Cà Phê...Vịt
Moderator: khieulong
Như Một Thoáng Mây Bay
Đỗ Dung Ông cụ nằm kia, khuôn mặt trắng mịn, hiền hòa, đôi mắt khép lại nhẹ nhàng như người đang nằm ngủ. Khuôn mặt kia, hình hài kia rồi sẽ biến đi, sẽ tan vào hư vô, chúng tôi không bao giờ còn trông thấy nữa. Ai cũng biết ngày này rồi sẽ tới, ai cũng biết đến lúc phải chia ly nhưng trong sâu thẳm của tâm hồn vẫn có những nỗi đau vò xé. Trong cái mênh mang, êm lặng tột cùng vẫn có những nỗi xót xa... Hơn tám mươi năm, một khoảng thời gian dài cho cả một đời người cũng chỉ như một thoáng mây bay. Bố tôi nằm đó, bình an như đang say ngủ, những hình ảnh xưa về Bố chợt ẩn chợt hiện, chợt gần chợt xa...
Trước năm 1954, gia đình chúng tôi sống hạnh phúc trong căn nhà nhỏ trên đường Mai Hắc Đế, Hà Nội. Những ngày tháng êm đềm, có Bà, có Mẹ, có cô Nga em của Bố và cậu Thắng em của Mẹ. Bố tôi chưa đầy ba mươi tuổi và chúng tôi từ em Tuấn còn bế ngửa, anh Dũng chưa lên chín, ở giữa là ba bé gái, Tí Bun, Tí Xíu và Ông Lý Hạnh (Hồi nhỏ Hạnh hay đội cái mũ thóp giống như khăn xếp của ông lý nên Bố yêu gọi là Ông Lý Hạnh). Phòng khách nhà tôi kê bộ ghế với tràng kỷ kiểu Tàu, bộ sập gụ và tủ chè khảm xà cừ óng ánh sự tích Bát Tiên. Buổi tối sau khi ăn cơm, chúng tôi quây quần, cha ngồi xem báo, mẹ ngồi đan áo ở bộ sa lông và chúng tôi bò trên sập để học bài như cảnh Phạm Duy mô tả trong bài “Kỷ Niệm”, chỉ khác là không có cây đèn dầu hao nhưng căn phòng sáng ấm nhờ bóng đèn vàng từ trên trần toả xuống.
Buổi chiều mấy con bé đợi Bố đi làm về để bám vào cánh tay rắn chắc của Bố đang cong lại đưa ra, mấy đứa nhún chân lên đu đưa rồi cười như nắc nẻ. Ngày mùng một ta, Mẹ tôi hay cúng Thổ Công cái chân giò luộc để cạnh ba chén rượu trắng và một đĩa muối. Khi cúng xong Bố lấy con dao nhỏ từ từ xẻo từng miếng thịt chân giò, chấm muối tiêu rồi cứ Bố một miếng lại cho mỗi đứa con một miếng.
Thời buổi nhiễu nhương tranh tối, tranh sáng sau hiệp định Geneve, vì an ninh nên gia đình chúng tôi phải dọn vào nhà thương Võ Tánh. Bà tôi ngày nào cũng khóc vì không muốn rời quê cha đất tổ, mồ mả tổ tiên. Bà muốn cả nhà ở lại hoặc để Bà ở lại với cô Nga, ngày đó mới lập gia đình và nhà chồng cô quyết định không di cư. Một hôm Bà cũng đang sụt sùi nài nỉ, Bố tôi rút cây súng lục để ra bàn nói: “Cụ muốn ở lại để con bắn hết các cháu, con bắn chết con luôn để Cụ ở lại một mình được không?” Bà tôi sợ quá, cuống quýt: “Thôi tôi xin cậu, tôi xin cậu, tôi đi, tôi đi!” Thế là từ đó Bà chỉ thút thít khóc thầm chứ không dám khóc trước mặt Bố tôi nữa. Về sau Bố nói phải dọa già thế Bà mới chịu đi chứ ở lại thì chết cả đám.
Vào đến Sài Gòn, gia đình gồm chín người, ngơ ngác nơi vùng đất lạ, tất cả phải làm lại từ đầu, Bà tôi ngán ngẩm cố nén tiếng thở dài. Chúng tôi định cư tại căn nhà ở đường Thành Thái, một căn nhà gỗ nhỏ, một tầng, xung quanh còn cây cối xum xuê. Mặc dù rất bận rộn trong sở làm, ưu tư về nơi ăn, chốn ở mới, ngày nào đi làm về Bố tôi cũng tắm rửa cho chúng tôi. Ông yêu các con và đó cũng là cái thú của ông, mặc dù nhà có người làm, có Bà, có Mẹ chúng tôi. Tôi còn nhớ cứ vào cuối tuần ông hay đem chúng tôi ra cắt tóc, cạo mặt, ngoáy tai, cứ từng đứa, từng đứa. Đứa nào nhúc nhích không chịu ngồi yên, tóc không đều, ông cắt lại, cắt nữa, đôi khi tóc chỉ còn như cái “mủng dzùa” úp lên đầu. Khi vào Nam tôi mới bảy tuổi nhưng có ba em nên coi như đã lớn, năm 1955 Mẹ tôi đi sanh Phương Nam. Rồi cứ cách một năm Mẹ cho ra đời thêm một đứa, tôi đưa Mẹ đi sanh và mỗi buổi sáng trước khi đi làm và buổi chiều trước khi về nhà Bố đều vào thăm Mẹ và em bé mới.
Nhân số gia tăng, nhà cũng được xây cất thêm, từ một căn nhà gỗ lụp xụp thành một căn nhà gạch bốn tầng, hai dãy. Bố tôi phải lập ra những luật lệ như nhà binh để cai trị bầy con của Bố. Nhà gắn một cái chuông điện to như chuông trường học ngay phòng khách. Mỗi người có một tín hiệu riêng, chuông bấm hiệu ai người đó phải có mặt. Riêng giờ ăn là ba tiếng chuông dài đến nỗi hàng xóm cứ nghe ba hồi chuông lanh lảnh là biết ngay nhà chúng tôi đến giờ cơm. Phòng ngủ là một trại nữ binh với một dãy giường và một dãy bàn học. Tuy là nhà binh nhưng Bố tôi rất nghệ sĩ và tâm hồn ướt át, lãng mạn. Chúng tôi cũng ít nhiều ảnh hưởng tính nết đó. Thuở còn bé Bố đã cho chúng tôi nghe những bản nhạc êm đềm, trữ tình như Suối Mơ, Con Thuyền Không Bến, Thiên Thai, Biệt Ly... Có một thời Bố tôi làm chủ bút tuần san Kiến Quốc, Bác Nguyễn Xuân Đăng giữ việc trình bày. Bố viết văn, làm thơ... Ngày tôi học Trưng Vương, khi phải lên trần thuyết, nếu tôi về òn ỉ là Bố soạn ngay cho một bài, vào lớp chỉ việc đọc.
Nhà có ba người lớn, Bà bảo ban người làm và trông nom các cháu, Mẹ lo cái ăn, cái mặc còn Bố lo chuyện học hành. Tối nào Bố cũng giảng dạy và khảo bài chúng tôi. Bố và tôi rất thân, khi tôi mới mười hai, mười ba đã được Bố tôi đối xử như người lớn, việc gì Bố cũng cho tôi góp ý, chọn màn cửa, chọn kiểu bàn ghế, ngay cả việc bày biện đồ đạc trong nhà. Bầy con mười hai đứa của Bố lớn dần, lại là một bầy nhiều con gái. Trong cái vui vẫn có cái nghiêm, trong sự thân mật vẫn có những uy lực của ông Bố để hướng dẫn đàn con. Tôi là con gái lớn được hưởng những sự yêu thương, săn sóc đặc biệt của ông Bố trẻ nhưng ngược lại cũng bị những ngăn cấm khắt khe của Bố dành cho con chim đầu đàn. Hồi còn bé tôi được Bố tôi dắt vào nhà thương Võ Tánh xem những buổi tập duyệt binh, được diện quần áo đẹp để Bố đưa vào xem những buổi văn nghệ có Thanh Hằng, Thanh Hiếu đến hát ủy lạo chiến sĩ. Khi lớn lên, dù tôi đã vào đại học Bố vẫn đưa đón... Cho đến ngày tôi lập gia đình, Bố tôi đã khóc rất nhiều khi dặn dò con trước ngày vu quy và sụt sùi khi tiễn con về nhà chồng. Hai đứa con lớn của chúng tôi ra đời trong tình yêu thương đầy ắp của Ông Bà. Các cháu sang chơi Ông nằm xuống vạch bụng cho cháu bắn bi vào lỗ rốn, ông bò xuống làm ngựa cho cháu phi nhong nhong...
Tưởng cuộc sống cứ thế êm đềm trôi, Bố tâm sự với chúng tôi về những ước vọng của Bố. Chín đứa con gái của Bố đều học hành giỏi giang, đều là nữ sinh ưu tú. Bố đợi ngày Út Thùy tốt nghiệp Trưng Vương, Bố sẽ đặt tiệc lớn ăn mừng, Bố sẽ mời toàn ban Giám Hiệu và Giáo Sư Trưng Vương để tỏ lòng tri ân những người đã góp công lớn trong việc dạy dỗ các con của Bố. Rồi Bố Mẹ tôi ao ước có một ĐỖ GIA TRANG tại Đà Lạt, một dãy nhà hình chữ U gồm có mười ba phòng lớn, Ông Bà một phòng còn cho mỗi gia đình con một giang sơn nhỏ. Ngày giỗ tết, hội hè, con cháu về tụ họp, Bố sẽ cầm cái gậy chỉ huy của Bố để chỉ huy lũ cháu, chắt... Cả một gia trang sẽ rộn rã tiếng cười... Bố Mẹ chúng tôi đã mua mấy mẫu đất trên sườn đồi khu Mê Linh, Đà Lạt, trông ngay ra mặt hồ, phong cảnh thật hữu tình, nên thơ để thực hiện mơ ước đó.
Nhưng ai có ngờ đến cái ngày 30 Tháng Tư oan nghiệt! Tất cả các mộng ước nhỏ bé, giản dị của Bố tôi đều tan tành. Bố đã già sộc hẳn đi khi nhìn thấy tương lai mờ mịt của một lũ con bé bỏng, thương yêu. Bố đã bạc đầu vì tinh thần trách nhiệm quá cao đối với tổ quốc, với nhân viên thuộc cấp, với gia đình. Bố đã không bỏ chạy khi quân đội chưa rã ngũ.
Tất cả là định mệnh! Một tháng sau chồng tôi chở Bố tôi đến nơi tập trung và một tuần sau đó tôi cũng đưa nhà tôi vào đúng địa điểm ấy, để đi cải tạo không biết ngày về... Tôi đã khóc thật nhiều khi đọc những lời trong di bút của Bố: “Vì yêu Tổ quốc, mến quê hương nên tôi đã ở lại Việt Nam cho tròn trách nhiệm của sĩ quan cấp tá độc nhất của trường quân y còn ở lại. Chịu đựng cảnh tù đày suốt gần mười năm trong các trại lao tù ở Bắc Việt do Cộng Sản lập ra để trả thù những chiến sĩ quốc gia còn kẹt lại. Với bao cơ cực, đói khát của thời gian gọi là khổ sai cải tạo, tôi cố gắng giữ tinh thần bất khuất và nhân cách của một chiến sĩ khi thất thế, sa cơ.”
Và... ngày 20 Tháng Tư năm 1990 chúng tôi, một bầy con cháu của Bố đã kéo nhau ra phi trường San Francisco để mừng rỡ đón Ông Bà và Dì Út. Bố đã già đi nhiều. Mười năm, từ năm mươi đến sáu mươi vẫn còn là tuổi sung sức của một đời người thì Bố tôi bị trong vòng khổ ải.
Năm 1992 Bố tôi bị một cơn bạo bệnh tưởng khó vượt qua. Sau khi Bố tôi thoát khỏi hiểm nghèo, Bố Mẹ tôi được em Tuấn đưa đi du lịch vòng quanh Thế Giới, để giải trí và cũng để phục hồi năng lực về thể chất cũng như tinh thần cho Bố và đồng thời cũng để Bố đạt được những ước mơ của Bố thời niên thiếu. Sau đó Bố tôi sống lặng lẽ như một cái bóng, chỉ vui với con cháu trong những dịp tụ họp đại gia đình, lâu lâu đi thăm con cháu ở xa. Bố không màng đến thế sự, không tham gia hội đoàn hay bất cứ một tổ chức nào. Thì giờ rảnh Bố tôi đọc sách và soạn lại quyển Gia phả. Bố ngồi viết hồi ký về cuộc đời mình, kể lại cuộc đời truân chuyên của Bố, từ khi còn là một thanh niên mắt sáng ngời ngời, theo kháng chiến lưu lạc khắp vùng núi đồi Việt Bắc, sang tận Trung Hoa rồi mới quay về. Nhìn vợ dại, con thơ, nhìn lại lý lịch bản thân, thành phần tiểu tư sản thành thị... Bố đã ngao ngán quyết định đưa gia đình hồi cư. Rồi cả một cuộc đời binh nghiệp, tận tụy với Tổ Quốc, với lý tưởng mình đã chọn lựa. Cho ra đời một bầy con. Đến ngày đổi đời. Đến ngày lạc lõng, cô đơn nơi xứ người mặc dù con đàn, cháu đống… Bố tôi đã viết với hy vọng con cháu sau này biết được dòng dõi cha ông, giữ được những truyền thống tốt đẹp của dòng họ ĐỖ và cũng biết được một mảnh đời của một người Việt Nam trong thời tao loạn.
Một đoạn trong tập hồi ký Bố tôi đã viết:
“.......tôi đang được sống quanh con cháu, tôi mong có ngày mà Phật Trời để cho tôi còn sống trên thế gian này, được thấy quê nhà thoát cảnh bị họa Cộng Sản ngự trị, được về sống tại quê cha đất tổ, bên cạnh phần mộ tổ tiên với họ hàng ruột thịt gần xa...” Và tôi nhớ một ngày trong quá khứ đã xa, khi Bố tôi còn tại chức, Bố đã nói “... Cả một đời mặc áo nhà binh, lúc chết đi Bố muốn được an táng như một người lính, theo lễ nghi quân cách.”
Bây giờ Bố tôi nằm đây... không lễ nghi quân cách, không được yên nghỉ trên mảnh đất quê hương. Sau lễ hoả táng chỉ còn là tro, là bụi và tro bụi rồi cũng sẽ tan vào đại dương. Đời là vô thường. Cuộc đời chỉ như một cơn gió thoảng, như một thoáng mây bay.
Đỗ Dung
Đỗ Dung Ông cụ nằm kia, khuôn mặt trắng mịn, hiền hòa, đôi mắt khép lại nhẹ nhàng như người đang nằm ngủ. Khuôn mặt kia, hình hài kia rồi sẽ biến đi, sẽ tan vào hư vô, chúng tôi không bao giờ còn trông thấy nữa. Ai cũng biết ngày này rồi sẽ tới, ai cũng biết đến lúc phải chia ly nhưng trong sâu thẳm của tâm hồn vẫn có những nỗi đau vò xé. Trong cái mênh mang, êm lặng tột cùng vẫn có những nỗi xót xa... Hơn tám mươi năm, một khoảng thời gian dài cho cả một đời người cũng chỉ như một thoáng mây bay. Bố tôi nằm đó, bình an như đang say ngủ, những hình ảnh xưa về Bố chợt ẩn chợt hiện, chợt gần chợt xa...
Trước năm 1954, gia đình chúng tôi sống hạnh phúc trong căn nhà nhỏ trên đường Mai Hắc Đế, Hà Nội. Những ngày tháng êm đềm, có Bà, có Mẹ, có cô Nga em của Bố và cậu Thắng em của Mẹ. Bố tôi chưa đầy ba mươi tuổi và chúng tôi từ em Tuấn còn bế ngửa, anh Dũng chưa lên chín, ở giữa là ba bé gái, Tí Bun, Tí Xíu và Ông Lý Hạnh (Hồi nhỏ Hạnh hay đội cái mũ thóp giống như khăn xếp của ông lý nên Bố yêu gọi là Ông Lý Hạnh). Phòng khách nhà tôi kê bộ ghế với tràng kỷ kiểu Tàu, bộ sập gụ và tủ chè khảm xà cừ óng ánh sự tích Bát Tiên. Buổi tối sau khi ăn cơm, chúng tôi quây quần, cha ngồi xem báo, mẹ ngồi đan áo ở bộ sa lông và chúng tôi bò trên sập để học bài như cảnh Phạm Duy mô tả trong bài “Kỷ Niệm”, chỉ khác là không có cây đèn dầu hao nhưng căn phòng sáng ấm nhờ bóng đèn vàng từ trên trần toả xuống.
Buổi chiều mấy con bé đợi Bố đi làm về để bám vào cánh tay rắn chắc của Bố đang cong lại đưa ra, mấy đứa nhún chân lên đu đưa rồi cười như nắc nẻ. Ngày mùng một ta, Mẹ tôi hay cúng Thổ Công cái chân giò luộc để cạnh ba chén rượu trắng và một đĩa muối. Khi cúng xong Bố lấy con dao nhỏ từ từ xẻo từng miếng thịt chân giò, chấm muối tiêu rồi cứ Bố một miếng lại cho mỗi đứa con một miếng.
Thời buổi nhiễu nhương tranh tối, tranh sáng sau hiệp định Geneve, vì an ninh nên gia đình chúng tôi phải dọn vào nhà thương Võ Tánh. Bà tôi ngày nào cũng khóc vì không muốn rời quê cha đất tổ, mồ mả tổ tiên. Bà muốn cả nhà ở lại hoặc để Bà ở lại với cô Nga, ngày đó mới lập gia đình và nhà chồng cô quyết định không di cư. Một hôm Bà cũng đang sụt sùi nài nỉ, Bố tôi rút cây súng lục để ra bàn nói: “Cụ muốn ở lại để con bắn hết các cháu, con bắn chết con luôn để Cụ ở lại một mình được không?” Bà tôi sợ quá, cuống quýt: “Thôi tôi xin cậu, tôi xin cậu, tôi đi, tôi đi!” Thế là từ đó Bà chỉ thút thít khóc thầm chứ không dám khóc trước mặt Bố tôi nữa. Về sau Bố nói phải dọa già thế Bà mới chịu đi chứ ở lại thì chết cả đám.
Vào đến Sài Gòn, gia đình gồm chín người, ngơ ngác nơi vùng đất lạ, tất cả phải làm lại từ đầu, Bà tôi ngán ngẩm cố nén tiếng thở dài. Chúng tôi định cư tại căn nhà ở đường Thành Thái, một căn nhà gỗ nhỏ, một tầng, xung quanh còn cây cối xum xuê. Mặc dù rất bận rộn trong sở làm, ưu tư về nơi ăn, chốn ở mới, ngày nào đi làm về Bố tôi cũng tắm rửa cho chúng tôi. Ông yêu các con và đó cũng là cái thú của ông, mặc dù nhà có người làm, có Bà, có Mẹ chúng tôi. Tôi còn nhớ cứ vào cuối tuần ông hay đem chúng tôi ra cắt tóc, cạo mặt, ngoáy tai, cứ từng đứa, từng đứa. Đứa nào nhúc nhích không chịu ngồi yên, tóc không đều, ông cắt lại, cắt nữa, đôi khi tóc chỉ còn như cái “mủng dzùa” úp lên đầu. Khi vào Nam tôi mới bảy tuổi nhưng có ba em nên coi như đã lớn, năm 1955 Mẹ tôi đi sanh Phương Nam. Rồi cứ cách một năm Mẹ cho ra đời thêm một đứa, tôi đưa Mẹ đi sanh và mỗi buổi sáng trước khi đi làm và buổi chiều trước khi về nhà Bố đều vào thăm Mẹ và em bé mới.
Nhân số gia tăng, nhà cũng được xây cất thêm, từ một căn nhà gỗ lụp xụp thành một căn nhà gạch bốn tầng, hai dãy. Bố tôi phải lập ra những luật lệ như nhà binh để cai trị bầy con của Bố. Nhà gắn một cái chuông điện to như chuông trường học ngay phòng khách. Mỗi người có một tín hiệu riêng, chuông bấm hiệu ai người đó phải có mặt. Riêng giờ ăn là ba tiếng chuông dài đến nỗi hàng xóm cứ nghe ba hồi chuông lanh lảnh là biết ngay nhà chúng tôi đến giờ cơm. Phòng ngủ là một trại nữ binh với một dãy giường và một dãy bàn học. Tuy là nhà binh nhưng Bố tôi rất nghệ sĩ và tâm hồn ướt át, lãng mạn. Chúng tôi cũng ít nhiều ảnh hưởng tính nết đó. Thuở còn bé Bố đã cho chúng tôi nghe những bản nhạc êm đềm, trữ tình như Suối Mơ, Con Thuyền Không Bến, Thiên Thai, Biệt Ly... Có một thời Bố tôi làm chủ bút tuần san Kiến Quốc, Bác Nguyễn Xuân Đăng giữ việc trình bày. Bố viết văn, làm thơ... Ngày tôi học Trưng Vương, khi phải lên trần thuyết, nếu tôi về òn ỉ là Bố soạn ngay cho một bài, vào lớp chỉ việc đọc.
Nhà có ba người lớn, Bà bảo ban người làm và trông nom các cháu, Mẹ lo cái ăn, cái mặc còn Bố lo chuyện học hành. Tối nào Bố cũng giảng dạy và khảo bài chúng tôi. Bố và tôi rất thân, khi tôi mới mười hai, mười ba đã được Bố tôi đối xử như người lớn, việc gì Bố cũng cho tôi góp ý, chọn màn cửa, chọn kiểu bàn ghế, ngay cả việc bày biện đồ đạc trong nhà. Bầy con mười hai đứa của Bố lớn dần, lại là một bầy nhiều con gái. Trong cái vui vẫn có cái nghiêm, trong sự thân mật vẫn có những uy lực của ông Bố để hướng dẫn đàn con. Tôi là con gái lớn được hưởng những sự yêu thương, săn sóc đặc biệt của ông Bố trẻ nhưng ngược lại cũng bị những ngăn cấm khắt khe của Bố dành cho con chim đầu đàn. Hồi còn bé tôi được Bố tôi dắt vào nhà thương Võ Tánh xem những buổi tập duyệt binh, được diện quần áo đẹp để Bố đưa vào xem những buổi văn nghệ có Thanh Hằng, Thanh Hiếu đến hát ủy lạo chiến sĩ. Khi lớn lên, dù tôi đã vào đại học Bố vẫn đưa đón... Cho đến ngày tôi lập gia đình, Bố tôi đã khóc rất nhiều khi dặn dò con trước ngày vu quy và sụt sùi khi tiễn con về nhà chồng. Hai đứa con lớn của chúng tôi ra đời trong tình yêu thương đầy ắp của Ông Bà. Các cháu sang chơi Ông nằm xuống vạch bụng cho cháu bắn bi vào lỗ rốn, ông bò xuống làm ngựa cho cháu phi nhong nhong...
Tưởng cuộc sống cứ thế êm đềm trôi, Bố tâm sự với chúng tôi về những ước vọng của Bố. Chín đứa con gái của Bố đều học hành giỏi giang, đều là nữ sinh ưu tú. Bố đợi ngày Út Thùy tốt nghiệp Trưng Vương, Bố sẽ đặt tiệc lớn ăn mừng, Bố sẽ mời toàn ban Giám Hiệu và Giáo Sư Trưng Vương để tỏ lòng tri ân những người đã góp công lớn trong việc dạy dỗ các con của Bố. Rồi Bố Mẹ tôi ao ước có một ĐỖ GIA TRANG tại Đà Lạt, một dãy nhà hình chữ U gồm có mười ba phòng lớn, Ông Bà một phòng còn cho mỗi gia đình con một giang sơn nhỏ. Ngày giỗ tết, hội hè, con cháu về tụ họp, Bố sẽ cầm cái gậy chỉ huy của Bố để chỉ huy lũ cháu, chắt... Cả một gia trang sẽ rộn rã tiếng cười... Bố Mẹ chúng tôi đã mua mấy mẫu đất trên sườn đồi khu Mê Linh, Đà Lạt, trông ngay ra mặt hồ, phong cảnh thật hữu tình, nên thơ để thực hiện mơ ước đó.
Nhưng ai có ngờ đến cái ngày 30 Tháng Tư oan nghiệt! Tất cả các mộng ước nhỏ bé, giản dị của Bố tôi đều tan tành. Bố đã già sộc hẳn đi khi nhìn thấy tương lai mờ mịt của một lũ con bé bỏng, thương yêu. Bố đã bạc đầu vì tinh thần trách nhiệm quá cao đối với tổ quốc, với nhân viên thuộc cấp, với gia đình. Bố đã không bỏ chạy khi quân đội chưa rã ngũ.
Tất cả là định mệnh! Một tháng sau chồng tôi chở Bố tôi đến nơi tập trung và một tuần sau đó tôi cũng đưa nhà tôi vào đúng địa điểm ấy, để đi cải tạo không biết ngày về... Tôi đã khóc thật nhiều khi đọc những lời trong di bút của Bố: “Vì yêu Tổ quốc, mến quê hương nên tôi đã ở lại Việt Nam cho tròn trách nhiệm của sĩ quan cấp tá độc nhất của trường quân y còn ở lại. Chịu đựng cảnh tù đày suốt gần mười năm trong các trại lao tù ở Bắc Việt do Cộng Sản lập ra để trả thù những chiến sĩ quốc gia còn kẹt lại. Với bao cơ cực, đói khát của thời gian gọi là khổ sai cải tạo, tôi cố gắng giữ tinh thần bất khuất và nhân cách của một chiến sĩ khi thất thế, sa cơ.”
Và... ngày 20 Tháng Tư năm 1990 chúng tôi, một bầy con cháu của Bố đã kéo nhau ra phi trường San Francisco để mừng rỡ đón Ông Bà và Dì Út. Bố đã già đi nhiều. Mười năm, từ năm mươi đến sáu mươi vẫn còn là tuổi sung sức của một đời người thì Bố tôi bị trong vòng khổ ải.
Năm 1992 Bố tôi bị một cơn bạo bệnh tưởng khó vượt qua. Sau khi Bố tôi thoát khỏi hiểm nghèo, Bố Mẹ tôi được em Tuấn đưa đi du lịch vòng quanh Thế Giới, để giải trí và cũng để phục hồi năng lực về thể chất cũng như tinh thần cho Bố và đồng thời cũng để Bố đạt được những ước mơ của Bố thời niên thiếu. Sau đó Bố tôi sống lặng lẽ như một cái bóng, chỉ vui với con cháu trong những dịp tụ họp đại gia đình, lâu lâu đi thăm con cháu ở xa. Bố không màng đến thế sự, không tham gia hội đoàn hay bất cứ một tổ chức nào. Thì giờ rảnh Bố tôi đọc sách và soạn lại quyển Gia phả. Bố ngồi viết hồi ký về cuộc đời mình, kể lại cuộc đời truân chuyên của Bố, từ khi còn là một thanh niên mắt sáng ngời ngời, theo kháng chiến lưu lạc khắp vùng núi đồi Việt Bắc, sang tận Trung Hoa rồi mới quay về. Nhìn vợ dại, con thơ, nhìn lại lý lịch bản thân, thành phần tiểu tư sản thành thị... Bố đã ngao ngán quyết định đưa gia đình hồi cư. Rồi cả một cuộc đời binh nghiệp, tận tụy với Tổ Quốc, với lý tưởng mình đã chọn lựa. Cho ra đời một bầy con. Đến ngày đổi đời. Đến ngày lạc lõng, cô đơn nơi xứ người mặc dù con đàn, cháu đống… Bố tôi đã viết với hy vọng con cháu sau này biết được dòng dõi cha ông, giữ được những truyền thống tốt đẹp của dòng họ ĐỖ và cũng biết được một mảnh đời của một người Việt Nam trong thời tao loạn.
