tiếp lãnh đạo.

Bởi vì lá cờ vàng ba sọc đỏ đang bị che dấu, bị trù dập là lá cờ mà các em cần phải biết nhiều hơn. Có thể các em chưa biết nhiều về lá cờ vàng ba sọc đỏ nhưng một điều các em biết cái gì đảng nguyền rủa, đảng sợ hãi cái đó phải tốt, phải đúng. Các em có thể bắt đầu do tính tò mò, do chán ngán với thực tế phũ phàng đang có, dần dần có nhận thức rõ và sâu sắc hơn về các vấn đề lịch sử. Thì ra, lá cờ vàng, không phải chỉ có một nguồn gốc lịch sử lâu dài nhưng còn từ máu xương, từ mồ hôi nước mắt, từ hơi thở của những người đã gìn giữ và bảo vệ vùng trời, vùng biển tự do của đất nước. Một tài sản dù đồ sộ bao nhiêu cũng không có giá trị lớn về mặt tinh thần nếu tài sản đó không được đánh đổi bằng mồ hôi ước mắt của những người đã tạo ra nó. Lá cờ vàng đã đắp lên bao nhiêu ngôi mộ, bao nhiêu quan tài, bao nhiêu khuôn mặt tuổi thanh niên đã chết vì lý tưởng tự do của dân tộc trong cuộc chiến tự vệ đầy gian khổ để bảo vệ từng thước đất, từng hải lý của tổ quốc thân yêu. Không giống như những năm bị khóa chặt trong bốn bức tường đen sau 1975, thế hệ trẻ ngày nay, nếu chịu khó học hỏi, đọc nhiều nguồn tư liệu khác nhau, các em sẽ biết ngay lá cờ vàng ba sọc đỏ không đơn giản là cờ của “Bù nhìn Bảo Đại”, “chế độ Ngô Đình Diệm” hay “chế độ Nguyễn Vãn Thiệu”, biểu tượng cho “tội ác ngập đầu của Mỹ Ngụy”, phản ảnh một “xã hội miền nam thối tha đồi trụy” như em đã được dạy trong trường, học tập trong sinh hoạt chi đoàn. Các chế độ chính trị, dù tốt hay xấu, hưng thịnh hay suy vong cũng đến và đi nhưng màu cờ vàng đại diện cho cả quốc gia như dòng nước vẫn tiếp tục trôi trên con sông lịch sử.

Bởi vì lá cờ vàng ba sọc đỏ không chỉ là cờ của chế độ VNCH và phục hồi giá trị lá cờ không có nghĩa là phục hồi chế độ VNCH, tái lập hiệp định Paris, chia đôi đất nước như trước 1975. Không. Dân tộc Việt Nam không hề đặt bút ký thỏa ước Patenotre, hiệp định Geneve hay hiệp định Paris. Tất cả chỉ là sự áp đặt của thực dân và đế quốc đã diễn ra dưới nhiều hình thức trong những thời điểm khó khăn của vận mệnh đất nước. Trong suốt hai thế kỷ qua, dân tộc Việt Nam liên tục là nạn nhân đáng thương, bị xâm lược bởi các ý thức hệ ngoại lai vong bản. Không một người Việt Nam yêu nước nào muốn thấy quê hương chìm đắm và tiếp tục chìm đắm trong lạc hậu, độc tài triền miên như thế này. Một người Việt Nam nào thiết tha với tiền đồ đất nước cũng muốn thấy quê hương được thật sự tự do, thống nhất từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau ôm ấp Hoàng Sa, Trường Sa trong bao la tình biển mẹ. Nhân dân Việt Nam chỉ chống lại việc thống nhất đất nước bằng xe tăng và đại pháo của Nga, Tàu và đặt cả nước dưới ách cai trị độc tài chuyên chính của đảng CSVN mà thôi.

Bởi vì lá cờ đỏ sao vàng là cờ phi nghĩa. Các nhà lãnh đạo Cộng Sản không thể chứng minh cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Hãy đọc con số thống kê: Ba triệu người chết trong chiến tranh. Ba trăm ngàn người còn ghi nhận là mất tích sau chiến tranh. Một xứ sở 38 năm sau chiến tranh vẫn còn bị xếp vào một trong những nước chậm tiến. Một chế độ độc tài đảng trị bị loài người khinh rẻ. Một nền kinh tế khoa học kỹ thuật đi sau nhân loại hàng thế kỷ. Nhãn hiệu độc lập, tự do, hạnh phúc sau bao năm đánh bóng cũng chỉ hiện nguyên hình là những con cá gỗ. Tất cả những hậu quả đó là cái giá dân tộc Việt Nam phải trả cho cuộc chiến tranh được gọi là “giải phóng dân tộc” của lãnh đạo đảng CSVN. Đó không phải là chính nghĩa, không phải là giải phóng nhưng là tội ác diệt chủng. Ngạn ngữ Tây phương có câu “Ai giải thích được lịch sử người đó thắng”. Những cường hào ác bá đang sống trong các biệt thự nguy nga ở Hà Nội, Sài Gòn ngày nay không phải là những người làm nên lịch sử nhưng chỉ là những kẻ, trước đây, đã ăn cắp lịch sử, giải thích lịch sử, bóp méo lịch sử cho phù hợp với tham vọng Cộng sản hóa Việt Nam, và ngày nay, để tiếp tục sống huy hoàng trên những thống khổ triền miên của dân tộc Việt Nam.

Bởi vì lá cờ vàng ba sọc đỏ là cờ chống Trung Quốc bành trướng một cách dứt khoát. Khi Phương Uyên dõng dạc tuyên bố trước tòa án CS “Tôi dùng máu viết khẩu hiệu ‘Tàu khựa cút khỏi Biển Đông’ và ‘Đảng cộng sản chết đi’, khẩu hiệu bị cho là ‘phỉ báng đảng cộng sản Việt Nam’, là vì tôi thể hiện lòng yêu nước khi tôi căm phẫn Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam đến tột cùng sự phẫn uất” cho thấy suy nghĩ của em chẳng những vượt cao hơn những người cùng thế hệ mà còn can đảm và rõ ràng hơn những bậc cha chú còn cam tâm nhận ơn mưa móc của đảng. “Tàu khựa cút” và “Đảng Cộng Sản chết” là hai điều kiện tiên quyết để phục hồi chủ quyền đất nước về đối nội cũng như đối ngoại. Lịch sử Việt Nam cho thấy, muốn thắng kẻ thù xâm lược dân tộc phải biết đoàn kết và phát huy nội lực. Ngày nào đảng CS còn cai trị đất nước bằng nhà tù, trấn áp và cúi đầu trước Tàu Khựa thì đừng mong gì đoàn kết và phát huy nội lực, đừng mong đòi lại được Hoàng Sa và phần lớn Trường Sa. Nguyên Kha biết điều đó. Phương Uyên biết điều đó. Nhân dân Việt Nam có nhận thức đúng về hướng đi của đất nước biết điều đó. Nếu không phải do chính bà Nguyễn Thị Nhung, mẹ của Phương Uyên và những người chính mắt tham dự phiên tòa thuật lại, thật không ai có thể tin một cô bé mong manh như giọt sương buổi sáng 21 tuổi đó đã điềm tỉnh đón nhận bản án dành cho em. Em trở thành huyền thoại ngay trong khi còn sống và ở tuổi hai mươi. Em dâng hiến tuổi thanh xuân của mình để dựng mùa xuân cho dân tộc Việt Nam.

