Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Từ Nguyễn Chí Thiện tới thơ Nguyễn Sỹ Tế
Wednesday, October 02, 2013 2:43:51 PM

Ðêm thơ trong tù tại Prague

Viên Linh

Vào tối Thứ Ba, mồng 8 tháng 11, 1994, trong khi tham dự Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 61 tại Prague, phái đoàn Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại
đã tham dự Ðêm Thơ Trong Tù do ban phát thanh phần Việt ngữ của đài phát thanh quốc gia Tiệp Khắc tổ chức.
Trong chương trình, phái đoàn Việt Nam sẽ nói về thơ trong tù của mình, và thơ trong tù của Nguyễn Chí Thiện.

Image
Tổng thống Tiệp Khắc khai mạc Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế kỳ 61, 1994. (Hình: Viên Linh)


Ðêm thơ tổ chức trong một trà thất tại Old Town, phía ngoại quốc có trên 20 thi sĩ Tiệp Khắc tham dự, trong có thi sĩ nổi tiếng Jáchym Topol, phía Việt Nam có Nguyễn Sỹ Tế, Viên Linh, Cung Trầm Tưởng, Phạm Việt Tuyền, Ðỗ KH., cựu TNS Trần Ngọc Nhuận, và các cô Minh Nguyệt, Cao Mỵ Nhân. Các phóng viên Xuân Hồng của Ðài BBC và Lê Ðô của đài CNBC và đài truyền hình Viên Thao ở San Jose có mặt để tường thuật. Sinh viên Việt tại địa phương tham dự khá đông đảo.

Dư luận từ hai ba tháng trước ghi nhận, đây là một hội nghị đặc biệt, vì Tiệp Khắc chỉ mới thoát khỏi gông cùm cộng sản mới bốn năm trước. Nhưng người ta cũng được biết rằng, đây không phải lần đầu tiên Tiệp đứng ra tổ chức Hội Nghị Văn Bút. Năm 1938, Prague đã là nơi diễn ra Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 16, đó là công lao của nhà văn Karel Capek.

Tên ông chỉ mấy ngày trước đã được nhắc đến tại sảnh đường của Bộ Giáo Dục Tiệp, khi một giải thưởng văn chương mang tên Karel Capek được thành lập, cứ hai năm phát một lần, lần này hai người được trao giải là Philip Roth của Mỹ và Gunter Grass của Ðức, sau khi chín vị giám khảo đã thảo luận rất gay go. Giải sẽ được Tổng Thống Václav Havel trao, cả hai nhà văn trúng giải đều sẽ có mặt trong buổi tiếp tân trong Dinh Tổng Thống.

Ðây là Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế đầu tiên được tổ chức bởi một nước hậu cộng sản. Các thành viên thế giới ghi tên tham dự rất đông. Việt Nam hải ngoại là phái đoàn đông thứ ba, 9 người, chỉ sau Triều Tiên và Nhật Bản, 11 người. Trên 500 nhà văn quốc tế tham dự, trong có những danh tiếng như Arthur Miller, Francis King. Khắp thành phố Prague, từ gầm cầu tới công viên, hầu hết có dán bích chương cổ động hội nghị. Hội nghị sẽ diễn ra trong một tuần tại khách sạn 5 sao Atrium Hotel. Giá một đêm là 450 Mỹ kim, chỉ trưởng phái đoàn và một người nữa được miễn phí.

Trong khi đó, tổng thống Tiệp là một kịch tác gia, nổi tiếng với cuộc “Cách Mạng Nhung” lật đổ cộng sản mà không tốn một giọt máu nào. Ðề tài ông đưa ra, gửi cho trên 100 trung tâm hội viên International PEN trên thế giới là “Khoan Dung.” Phòng hội khoảng 900 người, mọi người háo hức chờ giờ khai mạc, ngày 7 tháng 11. Mọi cái máy hình đều kêu sè sè, lách cách khi ông Václav Havel xuất hiện trên sân khấu, kể cả máy của tôi.

Nhà văn tổng thống khai mạc: “Thứ nhất nhân danh là một đồng nghiệp, thứ hai nhân danh người đại diện cho Cộng Hòa Tiệp Khắc, tôi xin chào mừng các bạn văn tới dự Hội Nghị Văn Bút hôm nay. Tôi tin rằng sự có mặt của quí bạn sẽ mang lại niềm kích thích tinh thần và trí tuệ vào chốn ‘tỉnh lỵ’ đôi khi quá vật chất này, và trong lúc này ít nhất quí bạn sẽ giúp các công dân của tôi lưu tâm tới các vấn đề vượt qua chân trời nhỏ hẹp của những bận rộn hàng ngày của họ.”
Image
Các thành viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trong Dinh Tổng Thống, Viên Linh, Ðỗ Kh., Nguyễn Sỹ Tế. (Hình: Lê Ðô)


Một lời khai mạc thật khiêm tốn và giản dị. Chẳng thế mà chủ đề của hội nghị là “Văn Chương và Sự Bao Dung.”

Trong hội nghị, các nghị quyết của nhiều phái đoàn in và được phát ra (đầu đề mà thôi). Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đứng chung với Văn Bút Canada và Văn Bút Ba Lan, lên án nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục giam giữ trái phép Nhóm Diễn Ðàn Tự Do đứng đầu bởi Giáo Sư Ðoàn Viết Hoạt, kết án nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục giam giữ các trí thức tranh đấu cho dân chủ trong Cao Trào Nhân Bản đứng đầu bởi Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế. Ðiểm thứ ba là kết án chính phủ Việt Nam cấm đoán tăng ni Phật tử truyền báo các tài liệu về tự do tín ngưỡng. Hội nghị đã thông qua nghị quyết này với tuyệt đại đa số (không một phiếu chống).

