Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Trọng, Sang Lại Thua Dũng

Tác giả : Vi Anh

Kết quả chánh thức kiểm phiếu của Quốc Hội VNCS, Trương Tấn Sang Chủ tịch Nước được 330 phiếu Tin Nhiệm Cao, 133 phiếu Tín Nhiệm và 28 Tín Nhiệm Thấp; còn Nguyễn tấn Dũng Thủ tướng Chính phủ được 210 phiếu Tin Nhiệm Cao, 160 phiếu Tín Nhiệm và 28 Tín Nhiệm Thấp – thì nói Sang thắng Dũng tỉ số 1-0.

Đúng nhưng chỉ đúng trên phương diện con số toán học. Nhưng không đúng trên phương diện chánh trị tranh chấp nắm quyền hành. Nã phá Luân một vị tướng tài thao lược quân sự lẫn chánh trị của Pháp có nói ai còn ở chiến trường 15 phút chót là người đó thắng. Ba Dũng ít phiếu của Quốc Hội nhưng đâu có bị bãi nhiệm, còn nắm nhà nước, nắm quyền hành, ngân sách trong tay, trong khi Sang chỉ có tiếng mà không có miếng thì phiếu cao làm gì, đâu có đổi ra tiền và quyền được, mà mục tiêu tối hậu và tối thượng là chiếm quyền bính. Thế thì rốt cuộc Dũng vẫn còn làm Thủ Tướng thực sự và thục chất cầm quyền, chớ không phải Sang, vậy Ba Dũng thắng chớ đâu có thua Sang.

Phải nói Ba Dũng xuất thân chỉ là một tay du kích của Rừng U Minh khu Tây Nam bộ, nhưng rất giỏi bon chen trên đường “Bắc tiến” lên làm Thủ Tướng VNCS ở Hà nội - chớ đâu có nhỏ. Y cũng rất giỏi trên đấu trường trong mê cung của CS Hà nội, nơi đồng chí “thịt” nhau không chút thương tiếc trong khi tranh giành quyền lực tức tiền bạc như Mafia tội phạm có tổ chức vậy. Điều này có thể thấy rõ khi phe thủ cựu thân Trung Cộng Trọng Sang dùng cả công cụ cái gọi là “Quốc Hội” đảng cử dân bầu để truy kích, táp pi triệt hạ Ba Dũng lần thứ hai. Nhưng Ba Dũng vẫn thoát nạn, tỉnh bơ trên ghế thủ tướng.

Ba Dũng hai lần thắng Trọng Sang là nhờ có một bửu bối trong tay. Đó là nắm chặt nhà nước, biết sử dụng công cụ này để thắng đảng quyền, và có thể triệt tiêu đảng quyền để trở thành Chủ Tịch Nước, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Quân Uỷ Trung Ương như bên Tàu Cộng nữa không chừng.

Các nhà chiến lược thường nói ai còn ở chiến trường 15 phút chót là người đó thắng. Ba Dũng vẫn còn phây phây ngồi trên ghế thủ tướng, cầm đầu chánh phủ, nắm quyền hạn, ngân sách của nhà nước trong tay sau hai cuộc tấn công của hai đối thủ Trọng Sang. Hai đối thủ này của Ba Dũng dùng đại hội Trung ương 6, hồi tháng 10/2012, để diệt Ba Dũng, đổ tội Ba Dũng để tham nhũng lan tràn và thất bại của các tập đoàn kinh tế quốc doanh như Vinashine chẳng hạn. Nhưng Ba Dũng biết vận dụng đồng tiền của nhà nước, thực hiện câu ai nắm tiền người đó có quyền trong chánh tri. Ba Dũng dùng tiền bạc thao túng các trung ương ủy viên và đại biểu của đại hội khoảng 90% là những người kiêm nhiệm chức vụ hành chánh, kinh tế, văn hoá, xã hội trong chánh phủ trung ương và các uỷ ban nhân dân ở các tỉnh. Thế là Trọng Sang thua đau như thiến, phải “bá cáo” một cách giả đạo đức. Rằng Bộ Chánh Trị đứng lên xin chịu kỷ luật trước đại hội nhưng đại hội không chấp nhận kỷ luật Bộ trong đó có một đồng chí không nêu tên nhưng ai cũng biết đó là Ba Dũng. Thế là Ba Dũng vẫn cón nắm chánh phủ nói riêng và nhà nước nói chung cho tới cuôc truy kích này do Trong Sang dùng cái gọi là Quốc Hội bỏ phiếu tín nhiệm nhà nước hay không.

Khác Ba Dũng vốn là nông dân xuất thân Cà mau, Rạch Giá, Nguyễn phú Trọng Tổng bí Thư Đảng CSVN là CS Bắc Việt mang kiến cận có vẻ trí thức và Trương tấn Sang Chủ Tịch Nước dân xứ khóm Bến Lức vốn là một sinh viên chuyên “xuống đường” ở Saigon bị bể trốn vô bưng theo CS.

Trương tấn Sang mê cái ghế Thủ Tướng muốn chết nên “bẻ chỉa” (tiếng lóng dân Nam có nghĩa là phản bội) đi với CS Bắc Việt dù y là một người có quyền thế trong thành uỷ Saigon nằm trong Phe Đổi Mới của Miền Nam được TT Võ văn Kiệt kéo theo ra Bắc trước Ba Dũng.

Một thời gian sau khi thất bại chua cay trong khi dùng đại hội đảng tấn công Ba Dũng, Trọng Sang dùng cái Nghị Quyết số 35 (Con Dê theo kiểu nói của dân chơi đề Miền Nam) do cái gọi là Quốc hội đảng cứ dân bầu đã thông qua 11/2012 để truy kích Ba Dũng. Nghị quyết số 35 “là bàn tay nối dài” của hai đối thủ của Ba Dũng.

Trận truy kích này Trọng Sang vô tình biến cái công cụ của Đảng CS chuyên hợp thức hoá lịnh của Đảng nên dân chúng VN mỉa mai gọi là “quốc hại”, qua vụ này trở thành trò cười dị hợm trên thế giới.

Quốc Hội VNCS mở một cuộc bầu tin nhiệm nhà nước tư Chủ Tịch Nước,,Thủ Tướng Chánh phủ đến hàng bộ thứ trưởng cả mấy chục ngưới. Tổ chức bầu tín nhiệm mà không có điều trần, chất vấn, luận tội gì cả. Hoàn toàn khác với tinh lý hiến pháp trên thế giới, khi nào thủ tướng hay nhân viên chánh phủ có gì sai trái, vi hiến thì phải ra Quốc Hội để điều trần, dân biểu, nghị sĩ chất vấn và luận tội, với đầy đủ tài liệu của Uỷ Ban đặc biệt trình bày và gởi cho từng vị dân biểu nghị sĩ, đúng thời hạn qui định để nghiên cứu. Và túc số truy tội, bãi miễn hay cảnh cáo của Quốc Hội phải đạt phải cao thường là 2/3 thuận mới có giá trị.

Còn trường hợp tín nhiệm như chuẩn thuận, tấn phong thủ tướng hay bộ trưởng cũng phải qua những bước ấy thì dân biểu nghị sĩ mói làm, cho không phải như Quốc Hội CSVN làm những chuyện lập pháp long trọng như vậy lại thành chuyện ruồi bu, kiến đậu như sau.

Dân biểu chỉ được biểu quyết, tín nhiêm cao, tín nhiệm, và tín nhiệm thấp. Chớ không có chỗ nào để biểu quyết bất tin nhiệm cả. Tín nhiệm cao, tín nhiêm thấp, tín nhiệm vừa đều là tín nhiêm cả. Thế cho nên mấy chục ngưòi đem ra cho Quốc Hội bầu bán đều được Quốc Hội tín nhiệm.

Thật là một trò hề rẻ tiền. Một kiểu của CS vừa tự giới thiệu, vừa phát biểu, vừa vổ tay khen, vừa kinh thưa đồng chí kính mến vừa vổ tay khen.

Thế là Ba Dũng vẫn được tín nhiệm bởi cái gọi là Quốc Hội đảng cử dân bàu mà Trọng Sang định dùng làm vũ khí truy kích Ba Dũng.

Nhưng Trọng Sang coi chừng. Ba Dũng bây giờ coi như là người thế lực nhứt nước, vai mang túi bạc nhà nước kè kè. Cán bộ đảng viên của Đảng hầu hết trừ người hưu đang kiêm nhiệm chức vụ bên nhà nước, túc dưới thực quyền thủ tướng, do thủ tướng ban đặc quyền đặc lợi, ắt vì tiên vì quyền hơn vì Đảng. Trọng, Sang thất bại hai phen khi dùng đại hội Đảng và quốc hội dảng cử dân bầu. Ba Dũng vẫn bình chân như vại, nắm nhà nước trong tay trong khi đảng quyền quá sa sút. Một ngày nào đó, người du kích Cà mau nổi quạu, cộc lên sẽ cho công an, mật vụ đến “bảo vệ” các đồng chí và xin các đồng chí ký tên nhứt trí, đồng tình, cộng đồng tuyển trạch” Ba Dũng làm Chủ Tịch Nước, kiêm Chủ Tịch Đảng, kiêm Chủ Tịch Quân Uỷ Trung Ương như bên Tàu Cộng. Nếu không sẽ đưa các đồng chí vào Lăng Bác, xuống mê cung trong hầm dươi đất để bảo vệ xác ướp của Bác. Chớ Ba Dũng không dể cho “nhị nhơn bang Trọng, Sang búa mình một búa nữa đâu./.(Vi Anh)

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Chuẩn! Chúng tao bán nước đó!
Image
Viên CA tại trại giam Lộc Hà tên Nguyễn Đức Trung (số hiệu 195-456)
Hiền Sỹ (Danlambao) - Theo lời kể về câu chuyện đi biểu tình của mình, chị Trần Thị Nga, một người yêu nước ở Phủ Lý, Hà Nam đã cho ta thấy bộ mặt bán nước trơ trẽn của đảng cộng sản. Đến mức chính viên công an cộng sản có tên Nguyễn Đức Trung, số hiệu 195-456 đã thẳng thừng tuyên bố “Chuẩn!” khi bị chất vấn về việc công an cộng sản làm tay sai cho Tầu.

Trên thực tế, tất cả các cuộc biểu tình của đồng bào trong nước chống giặc Tầu cho đến hôm nay đều bị đảng cộng sản đàn áp dã man. Những kẻ trực tiếp thi hành lệnh của đảng đó là những tên công an, an ninh, côn đồ khoác lên mình khẩu hiệu “Còn đảng còn mình, còn đảng còn tiền”. Nhưng từ trước đến nay, chưa môt tên công an nào dám đối mặt với người dân nói thẳng chúng làm tay sai cho Tầu mà chỉ mị dân bằng luận điệu “giữ hòa bình ổn định, đã có đảng và nhà nước lo”. Câu chuyện ngày 2/6 tại trại giam Lộc Hà của chị Trần Thị Nga đã cho thấy sự trơ trẽn đến mức bỉ ổi của đội ngũ công an nhà cầm quyền cộng sản. Đội ngũ này đang sống nhờ mồ hôi nước mắt của người dân Việt nhưng lại bán linh hồn cho giặc.

Cụ thể, câu chuyện của chị Nga có đoạn, khi chị Nga chất vấn công an tại trại Lộc Hà: "Tại sao chúng tôi đi biểu tình phản đối TQ xâm lược, đánh, bắt, giết ngư dân VN mình mà các anh bắt, đánh đập, giam giữ chúng tôi? Có phải ngành công an các anh đang bảo kê cho TQ xâm chiếm biển đảo, đánh, giết ngư dân hay sao?". Công an viên có tên Nguyễn Đức Trung có số hiệu 195-456 đã trả lời “Chuẩn!”(1).

