Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

Sài Gòn tự do và hi vọng
(Viết cho ngày SG bị cưỡng bức đổi tên 2/7/1976)

Hiền Sỹ
(Danlambao) - Mỗi một dân tộc, một đất nước nào cũng có những niềm tự hào về nguồn cội riêng mình. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Đi cùng truyền thống chống giặc ngoại xâm xuyên suốt 4000 năm là ý chí vượt lên khó khăn để xây dựng một Việt Nam ngày càng no ấm, giàu đẹp hơn. Trải qua hằng nghìn năm, nhiều triều đại trong lịch sử thì mỗi miền Bắc, Trung, Nam đều có cho riêng mình những nét đẹp, nét độc đáo cho riêng mình trong sự thống nhất về văn hóa của người Việt Nam. Và đại diện cho 3 miền tươi đẹp ấy là Thăng Long (Hà Nội), Huế và Sài Gòn. Tuy là một thành phố mặc dù sinh sau đẻ muộn hơn cả trong 3 thành phố nhưng sự tồn tại trên 300 năm của Sài gòn đã thể hiện ý chí quyết tâm vượt khó để mở mang bờ cõi của cha ông chúng ta.

Cho đến hôm nay, lịch sử của cái tên Sài Gòn đến nay vẫn chưa xác định được chứng tỏ rằng địa danh này là một sáng tạo dân gian trải qua trên ba thế kỷ và đã trở thành quen thuộc, thân thương với người dân Việt Nam nếu lấy thời điểm địa danh Sài Gòn được ghi vào sử sách (tháng 4 năm 1674) coi như ngày sinh thành phố. Các học giả xưa nay đã đưa ra rất nhiều cách giải thích khác nhau, người thì cho chữ Sài Gòn do chữ Prei Kor gốc Khmer, có nghĩa là “Củi gòn”, người thì cho do chữ Tây Cống, mà người Hoa phát âm là “Xây Ngòn”, người thì cho do chữ Đề Ngạn, người Hoa phát âm là “Thầy Nguồn”, v.v... nhưng đến nay chưa có giải thích thỏa đáng được mọi người nhất trí. Tuy nhiên, có một sự thật không thể chối bỏ được là Sài Gòn đã trở thành biểu tượng của ấm no, hạnh phúc và tự do cho Việt Nam trong suốt lịch sử tồn tại của thành phố.

Từ năm 1788, Sài Gòn trở thành nơi buôn bán sầm uất, đông đúc cư dân. Cuối thế kỷ 19, công cuộc đô thị hóa được mở rộng và sang thế kỷ 20 Sài Gòn đã trở thành “Hòn ngọc Viễn Đông”. Lịch sử đô thành Sài Gòn gắn liền với lịch sử Đất Nước. Xuyên suốt chiều dài lịch sử của mình, Sài Gòn đã là một thành phố mang trong mình tính chất đầy đủ của tính cách người Miền Nam đi mở cõi: Sôi nổi nhưng hiền hòa và chất phác, văn minh gắn liền với tự do. Nói về văn minh và sôi nổi thì cái tên “hòn ngọc Viễn Đông” đã nói lên hết ý nghĩa của Sài Gòn. Đây cũng là lý do trước đây khi nhắc đến Sài Gòn, người Singapore, người Thái... đều nhắc đến trong niềm ngưỡng mộ. Ngoài ra, sự hiền hòa và chất phác chính là bản chất của người dân Nam bộ gắn liền với lịch sử 18 Thôn Vườn Trầu an bình trong niềm vui no ấm.

Để nói về Sài Gòn, người dân còn luôn nhớ tới như một biểu tượng của tự do. Sài Gòn không chỉ tươi đẹp mà còn là cái nôi khai sinh ra hai chính thể cộng hòa đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam cho đến lúc này. Đệ nhất, đệ nhị cộng hòa đã được sinh sôi, nảy nở ngay tại Sài Gòn và chọn Sài Gòn làm trái tim cho một miền Nam tràn ngập tự do và yêu thương. Mặc dù sinh sau đẻ muộn trong hoàn cảnh đất nước loạn ly và nhiễu nhương nhưng những gì một chính thể non trẻ như VNCH làm được đã in dấu trong nhân dân Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung. Cũng chính bởi vậy mà sau 38 năm bị cộng sản đổi tên thành Hồ Chí Minh, đồng bào thì người dân vẫn trìu mến gọi tên “Sài Gòn” trong trái tim.

Sau cái ngày mà bà Dương Thu Hương - một cán binh tham gia đoàn quân từ miền Bắc của cộng sản vào cướp đi sự tự do, no ấm, yên lành của Sài Gòn đã phải thốt lên “Ngày mà kẻ man rợ là kẻ chiến thắng, người văn minh thất bại” thì Sài Gòn bị đổi tên. Một cái tên mang tính lịch sử dân tộc và mang trong mình sự tự hào về ý chí vươn lên của người Việt đã bị hoán đổi thành một cái tên xa lạ của một kẻ rước những thứ chủ nghĩa xa lạ về dày xéo quê hương. Sài Gòn của tự do ngày ấy đã bị mất tên bởi sự áp đặt đến lố bịch của cộng sản. Và cũng chính từ cái giờ phút bị cưỡng bức thay tên thì Sài Gòn đã dân để những Bangkok, Singapore vượt qua. Cũng từ đó, một biểu tượng tự do của dân tộc Việt đã bị cộng sản nhốt lại trong một đất nước tràn ngập nhà tù, thù hận và bất công.

Đường Sài Gòn hai mùa vẫn ngập nắng. Những con đường Sài Gòn nằm im phơi mình lặng lẽ nhưng trong lòng Sài Gòn ngày hôm nay chất chứa bao nhiêu nỗi u buồn, ưu tư của một kiếp làm nô lệ cho những chủ thuyết xa lạ và hoang tưởng. Hãy trả lại tên cho Sài Gòn, vì đó là lẽ phải. Sài Gòn của những con đường như Lê văn Duyệt, Phan Thanh Giản, của những ngôi trường như Petrus Ký, Gia Long sẽ phải trở lại vì nó không thể mang những cái tên vô hồn: “Cách mạng tháng 8”, “Nguyễn Thị Minh Khai” hay “Lê Hồng Phong”. Sài gòn, cái tên đã ăn sâu vào trong máu của người miền Nam. Bà cụ già miền quê móm mém nhai trầu hay hỏi con cháu: “Tết này tụi bây có lên Sài Gòn chơi không bây?”. Các quán xá giờ đây rộ lên tên Sài Gòn: chè Sài Gòn, hủ tiếu Sài Gòn, thậm chí chiếc xe đẩy bánh mì cũng léo nhéo “bánh mì Sài Gòn hai ngàn một ổ”. Sài Gòn là của người Sài Gòn, không phải của ai khác, không chấp nhận bất cứ một cái tên ngoại lai hay một cái tên vô nghĩa nào khác. Đó là Sài Gòn bình dị của tự do, no ấm và cũng chính là niềm hi vọng cho một ngày cái tên Sài Gòn lại trở về với thành phố tràn ngập ánh nắng.

Sài Gòn đã được khai sinh trong tự do, sống trong tự do và là biểu tượng tự do. Sài Gòn cần phải được trả lại tên đúng nghĩa cho sự tự do. Sài Gòn không thể mang tên ai khác, và càng không thể mang tên của một kẻ độc tài. Khi chiếm đóng Liên Xô, Hitler không dám đổi tên thành phố nào. Khi Hồng Quân đánh chiếm Berlin, họ cũng không dám đổi tên thành phố của người Đức. Lịch sử không cho phép làm vậy. Vì vậy không ai có quyền đổi tên Sài Gòn, cũng không ai có quyền gán ghép cho người miền Nam nói riêng và người Việt nói chung những cái tên mà họ không muốn. Hãy trả lại tên cho Sài Gòn để Sài Gòn dù nắng hay mưa, vẫn yêu kiều trong con mắt của người Sài Gòn và bạn bè khắp chốn.

1/7/2013
Hiền Sỹ

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ- 4th of July
Hoa Kỳ lập quốc 1776 có 4 triệu dân, ngày nay 2013 có 314 triệu. Qua hai trăm ba mươi năm gia tăng 310 triệu.-- Năm 1976 người Việt tại Mỹ có 170 ngàn, ngày nay có 1 triệu 700 ngàn. Sau 38 năm tăng gấp 10 lần-- Dân Việt tỵ nạn xây dựng cuộc sống trên đất mới trong khi thế giới chuyển tiếp giữa 2 thế kỷ 20 và 21.-- Về kỹ thuật, điện tử thay đổi toàn bộ đời sống.--Về nhân văn, với sự chấp nhận hôn nhân đồng tính, Hoa Kỳ đã tiến bước rất dài trên phương diện tư tưởng, bỏ xa phần còn lại của thế giới cả trăm năm.--Người Việt đã có mặt trên miền đất lịch sử trong giai đoạn lịch sử. --Xin cùng quay về với lịch sử lập quốc Hoa Kỳ.-- Lịch sử quê hương mới bao dung lịch sự mà di dân bốn phương trời sống chết tìm đến.--Vào được rồi thì chỉ còn thấy những ông tổng thống trên tờ giấy bạc hàng ngày…

Ngày quốc lễ.

Ngày 4 tháng 7 hàng năm là ngày lễ trọng đại nhất của Hoa Kỳ. Đó là ngày Mỹ quốc Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 và bắt đầu chiến tranh cách mạng chống lại Anh quốc trong 6 năm. Đến 1782 Anh và Mỹ ký thỏa ước ở Paris và công nhận Hoa Kỳ độc lập. Người Mỹ đã chiến thắng trận chiến tranh đầu tiên của lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. (Đã có nhiều ý kiến khác, nhưng tác giả xin dùng tên này. Sau kỳ kiểm kê dân số 2010 nước Mỹ dần dần trở thành là đất nước của các sắc dân mà trong đó da trắng sẽ chỉ còn dưới 50% tổng số.)

Là công dân gốc Việt trong đợt di dân cuối cùng của thế kỷ 20, chúng ta nên tìm hiểu về đất nước mà chúng ta lập nghiệp. Các di dân tỵ nạn Việt Nam đầu tiên đến Mỹ đã được dự ngày kỷ niệm 200 năm lập quốc vào năm 1976. Đến bây giờ nước Mỹ đã già thêm gần 40 năm nhưng lịch sử trẻ trung của Hiệp Chủng Quốc rất phong phú và cũng rất độc đáo. Hoa Kỳ là quốc gia bao gồm tất cả các sắc dân, các ngôn ngữ, các tập tục văn hóa. Nước Mỹ đã có các kỷ niệm vừa hung bạo vừa nhân từ. Tiêu diệt da đỏ, bắt da đen làm nô lệ, kỳ thị da vàng, đem quân đi làm cảnh sát trên thế giới, đi đến đâu là gây sóng gió ở đó. Hoa Kỳ cũng là quốc gia phát huy tự do dân chủ toàn cầu, viện trợ kinh tế, quân sự, giáo dục, xã hội, văn hóa cho toàn thể các quốc gia chậm tiến trên thế giới.

Nước Mỹ sống giữa 2 đại dương và có ba múi giờ. Biên cương của Hoa Kỳ trên địa cầu là một vùng đất bao la tiếp giáp với Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ là ải địa cầu trấn giữ Bắc Băng Dương. Biên giới không gian của Hoa Kỳ lên đến mặt trăng và Mỹ quốc cũng là quốc gia tiên phong ghi dấu vết trên Hỏa tinh. Hai ngàn vệ tinh kinh tế thương mại và quân sự của Hoa Kỳ canh gác toàn vùng khí quyển của quả đất. Đế quốc nhân văn của Hiệp Chủng Quốc thống trị thế giới bằng các đại sứ quán và tòa lãnh sự luôn luôn tấp nập các khách hàng xin visa.

Cơ sở ngoại vi của các sứ quán Hoa Kỳ là những chỗ bán thức ăn Fast Food McDonald, Kenturky, nước Coke, nhạc Rock và quần Jeans. Mỹ phát thực phẩm cho dân nghèo toàn thế giới nhưng đi đến đâu cũng bị đuổi về nhà: Yankee go home. Đó là Hoa Kỳ ngày nay, quá trẻ trung vì chỉ có hơn 230 năm lập quốc. Đất nước mà chúng ta đang là công dân có đứng lên tuyên thệ bảo vệ và tuyệt đối trung thành.Vì vậy chúng ta cũng nên biết qua lịch sử của quê hương mà phần đông chúng ta sẽ cùng các thế hệ tiếp theo ở lại đời đời.

Ai là người đầu tiên trên đất Mỹ?

Các nhà nhân chủng học cho biết 12 ngàn năm trước lục địa còn dính liền cuối thời băng giá, Á châu và Mỹ châu nối tiếp ở phía Bắc. Con người tiền sử Á Châu đi tìm đường sống đã đi từ Á qua Mỹ. Sau đó quả đất chuyển đổi, hai lục địa tách xa nhau. Người Á châu tiền sử trở thành thủy tổ của các bộ lạc ở Bắc Mỹ. Tuy nhiên, thực ra đây cũng chỉ là giả thuyết.

