Bình Luận Thời Sự
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Ðóng góp xã hội của Tự Lực Văn Ðoàn
Ngô Nhân Dụng
Tuần trước, sau bài thuyết trình về Phong trào Nhà Ánh Sáng trong cuộc hội thảo kỷ niệm 80 năm Tự Lực Văn Ðoàn, nhiều thính giả ở lớp tuổi trên 60 thú nhận lâu nay đã đọc hầu hết các tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng, đọc thơ Thế Lữ, xã luận của Hoàng Ðạo, mà chưa hề biết rằng các tác giả đó đã có thời cũng là những “thanh niên” hăng say đi làm “công tác xã hội;” không khác gì các sinh viên học sinh thời 1960, 70.
Thế Lữ còn đặt lời các bài hát cho thanh thiếu niên đồng ca, ông đi trước những thế hệ Hoàng Quý hoặc Nguyễn Ðức Quang, Tiến Lộc sau này.
Thiếu sót đó thật đáng tiếc! Vì các nhà nghiên cứu thường chỉ chú trọng đến vai trò của Tự Lực Văn Ðoàn trong lịch sử văn chương nước ta, ít người tìm hiểu về hoạt động và chủ trương của họ trong phạm vi xã hội. Mà chính các nhà văn này đã tích cực dấn thân thật sự vào việc phục vụ xã hội, bằng các công tác cụ thể, hữu ích. Nhắc lại công trình đóng góp của họ, chúng ta có thể thấy những tấm gương tốt, khích lệ các thế hệ thanh niên sau này.
Phải nói, qua việc thành lập Hội Ánh Sáng, Tự Lực Văn Ðoàn và Tuần báo Ngày Nay đã gây nên một phong trào văn hóa xã hội ở nước ta vào cuối thập niên 1930. Chương trình thành lập hội được công bố trên báo Ngày Nay số 38, ngày Chủ Nhật, 13 Tháng Mười Hai năm 1936. Tờ báo kêu gọi lập một hội bài trừ những nhà hang tối, còn gọi là Hội Ánh Sáng. Họ đưa ra ba châm ngôn Xã hội-Nhân đạo-Cải cách. Tầm ảnh hưởng của các hoạt động đó lan rộng trong xã hội, ảnh hưởng đến tâm lý rất nhiều người Việt Nam, nhất là giới trung lưu, trí thức, thanh niên ở đô thị trong thời gian từ năm 1937 cho tới năm 1940.
Nhìn vào danh sách những người góp công cổ động thành lập hội và tham gia vào hội từ lúc đầu chúng ta thấy chương trình này được giới trí thức đương thời ủng hộ, tạo nên một phong trào có chiều rộng và chiều sâu. Một ủy ban chuẩn bị thành lập hội do ông Phạm Văn Bính làm “thư ký tạm thời” từ Tháng Năm, 1937 đã có mặt 14 người, nhiều nhân vật nổi tiếng thuộc các lớp trung lưu, trí thức thời đó. Chẳng hạn, có các bác sĩ Phạm Hữu Chương, Ngô Trực Tuân, kỹ sư Trần Văn Tiết, các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Luật sư Trần Văn Chương, thân phụ bà Ngô Ðình Nhu sau này; các thương gia như ông Phạm Tá, các nhà văn Phan Trần Trúc, Phạm Lê Bổng và nhiều người đại diện các tờ báo khác như Tam Lang Vũ Ðình Chí (Việt Báo), Lê Văn Thu (Ðông Pháp), Dương Mậu Ngọc (Trung Bắc). Nhiều đồng nghiệp và giới trí thức hỗ trợ một chương trình của tuần báo Ngày Nay từ lúc phát khởi, cho thấy văn hóa Việt Nam thời đó vẫn còn thuần hậu, mọi người đối xử với nhau trong tinh thần tương kính; khác hẳn tình trạng phân hóa, nghi kỵ và thù hằn, đến mức nhỏ nhen, ti tiện, trùm lên xã hội sau khi con người phải sống trong chế độ công an toàn trị nhiều năm.
Trong danh sách những người tham gia và hỗ trợ hội Nhà Ánh Sáng, chúng ta cũng thấy nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau. Có ông bà Hoàng Xuân Hãn, sau này ông làm bộ trưởng giáo dục trong chính phủ Trần Trọng Kim; có Vũ Ðình Huỳnh và Trần Huy Liệu, Vũ Ðình Hòe, sau làm việc với Hồ Chí Minh. Ông Phạm Văn Bính sau này trở thành một bí thư và làm bộ trưởng trong chính phủ Bảo Ðại. Danh sách các ủy viên trong các “ủy ban hành động” của hội còn những nhân vật nổi tiếng như Luật sư Hoàng Cơ Thụy, Nha sĩ Hoàng Cơ Bình (năm 1954 đứng đầu Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt, chống lại việc chia đôi nước Việt Nam), Luật sư Bùi Tường Chiểu, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, một nhà chính trị hoạt động trong các đảng phái quốc gia, huynh trưởng hướng đạo Trần Duy Hưng (sau làm thị trưởng Hà Nội thời Việt Minh), Dược sĩ Thẩm Hoàng Tín (thị trưởng Hà Nội thời Bảo Ðại), Kiến trúc sư Vũ Ðức Diên, sau này cộng tác với chính phủ Ngô Ðình Diệm.
Theo báo cáo của mật thám Pháp thì vào năm 1938, Hội Ánh Sáng có ba ngàn người tham dự ở Bắc Kỳ. Buổi ra mắt công chúng đầu tiên của Hội Ánh Sáng tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, vào 9 giờ tối Thứ Hai, 16 Tháng Tám năm 1937, có tới bốn ngàn người tới dự, mà trong rạp hát chỉ có chỗ cho hai ngàn người, những người khác phải đứng ngoài nghe các bài diễn thuyết qua máy phóng thanh, nhưng họ đứng nghe tới gần nửa đêm mới giải tán. Các buổi “ra mắt” ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh đều đông như vậy, mặc dù không có “văn nghệ giúp vui” trừ một số “Sói Con” trong Hướng Ðạo ra hát những bài ngắn, phần lớn do Thế Lữ soạn lời dựa trên các bài hát phổ thông của Pháp và các điệu nhạc cổ, như điệu Mãi Tạp Hóa, Ngũ Ðiểm Mai.
Các tiểu thuyết luận đề của Tự Lực Văn Ðoàn đã đưa ra chủ trương nâng cao địa vị phụ nữ trong gia đình và xã hội. Hội Ánh Sáng thể hiện chủ trương đó trên một bình diện rộng hơn. Trong buổi ra mắt Hội Ánh Sáng ở Hải Phòng kể trên, bà Nguyễn Thị Phú đã đọc một bài diễn văn nói về hoạt động xã hội ‘đưa đường chị em đến sự giải phóng.” Bà cổ động: “Các bạn nên ra ngoài xã hội, cùng các bạn trai gánh vác lấy công việc chung... Các chị em nghèo kém hiện nay đương chìm đắm trong tối tăm, sẽ được các bạn săn sóc thân yêu đến và gia đình các bạn nghèo đó, trong các thôn trại Ánh Sáng, sau đây sẽ là gia đình thứ hai của các bạn.” Bà Vũ Ngọc Phan viết bài thơ khuyên mọi người gia nhập Hội Ánh Sáng, “Chốn thôn ổ bấy lâu tăm tối - Nghĩ dân quê lắm nỗi lầm than;” với kết luận, “Vậy hỡi ai là bạn đồng tâm - Rủ nhau vào hội cho đông...”
Dù giấy phép hoạt động bị giới hạn ở miền Bắc, dư luận cả nước ủng hộ chương trình Nhà Ánh Sáng. Báo Tràng An ở Huế, báo Ðiện Tín ở Sài Gòn hoan nghênh Hội Ánh Sáng và kêu gọi giới trí thức Nam Kỳ hãy hoạt động như họ. Trên các trang báo Ngày Nay, chúng ta đọc thấy những tin tức về các người đóng góp cho Hội Ánh Sáng. Một độc giả ký “Vô Danh” từ Quy Nhơn gửi hai đồng về giúp quỹ hội. Các học sinh ở Huế và Quy Nhơn góp nhau được vài ba đồng cũng gửi về giúp. Có cả những công nhân người Việt ở Pnom Penh cũng chung tiền đóng góp, dù chỉ có 5 đồng. Hội tổ chức một cuộc đấu quyền lấy tiền làm việc nghĩa, Võ sĩ Mai Thanh Ngọ mang đến tặng hội 5 đồng “để mua gạo phát chẩn cho dân bị lụt.” Con số 5 đồng đó cũng lớn bằng số tiền ông Thống sứ Châtel (Bắc Kỳ) tặng cho hội! Chủ hiệu may Tân Mỹ ở Phố Bờ Hồ xin trích 5% số tiền bán hàng lẻ trong hai tháng để “biếu anh em bị lụt và Hội Ánh Sáng.” Trong số báo 83 (ngày 3 tháng 10, 1937) tờ báo loan tin nhận được 25 đồng của một vị ẩn danh, do “Sư cụ chùa Quán Sứ” đem tới. Nhà hảo tâm này đến chùa nhờ cúng giỗ “làm chay” cho cha mẹ, sư cụ khuyên đem tiền giúp một công cuộc từ thiện, và họ đã chọn Hội Ánh Sáng. Tuần sau, sư cụ lại đưa thêm 50 đồng nữa, cũng do một tín chủ ẩn danh tặng hội, bỏ việc “làm chay” để góp quỹ từ thiện. Một hội thể thao, Tổng Cuộc Vận Ðộng Bắc Kỳ đã tổ chức một ngày thao diễn với các môn bóng rổ, bóng tròn, một nửa số tiền thu được đem cho Ban Từ Thiện Hội Ánh Sáng mua gạo giúp đồng bào bị nạn lụt.
Phong trào Nhà Ánh Sáng không phải chỉ nhắm vào mục đích xây cất nhà rẻ tiền, như viết trong điều lệ của họ, mà còn nuôi những tham vọng lớn hơn. Trong bài diễn thuyết của Nhất Linh ở Hải Phòng, ngày 13 Tháng Giêng năm 1938, ông đã nói đến viễn tượng xây dựng những “thôn Ánh Sáng” để cải thiện toàn thể xã hội nông thôn Việt Nam. Nhất Linh đã đánh thức lương tâm của giới trí thức thành thị khi kêu gọi họ coi việc phục vụ dân nghèo là một trách nhiệm, một bổn phận. Ông nói, “Ta không nên nói việc sắp làm là một việc thi ân cho các bạn nghèo.
Chúng ta phải tự cho rằng hững hờ với họ là một sự không công bằng, là một tội lỗi nữa. Và ngay từ bây giờ đây, ta phải cố sức để chuộc cái lỗi đó với các bạn nghèo kém trong xã hội.” Trong bài nói chuyện trên Nhất Linh vẽ ra triển vọng một thời kỳ “Thay đổi toàn diện xã hội cũ” theo “cảnh đời mẫu trong các thôn trại Ánh Sáng.” Ðến cuối năm 1938, hội đã xây dựng được ba khu nhà ở bãi Phúc Xá, Hà Nội cho các gia đình nghèo thuê với giá rẻ (dưới 2 đồng một tháng); và đang đấu thầu làm khu (lot) thứ tư. Hội cũng lập dự án xây dựng một thôn Ánh Sáng ở Voi Phục, ngoại ô Hà Nội.
Hội Ánh Sáng chỉ là một biểu hiện trong biến chuyển của xã hội Việt Nam vào thập niên 1930, sau các biến cố trong thập niên trước như đám tang Phan Châu Trinh, các cuộc biểu tình khi Phan Bội Châu ra tòa, và cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Dân ở các thành phố bắt đầu thành lập hội đoàn tư nhân. Phong trào Hướng đạo ra đời trong thập niên 1930, lần đầu tiên một đoàn thể thu hút giới trẻ mà trong đó họ có thể “tuyên thệ” một cách công khai là phải “Trung thành với Tổ quốc.” Cũng trong thời gian này, các hội Tăng Già (Shangha) của các tu sĩ Phật giáo cũng như các hội Phật học của giới cư sĩ đã lần lượt ra đời. Tại Nam Kỳ, có các đảng chính trị xuất hiện, hoạt động trong khuôn khổ luật lệ Pháp.
Trong các thập niên 1960, 70 sau này, ở miền Nam có những thanh niên tham dự các phong trào xã hội như Học Ðường Phục Vụ Xã hội, Thanh Niên Chí Nguyện, hoặc Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội của Giáo hội Phật Giáo Thống Nhất, Phong Trào Xây Ðời Mới ở Quận Tám Sài Gòn, vân vân. Các đoàn thể tự nguyện, vô vị lợi trên cũng vẫn theo đuổi công việc phục vụ đồng bào trong các khu lao động và nông thôn; họ cũng nhắm tác động đồng bào theo lối sống mới, giống như chủ trương của Phong trào Nhà Ánh Sáng. Các hội đoàn tư nhân tự nguyện này đã mở rộng các hoạt động, vượt ra ngoài các hoạt động “bác ái” hay “bố thí” của những cơ sở từ thiện Công giáo hay Phật giáo. Họ muốn tác động trên thái độ, ý thức và hành vi của những người yếu kém về kinh tế và bị bỏ quên trong xã hội. Các đoàn thể này cũng chỉ nối tiếp tinh thần dấn thân phục vụ mà các nhà văn trong Tự Lực Văn Ðoàn đưa ra trong thế hệ trước. Các hiệp hội tôn giáo, từ thiện, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, các đoàn hướng đạo, do người dân tự động thành lập, tự nguyện tham gia, trong những năm từ 1964 đến 1975 ở miền Nam cho thấy nền tảng tinh thần cho một xã hội công dân của dân Việt vẫn có sẵn, đã được một nhóm nhà văn gieo mầm ngay từ thập niên 1930. Vì vậy khi nói đến Tự Lực Văn Ðoàn thì chúng ta không thể chỉ chú ý tới sự nghiệp văn chương mà bỏ qua không nhắc tới các nỗ lực đóng góp của họ vào việc phục vụ đồng thời thay đổi nếp sống cả xã hội. Họ là những người đi tiên phong gieo rắc những hạt giống cho xã hội công dân và tinh thần dân chủ trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Ngô Nhân Dụng
Tuần trước, sau bài thuyết trình về Phong trào Nhà Ánh Sáng trong cuộc hội thảo kỷ niệm 80 năm Tự Lực Văn Ðoàn, nhiều thính giả ở lớp tuổi trên 60 thú nhận lâu nay đã đọc hầu hết các tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng, đọc thơ Thế Lữ, xã luận của Hoàng Ðạo, mà chưa hề biết rằng các tác giả đó đã có thời cũng là những “thanh niên” hăng say đi làm “công tác xã hội;” không khác gì các sinh viên học sinh thời 1960, 70.
Thế Lữ còn đặt lời các bài hát cho thanh thiếu niên đồng ca, ông đi trước những thế hệ Hoàng Quý hoặc Nguyễn Ðức Quang, Tiến Lộc sau này.
Thiếu sót đó thật đáng tiếc! Vì các nhà nghiên cứu thường chỉ chú trọng đến vai trò của Tự Lực Văn Ðoàn trong lịch sử văn chương nước ta, ít người tìm hiểu về hoạt động và chủ trương của họ trong phạm vi xã hội. Mà chính các nhà văn này đã tích cực dấn thân thật sự vào việc phục vụ xã hội, bằng các công tác cụ thể, hữu ích. Nhắc lại công trình đóng góp của họ, chúng ta có thể thấy những tấm gương tốt, khích lệ các thế hệ thanh niên sau này.
Phải nói, qua việc thành lập Hội Ánh Sáng, Tự Lực Văn Ðoàn và Tuần báo Ngày Nay đã gây nên một phong trào văn hóa xã hội ở nước ta vào cuối thập niên 1930. Chương trình thành lập hội được công bố trên báo Ngày Nay số 38, ngày Chủ Nhật, 13 Tháng Mười Hai năm 1936. Tờ báo kêu gọi lập một hội bài trừ những nhà hang tối, còn gọi là Hội Ánh Sáng. Họ đưa ra ba châm ngôn Xã hội-Nhân đạo-Cải cách. Tầm ảnh hưởng của các hoạt động đó lan rộng trong xã hội, ảnh hưởng đến tâm lý rất nhiều người Việt Nam, nhất là giới trung lưu, trí thức, thanh niên ở đô thị trong thời gian từ năm 1937 cho tới năm 1940.
Nhìn vào danh sách những người góp công cổ động thành lập hội và tham gia vào hội từ lúc đầu chúng ta thấy chương trình này được giới trí thức đương thời ủng hộ, tạo nên một phong trào có chiều rộng và chiều sâu. Một ủy ban chuẩn bị thành lập hội do ông Phạm Văn Bính làm “thư ký tạm thời” từ Tháng Năm, 1937 đã có mặt 14 người, nhiều nhân vật nổi tiếng thuộc các lớp trung lưu, trí thức thời đó. Chẳng hạn, có các bác sĩ Phạm Hữu Chương, Ngô Trực Tuân, kỹ sư Trần Văn Tiết, các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Luật sư Trần Văn Chương, thân phụ bà Ngô Ðình Nhu sau này; các thương gia như ông Phạm Tá, các nhà văn Phan Trần Trúc, Phạm Lê Bổng và nhiều người đại diện các tờ báo khác như Tam Lang Vũ Ðình Chí (Việt Báo), Lê Văn Thu (Ðông Pháp), Dương Mậu Ngọc (Trung Bắc). Nhiều đồng nghiệp và giới trí thức hỗ trợ một chương trình của tuần báo Ngày Nay từ lúc phát khởi, cho thấy văn hóa Việt Nam thời đó vẫn còn thuần hậu, mọi người đối xử với nhau trong tinh thần tương kính; khác hẳn tình trạng phân hóa, nghi kỵ và thù hằn, đến mức nhỏ nhen, ti tiện, trùm lên xã hội sau khi con người phải sống trong chế độ công an toàn trị nhiều năm.
Trong danh sách những người tham gia và hỗ trợ hội Nhà Ánh Sáng, chúng ta cũng thấy nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau. Có ông bà Hoàng Xuân Hãn, sau này ông làm bộ trưởng giáo dục trong chính phủ Trần Trọng Kim; có Vũ Ðình Huỳnh và Trần Huy Liệu, Vũ Ðình Hòe, sau làm việc với Hồ Chí Minh. Ông Phạm Văn Bính sau này trở thành một bí thư và làm bộ trưởng trong chính phủ Bảo Ðại. Danh sách các ủy viên trong các “ủy ban hành động” của hội còn những nhân vật nổi tiếng như Luật sư Hoàng Cơ Thụy, Nha sĩ Hoàng Cơ Bình (năm 1954 đứng đầu Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt, chống lại việc chia đôi nước Việt Nam), Luật sư Bùi Tường Chiểu, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, một nhà chính trị hoạt động trong các đảng phái quốc gia, huynh trưởng hướng đạo Trần Duy Hưng (sau làm thị trưởng Hà Nội thời Việt Minh), Dược sĩ Thẩm Hoàng Tín (thị trưởng Hà Nội thời Bảo Ðại), Kiến trúc sư Vũ Ðức Diên, sau này cộng tác với chính phủ Ngô Ðình Diệm.