Nghe câu nói đó, thật sự chúng ta xót xa cho một dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra những người anh hùng như Lê Lợi, Quang Trung lại có thể sản sinh ra một lũ bán nước hại dân như công an cộng sản ngày nay. Lời trả lời của tên công an đã xác nhận đảng cộng sản là một lũ bán nước thật sự chuẩn xác như chính lời xác nhận của tên Trung. Bản chất hèn với giặc ác với dân đã được chính miêng công an của đảng cộng sản xác nhân, điều này cũng cho thấy bản chất trơ trẽn, không biết xấu hổ trước tổ tiên, trước đất nước và trước triệu đồng bào Việt Nam của đảng cộng sản. Và thật đáng buồn riêng cho cha mẹ của tên công an Nguyễn Đức Trung số hiệu 195-456, vì họ đã sinh nhầm một tên bán nước hại dân mà rồi đây lịch sử sẽ ghi vào sách vở như một trong hàng triệu Lê Chiêu Thống của đảng cộng sản.

Nhưng lần giở những chuỗi sự kiện từ lâu nay, chúng ta có thể thấy rằng những phát ngôn như của tên Nguyễn Đức Trung cũng không có gì xa lạ. Chỉ có điều, nghe nó như một nhát dao cứa vào tim, vào niềm tự hào dân tộc của chúng ta. Hãy nhìn đảng cộng sản giao Hoàng Sa – Trường Sa cho Tầu bằng một công hàm trơ trẽn của Phạm Văn Đồng mà đứng đầu là Hồ Chí Minh. Hãy nhìn những Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm mất bởi đảng cộng sản vào tay Tầu. Hãy nhìn từng đợt biểu tình bị đàn áp dã man thì chúng ta thấy rõ ràng lời của tên Nguyễn Đức Trung như một sự khẳng định của đội ngũ công an “Chúng tao bán nước đó! Làm gì được nào?”.

Lịch sử đã chứng minh, Hồ Chí Minh khi đem chủ thuyết cộng sản về gây di họa cho Việt Nam thì đã từng 2 lần là đảng viên đảng cộng sản Trung cộng(2). Bởi vậy, cũng không có gì ngạc nhiên khi đảng cộng sản Việt Nam tiếp nối tư tưởng làm chư hầu cho Trung cộng mà Hồ Chí Minh mong muốn. Để đến hôm nay, những cháu ngoan của Hồ Chí Minh như tên Nguyễn Đức Trung đã thừa nhận sự thật bán nước của đảng cộng sản là “Chuẩn”!

Đảng cộng sản cuối cùng cũng đã lòi cái đuôi bán nước và bản mặt trơ trẽn làm tay sai cho giặc ra trước bàn dân thiên hạ bằng câu nói của tên công an mang tên Nguyễn Đức Trung. Nó như một cái chốt cuối cùng đã bung để lộ ra bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của một tên mafia không hơn, không kém. Chính vì vậy, không còn cách nào khác, người dân Việt Nam nếu không muốn Bắc thuộc thêm một lần nữa cần phải đứng lên dẹp bỏ đảng cộng sản Việt Nam. Vì đảng cộng sản Việt Nam chính là con nuôi của Trung cộng. Chỉ có chặt được cánh tay nối dài của giặc Tầu thì dân tộc Việt Nam mới có thể thoát khỏi thảm cảnh một Tây Tạng thứ hai.

Người dân Việt Nam ngày hôm nay đã không còn u mê như gần 1 thế kỷ trước khi chấp nhận một chủ thuyết hoang tưởng và một lũ phản quốc làm lãnh đạo dân tộc. Những âm mưu bẩn thỉu “hèn với giặc, ác với dân” cuối cùng cũng đã và đang lộ ra trước ánh sáng. Không còn cách nào khác, nhân dân Việt Nam phải đồng lòng, chung tay vạch trần thêm những âm mưu thâm hiểm của đảng cộng sản để có một sức phản kháng cần thiết lật đổ chế độ cộng sản. Chi có như vậy Việt Nam chúng ta mới thực sự trường tồn .

17/6/2013.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tình thế đòi hỏi
Bùi Tín
Tình hình chính trị ở Việt Nam đang đòi hỏi cấp bách một tổ chức chính trị, để thoát khỏi tình trạng độc đảng lạc hậu và tệ hại cho dân cho nước.

Việc này không thể trì hoãn được nữa.

Việc hình thành một tổ chức chính trị ở Việt Nam là hoàn toàn chính đáng, hợp pháp, hợp đạo lý. Hiến pháp Việt Nam ghi rõ quyền lập hội. Các công ước quốc tế và Hiến chương Liên Hiệp Quốc cũng long trọng công nhận quyền tự do ngôn luận và tự do lập hội.

Cần chỉ ra rằng việc Điều 4 của Hiến pháp Việt Nam xác định vị trí lãnh đạo duy nhất của đảng CS không qua bầu cử tự do và định kỳ là vi phạm chính Hiến pháp, là vi phạm các công ước quốc tế về nhân quyền; do đó điều này vô giá trị, dù có bị xoá bỏ hay không.

Hơn nữa, đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã dùng Điều 4 để tước đi của công dân quyền được lập hội. Rõ ràng đây là một hành động phạm tội chà đạp Hiến pháp trong suốt thời gian cầm quyền cho đến nay, và lẽ ra đảng CSVN đã phải bị truy tố và xét xử trước Tòa án Hiến pháp, nếu như có tòa án này.

Bộ Chính trị đảng CSVN đã lừa bịp trắng trợn khi một mặt quyết duy trì bằng mọi giá Điều 4, vừa khẳng định một cách bịa đặt là hơn 70% công dân muốn duy trì Điều 4, nhưng lại không dám tổ chức trưng cầu dân ý công khai về điểm này.

Do những lý do trên việc công dân Việt Nam cùng nhau bàn bạc về việc thành lập một tổ chức chính trị khác nhằm vừa ganh đua vừa hợp tác với đảng CS để lãnh đạo và cai trị đất nước là một điều cần thiết, cấp bách, hơn nữa còn là việc làm hợp hiến, hợp pháp, quang minh chính đại.

Đây sẽ là một bước tiến của dân tộc, một cuộc đột phá ngoạn mục để đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng toàn diện và bế tắc hiện nay.

Nhiệm vụ thành lập một chính đảng mới đang được đặt ra trước cuộc sống của dân tộc. Ông Chu Hảo, một đảng viên CS cao cấp, giám đốc nhà xuất bản Trí Thức, đã công khai nói lên nhu cầu quan trọng này. Giáo sư Tương Lai, một trí thức CS có uy tín, cũng bày tỏ mong muốn và ý định ấy. Trung tướng Đặng Quốc Bảo, nguyên là uỷ viên Trung ương đảng CSVN, trưởng ban Khoa giáo Trung ương, cũng nêu bật sự tất yếu của một chế độ chính trị đa nguyên, có nhiều đảng tranh đua, kiểm tra nhau trong một chế độ dân chủ lành mạnh. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ VN tại Trung Quốc, cũng có chính kiến tương tự.

Có thể nói đây là biện pháp cơ bản, là giải pháp chiến lược then chốt cho các vấn đề sinh tử ở nước ta, không thể trì hoãn được nữa.

Rất cần một cuộc thảo luận công khai giữa tất cả các tổ chức và cá nhân quan tâm đến vận mệnh dân tộc, đến cuộc sống của nhân dân, đến tiền đồ các thế hệ tương lai.

Có một loạt vấn đề liên quan đến xây dựng lên một tổ chức chính trị mới rất cần trao đổi thẳng thắn, công khai trên tinh thần xây dựng. Tổ chức mới nên mang hình thức nào? Một tập hợp, một liên minh, một chính đảng, hay một mặt trận, một hội đoàn? Tên của tổ chức ấy nên là gì? Dân chủ, Dân chủ Xã hội, Cứu quốc, Dân tộc, Phục hưng, Canh tân, Dân Việt, Tân Việt? Theo tôi có thể là Tập hợp Dân chủ Việt Nam. Rõ, gọn.

Nên trao đổi về tôn chỉ mục đích để xây dựng điều lệ. Như: toàn dân cùng chung sức xây dựng một chế độ dân chủ ngày càng hoàn thiện, bình đẳng, pháp quyền nghiêm minh; hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thành kiến chia rẽ Bắc – Nam kéo dài; triệt để từ bỏ khái niệm «ngụy quân, ngụy quyền», chăm sóc nghĩa trang mọi liệt sỹ và nạn nhân chiến tranh, không phân biệt trước đây thuộc bên nào; phát triễn và duy trì quan hệ láng giềng tốt, nhưng kiên quyết bảo vệ lãnh thổ lãnh hải của Tố Quốc; chống tham nhũng, lãnh phí; tôn trọng quyền tư hữu và quyền tự do kinh doanh.

Thái độ với đảng CS: chống nhóm lãnh đạo bảo thủ, giáo điều, tham nhũng, lạc hậu, coi đông đảo đảng viên CS ở cơ sở là đồng bào ruột thịt thân thiết, sẵn sàng đón nhận các đảng viên CS cũ ở bất cứ cấp nào vào hàng ngũ mình trên tinh thần bình đẳng. Đây là quyền tự do cơ bản thiêng liêng của mọi công dân được thay đổi, lựa chọn chỗ đứng chính trị của mình. Đông đảo đảng viên CS cũng là nạn nhân, bị nhóm lãnh đạo lừa dối.

Cần phân biệt rõ nhóm lãnh đạo gồm Bộ Chính trị, phần lớn uỷ viên Trung ương, các quan chức các cấp có quyền lực và bị quyền lực tha hóa, trở thành nhũng tư bản đỏ giàu sang xa rời nhân dân, với các đảng viên ở cơ sở, cũng bị đè nén bóc lột như dân thường. Họ cũng đứng dậy cùng nhân dân đòi tự do và bị nhóm lãnh đạo bất lương đàn áp không thương tiếc. Một số đã rời đảng CS, mong chờ một tổ chức chính trị lương thiện, tiền tiến.

Cuộc trao đổi sẽ rất hào hứng khi được các blogger tự do tham gia tịch cực và được một nhóm trí thức dân tộc dấn thân mạnh dạn đứng ra chỉ đạo. Đây là trách nhiệm của kẻ sỹ dân tộc giữa thời đất nước lâm nguy. Thanh niên và phụ nữ là 2 động lực mầu nhiệm cho cuộc Phục hưng của dân tộc trên con đường đa nguyên hóa văn minh kịp thời đại. Một số nhân sĩ dân chủ đã cao tuổi nhưng tư duy còn trẻ, khỏe, nên công khai cùng đứng ra thúc đẩy quá trình đa nguyên hóa trong trật tự và tự nguyện làm cố vấn cho tổ chức chính trị mới.

Khi đã có đa đảng, gồm có đảng CS và 1 hay vài đảng mới xuất hiện, sinh hoạt chính trị đa nguyên sẽ sôi nổi sinh động trong khuôn khổ luật pháp, để công dân có thể định kỳ lựa chọn thật sự người đại diện cho mình. Các tổ chức quần chúng như công đoàn, thanh niên, phụ nữ…cũng sẽ phân hóa thành những tổ chức đa nguyên, đa dạng, ganh đua bình đẳng, do đó luôn giữ mình trong sạch, làm việc có hiệu quả xã hội, tôn trọng và phục vụ xã hội công dân.