Thực tế ghi nhận đây là miền đất mới không có nhiều chỉ dấu của các nền văn minh ngàn năm trước như Âu châu. Lịch sử ghi nhận đã có dấu vết các bộ lạc tàn lụi. Sau cùng chỉ còn các bộ lạc da đỏ tồn tại cho đến thời kỳ 1500 các sắc dân tây phương mới đến Mỹ bằng đường biển. Nổi danh nhất là nhà hàng hải Columbus năm 1492 đi tìm Á châu lại khám phá ra Mỹ châu. Rồi tiếp theo là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh Cát Lợi, Pháp, Đức rồi đến Nga và các quốc gia Đông Âu.

Các cuộc chiến đẫm máu, triền miên ở tân lục địa giữa người địa phương và dân giang hồ mới đến. Chiến tranh giữa các thế lực Tây phương. Sau cùng Anh quốc ổn định được tại phần lớn miền Đông Hoa Kỳ và các di dân bắt đầu lên đường. Con tàu Hoa Tháng Năm, May Flower nổi tiếng đến Mỹ năm 1620 vỏn vẹn có 100 người mà một nửa là thủy thủ đoàn. Con tầu này đã trở thành biểu tượng của di dân định cư trên đất mới vì có đem theo gia đình.

Năm 1621 di dân được mùa đã cùng tổ chức Lễ Tạ Ơn và ăn tiệc mừng với dân da đỏ trong một lễ Thanksgiving đầu tiên của nhân loại. Nhưng rồi những ngày vui qua mau. Thổ dân tại Mỹ chết dần vì bị giết, bị đói, bị bệnh, có thể do các mầm bệnh từ tây phương đem đến.
Trong khi đó từ 1620 đến 1732 tức là hơn 100 năm. Một nước Mỹ thuộc Anh đã hình thành với 13 tiểu bang liên hiệp ở miền Đông. Phần lớn làm nghề nông, trồng thuốc lá, trà, và lúa. Các vùng khác thuộc Tây Ban Nha, Pháp vẫn còn tranh chấp. Cuộc chiến 1754 giữa Pháp và Anh giành đất trong 7 năm, sau cùng Anh thắng và mở rộng biên cương thuộc địa. Tiếp theo nước Anh cần tiền cho mẫu quốc nên đánh thuế các thuộc địa, thu tiền các nhà sản xuất và các đồn điền tại Hoa Kỳ. Chính sách thuế của Anh ban hành năm 1774 trở thành mầm mống cho cuộc chiến dành độc lập tại Hoa Kỳ. Tướng Washington nhận trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến tranh cách mạng vào năm 1775 và chính thức đứng ra tuyên bố độc lập 1776. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Thomas Jefferson đại diện tiểu bang Virginia viết ra lúc ông 33 tuổi được coi là một áng văn tuyệt tác nhất của nhân loại và mở đầu cuộc chiến dành độc lập cho đến chiến thắng cuối cùng bằng hiệp định Paris 1782.

Sau chiến thắng, Hoa Kỳ có 5 năm xây dựng dân chủ từ 1782 đến 1787 để hiến pháp ra đời với 9 tiểu bang chính thức rồi đến 13 tiểu bang thỏa hiệp. Những lá cờ Mỹ đầu tiên có 9 ngôi sao rồi 13 ngôi sao và bây giờ là 50 ngôi sao. Suốt từ buổi bình minh của Hiệp Chủng Quốc cho đến nay, nước Mỹ đã trải qua biết bao nhiêu là biến động. Từ hơn 4 triệu dân vào năm 1800 trở thành trên 300 triệu vào năm 2013. Trên giấy tờ có 237 năm lập quốc nhưng thực sự quốc gia này đã thành hình từ trên 300 năm.

Ý nghĩa Hiệp Chủng Quốc.

Phải chăng Hoa Kỳ là một đĩa rau trộn gồm đủ mọi sắc thái nhưng tía tô vẫn là tía tô, rau giấp cá vẫn nồng nàn mùi tanh của biển mặn. Hay đây là nồi cháo mà mọi thứ thực phẩm đã được hòa tan thành một hương vị mới. Cái đó còn tùy hoàn cảnh, tùy địa phương và thời gian. Trước khi nói đến nhân quyền, tự do và bình đẳng, nước Mỹ đã trải qua các giai đoạn hành động tàn nhẫn với các sắc dân thiểu số. Vào thế kỷ thứ 19, da trắng buộc dân da đỏ phải di cư tập trung vào các khu vực dành riêng, phần nhiều là đồng khô, cỏ cháy. Thảm kịch diễn ra trên các con đường mòn di chuyển dân da đỏ được gọi là: Đường mòn nước mắt.

Da đỏ già trẻ lớn bé đều phải ra đi, bỏ nhà cửa, vườn trại để vào các khu hoang vu xa cách vạn dặm. Hàng chục ngàn người đã chết. Trong khi đó ở miền Nam Hoa Kỳ, dân da đen bị bắt làm nô lệ đem từ Phi châu qua đã trở thành một lực lượng lao động quan trọng. Những bàn tay đen đủi đã xây dựng nên nền nông nghiệp miền Nam nuôi cả nước Mỹ vào thời kỳ lập quốc với những vườn bông vải trắng xóa. Nhưng cũng chính da đen là vấn nạn cho cuộc chiến tranh tương tàn Nam Bắc. Những người da đen bỏ trốn các nông trại đã bị đánh roi cho đến chết. Câu chuyện Uncle Tom với bài ca da đen lừng danh: Let my people go, Hãy cho dân tôi đi, trích dẫn từ Thánh Kinh đã trở thành một vấn nạn trong lương tâm Hoa Kỳ.

Da đỏ xin ở lại thì bị đuổi đi. Da đen xin đi thì bị giữ lại. Ngay khi nội chiến chấm dứt, da đen được giải phóng mà vẫn còn bị kỳ thị.

Cuộc chiến đấu vĩ đại của một đàn bà da đen năm 1955 không chịu ngồi phía sau xe bus đã trở thành một cuộc tổng đình công tẩy chay xe bus tại Hoa Kỳ. Từ cuộc đình công này, da đen có được một nhà lãnh đạo đầy huyền thoại là mục sư King mà tên tuổi trở thành một ngày quốc lễ.

Rồi đến lịch sử Tây tiến làm đường xe lửa đem da vàng Nhật Bản và Trung Hoa nhập cuộc. Các tiền nhân di dân châu Á cũng đã ngậm đắng nuốt cay ở miền Tây Hoa Kỳ trong suốt thời lịch sử cận đại. Dân da vàng có một thời chỉ được làm cu ly đường xe lửa hay thợ giặt ủi.

Sau cùng đến lượt chúng ta. Việt Nam ngày nay có một triệu bẩy trăm ngàn người tại Hoa Kỳ. Sau đợt di tản 75 tiếp đến là thuyền nhân từ 75 đến 95 rồi là các HO, con lai, ODP đoàn tụ nhập cư cho đến cuối thế kỷ thứ 20. Sau cùng là diện hôn nhân. Mười quận hạt có dân số đông đảo nhất là Orange, Santa Clara, Los Angeles, Houston, San Diego, Seattle, Oakland, DC, và Dallas. Chúng ta không phải là sắc dân cuối cùng, và chúng ta không phải là sắc dân duy nhất có quê hương cố quốc. Di dân tỵ nạn Việt Nam tùy theo hoàn cảnh và cảm nghĩ, có người mang theo quê hương, có người bỏ lại quê hương. Tuy nhiên chúng ta không thể hành xử khác tập thể di dân trong trách nhiệm xây dựng đất mới. Sắc dân nào cũng có những niềm tự hào của họ. Ai cũng có các hãnh diện về truyền thống văn hóa, ngôn ngữ của cội nguồn. Điều quan trọng là phong cách đối xử và tìm hiểu để hội nhập. Chúng ta phải cảm ơn những người đi trước đã mở đường. Kể cả người xấu lẫn người tốt đã sống và đã qua đi trong công cuộc chinh phục đất nước vĩ đại này. Có điều hết sức trùng hợp là dù bất cứ sắc dân nào, dù cố quốc lầm than hay tươi sáng. Dù quê hương cũ còn độc tài cộng sản hay đã tự do dân chủ, di dân đến đây là ở lại đây. Những nhà văn Nga và Đông Âu lưu vong chống Cộng đã từng sống chết với quê hương rồi cũng phải nói rằng. Quê hương bây giờ là nơi chúng ta sống có hạnh phúc. Đó là lý do người Anh ngày xưa chiến đấu chống cố hương để trở thành người Mỹ. Người Nhật trong đệ nhị thế chiến, bị cầm tù trong trại tập trung nhưng vẫn tình nguyện cầm súng chiến đấu chống Thiên Hoàng để trở thành người Mỹ. Bởi vì trên thế giới chỉ có Hoa Kỳ mới thực sự là đất của cơ hội. Nơi mà di dân bạc tình hưởng mọi phúc lợi nhưng vẫn được hiến pháp bảo vệ để chê bai tổ quốc. Quốc gia mà con một người da đen ngoại quốc, xuất thân cán sự cộng đồng đã trở thành tổng thống. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ hơn 200 năm trước đã ghi điều khoản bất hủ là con người được quyền mưu cầu hạnh phúc.

Mùa hè năm nay, để chào mừng lễ độc lập lần thứ 237, tối cao pháp viện Hoa Kỳ đã ban hành nghị quyết lịch sử. Công nhận hôn nhân đồng tính, cho phép các cơ thể khác biệt cũng được mưu cầu hạnh phúc.

Và bây giờ là chuyện dân Việt tại Hoa Kỳ.

Một lần nữa, đợt người Việt đầu tiên ở Mỹ sẽ là nhưng cây tràm, cây đước giữ chặt đất cho một cộng đồng tương lai phát triển. Con cháu chúng ta sẽ vừa nhớ ơn ông cha đã đến đất này mà cũng không hổ thẹn về những đóng góp của chúng ta trong những giai đoạn đầu tiên. Bỏ lại phía sau con sông Hồng, sông Hương, sông Cửu Long và dãy Trường Sơn. Bây giờ ta phải làm quen với con sông Sacramento và rặng Rocky Mountain để con cháu ta đứng lên đáp lời sông núi mới.

Xin hãy công bình với hoàn cảnh. Hãy lưu tâm ngày 4 tháng 7 của Hoa Kỳ. Bước ra khỏi cái ghetto của cộng đồng nhỏ hẹp, tham dự vào cái xã hội vĩ đại đã đem phúc lợi cho chúng ta. Đó là cách hay nhất để xây dựng cùng một lúc cộng đồng tại Mỹ và quê hương bỏ lại ở Việt Nam. Bao gồm cả giấc mơ tự do và dân chủ. Hãy làm một công dân tốt và chân thành với xứ "tạm dung", chúng ta sẽ góp phần xây dựng dân sinh tại Hoa Kỳ và đồng thời xây dựng cả dân quyền cho Việt Nam,

San Jose 2013
Giao Chỉ

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Vụ xử luật sư Quân 'có nhiều lỗ hổng'

Image
Ông Lê Quốc Quân từng tham gia các cuộc xuống đường phản đối Trung Quốc
Một luật sư ở Việt Nam nói cáo trạng đối với ông Lê Quốc Quân sắp tới không đủ cơ sở để khởi tố cũng như buộc tội vì có nhiều lỗ hổng.

Trả lời phỏng vấn BBC ngày 5/7, luật sư Lê Trần Luật, người đã đọc qua cáo trạng của ông Lê Quốc Quân nói cáo trạng này có "một số điểm cần đáng lưu ý."

"Thứ nhất, theo quy định ở điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự thì phải có những dấu hiệu tội phạm mới khởi tố tội phạm được," ông Luật nói.
"Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án dựa trên một lập luận rằng khi kiểm tra một công ty khác - công ty của ông Quản, em ông Quân - thì đã phát hiện ra những tài liệu và chứng cứ cho thấy dấu hiệu phạm tội của ông Quân và quyết định điều tra."

"Giữa công ty của ông Quản và ông Quân không có bất kỳ quan hệ giao dịch nào ... Tại sao cơ quan điều tra lại tìm thấy tài liệu ở công ty ông Quản?"

Ông Luật cho biết, tài liệu cơ quan điều tra đưa ra để buộc tội ông Quân cố ý gia tăng chi phí nhằm trốn thuế bao gồm các hóa đơn giá trị gia tăng và hợp đồng thuê chuyên gia tư vấn để gia tăng chi phí.

"Tôi cho rằng những tài liệu này không thể nào nằm ở công ty khác mà phải được lưu trữ ở công ty ông Quân."

'Không có dấu hiệu trốn thuế'

Theo ông Luật, để có cơ sở buôc tội một người vào tội trốn thuế, cần phải có hai cơ sở.

