QUÁN BIÊN THUỲ

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Image

Đốt Charlie

Phan Nhật Nam

Bây giờ là buổi chiều. Buổi chiều với nắng vàng và gió lộng. Không còn tiếng nổ trong không gian, ba mỏm núi bốc những sợi khói nhỏ, mờ mờ hơi nóng. Nóng không phải hơi nắng mặt trời nhưng do âm ỉ của thuốc súng chưa kịp tan, còn lẫn khuất nơi cây cỏ, đất cát.
- Thiếu tá... Hải gọi nhỏ Mễ. Lúc riêng rẽ, ít khi hai người gọi nhau bằng cấp bậc, nhưng bây giờ, tình hình đã khác, trách nhiệm và bổn phận quá đổi nặng nề, thêm xúc động trong lòng qua cái chết của người chỉ huy. Hải nhắc nhở Mễ,
Thiếu tá, tổng kết là mình chết 20, 40 bị thương cần di tản,
Mễ gật đầu, đưa mắt nhìn hỏi Liệu...
- Đúng vậy! Liệu đáp nhỏ. Anh toubib hết đồ nghề, nhìn xuống xác anh Năm, như một cách lẫn tránh.
- Dạ, có ông Hùng muốn nói chuyện với thiếu tá. người lính truyền tin đưa ống liên hợp cho Mễ.
Tiếng Hùng ở C1, vọng trong máy: Trình Mê Linh (danh hiệu truyền tin của Mễ), ở tôi thì không có gì, nhưng từ sáng tới giờ sao chẳng nghe 008 (Tiểu đoàn trưởng) nói gì với tôi hết... Giọng Hùng mang vẻ trách móv xa vắng, ắt hẳn hắn đã linh cảm được tai nạn xảy ra. Mễ nhìn xuống xác anh Năm, đôi mắt đỏ mệt mỏi chớp chớp, hình như có giọt nước mắt lưng tròng,
- 008 đã bắt tay với ông Phan (Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 1 Dù, đã tử trận Hạ Lào, 1971), biết thế thôi, đừng nói cho ai hay...
- Dạ, tôi nghe rõ Mê Linh. Hùng không còn hơi sức để hỏi gì thêm.
Súng lại nổ dưới Charlie. “Cất” anh Năm lại, đừng cho lính biết. Tất cả ra giao thông hào. Mễ ra lệnh ngắn. Lời nói đanh cứng, dứt khoát. Trong ráng chiều, những người lính ở C1 và C 2 chăm chú theo dỏi trận đánh nơi cao độ C.
Bắt đầu, cối và sơn pháo từ những cao độ phía Tây bắn từng nhịp bốn trái một vào căn cứ, xong bộ binh sư đoàn Điện Biên từ hai hướng Tây, Tây-Nam xếp hàng như đi điễn hành tiến vào...
- Đúng là tụi nó điên rồi, không điều động, ẩn núp gì cả... điện biên cái con c...!! Lính ở C1 và C2 dồng đứng dậy khỏi giao thông hào chơi trò chơi mới,
- Mầy bắn vào cái hố có bốn thằng núp dưới kia, nếu trật thì để tao. Hai người lính đại đội 112 thách nhau dùng súng phóng lựu M 79 và hoả tiễn cầm tay M72 từ đồi cao bắn xuống. Trái đạn bay đi khoảng ngắn, đất bụi bay lên... Bốn thân xác phơi trần trụi, vật vã, lăn lóc. Người lính nhỏMiền Bắc đi giải phóng ai đây; trong phút chốc họ đã trở nên thành những bia thịt sống thậm vô ích và chết với gía qua rẻ.
Cuộc tấn công vào cứ điểm C kéo dài năm đợt. Lính Thinh đánh tỉnh táo, chắc chắn. Nhưng bỗng nhiên, Mễ có quyết định: Rút nó về, nhỡ tối nay, nó hết đạn thì sao...
Hải gọi liền máy, bảo Thinh,
- 401 ( Thinh) đây 06 (Hải), anh xếp va-ly lại, nhớ mang theo mấy thằng rách áo, về ở với bố mẹ...
- Vâng, vâng, tôi nghe rõ, tôi cũng có ý định đó vì kẹo gần hết, nhưng sợ 008
và 007 (Tiểu đoàn trưởng và phó) hiểu lầm. Tội nghiệp chưa, đến giờ nầy, Thinh vẫn không biết người anh cả của tiểu đoàn đã đi khuất. Trong âm nói của Thinh vang động mối hân hoan vui sướng” về với bố mẹ”. Thinh đâu tiên đoán được đến lượt mình ở ngày mai?!
Đại đội 111 rút được về C2, năm giờ chiều, trời chỉcòn chút ráng đỏ, gió lạnh... Đỉnh Charlie trống trải cháy ngọn lửa điêu tàn. Và trong hoang vu hấp hối của cỏ cây, hằng trăm người lính Bắc Việt, “những chiến sĩ Điện Biên của sư đoàn Thép, đơn vị vang danh bốn chiều lục địa, những người lính Quân đội Nhân Dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà”, tất cả đồng nhào lên Charlie một lượt... Những “bàn chân gang thép mang linh hồn vũ bảo vào Nam giải phóng, đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược”đồng chạy mau hơn, nhanh hơn... Để cùng lăn lộn, giành giựt trên vùng đất vỡ nát, lầy lụa xác người và hơi thuốc đạn. Như một cơn đồng nhập quẩn trí, tất cả đồng vất bỏ vũ khi, dùng tay trần cào, xới, bới, móc... Đám lính đói sưđoàn Thép kiếm thức ăn. Họ tìm gạo sấy, thịt hộp và C Ration. Cuối đường giải phóng, những “chiến sĩ Điện Biên anh hùng” tìm ra “vinh quang đích thực” nơi những hộp thức ăn chế tạo tại Mỹ, giữa đám xác người Miền Nam họ vừa tàn sát.
... Bom!! Bom!! Đốt cháy tụi nó hết!! Mễ nói như thét,
- Có ngay! Hải “khều” ngay ba phi tuần Napalm; toán lính Bắc định tháo chạy, nhưng không kịp nữa. Theo một hướng Tây-Đông chính xác, ba chiếc Skyraider cùng chúi xuống một lúc... Lửa lồng lộng, lửa vàng đỏ trộn khói đen cuộn lên lớp lớp... Trong cỏ cây cháy khét có mùi thịt. Thịt của người và thịt của thức ăn. Lính cộng sản sưđoàn Điện Biên Phủ vinh quangchết trên mục tiêu vừa chiếm lĩõnh - Những hộp thịt thức ăn chế tạo tại Mỹ.
Ngày 13 tháng Tư, Mễ cho đại đội 112 xuống chiếm lại C. Lính của Hùng “móm” vừa từ trên “hột lạc” đổ xuống bị bật lại ngay bởi một hàng rào của cối 60, 82 và sơn pháo 75 ly bắn thẳng từ ngọn đồi phía Tây. Bộ chỉ huy tiểu đoàn không một chút do dự: Cho thằng 2 về, tụi nó hận mình về vụ hôm qua. Lên phía Bắc không được, Mễ thử bung quân ra hướng Đông để tìm bãi đáp. Phải có một bãi đáp bất cứ gia nào, thưlng binh, người chết, xác anh Năm...Tât cả cần phải di tản. Sự hiện diện của những đau đớn nầy làm lòng nặng xuống, cũng có thể gây nên tâm lý phục hận phẫn nộ, nhưng cũng là lần suy sụp lo sợ. Phải di tản gấp số thương binh. Mễ nói với Thinh:
- Ông gắng ra chỗ nầy, (một trãng trống cách C2 khoảng ba trăm thước về hướng Đông), kiếm được LZ( bãi đáp trực thăng), di tản hết thương binh và người chết, tụi còn lại mới yên lòng được. Đừng để cho lính có cảm giác bị bỏ rơi, tinh thần họ giản dị, dễ xúc động. Hơn nữa, mình hết đạn và nước uống. Nhé, ông gắng ra cho được.
- Dạ, thiếu tá để tôi.
Thinh can trường như Triệu Tử Long, dẫn đại đội chỉ trên khoảng bốn mươi người rời căn cứ. Cái trãng trống kia rồi, 50, 40, 30...Gắng chút nữa, mình có nước uống!! Thinh thúc dục người lính. Nhưng không thể được. Bắc quân bắt đầu khai hoả, bốn phía cùng nổ từ các cao điểm chung quanh. Nguy hiểm hơn, địch cắt đứt đường về, quân ở C2 cố ra đón bị chận lại, không thể dùng một thứ vũ khí nào khác ngoài lựu đạn. tiến không được, thối lui không xong, trên đầu bị vây chụp bởi đạn sơn pháo từ dãy cao điểm phiá Nam dội xuống. Thinh ngã chết. Chỉ còn con đừng nầy cho người lính trẻ. Thinh chết giữa trời, trên đồi cháy. Viên đạn cuối cùng vừa bắn ra. Bóng Bắc quân vây kín.Trái lựu đạn còn lại cũng vừa ném... Người sĩ quan tuổi quá hai mươi ngã xuống bởi chục nòng súng xả đạn vào. Chuẩn uý Ba nhào đến ôm xác Thinh, hứng nốt những viên đạn còn lại.
Mễ nổi điên trong giao thông hào, gọimáy liên lạc với đại đội 111,
- Ở đấy còn có ai?
- Có tôi. Khánh, sĩ quan liên lạc tiền sát pháo binh đáp mau.
- Anh coi đại đội, cố dẫn về lại tôi, có thằng 4 ra đón.
- Tôi nghe đích thân rõ. Người sĩ quan pháo binh gom quân làm một mũi dài. ...Đánh!! Để tao đi đầu, lựu đạn mở hết kíp ra. Trung sĩ Lung, người hạ sĩ quan thâm niên nhất dẫn đầu toán quân, xung trận như mũi tên lửa. Đường về có được rồi, bắn bắn che nhau, Lung về chót... Nhưng còn hai ông thầy!! Lung cố chạy ngược trở lại nơi xác của Thinh và Ba. Một loạt đạn vô tình nào đó... Chầm chậm Lung ngã xuống. Ba xác chết chồng lên nhau bất động.
Hai giờ chiều, Bắc quân mở cuộc tấn công mới, cuộc tấn công công khai, nhắm thẳng vào C2, căn cứ chính.
- Tụi nó dứt mình. Được, mầy “điện biên” tao “nhẩy dù”, xem ai hơn ai... Tất cả ai ngồi được, kể cả bị thương, ra hết giao thông hào, thằng nào kêu la khóc lóc, tao bắn chết. Chính tao bắn... tụi mầy để thua, tao bombing vào đây. Chết, chết tất cả!! Mễ gào lên, xong ngất xỉu.
Liệu nói nhỏ, thì thầm sát tai Mễ: Tim ông nó mệt rồi, đừng “gonfler” quá, ông chết luôn, hết người chỉ huy.
Lính sư đoàn Điện Biên thổi kèn xung phong dưới yểm trợ của cối và sơn pháo. Quân ta sau mỗi đợt pháo, đứng khỏi giao thông hào... Vào nữa...vào nữa đi con...Có đứa nào già không mầy? Tao chỉ thấy toàn con nít, đánh tay không tao cũng có thể bóp cổ tụi nó được!! Trước mắt lính nhảy dù, một lớp, hai lớp, những “đứa trẻ” cứ tuần tự đi tới... Những lớp trẻ con chơi trò đánh nhau. Chơi trò chơi ác độc do ép buộc, tuyệt vọng và vô nghĩa lý.
... Không nương tay với nó... Napalm Hải!!
- Có ngay!!
Hai chiếc skyraider xuống thấp như chưa bao giờ thấp hơn, dưới đất thấy được chiếc mũ trắng của anh pilot; hình như anh muốn nhìn quân bạn, anh muốn chào thăm hỏi như sau mỗi lần thả “líp” dù chót, phi cơ thường hạ thấp cách mặt đất khoảng vài mươi thước để “chào bãi”. Ở đây cũng thế, hai chiếc máy bay rà sát xuống coi như gần đụng ngọn cây. Thả bom với cao độ như thế nầy chắc chắn không chệch một thước, bom nổ cháy xém đến tuyến phòng thủ của quân bạn, đám lính Bắc lăn lộn trong bãi lửa, chạy dạt ra xa... Nhưng ô kìa, hai chiếc skyraider không lên được nữa... Lòng can đảm và tình đồng đội đã giết các anh. Các anh đã xuống quá thấp để ném bom thật chính xác, để bung địch ra cho bạn. Các anh đã quên thân mình... Hai cánh đại bàng chúi xuống. Chúi xuống nữa và bốc cháy... Vĩnh biệt các anh! Đám cháy kết thúc trận đánh. thây người cháy đen nằm chật sườn đồi.
...chúng nó đánh, chết như thế để làm gì nhỉ!? Một ngày của hai mươi bốn giờ trên thép đỏ và máu nóng đi qua. Trời tối dần. Đêm xuống... Người lính dựa lưng vào giao thông hào liếm môiâ. Môi anh nóng như miếng vỏ cây bi nung khô... từ sáng đến giờ chưa được uống nước. Anh không còn sức để nghĩ thêm sau chữ “nước”.
Ngày 14 tháng Tư tiếp theo. Tính đến hai giờ chiều, C2 nhận hơn 2000 đạn “delay” và nổ chụp. toàn bộ tiểu đoàn 11 co mình trong giao thông hào dưới cơn mưa pháo không dứt đoạn.
... Nó nổ xa mình. Hải thều thào,
- Ừ phía Tây, ngoài tuyến mình. Liệu tiếp lời, gật đầu đồng ý với Hải. Nhưng thật ra cả hai đều tự dối, pháo không rơi một điểm, một tuyến, pháo chụp toàn thể C2. Pháo tan nát. Pháo mênh mông. Tất cả những lời nói chỉ là cách tự đánh lừa, trấn tỉnh đồng đội và cũng chính mình.
- Hôm nay 14? Liệu hỏi bâng quơ, gợi chuyện trong tiếng nổ ầm ỉ sắc buốt. Mễ Hải không trả lời, đưa mắt dò hỏi. Còn lời nào trong cơn mưa lũ của sắt thép vang độâng nầy ?!
- Hôm nay mười bốn, mai mười lăm, ngày đầy tháng con tôi...
Bốn con mắt lại mở ra. Mễ và Hải không hiểu ý Liệu. Không hể hiểu nổi... Vì Liệu đang nghĩ: Không lẽ ngày đầy tháng con bố lại chết?! “ Chết”, chữ nhỏ ngắn nầy làm tê liệt hết phản ứng. Chết đến từ tiếng “bục” âm âm nơi xa, sâu trong rặng Big Mama... xong nổ “oành” đâu đây... Hình như ngay trên đỉnh đầu, trong lòng nón sắc đang vang động u u. Giữa khoảng cách kinh khiếp nầy chữ “chết“ hiện ra sáng rực như một giải quang báo, tiếp nổ bùng với toàn hể sức công phá. Tiếp tục... tiếp tục... Bốn cây 130 ly nơi xa nã đạn xuống Charlie nhịp nhàng từng ngắt khoảng ngắn.
Năm giờ chiều, trận mưa đại pháo chấm dứt để cối và sơn pháo 75 ly điểm giọt, bắn thẳng vào căn cứ.
- Xong rồi, tụi nó “chơi’ mình lại. Mễ đứng khỏi giao thông hào. Đêm nay là quyết định, mình và nó last fighting... Mễ báo cáo với bộ chỉ huy lữ đoàn,
- Bây giờ tụi nó hết “in coming (pháo kích)”, và bắt đầu “ground attack”. Không phải Mễ sính dùng tiếng Mỹ, bởi thông thường, những danh từ kia phải được nguỵ hoá, nhưng bây giờ tìm đâu ra thì giờ để dò tìm từng từ trong bảng “Ám danh đàm thoại”.
- Nó đánh anh chưa? Viên lữ đoàn trưởng ở căn cứ Võ Định vào máy liên lạc trực tiếp với Mễ.
- Bắc đầu ở hướng cũ, tây và tây-nam, heavy attack,
Tất cả đứng khỏi hầm, đạn súng colt lên nòng, bác sĩ Liệu lúi húi tìm mấy trái lựu đạn... Tôi hết đồ nghề bác sĩ rồi, chơi “đồ chơi” mới vậy, lần sau đi hành quân, tôi mang một khẩu đại liên 60!! Không ai còn sức hưởng ứng câu đùa của Liệu. Mễ nhăn mặt đau đớn, ngày hôm qua bị một quả pétard (thủ pháo, một loại lựu đạn biến chế) nổ quá gần, sức nổ ép cứng xương sườn vào vách hầm, để lại những vết máu bầm lấm chấm...
Trời tối dần, hơi núi đùn lên cao, đậm đặc thêm vì khói súng. Bắc quân đã chiếm được một phần giao thông hào, tuyến phòng thủ của đại đội 114...Trình Mê Linh, nó lấy của của tôi một “khúc ruột”. Cho, đại đội trưởng 114 báo cáo với Mễ,
- Hải, nói với lữ đoàn nó vào tuyến mình rồi,
- Tao...tao mệt... nói không nổi, Liệu giúp hộ...
Bác sĩ Liệu, to người, béo mập, đang khom lưng lẫy súng colt lạch cạch như trong phim cao-bồi, chớp ống liên hợp máy truyền tin,
... Dễ thôi, để tôi... Tụi nó cắm được một phần vỏ lạc của tôi... Liệu ề à với giọng tỉnh táo đùa cợt,
- Ông phải la lên mới được, đùa thế, ngoài ấy tưởng mình giỡn,
- Giỡn làm sao, không đùa như thế, chẳng nhẻ lại khóc lóc mếu máo sao... Ê... chạy đi đâu!! Liệu quay nòng súng colt về phía một anh lính đang nháo nhát chạy vào khu giao thông hào trung tâm,
- Đi ra, ông bác sĩ không bắn mầy thì tao bắn cho mầy biết chết như thế nào? Mễ hét lớn với người lính... “biết chết như thế nào?!”. Mễ cũng buồn cười vì lời nói của mình... Chết rồi, thì biết chó thế nào nữa?! Ầm! Một trái bộc-pha nổ thật gần, bắn Mễ ngã ngữa người xuống. Mễ lồm cồm bò dậy, sờ lưng,
...bác sĩ, chắc tao bị thương nặng!! Mễ thều thào.
Liệu xoa tay lên lưng Mễ, thân áo rách lỗ chổ...Đếch có gì cả, mảnh nhỏ như bụi, vì ông yếu sức nên ngất thế thôi, đây là hậu quả những cú đấm của thằng Hennessy, Couvoisier trước kia!!
...C... giờ nầy mà mầy còn trêu được!
- Stupid! Why you fire forty-five? Anh vố vấn trưởng, thiếu tá Duffy hét vào tai Liệu,
- I have only this... Mẹ mày, giờ nầy còn why với what....What cái cần câu ông ấy,
Một đợt, hai đợt... năm đợt, Bắc quân tràn vào, bị đẩy ra, lại tiếp tục tràn vào, chiếm được một đoạn giao thông hào, xong lấn dần từng đoạn,
- Không xong rồi, nó nhiều “tiền” quá! Hải lẩm bẫm.
Mễ nhìn Liệu, Hải, cố vấn trưởng Duffy. Tôi muốn ở lại! Mễ chắc giọng.
-Nó vào chỗ thằng 4 (đại đội 4), đang qua chỗ thằng 2, mình hết đạn... Dọt, tôi đề nghị. Hải khôn ngoan, dứt khoát.
- Phải, mình “ra” đi, ở đây chịu không nổi, tụi nó đông gấp mấy mình. Liệu tiếp theo. Chữ “ra” ráo hoảnh trống không.
Mễ im lặng, gở nón sắc ra khỏi đầu,
...No hesitation, the best way... Sir? Duffy, Thiếu Tá Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, người quấn băng loang lổ máu khô, anh đã bị thương ba nơi trên thân, nhưng quyết ở lại với tiểu đoàn. Viên cố vấn, hiểu được phút giây nghiêm trọng đối với Mễ; lần đầu tiên anh gọi người cùng cấp bậc, một thiếu tá người Việt với danh xưng kính trọng, “sir”.
- Đồng ý, cho thằng 2 dẫn đầu, xong đến đại đội chỉ huy và thằng 4 bao chót. Hải, gọi máy qua thằng 3, bảo nó “nhổ neo” ra điểm hẹn nầy. Mễ chỉ một vùng tập trung ở hướng đông-bắc trên bản đồ. Bảo nó đi ngay, mang theo thương binh.
Lần đầu tiên trong đời tác chiến Mễ phải “chạy”, Mậu Thân, 1968, ở Huế, với đại đội chỉ còn ba mươi người, dẫu trùng trùng nguy khốn, Mễ vẫn điều quân phản công chiếm lại cổng thành Thượng Tứ. Nhưng, lần nầy, viễn ảnh toàn bộ tiểu đoàn bị tràn ngập, Mễ không còn cách nào khác hơn.
- Hướng đông-bắc, 800 ly giác, thằng 3 sẽ ra đó với mình. Hải chuyển lệnh cho Hùng “móm”, thành phần xung kích còn lại cuối cùng của đơn vị.
...OK, em nghe, em làm được cái một. Hùng “móm” vẫn ranh mảnh như không có chuyện quan trọng đang xẩy ra.
Đi xuống hoài, vực sâu hun hút, trời tối thẫm và cây rừng đan lưới. Chỉ tiếng lá khẽ động dưới bước chân cùng những thanh âm rên rỉ gầm ghìm trong cổ họng.Đoàn quân lẫn vào bóng đêm như muốn tan thành vật vô hình. Sau lưng họ trên đồi cao, C2 bốc lửa ngọn. Bom đã thả xuống khi người lính cuối cùng đại đội 1 ra khỏi vòng vây. Thương binh nặng và xác “anh Năm”, chuỗi cảnh tượng chập chờn chồng lên trí óc Mễ. Mệt, cảm giác rõ rệt nhất, ba ngày và đêm không ăn, ngủ, chỉ nhấp chút nước lã cầm hơi và cuối cùng, cuộc rút quân trong đêm... Đi nữa đi Hùng, đúng hướng rồi, cứ tiếp tục, phía mặt trời đó, bao giờ đến chỗ trống thì báo tôi. Nhớ liên lạc với thằng 3 ở phía trái, thấy mặt trời thì bảo. Mễ thì thào chuyển lệnh cho Hùng, đại đội trưởng đại đội 1.
Mặt trời chưa thấy, đêm còn dầy. Dầy từng khối lớn mông mênh và đặc cứng. Hình như đã đến đáy một “tan-véc”(khe nhỏ chạy giữa hai chân núi), chân bước lên lớp đất ẩm. Nước! Người lính đặt tay xuống “mặt nước”. Không có, chỉ một lớp lá ẩm mục và đất bùn, khe suối mùa, chưa có nước. Nhưng bàn tay có chút ẩm, người lính lè lưỡi liếm miếng nước vô hình đó .
Qua khỏi “tan-véc”, lên đỉnh đồi, thấy lại sau lưng ngọn lửa ở C2 bập bùng. Bạn bè ta còn đó, sống làm sao được hở trời ?Mễ kiệt lực hỏi,
- Hải, khi chót mình để “anh Năm” ở đâu ?
- Ở giao thông hào, nơi hầm đại liên. Mễ và Hải chỉ nói với nhau được câu ngắn trong đêm. Nguy biến và rình rập vẫn còn rất nhiều. Sao trời chưa sáng nhỉ ?Hùng, gắng đi mau hơn nữa, càng xa tụi nó càng tốt, giữ được súng và thương binh nhẹ như thế này cũng tạm coi như là “đẹp”. Đẹp, hình như Mễ cười chế riễu mình trong bóng tối. Thôi, đừng nghĩ gì nữa, cởi nón sắt cầm tay, bốn ngày đội hoài khối sắt trên đầu, khi cởi ra còn nguyên ảo giác của âm vang tiếng nổ lộng trong lòng chiếc nón kim khí. Mệt quá! Sống rồi! Hùng “móm” kêu một tiếng sảng khoái, bốc máy báo cáo cho Mễ, nhanh như chớp:
- Tôi thấy “nó” rồi phía tay trái tôi.
Mễ nhìn lên tàng cây, trời tím nhạt chưa có ráng nắng, nhưng ngày đã bắt đầu, trãng trống vùng tập trung đã gần đến. Thoát rồi chăng? Mễ tự tin nhưng cũng rất đầy kinh nghiệm: Nó phục mình ở đây nữa thì tan hàng!! Ý nghĩ kinh khiếp như một mũi dao cực bén cắm ngay đỉnh đầu.Mễ không dám nghĩ tiếp...
- Kêu thằng “Đỗ Phủ” đến tao Hải,
- Duffy come here... Viên thiếu tá cố vấn đang đi sau Hải và Liệu nghe kêu, mỉm cười bước lại. Ba lần bị thương, bốn ngày chiến đấu không ăn, ngủ, Duffy vẫn “cứng” như một khối thép, đầu đội mũ đi rừng, khẩu M18 đặt ngang hông, tự tin và bình thản như một ý chí không lay chuyển. Tiên sư thằng cha này “dur” cả hồn lẫn xác, number one! Liệu nói với Hải khi Duffy qua mặt để lên gặp Mễ. Anh chàng hiểu ý, mỉm cười: Hello Doc!!Trong phút chốc sự việc khủng khiếp của bốn ngày căng cứng như vụt tan đi. Nắng cũng vừa đến, nắng đầu tiên của ngày, lòng người lính duỗi ra theo độ ấm của vệt ánh sáng. Sống được rồi mừng biết bao nhiêu!
- Đây nhé Duffy, vùng tập trung của mình, 113 bên trái, phe ta bên phải cùng “move” lên. Mình làm một cái LZ (bãi đáp), xong “mày” gọi “Tây” đem máy bay tới móc mình ra, OK ?
- OK Do !! “Đỗ Phủ” gật đầu lia lịa... Good...very good, you’re the best commander! “Đỗ Phủ” đưa ngón cái lên ca tụng Mễ.
- Tao hay hơn nhiều, cú này bị “kẹt”, mày khen làm tao ngượng. Duffy không biết Mễ nói gì, cười rộng mồm, Mễ cười theo.
Rất cẩn thận, Mễ cho Hùng “móm” và Hùng “mập” cùng lên trãng trước. Hai cậu Hùng “bắt tay” nhau, làm thành vòng phòng thủ, phần còn lại của tiểu đoàn với đám thương binh “bò” lên tiếp... Xong rồi, khá an toàn, giữ được cái trãng là tốt, có đường thoát rồi.Duffy,có tàu bay chưa ?
- OK! Ten minutes, sir!
Nhưng không còn “ten minutes” nào cho Tiểu Đoàn 11 nữa! Một trận mưa rào, mưa đầu mùa... Mưa bởi một rừng cối và sơn pháo từ những cao độ phía đông “tưới” xuống. Bắc quân tấn công bộ từ đông-nam lên. Không hầm hố, không đạn, mệt mỏi, đói khát của bốn ngày đã đến đỉnh cao nhất chịu đựng. Tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù lăn lộn, cựa quậy hấp hối trên trãng cỏ tranh trơ trụi dưới lưới chụp đan dầy bởi lửa, khói và mảnh đạn thép... Hàng sống, chống chết! Hàng sống, chống chết! Bắc quân ào ào như nước lũ tràn đi qua con đê bị vỡ. Tiểu đoàn 11 tựa tình cảnh con báo kiệt lực bị vây khốn bởi một rừng ong cực độc! Bây giờ là 8 giờ sáng của ngày 15-4-1972, Tiểu Đoàn Nhẩy Dù mới tinh của Anh Năm, tiểu đoàn đã khoan thủng bức tường thép của cộng quân ở Damber; tiểu đoàn “nướng sống” hai tiểu đoàn của sư đoàn Điện Biên trên cứ điểm C- Thua. Thua đau đớn và thua vô lý!! Đâu còn có thế để dựa vào. Đâu còn lực để đương cự ?!
Muốn đánh nhau phải có “thế” và “lực”.Thế đã mất ngay từ ngày đầu tiên khi bước xuống cao điểm với một nhiệm vụ “phòng thủ” quá mỏng manh thụ động, và lực nào còn nổi sau bốn ngày hay 156 giờ tác chiến căng thẳng trên các cao điểm nguy biến và thiếu thốn toàn diện. Hình như mọi người đều không ăn, uống kể từ ngày 12.Uống, nếu có chỉ là chữ gọi động tác “nhúng” chiếc lưỡi vào nắp bi đông ẩm ướt. Tan hàng!! Những người sống sót còn lại tan biến vào rừng cỏ tranh.