Từ nay đến cuối năm 2013 là thời gian vừa đủ cho việc trao đổi phong phú chuẩn bị để đầu năm 2014 có thể xuất hiện tổ chức chính trị đối lập, cạnh tranh lành mạnh với đảng CS hiện nắm độc quyền lãnh đạo. Mọi sự độc quyền đều chứa đựng nguy cơ tha hóa, gây tai họa không thể lường hết cho xã hội, từ mất độc lập, bị ngoại xâm gặm nhấm, từ tàn phá kinh tế, biển thủ kinh hoàng về tài chính quốc gia, đến băng hoại thê thảm về đạo đức và văn hóa, làm nhục quốc thể, cuộc sống toàn dân đầy bi kịch và bất an.

Trong xã hội và trên thế giới ảo của các blogger đã bàn luận khá nhiều về hiện tình đất nước và những giải pháp. Nay đã đến lúc phải hành động và hành động cụ thể để cứu dân, cứu nước khỏi cuộc trầm luân khốn khổ đã kéo quá dài, vượt quá sự chịu đựng của toàn dân ta.

Dấn thân lập ra một tổ chức chính trị lương thiện, chung lòng chung sức, với thiện chí và bao dung, chấp nhận trạng thái đại đồng tiểu dị, luôn tâm niệm xây dựng dân chủ vì dân, nhất định chúng ta sẽ đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, đi vào kỷ nguyên dân chủ, viết tiếp lịch sử oanh liệt của dân tộc, xứng đáng với ông cha, tạo tương lai vững bền cho các thế hệ nối tiếp.

Việc chuyển biến về chất của xã hội Việt Nam như trên sẽ là thành quả nỗ lực trực tiếp của đồng bào thân yêu ở trong nước. Cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài, phần lớn đã mang quốc tịch khác, là người nước ngoài gốc Việt, khó lòng làm được việc gì hơn là cổ vũ và hỗ trợ từ xa. Chỉ riêng thái độ tận lực ủng hộ những việc làm đúng đắn kịp thời, không gây khó khăn trống đánh xuôi kèn thổi ngược, luôn đồng thanh tương ứng với đồng bào đứng dậy đấu tranh ở trong nước, là một đóng góp quý báu vào tiến trình lịch sử.

Nguồn: Blog Bùi Tín/VOA

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image
Tuyên bố chung Việt - Trung có tới 29 lần "nhất trí"
Trần Trung Đạo
(Danlambao) - Đọc tuyên bố chung giữa Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang ký ngày 21 tháng Sáu vừa qua mới thấy số phận chùm gởi CSVN phụ thuộc sâu xa vào cây cổ thụ già Cộng Sản Trung Quốc đến mức độ nào. Sự khiếp nhược và ươn hèn thể hiện rõ đến mức chỉ trong một văn bản gồm 8 điểm nhưng có tổng cộng 29 lần “nhất trí”.

Hai bên “nhất trí” không chỉ các chính sách đối nội nhằm duy trì quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng CS mà còn “có lập trường tương tự và gần nhau trong nhiều vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm” trong đó có cả vấn đề Đài Loan, một vấn đề thuộc nội bộ Trung Quốc không dính líu gì đến Việt Nam.

Tưởng cũng nên nhắc lại. Năm 1958, vì quá nhiệt tình nịnh bợ đàn anh CSTQ trong tranh chấp với Mỹ về vấn đề Đài Loan, Bộ Chính Trị đại hội II của đảng CSVN đã chỉ thị Phạm Văn Đồng viết công hàm “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.” So sánh nội dung của tuyên bố chung lần này với các văn bản theo đuôi Trung Quốc của các thập niên 1950, 1960 không khác nhau nhiều. Thời gian cách nhau hơn nửa thế kỷ nhưng mức độ khiếp nhược của CSVN đối với đàn anh CSTQ vẫn không thay đổi.

Vấn đề tranh chấp biển Đông là vấn đề nóng bỏng nhất, Trương Tấn Sang thay vì khẳng định việc quốc tế hóa, mở rộng vấn đề biển Đông sang các diễn đàn quốc tế như Philippines đang làm, lại cũng “nhất trí” thu hẹp vấn đề trong phạm vi hai nước “nhất trí giữ bình tĩnh và kiềm chế, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, đồng thời sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát khủng hoảng trên biển giữa Bộ Ngoại giao hai nước, xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để các vấn đề này ảnh hưởng đến đại cục quan hệ Việt-Trung cũng như hòa bình, ổn định tại Biển Đông.”

“Hòa bình” và “ổn định” là hai thuật ngữ ngoại giao bắt đầu từ chủ trương Đặng Tiểu Bình đã được lập đi lập lại trong hầu hết các văn bản về chính sách đối ngoại của CSTQ.

Từ nhiều năm nay, Trung Quốc một mặt kêu gọi “hòa bình” và “ổn định” nhưng mặt khác đã cho dời từng cây cọc trên vùng biên giới, lấn chiếm từng thước đất, từng bãi san hô, từng hòn đảo nhỏ trên biển Đông. Cái hèn hạ và tin tiện của đám lãnh đạo CSTQ là chúng chỉ biết ăn hiếp những đám lãnh đạo cũng hèn hạ và ti tiện tương tự, trong trường hợp này là CSVN và chỉ biết ăn cắp vặt để các cường quốc không đủ lý do đặt vấn đề và các biến cố do chúng gây ra không đủ tầm vóc để được quốc tế quan tâm.

Bài học chính trị, kinh tế, quân sự từ thời thượng cổ đến nay đều cho thấy, đương đầu với kẻ thù lớn mạnh, chọn lựa cần thiết của các quốc gia nhỏ yếu là liên kết chặt chẽ với nhau và đồng minh với các nước lớn khác có quyền lợi mâu thuẫn với kẻ thù.

Dĩ nhiên giới lãnh đạo CSVN biết chiến lược quen thuộc đó nhưng tham vọng quyền lực của đảng CS và túi tham cá nhân, băng đảng không đáy đã làm mờ mắt họ, che mất tầm nhìn của họ vào các thế hệ tương lai con cháu giòng giống Việt.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, Đảng Cộng sản Trung Quốc là chỗ dựa duy nhất và cũng là cuối cùng của đảng CSVN. Từ đó đến nay, các chính sách của đảng, từ các đổi mới kinh tế, xã hội cho đến các quan điểm chính trị, tư tưởng gần như rập khuôn Trung Quốc.

Giới lãnh đạo CSVN quá lo cho nồi cơm riêng của họ đến nỗi quên rằng Trung Quốc cũng có nhiều thách thức kinh tế xã hội và hạn chế chính trị nội bộ cần phải vượt qua để có thể duy trì tốc độ phát triển kinh tế hiện nay và tiếp tục cạnh tranh với Mỹ, Nhật, Đức.

Kỹ thuật quân sự của Trung Quốc tiến xa so với thời kỳ chiến tranh với Việt Nam tháng Giêng 1979 nhưng điều kiện kinh tế toàn cầu ngày nay cũng đã làm cho các cường quốc phụ thuộc vào nhau nhiều hơn so với 30 năm trước. Ngoài ra, các vấn đề môi sinh, ô nhiễm, khan hiếm năng lượng đang là những mối đe dọa trầm trọng tại Trung Quốc và ảnh hưởng lớn đến cán cân thương mại quốc gia trong tương lai gần.


Quốc gia nào cũng cần ổn định để phát triển nhưng Trung Quốc cần ổn định hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng.

Mặc dù viện trợ 2 tỉ đô la hàng năm để nuôi dưỡng chế độ độc tài man rợ của gia đình họ Kim nhưng chính Trung Quốc lại là một trong những nước lo lắng nhất khi họ Kim ra lệnh thử đầu đạn hạt nhân bất chấp lời can gián của Bắc Kinh. Bởi vì, nếu chiến tranh Nam Bắc Hàn lần nữa xảy ra, ngoài làn sóng tỵ nạn khổng lồ sẽ tràn ngập biên giới phía đông bắc Trung Quốc, hạ tầng kinh tế gầy dựng bấy lâu nay của Trung Quốc sẽ sụp đổ và có thể cả toàn bộ thượng tầng kiến trúc chính trị cũng sẽ tiêu vong theo. Giới lãnh đạo Trung Quốc còn ôm mối lo canh cánh khác bên lòng rằngTrung Quốc tuy là một nước lớn nhưng thường bị các nước nhỏ xâm lăng và cai trị nhiều chục năm, thậm chí hàng trăm năm như dưới các triều đại Mãn Thanh. Sự tan rã của đế quốc CSTQ chỉ là vấn đề thời gian.

Tuyên bố Việt-Trung mang nội dung ươn hèn và khiếp nhược của lãnh đạo đảng CSVN trước thiên triều CSTQ là lời cảnh tỉnh cuối cùng đối với những người đang còn ngóng cổ trông chờ, còn đang van xin thỉnh nguyện đảng CS sớm hồi tâm, hướng thiện mà còn là tiếng chuông gõ nhịp vào lương tri của cả dân tộc.

Như kẻ viết bài này kết luận trong bài “Ai giết 9 ngư dân Thanh Hóa ?” trước đây, chỉ có một Việt Nam văn minh dân chủ với một nền kinh tế cường thịnh, một hệ thống khoa học kỹ thuật hiện đại là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn chận không những Trung Quốc mà bất cứ một thế lực xâm lăng nào muốn thách thức đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Do đó, thay vì van xin, thỉnh nguyện đảng CS, những ai quan tâm đến đến tiền đồ đất nước nên dứt khoát tập trung toàn lực vào việc thay đổi cơ chế chính trị độc tài CSVN hiện nay.

Nếu không làm được thế, rồi không chỉ 9 ngư dân Thanh Hóa, không chỉ Hoàng Sa, Trường Sa, mà cả dân tộc lại sẽ chìm đắm trong họa đồng hóa của thời đại mới. Và khi đó, đừng đổ thừa cho Trung Quốc mà chính sự nhu nhược, yếu hèn, mê muội trong mỗi chúng ta đã giết chết 9 ngư dân Thanh Hóa, giết chết chính chúng ta và dân tộc Việt Nam.

Trần Trung Đạo

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

"Cộng sản" vẫn là một từ bẩn thỉu trong khu người Việt nhập cư

Kirk Johnson/The New York Times
Lê Quốc Tuấn dịch Việt Ngữ
OLYMPIA, Washington - Có thể cuộc chiến tranh lạnh đã kết thúc, nhưng ký ức về thời gian ấy vẫn mạnh mẽ và dai dẳng trong cộng đồng người Việt tại tiểu bang Washington

Đức Tân cho biết, ông tin rằng những lời buộc tội ông có thiện cảm với cộng sản bắt nguồn từ một tranh chấp về một nhóm công dân.

Những người tị nạn có tuổi từng sống qua thời chiến tranh Việt Nam và cuộc sụp đổ của Sài Gòn vào năm 1975, đa số bị ám ảnh bởi kinh nghiệm khó quên và không thể dung thứ. Ngay cả bây giờ, một lời buộc tội là có cảm tình với chính quyền cộng sản - dù là sự thực hay chỉ tưởng tượng - có thể làm tan nát một uy tín.

Hoặc có thể trả được một mối hận trong quá khứ.