Ðêm Thơ Trong Tù diễn ra vào lúc 8 giờ tối. Anh em sinh viên vui vẻ cho biết là rất đông người tham dự, nhiều hơn là dự đoán. Viên Linh trước khi cùng thi sĩ Jáchym Topol đọc 7 bài thơ tù của Nguyễn Chí Thiện, đã ngỏ lời ca ngợi Văn Bút Tiếp Khắc, vốn gia nhập Văn Bút Quốc Tế năm 1925, chỉ 4 năm sau khi tổ chức này được thành lập ở London. Tài liệu về thơ, tiểu sử Nguyễn Chí Thiện đã do ông soạn và người em là Nguyễn Hữu Hiệu dịch được in ra, gồm 10 bài thơ, cả 10 bài đều do Phạm Duy phổ nhạc, tạp chí Thời Tập ấn hành từ 1980, đã được mang theo tới Prague và phổ biến cho các thính giả. Jáchym Topol còn trẻ, đọc chứ không ngâm. Tiếp đó, nhà thơ giáo sư Nguyễn Sỹ Tế đọc bài thơ nhan đề Mùa Xuân Tiệp Khắc do ông sáng tác bằng Pháp ngữ, với giọng hùng hồn, người tù cộng sản kiên giam trước sau 13 năm đã nhận được những tràng pháo tay tán thưởng dài. Ðêm thơ chỉ chấm dứt sau hơn 3 tiếng đồng hồ, gần nửa đêm.

Sau đó hai tờ báo Tiệp Khắc phỏng vấn ba người trong phái đoàn, Phạm Việt Tuyền, Trần Ngọc Nhuận, và trưởng phái đoàn Việt Nam. Ðược hỏi tình trạng các nhà văn ở trong nước ra sao, tôi nói, “Người ta không cần biết hết các chi tiết, quí vị có thể hình dung ra tình trạng của họ khi hiện nay ở Việt Nam không có một nhà xuất bản nào do dân làm chủ, không có một tờ báo nào do dân làm chủ.”

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Nobel Văn học thuộc về Alice Munro

Image
Alice Munro, một nhà văn Canada nổi tiếng nhờ truyện ngắn, được trao giải Nobel Văn học hôm thứ Năm.
Bà là người Canada đầu tiên được giải thưởng 1.2 triệu đôla, từ khi Saul Bellow, người rời Canada sang Mỹ khi còn bé, được giải năm 1976.

Bà được xem là một Chekhov hiện đại và gây bất ngờ khi được Nobel, vì hầu hết các tác phẩm của bà đều là truyện ngắn.

“Tôi biết mình có trong danh sách ứng viên, nhưng chẳng bao giờ nghĩ sẽ thắng,” nhà văn 82 tuổi nói qua điện thoại với Canadian Press.

Viện Hàn lâm Thụy Điển gọi bà là “bậc thầy của truyện ngắn đương đại”

Đây là lần thứ 13 có một phụ nữ được giải Nobel trong lịch sử 112 năm của giải.

Truyện của Munro thường nêu bật khác biệt giữa tuổi trẻ của bà ở Wingham, một thị trấn bảo thủ phía tây Toronto, và cuộc cách mạng xã hội thập niên 1960.

Có tên thật là Alice Anne Laidlaw, bà được học hành tại một thị trấn ít học, và đã phải che giấu khát vọng của mình.

Bà được học bổng để vào Đại học Western Ontario, ngành báo chí.

Nhưng bà bỏ học để cưới một sinh viên khác, James Munro, có ba con và làm bà nội trợ.

Sang tuổi 30, bà trở nên u uất đến mức không thể viết nổi một câu đầy đủ.

Năm 1963, bà cùng chồng mở một tiệm sách. Tài năng viết văn của bà bắt đầu nảy nở nhưng cuộc hôn nhân lại đổ vỡ.

Tuyển tập đầu tiên của bà ra mắt năm 1968 và giành một giải thưởng của Canada.

Nobel Văn học năm ngoái trao cho nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn.

Các giải thưởng Nobel sẽ được trao vào ngày 10/12, kỷ niệm ngày mất của người sáng lập Alfred Nobel năm 1896.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Luân

Mai Thảo
Nỗi vui mừng vỡ oà trong tôi phút đó khi đã nhận ra Luân, Luân trên kia, Luân đứng đó, bắt tôi phải chạy phải bay lên mới đúng. Nhưng trước bấy nhiêu con mắt cùng chăm chú ngó xuống người lạ mặt như một cái đích, họ chưa nhận ra ai, tự nhiên tôi thấy ngượng, ngượng đến nóng bừng cả mặt mũi. Tôi định thần. Tôi cố trấn tĩnh lại. Tôi tháo khỏi lưng cái bạc đà ướt đẫm mồ hôi, và xách nó lủng lẳng trong tay, tôi thong thả đi lên. Vợ chồng cụ Chánh, thằng Tạo, anh chị Mùi đứng đó, thành một hàng dài. Những cái bóng nắng chiều làm nghiêng đi, nổi bật lên cái nền xanh thẳm trùng điệp của núi rừng Nông Cống. Xa hơn một chút, lùi về phía sau một chút, in hẳn lên nền trời: Luân.

Tôi thầm cám ơn bà cụ bán hàng tôi gặp ngoài đường lớn. Không có cái ngón tay chỉ đường quý báu của bà cụ, tôi đã tiến sâu mãi vào phía núi biếc, tôi đã không tạt vào con đường nhỏ, tôi đã không đến đứng dưới chân ngọn đồi này, tôi đã trở về căn nhà lạnh lẽo của cơ quan, phía bên kia sông Mã. Tôi đã không bao giờ, không bao giờ nữa, gặp lại được Luân. Đất rừng mời đốt rẫy, cỏ chất từng đống lớn vàng cháy giữa những thân cây bị đào bật lên, còn cả gốc rễ và những cành lá tươi. Một lối đi nhỏ của chân người giẫm lên, còn mới.