Một đoạn trong tập hồi ký Bố tôi đã viết:
“.......tôi đang được sống quanh con cháu, tôi mong có ngày mà Phật Trời để cho tôi còn sống trên thế gian này, được thấy quê nhà thoát cảnh bị họa Cộng Sản ngự trị, được về sống tại quê cha đất tổ, bên cạnh phần mộ tổ tiên với họ hàng ruột thịt gần xa...” Và tôi nhớ một ngày trong quá khứ đã xa, khi Bố tôi còn tại chức, Bố đã nói “... Cả một đời mặc áo nhà binh, lúc chết đi Bố muốn được an táng như một người lính, theo lễ nghi quân cách.”
Bây giờ Bố tôi nằm đây... không lễ nghi quân cách, không được yên nghỉ trên mảnh đất quê hương. Sau lễ hoả táng chỉ còn là tro, là bụi và tro bụi rồi cũng sẽ tan vào đại dương. Đời là vô thường. Cuộc đời chỉ như một cơn gió thoảng, như một thoáng mây bay.
Đỗ Dung

Bố Và Con
Nhà tôi “dương thịnh âm suy”, một ông bố với ba thằng con trai mà tôi hay gọi đùa là “bố già, bố trẻ”. Đàn ông lo việc ngoài, đàn bà lo việc trong, người lo việc ngoài ăn xong bày bừa ra cho nên việc trong dù không ít hơn việc ngoài, nhưng vẫn mang tiếng là “ngồi mát ăn bát vàng”. Ngày được định cư tại Hoa Kỳ, vừa đặt chân đến phi trường Quốc Tế, người bảo trợ có mời thêm vài người quen cùng đón cho xôm tụ, một bà nhìn gia đình mới đến phán một câu xanh rờn: “Nhà này kém phúc đức nên đẻ toàn con trai”. Cả nhà ngớ ra không hiểu, sau mới biết gía chi có một cô con gái xinh xinh tuổi cập kê, nhà sẽ tấp nập vài chàng trẻ tuổi đang kiếm vợ chở đi làm giấy tờ, khám sức khoẻ hay chợ búa, không vắng như “chùa Bà Đanh”.
Tôi không thích khoe khoang về ông “Bố” của nhà đâu, vì chả lẽ lại “mèo khen mèo dài đuôi”, những điều tầm thường trong cuộc sống gia đình chắc nhà nào cũng giống nhau. Ngày lễ Cha ai cũng nhắc đến công ơn sinh thành dưỡng dục của Bố, nhưng cha tôi mất sớm lúc tôi mới năm, sáu tuổi, nặn óc để tìm lại hình ảnh người đã tạo ra mình tôi vẫn không nhớ được bao nhiêu. Vì vậy, người gần gũi nhất trong cuộc đời tôi là bố của lũ con, nếu ví von như cái nóc nhà che mưa che nắng thì cũng không sai chút nào.
Khi hai đứa con tuổi còn thơ ấu bố đã không có nhà, đây là sự thiệt thòi của tuổi thơ mặc dù có mẹ nuôi dưỡng. Thời gian ấy mọi sự bế tắc đè nặng lên gia đình tôi, trong cũng như ngoài, tôi ôm hết cả hai. Nỗi đoạn trường này là của chung nhiều nhà chứ chẳng phải riêng nhà tôi, lưới giăng lồng lộng chẳng chim nào bay thoát nên tôi đành chấp nhận, vừa chạy chợ kiếm ăn vừa dạy con.
Con vừa lớn là bố về kịp lúc, cả nhà mừng húm dù thêm một miệng ăn. Sau một ngày vất vả, lúc về tôi thường tạt qua chợ chiều tìm mua thực phẩm ế ẩm cuả bạn hàng trong chợ, cuối ngày bán tống bán tháo để về nhà. Bữa cơm nhà nghèo thường chẳng có cao lương mỹ vị, tôi tìm cách chia sao cho bố con cùng vui cùng no. Ít trái cây, vài cái bánh, tôi chia phần:
“Ai nhiều tuổi thì được ăn nhiều, ai ít tuổi ăn ít. Bố hai cái, mẹ và các con mỗi người một cái đồng đều.”
Thằng bé con ngồi đếm xong con toán nhỏ phụng phịu hỏi:
“Sao mẹ lớn mà cũng chỉ có một? Con cũng muốn hai như bố.”
Trẻ con chưa hiểu nổi cảnh nhịn cơm xẻ canh trong thời buổi khó khăn, người lớn chỉ biết cười mà ngậm ngùi trong dạ. Trong trại ngày hai bữa cơm tù, ăn thế nào cũng xong. Trở về với gia đình chưa vui hết niềm xum họp, lắm nhà đã vỡ tan vì cơm áo gạo tiền. Tôi nhìn quanh cuộc sống, nhiều gia đình như vậy nên biết phải tế nhị hơn để cuộc sống tuy thiếu thốn một chút, nhưng chẳng có lúc nào chữ tình chữ nghĩa quý bằng lúc này, chỉ cần gắt gỏng nói một câu thiếu suy nghĩ là hết cả cái tình mình hằng nâng niu gìn giữ.
Thằng bé chào đời sau ngày bố đi xa, mãi đến 7 tuổi mới thấy bố xuất hiện nên cũng hay “ghen” với bố, tự nhiên trong nhà có một “ông” lạ hoắc đi ra đi vào, lại có vẻ được săn sóc, chia phần nhiều hơn thì khó chịu lắm. Nhưng dần dần cu cậu lại thích vì từ nay đã có bố đón đưa khi đến trường hay tan học, đối với mấy thằng nhóc to con ăn hiếp thì cu cậu đã vênh mặt lên ra điều “Bố tao đấy!”. Oai thật, bài vở khó đã có bố giảng giải cặn kẽ đến khi nào hiểu mới thôi. Tuy bố chưa kiếm được việc làm để có tiền mua đồ chơi cho con, nhưng mùa trung thu Bố làm cho cái đèn lon sữa bò đục lỗ, trong để cây đèn cầy kéo leng keng trên con hẻm nhỏ, nghe cũng vui tai mà không bị cháy như đèn con gà, con thỏ. Bố về, thêm những món đồ chơi thủ công đẹp khéo tuyệt vời, máy bay, xe tăng, chim chóc xếp bằng giấy, cu cậu tha hồ chơi suốt ngày không chán.
Có bố ở nhà con học hành khá hơn, đứa lớn đã bước vào Trung Học, bỏ đi những môn vớ vẩn nhồi nhét chính trị, bóp méo lịch sử thì mấy môn chính như sinh ngữ, toán bao giờ cũng được kèm cặp đâu vào đấy. Dù sao vốn chữ nghĩa của bố không đến nỗi tệ, tôi yên tâm chạy chợ kiếm ngày hai bữa cơm, việc dạy dỗ học hành cuả con giao toàn quyền cho bố đảm trách. Thỉnh thoảng bố chở con ra bờ sông câu cá, vào công viên chơi đá banh, hôm nào có tiền mua cho con dĩa bò khô, cây “cà rem”, mấy bố con chơi với nhau , nhìn bên ngoài tưởng an nhàn, thảnh thơi nhưng thực ra cuộc sống đang tắc nghẽn trong vòng rào kẽm gai.
Khổ thay! Từ ngày Bố về từ cái nhà tù nhỏ là bước luôn vào cái nhà tù lớn, màng nhện giăng tứ phía như “thiên la địa võng” nên đi đâu cũng có người “quản ný” chặt chẽ. Bực lắm nhưng biết làm sao, ngay cả cái hộ khẩu cũng không có nên hễ đêm nào nghe tiếng chó sủa, tiếng bước chân đi rầm rập trên con hẻm tối thui, thêm một hồi chuông cửa lảnh lót giữa đêm khuya là biết nhà được “hỏi thăm”.
Cửa vừa mở, bốn năm cái bóng ùa vào nhảy thoắt lên cầu thang, chỉa đèn pin sáng loè ra tứ phía, vào tận mấy cái giường còn buông mùng sùm sụp. Đang ngủ ngon bị ánh đèn pin chỉa ngay vào mặt, thằng bé con ngái ngủ càu nhàu:
“Thằng nào chơi kỳ dzậy?”
Đèn tắt ngúm, các chú “công an” đi xét nhà kiểm soát người cư trú bất hợp pháp đấy chứ có “thằng” nào đâu, nhưng trong mùng chỉ là thằng con nít đang say ngủ, lục khắp nhà cũng không kiếm ra người ở lậu không khai báo. Sống không hộ khẩu là bất hợp pháp rồi, lại đuổi, đêm nào nghe tiếng chó sủa ồn lên từ ngõ ngoài vào ngõ trong là biết những nhà nào trong xóm được hỏi thăm. Nhà bác Mười “Biệt Kích Dù” bán cá kiểng cá đá, nhà bác Ngôn cựu giám đốc huấn luyện trường Phi Hành ở Nha Trang ngày xưa, toàn những người vừa từ trại cải tạo về. Sáng hôm sau lại vắt giò lên cổ trình quan Quận, thiếu thủ tục “đầu tiên” nên khi ra về ai cũng nhận tờ trát phải đày đi vùng kinh tế mới. Vẫn lì ra không đi, viễn ảnh một vùng đất khô cằn trơ trụi, không trường học chợ búa, lấy chi mà sống, bao người từ những nơi ấy đã liều lĩnh trở về, không nhà, không hộ khẩu ngủ đầy dưới mái hiên hè phố, đã sao đâu, cùi đâu còn sợ lở.
Muốn lì lợm sống còn trong thời buổi đó cần phải có việc làm, kẻo mang tiếng ăn bám xã hội, lười lao động. Bố đi tìm việc làm, chỗ nào cũng lắc đầu quầy quậy vì cái lý lịch tối thui, may sao nhờ người quen dẫn vào làm một chân “cu ly” đẩy xe ba gác cho hợp tác xã Cơ Khí. Sài Gòn nắng nung người, nắng như thiêu như đốt nên Bố đen thủi đen thùi, nhìn thoáng là biết Bố thuộc tầng lớp nào trong xã hội. Dù lương ít nhưng vẫn có lý do “lao động là vinh quang” để bám trụ thành phố. Mặc kệ, sóng đánh tới đâu thuyền neo tới đó, cạn ao thì bèo xuống đất, vẫn hiên ngang ngẩng mặt nhìn đời vì miếng cơm manh áo mình làm ra từ giọt mồ hôi lẫn trong nước mắt.
Chịu đựng mãi rồi cái gì cũng qua, cho đến một ngày thấy thiên hạ ùn ùn đăng ký đi Mỹ theo diện H.O thì cả nhà vừa mừng vừa không tin nổi, cứ như truyện huyền thoại cây đèn thần xứ Ba Tư. Thời bấy giờ người ta gọi là “những người ho hen” vì ở tù về có hằng trăm thứ bệnh, nhưng cũng nhờ cam khổ khi thất thế mà sau này cái gì cũng chịu đựng được. Ánh sáng le lói cuối đường hầm, hình như mãi đến lúc này những người như Bố mới có cơ hội ngẩng mặt lên nhìn ánh mặt trời. Người có tiền rỉ tai nhau ùn ùn ra Hà Nội chạy chọt để được đi trước, ai cũng bảo nhau “sang sau, trâu chậm uống nước đục”, Bố vẫn bình chân như vại vì nghĩ chương trình “Ra Đi Có Trật Tự” thế nào cũng tới lượt, với lại con người còn có số mạng. Ở đó mà chờ số mạng, không có thủ tục “đầu tiên” thì đừng nói chuyện ra đi. Sốt ruột quá, mẹ lại vét hết trong nhà cho đủ tiền lên danh sách mới chóng được rời khỏi đời sống tối tăm này, thôi đành “qua sông thì phải luỵ đò” vậy.
Ngồi trên máy bay rồi cả nhà mới thở phào, dù rằng trước giờ ly biệt với người thân, những giọt nước mắt ngắn dài thi nhau tràn ướt má. Người ở lại vẫn vất vả với cuộc sống vá víu hằng ngày, người đi mơ ước một tương lai xán lạn cuối chân trời, nhưng vẫn lo lắng chẳng biết sẽ làm gì nơi xứ lạ. Mãi tới khi đặt chân đến phi trường đầu tiên ở San Francisco chờ máy bay chuyển tiếp sang Houston, thấy người lao công quét dọn rất nhàn tản trong nhà vệ sinh mát rượi , Bố cứ thắc thỏm mơ ước sao qua Mỹ kiếm được một cái “job” thơm như vậy.
Mùa Đông đầu tỉên ở nước Mỹ mưa gió lạnh lùng, buồn bã làm sao, nhưng đó là cảnh ngoài trời còn trong nhà thì đang chứa chan niềm hy vọng. Khổ nhiều rồi, chả lẽ không chịu nổi khi xứ sở này cơ hội có bỏ ai bao giờ, nếu không lười biếng mà chấp nhận ngay một công việc tầm thường, đời vẫn còn ngon chán. Ở quê nhà, ai cũng tưởng hễ sang Mỹ là lũ nhỏ nhảy tót vào trường học, chỉ một thời gian là tốt nghiệp bằng này cấp kia. Thực ra con ngu ngơ chưa biết gì, tiếng Anh còn ngọng ngịu nói mãi chưa được một câu, Bố vẫn hiên ngang làm cái “đầu tàu” kéo nguyên một toa tầu nặng nề vượt qua những chặng đường ray dài dằng dặc.
Vừa qua Mỹ người tỵ nạn nào cũng cuống quýt lên đi tìm việc làm, trước hết trả tiền nhà cửa , “bill” bọt hằng tháng, sau là gửi về VN cho người thân để khoe cái may của mình khi ở “xứ sở của mật ong và sữa”, mấy ai đã có lúc hiểu nổi cái khổ của con bò và con ong. Chân ướt chân ráo vừa đến được hơn tuần, một bà cùng quê đã ưu ái quan tâm gọi tới, giọng “bề trên” chắc nịch:
“Nếu cô chú muốn mau ổn định như người ta, phải nghe tôi. Tôi có cái tiệm “Grocery” khu da màu đắt hàng lắm, thấy chú nhanh nhẹn tôi dành cho một chân bán hàng từ 5 giờ chiều đến 11 giờ đêm, (giờ của bóng đêm và tội ác), buổi sáng vẫn đi học được như thường. Cô sạch sẽ khoẻ mạnh, đến nhà giữ cháu nội cho tôi và làm việc nhà, mỗi tuần hai trăm, người khác chỉ trả trăm rưởi.”
Cả nhà ngồi tính toán, lại mừng húm, trước mắt có công ăn việc làm rồi nhà cửa, xe cộ mấy hồi, đời cứ đẹp như mơ. Nhưng khi hai vợ chồng dẫn nhau đến “tham quan” tiệm tạp hoá ở khu ngọai ô thấy mấy ông da màu đang xúm quanh đống củi sưởi ngoài sân, giương mắt chò hỏ nhìn chằm chằm mấy người Á Châu thì hãi quá. Vợ phát rét bảo chồng:
“Thôi anh ạ, khổ thì khổ nhiều rồi. Chính phủ cho mình 8 tháng trợ cấp là để đi học tìm một việc làm hợp khả năng,thế nào họ cũng giới thiệu công việc cho mình, đi làm hãng xưởng vẫn yên tâm hơn. Tại sao không hưởng những ngày học hành thư thả cho người nó khoẻ ra rồi hãy đi làm? Em cũng không thể bỏ chồng bỏ con ở nhà để làm “ô sin”, tiền thì lúc nào chả cần nhưng so với cái “đoạn trường” sau năm 75 chả thấm gì.”
Hai vợ chồng dắt nhau về, còn nghe thêm một bài “gia huấn ca” của người đồng hương là cái thứ mới qua “bày đặt học với hành”. Mãi sau này mới nghe bà ta tự thú rằng đã từng bị kê súng vào màng tang mấy lần mà may quá nó không “bóp cò”, chứ không cũng đã “tiêu diêu miền cực lạc”. Sau này nghe nhiều người đi trước cũng bảo, chẳng thời gian nào khoẻ bằng lúc mới đến hưởng trợ cấp đi học, khi đi làm rồi mới thấy cái khổ cuả những sáng mùa đông rét thấu xương, những trưa mùa hè nắng cháy, những chiều mệt nhọc khi tan ca mặt trời đi ngủ sớm.
Cuối cùng Bố cũng tìm được việc làm do Y.M.C.A giới thiệu, lương bổng chẳng bao nhiêu nhưng cứ hai tuần lại có cái “check” mang về khoe vợ con. Công việc không nhọc nhằn lắm so với những ngày lao động ở quê nhà, nhưng gò bó thời gian như một cái máy chạy đúng giờ giấc. Sáng mù sương rét buốt đã phải lóc dậy lái xe đi làm, hai cha con chung nhau một xe, chiều về đi xe bus vì con đã lái xe đi làm, đi học. Nhờ cái xe tàng mua rẻ được của một ông Mỹ gìa, trong thời gian này hễ có ngày nghỉ là cả nhà kéo nhau đi chơi. Hết câu cá, câu cua lại ra biển tắm tát, điếc không sợ súng nên chỗ nào cũng mò tới mà không sợ xe bị “banh ta lông” dọc đường.
Nhà ba thằng con trai là ba thế hệ khác nhau, tuổi tác chênh nhau nên mỗi đứa Bố lại phải hướng dẫn một kiểu. Đứa lớn nhất đã trưởng thành ở VN, không sợ con hư hỏng nhưng đường đời con còn non nớt quá, chưa hòa nhập được với xã hội mới vì bất đồng ngôn ngữ cũng có, sự học dở dang từ VN nay bắt lại từ đầu khó nhọc biết mấy, cũng vẫn bố khuyến khích dìu dắt để vào đời. Lo nhất là thằng tuổi “teen” mà cha mẹ nào ở Mỹ cũng phát sốt lên vì những phức tạp tâm lý trong những con người trẻ đang tuổi dở dở ương, nhưng cũng nhờ phước đức ông bà để lại, sóng trước đánh đâu sóng sau vỗ đó nên thằng anh lại hướng dẫn thằng em, 5 ngày trong tuần đi học còn cuối tuần đi bưng phở kiếm tiền xài thêm.
Mới đút đầu ra đời cu cậu đã choáng váng với cách “vắt chanh phải vắt cho kiệt, xứng với đồng tiền bát gạo” cuả bà chủ tiệm, suốt hai ngày cuối tuần làm việc cật lực nên không có giờ đàn đúm với bạn bè. Khi đổ rác, lúc bưng tô, vài đứa trẻ tuổi mới từ VN sang đã có lúc bị bà chủ mắng té tát khi đứng nói chuyện với nhau ngoài thùng rác. Một anh có tuổi hơn thở dài khuyên thằng đàn em cùng ngành bưng bê:
“Ráng học em ơi! Sau này anh em mình phải ráng thành tài để khỏi bị người ta mắng mỏ như vậy, nhục lắm!”
Nhờ ý chí vươn lên mà sau này cả hai đều đậu bằng Cao học, một kỹ sư điện toán và một kỹ sư xây dựng. Khi dẫn bạn đến ăn ở tiệm phở ngày xưa, bà chủ đã đon đả chào và khoe với khách hàng: "Tiệm của tôi toàn đào tạo kỹ sư, bác sĩ”. Thật vậy, nếu không nhờ những lời mắng mỏ như té nước của bà thì xã hội đâu có nhân tài.
Thằng bé nhất còn nhỏ quá khi đến Mỹ, đây là sản phẩm “Made inVietnam” mà Thượng Đế tặng cho cặp vợ chồng gìa, nhưng hoàn toàn hấp thụ văn hoá Mỹ, nếu như bố mẹ không khéo gần sẽ thấy cách con hằng vạn dặm. Cha con bàn với nhau, nhà cần có người cơm nước, em cần có mẹ đưa đón khi đi học, và sau giờ học điều cần nhất là không để thằng lỏi lang thang không ai kèm cặp. Giữ thêm vài đứa trẻ nữa để mẹ ở nhà chỉ lo việc trong mà khỏi lo việc ngoài, khỏi thức khuya dậy sớm dầm sương dãi nắng. Kể cũng là nghề tự do, nghe thì nhàn thật đấy nhưng nghề giữ trẻ cực nhọc chứ không nhàn hạ như người ta nghĩ.
Ba đứa con lớn lên trong sự đùm bọc cuả cha mẹ, nhưng lại gần gũi bố nhiều hơn vì khi bước ra đời, có bao nhiêu điều mà người đàn bà ở nhà không làm sao hiểu hết được. Cách ứng xử trong cuộc đời đầy lừa lọc nơi nào cũng thiên hình vạn trạng, với thời gian các con đã tiến lên nhưng vẫn là con nai tơ đối với cuộc đời muôn mặt. Bố tuy đã lùi bước ra sau nhưng vẫn là điểm tựa tinh thần để con hỏi ý kiến, rút kinh nghiệm khi gặp khó khăn. Bản tính bố cần cù, trầm tĩnh, thận trọng và biết lắng nghe, những điều này cần thiết cho con nhìn rõ những phức tạp trong dòng đời, giải quyết nhiều vấn đề khi con gặp trở ngại, khác với mẹ lúc nào cũng cuống quýt lên như gà mắc đẻ.
Bố còn là chuyên viên kỹ thuật và sửa chữa các thứ hằm bà lằng trong nhà, chiếc lò nướng đã cũ mẹ vứt vào thùng rác, hôm sau ra “garage” đã thấy nó chễm chệ trở lại nằm cạnh cái bếp điện. Cái xích đu hỏng biến ngay thành cái giàn cho hai nàng tóc tiên và tigôn nở hoa. Cả nhà hay gọi bố là người làm cho nền kinh tế Hoa Kỳ không phát triển, vì chả chịu mua sắm gì cho bản thân, nhưng lại rộng rãi với vợ con trong nhà, vậy mới kỳ cục!
Bây giờ đầu bố đã bạc, mắt đã mờ chân đã mỏi, bố nói năng không hoạt bát, chẳng biết thơ phú văn chương nhưng biết sửa cái nhà cái cửa, biết đóng cái giàn cho bầu bí, hoa kiểng trèo leo. Những công việc tầm thường nhưng thật là cần thiết, nhiều khi hạnh phúc gia đình chỉ cần có thế, các con cần một người hướng dẫn chỉ bảo trong nhiều tình huống xảy đến trong cuộc đời. Bố là chiếc bóng thầm lặng nhưng là bóng mát chở che để gia đình luôn là một mái ấm. Các con lớn dần lên đã có cuộc đời riêng, bên ông bố gìa lại thêm mấy ông bố trẻ, mấy nàng dâu thì thầm với mẹ chồng:
” Con cũng chỉ mong nhà con được như bố !”
Nguyên Nhung

Những Giai Điệu Vàng
Ðỗ Bình Từ thuở hồng hoang xa xưa khi con người chưa xuất hiện trên trái đất thì gió vẫn vi vu trên đồi, biển vẫn rì rào tiếng sóng, và rừng vẫn xao xác lá. Những tiếng động va chạm phát ra trong thiên nhiên thoảng nghe chỉ là những tạp âm, nhưng nếu tất cả những âm thanh đó cùng hòa nhịp, quyện với nhau thì biết đâu chẳng phải là bản giao hưởng tuyệt vời mà tạo hóa đã ban cho con người ? Trái đất có ý nghĩa hơn từ khi con người xuất hiện làm cho cuộc sống vui lên, nhờ trí khôn của con người và sự đa cảm của những tâm hồn nghệ sĩ biết rung động trước cái hay cái đẹp của thiên nhiên. Nhạc sĩ nhờ có thính giác thẩm âm phân biệt được các âm sắc, biết vận dụng kỹ thuật chắt lọc các âm thanh phối hợp thành một thứ nghệ thuật gọi là âm nhạc làm ngôn ngữ; để diễn đạt tư tưởng và tình cảm của con người. Ngày nay người ta còn dùng âm nhạc để trị liệu bệnh tâm thần (musicothérapie). Âm nhạc gồm những đặc tính như cao độ, trường độ, âm sắc v.v... những ký hiệu hình nốt diễn tả những cảm xúc của nhạc sĩ qua những giai điệu dìu dặt khoan thai như thả hồn vào một cõi mộng.Từ những cánh bưồm xa khơi thấp thoáng dần khuất trong bóng hoàng hôn, đến cơn mưa chiều rả rich trên phố…Chỉ những hình ảnh ấy cũng đủ gợi nguồn cảm hứng cho nghệ sĩ vút hồn tận chốn ngàn khơi để nghe trùng dương thì thầm lời biển cả, hay nghe tiếng mưa buồn tí tách như lời thở than. Tâm hồn nghệ sĩ thật nhạy bén, dù sự rung động của con tim mỗi người có khác nhau nhưng tính đam mê vẫn chót vót, hòa điệu chung cuộc sống như giọt nước long lanh trong nắng tỏa sắc muôn màu.