"Thứ nhất, doanh nghiệp đó, con người đó có thu nhập để chịu thuế hay không?"

"Trong cáo trạng không thể hiện rõ mức thu nhập hàng năm của ông Quân, đặc biệt là trong năm 2010, 2011, là bao nhiêu."

"Ông Quân đã nộp báo cáo quyết toán của năm 2010 và 2011 cho Chi Cục Thuế"

"Thứ hai, phải chứng minh rằng ông Quân đã gia tăng chi phí hoặc giảm bớt doanh số."

"Ở đây họ chỉ nói đến việc gia tăng chi phí quản lý thông qua việc mua hóa đơn. Tôi cho là rất vô lý, vì mua hóa đơn của người bán ra cũng chính là mua từ nhà nước. Như vậy chịu trách nhiệm cho hóa đơn này là doanh nghiệp xuất hóa đơn cho ông Quân."

"Họ cho rằng ông Quân có những hợp đồng khống để thuê chuyên gia tư vấn, dựa vào lời khai của các chuyên gia này nói họ không đến làm ... tôi cho là vô lý."

"Hai bên đã thỏa thuận hợp đồng và ông Quân đã trả tiền chi phí cho những người này. Cho dù họ có không đến công ty hoặc không có hành động nào làm việc hết thì vẫn phải trả vì đã thỏa thuận ... Như vậy chi phí này là chi phí hợp lý chứ không phải bất hợp lý như kết luận của cơ quan điều tra."

Ông Luật cho rằng cho dù những chi phí được gọi là không hợp lý đi nữa thì cũng không thể kết luận một người là trốn thuế.

"Ông Quân đã nộp báo cáo quyết toán của năm 2010 và 2011 cho Chi Cục Thuế, nếu Chi Cục Thuế thấy những chí phí này không hợp lý thì phải bác," ông nói.

"Khi bác chi phí thì không có nghĩa là người ta trốn thuế. Có những chi phí doanh nghiệp cho rằng là hợp lý, nhưng khi họ trình ra chi cục thuế thì quan chức thuế lại cho rằng chi phí này không hợp lý ..."

"Đây là quá trình trao đổi giữa chi cục thuế với bản thân hoặc doanh nghiệp ông Quân chứ không thể lấy đó làm sự cố ý gia tăng chi phí nhằm trốn thuế được."

Xử công khai

Luật sư bất đồng chính kiến Lê Quốc Quân sẽ ra tòa vì tội Trốn thuế vào ngày 9/7 tới, sau hơn sáu tháng tạm giam, theo quyết định của Tòa án Nhân dân TP Hà Nội.

Văn bản Quyết định về việc đưa LS Quân ra xét xử mà BBC được tiếp cận viết ông Quân sẽ ra tòa cùng với một người khác, bà Phạm Thị Phương, nguyên là kế toán trưởng công ty VietnamCredit.

Bà Phương bị bắt hồi tháng 11/2012 trong vụ án liên quan công ty VietnamCredit mà em trai ông Lê Quốc Quân là Lê Đình Quản làm giám đốc.
Image
Ông Lê Quốc Quân thuộc nhóm trí thức dân chủ Việt Nam được Hoa Kỳ lên tiếng bảo vệ nhưng không thành
Ông Quản cũng đã bị bắt tạm giam từ hồi đó với cáo buộc Trốn thuế, nhưng chưa rõ ngày sẽ đưa ra xét xử.

Quyết định của Tòa án Nhân dân TP Hà Nội ký ngày 10/6 nói rõ ông Lê Quốc Quân, sinh năm 1971, Giám đốc Công ty TNHH Giải pháp Việt Nam, bị Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hà Nội truy tố về tội Trốn thuế theo quy định tại Khoản 3, Điều 161 Bộ Luật Hình sự.

Phiên tòa sơ thẩm sẽ diễn ra lúc 8:30 sáng ngày 9/7 tại Tòa án Nhân dân TP Hà Nội dưới hình thức 'xét xử công khai'.

Ông Lê Quốc Quân, người tham gia đấu tranh dân chủ tích cực trước khi bị bắt và là tín đồ Công giáo, đã bị cáo buộc trốn thuế thu nhập doanh nghiệp.

Số tiền mà công ty ông bị nói đã trốn thuế là 437.500.000 đồng.

Luật sư Lê Quốc Quân cũng là tiếng nói bất đồng mạnh mẽ ở Hà Nội và từng bị giam 100 ngày sau khi du học từ Hoa Kỳ về nước.

Hiện ông Quân đang bị giam tại Trại tạm giam số 1, Công an TP Hà Nội.

Dù nhà chức trách tại Việt Nam không nêu ra góc độ chính trị của vụ xử, nhiều tổ chức nhân quyền ở nước ngoài và chính phủ một số quốc gia Phương Tây cho rằng ông Lê Quốc Quân bị xử vì lý do đăng tải các bài viết vận động dân chủ.

Gần đây nhất, Bộ trưởng Ngoại giao Bấm Bob Carr của Úc đã yêu cầu Việt Nam thả tự do cho ông Quân và hai người khác đang bị giam vì các hoạt động đòi dân chủ.

Ông Lê Quốc Quân cũng từng tham gia các cuộc xuống đường phản đối Trung Quốc ở Hà Nội.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nước Nào Cũng Nghe Lén

Tác giả : Vi Anh
Lâu nay chánh quyền Mỹ im lặng chịu đựng những lời lẽ bực tức, những đòi hỏi gay gắt của những nước ở Liên Âu chánh thức lên án và yêu cầu Mỹ phải giải trình việc Mỹ nghe lén sau những lời tố cáo của một người Mỹ tên Snowden làm việc cho Tổng Cục An Ninh Quốc Gia của Mỹ là NSA đang đi trốn, sau khi ăn cắp tài liệu mật, thiết bị tình báo của Mỹ và tố cáo Mỹ.

Hơn một tháng trời Mỹ im lặng, Chỉ trừ một cựu giám đốc của một trong 16 cơ quan tình báo nằm trong hệ thống của NSA, nay đã hồi hưu ở vào cái thế không bị ràng buộc, vì lương tâm chức nghiệp có phát biểu như là một tiếng nói bán chánh thức. Ông nói với báo chí, việc nghe lén nước nào cũng làm, nhưng không công khai hoá có thể hại bạn. Nếu có trả lời thì cơ quan tình báo Mỹ trả lời theo đường dây thích hợp, giữa những viên chức từng chia xẻ tình báo với nhau theo thoả thuận của hai nước, ý muốn nói không thể trả lời công khai có thể tổn hại nước bạn.

Phần Mỹ nếu có nghe lén các nước, việc đó không vi hiến và vi luật vì Hiến Pháp Mỹ không qui định phải có bảo vệ quyền riêng tư của người ngoại quốc. Nhưng các đồng minh Liên Âu của Mỹ cứ đòi hỏi, cứ la làng lên, cứ tạo áp lực công luận với Mỹ. TT Hollande của Pháp bảo nếu Mỹ nghe lén đồng minh, đó là điều không thể chấp nhận được và Mỹ phải giải thích.

Mỹ dặc biệt là TT Obama trăm dâu đổ đầu tằm, đang công du Phi Châu, Ông thấy đã đến lúc phải nói lên sự thật dù sự thật mất lòng nhưng cũng phải nói. Hôm thứ Hai ngày 1-7 từ nước Tanzania, TT Obama nói rằng tất cả các cơ quan tình báo trên thế giới, trong đó có cả Liên Âu, nước nào cũng thường tìm kiếm thêm tin báo ngoài những gì vẫn được đăng tải trên các phương tiện truyền thông.

Ông nói rõ mọi hoạt động tình báo, không chỉ của Hoa Kỳ, mà của tất cả các cơ quan tình báo Châu Âu và Châu Á, đều nhằm hiểu thế giới hơn cũng như những gì đang diễn ra tại thủ đô các nước, từ những nguồn không thể có trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ông nhấn mạnh, Hoa Kỳ sẽ liên lạc với các đối tác Châu Âu để giải tỏa những quan ngại cần thiết, ý nói theo đường dây thích hợp với người thích hợp, không công khai hoá có thể gây thiệt hại. Ai cũng hiểu làm tình báo không phài là làm báo, làm truyền thông đại chúng; mỗi ngành có qui luật của nó.

Trước phản ứng gay gắt của các nước Liên Âu, báo chí Pháp sưu khảo cho biết những nước nói tiếng Anh là bực thầy trong ngành gián điệp.

Không khó hiểu đế quốc Anh là một đế quốc rộng lớn mà nữ hoàng Victoria tự hào là một đế quốc mặt trời không bao giờ lặn trong thời thuộc địa từ đông đến tây bán cầu của Trái Đất nơi nào cũng có thuộc địa Anh.

Anh là nước đồng minh then chốt với Mỹ trong Thế Chiến 1, 2 và Chiến Tranh Lạnh. Thời Chiến tranh Lạnh, Mỹ là đệ nhứt siêu cường. Một đế quốc Anh lớn một thời, một quốc gia mạnh số 1 là Mỹ quyền lợi bàng bạc khắp địa cầu mà không có tai mắt, không có tin tức để phòng chống các cuộc tấn công và bảo vệ an ninh, quyền lợi, biết rõ địch, bạn và ta là điều không tưởng. Một chánh quyền nào không làm như thế tốt hơn lên núi tu cho khoẻ hơn là làm nhiệm vụ bảo quốc an dân do nhân dân uỷ nhiệm qua cuộc bầu cử,

Nhu cầu đó cao hơn những giá trị minh bạch, thái độ tôn trọng sự riêng tư của cá nhân, của người dân hay của chánh quyền các nước trong đó có đồng minh.

Nó quan trọng sanh tử đến đồi các nước có hiệp ước chia xẻ tin tình báo vơi nhau.

Nhưng nước nào cũng có quyền lợi riêng tư phải bảo vệ, như bảo vệ phòng the của vơ con mình.

Không phải chỉ có Mỹ dọ thám Đức, Pháp, Anh và các nước Liên Âu đang tố cáo Mỹ. Mà những nước này cũng do thám Mỹ như TC, Nga, Pháp, Đức đã làm đối với Mỹ.

Sự thể và nguyên do là rút kinh nghiệm trong cuộc chiến triệt hạ Đức Quốc Xã, giải thoát Âu Châu trong đó có Pháp và Liên Âu bây giờ, sau Thế Chiến 2 Anh và Mỹ âm thầm ký kết và cộng tác tổ chức một mạng lưới nghe lén đa quốc gia dưới tên gọi ban đầu Ukusa (tên viết tắt của United Kingdom-United States Communication Intelligence Agreement) hay với bí danh «Fives Eyes» tức năm con mắt tượng trưng cho năm cơ quan tình báo điện tử của 5 quốc gia nói tiếng Anh, gồm Hoa Kỳ, Anh, Canada, Úc và New Zealand.

Công cuộc chống khủng bố toàn cầu trong đó có Liên Âu và nhiều nước tham dự lại càng đòi hỏi các nước phải tổ chức lấy tin tức, bằng nhiều cách trong đó có nghe lén, đọc điện thư, ghi điện đàm nhiều hơn nữa. Tiến bộ khoa học kỹ thuật tin học thúc đẩy phát triển nhiều cách lấy tin hơn.

Mỹ phải luật hoá nhu cầu thiết yếu về tin tức này trong nước với Foreign Intelligence Surveillance Act Amendment Act, hay Fisaaa do lưỡng viện Quốc Hội Mỹ thông qua và TT ban hành theo hiến định.

Đạo luật này cho phép một số cơ quan tình báo Mỹ theo dõi, kiểm soát, lấy tin tức các đối tượng khủng bố hay các tội phạm nghiêm trọng, và những người ngoại quốc hoạt động chính trị và kinh tế có thể phương hại tới quyền lợi và an ninh của người Mỹ.

Vì thế cơ quan tình báo Mỹ theo dõi người ngoại quốc theo luật Surveillance Act Amendment Act là hợp pháp và hợp hiến vì Hiến Pháp Mỹ không qui định bảo vệ sự riêng tư của người ngoại quốc.

Vấn đề đặt ra là liệu những nước khác, đồng minh, lần đối tác hay thù địch với Mỹ có nghe lén Mỹ như Mỹ đã làm với các nước hay không. Trả lời không, có nghĩa là giả đạo đức hay bất lực. Ví quyền lợi, vì an ninh, quân sự, quốc phòng, nhu cầu ngoại giao, giao thương các nước trong cộng đồng thế giới đều cần, đều muốn có tin tức coi các nước có liên quan nghĩ gì, làm gì đối với mình. Nước nào cũng muốn nhưng tuỳ trình độ chuyên môn và kỹ thuật tình báo thôi có đạt được có làm được hay không mà thôi.

Trình độ chuyên môn kỹ thuật, nhân sự là điều kiện thành hay bại, lấy được tin báo hay không, bảo vệ được bí mật hay không. Mục đích tối thượng của chánh trị, của tình báo là quyền lợi quốc gia dân tộc chớ không phải đạo đức.