Đến lưng đồi, tôi đứng lại. Thằng Tạo nhận ra tôi trước nhất. Nó lập tức chạy bay xuống, vừa chạy vừa ngoái cổ lại la lớn: “Anh Trí, anh Trí”. Tôi chỉ kịp đỡ cái đà người nó đâm sầm vào mình. Thằng Tạo nắm chặt lấy cổ tay tôi, kéo tôi lên, miệng vẫn la lớn: “Anh Trí, anh Trí”. Rồi tất cả mọi người đều nhận ra tôi, và, trừ Luân, đều reo lên: “Anh Trí, anh Trí”. Tôi cười, nhưng tròng mắt đã rưng rưng. Cuộc chiến tranh lâu dài với những kỳ diệu chồng chất nếu có gỡ lại được một phần nào, cái phần khiến con người còn chịu đựng cái tác động huỷ phá ghê khiếp của nó, là ở cái nét đẹp ánh lên của những phút gặp lại nghẹn ngào và tủi mừng đến ứa nước mắt như vậy đó. Người ta xa nhau, không nhìn thấy nhau sau bức tường lửa đạn. Tưởng rằng đã chết, đã mất. Thấy nhau bất ngờ như thấy kẻ đã chết rồi lại vừa sống lại. Tôi chào mọi người, trao bạc đà cho thằng Tạo. Nó đón lấy và khệ nệ đi lên đỉnh đồi. Cả gia đình cụ Chánh đứng vây lấy tôi, mỗi người, trừ Luân, hỏi tôi một câu. Cụ Chánh nói với cụ Bà tôi đen và gầy đi nhiều. Chị Mùi hỏi tôi từ đâu đến, sao biết gia đình chỉ ở đây, anh Mùi hỏi tôi bây giờ làm gì. Duy có Luân từ lúc thấy tôi là không nói một lời nào. Luân đứng đó, hai tay buông thẳng, chân như chôn chặt xuống đất, đôi mắt đen láy mở to trên khuôn mặt nửa như muốn cười, nửa như muốn khóc của Luân. Thái độ yên lặng chỉ có tôi hiểu, làm lầm mọi người. Chị Mùi thì bảo Luân: “Anh Trí đấy mà!”. Cụ Chánh thì bảo tôi: “Em Luân, cậu Trí nhớ không!”. Tôi đáp: “Có nhớ ạ” và lách mọi người tôi đi lại phía Luân. Tôi nhìn cái khuôn mặt nửa muốn cười nửa muốn khóc của Luân mà sự kinh ngạc còn in lên gần như một niềm đau đớn. Tôi muốn nâng hai tay đỡ lấy khuôn mặt ấy, mười ngón tay tôi cưỡi lấy hai gò má ấy, tôi muốn ôm chặt lấy Luân, ôm thật chặt cái thân thể yêu dấu, tôi muốn hôn vào đôi mắt kinh ngạc, tôi muốn nói với Luân một hơi, không ngừng, một câu nó thật dài, không bao giờ hết. Tôi muốn nói với Luân, đau xót và thành thật nói, câu nói tôi muốn gửi không riêng gì cho Luân mà cho tất cả những người thiếu nữ Việt Nam, qua hình ảnh Luân lúc đó. Những người thiếu nữ xấu số của một đất nước hiền hậu như họ không bao giờ thích hợp với một không khí chiến thời nào.

Tôi muốn bảo Luân, tôi muốn bảo: Anh xót thương em những đêm dài trong núi, dưới mái nhà sàn cơ quan, trên những con đường hầm hố vết thương, những xóm làng huỷ phá, trên những thềm nhà cỏ hoang phủ kín, trên những vì tường đổ gục, trên những thân cây chặt đứt, qua những chân cầu đổ nghiêng, trong hầm trú ẩn máy bay. Tôi muốn bảo Luân, anh xót thương em đêm giã từ Hà Nội ra đi nhìn về Hà Nội cái rừng lửa cháy, buổi chiều đứng trên con đê Hồng Hà, buổi trưa về thăm lại Hưng Yên. Buổi ra đi bãi ấy còn xanh biếc ngô non, buổi về chỉ thấy mênh mông phù sa kín nhoà bãi cũ. Tôi muốn bảo Luân, anh xót thương em trên những đầu ngón chân anh đi, cái hình ảnh xót thương lăn theo sỏi đá dọc đường, nằm trên từng cột cây số từng nền luỹ tre xanh, chảy theo mặt nước lúc xuống đò qua sông, khuân theo lòng đường xuống đò lên bộ, từng buổi sớm xuống suối rửa mặt, cái hình ảnh xót thương trong veo trên nền sỏi trắng, từng buổi chiều không biết đi đâu, cái hình ảnh xót thương bát ngát đầy chiều.

Tôi muốn bảo Luân, anh nhớ đến em trong tiếng súng ban đêm, những vệt lửa dài cháy vào bóng tối, lúc bỏ núi sau lưng cái hình ảnh xót thương còn mang hình trái núi, lúc xuống đồng bằng trước mặt cái hình ảnh xót thương đã mang hình những ngọn lửa dài, lúc anh muốn chết, lúc anh muốn sống, lúc tuyệt vọng tối đen vực thẳm, khi tin yêu sáng chói mặt trời, lúc nhìn xa cái hình ảnh lớn theo ngút mắt, lúc tưởng gần cái hình ảnh thu cũng nhỏ vào một góc trái tim như một tấm hình kỷ niệm.