Thế hệ tuổi hai mươi hôm nay sinh ra nhiều năm sau khi chiến tranh chấm dứt nên có nhiều điều các em chưa hiểu hết. Từ sau ngày 30 tháng Tư 1975, lá cờ vàng không còn bay trên bầu trời miền Nam nhưng đã để lại cho nhân dân Việt Nam, trong đó có các em, những tài sản vật chất và tinh thần vô cùng phong phú, và nếu lấy các giá trị và thành quả đó ra, Việt Nam hôm nay chỉ là một địa ngục Bắc Hàn.

Thật vậy, chỉ bàn sơ về âm nhạc, một lãnh vực gần gũi nhất với thế hệ trẻ. Gác qua một bên quan điểm và lối sống cá nhân của một số người viết nhạc, hãy tưởng tượng âm nhạc Việt Nam không có Phạm Duy, Lê Thương, Dương Thiệu Tước, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trầm Tử Thiêng, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương, Nguyễn Văn Đông, Hoàng Trọng, Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Nguyễn Ánh 9, Hoàng Thi Thơ, Trần Thiện Thanh, Lam Phương, Trúc Phương, Anh Bằng, Lê Dinh, Minh Kỳ, Lê Hựu Hà, Nhật Ngân v.v. rồi nền âm nhạc Việt Nam với những Bài ca năm tấn của Nguyễn Văn Tý, Trai anh hùng, gái đảm đang của Đỗ Nhuận, Hò kiến thiết của Nguyễn Xuân Khoát v.v. sẽ nghèo nàn và lạc hậu biết bao nhiêu. Các nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, Đỗ Nhuận, Nguyễn Xuân Khoát đều là những tài năng âm nhạc, những nhạc sĩ tiên phong của nền âm nhạc Việt Nam nhưng không giống Văn Cao và Đoàn Chuẩn im lặng, họ chấp nhận làm những con ve để trỗi lên một điệu nhạc tuyên truyền rẻ tiền, buồn tẻ suốt 21 năm trong mùa hè Cộng Sản nóng bức và dài lê thê ở miền Bắc.

Sự hiện hữu và sức thu hút của cờ vàng là một thực tế không thể chối cãi. Những phản ứng tức tối của nhà cầm quyền CSVN trước việc các thành phố lớn nhỏ ở Mỹ nối tiếp nhau công nhận lá cờ vàng cho thấy sự sợ hãi của họ trước một sự thật lịch sử mà họ không còn có thể che đậy, dấu diếm, lừa gạt được ai hay giải thích cách nào khác. Hành động điên cuồng, man rợ, vô nhân của đảng CS khi kết án một cô gái chỉ 21 tuổi phải giam hãm sáu năm tới của đời con gái trong vòng lao lý và ba năm quản thúc chỉ vì em in và dán lá cờ vàng, một lần nữa, chỉ tự tố cáo sự sợ hãi của đảng CS đối với lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Khi còn nhỏ, tôi chỉ nhìn thấy lá cờ vàng từ góc độ của một sân trường trung học. Khi lớn lên, học hỏi thêm, tôi nhìn lá cờ vàng từ góc độ của chế độ mà tôi đã sống, từ miền Nam tự do mà tôi đã ra đi, từ đất nước mà tôi yêu quý. Và hôm nay, tôi nhìn lá cờ vàng từ trái tim trong sáng của Phương Uyên, một em bé gái Việt Nam vừa mới lớn và đang đập theo nhịp đập của tương lai dân tộc. Chính nghĩa dân tộc rồi sẽ thắng. Cuối cùng, chỉ có người Việt Nam mới ôm ấp và đeo đuổi giấc mơ tự do dân chủ cho chính mình và tương lai của con cháu mình. Không ai xót thương và cứu vớt dân tộc Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam. Nếu tất cả chúng ta cùng biết đau một nỗi đau chung và cùng biết đeo đuổi một giấc mơ Việt Nam như Nguyên Kha, Phương Uyên đang theo đuổi, tôi tin cuộc vận động tự do dân chủ và phục hồi chủ quyền đất nước sẽ sớm thành công. Điểm hẹn huy hoàng của lịch sử có thể chỉ còn năm phút nữa nhưng nếu không ai đứng dậy và bước đi, năm phút sẽ qua nhanh và mục tiêu không bao giờ đạt đến. Hãy đứng lên và cùng đi với Nguyên Kha, Phương Uyên và tuổi trẻ Việt Nam.

Trần Trung Đạo

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Việt Nam Chơi Chữ, Trung Cộng Chơi Súng
Tác giả : Phạm Trần
Lần đầu tiên kể từ khi Trung Cộng biểu dương sức mạnh quân sự để hậu thuẫn cho tham vọng tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam đã kêu gọi các nước trong khu vực hãy “cùng nhau chung tay xây dựng lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng của Châu Á - Thái Bình Dương.”

Ông Dũng là người cầm đầu Chính phủ Việt Nam đầu tiên đã được Thủ tướng Tân Gia Ba Lý Hiển Long và Ban Tổ chức Đối thoại Shangri – La lần thứ 12 tại Singapore mời đọc diễn văn chính thức trong ngày khai mạc 31 tháng 05 (2013).

Ông nói: “Muốn có hòa bình, phát triển, thịnh vượng thì phải tăng cường xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược… Việt Nam chúng tôi có câu thành ngữ “mất lòng tin là mất tất cả”. Lòng tin là khởi nguồn của mọi quan hệ hữu nghị, hợp tác; là liều thuốc hiệu nghiệm để ngăn ngừa những toan tính có thể gây ra nguy cơ xung đột. Lòng tin cần được nâng niu, vun đắp không ngừng bằng những hành động cụ thể, nhất quán, phù hợp với chuẩn mực chung và với thái độ chân thành.” (Thống tấn xã Việt Nam, TTXVN)

Lý thuyết thì đúng như thế nhưng trong thực tế, Việt Nam đã bị Trung Cộng “đánh cho nhừ đòn” ở cả trên đất liền và ngòai Biển Đông từ cuộc chiến tranh biên giới 1979 và sau khi hai nước nối lại bang giao năm 1991 mà vẫn phải ngậm đắng nuốt cay mà ca tụng tình nghĩa “vì đại cục, vừa là đồng chí vừa là anh em” !

Các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam (CSVN), từ sau ông Phiêu biết như thế nhưng không dám than vì đã lỡ phải học thuộc lòng “hai câu thần chú” 16 chữ vàng “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Mặt trái lời nói không đi đôi với việc làm của Bắc Kinh đã được chứng minh bằng máu, nước mắt và tài sản của ngư dân Việt Nam trên Biển Đông, kể từ khi lãnh tụ Trung Cộng Hồ Cẩm Đào “nhét 20 chữ xảo trá” ấy vào miệng Tổng Bí thư đảng Lê Khả Phiêu khi hai nước ký “Hiệp ước biên giới trên đất liền” ngày 30 tháng 12 năm 1999 và “Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ” ngày 25 tháng 12 năm 2000.

Như vậy, phải chăng vì các vụ tầu Hải giám Trung Cộng có võ trang đã gia tăng bắn phá giết hại và làm bị thương nhiều người, săn đuổi, bắt giam,đâm chìm thuyền của ngư dân Việt Nam ở hai vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa từ tháng 3/2013 đã khiến ông Dũng phải nói tiếp trong diễn văn rằng: “ Những diễn biến khó lường trên bán đảo Triều Tiên; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ từ Biển Hoa Đông đến Biển Đông đang diễn biến rất phức tạp, đe dọa hòa bình và an ninh khu vực, trước hết là an ninh, an toàn và tự do hàng hải đang gây quan ngại sâu sắc đối với cả cộng đồng quốc tế. Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền.”