Trong dòng lịch sử tân nhạc Việt Nam đã gần thế kỷ khởi từ những nhạc sĩ đầu tiên như Nguyễn Văn Tuyên (Kiếp Hoa, Bông Cúc Vàng), Nguyễn Xuân Khoát (Bình Minh, phổ thơ Thế Lữ), Lê Yên (Bẽ Bàng,Nghệ Sĩ Hành Khúc, Ngựa Phi Đường Xa), Thẩm Oánh (Khúc Yêu Đương, Đôi Oanh Vàng, Xuân Về), Nguyễn Thiện Tơ (Giáo Đường In Bóng, Trên ường Về, Nhắn Gió Chiều), Dương Thiệu Tước (Vầng Trăng Sáng, Áng Mây Chiều, Ngọc Lan, Tiếng Xưa, Đêm Tàn Bến Ngự …), Lê Thương (Bản Đàn Xuân, Hòn Vọng Phu 1,2,3, Tiếng Thu, phổ thơ Lưu Trọng Lư), Văn Chung (Bóng Ai Qua Thềm), Doãn Mẫn (Biệt Ly, Gío Xa Khơi, Hương Cố Nhân), Đan Trường (Trách Người Đi),Văn Cao (Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu, Thiên Thai, Trương Chi, Suối Mơ), Hoàng Qúy (Cô Láng Giềng, Chiều Quê), Nguyễn Đình Phúc (Lời Người Lãng Tử, Cô Lái Đò, phổ thơ Nguyễn Bính), Tử Phác (Tiếng Hát Quay Tơ), Lương Ngọc Châu &Tử Phác (Tiếng Hát Lênh Đênh), Phan Huỳnh Điểu (Tràu Cau), Đặng Thế Phong (Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến, Giọt Mưa Thu), Nguyễn Văn Thương (Đêm Đông, Bướm Hoa), Hoàng Giác (Lỡ Cung Đàn, Khúc Hát Thương Binh), Trần Hoàn (Sơn Nữ Ca), Tô Hải (Nụ Cười Sơn Cước), Việt Lang (Tình quê hương), Nguyễn Mỹ Ca (Dạ Khúc), Phạm Duy (Cô Hái Mơ, phổ thơ Nguyễn Bính, Cây Đàn Bỏ Quên, Chinh Phụ Ca),Tô Vũ (Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa, Tạ Từ), Nguyễn Văn Tý (Dư Âm), Nguyễn Văn Khánh (Nỗi Lòng), Hoàng Trọng (Đêm Trăng, Một Thuở Yêu Đàn, Chiều Tha Hương, Dừng Bước Giang Hồ), Nguyễn Hiền (Người Em Nhỏ, phổ thơ Thiệu Giang, Anh Cho Em Mùa Xuân, phổ thơ Kim Tuấn, Ngàn năm mây bay), Hoàng Dương (Hướng V ềHà Nội),Thông Đạt (Ai Về Sông Tương), Tu My (Tan Tác), Anh Việt ( Bến Cũ), Lê Mông Nguyên (Trăng Mờ Bên Suối, Quê Tôi, Bài Thơ Huế), Lê Trạch Lựu (Em Tôi), Đoàn Chuẩn &Từ Linh (Ánh Trăng Mùa Thu, Lá Thư, Tà Áo Tím, Thu Quyến Rũ, Chuyển Bến, Lá Đổ Muôn Chiều),...vv…Dòng nhạc tiền chiến với những giai điệu mang tính lãng mạn trữ tình ảnh hưởng của dòng nhạc bán cổ điển Tây Phương, nhất là nhạc Pháp do các danh ca, trong đó có danh ca: Josephine Becker, Tino Rossi với những giai điệu trữ tình Foxtrott, Valse,Tango:C’est À Capri (1934), Il Pleut Sur La Route (1935), Marinella (1936) thể điệu rộn rã vui tươi, J’ attendrai(1937), Ave Maria (1938) giai điệu dìu dặt khoan thai, Ecis Moi (1945), J’ai deux Amours, Mon Pays et Paris …Thời đó có một số ít nhạc sĩ đã từng học nhạc Tây Phương nên đã đem những dòng nhạc ấy vào hòa với dòng Dân Nhạc của Việt Nam thành cổ kim hòa điệu. Tính chất nhạc Việt Nam dựa trên nền âm giai ngũ cung chỉ có 5 nốt, lấy chất liệu từ các thể điệu dân ca như Ca Dao, Hát Nói, Hát Quan Họ… trong khi nhạc Tây Phương âm giai 7 nốt lại giàu giai điệu, do đó càng về sau, hướng sáng tác ca khúc càng chịu nhiều ảnh hưởng dòng nhạc Tây Phương. Nhạc sĩ không chỉ đơn thuần viết cho ca khúc mà có người còn viết cho những dòng nhạc giao hưởng đại hòa tấu có cấu trúc nhạc rất phức tạp, đòi hỏi phần hòa thanh, âm sắc phong phú. Hơn nữa ngôn ngữ của Việt Nam có nhiều thay đổi đã xuất hiện nhiều cụm từ và chữ mới, do đó cấu trúc âm nhạc từ giai điệu, tiết tấu, hòa âm có thêm chất liệu giúp cho việc sáng tác những ca khúc thêm màu sắc, giai điệu đẹp. Những ca khúc có từ thời tiền chiến được phổ biến ở Hà Nội, Hài Phòng và một số thành phố lớn miền Bắc trải dài cho đến năm 1954 thì chịu chung số phận đau thương chia cắt của đất nước. Nền văn nghệ của miền bắc bị cưỡng bách o ép một chiều, điển hình là vụ án «Nhân Văn Giai Phẩm », giới văn nghệ sĩ không những bị cấm sáng tác mà còn bị cầm tù, có người bị nhốt nhiều năm dài !
Văn học nghệ thuật cũng có lúc hưng thịnh, lúc suy vi, âm nhạc nhạc cũng thế, gặp lúc trái thời dù cho dòng nhạc đậm tình quê hương đang được công chúng say đắm, tính nghệ thuật đã lôi cuốn lòng người bởi những ca khúc trữ tình lãng mạng, giai điệu mượt mà ca từ như một bài thơ, thế mà nhạc sĩ và tác phẩm bỗng nhiên tắt nghẹn, đành phải lẫn khuất trong xó tối sống hẩm hiu, nhưng vẫn bị chính quyền Cộng Sản lôi ra kết tội là “phản động”vì nhạc Vàng mang tính bi lụy, giai điệu ẻo lả, ca từ ủy mị chỉ biết than thở không mang tính đấu tranh theo tinh thần“cách mạng”! Người ta đã mang chính trị vào nghệ thuật, biến nó thành một thứ công cụ tuyên truyền cho quyền lực, nghĩa là phải viết những ca khúc đầy tính chiến đấu sát máu, nghệ sĩ phải đoạn lìa thứ chủ nghĩa cá nhân, nghệ thuật vị nghệ thuật, mà phải hướng về tình yêu Nước, yêu Đảng nên các văn nghệ sĩ bị dày vò tả tơi ! Vì sự hệ lụy đó dòng Nhạc Tiền Chiến đã biến mất một thời gian khá dài ở miền Bắc , và sau 1975 trên toàn quê hương, nhưng qua thế kỷ mới vì nhu cầu mở của để đón nhận những luồn gió mới trên thế giới du nhập vào Việt Nam, văn nghệ cởi trói, dòng nhạc Vàng từ cõi chết sống dậy, được khôi phục giá trị. Những ai đã từng là nạn nhân của văn hóa Vàng này, hôm nay đọc lại những cuốn sách cũ , hát lại dòng nhạc xưa chắc lòng không khỏi ngao ngán buông tiếng thở dài ? Năm xưa có một nhạc sĩ ở Sài Gòn chỉ vì cất giữ ít nhạc lưu niệm của các bạn, trong đó có một số nhạc phẩm của ông sáng tác thế mà bị kết tội 8 năm tù ! Thảm hơn nữa, ở Hà Nội có người chỉ vì hát nhạc Đoàn Chuẩn Từ Linh, vì những bài tình ca ấy mà bị tù 14 năm hết cả đời thanh xuân ! Cũng từ đó dòng nhạc Vàng gắn liền tên người nghệ sĩ. Chân giá trị của Nghệ Thuật đòi hỏi từ sự rung cảm chân thật để diễn tả tiếng nói của con tim trước những biến đổi của ngoại cảnh, dù có những điều khác ý một số người chỉ vì người nghệ sĩ luôn đi trước thời đại, nên dễ bị ngộ nhận biến thành vật hy sinh, bị dập vùi trước bạo lực hay phe nhóm tranh giành quyền lực ! Sau năm 1954 nhạc Vàng bị kết tội là văn hóa đồi trụy ! Phải chăng vì sợ hãi mà chẳng còn ai dám nghe, hay sáng tác những ca khúc vàng đầy chất nghệ thuật thắm tình người nữa ? Nếu có, thì họ cũng cất dấu chẳng dám khoe ra là đi tù ngay ! Một dân tộc tự hào về một nền văn hóa lâu đời, thấm nhuần lẽ đạo, lại có một nguồn Ca Dao vô tận, thì con người phải thắm tính Thơ và chan chứa Tình Người ? Than ôi, lòng đố kỵ và bạo lực đã tước đoạt ý nghĩa cao đẹp đó ! Tình yêu và Quê hương là nhũng đề tài muôn thuở trong văn học nghệ thuật, đó là nguồn sáng tác vô tận của nghệ sĩ; nhất là đối với những ai đã từng trải qua chiến tranh và ngục tù, hay chứng kiến sự thăng trầm của đất nước, khó mà quên được những mất mát, chia ly, đổ vỡ…Từ trong sâu thẳm của nỗi buồn đó vết hằn quê hương đã bật lên cung bậc chất chứa những đau thương minh họa bằng hình nốt, tiết tấu gieo thành bản hòa tấu mang chung giai điệu :Tiếng nấc nghẹn của tâm hồn ! Trong suốt thời gian đất nước chia đôi vì chiến tranh Quốc Cộng, cả hai miền đều có biết bao cuộc chia ly mất mát, biết bao cuộc tình dang dở. Bao nỗi lòng của người mẹ tiễn con lên đường ra trận. Cuộc chiến đã làm vợ chồng, cha con, anh chị em xa nhau ! Những tình cảnh đó ở hai miền Bắc Nam tuy giống nhau ở truyền thống dân tộc, nhưng lại hoàn toàn khác về cách diễn đạt tình cảm qua văn học và nghệ thuật. Trong thời kháng chiến chống Pháp vào thập niên 40 của thế kỷ trước, những văn nghệ sĩ ở mọi miền đất nước trước khi lên đường vào chiến khu kháng Pháp họ là những thành phần trí thức tiểu tư sản, ngoài tình yêu nước, tâm hồn họ còn mang chất nghệ sĩ. Họ yêu nghệ thuật và sáng tác những bài tình quê, hay những bài ca chiến đấu đều mang tính nghệ thuật đượm đầy tình cảm của con người. Những hình ảnh nhớ nhung, chia lìa và đợi mong đều được thể hiện trong văn thơ, trên nét nhạc, ca từ. Do đó những ca khúc hay mang tính xuất sắc thường ca ngợi tình quê hương, tình người, lẽ đạo dựa trên nghệ thuật vì thế, dù thời gian đã qua lâu nhưng giá trị tác phẩm vẫn còn và được lưu truyền mãi đến hôm nay. Những hnhạc sĩ tài danh : Văn Cao, Phạm Duy(Tình ca, Bà Mẹ Gio Linh, Nương Chiều, Ngày Trở Về, Chiến Sĩ Vô Danh, Về Miền Trung, Tình Hoài Hương, Bà Mẹ Quê, Em Bé Quê…) Nhi Hà ( Mẹ Tội, Trở Về Thôn Cũ), Việt Lang (Tình Quê Hương), Lưu Hữu Phước(Tiếng Gọi Thanh Niên), Nguyễn Văn Thương, Văn Chung (Đợi Anh Về), Tô Hải, Tô Vũ, Phan Hùynh Điểu, Huy Du, Huy Thục (Đợi),….Trong thời ly loạn không một ai là không bị ảnh hưởng, thân phận người đàn bà có lẽ còn chịu nhiều thiệt thòi đắng cay nghiệt ngã hơn ! Nhạc sĩ Phạm Duy đã viết lên ca khúc Bà Mẹ Gio Linh, bài ca mang tính biểu tượng bà mẹ Việt Nam chống ngoại xâm :
«Mẹ gìa cuốc đất trồng khoai, nuôi con đánh giặc đêm ngày. Dù cho áo rách sờn vai, cơm ăn bát vơi bát đầy.».
Hình ảnh quê hương được nhân cách hóa với người mẹ. Sự gian khổ, nhẫn nại và đức tính hy sinh của người mẹ được gắn liền với sự thăng trầm của đất nước. Nhạc sĩ Nhị Hà đã viết lên ca khúc Mẹ Tôi để diễn tả tâm tình của người mẹ có con ở ngoài chiến trận,giai điệu buồn xa xót, ca từ có lẫn những giọt nước mắt thấm vào hồn người nghe như tiếng chuông vọng buồn từ cõi xa. Thuở ấy người nghệ sĩ chưa bị uốn bút nên đã dám bộc bạch cõi lòng :
«Mẹ tôi tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày. Mẹ tôi đau buồn nặng chĩu đôi vai, bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ dại, cầu mong con mình có một ngày mai. Mẹ tôi nắng mưa chẳng ngại nhọc nhằn, Mẹ tôi mỉm cười nhìn bóng con ngoan. Không than không phiền dù lâm hoạn nạn. Lòng mong con mình xứng thành người dân…Nhưng nay con nên người, thì nay còn đâu bà mẹ hiền xưa ! Chiều nay đốt hương tưởng niệm trước mồ, Nhìn khói đau lòng tưởng nhớ năm xưa. Công ơn sinh thành ngày nao đền trả. Mẹ ơi con mẹ nhớ lời mẹ khuyên. »
Trở Về Thôn Cũ của Nhị Hà và TÌNH QUÊ HƯƠNG của Việt Lang là những bức tranh quê mang những gam màu buồn. Ca từ là một bài thơ hòa quyện dòng nhạc Tây phương với âm giai ngũ cung thành giai điệu đẹp làm xao xuyến lòng người. Những Ca khúc tiền chiến đã gợi trong lòng người nghe thoáng hiện những hình ảnh đặc sắc như bức tranh ấn tượng. Nghe xong bản nhạc mà giai điệu và hình ảnh vẫn còn đọng trong hồn :
«Làng tôi nghiêng mình soi bóng Hương Giang
Những đêm trăng sáng long lanh giòng sông
Dáng ai giặt yếm bên bờ dịu dàng
Thả tiếng "khoan hò" theo nhịp chèo vọng xa
Làng tôi những chiều khi gió lên khơi
Nắng hanh phơn phớt pha hồng gò má
Những cô thôn nữ trên đường về chợ
Và tiếng sáo diều diu dặt buông lời thơ
Nhưng sao hôm nay ta trở lại quê hương
Tuy con sông xưa vẫn êm đềm uốn quanh
Còn đâu đồng xanh? Còn đâu gia đình?
Còn đâu bóng hình mẹ già mến yêu?
Nơi đây điêu linh
Nơi đây quạnh quẽ
Nơi đây chẳng còn bóng người ngày trước
Nơi đây tang thương buông bức màn thê lương
Quê hương còn đó nhưng người về đâu?
Vì đâu thôn làng thành chốn nương hoang?
Cớ sao bao cánh chim xa tổ ấm?
Biết bao giờ gió tha hương trở về
Cùng tiếng sáo diều dìu dặt lời nhạc xưa?»
(Nhị Hà)
TÌNH QUÊ HƯƠNG
«Ngàn dâu xanh ngát mấy nếp tranh xa mờ
Tiếng sáo bay dập dìu đường về thôn xưa
Tình quê lai láng dưới trời thu
Khói xây thành chập chùng mây đưa
Cành tơ liễu thấp thoáng bên hồ
Mùa nhớ nhung dòng nước lững lờ.
Ta ra đi một chiều thắm
Vang lời ca buồn trong khóm lá
Nỗi u hoài ngày tháng khôn nguôi.
Miền xa thương nhớ
Tình quê hương thiết tha buồn lắng
Nhắn theo lời gió.
Mùa trăng êm tiếng tơ một trời còn vương
Ôi buồn nhớ quê hương!»
(Việt Lang)
Nhạc sĩ Văn Chung trong chiến khu đã không dấu lòng viết lên ca khúc : Đợi Anh Về, diễn tả nỗi nhớ nhung người thương :
«Em ơi ! Đợi anh về ! Đợi anh hoài em nhé,
mưa có rơi dầm dề, ngày có buồn lê thê
thì em ơi em cứ đợi ...»
Chất lãng mạn theo nghệ sĩ bàng bạc trong không gian, lan tỏa núi rừng làm tâm hồn nghệ sĩ dào dạt nguồn cảm hứng sáng tác nên đã có những tác phẩm hay. Nhưng chỉ vài năm sau, sự sáng tác được chỉ đạo, những mộng mơ, nhớ nhà, nhớ gia đình, nhớ người yêu…đều ngủ kỹ trong đáy hồn ! Sau năm 1954 nền văn nghệ miền Bắc chỉ còn là chiếc loa phóng thanh hò hét thúc giục thanh niên lên đường và ca ngợi Đảng, mặc dù những văn nghệ sĩ còn ở lại trên đất Bắc đa số đều có tài, bạo lực đã làm trầy trụa tâm hồn họ ! Trong vòm trời khép kín, vườn văn nghệ chỉ có một loài hoa đỏ được phép nở, cho dù màu hoa có rực rỡ vì đậm sắc thì cũng không thể thay thế được tất cả những màu sắc khác ?! Bỗng vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, có một số thơ nhạc trữ tình được rộ ra do một số văn nghệ sĩ có từ thời kháng chiến, những bài thơ phổ nhạc đó đã đi lệch hướng chỉ đạo, dám ca ngợi tình lứa đôi, một tình cảm thiêng liêng của con người. Bản nhạc được công chúng đón nhận vì dân miền Bắc đã lâu bỗng được nghe lại những giai điệu trữ tình, những vần thơ lãng mạn thắm tình người mà không hò hét thi đua ccách mạng. Người nghệ sĩ chỉ cần một lần trong đời dám làm theo con tim dù phải chết, hay bị tù đày thì cũng mãn nguyện. Nhạc sĩ Huy Du phổ bài Tình Em của nhà thơ Ngọc Sơn :
«Khi chiếc lá xa cành, lá không còn màu xanh. Mà sao em xa anh ; đời vẫn xanh vời vợi. Có gì đâu em ơi ! Tình yêu là sự sống ; nên nắng ửng trong lòng. Tình yêu như khe suối, lưu luyến và nhớ thương, chảy theo anh khắp rừng….» Nhạc sĩ Huy Thục phổ bài thơ Đợi của nhà thơ Vũ Quần Phương :
«Em đứng trên cầu đợi anh
Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm.
Ngày xưa đã chảy sau còn chảy
Nước chảy bên lòng em đợi anh»
Ở miền Nam nam trước 75 nền văn nghệ được tự do, trăm hoa đua nở, mặc dù chính quyền cũng cổ võ văn nghệ hướng ra tuyền tuyến, nha tâm lý chiến khuyến khích các nhạc sĩ sáng tác các nhạc phẩm ca ngợi lòng dũng cảm của người lính, nhất là những bài chiến đấu ca. Giới văn nghệ sĩ được tự do sáng tác dù hòa vào chiến tranh nhưng những giai điệu quê hương hoặc tình đôi lứa vẫn dựa trên nghệ thuật, mang tính lãng mạn trữ tình của dòng nhạc Vàng, mà ca từ phải đẹp như lời thơ, hoạc lời bài hát là bài thơ được phổ, hòa quyện với giai điệu đẹp đẽ của nhạc diễn tả những cảm xúc của tuyệt vời của tâm hồn. Những bài thơ được các nhạc sĩ cảm được hồn thơ nên đã hòa thêm âm thanh vào biến những bài thơ và nhạc cùng bất tử : Thuyền Viễn Xứ, thơ Huyền Chi, Phạm Duy phổ nhạc. Mộng Dưới Hoa, thơ Ðinh Hùng, phạm Ðình Chương phổ nhạc. Nguyệt Cầm, thơ Xuân Diệu, Cung Tiến phổ nhạc. Tình Khúc Thứ Nhất, thơ Nguyễn Ðình Toàn, Vũ Thành An phổ nhạc. Màu Tím Hoa Sum, thơ Hữu Loan, Dzũng Chinh phổ nhạc. Mái Tóc Dạ Hương, thơ Ðinh Hùng, Nguyễn Hiền phổ nhạc. Chiều Tím, thơ Ðinh Hùng, Ðan Thọ phổ nhạc. Áo Lụa Hà Ðông, thơ Nguyên Sa, Ngô Thụy Miên phổ nhạc..vv…Trong khi đó dòng nhạc tiền chiến dần dần bị chìm vào không khí chiến tranh, những ca khúc vàng êm dịu lắng sâu vào hồn khách mộ đìệu nhường chỗ cho một thể loại khác được gọi là nhạc Thời trang trong đó có dòng nhạc viết về Lính, dòng nhạcTrẻ cho những thanh niêm nam nữ đang còn ngồi ghế nhà trường, nhạc mang lời Việt hoặc lời ngoại quốc mà thể điệu đang thịnh hành ở các nước Âu Mỹ. Nhạc Thời trang nhằm diễn tả cái thực trạng của xã hội đang bị cuốn hút bởi những quyến rũ vật chất, đang vội vã hưởng thụ hầu quên đi thực tại của vòng khói lửa chiến tranh vây hãm ! Chính ở thời đìểm khốc liệt này, làng tân nhạc miền nam xuất hiện nhiều ca khúc quê hương trữ tình đượm chất lãng mạn trữ tình pha chút chiến chinh. Những thể điệu rất thịnh hành trong giai đoạn đó: Valse, Slow, Boston nhẹ nhàng phảng phất chút âm hưởng bán cổ điển tây phương, đìệu Blues Jazz lãng mạn, buồn tê tái như lời than chứa đầy những giọt nước mắt của những người da đen nô lệ xa xưa. Làn điệu Boléro mềm mại, ai oán diễn tả nỗi u uất thân phận người Gitan hát rong Tây Ban Nha, hay những thể điệu Tango, Habanera, Rumba…dịu dàng tha thiết vọng theo nhịp sóng vỗ từ những hải đảo xa xăm bên kia bờ đại dương kết thành cung bậc gần gũi với dân ca Việt Nam để diễn tả về thân phận con người trong chiến tranh qua giai đìệu trầm bổng ngũ cung. Lời ca tiếng nhạc đã đi vào lòng người, bàng bạc kắp mọi nơi, từ hang cùng ngõ hẻm nơi phố thị đến những thôn làng hẻo lánh nơi rừng sâu núi thẳm. Ở thời đìểm chiến tranh hừng hực lửa ấy, nếu chỉ cần rời xa thành phố cư ngụ ít ngày hay thoáng nghe lại những giọng ca truyền cảm quen thuộc phát ra từ một máy thu thanh chắc hẳn ta không khỏi xao xuyến về một khung trời kỷ nìệm mà chính ca khúc và nghệ sĩ đã làm sống lại. Ca sĩ tuy có khác nhau về các chất giọng và cách trình diễn, nhưng lại có chung sự quyến rũ làm say đắm khách mộ điệu. Giới thưởng thức, mỗi người một sở thích, tùy tâm trạng của người nghe chọn lựa bài hát và ca sĩ được ưa thích, nếu chất giọng nào mà mang nhiều ấn tượng của kỷ niệm, làm lòng họ xao xuyến thì họ sẽ yêu thích. Do đó có những ca sĩ chất giọng rất hay, kỹ thuật thanh nhạc cao, trình bày đẹp mắt nhưng chưa chắc bài nào cũng được mọi người thích ? Ở Sài gòn năm xưa, nếu ai đó tình cờ đi ngang qua một quán bên đường sẽ nghe từ trong quán vẳng ra tiếng kèn đồng nức nở giai điệu trầm bổng trong điệu blues hòa với chất giọng khàn của ca sĩ nghe não nuột, u uất ! Lời ca điệu nhạc diễn tả tâm trạng lớp người của chốn phồn hoa đô thị đầy ánh đèn màu, men rượu, khói thuốc, vũ trường, những thứ đó đã làm chóa mắt họ, mà quên, hay không biết hiện trạng của đất nước đang mịt mù khói lửa, phần đất tự do đang bấp bênh giữa cái mất còn ! Sự rung động của tâm hồn nhạc sĩ tuy có khác nhau về cảm nhận và cách diễn đạt nhưng những ca khúc thời chiến lại gần gũi, quyện vào nhau về cấu trúc lẫn giai đìệu, phải chăng sự đồng đìệu này đã biến những cảm âm thành những dòng nhạc liên khúc sau này? Nhưng có một đìều chắc chắn chẳng có một nghệ sĩ nào dửng dưng sống bên lề chiến cuộc. Chiến tranh đã ảnh hưởng đến tâm hồn họ, nhưng trong sáng tác những ca từ trong loại nhạc phổ thông ở giai đoạn đó lại thật hiền hòa, nhân bản. Nhạc sĩ Lam Phương đã xúc cảm nỗi lòng của người Mẹ, ông viết lên ca khúc Tình Mẹ như tiếng ru buồn diễn tả nỗi lòng cô quạnh của thiếu phụ chờ chồng và tấm lòng của người mẹ trong thời chiến, và thực trạng đó là nỗi buồn quê hương :
«Đêm khuya rồi à ơi..con yên ngủ. Trăng xa vời đèn gầy nào soi kiếp người. Mái tranh nghèo lạnh lùng hắt gío sương rơi, được nhìn con thân mẹ dường ấm cuộc đời. Hận loạn thù tình cha dứt bước ra đi, tháng năm qua thôn nghèo chờ mối duyên quê. Rồi một ngày người người lừng chiến công về, mừng thầm mẹ hỏi tin cha, ngờ đâu bóng đã khuất xa !»
Hình ảnh những người lính trận được dệt trong ca khúc mang vóc dáng hào hùng và rất đa cảm, lãng mạn mà ghệ sĩ đã phản ánh mô tả bộ mặt nhân bản của xã hội đương thời. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết ca khúc Anh Về Với Em diễn tả tâm trạng người lính trận xa nhà mong ước về thămm vợ, sự nhớ nhung da diết đó nói lên tình yêu chân thật của con tim. Nếu ở vào tâm trạng người lính miền Bắc sẽ không dám nói những lời ủy mị đó, vì sẽ bị khép tội mất cảnh giác chiến đấu ! :
Anh về với em, như chim liền cánh như cây liền cành.
Như đò với sông, như nước xuôi giòng vào lòng biển xanh.
Em ơi trăng còn sáng nên tình yêu vẫn còn mang,
Em ơi sương còn xuống nên tim côi mong sưởi ấm.
Ta xa nhau lâu rồi, ta mong nhau lâu rồi, gần nhau đêm nay thôi...
Anh về với em, mai ta lại cách xa nhau muôn trùng.
Bao ngày nhớ nhung, vơi hết tâm sự vừa cạn một đêm.
Sao em anh lại khóc khi anh ra đi vì em? Hay chăng ân tình lớn hơn không gian đôi mình cách? Mai nay anh đi rồi, mai nay anh đi rồi, mai nay anh lại đi...»
Cùng sống giai đoạn đó, nhạc sĩ Hàn Châu đã viết ca khúc Những Đóm Mắt Hỏa Châu diễn tả một ước mơ hòa bình của những người sắp bước vào cuộc chiến nhưng tâm thức đã không thích chiến tranh, điều đó đã thể hiện qua nét nhạc viết lên nỗi lòng mình. Những trái hỏa châu làm sáng rực đêm tối, lộ những hình ảnh quê hương, nơi đó đầy những hiểm nguy và nỗi sợ ! Chỉ cần một tia sáng trong đêm đen cũng là chút hy vọng, dù đó là những vũ khí dành cho chiến tranh để soi rọi vào nỗi chết ! Nhạc sĩ Hàn Châu hình tượng hóa nhnững hỏa châu trong đêm sẽ là hoa đăng nếu quê hương thanh bình. Ca từ như thế lại hòa trong thể điệu Boléro buồn bã, bài hát da diết thấm vào lòng người mà chẳng làm giao động những người trai tiền tuyến ; vì hòa bình là ước nguyện chung của con người.
« Có những đêm dài, anh ngồi nhìn hỏa châu rơi, n ghe vùng tâm tư cháy đỏ xoay ngang lưng trời. Những đóm mắt hỏa châu bừng lên trong màn tối, như mắt em sáng ngời, theo anh đi ngàn lối, những đêm không ngủ anh ngồi tâm sự cùng hỏa châu rơi. Ôi đẹp làm sao, màu hỏa châu đêm đêm tô son, tô phấn những con đường, Ôi những con đường mang nặng đau thương ! Cho anh nhận diện quê hương giữa đêm đen buồn, bằng những dòng sông chảy xuôi đêm trường, Ôi những dòng sông nhẫn nhục đau thương... Dưới ánh châu hồng, anh ngồi gọi thầm tên em, mơ một ngày mai pháo nổ vang trên lối về .Những đóm mắt hỏa châu là hoa đăng ngày cưới, khi chiến chinh hết rồi, tương lai ta tìm tới, có nhau trong đời đêm trường không sợ lạc loài yêu thương.. ».