Nhưng tôi không nói được một lời nào. Tôi cũng đứng sững đó trong nỗi xúc động mãnh liệt chưa từng cảm thấy. Tôi đứng sững đó, tôi đang sống một trong những phút giây xúc động nhất của đời tôi, tôi tưởng đã chết rồi những niềm xúc động. Khuôn mặt yêu dấu của Luân cứ lớn dần, lớn dần, như khởi đầu là một phiến trời thật nhỏ sau một khung cửa hẹp, một hẻm núi, bây giờ ra ngoài khung cửa, khỏi hẻm núi cái phiến trời nhỏ đã lớn thành cả một vùng mênh mông, tôi ngắm nhìn nỗi vui mừng của tôi mênh mông trong đó.
Rồi đáy mắt Luân thoáng lên một ánh lửa. Tôi nhận cái ánh lửa ấy như một tiếng chào thầm, một sự đáp lại yên lặng. Luân nhìn tôi như thế, đoạn Luân cúi đầu xuống và quay gót đi trở lên.
Chúng tôi lên theo. Căn nhà lớn dựng trên đúng đỉnh đồi trọc nhìn xuống một căn thứ hai, phía tay trái, nhỏ hơn, tôi đoán là nhà bếp. Cả hai cùng mới cất. Mái lá tươi nằm trên những cột nhà là những thân cây rừng. Tường vách là những tấm phên đan hình mắt cáo, nhiều tấm còn chưa trát đất. Thằng Tạo bưng lại cho tôi một bát nước chè tươi nóng. Anh Mùi quấn cho tôi một điếu thuốc lấy ra ở một cóng sành nhỏ dưới gầm giường; điếu thứ hai anh quấn cho cụ Chánh, điếu thứ ba cho anh. Chúng tôi cùng châm lửa và thở ra những đợt khói tan bay mau chóng trong gió rừng buổi chiều lồng lộng thổi qua. Vẫn xa hơn mọi người một chút, vẫn một thái độ yên lặng. Luân ngồi yên trên một góc giường giữa cái vui vẻ ồn ào của mọi người, như đắm chìm vào một suy nghĩ riêng tư thầm kín. Lúc tôi trả lời cụ Chánh là trên đường đi tìm địa điểm an toàn cho cơ quan tôi tình cờ qua đây, Luân đột nhiên đứng dậy đi ra. Tôi nhìn theo Luân đi khuất về phía căn nhà bếp. Mọi người, trừ tôi hình như không ai để ý đến sự bỏ đi bất thình lình của Luân, đã mỗi người một câu kể lại cho tôi nghe về những lần di chuyển gian khổ, những ngày tháng lênh đênh điêu linh kể từ ngày tản cư khỏi thị xã Hưng Yên, về vùng Ân Thi, rồi từ Ân Thi sang Đồng Năm, Cống Thần, Hồng Phú, qua Liên khu 3 vào Thanh Hóa, chợ Rừng Thông, phủ Thiệu Hóa, với hình ảnh những căn nhà mới dựng lên chưa ấm hơi người đã bị bom đạn đốt cháy tan tành ở những thị trấn năm ấy, khiến cho gia đình cụ Chánh – chạy trốn lửa đạn đuổi theo, đánh xuống như một kẻ thù dai dẳng – cố tìm cho được một đất sống thực an toàn đã phải tìm đến khoảng đồi trọc giữa vùng núi rừng hoang vu này. Kiểm điểm lại đoạn đường dài với những đổi thay không ngừng, cụ Chánh đã mỉm cười chỉ cho tôi gian nhà trống không ngoài mấy chiếc tay nải để trên hai chiếc giường gỗ và nói cả cơ nghiệp của gia đình cụ, mỗi lần di chuyển như vậy, mất đi, bỏ lại, bây giờ chỉ còn có thể. Cũng may là còn được mạnh khoẻ và còn những bàn tay làm lụng được.


Tôi cảm động nhìn bàn tay gầy yếu của cụ Chánh, và liên tưởng đến một bàn tay khác, với những ngón tay nhớ rất dài rất thon, bàn tay của Luân. Ngày xưa tôi đã ngắm nhìn bao lần không chán mắt những cái ngón trắng muốt khi xòe mở khi thu lại, hình nét đều mềm mại như một bông hoa. Tôi giật mình tưởng như cụ Chánh đoán được ý nghĩ tôi. Cụ nói gia đình cụ bây giờ – kể cả thằng Tạo người nào cũng đã quen lắm với những công việc cực nhọc: cất nhà, chặt cây, phát cỏ, đốt rẫy, làm đất rừng. Cụ nói: “Anh ở lại đây sáng mai sẽ thấy cả nhà tôi, già trẻ lớn bé kéo nhau ra làm đất rẫy. Bây giờ biến thành nông dân cả rồi. Em Luân nữa, nó cũng cày bừa giỏi ra phết rồi đấy cậu Trí nhé”.


Hình ảnh lam lũ của Luân đẩy lưỡi cày trên nền đất rừng cằn cỗi, khiến tôi xót xa nghĩ đến hình ảnh Luân ngày trước.