Đó là những gì rõ ràng đã xảy ra trong vụ kiện giữa ông Tân Đức và Norman Lê cùng những người cộng sự, theo Tòa án tối cao Washington, trong một vụ kiện về phỉ báng dân sự đã mang đến một cái nhìn hiếm hoi vào cuộc sống tình cảm nội tâm của người Mỹ gốc Việt.

Trong những ngày gần đây, căng thẳng và lo lắng về tự do ngôn luận đã gia tăng mạnh trên khắp nước trong bối cảnh cuộc tranh cãi về sự giám sát điện thoại và Internet của liên bang vì an ninh quốc gia. Và rất nhiều những lo lắng này đã gia tăng trong cộng đồng di dân, đặc biệt là những cộng đồng từ Trung Đông, nơi mà các thuật ngữ của chủ nghĩa tôn giáo cực đoan có thể gây ra những nghi ngại.

Tại đây, ở Olympia, tranh chấp với nhau là những người đàn ông gầy ốm với mái tóc đã thưa. Một người bị cáo buộc là cộng sản, người kia là kẻ chụp mũ. Cả hai đều từng làm việc cho chính phủ hoặc quân đội miền Nam Việt Nam. Cả hai đã trở thành những nhà lãnh đạo trong các hội nhóm phấn đấu để giữ gìn tiếng Việt và truyền thống Việt Nam tại địa phương ở phia Tây Washington.

Nhưng, bắt đầu khoảng một thập kỷ trước, ông Lê, 78 tuổi, cho biết ông đã tin rằng ông Tân, 69 tuổi, là một cảm tình viên bí mật với Cộng sản ở quê nhà. Cuối cùng, ông đã đưa ra công chúng sự khẳng định ấy của mình, công bố trên các báo chí Việt Nam và lây lan qua các phương tiện truyền thông xã hội.

Đối với người ngoại cuộc, một số bằng chứng mà Ông Lê viện dẫn có vẻ hài hước. Chẳng hạn như, một cái tạp dề nấu ăn sử dụng tại một hội chợ cộng đồng, được trưng ra tại tòa cho thấy một con người đội mũ, vui vẻ, mà ông Lê cho biết là một tiêu biểu rõ ràng của nhà lãnh đạo Công sản Hồ Chí Minh, nhưng Ông Tân cho biết là thực ra không ai khác hơn là ông già Noel.

Một nhạc sĩ được Ông Tân mang đến toà, người có trách nhiệm bắt nhịp trường canh đầu tiên của bản quốc ca hiện đại Việt Nam, đã lúng túng dừng lại rồi mới tiếp tục những gì mọi người chờ nghe: bản quốc ca miền Nam Việt Nam, bài hát của một quốc gia không còn tồn tại. Ông Lê cho là một âm mưu cố ý, ông Tân bảo chỉ là sự cố không mong muốn.

Cuối cùng, ông Tân bị kiện tội phỉ báng vào năm 2004, vốn là một vụ kiện hiếm khi xảy ra trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, nơi các tranh chấp thường được đưa ra trong nội bộ. Một bồi thẩm đoàn dân sự đã tìm thấy Ông Lê và những người cùng phỉ báng phải chịu trách nhiệm.

Phiên tòa phúc thẩm lật ngược lại phán quyết ấy nhưng sau đó vào tháng trước tòa án tối cao Washington đã khôi phục phán quyết ban đầu của bồi thẩm đoàn, đền bù $310,000 cho ông Tân và Cộng Đồng Người Việt quận Thurston. Các luật sư của ông Lê đã yêu cầu tòa án xem xét lại.

Nhưng những cư dân địa phương cho biết, cuộc đấu tranh tiêu diệt nhau này đã làm thay đổi cộng đồng.

Một trường dạy tiếng Việt, nơi ông Tân từng là hiệu trưởng, đã sụt giảm vì hậu quả của cuộc tranh cãi: từ 120 học sinh một thập kỷ trước giờ còn khoảng 60 em, vị hiệu trưởng hiện tại nói. Các cuộc tụ tập đông người cho các dịp lễ kỷ niệm văn hóa trong khu vực Olympia, như tết năm mới, đã phai nhạt hoặc hoàn toàn ngưng lại trong vài năm qua.

"Chúng tôi đang cố gắng để tránh các gán ghép hoặc xung đột thêm," Hiệp Trần, 50 tuổi, một chuyên viên giao thông vận tải của chính phủ đã nói.

Bà Mai Vũ, 55 tuổi, cho biết sau một vài năm ở Mỹ, trong những năm 1970, bà đã tin rằng các cuộc biểu tình là vô ích trong việc xua đuổi Công Sản khỏi Việt Nam. Nhưng bây giờ, bà cho biết mình cảm thấy lo lắng vì việc không được xem là chống cộng đủ cũng có thể khiến bị tấn công.

"Khi chúng tôi không bước xuống phố tố cáo và hô "Đả đảo Cộng Sản" thì chúng tôi là có cảm tình với cộng sản", bà nói. "Đó là vấn đề tôi thấy và tôi không đồng tình với điều đó."

Trong cuộc phỏng vấn gần đây tại văn phòng luật sư của mình, (nơi ông Trần và bà Vũ cũng từng được ông Tân mời đến để nói về công đồng), ông Tân cho biết rằng ông không phải là Cộng sản, và chính bản thân ý tưởng ấy rất là xúc phạm. Phát biểu qua một thông dịch viên, ông tin rằng những cáo buộc của ông Lê xuất phát từ các tranh chấp cá nhân về vai trò lãnh đạo một ủy ban dân sự.

"Tôi tin rằng đó là một chuyện bất đồng cá nhân và trả thù cá nhân", ông Tân cho biết.

Ông Lê, trong một cuộc phỏng vấn tại tư gia gần Lacey của con gái, cũng vẫn kiên quyết. Ông cho rằng mình đã nói lên sự thật và không có gì hối tiếc.

"Chúng tôi cần phải lên tiếng, bởi vì những gì mang lại cho chúng tôi ở đây là tự do ngôn luận", ngồi trong một phòng khách có cờ sọc vàng đỏ của miền Nam Việt Nam đong đưa cạnh lá cờ Mỹ tại lối vào, gần một chân dung của Tổng thống Ronald Reagan, ông Lê đã nói như thế.

Bị kết án là cảm tình hay có hợp tác với Cộng sản - đôi khi còn đi kèm với bạo lực và thậm chí cả dọa giết người - đã xé nát nhiều cộng đồng người Việt ở Mỹ trong những năm sau chiến tranh. Và những lựa chọn khó khăn, có tính cá nhân của một giai đoạn vẫn còn ảnh hưởng, theo hồ sơ tại tòa án, ông Tân, từng ký một lời tuyên thệ trung thành với chính quyền cộng sản để được thả ra khỏi trại cải tạo trước khi trốn khỏi đất nước vào năm 1978.

Nhưng cảm xúc về chính trị của thế hệ trong chiến tranh không còn chi phối như trước, ông Jeffrey Brody, giáo sư về truyền thông tại California State University, Fullerton, người từng nghiên cứu và làm việc trong cộng đồng Việt Nam trong nhiều năm cho biết. Ông nói, đối với đa số con em của những người tị nạn, việc chấp nhận quyền tồn tại của chính phủ Việt Nam hiện nay, mặc dù hiếm khi được tán thưởng, ít nhất đã trở thành một quan điểm tranh luận hợp pháp.

"Thế hệ trẻ thì khoan dung chính trị hơn về tự do ngôn luận", ông nói.

Ông Lê, người đã trải qua hơn chín năm trong một trại lao cải của cộng sản sau chiến tranh, đã làm chứng tại phiên tòa rằng những người sống sót được sau cuộc tiếp quản có "một quan điểm khác nhau" về chủ nghĩa cộng sản, và một sự hiểu biết về các phương pháp của cộng sản mà các tòa án và bồi thẩm đoàn Mỹ có thể có lẽ không bao giờ thực sự hiểu được.

James M. Johnson, một thẩm phán Tòa án tối cao đã đồng ý như thế. Trong một ý kiến ​​bày tỏ bằng những lời bất đồng mạnh mẽ, ông gọi phán quyết của đa số là một "án phạt oan ức cho ông Lê và tất cả những người đã từng mạo hiểm tất cả mọi thứ để được hưởng sự bảo vệ của Hiến pháp Hoa Kỳ" Ông nói thêm: "Các kinh nghiệm của những người từng đáp trả với chủ nghĩa cộng sản là chắc chắn phù hợp nhất với phân tích này ".

Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn, ông Lê đã chế giễu ý tưởng cho rằng Cộng sản Việt Nam đang xuất hiện để tiếp quản hoặc làm suy yếu nước Mỹ. Ông nói, tất cả nỗ lực của họ là về tạo nên hình ảnh và sự kiểm soát, nuôi dưỡng những ý kiến ​​tốt về chính phủ trong cộng đồng người lưu vong giữa nhưng người tị nan và con cái của họ.

Nguồn: The New York Times

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

RỒI HẾT CHIẾN TRANH

"Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, trẻ thơ đi hát đồng dao ngoài đuờng."
T.C. S

Hơn bốn mươi năm trước, khi cuộc chiến ở Việt Nam còn đang ở giai đoạn khốc liệt, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mường tượng ra một viễn ảnh thanh bình làm say đắm lòng nguời: "Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, trẻ thơ đi hát đồng dao ngoài đuờng."

Sau cuộc chiến, quả nhiên, trẻ con có la cà và tụm năm tụm ba hơi nhiều trên đường phố. Chỉ có điều là tuyệt nhiên không nghe một đứa nào hát đồng dao; đã thế, phần lớn tụi nhỏ đều tham dự tích cực vào nhiều sinh hoạt không thích hợp cho lắm với tuổi thơ: bới rác, móc túi, ăn mày, bán cần sa, và nài nỉ mời khách mua... dâm – với một thứ ngôn ngữ sỗ sàng và sống sượng đến độ có thể làm đỏ mặt một người da đen hay da đỏ: “Chú ơi, chú chơi cháu đi…” (Hoàng Hữu Quýnh– Tôi Bỏ Đảng, Tập I: Bản Cáo Trạng Chế Độ Hà Nội, trang 140, 1989, trích từ Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư của Minh Võ, Thông Vũ xuất bản năm 1999).

Đó là những chuyện chỉ có tính cách “hiện tượng,’’ xẩy ra mấy thập niên về trước, khi hòa bình mới đuợc vãn hồi, và xã hội còn nhiều tệ đoan do tàn tích của chiến tranh và xã hội cũ để lại. Với thời gian, bản chất của chế độ cộng sản Việt Nam mỗi lúc được nhận biết rõ ràng hơn.

Từ Hà Nội, ký giả Huw Watkin tường thuật rằng “cứ năm đứa bé đang lê trên vỉa hè của ba mươi sáu phố phuờng là có một đứa... ăn xin. Bốn đứa còn lại, xem chừng, cũng bận: đánh giầy, năn nỉ người đi đường mua vé số, dắt mối, bán ma túy...”(“VIETNAM: CHILDREN SOLD INTO BEGGING, PIMPING AND DRUG DEALING”).

Cũng vẫn theo y như lời Huw Watkin thì lực lượng trẻ con đi ăn mày, làm ma cô và bán ma túy... ở Việt Nam đang dần được đưa vào tổ chức (“... recent media reports that children are being increasingly used by organized begging gangs, pimps and drug dealers”).
Chuyện này thì thằng chả nói hơi... thừa! Ở một xứ sở mà nhà nước bao biện mọi chuyện, và lãnh đạo khắp nơi – kể cả chùa chiền, giáo đuờng hay thánh thất... – làm sao để cho trẻ em (những mầm non tương lai của tổ quốc) sống vô tổ chức được, cha nội?