Chính ông François Géré, chủ tịch Viện phân tích chiến lược của Pháp cũng nhìn nhận nói trên báo Libération của Pháp rằng «Tại Pháp, chúng tôi cũng làm điều tương tự». Mỹ, Pháp, Anh, Nga, TC, v.v... đều tìm đủ cách lấy tin tức của nước khác và phòng chống bảo vệ bí mật của mình. Cá mè một lứa, có gì mà phải kết tội nhau./. ( Vi Anh)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Đối mặt với Trung Quốc - Việt Nam: Chơi với lửa

David Brown/Asia Sentinel

Lê Quốc Tuấn dịch Việt ngữ

Theo Mỹ cứu nước, theo Tàu cứu đảng. Câu nói này được nghe nói ở khắp mọi nơi tại Việt Nam, cô đọng được tình thế tiến thoái lưỡng nan về địa chính trị đang đối diện với Đảng Cộng sản cầm quyền của đất nước này.

Bốn mươi năm sau khi người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, một đảng từng giành được độc lập và thống nhất đất nước đã mất đi nhiều tính hợp pháp của mình. Dù có tìm trông vào nhân đức của Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đến bao nhiêu cũng không thể khôi phục được đà phát triển bình thường của mình, vốn đã băng hoại từ gốc rễ bởi nạn tham nhũng có hệ thống. Trách nhiệm lớn nhất của chế độ là sự thất bại không thể sửa chữa một nền kinh tế sút kém. Nhưng đồng thời dư luận cũng khinh bỉ chế độ về khả năng bảo vệ quyền lợi của Việt Nam trước Trung Quốc.

Từ quan điểm của một người dân trên đường phố Hà Nội hoặc Hồ Chí Minh, Bắc Kinh đã rũ bỏ chiếc áo choàng của "sự trỗi dậy hòa bình" và trở lại vai trò bắt nạt lịch sử của họ trong khu vực. Những khẳng định nực cười của Bắc Kinh về vùng biển và tài nguyên khoáng sản của toàn bộ biển Nam Trung Quốc chỉ là ví dụ nổi bật nhất của sự việc này. Kế hoạch xây dựng một chuỗi các con đập trên sông Mê Kông trên ở tỉnh Vân Nam và hỗ trợ kế hoạch xây dựng thêm 11 đập ở khu vực hạ lưu Lào của Trung Quốc đã đe dọa quét sạch nguồn lũ hàng năm vốn giúp duy trì màu mỡ cho vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.

Doanh nghiệp Trung Quốc cũng đang theo đuổi khoáng sản và các nguồn tài nguyên gỗ của Lào, thách thức quyền bá chủ của Việt Nam ở trên chính sân sau của mình. Ngay tại Việt Nam, sự gia tăng các đầu tư phát triển, xây dựng và khai thác quặng mỏ của Trung Quốc, đáng chú ý là dự án bauxite nhiều tỷ đô la của Chinalco ở Tây Nguyên, đã bị chỉ trích nặng nề. Hàng hóa giá rẻ và thường là kém chất lượng của Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam, nghiền nát các nhà sản xuất địa phương.

Người dân bình thường trên đường phố muốn chống trả lại. Họ không hiểu được rằng lực lượng vũ trang của Việt Nam không sánh nổi với Trung Quốc hay Việt Nam rất dễ tổn thương để bị trả đũa bằng kinh tế. Các nhà phân tích phương Tây thường cho rằng tính "quyết đoán" của Trung Quốc là từ sự gia tăng chủ nghĩa ái quốc phổ biến và các cơ quan an ninh quá hăng say, nhưng đối với người dân Việt Nam bình thường rõ ràng sự gây hấn của Trung Quốc là được chỉ đạo từ Bắc Kinh.

Điều ấy chẳng có gì mới lạ: chủ đề lớn của lịch sử dân tộc mà tất cả mọi người từng học trong nhà trường, là cuộc kháng cự chống ngoại xâm dai dẳng nhưng cuối cùng luôn thành công của người Việt Nam. Và hầu hết những ngưởi lính tràn qua biên giới Việt Nam trong 2000 năm qua đều là người Trung Quốc. Do vậy, chẳng có lý do gì lại sẽ là ai khác trong thời gian này.

Cuộc hợp tác đầy gai góc

Việt Nam và Trung Quốc chia sẻ chung một biên giới 1.350 km và nhiều hơn thế nữa. Cả hai nước đều là những quốc gia theo chủ nghĩa Lênin với một nền văn hóa chính trị được hình thành bởi những ý tưởng tân Nho giáo của một hệ thống công trạng dựa trên các mối quan hệ được chăm sóc tốt.

Đảng Cộng sản cầm quyền của họ đã thoát chết bằng cách từ bỏ kinh tế chủ nghĩa Mác trong khi nuôi dưỡng một bộ máy an ninh nhà nước rộng khắp. "Nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa" của họ cho phép thị trường tự do sôi động được tồn tại cùng với hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước thống trị ngành công nghiệp nặng.

Cả Bắc Kinh và Hà Nội đang bị dày vò bởi những lời chỉ trích thường trực của giới bất đồng chính kiến trên internet. Các yếu tố văn hóa và chính trị cùng chia sẻ chung này củng cố một mạng lưới tham vấn giữa hai đảng và nhà nước nhằm mục đích duy trì sự hợp tác giữa hai chế độ.

Tuy nhiên, mối quan hệ hai nước thường là gai góc. Trung Quốc với sức nặng địa chính trị và kinh tế lớn hơn nhiều đồng nghĩa với mối quan hệ bất cân xứng với Việt Nam về cơ bản. Mỗi khi người Trung Quốc nhắc đến Việt Nam, họ thường coi đất nước này như là một tỉnh nhỏ ngang bướng từng vuột khỏi sự kiểm soát của mình.

Ngược lại, 90 triệu dân của Việt Nam luôn luôn không thoải mái trong nhận thức về người hàng xóm phía bắc của họ, những người có dân số đông gấp 15 lần hơn và có nền kinh tế lớn 50 lần hơn. Tuy nhiên, khi lãnh thổ bị đe dọa, người dân Vìệt Nam chưa hề cúi đầu trước Bắc Kinh. Trừ Hồ Chí Minh, các anh hùng vĩ đại nhất của đất nước này đã từng buộc hết đế chế này qua đến chế khác của Trung Quốc xâm lược phải rút lui. Gần đây nhất là năm 1979, khoảng 20.000 binh sĩ Trung Quốc đã bỏ mạng khi Đặng Tiểu Bình tìm cách "dạy cho Việt Nam một bài học" vì lật đổ chủ nghĩa Mao bảo trợ của Bắc Kinh ở Campuchia và xây dựng một liên minh với Liên Xô.

Đến giữa những năm 1990, Trung Quốc và Việt Nam đã lủi trốn vào trong một mối quan hệ tương đối an toàn dễ chịu. Cả hai nước đều đã bận rộn với những cải cách kinh tế nội bộ. Liên Xô đã tan rã và Trung Quốc quảng cáo cuộc "trỗi dậy hòa bình" của mình với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), mà hiện nay bao gồm Việt Nam.

Thương mại song phương được mở rộng, đã có thảo luận về nâng cấp "hành lang thương mại" từ các khu vực hiểm trở ở phía tây nam Trung Quốc đến các cửa cảng Việt Nam, và các cuộc đàm phán phân định biên giới đất liền đã tiến triển tốt. Thậm chí những tuyên bố đối nghịch về quyền sở hữu của các rạn san hô, đá và bãi cát ngầm của Biển Đông, nếu chưa có được cách giải quyết cũng đã được thu xếp tốt.

Tuy nhiên, đến năm 2009, tất cả đã thay đổi. Dù nguyên nhân từ sự cố tình hoặc rủi ro chẳng may về ngoại giao, Trung Quốc không bằng lòng xếp lại những yêu sách chồng chéo nữa. Trong tháng Năm năm đó, Trung Quốc đã đưa ra một bản đồ bất chính tại Liên Hiệp Quốc tuyên bố "chủ quyền không thể tranh cãi" trên 80 phần trăm của Biển Đông.

Căng thẳng gia tăng mạnh ngay sau đó, lôi kéo cả những quốc gia không ở trong không khu vực - gồm cả Hoa Kỳ - và thách thức mối đến gắn kết của ASEAN. Việt Nam và Philippines đã chịu đựng gánh nặng từ các nỗ lực, vận động tạo ra "sự kiện" - dù không phù hợp với luật pháp quốc tế nhưng lại rất khó bác bỏ của Trung Quốc. Niềm đam mê chủ nghĩa dân tộc đang sục sôi trong tất cả ba quốc gia, đe dọa cuộc xung đột vũ trang trên biển. Chính sách trì hoãn với Trung Quốc của Hà Nội bị phá huỷ tan nát.

Nhiều tầng lớp ưu tú ngoài đảng của Việt Nam, cũng như bản thân một số trong đảng, tin rằng giải pháp là phải tìm kiếm một liên minh kinh tế và quân sự trên thực tế với Mỹ. Tuy nhiên, các thành viên cao cấp của đảng vẫn còn rất hoài nghi về ý định của Mỹ, xem mình như bị khóa chặt trong một cuộc xung đột hiện hữu với chủ nghĩa tự do phương Tây, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc. Họ đã chỉ nhượng bộ để cải cách nhằm thiết lập năng lực cạnh tranh về kinh tế toàn cầu của quốc gia và để khiến Hoa Kỳ phải tham dự vào như một đối trọng với Trung Quốc.

Các đảng viên thế lực làm ngơ đòi hỏi cho phép Việt Nam tự do dân chủ hơn của Mỹ vì sợ rằng mục tiêu thực sự của Washington là để triệt hạ chế độ Cộng sản. Đối với tất cả các xích mích gần đây, họ không tin rằng nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ phản bội một Đảng Cộng sản cầm quyền giống như của chính họ.

Vẫn chực muốn ăn không

Sự thật, ngày nay Trung Quốc không quan tâm gì nhiều về việc giúp đỡ người bạn Cộng Sản của mình bám lấy quyền lực hơn là việc khai thác tài nguyên trong khu vực và mở rộng các vòi hút kinh tế. Với một một hầu bao đầy tín dụng xuất khẩu và hội đủ điều kiện vay vốn ưu đãi từ các ngân hàng nhà nước, các công ty Trung Quốc đã trở thành đối thủ lớn trong phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, đặc biệt là trong xây dựng các nhà máy nhiệt điện.

Nhìn chung, các công ty Trung Quốc không o ép các nhà thầu Việt Nam nhưng là dành lấy công việc làm ăn từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ hoặc đối thủ cạnh tranh châu Âu bằng cách nhập cuộc đấu thầu giá rẻ. Nhưng các nhà phê bình cáo buộc doanh nghiệp Trung Quốc sử dụng người đồng hương của họ và sản xuất hàng chất lượng thấp, thường xuyên lỡ thời hạn và chi phí quá mức. An ninh Việt Nam còn tiếp tục khẳng định sự phụ thuộc vào nhà thầu Trung Quốc trong các lĩnh vực chiến lược như năng lượng sẽ làm suy yếu an ninh quốc gia.

Một bất đồng khác là thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam với Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của nó, mà nhà kinh tế Trần Văn Thọ gọi là một "cơn sóng thần công nghiệp." Thương mại của Việt Nam với chín nước ASEAN khác và với Nhật Bản là tương đối cân bằng và có một thặng dư rất lớn với Liên minh châu Âu và Mỹ. Nhưng với Trung Quốc mức thâm hụt 16,4 tỷ USD trong năm 2012 đã giúp Trung Quốc có thặng dư thương mại song phương đến 40 phần trăm.

Phần lớn hàng xuất khẩu của Trung Quốc là các sản phẩm lắp ráp trong nhà máy chế biến xuất khẩu của Việt Nam: vải vóc, dây kéo, nút, dây điện, bảng mạch và vật dụng các loại. Nhưng Trung Quốc cũng cung cấp những mặt hàng đắt hơn - các máy móc trang bị cho các nhà máy của Việt Nam và xây dựng cơ sở hạ tầng.

Một mặt hàng thứ ba và rất rõ ràng là hàng tiêu dùng giá rẻ để cạnh tranh với nội địa. Báo chí Việt Nam thường xuyên đăng tải những câu chuyện về việc Trung Quốc thải hàng nguy hiểm hoặc chất lượng kém, và động thái khiêu khích của Bắc Kinh ở Biển Đông dẫn đến hậu quả có tính phản xạ là kêu gọi tẩy chay hàng Trung Quốc.