Theo báo cáo của mật thám Pháp thì vào năm 1938, Hội Ánh Sáng có ba ngàn người tham dự ở Bắc Kỳ. Buổi ra mắt công chúng đầu tiên của Hội Ánh Sáng tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, vào 9 giờ tối Thứ Hai, 16 Tháng Tám năm 1937, có tới bốn ngàn người tới dự, mà trong rạp hát chỉ có chỗ cho hai ngàn người, những người khác phải đứng ngoài nghe các bài diễn thuyết qua máy phóng thanh, nhưng họ đứng nghe tới gần nửa đêm mới giải tán. Các buổi “ra mắt” ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh đều đông như vậy, mặc dù không có “văn nghệ giúp vui” trừ một số “Sói Con” trong Hướng Ðạo ra hát những bài ngắn, phần lớn do Thế Lữ soạn lời dựa trên các bài hát phổ thông của Pháp và các điệu nhạc cổ, như điệu Mãi Tạp Hóa, Ngũ Ðiểm Mai.
Các tiểu thuyết luận đề của Tự Lực Văn Ðoàn đã đưa ra chủ trương nâng cao địa vị phụ nữ trong gia đình và xã hội. Hội Ánh Sáng thể hiện chủ trương đó trên một bình diện rộng hơn. Trong buổi ra mắt Hội Ánh Sáng ở Hải Phòng kể trên, bà Nguyễn Thị Phú đã đọc một bài diễn văn nói về hoạt động xã hội ‘đưa đường chị em đến sự giải phóng.” Bà cổ động: “Các bạn nên ra ngoài xã hội, cùng các bạn trai gánh vác lấy công việc chung... Các chị em nghèo kém hiện nay đương chìm đắm trong tối tăm, sẽ được các bạn săn sóc thân yêu đến và gia đình các bạn nghèo đó, trong các thôn trại Ánh Sáng, sau đây sẽ là gia đình thứ hai của các bạn.” Bà Vũ Ngọc Phan viết bài thơ khuyên mọi người gia nhập Hội Ánh Sáng, “Chốn thôn ổ bấy lâu tăm tối - Nghĩ dân quê lắm nỗi lầm than;” với kết luận, “Vậy hỡi ai là bạn đồng tâm - Rủ nhau vào hội cho đông...”
Dù giấy phép hoạt động bị giới hạn ở miền Bắc, dư luận cả nước ủng hộ chương trình Nhà Ánh Sáng. Báo Tràng An ở Huế, báo Ðiện Tín ở Sài Gòn hoan nghênh Hội Ánh Sáng và kêu gọi giới trí thức Nam Kỳ hãy hoạt động như họ. Trên các trang báo Ngày Nay, chúng ta đọc thấy những tin tức về các người đóng góp cho Hội Ánh Sáng. Một độc giả ký “Vô Danh” từ Quy Nhơn gửi hai đồng về giúp quỹ hội. Các học sinh ở Huế và Quy Nhơn góp nhau được vài ba đồng cũng gửi về giúp. Có cả những công nhân người Việt ở Pnom Penh cũng chung tiền đóng góp, dù chỉ có 5 đồng. Hội tổ chức một cuộc đấu quyền lấy tiền làm việc nghĩa, Võ sĩ Mai Thanh Ngọ mang đến tặng hội 5 đồng “để mua gạo phát chẩn cho dân bị lụt.” Con số 5 đồng đó cũng lớn bằng số tiền ông Thống sứ Châtel (Bắc Kỳ) tặng cho hội! Chủ hiệu may Tân Mỹ ở Phố Bờ Hồ xin trích 5% số tiền bán hàng lẻ trong hai tháng để “biếu anh em bị lụt và Hội Ánh Sáng.” Trong số báo 83 (ngày 3 tháng 10, 1937) tờ báo loan tin nhận được 25 đồng của một vị ẩn danh, do “Sư cụ chùa Quán Sứ” đem tới. Nhà hảo tâm này đến chùa nhờ cúng giỗ “làm chay” cho cha mẹ, sư cụ khuyên đem tiền giúp một công cuộc từ thiện, và họ đã chọn Hội Ánh Sáng. Tuần sau, sư cụ lại đưa thêm 50 đồng nữa, cũng do một tín chủ ẩn danh tặng hội, bỏ việc “làm chay” để góp quỹ từ thiện. Một hội thể thao, Tổng Cuộc Vận Ðộng Bắc Kỳ đã tổ chức một ngày thao diễn với các môn bóng rổ, bóng tròn, một nửa số tiền thu được đem cho Ban Từ Thiện Hội Ánh Sáng mua gạo giúp đồng bào bị nạn lụt.
Phong trào Nhà Ánh Sáng không phải chỉ nhắm vào mục đích xây cất nhà rẻ tiền, như viết trong điều lệ của họ, mà còn nuôi những tham vọng lớn hơn. Trong bài diễn thuyết của Nhất Linh ở Hải Phòng, ngày 13 Tháng Giêng năm 1938, ông đã nói đến viễn tượng xây dựng những “thôn Ánh Sáng” để cải thiện toàn thể xã hội nông thôn Việt Nam. Nhất Linh đã đánh thức lương tâm của giới trí thức thành thị khi kêu gọi họ coi việc phục vụ dân nghèo là một trách nhiệm, một bổn phận. Ông nói, “Ta không nên nói việc sắp làm là một việc thi ân cho các bạn nghèo.
Chúng ta phải tự cho rằng hững hờ với họ là một sự không công bằng, là một tội lỗi nữa. Và ngay từ bây giờ đây, ta phải cố sức để chuộc cái lỗi đó với các bạn nghèo kém trong xã hội.” Trong bài nói chuyện trên Nhất Linh vẽ ra triển vọng một thời kỳ “Thay đổi toàn diện xã hội cũ” theo “cảnh đời mẫu trong các thôn trại Ánh Sáng.” Ðến cuối năm 1938, hội đã xây dựng được ba khu nhà ở bãi Phúc Xá, Hà Nội cho các gia đình nghèo thuê với giá rẻ (dưới 2 đồng một tháng); và đang đấu thầu làm khu (lot) thứ tư. Hội cũng lập dự án xây dựng một thôn Ánh Sáng ở Voi Phục, ngoại ô Hà Nội.
Hội Ánh Sáng chỉ là một biểu hiện trong biến chuyển của xã hội Việt Nam vào thập niên 1930, sau các biến cố trong thập niên trước như đám tang Phan Châu Trinh, các cuộc biểu tình khi Phan Bội Châu ra tòa, và cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Dân ở các thành phố bắt đầu thành lập hội đoàn tư nhân. Phong trào Hướng đạo ra đời trong thập niên 1930, lần đầu tiên một đoàn thể thu hút giới trẻ mà trong đó họ có thể “tuyên thệ” một cách công khai là phải “Trung thành với Tổ quốc.” Cũng trong thời gian này, các hội Tăng Già (Shangha) của các tu sĩ Phật giáo cũng như các hội Phật học của giới cư sĩ đã lần lượt ra đời. Tại Nam Kỳ, có các đảng chính trị xuất hiện, hoạt động trong khuôn khổ luật lệ Pháp.
Trong các thập niên 1960, 70 sau này, ở miền Nam có những thanh niên tham dự các phong trào xã hội như Học Ðường Phục Vụ Xã hội, Thanh Niên Chí Nguyện, hoặc Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội của Giáo hội Phật Giáo Thống Nhất, Phong Trào Xây Ðời Mới ở Quận Tám Sài Gòn, vân vân. Các đoàn thể tự nguyện, vô vị lợi trên cũng vẫn theo đuổi công việc phục vụ đồng bào trong các khu lao động và nông thôn; họ cũng nhắm tác động đồng bào theo lối sống mới, giống như chủ trương của Phong trào Nhà Ánh Sáng. Các hội đoàn tư nhân tự nguyện này đã mở rộng các hoạt động, vượt ra ngoài các hoạt động “bác ái” hay “bố thí” của những cơ sở từ thiện Công giáo hay Phật giáo. Họ muốn tác động trên thái độ, ý thức và hành vi của những người yếu kém về kinh tế và bị bỏ quên trong xã hội. Các đoàn thể này cũng chỉ nối tiếp tinh thần dấn thân phục vụ mà các nhà văn trong Tự Lực Văn Ðoàn đưa ra trong thế hệ trước. Các hiệp hội tôn giáo, từ thiện, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, các đoàn hướng đạo, do người dân tự động thành lập, tự nguyện tham gia, trong những năm từ 1964 đến 1975 ở miền Nam cho thấy nền tảng tinh thần cho một xã hội công dân của dân Việt vẫn có sẵn, đã được một nhóm nhà văn gieo mầm ngay từ thập niên 1930. Vì vậy khi nói đến Tự Lực Văn Ðoàn thì chúng ta không thể chỉ chú ý tới sự nghiệp văn chương mà bỏ qua không nhắc tới các nỗ lực đóng góp của họ vào việc phục vụ đồng thời thay đổi nếp sống cả xã hội. Họ là những người đi tiên phong gieo rắc những hạt giống cho xã hội công dân và tinh thần dân chủ trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Những câu hỏi bức thiết
Bùi Tín (Blog VOA)
Bản tuyên bố chung và 10 văn kiện quan trọng ký kết giữa chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang và chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh ngày 21 tháng 6 năm 2013 đang được bàn luận rộng rãi trong nước và ngoài nước.
Trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam, chưa từng có một loạt văn kiện nào có nội dung rộng khắp, bao trùm nhiều lãnh vực quan trọng có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến tương lai của đất nước và dân tộc đến như thế.
Những văn kiện này xác định những phương châm chỉ đạo cho quan hệ hợp tác giữa 2 nước xã hội chủ nghĩa láng giềng do 2 đảng CS lãnh đạo, có truyền thống gắn bó lâu đời, nay cũng chung ý nguyện hợp tác bền chặt lâu dài về mọi mặt - chính trị, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, kinh tế thương mại, giao thông, môi trường, giáo dục, văn hóa, du lịch, hữu nghị nhân dân.
Phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt mà nhân dân ta đã bác bỏ triệt để, coi đó là xiềng xích khống chế của Bắc Kinh, vẫn được nhắc đi nhắc lại một cách vô duyên.
Mối quan hệ giữa 2 đảng CS, 2 nhà nước xã hội chủ nghĩa, 2 chính phủ, 2 quân đội, 2 bộ quốc phòng, 2 bộ ngoại giao, 2 ban tuyên giáo, 2 ban đối ngoại trung ương, 2 ban lý luận của 2 đảng cũng được xác định một cách chi tiết.
Mối quan hệ hợp tác giữa 7 tỉnh biên giới Việt Nam: Ðiện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, với 4 tỉnh biên giới Trung Quốc: Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Ðông, Hải Nam - cùng với việc hợp tác trong lĩnh vực đánh cá biển giữa 2 nước - cũng được xác định rõ. Hoạt động khai thác chung về du lịch thác Bản Giốc cũng được ghi nhận.
Hai bên cũng tuyên bố thỏa thuận cùng nhau tiến hành việc thăm dò dầu khí trong Vịnh Bắc Bộ. Hai bên còn cam kết ủng hộ lẫn nhau trong các tổ chức quốc tế đa phương, từ Liên Hiệp Quốc, Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, Tổ Chức Hợp Tác Kinh Tế Châu Á-Thái Bình Dương, Hợp tác Á-Âu, Asean...
Phía Trung Quốc cũng hứa hẹn yểm trợ và cung cấp tín dụng cho một số công trình công nghiệp, hóa chất, năng lượng ở Việt Nam và tăng nhanh khối lượng trao đổi ngoại thương giữa 2 nước.
Bản tuyên bố chung và 10 văn kiện nêu trên đang đặt ra cho những người Việt Nam yêu nước hàng loạt câu hỏi bức thiết.
- Tại sao bản tuyên bố chung và 10 văn kiện có ý nghĩa trọng đại lâu dài như một hiệp ước lịch sử đã được ký kết chóng vánh, hầu như không có thảo luận, tranh luận? Có phải ông Trương Tấn Sang bị Bắc Kinh gọi sang để bắt buộc phải ký vào các văn kiện đã được một phía thảo sẵn? Bọn trùm bành trướng đã dùng những áp lực gì? Mua bằng tiền? Ðe dọa bằng bộ máy an ninh, tình báo?
- Bộ Chính Trị và ban chấp hành trung ương đảng có biết gì trước chuyện này hay không?
Có ủy nhiệm chính thức cho ông Trương Tấn Sang thay mặt cho phía Việt Nam hạ bút ký một loạt hàng chục văn kiện ghi nhận sự hợp tác chặt chẽ trên 13 lĩnh vực của quốc gia như vậy hay không?
- Tại sao trong các văn kiện không hề nói đến chủ quyền của nước ta trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bị chiếm bằng vũ lực, các vùng đất bị lấn chiếm như ở thác Bản Giốc, vùng Thất Sơn (Hà Giang), vụ bản đồ lưỡi bò bất hợp pháp, những vụ ngăn cản, bắt bớ, sát hại ngư dân ta trong vùng biển quốc gia....?
- Các văn kiện một chiều như thế có tầm quan trọng như một hiệp ước lớn, không được thông báo cho Quốc Hội, không được Quốc Hội thảo luận và thông qua, có được coi là những văn kiện hợp hiến và hợp pháp hay không? Ðó phải chăng là một loạt xiềng xích mới choàng vào cổ nhân dân ta mà nhóm lãnh đạo CS đã cam chịu chấp nhận để được hưởng những đặc quyền đặc lợi phi pháp?
Nhân có sự kiện hệ trọng trên đây, một số vấn đề quan trọng khác nữa rất nên được đặt ra để tìm hiểu cho sáng tỏ.
Phải chăng cứ mỗi lần bị quan thầy mắng mỏ, bè lũ tay sai lại quay sang trừng phạt, đàn áp anh chị em ta dám đứng dậy chống bành trướng xâm lược để xoa dịu cơn giận dữ của quan thấy của họ? Luật Sư Cù Huy Hà Vũ bị án tù nặng chỉ vì ông vạch mặt chỉ tên bọn bành trướng TQ mang tai họa khai thác bauxite tròng vào cổ dân ta và dám phát đơn kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hành động qua mặt của Quốc Hội. Nữ sinh Nguyễn Phương Uyên bị tù và bị công an hành hung chỉ vì cô viết bằng máu mình lên án bọn Tàu khựa, cô bị trả thù để xoa dịu sự nổi giận của Bắc Kinh. Lẽ ra khi tổ quốc lâm nguy, những con người yêu nước cần được quý trọng, thì trái lại ở nước ta họ lại bị đàn áp tàn bạo nhất. Ðây là một sự nhẫn tâm có tính chất phản phúc, vô đạo, phi pháp, toàn xã hội cần biểu thị thái độ lên án mạnh mẽ và đòi tự do ngay lập tức cho các chiến sĩ yêu nước.
Vừa qua do có quá nhiều diễn biến thời sự nóng bỏng lôi cuốn sự chú ý của mọi người - như cuộc tuyệt thực dài hạn của Luật Sư Cù Huy Hà Vũ trong tù, việc bắt bớ các blogger Trương Duy Nhất, Phạm Viết Ðào và Từ Anh Tú, việc chuẩn bị xét xử ông Lê Quốc Quân, chuyến đi thăm Indonesia của ông Trương Tấn Sang - nên sự phản bội kinh khủng này của Bộ Chính Trị chưa được đánh giá kịp thời và đúng mức. Với nội dung rộng lớn, bản tuyên bố chung và các văn kiện liên hệ nghiêm trọng gấp trăm lần bức thư của Phạm Văn Ðồng công nhận lãnh hải phi pháp của Trung Quốc hơn nửa thế kỷ trước.
Một tuyên bố của trí thức và công dân yêu nước, cùng với đông đảo sĩ quan và binh sĩ của lực lượng quân đội, công an cũng như của tập thể các cựu chiến binh, cùng lao động, nông dân cả nước rất nên xuất hiện để tố cáo sự câu kết rộng lớn giữa kẻ bành trướng và bọn chư hầu cũng như nêu rõ tính chất vô giá trị của 13 nội dung hợp tác và 10 văn kiện ký kết ngày 21 tháng 6, 2013 vừa qua.
Ðây là việc cấp bách nhất hiện nay, khi nhóm lãnh đạo trong nước ta đang lúng túng vì bị chia rẽ sâu sắc trong nội bộ và bế tắc trong việc sửa đổi Hiến pháp, cũng như bế tắc trong việc sửa đổi Luật Ðất đai.
Bùi Tín (Blog VOA)
Bản tuyên bố chung và 10 văn kiện quan trọng ký kết giữa chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang và chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh ngày 21 tháng 6 năm 2013 đang được bàn luận rộng rãi trong nước và ngoài nước.
Trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam, chưa từng có một loạt văn kiện nào có nội dung rộng khắp, bao trùm nhiều lãnh vực quan trọng có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến tương lai của đất nước và dân tộc đến như thế.
Những văn kiện này xác định những phương châm chỉ đạo cho quan hệ hợp tác giữa 2 nước xã hội chủ nghĩa láng giềng do 2 đảng CS lãnh đạo, có truyền thống gắn bó lâu đời, nay cũng chung ý nguyện hợp tác bền chặt lâu dài về mọi mặt - chính trị, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, kinh tế thương mại, giao thông, môi trường, giáo dục, văn hóa, du lịch, hữu nghị nhân dân.
Phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt mà nhân dân ta đã bác bỏ triệt để, coi đó là xiềng xích khống chế của Bắc Kinh, vẫn được nhắc đi nhắc lại một cách vô duyên.
Mối quan hệ giữa 2 đảng CS, 2 nhà nước xã hội chủ nghĩa, 2 chính phủ, 2 quân đội, 2 bộ quốc phòng, 2 bộ ngoại giao, 2 ban tuyên giáo, 2 ban đối ngoại trung ương, 2 ban lý luận của 2 đảng cũng được xác định một cách chi tiết.
Mối quan hệ hợp tác giữa 7 tỉnh biên giới Việt Nam: Ðiện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, với 4 tỉnh biên giới Trung Quốc: Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Ðông, Hải Nam - cùng với việc hợp tác trong lĩnh vực đánh cá biển giữa 2 nước - cũng được xác định rõ. Hoạt động khai thác chung về du lịch thác Bản Giốc cũng được ghi nhận.
Hai bên cũng tuyên bố thỏa thuận cùng nhau tiến hành việc thăm dò dầu khí trong Vịnh Bắc Bộ. Hai bên còn cam kết ủng hộ lẫn nhau trong các tổ chức quốc tế đa phương, từ Liên Hiệp Quốc, Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, Tổ Chức Hợp Tác Kinh Tế Châu Á-Thái Bình Dương, Hợp tác Á-Âu, Asean...
Phía Trung Quốc cũng hứa hẹn yểm trợ và cung cấp tín dụng cho một số công trình công nghiệp, hóa chất, năng lượng ở Việt Nam và tăng nhanh khối lượng trao đổi ngoại thương giữa 2 nước.
Bản tuyên bố chung và 10 văn kiện nêu trên đang đặt ra cho những người Việt Nam yêu nước hàng loạt câu hỏi bức thiết.
- Tại sao bản tuyên bố chung và 10 văn kiện có ý nghĩa trọng đại lâu dài như một hiệp ước lịch sử đã được ký kết chóng vánh, hầu như không có thảo luận, tranh luận? Có phải ông Trương Tấn Sang bị Bắc Kinh gọi sang để bắt buộc phải ký vào các văn kiện đã được một phía thảo sẵn? Bọn trùm bành trướng đã dùng những áp lực gì? Mua bằng tiền? Ðe dọa bằng bộ máy an ninh, tình báo?