Trong tương lai gần, lũ trẻ thơ bụi đời ở Việt Nam (dám) sẽ được đoàn ngũ hoá – và cho thắt khăn quàng có màu sắc khác nhau – để dễ điều phối. Đại loại như, khăn quàng xanh: đánh giầy; khăn quàng tím: dắt mối; khăn quàng trắng: ma túy; khăn quàng hồng: mãi dâm; khăn quàng nâu: ăn mày; khăn quàng đỏ: thu thuế và theo dõi hoạt động, cũng như tư tưởng, của những loại khăn quàng khác!

Chiến tranh Việt Nam kết thúc cũng chấm dứt luôn sự chia cách giữa hai miền Nam - Bắc. Viễn tuợng thống nhất (cũng) đã đuợc hình dung bởi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn truớc đó, và cũng là một hình ảnh khiến cho không ít kẻ phải ước mơ: “Một đoàn tầu đi tỏa khói trắng hai bên đường...’’

Một lần nữa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lại đúng, dù vẫn chưa đúng hết. Sau cuộc chiến, quả nhiên là có đoàn tầu Thống Nhất xuôi ngược Bắc - Nam. Điều đáng tiếc là hành khách lại luôn luôn ở tâm trạng bất an. Kẻ lo bị móc túi, nếu có tí tiền. Người lo bị công an xét hỏi và tịch thu hàng hoá, nếu là dân buôn lậu. Và tất cả đều lo sợ bị ném đá vỡ đầu. Những hòn đá xanh, to bằng nắm tay, được trẻ con dọc hai bên đuờng – đợi xe lửa đi qua – thi nhau ném vun vút vào cửa sổ!

Do vậy, tầu Thống Nhất đuợc “cải tiến” bằng cách rào kín mọi khung cửa bởi dây kẽm theo hình mắt cáo. Từ đó, nó trông y như những toa xe dùng để chở tù. Những đoàn tầu như thế mà đi phom phom, hớn hở hú còi, và hân hoan thơ thới, sung sướng ’’toả khói trắng hai bên đuờng’’ thì trông (e) hơi mỉa mai và (có phần) lố bịch!

Trịnh Công Sơn chỉ gần hoàn toàn đúng khi mô tả thảm cảnh sau đây: “Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xuơng con mình...’’ Nói là “chỉ gần hoàn toàn đúng” vì cuộc chiến đã tàn từ lâu. Thế hệ của những “mẹ già lên núi tìm xuơng’’ đã qua nhưng chuyện đào bới hài cốt vẫn được tiếp tục bởi anh chị em, hay bạn đồng đội của những người đã khuất – theo như tuờng thuật của Rajiv Chandrasekaran, trên The Washington Post:’’Vietnamese Families Seek Their MIAs.”


Bài báo mở đầu bằng một câu chuyện thương tâm. Ông Nguyễn Dinh Duy tử trận ngày 29 tháng 3 năm 1975. Suốt mấy muơi năm qua, chị của ông ta (Bà Thắm) vẫn không ngừng đi tìm kiếm xác em trong... vô vọng. Ông Duy chỉ là một trong 300.000 lính Bắc Việt chết trận mất xác – và kể như là mất luôn (Duy is one of about 300,000 North Vietnamese soldiers killed in the war whose remains have not been located - and likely never will be).

Tiếp theo là một câu chuyện cảm động về tình đồng đội: “Mỗi tuần một lần, ông Ban thức dậy lúc 5 giờ sáng, leo lên chiếc xe gắn máy màu xanh lá cây đã cũ, đi đến những nơi mà ông còn nhớ khi còn là một y tá trong quân đội. Trí nhớ của ông quả tốt; mười năm qua, ông tuyên bố, đã đào được 2.000 xác chết và đã nhận diện được một nửa trong số này...’’ Vẫn theo lời ông Ban: “Là kẻ sống sót, tôi tự thấy mình phải có bổn phận với những nguời đã chết (Being still alive, I feel responsible for the dead people).

Quan niệm sống của ông Ban, tiếc thay, không được chia sẻ bởi những người hiện đang nắm quyền bính ở Việt Nam – dù họ đều là những kẻ sống sót sau cuộc chiến vừa rồi. Khi bị chất vấn về thái độ vô trách nhiệm này, giới chức có thẩm quyền của Hà Nội, ông tướng Trần Bạch Đằng nào đó đã giải thích với phóng viên Rajiv Chandrasekaran như sau: ’’...tìm kiếm những binh sĩ quá tốn kém mà tiền thì phải dùng vào việc chăm lo cho cho những kẻ còn sống sót.’’ (Dang said the cost of searching for missing soldiers must be weighed against the need to care for the survivors of the war).

Vì đảng viên Cộng Sản Việt Nam là những nguời theo chủ thuyết duy vật nên không quan tâm đến những việc làm có tính cách duy tâm chăng? Nói vậy e không được ổn. Nhìn cái cách họ ’’thờ’’ ông Hồ Chí Minh thì biết. Họ có cả một Bộ Tư Lệnh để bảo vệ lăng ông ta mà. Họ đâu phải là những kẻ vô tâm và lo tốn kém.

Họ ướp xác ông Hồ và bảo trì cũng như bảo vệ nó tới cùng chỉ vì nó có giá trị như một thứ môn bài (patent) cho phép họ tiếp tục hành nghề cách mạng – hay ít nhất thì họ cũng tưởng hoặc mong như thế; còn 300.000 ngàn bộ xuơng của đám binh sĩ chết dấm chết dúi đâu đó, trong cuộc chiến vừa rồi, đâu còn một chút giá trị thực tiễn nào nữa khiến họ phải quan tâm.

Rõ ràng họ không phải là những người duy vật, cũng không phải là những kẻ duy tâm mà là những tên duy... lợi !

Hãy nhìn vào thực tế, xem cô nhi quả phụ hay bố mẹ của những kẻ đã hy sinh được “chăm lo’’ ra sao –từ nửa thế kỷ qua ?

‘’Lúc ấy nguời ta sợ nhất là nhìn thấy người phát thơ. Hàng ngày hàng trăm cái thơ báo tử để trong xắc cốt nguời cán bộ xã. Anh ta đi đến nhà nào là mang đau thương tang tóc đến nhà đó... họ sợ nhất là sau cái ’lễ truy điệu trọng thể để ’Tổ Quốc ghi công’ là họ bị đẩy ra lề xã hội, không ai nuôi dưỡng.’’ (sđd trang 136 -138).

“’Lúc ấy’’, qua đoạn văn vừa dẫn, là hình ảnh của xã hội miền Bắc vào thập niên 60 và đầu 70 - khi mà Đảng Cộng Sản Việt Nam còn cần động viên xương máu nguời dân cho chinh chiến. Cuộc chiến đã tàn. Bây giờ thì họ còn cần gì đến ai nữa? (Nói chi đến mộ phần của những tên “lính ngụy” ở Nghĩa Trang Quân Đội!)

Do đó, khi thấy một phế nhân lê la xin ăn trên hè phố Sài Gòn hôm nay đừng vội nghĩ đó là thương binh của quân đội miền Nam. Không nhất thiết như thế đâu. Bây giờ ăn mày là một cơ hội đồng đều (equal opportunity), không phân biệt tuổi tác, giới tính hay thành phần xã hội.

Ranh giới giữa kẻ thắng và người bại đã bị xoá nhòa từ lâu ở đất nước này. Nơi đây – trước đói rách, khủng bố và mọi bất công xã hội – tất cả đều bình đẳng. Việt Nam hôm nay chỉ còn một nhóm nguời thu tóm hết quyền bính, đất đai, cũng như sở hữu mọi tài sản xã hội, và cả một dân tộc bị trị vì đã bị lừa gạt trắng trợn - thế thôi.

Bài báo của Rajiv Chandrasekaran kết thúc bằng một tâm sự não lòng: “Tháng 4 năm nay khi cả nước đang chuẩn bị kỷ niệm 25 năm sau ngày ’giải phóng miền Nam’ và thống nhất đất nước nhiều gia đình đã đến nghĩa trang để thăm mộ thân nhân. Riêng bà Thắm thì có cảm tưởng mình bị bỏ rơi. Theo bà ta thì ’em tôi đáng lẽ phải nằm trong nghĩa trang liệt sĩ chứ đâu phải ở rừng sâu.’(My brother belongs in the Martyrs’ Cementery,’’ Tham said, ’’not out in the jungle’’).

Người ta có thể hiểu được tình thuơng yêu vô hạn của bà Thắm đối với người em vắn số nhưng thực khó mà chia sẻ với bà ta cái ảo tưởng rằng ông Nguyễn Dinh Duy là liệt sĩ. Cùng với hàng triệu nguời khác nữa, sự hy sinh của ông Duy – chung cuộc – chỉ đẩy cả một dân tộc vào cảnh lầm than và băng hoại.

Bà Thắm vẫn chưa nhận ra được rằng cái đuợc mệnh danh là cuộc chiến “chống xâm luợc’’ và “giải phóng miền Nam’’ vừa qua chỉ là những canh bạc bịp. Nhờ vào gian manh, thủ đoạn và tất cả những mánh khoé lường gạt cần thiết nên Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thắng. Còn nhân dân thì thua trắng tay.

Họ mất ráo mọi thứ, kể cả xương cốt của người thân, để đổi lấy... những bảng ghi công: Liệt Sĩ, Gia Đình Có Công Với Cách Mạng, Mẹ Việt Nam Anh Hùng... Hoặc giản dị hơn nữa là một cái bãi đất mênh mông (chi chít bia mộ) với bốn chữ “Nghĩa Trang Liệt Sĩ" treo ở cổng vào, và chấm hết.

Chỉ có thế thôi mà bà Thắm vẫn bị đứng ngoài. Bà ta có lý do để buồn, dù đó một nỗi buồn “không lấy gì làm chính đáng.’’ Buồn hơn nữa là gần một phần hai thế kỷ sau khi chiến tranh chấm dứt, một số nguời Việt ở hải ngoại – những kẻ có nhiều cơ hội để nhìn vấn đề một cách khách quan hơn – vẫn tiếp tục tranh cãi và xỉ vả lẫn nhau về những chuyện rất không cần thiết và cũng chả chính đáng tí nào.

Họ giống như những nguời đàn bà nhà quê đi chợ bằng xe lam. Trên xe bị một thằng lưu manh dụ chơi bài ba lá, lột hết tiền, và đuổi xuống xe. Thay vì xúm nhau, túm cổ thằng khốn nạn, vả cho nó rụng hết răng rồi lấy lại tiền thì họ quay ra xa xả đổ thừa lỗi lầm cho kẻ này nguời nọ; sau đó, họ cãi vã và xỉa xói lẫn nhau – bằng những ngôn từ nặng nề và thô tục đến độ khó ngờ.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Trận chiến về quyền lực

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài “Quyền lực”, khi định nghĩa quyền lực là khả năng chi phối, khống chế và sai khiến người khác, tôi chỉ xuất phát từ góc độ chính trị, lại là thứ chính trị học truyền thống, tương đối đơn giản. Thật ra, khái niệm quyền lực còn phức tạp hơn thế rất nhiều.

Nói đến quyền lực, những người quen đọc triết học và lý thuyết văn học hậu hiện đại hẳn sẽ nghĩ ngay đến Michel Foucault (1926-84), người nổi tiếng về việc đưa ra một cách hiểu mới về khái niệm quyền lực, một cách hiểu rất có ảnh hưởng trong giới nghiên cứu không những về triết học hay văn học mà còn cả về tâm lý học, xã hội học, chính trị học và rất nhiều lãnh vực khác.