Đầu thập niên 70, nhà thơ Lê Thị Ý sống ở thành phố Pleiku cao nguyên sương mù, hàng ngày nghe toàn tiếng bom đạn và chứng kiến những thảm cảnh chiến tranh nên cảm xúc viết bài thơ :“Tưởng Như Còn Người Yêu”được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Thơ nhạc hòa quyện nhau như tiếng đau thương của sự chia lìa đã gây xúc động trong công chúng, vì đó là nỗi lòng , tâm trạng của những người thiếu nữ trong thời chiến, nhất là ở thời điểm chiến tranh khốc liệt. :
«Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu… »
Cùng thời gian đó nhà thơ Vũ Hũu Định đang nhập cuộc chiến, nhìn phố núi qua lăng kính thi vị, nhà thơ đã gởi tâm sự trong bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ, viết về một thành phố bụi đỏ và bom đạn được nhạc sĩ Phạm Duy đồng cảm phổ nhạc:
« Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn.
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em đời còn dễ thương.
Em Pleiku má đỏ môi hồng
Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông !
Nên tóc em ướt và mắt em ướt
Nên em mềm như mây chiều trong.
Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân.
Đi dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng vẫn bâng khuâng !
Xin cảm ơn thành phố có em
Xin cảm ơn một mái tóc mềm
Mai xa lắc trên đồn biên giới
Còn một chút gì để nhớ để quên.
( Còn Một Chút Gì Nhớ)
Trong khi đó ở Miền Bắc cũng có biết bao người trai lên đường và không bao giờ trở lại, biết bao bà mẹ mất con, vợ mất chồng thế mà chẳng có nhiều giọt nước mắt ghi lại trong âm nhạc, thực tế thì chắc có nhiều nước mắt vì có mẹ nào mà không thương nhớ và muốn xa con ?! Nhưng những hình ảnh nhớ nhung xa cách, và đợi mong đều bị «đóng khung» trong văn thơ âm nhạc ! Vì sợ bị kết tội ủy mị nên nghệ sĩ ít dám biểu lộ « nỗi buồn» trong tác phẩm mà đã dấu những giọt nước mắt ấy. Nay chiến tranh đã lui vào dĩ vãng thì những gì của thời đó nếu còn đọng lại, cõ lẽ chỉ còn là kỷ niệm trong thơ văn âm nhạc, mãi sau này trong văn có những tácphẩm Bến Không Chồng của Nhà văn Dương Hướng, Nỗi Buồn Chiến Tranh của Nhà văn Bảo Ninh, Phố của Nhà văn Chu Lai,…tâm hồn của người lính, dù là miền Bắc hay miền Nam thì cũng rung động trước những nỗi buồn vui xa cách. Nhưng tâm tình người lính miền Bắc được dấu kỹ, do đó ít thấy những giọt nước mắt của sự chia lìa đổ vỡ trong những ca khúc ! Những nhạc sĩ đã tự kiểm và tự diệt tính lãng mạn để trở thành bộ máy sáng tác rập khuôn nhau ca ngợi Đảng và chiến công ! Thỉnh thoảng có vài văn nghệ sĩ dám phá lệ viết những đề tài của tình yêu đôi lứa đượn triết lý làm tâm hồn người đọc xao xuyến dạt dào. Làm sao cấm được những gì chất chứa trong sâu thẳm tâm hồn con người ? Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc bài thơ Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ của Nhà thơ Trần Hoài Thu :
«Có một không gian nào đó chiều dài nỗi nhớ.
Có khoảng mênh mông nào sâu thẳm hơn tình thương,
Ở đầu này nỗi nhớ anh mơ về bên em
Ngôi sao như xuống thấp cho ta gần nhau thêm.
Đêm nghe tiếng mưa rơi đếm mấy triệu hạt rồi
Mà chưa vơi nỗi nhớ.
Ở hai đầu nỗi nhớ yêu và thương sâu hơn…»
Ông cũng phổ nhạc bài thơ Thuyền Và Biển của Nhà tho Xuân Quỳnh :
Em sẽ kể anh nghe
Chuyện con thuyền và biển
"Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi
Cánh hải âu, sóng biếc
Đưa thuyền đi muôn nơi
……..Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mang nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc dầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió"
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố »
Hai bài thơ : Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ, Thuyền Và Biển là những áng thơ hay lại được chắp cánh bởi nhạc vì những văn nghệ sĩ đó đã dám bày tỏ cảm xúc chân thật của mình cho nghệ thuật, biến những sự vật quen thuộc trở thành nhưng ngôn ngữ thơ đặc sắc, đầy lãng mạn mang tính triết lý mà không sợ lệch đường «Nhà nước». Viết ra những thứ trái cấm lại còn phổ biến cho những tâm hồn đồng điệu quả là can đảm, và hiếm hoi dưới chế độ kiểm duyệt ấy ! Tác giả đã không sợ lòng đố kỵ hẹp hòi của những «thợ hót» dèm pha phê phán là nhạc Vàng nên hôm nay đời có thêm tác phẩm hay. Sự sợ hãi làm vây kín tâm hồn người nên các nhạc sĩ phải chừng mực khi diễn tả ; Họ chỉ vút nguồn cảm hứng qua những bài dân ca và những bài ca chiến đấu qua lối viết điêu luyện, những cấu trúc cầu kỳ. Làm sao diễn tả hết những gì xảy ra trong giai đoạn chiến tranh ấy ? Người nghệ sĩ không thể đem tâm tình hôm nay để viết về tâm cảnh năm xưa, nếu có viết thì cảm xúc cũng không thật ! Cảm xúc của nghệ sĩ chợt đến như sương khói, mây bay rồi tan biến trong bầu trời, nhưng sẽ để lại cho đời tác phẩm. Âm nhạc miền Bắc đã thiếu vắng những bài ca diễn tả tình cảm chân thật của con người, thay vào đó là những bài thúc quân tô điểm cho Đường Trường Sơn, để hôm nay chỉ còn những ca khúc miền Nam nói về tâm tình những người lính trẻ, những hạnh phúc và sự đổ vỡ, những mất mát và sự hy sinh. Một lần nữa chính trị lại xen vào tình cảm thiêng liêng của con người, đó là được nghe những giai điệu dìu dặt để sống lại với những kỷ niệm một thời. Vì những người «quản văn nghệ » đã cấm nên không có dòng nhạc Vàng trong thời kỳ chiến tranh , nay họ muốn xóa bỏ thực thể đó nên kết tội nhạc Vàng đồng nghĩa với Nhạc Sến ! Thuở ấy ở miền Nam có một dòng nhạc hòa trong thể loại thời trang nhưng nét nhạc mang dấu ấn riêng vì giai điệu êm dịu làm thổn thức lòng người qua những ca khúc trữ tình tuyệt vời mà ca từ là những ngôn ngữ thơ đầy chất hình tượng nhạc tính. Đang vút hồn vào cõi tình lãng mạn, người nhạc sĩ đó bỗng chuyển hướng sáng tác dấn sâu vào thế sự. Dòng cảm xúc ngùn ngụt lửa chiến tranh, rồi bật lên những ca khúc phẫn nộ như muốn nói lên hết nỗi niềm của thân phận làm người trong một đất nước chiến tranh. Lời ca có tính triết lý mang đầy màu sắc hình tượng, giai điệu là tiếng khóc tỉ tê, tiếng thì thầm từ một cõi âm nào đó vọng về buồn tê tái như quyện chất ma túy, làm xói mòn tâm thức lớp trai cùng thế hệ của miền nam! Trong khi đó ở miền bắc, đối với lớp trai cùng thế hệ chẳng một chút hay biết gì về những lời ca này nên chẳng ảnh hưởng đến cái tâm thức «phản chiến », vì đã bị đảng và nhà nước CS đã bưng bít cấm phổ biến! Quả thật chiến tranh đã gieo vào tâm hồn Trịnh Công Sơn một ấn tượng mạnh tạo dòng cảm xúc tột độ nên ông viết được những tác phẩm làm xao xuyến lòng người. Giai điệu và ca từ sâu lắng đó réo rắc, trầm bổng như tiếng kinh gọi hồn nghe ai oán bi thương đến rợn người, làm xói mòn tâm thức của những người trai cùng thế hệ đang cầm súng làm nhiệm vụ bảo vệ sự tự do quê hương! Người ta tự hỏi có nên trách người nghệ sĩ sáng tác về những nỗi buồn chiến tranh? Làm sao cấm được dòng cảm xúc của người nghệ sĩ ?Một tác phẩm ở bất cứ một thể loại nào dù là văn học hay nghệ thuật giá trị đích thực không hẳn ở lời khen tiếng chê mà tùy thuộc vào bản thể tác phẩm có thực đi vào lòng người hay không. Tuy nhiên người đời vẫn lầm lẫn gữa tác phẩm và nhân cách tác giả !Người nghệ sĩ và tác phẩm là hai thực thể tách rời nhau nhưng lại khắn khít, có chung một niềm bất hạnh chứa đầy rủi ro, đôi khi bị vùi dập vì ngộ nhận! Tâm hồn nghệ sĩ rất phóng khoáng, bao dung, yêu thiên nhiên, yêu tha nhân, yêu cuộc đời cho dù đời muôn cay đắng! Người nghệ sĩ chân chính yêu nghệ thuật và yêu tự do như hơi thở mạng sống. Những tinh hoa văn nghệ sáng rực giữa vòm trời của miền bắc một thời, không những họ được ca ngợi về tác phẩm mà còn ở phong cách nghệ sĩ như: Văn Cao, Hữu Loan, Quang Dũng, Trần Dần, Lê Ðat, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Phùng Cung, Thụy An, Phan Khôi, …. Họ đã từng ấp ủ được tự do sáng tạo, nhưng mơ ước ấy chỉ là mây khói ! Niềm vui chẳng bao lâu đã bị bạo lực nhân danh chủ nghĩa và quyền lợi đảng bóp chết mầm sống của muôn đóa hoa văn nghệ xứ bắc…Và từ đấy những vì sao sáng kia đã tắt lịm trong tăm tối, buồn thảm ! Phải chăng ngay những lúc tác phẩm ở vị thế sáng chói nhất tác giả vẫn cảm thấy cô đơn và đã nghe từng con chữ nhòa theo bóng thời gian, trong lãng quên hững hờ của người đời ?! Số phận một tác phẩm chìm nổi tùy theo tác động của xã hội. Sau năm 1975 ngọn lửa bạo lực đã thiêu rụi mạch sống của vườn hoa văn nghệ miền nam. Biết bao văn nghệ sĩ tinh hoa của đất nước bị tước đoạt ngòi bút, không những thế còn bị đầy ải cầm tù trong chiến dịch mệnh danh «chiến dịch đánh văn nghệ sĩ phản động» như: Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Hồ Hữu Tường, Hồ Văn Ðồng,Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hoàng Hải Thủy, Hoàng Anh Tuấn, Hồ Nam, Họa sĩ Chóe, Họa sĩ Ðằng Giao, Sơn Ðìền Nguyễn Viết Khánh, Hoàng Vĩnh Lộc, Thân Trọng Kỳ, Minh Ðăng Khánh, Lê Văn Vũ Bác Tiến, Nguyễn Mạnh Côn, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Như Phong Lê Văn Tiến, Mạc Thu, Thái Thủy, Thanh Thương Hoàng, Tô Ngọc, Thái Dương, Trần Việt Sơn, Lý Ðại Nguyên, Trịnh Viết Thành, Cao Sơn, Trịnh Hưng, Nguyễn Khánh Giư, Ngô Công Minh, Ðậu Phi Lục, Võ Xuân Ðình, Anh Quân, Nguyễn Văn Minh ( Minh Vồ), Ninh Chữ, Uyên Thao ..vv..Những người đã chết trong tù : Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm Văn Sơn, Hiếu Chân, Ngọc Thứ Lang, Dương Hùng Cường, Minh Vồ, Thục Vũ, Minh Kỳ, Hồ Ðình Phương, Minh Ðăng Khánh..Hoặc những người được thả ra về nhà chét:Vũ Hoàng Chương, TrịnhViết Thành, Anh Quân, Trần Việt Sơn…Bạo lực có thể cướp đi mạng sống của con người, nhưng vẫn không thể nào hủy diệt được tâm hồn nghệ sĩ chân chính và những người yêu tự do. Những hương thơm đó vẫn đọng với thời gian.
Ở thời kỳ cực thịnh của dòng nhạc Vàng, những tác phẩm thi nhau nở rộ, được phổ biến hàng ngày trên các băng đài, những ca khúc có nội dung:«Quê Hương Trong Ly Loạn, Tâm Sự Người Lính, Tình Yêu Lứa Ðôi…đượm màu sắc dang dở, biệt ly..vv..» Xin hãy bước vào vườn hoa nghệ thuật để thấy mùa xuân bất tận của những ca từ trong nhạc, nó đượm đầy chất thơ và chứa sãn tính nhạc. Ðìển hình những lời ca đã đi sâu vào lòng người, đó là những tài sản trong kho tàng của văn hóa dân tộc :
Phạm Ðình Chương :
« ..Người đi qua đời tôi
trong những chiều đông sầu
Mưa mù lên mấy vai
Gió mù lên mấy trời...
Hồn lưng miền rét mướt
Vàng xưa đầy dấu chân
(Người Ði Qua Ðời Tôi)
Lam Phương:
“...Người đi hoa lá chết trong mùa nhớ
Ngfười về lạng lẽ, tình vẫn bơ vơ !
Thà rằng ôm kín mộng ước xa nhau
Quên đi cho hết một kiếp thương đau...”
(Thu Sầu)
Trịnh Công Sơn :
«Gió sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ quên trên vai
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh vạc về chốn xa xôi.. »
(Như Cánh Vạc Bay)
Ngô Thụy Miên:
“...Nhớ tới năm xưa bên nhau
Bước trong chiều mưa phiếm du nhẹ đưa
Bến cũ đam mê say xưa lá thu còn rơi...
Mắt biếc năm xưa nay đâu, cánh sao còn đây
Tóc mây nào bay...Tình đã xa rồi !”
(Mắt Biếc)
Y Vân :
« …Rồi đây mây trên đồi vắng
lang tìm kìm kiếm, đá xưa rêu mòn….
Biệt ly hôn nhau lần cuối…
Dư âm còn đây, lệ trong mắt ai… »
(Mắt Lệ Cho Người Tình)
Từ Công Phụng:
« …Thôi đừng tìm đến nhau làm gì !
Thôi, đừng tìm nhau nữa mà chi !
Ðường về nhà em xa lắm,
Tương lai chưa vừa tầm hái tay này.
Trời đọa đày cho cay đắng
Nên ta không còn nương cánh nhau mà đi.. »
(Lời Cuối)
Lê Uyên Phương :
« …Ngày em thắp sao trời
Chờ trăng gió lên khơi
Mùa mưa bão tơi bời
Một ngày mưa bão không rời
Trên vai thanh xuân ướp hôn nồng trên gối đắm say
Ánh sao trời theo gió rụng rơi đầy
Cùng rót bao nhiêu ngày hoang
Cùng đếm bao nhiêu mộng tàn..”
(Dạ khúc Cho Tình Nhân)
Vũ Thành An:
“...Một làn khói trắng
Ru đời vào quên lãng
Nâng sầu thành hơi ấm
Hơ dịu tình đau.
Ngày tàn im lắng
Yêu người làn tóc trắng
Tâm sự rồi đến đắng
Như lệ giờ biết nhau...“
( Bài Không Tên Số 7)
TRường Hải:
„..Những chiều không có em
Ngõ hồn sao hoang vắng.
Ôi! Dừng chân đây,
đường phố cũngùi nhớ tới người em thơ
cùng bước dưới trời mưa lòng trao chuyện lòng...”
(Những Chiều Không Có Em)
Trường Sa:
“...Tiếng hát bay trên thành phố bâng khuâng
Chiều đông đưa những bước chân đau mòn
Chợt nghe mùa thu bay trên trời không
Còn ai giữa mênh mông đời mình?
Cho nỗi đau mù lấp tuổi thơ!...”
(Xin Còn Gọi Tên Nhau)
Phạm Duy:
“...Nha Trang ngày về
ngồi đây tôi lắng nghe
đê mê lòng tôi khóc
như oan hồn trách móc
Ôi trăng vàng lẻ loi! Ôi đời!
Trời biển ôi! Không có nuôi tình tôi.
Nha Trang biển này tình yêu không có đây
Tôi như là con ốc chui sâu vào thân xác lưu đày
Dã tràng ơi sao lấp cho vơi sầu này!”
(Nha Trang Ngày Về)
Thanh Trang:
«Một vì sao sáng trong đêm lặng lẽ
nhạc buồn xa vắng mênh mông trần thế
ánh mắt sáng ngời lòng trời u tối
không gian xa vời...
Tìm đến với nhau cho quên hận sầu
ngày đó lứa đôi vui duyên tình đầu
mộng ước tan rồi để buồn mai sau
để buồn mai sau …»
(Duyên Thề)
Không thể trích hết lời ca đã từng vang bóng một thời của làng âm nhạc miền Nam. Những nhạc sĩ mang chút hồn thơ như:
Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Ưng Lang, Văn Phụng, Hoàng Trọng, Trọng Khương, Lâm Tuyền, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Cung Tiến, Trúc Phương, , Lê Trọng Nguyễn, , Hoàng Thi Thơ, Y Vân,Thu Hồ, Trịnh Hưng, Minh Kỳ, Hoài Linh, Phạm Mạnh Cương, Khánh Băng, Huỳnh Anh, Châu Kỳ, , Tuấn Khanh, Lê Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương,Vũ Thành, Thanh Trang, Trầm Tử Thiêng, Anh Bằng, Lê Dinh, Trần Thiện Thanh, Vũ Ðức Sao Biển, Thanh Sơn, Hoàng Trang, Ðỗ Lễ, Lê Hoàng Long, Thanh Bình, Hiếu Nghĩa, Văn Giảng, Phó Quốc Thăng, Thúc Ðăng, Hoài An, Duy Khánh , Anh Việt Thu, Anh Việt Thanh, Nhật Ngân, Trần Trịnh, Nguyễn Ánh 9, Y Vũ, Mai Châu, Nam Lộc ; Lê Hữu Hà , Nguyễn Trung Cang..vv….Ðó là chưa kể đến những nhạc sĩ thời tiền chiến, họ là những nhạc sĩ mang tâm hồn thơ, đã cống hiến cho đời những lời ca đượm đầy chất hương thơ hòa trong ý nhạc, dệt lên những giai điệu đặc sắc.
Trong vườn hoa âm nhạc miền Nam, dòng nhạc Vàng được mùa, đây là cơ hội cho những con buôn văn nghệ làm giàu, và cũng là cơ hội giúp cho nhạc sĩ có dịp trình làng tác phẩm. Phong trào nhạc thời trang tuy có rầm rộ khắp nơi, được công chúng ưa thích vì có nhiều nhạc phẩm hay, độc đáo, nhưng lẫn trong đó có những nhạc phẩm kém cỏi, thiếu phẩm chất nghệ thuật do những nhạc phẩm viết vội, cóp xén của nhau, xào xáo giai đìệu, ráp nối ca từ để tung ra thị trường bán, hoặc bản nhạc viết chưa ráo mực đã bán đứt bản quyền do người khác đứng tên, làng âm nhạc gọi là «bán cỏ non». Tình trạng khai thác bừa bãi, quá độ khiến cho người nghe cảm thấy nhàm chán nên xem nhẹ âm nhạc, thậm chí người khó tính còn gọi là nhạc «sến»! Dù chỉ là số ít nhưng cũng làm ảnh hưởng chung đến giới sáng tác và giới yêu nhạc. Dòng nhạc có tính chất thính phòng trở nên khan hiếm, thu hẹp lại chỉ xuất hiện ở những tụ điểm quán nhạc sinh viên hoặc những đêm nhạc chủ đề do văn nghệ sĩ thực hiện, mà cấu trúc lẫn ca từ có chọn lọc hơn.
Thời gian trôi nhanh như gió thoảng, nhiều lúc đọc lại quyển sách cổ, nghe lại bài hát xưa cả khung trời ngày cũ hiện về thật êm đềm,thơ mộng, dù trong đó có dấu tích chiến tranh lẫn những giọt nước mắt qưê hương ! Dù ở bất cứ phương trời nào những giai điệu Vàng vẫn làm thổn thức dòng kỷ niệm về qưê hương./.
Paris Ngày Quốc Tế Âm Nhạc 21 06 2013
Đỗ Bình
Một giám khảo của giải Van Cliburn
Quỳnh Giao

Cố nghệ sĩ Cliburn biểu diễn trong dịp tưởng nhớ các nạn nhân của vụ thảm sát trường học Beslan ở Moscow, 21/9/2004. Mừng lễ “ngân khánh” của giải Dương Cầm Quốc Tế Van Cliburn, người ta ít chú ý đến khôi nguyên năm nay mà nhắc đến một tay diệu thủ trong ban giám khảo.
Ðược các danh thủ lập ra lần đầu từ năm 1962 tại Texas để vinh danh Van Cliburn, giải thưởng này mừng năm thứ 25 nên mới gọi là “ngân khánh.”
Sinh năm 1934 và vừa mất đầu năm nay, Van Cliburn nổi tiếng với giải Tchaikovsky về dương cầm tại Mạc Tư Khoa vào năm 1958. Tay dương cầm từ Texas lại chiếm ghế khôi nguyên của Liên Bang Nga khi giải thưởng này được tổ chức lần đầu tiên, giữa thời Chiến Tranh Lạnh, thì hẳn là Van Cliburn phải có tài.
Giai thoại đáng nhớ là khi vào chung kết với bản Concerto số Một của Tchaikovsky và Concerto số Ba của Rachmaninoff, dương cầm thủ Hoa Kỳ làm khán giả đứng bật dậy vỗ tay trong tám phút. Vì sợ hậu quả chính trị, ban giám khảo xin thỉnh ý chế độ và thấy nhẹ mình nhờ tiếng nói của lãnh tụ Nikita Kruschev: “Hắn giỏi nhất hay sao? Nếu đúng vậy thì cứ trao giải!”
Năm ấy, có hai thí sinh chia nhau giải nhì là Lev Vlassenko của Nga và Lưu Thi Côn của Tầu, về sau đều là giáo sư dương cầm nổi tiếng. Trải qua hơn nửa thế kỷ, mãi năm ngoái thì tay “phó bảng” người Tầu mới tái ngộ “trạng nguyên” người Mỹ khi Van Cliburn đã như ngọn đèn trước gió.
Sinh năm 1939 tại Thiên Tân, Lưu Thi Côn học nhạc bằng tai khi mới lên ba, qua chồng đĩa nhạc của thân phụ, một ca sĩ giọng baritone tốt nghiệp Nhạc Viện Thượng Hải. Lên bốn tuổi thì leo lên đùi cha để tập dương cầm. Âm nhạc đúng nhà “nghiệp nhà.” Cả ngàn đĩa nhạc cổ điển của thân phụ là kho tàng cho cậu bé có thể ngân nga trong đầu từng nhạc khúc khét tiếng của Tây phương.
Lưu Thi Côn trình tấu Mozart từ năm lên sáu, đoạt giải thưởng khi lên 10, vào Nhạc Viện Thiên Tân ở tuổi 12 và theo học các giáo sư dương cầm người Nga tại Thượng Hải và Bắc Kinh. Nhưng khi vào giải quốc tế, người nhạc sinh có tài thấy ra chính trị còn có sức nặng hơn nghệ thuật.
Năm 1956, Lưu Thi Côn dự giải dương cầm Franz Liszt tại Hung Gia Lợi và được sự tán thưởng của ban giám khảo gồm nhiều danh cầm quốc tế. Thời đó quê hương của Liszt nằm dưới ách cai trị của Liên Xô nên chính trị có chi phối nghệ thuật. Giải nhất và huy chương vàng được trao cho Lev Vlassenko người Nga, và giải nhì thì phải về tay một người Hung, vì thế, Lưu Thi Côn đành nhận giải ba. Khi dư luận phản ứng thì ông lãnh một lọn tóc của Liszt làm giải an ủi!
Năm sau Lưu Thi Côn được qua Mạc Tư Khoa thụ giáo một danh thủ Nga để chuẩn bị giải Tchaikovsky cho năm 1958. Ðấy là lúc tài nghệ Van Cliburn vượt qua lằn ranh chính trị, nhưng ở cấp dưới thì thể diện quốc gia vẫn đáng kể, hai danh thủ Nga và Tầu cùng chia nhau giải nhì.
Các cuộc tranh tài quốc tế có uy tín thường có sự tham dự của nhiều danh thủ, từ thành phần giám khảo đến thí sinh.
Việc trình tấu và tuyển lựa kéo dài nhiều năm. Trong thế giới ấy, y như thế vận hội hay truyện “Hoa Sơn luận kiếm,” những tay kiệt xuất đều biết nhau từ lâu. Lưu Thi Côn hay Vlassenko đều thuộc hàng danh thủ và hiểu rõ tài nghệ của Van Cliburn.
Nhưng thế giới bên ngoài lại ít biết về thân phận của Lưu Thi Côn khi ông trở về Trung Quốc.
Thời đó, Mao Trạch Ðông làm mưa làm gió ở nhà với chủ trương cải tạo qua lao động. Nghệ sĩ phải là người phục vụ cách mạng, phát huy nghệ thuật dân tộc qua quan điểm “hiện thức” chứ không thể ngao du trong thế giới cổ điển Tây phương. Vì thế, danh thủ dương cầm họ Lưu cũng đi lao động làm gương, sáng tác cầm tấu khúc ngợi ca thanh niên để thế giới biết tài Trung Quốc. Nhờ danh tiếng của giải thưởng và sự phấn đấu của bản thân, ông được đi Nga học thêm trong hai năm... Nhưng ở nhà, cuộc cách mạng vẫn ngùn ngụt lửa.
Dù trở thành giáo sư dương cầm và có vinh dự tấu nhạc cho các lãnh tụ, ông vẫn bị Mao và Chu Ân Lai phê phán là trình tấu loại nhạc không thích hợp cho nhân dân. Mâu thuẫn chính trị giữa Liên Xô và Trung Quốc khiến ông là phần tử đáng ngờ vì học đàn bên Nga. Việc ông ta lấy con gái một viên tướng trong phe Chu Ân Lai còn là thảm họa thời Cách Mạng Văn Hóa.
Lưu Thi Côn vào tù, đi dọn cầu tiêu, bàn tay bị đánh cho dập, và bị tra tấn vì từ chối vu cáo nhạc phụ theo lệnh của Giang Thanh. Trong cõi âm u của nhà giam, ông dạo nhạc bằng trí nhớ và chỉ được moi lên khi chế độ cần người tấu nhạc nhân chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Richard Nixon!
Cuộc sống thay đổi sau khi ông qua Hương Cảng từ năm 1990. Là thầy dạy đàn, ông mở thêm trường nhạc, đi trình tấu với các ban nhạc quốc tế, nhưng vẫn có vẻ “nghiêm và buồn” mỗi khi nói về cuộc cách mạng năm xưa.
Quỳnh Giao

Cố nghệ sĩ Cliburn biểu diễn trong dịp tưởng nhớ các nạn nhân của vụ thảm sát trường học Beslan ở Moscow, 21/9/2004. Mừng lễ “ngân khánh” của giải Dương Cầm Quốc Tế Van Cliburn, người ta ít chú ý đến khôi nguyên năm nay mà nhắc đến một tay diệu thủ trong ban giám khảo.