Rõ ràng là ông Dũng đã ám chỉ đến sức mạnh và những đòi hỏi chủ quyền phi pháp và phi đạo lý của Trung Cộng ở vùng đảo Điếu Ngư , tranh chấp với Nhật Bản ở biển Hoa Đông và trong vùng Biển Đông, nơi Bắc Kinh đã “tự vẽ” ra hình qúai đản Lưỡi Bò, hay “đường 9 đọan” chiếm từ 80 đến 85% diện tích của trên 3 triệu cây số vuông, bao gồm cả Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam !

AI BẮT CHƯỚC AI ?

Đáng chú ý là khi ông Dũng nói đến “lòng tin chiến lược” thì không hiểu những người viết diễn văn cho ông có copy, hay muốn sử dụng ngay lời tuyên bố của Lãnh tụ Trung Cộng Tập Cận Bình nói ở Washington D.C. (Thủ đô Hoa Thịnh Đốn) ngày 15/02/2012 khi ông còn là Phó Chủ tịch Nhà nước Trung Cộng trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ để làm chiêu “lấy gậy ông đập lưng ông”, hay chỉ là chuyện “trùng hợp chính trị tình cờ”?

Hồi đó, ông Tập Cận Bình cũng nói rằng Trung Quốc và Hoa Kỳ nên tăng cường “lòng tin chiến lược, tôn trọng những quyền lợi cốt lõi và những mối quan tâm của nhau” (China and the United States should increase strategic trust and respect core interests and major concerns of each other).

Họ Tập cũng nói: “Không có niềm tin thì người ta chẳng đạt được gì cả” ("Without trust, one can achieve nothing)

Ông Tập, khi ấy đã cho thấy ông sẵn sàng thay thế ông Hồ Cẩm Đào để lãnh đạo Trung Quốc, còn nói với Tổng thống Barack Obama rằng : “ Đối với chúng tôi, lòng tin chiến lược là nền tảng cho sự hợp tác cùng có lợi, và sự tin tưởng lớn lao sẽ dẫn đến hợp tác rộng lớn hơn. Hai nước nên tăng cường sự tin tưởng và lòng tin hỗ tương và giảm thiểu những hiểu nhầm và nghi kỵ lẫn nhau.”

(For us, strategic trust is the foundation for mutually beneficial cooperation, and greater trust will lead to broader cooperation. The two sides should increase mutual understanding and trust, and reduce misunderstanding and suspicion)

Tại Tân Gia Ba, ông Nguyễn Tấn Dũng nói : “Mọi người chúng ta đều hiểu, nếu để xảy ra mất ổn định, nhất là xung đột quân sự, nhìn tổng thể thì sẽ không có kẻ thắng người thua - mà tất cả cùng thua. Vì vậy, cần khẳng định rằng, cùng nhau xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng là lợi ích chung của tất cả chúng ta. Đối với Việt Nam chúng tôi, lòng tin chiến lược còn được hiểu trên hết là sự thực tâm và chân thành.”

Đối với hòan cảnh của một nước nhỏ sống bên cạnh một cường quốc Trung Cộng đã từng xâm chiếm 16 lần và đô hộ Việt Nam 1,000 năm thì sự lựa chọn lời nói không gây thù oán của ông Dũng cũng dễ hiểu, nhưng rất tiếc ông Dũng, hay đúng ra là Bộ Chínhg trị và đảng CSVN, không có can đảm nói thẳng cho Thế giới biết về các vụ Trung Cộng đàn áp dã man ngư dân Việt Nam trên Biển Đông và việc Trung Cộng tự tiện vào vùng biển của Việt Nam để tìm kiến dầu và chuẩn bị xâm chiếm bất hợp pháp các đảo của Việt Nam ở Biển Đông.

Ông nói: “Trong suốt lịch sử mấy ngàn năm, Việt Nam đã chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra. Việt Nam luôn khao khát hòa bình và mong muốn đóng góp vào việc củng cố hòa bình, tăng cường hữu nghị, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới. Để có một nền hòa bình thực sự và bền vững, thì độc lập, chủ quyền của các quốc gia dù lớn hay nhỏ cần phải được tôn trọng; những khác biệt về lợi ích, văn hóa… cần được đối thoại cởi mở trên tinh thần xây dựng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.

Chúng ta không quên, nhưng cần khép lại quá khứ để hướng tới tương lai. Với truyền thống hòa hiếu, Việt Nam luôn mong muốn cùng các nước xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, phát triển trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.”

SỐNG CHUNG HAY NHU NHƯỢC ?

Và một lần nữa, trước cử tọa quốc tế, ông Nguyễn Tấn Dũng muốn chứng tỏ Việt Nam vừa có thiện chí “sống chung hòa bình” nhưng cũng muốn minh xác: “Việt Nam kiên định nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Việt Nam không ngừng nỗ lực làm sâu sắc thêm và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, đối tác hợp tác cùng có lợi với các quốc gia. Chúng tôi mong muốn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốn một khi nguyên tắc độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác bình đẳng cùng có lợi được cam kết và nghiêm túc thực hiện.”

Ông Dũng nói thêm rằng: “Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Việt Nam không là đồng minh quân sự của nước nào và không để nước ngoài nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam không liên minh với nước này để chống lại nước khác.”

Tuy nhiên trong bối cảnh Trung Cộng mỗi ngày một công khai thực hiện chủ trương bành trướng và bá quyền đối với Việt Nam, thì việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn cổ võ thông điệp “ chung sống hòa bình” với Trung Cộng là một “hành động chiến lược” khôn ngoan.

Nhưng cũng thật đáng tiếc là ông Dũng đã không có nghị lực (đúng ra là Bộ Chính trị và những cơ quan viết diễn văn này) nói lên sự hãnh diện chống ngọai xâm thành công của bao nhiều đời Tổ tiên người Việt và quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của người dân Việt Nam dù phải hy sinh đến tính mạng như đã chứng minh trong lịch sử hào hùng của dân tộc.

Đó là điều đáng trách, nếu không muốn nói là đáng lên án đối với một Thủ tướng chính phủ, vì ông Dũng đã đại diện cho một dân tộc và một Chính phủ tại diễn đàn Shangri – La lần thứ 12 ở Tân Gia Ba chứ không phải cho cá nhân ông.

Bởi lẽ, ngay sau khi nhận chức Tổng Bí thư đảng tháng 11/2012 và Chủ tịch Nhà nước tháng 3/2013, ông Tập Cận Bình đã chấp thuận chính sách “bảo vệ an ninh và chủ quyền biển” của Trung Cộng ở Biển Đông.

Họ Tập cũng đồng ý kế họach tập trận và tấn công ở Biển Đông của Hải quân, Không quân và Thủy quân lục chiến như đã diễn ra ở vùng Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Ngoài ra, Trung Quốc vẫn ngang nhiên ra lệnh cấm đánh cá hàng năm từ tháng 5 đến cuối tháng 8 năm 2013, nhưng thật sự là để dủng lực lượng Hải quân để hộ tống hàng trăm tầu đánh cá tối tân của Trung Quốc đến đánh bắt tự do ở Biển Đông.

Trong bài diễn văn ở Tân Gia Ba, người ta cũng không thấy ông Dũng lên án Trung Hoa đã thành lập bất hợp pháp Thành phố Tam Sa và thiết lập guồng máy chính quyền dân sự và quân sự trong khu vực bao gồm cả hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam và vùng tranh chấp với Phi Luật Tân ở khu vực Bãi Cỏ Rong mà người Phi gọi là “biển Tây Phi Luật Tân”.