Nếu không thế, theo dự đoán của các nhà kinh tế, lẽ ra hiện nay Việt Nam đã phải ăn bữa trưa của tỉnh Quảng Đông. Với chi phí lao động thấp hơn nhiều, Việt Nam là điểm đến hợp lý cho các nhà máy từ các trung tâm xuất khẩu, giải quyết di cư của người Trung Quốc đến vùng có chi phí rẻ hơn. Các mặt hàng may mặc đa dạng và các ngành công nghiệp giày dép từ lâu đã chiếm khoảng 20 phần trăm xuất khẩu của Việt Nam, vốn bắt đầu từ những năm 1990 khi hàng may mặc và giày dép xuất khẩu của Trung Quốc bị giới hạn dưới hạn ngạch của EU và của Mỹ.

Dù lao động vẫn còn thấp, tiền lương thực tế đã chỉ tăng ở mức 10 phần trăm một năm trong 2006-11 chủ yếu là Việt Nam đã thất bại trong việc thu hút các nhà sản xuất ra khỏi các ​​căn cứ của họ ở Trung Quốc. Khi chi phí lao động tiếp tục tăng lên ở cả Trung Quốc và Việt Nam, các nhà máy sản xuất đang di chuyển sang Campuchia, Bangladesh và thậm chí cả Myanmar.

Đấy chẳng phải là tất cả các tin xấu. Khi nền kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, một lần nữa, khu vực đầu tư nước ngoài của Việt Nam lại đang tăng lên. Thay vì di chuyển nhà máy khỏi Trung Quốc, một số nhà thầu đa quốc gia đã đa dạng hóa cơ sở sản xuất của họ bằng cách mở thêm các nhà máy tại Việt Nam. Bằng chứng cho thấy một xu hướng rõ rệt các khoản đầu tư chất lượng cao hơn, vốn hưởng lợi từ việc được giảm thuế đáng kể.

Các công ty thành lập hoặc mở rộng nhà máy lắp ráp bao gồm những thương hiệu như Canon, Samsung, Intel và IBM, Hitachi, Panasonic và Nokia. Tuy nhiên, gần như tất cả các yếu tố đầu vào để sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam phải được nhập khẩu, một số từ Trung Quốc. Còn lại tất cả những gì được thêm vào ở Việt Nam, thông thường, là lao động - lại là thứ mà Trung Quốc có thể làm một cái gì đó hiệu quả hơn và trên một quy mô lớn hơn nhiều.

Sai lầm chiến lược toàn diện

Năm 2008 đóng lại một giai đoạn ấm áp hơn trong mối quan hệ, lãnh đạo đảng Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và người đồng cấp Việt Nam, Nông Đức Mạnh, tuyên bố một mối quan hệ song phương "hợp tác chiến lược toàn diện." Và nếu Trung Quốc thực sự quan tâm đến việc nuôi dưỡng một mối quan hệ đặc biệt với Việt Nam - để qua đó tăng cường cơ bắp ngoại giao của mình ở Đông Nam Á - thì Bắc Kinh đang ở trong một vị trí có thể giúp hình thành được như thế.

Mặc dù nhà cầm quyền Việt Nam thừa nhận không lo lắng về sự mất cân bằng thương mại song phương, thực tế vẫn là một quan hệ chính trị mãn tính. Trung Quốc nhập khẩu nhiều cao su, than, dầu, gỗ và sản phẩm nông nghiệp, nhưng không quan tâm đến hàng hóa công nghiệp của Việt Nam. Trung Quốc thực chẳng tốn kém bao nhiêu trong các động thái thân hữu giúp thúc đẩy nhập khẩu công nghiệp trong khi sẽ là những tin rất tốt cho phía Hà Nội.

Nói cho cùng, một đề nghị chân thành nhằm phát triển chung tài nguyên khoáng sản và cùng quản lý nguồn cá trong khu vực tranh chấp ở Biển Đông có thể là một sự thay đổi cuộc chơi - cả cho mối quan hệ với Việt Nam và với các nước ASEAN.

Tuy nhiên, thực tế là mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã trở thành bất ổn và nguy hiểm kể từ cuộc thỏa thuận vào năm 2008. Áp lực của Trung Quốc về các vấn đề chính trị và chiến lược đã dồn cứng các nhà lãnh đạo của Việt Nam, được cho là đe dọa đến sự sống còn của họ. Bắc Kinh đã củng cố vị thế của mình trong chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc bằng cách phô trương sức mạnh của mình ở Biển Đông, trong khi nỗ lực chống lại hành động khiêu khích của Trung Quốc nhưng không hiệu quả của Hà Nội liên tục xói mòn vị thế của mình giữa những người ái quốc ở trong nước.

Trừ khi xảy ra xung đột vũ trang, rất khó để tưởng tượng hơn về những gì Trung Quốc có thể làm để đẩy nhanh sự sụp đổ một chế độ "thị trường xã hội chủ nghĩa" khác trên thế giới, lẽ ra là người bạn, đồng minh ý thức hệ của mình. Trong tất cả các khả năng, điều này sẽ mang đến các nhà lãnh đạo mới tìm kiếm gây thiện cảm với Mỹ - một kết quả hoàn toàn tự chuốc lấy thất bại cho phía Bắc kinh.

Đáng lo ngại hơn là một cuộc xung đột vũ trang vẫn còn khả năng xảy ra. Trung Quốc có hỏa lực lớn hơn Việt Nam, nhưng Hà Nội đang gia tăng các khả năng quốc phòng trên biển và trên không. Nếu bị dồn vào chân tường, lịch sử cho thấy rằng người Việt Nam sẽ đánh lại. Một tính toán sai lầm của cả hai bên sẽ có thể dẫn đến một cuộc đụng độ. Va chạm này sẽ khốc liệt và đẫm máu với những hậu quả không thể đoán trước. Trung Quốc có thể tiếp tục chơi trò bắt nạt - nhưng họ đang chơi với lửa.

Nguồn: Asia Sentinel

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Bảo vệ Tổ Quốc cho dân hay cho đảng?

Phạm Trần

(Danlambao) - Cuộc “chiến nội bộ” đang diễn ra ở Việt Nam theo kế họach được mệnh danh là “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” theo đó công tác “cô lập, phân hoá các phần tử chống đối” được đặt lên hàng đầu theo tình thần Nghị Quyết của Hội nghị Trung ương Tám, Khóa đảng IX thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh.

Tại Hội nghị này, ông Mạnh nói: "Trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” được biểu hiện tập trung trong hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” (Theo Báo Điện tử Trung ương Đảng, 13/12/2006)

Quan điểm chính trị che dấu những hành động chống dân chủ để làm hài lòng Trung Cộng, không có thực tâm bảo vệ đất nước đã được Ban Chấp hành Trung ương đảng IX xác định với 6 mục tiêu: “Một là, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; hai là, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; ba là, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước; bốn là, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc; năm là, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; sáu là, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Hội nghị cũng nêu lên 6 chỉ đạo, đó là:

1) Giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

2) Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.

3) Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

4) Xây dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phát huy sức mạnh của khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.

5) Ra sức phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa và khai thác mọi thuận lợi ở bên ngoài.

6) Chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố bên trong có thể dẫn đến những đột biến bất lợi.

Trong số 12 “mục tiêu” và “chỉ đạo” trên đây, sau 10 năm thực hiện, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công trong việc “giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” nhưng lại thất bại nặng nề trong công tác “phát huy sức mạnh của khối Đại đoàn kết toàn dân tộc” vì đã có một bộ phận lớn nhân dân đã công khai nói không chấp nhận quyền cai trị độc tài và đương nhiên dành cho đảng như ghi trong Điều 4 Hiến pháp.

Ngoài ra Đảng cũng đã chưa chứng minh được khả năng “bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ” khi đảng tiếp tục để cho Trung Cộng tung hòanh ở Biển Đông như ao nhà của mình và đã không bảo vệ được tính mạng và tài sản của ngư dân khi họ bị lính Trung Quốc đàn áp khi đánh bắt trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam ở vùng Hòang Sa và Trường Sa.

Vụ lính Trung Cộng, vào ngày 07/07 (2013) đã tấn công, đánh ngư dân dã man, phá tầu, tịch thu lưới cụ, máy móc và nhiều tấn hải sản của 2 tầu do các ông Võ Minh Vương và Mai Văn Cường (huyện đảo Lý Sơn) làm chủ khi họ đánh bắt ở vùng Hòang Sa của Việt Nam là một tỷ dụ.

Hành động vi phạm trắng trợn của lính Trung Cộng đã đi gược lại những lời hứa hẹn của Chủ tịch nhà nước Trung Cộng Tập Cận Bình đã nói với Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang tại Bắc Kinh ngày 19/6 (2013).

Trong Bản Tuyên bố chung tại Bắc Kinh ngày 21/6/2013, hai bên viết rằng :

“Trước khi tranh chấp trên biển được giải quyết dứt điểm, hai bên nhất trí giữ bình tĩnh và kiềm chế, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, đồng thời sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát khủng hoảng trên biển giữa Bộ Ngoại giao hai nước, xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để các vấn đề này ảnh hưởng đến đại cục quan hệ Việt - Trung cũng như hòa bình, ổn định tại Biển Đông.”

Như vậy, liệu hành động cướp của, đánh người của lính Trung Cộng đối với hai tầu của các ông Võ Minh Vương và Mai Văn Cường có thuộc lĩnh vực được gọi là “khủng hỏang trên biển” không, hay lính Trung Cộng đã cho Việt Nam biết họ có quyền đánh đuổi ngư dân Việt Nam vì đã xâm nhập Hòang Sa của Trung Cộng ?

Ngòai ra nhà nước Việt Nam còn không dám kiện Trung Quốc ra trước tòa án Quốc tế hay khiếu nại với Liên Hiệp Quốc sau khi Trung Quốc biến Quần đảo Hòang Sa thành Trung tâm hành chính của Huyện Tam Sa, bao gồm cả Trường Sa của Việt Nam và Bãi cạn Scarboroug có tranh chấp với Phi Luật Tân.

Đảng CSVN cũng không dám đòi Bắc Kinh trả lại 8 đảo đá ngầm thuộc Trường Sa bị Trung Quốc đánh chiếm năm 1988 mà còn để cho Trung Quốc tự do xây dựng các cơ sở Quốc phòng và nghiên cứu tài nguyên ở vùng chiếm đóng và thường xuyên tập trận trong khu vực.

Và khi đảng tuyên bố “chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố bên trong có thể dẫn đến những đột biến bất lợi” là đảng đã tăng cường các hành động đàn áp những tiếng nói dân chủ, đòi nhà nước phải tôn trọng các quyền tự do đã được Hiến pháp công nhận.

Các cuộc đàn áp nhân dân biểu tình chống Trung Quốc lấn chiếm biển đảo của Việt Nam, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ và sát hại ngư dân Việt Nam ở Biển Đông là bằng chứng Nhà nước đã sợ mất lòng Bắc Kinh và “chính trị hóa các hành động hòa bình, bất bạo động hợp pháp của nhân dân” để dễ bề chụp mũ cho dân đã bị “các thế lực thù địch” lợi dụng chống lại “Tổ quốc và nhân dân” !

Nhưng ai cũng biết nhân dân không bao giờ chống lại Tổ quốc và đồng bào mình mà chỉ chống những kẻ làm tay sai cho ngọai bang và các hành động sai trái của nhà nước đi ngược lại quyền lợi của dân mà thôi. (NPH tô đậm)

Đảng và nhà nước biết rõ như thế nhưng vẫn đưa ra các lý do mơ hồ, xuyên tạc như “gây rối, làm mất ổn định, phương hại đến an ninh trật tự và quyền lợi của nhân dân” để đàn áp, trù dập và khủng bố những ai có hành động yêu nước muốn bảo vệ chủ quyền và tòan vẹn lãnh thổ của Tổ tiên để lại.

Những hành động dùng côn đồ và công an trá hình trong mấy năm gần đây để “cô lập, phân hoá các phần tử chống đối” như Nghị quyết của Hội nghị Tám khóa đảng IX đề ra đã chứng minh nhà nước chỉ chống những người đấu tranh đòi quyền làm chủ đất nước và quyền con người không hề có trong tay một tấc sắt để bạo động lật độ chính quyền hay muốn thay đảng CSVN bằng một đảng khác như nhà nước xuyên tạc và chụp mũ.

Việc gia tăng bắt bớ tùy tiện, vu oan cáo vạ cho những ai cổ võ “dân chủ hoá chế độ” trong 10 năm qua là nằm trong chủ trương của Nghị Quyết viết rằng : “Đối với các thế lực chống đối ở trong nước, cần phân hoá, cô lập và xử lý nghiêm minh”. Nhưng cho dù có một số người đã bị bắt bởi những tội danh mơ hồ , số người chống đảng đã tăng mau, bất chấp đe dọa của chính quyền.

Vụ bắt hai Nhà báo tự do, hay còn được gọi là Truyền thông xã hội (Bloggers) Trương Duy Nhất và Phạm Viết Đào trước ngày Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đi thăm Trung Cộng đã được loan truyền trong nước như hành động nhằm “làm hài lòng Trung Cộng vì hai ông này đã viết nhiều bài làm Lãnh đạo Bắc Kinh bực bội”.