Ðược các danh thủ lập ra lần đầu từ năm 1962 tại Texas để vinh danh Van Cliburn, giải thưởng này mừng năm thứ 25 nên mới gọi là “ngân khánh.”
Sinh năm 1934 và vừa mất đầu năm nay, Van Cliburn nổi tiếng với giải Tchaikovsky về dương cầm tại Mạc Tư Khoa vào năm 1958. Tay dương cầm từ Texas lại chiếm ghế khôi nguyên của Liên Bang Nga khi giải thưởng này được tổ chức lần đầu tiên, giữa thời Chiến Tranh Lạnh, thì hẳn là Van Cliburn phải có tài.
Giai thoại đáng nhớ là khi vào chung kết với bản Concerto số Một của Tchaikovsky và Concerto số Ba của Rachmaninoff, dương cầm thủ Hoa Kỳ làm khán giả đứng bật dậy vỗ tay trong tám phút. Vì sợ hậu quả chính trị, ban giám khảo xin thỉnh ý chế độ và thấy nhẹ mình nhờ tiếng nói của lãnh tụ Nikita Kruschev: “Hắn giỏi nhất hay sao? Nếu đúng vậy thì cứ trao giải!”
Năm ấy, có hai thí sinh chia nhau giải nhì là Lev Vlassenko của Nga và Lưu Thi Côn của Tầu, về sau đều là giáo sư dương cầm nổi tiếng. Trải qua hơn nửa thế kỷ, mãi năm ngoái thì tay “phó bảng” người Tầu mới tái ngộ “trạng nguyên” người Mỹ khi Van Cliburn đã như ngọn đèn trước gió.
Sinh năm 1939 tại Thiên Tân, Lưu Thi Côn học nhạc bằng tai khi mới lên ba, qua chồng đĩa nhạc của thân phụ, một ca sĩ giọng baritone tốt nghiệp Nhạc Viện Thượng Hải. Lên bốn tuổi thì leo lên đùi cha để tập dương cầm. Âm nhạc đúng nhà “nghiệp nhà.” Cả ngàn đĩa nhạc cổ điển của thân phụ là kho tàng cho cậu bé có thể ngân nga trong đầu từng nhạc khúc khét tiếng của Tây phương.
Lưu Thi Côn trình tấu Mozart từ năm lên sáu, đoạt giải thưởng khi lên 10, vào Nhạc Viện Thiên Tân ở tuổi 12 và theo học các giáo sư dương cầm người Nga tại Thượng Hải và Bắc Kinh. Nhưng khi vào giải quốc tế, người nhạc sinh có tài thấy ra chính trị còn có sức nặng hơn nghệ thuật.
Năm 1956, Lưu Thi Côn dự giải dương cầm Franz Liszt tại Hung Gia Lợi và được sự tán thưởng của ban giám khảo gồm nhiều danh cầm quốc tế. Thời đó quê hương của Liszt nằm dưới ách cai trị của Liên Xô nên chính trị có chi phối nghệ thuật. Giải nhất và huy chương vàng được trao cho Lev Vlassenko người Nga, và giải nhì thì phải về tay một người Hung, vì thế, Lưu Thi Côn đành nhận giải ba. Khi dư luận phản ứng thì ông lãnh một lọn tóc của Liszt làm giải an ủi!
Năm sau Lưu Thi Côn được qua Mạc Tư Khoa thụ giáo một danh thủ Nga để chuẩn bị giải Tchaikovsky cho năm 1958. Ðấy là lúc tài nghệ Van Cliburn vượt qua lằn ranh chính trị, nhưng ở cấp dưới thì thể diện quốc gia vẫn đáng kể, hai danh thủ Nga và Tầu cùng chia nhau giải nhì.
Các cuộc tranh tài quốc tế có uy tín thường có sự tham dự của nhiều danh thủ, từ thành phần giám khảo đến thí sinh.
Việc trình tấu và tuyển lựa kéo dài nhiều năm. Trong thế giới ấy, y như thế vận hội hay truyện “Hoa Sơn luận kiếm,” những tay kiệt xuất đều biết nhau từ lâu. Lưu Thi Côn hay Vlassenko đều thuộc hàng danh thủ và hiểu rõ tài nghệ của Van Cliburn.
Nhưng thế giới bên ngoài lại ít biết về thân phận của Lưu Thi Côn khi ông trở về Trung Quốc.
Thời đó, Mao Trạch Ðông làm mưa làm gió ở nhà với chủ trương cải tạo qua lao động. Nghệ sĩ phải là người phục vụ cách mạng, phát huy nghệ thuật dân tộc qua quan điểm “hiện thức” chứ không thể ngao du trong thế giới cổ điển Tây phương. Vì thế, danh thủ dương cầm họ Lưu cũng đi lao động làm gương, sáng tác cầm tấu khúc ngợi ca thanh niên để thế giới biết tài Trung Quốc. Nhờ danh tiếng của giải thưởng và sự phấn đấu của bản thân, ông được đi Nga học thêm trong hai năm... Nhưng ở nhà, cuộc cách mạng vẫn ngùn ngụt lửa.
Dù trở thành giáo sư dương cầm và có vinh dự tấu nhạc cho các lãnh tụ, ông vẫn bị Mao và Chu Ân Lai phê phán là trình tấu loại nhạc không thích hợp cho nhân dân. Mâu thuẫn chính trị giữa Liên Xô và Trung Quốc khiến ông là phần tử đáng ngờ vì học đàn bên Nga. Việc ông ta lấy con gái một viên tướng trong phe Chu Ân Lai còn là thảm họa thời Cách Mạng Văn Hóa.
Lưu Thi Côn vào tù, đi dọn cầu tiêu, bàn tay bị đánh cho dập, và bị tra tấn vì từ chối vu cáo nhạc phụ theo lệnh của Giang Thanh. Trong cõi âm u của nhà giam, ông dạo nhạc bằng trí nhớ và chỉ được moi lên khi chế độ cần người tấu nhạc nhân chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Richard Nixon!
Cuộc sống thay đổi sau khi ông qua Hương Cảng từ năm 1990. Là thầy dạy đàn, ông mở thêm trường nhạc, đi trình tấu với các ban nhạc quốc tế, nhưng vẫn có vẻ “nghiêm và buồn” mỗi khi nói về cuộc cách mạng năm xưa.

Những bài thơ cuối cùng của Nguyên Sa
Nhà thơ Nguyên Sa đã yên nghỉ mười lăm năm ở California. Mọi vui buồn và được mất cũng đã lắng dịu đi, đủ để những người bây giờ bình tâm
phác thảo một chân dung thơ Nguyên Sa. Ông đã đến với chúng ta, đã sống với chúng ta,
đã rời xa chúng ta, và đã gửi lại những câu thơ dâng hiến cả cuộc đời.
Tuy Hòa -
Thi sĩ Nguyên Sa (tên thật Trần Bích Lan) sinh ngày 1/3/1932 tại Hà Nội, mất ngày 18/4/1998 tại Mỹ. Trong cuốn hồi ký của mình, ông viết: "Tôi thích được giới thiệu bằng cách đọc lên một bài thơ Nguyên Sa. Đó là cách giới thiệu được cả Nguyên Sa ý thức và vô thức, cho thấy bản ngã của người làm thơ tương đối đầy đủ nhất, cả bản ngã đã có, bản ngã đang có, và bản ngã muốn có. Những bài thơ khác biệt mang lại bản ngã khác biệt…". Vì vậy, để hiểu Nguyên Sa không có phương pháp nào đáng tin cậy bằng sự nghiêm túc đọc lại thơ Nguyên Sa.
Xuất thân từ một gia đình không liên quan gì đến văn chương nghệ thuật. Năm 17 tuổi, Nguyên Sa sang Pháp du học. Sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông ghi danh vào khoa Triết, ĐH Sorbonne. Và cuộc hạnh ngộ với bà Trịnh Thị Nga đã biến ông thành thi sĩ. Bài thơ nổi tiếng đầu tiên của Nguyên Sa cũng là bài thơ đính hôn. Bài thơ có tên Nga được in vào thiệp cưới của họ năm 1955: "Em đừng buồn như những chiếc lá tre khô. Em đừng buồn như những nóc nhà thờ không có tuổi". Năm 1956, ông bà đưa nhau về Sài Gòn sống bằng nghề dạy học. Không chỉ giảng dạy môn Triết cho các trường trung học, họ còn mở ra hai trường tư thục Văn Học và Văn Khôi. Với quan niệm bản thân "vốn dĩ chỉ là hạt cát", Trần Bích Lan lấy bút danh Nguyên Sa và ngay lập tức lừng lẫy trên thi đàn.
Phác họa về nhà thơ Nguyên Sa.
Có thể do sự tình cờ hữu duyên, những bài thơ phổ nhạc của Nguyên Sa lan tỏa rất nhanh vào đời sống, và cho đến tận hôm nay, nhắc Nguyên Sa là người ta nghe vang lên trên môi Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn. Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh (Áo lụa Hà Đông), hoặc Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường (Tuổi mười ba); hoặc Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm. Chả biết tay ai làm lá sen (Paris có gì lạ không em) và Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn. Nếu em sợ thời gian dài vô tận (Tháng sáu trời mưa).
Những bài thơ được phổ nhạc ấy cứ bồng bềnh từ thế hệ này sang thế hệ kia, khiến nhiều bài thơ khác của Nguyên Sa ít nhiều bị che khuất, kể cả những câu thơ độc đáo miêu tả chiếc áo dài dân tộc Có phải em mang trên áo bay. Hai phần gió thổi, một phần mây. Hay là em gói mây trong áo. Rồi thở cho làn áo trắng bay. Tuy nhiên, nếu đọc thơ Nguyên Sa viết sau năm 1975 ở hải ngoại, vẫn nhận ra nét hào hoa riêng biệt. Trong tập Hoa sen và hoa đào được sáng tác khoảng thời gian 1982-1988, có những câu thơ mang đậm phong cách Nguyên Sa như Anh nhớ em ngồi áo trắng thon. Ngàn năm còn mãi lúc gần quen. Em gầy như liễu trong thơ cổ. Anh bỏ trường thi lúc Thịnh Đường hay Phương Đông vào chỗ hồng lên má. Chiều xuống lưng chừng mái tóc thưa.
Nguyên Sa từng xuất bản cuốn sách biên khảo triết học Descartes nhìn từ phương Đông, nhưng trả lời phỏng vấn của nhà văn Vũ Bằng vào năm 1972, thì ông vẫn khẳng định: "Nói triết lý sa sả, e rằng sẽ là người tự kiêu. Nhất là trong thơ, càng nhiều triết lý càng mất tính cách của thơ. Theo tôi, thực chất của thơ là cái linh hồn, là sự sống của những chữ ta dùng".
Suy nghiệm đó được Nguyên Sa thể hiện rất rõ trong những bài lục bát. Thơ Việt Nam đã từng tự hào về lục bát Nguyễn Du, lục bát Nguyễn Bính, lục bát Huy Cận thì có lẽ những ai yêu thể thơ truyền thống cũng cần lưu ý lục bát Nguyên Sa. Sáu chữ và tám chữ được Nguyên Sa vận hành khá tự nhiên và nhịp nhàng đến mức phẩm chất thi ca tuôn chảy vào lòng độc giả một cách bất ngờ. Khi gặp Mây hồng bâng khuâng
Những chiều sương kín đầu non.
Hỏi nhau nhè nhẹ sao buồn chi em,
khi muốn Tháo gỡ giăng mắc ngậm ngùi
Ta nằm tháo gỡ cơn mưa.
Cầu vồng tràn núi cũng vừa bắc ngang.
Trong thơ ta gọi là nàng.
Nói năng lẫm liệt, tình càng thâm sâu.
Trời cao có núi bắc cầu.
Trong ta vực thẳm cúi đầu nghe mưa,
hoặc khi đăm đắm Hiu quạnh thân phận
Bỏ tay vào túi buổi chiều.
Lấy ra hiu quạnh với nhiều bản thân.
Còn hiu quạnh chỗ mộ phần.
Tấm bia màu trắng mấy lần quạnh hiu,
và khi hân hoan Ngày khỏi bệnh nhận ra:
Thương ghê màu áo hoa cà.
Mộng mơ bật sáng trên da thịt người.
Những câu thơ mềm mại, linh hoạt và ấm áp theo suốt cả cuộc đời Nguyên Sa, và lúc đến chặng đường hoàng hôn số kiếp thi sĩ thì ông chợt ngộ Hiện tượng toàn diện để thả hồn tràn theo nghĩ suy không kịp kết nối vần điệu: Lau khô một bông hoa không phải chỉ là động tác của tay. Công việc đòi hỏi sự chú ý của thị giác, sự nhịp nhàng của hô hấp và cả sự di chuyển trong một không gian. Đối mặt với căn bệnh ung thư dạ dày hành hạ từng ngày, Nguyên Sa vẫn không rời bỏ thơ. Bài thơ Hóa học trị liệu có thể xem như một cột mốc để đánh dấu những sáng tác tạ từ nhân gian của ông.
"Tôi biết cây phong đứng ở trước cửa bệnh viện nghĩ gì
Khi những chiếc lá phong buông tay ra
Làm thành những vòng tròn nhỏ
Những chiếc lá phong màu rượu chát rơi xuống một vị trí tên là mặt đất
Gió đưa những chiếc lá phong sang một vị trí khác cũng tên là mặt đất
Như thể vật nào cuối cùng cũng chỉ có cùng một tên"
Không thể nói khác hơn rằng, 22 bài thơ viết từ đầu năm 1998 đến lúc chia tay vĩnh viễn với Nàng thơ, đã cho hậu thế thấy được một dòng chảy khác của thơ Nguyên Sa. Những câu thơ ngổn ngang và giàu chất trí tuệ, không phải đến thình lình, mà có mạch nguồn trong thao thức Nguyên Sa. Trên giường bệnh, có lẽ hơn một lần ông ưu tư về những bài thơ mình viết đã được phổ nhạc truyền tụng khắp nơi: "Tôi đã làm xong bài thơ để phổ nhạc. Nhưng bài nhạc chưa tới. Đến khi nó tới. Bài thơ nhất định bỏ đi". Thật vậy, những bài thơ sau chót của Nguyên Sa hầu như không dành cho âm nhạc, chỉ dành cho những chột dạ.
Nguyên Sa chột dạ về Mật khẩu đời mình:
"Mỗi lần Thượng đế mở toang lồng ngực và bước vào
Tôi sợ đến nín thở
Tôi sợ ông gọi cửa không được
Tôi sợ ông quên mật khẩu
Tôi sợ ông quay ra hỏi
Tôi sẽ không biết trả lời sao
Vì tôi cũng không nhớ"
Nhà thơ Nguyên Sa và vợ. Ảnh tư liệu.
Nguyên Sa chột dạ về Ký ức người vợ sắt son đi cùng ông suốt hành trình long đong duyên nợ:
"Em làm cho tà áo lượn bay màu trắng ở quê hương xưa
trở thành màu hồng
Em làm thắp lên ngọn bạch lạp vào buổi sáng
ở trong lớp học
trong những giờ khắc yêu đương"
Nguyên Sa chột dạ về những Mặt nạ chập chờn lẩn khuất
"Chiếc mặt nạ ngay sát lần da mặt, gắn vào hay tháo gỡ
đều đòi hỏi nhiều thời gian
Làn da mặt dính vào thịt xương gắn vào hay tháo gỡ càng lâu hơn
Không thể đo được thời gian tìm kiếm những chiếc mặt nạ
Ở dưới làn da mặt dính vào thịt xương"
Nguyên Sa chột dạ về Con sông ngược xuôi bất tận miền khát vọng
"Suối cạn là nghĩa trang biết thở dài của dòng sông
Sa mạc là nghĩa trang khác, nghĩa trang biết khóc của dòng sông
Vật nào cũng có hai nghĩa trang
Một vật bao giờ cũng có hai tên
Tên nó và tên ước mơ của nó
Nghĩa trang của nó và nghĩa trang của ước mơ
Có lúc tôi thích được gọi bằng tên tôi
Có lúc tôi thích được gọi bằng tên ước mơ của tôi
Đó là lý do tôi ký tên em khi làm thơ"
Thế nhưng, niềm riêng day dứt nhất, đau đáu nhất của Nguyên sa trong những bài thơ cuối cùng là nỗi mong ngóng thăm thẳm cố hương. Như "bài thơ" Nguyên Sa đón Tết ở Wichita Falls giữa cơ hồ run rủi: Nửa khuya nàng đánh thức tôi dậy, nói dậy đi, dậy đi, giao thừa rồi. Tôi ngồi dậy. Chúng tôi mặc quần áo mới. Chúng tôi thắp nhang. Chúng tôi ngồi uống trà với nhau, ngồi tựa lưng vào nhau, hát cho nhau nghe bằng ánh sáng của những ngày mới gặp nhau. Khi nàng quay đầu lại, tôi thấy mắt nàng đỏ hoe. Mắt nàng ngơ ngác giống như mắt con vành khuyên một mình, để định hướng, bay theo những màu vàng của một rừng mai. Dường như, Nguyên Sa không còn muốn ngắt dòng hay ngắt câu, ông cứ để cảm xúc lênh loang cho kịp nhịp điệu hối hả từ trái tim mình. Và ông nghĩ về một sự Thủy chung giản dị khi hóa thân vào tro bụi: anh chỉ xin em ném dùm anh xuống những mảnh đất đầu đời, chỗ bãi phù sa anh tắm mỗi chiều, con lộ mỗi ngày chúng mình cùng nhau đi học. Riêng với quê nhà thơ ấu, Nguyên Sa tỉ mỉ viết sáu câu chia biệt:
"Ngọn đèn chiếu xuống bức tranh
Cầm lên Hà Nội thấy đình miếu xưa
Tiễn nhau nhớ Tháng Giêng, mưa
Sông Hồng nước động bóng chưa nhập hình
Tiễn anh linh hiển u linh
Cấu vào da thịt thấy mình bỏ đi"
Vậy là Nguyên Sa đã yên nghỉ mười năm ở California. Mọi vui buồn và được mất cũng đã lắng dịu đi, đủ để những người bây giờ bình tâm phác thảo một chân dung thơ Nguyên Sa. Ông đã đến với chúng ta, đã sống với chúng ta, đã rời xa chúng ta, và đã gửi lại những câu thơ dâng hiến cả cuộc đời. Gần nửa thế kỷ miệt mài với thơ, Nguyên Sa canh cánh "luôn luôn làm sao để không giống mình, để trở thành một người khác mình, thì đó chính là cách thức, cách thế để trở thành chính mình".

NGẤT NGƯỞNG MỘT ĐỜI MÂY
Trần Nguyên Đán
Ngất ngưởng, hình dung ra một cái gì đó cao chót vót, mà lại chênh vênh, không thăng bằng, liên tưởng một đám mây, cao là thế, nhưng một chiếc máy bay bay ngang, lại bị xô dạt, rồi lại tụ, và lại ngất ngưởng. Ngất ngưởng, cũng làm người ta hình dung ra sự cô đơn, vì cao quá thì không có mấy ai vói tới, và chơi với. Tôi cho rằng tác giả khi hình dung ra cái đề tài này đã tự thấy một cái gì cô đơn, cho dù… ngất ngưởng.
Tôi biết Phạm Hồng Ân viết văn từ Việt Báo, nhưng đọc thơ ông từ Da Màu, Tiền Vệ, Sáng Tạo, cũng là những nơi tôi viết. Tôi cũng là người ngỏ lời làm quen với ông khi khám phá ông cùng một niềm tin với mình. Tôi nghĩ ông “đủ sức” đảm đương hai vai trò này trên những diễn đàn nổi tiếng của hải ngoại. Nhưng nếu có thể gọi ông là một “nhà” nào đó, tôi thích gọi ông là một nhà thơ hơn. Thơ của Ân gần với Thơ của Đán hơn.
Tôi thử đọc một vài câu trong bài thơ đầu tiên của Phạm Hồng Ân, người tôi mới gặp lần đầu cách đây vài ngày, tại nhà riêng của ông, thành phố Escondido, một thành phố trắng trẻo, đẹp trai và gái của California, kế cận San Diego, chuyện trò khoảng nửa tiếng, mà không có tiếng nào nói về thơ cả.
Ngất ngưởng mây chỉ là sương với khói
Ngất ngưởng ta là cát bụi hóa thân
Sáng thức dậy nghe nghìn trùng tiếng gọi
Ta ngậm ngùi ôm hoài niệm ăn năn
Nhưng tới chừng đọc vào những trang trong, như người đang lần mò đi trong một hang động, ra đến cửa thấy ánh sáng, thì thấy rằng chẳng phải chỉ là cô đơn, nó còn cái gì khác. Đọc chậm hơn, kỹ hơn, suy nghĩ, thấy còn thêm nhiều cái khác. Nó là những tình cảm, trải rất dài và rộng. Những tình cảm, như những làn sóng gợn, những vòng tròn sau cái phẩy tay ném đá của đứa trẻ xuống mặt hồ. Tác giả viết ngay ở trang đầu tiên, tập thơ này là một tập hợp những bài thơ còn lại sau thời học trò sau chiến tranh sau ngục tù sau trôi sông lạc chợ và cho đến nay nơi hải ngoại. Cho nên nó là một tập hợp những tình cảm từ thời học trò, những bài thơ cho những người yêu, thời chiến tranh, ngục tù, những bài thơ dành cho những người bạn, trôi sông lạc chợ, đầy hình ảnh miếng ăn, sự đói kém, sự khao khát phục hồi niềm tin vào cuộc sống, và những năm tháng hải ngoại, có lẽ sẽ là những năm tháng dài nhất trong cuộc đời, với những hỉ nộ ái ố còn sót lại. Nổi bật lên trên cái nền vàng âu yếm day dứt của thăng trầm, là những bài thơ viết về mẹ.
Tôi nhớ một đoạn Kinh Thánh trong sách Truyền đạo, một cuốn sách đầy triết lý đời sống, một tác phẩm kinh điển của Sa lô môn, người đã đi qua hết những thăng trầm, ngồi lại kết luận đời mình: phàm sự gì có thì tiết, mọi việc dưới trời có kỳ định. Có kỳ sinh ra, và có kỳ chết, có kỳ trồng, và có kỳ nhổ vật đã trồng……., có kỳ khóc và có kỳ cười, có kỳ than vãn và có kỳ nhảy múa……. Tôi đoán rằng Phạm Hồng Ân, cũng như mọi người, cũng như tôi, người làm thơ đã đi qua nhiều kỳ như vậy, mỗi kỳ một giai đoạn như vậy, và bằng ngôn ngữ của thơ, viết lại những giai đoạn, những thời kỳ, đã đi qua trong đời mình, như một bộ sưu tập, để viết lại, nhớ lại, bày tỏ mình, bày tỏ cho người…
Mỗi giai đoạn là một sự bày tỏ thiết tha của tình cảm, tôi đọc một bài ngắn lục bát tự do cho một người yêu “nào đó”, lục bát, có lẽ là một sở trường của nhà thơ, vì nó xuất hiện khá suôn sẻ, trơn tru trong suốt tập thơ:
Về thôi đêm đã đầm đìa
Như em cắn giọt lệ chia sớt người
Về thôi buồn ứ máu tươi
Khuya ta rơi xuống thành lời tiễn đưa
Xe lăn đỏ bụi thời xưa
Ôi năm năm cũng chưa vừa vết thương…
Và bạn, tôi ngạc nhiên thấy những người bạn của tác giả xuất hiện đây đó trong tập thơ, những người bạn trong suốt thời chinh chiến, thất lạc, hoài niệm, không phải là lác đác, hay tình cờ, những người bạn được trải chiếu cho ngồi, tại những địa điểm nồng nàn, riêng biệt, cùng những ngôn từ thân thiết, tha thiết, đôi khi phơi bày cả gan ruột:
Mày hãy ngồi đây chơi rượu đế
Nền đất, chiếu rơm, trời sáng trăng
Không ai ca sĩ, ta hò hét
Ðời vui đâu thể thiếu âm thanh.
Thằng bạn mười năm xa cố xứ
Mười năm hề tựa giấc chiêm bao
Phiêu bạt nghìn phương còn sót lại
Trái tim rào rạt thiên tình sầu.
Mày về ta khoái trá vô cùng
Tri kỷ buồn vui thời mạt lộ
Mày về sừng sững như anh hùng
Lòng mở tan hoang nghìn cửa sổ.
Và mẹ, một chỗ ngồi trân trọng khác, không chỉ là thơ, nhưng còn trong những bài viết ngắn dài.
Bài thơ làm cho tôi phải lắng đọng giây lát, khi nhớ lại Biển Rộng Hai Vai. Phạm Hồng Ân, tôi muốn chia xẻ với ông rằng tôi yêu mến bài thơ này:
Tôi về dẫm dấu giày lang bạt
Hồn lạc loài như đứa trẻ hoang
Tôi về ôm trái tim tan nát
Nhìn má nằm im thở nhọc nhằn.
Tôi về úp mặt lên tay má
Tìm lại bình yên thuở thiếu niên
Ôi, cánh tay gầy như cánh lá
Vườn đời lận đận một niềm riêng.
Tôi về gối mộng lên nguồn cội
Nghe ấm từng chương lục bát xưa
Mười năm tựa áng mây trôi nổi
Bèo giạt hoa trôi chuyện nắng mưa.
Tôi về nhìn má trên giường bệnh
Bên ánh đèn phai nhạt bóng đêm
Má ơi! Con đốt trầm hương cũ
Tìm lại bình yên thuở thiếu niên..
Nhiều nhất, vẫn là những chỗ dành cho riêng chàng.
Tôi, người xuất hiện nhiều nhất trong toàn tập thơ, những khúc mắc không thể san sẻ, hay san sẻ rồi mà vẫn không thể hài lòng, vì người thơ vốn khó tính, vốn khó tìm được sự đồng cảm….
Ðêm nay trời bỗng dưng trở lạnh
Ðất ẩm mù sương buổi lập đông
Ta chợt soi đời trong gương vỡ
Ngờ đâu đánh mất một làn hương.
Ta là kiếm sĩ sầu sông núi
Bẻ gãy gươm nhìn lịch sử quay
Em nuôi hèn mọn thân cổ thụ
Ðành ngó hư không tiếng thở dài.
Ta đốt lửa lên. Và ngắm biển
Lập lòe sóng bạc liếm đêm thâu
Rót cốc rượu bình thời quốc chiến
Ngồi đây khuấy đọng một phương sầu.
Ta mượn than hồng hâm nóng lại
Khơi dòng nhật nguyệt ngậm ngùi trôi
Giang hồ đành gác đường gươm bại
Hào khí chơi vơi đáy vực đời.
Tôi biết tác giả vốn là một người đã tin và tiếp nhận Chúa Jesus Christ trong cuộc đời mình, đó là lý do khiến chúng tôi gặp nhau trong mênh mông biển rộng của văn chương. Tôi tìm một vài câu mà Phạm Hồng Ân đã nói về Đấng mà ông yêu kính, để hoàn tất những tình cảm mênh mông của tâp thơ mà ông cưu mang nhiều năm dài:
Chiếc ghế trống
Trống màu xanh của ngọn mây lủng lẳng
Trên vòm ngực hoài niệm
Ngày Chúa Nhật.
Chiếc ghế trống
Hun hút lời Thánh Kinh vỡ toang trái tim
Thập Tự
Và có phải là, cũng từ trong những tình cảm ấy, nay có cái còn lại, có cái đã mù mịt xa, có cái đã cuối trời phiêu lãng, vẫn còn dội lại trong lòng người làm thơ những hồi trống cô đơn mà có đến ngàn năm vẫn không dứt ra được?