- Bộ Chính Trị và ban chấp hành trung ương đảng có biết gì trước chuyện này hay không?
Có ủy nhiệm chính thức cho ông Trương Tấn Sang thay mặt cho phía Việt Nam hạ bút ký một loạt hàng chục văn kiện ghi nhận sự hợp tác chặt chẽ trên 13 lĩnh vực của quốc gia như vậy hay không?
- Tại sao trong các văn kiện không hề nói đến chủ quyền của nước ta trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bị chiếm bằng vũ lực, các vùng đất bị lấn chiếm như ở thác Bản Giốc, vùng Thất Sơn (Hà Giang), vụ bản đồ lưỡi bò bất hợp pháp, những vụ ngăn cản, bắt bớ, sát hại ngư dân ta trong vùng biển quốc gia....?
- Các văn kiện một chiều như thế có tầm quan trọng như một hiệp ước lớn, không được thông báo cho Quốc Hội, không được Quốc Hội thảo luận và thông qua, có được coi là những văn kiện hợp hiến và hợp pháp hay không? Ðó phải chăng là một loạt xiềng xích mới choàng vào cổ nhân dân ta mà nhóm lãnh đạo CS đã cam chịu chấp nhận để được hưởng những đặc quyền đặc lợi phi pháp?
Nhân có sự kiện hệ trọng trên đây, một số vấn đề quan trọng khác nữa rất nên được đặt ra để tìm hiểu cho sáng tỏ.
Phải chăng cứ mỗi lần bị quan thầy mắng mỏ, bè lũ tay sai lại quay sang trừng phạt, đàn áp anh chị em ta dám đứng dậy chống bành trướng xâm lược để xoa dịu cơn giận dữ của quan thấy của họ? Luật Sư Cù Huy Hà Vũ bị án tù nặng chỉ vì ông vạch mặt chỉ tên bọn bành trướng TQ mang tai họa khai thác bauxite tròng vào cổ dân ta và dám phát đơn kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hành động qua mặt của Quốc Hội. Nữ sinh Nguyễn Phương Uyên bị tù và bị công an hành hung chỉ vì cô viết bằng máu mình lên án bọn Tàu khựa, cô bị trả thù để xoa dịu sự nổi giận của Bắc Kinh. Lẽ ra khi tổ quốc lâm nguy, những con người yêu nước cần được quý trọng, thì trái lại ở nước ta họ lại bị đàn áp tàn bạo nhất. Ðây là một sự nhẫn tâm có tính chất phản phúc, vô đạo, phi pháp, toàn xã hội cần biểu thị thái độ lên án mạnh mẽ và đòi tự do ngay lập tức cho các chiến sĩ yêu nước.
Vừa qua do có quá nhiều diễn biến thời sự nóng bỏng lôi cuốn sự chú ý của mọi người - như cuộc tuyệt thực dài hạn của Luật Sư Cù Huy Hà Vũ trong tù, việc bắt bớ các blogger Trương Duy Nhất, Phạm Viết Ðào và Từ Anh Tú, việc chuẩn bị xét xử ông Lê Quốc Quân, chuyến đi thăm Indonesia của ông Trương Tấn Sang - nên sự phản bội kinh khủng này của Bộ Chính Trị chưa được đánh giá kịp thời và đúng mức. Với nội dung rộng lớn, bản tuyên bố chung và các văn kiện liên hệ nghiêm trọng gấp trăm lần bức thư của Phạm Văn Ðồng công nhận lãnh hải phi pháp của Trung Quốc hơn nửa thế kỷ trước.
Một tuyên bố của trí thức và công dân yêu nước, cùng với đông đảo sĩ quan và binh sĩ của lực lượng quân đội, công an cũng như của tập thể các cựu chiến binh, cùng lao động, nông dân cả nước rất nên xuất hiện để tố cáo sự câu kết rộng lớn giữa kẻ bành trướng và bọn chư hầu cũng như nêu rõ tính chất vô giá trị của 13 nội dung hợp tác và 10 văn kiện ký kết ngày 21 tháng 6, 2013 vừa qua.
Ðây là việc cấp bách nhất hiện nay, khi nhóm lãnh đạo trong nước ta đang lúng túng vì bị chia rẽ sâu sắc trong nội bộ và bế tắc trong việc sửa đổi Hiến pháp, cũng như bế tắc trong việc sửa đổi Luật Ðất đai.
Vài nét văn hóa thời thức tỉnh
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Cuộc dấn thân cứu nước, bảo vệ lãnh thổ bất khả xâm phạm của tổ quốc chống họa bành trướng,
chống chế độ độc đoán giành lại quyền sống tự do của toàn dân đang mở rộng dần.
Một nền văn hóa dân tộc - dân chủ đang nảy nở, vừa là kết quả, vừa là động lực của cuộc sống mới.

Biểu tình tại Hà Nội phản đối Trung Quốc xâm lược. (Hình minh họa: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)
Ðã có những bài hát cổ vũ cuộc đấu tranh giành quyền công dân, đã có những bài thơ hừng hực khí thế chống bành trướng, chống độc đoán, đã có những châm ngôn mới, những luận văn lôi cuốn và đầy tính thuyết phục.
Xin kể ra đây một vài thí dụ để trao đổi và thưởng ngoạn với đông đảo bạn đọc.
Nhà văn Võ Thị Hảo từng nhận định rất chính xác: “Bộ máy tham nhũng và mafia quyền lực đang lũng đoạn trên mọi lãnh vực. Những kẻ cướp ngày đầy quyền lực đang lộng hành và không bị ngăn chặn, trừng trị. Tự do ngôn luận, tự do báo chí bị ngăn trở nghiêm trọng. Dân mất ý chí phản kháng và tự vệ, vì quá mệt mỏi và bị vô hiệu hóa, ru ngủ”.
Nghệ sĩ ưu tú Kim Chi, sau khi từ chối mọi phần thưởng, khen ngợi từ Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã làm những câu thơ cảm thán “Hỏi Trời”:
Nhiều người giàu có ngất trời
Nhiều người chưa được đổi đời là bao
Hỏi trời, trời ở quá cao
Hỏi đất, đất bị bới đào tứ tung
Có ai thấu cảnh này không?
Ai gây muôn sự hãi hùng cho dân?
Sông hồ cạn kiệt chết dần
Ruộng đồng san lấp nhà tầng mọc lên
Sân gôn giăng khắp mọi miền
Dành cho những kẻ nhiều tiền khoe sang
Dân quê gạt lệ rời làng
Mất nghề ngày tháng lang thang phố phường
Ðói ăn đâu thể đến trường
Ðó đây bao cảnh nhiễu nhương cướp ngày
Mọt sâu kết lại thành bầy
Trời ơi, người bị đọa đầy mãi sao?!
Nhà thơ Bùi Chí Vịnh phẫn nộ ra “Tuyên ngôn của một người làm thơ - cựu chiến binh”:
Quý vị cứ chà đạp lên quyền làm người xuất sắc
Cứ hung hăng như Khadafi trước khi rúc vô ống cống đê hèn
Quý vị cứ việc xem dân nghèo như rơm như rác
Những lúc đường cùng, đừng năn nỉ tôi nghen!
Quý vị cứ việc rửa tiền qua ngân hàng Thụy Sĩ cực êm
Cứ tậu nhà dưỡng lão ở Bắc Kinh, sắm điền trang ở Mỹ
Quý vị cứ thăng thiên cùng giá điện, giá xăng
Bất chấp thôn nữ thiếu ăn phải bán thân làm đ...
Quý vị phải làm như thế mới là quý vị
Vô cảm, vô lương, vô đạo đức, vô thần
Tôi, rách rưới như một thằng thi sĩ
Nhưng hiểu thế nào là sức mạnh nhân dân.
Cũng nên nhắc lại vài câu thơ kêu gọi sự thức tỉnh của nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên:
Bao thế hệ xiết rên trong gọng kìm nô lệ
Chuyên chế dã man đục ruỗng chí con người
Cha tôi, ông tôi bao thế hệ bị ngủ vùi
Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Không bóng mặt trời, bóng tối chí tôn
Lũ quỷ ám thừa cơ toàn trị.
... Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Cũng chưa thấy ngày mai nào không thể
Vì người ta cần ánh mặt trời
Tỉnh dậy đi, lũ chúng ta ơi!
Lại có những câu thơ đơn giản, dân dã, vô danh như những câu vè, hóm hỉnh dễ nhớ, cảnh cáo nghiêm khắc nhà cầm quyền mù quáng, ỷ vào các công cụ đàn áp trơ trẽn:
Ðừng tưởng! Ðừng tưởng cứ bịt là yên, cứ xử là án, cứ xiềng là giam!
Ðừng tưởng cứ lặng là câm, cứ quan là cọp, cứ dân là cừu!
Ðừng tưởng cứ cưỡi là trên, cứ phi là ngựa, cứ gâu là cầy!
Ðừng tưởng cứ hát là hay, cứ ngon là bổ, cứ chay là thiền...
Ðừng tưởng cứ chổng là mông, cứ trợn là mắt, cứ phùng là mang!
Ðừng tưởng cứ đốn là quang, cứ che là kín, cứ xong là rồi!
Ðừng tưởng cứ ưỡn là oai, cứ cùn là thắng, cứ quay là tròn!
Ðừng tưởng cứ lỏi là khôn, cứ tham là bạo, cứ công là quyền!
Thế thời nhộn nhạo đảo điên, lụt bàn thờ chó leo lên pháp đình,
Ðừng mơ sấp mặt làm càn
Giờ G - bạo chúa ngày tàn đã “boong!”
Các bạn trẻ trong nước cho biết đã sáng tạo lời mới cho bài hát “Diệt Phát Xít” của Nguyễn Ðình Thi thành bài “Diệt Bán Nước”, chỉ thay có hơn mười từ (ở trong ngoặc), như sau:
Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than
Dưới ách quân tham tàn (đế quốc sài lang) bán nước hại dân
Loài (phát xít) bán nước, chúng cướp (nước) đất, cướp đời sống dân mình
Nào nhà tù nào trại giam, biết bao nhiêu nhục hình.
Ðồng bào (tuốt gươm) quyết tâm vùng lên
Ðã đến ngày trả mối thù chung
Diệt (phát xít) bán nước, diệt bày chó đê hèn của chúng
Tiến lên nền dân chủ cộng hòa, dành lại áo cơm tự do.
Dưới (bóng cờ đỏ ánh vàng sao) ánh cờ con cháu Rồng Tiên
Vai kề vai, không phân già trẻ trai hay gái
Quyết tiến lên, ta tiến lên quyết diệt quân thù
Việt Nam, Việt Nam, ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm!
Việt Nam, Việt Nam muôn năm!
Sẽ rất thú vị khi kết thúc bài này bằng 4 câu thơ của nhà thơ trẻ Mạc Thúy Hồng sớm dấn thân cho công cuộc dân chủ hóa của đất nước:
Ðứng dậy đi! Không còn gì để lựa
Ðạp xích xiềng cho lửa bốc con tim
Ðường tự do chúng ta phải tự tìm
Và dân chủ, nỗi niềm dân mong ước.
Qua một vài mẩu văn-thơ-nhạc vừa nêu, quả thật chúng ta đang chứng kiến một quá trình thức tỉnh của nhân dân, ngày càng nhận rõ cần phải giúp nhau đẩy lùi nỗi sợ cường quyền đàn áp dai dẳng, cùng nhau đứng dậy làm chủ vận mệnh dân tộc.
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Cuộc dấn thân cứu nước, bảo vệ lãnh thổ bất khả xâm phạm của tổ quốc chống họa bành trướng,
chống chế độ độc đoán giành lại quyền sống tự do của toàn dân đang mở rộng dần.
Một nền văn hóa dân tộc - dân chủ đang nảy nở, vừa là kết quả, vừa là động lực của cuộc sống mới.

Biểu tình tại Hà Nội phản đối Trung Quốc xâm lược. (Hình minh họa: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)
Ðã có những bài hát cổ vũ cuộc đấu tranh giành quyền công dân, đã có những bài thơ hừng hực khí thế chống bành trướng, chống độc đoán, đã có những châm ngôn mới, những luận văn lôi cuốn và đầy tính thuyết phục.
Xin kể ra đây một vài thí dụ để trao đổi và thưởng ngoạn với đông đảo bạn đọc.
Nhà văn Võ Thị Hảo từng nhận định rất chính xác: “Bộ máy tham nhũng và mafia quyền lực đang lũng đoạn trên mọi lãnh vực. Những kẻ cướp ngày đầy quyền lực đang lộng hành và không bị ngăn chặn, trừng trị. Tự do ngôn luận, tự do báo chí bị ngăn trở nghiêm trọng. Dân mất ý chí phản kháng và tự vệ, vì quá mệt mỏi và bị vô hiệu hóa, ru ngủ”.
Nghệ sĩ ưu tú Kim Chi, sau khi từ chối mọi phần thưởng, khen ngợi từ Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã làm những câu thơ cảm thán “Hỏi Trời”:
Nhiều người giàu có ngất trời
Nhiều người chưa được đổi đời là bao
Hỏi trời, trời ở quá cao
Hỏi đất, đất bị bới đào tứ tung
Có ai thấu cảnh này không?
Ai gây muôn sự hãi hùng cho dân?
Sông hồ cạn kiệt chết dần
Ruộng đồng san lấp nhà tầng mọc lên
Sân gôn giăng khắp mọi miền
Dành cho những kẻ nhiều tiền khoe sang
Dân quê gạt lệ rời làng
Mất nghề ngày tháng lang thang phố phường
Ðói ăn đâu thể đến trường
Ðó đây bao cảnh nhiễu nhương cướp ngày
Mọt sâu kết lại thành bầy
Trời ơi, người bị đọa đầy mãi sao?!
Nhà thơ Bùi Chí Vịnh phẫn nộ ra “Tuyên ngôn của một người làm thơ - cựu chiến binh”:
Quý vị cứ chà đạp lên quyền làm người xuất sắc
Cứ hung hăng như Khadafi trước khi rúc vô ống cống đê hèn
Quý vị cứ việc xem dân nghèo như rơm như rác
Những lúc đường cùng, đừng năn nỉ tôi nghen!
Quý vị cứ việc rửa tiền qua ngân hàng Thụy Sĩ cực êm
Cứ tậu nhà dưỡng lão ở Bắc Kinh, sắm điền trang ở Mỹ
Quý vị cứ thăng thiên cùng giá điện, giá xăng
Bất chấp thôn nữ thiếu ăn phải bán thân làm đ...
Quý vị phải làm như thế mới là quý vị
Vô cảm, vô lương, vô đạo đức, vô thần
Tôi, rách rưới như một thằng thi sĩ
Nhưng hiểu thế nào là sức mạnh nhân dân.
Cũng nên nhắc lại vài câu thơ kêu gọi sự thức tỉnh của nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên:
Bao thế hệ xiết rên trong gọng kìm nô lệ
Chuyên chế dã man đục ruỗng chí con người
Cha tôi, ông tôi bao thế hệ bị ngủ vùi
Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Không bóng mặt trời, bóng tối chí tôn
Lũ quỷ ám thừa cơ toàn trị.
... Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Cũng chưa thấy ngày mai nào không thể
Vì người ta cần ánh mặt trời
Tỉnh dậy đi, lũ chúng ta ơi!
Lại có những câu thơ đơn giản, dân dã, vô danh như những câu vè, hóm hỉnh dễ nhớ, cảnh cáo nghiêm khắc nhà cầm quyền mù quáng, ỷ vào các công cụ đàn áp trơ trẽn:
Ðừng tưởng! Ðừng tưởng cứ bịt là yên, cứ xử là án, cứ xiềng là giam!
Ðừng tưởng cứ lặng là câm, cứ quan là cọp, cứ dân là cừu!
Ðừng tưởng cứ cưỡi là trên, cứ phi là ngựa, cứ gâu là cầy!
Ðừng tưởng cứ hát là hay, cứ ngon là bổ, cứ chay là thiền...
Ðừng tưởng cứ chổng là mông, cứ trợn là mắt, cứ phùng là mang!
Ðừng tưởng cứ đốn là quang, cứ che là kín, cứ xong là rồi!
Ðừng tưởng cứ ưỡn là oai, cứ cùn là thắng, cứ quay là tròn!
Ðừng tưởng cứ lỏi là khôn, cứ tham là bạo, cứ công là quyền!
Thế thời nhộn nhạo đảo điên, lụt bàn thờ chó leo lên pháp đình,
Ðừng mơ sấp mặt làm càn
Giờ G - bạo chúa ngày tàn đã “boong!”
Các bạn trẻ trong nước cho biết đã sáng tạo lời mới cho bài hát “Diệt Phát Xít” của Nguyễn Ðình Thi thành bài “Diệt Bán Nước”, chỉ thay có hơn mười từ (ở trong ngoặc), như sau:
Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than
Dưới ách quân tham tàn (đế quốc sài lang) bán nước hại dân
Loài (phát xít) bán nước, chúng cướp (nước) đất, cướp đời sống dân mình
Nào nhà tù nào trại giam, biết bao nhiêu nhục hình.
Ðồng bào (tuốt gươm) quyết tâm vùng lên
Ðã đến ngày trả mối thù chung
Diệt (phát xít) bán nước, diệt bày chó đê hèn của chúng
Tiến lên nền dân chủ cộng hòa, dành lại áo cơm tự do.
Dưới (bóng cờ đỏ ánh vàng sao) ánh cờ con cháu Rồng Tiên
Vai kề vai, không phân già trẻ trai hay gái
Quyết tiến lên, ta tiến lên quyết diệt quân thù
Việt Nam, Việt Nam, ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm!
Việt Nam, Việt Nam muôn năm!
Sẽ rất thú vị khi kết thúc bài này bằng 4 câu thơ của nhà thơ trẻ Mạc Thúy Hồng sớm dấn thân cho công cuộc dân chủ hóa của đất nước:
Ðứng dậy đi! Không còn gì để lựa
Ðạp xích xiềng cho lửa bốc con tim
Ðường tự do chúng ta phải tự tìm
Và dân chủ, nỗi niềm dân mong ước.
Qua một vài mẩu văn-thơ-nhạc vừa nêu, quả thật chúng ta đang chứng kiến một quá trình thức tỉnh của nhân dân, ngày càng nhận rõ cần phải giúp nhau đẩy lùi nỗi sợ cường quyền đàn áp dai dẳng, cùng nhau đứng dậy làm chủ vận mệnh dân tộc.
Phó tổng thống Mỹ quảng bá chính sách 'Tái cân bằng' với châu Á

Phó tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden Trong bài diễn văn về chính sách đọc tại Center for American Progress ở Washington hôm thứ Năm, Phó tổng thống Mỹ Joe Biden nói rằng chính phủ của Tổng thống Obama đang cố gắng tạo mối quan hệ đối tác gần gũi hơn với các nước ven Thái Bình Dương, trong đó có những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.
Bài diễn văn được đọc trước khi ông lên đường vào thứ Sáu đến Ấn Độ, quốc gia mà ông nói ngày càng có tăng trưởng kinh tế và có mặt trên khắp châu Á:
“Một trong những lý do tại sao Tổng thống Obama gọi quan hệ giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ là - tôi xin trích - 'một cuộc hợp tác sẽ định hình cho thế kỷ tới,' đó là vì Ấn Độ ngày càng nhắm về hướng đông, xem đó là một lực lượng cho an ninh và tăng trưởng tại Đông Nam Á và xa hơn nữa. Đối với nước Mỹ chúng ta, đó là một tin đáng hoan nghênh.