Tuy nhiên, các nhà báo tự do khác vẫn không nao núng vì họ đã có quyết tâm sử dụng quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí đã ghi trong Hiến pháp của Việt Nam để chống lại âm mưu xử dụng Nghị quyết Trung ương Tám (Khoá đảng IX) như tấm bình phong để triệt tiêu mọi mầm mống đòi tự do dân chủ trong nước.

CÀNG CHỈNH CÀNG SAI

Để chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương Tám khóa đảng XI nhằm kiểm điểm kết qủa 10 năm thi hành Nghị quyết ”Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, các cấp đảng Trung ương và địa phương đã tổ chức hội thảo trong hai tháng 5 và 6/2013

Hội đồng Lý luận Trung ương do Ủy viên Bộ Chính trị Đinh Thế Huynh đứng đầu cũng đã tổ chức hội thảo ngày 29/6 (2013) đề tài được gọi là “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”.

Tin của Ban Tuyên giáo cho hay: “Kỳ họp này của Hội đồng nhằm góp phần chuẩn bị cho hội nghị T.Ư 8 khóa XI sắp tới. Tại kỳ họp, các đại biểu tập trung thảo luận, làm rõ, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết cho các vấn đề quan trọng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đặt trong bối cảnh quốc tế và khu vực, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tiễn tại Việt Nam. Các ý kiến sẽ được bổ sung để hoàn thiện báo cáo tư vấn “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới” của Hội đồng Lý luận T.Ư trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư T.Ư Đảng.”

Nhưng liệu Hội nghị Trung ương 8 sắp tới của Ban Chấp hành Trung ương đảng XI có sa vào vết chân thất bại của Hội nghị Trung ương 6 vì cả Bộ Chính trị lẫn Ban Chấp hành Trung ương đã không vượt qua được ngưỡng cửa của phe phái, nể nang và bao che cho nhau sau đợt “tự phê bình và phê bình” theo Nghị quyết Trung ương 4 “Về xây dựng, chỉnh đốn đảng” ?

Hãy đọc lại Nghị quyết Trung ương Tám (khóa đảng IX) cách nay 10 năm để biết chuyện “đánh bùn sang ao” của việc “xây dựng chỉnh đốn đảng” có tiến được bước nào không:

“Nhằm thực hiện những nhiệm vụ đã được vạch ra, Nghị quyết đề ra một số giải pháp cơ bản tập trung trên các phương diện:

Về xây dựng, chỉnh đốn Đảng: Tiếp tục đi sâu, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành khoá VIII ( chú thích của tác gỉa bài này: thời ông Lê Khả Phiêu) và Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá IX; đưa phê bình và tự phê bình vào nền nếp sinh hoạt Đảng; tăng cường công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ gắn với quy hoạch đào tạo; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.”

Nếu đọc lại các văn kiện đảng cách nay 27 năm, kể từ thời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh lên cầm quyền thì những kế họach ghi trong Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) thời ông Lê Khả Phiêu về “xây dựng, chỉnh đốn đảng”; Nghị quyết Tám thời ông Nông Đức Mạnh, và Nghị quyết Trung ương 4 năm 2012 thời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có khác nhau gì đâu. Chúng chỉ khác ở thời gian và người ban hành.

Như vậy thì công tác “xây dựng, chỉnh đốn đảng” có cần đảng phải dốc tòan lực vào làm để trong sạch hoá con người đảng viên hầu làm tốt việc cho dân cho nước, hay đảng chỉ biết mờ mắt trước “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” , cốt sao bảo vệ được quyền thống trị độc tài cho đảng mà quên rằng kẻ thù sau lưng Việt Nam đang đến từ phương Bắc và từ Biển Đông ?

(07/013)
Phạm Trần
danlambaovn.blogspot.com

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image

Ai bảo vệ ngư dân?
Nguyễn Văn Tuấn

Cứ mỗi lần ngư dân của mình bị bọn hải giám của Tàu tấn công và cướp bóc, câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu tôi: chẳng lẽ chẳng có ai bảo vệ ngư dân? Mới ngày hôm kia, một đám hải quân trong chiếc tàu gọi là “hải giám” của chúng đánh đập ngư dân ta, đập phá và ăn cướp ngư cụ, và còn chặt cột cờ. Hành động chặt cột cờ rõ ràng là một sự khiêu chiến. Chợt nhớ hôm nào có ngư dân bảo vệ lá cờ và sau này được trao huy hiệu. Không biết những người theo chủ nghĩa hình thức (trao huy hiệu đó) sẽ làm gì khi kẻ thù ngang nhiên khiêu chiến chặt quốc kì? Vậy mà cho đến nay, sau hai ngày sự việc xảy ra, Chính phủ chẳng hề có một phát biểu chính thức. Chỉ có “Hội nghề cá” lên tiếng một cách yếu ớt.

Những hành động đó của quân Tàu chỉ có thể mô tả bằng hai chữ: cướp biển. Bọn cướp biển này có tổ chức và được Chính phủ Tàu bảo trợ. Tiếng Anh có một chữ dành cho những kẻ này: state-sponsored piracy. Cũng có thể xem cướp biển là khủng bố, nên chúng ta cũng có thể dùng chữ state-sponsored terrorism – khủng bố do Nhà nước bảo trợ.

Điều đáng nói là những hành động cướp biển / khủng bố này xảy ra chỉ vài tuần sau chuyến viếng thăm Tàu của ngài Chủ tịch Nước và đoàn quân sự Việt Nam. Chắc có lẽ chúng ta không bao giờ biết được những gì được bàn luận và thoả thuận trong chuyến viếng thăm, cũng như chẳng bao giờ biết được những gì được thoả thuận trong cuộc gặp gỡ Thành Đô trước đây. Những gì viết trong thông cáo báo chí chỉ là “phải đạo” thôi. Nhưng những gì xảy ra trong thực tế cho thấy hình như những hội nghị đó chẳng đem lại lợi ích và an toàn gì cho ngư dân Việt Nam.


Hành động cướp biển / khủng bố mới nhất có lẽ chưa phải là lần sau cùng. Chúng ta còn nhớ trước đây Tàu đã 2 lần cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam. Vài tuần trước, chúng manh động đến độ bắn cháy cabin tàu đánh cá của Việt Nam. Còn những vụ chúng rượt đuổi, cho tàu đụng phá tàu của ngư dân Việt Nam thì đếm không xuể. Có khi chúng ngang nhiên vào tận bờ biển của Việt Nam để gây sự. Tất cả những hành động này cho thấy chúng chẳng xem chủ quyền biển của Việt Nam ra gì (chứ chưa nói đến tôn trọng).


Và hình như chúng có lí do để hành xử lưu manh như thế. Lí do chính là sự khiêm cung của phía VN. Cứ mỗi lần sự việc xảy ra thì phản ứng của phía VN có thể nói là rất “truyền thống” và có thể đoán được. Đầu tiên là các lực lượng chức năng xác minh (làm rõ) sự việc. Phải mất một ngày thậm chí vài ngày thì mới xác minh được thủ phạm “lạ” đó chính là Tàu – kẻ thù của VN. Kế đến là người phát ngôn Bộ Ngoại giao phát biểu những câu chữ mà có lẽ chúng ta đã nghe qua nhiều lần đến độ nhàm (nên không cần lặp lại ở đây). Sau đó thì bên Tàu chúng nó phản bác lại phát biểu của phía VN. Thế là kết thúc. Hậu quả là ngư dân mất của, tổn hại tinh thần. Những ngư dân khác thì ái ngại hơn, suy nghĩ đôi ba lần trước khi đi biển. Dần dần chúng ta mất chủ quyền biển.


Song song với những hành động cướp và khủng bố, chúng còn gia tăng cường độ xâm lấn. Chúng xua hàng trăm, thậm chí hàng ngàn, tàu cá xuống vùng biển VN để đánh bắt. Chúng cho tàu hải quân theo để hộ tống cho đoàn tàu ăn cướp. Thật khó hình dung nổi còn hành động nào du côn hơn? Hành động du côn đó xuất phát từ một chính quyền tự gắn (hay trói) những chữ “tốt” và “vàng” với Việt Nam!



Ngư dân VN chắc ước mong được như ngư dân Tàu. Ngư dân Tàu được quân đội Tàu bảo vệ dù họ cũng chỉ là cướp biển. Còn ngư dân VN thì chẳng có ai bảo vệ họ. Mới tháng 5/2013, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sau khi nhận định rằng việc Tàu hành hung ngư dân VN là nghiêm trọng, ông tuyên bố rằng “Nếu có những vi phạm vào vùng biển của Việt Nam thì các lực lượng chức năng của ta sẽ có trách nhiệm bảo vệ.” Thế nhưng sự việc xảy ra ngày hôm qua thì chúng ta mới biết chẳng có ai bảo vệ ngư dân ta cả. Người bình thường nhất, bàng quan nhất nhất cũng phải đặt câu hỏi: lực lượng hải quân VN ở đâu và đã làm gì trong khi ngư dân lâm nạn?

Hiện nay, Việt Nam có 4 lực lượng có chức năng bảo vệ ngư dân: Kiểm ngư, Cảnh sát biển, Biên phòng, và Hải quân. Nhưng như chúng ta thấy trong thời gian qua, mỗi khi ngư dân lâm nạn là chẳng thấy bóng dáng các lực lượng này ở đâu. Thật ra, những người đi đánh cá cho biết họ “Bảo vệ gì đâu! ra đó làm sao mà đụng được với Trung Quốc mà bảo vệ? Chỗ đó đâu có ra được chỉ có dân ra chứ bên quân sự đâu có ra được. Khu vực đó thằng Trung Quốc nó quản lý hết làm sao mà ra. Đánh cá thì đánh chui ở Hoàng Sa chớ cảnh sát biển không tới mép nước nữa, do cũng chưa thấy nó. Cảnh sát biển của Trung Quốc thì có. Nếu bảo vệ thì bảo vệ một khúc nào đó thôi, ở vùng nhất định thôi chứ làm sao vô khu vực Hoàng Sa bảo vệ được? Khu vực san hô mới có cá còn ngoài khu vực đó thì nước nó sâu, có rạng không có san hô cho nên đâu có cá.” (trích lời của một ngư dân trả lời phỏng vấn báo chí). Thế thì đã rõ, các lực lượng chức năng chẳng bảo vệ gì được ngư dân cả. Nhưng khi ngư dân có một hành động dũng cảm bảo vệ chủ quyền thì đại diện của các lực lượng chức năng xuất hiện trong đồng phục đẹp và chụp hình trao cái gì đó làm vật lưu niệm.


Không bảo vệ được, nên có lúc người ta nghĩ đến chuyện trang bị vũ khí cho ngư dân. Thật là một ý tưởng lạ lùng và nguy hiểm! Ý tưởng này biến ngư dân thành "món mồi" cho hải quân của kẻ thù vì một khi ngư dân có súng thì chúng càng có thêm lí do để nổ súng. Thật là điên rồ!

Chúng ta nói Hoàng Sa là của Việt Nam và điều đó thì chắc chắn là sự thật. Nhưng giặc Tàu đã chiếm Hoàng Sa và đó cũng là sự thật. Ngày nay chỉ có ngư dân đánh bắt chung quanh ngư trường Hoàng Sa, thì chính những người này mới là “lực lượng” bảo vệ chủ quyền cho Việt Nam. Vậy mà không ai bảo vệ được họ! Cũng chẳng có chính khách nào đến thăm hỏi và biểu dương họ. Thật là trớ trêu. Nghĩ đến đây tôi càng thấm và chua xót khi đọc cái tít của báo chí “Ngư dân thả trôi tính mạng trên Biển Đông”.

Tôi nghĩ đơn giản rằng nếu mình không chống trả nổi sự tấn công của một tên du côn to con thì ít ra mình cũng có thể la lớn để gây chú ý. Tương tự, nếu các lực lượng chức năng không đương đầu được với kẻ thù và giới chức ngoại giao không nói gì, thì chính quyền cũng phải cho phép người dân có tiếng nói để thế giới chú ý. Trong khả năng của mình, tôi chỉ biết mỗi khi thấy cái bản đồ 9 đoạn trên các tập san khoa học thì lập tức phản đối, và phản đối phải kèm theo những thông tin cụ thể về sự khủng bố của Tàu. Có lẽ chúng ta nên làm một database để hệ thống hoá những hành động khủng bố của Tàu chống ngư dân Việt Nam từ trước đến nay. Tôi nghĩ các bạn ở nước ngoài cũng có thể lên tiếng phản đối hành động khủng bố của Tàu đến ngư dân Việt Nam, những người thực sự đang bảo vệ chủ quyền biển đảo cho Việt Nam.