Bấy giờ là vào khoảng giữa năm 1945, cuộc đảo chính Nhật vừa kết liễu. Bắt đầu những trận mưa bom của phi cơ đồng minh. Chúng tôi theo trường tản cư về thị xã Hưng Yên. Và quen Luân ở đó. Chúng tôi, vì là ba người: Phạm, Trương và tôi do một sự tình cờ đã đến trọ học cùng nhà một bà cụ già: cụ Lý Bằng. Luân là cháu gái cụ Lý. Cùng một phố, chúng tôi hằng ngày gặp Luân. Ấy là những buổi sáng, mùa hè thật sớm, mùa đông muộn hơn một chút, nhưng sáng nào trở dậy là chúng tôi đã thấy Luân cắp một cái rổ quần áo cao có ngọn sang giặt ở cái ao rộng phía sau nhà cụ Lý. Bờ ao sát liền với buồng học – tường là những tấm liếp mỏng – khiến cứ nằm ở giường nhìn ra chúng tôi cũng ngó thấy Luân thấp thoáng ở ngoài hàng rào sương rồng đầu cổng, Luân đi qua vườn, Luân tiến lại phí bờ ao.
Hình ảnh mà tôi còn giữ được ở những buổi sáng lâu dần đã là những buổi sáng đợi chờ ấy, của Luân là một mái tóc phủ kín vai kín lưng, mặt nước xao động sóng sánh, những cánh bèo Nhật Bản dạt rộng thành một vùng tròn chung quanh cái cầu tre mỏng mảnh, tiếng rũ tiếng đập, tiếng nước đổ ào ào trong yên lặng mát trong, và những cái bọt xà-phòng trắng xốp trôi đầy mặt nước. Qua thời gian làm quen khởi đầu ngây ngô, tức cười, ở Luân là những lắc đầu những nụ cười muốn giấu, một vẻ sợ hãi luống cuống rất đáng yêu, ở chúng tôi là những câu thả tình bóng gió, bâng quơ, những thăm dò ý tứ một cách hóm hỉnh vụng dại, những phút đứng cạnh bờ ao hàng giờ mà không biết làm gì hơn là bứt những cánh lá trên đầu Luân thả đầy mặt nước, những hẹn hò vu vơ lúc Luân đã giặt xong đứng dậy, chúng tôi quen nhau. Cho đến bây giờ, tôi không có đủ bằng chứng để quyết đoán chắc chắn – chưa từng ai hỏi ai điều đó – tôi vẫn nghĩ rằng cả ba chúng tôi đều yêu Luân. Phạm yêu Luân, Trương yêu Luân và tôi cũng vậy. Cùng yêu và điều buồn cười, nhưng đúng, cùng yêu như nhau. Tình cảm của mỗi người đối với Luân có thể khác biệt trong phần tâm tưởng thầm kín, nhưng ở những biểu tỏ thì có thể nói là đồng đều. Tình yêu chung gửi cho một người này nếu không gây những va chạm, những tổn thương đáng tiếc cho tình bằng hữu chúng tôi suốt thời gian đó, một phần do sự đồng đều này. Cả ba như cùng ước hẹn ngầm: nên đứng đó, đừng ai đi xa hơn nữa. Một phần, và cũng là nguyên nhân chính, tình yêu của chúng tôi thuở đó, như tuổi, như lối sống, cũng lãng mạn, hồn nhiên, cũng mát như trong tâm hồn mỗi đứa chúng tôi lúc bấy giờ. Yêu một người cũng như yêu cảnh vật, một đêm trăng, một ngày mưa, một buổi chiều có nắng đẹp, một bông hoa cùng ngó thấy một buổi sớm trong vườn, không ai tính đến chuyện ngắt bông hoa vì lòng còn ngây ngất. Yêu như yêu một hình ảnh, yêu như yêu thiên nhiên, tạo vật, cuộc đời. Yêu như yêu chính cái bản thân mình. Tình yêu ấy lúc đó và về sau, chẳng những đã không gây những tiếc hận mất mát cho ai mà mỗi người đều cảm thấy ở mình như nó lớn gấp ba lần, nó cộng tâm hồn mình với tâm hồn hai thằng bạn thân làm một. Đối với Luân, cũng không có chuyện lựa chọn khó xử, Luân nhận cả, Luân không nghiêng về phía nào. Không nhận riêng một tình yêu nào hết, Luân sung sướng nhận lấy cái không khí yêu thương. Hoặc nếu có sự lựa chọn rồi của Luân trong thâm tâm, chúng tôi không biết. Chỉ biết những thời gian sau, thân mật hơn, những việc đáng lẽ chỉ có ý nghĩa vì thầm kín riêng tư: tặng một kỷ niệm, viết một lá thư, hẹn một buổi tối gặp mặt, chúng tôi cũng bàn với nhau, có thoả thuận mới tặng mới gửi. Tôi cảm động nhớ lại cái thế giới đẹp một vẻ đẹp hoang đường những năm tháng ấy. Cuộc sống thần tiên. Sách vở, bạn bè. Luân ở giữa chúng tôi. Từ một người bạn nhỏ, một cô gái láng giềng đến người thiếu nữ của mối tình thơ mộng thứ nhứt đầy vẻ bỡ ngỡ, khám phá như cái ý thức đầu tiên mở vào cuộc sống. Tâm hồn ấy thiên thần tạo nên cuộc sống ấy thiên đường. Nỗi buồn ghê gớm nhất cũng chỉ là niềm bâng khuâng, nỗi nhớ thương cũng là lửa ấm, cả cái bối cảnh âm u của một thời chiến bắt đầu bén lửa cũng không chạm được vào cái thế giới thần tiên.

Mấy tháng về sau, khi cụ Chánh đau nặng, Luân phải đi chợ xa thay mẹ, chúng tôi thường chiều chiều kéo nhau ra khỏi thị xã lên trên con đê cao đầu làng Mậu Dương đón Luân gánh hàng từ phía Tân Châu về. Vượt qua con sông Hồng mênh mông lúc đó đã đỏ thẫm ráng chiều, cái bóng nhỏ bé của Luân khi hiện ra ở đầu con đê cao vẫn có cái tác động mầu nhiệm đổi thay cảnh vật, làm tươi sáng cả một vùng hoàng hôn bát ngát đang thấm vào tâm hồn dễ xúc động của chúng tôi. Luân đến, đặt gánh hàng xuống, thở ra, thường vẫn cau mặt trách chúng tôi “đón đường” như thế. Nhưng trong cái cau mặt rất đáng yêu có thoáng lên một ánh sung sướng. Nhiều lần, nghịch ngợm, Luân chịu để cho chúng tôi thay nhau gánh đỡ gánh hàng nặng một đoạn đường. Những đoạn ngắn chỉ dăm bảy bước. Chúng tôi không quen, đau vai, đã hạ vội cái đòn gánh xuống. Và Luân lại được dịp cười phá lên và chê “cái vai học trò của các anh”.
Con mắt yêu thương của chúng tôi, trước sau đều nhìn thấy bất cứ cái gì ở Luân cũng hay cũng đẹp. Riêng tôi, đẹp nhất là cái tiếng nói. Chỉ là âm thanh mà nghe thành hình ảnh. Tiếng nói mỗi khi nghe thấy, nhớ tới, thường làm tôi nghĩ đến một buổi sáng ở một cửa rừng vui nào với những hàng cây thưa, những thảm cỏ mướt, những tiếng chim ca ánh sáng trên đầu, cái buổi sáng bình yên trong ca dao, có cu gáy có bướm vàng của Huy Cận.