Sau khi ghé hai thành phố Ấn Độ New Delhi và Mumbai, ông Biden sẽ đến Singapore, quốc gia mà ông nói cũng là một lực kinh tế phát triển tại châu Á:
“Đầu tư của Mỹ tại Đông Nam Á nhiều hơn Trung Quốc. Các nước Đông Nam Á như Singapore hoặc Indonesia đã trở thành những đối tác quan trọng qua mọi lĩnh vực, từ chống lan tràn vũ khí đến chống sao chép bất hợp pháp. Đó là lý do tại sao tôi đến Singapore.”
Ông Biden còn nói rằng Hoa Kỳ muốn giúp các nước châu Á thúc đẩy tăng trưởng bằng cách nâng cao chuẩn mực, giảm bớt rào cản và bảo vệ tài sản trí tuệ. Ông nói:
“Tăng trưởng kinh tế rất cần đến hòa bình và ổn định. Vì thế cần phải có những quy luật hành xử của thế kỷ 21, chẳng những áp dụng cho kinh tế mà còn cho an ninh.”
Chính phủ Mỹ đang nới rộng quan hệ với các đồng minh châu Á, ví dụ như tăng cường sự hiện diện quân sự, dù làm như vậy khiến Trung Quốc quan tâm.
Tuy nhiên, ông Biden nói rằng chính phủ Obama không xem quan hệ với Trung Quốc là một quan hệ có xung đột không thể tránh khỏi, mà là một quan hệ có cạnh tranh và hợp tác.
Ông cũng trấn an các nước châu Âu rằng việc Hoa Kỳ nghiêng về châu Á không có nghĩa là sẽ lơ là hoặc làm thiệt thòi quyền lợi của châu Âu, bởi vì quan hệ với châu Âu là “nền tảng” của sự giao tiếp của Hoa Kỳ với phần còn lại của thế giới.
Liên quan đến Bắc Triều Tiên, Phó tổng thống Mỹ gọi chương trình hạt nhân của nước này là “mối nguy rõ rệt và thực sự” cho sự ổn định của châu Á, nhưng Hoa Kỳ sẵn sàng đàm phán với Bắc Triều Tiên, miễn là nước này sẵn sàng đàm phán “thực sự.”
Ông nói rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục với tới khắp Thái Bình Dương bởi vì về cơ bản, sự thành công của châu Á gắn liền với sự thành công của Hoa Kỳ.

Phó tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden Trong bài diễn văn về chính sách đọc tại Center for American Progress ở Washington hôm thứ Năm, Phó tổng thống Mỹ Joe Biden nói rằng chính phủ của Tổng thống Obama đang cố gắng tạo mối quan hệ đối tác gần gũi hơn với các nước ven Thái Bình Dương, trong đó có những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.
Bài diễn văn được đọc trước khi ông lên đường vào thứ Sáu đến Ấn Độ, quốc gia mà ông nói ngày càng có tăng trưởng kinh tế và có mặt trên khắp châu Á:
“Một trong những lý do tại sao Tổng thống Obama gọi quan hệ giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ là - tôi xin trích - 'một cuộc hợp tác sẽ định hình cho thế kỷ tới,' đó là vì Ấn Độ ngày càng nhắm về hướng đông, xem đó là một lực lượng cho an ninh và tăng trưởng tại Đông Nam Á và xa hơn nữa. Đối với nước Mỹ chúng ta, đó là một tin đáng hoan nghênh.
Sau khi ghé hai thành phố Ấn Độ New Delhi và Mumbai, ông Biden sẽ đến Singapore, quốc gia mà ông nói cũng là một lực kinh tế phát triển tại châu Á:
“Đầu tư của Mỹ tại Đông Nam Á nhiều hơn Trung Quốc. Các nước Đông Nam Á như Singapore hoặc Indonesia đã trở thành những đối tác quan trọng qua mọi lĩnh vực, từ chống lan tràn vũ khí đến chống sao chép bất hợp pháp. Đó là lý do tại sao tôi đến Singapore.”
Ông Biden còn nói rằng Hoa Kỳ muốn giúp các nước châu Á thúc đẩy tăng trưởng bằng cách nâng cao chuẩn mực, giảm bớt rào cản và bảo vệ tài sản trí tuệ. Ông nói:
“Tăng trưởng kinh tế rất cần đến hòa bình và ổn định. Vì thế cần phải có những quy luật hành xử của thế kỷ 21, chẳng những áp dụng cho kinh tế mà còn cho an ninh.”
Chính phủ Mỹ đang nới rộng quan hệ với các đồng minh châu Á, ví dụ như tăng cường sự hiện diện quân sự, dù làm như vậy khiến Trung Quốc quan tâm.
Tuy nhiên, ông Biden nói rằng chính phủ Obama không xem quan hệ với Trung Quốc là một quan hệ có xung đột không thể tránh khỏi, mà là một quan hệ có cạnh tranh và hợp tác.
Ông cũng trấn an các nước châu Âu rằng việc Hoa Kỳ nghiêng về châu Á không có nghĩa là sẽ lơ là hoặc làm thiệt thòi quyền lợi của châu Âu, bởi vì quan hệ với châu Âu là “nền tảng” của sự giao tiếp của Hoa Kỳ với phần còn lại của thế giới.
Liên quan đến Bắc Triều Tiên, Phó tổng thống Mỹ gọi chương trình hạt nhân của nước này là “mối nguy rõ rệt và thực sự” cho sự ổn định của châu Á, nhưng Hoa Kỳ sẵn sàng đàm phán với Bắc Triều Tiên, miễn là nước này sẵn sàng đàm phán “thực sự.”
Ông nói rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục với tới khắp Thái Bình Dương bởi vì về cơ bản, sự thành công của châu Á gắn liền với sự thành công của Hoa Kỳ.
PHONG TRÀO CON ĐƯỜNG VIỆT NAM
Tuyên bố về trường hợp tuyệt thực của ông Nguyễn Văn Hải
Theo tin từ thân nhân ông Nguyễn Văn Hải tự là Điếu Cày, người tù lương tâm hiện đang thọ án tù 12 năm vì tội “tuyên truyền chống nhà nước” cho biết: ông Nguyễn Văn Hải đã tuyệt thực từ ngày 23/06/2013 tại Trại 6, xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An để phản đối hành động ngược đãi của các cán bộ quản lý trại giam ở đây.
Cuộc tuyệt thực này là một phản ứng nữa của ông Nguyễn Văn Hải. Trong tháng hai năm 2011 tại trại giam B34 Cục An Ninh Điều Tra Bộ Công An ông đã tuyệt thực 28 ngày để phản đối việc trại giam không cung cấp giấy bút cho mình viết đơn kháng án. Kể từ khi bị giam cầm từ 2008 đến nay, ông Nguyễn Văn Hải đã luôn luôn là đối tượng bị ngược đãi, biệt giam, hạn chế thăm gặp, chuyển trại ... từng là nạn nhân của những hành động trái pháp luật, lợi dụng chức vụ quyền hạn xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tù nhân và thân nhân đi thăm nuôi của các cán bộ quản lý trại giam từ phân trại K3 trại Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến nơi giam giữ hiện nay tại Trại 6, xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Những sai phạm này trực tiếp gây tổn hại đến tinh thần và sức khỏe của ông Nguyễn Văn Hải, người bị cưỡng bức thi hành án, gây khó khăn cho thân nhân thăm nuôi chăm sóc ông và và xói mòn niềm tin vào luật pháp.
Trước tình hình này, vì an toàn sức khỏe, Phong trào CĐVN khẩn thiết đề nghị ông Nguyễn Văn Hải sớm kết thúc cuộc tuyệt thực để bảo vệ sinh mạng mình.
Về các cơ quan trách nhiệm, như đã tuyên bố về trường hợp tuyệt thực của ông Cù Huy Hà Vũ, phong trào CĐVN tiếp tục cực lực phản đối hành vi ngược đãi tù nhân của bộ công An, ngành quản lý trại giam. Đồng thời, chúng tôi kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam nhanh chóng chấn chỉnh hoạt động tư pháp, quản lý trại giam để bảo đảm quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước đoạt tự do, quy định theo Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR).
Cụ thể là:
1. Đề nghị cho thẩm tra xử lý kỷ luật các cán bộ vi phạm ngược đãi tù nhân.
2. Yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, phục hồi quyền lợi và chính sách chính đáng được pháp luật quy định của ông Nguyễn Văn Hải cũng như thân nhân.
3. Thực hiện đúng chế độ giam giữ theo Luật Thi hành án Hình sự và các văn bản (Thông tư; Nghị định) bổ sung liên quan.
Phong trào CĐVN cũng kêu gọi các tổ chức truyền thông, bảo vệ quyền con người trong và ngoài nước nhanh chóng thông báo trường hợp tuyệt thực của ông Nguyễn Văn Hải, vận động kêu gọi cho sự tôn trọng quyền con người ở Việt Nam, đặc biệt đối với các tù nhân lương tâm trong các trại giam.
Ngày 18 tháng 7 năm 2013,
TM. Phong trào Con Đường Việt Nam
Lê Quốc Tuấn
VIETNAM PATH MOVEMENT
Announcement regarding Mr. Nguyen Van Hai’s hunger strike
According to his relative, Mr. Nguyen Van Hai (a.k.a. Dieu Cay), has been on a hunger strike since 6/23/13 at Prison camp 6 in Hanh Lam village, Thanh Chuong district, Nghe An province, Vietnam. Mr. Hai is a prisoner of conscience who is currently serving 12 years in prison on charges of “propaganda against the state.” He is protesting against mistreatments by the camp’s warden and guards.
This is the second time Mr. Hai goes on hunger strike. The first time was a 28-days strike in February 2011 at B34, a Bureau of Public Security’s detention facility, to protest because the Public Security Bureau’s did not provide pen and paper for him to write his appeal. Ever since he was imprisoned in 2008 until now, Mr. Nguyen Van Hai has been subjected to abuse, solitary confinement, restricted visitation, and relocation. From Division camp K3 at Xuyen Moc, Ba Ria province in Vung Tau, to Camp 6 in Thanh Chuong district, Nghe An province, Mr. Hai was also a frequent victim of unlawful acts, power abuse leading to infringement of prisoner’s legitimate rights as well as his visitation rights. These constant violations directly affect his mental and physical well-being while he is being forced to carry out his prison sentence. The violations also make it hard for his relative to visit and tend to his needs. As a result, their belief in the law is deteriorating over time.
Due to this situation and as a matter of his health, the Vietnam Path Movement sincerely urges Mr. Hai to soon put an end to this hunger strike and secure his life.
And to the responsible authorities, as we have stated in the case of Mr. Cu Huy Ha Vu’s hunger strike, the Vietnam Path Movement strongly objects the Public Security Bureau’s and prison administrators’ mistreatment of prisoners. Meanwhile, we urge Vietnam’s authorities to rectify their judicial and prison management activities as soon as possible to ensure prisoners’ rights and that they are being treated humanly with proper respects for those whose freedom has been stripped from them. Those are the regulations listed under Article 10 of the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR).
In specifics:
1. We recommend the authorities to conduct an evaluation of all prison guards and officers who mistreated prisoners. Those who are found to have violated prisoners’ rights should be disciplined.
2. We ask the authorities to put a stop to all violations of law, to reinstate Mr. Nguyen Van Hai’s rights and the rights for his relatives to visit him as stated by the law.
3. We request the government of Vietnam to enforce proper administration and management of prison camps in accord to Criminal Law Enforcement and other related supplements.
The Vietnam Path Movement also calls upon media organizations to raise their voice for the protection of human rights both in Vietnam and abroad. We urge everyone to disseminate news about Mr. Nguyen Van Hai’s hunger strike and to advocate for human rights to be respected in Vietnam, especially in prisoners of conscience cases.
7/18/13
On behalf of the Vietnam Path Movement
Le Quoc Tuan.
Tuyên bố về trường hợp tuyệt thực của ông Nguyễn Văn Hải
Theo tin từ thân nhân ông Nguyễn Văn Hải tự là Điếu Cày, người tù lương tâm hiện đang thọ án tù 12 năm vì tội “tuyên truyền chống nhà nước” cho biết: ông Nguyễn Văn Hải đã tuyệt thực từ ngày 23/06/2013 tại Trại 6, xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An để phản đối hành động ngược đãi của các cán bộ quản lý trại giam ở đây.
Cuộc tuyệt thực này là một phản ứng nữa của ông Nguyễn Văn Hải. Trong tháng hai năm 2011 tại trại giam B34 Cục An Ninh Điều Tra Bộ Công An ông đã tuyệt thực 28 ngày để phản đối việc trại giam không cung cấp giấy bút cho mình viết đơn kháng án. Kể từ khi bị giam cầm từ 2008 đến nay, ông Nguyễn Văn Hải đã luôn luôn là đối tượng bị ngược đãi, biệt giam, hạn chế thăm gặp, chuyển trại ... từng là nạn nhân của những hành động trái pháp luật, lợi dụng chức vụ quyền hạn xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tù nhân và thân nhân đi thăm nuôi của các cán bộ quản lý trại giam từ phân trại K3 trại Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến nơi giam giữ hiện nay tại Trại 6, xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Những sai phạm này trực tiếp gây tổn hại đến tinh thần và sức khỏe của ông Nguyễn Văn Hải, người bị cưỡng bức thi hành án, gây khó khăn cho thân nhân thăm nuôi chăm sóc ông và và xói mòn niềm tin vào luật pháp.
Trước tình hình này, vì an toàn sức khỏe, Phong trào CĐVN khẩn thiết đề nghị ông Nguyễn Văn Hải sớm kết thúc cuộc tuyệt thực để bảo vệ sinh mạng mình.
Về các cơ quan trách nhiệm, như đã tuyên bố về trường hợp tuyệt thực của ông Cù Huy Hà Vũ, phong trào CĐVN tiếp tục cực lực phản đối hành vi ngược đãi tù nhân của bộ công An, ngành quản lý trại giam. Đồng thời, chúng tôi kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam nhanh chóng chấn chỉnh hoạt động tư pháp, quản lý trại giam để bảo đảm quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước đoạt tự do, quy định theo Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR).
Cụ thể là:
1. Đề nghị cho thẩm tra xử lý kỷ luật các cán bộ vi phạm ngược đãi tù nhân.
2. Yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, phục hồi quyền lợi và chính sách chính đáng được pháp luật quy định của ông Nguyễn Văn Hải cũng như thân nhân.
3. Thực hiện đúng chế độ giam giữ theo Luật Thi hành án Hình sự và các văn bản (Thông tư; Nghị định) bổ sung liên quan.
Phong trào CĐVN cũng kêu gọi các tổ chức truyền thông, bảo vệ quyền con người trong và ngoài nước nhanh chóng thông báo trường hợp tuyệt thực của ông Nguyễn Văn Hải, vận động kêu gọi cho sự tôn trọng quyền con người ở Việt Nam, đặc biệt đối với các tù nhân lương tâm trong các trại giam.
Ngày 18 tháng 7 năm 2013,
TM. Phong trào Con Đường Việt Nam
Lê Quốc Tuấn
VIETNAM PATH MOVEMENT
Announcement regarding Mr. Nguyen Van Hai’s hunger strike
According to his relative, Mr. Nguyen Van Hai (a.k.a. Dieu Cay), has been on a hunger strike since 6/23/13 at Prison camp 6 in Hanh Lam village, Thanh Chuong district, Nghe An province, Vietnam. Mr. Hai is a prisoner of conscience who is currently serving 12 years in prison on charges of “propaganda against the state.” He is protesting against mistreatments by the camp’s warden and guards.
This is the second time Mr. Hai goes on hunger strike. The first time was a 28-days strike in February 2011 at B34, a Bureau of Public Security’s detention facility, to protest because the Public Security Bureau’s did not provide pen and paper for him to write his appeal. Ever since he was imprisoned in 2008 until now, Mr. Nguyen Van Hai has been subjected to abuse, solitary confinement, restricted visitation, and relocation. From Division camp K3 at Xuyen Moc, Ba Ria province in Vung Tau, to Camp 6 in Thanh Chuong district, Nghe An province, Mr. Hai was also a frequent victim of unlawful acts, power abuse leading to infringement of prisoner’s legitimate rights as well as his visitation rights. These constant violations directly affect his mental and physical well-being while he is being forced to carry out his prison sentence. The violations also make it hard for his relative to visit and tend to his needs. As a result, their belief in the law is deteriorating over time.
Due to this situation and as a matter of his health, the Vietnam Path Movement sincerely urges Mr. Hai to soon put an end to this hunger strike and secure his life.
And to the responsible authorities, as we have stated in the case of Mr. Cu Huy Ha Vu’s hunger strike, the Vietnam Path Movement strongly objects the Public Security Bureau’s and prison administrators’ mistreatment of prisoners. Meanwhile, we urge Vietnam’s authorities to rectify their judicial and prison management activities as soon as possible to ensure prisoners’ rights and that they are being treated humanly with proper respects for those whose freedom has been stripped from them. Those are the regulations listed under Article 10 of the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR).
In specifics:
1. We recommend the authorities to conduct an evaluation of all prison guards and officers who mistreated prisoners. Those who are found to have violated prisoners’ rights should be disciplined.
2. We ask the authorities to put a stop to all violations of law, to reinstate Mr. Nguyen Van Hai’s rights and the rights for his relatives to visit him as stated by the law.
3. We request the government of Vietnam to enforce proper administration and management of prison camps in accord to Criminal Law Enforcement and other related supplements.
The Vietnam Path Movement also calls upon media organizations to raise their voice for the protection of human rights both in Vietnam and abroad. We urge everyone to disseminate news about Mr. Nguyen Van Hai’s hunger strike and to advocate for human rights to be respected in Vietnam, especially in prisoners of conscience cases.
7/18/13
On behalf of the Vietnam Path Movement
Le Quoc Tuan.
Người gốc Việt phải có ý kiến với dự luật di trú
Tác giả: Mari Quenemoen
Chuyển ngữ: Triệu Phong LTS - Mari Quenemoen là nhà quản trị chính sách của trung tâm Southeast Asia Resource Action Center, một tổ chức quốc gia giúp đẩy mạnh quyền lợi của người Mỹ gốc Cambodia, Lào, và Việt Nam, bằng cách tạo sức mạnh của các cộng đồng qua sự vận động, phát huy lãnh đạo và khả năng xây dựng. Bà vận động cho sự công bằng, trong chính sách cầm giữ và trục xuất đối với người không có quốc tịch. Cần thêm thông tin, hãy vào địa chỉ trang mạng www.searac.org.
***
Cộng đồng người gốc Việt đang lớn mạnh trên khắp nước Mỹ, một phần vì họ vẫn tiếp tục bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam. Bất hạnh thay, luật cải tổ di trú được Thượng Viện thông qua hồi Tháng Bảy có nguy cơ cắt bớt số di dân từ Việt Nam xuống còn phân nửa, giảm đi những đóng góp của di dân gốc Việt cùng người của các nước khác đối với đất nước này.
Theo Bộ Nội An, trong năm 2008, phân nửa số di dân từ Việt Nam đến Hoa Kỳ theo diện “bảo lãnh gia đình,” gồm anh chị em ruột hoặc con cái tuổi trưởng thành cũng như đã có gia đình.