http://www.freewebs.com/td9nhaydu/Phu%2 ... TD11ND.jpg

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN 4 VÙNG CHIẾN THUẬT

Vùng I-




Vùng II - Cao nguyên




Vùng II - Duyên hải




Vùng III




Vùng IV


lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

Đồi thông hai mộ
Đà Lạt thành phố của sương mù, của ngàn hoa khoe sắc cũng là nơi chứng kiến những cuộc tình buồn.

Ngay bên cạnh hồ Than Thở là một đồi thông ngút ngàn có tên gọi Đồi thông hai mộ - nơi đây được nhiều người biết đến bởi câu chuyện tình bi ai của một đôi trai gái trẻ.

Ngoài tên gọi hồ Than Thở, du khách còn được nghe người dân Đà Lạt gọi với tên Sương Mai, với ý nghĩa những hạt sương buổi sớm tinh mơ.

Bên cạnh đó là hai ngôi mộ đã được xây cất hơn 60 năm qua, của một cuộc tình duyên lỡ dở.

Ở Đồi thông hai mộ, một thắng cảnh nổi tiếng của Đà Lạt, bao năm nay luôn tồn tại nhiều sự tích ly kỳ về cái tên “Đồi thông hai mộ”, nhưng chỉ có một câu chuyện trong số đó là thật, ấy là câu chuyện tình bất hạnh của cô gái Lê Thị Thảo và chàng trai Vũ Minh Tâm, mà minh chứng cho câu chuyện tình đó chính là hai ngôi mộ nằm trên đồi thông hơn 60 năm qua.

Chuyện kể rằng, người con trai tên là Vũ Minh Tâm, con của đại điền chủ ở Gò Công. Vì là con một nên cha mẹ bắt có vợ sớm để có con nối dõi. Chàng vì một phần chưa muốn có gia đình, phần khác lại không muốn làm cha mẹ buồn nên lén đầu quân vào trường Võ Bị Đà Lạt. Thời gian học ở đây, chàng có quen một người con gái gia đình là công chức, cô gái tên Thảo.

Hai người tâm đầu ý hợp, yêu nhau tha thiết, hẹn biển thề non. Ra trường, Tâm về xin cha mẹ trầu cau cưới hỏi... nhưng gặp phải sự cản trở quyết liệt của gia đình. Cha mẹ chàng bắt chàng đi cưới người con gái mà chàng không hề yêu mến. Vì lẽ đó Tâm đã xin chuyển đến một vùng tuyến đầu lửa đạn.

Từ khi Tâm rời trường Võ Bị ra chiến trường, Thảo vô cùng đau khổ khi biết cha Mẹ Tâm không chấp nhận chuyện của hai người và còn thêm nỗi buồn lo cho người yêu đang vì mình mà lao vào tuyến đầu lửa đạn nên dù cha mẹ hết lòng khuyên lơn, dù không biết bao nhiêu người mối mai dạm hỏi, nàng cứ một mực đợi chờ chàng trở lại Những cánh thư từ chiến trường gửi về bây giờ là niềm vui, là lẽ sống của nàng . Cho đến một ngày, nàng nhận được tin báo tử từ chiến trường gửi đến. Quá buồn rầu nàng tìm đến khu đồi thông bên bờ hồ Sương Mai (nay là hồ Than Thở), nơi hai người xưa kia từng hò hẹn, tâm sự và tự tử chết , vào ngày 15 tháng 3 năm 1956, trên tay vẫn còn nắm chặt bức thư tình gửi người yêu. Trước khi chết nàng để lại bức thư xin người nhà chôn nàng trên đồi thông.

Nhưng thật ra Tâm chưa chết - người ta đã nhầm khi báo tử. Khi trở về Tâm mới hay Thảo đã chết và được chôn trên đồi thông vi vu gió ngàn. Vì quá đau buồn, sau đó cũng tự tử chết theo để giữ trọn lời thề non hẹn biển với người con gái anh yêu thương. Trước khi chết, anh để lại bức thư tuyệt mệnh với ước nguyện được chôn xác bên cạnh mộ nàng để hai người mãi mãi được gần nhau.

Gia đình, bạn bè đã chôn xác anh kề bên ngôi mộ Thảo và tạo thành ngôi mộ đôi nổi tiếng.

Sau ngày Miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản, cha mẹ Tâm đã thuê người lên Đà Lạt bốc phần mộ anh đưa về quê vì lúc này họ đã tuổi cao sức yếu, không thể thường xuyên lên thăm mộ con. Dù phần mộ chàng trai đã được dời đi nhưng cảm thương mối tình của người con gái, cha mẹ, người thân của nàng vẫn để ngôi mộ đôi.

Đây vẫn là một danh lam thắng cảnh, thu hút hàng ngàn du khách đến hàng năm.

http://www.thoibao.com/giai-tri/thu-tin ... ong-hai-mo

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Thằng Lính Bạc Tình

Tưởng Năng Tiến
Nếu cấp số của đại đội là hai trăm thằng hoặc ít hơn thì bốn trung đội sẽ được chia gọn vào bốn phòng: I, II, III và IV. Vì một lý do không dễ hiểu, quân số đại đội của tôi có đến hai trăm mười mấy mạng, và theo danh sách thì tôi nằm cuối cùng; do đó, tôi và mười ba thằng kia bị đẩy vô phòng V.

Cái được gọi là phòng V, truớc kia, có lẽ được dùng làm nhà kho. Người ta kê đủ bẩy cái giường đôi trong đó rồi ấn đại chúng tôi vào. Tôi không ưa nơi cư trú bất đắc dĩ này và ghét thậm tệ những thằng ở chung phòng với mình.

Hai chữ “chúng tôi,” trong trường hợp này, có lẽ cũng cần có đôi điều minh định. Mười ba thằng kia dứt khoát không phải là những sinh viên sĩ quan đàng hoàng tử tế. Phần lớn tụi nó đều là giáo sư, kỹ sư, hay cán sự gì đó và tất cả đều đã có vợ con hay đào kép lang chạ tùm lum hết trơn rồi.

Trong tương lai chúng sẽ trở thành những sĩ quan biệt phái, hoặc lính ngành lính nghề vớ vẩn gì đó thôi. Còn tôi, tôi mới là sinh viên sĩ quan thứ thiệt. Với học lực được ghi trong hồ sơ là “sinh viên văn khoa năm thứ hai” chắc chắn tôi sẽ ra trường với ám số tác chiến, và đương nhiên sẽ trở thành thứ lính “bóp cò”.

Tất nhiên, tôi đủ khôn ngoan và lịch sự để không bao giờ nói ra những ý nghĩ “thầm kín” này. Tôi cũng cố không tỏ ra khó chịu hay bực bội gì cả. Nói cách khác là tôi ăn ở cư xử hết sức biết điều; thế mà, vẫn không xong, vẫn chưa vừa lòng người – những thằng người... khốn nạn! Tụi nó kỳ thị tuổi tác ra mặt.

Tất cả đồng lòng gọi tôi là “lính sữa.” Điều khổ tâm là tôi không thể nào chối cãi đuợc rằng mình không... “sữa”. Bảng tên cùng số quân bắt đầu bằng hai số “72” gắn chình ình trên đầu giường ngủ là bằng chứng hùng hồn về số tuổi đời hơi yếu của tôi. Có thằng còn tuyên bố khơi khơi là nó sẽ gả con gái út cho tôi, nếu như tôi “ăn ở và cư xử... người lớn hơn chút đỉnh!”

Cái trò chơi mất dậy làm tụi nó vô cùng thích thú là thỉnh thoảng lại có đứa nằm hát ông ổng cho cả phòng nghe: “...năm hai mươi mốt tuổi, tôi đi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai.” Nó hát dở như cứt mà cả đám vẫn cứ nhao nhao vỗ tay, và thế nào cũng có một thằng chó chết nào đó xía miệng vào:

- Mà nó còn lâu mới tới hai mươi mốt tuổi. Thằng này vô “động” đâu có em nào dám tiếp.

- Ủa, sao vậy?

- Mấy em sợ lỡ bị bắt thì ngoài tội mãi dâm ra còn dám bị ghép thêm tội dụ dỗ trai vị thành niên lắm.

- Đ... mẹ, vậy mà bữa trước xuống câu lạc bộ tao thấy nó cũng bày đặt mua dao cạo râu.

- Chắc nó mua để cạo lông.

- Lông nó cũng cóc có.

- Có, tao xác nhận. Bữa trước tắm chung tao thấy rõ ràng nó có mấy sợi lông, lông măng!

Tụi chó đẻ cứ tung hứng như vậy hết chuyện này sang chuyện khác rồi cười rũ rượi với nhau. Thật ra, không ai bắt tôi phải nằm chịu trận mãi trong phòng với những thằng mất dậy này. Vào giờ nghỉ tôi có quyền đi xem phim, mướn truyện, hay la cà tán tỉnh mấy em bán cà phê ở khu gia binh... Điều phiền là cứ mười lần bước chân ra khỏi sân đại đội là có đến chín lần tôi... mắc nạn, những tai nạn lảng xẹt mà tôi vẫn cứ bị hoài hoài.

Tôi rất hay quên đội nón, quên gài nút áo, quên gôm ống quần. Toàn là những thứ quên lãng hợp lý nhưng lại không được chấp nhận ở đời sống quân trường. Tôi thích nhìn nắng chiều hay nắng sớm lao xao trên những hàng cây nên đôi khi còn quên luôn cả chào huynh truởng nữa.

Có lần tôi quên không chào một thằng huynh trưởng thuộc tiểu đoàn 6, đại đội 61, trung đội 612. Nó móc cái nón sắt trên cột hàng rào và bắt tôi phải chào cái nón thổ tả đó 612 lần trong khi nó ung dung ngồi hút thuốc chờ tôi thi hành lệnh phạt. Nó đúng là một thằng... chó đẻ!

Lần khác, vào lúc trời vừa chạng vạng tối, tôi lạng quạng sao đó nên nhìn lầm một thằng siêu huynh trưởng ra một thằng cùng khóa. Nó đang đi tôi gọi giật lại để xin mồi thuốc.

Khi ánh lửa que diêm vừa lóe lên thì nó chợt nhìn ra màu khăn và màu bảng tên trên ngực áo của tôi, mộ thằng “siêu đàn em.” Nó gầm lên như một con hổ bị thương và bắt tôi phải “đột kích” xuống cái giao thông hào lõng bõng nước ngay trước mặt... bốn chục lần.

Sau những lần bị tai họa như trời giáng như thế tôi phải thu hết tàn lực mới lết được về phòng, nằm vật ra giường, trông thảm hại như một cái mền bông ngấm nuớc. Tụi mất dậy ở phòng V lại có dịp rú lên cười đùa châm chọc:

- Mẹ ơi, sao con khổ thế này!

- Đã bảo rồi, đi đâu phải có người lớn đi kèm, không bỏ được cái tật “dế mèn phiêu lưu ký” thì còn khổ nhiều con ạ.

Tôi thề có đất trời chứng giám là nếu còn sức tôi sẽ vùng dậy đấm vỡ mặt tất cả những thằng khốn nạn ở chung phòng nàỵ Tiếc thay, tôi lại mệt gần chết. Thể chất tôi không mạnh bằng người. Tôi phải đau buồn mà công nhận như vậy.

