Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Thủ tướng Israel đả kích Iran trước Đai hội đồng LHQ

Image
Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đọc diễn văn tại trụ sở Liên hiệp quốc ở New York, 1/10/13
Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu nói rằng Iran tiếp tục một nỗ lực “rộng lớn và sôi nổi” để sở đắc võ khí hạt nhân và rằng nước ông sẵn sàng đứng một mình trong việc tự vệ chống lại tham vọng hạt nhân của Iran.

Ông Netanyahu đã đưa ra ý kiến vừa kể trong một bài diễn văn hôm thứ Ba trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc khi ông nhấn mạnh tới mối quan tâm của ông về chương trình hạt nhân gây nhiều tranh cãi của Iran.

Nhận định của ông Netanyahu khiến Đại sứ Iran tại Liên Hiệp Quốc bác bỏ và gọi bài diễn văn của Thủ tướng Israel là “có tính chất khích động.”

Nhà lãnh đạo Israel nói rằng cách duy nhất để chặn đứng việc Iran phát triển võ khí hạt nhân một cách hòa bình là phối hợp các biện pháp trừng phạt cứng rắn với một mối đe dọa quân sự đáng tin cậy.

Ông hối thúc cộng đồng quốc tế đừng gỡ bỏ áp lực đối với Iran và tố cáo Tổng thống Hassan Rouhani là dàn dựng một chiến lược thúc đẩy chương trình võ khí hạt nhân của Iran, và gọi ông là một “con sói trong y phục của con cừu.”

Nhà lãnh đạo Israel nói rằng tất cả các Tổng thống Iran đều phục vụ cùng một “chế độ không khoan dung độ lượng” dưới sự điều khiển của nhà lãnh đạo tối cao.

Đã từ lâu, Iran khẳng định rằng chương trình hạt nhân của họ có mục đích hòa bình. Nhưng ông Netanyahu nói rằng những nỗ lực của họ để có được một kho võ khí hạt nhân đã tiếp tục kể từ khi ông Rouhani đắc cử Tổng thống.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Image

Thiên tài đảng ta
Nguyên Anh
(Danlambao) - Nước Việt Nam với chiều dài ven biển được thiên nhiên ưu đãi ngoài những phong cảnh tuyệt đẹp đi vào hồn người còn là một vùng đất đầy nắng gió, một địa điểm lý tưởng để xây dựng các trạm phong điện (điện gió) hoặc điện mặt trời phục vụ nhu cầu..

Thế nhưng điện gió thì lấy... chó gì ăn khi chỉ có mấy cái cánh quạt tuốc bin và gió? Chỉ có làm thủy điện mới có ăn...

Đầu tiên là lập kế hoạch khảo sát các vùng sông, ngòi, ao, suối

Sau đó làm dự án trình các cấp có thẩm quyền không thiếu phần bôi trơn (thông cảm các cái đầu bị rĩ sét hết rồi nên bôi trơn bằng tiền là điều cần thiết!) từ đó các cơ quan bộ ngành mới lập dự án trình cho thủ Ếch, (cửa này hơi khó đấy không chơi tiền Việt) tùy theo mức độ quan hệ hữu cơ cũng như vô cơ chữ ký của ngài sẽ hiện diện trên dự án, từ đó chúng ta có lá bùa để mà bốc hốt.

Đầu tiên là giải tỏa mặt bằng thi công, bất cứ cây gì, gỗ gì trong khu vực từ bằng lăng, giáng hương, gụ, trắc, cẩm lai và những loại khác cứ đốn sạch sau đó cho xe chở về mấy trạm thu mua lâm sản, ai, người nào dám ngăn cản hay lên tiếng, ông móc cái bùa thủ Ếch ra có mà vãi...

Sau đó là giai đoạn thi công, này xi măng mác 400 chú mày làm loại 200 thôi nhá, còn sắt phi 20 cứ làm phi 6 cho anh, sao ý kiến gì? chú sợ cái đập không đúng thiết kế à? Vẽ sự, anh nói cho chú biết nhá, để có dự án này anh phải chung chi biết bao nhiêu cửa đấy, bây giờ phải lấy lại chứ, còn vấn đề nó sập hay không là chuyện khác, lúc đó chúng ta đã biến mất rồi còn đâu, làm đi rách việc...

Và những cái đập thủy điện thiên tài đảng ta ra đời hàng loạt, buồn một cái có cái chạy có cái không, có cái lủng tòe loe chảy nước tồ tồ (Sông Tranh) mà nếu có sản xuất ra điện thì cũng được anh EVN mua với giá rẻ mạt trước khi cho hòa vào lưới điện quốc gia, cũng phải thôi, làm lớn phải làm láo chứ lị...

Nhưng trời quả là không chịu chiều lòng người!

Những cái thủy điện thường nằm ở miền Trung mà đây lại là vùng đất khắc nghiệt với các cơn bão hàng năm!

Chỉ mới cơn bão số 9 số 10 mà nào là tháp phát thanh Đồng Hới gãy đổ (thi công chất lượng lởm) và các con đập thủy điện dù không muốn nước vẫn đầy tràn!

Nhưng nẫu cả ruột khi các con đê trong cơn bão số 10 thi nhau vở toác và các con đập thủy điện cũng không ngoại lệ, chúng nối đuôi nhau tố cáo sự làm ăn tắc trách của các quan từ thủy điện Krêl2 cho đến Sêrêpốk 4A và họ hàng nó vẫn đang còn tiếp diễn những cú giãy chết... (1)

Các quan thất sắc ai cũng tranh thủ vào tâm bão, không phải để có kế hoạch quốc kế dân sinh gì mà cái chính là canh... nước, nếu nó dâng nhiều quá thì phải mở cửa xã để cho nó thoát ra chứ nếu không nó vỡ một cái là ở tù cả nút!

Thế là các cửa xã được mở ra hàng loạt khiến cho người dân vùng hạ lưu sống cùng với lũ, có nơi nước đã dâng lên đến 1m, cá biệt đã có hai mẹ con bị lũ cuốn trôi và hai học sinh bị chết đuối!

Hơn 4000 căn nhà bị cô lập hoàn toàn!
Image
Hồ thủy lợi Vực Mấu ở huyện Quỳnh Lưu sơ vỡ đập nên hối hả xả lũ làm ngập huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai. (Hình: VietnamNet)

Image
Người dân xã Trường Lâm, H.Tĩnh Gia, không kịp trở tay, chỉ chạy lấy người. (Hình: Thanh Niên) (2)

Mà mạng người tại cái xứ thiên đường này có giá trị gì đâu mà quan trọng, làm gì đến nỗi Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và các quan phải đăng đàn xin từ chức chứ? Đã có đảng ta ưu việt bao che, các đ/c cứ việc đeo mặt mo mà phét lác. Nhưng mà này các đ/c nhớ phần bao thư cho cánh phóng viên hậu hĩnh nhá, chi nhiều vào để trám miệng hết, còn nếu tình hình xấu hơn thì về Hà Nội kiếm mấy mụ tiến sỹ giấy để giáo dục dân sống cùng với lũ nhá, các đ/c đừng có lo, vấn đề chỉ là dầy hay mỏng thôi mà, kỳ trước chỉ chi mới có tý mà mụ ấy đã giáo dục dân sống cùng với... động đất đấy, lũ thì nhằm nhò gì!

Chỉ sợ sau cơn bão số 10 thì thằng 11 nó đến các cái đập được xây bằng những bộ óc thiên tài chịu không nổi chắc đành phải... pó tay.com!


Nguyên Anh

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

ĐẤT NƯỚC ĐÃ CÓ BAO GIỜ KHỐN NẠN NHƯ THẾ NÀY KHÔNG?

Nguyễn Thu Trâm
Kính thưa quý vị,

Nóiđến tội ác của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt nam thì chắc chắn là ‘Trúc Nam Sơn không ghi hết tội, biển Đông Hải không rửa sạch mùi tanh hôi’ cho nên trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ nêu lên những cái khốn nạn mà Hồ Chí Minh và thuộc hạ đã mang đến cho đất nước, cho dân tộc Việt nam kể từ khi Hồ Chí Minh thừa lệnh của đệ tam quốc tế, du nhập chủ nghĩa cộng sản về Việt nam đểmang đến cho muôn dân Việt nam vô vàn những nỗi đau thương tang tóc.


Cái khốn nạn đầu tiên của HồChí Minh và cộng sản Việt nam đó là dự phần gây ra nạn đói, khiến cho hai triệuđồng bào bắc Việt chết đói trong tháng ba năm Ất Dậu 1945 bởi chính sách tiêu thổ kháng chiến, rồi không lâu sau đó cũng nhận lệnh từ ngoại bang, mà trực tiếp là từ Stalin và Mao Trạch Động, Hồ Chí Minh và thuộc hạ đã tiến hành cuộc cải cách ruộng đất bằng hình thức đấu tố, với chỉ tiêu mỗi làng xã phải tìm cho bằng được 5% địa chủ trên tổng số 3.500 làng xã của Miền Bắc lúc bấy giờ, gây ra cái chết oan khiên cho 50,000 nông dân bị hành quyết tại chổ, và hơn 250.000 người khác bị chết do bị giam hãm đến chết đói tại những nơi giam giữ khi thi hành án đấu tố vì bị quy là thành phần địa chủ cường hào ở nông thôn, mà điều ô nhục nhất trong lịch sử của đảng cộng sản Việt nam là trường hợp đấu tố và hành hình bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Thanh Long ởHà Nội, là mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh, có con trai một là trungđoàn trưởng một trung đoàn của Quân đội Nhân dân Việt Nam, khi mà chính phủ Hồ Chí Minh đã thừa nhận “má Năm là địa chủ kháng chiến, có công lao to lớn trong việc cứu đói đồng bào và chiến sĩ thoát khỏi nạn chết đói trong năm 1945 và ngay trong Tuần Lễ Vàng, gia đình bà cũng đã hiến 100 lạng vàng cho chính quyền mới thành lập. (triethongky: một nguyên nhơn khác của nạn đói năm Ất Dậu: HCM cho cán bộ vơ vét lúa gạo về Tân Trào, Tuyên Quangđể nuôi quân và chiêu dụ thanh thiếu niên về trên đó gia nhập bộ đội để khỏi chết đói)

Và một số trường hợp đấu tố khác trong cải cách ruộng đất để lại vết nhơ trong lịch sử của cộng sản Việt nam có thể nêu điển hình như: Trường hợp thiếu tướng Vương Thừa Vũ, tư lệnh Đại đoàn 308, nguyên tư lệnh mặt trận Hà Nội năm 1946, chủ tịch Ủy ban quân quản Hà Nội bị các cán bộ cải cách bắt ở ngoại thành Hà Nội vì có người đấu tố ông là “địa chủ, có xuất thân là tư sản, lập trường chính trị không rõ ràng”.


Các cháu nội của cụ Phan Bội Châu, trong đó có một người là Trung đội trưởng, nhà nghèo, 3 sào đất cho 3 mẹ con, nhưng cũng bị quy là địa chủ bị đấu tố và hành quyết tại chổ.


Đặc biệt, cụ Phó bảng Đặng Văn Hướng, Bộ trưởng phụ trách Thanh– Nghệ – Tĩnh của Chính phủ bị đấu tố chết tại quê nhà Diễn Châu.


Theo bài diễn văn luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc tại cuộc họp Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội ngày 30 tháng Mười 1956, cuộc cải cách ruộng đất được thực hiện với phương châm “thà chết 10 người oan còn hơn đểsót một địch”; phương châm này đi ngược lại với quy tắc cơ bản của pháp luật, và của lương tri nhân loại trong trường hợp này là “thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan”.


Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói về tình cảnh oan sai như sau, trong diễn văn đọc trước Mặt Trận Tổ Quốc, ngày 30 tháng 10 năm 1956 tại Hà Nội: “Qua cuộc Cải cách Ruộng đất ta thấy bao nhiêu các chiến sĩ cách mạng thành tích lộng lẫy, có người ngực gắn tới hai huy chương kháng chiến bịkết án là phản động, cường hào gian ác và, sau khi nhận tội, bị tống giam hay bị hành hình” [...] “Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói được chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch, cho ta, đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô danh đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm an ủi cho họ được?”


Vậyđó, mà tại kỳ họp thứ ba của Quốc hội, để phát động chiến dịch, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộngđất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình, chẳng những là làm cho cốnông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ”: Thật là lường láo, tráo trởvà vô liêm sĩ hết chổ nói, Còn sự khốn nạn nào hơn thế nữa không?

Rồi sau hiệp định Geneve, 1954. Cộng sản Bắc Việt lại ngông cuồng xua quân xâm lược miền nam, gây ra cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn thật vô cùng đau thương và ô nhục (triethongky: Người Việt Nam yêu nước là thương Dân. Bọn Cộng Sản yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa. Như vậy Người Việt Nam và bọn Cộng Sản không phải là anh em.Do đó, chiến tranh VN không phải là “chiến tranh huynh đệ tương tàn”.Đó là chiến tranh xâm lăng của bọn Cộng sản và chiến tranh tựvệ của Người Việt Nam). Với thủ đoạn và cuồng vọng chính trị, vào dịp tết nguyên đán cổ truyền Mậu Thân 1968, Hồ Chí Minh và cộng sản Bắc Việt đã phản bội một thỏa hiệp song phương về một cuộc hưu chiến trong 72 giờ để cho đồng bào hai miền Nam-Bắc được vui Xuân đón tết, cộng quân Bắc Việtđã bất ngờ tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt nổ ra vào đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968 (Ngày mồng một Tết Mậu Thân). Từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mau các lực lượng vũ trang cộng sản Bắc Việt bất ngờ tiến công rộng khắp vào 6 thành phố lớn, 44 thị xã, hàng trăm quân lỵ, chiếm một số nơi. Hiệu lệnh mở màn cuộc tổng tấn công là bài thơ chúc Tết của HCM Minh:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta.”


Đểtăng tính bất ngờ, thời điểm cuộc tấn công diễn ra đúng vào giao thừa, thờiđiểm mà quân đội Việt Nam Cộng hòa lơi lỏng phòng bị, nhiều binh sĩ đang nghỉvề quê ăn Tết theo hiệp ước song phương về cuộc hưu chiến đó. Cùng với hàng chục ngàn ngôi nhà ở các đô thị, làng mạc khắp miền Nam bị tàn phá, với hơn 7.000 đồng bào Huế bị cộng quân tàn sát tập thể bằng các hình thức đập đầu, chôn sống, tất nhiên gieo gió ắt phải gặt bão: phía cộng quân Bắc Việt cũng có 113.295 giặc cộng phải đền tội trong chiến dịch này: Còn sự khốn nạn nào hơn thế nữa không?


Vẫn với cuồng vọng chính trị và phản bội những hiệp ước đã ký kết, vào mùa hè 1972, cộng quân Bắc Việt lại xua quân qua vùng phi quân sự Hiền Lương, Trung Lương, Bến Hải thuộc giới tuyến 17, vào ngày 30 tháng 3 năm 1972, đánh chiếm tỉnh Quảng Trị. Quân đội bắc Việt đã dùng đại pháo bắn trực diện vào đoàn người di tản, nghiền nát hơn 30.0000 thường dân vô tội đang di tản trên đoạn đường 9 km từ Thạch Hãn vào Mỹ Chánh, tất nhiên trong chiến dịch này phía cộng quân cũng có hơn 14.000 cán binh Bắc Việt đã phải đền tội: Còn sự khốn nạn nào hơn thế nữa không?