Theo Foucault, quyền lực không phải chỉ là một cấu trúc hay một tác tố (agency) bao gồm những gì mà một số người có khả năng khống chế, cưỡng bức hay ra lệnh người khác theo cách hiểu cũ. Theo ông, quyền lực có mặt ở mọi nơi (1), nó phân tán hơn là tập trung, nó nhập thể hơn là sở hữu, nó thuộc về diễn ngôn hơn là thuần túy có tính chất cưỡng bức.

Thuộc về diễn ngôn (discourse), quyền lực gắn liền với kiến thức (bởi vậy, ông hay dùng chữ “quyền lực/kiến thức” – power/knowledge): Mỗi xã hội có một “chế độ chân lý” (regime of truth) hay một thứ chính trị chung về chân lý (general politics of truth), nghĩa là một thứ diễn ngôn có chức năng quy định thế nào là đúng và thế nào là sai, thế nào là thật và thế nào là giả, thế nào là tốt và thế nào là xấu, rồi dựa trên những tiêu chuẩn ấy, nó quy định những gì nên làm và những gì không nên hoặc không được làm, cuối cùng, dựa theo đó, nó đánh giá và đưa ra những cách thưởng phạt khác nhau. Cái “chế độ chân lý” ấy được xác lập bằng các diễn ngôn khoa học và các cơ chế sản xuất các diễn ngôn ấy và sau đó, được gạn lọc, phổ biến và củng cố bằng giáo dục cũng như hệ thống truyền thông (2).

Cái “chế độ chân lý” ấy không nhất thiết bất biến và cũng không chỉ được áp đặt từ trên xuống dưới. Nếu “quyền lực đến từ mọi nơi”, như Foucault có lần nhấn mạnh, quyền lực/kiến thức cũng có thể đến từ những người bị trị. Mọi người đều có thể tham gia vào “trận chiến cho chân lý” (battle for truth), tuy nhiên, theo Foucault, cái gọi là “chân lý” ở đây không phải là các sự thật được khám phá mà chủ yếu là các quy định theo đó người ta phân biệt cái đúng và cái sai và những hệ quả quyền lực gắn liền với những cái được gọi là đúng ấy. Nói cách khác, đó là cuộc đấu tranh về tình trạng của chân lý và về vai trò kinh tế cũng như chính trị của cái gọi là chân lý (3).

Áp dụng lý thuyết của Foucault vào hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy ngay cuộc chiến đấu cho tự do và dân chủ thực chất là một cuộc chiến về quyền lực, để giành lại những quyền (rights) căn bản của dân chúng. Nhưng nói đến cuộc chiến quyền lực, không nên chỉ nghĩ đến các cuộc cách mạng bằng vũ trang hay bạo lực hay, tiêu cực và nhẹ nhàng hơn, các cuộc biểu tình hay tuyệt thực, thậm chí, không phải chỉ ở các bài tố cáo hay phê phán các sự lợi dụng quyền lực (bao gồm cả tệ nạn tham nhũng) hay hành xử quyền lực một cách sai lầm của nhà cầm quyền. Cuộc chiến quyền lực còn diễn ra một cách âm thầm trong việc xác định các khái niệm để định hướng cách suy nghĩ và đánh giá của mọi người về những vấn đề quan trọng của đất nước.

Về phương diện này, nên lưu ý, giới cầm quyền Việt Nam, hay đảng Cộng sản nói riêng, rất có ý thức. Họ vận dụng nó một cách triệt để và nhất quán suốt từ khi mới được thành lập. Họ có tham vọng viết lại từ điển tiếng Việt, ở đó, họ định nghĩa lại rất nhiều từ liên quan đến đời sống chính trị. Với họ, những chữ như “tự do”, “dân chủ”, “cách mạng”, “giải phóng”, “bình đẳng”, “tiến bộ”, “lạc hậu”, “trí tuệ”, “nhân dân”, “đất nước”, “cải tạo”, v.v. mang ý nghĩa khác hẳn. Bởi vậy, cãi với họ ở từng điểm một là một công việc vô ích. Vấn đề cần thiết hơn là vạch trần ra những âm mưu xuyên tạc chữ nghĩa, và từ đó, khung khái niệm của họ, và thay thế chúng bằng những cách hiểu mới thích hợp và chính xác hơn.

Một ví dụ cụ thể nhất là chữ yêu nước.

Trước, với người Việt Nam, yêu nước là quan tâm đến đồng bào, gắn bó với vận mệnh dân tộc và cương quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền cũng như sự phồn thịnh của đất nước. Thời Pháp thuộc, đảng Cộng sản, khi định nghĩa khái niệm yêu nước, một mặt, tập trung vào khía cạnh độc lập, mặt khác, nhấn mạnh vào yếu tố giai cấp, đặc biệt nhắm vào nông dân và vấn đề đất đai. Trong chiến tranh Nam Bắc, từ 1954 đến 1975, đảng Cộng sản lại tập trung vào mục tiêu thống nhất, nghĩa là yếu tố lãnh thổ và chủ quyền. Sau năm 1975, họ lại định nghĩa: yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội, ở đó ý thức hệ nổi trội hơn tinh thần dân tộc. Sau năm 1990, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Nga và Đông Âu, chiêu bài chủ nghĩa xã hội không còn thuyết phục nữa, họ dần dần quay trở lại với yếu tố dân tộc: yêu nước, với họ, là bảo vệ những thành quả của cuộc cách mạng kéo dài cả hơn nửa thế kỷ trong việc giành lại độc lập và thống nhất đất nước.

Thế nhưng, gần đây, khi âm mưu bành trướng lãnh thổ và lãnh hải của Trung Quốc càng ngày càng lộ liễu, khi Việt Nam đang phải đối diện với ý đồ lấn chiếm biển đảo của Trung Quốc, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Việt Nam, một lần nữa, lại thay đổi nội dung khái niệm yêu nước. Yêu nước, với họ, bây giờ chỉ còn ba nội dung chính: Một, tập trung vào sự phát triển kinh tế; hai, giữ gìn sự ổn định chính trị (nghĩa là duy trì bộ máy lãnh đạo tuyệt đối của đảng); và ba, quan trọng nhất, tin tưởng và phó thác toàn bộ vận mệnh đất nước cho đảng! Với cách hiểu “mới” như thế, lòng căm thù giặc cũng như ý chí tranh đấu để bảo vệ độc lập và chủ quyền lại bị xem là… phản quốc, và những người có những biểu hiện ấy một cách công khai bị đối xử như là kẻ thù!

Cũng vậy, gần đây, họ muốn sử dụng cuộc bỏ phiếu tín nhiệm ở Quốc Hội để chứng minh Việt Nam cũng có dân chủ, thậm chí, “dân chủ gấp vạn lần” các nước tư bản khác (theo lời bà Nguyễn Thị Doan, phó Chủ tịch nước) vì trên thế giới không ở đâu có hình thức bỏ phiếu như vậy (theo lời Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội). Ở đây, người ta thu hẹp ý nghĩa dân chủ vào việc bỏ phiếu mà cố tình lờ đi ba vấn đề quan trọng và căn bản trước, trong và sau cuộc bỏ phiếu ấy: Một, các đại biểu Quốc Hội có thực sự là đại biểu của dân chúng? Hai, việc chia thang điểm thành ba: tín nhiệm cao/tín nhiệm/tín nhiệm thấp có thực sự khoa học và có ý nghĩa?

Và ba, cái gì xảy ra sau cuộc bỏ phiếu ấy? Những người bị tín nhiệm thấp sẽ ra sao? Sẽ bị cách chức hay vẫn tiếp tục ngồi ì ra đó đến cuộc bỏ phiếu lần tới và lần tới nữa nữa?

Vân vân.

Nhìn mọi âm mưu tuyên truyền tại Việt Nam từ góc độ như thế, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là tâm điểm của cuộc đấu tranh quyền lực tại Việt Nam hiện nay.

Chú thích:

1. Michel Foucault (1998), The History of Sexuality: The Will to Knowledge, London: Penguin, tr. 63.
2. Michel Foucault (1980), Power/Knowledge (Colin Cordon biên tập), New York: Pantheon Books, tr. 131.
3. Như trên, tr. 132.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Tín hiệu gì khi tăng cường bắt bớ

Nguyễn Ngọc Già
Sau Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào, Đinh Nhật Uy, mới nhất là Từ Anh Tú vừa bị bắt giữ vào sáng ngày 25/6/2013. Nguyên nhân nào, tội danh gì khiến Từ Anh Tú bị bắt vẫn chưa biết rõ. Tuy nhiên cho đến chiều cùng ngày, Từ Anh Tú đã được trả tự do [1]. Điều này cũng không có gì đảm bảo những cuộc quấy nhiễu anh cũng như các blogger khác không tiếp tục trong tương lai với chi tiết mà RFA cho hay việc bắt giữ Tú có thể liên quan đến cuốn sách "Bên Thắng Cuộc" - một tác phẩm gây tiếng vang và tranh cãi lớn suốt nhiều tháng trước đây.

Huy Đức - tác giả bộ sách 2 phần nói trên - đã chia tay nước Mỹ để trở về Việt Nam sau khi hoàn tất khóa học tại Harvard.

Điều khó hiểu, bất kỳ ai muốn đọc "Bên Thắng Cuộc" cũng có thể tải về hay đọc trực tiếp miễn phí đầy trên mạng, cớ gì cần phải bắt giữ Từ Anh Tú nhiều giờ đồng hồ?

Em gái Tú - cô Từ Thị Minh Thu cho rằng anh trai mình giữ khoảng 20 quyển sách. Nếu đó là sách in, có lẽ điều mà giới cầm quyền quan tâm: làm sao và ở đâu Tú có những quyển sách đó? Có phải một lần nữa, nhà cầm quyền tự tố cáo trước dư luận sự kiểm duyệt vô cùng khắc nghiệt nhằm bưng bít lịch sử suốt 38 năm qua mà nhà báo Huy Đức đã vỡ hoang mảnh đất khô cằn đó, nhằm cung cấp cho bạn đọc một số sự thật bị che dấu suốt nhiều năm liền? Người Cộng sản hay tạo sự việc theo họ mong muốn nhằm "nhóng" phản ứng từ dư luận, trước khi bắt tay vào thực hiện chính thức. Không riêng gì lãnh vực chính trị, trên khía cạnh kinh tế, luật pháp, họ có những chủ trương, chính sách hay gọi là "thí điểm", ví dụ phạt cũng có "phạt thí điểm"(!)

Khác với không khí hơi e dè trước đây, khi giới blogger bị ruồng bố 5 năm về trước, thời gian sau này việc bắt giữ luôn được truyền tin nhanh nhất với sự khẩn trương và đi kèm phẫn nộ cũng như pha chút hài hước hơn là sợ sệt. Dường như ai cũng chuẩn bị tinh thần để bước vào nhà tù vì biết rõ những gì mình viết về hiện trạng xã hội Việt Nam, không bao giờ giới cầm quyền Việt Nam lắng nghe và dung thứ, bất chấp viết có viện dẫn và căn cứ đi chăng nữa.