Tôi sinh ra trong một gia đình có đến chín anh chị em, và là đứa con ra đời ngoài dự liệu. Lúc tám tuổi, khi khổng khi không, thằng anh kế của tôi lăn đùng ra chết. Khi đó, dù đã ngoài năm mươi nhưng bố tôi vẫn còn muốn ráng có thêm một đứa con để nuôi chơi trong lúc tuổi già.

Ổng “ráng” không tới mức. Nếu người ta cần phải có cỡ một muỗm tinh trùng để tạo ra một thai nhi bình thường khỏe mạnh thì bố tôi, có lẽ, chỉ còn sản xuất được cỡ chừng vài ba giọt gì thôi.

Tôi gầy yếu là phải. Tôi chịu không nổi mấy chục lần đột kích hay vài trăm cái chào tay. Tôi buồn bố mẹ tôi và giận mấy thằng bạn ở chung phòng. Tôi hay hình dung ra những màn phục thù lâm li, gay cấn.

Tôi tưởng tượng khi mình vừa ra trường đã may mắn bắn trúng ngay đầu “đồng chí” Trần Văn Trà, hay Nguyễn Chí Thanh gì đó nên được đặc cách vinh thăng lên... đại úy – và được chỉ huy nguyên cả một tiểu ðoàn. Cùng lúc thế nào cũng có vài thằng, trong số mười ba thằng khốn nạn ở phòng V, bị xếp tụi nó “đì” đi tác chiến và vô phúc lọt ngay vào đơn vị của tôi.

Coi: Tôi đang ngồi ở văn phòng tiểu đoàn, ve cổ áo thêu ba cái bông mai đen thui, miệng ngậm ống tẩu, mặt nghiêm và buồn. Tụi nó khép nép bước vô, kính cẩn đưa tay chào trình diện. Với tất cả uể oải và lơ đãng, tôi sẽ đưa tay lên chào lại, mắt hơi nheo nheo, và miệng thì hình như có vẻ mỉm cười... Chỉ một “show” này thôi cũng đủ làm tôi thích chết đi được và yên tâm đi vào giấc ngủ.



Tôi sẽ còn khổ lâu, không chừng là vĩnh viễn, nếu không lanh trí chụp lấy cơ hội “vùng lên làm cách mạng.” Có chiều mới đi phép vào, vừa bước vô phòng, tôi đã nghe tụi nó cười như một lũ điên. Một thằng chợt hỏi:

- Ê, bộ mày đăng báo tìm bạn bốn phương hả?

- Cái gì?

Tôi giật thót người như bị điện giật. Tôi có thể làm hàng ngàn tỉ chuyện điên rồ nhưng “đăng báo tìm bạn bốn phương” thì không, không bao giờ, Giời ạ!

- Tao thấy có tên mày trên báo nè.

Nói rồi nó thản nhiên cầm tờ Văn Nghệ Tiền Phong đọc lớn cho cả phòng nghe:” Sinh viên sĩ quan Thủ Đức hai mươi mốt tuổi đời, một phần ba tuổi lính, yêu màu tím hoa sim, thích nhạc họ Trịnh và giọng ca Chế Linh, cần tìm một em gái tuổi đôi tám... Nếu hợp sẽ đi xa trong tương lai. Xin thư về KBC...”

Tôi ước ao ngay lúc đó có một quả bom nguyên tử nổ, hay ít nhất thì cũng có được một con rắn cực độc ở đâu đó nhào ra cắn một phát cho tôi toi mạng. Làm sao tôi có thể tiếp tục sống được nữa sau một chuyện lố bịch và nhục nhã đến thế này. Cách đùa giỡn ngu xuẩn của một thằng mả mẹ nào đó đã làm bầm dập quả tim vốn đã te tua tan nát của tôi từ mấy tháng nay.

Tôi hay quên cài nút quần, nút áo và hay quên chào huynh trưởng chỉ vì tôi đang... thất tình thế thôi! Tôi mới vào Thủ Đức có hai tháng thì nhận được thư của một thằng bạn. Nó long trọng buồn bã báo cho tôi biết là “tao thấy Ngọc Quế đi với một thằng sinh viên chính trị kinh doanh.” Trời đất, “tôi đi chinh chiến để nước yên vui,” đâu phải chuyện chơi, sao lại có một thằng sinh viên vô lương tâm nào đó bò ngay vô mùng của người yêu tôi như vậy chớ?

Tôi cố nghĩ rằng thằng bạn tôi đã trông lầm một con “khốn nạn” nào đó chứ không phải là Ngọc Quế; hoặc “lỡ” phải thì thằng sinh viên thổ tả nào đó (chắc chắn) chỉ là một người bà con xa gần gì đó thôi. Thiệt tình, tôi muốn viết thư hỏi thăm nàng về “người bà con” đó hết sức nhưng chỉ muốn vậy thôi chớ nhứt định không làm. Tôi ghen, giận, hận, buồn và – tất nhiên – tự ái. Tôi chỉ làm hai câu thơ ngắn gửi về Đà Lạt thôi:

Ngày xưa chán ngấy giảng đường.

Bây giờ lê bước quân trường, chán hơn!

Thư hồi âm chưa thấy đâu thì đã có chuyện “tìm bạn bốn phương” vô cùng tai hại nàỵ Tôi có cái tên nghe “ba tầu” chết mẹ, tầu hơn bất cứ một anh Tầu lai hay Tàu thiệt nào đã từng hiện hữu trên cuộc đời này, không thể nhầm hay lộn với bất cứ ai; đã vậy, chị em Ngọc Quế lại chuyên môn đọc báo Văn Nghệ Tiền Phong. Trời ơi, nếu mà nàng hiểu lầm rằng tôi đang “cần tìm một người bạn gái tuổi đôi tám” và “nếu hợp có thể sẽ đi xa hơn trong tương lai” thì sự nghiệp ái tình của tôi coi như là... chấm hết!

Bất thần tôi chộp cây M16 gần nhất trên giá súng, rút lẹ một băng đạn trong ba lô, nạp đạn, lên đạn rồi dí súng vô đầu thằng đang cầm tờ báo:

- Mày xé nát tờ báo tao coi.

Thằng em còn hơi có vẻ do dự thì tôi tôi mở khóa an toàn nghe cái “cốp”:

- Chậm tay là óc mày sẽ biến thành đậu hũ tức thì...

Mặt nó đổi màu chàm, mồ hôi trán rịn ra thành giọt, nó run run xé tờ báo ra từng mảnh nhỏ. Tôi đảo mắt một vòng, mọi thằng đều lấm lét. Tôi bỏ súng trở lại giá, lững thừng trở lại giường nằm. Cả phòng im phăng phắc. Từ đó, mấy thằng em ngán tôi thấy rõ!

Cũng kể từ đó cho đến chiều nay, khi tôi ngồi viết nhừng giòng chữ “thổ tả” này, đã mấy chục năm qua. Không biết bao nhiêu là nước sông, nước suối, nước cống, nước rãnh... đã ào ào chẩy qua cầu qua cống rồi? Thời gian chứng minh cho tôi thấy là “những thằng già khốn nạn” ở phòng V đều chịu chơi và chơi được. Chính tụi nó đã dậy cho tôi những bài học để đời về tình huynh đệ chi binh.

Khi mới ra trường tôi lãnh gần trọn một mùa mưa thối rừng thối đất. Có lúc thời tiết xấu đến độ đơn vị chúng tôi bị bỏ đói cả tháng trời chỉ vì chuyện tiếp vận vô phương thực hiện. Chúng tôi ăn rau bí và rau tầu bay chấm muối thay cơm. Cho đến khi muối cũng hết luôn thì tôi bắt đầu phát .. sảng!

Tôi chửi rủa lung tung qua hệ thống máy truyền tin. Bộ chỉ huy không đứa nào thèm trả lời tôi. Tụi nó còn dọa đưa tôi ra tòa án quân sự về tội phát ngôn bừa bãi. Tôi cóc sợ. Thỉnh thoảng tôi vẫn lên máy gào thét một cách vô vọng. Có hôm, bất chợt tôi nghe tiếng hỏi:

- Phải mày đang lải nhải như một con đĩ già ế khách đó không Lê Lai – Sơn Tây?

Lê Lai – Sơn Tây có nghĩa là “lính sữa” và đây là danh hiệu truyền tin không mấy dễ nghe mà tụi phòng V đã “gắn” cho tôi kể từ khi thực tập bài học truyền tin ở quân trường. Tôi mừng quýnh:

- Phải Lê Lai – Sơn Tây đây. Xin lỗi thẩm quyền nào đầu máy vậy?

- Thẩm quyền cái con... mả mẹ mày! Tango – Tư Tưởng phòng V đây, nghe rõ trả lời?

À ! thằng Tám Tàng, thằng mất dậy này sau khi ra trường về quân nhu hay quân vận gì đó. Nó thương tôi lắm. Nó “chuyên môn” lau súng giùm tôi mà.

- Ông đang ở đâu vậy Tango – Tư Tưởng?

- Tao mới về làm sĩ quan tiếp liệu cho đơn vị nè.

- Đ...mẹ, vậy thì ông phải cứu tôi tức khắc. Lính của tôi sắp chết đói hết rồi.

- Bộ mày không đói chắc?

- Ờ thì cũng đói thấy mẹ đây.

- Uống rượu được chưa con?

Thuở ấy, tôi uống rượu chưa được mấy nhưng vẫn cứ nói bừa:

- Được, dư được, nhưng lúc này nếu có cái gì để ăn thì có lý hơn.

Nó cười sằng sặc chế giễu:

- Nằm im đó đi, cỡ chiều là tao vô tới.

- Thiệt không?

- Sao không ! Tao chơi chưa để thằng nào nói mà mày, tin đi .

Thiệt tình tôi “không tin” gì mấy. Tôi biết rõ hoàn cảnh của mình hơn bất cứ ai. Chỉ có trời mới gỡ được cho tôi cú này thôi. Con đường duy nhất xe có thể chạy đến nơi tôi đóng quân được làm dở dang kể từ hồi còn Pháp, và đã bị bỏ hoang mấy chục năm rồi. Tụi công binh mới “clear” đâu chừng được một phần ba và chưa đổ đá. Mưa khiến con đường hóa lầy và có những đoạn nước từ triền núi đổ xuống y như thác vậy. Xe nào mà vô nổi, trừ khi Tám Tàng kiếm được một cái xe... tăng!

Tôi lại chui vào túi ngủ, lòng buồn, dạ đói, bụng hoang mang. Tôi ngủ với nhiều giấc mơ ngắn và đều có liên quan đến chuyện ăn. Tôi mơ thấy mình đi ăn với Ngọc Quế ở tiệm Tân Khánh Hoàn, ở đương Cường Để. Nắng chiều Đà Lạt vàng ươm, rực rỡ. Tôi gọi bao tử xào dầu hào với rau bố xôi, cơm bò xào bông cải, và chim mía rô ti...

Rồi tôi thấy mình cùng với những thằng bạn ấu thời đi bắt dế ở phi trường Cam Ly. Trên đường về chúng tôi bị mắc mưa nên chạy vào buôn Thượng. Bà mẹ người Thượng già cà răng móm mém chỉ chúng tôi ngồi quanh bếp lửa rồi lấy thật nhiều khoai lùi vào tro. Khoai chín thơm lừng và thật ngọt.

Có lúc tôi lại mơ thấy một bầy heo rừng vướng mìn claymore bị nổ thịt văng khắp nơi. Cả đơn vị hớn hở vội vàng chụm lửa. Thịt heo nướng chẩy mỡ xèo xèo bốc khói làm cay mắt và ứa nước bọt đến tận răng...

Rồi tôi bỗng nghe tiếng máy truyền tin rè rè cùng với tiếng Tám Tàng yếu ớt:

- Lê Lai – Sơn Tây, Lê Lai – Sơn Tây ... đây Tango – Tư Tưởng ...

Tôi và người lính truyền tin cùng chồm dậy, anh ta vội vàng chuyền ống liên hợp cho tôi:

- Lê Lai – Sơn Tây nghe, ông đang ở đâu vậy?

- Tao thua rồi!

Lần này thì giọng nói của nó nghe rõ vẻ thì thào. Tôi hoảng:

- Cái gì? Ông đang ở đâu mới được chớ?

- Mày đi theo con rắn lớn (con đường), qua giây ba chạc (ngã ba) một khúc xa, có thể cũng gần tới... Tao không biết chắc... Tao lên bộ trưởng (bị thương) rồi.

- Cái gì ? Đ... mẹ, đừng có giễu dở chớ Tango...

- ....

- Tango, Tango ...nghe không, trả lời?

- Nghe... mà đ... mẹ tao mệt quá rồi. Mày lẹ lên...

- Tango... Tango...

Nó im luôn. Tức tốc tôi khều thêm mấy thằng em lầm lũi đi ngược trở ra. Tôi cắm cúi lầm lũi dưới mưa mà lòng dạ rối bời. Chừng ba tiếng đồng hồ sau, theo vết trượt của bánh xe, tôi thấy một cái Dodge nằm lật nhào dưới lũng. Thực phẩm rơi đổ tung tóe theo sườn núi.

Chúng tôi chạy vội xuống nhưng đã muộn. Tám Tàng bò được ra khỏi xe, nằm nghoẹo đầu trên máy, xác đã lạnh rồi. Tài xế và binh sĩ đi cùng chết kẹt trong ca bin. Chúng tôi cố mang xác họ ra cùng với cà phê, thuốc lá và cả can rượu đế.

Trời vẫn tầm tã mưa và lẫn trong nước mưa tôi biết có nước mắt của mình. Tôi thật sự bắt đầu uống rượu từ chiều hôm đó và uống luôn cho đến chiều nay. Đã hơn một phần tư thế kỷ qua mà mỗi lần thoáng thấy hơi men tôi vẫn nhớ đến Tám Tàng. Tôi uống rượu hoài hoài, phần lỗi, không chừng là do... nó. Tôi muốn hành xác tôi chơi để Tám Tàng... vui lòng nơi chín suối.

Sau Tám Tàng, tôi gặp lại một nhân vật nữa của phòng V – ở trại tù binh. Ngày xưa, nó chính là thằng đã tuyên bố sẽ gả con gái út cho tôi nếu như tôi “ăn ở và cư xử người lớn hơn chút đỉnh.”

Thằng này ra trường về làm sĩ quan thảo chương viên cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nói cách khác nó chỉ là một thứ chuyên viên xử dụng máy vi tính cho quân đội. Chỉ có vậy thôi mà đảng và nhà nước phải đẩy nó tuốt ra miền Bắc mới yên tâm.

Lúc chia tay nó dấm dúi hết cho tôi những thứ quà vừa nhận được của gia đình, kể cả chút tiền và ít thuốc tây. Tất nhiên, tôi từ chối:

- Ông cần mấy thứ này hơn tôi chớ.

Nó cầm tay tôi, nghiêm nghị y như là cảnh Nguyễn Phi Khanh dặn dò Nguyễn Trãi ở Ải Nam Quan vậy:

- Tao cần mẹ gì nữa. Chuyến này kể như là tao đi đứt rồi.

- Mày còn trẻ, lại không bị tụi nó đì ra Bắc. Thủ mấy thứ này cho ấm thân và cố giữ lấy mạng để còn có lúc trở về. Phải về lo lấy lại đất nước và trả thù cho tụi tao, nhớ chưa?

- Nhớ!

Xui cho nó, tôi không thuộc tip người Nguyễn Trãi. Tôi chỉ nói đại mẹ là “nhớ” để nó yên tâm đi vào chỗ chết. Thiệt tình thì tôi không nhớ gì hết ráo. Sau vài năm tù, tôi được thả về y như nó dự đoán. Có điều tôi tuyệt nhiên không hề lo chuyện “lấy lại đất nước” như đồng đội đã dặn dò; đã vậy, tôi còn bỏ nước để chạy tháo thân và lập tâm chuyến này là... dông tuốt!

Cái thứ người như tôi cứ mỗi lần nhậu xỉn mới chợt nhớ ra mình đã từng là lính, mới ba hoa về những năm tháng tù đầy, mới khề khà luận bàn về tình chiến hữu, về chuyện đấu tranh... này nọ. Tỉnh ra tôi lại lút cút đi làm, lại sống như mình chưa hề là lính, chưa từng có thằng vì tôi mà bỏ mạng, chưa có đứa đã chí tình dặn dò tôi lo chuyện quang phục quê hương. Lính có năm bẩy đường, năm bẩy thứ. Cái thứ như tôi ngó bộ có hơi kỳ và cũng hơi nhiều.

Tưởng Năng Tiến

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Dép râu, ngày về

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, hắn “được Cách Mạng khoan hồng nhân đạo tập trung để bảo vệ tính mạng cho, vì nếu để ở ngoài sẽ bị nhân dân trả thù”. Huyện Củng Sơn thuộc tỉnh Tuy Hòa là vùng hoạt động của “Cách Mạng” trước 75. Lúc mới “nhập môn” giữa vùng rừng núi này, mỗi lần đi ra ngoài “học tập lao động để sau này trở về không còn bóc lột như thời Mỹ Ngụy nữa, mà biết tự mình làm ra của cải vật chất hầu nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội”, hắn nơm nớp sợ đồng bào địa phương có tiếng là dân Cách Mạng, sẽ trả thù (thù gì thì hắn không biết), nếu họ bắt gặp và nhận ra hắn là “ngụy quân”.

Một hôm, trên đường đi “lao động là vinh quang” ngang qua khu chợ, có mấy người dân chạy theo đoàn tù binh. Hắn lo lo; đang lúc chuẩn bị tinh thần chịu trận “nhân dân trả thù” thì có người dí vào túi áo hắn gói thuốc lá Sông Cầu. Đó là một nhân dân hoàn toàn xa lạ. Hắn sững sờ, chưa kịp nói lời cảm ơn thì người đàn bà ân nhân đã lách vội vào đám đông như tìm đường chạy trốn. Từ đó về sau, nhiều người trong đám tù và hắn lâu lâu lại được “nhân dân trả thù” như thế; khi cục đường mía, lúc miếng kẹo lạc.

Lại một hôm, đám tù được thả lỏng phân tán mạnh ai nấy tự đi tìm... cỏ tranh để cắt (về lợp nhà). Hắn được một phụ nữ quần áo vá đùm vá đụp mặt hốc hác, chạy đến trước mặt, mắt dáo dác ngó trước ngó sau một vòng rồi dí vào tay cho cái bánh ú làm bằng bột củ sắn mì với nhân hột mít. Chị ta nói “Anh ăn cho đỡ đói. Bây giờ chúng tôi mới hiểu ra..., và thương các anh quá”.

Không thấy “Nhân dân trả thù” mà chỉ gặp nhân dân “Thương các anh quá”, nhưng Cách Mạng vẫn nhất quyết tiếp tục “Bảo vệ tính mạng cho Ngụy quân ngụy quyền, những kẻ có tội với nhân dân mà lấy hết trúc Trường Sơn làm bút, lấy sạch nước Biển Đồng làm mực cũng tả không xiết”. Tháng lại tháng. Năm qua năm. Đêm đêm nằm nêm cối đến ngộp thở trong những dãy nhà được bao bọc bởi nhiều lớp kẽm gai xen kẽ lớp xương rồng rồi lớp mìn bẫy, lớp hầm chông. Ngày ngày đi ra ngoài làm đủ thứ công việc của người tù khổ sai. Khi đi lẫn lúc về, đoàn tù binh phải dừng lại nơi cổng ra vào để lính gác đếm. Đi, đếm rất mau; về, vừa đếm vừa khám xét khắp người tù xem có lận theo trong túi áo thắt lưng con cóc con nhái, con rắn con rít, hay cọng rau nạm cỏ (Như cỏ sam heo ăn được là tù ăn được)... gọi chung là những thứ “Cải thiện linh tinh” bị cấm ngặt, nên trong khi chờ đợi, cứ phải ứa gan với cái bảng đỏ to tổ chảng trước mặt treo vắt ngang giữa hai cái lô cốt chằm chằm hai bên cửa ra vào, có hàng chữ màu vàng khè “Không có gì quý hơn Độc Lập Tự Do” phía trên hàng chữ “Trại Cải Tạo A30”. Mỗi lần như thế, hắn lại hình dung ra cảnh tú bà cho treo trước cửa nhà chứa của mụ, cái băng trắng chữ đỏ “Chữ Trinh đáng giá ngàn vàng”.