Tiếng nói tựa như cái toàn thể hiền hậu của một khuôn mặt hiền hậu, nhìn vào tâm hồn kẻ nhìn cũng hiền hậu theo. Nó tác động mãnh liệt trong tôi đến nỗi có nhiều buổi tối tôi đã rủ Phạm, rủ Trương cùng lên nằm ở căn gác trọ một người bạn cùng lớp – hắn ở sát nhà Luân – và qua một khung cửa khói bốc lên làm chảy nước mắt, chúng tôi đã chụm đầu hàng giờ lắng nghe tiếng Luân cười, nói từ dưới bếp nhà Luân vọng lên. Nỗi thích thú không bao giờ tìm lại được đã khiến tôi về sau thường nghi ngờ cái khiếu thẩm âm của mình trước bất cứ một tiếng hát, một điệu nhạc nào. Vọng lại từ quá khứ, hình ảnh Luân có thể sẽ nhoà mờ dần, nhưng tiếng nói của Luân cất lên từ những ngày đẹp cũ, âm thanh huyền hoặc của nó còn nguyên vẹn trong đầu óc tôi. Về sau, rời bỏ Hưng Yên, ở những lá thư dài viết cho Phạm cho Trương, tôi nhớ vẫn nói với bạn về cái tiếng nói của âm thanh và hình ảnh. Tiếng nói ấy suốt đời tôi vẫn còn nghe thấy.

Cụ Chánh kể chuyện gia đình cụ, tôi thuật lại đời sống mấy năm tản cư kháng chiến của tôi và đêm rừng bên ngoài tự bao giờ đã xuống. Chị Mùi đứng lên mắc màn, cụ Chánh mời tôi đi ngủ. Tôi nói tôi chưa buồn ngủ và đứng dậy. Ý chừng cụ Chánh đoán được ý tôi: “Thế anh ra ngoài một lát cho thoáng rồi vào đi ngủ kẻo muộn. Chắc em Luân nó còn ở dưới bếp”.
Tôi châm một điếu thuốc trong khoảng tối đen hoa mắt và lần bước về căn nhà bếp thấp thoáng ánh lửa hắt lên. Một tấm khăn trắng bịt kín đầu cho bụi cám khỏi vướng vào mái tóc, một cái áo bông đen phủ lên vai – đêm rừng lạnh buốt – Luân ngồi sàng gạo dưới ánh lửa. Tôi đứng lại. Tôi nhìn như thu vào hồn mình hình ảnh Luân lúc đó, lòng tay Luân nắm chắc mép sàng, những ngón tay xòe mở mềm mại, dáng ngồi nghiêng nghiêng, bờ vai rung nhẹ theo nhịp sàng, và những hạt gạo trắng muốt lọt sàng rơi rào rào xuống cái yên tĩnh huyền bí của đêm núi rừng. Cho tới khi cảm thấy sự có mặt của tôi, Luân ngẩng đầu lên. Đôi mắt thật buồn của Luân bắt gặp cái nhìn không giấu được cảm động của tôi. Luân ngừng tay sàng trong một giây ngắn rồi lại sàng tiếp. Tiếng nói nhỏ chỉ vừa đủ nghe thấy:
“Anh ngồi xuống đây, anh Trí.”
Tôi ngồi xuống trước mặt Luân. Một khoảng yên lặng – tôi đoán sao rừng chắc đang sáng nhiều vô kể – rồi Luân cất tiếng:
“Anh nói đi tìm địa điểm cơ quan, anh nói dối thầy em, phải không?”
Tôi gật đầu:
“Anh biết Luân ở đây. Anh lên tìm Luân.”
Câu trả lời hình như không làm Luân sung sướng. Mà trái lại. Khuôn mặt buồn, đều tay sàng, với một giọng nói cố làm thản nhiên.
“Anh sắp đi khỏi nơi này. Anh sắp về phố Hà Nội phải không?”

Tôi kinh ngạc về cái dự định thầm kín bị Luân đoán trúng tuy đã định kể hết cho Luân nghe chuyện tôi sắp bỏ đi xa, cuộc khởi hành sắp tới là nguyên nhân chính khiến tôi đã đi bộ suốt hai ngày đường để găp lại Luân lần cuối cùng. Tôi cúi đầu xuống trước viễn tượng một chuyến đi tự nhiên trở nên buồn thảm lạ lùng. Đấy em ạ! Người đàn bà đưa đường cho anh đã nằm chờ sẵn ở một địa điểm bí mật gần giới tuyến. Trên đường sang đây tìm em, anh đã ném hòn đá xuống dòng sông Mã, một hòn nữa xuống dòng sông Chu như những dấu hiệu vĩnh biệt, và sớm mai khi rời bỏ ngọn đồi này đi xuống anh sẽ đi những bước đầu tiên trên con đường trở về một thứ đất nước và thế giới bên kia. Anh biết em ở đây, trước khi bỏ đi, anh không thể không tìm gặp lại em một lần sau cùng. Gặp lại cho Phạm. Cho Trương. Cho em. Cho chúng mình. Cho một cái gì đã mất. Cho cái thế giới thần tiên, cái thiên đường lộng lẫy. Cho những buổi chiều của chúng ta trên con đê xưa, những buổi sáng của chúng ta trong căn vườn cũ. Cho cái vốn kinh nghiệm cần thiết của một đời người khi tới lúc không thể sống bằng kỷ niệm. Cho những ảo tưởng thực hơn nghìn lần sự thực. Cho những sự thực đã thành ảo tưởng. Cho sự chấm dứt của những năm tháng bình yên. Cho sự khởi đầu của những tháng năm đau đớn. Anh muốn khởi một cuộc hành hương trở về tuổi ấy, cái tuổi trăng tuổi sao trong máu trong tim, cái tuổi con bướm bông hoa ngoài đồng nội. Khi ngày mai đã là một đổi khác lớn lao, anh muốn về với lá thư, tấm hình, nỗi nhớ thương, niềm bâng khuâng, cái thế giới ảo tưởng, những rung động khởi đầu, tình yêu thứ nhất.