Nên cho dù đến bảy mươi, hoặc tám mươi, những người của Kinh Thánh: tuổi tác các ngươi đếm được bảy mươi, còn bất quá thì đến tám mươi… hoặc chín mươi something, thì cũng vẫn cứ hoài vọng về quá khứ, băn khoăn cho hiện tại, và bứt rứt cho tương lai dù biết rằng mọi điều rồi sẽ qua đi như một người chẳng bao giờ tắm lại trong một dòng sông cũ, vì nước cứ luân chuyển mãi, có bao giờ ngơi nghỉ đâu.
Nội học toán nhẩm xem mình mấy tuổi
Gần sáu mươi sao cứ mãi làm trò?
Lấy hiện tại Nội trừ vào quá khứ
Thành tương lai là những nỗi âu lo
Trần Nguyên Đán
TRẦN VẤN LỆ đọc “Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già” của Huy Phương
TRAN VAN LE Huy Phương, tôi giới thiệu với bạn, Huy Phương là Nhà Thơ. Nhà Thơ Huy Phương. Bạn có thể gọi anh ấy là Thi Sĩ, Thi Nhân, Thi Gia…gì, thì cũng được. Huy Phương là một người-làm-thơ và có hơn một tập thơ được xuất bản rồi…
Tôi thích hai chữ Nhà Thơ vì tôi liên tưởng đến Nhà Nông – người làm ra lúa gạo. Lúa gạo người này làm ra “ngon” hơn lúa gạo người khác, nhưng đều là lúa gạo để làm no con người. Huy Phương, nhà thơ, vì anh làm Thơ. Theo tôi, Thơ Huy Phương hay! Thơ Huy Phương làm tôi bâng khuâng, thao thức, trăn trở…và thấy mình khỏi cần phải tâm tình thêm với ai bằng những lời mình phải uốn lưỡi, qua thơ của Huy Phương…tôi thấy trái tim mình đang đập và tôi cảm thấy ấm áp.
Người ta biết Huy Phuơng nhiều ở tư cách Nhà Văn của anh ấy. Năm 1960, tại Sài Gòn, Huy Phương là nhà thơ với tác phẩm Mắt Đêm Dài. Có thể trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, chế độ Cộng Hòa chưa vững vàng, thơ văn chỉ là tiếng vọng trong sa mạc. Tập thơ Mắt Đêm Dài, tác phẩm thơ đầu tiên (chắc không phải đầu tay) không được “đắt hàng”, Huy Phương chưa là một tên tuổi. Cũng có thể hồi năm đó, tác giả còn quá trẻ và có một “đời sống” thầm lặng? Tôi nghĩ thế và biết có nhiều tác giả như anh – chưa được mặn mòi của dư luận.
Hồi đó, người làm văn học nghệ thuật tuy có nhiều nhưng bè phái cũng nhiều. Ai không có “băng, nhóm” thì không có tiếng vỗ tay…Hồi đó xuất hiện trên văn đàn, rải rác, là Hiện Tượng. Và những Hiện Tượng thì nổi ở Sài Gòn chớ không nổi ở các Tỉnh Lẻ. Nếu như nhà văn Nguyễn Thị Hoàng không “bị” Bộ Quốc Gia Giáo Dục thuyên chuyển từ Đà Lạt về Sài Gòn dạy học và không được Tạp Chí Bách Khoa đăng tải nhiều kỳ tiểu thuyết Vòng Tay Học Trò…thì không ai biết có một Nhà Văn Nữ…rất là Nữ! Năm 1960, tôi đã “lớn”, đã vào đời, đã mua nhiều sách báo đọc bằng tiền mình làm ra, Huy Phương tôi không thấy, hay có thấy thì không quan tâm đặc biệt.
Hồi đó rộn ràng, ồn ào các trường hợp Phạm Công Thiện, Nguyễn Văn Trung, Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Hoài Khanh, Viên Linh, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Kim Tuấn, Phan Bá Thụy Dương…
Huy Phương có sách xuất bản mà sao lại im lìm? Tôi, bây giờ, thấy mình có lỗi phần nào. Ờ nhỉ, tôi chỉ là người đọc sách báo thôi, tôi đâu phải nhà phê bình! Quá nhiều năm đã trôi qua…Khi đến Mỹ, kể từ sau năm 1989 nhiều năm, tôi mới đọc Huy Phương…mà không phải đọc Thơ, chỉ đọc Văn của anh! Trong lòng tôi, quá khứ kể từ cái mốc 30 – 4 – 1975 về trước, tôi không biết gì về Huy Phương! Cái lỗi của tôi là không biết Huy Phương trong một quãng thời gian dài. Chắc chuyện này không riêng mình tôi, ông Võ Phiến, Nguyễn Đình Tuyến, Trần Tuấn Kiệt, Phạm Thế Ngũ…những nhà bình phẩm văn chương, có sách “biên khảo”, cũng đâu có “đá động” gì tới tác giả Huy Phương!
Nhưng…
Tôi đang nói về Huy Phương đây! Trước mặt tôi là tập thơ mới toanh của ông: Thơ Huy Phương “Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già” do nhà Nam Việt ở Irvine California xuất bản năm 2013.
Tôi nâng niu cuốn sách. Cuốn sách không nặng tay lắm sao nặng quá cả lòng tôi! Cả tập thơ chỉ dày 120 trang, 36 bài thơ, đa số thì dài, nội dung có đầu có đuôi, không “cô đọng”, chẳng “triết lý”, bình thường như hơi thở ra rồi hít vào, rồi lại thở, đôi lúc cũng nghẹn ngào. Thơ Huy Phương là thơ Huế, cho người Huế ngậm ngùi, cho người Huế rưng rưng…Tôi không thấy anh “nổ” hay “trầm lặng” làm duyên làm dáng chút nào…
Thơ…thường là Thơ Tình. Tình, không tình nào thắm thiết và “nhiều chuyện” cho bằng Tình Trai Gái. Huy Phương có thể là nhà thơ không được quan tâm hay được nhớ đến vì anh làm Thơ Tình…không giống ai! Xin dẫn ra đây một bài, không đọc thì cũng chẳng sao mà ngó mắt tới, đố ai không…tư lự. Một mối tình rất hiếm để gọi là “điển hình”, để nhân nó lên hằng hà sa số. Cũng có thể vì đây là Tình Sửng Sốt trong một cảnh ngộ hơn là một cảnh tình. Tôi muốn nói về Tình Thầy Trò. Huy Phương một thời dạy học trong thời chiến, học trò của Huy Phương đương nhiên là nhỏ tuổi hơn Thầy. Một hôm nào đó, Thầy “bị động viên”, Thầy xa trường, xa lớp, xa học trò…Học trò rồi khôn lớn lần theo từng niên học, tới tuổi Lính chưa có việc làm để hoãn dịch thì phải nhập ngũ theo yêu cầu của quốc gia.
Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến dai dẳng nhất thế giới. Cuộc chiến phân tranh ngày xưa giữa Trịnh Nguyễn kéo dài những sáu trăm năm… Cuộc chiến chống Pháp kéo dài gần hơn nửa Thế Kỷ. Cuộc chiến phân tranh Quốc Cộng gần nhất, 1954 – 1975 cũng kéo dài hai mươi năm! Quy định tại ngũ, chế độ quân dịch ban đầu thì mười hai tháng, lên mười tám tháng, lên ba mươi sáu tháng, lên hoài thôi, sau 30 tháng Tư bảy lăm cũng không cho giải ngũ. Nay ai tự nhận mình là Cựu Quân Nhân, nghĩ lại đi, kỳ cục vô cùng! Người Lính, căn bản / cơ bản là người Trẻ Tuổi. Chiến đấu và chết trận ở tuổi trẻ. Phải sống thì quá nhiệm kỳ là phải được Chính Phủ cho lệnh giải ngũ. Thế mà nào ai giải ngũ đâu! Tàn cuộc binh đao phải cam phận tù binh rồi ra khỏi trại tù…phải sống tiếp tục với cái danh là Lính Chế Độ Cũ, lúc nào cũng bị “dòm chừng”.. Và tuổi già, tất yếu là…Đương Nhiên, khỏi cãi cọ, thành Người Lính Già, tủi ơi là tủi! Không quốc gia nào sử dụng Lính Già! Chỉ có cái nước mình, gọi Cái-Nước-Mình muốn khóc, nó bắt mình làm Lính Già.
Thầy trò ở Lính gặp nhau, đã lạ. Rồi vào tù cũng gặp nhau. Rồi tha hương tránh mấy cũng chạm mặt! Tất cả đều tàn tạ, suýt soát nhau chẳng bao nhiêu. Ngay như tôi với Huy Phương, đi lính cách nhau tám khóa, năm năm mưa nắng hai mùa, vậy mà bây giờ…không ngờ ngó nhau buồn hiu! Cả hai đều còn Lính! Cả hai chưa có một ngày xếp áo quần thấy mình là người thong dong…
Bài thơ dưới đây, Huy Phương làm cho học trò của anh thưởng thức, tôi cũng có phần chia sẻ nỗi niềm, nghĩ chẳng sướng sao! Mời bạn đọc nhen:
“Dạ Thưa Thầy Thầy Còn Nhớ Em Không?”
Quê Hương xưa từ những ngày chinh chiến
Thầy trò ta vội từ giã ngôi trường
Thầy từ đây đã rời xa bục giảng
Trò làm thân chiến sĩ của mười phương!
Rồi Thầy Trò cùng chung màu áo trận
Đời chiến binh ai ngỡ buổi tương phùng!
Từ thế nghiêm trò dơ tay chào kính:
“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”.
Gặp vận nước buổi rã rời tan nát
Thân tù đày nơi nước đục rừng thiêng
Bó nứa nặng trên đường qua suối cạn
“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”
Giờ lận đận ở quê người phiêu bạt
Tóc bạc phơ ngày tháng nặng lưng còng
Buổi hội ngộ nghe muốn trào nước mắt
“Dạ thưa Thầy còn nhớ em không?”
*
Dẫn ra được bài thơ Thầy-Với-Trò trên đây của Huy Phương, tôi thật tình cám cảnh mình không ít. Tôi dạy học trò, năm cuối cùng 1974-1975 ở trường con gái, mười hai niên khóa trước có gái có trai. Ngày tôi vào “cải tạo” thì có nhiều em cũng ở chung với tôi, Thầy Trò một cấp bậc, một lán trại, một thèm thuồng trời xanh bao la…Học trò gái không bị tù nhưng gặp ở cổng trại thăm nuôi, các em đi thăm người thân, tôi cũng được tình cờ nghe tiếng “Ô Thầy!” Tôi ngoái nhìn, bàn tay dễ thương ai vẫy kia kìa. Cây rừng um tùm, gai góc lung tung, tóc học trò tôi bay vướng lá này cành nọ. Thương quá mấy em ơi! Phật nói rất đúng: “Thế Giới Chúng Sinh là Cõi Ta Bà!”
“Tóc bạc phơ, ngày tháng nặng lưng còng…”, nghe sao mà xót xa! Học trò và Thầy ba mươi tám năm rồi, đầu ai cũng bạc “Dạ thưa Thầy…”, như một giấc mơ, vậy mà Trời ơi lại rất hiện thực!
*
Ở phần trên tôi có nói Huy Phương là người Huế. Anh sinh trưởng ở Huế. Đầu đời Huy Phương dạy học ở Quảng Trị, tỉnh địa đầu giới tuyến, giáp ranh phía Bắc của Huế, đường đi lại cũng gần…Anh xa Huế khi anh vào lính rồi làm những công việc của người phóng viên tại Sài Gòn, nhưng lòng anh là lòng Huế, xa Huế là anh nhớ, xa Huế là anh thương. Những năm anh ở quê người, Huế như từng khúc ruột quặn trong lòng anh. Tôi không rõ gia cảnh anh ra sao, nhưng đọc thơ anh thấy anh nặng tình với Huế lắm, chắc chị cũng là người Huế…nên anh lãng mạn nhân đôi?
Đây một bài thơ “đặc trưng” Huế của Huy Phương, ai đọc mà không cảm, ai đọc mà không nao nao lòng…thì “tui chết liền” à nha!:
Nhớ Huế
Mùa này nước Hương Giang có mặn
Muối đại dương có thấm vào sông?
Từ ngày anh đoạn tình bỏ Huế
Nguồn xa đã lạc mấy trăm dòng!
Mùa này Huế còn mưa tầm tã
Thương quê xưa vẫn nỗi đói nghèo
Anh ở nơi này vùng nắng ấm
Vẫn nhớ hoài đời Mẹ gieo neo.
Mùa này quê có còn bão lụt
Chén cơm em còn độn sắn khoai?
Trên tiệc rượu người con xa xứ
Men nồng nào lẫn nước mắt cay.
Mùa này Huế có còn phượng đỏ
Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa
Nơi này cả một trời hoa tím
Nhớ em xưa tiếng guốc học trò.
Mùa này Huế có còn áo trắng
Em hiện thân làm bướm tan trường
Thương ngày tháng một thời niên thiếu
Huế bây giờ – Huế đã mù sương!
Huế của tôi giờ đâu còn nữa
Cảnh vô hồn khuất nẻo người xưa
Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế
Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ…
*
Hai câu cuối của bài thơ trên…tôi cứ chép sai hoài. Mắt tôi mờ. Mờ thiệt rồi sao? Một nước non cẩm tú thì dẫu tang thương vẫn cứ còn cẩm tú, nhìn theo kiểu mình, nhìn theo kiểu người, khó có cái nhìn chung…Mỗi người nhìn riêng với một tấm lòng riêng, biết sao bây giờ! Có thể khi thành một Trung Tâm Du Lịch, nhiều năm nay, Huế thay đổi bộ mặt âu sầu, nhưng trong gan ruột của Huế vẫn còn cái mầm bệnh ung thư lịch sử! Bề ngoài là son phấn. Bề ngoài là phồn vinh! Cái giả tạo chửi cha cái thật tình. Cái thật lòng thì câm nín thiên thu! Phương Xích Lô là một thi sĩ ở Huế, chuyên đạp xich lô kiếm sống, đã từng đạp xe ra Đồng Hà, phía Bắc Huế không xa, cảm ứng chứng minh cho chúng ta một thời đại rất ngộ nghĩnh: Cơ quan chức năng nào cũng treo câu biểu ngữ của “Bác Hồ” Không-Có-Gì-Quý-Hơn-Độc-Lập-Tự-Do mà đều mang cái bản mặt hướng ngoại. Độc Lập Tự Do chỉ là nụ cười méo mó. Một cái-gì-đó dị hợm, trêu ngươi, xứng đáng cho sự xấu hỗ!. Tất cả sự sống nằm trên sự lệ thuộc nước ngoài. Ngọn gió cũng từ Ai Lao thổi qua…
Thị trấn của tôi dùng toàn đồ ngoại
Đến gió kia cũng…vay của nước Lào!
Huy Phương mãi mãi nghĩ về Huế, hướng về Huế với tấm lòng chung thủy. Tôi lau mắt lần nữa chép lại hai câu cuối của bài thơ Nhớ Huế của anh: “Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế, Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ!”. Ôi, câu đó sao giống câu thơ mở đầu bài Tần Hoài Dạ Bạc quá chừng ri: “Yên Lung Hàn Thủy Nguyệt Lung Sa”, khói bay nước lạnh bóng trăng mờ…
*
Tôi suy nghĩ lung lắm: Mình viết một bài “luận” về tập thơ của Huy Phương CHÚC THƯ CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH GIÀ mà sao bài này, bài Chúc Thư in ở các trang 6,7 và 8, tôi không dẫn vào đây, coi như một điểm tựa cho những lời tôi bàn, tôi bình về thơ Huy Phương? Tôi suy nghĩ thế để thành câu hỏi cho việc tôi làm là tự thấy mình chỉ làm cái việc cỡi ngựa xem hoa không hơn không kém, phải không? Chắc chắn là tôi hết còn sức để nói về thơ Huy Phương. Chỉ cần hai bài, tôi quặn thắt lòng mình, thêm nữa thì chắc lòng tôi đau đớn vô cùng. Thơ Huy Phương hay kỳ lạ! Thơ Huy Phương vừa vuốt ve người đọc nó vừa nghiến răng cào xé người đọc. Vậy mới “đã đời” chớ nhỉ! Tôi cất dành đọc thơ Huy Phương từng ngày, từng ngày.
Và tôi xin dừng bút ở đây. Mong bạn đọc nào thương thơ, nghĩ tới người làm thơ, tìm mua tập thơ ấy mà đọc…
Trần Vấn Lệ
6/2013
TRAN VAN LE Huy Phương, tôi giới thiệu với bạn, Huy Phương là Nhà Thơ. Nhà Thơ Huy Phương. Bạn có thể gọi anh ấy là Thi Sĩ, Thi Nhân, Thi Gia…gì, thì cũng được. Huy Phương là một người-làm-thơ và có hơn một tập thơ được xuất bản rồi…
Tôi thích hai chữ Nhà Thơ vì tôi liên tưởng đến Nhà Nông – người làm ra lúa gạo. Lúa gạo người này làm ra “ngon” hơn lúa gạo người khác, nhưng đều là lúa gạo để làm no con người. Huy Phương, nhà thơ, vì anh làm Thơ. Theo tôi, Thơ Huy Phương hay! Thơ Huy Phương làm tôi bâng khuâng, thao thức, trăn trở…và thấy mình khỏi cần phải tâm tình thêm với ai bằng những lời mình phải uốn lưỡi, qua thơ của Huy Phương…tôi thấy trái tim mình đang đập và tôi cảm thấy ấm áp.
Người ta biết Huy Phuơng nhiều ở tư cách Nhà Văn của anh ấy. Năm 1960, tại Sài Gòn, Huy Phương là nhà thơ với tác phẩm Mắt Đêm Dài. Có thể trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, chế độ Cộng Hòa chưa vững vàng, thơ văn chỉ là tiếng vọng trong sa mạc. Tập thơ Mắt Đêm Dài, tác phẩm thơ đầu tiên (chắc không phải đầu tay) không được “đắt hàng”, Huy Phương chưa là một tên tuổi. Cũng có thể hồi năm đó, tác giả còn quá trẻ và có một “đời sống” thầm lặng? Tôi nghĩ thế và biết có nhiều tác giả như anh – chưa được mặn mòi của dư luận.
Hồi đó, người làm văn học nghệ thuật tuy có nhiều nhưng bè phái cũng nhiều. Ai không có “băng, nhóm” thì không có tiếng vỗ tay…Hồi đó xuất hiện trên văn đàn, rải rác, là Hiện Tượng. Và những Hiện Tượng thì nổi ở Sài Gòn chớ không nổi ở các Tỉnh Lẻ. Nếu như nhà văn Nguyễn Thị Hoàng không “bị” Bộ Quốc Gia Giáo Dục thuyên chuyển từ Đà Lạt về Sài Gòn dạy học và không được Tạp Chí Bách Khoa đăng tải nhiều kỳ tiểu thuyết Vòng Tay Học Trò…thì không ai biết có một Nhà Văn Nữ…rất là Nữ! Năm 1960, tôi đã “lớn”, đã vào đời, đã mua nhiều sách báo đọc bằng tiền mình làm ra, Huy Phương tôi không thấy, hay có thấy thì không quan tâm đặc biệt.
Hồi đó rộn ràng, ồn ào các trường hợp Phạm Công Thiện, Nguyễn Văn Trung, Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Hoài Khanh, Viên Linh, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Kim Tuấn, Phan Bá Thụy Dương…
Huy Phương có sách xuất bản mà sao lại im lìm? Tôi, bây giờ, thấy mình có lỗi phần nào. Ờ nhỉ, tôi chỉ là người đọc sách báo thôi, tôi đâu phải nhà phê bình! Quá nhiều năm đã trôi qua…Khi đến Mỹ, kể từ sau năm 1989 nhiều năm, tôi mới đọc Huy Phương…mà không phải đọc Thơ, chỉ đọc Văn của anh! Trong lòng tôi, quá khứ kể từ cái mốc 30 – 4 – 1975 về trước, tôi không biết gì về Huy Phương! Cái lỗi của tôi là không biết Huy Phương trong một quãng thời gian dài. Chắc chuyện này không riêng mình tôi, ông Võ Phiến, Nguyễn Đình Tuyến, Trần Tuấn Kiệt, Phạm Thế Ngũ…những nhà bình phẩm văn chương, có sách “biên khảo”, cũng đâu có “đá động” gì tới tác giả Huy Phương!
Nhưng…
Tôi đang nói về Huy Phương đây! Trước mặt tôi là tập thơ mới toanh của ông: Thơ Huy Phương “Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già” do nhà Nam Việt ở Irvine California xuất bản năm 2013.
Tôi nâng niu cuốn sách. Cuốn sách không nặng tay lắm sao nặng quá cả lòng tôi! Cả tập thơ chỉ dày 120 trang, 36 bài thơ, đa số thì dài, nội dung có đầu có đuôi, không “cô đọng”, chẳng “triết lý”, bình thường như hơi thở ra rồi hít vào, rồi lại thở, đôi lúc cũng nghẹn ngào. Thơ Huy Phương là thơ Huế, cho người Huế ngậm ngùi, cho người Huế rưng rưng…Tôi không thấy anh “nổ” hay “trầm lặng” làm duyên làm dáng chút nào…
Thơ…thường là Thơ Tình. Tình, không tình nào thắm thiết và “nhiều chuyện” cho bằng Tình Trai Gái. Huy Phương có thể là nhà thơ không được quan tâm hay được nhớ đến vì anh làm Thơ Tình…không giống ai! Xin dẫn ra đây một bài, không đọc thì cũng chẳng sao mà ngó mắt tới, đố ai không…tư lự. Một mối tình rất hiếm để gọi là “điển hình”, để nhân nó lên hằng hà sa số. Cũng có thể vì đây là Tình Sửng Sốt trong một cảnh ngộ hơn là một cảnh tình. Tôi muốn nói về Tình Thầy Trò. Huy Phương một thời dạy học trong thời chiến, học trò của Huy Phương đương nhiên là nhỏ tuổi hơn Thầy. Một hôm nào đó, Thầy “bị động viên”, Thầy xa trường, xa lớp, xa học trò…Học trò rồi khôn lớn lần theo từng niên học, tới tuổi Lính chưa có việc làm để hoãn dịch thì phải nhập ngũ theo yêu cầu của quốc gia.
Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến dai dẳng nhất thế giới. Cuộc chiến phân tranh ngày xưa giữa Trịnh Nguyễn kéo dài những sáu trăm năm… Cuộc chiến chống Pháp kéo dài gần hơn nửa Thế Kỷ. Cuộc chiến phân tranh Quốc Cộng gần nhất, 1954 – 1975 cũng kéo dài hai mươi năm! Quy định tại ngũ, chế độ quân dịch ban đầu thì mười hai tháng, lên mười tám tháng, lên ba mươi sáu tháng, lên hoài thôi, sau 30 tháng Tư bảy lăm cũng không cho giải ngũ. Nay ai tự nhận mình là Cựu Quân Nhân, nghĩ lại đi, kỳ cục vô cùng! Người Lính, căn bản / cơ bản là người Trẻ Tuổi. Chiến đấu và chết trận ở tuổi trẻ. Phải sống thì quá nhiệm kỳ là phải được Chính Phủ cho lệnh giải ngũ. Thế mà nào ai giải ngũ đâu! Tàn cuộc binh đao phải cam phận tù binh rồi ra khỏi trại tù…phải sống tiếp tục với cái danh là Lính Chế Độ Cũ, lúc nào cũng bị “dòm chừng”.. Và tuổi già, tất yếu là…Đương Nhiên, khỏi cãi cọ, thành Người Lính Già, tủi ơi là tủi! Không quốc gia nào sử dụng Lính Già! Chỉ có cái nước mình, gọi Cái-Nước-Mình muốn khóc, nó bắt mình làm Lính Già.
Thầy trò ở Lính gặp nhau, đã lạ. Rồi vào tù cũng gặp nhau. Rồi tha hương tránh mấy cũng chạm mặt! Tất cả đều tàn tạ, suýt soát nhau chẳng bao nhiêu. Ngay như tôi với Huy Phương, đi lính cách nhau tám khóa, năm năm mưa nắng hai mùa, vậy mà bây giờ…không ngờ ngó nhau buồn hiu! Cả hai đều còn Lính! Cả hai chưa có một ngày xếp áo quần thấy mình là người thong dong…
Bài thơ dưới đây, Huy Phương làm cho học trò của anh thưởng thức, tôi cũng có phần chia sẻ nỗi niềm, nghĩ chẳng sướng sao! Mời bạn đọc nhen:
“Dạ Thưa Thầy Thầy Còn Nhớ Em Không?”
Quê Hương xưa từ những ngày chinh chiến
Thầy trò ta vội từ giã ngôi trường
Thầy từ đây đã rời xa bục giảng
Trò làm thân chiến sĩ của mười phương!
Rồi Thầy Trò cùng chung màu áo trận
Đời chiến binh ai ngỡ buổi tương phùng!
Từ thế nghiêm trò dơ tay chào kính:
“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”.
Gặp vận nước buổi rã rời tan nát
Thân tù đày nơi nước đục rừng thiêng
Bó nứa nặng trên đường qua suối cạn
“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”
Giờ lận đận ở quê người phiêu bạt
Tóc bạc phơ ngày tháng nặng lưng còng
Buổi hội ngộ nghe muốn trào nước mắt
“Dạ thưa Thầy còn nhớ em không?”
*
Dẫn ra được bài thơ Thầy-Với-Trò trên đây của Huy Phương, tôi thật tình cám cảnh mình không ít. Tôi dạy học trò, năm cuối cùng 1974-1975 ở trường con gái, mười hai niên khóa trước có gái có trai. Ngày tôi vào “cải tạo” thì có nhiều em cũng ở chung với tôi, Thầy Trò một cấp bậc, một lán trại, một thèm thuồng trời xanh bao la…Học trò gái không bị tù nhưng gặp ở cổng trại thăm nuôi, các em đi thăm người thân, tôi cũng được tình cờ nghe tiếng “Ô Thầy!” Tôi ngoái nhìn, bàn tay dễ thương ai vẫy kia kìa. Cây rừng um tùm, gai góc lung tung, tóc học trò tôi bay vướng lá này cành nọ. Thương quá mấy em ơi! Phật nói rất đúng: “Thế Giới Chúng Sinh là Cõi Ta Bà!”
“Tóc bạc phơ, ngày tháng nặng lưng còng…”, nghe sao mà xót xa! Học trò và Thầy ba mươi tám năm rồi, đầu ai cũng bạc “Dạ thưa Thầy…”, như một giấc mơ, vậy mà Trời ơi lại rất hiện thực!
*
Ở phần trên tôi có nói Huy Phương là người Huế. Anh sinh trưởng ở Huế. Đầu đời Huy Phương dạy học ở Quảng Trị, tỉnh địa đầu giới tuyến, giáp ranh phía Bắc của Huế, đường đi lại cũng gần…Anh xa Huế khi anh vào lính rồi làm những công việc của người phóng viên tại Sài Gòn, nhưng lòng anh là lòng Huế, xa Huế là anh nhớ, xa Huế là anh thương. Những năm anh ở quê người, Huế như từng khúc ruột quặn trong lòng anh. Tôi không rõ gia cảnh anh ra sao, nhưng đọc thơ anh thấy anh nặng tình với Huế lắm, chắc chị cũng là người Huế…nên anh lãng mạn nhân đôi?