“Ngày như lá tháng như mây”, chỉ là với thế giới bên ngoài. Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Hắn thường bày tỏ rằng, nhờ Ơn Trên phù hộ hắn mới qua khỏi hơn 2500 cái “thiên thu tại ngoại”, để có ngày được “Cách mạng khoan hồng” cấp cho tờ “Giấy Ra trại”. Trên đường về với gia đình tận vùng Cao Nguyên, hắn phải ghé lại Nha Trang để chờ mua vé xe cho chặng đường cuối. Hắn đi lang thang để nhìn lại cảnh cũ người xưa nơi thành phố mà hắn đã qua nhiều thời kỳ gắn bó. Thuở nhỏ “du học”; lớn đi thi Tú Tài; mấy tháng học Không Trợ tại Trường Không Quân, và những lần “quá cảnh” trên đường đi đi về vê. Người thiếu nữ đầu tiên đi qua đời hắn cũng từ bãi thùy dương cát trắng này. Nha Trang đã là một phần đời hắn.

Hắn đi ngang quầy bán thuốc lá lẻ bên lề đường Nguyễn Hoàng. Bỗng dưng hắn nhớ và thèm một điếu thuốc CAPSTAN ngày nào. Sau khi tính nhẩm và chắc chắn số tiền Trại cải tạo cấp cho theo tiêu chuẩn nhà nước làm “của ăn đi đường” còn đủ để mua được hai điếu thuốc lá Song Long (hắn biết giá thuốc vì Trại thỉnh thoảng có mua giùm cho những ai có tiền cần mua), hắn mạnh bạo tiến đến phía quầy bán thuốc. Đã gần bảy năm, nay hắn mới được thấy lại nụ cười chào khách của những người bán thuốc lá bên đường mà trước kia hắn thường gặp. Hắn hân hoan như vừa tìm lại được một điều gì quý hóa đã mất từ lâu lắm. Nhưng bỗng dưng hắn chưng hửng khi thấy mặt cô gái bỗng nhiên tối sầm lại và tỏ vẻ dửng dưng với khách. Hắn ngạc nhiên trước thái độ thay đổi đột ngột của cô gái. Hắn kiểm điểm lại mình, và đinh ninh mình không hề có cử chỉ khiếm nhã nào hay nói năng gì khác ngoài lời hỏi mua thuốc lá. Hắn sực nhớ lúc nãy cô gái có liếc mắt xuống đôi chân hắn. Hắn chợt thoáng “lý đoán” ra nguyên nhân. Nhìn thẳng vào mặt cô bán thuốc, với vẻ nghiêm trang, hắn nói :

“Anh vừa từ trại Cải tạo ra, đang trên đường về, nên đành phải mang đôi dép này.”

Khi hắn vừa mới nói đến “Anh vừa từ trại cải tạo ra”, cặp mắt cô gái sáng lên và đôi má cô ửng hồng, nhếch lên để lộ ra cái núm đồng tiền. Hình như cô muốn nói điều gì mà không cất lên được. Cô luống cuống lấy trong hộc ra gói thuốc Hoa Mai còn nguyên rồi bằng hai tay đưa lên sát ngực hắn, với ánh mắt thương cảm trìu mến :

“Anh cầm lấy, em biếu anh. Rất tiếc không còn thuốc trước 75.”

Hắn đã bỏ hút thuốc từ lâu, nhưng vẫn nhớ mãi gói thuốc của ba mươi năm về trước. Mỗi tháng Tư về, hắn lại càng thấy món nợ hắn mắc mỗi to hơn. Không phải nợ cái gói thuốc lá cô gái biếu. Nhưng là nợ chính cuộc đời cô mà hắn đã không bảo vệ được. Để ít ra cô khỏi phải nhìn thấy những đôi dép Tháng Tư.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Biển Vẫn Đợi Chờ

Phạm Thành Nhân
Khi những loạt đạn sau cùng được bắn đi từ những khẩu đại bác 105 ly tại mặt trận Cửa Việt thì cũng là giây phút cuối cùng để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã kéo dài hơn một phần tư thế kỷ đã để lại cho đất nước Việt Nam tang thương và đổ nát.

Những người lính trong khẩu đội ngồi tựa lưng vào bờ tường bằng bao cát được xếp chung quanh khẩu đại bác, gương mặt thật mệt mỏi sau một đêm dài, dài hơn cả ngày D "The longest day" cuả quân đội đồng minh khi đổ bộ lên bờ biển Normandie cuả nước Pháp.Suốt một đêm,cả pháo đội đã tác xạ nhiều ngàn quả đại bác vào mục tiêu ,lệnh trên cho biết đúng 08 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973 thì ngưng bắn, nhưng tại mặt trận Cửa Việt thì đến 08 giờ 20 phút mới hoàn toàn ngưng tiếng súng và trong thời gian 20 phút đó không biết đã có thêm bao nhiêu người nằm xuống trong giờ phút thứ 25 cuả lịch sử? Và cũng sau trận chiến này, tôi đã được tưởng thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao bạc cấp sư đoàn, đó cũng là một niềm an ủi lớn lao cho một người lính sau những ngày tháng đầy gian khổ và hiểm nguy.

Ngoài biển,mặt trời đang nhô lên cao làm sáng tỏa cả một vùng mây nước như để đón chào một ngày đầu của hoà bình, một hoà bình thật mong manh và đầy trắc trở bởi được sự đạo diễn cuả một tay "phù thuỷ chính trị" người Mỹ gốc Do Thái. Nó có thể tan vỡ bất cứ lúc nào khi vẫn còn nhiều sư đoàn quân lính chính quy Bắc Việt hiện diện trên khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Hiệp định Geneve 1954 được ký kết, dòng sông Bến Hải , cầu Hiền Lương ngăn đôi đất nước nhưng không ngăn cản được xe tăng,đại pháo cùng quân lính chính quy Bắc Việt tiến đánh miền Nam.Với Cộng Sản, ký kết một hiệp định ngưng bắn không có nghĩa là hòa bình mà chỉ là chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh khác quy mô và khốc liệt hơn, lịch sử đã chứng minh điều đó.

Gió từ biển khơi thổi vào thật mát dịu, tôi lấy bao thuốc lá trong túi áo trận đưa cho từng người, mùi thuốc lá quyện lẫn mùi thuốc súng vẫn còn phảng phất vây quanh tạo thành một cảm giác chỉ có tại chiến trường.Mọi người đang nói về hòa bình,cánh cửa chiến tranh đã được khép lại,trước mặt họ là cả một tương lai khi rời bỏ quân ngũ trở về lại với quãng đời xa xưa có ruộng đồng bao la,những dòng sông hiền hòa trôi chảy,giây thép gai sẽ không còn quanh đồn phòng ngự,bước chân người lính sẽ trở về cày lại đám ruộng xưa đã một thời hoang phế bởi chiến chinh.

Điếu thuốc trên môi tàn thật trọn ven,trong lúc chiến tranh đã có biết bao nhiêu điếu thuốc cháy dở dang trên môi người lính,đã có một lần,một người lính trong khẩu đội,điếu thuốc vừa loé sáng trên môi,bỗng một quả đạn pháo bay tới,tiếng nổ chát chuá mảnh đạn ghim vào thân thể, người lính ngã xuống và tôi đã hút điếu thuốc dang dở đó như một lời tiễn biệt. Số phận người lính như thế đó,mong manh và nghiệt ngã hơn tơ trời,chiến đấu âm thầm,gục ngã âm thầm,bạn bè,người thân thương tiếc rồi dòng đời trôi theo lãng quên chỉ còn lại nấm mộ cô đơn, lạnh lẽo trong nghiã trang.

*
Mọi người đang hàn huyên với nhau thì bỗng có lệnh chuẩn bị để đón tiếp phái đoàn chính phủ từ Sài Gòn ra thăm, tôi nói với các nhân viên khẩu đội sắp xếp lại những vỏ đạn cho gọn ghẽ và chờ đợi. Khoảng xế trưa thì phái đoàn đến, họ đứng trên một mô đất cao nhìn về hướng chúng tôi,cà vạt bay phất phới trong gió ,rồi buổi tối trên băng tần số 9 cuả đài truyền hình Sài Gòn trong phần tin tức thời sự,người dân thành phố sẽ được nhìn thấy hình ảnh các ông đi thị sát mặt trận, một mặt trận đã hoàn toàn im tiếng súng.

Trời sẩm tối, tôi thả bộ đi dọc theo bờ biển, dấu giầy sault in trên cát mịn màng, từng đợt sóng xô dạt vào bờ mang theo những đám rong biển nằm lại trên bãi, biển cả bao la, biển cuả Ernest Hemingway trong The Old Man and the Sea được chuyển dịch sang Việt ngữ mà tôi đã đọc khi còn đi học. Tìm một chỗ khô ráo tôi ngồi xuống, biển vẫn chập chùng, dĩ vãng trôi về với những ngày tháng cũ ...
*
Khi hoa phượng bắt đầu nở báo hiệu cho biết một năm học sắp hết, cuốn nhật ký được chuyền cho nhau với những dòng chữ thật ngây ngô học trò, rồi có thằng vào lính,có kẻ theo chồng bỏ cuộc vui. Đôi lần trở về thành phố,đi ngang trường cũ nhìn màu kỷ niệm lòng thầm nghĩ:

Bây giờ còn nhớ hay không,
Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa,
Bây giờ anh vẫn chưa quên,
Ngày xưa phượng đỏ anh cài tóc em ...

Cuốn nhật ký còn đó ,những dòng chữ ngày xưa còn đó, có thằng vẫn mặc áo lính, có thằng đã nằm xuống sau một trận đánh ở một góc chiến trường nào đó, có người con gái năm xưa nay tay bế tay bồng và cũng có những người đã trở thành goá phụ bên song. Biển đã khuya , trên trời một vài vì sao lấp lánh, tôi trở về lều và thiếp đi trong lúc ngoài kia sóng vỗ dạt dào.

*
Đã hơn 37 năm trôi qua kể từ khi những người lính rời bỏ vùng Cửa Việt,vùng trời biển ngày xưa đó vẫn ngày đêm từng cơn sóng vỗ như đợi chờ và réo gọi:
Hỡi những người lính Mũ Xanh năm xưa cũ,
Bây giờ các anh ở đâu?

Pháo Thủ Mũ Xanh Phạm Thành Nhân

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Chim Bay Về Biển
(thay vòng hoa tiễn biệt Hải-Âu Phan Công Minh)

Một mai chim bỏ bay về biển
Ta đứng một mình ngó nhánh sông
Ta khóc nhìn theo giòng nước chảy
Nghe trăm ngọn sóng vỗ trong lòng

(Sương Mai)

Buổi chiều, mùa hè Bắc Âu thường có những ngày mưa, ảm đạm. Tôi nhận được thư của bạn Dương văn Hiệp, giám đốc Đài Phát Thanh Nationwide Viet Radio(NVR) từ Hoa Thịnh Đốn, người em họ thương quí của Minh, báo tin Phan Công Minh vừa mới ra đi, trước đó chừng một tiếng đồng hồ. Lòng tôi chùng xuống, điều mất mát lớn lao ấy đã cho tôi cái cảm giác trống rỗng, mọi thứ chung quanh bỗng dưng đều trở thành vô nghĩa. Ngoài trời dường như gió đã ngưng thổi, một cơn mưa hạ vừa đổ xuống những hàng thông đứng lặng yên như chịu tang. Cơn mưa rào đến ào ào nhưng dứt sớm. Đứng trên bao lơn nhìn ra phía trước. Cả một vùng không gian tĩnh lặng. Trước mắt tôi chỉ còn một điểm cử động duy nhất: cánh chim. Cánh hải âu lẻ loi, thư thả, nhịp đôi cánh như hai mái chèo của con thuyền nhỏ trên dòng sông tĩnh mịch, rồi từ từ mất hút giữa không trung. Bất chợt, tôi hình dùng đến Phan Công Minh, một cánh chim Hải Âu (*) vừa trở về với biển.

Đầu mùa đông năm ngoái, khi vừa sang Cali thăm mấy cô con gái và trốn cái lạnh Bắc Âu, nghe tin Minh bị ung thư gan, trong thời kỳ hóa trị, tôi gọi hỏi thăm. Minh sụt cân, chỉ còn khoảng 30 kg. Vậy mà vẫn vui cười sốt sắng:

-Nếu dưới đó anh em gặp nhau, có gì vui, hú một tiếng em sẽ bay xuống ngay.

Tôi cười :

-Minh còn yếu, cần giữ gìn sức khỏe.

Minh bình thản và lễ phép như bản tính ngày nào:

-Em đã qua bao nhiêu năm lăn lộn ngoài chiến trường. Cái chết như đến bất cứ lúc nào. Sống được tới bây giờ là số mạng đã lớn lắm, nên em chẳng màn đến chuyện tử sinh.

Chúng tôi, đám bạn bè cùng đơn vị thường xuyên gọi cho Minh, gởi cho Minh những bài thuốc dân gian về trị bệnh ung thư. Minh cho biết đã dùng lá đu đủ và thấy hiệu quả, nhưng lúc trồi lúc sụt. Có lúc yếu quá, Minh không dùng điện thoại được, nhưng bảo cháu Mẫn, trưởng nam thương quí, gọi chúng tôi, cho biết tình hình. Khỏe lại một chút, Minh lại bắt đầu gởi email thăm hỏi, chuyển những tin tức về các cuộc đấu tranh của những người trẻ ở quê nhà, và tâm sự bao điều với anh em. Hai tuần sau lại im lặng. Một thứ im lặng đáng sợ, như ngày xưa, Minh dắt toán viễn thám nhảy vào vùng địch. “Im lặng vô tuyến” là dấu hiệu địch đang ở rất gần, nguy hiểm. Bỗng mới đây, cháu Mẫn gọi báo:

-Ba cháu đã yếu lắm, chắc không còn nhiều thời gian. Các chú, bác sắp xếp có thể lên gặp ba cháu lần cuối cùng!

Lúc nhận được tin này, vợ chồng tôi đang ở thăm hai người bạn tù tại thành phố Bruxelles, Vương Quốc Bỉ. Tôi điện thoại cho anh Ngô Văn Xuân, ông anh cả khả kính và hết lòng của đơn vị, cùng Mai Xuân Bê, người bạn thân cùng quê, cùng trường thời trung học và cùng đơn vị sau này, thúc dục đi thăm Minh. Tin tức được nhanh chóng chuyền đi đến rất nhiều anh em khác. Nhưng tất cả quyết định không đi nữa, vì Minh đã quá yếu và gia đình đang bận rộn chuẩn bị hậu sự cho Minh. Sự có mặt của bạn bè anh em trong lúc này chỉ gây thêm phiền toái cho gia đình, vợ con Minh. Rồi cũng chỉ ba hôm sau, mọi sự đã kết thúc. Phan Công Minh đã thực sự nhắm mắt, sau khi nhắn nhủ với vợ con và nhắn gởi lời vĩnh biệt anh em, đồng đội cũ. Yêu cầu duy nhất của Minh là muốn bạn bè ở Cali gởi lên một lá cờ VNCH để vợ con phủ trên di thể và hỏa táng theo Minh.

Sinh ra và lớn lên ở Phan Thiết. Trước khi bước chân vào quân trường Thủ Đức, Minh là một học sinh ưu tú của trường trung học Phan Bội Châu. Tốt nghiệp Khóa 27 Thủ Đức, Minh xin được về phục vụ tại Trung Đoàn 44BB, lúc ấy bản doanh đặt tại trại Lý Thường Kiệt Sông Mao, cách Phan Thiết khoảng 60 cây số về hướng Bắc.

Tình nguyện vào Đại Đội 44 Trinh Sát, vào thời kỳ đơn vị này đang nổi danh, tạo nhiều chiến thắng vẻ vang, dưới sự chỉ huy của Trung úy Trần Công Lâm.

Sau khi tốt nghiệp Khóa Viễn Thám tại TTHL/BĐQ Dục Mỹ, Minh về đơn vị nắm trung đội Viễn Thám. Với khả năng bén nhạy và tính gan dạ liều lĩnh, Minh tiếp tục tạo nhiều chiến công, và được cân nhắc lên làm Đại Đội Phó Tác chiến (khi ấy có Đại Đội Phó CTCT do Th/úy Nguyễn văn Lễ, tốt nghiệp Khóa 1/ĐH.CTCT đảm trách). Cùng với trung úy Trần Công Lâm, một đàn anh, xuất thân Khóa 18 Thủ Đức, một đại đội trưởng “ngoại hạng”, đại đội phó Phan Công Minh liên tục tạo thêm nhiều chiến thắng lẫy lừng. Chiến công của ĐĐ 44 Trinh Sát đã đưa Trung Đoàn 44 trở thành đơn vị xuất sắc nhất của Quân Đoàn II trong suốt mấy năm liền. Minh đựợc thăng cấp đặc cách và nhận rất nhiều huy chương tưởng thưởng.

Đầu tháng 2/1972, toàn bộ Trung Đoàn di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế vị trí của Đơn vị 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và giải toả một số căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn, dọc theo đèo An Khê trên QL 19, bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hảm.

Đến nơi đúng vào chiều mồng một Tết, Đại Đội 44 Trinh Sát được chỉ định làm lực lượng chính đánh vào sau lưng địch. Chỉ trong hai hôm , tất cả các căn cứ Đại Hàn đều được giải tỏa. Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng TMT, và Đại Tướng Tư Lệnh Lực Lượng Đồng Minh Đại Hàn tại VN bay lên An Khê để mừng chiến thắng và ngợi khen các đơn vị tham chiến, đặc biệt là Đại Đội 44 Trinh Sát.

Ngày 24/4/72, căn cứ Tân Cảnh thất thủ khi Bộ Tư Lệnh của Sư Đoàn 22BB bị địch quân tràn ngập và vị Tư Lệnh, Đại Tá Lê Đức Đạt đã vùi thây nơi chiến địa. Ngày 13/5 toàn bộ Trung Đoàn 44BB có lênh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum và ngay sau đó đã liên tiếp tạo nhiểu chiến thắng lẫy lừng giữ vững được Kontum trong suốt mùa hè đỏ lửa. Trung Đoàn 44BB trở thành một trong những đơn vị thiện chiến nhất của QLVNCH trong năm 1972 khói lửa. (theo bản xếp hạng của Bộ TTM)

Đại úy Trần Công Lâm được điều sang làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3/44 , bàn giao Đại Đội 44 TS lại cho Trung úy Phan Công Minh, người đại đội phó mà anh rất tin tưởng quí mến. Với một chiến trường cam go, mà lực lượng địch gồm những Sư Đoàn Thép 320, Sư Đoàn 2 Sao Vàng, lúc nào cũng có nhiều ưu thế hơn ta từ quân số đến vũ khí, chiến xa, Đại Đội 44 TS dưới tài chỉ huy của Phan Công Minh đã chứng minh rất hùng hồn về khả năng của chính mình cũng như của đơn vị bách chiến bách thắng này.

Đặc biệt, Minh đã chỉ huy Đại Đội đánh một trận thần tốc, chỉ bằng lựu đạn và cận chiến, giải cứu cho một đơn vị BĐQ /BP bị vây trên đỉnh núi ChuPao. Minh bị thương nhưng vẫn tiếp tục điều quân, vừa phá vòng vây cứu nguy cho đơn vị bạn, vừa diệt những cái chốt cuối cùng, khai thông QL 14, để lực lượng chiến xa của Lữ Đoàn II KB lên tăng cường cho mặt trận và hộ tống đoàn xe tiếp tế, lần đầu đến Kontum kể từ khi cuộc chiến khởi đầu. Tướng Trần văn Hai, nguyên Chỉ huy trưởng BĐQ, lúc ấy là TLP/ QĐII đã đến QYV Pleiku ôm lấy người đại đội trưởng trẻ tuổi tài ba gan dạ Phan Công Minh ngay khi vừa mới được tản thương về, và gắn lon đại úy cùng anh dũng bội tinh với nhành dương liễu cho Minh tại đây. Lúc ấy Minh vừa tròn 25 tuổi.