Sau Hiệp định Paris được ký kết ngày 27 tháng 01 năm 1973, với một trong những điều khoản quan trọng của hiệp định là Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27 tháng 1 năm 1973:với tất cảcác đơn vị quân sự ở nguyên vị trí. Mọi tranh chấp về quyền kiểm soát lãnh thổsẽ được giải quyết bởi uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng của Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ bù nhìn “Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam”. Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ vàđồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ ra khỏi Việt Nam Cộng hòa. Các bên không được tăng cường binh lính, nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược hoặc vật liệu chiến tranh vào Nam Việt Nam, trong trường hợp để thay thế thì phải theo nguyên tắc một-đổi-một. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục can thiệp quân sự vào “các vấnđề nội bộ” của Nam Việt Nam.

Ấy vậy, trong khi quân đội Đồng Minh Hoa Kỳ và quân lực Việt Mam Cộng Hòa nghiêm chỉnh chấp hành hiệp định, thì phía cộng quân Bắc Việt lại bội ước, ngang nhiên vi phạm trắng trợn Hiệp định, tăng cường du nhập các loại vũ khí sát thương của Nga cộng và Tàu cộng vào các chiến khu ở Miền nam và liên tục mở các cuộc tấn công vào các đô thị Miền nam, giết hại hàng trăm ngàn đồng bào Miền nam và biến hàng triệu người khác thành nạn nhân của chiến cuộc. Mặc khác, cộng sản Bắc Việt còn huyđộng cả nhiều sư đoàn quân đội Bắc Hàn và quân đội Nhân Dân Giải Phóng Trung Cộng tham giâ vào cuộc chiến tranh xâm lược miền nam, sử dụng cả vũ khí và con người ngoại bang để giết hại đồng bào ruột thịt của mình, đồng thời, cộng sản Bắc Việt cũng cổ xúy cho Hải Quân Trung Cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của tổ quốc, nơi quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang trấn giữ, để đến ngày hôm nay, Trung cộng tiếp tục cưỡng chiếm cả Quần đảo Tường Sa, bắn giết ngư phủ Việt nam khi họ đang khai thác tài nguyên biển ngay trên lãnh hải của mình, và chính quyền cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục im lặng một cách đớn hèn: Còn sự khốn nạn nào hơn thế nữa không? (triethongky: sau hiệp định Paris, chúng còn pháo kích vào rất nhiều nơi,

truờng tiểu học Cai Lậy là 1)


Đầu năm 1975, với vũ khí của Nga Sô và Trung Cộng, cùng với nhân lực của Mao ChủTrạch Đông và Kim Nhật Thành, cộng quân Bắc Việt xua quân xâm lược toàn lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa, xóa tên một quốc gia trên bản đồ thế giới, mang đau thương chết chóc cho hàng triệu người, cùng với việc cưỡng chiếm hoàn toàn Miền Nam, cộng sản Bắc Việt đã nhuộm đỏ cả đất nước Việt Nam, biến dân tộc Việt nam trở thành một dân tộc man di mọi rợ, đưa đất nước Việt nam tụt hậu hàng thế kỷ so với các nước cùng Châu lục trong khu vực. Với chiêu bài gải phóng dân tộc, thống nhấtđất nước, cộng sản Việt Nam đã sát hại hàng triệu người dân Miền Nam trong các cuộc tấn công lấn đất giành dân đó. Nhưng vẫn chưa hết, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cộng sản Việt nam đã bắt đưa đi đày tại các trại tù cải tạo 1.040.000 người bao gồm các sĩ quan hạ sĩ quan và quân cán chính của Quân Lực Việt Việt Nam Cộng Hòa, Chức Sắc các Tôn Giáo, lãnh tụ cácđảng phải chính trị, các dân biểu của Việt Nam Cộng Hòa mà chúng gọi là “ngụy quân ngụy quyền”, trong số đó 95.000 người chết trong các trại tù cải tạo do ốm đau bệnh tật hoặc tra tấn nhục hình, bị xử bắn.Ngoài ra từ năm 1975 cho đến 1987, nhà cầm quyền cộng sản cũng đã tử hình 100.500 người vì các tội “phản động” và “bóc lột nhân dân”vì một số họ là chủ sở hữu của một số nhà máy xí nghiệp, hay một số cơ sở kỹnghệ và thương mại ở Miền Nam.Với chính sách cai trị “chuyên chính” và trả thù một cách dã man đối với thân nhân những người bị quy tội “ngụy quyền bán nước”hay tư sản hút máu mũ của nhân dân” đã khiến hơn 3.000.000 người Việt nam, mà không ít là nhân sĩ trí thức đã vượt ngàn trùng sóng gió của đại dương để đi tìm tự do, và đã có hơn 1.500.000 người đã chết trên biển cả do bị bắn chết vì tội “phản quốc” hoặc vì bão tố hay rơi vào tay hải tặc: Một số liệu tổng quát là từ “Sau Ngày Hòa Bình Lập Lại” nhà cầm quyền cộng sản Việt nam đã trực tiếp và gián tiếp sát hại 1.750.000 người: Còn sự khốn nạn nào hơn thế nào chăng?


Cũng từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Lê Duẫn, Trường Chinh và một số thuộc hạ trong bộ chính trị của cộng sản Việt nam, sau chuyến vào thăm và tiếp nhận chiến lợi phẩm là 16 tấn vàng từ Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam, trở về Hà Nội, Lê Duẫn đã tuyên bố trước Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng, để Hà Nội tiến kịp Sài gòn thì phải mất 30 năm nữa, nhưng để Sài gòn “thoái kịp” Hà Nội thì chỉ cần 3 năm thôi, nên đảng và nhà nước CSVN đã áp dụng biện pháp này thông qua các chiến dịch cải tạo tư sản, đổi tiền, tịch biên nhà cửa của các sĩ quan, binh sĩ của QLVNCH cũng như của các nhà tư sản, hạ phóng tầng lớp trí thức ởcác đô thị Miền Nam xuống các “vùng kinh tế mới” và chi viên cán bộ nòng cốt ở miền bắc XHCN cùng thân nhân của họ vào làm nòng cốt cán bộ và dân cư ở các đô thị Miền nam, và đúng vậy chỉ 3 năm Sau đó, tức là đến năm 1978, cả Miền Nam trở nênđiêu tàn, dân chúng Sài gòn phải ăn khoai sắn, bo bo để tồn tại, đây là những loại “cao lương” của Bác và đảng mà trước năm 1975 đồng bào Miền Nam chỉdùng để nuôi gia súc. Điều đang chú ý trong khoản thời gian này nhiều nhà “tưsản” bị tịch biên nhà cửa, bị đưa đi cải tạo hoặc bị tử hình, trong khi tổng tài sản mà họ sở hữu lúc bấy giờ chỉ bằng (1/1.000.000) một phần triệu giá trịtài sản của các “đồng chí” Tư Sản Đỏ hiện nay như Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Phú Trọng, Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu. Vậy tại sao không gọi các “đồng chí” này là những tên tư sản bán nước hút máu nhân dân: Còn sự khốn nạn nào hơn thế này chăng?


Tưởng cũng cần nhắc lại rằng, trong cuộc chiến tranh xâm lược Miền nam từ 1960 chođến 1975, cộng sản Bắc Việt đã sử dụng các chùa chiền, các cơ sở tôn giáo đểtrú ẩn, chúng cũng đã kích động một số trí thức ngông cuồng và xuẫn động ở miền nam thành lập các khối đối lập, như Tư Tưởng, Đồng Dao, Đối Diện, Đứng Dậy… đểlên tiếng chống lại chính quyền Miền Nam với những tên trí thức ngông cuồng và xuẫn động “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” như Lê Văn Nuôi, Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm, Trương Thìn và một số trí thức ngây thơ chính trị mà hám danh khác như Huỳnh Tấn Phát (triethongky: bố, chú ruột, cô ruột của HTP bị VM của HCM giết năm 1947), Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Hữu Thọ, Dương Quỳnh Hoa, Trương Như Tảng, Tôn Thất Dương Kỵ , Tôn Thất Dương Tiềm, Ngô Kha, Hoàng PhủNgọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Thuận An, Trần Vàng Sao, Lê Gành, Tràn Phá Nhạc, Võ Quê v.v…


Còn một số khác thì khôn hơn, tuy thích Việt Cộng, nhưng không dám đi theo. Chúng vẫn ăn cơm quốc gia, nhưng lại chỉ trích chế độ miền Nam. Đó là bọn mang danh thành phần thứ ba như Trần Ngọc Liễng, Lý Qúy Chung, Nguyễn Hữu Chung, Lý Chánh Trung, Dương Văn Ba, Ngô Công Đức (triethongky: thiếu Hồ Ngọc Nhuận, mụ Ngô Bá Thành, mụ Kiều Mộng Thu, mụ Huỳnh Liên), Cộng sản bắc Việt đã sử dụng những tên “trí thức mù” này để xuống đường đấu tranh chống chính quyền Miền Nam một cách vô cùng cực đoan, thế những sau khi cướp được chính quyền, thì nhà cầm quyền cộng sản Việt nam lại cấm tất cả các hoạt động tôn giáo, cấm tất cả các cuộc xuống đường của những người yêu nước thực sự, muốn nói lên tiếng nói yêu nước thương nòi của mình trước hiểm họa ngoại xâm, nhiều chức sắc của các tôn giáo vẫn tiếp tục bị bắt bớ, bị quản chế, bị giam cầm chỉ vì họ được gọi vào chức vụ và có đầy ân tứ để chấn hưng và phát triển đạo pháp của họ, như Đại Lão Hòa Thương Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Thích Mạnh Thác, Thích Tuệ Sỹ, Thích Không Tánh… như các Linh Mục Trần Đình Thủ, Nguyễn Văn Vàng, Nguyễn Văn Luân, Nguyễn Văn Lý, Ngô Quang Kiệt…(triethongky:Đức Giám Mục Nguyễn Kim Điền chết vì bị chúng đầu độc)


Nhiều nhân sĩ trí thức, sinh viên học sinh, và thanh niên yêu nước vẫn tiếp tục bịtheo dõi, bị sách nhiễu, bị bắt bớ giam cầm, như Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải, Kỹ Sư Đỗ Nam Hải, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Luật Sư Nguyễn Bắc Truyển, Bác SĩPhạm Hồng Sơn, Luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Trần Luật, Lê Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ, Bùi Thị Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiêng, Nhạc Sĩ Việt Khang Võ Minh Trí. Một số nhà Báo tự Do vì lòng yêu nước mà tiếp tục bị sách nhiễu bịtheo dõi và bị đe dọa đến tính mạng, bằng những vụ tại nạn giao thông do cơquan an ninh dàn dựng như Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, Người Buôn Gió Bùi Thanh Hiếu, Nguyễn Khắc Toàn, Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc NhưQuỳnh, Đỗ Thị Minh Hạnh, Ta Phong Tần và đặc biệt là những sĩ phu như Lê CôngĐịnh, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung và còn nhiều nhiều nữa… Thậm chí một số những người yêu nước này có thể đã bị thủ tiêu ngay trong nhà biệt giam như Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải chỉ vì anh ta dám lên tiếng chống lại sự xâm lăng lãnh thổ, lãnh hải của nhà cầm quyền Tàu Cộng. Chuyện thật như đùa ở đất nước Việt nam cộng sản nàyấy là yêu nước là có tội, thậm chí là một trọng tội:Còn sự khốn nạn nào hơn thế này nữa không?


Kính thưa quý vị,


Tất nhiên vẫn còn 1001 cái khốn nạn khác nữa trên đất nước Việt nam cộng sản này mà trong khuôn khổ của một bài tâm bút, chúng tôi không thể nào nêu lên đây một cách đầy đủ và trọn vẹn được. Tâm nguyện của chúng tôi là xin trình bày lại một phần nhỏ những đau thương của người dân Việt nam do Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam mang lại, với lòng mong muốn là người dân Việt Nam dù trong hay ngoài nước, dù là thế hệ hôm nay hay mai sau, sẽ không bao giờ quên được tội ác chống lại loài người cũng như tội ác diệt chủng của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt nam.

Cuối cùng, chúng tôi xin được nêu lên một tự vấn mà chính chúng tôi chưa tìm được lời giải đáp cho mình ấy là: ĐẤT NƯỚC CÓ BAO GIỜ KHỐN NẠN NHƯ THẾ NÀY KHÔNG?

Những ngày trước tháng Tư đen năm 2012

Nguyễn Thu Trâm

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Tại sao lại coi truyền thông là kẻ thù?
Kính Hòa

(RFA) - Khi có sự hình thành nhóm chống đối tuyên bố 258 và ủng hộ đảng cộng sản, chúng tôi đã tìm cách tiếp cận những người này. Một bạn trẻ được đề nghị phỏng vấn để ghi lại quan điểm của nhóm này về điều luật 258, một sự nghi kỵ bao trùm cuộc nói chuyện khi bạn trẻ ấy liên tục đưa ra cho phóng viên những câu hỏi thay vì trả lời về quan điểm của mình: “Bạn có thể làm cách nào chứng minh cho tôi biết bạn là phóng viên? Có gì đảm bảo cho tôi là cuộc phỏng vấn được chuyển tải trung thực mà không thêm bớt câu chữ, không thêm bớt từ ngữ? Đài của bạn có kiểm tra bài viết trước khi đăng hay không? Có phải là các bạn ủng hộ tuyên bố 258 mà dìm cái bài phản bác của chúng tôi? Đài của bạn chỉ đăng những tin hót tin nóng phải không? Thì có gì khác gì báo lá cải đâu?...”

Địch và ta

Quan niệm về truyền thông của giới chức Việt Nam và nhiều người Việt Nam dưới ảnh hưởng của khái niệm địch và ta, làm cho không những truyền thông trong nước không phát triển mà còn mất đi cơ hội tận dụng những diễn đàn truyền thông bên ngoài.

Cuộc tranh luận về điều luật 258 bộ luật hình sự Việt Nam có thêm một diễn biến mới là nhóm chống điều luật này kêu gọi những đối thủ của họ công khai tranh luận trên diễn đàn truyền thông của nhà nứơc Việt Nam. Blogger Phạm Thanh Nghiên, một nhà bất đồng chính kiến tại Hải Phòng, và cũng là một trong những người tham gia ký tuyên bố chống điều luật 258 nói với đài Á châu tự do:

“Kể từ khi có Tuyên bố 258, sau một thời gian im lặng thì có một nhóm tự xưng là cộng đồng bloggers Việt Nam đã phản bác lại Tuyên bố 258.Và cũng có những cuộc tranh luận trên mạng. Tôi có đưa ra yêu cầu cùng nhau công khai thảo luận Tuyên bố 258 trên chính truyền thông Việt Nam, cụ thể là Đài Truyền hình VN, tôi nhấn mạnh chính Đài Truyền hình Việt Nam, cơ quan truyền thông Nhà nước chứ không phải một đài quốc tế nào vì như thế họ hay chụp mũ chúng tôi là đài phản động.”

Tuy nhiên bà Phạm Thanh Nghiên cũng không hy vọng gì sẽ có một cuộc tranh luận như vậy diễn ra công khai trên truyền thông do đảng cộng sản kiểm soát.