Cộng đồng gốc Việt hiện có ít nhất 1.7 triệu người, chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi luật di dân của Hoa Kỳ. Vào cuối thập niên 1970, khi dân tị nạn bắt đầu ồ ạt tràn sang trong bối cảnh cuộc chiến Việt Nam, Mỹ chưa có luật di dân chính thức và còn dựa vào ngân quỹ tạm thời cùng sự phối trí không theo thể thức nhất định. Đạo luật Refugee Act of 1980 là câu trả lời cho sự ra đi ồ ạt này và đánh dấu sự khởi đầu của hệ thống tái định cư dân tị nạn hiện thời. Khoảng nửa triệu người Việt đến Mỹ với tính cách tị nạn kể từ khi văn phòng Office of Refugee Resettlement bắt đầu đếm đầu người vào năm 1983, trong khi đã có hàng ngàn người qua trước đó.
Ngày nay, cộng đồng gốc Việt tiếp tục chịu ảnh hưởng lớn lao đối với luật di trú, và những đề nghị ở Quốc Hội hiện thời sẽ khiến cho việc đoàn tụ các gia đình người gốc Việt trở nên khó khăn trầm trọng. Luật cải tổ di trú của Thượng Viện bảo vệ nhiều hơn đối với người tị nạn và di dân gặp tình huống nguy hiểm, cải tiến việc che chở công nhân, đồng thời mở lối vào quốc tịch cho di dân bất hợp pháp (mặc dù việc này kéo dài và tốn kém). Đáng tiếc thay, kết quả của bộ luật này lại mang đến lợi bất cập hại đối với cộng đồng gốc Việt.
Sự tranh cãi ở Quốc Hội về lượng di dân trong tương lai thường quan niệm sai lầm rằng, chiếu khán bảo lãnh anh em ruột là nguồn gốc cho phép di dân thiếu kỷ năng chuyên môn tuồn vào Hoa Kỳ, khiến trở thành gánh nặng, làm cạn bớt nguồn ngân quỹ quốc gia. Nhưng đúng ra các gia đình di dân xưa nay là động cơ của ngành kinh doanh và tăng trưởng kinh tế trong nước. Bà Diane Dang ở quận Cam từng được bảo lãnh đến Mỹ vào năm 1987 theo diện anh em ruột. Từng kinh doanh tiệm bánh cùng với gia đình ở Nha Trang trong nhiều năm, sang đây, bà Dang quyết định cùng chồng mở tiệm bánh Brodard Bakery với số vốn đáng kể, cộng với nhiều may rủi. Vượt qua mọi rủi ro, nay bà Dang đang làm chủ ba trong số những nhà hàng thành công nhất ở quận Cam. Bà Dang đã đóng góp rất nhiều vào nền kinh tế và xã hội của miền Nam California, tạo thêm công ăn việc làm và đầu tư vào cộng đồng qua việc hiến tặng cho quỹ từ thiện.
Bộ luật di trú của Thượng Viện sẽ lấy mất cơ hội đối với những người như bà Dang vì không còn được nhập vào Mỹ theo diện bảo lãnh anh chị em. Những đề nghị gần đây ở Hạ Viện còn tai hại hơn nữa, vì chúng không những hủy bỏ việc bảo lãnh anh chị em ruột hoặc con cái tuổi trưởng thành cũng như đã có gia đình, mà còn luôn cả đối với những đơn đã được chấp thuận và đang trong tình trạng chờ đợi. Nói về quốc gia có số người đang chờ được nhập vào Hoa Kỳ theo diện bảo lãnh gia đình mà đơn đã được chấp thuận, thì Việt Nam đứng hàng thứ tư trên thế giới, với con số 200,000 người. Những gia đình này và còn hằng ngàn nữa trong tương lai sẽ mất cơ hội đoàn tụ với người thân.
Tệ hại hơn, đề nghị luật cải tổ di dân hiện nay còn phân ly thêm nhiều gia đình đang sống ở Mỹ, vì qui định mức tội phạm được xét rộng hơn, để có thể bị trục xuất về Việt Nam. Theo luật sư Tin Thanh Nguyen có trụ sở đặt tại Charlotte, ít người gốc Việt ý thức được rằng người có thẻ thường trú hay Green Card không bảo đảm tránh khỏi bị trục xuất về nước. Thực vậy, một người dù đến Mỹ như là một người tị nạn hay trẻ vị thành niên, họ vẫn có thể bị đuổi ra khỏi Hoa Kỳ vì những tội tiểu hình như trộm đồ trong siêu thị hay gian lận phiếu thực phẩm food stamp.
Hoa Kỳ và Việt Nam không có thỏa ước dẫn độ mãi cho đến năm 2008. Từ đó Việt Nam thỏa thuận nhận về nước những người bị Hoa Kỳ trục xuất từng đến Mỹ sau năm 1995. Tuy nhiên, người sang Mỹ trước năm đó vẫn có thể bị lệnh trục xuất. Họ có thể lưu lại Hoa Kỳ nếu Việt Nam từ chối họ nhưng thẻ thường trú của họ bị thu hồi, khiến họ vĩnh viễn sống cuộc đời không có tình trạng pháp lý ở Mỹ cũng như bất kỳ nước nào khác.
Đây là trường hợp thân chủ của ông Nguyễn, tạm gọi tên là ông Trần. Năm 1994, ông Trần đến Mỹ theo diện HO khi mới 24 tuổi và được cấp Thẻ Xanh. Năm 1998, ông Trần bị truy tố tội liên quan đến ma túy ở South Carolina và nhận có tội, mặc dù luật sư cho ông biết làm vậy ông sẽ bị trục xuất. Sau khi thọ án xong, ông Trần tiếp tục cuộc sống, nghĩ rằng mình đã trả xong món nợ về lỗi lầm của mình đối với xã hội. Sau đó ông Trần cưới vợ ở Việt Nam và nộp đơn bảo lãnh cho vợ qua Mỹ. Để tiến trình bảo lãnh được nhanh chóng, năm 2002, ông nộp đơn xin vào quốc tịch. Đơn của ông Trần bị từ chối vì thành tích phạm pháp trong quá khứ đó, đồng thời lập tức bị đặt vào tiến trình chờ bị trục xuất. Cuối cùng vào năm 2007, ông được lệnh trục xuất về Việt Nam. Ông Trần mướn luật sư chống lại quyết định này nhưng không thành công. Đồng thời tiểu bang South Carolina giải tội cho bản án ông phạm phải vào năm 1998, nhưng theo luật lệ di trú cứng ngắt của Hoa Kỳ, một quan tòa không thể xét đến điều này hay bất kỳ yếu tố nào khác khi quyết định về việc trục xuất ông Trần, có nghĩa rằng đây là luật bắt buộc và không thể đảo ngược được. Việt Nam không thể để ông bị đẩy về nước vì ông đến Mỹ trước năm 1995, trong khi đó ông bị lấy lại Thẻ Xanh. Ông không thể đoàn tụ với vợ, kể cả mất việc nơi ông từng làm trong 12 năm. Nay ông phải vĩnh viễn sống trong tình trạng bấp bênh, không còn được đất nước nơi ông gọi là quê hương trong gần 20 năm, và cũng không thể đi đâu ra khỏi Hoa Kỳ.
Người gốc Việt sang đây vì sự bình đẳng, công bằng và công lý, được luật pháp che chở. Đáng tiếc thay, bộ luật cải tổ di trú đang được duyệt xét sẽ dẫn đến việc hằng ngàn người từng thi hành án xong qua hệ thống tư pháp hình sự, sẽ bị trả về Việt Nam mà không có sự xét lại của một quan tòa, bất kể hình phạt đó gây nên sự phân ly vĩnh viễn với gia đình và cộng đồng, hình phạt được xem là hết sức nặng so với tội phạm phải.
Nay là lúc mà cộng đồng người Mỹ gốc Việt phải dấn thân vào vấn đề cải tổ di trú. Cộng đồng từng được lợi rất nhiều từ các chính sách di trú công minh trong quá khứ, từ đó xây dựng gia đình và doanh nghiệp, để rồi đền đáp lại cho đất nước này qua vô số hình thức. Nhưng giờ đây, khi hai viện Quốc Hội đang sắp sửa tiến tới việc thông qua một bộ luật di trú, vốn hầu như lấy mất cơ hội đoàn tụ gia đình, đồng thời gây phân ly hơn nữa đối với các gia đình hiện có nơi đây. Người gốc Việt phải đứng lên và biểu tỏ sự không chấp thuận.
Cuộc di dân từ Việt Nam hình thành sâu đậm luật di trú có cách đây 33 năm, và nay người gốc Việt có cơ hội để cho tiếng nói mình được Capitol Hill lắng nghe. Gia đình là nền tảng giá trị của cả người Mỹ lẫn người Việt, chúng ta phải làm sao để điều này phản ảnh trong bộ luật di trú của chúng ta.
Tác giả: Mari Quenemoen
Chuyển ngữ: Triệu Phong LTS - Mari Quenemoen là nhà quản trị chính sách của trung tâm Southeast Asia Resource Action Center, một tổ chức quốc gia giúp đẩy mạnh quyền lợi của người Mỹ gốc Cambodia, Lào, và Việt Nam, bằng cách tạo sức mạnh của các cộng đồng qua sự vận động, phát huy lãnh đạo và khả năng xây dựng. Bà vận động cho sự công bằng, trong chính sách cầm giữ và trục xuất đối với người không có quốc tịch. Cần thêm thông tin, hãy vào địa chỉ trang mạng www.searac.org.
***
Cộng đồng người gốc Việt đang lớn mạnh trên khắp nước Mỹ, một phần vì họ vẫn tiếp tục bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam. Bất hạnh thay, luật cải tổ di trú được Thượng Viện thông qua hồi Tháng Bảy có nguy cơ cắt bớt số di dân từ Việt Nam xuống còn phân nửa, giảm đi những đóng góp của di dân gốc Việt cùng người của các nước khác đối với đất nước này.
Theo Bộ Nội An, trong năm 2008, phân nửa số di dân từ Việt Nam đến Hoa Kỳ theo diện “bảo lãnh gia đình,” gồm anh chị em ruột hoặc con cái tuổi trưởng thành cũng như đã có gia đình.
Cộng đồng gốc Việt hiện có ít nhất 1.7 triệu người, chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi luật di dân của Hoa Kỳ. Vào cuối thập niên 1970, khi dân tị nạn bắt đầu ồ ạt tràn sang trong bối cảnh cuộc chiến Việt Nam, Mỹ chưa có luật di dân chính thức và còn dựa vào ngân quỹ tạm thời cùng sự phối trí không theo thể thức nhất định. Đạo luật Refugee Act of 1980 là câu trả lời cho sự ra đi ồ ạt này và đánh dấu sự khởi đầu của hệ thống tái định cư dân tị nạn hiện thời. Khoảng nửa triệu người Việt đến Mỹ với tính cách tị nạn kể từ khi văn phòng Office of Refugee Resettlement bắt đầu đếm đầu người vào năm 1983, trong khi đã có hàng ngàn người qua trước đó.
Ngày nay, cộng đồng gốc Việt tiếp tục chịu ảnh hưởng lớn lao đối với luật di trú, và những đề nghị ở Quốc Hội hiện thời sẽ khiến cho việc đoàn tụ các gia đình người gốc Việt trở nên khó khăn trầm trọng. Luật cải tổ di trú của Thượng Viện bảo vệ nhiều hơn đối với người tị nạn và di dân gặp tình huống nguy hiểm, cải tiến việc che chở công nhân, đồng thời mở lối vào quốc tịch cho di dân bất hợp pháp (mặc dù việc này kéo dài và tốn kém). Đáng tiếc thay, kết quả của bộ luật này lại mang đến lợi bất cập hại đối với cộng đồng gốc Việt.
Sự tranh cãi ở Quốc Hội về lượng di dân trong tương lai thường quan niệm sai lầm rằng, chiếu khán bảo lãnh anh em ruột là nguồn gốc cho phép di dân thiếu kỷ năng chuyên môn tuồn vào Hoa Kỳ, khiến trở thành gánh nặng, làm cạn bớt nguồn ngân quỹ quốc gia. Nhưng đúng ra các gia đình di dân xưa nay là động cơ của ngành kinh doanh và tăng trưởng kinh tế trong nước. Bà Diane Dang ở quận Cam từng được bảo lãnh đến Mỹ vào năm 1987 theo diện anh em ruột. Từng kinh doanh tiệm bánh cùng với gia đình ở Nha Trang trong nhiều năm, sang đây, bà Dang quyết định cùng chồng mở tiệm bánh Brodard Bakery với số vốn đáng kể, cộng với nhiều may rủi. Vượt qua mọi rủi ro, nay bà Dang đang làm chủ ba trong số những nhà hàng thành công nhất ở quận Cam. Bà Dang đã đóng góp rất nhiều vào nền kinh tế và xã hội của miền Nam California, tạo thêm công ăn việc làm và đầu tư vào cộng đồng qua việc hiến tặng cho quỹ từ thiện.
Bộ luật di trú của Thượng Viện sẽ lấy mất cơ hội đối với những người như bà Dang vì không còn được nhập vào Mỹ theo diện bảo lãnh anh chị em. Những đề nghị gần đây ở Hạ Viện còn tai hại hơn nữa, vì chúng không những hủy bỏ việc bảo lãnh anh chị em ruột hoặc con cái tuổi trưởng thành cũng như đã có gia đình, mà còn luôn cả đối với những đơn đã được chấp thuận và đang trong tình trạng chờ đợi. Nói về quốc gia có số người đang chờ được nhập vào Hoa Kỳ theo diện bảo lãnh gia đình mà đơn đã được chấp thuận, thì Việt Nam đứng hàng thứ tư trên thế giới, với con số 200,000 người. Những gia đình này và còn hằng ngàn nữa trong tương lai sẽ mất cơ hội đoàn tụ với người thân.
Tệ hại hơn, đề nghị luật cải tổ di dân hiện nay còn phân ly thêm nhiều gia đình đang sống ở Mỹ, vì qui định mức tội phạm được xét rộng hơn, để có thể bị trục xuất về Việt Nam. Theo luật sư Tin Thanh Nguyen có trụ sở đặt tại Charlotte, ít người gốc Việt ý thức được rằng người có thẻ thường trú hay Green Card không bảo đảm tránh khỏi bị trục xuất về nước. Thực vậy, một người dù đến Mỹ như là một người tị nạn hay trẻ vị thành niên, họ vẫn có thể bị đuổi ra khỏi Hoa Kỳ vì những tội tiểu hình như trộm đồ trong siêu thị hay gian lận phiếu thực phẩm food stamp.
Hoa Kỳ và Việt Nam không có thỏa ước dẫn độ mãi cho đến năm 2008. Từ đó Việt Nam thỏa thuận nhận về nước những người bị Hoa Kỳ trục xuất từng đến Mỹ sau năm 1995. Tuy nhiên, người sang Mỹ trước năm đó vẫn có thể bị lệnh trục xuất. Họ có thể lưu lại Hoa Kỳ nếu Việt Nam từ chối họ nhưng thẻ thường trú của họ bị thu hồi, khiến họ vĩnh viễn sống cuộc đời không có tình trạng pháp lý ở Mỹ cũng như bất kỳ nước nào khác.
Đây là trường hợp thân chủ của ông Nguyễn, tạm gọi tên là ông Trần. Năm 1994, ông Trần đến Mỹ theo diện HO khi mới 24 tuổi và được cấp Thẻ Xanh. Năm 1998, ông Trần bị truy tố tội liên quan đến ma túy ở South Carolina và nhận có tội, mặc dù luật sư cho ông biết làm vậy ông sẽ bị trục xuất. Sau khi thọ án xong, ông Trần tiếp tục cuộc sống, nghĩ rằng mình đã trả xong món nợ về lỗi lầm của mình đối với xã hội. Sau đó ông Trần cưới vợ ở Việt Nam và nộp đơn bảo lãnh cho vợ qua Mỹ. Để tiến trình bảo lãnh được nhanh chóng, năm 2002, ông nộp đơn xin vào quốc tịch. Đơn của ông Trần bị từ chối vì thành tích phạm pháp trong quá khứ đó, đồng thời lập tức bị đặt vào tiến trình chờ bị trục xuất. Cuối cùng vào năm 2007, ông được lệnh trục xuất về Việt Nam. Ông Trần mướn luật sư chống lại quyết định này nhưng không thành công. Đồng thời tiểu bang South Carolina giải tội cho bản án ông phạm phải vào năm 1998, nhưng theo luật lệ di trú cứng ngắt của Hoa Kỳ, một quan tòa không thể xét đến điều này hay bất kỳ yếu tố nào khác khi quyết định về việc trục xuất ông Trần, có nghĩa rằng đây là luật bắt buộc và không thể đảo ngược được. Việt Nam không thể để ông bị đẩy về nước vì ông đến Mỹ trước năm 1995, trong khi đó ông bị lấy lại Thẻ Xanh. Ông không thể đoàn tụ với vợ, kể cả mất việc nơi ông từng làm trong 12 năm. Nay ông phải vĩnh viễn sống trong tình trạng bấp bênh, không còn được đất nước nơi ông gọi là quê hương trong gần 20 năm, và cũng không thể đi đâu ra khỏi Hoa Kỳ.
Người gốc Việt sang đây vì sự bình đẳng, công bằng và công lý, được luật pháp che chở. Đáng tiếc thay, bộ luật cải tổ di trú đang được duyệt xét sẽ dẫn đến việc hằng ngàn người từng thi hành án xong qua hệ thống tư pháp hình sự, sẽ bị trả về Việt Nam mà không có sự xét lại của một quan tòa, bất kể hình phạt đó gây nên sự phân ly vĩnh viễn với gia đình và cộng đồng, hình phạt được xem là hết sức nặng so với tội phạm phải.
Nay là lúc mà cộng đồng người Mỹ gốc Việt phải dấn thân vào vấn đề cải tổ di trú. Cộng đồng từng được lợi rất nhiều từ các chính sách di trú công minh trong quá khứ, từ đó xây dựng gia đình và doanh nghiệp, để rồi đền đáp lại cho đất nước này qua vô số hình thức. Nhưng giờ đây, khi hai viện Quốc Hội đang sắp sửa tiến tới việc thông qua một bộ luật di trú, vốn hầu như lấy mất cơ hội đoàn tụ gia đình, đồng thời gây phân ly hơn nữa đối với các gia đình hiện có nơi đây. Người gốc Việt phải đứng lên và biểu tỏ sự không chấp thuận.
Cuộc di dân từ Việt Nam hình thành sâu đậm luật di trú có cách đây 33 năm, và nay người gốc Việt có cơ hội để cho tiếng nói mình được Capitol Hill lắng nghe. Gia đình là nền tảng giá trị của cả người Mỹ lẫn người Việt, chúng ta phải làm sao để điều này phản ảnh trong bộ luật di trú của chúng ta.
Tâm thức nào, thể chế nấy!
Nguyễn Phương Muốn chống độc tài và muốn xây dựng dân chủ, cần hiểu rõ độc tài và dân chủ phát sinh thế nào. Nếu không, tuy mang danh chống độc tài nhưng ta lại có thể hành động y hệt những kẻ độc tài; tuy tự hào tranh đấu cho dân chủ nhưng thực tế ta có thể có tiềm năng trở thành nhà độc tài. Mầm mống độc tài có thể đang tiềm ẩn trong cái vỏ bọc dân chủ bên ngoài; một cách sâu xa hơn, nó có thể nằm sẵn trong tâm lý, khuynh hướng hay tính tình của ta.
Mầm mống độc tài là gì?