Sau khi xuất viện, Minh được điều động về làm Tiểu Đoàn Phó 3/44 cho Trần Công Lâm. Hai anh em từng sống chết bên nhau ở ĐĐ44TS bây giờ gặp lại nhau ở cấp chỉ huy của một tiểu đoàn thiện chiến. Nhưng “trong chinh chiến có mấy người trở lại”, tháng 12/1973, người “hùng” vang danh một thời Thiếu tá Trần Công Lâm đã anh dũng hy sinh trên đỉnh núi Ngok Wang đìu hiu gíó hú. Minh tạm thời XLTV Tiểu Đoàn. Hai tháng sau, Sư Đoàn bổ nhậm một vị thiếu tá từ trung đoàn khác sang làm tiểu đoàn trưởng, nhưng không bao lâu, anh ta bất ngờ được thuyên chuyển đi nơi khác, Tiểu Đoàn Phó Minh lại lên thay, Quyền Tiểu Đoàn Trưởng, tiếp tục chỉ huy đơn vị. Chiến trường ngày càng ác liệt hơn sau khi Hiệp Định Paris vừa ký chưa ráo mực. Bọn CS tráo trở ngang nhiên vi phạm trước sự bất lực của Hoa Kỳ và các quốc gia ký tên trong bản hiệp định bất công, ngu xuẩn ấy. Minh bị thương trong một trận chiến đẫm máu. Sau khi xuất viện, được người anh cả trung đoàn, Trung tá Ngô văn Xuân, người luôn thương yêu quí mến Minh, kéo về làm Trưởng Ban 3 (Hành Quân) cho Trung Đoàn.

Giữa tháng 3/75, thành phố Ban Mê Thuột, mất vào tay giặc. Trung Đoàn từ Hàm Rồng-Pleiku, lần lượt được trực thăng vận khẩn cấp xuống Phước An trong kế hoạch tái chiếm thành phố này. Minh theo BCH Trung Đoàn trong đợt đầu tiên. Khi cuộc đổ quân chưa hoàn tất thì Pleiku và Kontum có lệnh di tản. Hơn một nửa đơn vị còn kẹt lại ở Pleiku phải triệt thoái theo con đường “tử lộ” 7.B. Hai tiểu đoàn gần như bị xóa sổ và hai người bạn tiểu đoàn trưởng đã tự sát không để lọt vào tay giặc.

Khi đại quân với cả trung đoàn xe tăng của Cộng quân từ Ban Mê Thuột tràn xuống Phước An theo QL 21, ông Tân Tư Lệnh SĐ23BB mới nhận chức, vừa cất cánh rời khỏi ngọn đồi Chu Cúc sau một cái bắt tay đầu tiên vội vã với vị Trung Đoàn Trưởng, Cộng quân bao vây và tràn ngập nơi BCH Trung Đoàn được bảo vệ chỉ một đại đội trinh sát đang tạm đóng quân chờ lệnh. Với khả năng và kinh nghiệm điều quân cùng sự gan dạ can trường trong bao nhiêu năm binh nghiệp, vị Trung Đoàn trưởng và anh Trưởng Ban 3 chỉ còn khả năng tìm lối thoát, bảo toàn cho binh sĩ dưới quyền.

Đó cũng là thời điểm kết thúc oan nghiệt cho số phận một Trung Đoàn BB thiện chiến và của hai vị Sĩ quan chỉ huy bách chiến bách thắng, chưa hề nghĩ có một ngày phải đành buông súng.

Sang Mỹ theo diện HO, Minh cùng gia đình sống âm thầm ở một thành phố ngoại ô New York, nơi có bãi biển rất đẹp, để mỗi chiều Minh ngồi nhìn ra biến khơi mà tưởng nhớ tới quê nhà, hình dung tới bao nhiêu khuôn mặt anh em đống đội cũ, kẻ chết, người sống, đang trôi dạt muôn phương, nhưng tất cả đều đã từng cùng Minh anh dũng xông pha chiến trận, từng vui đùa yêu thương trên nỗi chết. Tất cả cũng như Minh, từng có một thời sống rất đáng sống. Minh từng ước ao trở thành cánh chim Hải Âu, bay ra biển khơi tìm về các chiến trường xưa, nghe lại tiếng hò reo chiến thắng của những anh em đồng đội cũ.

Mỗi lần có tin bạn bè ở xa tới, gặp mặt nhau ở một nơi nào đó trên nước Mỹ, là Minh đều có mặt. Vẫn trầm ngâm, ít nói, uống rượu không biết say, và luôn kính trên nhường dưới, biết anh biết em như thuở còn trong lính.

Sang Mỹ, Minh làm hai job, thời gian còn lại chưa đủ cho một cơn say, nhiều đêm thức trắng như thuở ngồi trong rừng suốt đêm chờ địch. Lo lắng, sắp xếp cho vợ con có đời sống, học hành ổn định xong, cũng là lúc Minh phải chiến đấu với căn bệnh ung thư quái ác. Và vẫn sống vui vẻ thanh thản cho đến giờ phút từ biệt thế gian này.

Trước khi nhắm mắt, Minh đã cố gắng nở một nụ cười, khi nghĩ là mình sắp trở về chiến trường xưa, gặp lại bao nhiếu bạn bè đồng đội đã hy sinh trong những năm tháng bên nhau cùng chiến đấu, và chưa hề chiến bại.

Từ đây, đám bạn bè còn lại, mỗi lần gặp nhau, dù rượu XO cũng sẽ trở nên nhạt thếch và những nụ cười sẽ không tròn, bởi thiếu Phan Công Minh, một đồng đội, một người bạn, một người anh em mà hai chữ yêu thương , ngưỡng mộ, dường như vẫn chưa đủ để diễn đạt được hết lòng mình.

Tạm biệt, và hẹn gặp Minh ở một nơi an bình vĩnh cửu. Không còn có chiến trường, tiếng súng, và không có hận thù giữa những con người.

London 21/7/2013

(*) "Hải-Âu" là danh hiệu của đơn vị (TRĐ. 44BB)
Phạm Tín An Ninh

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 7 thu được trên $500,000
Sunday, July 28, 2013 8:21:05 PM

Linh Nguyễn/Người Việt
(tường trình từ San Jose, California)


SAN JOSE, California (NV) - Chỉ trong bảy giờ đồng hồ, Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 7 (ÐNHCOA), diễn ra từ 12 giờ đến 7 giờ tối Chủ Nhật,
tại sân vận động trường trung học Yerba Buena, San Jose, thu được $550,000, bao gồm tiền bán vé, tiền thu tại chỗ do đồng hương
đóng góp, và tiền đồng hương đóng góp qua hãng điện thoại V247, chưa kể số tiền hay chi phiếu còn tiếp tục gởi về, theo ban tổ chức cho biết.

Image
Thành viên câu lạc bộ Cựu Học Sinh Liên Ðoàn Quảng Ðà và Liên Hội Cựu Chiến Sĩ
Bắc California hợp ca bài “Xuất Quân” khai mạc đại hội. (Hình: Người Việt)

Trước đó, nghi lễ chào cờ Việt Mỹ và một phút mặc niệm diễn ra rất trang trọng dưới ánh nắng chói chang và rất đông đồng bào và quan khách tại San Jose tham dự.

“Chúng ta phải lo cho các anh em thương phế binh vì họ hy sinh ở lại. Chúng ta nợ anh em món nợ tinh thần. Họ mất cả quốc gia, mất cả một phần thân thể. Chúng ta phải làm một điều gì để nhớ ơn họ,” ông Nguyễn Hồng Tuyền, cựu đại tá Không Quân VNCH, trưởng ban tổ chức, tuyên bố.

Bên phải khán đài là bảng tưởng niệm năm vị tướng tuẫn tiết khiến một số người đến chiêm ngưỡng và lắng lòng tưởng niệm.

Trước đó, ông Lê Văn Chính, phối trí viên đại nhạc hội, giới thiệu cựu Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, hội trưởng Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh, Quả Phụ VNCH, phát biểu.

“Tôi xin giới thiệu phái đoàn Nam California gồm 18 người. Chúng tôi rất ngưỡng mộ sự tổ chức chu đáo của ban tổ chức cùng các cơ quan, đoàn thể tại địa phương, nhất là những đóng góp đáng kể hàng trăm ngàn cho hàng chục ngàn gia đình thương phế binh và gia đình ở quê nhà,” bà Nhơn nói.

Bà nói thêm: “Chúng tôi ngưỡng mộ mọi đóng góp chân tình của mọi giới để cứu trợ. Người nhận rất vui mừng, tuy nhiên, cũng có trường hợp khi nhận được tiền thì người thương phế binh đã qua đời. Chúng tôi cố gắng rút ngắn thời gian để chuyển những món quà ân nghĩa của mọi người trong tương lai.”
Image
Ca sĩ Huy Hoàng cầm thùng tiền đi xuống khán giả xem đại nhạc hội. (Hình: Người Việt)

Sau đó, ông Chính giới thiệu hai MC chính, Nam Lộc và Việt Dzũng, điều khiển chương trình.

“Chúng tôi rất vui vì thấy càng ngày càng có nhiều đoàn thể tham gia tổ chức, ở nhiều nơi. Nhất là thấy thế hệ trẻ đã dấn thân, đảm nhiệm một phần của công việc cứu trợ,” nhạc sĩ Nam Lộc nói.

Trong khi đó, nhạc sĩ Việt Dzũng cất tiếng sang sảng: “Cám ơn các thương phế binh QLVNCH. Chúng tôi và đồng bào không quên quý vị.”

Ðại hội khai mạc bằng màn hợp ca bài “Xuất Quân,” với nhiều thiếu nữ mặc áo dài màu vàng và màu đỏ đứng tạo thành màu lá cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH.

Ca sĩ Ðặng Thế Luân, trong một bộ quân phục VNCH, làm mọi người xúc động với bài hát “Nhớ người thương binh,” lời phổ từ một bài thơ của thi sĩ Thái Tú Hạp.

“Là thương binh, ta sống khổ đã thành quen. Ðốt hết cuộc đời nghiệt ngã đau thương. Nhân gian tưởng chừng như đã quên ta... An Lộc, Khe Sanh,” anh cất cao tiếng hát.

Vừa lúc ấy, một thương phế binh, cũng trong bộ quân phục, chống nạng lên bắt tay người ca sĩ trẻ, làm mọi người không cầm được nước mắt.

Người thương binh ấy là ông Lê Sĩ Hòa, 69 tuổi, cư dân San Jose. Ông từng phục vụ Sư Ðoàn 22 Trinh Sát ở Bình Ðịnh, mất một chân trong trận đánh năm 1970 tại đồn Ðại Sơn, huyện Phú Mỹ.
Ông giải ngũ năm 1971, có vợ và sáu người con.
Image
Hàng ngàn đồng hương Bắc California và các tiểu bang về tham dự Ðại Nhạc Hội
Cám Ơn Anh kỳ 7. (Hình: Người Việt)

“Tôi giải ngũ vì tàn phế 90%,” ông nói.

Rồi ông bước đến chào cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi trên đường trở lại chỗ ngồi.

Nói đến sự đóng góp trong tình hình kinh tế hiện tại, ông Trương Thành Minh, chủ tịch Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia San Jose, nói: “Tôi nghĩ sự đóng góp có thể bị ảnh hưởng, nhưng không nhiều, vì tấm lòng của đồng bào rất thương các thương phế binh.”

Chị Lộc Phạm, cùng chồng từ Texas qua, chỉ để tham dự đại nhạc hội kỳ này, chia sẻ trong sự xúc động: “Tôi và gia đình tham dự hai lần ở Texas và lần đầu ở đây. Chồng tôi là sĩ quan Hải Quân Khóa 26. Tôi có một đứa con trai duy nhất mới đi lính Không Quân Hoa Kỳ.”

MC Ðỗ Tân Khoa kể chuyện anh đeo chiếc lon đại úy của thân phụ để lại và giọng bỗng chùng xuống, trước khi đọc danh sách các mạnh thường quân đóng góp tại chỗ.

“Gia đình em 7 người qua Mỹ năm 2006. Hôm nay, chẳng những là nghĩa vụ mà còn là trách nhiệm, một đóng góp rất nhỏ nhoi cho những chiến sĩ đã dâng hiến cho quê hương và đồng bào. Họ đang sống thiếu thốn ở Việt Nam, chúng em rất biết ơn họ,” anh Nguyễn Kim Sơn, 31 tuổi, nói.

Cô Nam Minh, xướng ngôn viên đài truyền hình Viet Today, chia sẻ: “ Em, với tư cách cá nhân, rất vui tham dự chương trình đầy ý nghĩa.”

Lúc 3 giờ chiều, MC Nam Lộc thông báo thu được khoảng $100,000 tiền mặt.

Lối vào của ÐNHCOA có khoảng 30 gian hàng của các hội đoàn tham dự trưng bày các sản phẩm hay dịch vụ.

Nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN, một cơ quan truyền thông thường xuyên yểm trợ đại nhạc hội từ trước tới nay, chia sẻ: “Khó nhọc mấy chúng tôi cũng phải làm vì đồng hương ủng hộ.”
Image
Cựu Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn: “Chúng tôi ngưỡng mộ mọi đóng góp chân tình của mọi giới để cứu trợ." (Hình: Người Việt)

Chương trình văn nghệ được trực tiếp truyền hình trên đài SBTN đi khắp Hoa Kỳ, Canada và Úc, và đài SET 57.3, đi khắp miền Nam California.

Lực lượng nghệ sĩ rất phong phú gồm khoảng 60 ca nghệ sĩ của Trung Tâm Asia, và các MC quen thuộc khác như Diệu Quyên, Dương Nguyệt Ánh, Kim Nhung, Minh Phượng, Mộng Lan, và Thùy Dương. Ngoài ra có biệt đoàn văn nghệ Lam Sơn và câu lạc bộ liên trường Quảng Ðà. Ngoài ra, đại nhạc hội năm nay còn có sự tham dự của một số ca sĩ thuộc Trung Tâm Thúy Nga, như Thế Sơn, Trần Thái Hòa...
Image
Ðại nhạc hội cũng có khoảng 30 gian hàng của các hội đoàn tham dự trưng bày các sản phẩm hay dịch vụ. (Hình: Người Việt)

Âm thanh do Việt Anh - Premier Production; các ban nhạc Trúc Sinh, The Moon Flower, Lê Huy với Phượng Hoàng.

Ðại nhạc hội cũng có chương trình đấu giá một số hình ảnh của nhiếp ảnh gia Ngọc Hạnh để góp thêm tài chánh cho việc gây quỹ.

Ban tổ chức kêu gọi đồng hương tiếp tục gởi chi phiếu yểm trợ thương phế binh VNCH trong những ngày tới.

Khi gởi, xin đề: ÐNH Cám Ơn Anh kỳ 7, và gởi về một trong ba địa chỉ:

-Ban Tổ Chức, PO Box 21040, San Jose, CA 95151.

-Ở Nam California, gởi về đài SBTN, PO Box 127, Garden Grove, CA 92842; hoặc Hội H.O. Cứu Trợ TPB & QP VNCH, PO Box 25554, Santa Ana, CA 92799.

–-
Liên lạc tác giả: LinhNguyen@nguoi-viet.com

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 7 tại San Jose Full Video.



Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 7 tại San Jose Full Video

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

Dấu chân người lính Pháo Thủ MX
Năm tôi mười tám tuổi đang đi học thì xảy ra trận tổng công kích cuả Việt cộng vào thủ đô Sài Gòn và một số tỉnh lỵ khác của VNCH vào dịp tết Mậu Thân năm 1968. Lệnh tổng động viên được ban hành, vào tuổi cuả một thanh niên mới lớn chưa hiểu rõ về cuộc đời chỉ biết sách vở và bạn bè nay bỗng dưng đi vào quân đội tôi cảm thấy lòng mình đầy hoang mang và bỡ ngỡ .

Chiến tranh đã kéo dài đến thế hệ cuả chúng tôi với một quê hương điêu linh và đổ nát, những người đi trước vẫn còn miệt mài và bây giờ thì đến lượt chúng tôi. Chiến tranh đã đi vào đến thành phố, Sài Gòn đã có những đêm tiếng đại bác vang vọng về rất gần, người dân Sài Gòn cũng đã một phần nào biết đến chiến tranh, một cuộc chiến dai dẳng chưa biết bao giờ mới chấm dứt.

Trường Hạ Sĩ Quan nung chí người trai, Đồng Đế đêm ngày nghe sóng vỗ. Tôi vào quân trường Đồng Đế một buổi chiều khi hoàng hôn vừa tắt, vũ đình trường được bao bọc xung quanh bằng những hàng thông rì rào bởi những luồng gió thổi từ ngoài biển vào, phía sau quân trường, trên đỉnh núi, tượng người lính mầu trắng đứng trong tư thế thao diễn nổi bật trong dẫy núi chập chùng mầu xanh thẫm nổi tiếng với hai câu thơ:

Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,
Em nằm xõa tóc đợi chờ anh.

Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu, máu chưa đổ nhưng mồ hôi thì hầu như lúc nào cũng đẫm chiếc áo trận. Đồng Đế có một bãi huấn luyện về chiến thuật cạnh bờ biển rất đẹp đó là bãi Tiên, không biết ai đặt tên nhưng tiên đâu chẳng thấy chỉ thấy những cán bộ huấn luyện dữ như những hung thần: nhất Sử nhì Vinh tam Hùng tứ Cảnh ,bốn vị sĩ quan huấn luyện viên này có những lối phạt rất là văn nghệ, thơ mộng nhưng chết người như:

Tình ca người đi biển: Cả đại đội khóa sinh dàn hàng ngang súng giơ cao khỏi đầu lội xuống biển cho đến khi nào ngập đầu.

Hái hoa rừng cho em: Một tiếng còi thổi cả đại đội chạy từ dưới chân đồi chạy lên đỉnh rồi một tiếng còi chạy xuống trong tay mỗi người phải cầm một cành hoa nhưng không được rụng cánh.

Những đêm đi ứng chiến ở cầu Xóm Bóng, Ba Làng nghe sóng vỗ rì rào, trời sáng tinh mơ thấp thoáng những bóng con thuyền trở về với đầy ắp cá chuồn. Câu lạc bộ cuả tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng có người con gái cố tình quên không tính tiền cho những chàng khóa sinh với ánh mắt đầy trìu mến như cảm nhận rằng thương người chiến binh. Những ngày cuối tuần đi phép người cán bộ đứng ngay cổng hỏi khóa sinh rằng từ doanh trại tiểu đoàn khóa sinh (bảng tên của mỗi tiểu đoàn khác nhau) ra đến cổng quân trường có bao nhiêu gốc thông ở hai bên đường?.

Rồi 6 tháng quân trường cũng trôi qua, chàng thư sinh bây giờ trở thảnh một người chiến binh dạn dày phong sương bỏ lại sau lưng Đồng Đế với những ngày gian khổ nhưng đầy kỷ niệm.

Thành phố miền thuỳ dương cát trắng vẫn níu chân tôi, rời Đồng Đế tôi qua trường pháo binh ở Dục Mỹ để học thêm về ngành chuyên môn. Trường pháo binh nằm cạnh trung tâm huấn luyện Biệt Động Quân nổi tiếng với chương trình huấn luyện rừng núi sình lầy, thời gian học tại trường pháo binh thật là nhàn hạ, chỉ trừ những lúc khảo hạch về chuyên môn, những chiều cuối tuần có xe cuả trường chở ra thành phố Nha Trang dạo phố nhưng riêng tôi cũng chẳng thấy xa lạ gì bởi mới vừa rời Đồng Đế, quần áo lúc nào cũng ủi hồ thẳng nếp, sách vở trên tay, đi học ngoài bãi đều có xe chở cho nên chúng tôi thường gọi đùa với nhau bọn mình là "lính hoàng gia". Có một kỷ niệm tôi không bao giờ quên đó là những chiều cuối tuần hết tiền ra Nha Trang cả bọn luà dê đực và dê cái cuả ông trung tá già Lê Huy Nghiêu chỉ huy phó vào sam (nơi ngủ cuả khoá sinh) đóng hết cưả lại cho chúng làm tình, sáng thứ hai sau buổi chào cờ tại vũ đình trường những tên tham dự trò chơi đó bị đứng phạt dưới chân cột cờ và trong đó có tôi. Câu lạc bộ số một có cô Ngân xinh đẹp si tình một chàng sĩ quan căn bản pháo binh khoá 2/68, đến ngày mãn khoá chàng phải lẩn trốn (đây là lời cuả sĩ quan pháo binh Phan Kim Bổng khoá 2/68/TĐ kể lại cho tôi ).