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Học giả Nhật: Cần xem lại quan hệ Nhật-Việt

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Trong số ra ngày 25 Tháng Sáu, tờ Asahi Shinbun, nhật báo lớn nhất của Nhật Bản, có đăng bài viết dưới nhan đề “Thảo luận khó khăn, những vấn đề trong hợp tác với Việt Nam” của Ari Nakano, một học giả khá quen thuộc với bạn đọc Việt Nam. (1)

Tiến Sĩ Ari Nakano là một chuyên gia về Việt Nam từ 25 năm nay. Cô vừa là nhà nghiên cứu, vừa là giáo sư đại học, lại là nhà báo có uy tín. Năm nào cô cũng sang Việt Nam một vài lần. Cô đọc, nói và viết thông thạo tiếng Việt. Cô được giới thiệu với đông đảo bạn đọc Nhật như là một người am hiểu tình hình chính trị, quan hệ đối ngoại và vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Gần đây cô đã lên tận Tây Nguyên, đến Ðắc Nông, Lâm Ðồng xem xét tại chỗ việc khai thác bauxite.
Image
Thủ Tướng Shinzo Abe (phải) của Nhật trong chuyến thăm Việt Nam đầu tiên sau khi nhậm chức cùng với Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng (giữa)
duyệt hàng quân danh dự tại Hà Nội. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Cô đã có 4 cuốn sách và hàng mấy chục bài báo về Việt Nam, giới thiệu cuộc chiến tranh từ 1946 đến 1975, cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc của nước ta, những cuộc đấu tranh cho nhân quyền của trí thức, thanh niên, phụ nữ và nông dân Việt Nam, với cách nhìn khách quan và tiến bộ, tỏ rõ cảm tình với các chiến sĩ dân chủ từ Phạm Hồng Sơn, Cù Huy Hà Vũ đến Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần, rồi Nguyễn Phương Uyên và Ðinh Nguyên Kha gần đây.

Trong bài báo này, Tiến Sĩ Ari Nakano chỉ rõ tình trạng khai thác bauxite trong vùng Tây Nguyên đang lâm vào bế tắc, tiến lui đều khó. Cô lưu ý rằng việc Việt Nam mở cửa cho Trung Quốc vào thầu để sản xuất ra nhôm chỉ được ghi trên Tuyên bố chung giữa 2 tổng bí thư đảng CS Nông Ðức Mạnh và Giang Trạch Dân, lại không được thảo luận và biểu quyết tại Quốc Hội Việt Nam. Cô nói rõ theo quy hoạch lẽ ra nhôm được ra lò từ năm 2010, nay đã đến năm 2013 mà việc chính thức sản xuất nhôm vẫn chưa đi vào quy trình bình thường, chậm mất 3 năm, trong khi cảng Kê Gà ở Bình Thuận lẽ ra phải được xây dựng xong để xuất khẩu nhôm, nay đã bị đình chỉ, làm cho dây chuyền vận chuyển lâm vào bế tắc. Cô tả lại cảnh rời rạc, tiêu điều ở các nơi khai thác quặng bauxite trên khắp vùng Tây Nguyên, cho rằng một số trí thức Việt Nam đã rất có lý khi kiến nghị phải xem xét kỹ về thảm họa môi trường do khai thác bauxite gây ra. Cô cũng tỏ ra rất băn khoăn về ý đồ của lãnh đạo đảng CS ở Việt Nam chủ trương xây dựng một số nhà máy điện hạt nhân, qua các mối quan hệ mua bán với các chính phủ Nhật Bản và Nga, sau khi đã xảy ra những tai nạn hạt nhân bi thảm ở Chernobyl và Fukushima.

Nhà báo Ari Nakano cho biết gần đây cô cùng một số trí thức chuyên gia Nhật Bản và Việt Nam dự định mở một cuộc họp ở Hà Nội trao đổi ý kiến về bảo vệ môi trường trong khai thác quặng bauxite và xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Thế nhưng Bộ Công Nghiệp của Việt Nam đã ngăn cản ý định ấy, không muốn cho ai tham dự, theo cô là do họ muốn che giấu những sự thật liên quan, ngăn cản sự thảo luận đối thoại và phản biện công khai minh bạch, trong khi đó, họ còn bắt bớ đàn áp, đe dọa những tiếng nói ngay thật của những trí thức tiến bộ.

Kết thúc bài báo, cô Ari Nakano có ý kiến khá mạnh mẽ: “Ðã hơn 20 năm nay tôi đã thấy chính quyền VN vẫn giữ một thái độ che lấp những sự thật. Năm nay nhân kỷ niệm 40 năm quan hệ Nhật-Việt, phía Nhật Bản mong muốn thắt chặt hơn quan hệ giữa 2 nước, tôi thấy phía Nhật Bản rất cần nhận rõ tình hình trên đây để xem xét, rút ra những kết luận cần thiết cho quan hệ 2 nước.”

Tiếng nói của Tiến Sĩ Ari Nakano chắc chắn có trọng lượng đối với công luận Nhật Bản. Ðược biết hiện trong quỹ chi viện chính thức cho phát triển (Official Development Assistance) cùng với quỹ đầu tư phát triển từ nước ngoài (Foreign Development Investment), nước Nhật hiện đứng đầu bảng trong việc trợ giúp Việt Nam. Nếu việc trợ giúp này bị trắc trở do sự ngăn cản trao đổi, giao lưu, thiếu công khai minh bạch trong học thuật và kỹ thuật, sẽ tác động không ít tới sự nghiệp hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Đảng cộng sản có dám 'tự xử' theo ý dân hay không?

Le Nguyen
(Danlambao) - Thiên đường xã hội chủ nghĩa đích thực là thiên đường của tuyên truyền nên bộ mặt xã hội của nó được trang điểm bằng những khẩu hiệu, tranh cổ động sặc sỡ muôn màu sắc, giăng mắc khắp mọi nơi mọi chốn và thành thật mà nói tôi chưa được hân hạnh đến tham quan các thiên đường xã hội chủ nghĩa còn sót lại như Cu Cộng, Triều Cộng. Riêng Trung Cộng có đôi lần đến “thăm” nhưng tiếc rằng tôi không đọc hiểu tiếng Trung nên không biết Trung Cộng có treo khẩu hiệu cổ động “sống, làm việc theo hiến pháp và luật pháp” như xứ thiên đường Việt Cộng hay không?

Chắc hẳn, ngoài các “thiên đường” còn sót lại vừa kể, có lẽ không nơi đâu trên hành tinh này giăng mắc khẩu hiệu “sống làm việc theo hiến pháp và luật pháp” nhiều hơn xứ thiên đường xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thật ra nếu khẩu hiệu sống, làm việc theo hiến pháp và luật pháp treo lên giúp cho người dân hay dạy dỗ được cho đảng, nhà nước cộng sản, những kẻ thi hành luật pháp biết tôn trọng, chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp, hiến pháp thì không có gì để bàn đến. Đàng này khẩu hiệu cổ vũ luật pháp, hiến pháp của xứ thiên đường xã hội chủ nghĩa Việt Nam treo lên càng nhiều, càng làm cho xã hội ngày càng rối ren, tệ hại hơn. Nó tệ đến độ khiến cho Giang Trung Sơn, thông tín viên của VOV News, truyền thông lề đảng ngập chìm trong thực tế đời sống xã hội cộng sản phải ngậm ngùi cất tiếng cảnh báo về tình trạng người dân không tin tưởng vào luật pháp, hiến pháp dẫn đến hiện tượng “tự xử” đáng báo động trong quan hệ xã hội ngày càng nhiều:

“...Gần đây, những vụ tự xử, không tuân theo qui định pháp luật, diễn ra ngày một nhiều hơn... tình trạng nhân dân tự hành xử trong các quan hệ dễ xảy ra xung đột có thể nói là xảy ra như cơm bữa, với tần suất dày thêm và tính chất ngày càng nghiêm trọng hơn...

...Ai từng xem một clip được đưa lên mạng vài ngày gần đây về tên trộm xe máy bị đám đông bắt được trói gô chân tay lại đánh cho mù mắt, máu mắt chảy ròng ròng kêu van gọi cha mẹ, thì sẽ thấy tình cảnh rất thảm thiết. Tất nhiên chẳng ai thương xót phường trộm cắp, nhưng cùng là con người với nhau có nên xử lý như đối với con vật thế hay không?...

...Khi mà luật pháp không được tôn trọng thì xã hội thực sự đã rơi vào tình trạng nguy hiểm ở mức cảnh báo cấp độ cao. Người dân không còn tin vào luật pháp sẽ tự xử một cách manh động, không ai kiểm soát nổi. Từ đó, sẽ có thêm hàng loạt người phạm pháp, và vì luật pháp không được thực thi công bằng nghiêm minh nên sẽ dẫn đến tình trạng ỷ thế, cậy quyền, thậm chí có thể sử dụng tiền bạc để bẻ cong công lý. Không còn công lý, luật pháp, xã hội sẽ rơi vào trạng thái hỗn mang...

...Có thể pháp luật trong lĩnh vực này lĩnh vực khác bị các nhóm lợi ích chi phối nên còn nhiều qui định, chế tài chưa hợp lý, bất công, nhưng thực tiễn sẽ giúp cơ quan công quyền nhận ra và sớm hay muộn sẽ sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp. Vấn đề có thể làm ngay được lúc này đang nằm trong tay lực lượng thực thi luật pháp...”(1)

Chuyện người dân mất tin tưởng vào luật pháp xã hội chủ nghĩa diễn ra khá lâu, nó bắt nguồn từ các ông bà cán cộng rừng rú ngang ngược tuyên bố “luật là tao, tao là luật” đã trở thành phổ biến trên cửa miệng của các ông bà vua con này và Giang Trung Sơn, báo lề đảng chỉ dám nói “tự xử” chung chung về trộm vặt trộm chó bị đánh đập dã man, về tranh chấp dân sự bằng dao kiếm chứ không dám chỉ ra nguyên nhân của mọi nguyên nhân cụ thể dẫn đến hiện tượng “tự xử” của dân với công an giao thông, của người dân giữ đất với kẻ nhân danh thi hành công vụ đã, đang tồn tại trong xã hội, xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Để bổ túc cho một nửa tư duy, một nửa sự thật, một khiếm khuyết có nguyên do của báo lề đảng, tác giả Trần Kỳ Trung của báo lề dân đã chỉ thêm một số nguyên nhân hiện thực khác dẫn đến hiện tượng “tự xử” trong va chạm tranh chấp, trong mâu thuẩn quyền lợi của đảng với đảng, của dân với dân, của dân với đảng, những kẻ nhân danh thi hành công vụ như sau:

“...Cậy chức to, quyền lớn, kẻ đó với lòng tham vô đáy, gây ra những vụ tham nhũng cực lớn gây tổn thất vô cùng tệ hại cho tài sản nhà nước. Nếu công khai minh bạch, cho nhân dân biết, sử dụng công cụ luật pháp thật nghiêm minh, cho báo chí, đài, ti vi… đưa tin một cách trung thực, rõ ràng… thì những kẻ đó phải chịu những bản án nghiêm khắc nhất, sự ổn định xã hội sẽ được khôi phục, củng cố lòng tin của người dân vào cơ quan công quyền...

...Họp trung ương có nội dung bàn chuyện chống tham nhũng thì kín như bưng, báo chí, đài, ti vi, các cơ quan truyền thông khác, nhân dân không hề biết nội dung sẽ thảo luận vấn đề gì? Ý kiến của mọi người ra sao? Kẻ bị kiểm điểm thái độ, trách nhiệm như thế nào? Tất cả mọi người chỉ biết báo cáo phiên khai mạc, tổng kết phiên bế mạc với những dòng chữ chung chung: “…Nghiêm túc trong kiểm điểm…thành khẩn nhận thiếu sót…trong công tác điều hành còn chủ quan duy ý chí…” Rồi cuối cùng, hòa cả làng...

...Nhiều vụ án tham nhũng lớn mang ra xét xử, tưởng là “công khai”, nhưng… mọi người đều biết gần như đã có “tự xử” từ trước rồi. Làm thất thoát, tham ô đến cả mấy chục ngàn tỷ đồng tiền thuế của dân, tiền nhà nước vay nợ nước ngoài mà kẻ cầm đầu chỉ có tù hai chục năm...

Cách xử án mà thực chất là “tự xử” như vậy, không hề mang lại yếu tố tích cực cho xã hội, ngược lại, chỉ càng đẩy xã hội vào chỗ người dân không tin vào luật pháp, chính quyền... Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính để người dân không tin vào luật pháp nữa, dẫn đến cách “tự xử” riêng...