Nhìn vào chế độ độc tài cộng sản, ta thấy: Những người có tư tưởng hay lập trường chính trị xã hội khác với lập trường chính trị xã hội của đảng cầm quyền đều bị liệt vào thành phần chống đối cần phải loại trừ hay tiêu diệt. Vì thế, trong các chế độ độc tài cộng sản, chỉ có một đảng duy nhất được phép tồn tại và hoạt động; những đảng phái khác nếu được tồn tại thì chỉ là những đảng mang tên khác nhưng cùng lập trường với đảng cầm quyền.
Các thể chế độc tài trên thế giới không phải từ trời rớt xuống hay tự nhiên phát sinh ra. Mầm mống phát sinh ra nó được hình thành rất tự nhiên từ trong tâm thức của hầu hết mọi người, thứ tâm thức lúc nào cũng cho suy nghĩ của mình là đúng, thậm chí đúng nhất, để rồi ép buộc mọi người phải theo ý kiến hay ý muốn của mình. Ðó chính là tâm thức độc tài.
Tâm thức ấy ta có thể nhận ra nơi hầu hết mọi đứa trẻ. Chúng muốn cái gì thì cũng đòi cho bằng được, không được thì khóc. Khóc dai dẳng chính là một hình thức áp lực cha mẹ chúng. Nếu cha mẹ chúng yêu thương con mình một cách thiếu sáng suốt, cứ quen chiều ý chúng, chúng sẽ trở thành những “nhà độc tài” trước hết đối với chính cha mẹ chúng, và sau này với những người mà chúng chi phối được.
Tâm thức độc tài là một tâm thức rất tự nhiên, phát sinh nơi mỗi người từ thuở nhỏ. Có thể nói nó nằm sẵn trong bản năng mỗi người. Thật vậy, khi sinh ra, ai cũng có khuynh hướng ích kỷ (egoistic, selfish) và tự quy (egocentric), tự coi mình như trung tâm vũ trụ. Tâm thức ấy chỉ giảm đi nhờ sự giáo dục từ cha mẹ, từ nhà trường, từ tôn giáo, và nhất là từ chính bản thân khi mình quyết chí tu tâm sửa tánh. Việc tu tâm sửa tánh để giảm bớt khuynh hướng ích kỷ và tự quy ấy thường khởi sự từ những giác ngộ.
Khi sống chung với người khác, con người có thể nhận ra tâm thức ích kỷ và tự quy ấy nơi người khác cũng như nơi chính mình. Tâm thức ấy gây nên nhiều bất lợi cho đời sống chung, tạo nên nhiều đau khổ, bực bội cho chính mình và cho người khác. Từ những khổ đau bực bội ấy, con người mới nhận ra rằng mỗi người đều có những quan niệm, suy nghĩ và ước muốn khác nhau... Nếu ai cũng cứ ép người khác phải từ bỏ quan niệm, suy nghĩ và ước muốn của họ để theo quan niệm, suy nghĩ và ước muốn của mình thì xã hội con người cũng sẽ giống như của loài vật, trong đó “lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”, và kẻ yếu bao giờ cũng chịu thiệt thòi; còn kẻ mạnh thì sẽ tranh nhau, đánh nhau, giết nhau, vì ai cũng muốn ép buộc người khác phải theo quan niệm hay ý muốn của mình. Ðó là mầm mống sinh chiến tranh, gây tang tóc cho xã hội.
Từ những kinh nghiệm và giác ngộ ấy, người tinh tế nhận ra rằng: Muốn cuộc sống chung trở nên hài hòa, hạnh phúc thì con người phải nhận ra định luật đa dạng trong vũ trụ cùng với những khác biệt tự nhiên giữa các dạng với nhau, đồng thời phải tôn trọng định luật ấy. Nghĩa là trong thực tế xã hội, phải tôn trọng sự khác biệt trong tư tưởng, ước muốn, quan điểm của nhau đồng thời nhận ra cái đúng, sự hợp lý của nhau. Muốn thế, con người phải chống lại khuynh hướng độc tài vốn rất tự nhiên nằm sẵn trong bản năng của mình. Từ nhận thức hay giác ngộ đó mới phát sinh hay hình thành tâm thức tôn trọng tha nhân, tôn trọng nhận thức, quan điểm, ý kiến, ước muốn của họ, bất chấp chúng khác với cách nhìn của mình. Về mặt xã hội, tâm thức đó chính là tâm thức dân chủ. Tâm thức độc tài phát sinh trong nội tâm con người cách rất tự nhiên và dễ dàng. Còn tâm thức dân chủ phải tập luyện mới có. Và muốn nó phát triển lớn mạnh điều tiên quyết là phải từ bỏ tâm thức độc tài.
Cá nhân con người tiến hóa, thì xã hội con người cũng tiến hóa. Khởi đầu khi hình thành xã hội, con người phải sống trong những thể chế độc tài. Kẻ có quyền luôn luôn dùng quyền lực hay sức mạnh của mình để ép buộc kẻ dưới quyền phải theo quan điểm, ý kiến và ý muốn của mình, bất chấp đúng sai, lợi hay bất lợi. Mãi tới thế kỷ 18, 19, con người mới nhận ra thể chế dân chủ mà các triết gia Hy Lạp đã manh nha nhất tới từ những thế kỷ trước công nguyên là thể chế ít gây đau khổ cho con người hơn tất cả những chế độ bộ lạc, phong kiến, độc tài, quân phiệt, v.v... để áp dụng nó vào việc cai trị đất nước.
Nhưng chắc chắn nó chưa phải là thể chế ưu việt nhất. Nó còn rất nhiều khiếm khuyết mà con người hiện tại và tương lai phải khắc phục. Theo đà tiến hóa, con người sẽ khám phá hoặc phát minh ra những phương cách cai trị khác tốt hơn, và sẽ từ bỏ thể chế dân chủ cũng như hiện nay đang từ bỏ những thể chế độc tài, phong kiến. Cố Thủ Tướng Anh Quốc Winston Churchill cho rằng dân chủ là hình thức ít xấu nhất mà con người kinh nghiệm được.
Cá nhân mỗi người có sự tiến hóa về tâm thức, con người tiến từ tâm thức ích kỷ, tự quy sang tâm thức quên mình (selfless), vị tha (altruistic). Về mặt chính trị xã hội, con người tiến từ tâm thức độc tài sang tâm thức dân chủ. Sự tiến hóa đó đòi hỏi thời gian và cố gắng luyện tập. Xã hội gồm nhiều cá nhân tập hợp lại cũng có sự tiến hóa tương tự như cá nhân. Cách đây nhiều thế kỷ, cả thế giới đều được cai trị bằng những thể chế độc tài. Nhưng đến thế kỷ 19, 20, thế giới, dần dần từng nước một, đã thoát ra khỏi các thể chế độc tài. Ðến nay, thế kỷ 21, trào lưu dân chủ đã phát triển hầu như khắp thế giới, chỉ còn một số quốc gia vẫn phải rên xiết dưới những thể chế độc tài cộng sản hoặc phi cộng sản. Thật không may cho dân tộc Việt Nam ta lại nằm trong số những quốc gia xấu số ấy suốt 5, 6 thập kỷ qua.
Tất cả các quốc gia thoát khỏi thể chế độc tài đều do sự tranh đấu can đảm bằng xương máu của người dân trong nước. Ðúng là “Freedom is not free” (tạm dịch: “Tự do không phải là thứ cho không biếu không”, muốn có tự do thì phải trả giá). Nhưng khá nhiều quốc gia vừa thoát khỏi ách độc tài này lại rơi vào một ách độc tài khác. Lý do sâu xa là vì dân tộc ấy, nhất là những nhà đấu tranh cho tự do dân chủ của quốc gia ấy chưa từ bỏ được tâm thức độc tài của mình, và chưa có được tâm thức dân chủ. Khi chưa nắm quyền hành thì tâm thức độc tài ấy còn nằm sâu kín trong vỏ bọc dân chủ bên ngoài, chưa có điều kiện phát tác. Nhưng khi có quyền hành trong tay, tâm thức độc tài ấy mới có điều kiện phát tác biến họ thành những nhà độc tài.
Người Việt có câu: “Rau nào sâu nấy”, “nồi nào vung nấy”. Còn người Mỹ có câu: “Such people, such government” (dân nào chính phủ nấy). Nếu dân Việt của chúng ta còn nặng tâm thức độc tài, ai cũng cứ thích bắt mọi người phải làm theo ý mình, suy nghĩ theo cách của mình, bắt mọi người nhận là đúng những gì mình cho là đúng, ai không chịu thì tìm cách triệt hạ họ, thì thể chế độc tài sẽ còn bám lấy dân tộc ta cho tới khi chúng ta từ bỏ được tâm thức ấy.
Tóm lại, để cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ của chúng ta có kết quả lâu dài và đi đến một thể chế thật sự dân chủ sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, thì mỗi người - nhất là những người đang tranh đấu cho tự do dân chủ - cần từ bỏ tâm thức độc tài và phát triển tâm thức dân chủ. Bằng không thì... chúng ta sẽ lại lập nên những thể chế độc tài khác. Vì tâm thức độc tài sẽ tạo nên những thể chế độc tài, còn tâm thức dân chủ mới tạo nên những thể chế dân chủ.
Tuy nhiên, đó là việc phải làm trong lâu dài, còn việc trước mắt phải thực hiện là làm sao để chế độ độc tài hiện hành biến mất!!!
Nguyễn Phương Muốn chống độc tài và muốn xây dựng dân chủ, cần hiểu rõ độc tài và dân chủ phát sinh thế nào. Nếu không, tuy mang danh chống độc tài nhưng ta lại có thể hành động y hệt những kẻ độc tài; tuy tự hào tranh đấu cho dân chủ nhưng thực tế ta có thể có tiềm năng trở thành nhà độc tài. Mầm mống độc tài có thể đang tiềm ẩn trong cái vỏ bọc dân chủ bên ngoài; một cách sâu xa hơn, nó có thể nằm sẵn trong tâm lý, khuynh hướng hay tính tình của ta.
Mầm mống độc tài là gì?
Nhìn vào chế độ độc tài cộng sản, ta thấy: Những người có tư tưởng hay lập trường chính trị xã hội khác với lập trường chính trị xã hội của đảng cầm quyền đều bị liệt vào thành phần chống đối cần phải loại trừ hay tiêu diệt. Vì thế, trong các chế độ độc tài cộng sản, chỉ có một đảng duy nhất được phép tồn tại và hoạt động; những đảng phái khác nếu được tồn tại thì chỉ là những đảng mang tên khác nhưng cùng lập trường với đảng cầm quyền.
Các thể chế độc tài trên thế giới không phải từ trời rớt xuống hay tự nhiên phát sinh ra. Mầm mống phát sinh ra nó được hình thành rất tự nhiên từ trong tâm thức của hầu hết mọi người, thứ tâm thức lúc nào cũng cho suy nghĩ của mình là đúng, thậm chí đúng nhất, để rồi ép buộc mọi người phải theo ý kiến hay ý muốn của mình. Ðó chính là tâm thức độc tài.
Tâm thức ấy ta có thể nhận ra nơi hầu hết mọi đứa trẻ. Chúng muốn cái gì thì cũng đòi cho bằng được, không được thì khóc. Khóc dai dẳng chính là một hình thức áp lực cha mẹ chúng. Nếu cha mẹ chúng yêu thương con mình một cách thiếu sáng suốt, cứ quen chiều ý chúng, chúng sẽ trở thành những “nhà độc tài” trước hết đối với chính cha mẹ chúng, và sau này với những người mà chúng chi phối được.
Tâm thức độc tài là một tâm thức rất tự nhiên, phát sinh nơi mỗi người từ thuở nhỏ. Có thể nói nó nằm sẵn trong bản năng mỗi người. Thật vậy, khi sinh ra, ai cũng có khuynh hướng ích kỷ (egoistic, selfish) và tự quy (egocentric), tự coi mình như trung tâm vũ trụ. Tâm thức ấy chỉ giảm đi nhờ sự giáo dục từ cha mẹ, từ nhà trường, từ tôn giáo, và nhất là từ chính bản thân khi mình quyết chí tu tâm sửa tánh. Việc tu tâm sửa tánh để giảm bớt khuynh hướng ích kỷ và tự quy ấy thường khởi sự từ những giác ngộ.
Khi sống chung với người khác, con người có thể nhận ra tâm thức ích kỷ và tự quy ấy nơi người khác cũng như nơi chính mình. Tâm thức ấy gây nên nhiều bất lợi cho đời sống chung, tạo nên nhiều đau khổ, bực bội cho chính mình và cho người khác. Từ những khổ đau bực bội ấy, con người mới nhận ra rằng mỗi người đều có những quan niệm, suy nghĩ và ước muốn khác nhau... Nếu ai cũng cứ ép người khác phải từ bỏ quan niệm, suy nghĩ và ước muốn của họ để theo quan niệm, suy nghĩ và ước muốn của mình thì xã hội con người cũng sẽ giống như của loài vật, trong đó “lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”, và kẻ yếu bao giờ cũng chịu thiệt thòi; còn kẻ mạnh thì sẽ tranh nhau, đánh nhau, giết nhau, vì ai cũng muốn ép buộc người khác phải theo quan niệm hay ý muốn của mình. Ðó là mầm mống sinh chiến tranh, gây tang tóc cho xã hội.
Từ những kinh nghiệm và giác ngộ ấy, người tinh tế nhận ra rằng: Muốn cuộc sống chung trở nên hài hòa, hạnh phúc thì con người phải nhận ra định luật đa dạng trong vũ trụ cùng với những khác biệt tự nhiên giữa các dạng với nhau, đồng thời phải tôn trọng định luật ấy. Nghĩa là trong thực tế xã hội, phải tôn trọng sự khác biệt trong tư tưởng, ước muốn, quan điểm của nhau đồng thời nhận ra cái đúng, sự hợp lý của nhau. Muốn thế, con người phải chống lại khuynh hướng độc tài vốn rất tự nhiên nằm sẵn trong bản năng của mình. Từ nhận thức hay giác ngộ đó mới phát sinh hay hình thành tâm thức tôn trọng tha nhân, tôn trọng nhận thức, quan điểm, ý kiến, ước muốn của họ, bất chấp chúng khác với cách nhìn của mình. Về mặt xã hội, tâm thức đó chính là tâm thức dân chủ. Tâm thức độc tài phát sinh trong nội tâm con người cách rất tự nhiên và dễ dàng. Còn tâm thức dân chủ phải tập luyện mới có. Và muốn nó phát triển lớn mạnh điều tiên quyết là phải từ bỏ tâm thức độc tài.
Cá nhân con người tiến hóa, thì xã hội con người cũng tiến hóa. Khởi đầu khi hình thành xã hội, con người phải sống trong những thể chế độc tài. Kẻ có quyền luôn luôn dùng quyền lực hay sức mạnh của mình để ép buộc kẻ dưới quyền phải theo quan điểm, ý kiến và ý muốn của mình, bất chấp đúng sai, lợi hay bất lợi. Mãi tới thế kỷ 18, 19, con người mới nhận ra thể chế dân chủ mà các triết gia Hy Lạp đã manh nha nhất tới từ những thế kỷ trước công nguyên là thể chế ít gây đau khổ cho con người hơn tất cả những chế độ bộ lạc, phong kiến, độc tài, quân phiệt, v.v... để áp dụng nó vào việc cai trị đất nước.
Nhưng chắc chắn nó chưa phải là thể chế ưu việt nhất. Nó còn rất nhiều khiếm khuyết mà con người hiện tại và tương lai phải khắc phục. Theo đà tiến hóa, con người sẽ khám phá hoặc phát minh ra những phương cách cai trị khác tốt hơn, và sẽ từ bỏ thể chế dân chủ cũng như hiện nay đang từ bỏ những thể chế độc tài, phong kiến. Cố Thủ Tướng Anh Quốc Winston Churchill cho rằng dân chủ là hình thức ít xấu nhất mà con người kinh nghiệm được.
Cá nhân mỗi người có sự tiến hóa về tâm thức, con người tiến từ tâm thức ích kỷ, tự quy sang tâm thức quên mình (selfless), vị tha (altruistic). Về mặt chính trị xã hội, con người tiến từ tâm thức độc tài sang tâm thức dân chủ. Sự tiến hóa đó đòi hỏi thời gian và cố gắng luyện tập. Xã hội gồm nhiều cá nhân tập hợp lại cũng có sự tiến hóa tương tự như cá nhân. Cách đây nhiều thế kỷ, cả thế giới đều được cai trị bằng những thể chế độc tài. Nhưng đến thế kỷ 19, 20, thế giới, dần dần từng nước một, đã thoát ra khỏi các thể chế độc tài. Ðến nay, thế kỷ 21, trào lưu dân chủ đã phát triển hầu như khắp thế giới, chỉ còn một số quốc gia vẫn phải rên xiết dưới những thể chế độc tài cộng sản hoặc phi cộng sản. Thật không may cho dân tộc Việt Nam ta lại nằm trong số những quốc gia xấu số ấy suốt 5, 6 thập kỷ qua.
Tất cả các quốc gia thoát khỏi thể chế độc tài đều do sự tranh đấu can đảm bằng xương máu của người dân trong nước. Ðúng là “Freedom is not free” (tạm dịch: “Tự do không phải là thứ cho không biếu không”, muốn có tự do thì phải trả giá). Nhưng khá nhiều quốc gia vừa thoát khỏi ách độc tài này lại rơi vào một ách độc tài khác. Lý do sâu xa là vì dân tộc ấy, nhất là những nhà đấu tranh cho tự do dân chủ của quốc gia ấy chưa từ bỏ được tâm thức độc tài của mình, và chưa có được tâm thức dân chủ. Khi chưa nắm quyền hành thì tâm thức độc tài ấy còn nằm sâu kín trong vỏ bọc dân chủ bên ngoài, chưa có điều kiện phát tác. Nhưng khi có quyền hành trong tay, tâm thức độc tài ấy mới có điều kiện phát tác biến họ thành những nhà độc tài.
Người Việt có câu: “Rau nào sâu nấy”, “nồi nào vung nấy”. Còn người Mỹ có câu: “Such people, such government” (dân nào chính phủ nấy). Nếu dân Việt của chúng ta còn nặng tâm thức độc tài, ai cũng cứ thích bắt mọi người phải làm theo ý mình, suy nghĩ theo cách của mình, bắt mọi người nhận là đúng những gì mình cho là đúng, ai không chịu thì tìm cách triệt hạ họ, thì thể chế độc tài sẽ còn bám lấy dân tộc ta cho tới khi chúng ta từ bỏ được tâm thức ấy.
Tóm lại, để cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ của chúng ta có kết quả lâu dài và đi đến một thể chế thật sự dân chủ sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, thì mỗi người - nhất là những người đang tranh đấu cho tự do dân chủ - cần từ bỏ tâm thức độc tài và phát triển tâm thức dân chủ. Bằng không thì... chúng ta sẽ lại lập nên những thể chế độc tài khác. Vì tâm thức độc tài sẽ tạo nên những thể chế độc tài, còn tâm thức dân chủ mới tạo nên những thể chế dân chủ.
Tuy nhiên, đó là việc phải làm trong lâu dài, còn việc trước mắt phải thực hiện là làm sao để chế độ độc tài hiện hành biến mất!!!