Đây một bài thơ “đặc trưng” Huế của Huy Phương, ai đọc mà không cảm, ai đọc mà không nao nao lòng…thì “tui chết liền” à nha!:
Nhớ Huế
Mùa này nước Hương Giang có mặn
Muối đại dương có thấm vào sông?
Từ ngày anh đoạn tình bỏ Huế
Nguồn xa đã lạc mấy trăm dòng!
Mùa này Huế còn mưa tầm tã
Thương quê xưa vẫn nỗi đói nghèo
Anh ở nơi này vùng nắng ấm
Vẫn nhớ hoài đời Mẹ gieo neo.
Mùa này quê có còn bão lụt
Chén cơm em còn độn sắn khoai?
Trên tiệc rượu người con xa xứ
Men nồng nào lẫn nước mắt cay.
Mùa này Huế có còn phượng đỏ
Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa
Nơi này cả một trời hoa tím
Nhớ em xưa tiếng guốc học trò.
Mùa này Huế có còn áo trắng
Em hiện thân làm bướm tan trường
Thương ngày tháng một thời niên thiếu
Huế bây giờ – Huế đã mù sương!
Huế của tôi giờ đâu còn nữa
Cảnh vô hồn khuất nẻo người xưa
Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế
Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ…
*
Hai câu cuối của bài thơ trên…tôi cứ chép sai hoài. Mắt tôi mờ. Mờ thiệt rồi sao? Một nước non cẩm tú thì dẫu tang thương vẫn cứ còn cẩm tú, nhìn theo kiểu mình, nhìn theo kiểu người, khó có cái nhìn chung…Mỗi người nhìn riêng với một tấm lòng riêng, biết sao bây giờ! Có thể khi thành một Trung Tâm Du Lịch, nhiều năm nay, Huế thay đổi bộ mặt âu sầu, nhưng trong gan ruột của Huế vẫn còn cái mầm bệnh ung thư lịch sử! Bề ngoài là son phấn. Bề ngoài là phồn vinh! Cái giả tạo chửi cha cái thật tình. Cái thật lòng thì câm nín thiên thu! Phương Xích Lô là một thi sĩ ở Huế, chuyên đạp xich lô kiếm sống, đã từng đạp xe ra Đồng Hà, phía Bắc Huế không xa, cảm ứng chứng minh cho chúng ta một thời đại rất ngộ nghĩnh: Cơ quan chức năng nào cũng treo câu biểu ngữ của “Bác Hồ” Không-Có-Gì-Quý-Hơn-Độc-Lập-Tự-Do mà đều mang cái bản mặt hướng ngoại. Độc Lập Tự Do chỉ là nụ cười méo mó. Một cái-gì-đó dị hợm, trêu ngươi, xứng đáng cho sự xấu hỗ!. Tất cả sự sống nằm trên sự lệ thuộc nước ngoài. Ngọn gió cũng từ Ai Lao thổi qua…
Thị trấn của tôi dùng toàn đồ ngoại
Đến gió kia cũng…vay của nước Lào!
Huy Phương mãi mãi nghĩ về Huế, hướng về Huế với tấm lòng chung thủy. Tôi lau mắt lần nữa chép lại hai câu cuối của bài thơ Nhớ Huế của anh: “Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế, Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ!”. Ôi, câu đó sao giống câu thơ mở đầu bài Tần Hoài Dạ Bạc quá chừng ri: “Yên Lung Hàn Thủy Nguyệt Lung Sa”, khói bay nước lạnh bóng trăng mờ…
*
Tôi suy nghĩ lung lắm: Mình viết một bài “luận” về tập thơ của Huy Phương CHÚC THƯ CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH GIÀ mà sao bài này, bài Chúc Thư in ở các trang 6,7 và 8, tôi không dẫn vào đây, coi như một điểm tựa cho những lời tôi bàn, tôi bình về thơ Huy Phương? Tôi suy nghĩ thế để thành câu hỏi cho việc tôi làm là tự thấy mình chỉ làm cái việc cỡi ngựa xem hoa không hơn không kém, phải không? Chắc chắn là tôi hết còn sức để nói về thơ Huy Phương. Chỉ cần hai bài, tôi quặn thắt lòng mình, thêm nữa thì chắc lòng tôi đau đớn vô cùng. Thơ Huy Phương hay kỳ lạ! Thơ Huy Phương vừa vuốt ve người đọc nó vừa nghiến răng cào xé người đọc. Vậy mới “đã đời” chớ nhỉ! Tôi cất dành đọc thơ Huy Phương từng ngày, từng ngày.
Và tôi xin dừng bút ở đây. Mong bạn đọc nào thương thơ, nghĩ tới người làm thơ, tìm mua tập thơ ấy mà đọc…
Trần Vấn Lệ
6/2013
Mưa Sài Gòn trở về
Văn Quang
(viết từ Sài Gòn)
Ðêm giữa mùa mưa Sài Gòn, nằm nghe nhạc xưa chẳng còn gì thú vị hơn. Bỏ quên tất cả lại phía sau,
bỏ quên được cái thân phận của kẻ lưu lạc trên chính quê hương mình. Mọi thứ như đang trở về trước mặt.
Tiếng Bích Huyền quen thuộc, dịu dàng, ve vuốt đưa dẫn lạc vào trong dòng văn chương của Nguyễn Thị Hàm Anh. Tôi ngỡ ngàng, không còn nhận ra đó là Hàm Anh tôi đã quen biết từ vài chục năm nay. Một cô giáo rất chừng mực từ lối sống, cách giao tiếp đến cách viết. Tôi đọc Hàm Anh không nhiều chỉ qua vài truyện ngắn, một số bài viết về thời sự gửi ra nước ngoài, dưới một bút hiệu khác. Ðọc “Trở về” của cô hôm nay, tôi không biết định nghĩa là gì. Tạp ghi, tùy bút, hồi ký hay chỉ là một đoản văn. Có lẽ điều đó không cần thiết. Cũng như một bài thơ hay, không cần phải là thơ Ðường, lục bát, tứ tuyệt hay thơ mới. Thể loại nào cũng được, miễn là một tác phẩm hay. Cô giáo Hàm Anh như từ trong Tự Lực Văn Ðoàn bước ra nhưng lại mặc chiếc áo rất mới. Có sự lãng mạn trẻ trung và cũng có sự chừng mực thường lệ. Tôi chưa bao giờ nghe Hàm Anh nói hay viết về một chuyên tình của chính mình. Ngay cả ở Trở về cũng là chuyện của một “nàng ca sĩ” và một “anh chàng nhạc sĩ.” Cô viết cho một người nào đó quen hoặc không quen, và cũng có thể mượn một nhân vật nào đó để nói về tâm trạng của chính mình. Ðiều đó lại cũng không quan trọng. Ðiều đáng quý nhất là đoản văn trở về gợi cho tôi trở lại với những quá khứ rất xa xưa bỗng trở thành rất gần.
Lời dẫn của chị Bích Huyền với những bản nhạc chọn lọc rất “khôn ngoan” tinh tế càng khiến tôi trở nên mụ mẫm bởi hình bóng của ký ức tưởng đã xanh rêu. Nhạc phẩm bất hủ hay bất tử của những Phạm Duy, Phạm Ðình chương, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Hoàng Thi Thao... đan xen đưa đẩy làm ký ức nào cũng phải sống dậy cùng với mưa Sài Gòn. Một số lớn những người ấy là bạn tôi. Riêng với “Nửa hồn thương đau” nhạc phẩm chính của phim Chân Trời Tím của Phạm Ðình Chương; “Tiếng hát học trò” và “Ngàn năm mây bay” của Nguyễn Hiền cũng đều liên hệ tới 2 cuốn truyện dài của tôi đã chuyển thể thành phim. Tôi có nhiều kỷ niệm với những người bạn ấy. Hãy kể về “nhắm mắt chỉ thấy một khung trời tím ngắt” làm nhớ tới Phạm Ðình Chương nhắm mắt khi anh ngồi vào piano ở một phòng trà, khi anh ngồi với Mai Thảo, Thanh Nam ở một quán rượu vắng vào một đêm khuya. Và nhắc tới Chân Trời Tím, lại không thể quên Nhật Trường, sáng tác bản nhạc này khi vừa đọc xong cuốn truyện, khi than thở “mỗi lần đi chơi với người yêu, tôi phải bài binh bố trận khổ sở lắm mới đến được với người tình.” Rồi Nguyễn Hiền, rồi tiếng hát Họa Mi đưa ta trôi về chốn cũ tự bao giờ.
Rồi đọc Hàm Anh lạc lõng với “Những căn nhà từa tựa giống nhau, không có lầu, chỉ tầng trệt với mái ngói đỏ cũ kỹ, đa số đều đóng cửa như thiêm thiếp ngủ trong khoảnh vườn rộng với hàng rào vấn vít huỳnh anh hay bìm bìm. Màu vàng và tím của những bông hoa điểm chút khởi sắc cho con đường cô quạnh.”
Tôi tưởng đó là Pleiku của năm 1957, tôi từ Sài Gòn lên nhận nhiệm vụ thành lập Ðại Ðội 3 Văn Nghệ ở thành phố cao nguyên heo hút này. Những phố không ra phố, những nhà chẳng ra nhà. Nhưng ở đấy cũng có một nữ ca sĩ như Nguyệt Ánh, một nhạc sĩ như Anh Bằng gần giống trong câu chuyện “Trở về” của Hàm Anh.
Lạ lùng hơn khi tôi đọc: “Tôi yêu chàng và chàng yêu tôi, như là điều đương nhiên. Có thể nào tình yêu không nảy nở trong một thế giới tuyệt vời như vậy? Tôi ngất ngây trong hạnh phúc rung vang mang tới niềm xúc cảm diệu kỳ...”
Tôi chưa bao giờ nghe Hàm Anh kể bay viết về một điều rất lãng mạn, rất “ướt” như thế cả, dù cho vẫn ở trong chừng mực của cô giáo.
Bích Huyền và Hàm Anh cho những “anh già” như tôi được sống lại trọn vẹn trong cái thế giới tưởng chừng đã mất. Một đêm thôi, một đêm mưa Sài Gòn cũng là quá đủ, tôi có cần nói lời cảm không?
(08-8-2013)
Văn Quang
(viết từ Sài Gòn)
Ðêm giữa mùa mưa Sài Gòn, nằm nghe nhạc xưa chẳng còn gì thú vị hơn. Bỏ quên tất cả lại phía sau,
bỏ quên được cái thân phận của kẻ lưu lạc trên chính quê hương mình. Mọi thứ như đang trở về trước mặt.
Tiếng Bích Huyền quen thuộc, dịu dàng, ve vuốt đưa dẫn lạc vào trong dòng văn chương của Nguyễn Thị Hàm Anh. Tôi ngỡ ngàng, không còn nhận ra đó là Hàm Anh tôi đã quen biết từ vài chục năm nay. Một cô giáo rất chừng mực từ lối sống, cách giao tiếp đến cách viết. Tôi đọc Hàm Anh không nhiều chỉ qua vài truyện ngắn, một số bài viết về thời sự gửi ra nước ngoài, dưới một bút hiệu khác. Ðọc “Trở về” của cô hôm nay, tôi không biết định nghĩa là gì. Tạp ghi, tùy bút, hồi ký hay chỉ là một đoản văn. Có lẽ điều đó không cần thiết. Cũng như một bài thơ hay, không cần phải là thơ Ðường, lục bát, tứ tuyệt hay thơ mới. Thể loại nào cũng được, miễn là một tác phẩm hay. Cô giáo Hàm Anh như từ trong Tự Lực Văn Ðoàn bước ra nhưng lại mặc chiếc áo rất mới. Có sự lãng mạn trẻ trung và cũng có sự chừng mực thường lệ. Tôi chưa bao giờ nghe Hàm Anh nói hay viết về một chuyên tình của chính mình. Ngay cả ở Trở về cũng là chuyện của một “nàng ca sĩ” và một “anh chàng nhạc sĩ.” Cô viết cho một người nào đó quen hoặc không quen, và cũng có thể mượn một nhân vật nào đó để nói về tâm trạng của chính mình. Ðiều đó lại cũng không quan trọng. Ðiều đáng quý nhất là đoản văn trở về gợi cho tôi trở lại với những quá khứ rất xa xưa bỗng trở thành rất gần.Lời dẫn của chị Bích Huyền với những bản nhạc chọn lọc rất “khôn ngoan” tinh tế càng khiến tôi trở nên mụ mẫm bởi hình bóng của ký ức tưởng đã xanh rêu. Nhạc phẩm bất hủ hay bất tử của những Phạm Duy, Phạm Ðình chương, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Hoàng Thi Thao... đan xen đưa đẩy làm ký ức nào cũng phải sống dậy cùng với mưa Sài Gòn. Một số lớn những người ấy là bạn tôi. Riêng với “Nửa hồn thương đau” nhạc phẩm chính của phim Chân Trời Tím của Phạm Ðình Chương; “Tiếng hát học trò” và “Ngàn năm mây bay” của Nguyễn Hiền cũng đều liên hệ tới 2 cuốn truyện dài của tôi đã chuyển thể thành phim. Tôi có nhiều kỷ niệm với những người bạn ấy. Hãy kể về “nhắm mắt chỉ thấy một khung trời tím ngắt” làm nhớ tới Phạm Ðình Chương nhắm mắt khi anh ngồi vào piano ở một phòng trà, khi anh ngồi với Mai Thảo, Thanh Nam ở một quán rượu vắng vào một đêm khuya. Và nhắc tới Chân Trời Tím, lại không thể quên Nhật Trường, sáng tác bản nhạc này khi vừa đọc xong cuốn truyện, khi than thở “mỗi lần đi chơi với người yêu, tôi phải bài binh bố trận khổ sở lắm mới đến được với người tình.” Rồi Nguyễn Hiền, rồi tiếng hát Họa Mi đưa ta trôi về chốn cũ tự bao giờ.
Rồi đọc Hàm Anh lạc lõng với “Những căn nhà từa tựa giống nhau, không có lầu, chỉ tầng trệt với mái ngói đỏ cũ kỹ, đa số đều đóng cửa như thiêm thiếp ngủ trong khoảnh vườn rộng với hàng rào vấn vít huỳnh anh hay bìm bìm. Màu vàng và tím của những bông hoa điểm chút khởi sắc cho con đường cô quạnh.”
Tôi tưởng đó là Pleiku của năm 1957, tôi từ Sài Gòn lên nhận nhiệm vụ thành lập Ðại Ðội 3 Văn Nghệ ở thành phố cao nguyên heo hút này. Những phố không ra phố, những nhà chẳng ra nhà. Nhưng ở đấy cũng có một nữ ca sĩ như Nguyệt Ánh, một nhạc sĩ như Anh Bằng gần giống trong câu chuyện “Trở về” của Hàm Anh.
Lạ lùng hơn khi tôi đọc: “Tôi yêu chàng và chàng yêu tôi, như là điều đương nhiên. Có thể nào tình yêu không nảy nở trong một thế giới tuyệt vời như vậy? Tôi ngất ngây trong hạnh phúc rung vang mang tới niềm xúc cảm diệu kỳ...”
Tôi chưa bao giờ nghe Hàm Anh kể bay viết về một điều rất lãng mạn, rất “ướt” như thế cả, dù cho vẫn ở trong chừng mực của cô giáo.
Bích Huyền và Hàm Anh cho những “anh già” như tôi được sống lại trọn vẹn trong cái thế giới tưởng chừng đã mất. Một đêm thôi, một đêm mưa Sài Gòn cũng là quá đủ, tôi có cần nói lời cảm không?
(08-8-2013)
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Ngày Bão Loạn - Văn Học và Chứng Liệu Lịch Sử
Song Nhị
Qua một trung gian, bản thảo “Ngày Bão Loạn” đến với Cội Nguồn như một gặp gỡ tình cờ và cũng là một tình cờ Cội Nguồn
đón nhận một tác phẩm đã ẩn mình ở một nơi nào đó từ rất lâu, áng chừng non phần tư thế kỷ. Tác giả, trong non phần tư thế kỷ ẩn danh
nấp mình bên dòng thời gian, men theo hình bóng và đường đi của những con người tuổi trẻ hiến thân đi làm lịch sử để hình thành tác phẩm này.
Hình bìa hợp tuyển Ngày Bão Loạn của tác giả Hương Giang
“Ngày Bão Loạn” là một hợp tuyển thơ văn, trong đó nguồn cảm hứng của tác giả là những bài viết, những đoạn văn rải rác trên hành trình “kháng chiến” của những Kinh Kha thời đại.
Trong lời mở đầu tác giả đã khiêm tốn nói rằng cô “không phải là người thuộc giới văn chương, mà chỉ đem tấm lòng diễn đạt bằng thơ gởi lại trong tác phẩm đôi nét chấm phá đánh dấu sự có mặt của những con người đầy yêu thương và hào hùng ấy trong thời đại chúng ta”.
Qua nội dung thơ văn trong hơn hai trăm trang sách, tác giả đã trải tấm lòng dành trọn vẹn tâm cảm để biểu đạt nỗi thao thức gắn bó với đất nước, quê hương – ở một con người đã vượt ra ngoài định kiến nhi nữ thường tình xưa cũ – mạnh dạn đem vào trang sách bóng dáng thời đại của những chàng trai nước Việt mang dũng khí và lòng yêu nước vô bờ, hy sinh tình yêu và hạnh phúc riêng tư, kể cả mạng sống cho lý tưởng giải cứu đất nước, quê hương khỏi ách nạn cộng sản sau cơn bão loạn, đẩy cả dân tộc chìm ngập vào cơn hậu chấn kinh hoàng của thế kỷ hai mươi.
Mở đầu trang sách, trong Đôi Lời Cùng Bạn Đọc, tác giả “tâm tình với độc giả về hai thanh niên người Việt mà không ai được biết họ là ai, tên là gì, và sống chết ra sao...”. Hai thanh niên đó phải chăng cũng là Võ Hoàng và Trần Hướng Việt, biểu tượng của những chiến sĩ anh hùng trong các đền thờ Hy Lạp?
Ở một chỗ khác, tác giả bộc bạch: “Là một người Việt Nam, tôi biết đồng bào tôi muốn biết những ưu tư cùng những ước mơ của họ. Trong tâm tư đó tôi muốn sẻ chia điều mình biết về họ đến với mọi người” (tr 48). Một sự thôi thúc khác, theo chúng tôi, để hình thành quyển sách này chính là lòng yêu nước dạt dào của tác giả, được thể hiện trong từng đoạn văn, trong những bài thơ.
Đọc tác phẩm chúng tôi chú ý nhiều đến phần thơ của tác giả trong Ngày Bão Loạn. Trong lời ngỏ cùng bạn đọc, Hương Giang viết: “tác giả gởi lại ở đây… những cảm xúc thật của một người thích diễn đạt bằng thơ”.
Vâng, Thơ của Hương Giang chiếm một vị trí nổi trội so với phần văn trong tác phẩm. Hương Giang, một tên tuổi còn khá xa lạ trên thi đàn, nhưng tác phẩm của cô không thua kém, còn có thể vượt lên trên nhiều nhà thơ hải ngoại có đôi ba tác phẩm đã in.
Về hình thức tác giả sử dụng loại thơ phá thể kết hợp với thơ mới trong cách gieo vần, số chữ số câu không gò bó, hạn chế vào một khuôn khổ nào nhất định, do đó thơ Hương Giang không có sáo ngữ để tình tự được biểu đạt qua những từ ngữ chân chất hồn nhiên.
Xin trích dẫn một vài khổ thơ Hương Giang, có những câu thơ chúng tôi lấy làm tâm đắc:
Hãy thương anh, lưng anh còn chiếc bóng
Chiếc bóng quê nhà đè mãi thêm đau
Anh sẽ về dạy con và cắt cỏ vườn sau
Sẽ ở bên em hết tháng này... tháng nữa...
Hãy yêu anh như thuở ban đầu em trót hứa
Như ngày nào em cãi mẹ lấy anh.
(Bài Thơ Cho Những Người Yêu Nhau tr. 202)
**
Có ai nhặt được ước mơ mẹ đánh rớt tự ngàn xưa
Thuở cô gái làng Mai Sơn môi hồng má thắm
Ngày bước theo chồng rưng rưng cánh đồng
ngẩn ngơ hoa nắng
Cô Tấm đi rồi giếng lạnh trăng côi
(À Ơi Cánh Cò tr. 204)
**
Có bao giờ H nói H yêu anh không?
Yêu cái hạt gạo anh khắc tên mình một nửa
Thương điều chọn lựa - dù xót xa –
đang làm mình cách trở
Thương những tính toán cộng trừ
một nửa là ước mơ.
(Có Bao Giờ - Bài thơ nhờ toà Đại Sứ đọc
khi thăm anh Quân trong tù 03/2007, tr. 209)
Xin hẹn bạn đọc ở một bài viết “Bút Luận” về thơ Hương Giang một dịp khác.
Viết quyển sách về một đảng phái chính trị từng hứng chịu những mũi dùi công kích từ phía thù cũng như phía bạn trong dư luận nhiều năm qua, tác giả không những không giấu diếm mà còn công khai minh thị là một tân đảng viên với chân dung và đầy đủ các chi tiết cá nhân.
Mượn trang viết tác giả ngỏ lời cùng dư luận: “Những tỵ hiềm cá nhân, những kèn cựa lời ăn tiếng nói, những ứng xử vụng về của một số đoàn viên, những yếu kém của một tổ chức đấu tranh mới thành lập là điều tất yếu, nhưng đó là chuyện của những người ở hậu phương, đừng đổ mực lên những người chiến sĩ nơi tuyến đầu” (tr. 49).
Chúng tôi tin rằng tất cả mọi việc làm của bất cứ ai đều có nhân quả tất yếu và mọi tác nhân đều sẽ được vinh dự nhận vòng nguyệt quế hoặc lãnh chịu trách nhiệm trước sự phán xét công minh của dư luận hôm nay và lịch sử sau này.
Cội Nguồn khi nhận được tập bản thảo, để tìm một mẫu số chung, các anh chị trong ban điều hành và biên tập tạp chí Nguồn đã trao tay nhau đọc. Chúng tôi có chung một nhận định đây là một tác phẩm xét về mặt văn chương, nhất là bộ môn thơ là một tác phẩm văn học, lồng vào trong đó khung cảnh chính trị thời thế và một thời kỳ lịch sử của hơn nửa thế kỷ Việt Nam bão loạn.
Cội Nguồn trước sau vẫn khẳng định là một tổ chức sinh hoạt Văn Học, hoàn toàn đứng ngoài “vòng đai” chính trị. Cội Nguồn không gia nhập cũng không chống đối và cổ vũ bất cứ một tổ chức, đảng phái chính trị nào có tôn chỉ mục đích đấu tranh giải trừ quốc nạn Cộng Sản, đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho quê hương dân tộc.
Khi nhận đứng tên xuất bản “Ngày Bão Loạn” chúng tôi muốn cùng tác giả gửi tới bạn đọc, tới các thế hệ hôm nay và mai sau một chứng liệu lịch sử trong cuộc đấu tranh sinh tồn của dân tộc và một tác phẩm trong dòng văn học Việt Nam.
Song Nhị
Song Nhị
Qua một trung gian, bản thảo “Ngày Bão Loạn” đến với Cội Nguồn như một gặp gỡ tình cờ và cũng là một tình cờ Cội Nguồn
đón nhận một tác phẩm đã ẩn mình ở một nơi nào đó từ rất lâu, áng chừng non phần tư thế kỷ. Tác giả, trong non phần tư thế kỷ ẩn danh
nấp mình bên dòng thời gian, men theo hình bóng và đường đi của những con người tuổi trẻ hiến thân đi làm lịch sử để hình thành tác phẩm này.
Hình bìa hợp tuyển Ngày Bão Loạn của tác giả Hương Giang
“Ngày Bão Loạn” là một hợp tuyển thơ văn, trong đó nguồn cảm hứng của tác giả là những bài viết, những đoạn văn rải rác trên hành trình “kháng chiến” của những Kinh Kha thời đại.
Trong lời mở đầu tác giả đã khiêm tốn nói rằng cô “không phải là người thuộc giới văn chương, mà chỉ đem tấm lòng diễn đạt bằng thơ gởi lại trong tác phẩm đôi nét chấm phá đánh dấu sự có mặt của những con người đầy yêu thương và hào hùng ấy trong thời đại chúng ta”.
Qua nội dung thơ văn trong hơn hai trăm trang sách, tác giả đã trải tấm lòng dành trọn vẹn tâm cảm để biểu đạt nỗi thao thức gắn bó với đất nước, quê hương – ở một con người đã vượt ra ngoài định kiến nhi nữ thường tình xưa cũ – mạnh dạn đem vào trang sách bóng dáng thời đại của những chàng trai nước Việt mang dũng khí và lòng yêu nước vô bờ, hy sinh tình yêu và hạnh phúc riêng tư, kể cả mạng sống cho lý tưởng giải cứu đất nước, quê hương khỏi ách nạn cộng sản sau cơn bão loạn, đẩy cả dân tộc chìm ngập vào cơn hậu chấn kinh hoàng của thế kỷ hai mươi.
Mở đầu trang sách, trong Đôi Lời Cùng Bạn Đọc, tác giả “tâm tình với độc giả về hai thanh niên người Việt mà không ai được biết họ là ai, tên là gì, và sống chết ra sao...”. Hai thanh niên đó phải chăng cũng là Võ Hoàng và Trần Hướng Việt, biểu tượng của những chiến sĩ anh hùng trong các đền thờ Hy Lạp?
Ở một chỗ khác, tác giả bộc bạch: “Là một người Việt Nam, tôi biết đồng bào tôi muốn biết những ưu tư cùng những ước mơ của họ. Trong tâm tư đó tôi muốn sẻ chia điều mình biết về họ đến với mọi người” (tr 48). Một sự thôi thúc khác, theo chúng tôi, để hình thành quyển sách này chính là lòng yêu nước dạt dào của tác giả, được thể hiện trong từng đoạn văn, trong những bài thơ.
Đọc tác phẩm chúng tôi chú ý nhiều đến phần thơ của tác giả trong Ngày Bão Loạn. Trong lời ngỏ cùng bạn đọc, Hương Giang viết: “tác giả gởi lại ở đây… những cảm xúc thật của một người thích diễn đạt bằng thơ”.
Vâng, Thơ của Hương Giang chiếm một vị trí nổi trội so với phần văn trong tác phẩm. Hương Giang, một tên tuổi còn khá xa lạ trên thi đàn, nhưng tác phẩm của cô không thua kém, còn có thể vượt lên trên nhiều nhà thơ hải ngoại có đôi ba tác phẩm đã in.
Về hình thức tác giả sử dụng loại thơ phá thể kết hợp với thơ mới trong cách gieo vần, số chữ số câu không gò bó, hạn chế vào một khuôn khổ nào nhất định, do đó thơ Hương Giang không có sáo ngữ để tình tự được biểu đạt qua những từ ngữ chân chất hồn nhiên.
Xin trích dẫn một vài khổ thơ Hương Giang, có những câu thơ chúng tôi lấy làm tâm đắc:
Hãy thương anh, lưng anh còn chiếc bóng
Chiếc bóng quê nhà đè mãi thêm đau
Anh sẽ về dạy con và cắt cỏ vườn sau
Sẽ ở bên em hết tháng này... tháng nữa...
Hãy yêu anh như thuở ban đầu em trót hứa
Như ngày nào em cãi mẹ lấy anh.