Tranh luận hình như chưa bao giờ được đưa ra công khai trên báo chí nhà nước Việt Nam. Trên mặt báo thì ngoài các sự kiện xảy ra đó đây thì lúc nào cũng tràn ngập một không khí đồng thuận cao với chủ trương của đảng. Và không phải sự kiện nào cũng được đưa nếu nó không có lợi cho sự định hướng của đảng cộng sản.

Trong những năm qua nhiều nhà báo đã bị cầm tù hay mất việc. Nhiều lý do đã được đưa ra cho những sự bắt bớ hay đuổi việc ấy, nhưng nhiều người hồ nghi lý do chính là những nhà báo đó đã không theo đúng những gì đảng mong muốn. Nhà báo Hùynh Ngọc Chênh, người được giải Netizen năm 2013, nói:

“Viết những chuyện chính trị thì lạng quạng là bị kỷ luật, thôi thì viết tầm bậy tầm bạ chuyện dân sinh thì không đụng chạm tới ai.”

Không trả lời phỏng vấn từ nước ngoài?

Có một điều gì đó giống như một sự sợ hãi bao trùm lên truyền thông nhà nước. Những sự kiện quan trọng như kiến nghị sửa đổi Hiến Pháp của 72 nhân sĩ trí thức mà không có một dòng tin. Chỉ sau đó khá lâu là một sự đả kích nhóm 72 ấy với cùng một giọng đồng thuận cao trên những tờ báo nổi tiếng gần gủi với đảng nhất như Quân đội nhân dân, Sài Gòn giải phóng v.v... Nhiều nhà báo cũng từ chối trả lời phỏng vấn từ nước ngoài. Một Tổng biên tập trả lời chúng tôi khi chúng tôi tìm hiểu chuyện kiểm duyệt một quyển sách, rằng anh ta là đảng viên cho nên không được phép trả lời đài nước ngoài.
Image
Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, ông Ngô Đức Thắng (phải) trả lời phỏng vấn Biên tập viên Gia Minh của RFA
hôm 25 tháng 9 tại Bangkok, Thái Lan. RFA PHOTO.
Có lẽ lý do quan trọng của sự từ chối này là quan niệm về đài địch phản động như bà Phạm Thanh Nghiên nêu bên trên. Trong ngành tuyên truyền của đảng cộng sản, họ thường phân biệt những khái niệm địch và ta rất rõ. Và như thế, ngành truyền thông cũng phải được xếp hạng địch và ta, chứ không đơn thuần là những người, những tổ chức đưa thông tin. Và những cơ quan truyền thông không do đảng kiểm soát thường đựoc xếp vào lọai phe đối nghịch với đảng, còn tệ hơn nữa thì bị xếp vào phe phản động.

Khi có sự hình thành nhóm chống đối tuyên bố 258 và ủng hộ đảng cộng sản, chúng tôi đã tìm cách tiếp cận những người này. Một bạn trẻ được đề nghị phỏng vấn để ghi lại quan điểm của nhóm này về điều luật 258, một sự nghi kỵ bao trùm cuộc nói chuyện khi bạn trẻ ấy liên tục đưa ra cho phóng viên những câu hỏi thay vì trả lời về quan điểm của mình:

“Bạn có thể làm cách nào chứng minh cho tôi biết bạn là phóng viên?

Có gì đảm bảo cho tôi là cuộc phỏng vấn được chuyển tải trung thực mà không thêm bớt câu chữ, không thêm bớt từ ngữ?

Đài của bạn có kiểm tra bài viết trước khi đăng hay không?

Có phải là các bạn ủng hộ tuyên bố 258 mà dìm cái bài phản bác của chúng tôi?

Đài của bạn chỉ đăng những tin hót tin nóng phải không? Thì có gì khác gì báo lá cải đâu?”

Nỗi lo sợ sợ bị cắt xén phát biểu của mình có lẽ xuất phát từ sự không bao giờ công khai tranh luận trên báo chí Việt Nam, trong không khí truyền thông của xã hội Việt Nam. Và hơn nữa là một sự nghi ngại về đài địch về bất cứ cơ quan truyền thông nào không phải của đảng nắm giữ.

Gần kết thúc buổi nói chuyện với chúng tôi, bạn trẻ ấy cũng nói rằng:

“Bây giờ tôi cũng hiểu ra một số vấn đề.”

Tuy thế sau cuộc nói chuyện, trở về với những người giống với mình, bạn trẻ đó lại cho rằng bạn đã thắng cuộc nói chuyện ấy, đã cướp được diễn đàn, đã quay người phóng viên tội nghiệp kia thay vì trả lời phỏng vấn...

Quan niệm rằng giới truyền thông không do đảng kiểm soát là kẻ thù chính là sự phân biệt địch ta trong sự tuyên truyền của đảng cộng sản bấy lâu nay. Cho nên thay vì để nêu quan điểm trên các diễn đàn truyền thông lớn trên thế giới, giới chức Việt Nam thường tránh né như người đảng viên tổng biên tập được nêu trên kia, hoặc xem truyền thông là một mục tiêu để tấn công, và phải chiến thắng nó, như bạn trẻ chống lại nhóm 258 kia.

Trong cấu trúc của một xã hội hiện đại, truyền thông được coi như đệ tứ quyền, bên cạnh Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp. Nó làm minh bạch xã hội, giúp các nhóm công dân khác nhau trao đổi ý kiến và quan điểm. Vậy thì tại sao lại coi truyền thông là kẻ thù?

Trong một diễn biến gần đây, ông Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan đã vượt qua định kiến kẻ thù ấy, khi ông dành cho Biên tập viên Gia Minh của đài Á châu Tự do một buổi phỏng vấn về quan hệ Việt Nam Thái Lan. Một việc làm hết sức đơn giản để cho mọi người biết về thiện ý của người Việt Nam là như thế nào.

Kính Hòa

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Công lý xảo quyệt, Hà Nội buộc tội Lê Quốc Quân trốn thuế

Võ Long Triều

Tòa án Hà Nội đình xử Luật Sư Lê Quốc Quân ngày 9 tháng 7, 2013 vì lý do rất khôi hài là Thẩm Phán Lê Thị Hợp bị cảm “đột xuất.”

Chẳng lẽ cả thành phố Hà Nội hay cả xứ chỉ có một thẩm phán duy nhứt? Hay là chỉ vì thời gian đó có quá nhiều sự chỉ trích của nghị sĩ, bộ trưởng các quốc gia như Mỹ, Canada, Úc, Pháp và các tổ chức như Phóng Viên Không Biên Giới, Ân Xá Quốc Tế, Human Rights Watch đã gởi thơ hoặc tuyên bố công khai yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho ông Quân, do đó bản án nặng nề định sẵn cần phải duyệt lại? Chờ mãi đến ngày 2 tháng 10, 2013 tòa án thành phố Hà Nội mới tuyên phạt LS Lê Quốc Quân 30 tháng tù giam và 1.2 tỷ đồng vì tội trốn thuế.

Ðược biết LS Quân sinh năm 1971 tại Nghệ An, bị bắt ngày 27 tháng 12, 2012. Ông là giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Giải Pháp Việt Nam, ông còn cố vấn cho Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Phát Triển Liên Hiệp Quốc UNDP tại Việt Nam. Là một tín đồ Công Giáo, ông thường lên tiếng bảo vệ quyền tự do tôn giáo, đòi thể chế đa nguyên, và biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng.

Ông tham gia một khóa học của tổ chức “Quốc Gia Hỗ Trợ Dân Chủ” (National Endowment for Democracy) tại Hoa Kỳ.

Khi trở về xứ ông bị bắt ngày 8 tháng 3, 2007. Trước sự bắt giam vô cớ này, Thượng Nghị Sĩ John McCain, và cựu Ngoại Trưởng Madeline Albright viết thơ phản đối Hà Nội. Cơ quan Ân Xá Quốc Tế gọi ông là “tù nhân lương tâm.” Nhà cầm quyền Hà Nội buộc tội ông “có hành động lật đổ chính quyền nhân dân,” nhưng không có bằng cớ nên không thể đưa ông ra tòa. Ba tháng sau Hà Nội đành phải trả tự do cho ông.

Ngày 29 tháng 1, 2009 ông Quân tham dự cuộc diễn hành Công Giáo đòi chính quyền trả lại khu đất thuộc quyền sở hữu của nhà thờ.

Ngày 10 tháng 4, 2011 ông bị bắt cùng với Phạm Hồng Sơn vì lý do “phá hoại trật tự công cộng” khi hai ông đến quan sát vụ án xử Cù Huy Hà Vũ. Chính phủ Mỹ và các tổ chức nhân quyền can thiệp, hai ông được thả về.

Tháng 7, 2012 báo chí nhà nước đe dọa ông vì những hoạt động của ông trong giáo phận Vinh. Công an lục xét văn phòng, định mang ông về đồn nhưng giáo dân ngăn chận.

Tháng 8, 2012 ông bị hành hung trên đường về nhà ở Hà Nội.

LS Quân là một trong số 50 người, được tuần báo Le Nouvel Observateur vinh danh vì đã góp phần làm cho bộ mặt nhân loại thay đổi trong tương lai, 50 người này là nhà chính trị, kỹ nghệ, khoa học, và từng đấu tranh ở các quốc gia bị chế độ độc tài cai trị hà khắc.

Mặc dù lần này Hà Nội không nêu lý do chính trị trong việc bắt và xử ông Quân, nhưng thực tế nhiều chính phủ các quốc gia Tây phương và các tổ chức nhân quyền quốc tế cho rằng vụ án Lê Quốc Quân liên quan trực tiếp đến vấn đề chính trị.

Những bài viết của blogger Lê Quốc Quân trên Internet luôn luôn kêu gọi thực thi nhân quyền, đòi tự do tôn giáo, chủ trương đa nguyên đa đảng. Ông cũng tiên đoán trước sự tù tội khi viết rằng: “Tôi biết những điều tôi viết sau đây có thể bị đảng Cộng Sản vứt vào sọt rác hoặc thậm chí tệ hơn là có thể bị tống giam, nhưng lòng tin vào con người, sự hệ trọng của vấn đề cùng ý thức công dân thúc bách tôi.” Ông viết thêm: “Tôi muốn làm con ruồi trâu đốt vào mông xã hội để nó nhảy lên phía trước.”

Những lời tâm sự nằm lòng của ông là: “Con vẫn nhớ, trong nhà thờ, đã hứa ‘sẽ đấu trong một cuộc đấu cao đẹp, chạy hết quãng đường và giữ vững niềm tin.’ Con vẫn nhớ, họp gia đình, mẹ nói: ‘Vững tâm đi, khổ đau các con chịu hôm nay vẫn thua xa ông bà mình hồi cải cách nhiều.’ Mẹ là niềm an ủi và động viên con giữ vững lý tưởng mình, con cám ơn mẹ.”

Lá thư ông viết trong tù chuyển được ra ngoài phổ biến trên các trang mạng ngày 6 tháng 7, 2013, ông khẳng định một lần nữa, không phạm tội trốn thuế và việc bắt giam ông là vì mục đích chính trị. Ông cam kết sống đúng sự thật và sự tin yêu của đồng bào, “Tôi nguyện sẽ bảo vệ sự lương thiện và lý tưởng của mình trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt trong phiên tòa công khai sắp tới.” Do đó sau khi lãnh án, LS Quân tuyên bố trước tòa: “Tôi là nạn nhân của những hành động chính trị.

Ðã từ lâu tôi là người tố cáo và chiến đấu với nạn tham nhũng, bộ máy quan liêu,và sự trì trệ đang làm nguy hại đất nước nầy. Nói thật tôi bị tuyên án chỉ vì tôi yêu đất nước tôi” (theo lời tường thuật của phóng viên Chris Brummitt của thông tấn Associated Press (AP) có mặt tại tòa).

Chủ Tịch Trương Tấn Sang đã tuyên bố tại Ðan Mạch: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” Thế nhưng ông Quân bị cáo buộc trốn thuế 600 triệu đồng lãnh án 30 tháng tù giam phạt 1.2 tỷ đồng, còn trường hợp của Ðàm Vĩnh Hưng trốn 700 triệu đồng thuế chỉ bị truy thu mà không phải ngồi tù. Nhiều trường hợp các đại gia khác trốn thuế đến 11 tỷ đồng chỉ bị “tù treo” và truy thu. Ðiều đó cho thấy công lý của Cộng Sản Hà Nội là tráo trở, xảo quyệt, một thứ pháp luật tùy cơ đối ứng, nôm na là luật rừng.

Trả lời phỏng vấn đài BBC LS Lê Trần Luật nói bản cáo trạng đối với ông Lê Quốc Quân không đủ cơ sở để khởi tố cũng như buộc tội vì có nhiều lỗ hổng.

Liền sau khi bản án được đưa ra, Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ lập tức thông cáo, “Bày tỏ quan ngại sâu sắc. Việc kết án không phù hợp với quyền tự do ngôn luận và nghĩa vụ của Việt Nam theo Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự Và Chính Trị.”

Ông Brad Adams, giám đốc khu vực Á Châu của Human Rights Watch, nói Lê Quốc Quân bị kết án vì ông là một nhà chỉ trích có tiếng và có uy tín.

Bà Nani Jansen của nhóm Media Legal Defence Initiative tuyên bố với BBC “kết quả phiên tòa là kết cục rất đáng thất vọng.”

Chung quy có rất nhiều sự phê phán và can thiệp yêu cầu thả ngay Lê Quốc Quân, nhưng không tiện trích dẫn hết nơi đây.
Ðối với Cộng Sản Hà Nội, tổ chức quốc tế hay nhân vật chính trị can thiệp càng nhiều thì tội của đương sự càng nặng vì họ là những “thế lực thù địch.”

Thế giới Tây phương không hiểu rằng đối với cộng sản những người ăn học ở nước ngoài, không phải ở quốc gia cộng sản, đều đáng bị nghi ngờ là phản động hay là tình báo. Những ai được các nhân vật chính trị Tây phương liên lạc, can thiệp đều thuộc về “thế lực thù địch.” Cho nên những lời can thiệp suông chỉ làm hại thêm cho các nạn nhân của cộng sản.
Trừ khi những sự can thiệp đó quyết liệt, có tính cách trao đổi quyền lợi vật chất, ngoại giao, chính trị, quân sự nào đó thì đương nhiên sẽ có kết quả và mau lẹ.

Người ta còn nhớ Blogger Ðiếu Cày tức nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải cũng bị bắt về tội danh “trốn thuế” và lãnh án 30 tháng tù, nhưng sau khi mãn án, nhà cầm quyền không trả tự do, biến tội danh thành “tuyên truyền chống phá nhà nước” lãnh thêm bản án 12 năm tù. Người ta có thể tiên đoán rồi đây LS Lê Quốc Quân cũng sẽ bị chuyển án thành “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” để lãnh thêm bản án còn nặng hơn Ðiếu Cày nữa.