...Một đất nước có luật pháp, có chính quyền, có công cụ bảo vệ an ninh xã hội, bảo vệ luật pháp mà tại sao vẫn tồn tại những kiểu “tự xử” từ trên xuống dưới vô luật pháp!...Chung quy lại cũng do cách “tự xử” của những người lãnh đạo trong đảng và nhà nước. Đứng trên, đứng ngoài luật pháp, coi thường dư luận, nhất là coi thường ý nguyện của nhân dân thì bên dưới, tất yếu sẽ nảy nòi ra hình ảnh “tự xử” đau lòng trên!”(2)

Hiện tượng “tự xử” được Giang Trung Sơn lề đảng, Trần Kỳ Trung lề dân lên tiếng báo động chỉ ra, còn do nguyên nhân khác như loạn thông tư, loạn nghị định, loạn lệnh miệng... nghĩa là loạn luật, lạm dụng luật của các lãnh đạo cơ quan ban, ngành ngu dốt tùy tiện “làm luật” theo chủ quan duy ý chí bất chấp hậu quả nghiêm trọng trong tiến trình phát triển cộng đồng xã hội. Họ cứ ngang nhiên như thằng điên điều chỉnh, sửa đổi, đề xuất những thứ luật “đẻ, đái...” dân không cần và những luật “đất đai, biểu tình, đảng lãnh đạo...” dân cần thì họ lại làm ngơ không đề xuất, ban hành để giải quyết mâu thuẫn bất cập tồn tại trong xã hội.

Điển hình như luật đất đai là sở hữu toàn dân gây nhiều hậu quả nghiêm trọng, cần phải nhanh chóng sửa đổi vì nó chính là điểm nóng, là nguyên nhân gây ra biết bao vụ án oan sai khiến cho đội quân dân oan khiếu nại, tố cáo năm sau nhiều hơn năm trước và trong số đông dân oan có không ít con cháu, thân nhân của các bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình liệt sĩ, những cựu chiến binh mang ảnh bác, cờ đảng ngực gắn đầy huân chương, huy chương đi khiếu kiện oan sai từ khi mái tóc còn xanh đến bạc trắng mái đầu, thậm chí đã về với đất nhưng oan sai vẫn chưa được giải quyết, vẫn chờ các cơ quan chức năng điều tra làm rõ?

Mọi người dân đều thấy chỉ có đảng “mù” không thấy, luật đất đai sở hữu toàn dân chính là miếng mồi ngon cho bọn quan tham lộng hành cướp đất, cướp nhà của dân gây cho giai cấp công nông, nhân dân lao động, giai cấp tiên phong “lãnh đạo” nhà nước xã hội lâm vào cảnh không nhà, sống đầu đường xó chợ trước sự vô cảm của giai cấp cầm quyền và không chỉ có luật đất đai cần sửa đổi, ban hành mà còn nhiều “quyền” của dân, của đảng quy định trong hiến pháp cần luật hoá để đáp ứng đòi hỏi thuộc phạm vi quyền của dân, quyền của đảng như luật biểu tình, luật đảng lãnh đạo chẳng hạn.

Rất ít người không biết, quyền biểu tình là quyền hiến định có quy định trong cả bốn bản văn hiến pháp của chế độ cộng sản Việt Nam, nó tồn tại trên dưới 70 năm nhưng quyền biểu tình vẫn chưa đi vào đời sống của người dân Việt Nam, quyền biểu tình vẫn còn bị giam giữ, bị chặn “bắt” ở cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà nước của dân do dân vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân?

Thế cho nên, trước sự ngang ngược của bá quyền đại hán, sự hèn nhược của cộng sản Việt nam, người dân buộc phải “tự xử” quyền biểu tình, tự phát kêu gọi nhau xuống đường bày tỏ lòng yêu nước chống láng giềng to xác tham lam phương bắc và đảng, nhà nước cộng sản đã ngụy biện viện dẫn quyền biểu tình được bảo đảm nhưng chưa có luật biểu tình, phải chờ chính phủ ban hành luật mới có thể tổ chức biểu tình và ai tiến hành thực hiện biểu tình là trái luật pháp quy định... nên chúng xua côn an côn đồ đàn áp bắt bớ, vu cho người yêu nước tội gây mất trật tự công cộng, vi phạm luật pháp để phạt tiền, phạt tù.

Thế không hiểu đảng cộng sản tự biên tự diễn điều 4 hiến pháp cho phép đảng độc quyền lãnh đạo nhà nước, xã hội nhưng “đảng”đã có chưa “luật đảng lãnh đạo”? Thế mà sao đảng vẫn cứ tùy tiện lãnh đạo dã man thô bạo tất tần tật không chừa bất cứ thứ gì, thậm chí lãnh đạo cả nhà chùa, nhà thờ cho đến nhà thổ ngập ngụa đĩ điếm... nhưng người dân vẫn không thấy đảng “tự xử” tự tát vào mồm đảng kêu là chưa có luật đảng lãnh đạo và cúi đầu nhận tội tùy tiện lãnh đạo là vi hiến, là vi phạm luật pháp xâm phạm an ninh quốc gia phải bị trừng phạt theo quy định của pháp luật. Vậy ai đại diện luật pháp, ai chịu trách nhiệm xét xử bỏ tù đảng?

Chính đảng cộng sản tự biên tự diễn hiến pháp, luật pháp giành mọi ưu thế cướp quyền lãnh đạo độc quyền nhà nước xã hội, vậy mà đảng cộng sản vẫn chưa thỏa mãn tham vọng lãnh đạo không trong sáng, đảng còn tùy tiện “tự xử” trong nhiều tình huống bất chấp luật pháp “luật là tao tao là luật” thì bảo sao dân không “tự xử” và dân không noi gương đảng “tự xử” mới là lạ, là không bình thường chứ dân tự xử thì không có gì là lạ, là chuyện rất bình thường.

Ngày nay hiện tượng “tự xử” rất đáng sợ đã trở thành phổ biến trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bởi người dân không còn tin tưởng vào luật pháp, hiến pháp cũng như qua đời sống thực tiễn người dân thấy rằng đảng cộng sản cầm quyền dư quyền lực lẫn bạo lực để đổi trắng thay đen, thừa xảo quyệt để biến nạn nhân thành tội phạm và trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dân chủ vạn lần hơn... công lý không hiện hữu, không tồn tại, không đến với người dân thấp cổ bé miệng, công lý chỉ là tên của một diễn viên hài nên người dân buộc phải “tự xử” tự bảo vệ mình như tiếng súng hoa cải của Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng và tiếng bom của Nguyễn Viết Trương ở Khánh Hoà... cũng không có gì là khó hiểu?


Ngoài ra, hiện tượng “tự xử” phát sinh cũng do loạn luật, do “chế độ cộng sản có một rừng luật nhưng cộng sản chỉ sử dụng mỗi luật rừng” với dàn cán bô, đảng viên, quan chức ít học nhiều gian manh thích “tự xử” luôn mồm bảo “luật là tao tao là luật” và rất tùy tiện làm nhiều luật “ỉa, đái...” người dân không cần mà luật người dân cần “hủy bỏ điều 4...” lại không làm. Cũng như đảng cộng sản rất yêu thích chơi trò “tự xử” nhưng lại “tự xử” những thứ không hợp ý dân và không có can đảm “tự xử” theo ý dân muốn như cách “tự xử” theo gợi ý của tuổi trẻ yêu nước Uyên – Kha “đảng cộng sản Việt Nam đi chết đi” cho dân tộc Việt Nam nhờ...

Le Nguyen

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Chỉ biết nói mà không biết nhục
David Thiên Ngọc

(Danlambao) -Xét về lịch sử loài người tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây, bất cứ ở tầng lớp nào trong xã hội thấp hèn hay cao sang cũng đều biết xét nét những hành động cùng lời nói của mình cho dù là trong một góc khuất nào đó. Chưa có một tên trộm, cướp hay lừa đảo nổi tiếng nào mà cao giọng dạy bảo con cháu hoặc khuyên nhủ bạn bè, người quen rằng: “Hãy tôn trọng tài sản của người khác, đừng bao giờ lấy của người ta mà làm của riêng cho mình!”, trong lúc đó mọi người đều rõ hắn là tên trộm nổi danh mà ai cũng phải đề phòng khi tiếp xúc với hắn.

Ở đây nói về tên Ba Ếch nơi Nghĩa Trang Xã Nghĩa. Loài Ếch thì ai cũng rõ tâm địa và tầm vóc của hắn đến đâu nhưng về mồm mép thì ồm ộp ôm đồm chẳng kém cạnh một ai. Nhớ ba năm về trước nơi Ba Đình nhà Ếch có tổ chức đám giỗ lớn, qui tụ quần hùng cấp cao của các lãnh địa, hoặc chưởng môn của các môn phái lân bang. Ngồi bên một lãnh tụ quân phiệt đang cai quản một xứ sở độc tài mấy mươi năm, Ếch nâng ly mời và cao giọng “Hồ âm” ồm ộp rằng: “Sắp tới nơi xứ sở nhà Huynh tổ chức bầu bán tôi khuyên Huynh nên tôn trọng dân chủ, tự do... với sự góp mặt của tất cả các môn phái cho dù là khắc kỵ với Huynh để đưa xứ sở của Huynh lên tầm cao, theo kịp thế giới.”. Vì cái tầm của mình quá kém và không biết vị trí của mình đang đứng ở đâu, hành vi của mình đang thực hiện là gì? nên khi ồm ộp khuyên lơn kẻ khác Ếch không thấy được xung quanh có rất nhiều Giáo Chủ cười nửa miệng mà rằng “Úi giời! lươn mà đi khuyên lịch?”.

Trước đó không lâu Ba Ếch có lần sang viếng xứ sở này cũng đã lên giọng xin ủng hộ lộ trình “dân chủ hóa” ở nơi đây. Trong lúc tại quê nhà Ếch, cả dòng họ nhà Ếch cùng đảng phái bè nhóm của Ếch đang cầm đầu một bầy sâu độc quyền đục khoét, cắn phá tan tành cả ruộng đồng, núi rừng Xã Nghĩa mà cương quyết không cho một ai can dự vào dù với lời khuyên can tích cực.

Miệng mồm thì ồm ộp như thế còn da mặt của dòng Ếch thì trơn lùi và không biết nhục. Khi những lời khuyên của Ếch đối với lân bang chưa tan vào gió thì ngay sau đó tổ chức nhân quyền của Á Châu khẳng định rằng những lời khuyên trên đi nược lại với những gì xứ sở nhà Ếch đang có và hiện thời đất nước Xã Nghĩa đang vinh dự đứng đầu được tính từ dưới lên trên trong bảng phong thần về nhân quyền, tự do, dân chủ trong toàn khu vực bao la Châu-Á. Đồng thời cái đất nước mà Ba Ếch buông lời khuyên thuở nào đang đứng trên đầu Ếch mà phất cờ dân chủ tự do. Bao nhiêu chất thải ô uế của độc tài quân phiệt rơi vãi trên đầu mà Ếch cứ vô tư mỉm miệng cười như kẻ “Trưởng giả học làm sang”, một phần tương tợ như ánh mắt, nụ cười ngơ ngáo của thằng “Bờm” tự hào có cái quạt mo.

Ếch không biết nhục khi vị lãnh tụ của xứ độc tài một thuở kia đang công cán trời Tây, nơi thành phố xứ sương mù ông ta đã hùng hồn tuyên bố, cam đoan với thế giới rằng đến cuối năm nay, 2013 tại đất nước ông ta sẽ không còn một ai là tù nhân lương tâm. Ngược lại về phần mình đã bao lần khuyên nhủ xứ bạn mà nay mỗi ngày danh sách người yêu nước bị bắt bớ, vu oan, chụp mũ với những điều luật tự đặt rất ư là mơ hồ... mỗi ngày một cao, năm này nhiều hơn năm trước mà còn cực kỳ ác độc, cay nghiệt, oan ức, vô đạo... hơn xưa.

Như vậy thì rõ ràng cái nghĩa trang Xã Nghĩa mà dòng họ nhà Ếch cùng bè đảng đang cai quản là một trong những cái nghĩa trang hiếm hoi, tồi tệ nhất hành tinh còn sót lại sau khi những luồng gió dân chủ văn minh đã quét sạch, cuốn đi. Với một mớ giấy lộn, bẩn thỉu mang hơi hám Mác-Lê đem ra gói cá, gói thịt mà người ta còn sợ ô nhiễm... Đàng này băng đảng, huynh đệ nhà Ếch lại áp dụng cho xứ sở của mình thì tránh sao cho khỏi diệt vong? sự diệt vong ở đây nó còn có ý nghĩa một phần là tự diệt vong, tự triệt tiêu trong hàng ngũ băng phái của tập đoàn Xã Nghĩa.

Không có một hệ thống lãnh đạo nào với bản chất ô hợp, tuy cùng trên một lối đi nhưng luôn giành giựt miếng ăm, tấm áo, chỗ đứng, chỗ nằm và vùng ảnh hưởng... mà tập đoàn đó tồn tại được trên bước đường dài? Tự triệt tiêu lẫn nhau là điều tất yếu. Con đường tiến hóa của nhân loại đang hướng thiên, còn tập đoàn Xã Nghĩa và một số huynh đệ đang trên chiều ngược lại thì hai nẻo “Thiên Đường-Địa Ngục” quá rõ ràng. Diện kiến với Diêm Vương Ba Ếch sẽ trần tình nỗi gì? Chắc cũng không hề hối hận và biết nhục. Giờ phút sau cùng có hối cũng bằng thừa.

Ngày 20/7/2013
David Thiên Ngọc

Post Reply