Sau khi tốt nghiệp, tôi về phục vụ tại một đơn vị pháo binh và làm việc trong trung tâm hành quân cuả Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, công việc cũng nhàn hạ, ngoài giờ trực tôi thường hay lang thang đường phố Sài Gòn, những chiều cuối tuần vẫn nhộn nhịp mặc dù dấu tích đổ nát cuả chiến tranh còn đó. Thỉnh thoảng có những thằng bạn học cũ aó hoa rừng mũ đỏ, mũ nâu trở về thành phố kể lại những trận đánh mà chúng nó tham dự. Ôi, đời lính nhiều gian nguy nhưng cũng đầy hào hùng và thời gian ngắn sau đó tôi tình nguyện sang pháo binh Thủy Quân Lục Chiến, cũng kể từ đó dấu chân người lính bắt đầu đi khắp nẻo đường đất nước.

Tôi theo đơn vị hành quân tại vùng Kiến Hòa, thị xã Trúc Giang với những hàng dừa rợp bóng hai bên đường, những cô gái thị xã e ấp trong chiếc aó bà ba đơn sơ và giản dị khiến tôi chợt nhớ đến hai câu thơ của một người bạn học cũ trong nhóm thi văn đoàn sông Hậu:

Tôi thương chiếc áo bà ba,
Tôi thương thị xã mang tà áo em.

Qua bắc Hàm Luông là Mỹ Lòng, tại chợ Mỹ Lòng có một loại rượu đế màu vàng óng uống muốn cháy cổ họng nhưng rất ngon, có lần bọn tôi năm đứa đã ngất ngưởng từ đó để về đến vị trí pháo đội đóng tại Đồng Gò, có những buổi chiều ngồi bên cạnh con lộ nhìn những cánh đồng bao la bát ngát tôi thấy đất nước mình đẹp quá, nếu không có chiến tranh thì quả là tuyệt vời với bức tranh đồng quê. đứa trẻ mục đồng trên mình trâu lững thững đi về trong khói lam chiều, nhưng cảnh thanh bình ấy vẫn còn xa tầm tay với cuả những người nông dân hiền hòa và chất phác.

Được một thời gian thì đơn vị di chuyển xuống Giồng Trôm, quê hương cuả ông già Ba Tri đầy huyền thoại, chợ Giồng Trôm nằm bên cạnh chi khu có những buổi trưa Hè trong vọng gác người lính nghĩa quân ôm súng ngồi uể oải, bóng dáng của những người lính mũ xanh, áo rằn ri xuất hiện làm cho khu chợ trở nên sôi động, thấp thoáng đâu đó một vài anh lính ngồi trò truyện với những ánh mắt đầy trìu mến cuả cô thôn nữ. Người lính Việt Nam Cộng Hoà là thế đó, họ chiến đấu thật can đảm khi đối diện cùng quân thù nhưng cũng rất lãng mạn trong tình yêu, thời gian đóng quân tại đây quá ngắn ngủi cho nên mọi người cũng nuối tiếc mảnh đất đầy hiền hoà này, ngày chuyển quân rồi cũng đến và cuộc chia ly nào cũng đầy nước mắt nhưng cuộc chia tay cuả một người lính trong khẩu đội cuả tôi với người con gái Giồng Trôm thì vĩnh biệt bởi sau đó người chiến binh này đã nằm xuống tại mặt trận Quảng Trị vào muà Hè đỏ lửa năm 1972.

Đồn 23 nằm cạnh quốc lộ số 4 thuộc tỉnh Định Tường là căn cứ cuả một trung đoàn bộ binh thuộc Sư Đoàn 7 bị đặc công VC tấn công đêm qua. Khi chúng tôi đến thì những đám cháy vẫn còn và xác người nằm la liệt. Ôi! đau thương nào cho bằng một cảnh tượng đầy xác chết của những đàn bà và trẻ thơ vô tội, một người lính bộ binh nước mắt lưng tròng ngồi ôm xác vợ con mình. Chiến tranh thì sẽ có thiệt hại nhưng đây là sự khát máu, bạo tàn vô lương tâm của con người cộng sản, trái lại người lính Việt Nam Cộng Hòa lúc nào cũng sẵn sàng bảo vệ sinh mạng cuả người dân điều đó đã nói lên tính nhân bản và chính nghĩa cuả người lính VNCH và tính độc ác, bạo tàn, khát máu cuả Cộng Sản.

Từ đồn 23 theo quốc lộ số 4 chạy xuống đến ngã ba Cái Bè, quẹo trái là vào chợ Cái Bè nằm dọc theo con sông chảy ra cầu Thông Lưu, gần chợ có một căn nhà ngói màu đỏ thỉnh thoảng theo chuyến xe tiếp tế cuả pháo đội tôi ghé vào thăm một ông già, ngồi nhâm nhi cùng ông ly rượu đế và nghe ông kể chuyện đời xưa. Trước ngày chuyển quân, tôi đến chào từ giã ông, nắm tay tôi giọng run run ông nói:

_Thằng cháu đi mạnh giỏi nếu có dịp đi ngang qua đây nhớ ghé thăm "Qua"

Ôi! tiếng "Qua" cuả một ông già miền Nam sao mà thân thiết quá! Phải chăng miền Nam với ruộng luá phì nhiêu, thẳng cánh cò bay, tôm cá đầy đồng đời sống dễ dàng nên tính tình người miền Nam cũng cởi mở và chân tình, miền Nam với những trăng sáng đêm thanh tiếng giã gạo xen lẫn tiếng hò cảnh thanh bình, thịnh trị cuả thưở xa xưa. Nhưng rồi chiến tranh đã đưa tôi đi đến những vùng đất xa lạ khác, tôi không còn có dịp ghé về chốn cũ để thăm ông nhưng hình ảnh cuả ông vẫn mãi mãi trong tôi.

Đơn vị nằm chờ lệnh hành quân tại Bắc Mỹ Thuận, những người lính độc thân lại được dịp tỏ tình với những người đẹp bến phà, dòng sông Cửu Long đục nước phù sa lững lờ trôi kéo theo những đám lục bình, chiếc phà chở xe cộ, hành khách sang bên Vĩnh Long như con thoi, tâm hồn tôi chợt nhớ về miền sông Hậu, Cần Thơ nơi tôi đã có vài năm học ở đó. Thành phố có bến Ninh Kiều, những đêm trời sáng trăng tôi thường hay ra ngồi ghế đá nằm cạnh con sông để nhìn sang bên kia là Xóm Chài với con đò đưa khách sang sông dưới ánh trăng lấp lánh hay những buổi nghỉ học cùng với đám bạn bè chèo xuồng qua bên kia cồn để hái trái cây, khung trời Tây Đô với những con đường đầy kỷ niệm.

Kampuchia, một nước nghèo nàn và xác xơ mặc dù chiến tranh mới chỉ thấp thoáng ở một vài nơi gần biên giới Việt Nam, những chiếc tàu vận tải trung hạng cuả quân vận đổ chúng tôi xuống một vùng đất thoai thoải một cù lao nhỏ trồng toàn bắp, xa xa vài căn nhà thưa thớt như những nhà sàn cuả người Thượng trên vùng Cao Nguyên. Cứ 3 ngày, từng đoàn tầu quân vận chở lương thực và đạn dược đến tiếp tế cho chúng tôi.

Con sông trước mặt đục ngầu, thỉnh thoảng có những xác người không đầu theo dòng nước, và được biết đó là những xác cuả người Việt Nam. Những ngày rảnh rỗi một số anh em chúng tôi cũng đi sâu vào làng dân, họ cũng hiền hoà như các dân tộc khác nhưng không hiểu tại sao lại có mối thù truyền kiếp giữa hai dân tộc. Sau 2 tháng ở xứ người, đơn vị tôi đuợc lệnh di chuyển về Châu Đốc và trở về hậu cứ tại Rừng Cấm Thủ Đức. Một buổi tiệc liên hoan đã được tổ chức và đặc biệt hơn nữa là đến màn vũ sexy anh em binh sĩ la ó ồn ào nhưng vị tiểu đoàn trưởng cuả chúng tôi đứng ở một góc cuối hội trường chỉ mỉm cười với ánh mắt thật bao dung, ông hiểu rồi mai đây trong cuộc hành quân sắp tới có còn đầy đủ khuôn mặt như hôm nay? Bởi vì: “xưa nay chinh chiến mấy ai trở về!”. Xin cám ơn lòng nhân hậu cuả người anh cả chúng tôi Tr/tá Trần Thiện Hiệu.

Sau cuộc hành quân Kampuchia lần thứ hai, đơn vị lại chuẩn bị cho cuộc hành quân sắp tới, ngoài quân trang, quân dụng chúng tôi còn được cấp phát thêm áo trấn thủ, tôi đoán sẽ đi hành quân ở vùng Cao Nguyên, nhưng không biết chỗ nào? Bởi vì theo lệnh cấp trên trong phạm vi cuả khẩu đội, tôi kiểm soát lại tình trạng khẩu đại bác, dụng cụ và nhân viên khẩu đội, thời gian chuẩn bị hành quân cũng đã gần đến, tôi muốn trở về thành phố trước khi đơn vị lên đường.

Đêm Sài Gòn vẫn như mọi đêm khác, thành phố rực ánh đèn mầu, tiếng nhạc văng vẳng từ những vũ trường, phòng trà, người dân thành phố vẫn thản nhiên ăn chơi trong khi cuộc chiến mỗi ngày một khốc liệt! Ngồi trong quán cà phê với thằng bạn đêm cuối của Sài Gòn trước khi lao vào vùng lửa đạn, lòng tôi thoáng chút bồi hồi bởi vì không biết có còn được trở lại thành phố này nữa hay không? “Còn đây đêm cuối này, đàn ai réo rắc nhạc lòng chia ly”, tôi chưa có một bóng hồng cho đời, chỉ có một thằng bạn thân chia tay đêm nay, nhưng cũng cảm thấy yên lòng cho kẻ ra đi, mai đây phương trời xa xôi ấy, có kẻ ra đi sẽ quay về?

Chiếc phi cơ C-130 cuả không lực Hoa Kỳ đổ chúng tôi xuống phi trường Ái Tử với những luồng gió thổi thật buốt giá. Phi trường nằm cạnh quốc lộ số 1, chung quanh là bãi cát trắng hoang vu không một mái nhà, không biết ngày xưa người mẹ già đã từ đâu đến để ngồi trên chiếc cầu Ái Tử này khóc nhớ thương con? Nước dưới chân cầu ngập ngừng trôi như muốn niú lại những giọt nước mắt cuả người mẹ già Ái Tử cuả thưở xa xưa. Màn đêm buông xuống, chiếc lều poncho không ngăn được gió lạnh, trong đêm trường không tiếng ru Hời năm xưa mà chỉ nghe tiếng gió thổi vi vu lạnh lẽo, lần đầu tiên trong đời tôi mới biết được cơn lạnh cuả miền Trung.

Trời mờ sáng pháo đội được lệnh di chuyển lên Đông Hà một thị xã của vùng giới tuyến, “đi dăm phút đã về chốn cũ”, khu buôn bán chỉ quanh quẩn với vài con đường, một nhà ga hoang tàn, sân ga cô đơn vắng bóng con tàu kể từ khi cuộc chiến gia tăng. Tôi nhớ về căn ga nhỏ nằm cô đơn giữa đường từ Nha Trang đến Ninh Hòa trong một truyện ngắn cuả Thanh Nam "Buồn Ga Nhỏ", nhưng dù sao căn ga đó vẫn còn có niềm hạnh phúc với những con tàu đến và đi.

Ngã ba Đông Hà nếu chạy thẳng lên hướng bắc cuả quốc lộ 1 thì sẽ đến Gio Linh, còn quẹo trái là quốc lộ số 9 chạy đến biên giới Việt-Lào. Đường đi khúc khủyu quanh co, một bên là vách núi, một bên là vực sâu và nhiều lần phải đi ngang qua những con suối gập ghềnh thật gian nan vất vả, khẩu đại bác 105 ly nhiều lúc muốn chực lật nhào, quần áo mặt mũi bám đầy bụi đỏ, không biết những cô sơn nữ cuả nhạc sĩ Trần Hoàn như thế nào chứ chúng tôi toàn thân hầu như được rắc lên một lớp bột mầu đỏ. Vách núi cheo leo, vực sâu núi thẳm, đoàn quân di chuyển với tiếng động cơ cuả xe phá sự yên tĩnh cuả dãy Trường Sơn hoang vu, pháo đội dừng quân bên cạnh một con suối, mọi người thay phiên nhau đi tắm rửa rồi nghỉ qua đêm.

Đêm ngủ bià rừng, trên bầu trời đen tối lấp lánh vì sao, tiếng xào xạc cuả lá, thèm ly cà phê, điếu thuốc, nhớ mông lung về mái ấm gia đình, cha mẹ, anh em, nhớ đến lời dặn dò cuả người cha già, người mẹ ngồi trước bàn thờ tụng kinh cầu mong cho thằng con mình trở về bình yên, bạn bè đã có vài thằng ra đi khi tuổi còn thanh xuân, Minh "õng ẹo" TĐ/21BĐQ ra trường 26 ngày thì tử trận, Đồng"nhà quê" SĐ25 chết khi mối tình đầu được đúng tròn năm, Kính "con" Nhảy Dù cố gắng về, nhưng về nghiã trang! Ôi, chinh chiến đã mang đi nhiều bạn bè, ngựa hồng chưa mỏi vó nhưng đã chết trong rừng già, cánh đồng hoang vu.

Khe Sanh, nơi được cả thế giới biết đến khi một trung đoàn TQLC Mỹ và Tiểu Đoàn 37/BĐQ lừng danh cuả QLVNCH bị nhiều sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt bao vây, bây giờ lại một lần nữa được nhắc nhớ đến khi những đoàn quân của tinh nhuệ cuả QLVNCH, Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Sư Đoàn Nhẩy Dù, Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân đặt bản doanh trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 tiến sang phần đất Hạ Lào. Những hố bom do B52 thả xuống chung quanh chân đồi đầy rẫy, đã có một lần vào đêm tối trời tôi đã bị rơi xuống hố, khó khăn lắm mới leo lên được. Pháo đội trong tình trạng nằm trừ bị tại Khe Sanh và bắn yểm trợ cho quân bạn, hàng ngày những loạt hoả tiễn 122 ly cuả Cộng quân rớt vào vị trí pháo đội nhưng không sự thiệt hại nào đáng kể.

Từng đoàn trực thăng tải thương mang những thương binh trở về từ mặt trận, bệnh viện dã chiến đầy nghẹt không còn chỗ chứa, bên cạnh đó là những bao đựng xác người nằm đầy ngang hông bệnh viện! Trận chiến mỗi ngày một khốc liệt, bởi vậy số thương vong cũng lên cao, thằng bạn thoát về được mừng tủi kể lại trận đánh và cũng có những thằng bạn của Đồng Đế năm xưa đang im lìm nằm trong bao xác! “Ngày mai trong đám tử sĩ ấy, có kẻ đi về nơi nghiã trang”! Cuộc hành quân chấm dứt, tôi mất đi một số bạn bè và người quen, kỷ vật cho người còn sống là ngôi mộ vừa được lấp kín trong nghiã trang, em hỏi anh bao giờ trở lại? Câu trả lời chỉ là đau thương và mất mát.

Động Ông Đô mây mù dày đặc, thỉnh thoảng có những ngày bầu trời trong sáng, xa xa dãy Trường Sơn chập chùng xanh thẫm khiến tôi nhớ về nơi quân trường cũ có tượng người lính và Dục Mỹ với những ngày kéo súng đi thực tập ở xạ trường có đồi núi chập chùng vây quanh, con suối Dục Mỹ róc rách chảy len lỏi qua những tảng đá làn nước lung linh lấp lánh dưới ánh mặt trời, người tình cũ khi chợt nhớ về cố nhân đã thầm mong một lần nào đó cho gặp lại nhau, riêng tôi, mong một ngày nào đó cho tôi trở về miền thuỳ dương cát trắng năm xưa để nghe sóng vỗ Đồng Đế, tiếng suối chảy cuả Dục Mỹ và ngồi lặng yên trên bãi cát trắng với những con sóng nhấp nhô ngoài khơi cuả Nha Trang ngày về, mười hai tháng anh đi, đi mãi chưa biết bao giờ trở về.

Đỉnh núi Sarge cao ngất, nhìn xuống là quốc lộ số 9 chạy ngoằn ngoèo như con rắn, Cộng quân bắt đầu pháo kích dồn dập vào vị trí pháo đội để gây trở ngại việc yểm trợ cho quân bạn đang bị chúng tấn công bên căn cứ Bá Hổ. Khẩu đại bác của tôi bị 3 trái đạn súng cối 82 khiến hai bánh súng trúng mảnh đạn bị xẹp, chúng pháo tới tấp, vừa chạy vào hầm thêm 2 trái nổ tung trên nóc hầm, tôi không bị thương nhưng hai tai thì ù đi, nghe tiếng rên la của một người lính, tôi nhào đến xem, máu chảy ướt đẫm trên vai, tôi báo cáo lên đài tác xạ cho y tá xuống băng bó cho người lính bị thương và cũng cho biết tình trạng khẩu đại bác, thằng bạn làm trưởng đài tác xạ hỏi một câu thật ngớ ngẩn:

_Súng còn có thể tác xạ được không?

Tôi nổi nóng văng tục, chán quá! Sau cuộc pháo kích cuả Cộng quân, kiểm điểm lại quân số thì có 3 binh sĩ bị thương, không có thương vong nhưng khẩu đội cuả tôi thì bị nặng nhất bởi ngay tầm bắn cuả chúng và ngay ngày hôm sau một toán quân cụ được trực thăng bốc lên núi để sửa chữa lại khẩu đại bác và gỡ một trái đạn không nổ còn nằm dưới gầm súng.

Năm tôi mười tám tuổi đang đi học thì xảy ra trận tổng công kích cuả Việt cộng vào thủ đô Sài Gòn và một số tỉnh lỵ khác của VNCH vào dịp tết Mậu Thân năm 1968. Lệnh tổng động viên được ban hành, vào tuổi cuả một thanh niên mới lớn chưa hiểu rõ về cuộc đời chỉ biết sách vở và bạn bè nay bỗng dưng đi vào quân đội tôi cảm thấy lòng mình đầy hoang mang và bỡ ngỡ .

Chiến tranh đã kéo dài đến thế hệ cuả chúng tôi với một quê hương điêu linh và đổ nát, những người đi trước vẫn còn miệt mài và bây giờ thì đến lượt chúng tôi. Chiến tranh đã đi vào đến thành phố, Sài Gòn đã có những đêm tiếng đại bác vang vọng về rất gần, người dân Sài Gòn cũng đã một phần nào biết đến chiến tranh, một cuộc chiến dai dẳng chưa biết bao giờ mới chấm dứt.

Trường Hạ Sĩ Quan nung chí người trai, Đồng Đế đêm ngày nghe sóng vỗ. Tôi vào quân trường Đồng Đế một buổi chiều khi hoàng hôn vừa tắt, vũ đình trường được bao bọc xung quanh bằng những hàng thông rì rào bởi những luồng gió thổi từ ngoài biển vào, phía sau quân trường, trên đỉnh núi, tượng người lính mầu trắng đứng trong tư thế thao diễn nổi bật trong dẫy núi chập chùng mầu xanh thẫm nổi tiếng với hai câu thơ:

Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,
Em nằm xõa tóc đợi chờ anh.

Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu, máu chưa đổ nhưng mồ hôi thì hầu như lúc nào cũng đẫm chiếc áo trận. Đồng Đế có một bãi huấn luyện về chiến thuật cạnh bờ biển rất đẹp đó là bãi Tiên, không biết ai đặt tên nhưng tiên đâu chẳng thấy chỉ thấy những cán bộ huấn luyện dữ như những hung thần: nhất Sử nhì Vinh tam Hùng tứ Cảnh ,bốn vị sĩ quan huấn luyện viên này có những lối phạt rất là văn nghệ, thơ mộng nhưng chết người như:

Tình ca người đi biển: Cả đại đội khóa sinh dàn hàng ngang súng giơ cao khỏi đầu lội xuống biển cho đến khi nào ngập đầu.

Hái hoa rừng cho em: Một tiếng còi thổi cả đại đội chạy từ dưới chân đồi chạy lên đỉnh rồi một tiếng còi chạy xuống trong tay mỗi người phải cầm một cành hoa nhưng không được rụng cánh.

Những đêm đi ứng chiến ở cầu Xóm Bóng, Ba Làng nghe sóng vỗ rì rào, trời sáng tinh mơ thấp thoáng những bóng con thuyền trở về với đầy ắp cá chuồn. Câu lạc bộ cuả tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng có người con gái cố tình quên không tính tiền cho những chàng khóa sinh với ánh mắt đầy trìu mến như cảm nhận rằng thương người chiến binh. Những ngày cuối tuần đi phép người cán bộ đứng ngay cổng hỏi khóa sinh rằng từ doanh trại tiểu đoàn khóa sinh (bảng tên của mỗi tiểu đoàn khác nhau) ra đến cổng quân trường có bao nhiêu gốc thông ở hai bên đường?.

Rồi 6 tháng quân trường cũng trôi qua, chàng thư sinh bây giờ trở thảnh một người chiến binh dạn dày phong sương bỏ lại sau lưng Đồng Đế với những ngày gian khổ nhưng đầy kỷ niệm.

Thành phố miền thuỳ dương cát trắng vẫn níu chân tôi, rời Đồng Đế tôi qua trường pháo binh ở Dục Mỹ để học thêm về ngành chuyên môn. Trường pháo binh nằm cạnh trung tâm huấn luyện Biệt Động Quân nổi tiếng với chương trình huấn luyện rừng núi sình lầy, thời gian học tại trường pháo binh thật là nhàn hạ, chỉ trừ những lúc khảo hạch về chuyên môn, những chiều cuối tuần có xe cuả trường chở ra thành phố Nha Trang dạo phố nhưng riêng tôi cũng chẳng thấy xa lạ gì bởi mới vừa rời Đồng Đế, quần áo lúc nào cũng ủi hồ thẳng nếp, sách vở trên tay, đi học ngoài bãi đều có xe chở cho nên chúng tôi thường gọi đùa với nhau bọn mình là "lính hoàng gia". Có một kỷ niệm tôi không bao giờ quên đó là những chiều cuối tuần hết tiền ra Nha Trang cả bọn luà dê đực và dê cái cuả ông trung tá già Lê Huy Nghiêu chỉ huy phó vào sam (nơi ngủ cuả khoá sinh) đóng hết cưả lại cho chúng làm tình, sáng thứ hai sau buổi chào cờ tại vũ đình trường những tên tham dự trò chơi đó bị đứng phạt dưới chân cột cờ và trong đó có tôi. Câu lạc bộ số một có cô Ngân xinh đẹp si tình một chàng sĩ quan căn bản pháo binh khoá 2/68, đến ngày mãn khoá chàng phải lẩn trốn (đây là lời cuả sĩ quan pháo binh Phan Kim Bổng khoá 2/68/TĐ kể lại cho tôi ).

Sau khi tốt nghiệp, tôi về phục vụ tại một đơn vị pháo binh và làm việc trong trung tâm hành quân cuả Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, công việc cũng nhàn hạ, ngoài giờ trực tôi thường hay lang thang đường phố Sài Gòn, những chiều cuối tuần vẫn nhộn nhịp mặc dù dấu tích đổ nát cuả chiến tranh còn đó. Thỉnh thoảng có những thằng bạn học cũ aó hoa rừng mũ đỏ, mũ nâu trở về thành phố kể lại những trận đánh mà chúng nó tham dự. Ôi, đời lính nhiều gian nguy nhưng cũng đầy hào hùng và thời gian ngắn sau đó tôi tình nguyện sang pháo binh Thủy Quân Lục Chiến, cũng kể từ đó dấu chân người lính bắt đầu đi khắp nẻo đường đất nước.

Tôi theo đơn vị hành quân tại vùng Kiến Hòa, thị xã Trúc Giang với những hàng dừa rợp bóng hai bên đường, những cô gái thị xã e ấp trong chiếc aó bà ba đơn sơ và giản dị khiến tôi chợt nhớ đến hai câu thơ của một người bạn học cũ trong nhóm thi văn đoàn sông Hậu:

Tôi thương chiếc áo bà ba,
Tôi thương thị xã mang tà áo em.

Qua bắc Hàm Luông là Mỹ Lòng, tại chợ Mỹ Lòng có một loại rượu đế màu vàng óng uống muốn cháy cổ họng nhưng rất ngon, có lần bọn tôi năm đứa đã ngất ngưởng từ đó để về đến vị trí pháo đội đóng tại Đồng Gò, có những buổi chiều ngồi bên cạnh con lộ nhìn những cánh đồng bao la bát ngát tôi thấy đất nước mình đẹp quá, nếu không có chiến tranh thì quả là tuyệt vời với bức tranh đồng quê. đứa trẻ mục đồng trên mình trâu lững thững đi về trong khói lam chiều, nhưng cảnh thanh bình ấy vẫn còn xa tầm tay với cuả những người nông dân hiền hòa và chất phác.

Được một thời gian thì đơn vị di chuyển xuống Giồng Trôm, quê hương cuả ông già Ba Tri đầy huyền thoại, chợ Giồng Trôm nằm bên cạnh chi khu có những buổi trưa Hè trong vọng gác người lính nghĩa quân ôm súng ngồi uể oải, bóng dáng của những người lính mũ xanh, áo rằn ri xuất hiện làm cho khu chợ trở nên sôi động, thấp thoáng đâu đó một vài anh lính ngồi trò truyện với những ánh mắt đầy trìu mến cuả cô thôn nữ. Người lính Việt Nam Cộng Hoà là thế đó, họ chiến đấu thật can đảm khi đối diện cùng quân thù nhưng cũng rất lãng mạn trong tình yêu, thời gian đóng quân tại đây quá ngắn ngủi cho nên mọi người cũng nuối tiếc mảnh đất đầy hiền hoà này, ngày chuyển quân rồi cũng đến và cuộc chia ly nào cũng đầy nước mắt nhưng cuộc chia tay cuả một người lính trong khẩu đội cuả tôi với người con gái Giồng Trôm thì vĩnh biệt bởi sau đó người chiến binh này đã nằm xuống tại mặt trận Quảng Trị vào muà Hè đỏ lửa năm 1972.

Đồn 23 nằm cạnh quốc lộ số 4 thuộc tỉnh Định Tường là căn cứ cuả một trung đoàn bộ binh thuộc Sư Đoàn 7 bị đặc công VC tấn công đêm qua. Khi chúng tôi đến thì những đám cháy vẫn còn và xác người nằm la liệt. Ôi! đau thương nào cho bằng một cảnh tượng đầy xác chết của những đàn bà và trẻ thơ vô tội, một người lính bộ binh nước mắt lưng tròng ngồi ôm xác vợ con mình. Chiến tranh thì sẽ có thiệt hại nhưng đây là sự khát máu, bạo tàn vô lương tâm của con người cộng sản, trái lại người lính Việt Nam Cộng Hòa lúc nào cũng sẵn sàng bảo vệ sinh mạng cuả người dân điều đó đã nói lên tính nhân bản và chính nghĩa cuả người lính VNCH và tính độc ác, bạo tàn, khát máu cuả Cộng Sản.

Từ đồn 23 theo quốc lộ số 4 chạy xuống đến ngã ba Cái Bè, quẹo trái là vào chợ Cái Bè nằm dọc theo con sông chảy ra cầu Thông Lưu, gần chợ có một căn nhà ngói màu đỏ thỉnh thoảng theo chuyến xe tiếp tế cuả pháo đội tôi ghé vào thăm một ông già, ngồi nhâm nhi cùng ông ly rượu đế và nghe ông kể chuyện đời xưa. Trước ngày chuyển quân, tôi đến chào từ giã ông, nắm tay tôi giọng run run ông nói:

_Thằng cháu đi mạnh giỏi nếu có dịp đi ngang qua đây nhớ ghé thăm "Qua"

Ôi! tiếng "Qua" cuả một ông già miền Nam sao mà thân thiết quá! Phải chăng miền Nam với ruộng luá phì nhiêu, thẳng cánh cò bay, tôm cá đầy đồng đời sống dễ dàng nên tính tình người miền Nam cũng cởi mở và chân tình, miền Nam với những trăng sáng đêm thanh tiếng giã gạo xen lẫn tiếng hò cảnh thanh bình, thịnh trị cuả thưở xa xưa. Nhưng rồi chiến tranh đã đưa tôi đi đến những vùng đất xa lạ khác, tôi không còn có dịp ghé về chốn cũ để thăm ông nhưng hình ảnh cuả ông vẫn mãi mãi trong tôi.

Đơn vị nằm chờ lệnh hành quân tại Bắc Mỹ Thuận, những người lính độc thân lại được dịp tỏ tình với những người đẹp bến phà, dòng sông Cửu Long đục nước phù sa lững lờ trôi kéo theo những đám lục bình, chiếc phà chở xe cộ, hành khách sang bên Vĩnh Long như con thoi, tâm hồn tôi chợt nhớ về miền sông Hậu, Cần Thơ nơi tôi đã có vài năm học ở đó. Thành phố có bến Ninh Kiều, những đêm trời sáng trăng tôi thường hay ra ngồi ghế đá nằm cạnh con sông để nhìn sang bên kia là Xóm Chài với con đò đưa khách sang sông dưới ánh trăng lấp lánh hay những buổi nghỉ học cùng với đám bạn bè chèo xuồng qua bên kia cồn để hái trái cây, khung trời Tây Đô với những con đường đầy kỷ niệm.

Kampuchia, một nước nghèo nàn và xác xơ mặc dù chiến tranh mới chỉ thấp thoáng ở một vài nơi gần biên giới Việt Nam, những chiếc tàu vận tải trung hạng cuả quân vận đổ chúng tôi xuống một vùng đất thoai thoải một cù lao nhỏ trồng toàn bắp, xa xa vài căn nhà thưa thớt như những nhà sàn cuả người Thượng trên vùng Cao Nguyên. Cứ 3 ngày, từng đoàn tầu quân vận chở lương thực và đạn dược đến tiếp tế cho chúng tôi.

Con sông trước mặt đục ngầu, thỉnh thoảng có những xác người không đầu theo dòng nước, và được biết đó là những xác cuả người Việt Nam. Những ngày rảnh rỗi một số anh em chúng tôi cũng đi sâu vào làng dân, họ cũng hiền hoà như các dân tộc khác nhưng không hiểu tại sao lại có mối thù truyền kiếp giữa hai dân tộc. Sau 2 tháng ở xứ người, đơn vị tôi đuợc lệnh di chuyển về Châu Đốc và trở về hậu cứ tại Rừng Cấm Thủ Đức. Một buổi tiệc liên hoan đã được tổ chức và đặc biệt hơn nữa là đến màn vũ sexy anh em binh sĩ la ó ồn ào nhưng vị tiểu đoàn trưởng cuả chúng tôi đứng ở một góc cuối hội trường chỉ mỉm cười với ánh mắt thật bao dung, ông hiểu rồi mai đây trong cuộc hành quân sắp tới có còn đầy đủ khuôn mặt như hôm nay? Bởi vì: “xưa nay chinh chiến mấy ai trở về!”. Xin cám ơn lòng nhân hậu cuả người anh cả chúng tôi Tr/tá Trần Thiện Hiệu.

Sau cuộc hành quân Kampuchia lần thứ hai, đơn vị lại chuẩn bị cho cuộc hành quân sắp tới, ngoài quân trang, quân dụng chúng tôi còn được cấp phát thêm áo trấn thủ, tôi đoán sẽ đi hành quân ở vùng Cao Nguyên, nhưng không biết chỗ nào? Bởi vì theo lệnh cấp trên trong phạm vi cuả khẩu đội, tôi kiểm soát lại tình trạng khẩu đại bác, dụng cụ và nhân viên khẩu đội, thời gian chuẩn bị hành quân cũng đã gần đến, tôi muốn trở về thành phố trước khi đơn vị lên đường.

Đêm Sài Gòn vẫn như mọi đêm khác, thành phố rực ánh đèn mầu, tiếng nhạc văng vẳng từ những vũ trường, phòng trà, người dân thành phố vẫn thản nhiên ăn chơi trong khi cuộc chiến mỗi ngày một khốc liệt! Ngồi trong quán cà phê với thằng bạn đêm cuối của Sài Gòn trước khi lao vào vùng lửa đạn, lòng tôi thoáng chút bồi hồi bởi vì không biết có còn được trở lại thành phố này nữa hay không? “Còn đây đêm cuối này, đàn ai réo rắc nhạc lòng chia ly”, tôi chưa có một bóng hồng cho đời, chỉ có một thằng bạn thân chia tay đêm nay, nhưng cũng cảm thấy yên lòng cho kẻ ra đi, mai đây phương trời xa xôi ấy, có kẻ ra đi sẽ quay về?

Chiếc phi cơ C-130 cuả không lực Hoa Kỳ đổ chúng tôi xuống phi trường Ái Tử với những luồng gió thổi thật buốt giá. Phi trường nằm cạnh quốc lộ số 1, chung quanh là bãi cát trắng hoang vu không một mái nhà, không biết ngày xưa người mẹ già đã từ đâu đến để ngồi trên chiếc cầu Ái Tử này khóc nhớ thương con? Nước dưới chân cầu ngập ngừng trôi như muốn niú lại những giọt nước mắt cuả người mẹ già Ái Tử cuả thưở xa xưa. Màn đêm buông xuống, chiếc lều poncho không ngăn được gió lạnh, trong đêm trường không tiếng ru Hời năm xưa mà chỉ nghe tiếng gió thổi vi vu lạnh lẽo, lần đầu tiên trong đời tôi mới biết được cơn lạnh cuả miền Trung.

Trời mờ sáng pháo đội được lệnh di chuyển lên Đông Hà một thị xã của vùng giới tuyến, “đi dăm phút đã về chốn cũ”, khu buôn bán chỉ quanh quẩn với vài con đường, một nhà ga hoang tàn, sân ga cô đơn vắng bóng con tàu kể từ khi cuộc chiến gia tăng. Tôi nhớ về căn ga nhỏ nằm cô đơn giữa đường từ Nha Trang đến Ninh Hòa trong một truyện ngắn cuả Thanh Nam "Buồn Ga Nhỏ", nhưng dù sao căn ga đó vẫn còn có niềm hạnh phúc với những con tàu đến và đi.

Ngã ba Đông Hà nếu chạy thẳng lên hướng bắc cuả quốc lộ 1 thì sẽ đến Gio Linh, còn quẹo trái là quốc lộ số 9 chạy đến biên giới Việt-Lào. Đường đi khúc khủyu quanh co, một bên là vách núi, một bên là vực sâu và nhiều lần phải đi ngang qua những con suối gập ghềnh thật gian nan vất vả, khẩu đại bác 105 ly nhiều lúc muốn chực lật nhào, quần áo mặt mũi bám đầy bụi đỏ, không biết những cô sơn nữ cuả nhạc sĩ Trần Hoàn như thế nào chứ chúng tôi toàn thân hầu như được rắc lên một lớp bột mầu đỏ. Vách núi cheo leo, vực sâu núi thẳm, đoàn quân di chuyển với tiếng động cơ cuả xe phá sự yên tĩnh cuả dãy Trường Sơn hoang vu, pháo đội dừng quân bên cạnh một con suối, mọi người thay phiên nhau đi tắm rửa rồi nghỉ qua đêm.

Đêm ngủ bià rừng, trên bầu trời đen tối lấp lánh vì sao, tiếng xào xạc cuả lá, thèm ly cà phê, điếu thuốc, nhớ mông lung về mái ấm gia đình, cha mẹ, anh em, nhớ đến lời dặn dò cuả người cha già, người mẹ ngồi trước bàn thờ tụng kinh cầu mong cho thằng con mình trở về bình yên, bạn bè đã có vài thằng ra đi khi tuổi còn thanh xuân, Minh "õng ẹo" TĐ/21BĐQ ra trường 26 ngày thì tử trận, Đồng"nhà quê" SĐ25 chết khi mối tình đầu được đúng tròn năm, Kính "con" Nhảy Dù cố gắng về, nhưng về nghiã trang! Ôi, chinh chiến đã mang đi nhiều bạn bè, ngựa hồng chưa mỏi vó nhưng đã chết trong rừng già, cánh đồng hoang vu.

Khe Sanh, nơi được cả thế giới biết đến khi một trung đoàn TQLC Mỹ và Tiểu Đoàn 37/BĐQ lừng danh cuả QLVNCH bị nhiều sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt bao vây, bây giờ lại một lần nữa được nhắc nhớ đến khi những đoàn quân của tinh nhuệ cuả QLVNCH, Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Sư Đoàn Nhẩy Dù, Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân đặt bản doanh trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 tiến sang phần đất Hạ Lào. Những hố bom do B52 thả xuống chung quanh chân đồi đầy rẫy, đã có một lần vào đêm tối trời tôi đã bị rơi xuống hố, khó khăn lắm mới leo lên được. Pháo đội trong tình trạng nằm trừ bị tại Khe Sanh và bắn yểm trợ cho quân bạn, hàng ngày những loạt hoả tiễn 122 ly cuả Cộng quân rớt vào vị trí pháo đội nhưng không sự thiệt hại nào đáng kể.

Từng đoàn trực thăng tải thương mang những thương binh trở về từ mặt trận, bệnh viện dã chiến đầy nghẹt không còn chỗ chứa, bên cạnh đó là những bao đựng xác người nằm đầy ngang hông bệnh viện! Trận chiến mỗi ngày một khốc liệt, bởi vậy số thương vong cũng lên cao, thằng bạn thoát về được mừng tủi kể lại trận đánh và cũng có những thằng bạn của Đồng Đế năm xưa đang im lìm nằm trong bao xác! “Ngày mai trong đám tử sĩ ấy, có kẻ đi về nơi nghiã trang”! Cuộc hành quân chấm dứt, tôi mất đi một số bạn bè và người quen, kỷ vật cho người còn sống là ngôi mộ vừa được lấp kín trong nghiã trang, em hỏi anh bao giờ trở lại? Câu trả lời chỉ là đau thương và mất mát.

Động Ông Đô mây mù dày đặc, thỉnh thoảng có những ngày bầu trời trong sáng, xa xa dãy Trường Sơn chập chùng xanh thẫm khiến tôi nhớ về nơi quân trường cũ có tượng người lính và Dục Mỹ với những ngày kéo súng đi thực tập ở xạ trường có đồi núi chập chùng vây quanh, con suối Dục Mỹ róc rách chảy len lỏi qua những tảng đá làn nước lung linh lấp lánh dưới ánh mặt trời, người tình cũ khi chợt nhớ về cố nhân đã thầm mong một lần nào đó cho gặp lại nhau, riêng tôi, mong một ngày nào đó cho tôi trở về miền thuỳ dương cát trắng năm xưa để nghe sóng vỗ Đồng Đế, tiếng suối chảy cuả Dục Mỹ và ngồi lặng yên trên bãi cát trắng với những con sóng nhấp nhô ngoài khơi cuả Nha Trang ngày về, mười hai tháng anh đi, đi mãi chưa biết bao giờ trở về.