Những việc này hòan tòan trái với cam kết của Trung Cộng muốn sống hòa bình với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bắc Kinh cũng cam kết không theo đuổi chính sách “bá quyền” như Thủ tướng Lý Khắc Cường đã tuyến bố sau khi được bầu vào chức vụ này ngày 17/3/2013.

Ông nói rằng Trung Cộng cam đoan giữ vững hòa bình và sự ổn định tại Á Châu và Thái Bình Dương và tòan Thế giới, cam kết có quan hệ vững chãi thêm với các cường quốc, kể cả Mỹ và Nga Sô.

(Premier Li Keqiang said Sunday that China is committed to maintaining peace and stability in the Asian-Pacific region and the whole world, pledging stronger ties with major powers, including the U.S. and Russia.-Xinhua New Agency)

Ông nói thêm: “Trung Quốc có khả năng đạt được mức phát triển kinh tế , và một nước Trung Quốc hùng mạnh sẽ không theo đưổi bá quyền.” (China is capable of achieving sustainable economic development and a stronger China will not seek hegemony- theo Tân Hoa Xã (Xinhua News Agency-)

Nhưng trong thực tế đã cho thầy an ninh cùa các nước ven biển bị Trung Cộng tranh chấp chủ quyền đang bị Bắc Kinh đe dọa và Việt Nam là nạn nhận trực tiếp và sẽ phải chịu thiệt thòi nhiều nhất nếu xẩy ra chiến tranh trên biển với Trung Cộng.

Một thực tế phũ phàng khác là trong khi Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng cổ võ “xây dựng lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng của Châu Á - Thái Bình Dương” thì Công an và lực lượng dân sự trá hình đã thẳng tay đàn áp những người dân biểu tình chống Trung Quốc có mưu toan xâm chiếm biển đảo của Việt Nam.

Như vậy thì làm sao mà người dân có thể tin Đảng và Nhà nước có thật lòng muốn bảo vệ chủ quyền và sự tòan vẹn lãnh thổ ?

Hay là ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ biết dùng “chữ” để chống lại “súng đạn” của Trung Cộng trong cuộc chiến này ?

Phạm Trần
(06/013)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Giáo sư G.Chang vẫn khẳng định: Trung Quốc sẽ sụp đổ
VOA (Vietnamese)
Gordon Chang là một giáo sư, một học giả Hoa Kỳ gốc Trung Quốc, từng viết nhiều sách và bài báo về tình hình chính trị-kinh tế-tài chính của Trung Quốc. Ông cũng là nhà bình luận có tiếng của tạp chí Forbes , một tạp chí lớn về kinh tế - tài chính, ra đời từ năm 1917, mỗi tuần ra 2 số, có trụ sở ở New York.

Năm 2001, ngay khi Trung Quốc vừa được gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế WTO, Gs Gordon Chang cho ra mắt cuốn sách The coming collapse of China (Sự sụp đổ sắp đến của Trung Quốc).

Cuốn sách trình bày một loạt «quả bom nổ chậm» của Trung Quốc, đó là dân số quá lớn, lại đang phát triển nhanh; mâu thuẫn giữa thành thị phát triển nhanh với nông thôn quá trì trệ; vùng duyên hải phát triển quá mạnh với vùng nội địa phát triển chậm; mâu thuẫn giữa các dân tộc, đặc biệt là dân Tây Tạng, Uighur với dân tộc đại Hán; mâu thuẫn thế hệ giữa tuổi trẻ am hiểu thế giới xung quanh qua máy điện toán, Twitter, Facebook, điện thoại cầm tay với lãnh đạo bảo thủ lạc hậu; mâu thuẫn giữa khối người theo Pháp Luân Công với chế độ cảnh sát trị…

Những quả bom nổ chậm ấy đang ngấm ngầm phá vỡ cái vỏ ổn định bên ngoài của chế độ, và đến độ nào đó sẽ phát huy tác dụng tổng hợp, thúc đẩy nhau đưa chế độ độc đảng đến tình trạng bùng nổ vỡ tung như ở Liên Xô năm 1991.

Trong kết luận của cuốn sách nói trên, Gs Chang phỏng đoán rằng chỉ trong chừng 10 năm nữa, Trung Quốc sẽ tan vỡ, sụp đổ, nghĩa là vào khoảng 2011-2012.

Gần đây, một số bạn đọc của tạp chí Forbes, và trên mạng Forbes.com, hỏi rằng đến thời điểm này, Gs Chang có còn giữ chính kiến trên đây nữa không?

Bài báo mới vào tháng 2-2012 của Gs Chang trên tạp chí Forbes là để trả lời câu hỏi đó. Bài báo kết luận một cách chắc nịch: «Tôi không thấy có lý do nào để từ bỏ kết luận 10 năm trước. Thực tế càng khẳng định kết luận ấy».
Image
Giáo Sư Gordon Chang, tác giả quyển "The Coming Collapse of China"
Ông giải thích thêm về lập luận của ông như sau:
- Thời kỳ vàng son cho sự phát triển do Đặng Tiểu Bình phát động cuối những năm 1980 đã qua; mỗi chu kỳ phát triển thường không thể quá 30 năm; đà phát triển đã cạn, lợi thế của sự chấm dứt chiến tranh lạnh cũng cạn theo; quả ngọt của dân số tăng làm tăng sức lao động đã thành quả đắng về dân số.
- Mới đây Bắc Kinh quyết định không cho công ty nước ngoài mua lại các công ty nội địa và chủ trương tái quốc hữu hoá một số công ty đã cổ phần hóa là những bước lùi về đường lối.
- Từ năm 2008, thị trường quốc tế đổ vỡ, nhu cầu quốc tế sụt giảm mạnh, Trung Quốc bị thiệt rất lớn khi đồng Euro bị khủng hoảng.
- Nhu cầu tăng lương cho người lao động toàn xã hội không thể trì hoãn, chi phí quốc phòng tăng quá lớn, chi phí y tế, giáo dục không tăng- trên thực tế là giảm tính theo đầu người - sẽ dẫn đến nhiều khó khăn gay gắt, thảm họa xã hội chồng chất.
- Dự trữ ngoại tệ tuy rất lớn nhưng đã giảm nhanh, do lạm phát cao, lại do tiền chạy ra nước ngoài theo khối lượng lớn, đặc biệt là từ tháng 9-2011.
- khủng hoảng kinh tế ngày càng đậm nét, đơn đặt hàng công nghiệp giảm mạnh, ô tô không còn bán chạy, bong bóng tài sản và nhà cửa phình to có nguy cơ nổ bất cứ lúc nào.
- Năm 2010 đã có 150.000 cuộc đấu tranh, biểu tình, bạo loạn, đánh bom, tự thiêu … nói lên sự bất mãn của quần chúng; năm 2011 lên đến 280.000 cuộc; kỷ lục này sẽ bị vượt trong năm 2012. Đúng vậy, sang năm 2012, số thanh niên, nhà tu hành, nhà sư tự thiêu tăng nhanh; các vụ nổi loạn, đập phá cơ quan chính quyền, công an ở Tây Tạng, Uighur liên tiếp nổ ra, người theo Pháp Luân Công ngày càng gan góc, những bloggers trí thức trẻ tuổi ngảy càng đông thêm và bất khuất…
Đúng vào khi Gs Gordon Chang dự đoán sự sụp đổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không còn xa, đảng CS bãi chức ông Bạc Hy Lai, ủy viên Bộ Chính trị đang lên, đưa ông ra khỏi chức vụ bí thư thành uỷ Trùng Khánh, sau vụ ông Vương Lập Quân, phó thị trưởng đặc trách ngành công an, xin tỵ nạn chính trị tại lãnh sự quán Hoa Kỳ tại đây nhưng bị từ chối.
Ông Tập Cận Bình, người sẽ thay ông Hồ Cẩm Đào trên cương vị tổng bí thư kiêm chủ tịch nước tại Đại hội Đảng lần thứ 18 vào cuối năm nay, cũng vừa đưa ra nhận định rất bi quan: «Trung Quốc đang là nơi tập trung mọi thứ thối nát», trong khi đương kim Thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng nhận định là cần phải thay đổi nhiều về kinh té - tài chính và chính trị để tồn tại, nhưng thay đổi ra sao, thay đổi đến đâu thì không ai dám nói rõ. Vì không thay thì bế tắc, thế cùng tất biến, mà thay cả hệ thống thì cũng là biến, là bế tắc và đổ vỡ cho chế độ độc đảng.