Nếu Blogger Điếu Cày ký vào bản nhận tội
Hà Sĩ Phu
(Danlambao) - ...Ít người làm được, vì cái giá phải trả cho khí phách kiên cường quá lớn, trả bằng sinh mệnh. Ngót một tháng tuyệt thực, 4 gói mì tôm do quản giáo quẳng vào vẫn còn nguyên không lay động nỗi lòng người chiến sĩ. Người tù đã lả đi, yếu lắm. Không thể tự đi, tự ngồi, cái đầu vẫn hiên ngang tự bên trong nhưng sức nặng bên ngoài của cái vỏ đã cần đến hai cánh tay trơ xương gầy chống đỡ mới không gập xuống... Từng phút một, hình hài đáng quý trọng ấy có thể giã từ chúng ta, làm thế nào loại trừ để khả năng đáng ân hận ấy không thể xảy ra, không được xảy ra?...
Vụ án Điếu Cày đặt ra những dấu hỏi tất yếu.
Vụ bắt cóc ngay trên đường phố cho thấy tính dối trá, không dám chính danh của công quyền, khi bắt thì lu loa là buôn ma túy, khi xử án lại truy tố tội trốn thuế, một thứ tội “vớ vẩn” mà hàng chục nghìn doanh nhân thời nay đều mắc phải và có thể bị khởi tố bất cứ lúc nào nếu nhà nước muốn.
Hết 30 tháng tù giam Điếu Cày không được về nhà, bị bắt lại ngay và truy tố tiếp tội tuyên truyền chống nhà nước (điều 88). Rất lạ, hành vi gọi là “tuyên truyền chóng nhà nước” không thể phát sinh trong 30 tháng ngồi tù, vậy sao trước đây không xử lại phải xử tội “trốn thuế”? Cuộc tù tiếp theo 12 năm đã là quá nặng, nhưng đáng nói hơn là sự khắt khe ngược đãi, điều kiện giam giữ khắc nghiệt và sự thăm hỏi giao lưu với người thân bị cản trở đến mức cực kỳ khó khăn nếu chưa muốn nói là tùy tiện, bất chấp luật pháp một cách vô nhân đạo.
Không ai tin vào những cái cớ bề ngoài, ai cũng tự hỏi thực chất vụ án là gì, khiến cho nhà nước đối xử đặc biệt nghiệt ngã đối với một cựu chiến binh của chính chế độ, “tội” gì mà ghê gớm quá vậy?
Qua thực tiễn, nghiệm ra rằng chỉ có mấy “tội” này là nặng nhất, bị nhà nước ta “ghét” nhất: thứ nhất là tội xúc phạm đến tình hữu nghị 16+4, hai là tội lập tổ chức “ngoài sự lãnh đạo”, ba là tội bướng - nhất định giữ khí phách, lương tâm và danh dự cá nhân, không chịu phục tùng. Ba “tội” hàng đầu này Điếu Cày đều dính cả, trọng tâm là tội thứ nhất, nói nôm na là “tội chống Tàu xâm lược”! (Nếu các nhà lãnh đạo đất nước mắc được 3 “tội” này thì đáng quý biết bao!).
Tấm hình Điếu Cày cùng các bạn trẻ trương khẩu hiệu song ngữ “Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam” trước nhà hát thành phố HCM có sức cổ động lòng yêu nước của người Việt thế nào, phía Trung Quốc nhất định phải đọc. Phải chăng đây mới là xuất xứ thật của vụ án Điếu Cày?
Sự điển hình cả về chất lượng “lương tâm” của người tù lương tâm cũng như sự đối xử khắc nghiệt của nhà nước Việt Nam đã khiến cho Blogger Điếu Cày được Tổng thống Mỹ Barack Obama vinh danh trong ngày Tự do Báo chí Thế giới (3/5/2012) khi nhắc tới những ngòi bút bị tù đày vì đã can đảm đấu tranh cho dân chủ-nhân quyền: "Chúng ta không được quên [các nhà báo] như blogger Điếu Cày, người bị bắt giữ năm 2008 trùng hợp với một khối lượng đàn áp báo chí công dân ở Việt Nam".
Trên cái nền của các sự kiện ấy, hãy đặt dấu hỏi vì sao đúng lúc này tự dưng trại giam cương quyết bắt Điếu Cày phải ký giấy nhận tội? Vì không chịu ký nên bị nhận một lệnh biệt giam 3 tháng, dẫn đến cuộc tuyệt thực kinh hoàng một tháng này.
Không phải ngẫu nhiên mà “sự cố Điếu Cày” nổ ra đúng lúc có hai cuộc viếng thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang Trung Quốc và sang Hoa kỳ. Thử tưởng tượng Tập Cận Bình biết tin Việt Nam quyết đàn áp một người chống Tàu Bành trướng ắt phải vui lòng, và lạy trời, nếu tên tù đó lại ký giấy nhận tội thì món quà này quả có giá trị không xoàng.
Nhưng trong chuyến thăm Hoa Kỳ, nếu có được một bản nhận tội như thế để trình ra cho Tổng thống Obama biết rằng cái anh tù nhân lương tâm Điếu Cày mà ông từng vinh danh và can thiệp chẳng qua chỉ là một kẻ phạm luật hình sự Việt Nam, tội gây rối để chống chính quyền, hắn nhận tội rồi đây nay! Thế thì đây là “cú tát nảy đom đóm”, liệu ông Obama còn có thể nói gì về nhân quyền Việt Nam, rồi từ nay dám lên tiếng bênh vực nữa hay thôi? Không biết “cú” này có bàn tay đạo diễn phương Bắc hay do ta tự nguyện hiến dâng?
Tình thế nghiêm trọng không thể xem thường.
Nhưng không, Điếu Cày không ký gì hết! Anh đã cứu một bàn thua chính trị cho đất nước và cho cả người bạn Obama. Giá trị của một khí phách kiên cường của người tù lương tâm ưu tú Điếu Cày Nguyễn Văn Hải biết lấy gì đo?
Rất có thể Điếu Cày không có thông tin, không hiểu hết tình huống, anh không ký nhận tội chỉ vì bản tính anh như thế, lương tâm anh như thế, không, và quyết không chịu nói một lời nhận tội để phản bội đất nước, phản bội đồng đội và tự phản mình, mặc dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt như thế, nếu anh có một chữ ký “trá hàng” cũng đáng được thông cảm, không ai nỡ trách.
Ít người làm được, vì cái giá phải trả cho khí phách kiên cường quá lớn, trả bằng sinh mệnh. Ngót một tháng tuyệt thực, 4 gói mì tôm do quản giáo quẳng vào vẫn còn nguyên không lay động nỗi lòng người chiến sĩ. Người tù đã lả đi, yếu lắm. Không thể tự đi, tự ngồi, cái đầu vẫn hiên ngang tự bên trong nhưng sức nặng bên ngoài của cái vỏ đã cần đến hai cánh tay trơ xương gầy chống đỡ mới không gập xuống.
Con anh nhìn bố mà không thể nhận ra hình hài bố mình. Xót thương, xót lòng tất cả những người Việt Nam còn lương tâm và lý trí. Nhưng tất cả chúng ta càng nhận ra anh, rõ nét và mãnh liệt hơn bao giờ hết, vì hình hài này đang sống trong tất cả chúng ta, cho tất cả chúng ta.
Từng phút một, hình hài đáng quý trọng ấy có thể giã từ chúng ta, làm thế nào loại trừ để khả năng đáng ân hận ấy không thể xảy ra, không được xảy ra?
Câu hỏi xé lòng!
Đà Lạt 22/7/2013
Hà Sĩ Phu
TC Đầu Độc Dân Chúng VN
Tác giả : Vi Anh
Ngày 30 tháng 5 năm 2013 Tổng Cục Cảnh Sát Phòng Chống Tội Phạm của VNCS phối hợp với Toà Đại Sứ Pháp tại Việt Nam mở cuộc hội thảo ở Hà nội, nhận định 80% lượng hàng giả nhập lậu vào Việt Nam là từ Trung Quốc, trong đó có hàng nhái, rượu, thuốc đông, tây y giả nhãn hiệu.
Mới đây Tổ chức Greenpeace, Hoà Bình Xanh có tầm vóc quốc tế công bố 90% dược thảo của Trung Quốc sản xuất và phân phối khắp thế giới có chứa chất độc hoá học, như thuốc trừ sâu, trừ mối, màu độc, chất chì.
Báo Lao Động và Thanh Niên của Đảng Nhà Nước CSVN cũng đi tin hơn 90% dược liệu bày bán khắp nước Việt Nam đều nhập cảng từ Trung Quốc. Người Việt thường gọi là thuốc bắc để đối chiếu với thuốc nam là y dược làm ra từ cây cỏ của VN. Phần lớn dược thảo "Made in China" của TC tuồn về Việt Nam bằng nhiều cách, qua đường quà biếu, cầm tay, hoặc vận chuyển nhứt là qua đường tiểu ngạch, tức là qua những vùng đất TC mướn cả mấy chục năm của các tỉnh VN giáp giới với TC.
Một phúc trình của nhà cầm quyền y dược của VNCS còn xác nhận rất nhiều dược liệu nhập từ Trung Quốc được trộn thêm cát, xi măng, tạp chất… để làm tăng trọng lượng, và tẩm nhiều loại hóa chất gây độc. Như tẩm thuốc chống mối để giữ được lâu, nhuộm màu hoá học, trộn thêm tạp chất để giả các loại thuốc quý như thỏ ty tử, hồng hoa, bạch linh, v.v... nhằm đánh lừa người tiêu thụ.
Không phải chi báo chí trong nước nói, mà các chuyên viên trong ngành y học dân tộc VN, cán bộ, đảng viên của các cơ quan y tế cũng nói trong các cuộc hội thảo. Tại hội thảo “Phát triển dược liệu theo tiêu chuẩn WHO [tổ chức Y tế Thế Giới của Liên Hiệp Quốc] do Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Hà Giang tổ chức hôm 28/6 tại huyện Quản Bạ, nhiều đại biểu cho biết dược liệu nhập lậu, kém chất lượng vẫn chưa được kiểm soát, trong khi nguồn dược liệu ở Việt Nam chưa được tận dụng.
Ở Hà nội, Tiến Sĩ Trần Thị Hồng Phương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý y dược cổ truyền của Bộ Y tế của VNCS, nói dược liệu nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam đang chiếm hơn 80%, song chất lượng lại tù mù. Kết quả kiểm nghiệm 400 mẫu dược liệu, có tới 60% mẫu chưa đạt chất lượng và 20% số thuốc thậm chí còn bị trộn rác như cát, xi măng, lẫn tạp chất, giả mạo, tẩm ướp hóa chất độc hại.
Ở Saigon, PGS.TS Phạm Khánh Phong Lan, Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM cho biết, dược liệu rác, trôi nổi, kém chất lượng đến nay vẫn chưa kiểm soát được. “Nhu cầu dược liệu sạch cho TPHCM rất lớn. Tuy nhiên, lượng lớn dược liệu vẫn phải mua ở các phố đông y mà không rõ nguồn gốc, chất lượng.”
Theo hai tờ báo Lao Động và Thanh Niên phát hành khắp nước, số người lớn và trẻ em dùng “thuốc bắc” có nghĩa từ phía Bắc tức bên Tàu đem qua bán ở VN, chết và phải đi nhà thương rất nhiều.
Ở Phan Thiết, thầy thuốc bắc Phạm Minh Tiến 47 tuổi, ngụ tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, bị chết hôm 31/5 vì uống thử thuốc bắc. Một thanh niên là Phùng Văn Nên 27 tuổi, đến tiệm của ông Tiến hốt thuốc chữa bệnh thấp khớp nhưng về nhà sắc uống thì lên cơn co giật dữ dội. Anh trở lại gặp thầy thuốc khiếu nại, thì Thầy Tiến khẳng định là thuốc nhập từ bên Tàu, bèn uống thử thứ thuốc đã bốc cho anh nên, Thầy cũng bị trúng độc, nhưng nặng hơn và đã qua đời sau đó.
Ở Saigon, bệnh viện Nhi Đồng 2, Sài Gòn thường phải cứu cấp nhiều em bé bị trúng độc vì thuốc bắc của TC. Tiêu biểu như một bé gái ngụ tại huyện Nhà Bè bị tê cứng tay chân, không cử động được sau khi uống thang thuốc trị nghẹt mũi.
Một bé trai 4 tuổi ở Phú Quốc vừa nhập viện Bệnh viện Nhi đồng 2 TPHCM trong tình trạng ngộ độc thuốc đông y, do mẹ của bé trai này cho bé uống “thuốc cam Hàng Bạc” cùng một số thuốc bắc và thuốc nam khác trong hai năm. Thử máu, Bác sĩ nhận thấy “nồng độ chì trong máu bệnh nhi cao, bé bị thiếu máu và có biểu hiện chậm phát triển trí tuệ”.
Ông Lê Hùng, Phó chủ tịch Hội Đông Y Sài Gòn cho biết, có rất nhiều bệnh nhân dùng thuốc bắc chữa bệnh thông qua các thầy lang, đang bị suy thận trầm trọng. Ông Hùng cũng nói rằng, việc kiểm soát phẩm chất thuốc bắc hầu như nằm ngoài tầm tay của các quan chức thẩm quyền.
Đất nước và nhân dân VN là nạn nhân đông đảo và trầm trọng nhứt của thuốc bắc do TC tung ra. Một là vì người dân nghèo, ở nông thôn nhiều hơn thành thị. Tây y ở nhà thương, nhà thuốc tây mắc so với lợi tức trung bình kiếm được chỉ khoảng 500 Mỹ kim một năm. Thuốc Bắc rẻ, giờ nào tới thầy thuốc bắc cũng được, dễ hơn gặp bác sĩ, phòng mạch rất ít ở nông thôn. Thấy thuốc bắc ra toa thường hốt thuốc luôn, cho khỏi phải đến mua như ở nhà thuốc tây rất hiềm ở nông thôn.
Hai là truyền thống của người Việt là đói ăn rau, đau uống thuốc, thuốc làm bằng cây cỏ dược thảo người Việt thích, do thói quen ngàn xưa truyền lại. Kể cả một số người sống ở hải ngoại nhứt là khi lớn tuổi cũng quay về cội nguồn, thích thuốc bắc, tin rằng ít độc, ít phản ứng phụ hơn thuốc tây.
Ba là với đà bành trướng của TC, thuốc bắc, đồ Tàu, thức thức ăn, thức uống, trái cây, rau củ, TC xuất cảng tràn lan, giả quá rẻ, rẻ hơn nông phẩm địa phương sở tại của các nước. Việt Nam là nước giáp ranh với Trung Quốc. Đảng Nhà Nước CSVN là “đồng chí” với Đảng Nhà nước TC, núi liền núi sông liền sông với TC. Nên VN là nơi TC tuồn mọi thứ hàng hoá bị thị trường Tây Âu, Bắc Mỹ chê độc và cũng là nơi TC coi như sọt rác tuồn hàng thải, hàng phế bị dân TQ chê đưa qua VN bán rẻ mạc.
Đảng Nhà Nước CSVN còn lệ thuộc quan thầy TC đến mức công nhân TC qua làm việc ở VN, không cần hộ chiếu, không cần chiếu khán”. Các công ty TC đem cả cái cầu tiêu từ bên Tàu qua xài khi làm công trình ở VN và họ lập thôn xóm, chùa Ông Bổn trường học dạy tiếng Quan Thoại riêng như một quốc gia TC trong một quốc gia tại VN.
Huống hồ gì hàng gian, hàng giả, hàng độc, thuốc bắc, thuốc tàu 90% TC tuồn qua tràn ngập quê hương đất nước của người VN./. (Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh
Ngày 30 tháng 5 năm 2013 Tổng Cục Cảnh Sát Phòng Chống Tội Phạm của VNCS phối hợp với Toà Đại Sứ Pháp tại Việt Nam mở cuộc hội thảo ở Hà nội, nhận định 80% lượng hàng giả nhập lậu vào Việt Nam là từ Trung Quốc, trong đó có hàng nhái, rượu, thuốc đông, tây y giả nhãn hiệu.
Mới đây Tổ chức Greenpeace, Hoà Bình Xanh có tầm vóc quốc tế công bố 90% dược thảo của Trung Quốc sản xuất và phân phối khắp thế giới có chứa chất độc hoá học, như thuốc trừ sâu, trừ mối, màu độc, chất chì.
Báo Lao Động và Thanh Niên của Đảng Nhà Nước CSVN cũng đi tin hơn 90% dược liệu bày bán khắp nước Việt Nam đều nhập cảng từ Trung Quốc. Người Việt thường gọi là thuốc bắc để đối chiếu với thuốc nam là y dược làm ra từ cây cỏ của VN. Phần lớn dược thảo "Made in China" của TC tuồn về Việt Nam bằng nhiều cách, qua đường quà biếu, cầm tay, hoặc vận chuyển nhứt là qua đường tiểu ngạch, tức là qua những vùng đất TC mướn cả mấy chục năm của các tỉnh VN giáp giới với TC.
Một phúc trình của nhà cầm quyền y dược của VNCS còn xác nhận rất nhiều dược liệu nhập từ Trung Quốc được trộn thêm cát, xi măng, tạp chất… để làm tăng trọng lượng, và tẩm nhiều loại hóa chất gây độc. Như tẩm thuốc chống mối để giữ được lâu, nhuộm màu hoá học, trộn thêm tạp chất để giả các loại thuốc quý như thỏ ty tử, hồng hoa, bạch linh, v.v... nhằm đánh lừa người tiêu thụ.
Không phải chi báo chí trong nước nói, mà các chuyên viên trong ngành y học dân tộc VN, cán bộ, đảng viên của các cơ quan y tế cũng nói trong các cuộc hội thảo. Tại hội thảo “Phát triển dược liệu theo tiêu chuẩn WHO [tổ chức Y tế Thế Giới của Liên Hiệp Quốc] do Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Hà Giang tổ chức hôm 28/6 tại huyện Quản Bạ, nhiều đại biểu cho biết dược liệu nhập lậu, kém chất lượng vẫn chưa được kiểm soát, trong khi nguồn dược liệu ở Việt Nam chưa được tận dụng.
Ở Hà nội, Tiến Sĩ Trần Thị Hồng Phương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý y dược cổ truyền của Bộ Y tế của VNCS, nói dược liệu nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam đang chiếm hơn 80%, song chất lượng lại tù mù. Kết quả kiểm nghiệm 400 mẫu dược liệu, có tới 60% mẫu chưa đạt chất lượng và 20% số thuốc thậm chí còn bị trộn rác như cát, xi măng, lẫn tạp chất, giả mạo, tẩm ướp hóa chất độc hại.
Ở Saigon, PGS.TS Phạm Khánh Phong Lan, Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM cho biết, dược liệu rác, trôi nổi, kém chất lượng đến nay vẫn chưa kiểm soát được. “Nhu cầu dược liệu sạch cho TPHCM rất lớn. Tuy nhiên, lượng lớn dược liệu vẫn phải mua ở các phố đông y mà không rõ nguồn gốc, chất lượng.”
Theo hai tờ báo Lao Động và Thanh Niên phát hành khắp nước, số người lớn và trẻ em dùng “thuốc bắc” có nghĩa từ phía Bắc tức bên Tàu đem qua bán ở VN, chết và phải đi nhà thương rất nhiều.