Nhưng tôi không thể trả lời mà hỏi:
“Sao Luân biết anh về Hà Nội?”
Luân đặt sàng xuống, lấy tay vun gạo thành một đống lớn, san phẳng rồi lại vun lên:
“Em biết anh sẽ rời bỏ nơi này ngay từ lúc trông thấy anh đột ngột hiện ra ở dưới chân đồi. Người xa lạ em còn biết, nữa là anh. Người đi xa có trở lại, người đi không về, em đều biết trước. Có lẽ vì mấy năm nay em nhìn thấy nhiều quá những cảnh kẻ ở người đi như thế.”
Con mắt Luân gửi vào một khoảng không, tiếng nói chỉ còn là hơi thở:
“Các anh đi và các anh không trở lại.”
Tôi cảm thấy một buốt lạnh toàn thân, còn buốt lạnh hơn đêm rừng vây quanh khi Luân nói tiếp:
“Em cũng không bao giờ gặp lại anh nữa đâu. Gặp anh lần này là lần cuối cùng đấy, anh Trí.”
Câu nói đượm một vẻ chịu đựng nhẫn nhục. Một thứ cúi đầu trước định mệnh. Tôi không tìm được ý tưởng chống lại nó. Chính tôi cũng cảm thấy như vậy. Lần cuối cùng. Hình ảnh của chia cách vĩnh viễn vây lấy chúng tôi. Khoảng tối đen khủng khiếp mở ngay từ chỗ này đến như đêm rừng trước mặt.
Luân lắc đầu như muốn đuổi đi hình ảnh đó. Luân đẩy cái sàng về phía tôi:
“Sàng hộ em một tay.”
Tôi đỡ lấy chiếc sàng nhưng không biết cách, làm gạo văng tung tóe khắp chung quanh khiến Luân bật cười.
“Các anh vẫn thế, chẳng được cái tích sự gì hết.”

Rồi Luân hỏi tôi còn nhớ không, những buổi chiều ngày xưa trên con đê Hưng Yên, chúng tôi tranh nhau gánh hàng cho Luân chưa được mấy bước đã bỏ vội đòn gánh xuống, những buổi sáng ở cầu ao nhà cụ Lý đòi giặt hộ Luân, đánh rơi cả quần áo, bàn chải, xà-phòng xuống nước. Nhưng một vài kỷ niệm ngộ nghĩnh vừa nhắc lại chỉ gây được cho Luân và tôi một nỗi vui ngắn. Nét buồn đã trở lại khuôn mặt khi Luân hỏi tôi về Phạm về Trương. Tôi cho Luân biết Phạm đã chết, thân thể tan nát trong một cuộc oanh tạc ngay trên mảnh đất quê hương của Phạm, và tin cuối cùng tôi nhận được của Trương cách đây đã hai năm là Trương sống vất vưởng bệnh tật tại một vùng nước độc gần biên giới.
Chỉ còn nghe thấy tiếng Luân nói: “Tội nghiệp cho các anh”. Lửa bếp tự lúc nào leo lét vừa tắt hẳn. Chỉ còn điểm sáng nhỏ của điếu thuốc cháy dở. Một tiếng tàn than nổ gọn trong bóng tối. Chúng tôi ngồi đối diện mà không trông thấy nhau như thế, rất lâu, tưởng như cùng lắng nghe một sự im lặng kỳ lạ nào, cho tới lúc Luân cất tiếng trước: “Mấy năm rồi anh Trí nhỉ?”. Tôi đáp: “Sáu năm”. Sự yên lặng, bóng tối, khiến tôi trở lại ý nghĩ ban nãy: chắc bây giờ sao rừng đang sáng nhiều vô kể bên ngoài. Tôi rủ Luân ra ngoài. Tôi nghe thấy gạo vun lại, tiếng sột soạt của tiếng vỉ buồm được kéo gọn vào một phía. Bước ra khỏi cửa bếp, tay tôi chạm nhẹ vào tay Luân. Tôi nghĩ đúng. Sao rừng trên đầu chúng tôi phút đó sáng nhiều vô kể. Những điểm sáng to nhỏ, lỗ đỗ, tưởng như một lúc nào đó sẽ rớt xuống sẽ đậu đầy trên đầu trên cổ chúng tôi. Mùi đất bốc lên, tiếng côn trùng rậm rạp ở những khoảng thấp. Nhịp chân xiêu xiêu cho tôi biết mình đang đi xuống. Được một quãng Luân đứng lại. Chúng tôi ngồi xuống một thân cây. Tôi kéo Luân vào gần cùng lúc một vệt sao sa tự đỉnh trời kéo một vệt thật thẳng thật dài mất hút vào những bóng núi. Luân đã cởi chiếc khăn bịt đầu tự lúc nào! Tôi ngồi yên, mặc cho những sợi tóc vướng vào cổ, vòng tay về phía trước thu gọn lấy hai bàn tay. Luân không chống lại. Cái thân hình thu nhỏ lại ấy như muốn kiếm tìm một sự che chở. Tôi thấy tôi không còn che chở gì được nữa cho Luân. Cuộc sống đổi khác và con người đã lớn. Cái thế giới thiên đường, thần thánh ngày xưa của chúng tôi đã che chở Luân. Cái thế giới ấy đã mất.