Ðiếu Cày được Tổng Thống Barack Obama nhắc nhân Ngày Nhà Báo, còn Lê Quốc Quân được cựu ứng cử viên tổng thống, Thượng Nghị Sĩ John McCain, ngoại trưởng Úc, cựu ngoại trưởng Mỹ và nhứt là hàng ngàn giáo dân xuống đường cầm lá thiên tuế, tượng trưng cho sự hoan nghênh, ngưỡng mộ, quý mến, như ngày lễ Lá của Công Giáo. Ngoài ra còn hàng ngàn giáo dân, tu sĩ, xuống đường ủng hộ, cả trăm biểu ngữ xác quyết Lê Quốc Quân vô tội, dân chúng mặc áo thun mang hình Lê Quốc Quân. Phóng viên báo chí hỏi, bà Thúy Nga, người Hà Nam, trả lời: “Từ trước tới nay tôi đã đi tham dự nhiều phiên tòa xử những người yêu nước, nhưng tôi chưa từng thấy phiên tòa nào có hào khí của người dân tham dự mãnh liệt như phiên tòa này.” Ông Lê Quang Thiều thuộc giáo xứ Vĩnh Hòa thố lộ tâm tư: “Tôi muốn đi tham dự phiên tòa vì chú Quân là một con người tuyệt vời, yêu nước.” Bà Nguyễn Thị Lý thuộc giáo xứ Ngọc Long bồi thêm: “Chú mới thật là một anh hùng yêu nước.”

Sự ủng hộ của quần chúng nhiệt tình mãnh liệt. So với sự mất lòng dân, sự oán hận của nông dân bị cướp đất, đối với đảng viên cộng sản cầm quyền, thì làm sao Hà Nội có thể chấp nhận để cho LS Quân trở thành tự do!

Một người như LS Lê Quốc Quân có đủ tư cách và khả năng lãnh đạo một cuộc cách mạng như ở Tunisia, Ai Cập, Miến Ðiện. Tiếc thay, Cộng Sản Hà Nội quá lo ngại điều đó nên phải bắt giam Lê Quốc Quân càng sớm, càng lâu, càng yên lòng. Dù bị giam hãm trong ngục tù, nhưng uy tín và lòng tin của quần chúng đối với LS Quân cao độ thì ông vẫn có thể hô hào, kêu gọi được quần chúng thông qua bạn bè và người thân khi cần phải biểu tình, đình công bãi thị, bất tuân pháp luật, cô lập người Trung Quốc đang xâm nhập xã hội Việt Nam, v.v... như Nelson Mandela, tù nhân lâu dài nhứt, đã từng làm.

Phải tin rằng dân tộc Việt Nam không thiếu những vị anh hùng, mỗi khi đất nước đòi hỏi, thế nào cũng phải có người xuất hiện. Một chế độ gian ác, thối nát, tàn bạo đến đâu như Liên Xô, Ðức Quốc Xã, Libya, rồi cũng phải sụp đổ khi thời cơ, vận nước đã đến.

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Vài suy nghĩ về ông Giáp

Huỳnh Thục Vy

Vị tướng được những người cộng sản xem là “khai quốc công thần” cuối cùng đã trở thành người thiên cổ vào ngày 4 tháng 10 vừa qua. Vậy là, biểu tượng sống về công lao “giành độc lập” và lý tưởng “cách mạng”, tượng đài hữu danh vô thực về một thời “hào hùng” của những người cộng sản đã trở về với cát bụi.

Ông ta đã thực sự rời bỏ cuộc chơi, đã từ giã cõi nhân sinh điên đảo này. Không ai biết ông sẽ đi về đâu nhưng ông đã để lại di sản đầy đau đớn và nhiễu nhương, để lại cho tất cả chúng ta một Việt Nam với tiếng ai oán khắp nơi. Thôi thì cũng cầu chúc ông ra đi trong thanh thản, dù ông đã lặng thinh một cách vô cảm trước biết bao người đã ra đi một cách bi thương khác.

Là người đã có công khai sinh ra một Việt Nam cộng sản, thiết nghĩ không cần bàn đến chuyện ông có lý tưởng hay không lý tưởng và sự cần thiết hay không của những cuộc chiến tranh vô nghĩa mà ông đã đóng vai trò lãnh đạo quân sự tối cao, ông phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về sự im lặng của mình trước những trang lịch sử bất công, gian trá và đau thương mà người Việt Nam đã trải qua.

Không ít người ca ngợi ông là một trí thức lớn, là nhà văn hoá. Tôi không muốn bàn những chuyện ấy nữa vì đã có nhiều tài liệu lịch sử có sẵn cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về ông Giáp. Chỉ xin hỏi: Ông đã làm gì khi luật sư Nguyễn Mạnh Tường kêu gọi dân chủ pháp trị để rồi sau đó bị thất sủng? Nếu là một trí thức lớn thực sự, lẽ ra ông phải biết dân chủ pháp trị cần cho một quốc gia như thế nào trước cả cụ Tường bởi thực tế cho thấy chủ nghĩa cộng sản đã tàn phá quốc gia như thế nào? Nếu không nhận ra khiếm khuyết của một chế độ độc tài cộng sản, ông có xứng đáng với danh xưng một đại trí thức? Và cứ cho là ông không biết gì về độc tài- dân chủ nhưng khi luật sư Tường lên tiếng về xã hội dân chủ, ông không có động tĩnh gì, đó có phải là biểu hiện của một nhân cách lớn?

Lại nữa, ông đã ở đâu, đã làm gì khi những Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hữu Loan bị đấu tố, bị đọa đày? Ông có chút tủi nhục, cảm thương hay phẫn nộ nào không khi hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi trong tức tưởi khi Việt Nam Cộng Hoà bị cưỡng chiếm để rồi hàng trăm nghìn người trong số họ đã vùi thân ngoài biển cả? Ông nghĩ gì khi tướng Trần Độ đã dũng cảm lên tiếng rồi bị đàn áp? Ông đã làm gì khi cụ Hoàng Minh Chính đã tỏ thái độ đối kháng để rồi bị bỏ tù? Ông đã đứng bên lề bao biến cố đau thương của đất nước. Đó có phải là vị trí xứng đáng của một trí thức hay không?

Dù họ là ai, một người vừa mới qua đời nên được cầu nguyện cho sự ra đi bình an. Tôi đã rất phân vân khi viết những dòng này. Có nên viết những lời cay đắng cho một người chết không? Có nên kể tội họ khi họ đã mãi mãi không còn khả năng biện bạch? Nhưng quả tình, tôi không viết những dòng này nhắm vào tướng Giáp, tôi viết cho những người còn sống, cho những người còn bị ám thị bởi cái ảo ảnh hào quang mà những người cộng sản đã tạo ra. Đa số thanh niên Việt Nam hiện nay sống trong sự lừa gạt đó mà không biết, và cũng không có ý chí vượt thoát ra.

Ông Giáp, vị “đại tướng quân” trong mắt nhiều thanh niên Việt Nam, là người góp công to lớn để tạo dựng và bảo vệ chế độ độc tài tàn bạo này. Ông đã sống quá xa cái tuổi “cổ lai hy” và ra đi trong tình thương yêu của gia tộc, trong sự ngưỡng vọng của nhiều người. Nhưng ông có biết đâu, một người có công gây dựng nên một tập đoàn tội ác như ông lại ra đi thanh thản và vinh quang, trong khi chính những nạn nhân vô tội của chế độ thì lại hứng chịu thảm trạng bi đát của gia đình để rồi phải ra đi trong uất ức, tủi nhục.

Đó chính là một Đặng Ngọc Viết hiền lành, siêng năng bị chính quyền cướp đất, phẫn uất cùng cực đến mức phải ra tay giết chết một quan chức tỉnh Thái Bình rồi tự sát bằng một viên đạn vào tim. Đó là một Thomas Nguyễn Tự Thành-một thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương về Việt Nam từ Thái Lan, bị sách nhiễu và phong toả kinh tế liên tục bởi chính quyền cộng sản đến nỗi uất ức quá phải tự vẫn bằng cách thắt cổ vào ngày 3 tháng 10, trước ngày ông Giáp chết một ngày. Tại sao ông lại được vinh danh khi chính ông là một phần nguyên nhân của những cái chết đau đớn ấy?

Tất nhiên, ông Giáp không còn là lãnh đạo đất nước từ lâu, các chính sách, hành động của chính quyền này ông không tham gia. Nhưng chính cái quá khứ “oai hùng” và cái hiện tại vô trách nhiệm của ông tạo nên tính chính đáng cho chế độ tàn ác này. Chế độ này vẫn lấy ông ra làm cái bệ đỡ để biện minh cho những hành động bán nước hại dân của họ. Ông là cái phao cứu sinh khi những người lãnh đạo cộng sản đối diện với sự căm phẫn của người dân vì sự tham quyền cố vị của họ. Vậy mà, không hiểu vì tuổi già làm tiêu hao ý chí, vì sự sợ hãi làm xói mòn lương tâm, hay vì danh lợi của con cháu làm tiêu tan tinh thần trách nhiệm mà cho đến những năm cuối đời ông Giáp vẫn lặng thinh trước hiện tình đất nước vật vã dưới chế độ độc tài, vẫn để cho nhà cầm quyền tiếp tục lợi dụng ông cho chế độ bất nhân của họ. (Chỉ có một lần ông lên tiếng yếu ớt cho vấn đề Boxite Tây nguyên)

Giá như ông lên tiếng cổ vũ cho Nhân quyền Tự do thì tiếng nói của ông đã tác động mạnh mẽ đến lương tâm tuổi trẻ và có thể xoay chuyển ý thức của biết bao người dân đang bị ám thị. Một ông Giáp đại tướng quân chắc chắn có khả năng thức tỉnh quần chúng, làm rúng động đảng cộng sản hơn hẳn một Lê Công Định, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Ngọc Tuấn, Phạm Thanh Nghiên hay Phương Uyên chứ? Thế nhưng, ông đã chọn cách sống trong sự co rút và chết trong cờ xí, kèn trống của chế độ cộng sản, hơn là cách sống trong sự phản tỉnh và chết như một chiến sĩ dân chủ. Đáng lẽ tuổi già phải là giới hạn cuối cùng của sự sợ hãi nhưng ông đã để nó đi cùng ông sang tận thế giới bên kia.

Có người nói: chúng ta không ở vị trí của ông nên không thể hiểu hết những gì ông phải đối mặt. Đúng. Chúng ta không hiểu hoàn cảnh và vị trí của ông. Nhưng chúng ta có thể hiểu được hoàn cảnh của những bạn sinh viên vì biểu tình yêu nước mà bị nhà trường đuổi học và mất cả tương lai không? Chúng ta có từng đặt mình vào vị trí Phương Uyên, cô bé sinh viên phải chịu biết bao nhiêu sợ hãi, tổn thương tinh thần khi bị bắt và giam giữ chỉ vì cô bé biểu thị lòng yêu nước? Hay như hoàn cảnh gia đình tôi, ba tôi ở tù khi chị em chúng tôi còn thơ dại và mồ côi mẹ; mười mấy năm trời gia đình tôi sống trong cảnh bần hàn, thất học và sự khủng bố của chính quyền. Hoàn cảnh của ông Giáp có ngặt nghèo hơn hoàn cảnh của những người kể trên hay không? Hay để dễ hình dung hơn, tình huống của ông có khó khăn hơn tình huống của tướng Trần Độ, của cụ Hoàng Minh Chính hay không? Tôi cho rằng, vấn đề là ở lương tâm và bản lĩnh!

Ông đã ra đi để lại tất cả, một chế độ độc tài dai dẳng, những mảnh đời oan khuất, những cuộc đàn áp tiếp diễn, những cái chết oan khiên... Nhưng những dòng này không phải để kể tội ông. Quả thật, thế giới này tồn tại trong trạng thái tương đối của mọi giá trị. Nhưng vẫn có cách để phân biệt những trí tuệ và nhân cách lớn CHÂN THẬT với sự tô vẽ KHÔNG THẬT. Cầu cho ông ra đi được bình an và xin gởi tới ông sự cảm thương cho một kiếp người đa đoan trong thế giới vô minh này nhưng sự tôn kính thì tôi xin giữ lại cho những con người sống với lương tâm, trách nhiệm và ý chí và chết với nỗ lực lên tiếng cho sự thật. Việt Nam còn rất nhiều người để chúng ta thành tâm ca ngợi và kính ngưỡng, nhưng đó không phải là ông.


HTV
Sài Gòn ngày 6 tháng 10 năm 2013

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tướng Giáp, Tướng Về Hưu
Tác giả : Bùi Văn Phú

Hai thập niên qua, câu chuyện chiến tranh Việt Nam không còn là đề tài được truyền thông Mỹ nhắc nhiều đến nữa.

Từ năm 1995, khi hai cựu thù địch nối lại quan hệ thì phát triển thương mại và những quan tâm chung của hai nước được bàn thảo nhiều hơn là quá khứ bom đạn. Cuộc chiến Việt Nam đối với người Mỹ đã lùi vào dĩ vãng.

Cho đến cuối tuần qua. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời thì không thể không nhắc lại cuộc chiến, vì Tướng Giáp đã có được huyền thoại là người đánh bại đế quốc Mỹ năm 1975. Hai mươi năm trước đó tên tuổi ông gắn liền với chiến thắng Điện Biên Phủ, đuổi thực dân Pháp ra khỏi Việt Nam.

Nhắc đến cuộc chiến tranh thì lòng người lại phân chia, giữa người Mỹ với nhau cũng như giữa người Việt với người Việt.

Bài viết của Thượng Nghị sĩ John McCain, cựu tù Hỏa Lò, trên Wall Street Journal cho rằng Tướng Giáp thắng vì không quan tâm đến con số binh lính phải hy sinh đã có hơn 500 ý kiến bênh chống. Bài viết này tóm lược trên VOA tiếng Việt và nhiều bài khác về Tướng Giáp cũng đã nhận được vài trăm ý kiến. Trên BBC và RFA Việt ngữ cũng có hàng trăm góp ý cho những bài viết liên quan đến cuộc đời Tướng Giáp.

Nhưng ở California, thủ phủ của người Việt tị nạn cộng sản thì thật khó tìm ra một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa có lòng kính trọng Tướng Giáp, khi mà qua những thảo luận hay trò chuyện tôi chỉ nghe Điện Biên Phủ là nhờ cố vấn Trung Quốc, không có chuyện xe pháo tuột núi mà dân công đem thân vào chèn, không có chuyện Bắc Việt đánh bại Hoa Kỳ, Việt Cộng thắng vì Mỹ đã quyết định bỏ Việt Nam cho Trung Cộng.

Hơn nữa ở đây đã có tượng đài chiến sĩ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà giữa trung tâm quận Cam. San Jose có Bảo tàng Việt Nam Cộng hòa và Thuyền nhân, có kế hoạch xây đài tưởng niệm những vị chỉ huy quân sự của Việt Nam Cộng hoà đã tuẫn tiết như các tướng tá Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long.

Trước cái chết của Tướng Giáp, truyền thông trong nước viết nhiều về cuộc đời và thành tích của ông. Suốt tuần qua, mỗi ngày đã có nhiều nghìn người đến viếng ông tại tư gia ở Hà Nội. Trang về Đại tướng Võ Nguyên Giáp do gia đình lập trên Facebook trong vài ngày qua đã có hơn 250 nghìn “Like”.

Trong khi đó báo chí Việt ngữ hải ngoại chỉ loan tin ông qua đời và có rất ít những bài viết hay bình luận về cuộc đời ông.

Những cái chết của lãnh đạo Việt Nam, của cả hai miền Nam và Bắc, không đem đến cho tôi nhiều xúc động. Có chăng là suy tư và hồi tưởng về một thời đã sống qua, nhìn vào hiện tại và nghĩ về tương lai nước Việt với trăn trở.