Ở Phan Thiết, thầy thuốc bắc Phạm Minh Tiến 47 tuổi, ngụ tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, bị chết hôm 31/5 vì uống thử thuốc bắc. Một thanh niên là Phùng Văn Nên 27 tuổi, đến tiệm của ông Tiến hốt thuốc chữa bệnh thấp khớp nhưng về nhà sắc uống thì lên cơn co giật dữ dội. Anh trở lại gặp thầy thuốc khiếu nại, thì Thầy Tiến khẳng định là thuốc nhập từ bên Tàu, bèn uống thử thứ thuốc đã bốc cho anh nên, Thầy cũng bị trúng độc, nhưng nặng hơn và đã qua đời sau đó.
Ở Saigon, bệnh viện Nhi Đồng 2, Sài Gòn thường phải cứu cấp nhiều em bé bị trúng độc vì thuốc bắc của TC. Tiêu biểu như một bé gái ngụ tại huyện Nhà Bè bị tê cứng tay chân, không cử động được sau khi uống thang thuốc trị nghẹt mũi.
Một bé trai 4 tuổi ở Phú Quốc vừa nhập viện Bệnh viện Nhi đồng 2 TPHCM trong tình trạng ngộ độc thuốc đông y, do mẹ của bé trai này cho bé uống “thuốc cam Hàng Bạc” cùng một số thuốc bắc và thuốc nam khác trong hai năm. Thử máu, Bác sĩ nhận thấy “nồng độ chì trong máu bệnh nhi cao, bé bị thiếu máu và có biểu hiện chậm phát triển trí tuệ”.
Ông Lê Hùng, Phó chủ tịch Hội Đông Y Sài Gòn cho biết, có rất nhiều bệnh nhân dùng thuốc bắc chữa bệnh thông qua các thầy lang, đang bị suy thận trầm trọng. Ông Hùng cũng nói rằng, việc kiểm soát phẩm chất thuốc bắc hầu như nằm ngoài tầm tay của các quan chức thẩm quyền.
Đất nước và nhân dân VN là nạn nhân đông đảo và trầm trọng nhứt của thuốc bắc do TC tung ra. Một là vì người dân nghèo, ở nông thôn nhiều hơn thành thị. Tây y ở nhà thương, nhà thuốc tây mắc so với lợi tức trung bình kiếm được chỉ khoảng 500 Mỹ kim một năm. Thuốc Bắc rẻ, giờ nào tới thầy thuốc bắc cũng được, dễ hơn gặp bác sĩ, phòng mạch rất ít ở nông thôn. Thấy thuốc bắc ra toa thường hốt thuốc luôn, cho khỏi phải đến mua như ở nhà thuốc tây rất hiềm ở nông thôn.
Hai là truyền thống của người Việt là đói ăn rau, đau uống thuốc, thuốc làm bằng cây cỏ dược thảo người Việt thích, do thói quen ngàn xưa truyền lại. Kể cả một số người sống ở hải ngoại nhứt là khi lớn tuổi cũng quay về cội nguồn, thích thuốc bắc, tin rằng ít độc, ít phản ứng phụ hơn thuốc tây.
Ba là với đà bành trướng của TC, thuốc bắc, đồ Tàu, thức thức ăn, thức uống, trái cây, rau củ, TC xuất cảng tràn lan, giả quá rẻ, rẻ hơn nông phẩm địa phương sở tại của các nước. Việt Nam là nước giáp ranh với Trung Quốc. Đảng Nhà Nước CSVN là “đồng chí” với Đảng Nhà nước TC, núi liền núi sông liền sông với TC. Nên VN là nơi TC tuồn mọi thứ hàng hoá bị thị trường Tây Âu, Bắc Mỹ chê độc và cũng là nơi TC coi như sọt rác tuồn hàng thải, hàng phế bị dân TQ chê đưa qua VN bán rẻ mạc.
Đảng Nhà Nước CSVN còn lệ thuộc quan thầy TC đến mức công nhân TC qua làm việc ở VN, không cần hộ chiếu, không cần chiếu khán”. Các công ty TC đem cả cái cầu tiêu từ bên Tàu qua xài khi làm công trình ở VN và họ lập thôn xóm, chùa Ông Bổn trường học dạy tiếng Quan Thoại riêng như một quốc gia TC trong một quốc gia tại VN.
Huống hồ gì hàng gian, hàng giả, hàng độc, thuốc bắc, thuốc tàu 90% TC tuồn qua tràn ngập quê hương đất nước của người VN./. (Vi Anh)
Chuyến thăm Mỹ của ông Sang được tổ chức 'vội vã'
Wednesday, July 24, 2013 7:14:38 PM
WASHINGTON DC (NV) .- Chuyến đi Mỹ của chủ tịch nước CSVN được tổ chức vội vã trong nhu cầu muốn đu dây hiệu quả hơn
giữa hai cường quốc Mỹ – Hoa.

Luật sư Lê Quốc Quân cùng nông dân biểu tình chống nhà nước cướp đất ở Hà Nội ngày 21/8/2012.
Ông đã bị bắt và đang bị cột cho tội “trốn thuế” dù ông tuyên bố ông đóng thuế đầy đủ. Chủ tịch nước CSVN đang bị áp lực trả tự do cho ông
và những người đấu tranh nhân quyền dân chủ tại Việt Nam trong chuyến thăm Mỹ đang diễn ra. (Hình: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)
Ông Carl Thayer, chuyên viên về các vấn đề Việt Nam của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc đưa ra một số nhận định dựa trên các thông tin ông có được về chuyến thăm viếng nước Mỹ của chủ tịch nước CSVN Trương Tấn Sang.
Theo ông Thayer, chuyến đi Mỹ của phái đoàn ông Trương Tấn sang chỉ có 2 tuần lễ để chuẩn bị. Đây là điều rất bất thường trong các quan hệ ngoại giao quốc tế nếu không vì một lý do gì đặc biệt. Khi thảo luận sắp xếp những điều sẽ được hai bên thảo luận, Hà Nội nhấn mạnh phải có khoản nói về Hiệp định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TTP) trong bản tuyên bố chung 7 điểm dự trù sẽ công bố sau cuộc họp giữa hai ông Trương Tấn Sang và Barack Obama ngày 25/7/2013.
Kinh tế chắc hẳn chiếm phần quan trọng trong cuộc thảo luận giữa ông Obama và ông Sang. Người ta không tin hai ông sẽ đi sâu vào chi tiết của TTP. Tuy nhiên, các nguồn tin mà ông Thayer có được cho hay Hoa Kỳ có vẻ nhượng bộ bất thường đối với một danh sách gai góc mà Hà Nội đưa ra để đàm phán về Hiệp định TTP.
Tháng Tư 2013, Bộ Chính Trị CSVN đưa ra nghị quyết nêu rõ chủ trương hội nhập vào sinh hoạt thế giới mọi mặt, không riêng gì kinh tế mà còn cả về an ninh quốc phòng. Trong bản nghị quyết đó nhấn mạnh đến vai trò của các cường quốc và các định chế đa phương.
Nếu hướng đi của Hà Nội đúng như thế, nó nhấn mạnh cho thấy Hà Nội đã gặp khó khăn về tranh chấp lãnh thổ biển đảo khi ông Trương Tấn Sang đến Bắc Kinh hồi Tháng 6. Nếu người ta nhớ lại, bản tuyên bố chung giữa Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình không đề cập gì đến Công ước Quốc tế về Luật Biển (UNCLOS) mà các bên tranh chấp Biển Đông thường viện dẫn để tránh xung đột võ trang. Vì vậy, nhiều người ở Việt Nam đã cho rằng ông Trương Tấn Sang đã bị ép nhìn nhận một bản tuyên bố chung do Bắc Kinh soạn thảo, không công bằng đối với Việt Nam. Nhiều người còn cho rằng ông đã thất bại trong chuyến đi này.
Tránh né từ “Đối tác chiến lược”
Những thỏa thuận đạt được của TTP giữa Mỹ và Việt Nam có thể là nền tảng để soạn thảo những thỏa thuận chính thức khác. Tuy bà Hillary Clinton khi còn là ngoại trưởng từng thúc đẩy cho một thỏa hiệp “đối tác chiến lược” giữa hai nước từ năm 2010, nhưng bản thông cáo báo chí của Tòa Bạch Ốc nói về chuyến thăm viếng của ông Sang chỉ “hoan nghênh cơ hội thảo luận với chủ tịch Sang để làm thế nào tăng cường hơn đối tác về các vấn đề chiến lược khu vực”.
Từ ngữ có vẻ tế nhị, nhẹ nhàng hơn, tránh chọc giận Bắc Kinh dù người ta vẫn có thể hiểu ám chỉ đến một thứ hợp tác “đối tác chiến lược”. Khi tham dự Diễn Đàn Đối Thoại An Ninh Khu Vực Shangri-La ở Singapore cuối tháng 5 vừa qua, ông thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã cho hay Việt Nam muốn trở thành đối tác chiến lược với tất cả các thành viên thường trực của Hội Đồng An Ninh của LHQ.
Cũng có một số tin đồn trên mặt báo rằng các tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông cũng được nhấn mạnh trong cuộc thảo luận giữa hai ông Barack Obama và Trương Tấn Sang. Nhiều phần, người ta sẽ chỉ nhìn thấy hai ông lập lại những lời tuyên bố lấy UNCLOS làm căn bản để giải quyết tranh chấp, không được đe dọa võ lực.
Nhân quyền: Hà Nội có thể nhượng bộ?
Trước cuộc thăm viếng của ông Trương Tấn Sang, đại sứ Mỹ tại Hà Nội David Shear tuyên bố với báo chí là “Nếu muốn quan hệ mậu dịch sát hơn, ta cần đến hiệp định TTP. Mà nếu chúng ta muốn gia tăng mạnh mẽ các hợp tác ngoại giao, những nỗ lực đó cần có sự hậu thuẫn chính trị của người Mỹ mà họ cần thấy có sự tiến bộ nhân quyền từ phía Việt Nam”.
Báo chí ở Việt Nam khi loan báo tin này đã cắt bỏ phần đề cập nhân quyền của ông Shear. Nhưng ông Obama có nhiều cơ hội để nói chuyện với ông Sang ở lúc thảo luận riêng, gồm cả bản án tù những nhân vật nổi tiếng như LM Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Lê Quốc Quân.
Theo ông Thayer nhận xét, có thể Hà Nội muốn giữ thể diện nên không thả ngay mà chờ đến ngày 'Lễ 2-9' mới thả một vài người. Bản hiến pháp mới đang được chuẩn bị sửa đổi có thể cũng sẽ “làm rõ hơn” về quyền con người và tự do tôn giáo.
Vận động xin Mỹ bỏ cấm vận võ khí
Ngay trước khi lên đường, ông Trương Tấn Sang, trả lời thông tấn AP, đã kêu gọi Hoa Kỳ bỏ cấm vận bán võ khí sát thương cho Việt Nam. Đây là chuyện Hà Nội đã kêu gọi nhiều lần mỗi khi có các lần gặp mặt giữa những viên chức cấp cao hai bên.
Năm 2009, bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh khi đến Mỹ đã yêu cầu Mỹ bỏ cấm vận. Khi Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Panetta đến Việt Nam đầu tháng 6 năm ngoái, các lãnh tụ Hà Nội lại nêu vấn đề này và được trả lời lại là cần phải cải thiện nhân quyền. Đó là không kể đến những lần vận động các nghị sĩ nhiều ảnh hưởng như John McCain, Joseph Liebeman, John Kerry (khi còn là nghị sĩ) “nói dùm”.
“Đã đến lúc để mối quan hệ giữa hai nước chúng ta được bình thường hóa về tất cả mọi mặt”. Ông Sang nói với nhà báo như thế trước ngày đi Mỹ nhưng chế độ Hà Nội có nới lỏng nhân quyền hay không, còn phải chờ xem.
Theo ông Carl Thayer, nếu cuộc thăm viếng Mỹ của chủ tịch nước Trương Tấn Sang diễn tiến tốt đẹp, nó có thể mở đường cho chuyến đi thăm Hà Nội vào Tháng 10 tới đây của ông Barack Obama khi ông đến Brunei dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN và các Đối Tác. (TN)
Wednesday, July 24, 2013 7:14:38 PM
WASHINGTON DC (NV) .- Chuyến đi Mỹ của chủ tịch nước CSVN được tổ chức vội vã trong nhu cầu muốn đu dây hiệu quả hơn
giữa hai cường quốc Mỹ – Hoa.

Luật sư Lê Quốc Quân cùng nông dân biểu tình chống nhà nước cướp đất ở Hà Nội ngày 21/8/2012.
Ông đã bị bắt và đang bị cột cho tội “trốn thuế” dù ông tuyên bố ông đóng thuế đầy đủ. Chủ tịch nước CSVN đang bị áp lực trả tự do cho ông
và những người đấu tranh nhân quyền dân chủ tại Việt Nam trong chuyến thăm Mỹ đang diễn ra. (Hình: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)
Ông Carl Thayer, chuyên viên về các vấn đề Việt Nam của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc đưa ra một số nhận định dựa trên các thông tin ông có được về chuyến thăm viếng nước Mỹ của chủ tịch nước CSVN Trương Tấn Sang.
Theo ông Thayer, chuyến đi Mỹ của phái đoàn ông Trương Tấn sang chỉ có 2 tuần lễ để chuẩn bị. Đây là điều rất bất thường trong các quan hệ ngoại giao quốc tế nếu không vì một lý do gì đặc biệt. Khi thảo luận sắp xếp những điều sẽ được hai bên thảo luận, Hà Nội nhấn mạnh phải có khoản nói về Hiệp định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TTP) trong bản tuyên bố chung 7 điểm dự trù sẽ công bố sau cuộc họp giữa hai ông Trương Tấn Sang và Barack Obama ngày 25/7/2013.
Kinh tế chắc hẳn chiếm phần quan trọng trong cuộc thảo luận giữa ông Obama và ông Sang. Người ta không tin hai ông sẽ đi sâu vào chi tiết của TTP. Tuy nhiên, các nguồn tin mà ông Thayer có được cho hay Hoa Kỳ có vẻ nhượng bộ bất thường đối với một danh sách gai góc mà Hà Nội đưa ra để đàm phán về Hiệp định TTP.
Tháng Tư 2013, Bộ Chính Trị CSVN đưa ra nghị quyết nêu rõ chủ trương hội nhập vào sinh hoạt thế giới mọi mặt, không riêng gì kinh tế mà còn cả về an ninh quốc phòng. Trong bản nghị quyết đó nhấn mạnh đến vai trò của các cường quốc và các định chế đa phương.
Nếu hướng đi của Hà Nội đúng như thế, nó nhấn mạnh cho thấy Hà Nội đã gặp khó khăn về tranh chấp lãnh thổ biển đảo khi ông Trương Tấn Sang đến Bắc Kinh hồi Tháng 6. Nếu người ta nhớ lại, bản tuyên bố chung giữa Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình không đề cập gì đến Công ước Quốc tế về Luật Biển (UNCLOS) mà các bên tranh chấp Biển Đông thường viện dẫn để tránh xung đột võ trang. Vì vậy, nhiều người ở Việt Nam đã cho rằng ông Trương Tấn Sang đã bị ép nhìn nhận một bản tuyên bố chung do Bắc Kinh soạn thảo, không công bằng đối với Việt Nam. Nhiều người còn cho rằng ông đã thất bại trong chuyến đi này.
Tránh né từ “Đối tác chiến lược”
Những thỏa thuận đạt được của TTP giữa Mỹ và Việt Nam có thể là nền tảng để soạn thảo những thỏa thuận chính thức khác. Tuy bà Hillary Clinton khi còn là ngoại trưởng từng thúc đẩy cho một thỏa hiệp “đối tác chiến lược” giữa hai nước từ năm 2010, nhưng bản thông cáo báo chí của Tòa Bạch Ốc nói về chuyến thăm viếng của ông Sang chỉ “hoan nghênh cơ hội thảo luận với chủ tịch Sang để làm thế nào tăng cường hơn đối tác về các vấn đề chiến lược khu vực”.
Từ ngữ có vẻ tế nhị, nhẹ nhàng hơn, tránh chọc giận Bắc Kinh dù người ta vẫn có thể hiểu ám chỉ đến một thứ hợp tác “đối tác chiến lược”. Khi tham dự Diễn Đàn Đối Thoại An Ninh Khu Vực Shangri-La ở Singapore cuối tháng 5 vừa qua, ông thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã cho hay Việt Nam muốn trở thành đối tác chiến lược với tất cả các thành viên thường trực của Hội Đồng An Ninh của LHQ.
Cũng có một số tin đồn trên mặt báo rằng các tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông cũng được nhấn mạnh trong cuộc thảo luận giữa hai ông Barack Obama và Trương Tấn Sang. Nhiều phần, người ta sẽ chỉ nhìn thấy hai ông lập lại những lời tuyên bố lấy UNCLOS làm căn bản để giải quyết tranh chấp, không được đe dọa võ lực.
Nhân quyền: Hà Nội có thể nhượng bộ?
Trước cuộc thăm viếng của ông Trương Tấn Sang, đại sứ Mỹ tại Hà Nội David Shear tuyên bố với báo chí là “Nếu muốn quan hệ mậu dịch sát hơn, ta cần đến hiệp định TTP. Mà nếu chúng ta muốn gia tăng mạnh mẽ các hợp tác ngoại giao, những nỗ lực đó cần có sự hậu thuẫn chính trị của người Mỹ mà họ cần thấy có sự tiến bộ nhân quyền từ phía Việt Nam”.
Báo chí ở Việt Nam khi loan báo tin này đã cắt bỏ phần đề cập nhân quyền của ông Shear. Nhưng ông Obama có nhiều cơ hội để nói chuyện với ông Sang ở lúc thảo luận riêng, gồm cả bản án tù những nhân vật nổi tiếng như LM Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Lê Quốc Quân.
Theo ông Thayer nhận xét, có thể Hà Nội muốn giữ thể diện nên không thả ngay mà chờ đến ngày 'Lễ 2-9' mới thả một vài người. Bản hiến pháp mới đang được chuẩn bị sửa đổi có thể cũng sẽ “làm rõ hơn” về quyền con người và tự do tôn giáo.
Vận động xin Mỹ bỏ cấm vận võ khí
Ngay trước khi lên đường, ông Trương Tấn Sang, trả lời thông tấn AP, đã kêu gọi Hoa Kỳ bỏ cấm vận bán võ khí sát thương cho Việt Nam. Đây là chuyện Hà Nội đã kêu gọi nhiều lần mỗi khi có các lần gặp mặt giữa những viên chức cấp cao hai bên.
Năm 2009, bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh khi đến Mỹ đã yêu cầu Mỹ bỏ cấm vận. Khi Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Panetta đến Việt Nam đầu tháng 6 năm ngoái, các lãnh tụ Hà Nội lại nêu vấn đề này và được trả lời lại là cần phải cải thiện nhân quyền. Đó là không kể đến những lần vận động các nghị sĩ nhiều ảnh hưởng như John McCain, Joseph Liebeman, John Kerry (khi còn là nghị sĩ) “nói dùm”.
“Đã đến lúc để mối quan hệ giữa hai nước chúng ta được bình thường hóa về tất cả mọi mặt”. Ông Sang nói với nhà báo như thế trước ngày đi Mỹ nhưng chế độ Hà Nội có nới lỏng nhân quyền hay không, còn phải chờ xem.
Theo ông Carl Thayer, nếu cuộc thăm viếng Mỹ của chủ tịch nước Trương Tấn Sang diễn tiến tốt đẹp, nó có thể mở đường cho chuyến đi thăm Hà Nội vào Tháng 10 tới đây của ông Barack Obama khi ông đến Brunei dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN và các Đối Tác. (TN)