Trước khi Từ Anh Tú bị bắt một ngày, trên trang cá nhân, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho hay [2]: một người tháp tùng trong chuyến đi đến Bắc Kinh của ông Trương Tấn Sang - Chủ tịch nước, đã báo cho ông Tạo về "danh sách 20 bloggers có thể bị bắt". Thông tin này không được xem là chuyện mua vui hay hù dọa và dĩ nhiên, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo không có ý định cợt nhã với một loại tin như thế. Người tháp tùng trong chuyến đi của ông Sang không thể là kẻ "vô danh tiểu tốt".

Không ai biết thêm chi tiết về danh sách được cho là cực kỳ bí mật này cũng như danh sách đó đã tính đến 4 người nói trên chưa. Tuy nhiên, điều đáng lưu tâm hơn con số "20", đó là thông điệp gì, ý nghĩa nào mà giới cầm quyền Việt Nam muốn chuyển đến người dân trong nước và thế giới qua việc tiết lộ này? "Tin dữ" được "bắn" ra từ Trung Quốc, nơi mà ông Trương Tấn Sang đang viếng thăm chính thức và hội đàm cùng với người tương nhiệm Tập Cận Bình.

Không thể nói việc tiết lộ của ai đó thông qua nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo là sự buột miệng, bởi những việc nhạy cảm và quan trọng như thế không thể có sự sơ sảy, thay vào đó, nó nên được xem là giới cầm quyền cấp cao Việt Nam đã có kế hoạch và cân nhắc kỹ lưỡng khi "bắn" tin như thế.

Ngày nay, kế sách "man thiên quá hải" hay "vô trung sinh hữu" vẫn còn được những người tâm đắc với "độc thủ chi diệu" sử dụng, nó xuất hiện đầy trong các bộ phim võ hiệp kỳ tình Trung Hoa phát nhan nhản trên tivi hàng ngày. Đầy trì trệ, lạc hậu nhưng vẫn đắc dụng khi người ta không thể nghĩ ra những mưu chước cao hơn.

Cũng nên ngạc nhiên một chút, khi ông Nguyễn Trọng Tạo được chọn làm nơi "phát tán" thay vì một vài cái tên khác có lập trường không phải dạng "phản biện trung thành" theo khái niệm mà nhà văn Phạm Thị Hoài sử dụng.

Giả sử biết được danh tánh người tung tin "danh sách 20 bloggers có thể bị bắt giữ", lúc đó có thể kết tội ông (bà) này vi phạm vào Luật Hình sự theo điều 88 mục 1 khoản b? Điều này nói rằng:

"Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân"

thì có thể bị án tù từ ba đến mười hai năm, trong trường hợp đặc biệt có thể lên đến hai mươi năm.

Người đoạt giải Netizen 2013 - Huỳnh Ngọc Chênh cho biết ông và một số bằng hữu cũng có thể là những người tiếp nối vào tù mà ông gọi vui là "nhập kho" [3].

Xã hội Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều giai cấp, nhiều thành phần và nhiều xu hướng quan điểm chính trị khác nhau. Do đó, khó thể đánh đồng việc bắt một vài blogger này với một vài blogger khác, dù cho họ cùng được xem là bị vi phạm quyền tự do ngôn luận. Đó cũng là sự khác biệt cần phân tách rõ giữa Đinh Nhật Uy với Trương Duy Nhất và Phạm Viết Đào. Phân tách ở đây, không phải nhằm coi nhẹ Đinh Nhật Uy hay phân hóa chia rẽ giới blogger với nhau mà để nhìn thấu vào bản chất câu chuyện, dù hình thức, tội danh bắt giữ có thể giống nhau.

Nhà thơ Nguyễn Duy đã nói: "Nghĩ cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh/Phe nào thắng thì nhân dân đều bại”, câu nói mà Huy Đức tâm đắc đưa vào tác phẩm đầu tay của anh. Do đó, mỗi blogger khi viết về lĩnh vực chính trị - xã hội cũng nên gắn kết quyền tự do ngôn luận của mình với phục vụ lợi ích nhân dân. Làm được điều này sẽ có ý nghĩa hơn và mỗi blogger trở thành từng điểm tựa nhỏ trong một liên kết lớn, vững chãi cho người dân, thay vì không tỏ rõ mục tiêu của mình.

Những "tấm bùa" vẽ như làm một cuộc "trấn yểm" cho "tâm thân an lạc" để tập trung viết như: "không bao giờ là blog phản động", "bàn chuyện văn chương thế sự" hay bày tỏ tôn kính chế độ, yêu nhân vật Hồ Chí Minh v.v... dường như không tỏ ra có mấy tác dụng hay có thể thuyết phục được giới an ninh về sự trong sáng mà chủ blog muốn bày tỏ, nó có vẻ không hiệu quả với những cặp mắt cú vọ cùng những cái đầu sói.

Tính cho đến nay, "kỷ lục văn minh" nhất mà nhà cầm quyền Việt Nam dành cho giới blogger là việc đình chỉ điều tra, cũng như trang báo Tuổi Trẻ đã buộc phải đăng lời xin lỗi chính thức blogger Phạm Chí Dũng theo yêu cầu của ông.

Không ai không biết tất cả các trang báo tại Việt Nam hiện nay đều chịu sự điều khiển của "Đảng", cho nên "nhất cử nhất động" việc làm của hầu hết các trang báo đều có bàn tay giới cấp cao chỉ huy và sai khiến.

Trước đó ít lâu, nhà văn Dương Thu Hương trong một buổi nói chuyện dài hơn một tiếng rưỡi đồng hồ với đài Chân Trời Mới [4], cho biết: một trong những "tuyệt chiêu" mà bà sử dụng để buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải trả tự do cho bà: đích thân bà, trong lúc bị bắt giữ, đã thông báo với họ một số bí mật quan trọng trong giới cấp cao mà bà tự âm thầm điều tra và nắm giữ, sau đó chuyển an toàn qua Mỹ và một số quốc gia khác, nếu bà bị chết vì bất kỳ hình thức nào thì những bí mật đó sẽ ngay lập tức được công bố rộng rãi trên toàn thế giới, cộng thêm khoản viện trợ khá lớn của chính phủ Pháp và phu nhân Tổng Thống Pháp lúc bây giờ can thiệp với phía Việt Nam.

Có thể hiện nay không có nhiều blogger đủ khả năng và điều kiện, bản lĩnh để làm như nhà văn Dương Thu Hương từng làm, tuy nhiên, "Công cũng cần biết thủ" phải chăng là điều nhà văn Dương Thu Hương muốn chia sẻ qua câu chuyện của bà? Ngón đòn "hồi mã thương" mà giới blogger luôn biết cần có để phản đòn khi đến lúc nhằm bảo toàn bản thân, có lẽ là bài học thiết thực? "Hồi mã thương", lợi hại ở chỗ muốn sử dụng nó hiệu quả, người "chiến binh" phải biết chuyển bại thành thắng, điều không dành cho những ai ngạo mạn và kiêu căng khi đã chọn nghiệp viết.

Trong cuộc tiếp xúc cử tri mới đây, ông Trương Tấn Sang nói [5]:

"...nếu không tỉnh táo sẽ thấy xã hội ta đen như mực, không có ông nào tốt, tuy nhiên đại đa số bà con đều tỉnh táo. Một dân tộc anh hùng không lẽ để một vài ngọn gió từ các trang mạng làm lung lay”.

Không biết thông tin "danh sách 20 bloggers có thể bị bắt" từ người tháp tùng trong chuyến đi Bắc Kinh có được ông Trương Tấn Sang biết đến hay không, nhưng cũng cần đặt câu hỏi: "các trang mạng làm lung lay" ai, nếu có? Những ai có đủ uy thế và nguồn tin đáng tin cậy để làm cái việc "lung lay"? Thông điệp mà người tháp tùng ông Chủ Tịch nước báo cho nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo có nên xếp vào việc "làm lung lay" chế độ? Nếu người tháp tùng đó được chỉ ra như là lợi dụng chuyến đi để từ bên ngoài "bắn tin" dội về trong nước gây hoang mang thì ông Sang có đủ "tỉnh táo" để đưa người đó ra vành móng ngựa trả lời trước pháp luật?

Một cuộc đấu cờ, đôi khi, các đối thủ cần một trận hòa để tiếp tục cho những ván kế tiếp. Người chơi cờ chuyên nghiệp, không nhất thiết phải luôn thủ thắng. Khi các bên biết thỏa hiệp để ván cờ được công nhận hòa lại là điều cần, tựa như một khoảng lặng nghỉ ngơi, dưỡng sức. Một ván cờ hòa cũng là ván cờ biết thí những con cờ, dù đắc lực nhưng cần thiết mà đôi bên đều ưng thuận loại bỏ. Chỉ tiếc cho những thân phận "cờ người".

Cho đến nay một nữ blogger nổi tiếng và cả tai tiếng cũng như nhiều lần bày tỏ giễu cợt Quốc hội, xem thường nhân vật Hồ Chí Minh cùng những bài viết khiêu khích, xúc phạm người khác vẫn ung dung tự tại bàn luận về "chính khách", sau khi dứt nghiệp "ăn lương nhà nước".

Những cuộc bắt bớ gần đây vẫn chưa rõ lắm tín hiệu từ giới cầm quyền Việt Nam chuyển đến dư luận. Như một bộ phim kiếm hiệp Tàu, thông thường các nút thắt và nhân vật chính xuất hiện không phải từ những màn dạo đầu. Tung hỏa mù làm chệch hướng hay lái suy đoán dư luận cũng là một trong các thủ đoạn chính trị người ta hay dùng trong chính trường. Việt Nam ngày càng tỏ ra thiếu những chính trị gia khôn ngoan và cao cờ trong việc tung sự kiện đắt giá để dẫn dắt và giành giật lợi thế từ dư luận, chí ít, qua vụ tuyêt thực của TS. Cù Huy Hà Vũ, giới cầm quyền đã nhận "ép phê" ngược. Một số blogger có vẻ trở thành "vật tế thần" cho các cuộc đấu đá và mặc cả trong mâm tiệc chia phần quyền lực.

Sói sẽ bị chê cười khi con mồi của nó chỉ toàn là "cóc ếch nhái". Bởi điều đó làm cho sói mất vẻ hung tợn và đáng sợ, thay vào đó, nó bộc lộ hình ảnh già nua cùng tài săn bắt thui chột. Một hình ảnh bất lực làm lụi tàn ngay cả tính đe dọa trong nội bộ bầy đàn của nó, khi chính những "bạn săn mồi" xâu xé vài "con cóc", dù già hay non. Hình ảnh này càng làm bệ rạc tính uy nghi của loài săn mồi bầy đàn được cho là nguy hiểm nhất.

Hãy đón chờ thêm những động thái bắt người phía trước như lời báo động của viên tháp tùng trong chuyến đi của Chủ Tịch nước, biết đâu một vài con mồi xứng đáng hơn là mấy con "cóc ếch nhái" trước khi nhận định tiếp tục. Tuy vậy, luận điểm của ông Phạm Chí Dũng nên được đồng tình [6]:

"Không khí chính trường trong nửa cuối năm 2013 được hứa hẹn sẽ không quá thâm trầm. Thậm chí là ngược lại".

Nguyễn Ngọc Già
Nguồn: Diễn Đàn Thế Kỷ

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

VNCS: Lao Động Khổ Sai, Lao Động Tình Dục
Tác giả : Vi Anh



Đọc phúc trình của Bộ Ngoại Giao Mỹ, nghe một số đồng bào nạn nhân đích thân nói trên phát thanh, phát hình của Mỹ như VOA, RFA và của Pháp như RFI, người Việt hải ngoại không thể không kêu trời. Trời ơi, ngó xuống mà coi thời buổi này, đầu thế kỷ 21, thiên niên kỷ thứ 3 rồi, mà người Việt ở nước nhà VN vì sống trong gọng kềm CS, còn bị lường gạt lo lót, chạy chọt đi “xuất khẩu lao động” theo chương trình của Đảng Nhà Nước để rồi phải lao động khổ sai, nô lệ tình dục tại nhiều nước.