(Bài Thơ Cho Những Người Yêu Nhau tr. 202)
**
Có ai nhặt được ước mơ mẹ đánh rớt tự ngàn xưa
Thuở cô gái làng Mai Sơn môi hồng má thắm
Ngày bước theo chồng rưng rưng cánh đồng
ngẩn ngơ hoa nắng
Cô Tấm đi rồi giếng lạnh trăng côi
(À Ơi Cánh Cò tr. 204)
**
Có bao giờ H nói H yêu anh không?
Yêu cái hạt gạo anh khắc tên mình một nửa
Thương điều chọn lựa - dù xót xa –
đang làm mình cách trở
Thương những tính toán cộng trừ
một nửa là ước mơ.
(Có Bao Giờ - Bài thơ nhờ toà Đại Sứ đọc
khi thăm anh Quân trong tù 03/2007, tr. 209)
Xin hẹn bạn đọc ở một bài viết “Bút Luận” về thơ Hương Giang một dịp khác.
Viết quyển sách về một đảng phái chính trị từng hứng chịu những mũi dùi công kích từ phía thù cũng như phía bạn trong dư luận nhiều năm qua, tác giả không những không giấu diếm mà còn công khai minh thị là một tân đảng viên với chân dung và đầy đủ các chi tiết cá nhân.
Mượn trang viết tác giả ngỏ lời cùng dư luận: “Những tỵ hiềm cá nhân, những kèn cựa lời ăn tiếng nói, những ứng xử vụng về của một số đoàn viên, những yếu kém của một tổ chức đấu tranh mới thành lập là điều tất yếu, nhưng đó là chuyện của những người ở hậu phương, đừng đổ mực lên những người chiến sĩ nơi tuyến đầu” (tr. 49).
Chúng tôi tin rằng tất cả mọi việc làm của bất cứ ai đều có nhân quả tất yếu và mọi tác nhân đều sẽ được vinh dự nhận vòng nguyệt quế hoặc lãnh chịu trách nhiệm trước sự phán xét công minh của dư luận hôm nay và lịch sử sau này.
Cội Nguồn khi nhận được tập bản thảo, để tìm một mẫu số chung, các anh chị trong ban điều hành và biên tập tạp chí Nguồn đã trao tay nhau đọc. Chúng tôi có chung một nhận định đây là một tác phẩm xét về mặt văn chương, nhất là bộ môn thơ là một tác phẩm văn học, lồng vào trong đó khung cảnh chính trị thời thế và một thời kỳ lịch sử của hơn nửa thế kỷ Việt Nam bão loạn.
Cội Nguồn trước sau vẫn khẳng định là một tổ chức sinh hoạt Văn Học, hoàn toàn đứng ngoài “vòng đai” chính trị. Cội Nguồn không gia nhập cũng không chống đối và cổ vũ bất cứ một tổ chức, đảng phái chính trị nào có tôn chỉ mục đích đấu tranh giải trừ quốc nạn Cộng Sản, đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho quê hương dân tộc.
Khi nhận đứng tên xuất bản “Ngày Bão Loạn” chúng tôi muốn cùng tác giả gửi tới bạn đọc, tới các thế hệ hôm nay và mai sau một chứng liệu lịch sử trong cuộc đấu tranh sinh tồn của dân tộc và một tác phẩm trong dòng văn học Việt Nam.
Song Nhị

Tiết Nhơn Quí Trước ngày 30 tháng tư 1975, trong cơn sốt di tản, tôi chen lấn đẩy được vợ con lên trực thăng. Thằng Mỹ đen thòng người xuống, vừa kéo tôi lên vừa la lớn cho đồng bọn : ‘’Bốc lên ! Bốc nhanh lên ! Đầy ứ rồi ! ‘’Chân tôi vừa chạm sàn trực thăng thì vợ tôi làm rớt cái xắc da xuống đám người đang xô đẩy nhau phía dưới. Như cái máy, tôi phóng xuống theo ! Khi tôi giành giực lại được cái xắc thì chiếc trực thăng đã bay đi xa. Tôi ôm cứng cái xắc trước ngực, hổn hển nhìn theo mà nghe chết điếng trong lòng…
Nhờ bị rớt lại như vậy mà tôi còn giữ được nhà cửa xe cộ. Bởi vì những nhà khác -nhà những người đã di tản- đều bị đồng bào hôi của, rồi sau đó là bị Nhà Nước cách mạng tiếp thu. Cũng là một hình thức hôi của, nhưng… cao cấp hơn !
Rồi nhờ cái xắc của vợ tôi với mớ nữ trang và đô la mà tôi làm lại cuộc đời chẳng khó khăn gì mấy.
Hồi thời trước, tôi làm chuyên viên điện toán cho một hãng xuất nhập cảng lớn ở Chợ Cũ. Bây giờ, sau thời gian đi hội họp học tập để nghe cán bộ phát biểu dong dài với những từ ngữ lạ hoắc, nghe… ù ù cạc cạc như vịt nghe sấm, vậy mà tôi cũng hiểu trắng được rằng cách mạng là đổi đời và hiểu ngầm rằng: muốn sống trong chế độ mới mình phải lột cái xác cũ ra chôn giấu đi, và muốn sống yên ổn trong thời buổi này, mình phải biết làm… thợ lặn, nghĩa là đừng có trồi đầu ra cho thiên hạ để ý, nhứt là chánh quyền. Vậy là tôi quyết định đổi nghề : tôi đem gia đình thằng Sáu, đứa cháu kêu tôi bằng bác, về cư ngụ với tôi, rồi chúng tôi lập Tổ May Thêu. Chạy vòng ngoài là thằng Sáu với chức tổ phó; tổ viên là vợ và hai đứa con gái của nó, cộng thêm hai người chị vợ nó ; còn tôi thì làm tổ trưởng, nghĩa là ngồi không uống trà, hút thuốc, ký tên, đi họp…
Sau tháng tư năm 1975, không phải chỉ có mình tôi đổi nghề. Phần đông người dân miền Nam đều đổi nghề, nhứt là ở các đô thị. Chẳng ai bảo ai, cũng chẳng thấy ai khuyên ai, họ tự động đổi nghề một cách tự nhiên và đều khắp, giống như theo một thời trang đổi kiểu áo quần ! Và cũng chẵng có một mải mai mặc cảm. Cho nên thấy giáo sư đi đạp xích lô, thấy thầy giáo đi làm thợ hồ, thấy lơ xe đò là thợ bạc hồi thời trước, thấy chị bán nước mía là cựu nhân viên ngân hàng… v. v. Kể không hết. Và cái nghề được nhiều người chọn nhứt là nghề mở quán cà-phê vỉa hè ! Dễ quá ! Chỉ cần đặt trước nhà mấy cái bàn mấy cái ghế… vậy là thành quán ! Cho nên thấy đường nào cũng có, xóm nào cũng có, xó xỉnh nào cũng có. Nhiều khi hàng quán nằm khít nhau một dọc, vậy mà chẳng thấy ai phàn nàn ai ! Làm như trong cuộc đổi đời vĩ đại này, người dân miền Nam dễ thông cảm với nhau hơn hồi trước !
Sau cách mạng, có những nghề bỗng nhiên biến mất trong sanh hoạt hằng ngày. Điển hình nhứt là nghề coi tay coi tướng và nghề đấm bóp (cũng gọi là tẩm quất). Có người… ác ý nói rằng cách mạng rất sợ bị lộ chân tướng nên mấy thầy tướng số đều bị ‘’đì‘’ hết, còn tẩm quất là nghề… chuyên chính của Đảng và Nhà Nước, họ giữ độc quyền dùng nó để đần những phần tử xét lại hay phản động đã bị họ bắt nhốt… thì sức mấy mà người dân được hành nghề này !
Một tối đó, trong khi tòn ten trên võng hút thuốc sau bữa cơm, tôi bỗng nghe tiếng rẹt rẹt rẹt từ đằng xa. Đó là tiếng của những nút khoén đập dẹp xõ xâu mà mấy ông tẩm quất vừa đi vừa lắc để… rao hàng. Ngạc nhiên, tôi nhỏm dậy lắng tai nghe. Đúng rồi !Đúng là tiếng lắc nút khoén của ông tẩm quất. Hồi thời trước, ông tẩm quất xóm tôi thường đi lắc như vậy đêm đêm. Và ổng đấm lưng tôi đều đặn mỗi tháng hai lần. Sau giải phóng, không nghe ổng lắc rẹt rẹt nữa. Tôi nghĩ chắc ổng cũng đã đổi nghề như thiên hạ. Nào dè…
Tôi vui mừng bước nhanh ra cổng, gọi : ‘’ Đấm bóp ! Đấm bóp ! ‘’. Có tiếng dạ từ đàng xa, rồi một người đạp xe lại. Thì ra không phải ông tẩm quất mà tôi quen. Người này cũng trọng tuổi như ông kia, cũng gầy gầy như ông kia, nhưng cao lớn hơn nhiều. Ổng mặc sơ-mi ngắn tay và quần sọt, đeo ngang hông một túi vải nhỏ. Lỡ gọi rồi, tôi đành mở cổng cho ổng vào mà phân vân tự hỏi : ‘’ Không biết ông này ở đâu ra ? Nhứt là trong thời buổi mà thiên hạ chạy ăn hằng bữa, ai đâu mà đưa lưng cho ổng đấm Với lại không biết ổng thiệt có nghề đấm bóp hay là thứ… ba trợn để kiếm cơm ? Bởi vì bây giờ cái thứ đó cũng đông lắm ! ‘’
Vào nhà, tôi gọi mấy đứa nhỏ trải một chiếc chiếu ở hàng ba rồi tôi tự động nằm xuống đó sau khi cởi quần áo ngoài chỉ còn mặc cái quần đùi. Ông đấm bóp bỏ đôi giép Nhựt ở tam cấp, bước vào nhà nhìn quanh rồi nói :’’Xin phép cho tôi cởi áo ‘’. Không đợi trả lời, ông cởi áo sơ-mi máng lên đầu võng, để lộ trên người chiếc áo thung ba lỗ đã ngã màu vàng và lủng rách nhiều nơi. Ông ngồi xuống cạnh tôi, lấy trong túi vải chai dầu mở nút trút vào lòng tay, nhìn tôi mỉm cười:’’Ông nằm sắp xuống ‘’. Tôi làm theo như cái máy. Tôi nghe hai bàn tay vừa to vừa ấm của ông thoa dầu từ trên ót trên cổ tôi xuống lần hai vai, rồi lưng, để cuối cùng vuốt dài theo hai cánh tay nằm dọc theo hông… mà tưởng chừng như vừa được trùm lên người một làn hơi nóng vừa êm vừa mõng !
Lối đấm của ông ta không giống lối đấm của ông mà tôi quen. Kỹ thuật của ông hồi đó đúng là đấm, nghĩa là hai bàn tay cứ đều đặn xuống lên, khi nắm lại thì có tiếng bóc bóc, khi xòe ra thì có tiếng bụp bụp. Và cứ như vậy, hết lưng là đến chân đến tay. Còn ông mới này thì khác hẳn. Ổng… âm thầm hơn và đi sâu hơn. Ổng mằn từng khớp xương, từng thớ thịt, ổng mò dài theo các đường gân tay gân chân. Mấy đầu ngón tay của ổng đi tới đâu là mình nghe… rã rời tới đó ! Thật là kỳ diệu ! Tôi phục ổng quá !
Sau khi làm xong, ổng xin một ly nước, uống, lảnh tiền, cám ơn, rồi lẳng lặng dẫn xe đạp đi ra. Tôi hỏi với theo : ‘’ Tuần sau, cũng vào giờ này, ông lại đấm tôi được không ? ‘’Ổng nói ‘ dạ được ‘ rồi đi thẳng. Tiếng rẹt rẹt của xâu nút khoén lại vang lên xa xa… Tôi nằm tơ lơ mơ, nghe âm thanh rẹt rẹt mà tưởng chừng như thời cũ vẫn còn nguyên đây đó, cái thời mà cuộc sống còn mang nhiều thi vị, kể cả những thi vị thật nhỏ nhoi tầm thường.
Tuần sau, ông đấm bóp trở lại. Ổng không bấm chuông. Ổng đứng ngoài cổng lắc xâu nút khoén rẹt rẹt, rẹt rẹt, giống như một… ám hiệu ! Đã được dặn trước nên người nhà chạy ra mở cổng. Ổng vào nhà, gật đầu chào tôi rồi tuần tự làm y như tuần rồi. Thấy ổng có tay nghề ‘’ cao cấp ‘’-nói theo từ ngữ bây giờ-mà không bô bô vừa làm vừa nói như ông cũ, tôi càng có cảm tình với con người trầm lặng đó. Nên tôi mở lời :
- Ông làm nghề này lâu chưa ?
- Dạ… sau giải phóng.
- Sao tôi không nghe ông lắc ở xóm này vậy ?
- Dạ… tôi ít đi lắc lắm. Tôi làm cho khách quen không hà. Hôm rồi nhơn làm cho ông khách ở gần đây, tôi lắc cầu may nên mới gặp ông đó chớ.
- Hồi thời trước, ông làm nghề gì ?
Ổng ‘ dạ ‘ rồi nín thinh. Tôi biết ổng không muốn nói, nên cũng không hỏi tiếp.
Lần này, sau khi trả tiền, tôi hỏi, giọng thân mật :
- Ông thứ mấy ?
- Dạ… thứ Sáu.
- Ông chắc lớn hơn tôi cở bảy tám tuổi. Vậy cho tôi gọi ông bằng anh Sáu được không ?
Ổng nhìn tôi, chớp chớp mắt :
- Dạ được chớ.
- Vậy tuần sau, cũng ngày này giờ này, nghe anh Sáu.
Ổng “Dạ”, gật đầu chào tôi rồi dẫn xe đạp đi ra.
Tuần sau, ổng lại đến. Lần này, chính tôi niềm nở mở cổng. Tôi bắt tay ổng:
- Mạnh hả anh Sáu ?
- Dạ mạnh.
Vào nhà, lại tuần tự “xin phép, cởi áo, ngồi xuống, xoa dầu”… Nhưng lần này, sau khi rờ lưng tôi, ổng nói:
- Hơi cảm hả thầy Hai ?
Tôi ngạc nhiên, vì hai tiếng “thầy Hai” thì ít mà vì chỗ ông Sáu biết tôi đang cảm thì nhiều :
- Sao anh biết ?
- Nghề mà thầy Hai. Lưng thầy lạnh ngắt đây nè !
Rồi ổng tiếp, giọng đầy tự tin:
- Nhưng không sao đâu, thầy Hai yên tâm. Tôi làm một chút là thầy thấy khoẻ hà.
Thấy lần này ổng cởi mở hơn, nên tôi tiếp tục… đẩy đưa:
- Anh học nghề này ở đâu vậy, anh Sáu ?
- Tôi học với một ông thầy Tàu ở Bình Hòa ?
Ngừng một chút như để suy nghĩ, rồi ổng nói tiếp, trong lúc hai bàn tay vẫn đều đặn làm việc :
- Thiệt ra ông thầy tôi chuyên dạy võ.
- Ủa ? Rồi sao có vụ dạy tẩm quất ?
Im lặng một chút rồi ổng mới nói, sau khi cười nghe cái khịt :
- Hồi đó, lâu rồi, tôi tới thọ giáo với ổng, ổng nắn tay nắn chân tôi rồi mới nói : “Tao dạy võ cho mày không lấy tiền với điều kiện là mày đấm lưng cho tao mỗi tuần một lần, mày chịu hông ?“. Tôi trả lời chịu nhưng tôi không biết đấm lưng. Vậy là ổng dạy tôi đấm lưng !
Nói xong, ông Sáu cười nhè nhẹ mấy tiếng. Tôi biết ổng đang sống lại với những kỹ niệm nên tôi “khơi“ luôn:
- Mà tại sao anh Sáu phải đi học võ vậy ?
Ổng ngập ngừng một chút rồi mới nói :
- Tại hồi đó tôi muốn đóng vai Tiết Nhơn Quí !
Ba tiếng “Tiết Nhơn Quí“ làm tôi nhớ lại bà già vợ tôi hồi thời trước hay đi coi hát bội và bà thích nhứt nhân vật Tiết Nhơn Quí. Bà thường nói “Đóng vai Tiết Nhơn Quí, không ai hay bằng kép Sáu Thanh hết ! Thằng đó múa thiên phương họa kích như thần. Còn khi nó gặp lại Dương Mậu Sanh, nó khóc như thiệt vậy, hay không chỗ nói !“ Tiết Nhơn Quí… Cây Thiên Phương Họa Kích… Kép Sáu Thanh… Ông già đấm bóp thứ Sáu… Tôi xoay người lại hỏi:
- Vậy anh Sáu là kép Sáu Thanh phải không ?
Gương mặt già nua đó bỗng nhăn lại vì xúc động. Ổng nuốt nước miếng mấy lần mới nói được:
- Dạ phải.
- Hồi đó bà già vợ tôi mê anh lắm. Bả cứ nhắc hoài lúc Tiết Nhơn Quí gặp lại nghĩa huynh Dương Mậu Sanh. Anh đóng hay đến nỗi khán giả ai cũng sụt sùi khóc hết.
Ông Sáu im lặng, chớp mắt thật nhanh rồi nhìn đi nơi khác. Ổng nhìn ra sân, ổng nhìn ra cổng. Ở đó, tôi không có vặn đèn khi đêm xuống như thời cũ -phải làm giống thiên hạ để đừng ai để ý- nên bóng tối dăng đầy. Tôi biết : trong vùng tối đó, ông Sáu đang nhìn thấy lại ánh sáng huy hoàng của thuở mà trong vai Tiết Nhơn Quí ông đã làm rung động biết bao nhiêu khán giả đêm đêm…
Một lúc sau, ông Sáu mới nói, giọng trầm tĩnh:
- Thầy Hai nằm xuống đi, để tôi làm tiếp.
Bây giờ, mấy đầu ngón tay của ổng “đi“ thật chậm nhưng thật sâu. Làm như ổng đang tiếp tục mò mẫm để tìm lại những kỷ niệm vụn vặt mà cơn lốc cách mạng 1975 đã bất thần thổi tung đi mất. Tôi bỗng nghe thương hại ông Sáu vô cùng…
Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây để viết vài hàng về nhân vật Tiết Nhơn Quí. Tôi chỉ nhớ đại khái nhưng chắc cũng đủ để cảm thông sự xúc động của anh Kép tài danh Sáu Thanh, bây giờ là ông già đang ngồi đấm lưng tôi trong im lặng…
Tiết Nhơn Quí nhà nghèo, nhưng có sức mạnh hơn người. Một mình anh ta kéo khúc gỗ mà mười người kéo không nổi ! Và anh ta ăn uống cũng bạo lắm: mỗi bữa cơm, anh ta ăn bằng mười người ăn ! Vì nhà nghèo nên thường xuyên Tiết Nhơn Quí ăn không đủ no, mặc không đủ ấm.
Trong làng, có Dương Mậu Sanh là nhà có tiền và tánh tình rất hào phóng. Biết tình cảnh của Tiết Nhơn Quí, Dương Mậu Sanh bèn đem về nuôi và kết nghĩa anh em. Nhờ được ăn uống đầy đủ nên Tiết Nhơn Quí, ngoài việc giúp đỡ nghĩa huynh trong công tác nặng nhọc, hàng ngày luyện tập võ nghệ với cây thiên phương họa kích đến trình độ mà khi tung lên là “lá rụng cát bay“…
Tiết Nhơn Quí ăn đến… người nghĩa huynh bị sạt nghiệp !
Một hôm, nhân đánh đuổi Cáp Tô Văn và cứu được Lý Thế Vân nên được vị này thâu dụng dưới trướng. Rồi từ đó Tiết Nhơn Quí theo phò Lý Thế Vân đánh đông đánh tây bao nhiêu năm mới dựng nên cơ đồ cho ông này lên làm vua. Lúc đó Tiết Nhơn Quí đã trở thành một vị nguyên soái lừng danh thiên hạ.
Thời gian sau, nhân chuyến viễn chinh qua làng cũ, Tiết Nhơn Quí cho hạ trại ở đây rồi truyền lịnh tướng tá đi mời Dương Mậu Sanh. Ông này bây giờ nghèo xác xơ, nghe nguyên soái cho vời mình thì không biết làm sao, vì không tiền mua lễ vật để ra mắt nguyên soái. Cuối cùng ông đành làm liều: ông lấy hai cái hũ đổ đầy nước, đóng nút rồi bịt lại bằng mấy lần vải đỏ, xong ông xin một ít rượu rưới lên đầu hũ cho có mùi. Như vậy, người ta sẽ nghĩ là hai hũ rượu, và như vậy khi tiếp vị nghĩa huynh, nguyên soái sẽ không bị mất mặt với những người dưới trướng.
Được thông báo, Tiết Nhơn Quí vội vã bước ra đón người anh kết nghĩa đã nuôi mình trong lúc cơ hàn mà bao nhiêu năm dài bận chuyện quân binh mình không về thăm được. Dương Mậu Sanh đặt hai hũ rượu giả lên bàn, vòng tay cố gắng lắm mới nói được mấy lời:“Thưa nguyên soái, tôi xin có chút lễ mọn để ra mắt nguyên soái… “ Nhìn bộ quần áo trên người Dương Mậu Sanh, Tiết Nhơn Quí hiểu ngay tình cảnh của người anh kết nghĩa. Ông ôm lấy nghĩa huynh, xúc động:“Dương huynh lúc nào cũng tốt với tiểu đệ. Ơn xưa biết bao giờ đệ trả cho xong mà bây giờ còn cho đệ rượu để mừng tái ngộ. Thì đệ xin uống cho huynh vui“. Nói xong, Tiết Nhơn Quí bưng lên một hũ, mở nút uống ực ực mà trào nước mắt. Xong, nói lớn cho mọi người trong trướng đều nghe:“Ngon ! Ngon quá !Rượu của nghĩa huynh ta ngon quá ! Cay quá ! Làm ta chảy nước mắt“. Rồi truyền lịnh:“Rượu của nghĩa huynh ta tặng cho ta, vừa ngon vừa quí. Đứa nào rớ vào là ta chém đầu. Nghe chưa ?“ Rồi tự tay xách hai hũ rượu một cách trịnh trọng đem vào trong cất kỹ.
…….
Ông Sáu im lặng làm lưng tôi một lúc, bỗng nói:
- Hồi đó, lúc nào diễn đến lớp Tiết Nhơn Quí uống rượu giả của Dương Mậu Sanh, tôi cũng xúc động nên khóc thiệt. Khán giả nghĩ rằng tôi khóc giả mà như thiệt nên khen quá chừng. Có nhiều người liệng tiền lên sân khấu cho nữa, thầy Hai à !
- Rồi tại sao anh Sáu không đi hát nữa vậy ?
- Mấy ngày đầu tháng tư 75, ông bầu rã gánh, vì đâu còn hát hò gì nữa. Lúc đó tụi này vẫn “trụ“ ở đình Thanh Nguơn là nơi mà tụi này hát thường xuyên. Đào kép nhạc công bỏ đi tứ tán. Còn lại ở đình có anh Ba thợ đèn, anh Tư Rưa người thủ vai Dương Mậu Sanh và tôi. Tụi này ở chùm nhum với nhau như vậy tới ngày giải phóng.
Ngừng một chút, rồi không đợi tôi hỏi, ông nói tiếp, giống như ổng đang quây lại một cuồn phim :
- Rồi họ đến đuổi tụi tôi ra, lấy đình làm hội trường. Anh Ba và anh Tư đưa vợ con về quê. Còn lại mình tôi không vợ không con nên cũng dễ. Tôi đổ lỳ, “bám trụ“. Cuối cùng họ để tôi ở cái nhà xép phía sau đình nhưng bắt tôi làm gác dan cho họ luôn ! Rồi bởi vì họ không trả lương nên tôi phải đi đấm bóp để sống.
- Bộ bây giờ người ta cũng kêu đấm bóp như hồi xưa, hả anh Sáu ?
- Đâu có ! Người như thầy Hai đây hiếm lắm. Chỉ có cán bộ là thích ba cái vụ này thôi. Bây giờ bọn đó mới có tiền. Tiền… “ chùa” mà thầy Hai ! Tôi nói bao nhiêu là họ đưa bấy nhiêu, không thắc mắc gì hết. Cho nên khách của tôi phần đông là cán bộ…
Tôi bật cười:
- Vậy là anh phục vụ tốt chế độ rồi anh Sáu !
- Đâu có thầy Hai ! Thầy không biết chớ khi tôi làm lưng cho họ tôi đâu có làm theo bài bản như tôi làm cho thầy Hai đây. Tôi dằn vật họ như một con thú. Tôi làm cho đã nư mà. Tôi làm lưng họ mà nghĩ như tôi đang rửa nhục vậy. Cho nên tôi cứ bẻ tay bẻ chân, rồi tôi vặn đầu vặn cổ. Tôi dẵm lên lưng dẵm lên đầu. Càng làm, tôi càng nghe hả dạ. Vậy mà họ khen ngón nghề của tôi có “trình độ cao“ ! Cái thứ dốt mà thầy Hai !
Ngừng một chút rồi tiếp :
- Thầy Hai biết không, nói nghe khùng chớ nhiều khi tôi ao ước được biến thành Tiết Nhơn Quí thiệt, với trùng trùng binh mã trong tay như thuở đi chinh Đông, để tôi quét sạch bọn vô thần này một phát !
Ổng nói mà hai tay ổng vẫn mằn mò đầu gân thớ thịt của hai chân tôi. Theo tuần tự lớp lang thì ổng đang ở phần cuối của cữ đấm. Bỗng ông Sáu thở dài :
- Coi vậy chớ lâu lâu tôi vẫn nhớ sân khấu, nhớ tuồng nhớ tích. Tôi thủ vai Tiết Nhơn Quí gần hai mươi năm mà thầy Hai. Nó thấm trong xương trong máu lận. Dễ gì quên ?
Rồi ổng chép miệng, cay đắng :
- Hồi đó, có bao giờ tôi nghĩ rằng tôi sẽ tuột xuống đi đấm bóp như bây giờ đâu, thầy Hai.
- Đổi đời mà anh Sáu. Đều trời hết chớ bộ !
Tôi nghe ổng khịt mũi rồi lầm bầm:“Hừ !Đổi đời !Đổi đời ! Mẹ bà nó !“ Tôi biết đã đến lúc tôi nên làm thinh để đừng khơi lại một vết thương nào khác nữa…
… Ông Sáu trở lại đấm cho tôi được hai lần. Đến kỳ hẹn sau, ổng không tới. Tôi nghĩ có lẽ ổng bịnh. Tôi đợi thêm một tuần. Cũng không thấy ổng tới. Thắc mắc, tôi đạp xe lại xóm đình Thanh Nguơn hỏi thăm mới biết là ông Sáu đã bị bắt. Người ta nói chánh quyền nghi ổng có ý đồ gì đó bởi vì theo dõi thì “phát hiện“ đêm nào ổng cũng “lê la“ ở nhà các cán bộ !
Trên đường về nhà, tôi miên man nghĩ :“Tiết Nhơn Quí trước sau như một, có ở tù, có bị chúng nó tẩm quất… chắc con người đó không bao giờ thay đổi. Và tôi lại nghĩ : bọn… ’đỉnh cao trí tuệ’ này không tình không nghĩa, hữu thủy vô chung, tiền hậu bất nhứt. . . thì làm gì biết được Tiết Nhơn Quí là ai ?“
Tiểu Tử