Khi ông Ngô Đình Diệm bị đảo chánh, rồi bị giết chết ngay, lúc đó tôi mới 8 tuổi và chỉ nghe loáng thoáng người trong khu xóm nói ông chưa chết mà đã được đưa ra nước ngoài. Người thân của tôi mang hy vọng ông còn sống và một ngày nào đó sẽ trở lại.

Ông Hồ Chí Minh mất năm 1969, tôi đã có những ký ức về chiến tranh. Mới hơn một năm trước là Tổng tấn công Mậu Thân, hai đợt, vào cuối tháng Giêng và đầu tháng Năm 1968.

Lúc đó chiến tranh đã tràn vào Thủ đô Sài Gòn. Lần đầu tiên người dân thành phố biết đến bom đạn và loạn lạc. Đêm nghe tiếng súng mà thom thóp lo. Nhà tôi ở gần phi trường Tân Sơn Nhất, là khu vực có giao tranh nên mẹ cũng đã chuẩn bị khăn gói cho các con và dặn nếu Việt Cộng tràn vào thì chạy lên trung tâm thành phố. Mẹ tôi đã bao lần chạy loạn từ quê lên Nam Định nên có kinh nghiệm gói ghém ít quần áo thành nải xách tay. Khu xóm đêm đêm có Nhân dân Tự vệ canh gác nhưng giấc ngủ không yên. Mẹ bảo hễ hàng xóm kêu chạy là ôm túi quần áo chạy.

Cũng may trận chiến chỉ kéo dài vài hôm rồi yên. Nhưng sau đó nhiều đêm phải giật mình vì Việt Cộng pháo kích vào thành phố. Tiếng hỏa tiễn 122 ly rít trong không khí, xé tan màn đêm yên tĩnh. Nổ ầm. Có hôm đạn rơi gần. Nổ rung cửa nhà. Người chết không toàn thây.

Sống ở miền Nam tôi nghe những cơ quan thông tin, báo chí tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh làm tay sai cho Nga Tầu để thôn tính và nhuộm đỏ miền Nam.

Trong xóm ngõ tôi ở, có một bác tên là Hồ nhưng không ai dám gọi như thế cả.

Lớn lên theo chiến tranh, mỗi ngày nhìn xe tang với quan tài phủ cờ, nghe tiếng khóc của thân nhân mà lòng không khỏi xúc động. Rồi người thân, bạn bè hy sinh. Nhiều lần đưa tiễn tôi đã khóc.

Tôi nhận ra chiến tranh đem lại quá nhiều khổ đau, nhưng hiểu rõ được cuộc chiến không dễ. Ai muốn nhuộm đỏ Việt Nam. Ai theo chân đế quốc Mỹ. Để làm gì? Đất nước rồi sẽ đi về đâu khi mà thanh niên cứ phải ra chiến trường. Rồi một hôm “Anh trở về bại tướng cụt chân, anh trở về hòm gỗ cài hoa…” hay “Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên…” như những lời ca vang vang xóm ngõ.

Ngày 27-1-1973 hòa bình đến. Tôi vui mừng. Sau nhận ra đó chỉ là thứ hòa bình giả tạo.

Cho đến 30-4-1975. Mừng chiến tranh chấm dứt nhưng lại buồn vì phải xa rời quê hương. Rồi thấy đất nước thống nhất nhưng lòng người vẫn không và hòa bình cũng chưa có.

Từ bên ngoài nhìn về Việt Nam hiểu biết được nhiều hơn. Những năm chiến tranh sôi động, báo chí miền Nam đưa tin Tướng Nguyễn Chí Thanh, Tướng Trần Độ chết tại chiến trường B như là những chiến tích của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Tin Tướng Giáp chủ trương Tổng tấn công Mậu Thân để rồi thất bại và bị mất chức. Nhưng đó không phải sự thực.

Tướng Giáp không đề xuất tấn công Mậu Thân 1968, cũng không phải là người phát động Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975.

Tướng Nguyễn Chí Thanh chết ở Hà Nội đang lúc cao điểm của cuộc chiến. Tướng Trần Độ vẫn sống sau chiến tranh, rồi lo văn hoá tư tưởng cho cả nước. Khi ông lên tiếng kêu gọi dân chủ hóa thì bị nhà nước trù dập. Ông mất, nhà nước ngăn cản nhiều người muốn đến phân ưu. Tướng Giáp gửi vòng hoa phúng điếu mà bị ban tổ chức cắt bỏ những lời kính viếng trân trọng.

Đã đọc nhật ký của Tướng Trần Độ, tôi cảm phục ông hơn Tướng Giáp; phục hơn cả Tướng Nguyễn Cao Kỳ, một thời là lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa mà tôi đã ngưỡng mộ khi còn là thiếu niên.

Nửa thế kỷ qua, bao nhiêu người cầm quyền trên đất nước đã ra đi: Ngô Đình Diệm, Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Dương Văn Minh, Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Khánh và giờ đây Võ Nguyên Giáp.

Họ để lại gì cho dân tộc ngoài nước Việt hiện tại, yếu kém về mọi mặt. Số phận đất nước cứ như thế mãi sao.

Cho đến nay giải mã cuộc chiến Việt Nam còn là một bài toán với nhiều ẩn số. Bao nhiêu tấn bom đạn, bao nhiêu xác người, bao nhiêu ruộng vườn, làng mạc bị thiêu hủy mà vẫn chưa tìm ra cách giải cho bài toán đã có đáp số: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Có người đưa giả định nếu Tướng Giáp đã không thắng Điện Biên Phủ, nếu không có chiến tranh Nam Bắc, không có Tết Mậu Thân. Có người nói giá như ông Diệm không bị lật đổ, không có lính Mỹ đổ bộ vào miền Nam; có người mong Bác Hồ còn sống, muốn quay trở lại với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Có người sợ bọn phản động khôi phục chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Có người đã tiên đoán chỉ khi những lãnh đạo già nua, giáo điều của Việt Nam chết đi, khi đó đất nước mới vươn lên được.

Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Thọ, Lê Duẩn đã đi theo ông Hồ. Tướng Võ Nguyên Giáp, người sau cùng và là lãnh đạo quân sự cao cấp nhất trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ cũng vừa ra đi.

Ông là biểu tượng của nhiều người Việt Nam vì công lao giành độc lập cho đất nước.

Nhưng bi kịch là sau chiến tranh xã hội lại đầy những tham ô, bất công mà ông không làm gì được và rồi con cháu của ông cũng vào guồng. Ông chỉ như một “Tướng về hưu” mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã phác họa chân dung trong tiểu thuyết được dựng thành phim năm 1988.

Nghịch lý nữa là sau chiến tranh, con gái và cháu nội của Tướng Giáp lại theo học ở một đất nước từng là kẻ thù mà ông đã đánh bại. Đó là nước Mỹ.

Dịp Tướng Giáp thọ bách niên, viết về bi kịch hòa bình Việt Nam, tôi muốn hỏi ông về tên của các chị Võ Hạnh Phúc và Võ Hòa Bình mang những ý nghĩa thế nào.

Nay ông không còn. Nhưng tôi vẫn mong có dịp được nghe gia đình kể lại do đâu mà có tên của các anh chị Nguyên Anh, Điện Biên, Hồng Nam, Hạnh Phúc và Hòa Bình.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Bàn về tẩy não

Trần Trung Đạo

Tẩy não hay kiểm soát tinh thần là một tiến trình làm thay đổi nhận thức và niềm tin trong con người, qua đó một người hay một nhóm người sử dụng các phương pháp phi đạo đức để khuất phục kẻ khác làm theo các quyết định của một người hay của một nhóm người đó. Khái niệm tẩy não được biết đến từ lâu qua các tà đạo, chiến tranh, tình báo, tuy nhiên chỉ dưới các chế độ Cộng Sản kỹ thuật này mới được nâng lên thành quốc sách và được thực hiện một cách triệt để, có hệ thống, bao trùm mọi lãnh vực xã hội và trong mọi tầng lớp nhân dân.

Tẩy não một người

Chính sách tẩy não nhắm vào từng cá nhân được phát hiện lần đầu tiên qua hành vi của các tù binh Mỹ bị Trung Cộng bắt trong chiến tranh Triều Tiên. Một số binh sĩ Mỹ sau khi được trao trả đã thay đổi hoàn toàn cách suy nghĩ, thái độ và cả hành động. Tác giả Edward Hunter phỏng vấn nhiều tù binh bị bộ máy tuyên truyền Trung Cộng tẩy não và ghi lại trong tác phẩm gây tiếng vang lớn Tẩy não tại Trung Cộng (Brainwashing in Red China) xuất bản 1951. Nhà báo Edward Hunter trong tác phẩm Tẩy não, câu chuyện của những người đã thách thức nó (Brainwashing, The Story of Men Who Defied It) xuất bản 1956 cũng mô tả nhiều trường hợp những lính Mỹ bị bộ máy tuyên truyền Trung Cộng tẩy não.

Một vài trường hợp điển hình như Đại Tá Frank H. Schwable sau khi bị tẩy não đã lên đài phát thanh Trung Cộng tố cáo chính phủ Mỹ phát động chiến tranh vi trùng hoàn toàn tưởng tượng chống lại nhân dân Triều Tiên hay trường hợp Trung Sĩ Claude Batchelor từ chối trở lại Mỹ. Nhiều cựu tù binh, ngoại trừ giọng nói là của họ, từ câu văn đến dấu phẩy, dấu chấm, cách lên giọng, xuống giọng đều giống như vẹt đã được huấn luyện thuần thục.

Năm 1957, nhà xã hội học Albert D. Biderman trong bản tin của Viện Hàn Lâm Y Khoa New York đã liệt kê 8 biện pháp mà các quốc gia Cộng Sản dùng để tẩy não một người gồm (1) cô lập, tước đoạt mọi nguồn ủng hộ, làm cho nạn nhân tùy thuộc vào kẻ tẩy não (2) độc quyền hóa khả năng nhận thức, tập trung sự chú ý vào một mối quan hệ giữa kẻ tẩy não và nạn nhân, (3) làm suy yếu khả năng đối kháng về mặt tinh thần cũng như làm kiệt quệ về thể lực, (4) đe dọa, trồng cấy sự lo lắng, bất an và tuyệt vọng vào ý thức của nạn nhân, (5) ban đặc ân để khuyến dụ sự tuân hành, (6) làm cho thấy việc chống lại chỉ là hành động vô ích mà thôi, (7) phát triển một thói quen tuân phục, (8) chứng tỏ việc phản kháng chỉ làm thiệt hại cho lòng tự trọng hơn là việc đầu hàng có điều kiện.

Các phương pháp tẩy não của Trung Cộng đã làm quốc hội Mỹ phẫn nộ. Edward Hunter và nhiều tác giả khác đã được mời ra điều trần trước quốc hội Mỹ. Dù sao, nhờ cuộc chiến Triều Tiên mà nhân loại mới biết nhiều hơn về tẩy não, được gọi một cách văn hoa là “cải tạo tư tưởng” tại Trung Quốc và các nước CS, trong đó có Việt Nam.

Tẩy não một dân tộc


Những năm sau 1990, nhiều nhà sử học, nhiều nhà phân tích đổ xô đi tìm lý do tại sao phong trào CS thế giới sụp đổ, nhưng cũng có nhiều nhà phân tích, nhà sử học khác cho rằng việc truy tìm hiểu lý do là thiếu khoa học, chủ nghĩa CS sụp đổ là chuyện đương nhiên, câu hỏi đúng nên đặt ra là yếu tố gì đã giúp CS tồn tại đến hơn 70 năm tại Liên Xô và các nước Đông Âu. Phần lớn đồng ý là chính sách tuyên truyền tẩy não là cây cột chống đỡ chế độ CS. Có người còn cho rằng tẩy não đồng nghĩa với CS, đơn giản vì không có tẩy não, chế độ CS đã sụp đổ từ lâu lắm chứ không đợi đến thập niên 1990.

Hai cơ quan cầm đầu chính sách tẩy não tại các quốc gia CS là Ban Tư Tưởng Trung Ương Đảng (Việt Nam gọi là Ban Tuyên Giáo Trung ương) và Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng. Ban Tư Tưởng Trung Ương Đảng CS kiểm soát toàn bộ đời sống tinh thần của đất nước bằng một chính sách tuyên truyền tinh vi và có hệ thống khống chế tuyệt đối mọi lãnh vực từ truyền thanh, truyền hình, báo chí đến phim ảnh, bích chương, hội họp, nghệ thuật, nhà hát, sách vở v.v… Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng là cơ quan bảo vệ sự sống còn của đảng CS như một tổ chức chính trị và đóng vai trò “tham mưu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ của hệ thống chính trị; đồng thời là cơ quan chuyên môn nghiệp vụ về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên của Trung ương”. Tại các quốc gia CS, không một sinh hoạt xã hội nào thoát khỏi sự kiểm soát của hai cơ quan nêu trên.

Để tẩy não một dân tộc đảng CS thay đổi mọi giá trị và nền tảng văn hóa, lịch sử và truyền thống dân tộc, nói chung phải xây dựng những con người tuân phục và đất nước tuân phục. Bộ máy tuyên truyền CS nặn ra nhiều khái niệm chưa từng có trước đó “con người mới”, “xã hội mới”, “văn hóa mới”, “anh hùng lao động”, “lãnh tụ kính yêu”. Cái gì cũng mới nhưng thực chất đều là giả tạo. Tại các quốc gia Đông Âu ngày nay, các “anh hùng” do các đảng CS dựng lên bị khám phá là sản phẩm tuyên truyền và bị xóa bỏ. Đảng không chỉ có khả năng thay đổi hiện tại, vẽ ra một tương lai nhưng còn có khả năng thay đổi cả quá khứ của cả dân tộc. Lịch sử một dân tộc được viết bằng sử quan của đảng CS và được giải thích phù hợp với đường lối, chính sách của đảng CS trong từng thời kỳ chứ không phải là những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ thăng trầm, vinh quang và thống khổ của dân tộc. Bộ máy tuyên truyền CS chi phối không chỉ trong các sinh hoạt nhân văn, xã hội mà cả khoa học tự nhiên như trường hợp lý thuyết kế thừa giống lúa của Trofim Lysenko trong sản xuất lúa tại Liên Xô những năm 1930, tuy không làm sản lượng lúa tăng được bao nhiêu nhưng đảng đánh bóng y thành một thiên tài.

Có người cho rằng chế độ CS thực chất là chế độ phong kiến hiện đại nhưng so sánh đó không hoàn toàn đúng, ít ra về mặt danh xưng. Khác với các triều đại phong kiến, các vị trí xã hội dưới chế độ CS thường được đặt ngược. Những kẻ ăn trên ngồi tróc, thực sự làm chủ đất nước, nắm trong tay quyền sinh sát cả dân tộc lại được gọi là “đầy tớ nhân dân” trong lúc những tầng lớp cùng đinh trong xã hội, sống không một túp lều tranh để ở và chết không một chiếc chiếu để bó xác lại bị gán cho một danh xưng rất đẹp “chủ nhân của đất nước”.