Đỉnh núi Sarge cao ngất, nhìn xuống là quốc lộ số 9 chạy ngoằn ngoèo như con rắn, Cộng quân bắt đầu pháo kích dồn dập vào vị trí pháo đội để gây trở ngại việc yểm trợ cho quân bạn đang bị chúng tấn công bên căn cứ Bá Hổ. Khẩu đại bác của tôi bị 3 trái đạn súng cối 82 khiến hai bánh súng trúng mảnh đạn bị xẹp, chúng pháo tới tấp, vừa chạy vào hầm thêm 2 trái nổ tung trên nóc hầm, tôi không bị thương nhưng hai tai thì ù đi, nghe tiếng rên la của một người lính, tôi nhào đến xem, máu chảy ướt đẫm trên vai, tôi báo cáo lên đài tác xạ cho y tá xuống băng bó cho người lính bị thương và cũng cho biết tình trạng khẩu đại bác, thằng bạn làm trưởng đài tác xạ hỏi một câu thật ngớ ngẩn:

_Súng còn có thể tác xạ được không?

Tôi nổi nóng văng tục, chán quá! Sau cuộc pháo kích cuả Cộng quân, kiểm điểm lại quân số thì có 3 binh sĩ bị thương, không có thương vong nhưng khẩu đội cuả tôi thì bị nặng nhất bởi ngay tầm bắn cuả chúng và ngay ngày hôm sau một toán quân cụ được trực thăng bốc lên núi để sửa chữa lại khẩu đại bác và gỡ một trái đạn không nổ còn nằm dưới gầm súng.


Đầu mùa Xuân năm 1972, pháo đội đóng trong căn cứ C1 Gio Linh, Gio Linh nghèo nàn, xơ xác, cứ mỗi buổi sáng từng đoàn người kể cả trẻ em dẫn nhau lên núi, và vào khoảng xế bóng ra về với những bó củi trên lưng, thấy vậy tôi xin phép cấp trên những ống đựng đạn được quấn bằng giấy dầu không thấm nước thay vì đem đổ đi thì nên cho họ, được sự chấp thuận nên cứ mỗi lần khui đạn những ống đựng đạn đó tôi nói với người tài xế cuả khẩu đội mang ra cho họ. Chiều ba mươi Tết cuả miền điạ đầu giới tuyến, mặt trận tạm yên, hưởng không khí muà Xuân với đồng đội trong khi những người dân Gio Linh vẫn từng đoàn người lầm lũi vào dẫy Trường Sơn để kiếm sống. Ôi, quê hương Việt Nam sao có những nơi lầm than đói khổ như thế này!

Quảng Trị muà Hè đỏ lưả bắt đầu khi những sư đoàn Cộng quân Bắc Việt cùng với xe tăng đại pháo vượt sông Bến Hải ồ ạt tấn công miền địa đầu giới tuyến. Những căn cứ tiền đồn lần lượt thất thủ! Trong thời gian ấy, đơn vị chúng tôi đang đóng trong căn cứ cuả một trung đoàn bộ binh, vị trí pháo đội bị Cộng quân pháo tới tấp nhưng chúng tôi vẫn cố gắng bắn yểm trợ cho những đơn vị bạn, bất ngờ khẩu đội được lệnh chuyển hướng bắn và mục tiêu là cầu Đông Hà. Cầu Đông Hà trong tầm mắt nhìn nên tôi thấy khói và bụi mù tung trời sau đó được lệnh kéo súng về vị trí mới. Trên đường đi, dọc theo quốc lộ số I, từng đoàn người dân gồng gánh nối đuôi nhau chạy về Huế. Từ căn cứ Hoà Mỹ, phaó đội yểm trợ suốt đêm cho một đơn vị bạn trong căn cứ Phượng Hoàng đang bị Cộng quân tấn công bằng xe tăng và đại pháo.

Vì áp lực cuả địch, chúng tôi về đóng tại cây số 17 (thời gian này Sư Đoàn Dù chưa ra tham chiến) là một căn cứ cũ cuả quân đội Mỹ và con sông Mỹ Chánh trở thành tuyến đầu cực Bắc cuả miền Nam. Vị Lữ Đoàn Trưởng của LĐ/369/TQLC, Đại Tá Phạm Văn Chung, đã chận đứng được sự tấn công cuả cộng quân tại con sông này. Cảnh hỗn loạn chấm dứt, trật tự đã được tái lập và sau đó cũng từ con sông Mỹ Chánh này Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam đã làm nên lịch sử khi cắm lá quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ trên cổ thành Quảng Trị lừng danh trong quân sử. Hải Lăng, một đoạn đường dài hơn 10 cây số đầy xác người nằm trên mặt lộ và hai bên đường bởi cuộc phaó kích cuả giặc thù! Giới truyền thông Tây phương đâu rồi? Cô đào chiếu bóng Jane Fonda đâu rồi? Cả bọn mất dạng bởi cảnh tượng tàn sát khủng khiếp dã man trong loài người do những "người bạn" cuả đám phản chiến gây nên, đoạn đường này sau đó đã được một nữ ký giả Việt Nam gọi là:"Đại Lộ Kinh Hoàng" và người đó là nhà báo Trùng Dương .
Từ hương lộ 555, pháo đội tôi di chuyển đến đóng tại cầu Vân Trình, sau đó di chuyển qua đóng bên cạnh con sông Vĩnh Định để bắn yểm trợ cho các đơn vị TQLC đang tiến về thành phố Quảng Trị. Trận chiến mỗi ngày một gay go. Vào một buổi chiều khi trời vừa chập choạng tối, Cộng quân pháo trúng kho đạn cuả pháo đội, tiếng đạn nổ long trời cho đến gần nửa đêm mới dứt. Một số đồng bào đồng bào được giải thoát từ phiá Bắc chạy về hướng vị trí pháo đội, tất cả mọi người đã được anh em chúng tôi mang lương khô gạo xấy ra phân phát.

Dòng sông Vĩnh Định vẫn trôi chảy hiền hoà nhưng trận chiến thì mỗi ngày một đẫm máu, đoàn người lánh nạn vẫn mong mỏi chiến trận lắng dịu để họ trở về nơi quê cha, đất tổ cho dù trong cảnh hoang tàn và đổ nát,Việt Nam ơi! Hoà Bình ơi! người người đã trông đợi từ lâu và biết bao giờ đến.

Qua cầu Phong Điền, hướng lên phía Bắc, bên tay trái có một con đường mòn dẫn lên ngọn đồi nhỏ là nơi pháo đội tôi đóng quân, đang gióng hướng súng thì Cộng quân pháo kích tới tấp, người nhắm viên cuả khẩu đội bị một mảnh đạn đại bác 130 ly ghim vào đầu, óc văng tung toé! Tôi chạy đến xem, trên khuôn mặt cuả người nhân viên, bầy nhầy máu và óc, một bên mặt đã mất chỉ còn là một lỗ sâu hoắm, anh nằm xuống như một lần vào viễn du! Không phải như vậy, bởi vì anh đã chết, chết một cách thảm khốc cho cuộc chiến này, "ngọn đồi máu" đúng vậy, vì trước đó vài ngày một thằng bạn học của thời niên thiếu cũng đã chết tại ngọn đồi này. Cơn mưa bất chợt đổ xuống, những giọt mưa ướt đẫm trên mặt xen lẫn nước mắt để khóc thêm lần thứ hai cho hai người vừa nằm xuống trên cùng một địa điểm. Ở một phương trời xa xôi của đồng bằng sông Cửu Long, có một người vợ trẻ vừa trở thành goá phụ khi hình hài người chồng đang trở về trong "Hòm gỗ cài hoa".

Tôi trở về Sài Gòn với tấm giấy phép thưởng hành quân 7 ngày, bước lên thềm nhà, người mẹ già ngỡ ngàng nhìn con, thằng con lính vừa từ mặt trận trở về. Tin tức về chiến sự hàng ngày đã làm bà lo sợ, có lần một thằng bạn bị thương trước khi được chuyển về bệnh viện Lê Hữu Sanh, tôi có nhờ nó đến nhà để báo cho gia đình tôi biết là tôi vẫn bình yên, nó chống nạng khập khiễng đến gõ cửa, thấy bóng dáng người lính Mũ Xanh áo rằn ri, mẹ tôi ngất xỉu. Vài ngày ở Sài gòn, Sài gòn hoa lệ, Sài gòn muôn mầu vẫn sống trong cơn thác loạn trong khi đó thì trên những đèo cao hút gió, rừng sâu núi thẳm, từng giây phút trôi đi có những người lính vô danh âm thầm gục ngã rải rác trên khắp mảnh đất quê hương.

Cơn mưa Sài gòn bất chợt đổ xuống, tôi chui vào một quán cà phê trú mưa, tiếng hát của cô ca sĩ đang ca ngợi lính, không biết nàng hát cho lính loại nào? Một giấy tính tiền được đưa ra có tính thêm khoản tiền uỷ lạo chiến sĩ tiền tuyến, ôi sao quái đản thế này! Một thằng lính từ mặt trận trở về lại phải uỷ lạo tiền tuyến! Tôi nổi nóng thật sự, không phải cái khoản tiền uỷ lạo mà là lối làm ăn quái gở của ngành chiến tranh chính trị.

Tôi đến gõ cửa nhà bạn, mẹ bạn bước ra với ánh mắt thật buồn, im lặng không nói chỉ đưa mắt nhìn lên bàn thờ, áo hoa dù trong khung hình bán thân lung linh theo làn khói hương, bạn tôi đó! Một thời ngang dọc với những địa danh đẫm máu, bị thương ba lần không chết, mỗi lần gặp nhau trong cơn say nghêu ngao hát “anh không chết đâu em!” và bây giờ thì nó không còn để mà hát điệp khúc này nữa, thắp cho bạn nén nhang, khói nhang màu trắng đục bay tỏa lững lờ như hồn nó đang chập chờn trong nghiã trang có tượng người lính Thương Tiếc. Bạn tôi đó đang say ngủ yên và bạn nó những người còn sống vẫn miệt mài với cuộc chiến đầy đau thương và thảm khốc này.

Giọt nắng soi ngang thềm nhà, người mẹ già yên lặng ngồi đó đã lâu, đã bao nhiêu lần như vậy cứ mỗi lần thằng con trở lại chiến trường bà đều ngồi âm thầm khấn nguyện. Bóng dáng người lính Mũ Xanh áo rằn ri khuất lần sau cánh cổng, người mẹ già vẫn còn đó, bà mong mỏi bước chân bình yên cuả con mình sẽ theo dấu lối về, cuộc chiến này sẽ có ngày tàn nhưng rồi có biết bao người đi và mấy người trở lại?.

Viết để tưởng nhớ đến những đồng đội, bạn bè của tôi đã nằm xuống cho một cuộc chiến đầy máu lửa đau thương này.

PT MX Phạm Thành Nhân
TĐ.3/PBTQLC

Đầu mùa Xuân năm 1972, pháo đội đóng trong căn cứ C1 Gio Linh, Gio Linh nghèo nàn, xơ xác, cứ mỗi buổi sáng từng đoàn người kể cả trẻ em dẫn nhau lên núi, và vào khoảng xế bóng ra về với những bó củi trên lưng, thấy vậy tôi xin phép cấp trên những ống đựng đạn được quấn bằng giấy dầu không thấm nước thay vì đem đổ đi thì nên cho họ, được sự chấp thuận nên cứ mỗi lần khui đạn những ống đựng đạn đó tôi nói với người tài xế cuả khẩu đội mang ra cho họ. Chiều ba mươi Tết cuả miền điạ đầu giới tuyến, mặt trận tạm yên, hưởng không khí muà Xuân với đồng đội trong khi những người dân Gio Linh vẫn từng đoàn người lầm lũi vào dẫy Trường Sơn để kiếm sống. Ôi, quê hương Việt Nam sao có những nơi lầm than đói khổ như thế này!

Quảng Trị muà Hè đỏ lưả bắt đầu khi những sư đoàn Cộng quân Bắc Việt cùng với xe tăng đại pháo vượt sông Bến Hải ồ ạt tấn công miền địa đầu giới tuyến. Những căn cứ tiền đồn lần lượt thất thủ! Trong thời gian ấy, đơn vị chúng tôi đang đóng trong căn cứ cuả một trung đoàn bộ binh, vị trí pháo đội bị Cộng quân pháo tới tấp nhưng chúng tôi vẫn cố gắng bắn yểm trợ cho những đơn vị bạn, bất ngờ khẩu đội được lệnh chuyển hướng bắn và mục tiêu là cầu Đông Hà. Cầu Đông Hà trong tầm mắt nhìn nên tôi thấy khói và bụi mù tung trời sau đó được lệnh kéo súng về vị trí mới. Trên đường đi, dọc theo quốc lộ số I, từng đoàn người dân gồng gánh nối đuôi nhau chạy về Huế. Từ căn cứ Hoà Mỹ, phaó đội yểm trợ suốt đêm cho một đơn vị bạn trong căn cứ Phượng Hoàng đang bị Cộng quân tấn công bằng xe tăng và đại pháo.

Vì áp lực cuả địch, chúng tôi về đóng tại cây số 17 (thời gian này Sư Đoàn Dù chưa ra tham chiến) là một căn cứ cũ cuả quân đội Mỹ và con sông Mỹ Chánh trở thành tuyến đầu cực Bắc cuả miền Nam. Vị Lữ Đoàn Trưởng của LĐ/369/TQLC, Đại Tá Phạm Văn Chung, đã chận đứng được sự tấn công cuả cộng quân tại con sông này. Cảnh hỗn loạn chấm dứt, trật tự đã được tái lập và sau đó cũng từ con sông Mỹ Chánh này Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam đã làm nên lịch sử khi cắm lá quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ trên cổ thành Quảng Trị lừng danh trong quân sử. Hải Lăng, một đoạn đường dài hơn 10 cây số đầy xác người nằm trên mặt lộ và hai bên đường bởi cuộc phaó kích cuả giặc thù! Giới truyền thông Tây phương đâu rồi? Cô đào chiếu bóng Jane Fonda đâu rồi? Cả bọn mất dạng bởi cảnh tượng tàn sát khủng khiếp dã man trong loài người do những "người bạn" cuả đám phản chiến gây nên, đoạn đường này sau đó đã được một nữ ký giả Việt Nam gọi là:"Đại Lộ Kinh Hoàng" và người đó là nhà báo Trùng Dương .
Từ hương lộ 555, pháo đội tôi di chuyển đến đóng tại cầu Vân Trình, sau đó di chuyển qua đóng bên cạnh con sông Vĩnh Định để bắn yểm trợ cho các đơn vị TQLC đang tiến về thành phố Quảng Trị. Trận chiến mỗi ngày một gay go. Vào một buổi chiều khi trời vừa chập choạng tối, Cộng quân pháo trúng kho đạn cuả pháo đội, tiếng đạn nổ long trời cho đến gần nửa đêm mới dứt. Một số đồng bào đồng bào được giải thoát từ phiá Bắc chạy về hướng vị trí pháo đội, tất cả mọi người đã được anh em chúng tôi mang lương khô gạo xấy ra phân phát.

Dòng sông Vĩnh Định vẫn trôi chảy hiền hoà nhưng trận chiến thì mỗi ngày một đẫm máu, đoàn người lánh nạn vẫn mong mỏi chiến trận lắng dịu để họ trở về nơi quê cha, đất tổ cho dù trong cảnh hoang tàn và đổ nát,Việt Nam ơi! Hoà Bình ơi! người người đã trông đợi từ lâu và biết bao giờ đến.

Qua cầu Phong Điền, hướng lên phía Bắc, bên tay trái có một con đường mòn dẫn lên ngọn đồi nhỏ là nơi pháo đội tôi đóng quân, đang gióng hướng súng thì Cộng quân pháo kích tới tấp, người nhắm viên cuả khẩu đội bị một mảnh đạn đại bác 130 ly ghim vào đầu, óc văng tung toé! Tôi chạy đến xem, trên khuôn mặt cuả người nhân viên, bầy nhầy máu và óc, một bên mặt đã mất chỉ còn là một lỗ sâu hoắm, anh nằm xuống như một lần vào viễn du! Không phải như vậy, bởi vì anh đã chết, chết một cách thảm khốc cho cuộc chiến này, "ngọn đồi máu" đúng vậy, vì trước đó vài ngày một thằng bạn học của thời niên thiếu cũng đã chết tại ngọn đồi này. Cơn mưa bất chợt đổ xuống, những giọt mưa ướt đẫm trên mặt xen lẫn nước mắt để khóc thêm lần thứ hai cho hai người vừa nằm xuống trên cùng một địa điểm. Ở một phương trời xa xôi của đồng bằng sông Cửu Long, có một người vợ trẻ vừa trở thành goá phụ khi hình hài người chồng đang trở về trong "Hòm gỗ cài hoa".

Tôi trở về Sài Gòn với tấm giấy phép thưởng hành quân 7 ngày, bước lên thềm nhà, người mẹ già ngỡ ngàng nhìn con, thằng con lính vừa từ mặt trận trở về. Tin tức về chiến sự hàng ngày đã làm bà lo sợ, có lần một thằng bạn bị thương trước khi được chuyển về bệnh viện Lê Hữu Sanh, tôi có nhờ nó đến nhà để báo cho gia đình tôi biết là tôi vẫn bình yên, nó chống nạng khập khiễng đến gõ cửa, thấy bóng dáng người lính Mũ Xanh áo rằn ri, mẹ tôi ngất xỉu. Vài ngày ở Sài gòn, Sài gòn hoa lệ, Sài gòn muôn mầu vẫn sống trong cơn thác loạn trong khi đó thì trên những đèo cao hút gió, rừng sâu núi thẳm, từng giây phút trôi đi có những người lính vô danh âm thầm gục ngã rải rác trên khắp mảnh đất quê hương.

Cơn mưa Sài gòn bất chợt đổ xuống, tôi chui vào một quán cà phê trú mưa, tiếng hát của cô ca sĩ đang ca ngợi lính, không biết nàng hát cho lính loại nào? Một giấy tính tiền được đưa ra có tính thêm khoản tiền uỷ lạo chiến sĩ tiền tuyến, ôi sao quái đản thế này! Một thằng lính từ mặt trận trở về lại phải uỷ lạo tiền tuyến! Tôi nổi nóng thật sự, không phải cái khoản tiền uỷ lạo mà là lối làm ăn quái gở của ngành chiến tranh chính trị.

Tôi đến gõ cửa nhà bạn, mẹ bạn bước ra với ánh mắt thật buồn, im lặng không nói chỉ đưa mắt nhìn lên bàn thờ, áo hoa dù trong khung hình bán thân lung linh theo làn khói hương, bạn tôi đó! Một thời ngang dọc với những địa danh đẫm máu, bị thương ba lần không chết, mỗi lần gặp nhau trong cơn say nghêu ngao hát “anh không chết đâu em!” và bây giờ thì nó không còn để mà hát điệp khúc này nữa, thắp cho bạn nén nhang, khói nhang màu trắng đục bay tỏa lững lờ như hồn nó đang chập chờn trong nghiã trang có tượng người lính Thương Tiếc. Bạn tôi đó đang say ngủ yên và bạn nó những người còn sống vẫn miệt mài với cuộc chiến đầy đau thương và thảm khốc này.

Giọt nắng soi ngang thềm nhà, người mẹ già yên lặng ngồi đó đã lâu, đã bao nhiêu lần như vậy cứ mỗi lần thằng con trở lại chiến trường bà đều ngồi âm thầm khấn nguyện. Bóng dáng người lính Mũ Xanh áo rằn ri khuất lần sau cánh cổng, người mẹ già vẫn còn đó, bà mong mỏi bước chân bình yên cuả con mình sẽ theo dấu lối về, cuộc chiến này sẽ có ngày tàn nhưng rồi có biết bao người đi và mấy người trở lại?.

Viết để tưởng nhớ đến những đồng đội, bạn bè của tôi đã nằm xuống cho một cuộc chiến đầy máu lửa đau thương này.

PT MX Phạm Thành Nhân
TĐ.3/PBTQLC

Post Reply