Gs Chang là nhà trí thức am hiểu thời cuộc, một nhà bình luận có uy tín của tạp chí Forbes, không phải là nhà xem bói, đoán mò, bấm độn. Ông đoan chắc chế độ cộng sản ở Trung Quốc đang đi dần đến bờ vực. Ông khẳng định rằng « trước những diễn biến hiện tại của tình hình, ông không có lý do nào để từ bỏ dự đoán về sự sụp đổ không xa của Trung Hoa Cộng sản ». Cuốn sách The coming collapse of China (Sự sụp đổ sắp đến của Trung Quốc) vẫn còn nguyên giá trị.
Chúng ta hãy theo dõi tình hình và chờ xem.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Khi Đồng Chí X Gởi Gấm Lòng Tin Vào Kẻ Lạ Ở Đâu Đó!

Tác giả : Âu Dương Thệ
Khi được hỏi “Tại sao các chiến hạm Trung Quốc lại tuần tra ở biển Đông Trung Hoa và Nam Trung Hoa [tức biển Đông]?”, người cầm đầu phái đoàn Trung quốc, Phó Tổng tham mưu Quân đội Trung quốc, Trung tướng Thích Kiến Quốc –từng tham chiến trong chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 - đã trả lời rõ ràng trước khoảng 400 chính khách, nhiều bộ trưởng quốc phòng, ngoại giao, sĩ quan cao cấp và chuyên viên chiến lược hàng đầu của nhiều nước và nhiều kí giả của các hãng thông tấn quốc tế có mặt trong “Đối thoại Shangri-La 2013” (từ 31.5 tới 2.6 ở Singapore):

"Lập trường của chúng tôi đối với các biển Đông Trung Hoa và Nam Trung Hoa là chúng thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Đó là lập trường rất rõ ràng."

“Do đó các tàu chiến Trung Quốc và các hoạt động tuần tra của chúng tôi là hoàn toàn hợp pháp và không có gì phải tranh cãi.” (1)

Đây chính là ngôn ngữ ngoại giao, nhưng là ngôn ngữ ngoại giao của kẻ mạnh bất chấp dư luận thế giới và công pháp quốc tế về biển. Trước diễn đàn quốc tế quan trọng này đại diện của Bắc kinh đã tận dụng khai thác dư luận thế giới, ngang ngược coi biển Đông như cái ao của Trung quốc và coi việc chiếm đóng quần đảo Hoàng sa của VN bằng võ lực là chuyện đã xong.

Trong khi đó Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng của chế độ độc tài toàn trị ở VN đã nói gì và trong phần giải đáp các câu hỏi đã trả lời như thế nào?

Nhiều tuần trước ông Dũng đã thông báo rất trịnh trọng cho dư luận VN và quốc tế biết, tại “Đối thoại Shangri-La 2013” ở Singapore vào 31.5 ông sẽ có bài phát biểu quan trọng về vấn đề tranh chấp biển Đông. Ông hi vọng qua đó sẽ đánh bóng được bộ mặt và vị thế của mình không được tốt trong cuộc “lấy phiếu tín nhiệm” tại kì họp hiện nay của Quốc hội. Vì thời gian qua ông đã bị chính các đồng liêu trong Bộ chính trị chế diễu đặt tên là “Đồng chí X”!

Trong diễn văn mở đầu cuộc Đối thoại này ông Dũng đã nêu tiền đề chính là phải giữ “lòng tin cậy lẫn nhau” giữa các nước trong khu vực với Trung quốc. Nhưng chính ông cũng nhìn nhận rằng: “Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền.” (2) Rõ ràng ở đây ông đã ám chỉ tới nhà cầm quyền Bắc kinh đã có những hoạt động quân sự trong thời gian qua để nhằm thực hiện sách lược xâm lấn các hải đảo của VN và một số nước Đông Á và Đông nam Á, nhưng ông đã không dám nêu đích danh và để hiểu như là “kẻ lạ”! (3)

Nhưng tại sao trước một cử tọa đông, kiến thức cao đại diện của nhiều nước và tổ chức quốc tế Nguyễn Tấn Dũng đã không dùng ngôn ngữ ngoại giao bình thường nhưng rõ ràng để chỉ đúng người đúng việc, mà lại chỉ nói là “đâu đó” chứ không dám nói thẳng đó nhà cầm quyền Bắc kinh? Ông cũng không dám dẫn chứng cụ thể một số đòi hỏi phi lí và hành động trái với luật pháp quốc tế của Bắc kinh đối với VN trên biển Đông? Điều này hoàn toàn trái ngược với thái độ xác nhận công khai trắng trợn của Trưởng phái đoàn Trung quốc, tướng Thích Kiến Quốc, như trình bầy ở trên cũng trong cuộc Hội thảo này. Thái độ tránh né trong diễn văn của Nguyễn Tấn Dũng không dám nói thẳng những hành động của Bắc kinh là vi phạm chủ quyền của VN và vi phạm luật biển quốc tế đã làm cho nhiều giới quan sát phải ngạc nhiên.

Câu hỏi trọng tâm khác liên quan tới mục tiêu chiến lược bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tài nguyên và sinh mệnh của hàng ngàn ngư dân VN trong diễn văn ngày 31.5 của Nguyễn Tấn Dũng. Trong diễn văn trên 3700 chữ ông Dũng đã lập đi lập lại tất cả 17 lần cụm từ “chiến lược xây dựng niềm tin” để kêu gọi Trung quốc và Hoa kì trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông. Ở đây người ta thừa hiểu Washington không phải là đối thủ mà có thể trở thành đồng minh. Nhưng có thể “xây dựng niềm tin”, chờ đợi lòng tốt của Bắc kinh được không? Nếu có tầm nhìn và ý thức trách nhiệm thực sự thì với tư cách Thủ tướng, tại sao Nguyễn Tấn Dũng lại có thể đặt niềm tin với phía đang ngang ngược từng bước thôn tính hải đảo, xâm phạm tài nguyên và thậm chí thường xuyên xua đuổi và bắn giết ngư dân của mình? Một sách lược đối ngoại xây dựng trên cơ sở như vậy có phải là hão huyền không tưởng hay không?

Chỉ một ngày sau diễn văn “chiến lược xây dựng niềm tin” của Nguyễn Tấn Dũng, chính Trưởng phái đoàn Trung quốc, tướng Thích Kiến Quốc đã trả lời rất rõ ràng trước cuộc Hội thảo Quốc tế này là, như đã trình bày ở trên, những điều ông Dũng nói ra chỉ là mơ tưởng:

"Lập trường của chúng tôi đối với các biển Đông Trung Hoa và Nam Trung Hoa là chúng thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Đó là lập trường rất rõ ràng."