Đặc tính văn hóa của mỗi quốc gia cũng làm cho chính sách tẩy não thực hiện tại châu Âu và châu Á khác nhau chút ít. Châu Âu như Liên Xô và các nước CS Đông Âu đặt nặng yếu tố vật chất, thể xác trong lúc Trung Cộng, Việt Nam yếu tố tư tưởng, tinh thần được chú trọng nhiều hơn. Một đối tượng tẩy não bị bắt tại Liên Xô sẽ bị hành hạ thể xác cho đến khi thú nhận những tội ác dù không làm, thừa nhận là sự thật dù biết đó là giả dối trong lúc tại Trung Cộng và CSVN đối tượng đó sẽ bị “cải tạo tư tưởng” cho đến khi gục quỵ xuống mới thôi.

Tẩy não một quốc gia thù địch

Kiểm soát tạm thời hành vi và ý chí của một cá nhân có thể chỉ cần một thời gian ngắn như trường hợp các tù binh Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên nhưng kế hoạch của Liên Xô nhằm tẩy não nước Mỹ cần nhiều chục năm. Tại sao phải cần đến vài chục năm, theo Yuri Bezmenov cựu nhân viên KGB đào thoát và được định cư tại Canada năm 1970, giải thích đó là thời gian cần có để xây dựng một thế hệ con người trung thành với lý tưởng CS ngay tại Mỹ.

Yuri Alexandrovich Bezmenov là một cựu nhân viên KGB hoạt động tại Ấn Độ trong thập niên 1960. Cha của ông là một lãnh đạo cao cấp của tổ chức KGB. Năm 17 tuổi ông theo học ngành ngôn ngữ học tại đại học Moscow State University do KGB trực tiếp kiểm soát. Nhiệm sở đầu tiên sau khi tốt nghiệp của Yuri Bezmenov là Ấn Độ với trách nhiệm thực thi các chính sách nhằm lật đổ chế độ dân chủ Ấn. Tuy nhiên, sự thán phục của ông dành cho nền văn hóa Ấn và sự bất mãn chế độ Cộng Sản mỗi ngày một gia tăng đã thúc đẩy Yuri Bezmenov đào thoát khỏi ý thức hệ CS.

Năm 1985, trong một buổi phỏng vấn đặc biệt với chủ đề “Làm thế nào để tẩy não một quốc gia”, Yuri Alexandrovich Bezmenov giải thích chiến lược của Liên Xô để thay đổi tư duy của một quốc gia đối nghịch, trường hợp này là Mỹ.

Không giống như các phim ảnh do Hollywood dàn dựng với những màn gián điệp gay cấn, hấp dẫn kiểu James Bond, tẩy não nước Mỹ là một tiến trình được thực hiện từng bước, rất nhẹ nhàng, diễn ra trước mắt và trải qua bốn giai đoạn gồm (1) lũng đoạn nền tảng đạo đức, (2) tạo sự bất ổn, (3) gây khủng hoảng và (4) bình thường hóa. Trong bốn giai đoạn, hủy hoại nền tảng đạo đức của một quốc gia là giai đoạn quan trọng nhất.

Mặc dù mục đích của buổi phỏng vấn nhằm giải thích cuộc chiến tranh văn hóa tư tưởng mà Liên Xô dùng để đánh gục nước Mỹ, tẩy não cũng là chính sách chung mà lãnh đạo các đảng CS trên toàn thế giới áp dụng.

Mỹ chẳng những không bị đánh gục mà trái lại đã góp phần quan trọng trong việc hạ gục toàn bộ hệ thống Liên Xô. Tuy nhiên, phía thế giới tự do, trong thời kỳ chiến tranh lạnh cũng tổn thất khá nặng với Cuba (1959), Congo (1970), Ethiopia (1974), Cambodia (1975), Việt Nam Cộng Hòa (1975), Lào (1975), Angola (1975), Mozambique, (1979), Nicaragua (1979) bị rơi vào quỹ đạo CS.

Tạm gác qua bên cuộc chiến bằng súng đạn, trong bốn giai đoạn mà Yuri Alexandrovich Bezmenov phân tích, giai đoạn thứ nhất, đầu độc một quốc gia, đáng được phân tích để thấy cuộc chiến tranh văn hóa tư tưởng do CSVN phát động đã ảnh hưởng thế nào đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa. Trong buổi phỏng vấn Yuri Alexandrovich Bezmenov cũng nhắc đến Việt Nam và tiết lộ các chính sách do CSVN thực hiện chẳng phải là sản phẩm riêng gì của đảng CSVN nhưng hoàn toàn rập theo khuôn mẫu của Liên Xô. Do đó, phần còn lại của bài sẽ thay VNCH vào chỗ Mỹ.

Để hủy diệt nền tảng đạo đức văn hóa của VNCH, trước hết phải đầu độc thành phần trí thức. Giới lãnh đạo CSVN đã tiến hành một chính sách quy mô nhằm mua chuộc, lũng đoạn, phân hóa hàng ngũ trí thức miền Nam Việt Nam.

Nhiều người hiểu lầm rằng đối tượng của chính sách tuyên truyền CS áp dụng vào các thành phần ít học, dễ tin, đói khát, cùng khổ, hay “không có gì để mất” nói theo quan điểm Marx. Không phải. Mục tiêu hàng đầu của đảng CS là thu hút thành phần có lý tưởng, có học thức như nhà báo, nhà xuất bản sách, nhà giáo dục, văn nghệ sĩ, nói chung là những thành phần có khả năng hướng dẫn dư luận. Hàng khối trí thức miền Nam đã bị CS tuyên tuyền, đầu độc và trở thành những công cụ của CS trong thời chiến, khi VNCH gục xuống trong máu và nước mắt, và mãi cho đến ngày nay. Những thành phần thân Cộng này không nhất thiết phải được kết nạp vào đảng nhưng là những người biện hộ cho quan điểm của đảng CS bởi vì tiếng nói của họ được xem “khách quan”, “độc lập”. Những trí thức và chính khách này tự nhận là “thành phần thứ ba” như được gọi trong sinh hoạt chính trị tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Thực tế chính trị đã chứng minh, không có quan điểm nào gọi là “độc lập” hay “khách quan” và tại miền nam Việt Nam trước đây cũng không có thành phần nào đúng nghĩa là thành phần chính trị thứ ba, ngoài hai lập trường chính trị quốc gia và cộng sản.

Alexandrovich Bezmenov cũng giải thích xa hơn, thành phần thân Cộng chỉ cần thiết trong giai đoạn làm sụp đổ quốc gia thù địch nhưng khi mục đích của đảng CS đã đạt, thành phần này chẳng những không còn cần thiết mà có thể trở thành một chướng ngại. Nhiều trong số họ phải bị giết, bị tù và bị thanh trừng qua nhiều hình thức. Lý do? Những kẻ thân Cộng trong chiến tranh rất dễ bị bất mãn khi thấy đảng CS nắm hết quyền hành và do đó sẽ trở thành thù địch về mặt quyền lực với chế độ và chống đối về mặt tư tưởng với chủ nghĩa Marx Lenin. Họ bị thanh trừng, ngoài ra, còn vì cái tội biết CS quá nhiều. Yuri Alexandrovich Bezmenov nêu lên trường hợp Nicaragua nơi một phe thân CS trước đó đã hoạt động chống lại tổ chức CS Sandinistas do José Daniel Ortega lãnh đạo. Tại Afghanistan nơi lãnh tụ CS Taraki bị Amin giết, rồi Amin bị Karmal giết, và tại Bangladesh nơi Mujibur Rahman bị chính những người cùng chiến tuyến với y giết.

Để chiến thắng trong trận chiến quân sự và văn hóa, ngoài khối thân CS nêu trên, đảng CS cần một mạng lưới nằm vùng trung thành, dã man, cuồng tín và hữu hiệu. Thành phần này cần thiết để trực tiếp thi hành các chính sách của đảng CS tại các địa phương.

Yuri Alexandrovich Bezmenov nhấn mạnh đến thành phần nằm vùng bởi vì không có mạng lưới nội ứng tại địa phương các lực lượng CS bên ngoài không thể xâm nhập được. Trong buổi phỏng vấn, cựu nhân viên KGB này có nhắc đến trường hợp một thành phố ở Việt Nam, được viết trong văn bản là Hua, có thể ông muốn nói Huế, để nhấn mạnh đến vai trò của mạng lưới CS nằm vùng: “Tương tự, trong một quận của Huế tại Nam Việt Nam, nhiều ngàn người đã bị xử tử trong một đêm khi thành phố bị CS chiếm chỉ trong hai ngày; CIA không thể nào trả lời được câu hỏi, làm thế nào CS có khả năng biết từng cá nhân người bị xử tử, ông ta sống ở đâu, đến nơi nào để bắt ông và để bắt trước bình minh, bỏ ông ta lên xe, lái ra khỏi thành phố và bắn ông ta. Câu trả lời rất đơn giản. Thật lâu trước khi chiếm thành phố đã có một mạng lưới của những CS nằm vùng; họ là dân địa phương và là những người biết một cách tuyệt đối những ai trong thành phố có ảnh hưởng với quần chúng, kể cả những anh thợ hớt tóc và tài xế taxi. Những ai có cảm tình với Mỹ đều bị xử bắn.”

Thước đo của mức độ bị tẩy não


Mức độ bị tẩy não cũng có mức trầm trọng khác nhau. Một người bị tẩy não hoàn toàn sẽ không còn khả năng để đánh giá sự thật. Sự kiện và bằng chứng không có nghĩa gì với họ. Yuri Alexandrovich Bezmenov phát biểu từ kinh nghiệm ở Liên Xô “Ngay cả mang anh ta tới tận Liên Xô và chỉ cho anh ta thấy trại tập trung, anh ta cũng không tin… cho đến lúc anh ta bị đá ngay vào đít, khi giày đinh đạp lên anh, rồi anh ta mới hiểu. Nhưng không phải trước đó. Đó là thảm kịch của trình trạng bị băng hoại về đạo đức trong con người.” Nhiều người Việt Nam hiện nay vẫn chịu đựng mức độ tẩy não trầm trọng như vậy.


Tuy nhiên, cũng có những người bị tẩy não ở mức độ thấp hơn. Họ thấy được những hiện tượng sai trái, những bất công, tiêu cực của chế độ nhưng vẫn “chấp nhận đặc ân để sau đó tuân hành”, vẫn cho rằng “chống lại chỉ là hành động vô ích”, vẫn “trải qua nhiều chục năm tuân phục thành một thói quen”, và vẫn nghĩ rằng “phản kháng chỉ làm thiệt hại cho lòng tự trọng hơn là việc đầu hàng có điều kiện” đúng như các điểm mà nhà xã hội học Albert D. Biderman đã liệt kê. Điều đó cho thấy, trên thế giới, chủ nghĩa CS chỉ là một bóng ma hãi hùng của quá khứ, các dân tộc từng bị CS cai trị từ Âu sang Á đã thức tỉnh sau bảy mươi năm chịu đựng chủ nghĩa tàn bạo nhất lịch sử loài người nhưng tại Việt Nam vẫn còn nhiều người bị tẩy não. Giống như đảng CS không bao giờ thừa nhận đã và đang tẩy não cả dân tộc, không ai muốn thừa nhận mình bị CS tẩy não.

Thước đo mức độ tẩy não không phải là quá khó để xác định mà nằm ngay trong câu trả lời cho câu hỏi rất đơn giản “Anh (chị) thật sự muốn gì cho đất nước?”

Con đường duy nhất hiện nay là tập trung sức mạnh dân tộc, gạt bỏ mọi bất đồng, vận dụng các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam đến thành công, xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị CS, thiết lập một chế độ dân chủ pháp trị, hiện đại hóa đất nước toàn diện làm nền tảng cho việc phục hồi chủ quyền đất nước, mở đường cho một Việt Nam thăng tiến lâu dài.

Không có con đường nào khác. Tuy nhiên, không phải ai cũng có một câu trả lời dứt khoát và giống nhau như thế. Ngay cả trong tầng lớp có học thức, nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, nhà báo không ít người vẫn còn nghĩ rằng nói gì thì nói đảng CS trong suốt dòng lịch sử của đảng đã đồng hành với dân tộc, nói gì thì nói chỉ có đảng CS mới có khả năng đưa đất nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu, nói gì thì nói đảng CS là đảng nắm trong tay ngọn cờ chính nghĩa, nói gì thì nói Việt Nam vẫn cần ổn định để phát triển và mọi thay đổi đột biến sẽ dẫn đến hỗn loạn, nói gì thì nói các lãnh tụ CS vẫn là những người yêu nước, những anh hùng dân tộc và xứng đáng được kính trọng khi họ sống và tôn thờ, tiếc thương, than khóc khi họ chết.

Lịch sử thế giới chỉ riêng từ thế chiến thứ hai cho đến nay có nhiều anh hùng đã đóng góp trí tuệ hay máu xương vào công cuộc bảo vệ tự do cho đất nước họ hay giải phóng dân tộc họ khỏi ách thực dân. Vài trường hợp điển hình như Mahatma Gandhi (Ấn Độ), Winston Churchill (Anh), Charles de Gaulle (Pháp), Tưởng Giới Thạch (Trung Hoa Dân Quốc), Franklin D. Roosevelt (Mỹ). Nhưng khi họ chết, ngoài tang quyến, không có cảnh “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa” như khi Hồ Chí Minh chết và “ôm thật chặt cột nhà khóc cho thỏa nỗi xót thương” như khi Võ Nguyên Giáp vừa chết ở Việt Nam. Bởi vì những lãnh đạo thế giới nêu trên là những anh hùng thật, con người thật, có thành công và thất bại, có điểm tốt và điểm xấu và cuộc đời họ được phô bày trước dư luận chứ không phải là sản phẩm do nhà máy tuyên truyền sản xuất trong một xã hội bị bưng bít thông tin. Tuy mức độ có khác nhau, “khóc lãnh tụ” là đặc điểm của văn hóa CS và chỉ tồn tại tại các nước CS.

Trở lại với thành phần “nói gì thì nói”. Giới hạn trong hoạt động tri thức của thành phần “nói gì thì nói” mỗi thời kỳ có thể được nới rộng hơn chút ít nhưng đó không phải là sự mở rộng thuận theo đà phát triển của văn minh nhân loại mà từ sự thỏa hiệp với đảng CS. Như kẻ viết bài này có lần đã viết, xã hội Việt Nam là một xã hội được khoanh vùng có biên giới rõ rệt giữa các thành phần và các thành phần này cùng tồn tại bằng cách thỏa hiệp với nhau. Không được vượt đèn đỏ, không được lấn lề, vi phạm sẽ bị phạt. Đảng Cộng sản thỏa hiệp với các thành phần trí thức vì mục đích duy trì quyền cai trị đất nước. Giới trí thức thỏa hiệp với đảng để được ban phát bổng lộc, lợi danh. Giới văn nghệ sĩ thỏa hiệp với đảng để các điều kiện sáng tác, in ấn, phát hành được nới rộng hơn, được đi Tây, đi Mỹ dễ dàng. Các bè phái tham ô thỏa hiệp với lãnh đạo đảng để được tiếp tục tham nhũng cho đến khi bị lộ. Chỉ có những người cùng khổ, thấp cổ bé miệng nhưng chiếm đa số trong xã hội, là không ai cần thỏa hiệp mà họ cũng chẳng biết thỏa hiệp với ai ngoài số phận hẩm hiu đầy bất hạnh của mình.