Bằng cớ công chứng thứ nhứt: phúc trình thường niên về tình trạng buôn người trên thế giới 2013 của Bộ Ngoại Giao Mỹ công bố ngày 19/6 cho biết chính phủ Việt Nam chưa tuân thủ hoàn toàn các chuẩn mực tối thiểu về bài trừ nạn buôn người dù có nỗ lực đáng kể. Việt Nam năm nay vẫn tiếp tục bị xếp vào Bậc 2, tức các nước có vấn đề, chưa đạt tiêu chuẩn tối thiểu, nhưng có nỗ lực phòng chống buôn người. Việt Nam là điểm xuất phát và cũng là đích đến của tệ nạn buôn người vào hoạt động mãi dâm và cưỡng bức lao động. Phụ nữ và trẻ em Việt Nam thường bị bán vào các đường dây mãi dâm xuyên suốt.

Phúc trình của Bộ Ngoại Giao Mỹ nói rõ các công ty xuất khẩu lao động của Việt Nam mà đa số có liên hệ với các cơ sở nhà nước và các trung gian môi giới thường buộc những người muốn đi lao động nước ngoài phải trả các chi phí quá mức, khiến lao động Việt khi ra nước ngoài thường bị lâm vào cảnh nợ nần và dễ trở thành nạn nhân của nạn cưỡng bức lao động.

Báo cáo còn cho biết, một số công nhân phải ký vào các hợp đồng viết bằng ngôn ngữ mà họ không thể hiểu được cũng như không được trợ giúp trong khi xảy ra các tình thế bất ngờ.

UNICEF, Qũy Nhi Đồng của Liên Hiệp Quốc mỗi năm đều có tài trợ cho VN, nói rõ Việt Nam cũng là điểm đến của kỹ nghệ du lịch tình dục trẻ em với các khách hàng chủ yếu từ Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, hay Châu Âu, Mỹ, Anh quốc, Australia.

Còn tại Quốc Hội Mỹ, không năm nào không mở cuộc điều trần cấp uỷ ban quốc hội về vấn đề lao nô và nô lệ tình dục của VN. Năm nay trong cuộc điều trần ngày 18/4, DB Christopher Smith Chủ Tịch Tiểu ban chỉ trích Bộ Ngoại Giao Mỹ đã vội vã khi rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách Bậc 2. Lẽ ra phải đẩy xuống vị trí Bậc 3 mới phải.

Bắng cớ thứ hai với âm chứng của một số nạn nhân và nhân chứng xác nhận nạn buôn người và nô lệ tình dục do chế độ CSVN xuất khẩu” qua các nước. Tin đài phát thanh VOA, tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ: “Anh Trần Ngọc Sơn, một công nhân lao động Việt Nam ở Nam Triều Tiên, cho biết có tình trạng người lao động phải bỏ ra số tiền quá nhiều so với quy định của nhà nước. Đa số ai cũng bảo phải mất từ 6 tháng, và nếu như người nào nhiều là một năm, để trả nợ số tiền đã vay”.

Anh Trần Ngọc Sơn nói “có tình trạng người lao động phải làm việc thêm giờ mà không được trả tiền, nhất là những người làm trong lĩnh vực nông nghiệp và đánh bắt thủy sản ở Hàn Quốc, nhưng giờ không còn phổ biến như xưa.” Anh nói như nhận xét của phúc trình Mỹ, “Một số người đi theo các đường dây (đưa người ra nước ngoài), thì tất nhiên họ phải chạy chọt này nọ. Đa số ai cũng bảo phải mất từ 6 tháng, và nếu như người nào nhiều là một năm, để trả nợ số tiền đã vay. Tùy từng trường hợp”.

Bằng cớ thứ ba, một sự thật không thể chối cãi, một trách nhiệm không thể trốn tránh, đó là Đảng Nhà Nước CSVN có dính líu trong hành động tai hại cho người dân và danh dự quốc gia VN này. Xuất khẩu lao động” là quốc sách của Đảng Nhà Nước CS Hà nội. Chế độ CSVN có đủ thứ bộ, nha, cục, vụ, viện về lao động, xã hội, công an, ngoại giao, tuỳ viên của ngành ở các toà đại sứ, lãnh sự để xét cấp giấy tờ và kiểm soát chính sách xuất khẩu lao động. CS Hà nội có ngửa tay nhận tiền viện trợ xoá đói giảm nghèo, qũy yễm trơ nhi đồng của UNICEF. CS Hà nội cho đến nay đã xuất khầu lao động trên 500.000 người. Số tiền đồng bào này gởi về cả tỷ Đô la, làm giàu làm mạnh cho ngoại tệ mạnh cho nền tài chánh của Đảng Nhà Nước CSVN.

Bất cứ một hồ sơ xuất ngoại nào đều cũng phải qua nhà cầm quyền địa phương. Các cơ sở và công ty dịch vụ chỉ chạy giấy cung ứng giấy tờ cho Bộ thôi. Nhà cầm quyền tỉnh, bộ không ăn hối lộ, không chia chát với các dịch vụ thì ai vô đây.

Những đảng viên cán bộ những ngành có liên quan xuất khẩu lao động trong ngoài nước đã làm gì, tại sao không biết những chuyện động trời xảy ra cho đồng bào VN đi bán sức lao động ở ngoại quốc để đem ngoại tệ quí hiếm về cho VN.

Tại sao lấy mũ ni che tai trước thảm cảnh hàng mấy trăm người Việt bị bắt làm lao nô sống trong thành phố ngầm ở Nga, hàng trăm phụ nữ VN bị hãm hiếp ở Pháp khi trốn nằm chờ “nhảy xe” đi lậu qua Anh để bị nhốt trong nhà trồng cần sa bán lậu ở Âu châu.

Không cớ gì đội ngũ cán bộ đảng viên CS ăn sung mặc sướng hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi từ tiền thuế của người dân lại không biết phụ nữ VN, trẻ em VN phải hối lộ xin giấy đi lao động xuất khẩu, vượt biên qua Miên để bị đưa vào động mãi dâm ở Miên, Mã, Thái.

Không lẽ những ông to mặt bự như Nguyễn phú Trọng, Trương tấn Sang, Nguyển tấn Dũng có cả một ban bí thư trung ương, cả đàn chánh phủ, cả một nội các mấy chục bộ lại không được báo cáo, không được nghe thân nhân chánh trực nói nhỏ những khổ nhục mà đồng bào phải chịu khi xuất khẩu lao động. Mỹ còn biết, còn viết thành phúc trình bằng công văn, làm thành phóng sự, không lý do gì Đảng Nhà Nước của VNCS không biết.

Hỏi tức là trả lời, không thể không qui trách cho Đảng Nhà Nước CSVN đã làm khổ nhục đồng bào xuất khẩu lao động và làm nhục danh dự quốc gia dân tộc VN ./.(Vi Anh)

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Khi cán bộ ra nước ngoài còn đi ăn cắp, xin đừng nói hãnh diện là người Việt Nam!

Dân Choa


Mấy tuần trước dư luận ồn ào về cái biển cảnh báo của người Nhật có tiếng Việt cảnh báo nạn ăn cắp.
Tuy là một tấm ảnh đơn giản nhưng nó cũng nói lên phần nào dư luận Nhật đánh giá đạo đức của người Việt.

Các loại biển tương tự đã từng xảy ra ở Tiệp, ở Đức hoặc Thái Lan.

Một hình ảnh không đẹp chút nào cho người Việt.

Người Việt không phải như thế. Nhưng dù sao thì muốn tìm lời biện minh với hình ảnh đó cũng bối rối.

Ừ thì người dân lao động phổ thông ra nước ngoài, có dịp tiếp cận với hàng hóa, thấy quầy bán tự giác,
ít người trông coi nên nảy sinh lòng tham. Họ bị bắt khi trộm cắp. Điều đó không những là sỉ nhục cho cá nhân mà còn gây sỉ nhục cho đất nước.
Đối với những con người này thì lòng tự trọng hay danh dự quốc gia là một điều xa xỉ.

Image
Nhưng có những con người mang danh là cán bộ, lại là những người có chức vụ đi ra nước ngoài làm công cán đối ngoại thế mà cũng có thói tham lam vô độ. Nếu họ nghèo hay ít hiểu biết thì một nhẽ, đằng này rất có điều kiện mà cũng trộm cắp.

Năm 2005 có bà Võ Thị Hồng Phiếu, tổng giám đốc nhà máy Bia Huế đi công tác ghé qua Thái Lan. Bà đã lấy chiếc kính râm mà „ quên „ trả tiền. Khi nhân viên bảo vệ truy hỏi thì bà lớn tiếng quát nạt. Bà cho rằng, bà thiếu gì tiền mà phải ăn cắp. Nhưng camera ghi hình thì không quên. Kết cục bà bị toàn Thái Lan xử phạt 4000 bạt.

Gương tầy liếp như thế nhưng hình như cán bộ của Việt Nam không thể bỏ thói „ quen „ này được. Như dư luận đã kể lại trên báo chí, ngay có vị giám đốc giàu có cũng có các hành vi tương tự đi ra nước ngoài công tác.

Mới đây, tin còn nóng hổi: "Cơ quan chức năng Singapore vừa tạm giữ một nữ cán bộ của Thành Đoàn TP HCM vì nghi ngờ trộm cắp trong siêu thị. Nhiều khả năng, bà này sẽ bị đưa ra xét xử tại quốc đảo Sư Tử.

Bà này là cán bộ thuộc Uỷ ban kiểm tra Thành Đoàn, được Thành ủy TP HCM cử đi học ngoại ngữ ngắn hạn tại Singapore. Khi lớp học sắp kết thúc, bà đi mua sắm tại siêu thị và cầm một món đồ trị giá khoảng 300 SGD nhưng lại không trả tiền. Cơ quan chức năng Singapore đã tạm giữ. Vị cán bộ này có thể phải ra toà xét xử do luật pháp Singapore khá nghiêm khắc với hành vi trộm cắp.

Ông Tất Thành Cang, Bí thư Thành Đoàn TP HCM, xác nhận thông tin và cho biết sẽ báo cáo lên Thành ủy TP HCM về vụ việc này sau khi đoàn cán bộ về nước. “Nếu sự việc trên là có thật chúng tôi sẽ xử lý nghiêm”, ông Cang nói. (Theo VTC news)

Nếu những người cán bộ như bà cán bộ thành đoàn thuộc diện nghèo khổ, lòng tham trỗi dậy khi tiếp cận với thứ xa hoa có thể hiểu được. Nhưng bà là cán bộ đoàn, lại ở ủy ban kiểm tra đoàn thì hành động đó quả vô cùng khó hiểu. Hay là người cán bộ có thói quen như thế ở môi trường trong nước. Họ đi ra nước ngoài xem nơi đó cũng như nước mình chăng ?

Mấy hôm nay đang bàn tán bài " Hãnh diện là người Việt Nam" Đọc càng thêm xấu hổ. Khi cán bộ ra nước ngoài còn đi ăn cắp, xin đừng nói hãnh diện là người Việt Nam!

nguồn FB của Dân Choa

Post Reply