“Do đó các tàu chiến Trung Quốc và các hoạt động tuần tra của chúng tôi là hoàn toàn hợp pháp và không có gì phải tranh cãi.” (4)

Điều đáng lưu ý là chính tướng Thích Kiến Quốc đã vừa hội đàm với tướng Nguyễn Chí Vịnh trong cuộc “Đối thoại an ninh-quốc phòng Trung-Việt” vừa tổ chức ở Bắc kinh ngày 5.6. Trong đó ông Vịnh đã lập lại chủ trương xây dựng “lòng tin chiến lược” trong quân đội giữa hai nước, điều mà tướng Quốc đã bỏ ngoài tai!(5)

Sau phần thuyết trình một số chuyên viên đã đặt câu hỏi với Nguyễn Tấn Dũng. Ông Christian Le Miere, học giả cao cấp về hải quân và an ninh hàng hải thuộc Viện nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (IISS) của Anh đã hỏi, trong diễn văn ông Dũng đã nói tới tình hình căng thẳng ở biển Đông, vậy Việt Nam có “đồng ý với việc Philippines kiện Trung quốc ra Tòa án quốc tế về Luật biển?” Nguyễn Tấn Dũng viện cớ “để tiết kiệm thời gian của quý vị và các bạn, tôi xin không nhắc lại.” (6) và yêu cầu đọc lại Tuyên bố của bộ Ngoại giao VN ngày 26.4.13 về việc này. Mặc dù mọi người biết Tuyên bố này tránh né việc trả lời có đồng ý với việc làm của Phi luật tân hay không.

Khi nữ Thiếu tướng Yao Yun Zhu, Giám đốc Trung tâm Quan hệ Quốc phòng Trung-Mỹ, Học viện Kỹ thuật Quân sự Trung quốc hỏi: “Trong bài phát biểu, Thủ tướng đã đề cập đến các thách thức an ninh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có thách thức có thể làm gián đoạn tự do hàng hải, hoạt động thương mại quốc tế. Ngài cũng đề cập một vài cường quốc vi phạm luật pháp quốc tế, xin Ngài đưa ra các ví dụ về cường quốc nào vi phạm luật pháp quốc tế và vi phạm luật nào, qua đó làm gián đoạn tự do hàng hải?” Nhưng ông Dũng trong tư cách là Thủ tướng VN, cũng đã ấp úng không dám trả lời trực tiếp, nhưng đã nói vòng vo:

"Hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển, thịnh vượng cũng như an ninh, an toàn, tự do hàng hải là lợi ích, là mong muốn, là mục tiêu chung của khu vực và thế giới. Những nhân tố đe dọa tới hòa bình, ổn định và an ninh, an toàn, tự do hàng hải tôi đã đề cập trong bài phát biểu của mình. Và những diễn biến gần đây trên thực tế, thì mọi người chúng ta có mặt tại đây đều đã biết.”

Rồi ông kết luận với câu “Tôi xin không nhắc lại!” (7)

Tiếp đó khi ông Lee Chung Min- Đại học Yonsei - Hàn Quốc hỏi: "Trong bài phát biểu, Thủ tướng đã nhiều lần đề cập vấn đề xây dựng lòng tin chiến lược. Vậy Ngài có thể cho biết đánh giá của Việt Nam về lòng tin đối với Hoa Kỳ và Trung Quốc hiện nay?" Nguyễn Tấn Dũng cũng nhắc lại câu “Tôi không nhắc lại” và nói:

"Về vấn đề lòng tin đối với Hoa kỳ và Trung quốc, tôi đã đề cập trong bài phát biểu của mình. Tôi không nhắc lại, chỉ xin nhấn mạnh là: Hoa kỳ và Trung quốc là hai cường quốc có vai trò và trách nhiệm lớn nhất đối với tương lai quan hệ của chính mình cũng như đối với hòa bình, hợp tác, phát triển, thịnh vượng chung của khu vực và thế giới.“ (8)

Đúng ra trong tư cách là Thủ tướng thì ông Dũng phải thấy, đây là dịp thuận lợi để dư luận thế giới hiểu rõ lập trường của VN đối với tranh chấp ở biển Đông đang rất gay gắt. Ông Dũng vẫn có thể dùng ngôn ngữ ngoại giao để nói cho thế giới biết rõ, nhà cầm quyền Bắc kinh đã vi phạm như thế nào tới chủ quyền lãnh thổ, tài nguyên của VN và sinh mạng của ngư dân VN trong các năm gần đây. Thái độ như thế vẫn diễn ra công khai giữa các nước độc lập và có chủ quyền trong các vấn đề tranh cãi giữa hai bên. Trái lại ông Dũng đã tìm cách tránh né đến ba lần không dám nêu đích danh nhà cầm quyền Bắc kinh, mà lại rất ấp úng ngại ngùng chỉ nói “Tôi xin không nhắc lại.” để không dám nêu đích danh “kẻ lạ”, một ngôn ngữ trở thành rất thông dụng trong báo chí “lề Đảng” hiện nay khi nói tới những hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh trên biển Đông.

Khi ngồi đối diện với những người cầm đầu Bắc kinh thì ông Dũng vẫn hết lời ca tụng người bạn láng giềng “bốn tốt” và “16 chữ vàng”. Tại cuộc Đối thoại quốc tế ông Dũng lại gọi họ là “Đâu đó” và khi người ta chất vấn “Đâu đó” là ai và đang làm gì nguy hiểm cho VN, ông Dũng lại rất lúng túng chỉ nhắc lại tới ba lần “Tôi xin không nhắc lại”! Thực ra thái độ và cách nói thay đổi của Nguyễn Tấn Dũng cũng là một cử chỉ và một loại ngôn ngữ ngoại giao. Nhưng không phải là thái độ và ngôn ngữ ngoại giao của một nước có chủ quyền và của một chính khách đảm lược, mà đúng là thái độ và ngôn ngữ ngoại giao quỵ lụy của một người chỉ biết cúi đầu tùng phục, sợ hãi là ông chủ có thể đuổi đi bất kì lúc nào!

Chính sách đối ngoại của một chế độ chỉ là sự kéo dài của chính sách đối nội của chế độ đó, trong đó khả năng kinh tế và sự hậu thuẫn của nhân dân là căn bản. Nếu kinh tế phát triển mạnh và được sự ủng hộ của gần 90 triệu nhân dân, đi đầu là các giới trí thức, chuyên viên và thanh niên thì đây chính là nền tảng cho một chính sách đối ngoại công khai rõ ràng làm cho bạn bè quốc tế kính nể và đối thủ phải thận trọng. Đây mới chính là “lòng tin chiến lược” dựa trên các thực lực. Nhưng nếu đàn áp trí thức, chuyên viên, thanh niên và coi thường các nguyện vọng chính đáng của nhân dân thì chính quyền bị cô lập ở trong nước, không được nhân dân ủng hộ, khi đó phải đi nhờ vả bên ngoài và bị khinh thường!