Không có gì đáng hãnh diện. Hồ nước rộng mà thành phần “nói gì thì nói” đang bơi trong đó hôm nay hai chục năm trước là một chiếc ao nhỏ và bốn mươi năm trước là một lỗ chân trâu nhưng dù là lỗ chân trâu, ao hay hồ cũng chỉ là nơi tích tụ của những giọt nước tuyên truyền cùng một nguồn nhỏ xuống suốt hơn nửa thế kỷ qua. Dù thừa nhận hay không, tầng lớp của những người “nói gì thì nói” chính là những người bị CS tẩy não, và Việt Nam hôm nay vẫn còn chịu đựng dưới chế độ độc tài trong khi đại đa số nhân loại sống trong tự do dân chủ không phải vì tài năng của giới lãnh đạo CS nhưng chỉ vì số người bị tẩy não còn quá đông.

Trần Trung Đạo

____________________________________

Tham khảo:

- Albert D. Biderman, Herbert Zimmer, Manipulation of Human Behavior (The), Delhaye, 1961
- Kathleen Taylor, Brainwashing THE SCIENCE OF THOUGHT CONTROL, Oxford University Press 2004
- Transcript of G. Edward Griffin interviews Ex-KGB Soviet Defector Yuri Bezmenov, Wed Jun 3 1985
- EDWARD HUNTER, Brainwashing, The Story of Men Who Defied It, New York, 1956
- Louis R. Stockstill, The Forgotten Americans of the Vietnam War, Prisoners of War—A Special Report, US Air force
- Biderman’s Chart of Coercion
- http://vi.wikipedia.org về Ban Tuyên Giáo Trung Ương và Ban Tổ chức Trung Ương đảng CSVN
- Former KGB Agent Yuri Bezmenov Explains How to brainwash a nation
- Archie Brown, The Rise and Fall of Communism, HarperCollins, New York, NY 2011

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Bài viết của GS Stephen B. Young. Ông qúa thấu hiểu VN và cũng như sử Việt nói chung nên bài của ông qúa chi tiết mà một người VN chúng ta chắc chưa có một bài tương tự. Nhờ phổ biến rộng đến từng tầng lớp dân tại VN/ PQA.

Ông Young, người Hoa Kỳ, Luật sư, nói tiếng Việt, có vợ là người Việt, đã sang VN nhiều lần. Đọc kỹ bài viết, mọi người sẽ thấy cách hành văn của một người ngoại quốc viết tiếng Việt, tuy rất kinh điển và rành lịch sử Việt Nam.

Stephen B. Young, Global Executive Director of the Caux Round Table, is a lawyer and writer. He has served as Dean of the Hamline University School of Law and as an Assistant Dean at Harvard Law School


Ai thống trị Việt Nam ngày nay:
Đảng Cộng sản hay là Hán Ngụy?


Stephen B. Young
Có một tổ chức hiện nay cai trị Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau như là vua chúa Phong kiến ở Tàu hay ở Âu châu thời Trung cổ . Một bộ máy võ trang tập trung các quyền hành lớn trong tay; không được dân bầu lên, và dân tuyệt đối không có quyền kiểm soát hay phê bình. Tổ chức này mang tên là “Đảng Cộng Sản Việt Nam”.

Nhưng, thực sự, tổ chức nầy có phải là một Đảng đúng nghĩa của một đảng hay không?

Đáng lẽ ra một Đảng chánh trị phải có một chánh nghĩa, một sức mạnh do một lý tưởng, một nền tảng triết lý hay lý thuyết, một khuynh hướng thể hiện nguyện vọng của đảng viên để hành động nhằm phục vụ đất nước và dân tộc
của mình.

Vì vậy, nếu cái gọi là Đảng Cộng Sản mà không phải là một Đảng đúng nghĩa, thì bộ máy đó là cái gi?

Một tập thể những người có chung một chí hướng tôn thờ người ngoài, một công ty làm ăn, một tổ chức mafia khai thác thị trường đất nước của họ chăng?

Như vậy chúng ta có vài tiêu chuẩn để đánh giá cái gọi là Đảng Cộng Sản bây giờ, đó là một đảng phái hay chỉ là một bọn làm ăn thiếu lương thiện?

Tôi đồng ý đã có thời gian cái goi là đảng Cộng Sản ngày nay có những hoạt động như là đảng phái đúng nghĩa. Nhưng những hoạt động ấy tốt xấu, hay dở, có lợi hay có hại cho đất nước Việt nam là chuyện khác .Tôi nói đó là một “thứ đảng phái” vì lúc ấy đảng Cộng Sản theo ý thức hệ Mác-Lê, vận dụng chủ thuyết mác-lê làm cách mạng võ trang cướp chánh quyền thực dân. Tiếp theo, đảng cộng sản phát động cuộc cách mạng xã hội, tiến hành giai cấp đấu tranh, đấu tố địa điền chủ, ám sát công chức, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, tịch thâu tài sản của người giàu có để sau cùng đưa giới lao động, những tên du thủ du thực, lên cầm quyền và khi vào Bộ chánh trị, lại lãnh đạo đất nước, dân tộc. Hành động của đảng cộng sản lúc đó có mục đích thi hành "chính nghĩa xã hội chủ nghĩa ” theo ý hệ
Mác-Lê.

Nhưng từ lâu lắm rồi, cái gọi là đảng Cộng Sản không còn giống như trước đó nữa. Nó đã hoàn toàn biến chất để trở thành một cái gì khác hẳn. Tức nó không phải cộng sản, không mang nội dung mác-lê, không chủ trương giai cấp đấu tranh để tiến lên xã hội công bằng, người không bốc lột người, như kinh điển mác-lê dạy người cộng sản.

Cách đây vài năm, ông Đặng Quốc Bảo, Khoa giáo trung ương, trong một báo cáo phổ biến hạn chế cho đảng viên cao cấp, nói rằng “hiện tại đảng Cộng Sản không còn chính nghĩa chút nào vì thuyết Mác-Lê lỗi thời và cũng không đúng, không khoa học”. Theo ông Bảo, thì đảng cộng sản không nên áp dụng thuyết ấy nữa. Hai ông Mác và Lê đã nghĩ sai về vũ trụ, về trời đất, về đời sống nhân loại. Vậy người thông minh phải vứt bỏ chủ thuyết Mác-Lê.

Nếu ông Bảo đánh giá lý thuyết Mác-Lê đúng, thì đảng Cộng Sản không có một chính nghĩa nào để vẫn khẳng định tiếp tục đưa Việt nam đi theo con đường của mác-lê.

Vậy đảng cộng sản là cái gì? Chỉ là một tập hợp những người đầy tham vọng và quyền lực. Họ không khác gì một thứ giặc cướp đối với nhân dân.

Ông Bảo nói thêm rằng “ tổ chức anh chị em cán bộ phải giử quyền cai trị Việt nam vài năm nữa, vì nếu không có một lực lượng mạnh giử ổn định chính trị xã hội, thì nước sẽ loạn và dân sẽ khổ ”.

Lấy sự ổn định làm chính nghĩa của mình không có ý nghĩa tốt đẹp vì hoàn toàn thiếu thuyết phục. Chính nghĩa ổn định, nhiều người bình thường có thể nói và thi hành. Cần gì phải có cái gọi là đảng Cộng Sản với 3 triệu đảng viên, với vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước và xã hội ? Quân Đội làm được. Phật Giáo làm được. Việt Quốc làm được. Ai cũng hy vọng làm được. Cái gọi là đảng Cộng Sản không thể tự cho là chỉ có họ mới làm được.

Theo tuyên truyền của đảng cộng sản, trong quá khứ, họ có công đức lớn để đứng trên và trước mọi người khác. Tức họ cho rằng họ có vai trò lịch sử Có đúng như vậy không?

Để trả lời, giờ đây, Bộ Chính Trị hãy tổ chức gọi hồn các đồng chí của họ đã chết, chết vì hi sinh hay chết oan vì đảng cũng được, để hỏi công việc đảng làm. Rồi, có lẽ họ nên gọi hồn để hỏi cái gọi là đảng cộng sản thật sự có công đức với dân tộc Việt Nam hay không? Rồi, họ có thể gọi hồn để hỏi đảng cộng sản tại sao ngày nay vẫn nói đi theo mác-lê, mà trên thực tế không thấy xã hội việt nam chuyển biến theo mô hình” chính nghĩa Mác-Lê.” một chút nào nữa. Vậy thì cái đảng này nên tự giải tán, và có mang tội với đất nưóc, với dân tộc không?

Chúng tôi cũng có thể gọi hồn như Bộ Chính Trị. Chúng tôi có thể gọi hồn các vị cũng nằm xuống, vì nhiều lý do khác nhau, hỏi họ về công đức của cái gọi là đảng Cộng Sản.

Thí dụ, hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, hỏi ông Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng , ông Lý Đông A, Thư ký trưởng Đảng Duy Dân, các nhân sĩ yêu nước Ngô Đình Khôi, Nguyễn văn Bông, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Nguyễn văn Sâm, … và những người dân Huế chết hồi Tết Mậu Thân, vân, vân, … cho đến 1 ,2 triệu người Việt nam bình thường khác, chết trên biển cả, trong rừng sâu, trong các trại tù rải rác khắp cả nước.

Gọi hồn tất cả những người này về và lắng tai nghe họ nói số phận của dân tộc Việt Nam từ khi Đảng Cộng Sản vận dụng “chính nghĩa Mác-Lê” để cướp lấy quyền lãnh đạo đất nước và giử độc tôn cho đảng .

Xin trả lời: Công đức ở đâu?

Bằng chứng thứ hai cho thấy cái gọi là đảng Cộng Sản là một đảngthì đảng ấy có hành động cụ thể như thế nào?

Ngoài sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự tính toán của con người, các hành động của người đó phải cho chúng ta thấy rõ, một cách minh bạch, để kết luận người đó tốt hay xấu, giỏi hay dở, đạo đức hay gian ác, cần tồn tại hay nên vứt
đi thôi ?

Cái gọi là đảng Cộng Sản đó, cách đây 8 năm, đã tự động hiến dâng đất đai của tổ tiên để lại cho Bắc Triều mới . Và cả biển nữa! Tại sao?

Để đáp ứng sự đòi hỏi của Bắc Triều mới? Phải.

Ở điểm này, chúng ta hảy nhìn rõ. Cái gọi là đảng Cộng Sản đó vì nhu cầu tồn tại đã dâng đất, dâng biển cho Bắc kinh. Đây là nhu cầu sanh tử. Đảng cộng sản phải làm một việc tội lỗi như vậy chỉ vì đảng lo sợ nhân dân Việt nam hỏi tội của họ đối với tổ quốc và nhân dân từ trước đến giờ. Mà nhân dân hỏi tội có nghĩa là đảng sẽ bị mất quyền cai trị. Hoặc một vụ Thiên An Môn Việt Nam sẽ xảy ra . Trước nỗi ám ảnh mất quyền lực, đảng cộng sản cần sự ủng hộ, sự tiếp tay của Bắc Triều mới, mặc dầu có tổn hại đến quyền lợi tối thượng của Quốc gia.

Như vậy đảng cộng sản ở Hà nội không thể tự cho là một đảng có chính nghĩa yêu nước được, mà phải bị kết án là một đảng bán nước mới đúng.

Nếu đảng Cộng Sản Hà nội chuyên tâm phục vụ cho đòi hỏi, tham vọng của Bắc Triều mới, thì Việt nam tất nhiên phải lâm nguy làm thân nô lệ cho Hán Tộc. Nếu chỉ có riêng cái đảng cộng sản làm nô lệ hán tộc thì chúng ta hà tất phải tốn lời.

Thực tế ở Việt nam cho ta thấy công an, tình báo của Việt Nam đều do công an, tình báo Trung Quốc đào tạo và cố vấn. Nhờ đó mà công an, tình báo Hà nội mới có đủ bản lãnh đàn áp những người dân chủ ở Việt nam, đàn áp dân oan nạn nhân của những vụ đất đai bị đảng cộng sản tước đoạt, đàn áp những vụ biểu tìng chống Trung quốc xăm chiếm đất đai bằng vũ lực và thô bạo.

Nhìn lại lịch sử Việt nam thì từ thời Ngô Quyền đến nay, chỉ có vài nhà vua Việt nam theo Bắc Triều một cách xấu hổ như vậy. Có Nhà Mạc phải xin sự ủng hộ của Hoàng đế phương Bắc để đối phó với Nhà Lê. Có vua Lê Chiêu Thống xin Trung Quôc gởi binh qua Hà nội để đánh anh em Nhà Tây Sơn. Có vua Gia Long và Minh Mạng lấy y thức hệ Tống Nho của Nhà Thanh bên Tàu để làm nền tảng đạo lý xây dựng uy quyền cho Nhà Nguyễn . Nhưng các ông vua này không làm mất đất, mất biển vào tay ngoại bang chỉ vì quyền lợi riêng tư như đảng cộng sản ngày nay.

Cầu viện thường hay lệ thuộc tư tưởng của kẻ khác, khó tránh khỏi bị dẩn đến mất chánh nghĩa quốc gia. Phải chăng vì thế mà Nhà Mạc đã không thắng Nhà Lê, vua Lê Chiêu Thống thua Quang Trung Nguyẽn Huệ. Riêng Nhà Nguyễn vì chọn lựa sai lầm học thuyết lỗi thời mà cứ khăng khăng ôm giữ nên thua người Pháp. Tức
một thứ lệ thuộc tư tưởng. Khi có được chỗ dựa mạnh là Bắc kinh, cái gọi là đảng Cộng Sản sẽ đánh bại được toàn dân Việt nam chăng? Tức đảng cộng sản vỉnh viễn đàn áp, bốc lột nhân dân chăng?

Mới đây khi nghe tin Bắc Kinh tổ chức Hoàng Sa và Trường Sa trở thành môt đơn vị hành chánh mới trực thuôc Tỉnh Hải nam, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình của dân chúng thanh niên, sinh viên ở TP Hồ Chí Minh, ở Hà nội, chống chánh sách xăm lược của Trung Quốc. Cái gọi là Đảng Cộng Sản không dám lên tiếng phản đối kẻ cướp đất, trái lại thô bạo đàn áp dân chúng công khai bày tỏ lòng yêu nước. Khí thế của nhân dân Việt nam bây giờ làm cho đảng cộng sản Hà nội bắt đầu lo sợ. Nếu đảng cộng sản khôn ngoan thì hảy thấy ở đây, tức ở nhân dân, mới là chổ dựa vửng chắc hơn thế của Trung Quốc.

Nhưng cái gọi là Đảng Cộng Sản nghe theo ai?

Buồn mà nói. Vì nói cho đúng thì phải nói lớn và nói rỏ phe nhóm cai trị Việt Nam hiện nay là một bọn Hán Ngụy.

Tiếc vì chúng tôi biết chắc chắn có nhiều đảng viên của cái gọi là Đảng Cộng Sản không muốn như vậy. Họ thương dân, yêu nước thật lòng. Nhưng họ lo sợ, có thể vì bất lực, cho sự an nguy của bản thân và gia đình trước những
thủ đoạn khéo léo, gian ác, đê hèn của lực lượng Công An, Tình Báo đang có mặt khắp nơi rình rặp.

Bọn Hán Ngụy thật sự không có nhiều người, nhưng họ có thế mạnh và nhiều tiền bạc. Họ quyết tâm giữ quyền lực cai trị đất nước mãi mãi. Họ sẽ làm cái gì phải làm để không mất địa vị cầm quyền, tức quyền làm ăn, làm giàu của họ.