Đây là trường hợp của chế độ độc tài toàn trị hiện nay ở VN. Trong khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vênh váo cao ngạo kết án các góp ý chân thành của nhiều giới về Dự thảo Hiến pháp 1992 là “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” và ra lệnh cho cấp dưới phải ra tay “xử lí” (9) bằng cách cho báo đài xuyên tạc và chụp mũ, biến Quốc hội tiếp tục đóng trò gật. Trong khi ấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại phóng tay để bộ máy công an mật vụ cấm thanh niên biểu tình chống Trung quốc xâm lấn, bỏ tù nhiều nhà báo tên tuổi và để tòa án kết án nặng nề các thanh niên can đảm yêu nước. Không những thế, vì lợi ích nhóm dựa trên quyền-tiền cho nên họ còn đang chống phá lẫn nhau rất tàn bạo và ti tiện suốt mấy năm qua, tạo ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong giới cầm đầu chế độ toàn trị.

Trong khi ấy các sinh hoạt kinh tế đang bị tê liệt, các tập đoàn và tổng công ti Nhà nước đang bị phá sản, hàng trăm ngàn xí nghiệp tư nhân phải đóng cửa, nợ công ngày càng cao…Hiện nay nhập siêu từ Trung quốc đã lên tới khoảng 16 tỉ USD/năm. Trung quốc không chỉ đứng đầu trong giao thương với VN mà còn nắm nhiều công trình kinh tế quan trọng ngay tại VN. Vì thế sự lệ thuộc kinh tế và chính trị vào Bắc kinh của chế độ toàn trị đã tới mức cực kì nguy hiểm, khiến nhiều chuyên viên và cán bộ cao cấp cũng phải báo động. Cho nên thái độ cúi đầu trước Bắc kinh từ Nguyễn Phú Trọng tới Nguyễn Tấn Dũng trong nhiều dịp là một điều tất yếu.

Tóm lại, dùng “Chiến lược xây dựng niềm tin” bằng cách gởi trọn niềm tin vào đế quốc Bắc kinh của Nguyễn Tấn Dũng trong vấn đề tranh chấp biển Đông rõ ràng là cách “trao trứng cho ác”. Một chế độ mà những người cầm đầu chỉ biết thờ quyền-tiền, đàn áp dân, khinh rẻ trí thức thì tất yếu phải cầu mong sự che chở của bên ngoài, đứng đầu là tân đế quốc phương Bắc cực kì nguy hiểm đang âm mưu thực hiện “Giấc mơ Trung quốc” (10) là mục tiêu chiến lược hàng đầu của tân Tổng bí thư Tập Cận Bình, tức là tìm cách phục dậy thời kì Trung quốc coi các nước chung quanh chỉ là chư hầu. Tinh thần và thái độ quỵ lụy này đã toát ra cả trong diễn văn và cả trong cách trả lời của Nguyễn Tấn Dũng tại “Đối thoại Shangri-La 2013”! Nhưng “Giấc mơ Trung quốc” của Tập Cận Bình và “Chiến lược xây dựng niềm tin” của Nguyễn Tấn Dũng khác nhau như mặt trăng với mặt trời, tuy biết vậy nhưng ông Dũng vẫn gởi trọn niềm tin vào “kẻ lạ” ở “đâu đó” !

7.6.13

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Cần chuyên nghiệp hóa Quốc Hội Việt Nam
Trần Vinh Dự
(Nguồn: VOA)

Tại phiên họp thứ 18 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội (UBTVQH) vừa qua, thực trạng yếu kém của nền kinh tế hiện nay lại được các thành viên đem ra mổ xẻ. Tại phiên họp này, không khí cấp bách của thời cuộc có thể được cảm nhận rõ qua các phát biểu quan trọng.

“Tình hình như thế này là nguy lắm rồi” là nhận định của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan. “Tình hình này có thể nói kinh tế đang hết sức khó khăn, khó khăn hơn rất nhiều so với nhận định của Chính phủ và Quốc Hội tại Kỳ họp thứ 4” là nhận định của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân.

“Năm 2012 đã tưởng là đáy của khó khăn, nhưng năm 2013 lại nhận định là còn khó khăn hơn năm 2012” là nhận định của Chủ nhiệm Ủy Ban Pháp Luật Phan Trung Lý.

“Bức tranh vô cùng ảm đạm. Chỉ cần nhìn số lượng hàng chục nghìn doanh nghiệp phá sản và 65% số còn lại báo lỗ thì biết khả năng phục hồi kinh tế khó khăn đến mức nào” là nhận định của Phó trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương Nguyễn Xuân Cường.

“Tình hình doanh nghiệp bi đát, tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn, tỉ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%” và “lạm phát quá tốt chính do điều hành dở” là nhận định của Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng.

Tính cấp bách của thời cuộc đã được các đại biểu cảm nhận rất rõ. Tuy nhiên, kết thúc phiên họp thứ 18, UBTVQH không đưa ra được bất cứ giải pháp nào. Các ý kiến chỉ dừng lại ở mức “nên chăng.”

Quốc Hội và nền kinh tế

Quốc Hội có 3 chức năng chính: chức năng lập pháp, chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, và chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Liên quan đến nền kinh tế, Quốc Hội thực hiện chức năng lập pháp bằng cách soạn thảo, sửa đổi và thông qua Hiến Pháp, luật, và các nghị quyết. Với chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc Hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước, phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách Nhà nước, và quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế. Với chức năng giám sát, Quốc Hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc thực hiện các nghị quyết về phát triển kinh tế-xã hội của Chính phủ.

Với chức năng quyết định các vấn đề kinh tế-xã hội, Quốc Hội thực hiện việc này bằng nhiều cách, trong đó quan trọng nhất là hàng năm Quốc Hội thống nhất các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và giao các chỉ tiêu này cho Chính phủ thực hiện. Các chỉ tiêu này được xây dựng ít nhiều dựa trên các báo cáo của Chính phủ. Các chỉ tiêu này thường cũng không mang tính bắt buộc và chỉ có giá trị tham chiếu. Chính phủ không được “thưởng” khi thực hiện tốt các chỉ tiêu này và cũng không bị “phạt” nếu không đạt.

Các chỉ tiêu mà Quốc Hội đề ra cho Chính phủ thực hiện nhiều khi cũng không đi sát với thực tế. Thí dụ trong 3 năm trở lại đây, các chỉ tiêu bản lề của Quốc Hội đề ra như tăng trưởng GDP hàng năm, tốc độ tăng giá tiêu dùng, nhập siêu tính bằng % của xuất khẩu, tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu, và tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đều bị trệch khá xa so với thực tế đạt được.

Có những thời điểm, các chỉ số đề ra ở “trên trời” so với thực tế. Thí dụ tăng GDP theo chỉ tiêu của năm 2011 là từ 7% đến 7.5% nhưng thực tế đạt được chỉ có 5.89%. Chỉ tiêu lạm phát của năm này là 7% nhưng thực tế lên tới 18.58%. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội được đặt chỉ tiêu là 40% nhưng thực tế chỉ có 34.6%.

Cũng có những thời điểm và hạng mục, chỉ tiêu của Quốc Hội lại quá khiêm tốn. Thí dụ tăng trưởng xuất khẩu theo chỉ tiêu của năm 2010 và 2011 là 6% và 10% trong khi thực tế đạt được là 25.5% và 33%. Tương tự, nhập siêu theo chỉ tiêu đề ra cho năm 2011 và 2012 là 18% và 11%-12% nhưng thực tế đạt được lại tốt hơn rất nhiều (chỉ có 9.9% năm 2011 và thậm chí không có thâm hụt trong năm 2012).