Lệ thuộc Bắc Kinh, đối với họ, là một giá phải trả, họ chấp nhận trả, để có phương tiện ổn định xã hội chính trị Việt nam, tức duy trì chế độ độc tài toàn trị. Ổn định là cho quyền lợi của họ. Đất nước đối với họ chỉ là phương tiện trao đổi.

Trung Quốc có một triết lý bình định thiên hạ từ đời Tần Thủy Hoàng. Ông ấy lấy ý kiến của phái Pháp Gia gồm lý thuyết âm dương, ngũ hành để kiến tạo thái hòa. Làm chính trị như vậy không theo sự giảng dạy của Khổng
Mạnh, trái lại, đưa ra chính sách đại đoàn kết, giữ phép nước dưới sự lãnh đạo đọc tôn theo một vị hoàng đế. Đó là thuyết của Mặc Địch.

Cái đạo chính trị này – “ hoàng đế chính thuyết ”– là lý thuyết xây dựng xã hội không cần nghe ý dân. Đi từ trên xuống, không phải từ dân lên. Ngày nay là tập trung dân chủ, tức dân chủ xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ chí minh. Hoàng Đế nghe trời, ra lịnh và thiên hạ phải tuân theo. Dân không nghe theo thì sẽ bị phạt, nặng nhẹ
tùy theo mức độ của sự phản bội, bất hiếu đối với chế độ.

Một ông Hoàng Đế không cần đức, không cần uy tín mà vẫn giữ được ổn định xã hội. Hiếu nghĩa thay thế nhân nghĩa. Cấp trên nói cái gì thì cấp dưới vâng dạ theo răm rắp. Nói vô phép, mất dạy, thì bị phạt, không được phần thưởng.

Đạo làm hoàng đế có mục đích lấy ý trời và qua cơ cấu hành chánh, ép thiên hạ vâng lịnh làm theo ý đó, mặc cho họ muốn hay không.

Trong lịch sử Việtnam, các Nhà Lý, Trần và Lê không lấy đạo Hoàng Đế của Bắc Triều để trị dân. Nhà Lý và Nhà Trần theo đạo Phật. Nhà Lê cho đến Vua Lê Thánh Tôn theo quan điểm nhân nghĩa do Nguyễn Trãi viết ra.

Vua Lê Thánh Tôn bắt đầu theo chủ nghĩa Bắc Triều , tức lấy Tống Nho bênh vực ngôi vị Hoàng Đế một cách mù quáng với đạo hiếu nghĩa cha mẹ, vua chúa. Đến Nhà Mạc, Chúa Trịnh, thì ảnh hưởng Tống Nho ở cấp quan văn và các đại gia đình quan chức mở rộng. Nhà Nguyễn áp dụng Tống Nho và quan điểm hoàng đế, đưa triều đình Huế đi theo gương Nhà Thanh bên Tàu.

Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là “Mỹ Ngụy” .

Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: Mỹ Ngụy hồi đó hay Hán Ngụy bây giờ?

Người Mỹ khi họ giúp các Chính Phủ Việt nam Cộng Hòa, khi họ làm cố vấn cho Chính phủ và quân đội quốc gia, họ thật sự muốn gì? Họ khuyến khích người Quốc Gia làm gì? Họ đòi hỏi Chính Phủ Sài gòn có chính sách nào?

Nói chung, người Mỹ từ Tổng Thống Eisenhower cho đến Tổng Thống Nixon, từ Đại Sứ Elbridge Durbrow cho đến Đại Sứ Ellsworth Bunker, tất cả đều yêu cầu Chính Phủ Sài gòn lo cho dân, áp dụng chế độ hiến trị, tổ chức các cuộc bầu cử từ xã ấp đến trung ương, trong sạch, dân chủ, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục theo tôn chỉ “nhân bản, khoa học, khai phóng ” …

Đối với Mỹ thì ý dân là hơn ý trời. Mỹ không bao giờ theo “ hoàng đế chính thuyết ”.

Như vậy làm Mỹ Ngụy là chọn phương pháp lo cho dân, cho quê hương Việt nam, cho văn hóa, đạo đức dân tộc. Người Mỹ đến Việt nam, không ở lại Việt nam. Và “dân ngụy.” không hiến dâng đất dai, biển cả cho ngoại bang. Hơn nữa, trong lịch sử, người Mỹ không làm thuộc địa, không làm Thái thú, chỉ làm bạn đồng minh giai đoạn.

Còn người Việt nào bây giờ làm Hán Ngụy thì phục vụ ai? Họ có lo sợ số phận Tổ quốc của họ không? Hay chỉ có chung một thứ Tập hợp những người cùng chí hướng tôn thờ quyền lợi bản thân mà thôi?

Stephen B. YOUNG

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Toàn bộ Lãnh thổ Việt Nam đã an bài trong tay TQ
Phan Châu Thành

(Danlambao) - Tôi có ông bạn học hiện làm cấp tướng trong hải quân VN, trong một buổi nhậu bạn bè với nhau cách đây gần năm ở HN, tôi hỏi hắn:

“Nếu bây giờ TQ tấn công trên biển, quân của cậu chống được bao lâu?” Hắn cười: “Chắc là chưa đến ba ngày?!”

Tôi ngạc nhiên: “Sao chết nhanh vậy?” Hắn lại cười: “Không phải chết, mà là chạy. Thời đại này ai dại gì chết cho ai?!”

“Đấy là cậu nói về lính hay sĩ quan các cậu?”

“Cả hai, nhưng sĩ quan chạy trước rồi lính mới chạy. Lính không dám chạy trước, chỉ trốn thôi. Sĩ quan mới chạy!”

Tôi thắc mắc: “Tại sao thế? Sĩ quan tinh thần cao hơn và phải làm gương cho lính cơ mà?”

“Ừ, nhưng sĩ quan lại biết mình toàn nói dối và thấy cấp trên cũng toàn nói dối, và ai cũng biết chết thì mình chịu, thắng thì là chiến công của sếp, tội gì chết thế!”

Chúng tôi cười xòa, coi đó là câu chuyện cười nói cho vui, vì ông bạn trong Bộ tổng tư lệnh ở HN, nó đâu có phải ra trận. Nhưng nó cũng không cần phải mua vui với tôi, nó nói có phần nhiều là thật. Thế nên tôi không quên được.

Một bữa khác cách nay khoảng nửa năm, trong chuyến xe đêm từ Sài gòn đi Nha Trang, tôi nằm cạnh anh lính trẻ trả phép ra Cam Ranh. Tôi hỏi chuyện ăn ở sinh hoạt của lính nghĩa vụ ngoài đó, cậu thật thà:

“Cháu mới đi mấy tháng, nhờ có người quen chạy cho nên không phải đi vùng xa hay đảo, chỉ ra Cam Ranh thôi, được về phép đều đặn, nếu biết quà cáp cho sĩ quan còn được kéo dài phép…”

“Thế sĩ quan có về phép thường xuyên không?”

“Sĩ quan của bọn cháu toàn sĩ quan chuyên nghiệp, gia đình họ ở Cam Ranh và Nha Trang luôn, họ đâu cần về phép, và họ có thể về nhà bất cứ lúc nào họ muốn, họ sướng lắm!”

Thế họ có ăn chung với các cháu không?”

“Không, họ có tiêu chuẩn riêng cao gấp mấy lần lính bọn cháu! Họ ăn ở riêng.”

“Thế tiêu chuẩn lính bọn cháu thế nào?”

“Chúng cháu được 35 ngàn đồng ngày. Thế là cao đấy chú ạ, vì chúng cháu gần Ban chỉ huy Vùng. Mấy thằng bạn cháu đóng quân ở xa kêu khổ lắm, chỉ có 28 ngàn đồng ngày thôi…”

“Sao lại 28 ngàn thôi?!” Tôi xót xa nhẩm tính: lính của mình (công nhân và kỹ sư của tôi) ở công trường cảng Vân Phong này được ăn 80 nghìn đồng/ngày mấy năm nay, vừa tăng lên 100 nghìn ngày do giá cả lên, mà tôi vẫn thương chúng khổ, gầy và đen, bắt chúng cố ăn, và lo chúng bỏ về Sài gòn, thế mà chiến sĩ của ta…

Tôi lại đi lạc đề muốn nói rồi. Ý của tôi là, chỉ chuyện ăn ở thôi thì lính của ta cũng thiếu sức chiến đấu rồi, chưa nói đến tinh thần chiến đấu và niềm tin vào cấp trên.

Giờ nói về chủ đề chính, đó là bảo vệ lãnh thổ. Xin kể câu chuyện thứ ba. Cách đây mấy tháng, chúng tôi tổ chức một đoàn “du lịch- thám hiểm” ra điểm Cực Đông trên đất liền của đất nước với mục đích: sống 1 ngày gần với Hoàng Sa Trường sa nhất (về kinh tuyến).

Trên đường ra đó rất khó khăn, chúng tôi không ngờ cả một khu bán đảo rộng lớn bờ biển dài mấy chục cây số không có dân cư (đã bị đuổi đi hết) và chỉ có một đồn biên phòng gần ra đến Cực Đông đã bị bỏ hoang do chuyển vào gần quốc lộ 1 hơn, trong khi đường lớn do các “dự án lớn” của Vinalines làm đến nới cũng bỏ hoang không bóng người. Hỏi ra mới biết đó là tình trạng của hàng loạt đồn biên phòng ven biển và trên các đảo khu vực bắc và nam Vân Phong (thuộc Khánh Hòa và Tuy hòa): họ đã rút hết vào sống trong dân và để quản dân, không quản bở biển nữa. Hàng trăm cây số ven biển không có ai canh giữ, nhưng đã có sẵn đường lớn nhập vào quốc lộ 1… Ngày xưa họ ở đó là để bắt người vượt biên thôi… Biên phòng VN không quay súng ra biển mà quay súng vào dân!

Câu chuyện thứ tư. Đơn vị chúng tôi tham gia rất nhiều công trình lớn dọc biển miền Trung, lắp ráp các thiết bị kỹ thuật hiện đại (rất ít khi là đồ TQ). Từ Dung Quất đến Vũng Áng, Vân Phong… Nhưng ở đâu chúng tôi cũng thấy các đơn vị TQ đấu thầu và thắng thầu thi công phần các cầu cảng. Họ chỉ quan tâm và bỏ mọi giá để nhận phần việc đó dù rất nhiều đơn vị VN làm được, nhưng các nhà thầu VN phải lè lưỡi bỏ ra cho họ vì giá của họ quá thấp… Sau đó họ luôn quây kín cả một vùng biển và bờ biển lớn người khác không được vào để họ thi công trong suốt nhiêu năm trời. Và họ thường là đơn vị làm kéo dài các dự án lớn nhưng không ai làm gì được. Khui họ thi công xong chúng tôi mới lên lắp thiết bị và không ai biết bên dưới và bên trong những khối bê tông cầu cảng lớn đó có những gì. Chúng tôi thường đùa nhau: ngày đầu tiên TQ đánh VN họ sẽ cho nổ tung tất cả những cầu cảng trị giá vài chục đến vài trăm triệu đôla này (có thể cặp mạn những con tàu lớn đến 150.000-300.000dwt)… hoặc họ sẽ khống chế chúng để làm điểm đổ quân tuyệt vời cho họ, ở Dung Quất, Vân Phong, Vũng Áng và nhiều nơi nữa phía Bắc và Nam, nhất là Kiên Giang cũng sắn sàng…

Câu chuyên thứ năm. Tôi về quê ngoại Quảng Ninh, ra Hạ Long gặp mấy thằng bạn cũ, trong đó có thằng đại gia chuyên san đất lấp biển bán nền, giầu không để đâu hết tiền, luôn khoe có đội xe máy húc ủi đào đông như quân nguyên, đã phá không biết bao đồi núi, lấp biết bao bờ vịnh san hô và sú vẹt để bán trên giấy, từ Quảng yên đến Hải Hà… Gặp nó tôi bảo:

- “Tội phá hoại môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long của mày phải đem ra bắn!”

- Nó cười khẩy: “Bắn tao hơi khó! Mày phải bắn hết các bí thư và chủ tịch, phó chủ tịch tỉnh và các huyện thị Quảng Ninh này đi đã!” Rồi nó quàng vai người ngồi cạnh: “A, cả thằng này nữa, giám đốc Sở tài nguyên Môi trường mà…” Tôi nhăn mặt nghĩ: Đúng thật, nếu muốn bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử long mà tôi yêu quí, tôi sẽ phải bắn gần hết các bạn học cũ của mình, vì chúng nó làm quan chức kín cả cái tỉnh quê ngoại của tôi rồi…

Tôi phán tiếp:

“Mày còn một tội lớn nữa! Mày đem xe máy lên Tiên Yên, Ba Chẽ (hai huyện núi biên giới) làm đường từ biên giới xuống cho bọn Ba Tàu sau này tấn công mình lần nữa. Lần trước nó tấn công không có đường xuống, tự vệ dân quan còn cản được. Lần này chỉ mấy giờ là xe nó chạy đến Hạ Long này, lại có cầu bãi chấy rồi, Công chúng mày to quá!”

Thằng đại gia xẹp hẳn xuống lẩm bẩm: “Đéo mẹ bọn Tàu! Chúng nó còn không chịu trả tiền công cho tao nữa! Đau quá!” (Đó là nó chửi mấy công ty Đài loan thuê rừng 50 năm rồi thuế nó làm đương lên “trồng rừng”. Đường làm xong lên các đỉnh núi biên giới, không trả tiền và rừng tất nhiên cũng không…).

Và câu chuyện cuối cùng. Tôi đưa con trai lên Tây Nguyên chơi, mới đây thôi, để nó biết Tây Nguyên là thế nào. Một số đoạn đi qua đường Hồ Chí Minh mới làm lớn mà vô cùng hoang vắng, thằng bé rất ngạc nhiên hỏi: “Bố, sao mình làm đường lớn đẹp dài mà không có người đi thì làm gì vậy?” Tôi thở dài chua chát “Bố chịu!” Chả lẽ nói ra ý nghĩ thật của mình: “Bố sợ rằng người ta làm đường để sau này TQ đánh VN sẽ dễ chiếm và không chế Tây Nguyên và rồi cả đất nước này?”

Sau chuyến đi Tây Nguyên về, tôi đùa với con trai: “Con ơi, hãy học tiếng Anh giỏi để du học rồi ở lại đó luôn, như chị con vậy đó. Bằng không, hãy học tiếng Tàu! Nước mình sắp thay quốc ngữ rồi!”

Vâng, ý của tôi là thế đó. Người Việt nam, chính quyền Việt Nam hiện nay đã chuẩn bị sẵn sàng địa thế và mọi cửa ngõ Lãnh thổ quốc gia để TQ tràn vào dễ dàng nhất. Tinh thần quân đội và sức chiến đấu thì rất bạc nhược rồi, cảnh giác thì… chĩa súng vào dân rồi. Các chiến sĩ Trung Hoa cứ yên tâm mà đến!

Đất nước này dường như đã có chỉ đạo bàn giao nhẹ nhàng để sát nhập vào TQ?

Chỉ còn một điều: Liệu dân Việt ta có chịu thế hay không?

Phan Châu Thành

Post Reply