Việc các chỉ tiêu mà Quốc Hội đề ra vênh quá lớn so với thực tế đạt được có thể đổ lỗi cho Chính phủ. Thí dụ, chỉ tiêu tăng CPI của Quốc Hội năm 2012 là 10% trong khi thực tế tăng CPI của năm 2012 là 6.81%. Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng lạm phát khoảng 7-8% là được, còn 6.81% cũng là tốt, nhưng là “tốt quá” nên ảnh hưởng đến tăng trưởng. Theo ông, Chính phủ “điều hành như vậy là dở, nếu CPI trên 7% thì bây giờ tăng trưởng không thấp thế, cái này là do điều hành.”

Thế nhưng nhìn đi thì cũng phải nhìn lại, khi phần lớn các chỉ số kinh tế bản lề mà Quốc Hội đề ra bị lệch so với thực tế, và lệch liên tục trong nhiều năm, thì nó cũng phản ánh việc Quốc Hội có thực sự hiểu nền kinh tế của đất nước hay không. Thí dụ, chỉ tiêu tăng GDP của Quốc Hội trong hai năm 2011 và 2012 đều ở “trên trời.”

Chỉ tiêu lạm phát cho hai năm 2010 và 2011 cũng lãng mạn hơn nhiều so với thực tế đạt được.

Khó có thể phân định rạch ròi lý do dẫn đến việc chỉ tiêu và thực tế đạt được vênh nhau một cách dữ dội là do lỗi điều hành của Chính phủ hay do Quốc Hội không thực sự bám sát thực trạng kinh tế đất nước. Nếu thực sự Quốc Hội không hiểu biết đủ sâu sắc về thực trạng kinh tế đất nước, thì Quốc Hội khó có thể thực hiện tốt chức năng giám sát của mình.

Gần đây chức năng giám sát của Quốc Hội được đẩy mạnh với việc tổ chức các phiên chất vấn công khai và sắp tới là bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc Hội bầu ra hoặc phê chuẩn. Công bằng mà nói, việc chất vấn và trả lời chất vấn đang ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên, dù nhiều quan sát viên cho rằng các chất vấn “ngô nghê, dài dòng, mớm bóng” hay những câu chất vấn thì ít mà xin xỏ thì nhiều” của các đại biểu Quốc Hội đã ít đi đáng kể, không phải đại biểu nào cũng thực sự có hiểu biết sâu sắc về nền kinh tế.

Ðối với chức năng lập pháp cũng vậy. Dù Hiến Pháp đã quy định Quốc Hội có nhiệm vụ làm luật, nhưng việc soạn thảo các dự luật đều do các cơ quan khác, chủ yếu trong ngành hành pháp, thực hiện. Dù sau đó đại biểu Quốc Hội có đóng góp, sửa đổi và biểu quyết các dự luật, trong đa số các trường hợp, luật được áp dụng vẫn giữ phần lớn tinh thần cơ bản của dự thảo ban đầu. Do đó, cho đến nay nhiệm vụ thực tế của các nhà lập pháp Việt Nam chủ yếu vẫn là thông qua các dự luật do người khác soạn thảo thay vì chính họ phải làm ra. Việc này dẫn đến thực trạng là các cơ quan hành pháp được giao nhiệm vụ soạn thảo dự thảo luật trở thành những người “vừa đá bóng vừa thổi còi” - dù muốn hay không.

Nên chuyên nghiệp hóa Quốc Hội

Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của đất nước, Quốc Hội hiển nhiên là bộ máy tập trung sức mạnh trí tuệ và ý chí chính trị của toàn dân. Vì thế, việc Quốc Hội chưa thể hiện hết được tầm vóc trong việc thực hiện các chức năng hiến định của mình rõ ràng là việc không thể chấp nhận được, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn có những bước ngoặt lịch sử.

Và điều này có những lý do riêng. Trong số nhiều lý do, có hai lý do rất quan trọng. Thứ nhất là tỷ lệ các đại biểu kiêm nhiệm vẫn còn quá lớn. Các đại biểu kiêm nhiệm không thể thực hiện tốt chức năng của đại biểu Quốc Hội trong khi vẫn là các quan chức cao cấp trong bộ máy hành pháp và phải dành chủ yếu thời gian của mình cho công tác điều hành hàng ngày.

Lý do thứ hai quan trọng không kém là cho dù các đại biểu Quốc Hội không phải là đại biểu kiêm nhiệm thì họ cũng không có nguồn lực để thực hiện vai trò đại biểu Quốc Hội. Theo thông tin chính thức từ website của Trung tâm Bồi dưỡng Ðại biểu Dân cử, thuộc Ban Công Tác Ðại Biểu của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, hiện nay các đại biểu chỉ được hưởng một số chế độ đãi ngộ cơ bản như lương, phụ cấp. Ngoài ra, ngay cả thư ký giúp việc cho đại biểu cũng không có. Trang web này viết rõ rằng “phấn đấu trong tương lai mỗi đại biểu đều có một thư ký giúp việc riêng.”

Không có đội ngũ cố vấn, chuyên gia, chuyên viên phân tích, nhân viên văn phòng để giúp đại biểu Quốc Hội thực hiện nhiệm vụ của mình, các đại biểu dù giỏi đến đâu cũng không thể thực hiện tốt chức năng đại biểu. Chưa nói đến những việc phức tạp như soạn thảo các dự luật - điều mà lẽ ra thuộc về chức năng của các đại biểu Quốc Hội, mà chỉ đơn giản là việc nắm tình hình thực tế, nghiên cứu và tiêu hóa hết các thông tin về tình hình kinh tế xã hội để có những hiểu biết căn bản khi đi họp Quốc Hội cũng là việc mà các đại biểu Quốc Hội không thể làm được một mình.

Thế nên không lạ, và cũng không thể trách được, là các đại biểu Quốc Hội Việt Nam không làm luật mà chỉ thông qua luật do các cơ quan của Chính phủ soạn thảo. Cũng không lạ và không thể trách được là Quốc Hội vẫn đặt ra các chỉ tiêu kinh tế-xã hội nhiều khi xa rời thực tế, và công tác giám sát - chất vấn nhiều khi vẫn lộ rõ vẻ “ngô nghê” - theo cách nói của một số nhà quan sát.

Ðáng lẽ ra, các đại biểu phải có một ngân sách hoạt động đủ lớn để có một văn phòng riêng của mình, có thể thuê một đội ngũ chuyên gia, chuyên viên, và nhân viên hỗ trợ. Bộ máy này phải đủ hiệu quả để hỗ trợ đắc lực cho các đại biểu trong việc chủ động soạn thảo và đề xuất các luật mới hoặc sửa đổi các luật cũ, phải biến các đại biểu trở thành các nhà chính trị uyên bác và hiểu biết sâu sắc và sâu rộng về thực tế đất nước. Nó cũng phải biến các đại biểu trở thành những nhà phê bình sắc sảo, với các phân tích sắc bén để có thể thực hiện được chức năng giám sát.

Nói cách khác, bộ máy của Quốc Hội cần phải được chuyên nghiệp hóa. Bên cạnh việc giảm dần tỷ lệ đại biểu kiêm nhiệm, việc chuyên nghiệp hóa hóa này còn bắt đầu từ hai việc rất cụ thể. Thứ nhất là tăng ngân sách hoạt động cho các đại biểu một cách thực sự có ý nghĩa để mỗi đại biểu có thể có được một bộ máy giúp việc riêng cho mình thực sự mạnh. Thứ hai, tăng trách nhiệm báo cáo trước dân của các đại biểu để họ có trách nhiệm sử dụng ngân sách này một cách hiệu quả phục vụ công tác đại biểu Quốc Hội một cách đúng nghĩa.

Post Reply