Luân ngã đầu vào vai tôi:
“Anh về Hà Nội sẽ làm gì?”
“Chưa biết em ạ, có điều chắc chắn anh sẽ bỏ học. Anh nghĩ anh sẽ sống một cuộc đời vô nghĩa và tầm thường. Đi buôn chẳng hạn. Nhưng thế nào anh cũng về thăm lại Hưng Yên. Đó là một trong những việc làm thứ nhất.”
Luân nắm chặt tay tôi như tìm thấy nguồn an ủi.
“Anh có về thăm Hưng Yên nhớ thăm cả nó cho em.”
Tôi gật đầu. Anh sẽ về thăm lại cái dấu tích, cái thiên đường đỗ vỡ của chúng ta. Cho em. Cho anh. Cho Phạm cho Trương nữa. Thềm nhà cỏ hoang, bờ ao không người. Bờ đê, những lối đi cũ. Anh sẽ không lấy lại được gì trên những dấu tích kỷ niệm ấy, nhưng anh sẽ về. Người ta không sống được bằng kỷ niệm, nhưng trên những lông lá mới mọc và sự đổi khác ghê gớm của tâm hồn và hình thể, anh muốn trở về soi ngắm mặt mũi mình xuống lòng nước cũ. Anh muốn nhận định lại nhiều điều và điểm khởi hành phải bắt đầu từ đó.
“Em thì không bao giờ trở về Hưng Yên được nữa”, Luân nói một cách tuyệt vọng. “Em sắp lấy chồng rồi.”
Tựa hẳn đầu vào vai tôi. Luân đã kể cho tôi bằng cái giọng đều đều nhẫn nhục của kẻ ưng chịu cảnh ngộ về người đàn ông mấy tháng nữa, thân thể tàn phế, sẽ chống lên mình chiếc nạng gỗ và sẽ tập tễnh đi lên ngọn đồi này. Tên hắn là Mạnh. Cũng tử tế, hiền lành, người quê mùa, theo Luân, Mạnh bị thương trong một trận đánh đồng bằng ngoài liên khu 3, hiện đang nằm ở một quân y viện cách đây ngót hai mươi cây số, lý do chính đã khiến tôi cho gia đình Luân đến khẩn hoang ở ngọn đồi trọc này. Luân không yêu Mạnh. Cuộc hôn nhân cũng vô nghĩa như đời sống những tháng năm vừa qua, vô nghĩa như đời sống con người trong chiến tranh. Nhưng cái ý định ở mãi mãi với Mạnh có từ buổi xuống thăm Mạnh ở bệnh viện.
“Em nhìn thấy chiếc nạng gỗ và Mạnh lúc đó. Và thế là xong.”

Luân nhắc lại một cách tuyệt vọng:
“Thế là xong.”
Tôi muốn tìm một câu nói an ủi Luân, nhưng tôi không nói được gì. Trong một yên lặng kéo dài vòng tay tôi ôm chặt lấy người Luân hơn, tôi nhìn những điểm sao lấp lánh trước mặt, nghe tiếng côn trùng rậm rạp xuất lên từ những khoảng thấp dưới kia, và tôi nghĩ đến cái đêm cuối cùng, lần gặp gỡ cuối cùng. Tôi xoay người Luân trở lại và, trong cái ý nghĩ gửi về một cái gì đã mất ấy, tôi cúi xuống hôn Luân. Tôi hôn Luân nồng nàn và tôi nói:
“Anh hôn em lần đầu tiên và lần cuối cùng.”
Luân khóc không thành tiếng. Nước mắt Luân ướt đẫm hai gò má. Lúc tôi đỡ Luân đứng dậy và chúng tôi cùng đi trở lên đỉnh đồi, cánh tay Luân khoác chặt lấy tay tôi khiến tôi có cảm tưởng như tôi, Luân cũng muốn ghi nhớ những phút cuối cùng như kỷ niệm nõn nà đau đớn nhất của một thời đã mất.
Sáng hôm sau, tôi xuống núi thật sớm. Như người đi trốn. Tôi không có can đảm ở lại để nhìn thấy cái hình ảnh lam lũ của Luân đẩy lưỡi cày trên nền đất rừng cằn cỗi. Con đường nhỏ mờ mờ mở ra từ chân ngọn đồi. Trời đã sáng nhưng hai bên núi rừng còn yên lặng ngủ. Gần tới đường lớn tôi trông thấy một con bướm. Nó đậu trên một bụi cây thấp. Mình nó vàng ánh với những chấm đen ở hai đầu cánh. Tôi bắt lấy con bướm và bỏ đi không nhìn trở lại.
Suốt dọc đường tôi nghĩ đến Luân, đến Phạm, đến Trương, đến tôi. Lúc nhìn xuống, con bướm tự lúc nào đã chết nát trong lòng bàn tay.

Mai Thảo

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

Vũ Thành An, Giã Từ Nhạc Không Tên
Nguyễn Ngọc Chấn

Năm 1955 tôi là một trong số 150 học sinh "bắc kỳ nho nhỏ" trúng tuyển vào lớp đệ thất đầu tiên của trung học Chu Văn An tại Sài gòn. Sau khi trường Bưởi dẹp tiệm tại Hà nội,bầu đoàn thê tử cũng di cư vào Nam trên mấy chiếc "Tầu Há Mồm", LST. Nhu cầu học vấn cho vài chục ngàn con em gia đình Bắc di cư thật cấp bách. Sau một năm chuẩn bị, Chu Văn An khai giảng tại Sàigòn.

Thoạt đầu trường sở phải ăn nhờ ở đậu phía sau trung học Petrus Ký. Một dẫy lầu 3 tầng dành cho các lớp lớn theo trường vào Nam. Chúng tôi là lính mới tò te, con đầu lòng Chu Văn An tại Sàigòn. 150 nam tân binh chia thành 3 lớp cùng với một lớp "nữ" chiếm dẫy nhà trệt phía trong.

Trước hết xin giải thích để độc giả khỏi thắc mắc. "Chu Văn An là trường Nam, sao lại có một lớp nữ sinh?." Đây là chuyện khó tin nhưng có thật. Năm ấy Trưng Vương cũng di tản chiến thuật vào Nam, trong lúc "tái phối trí", chưa sẵn sàng trường sở, phòng ốc còn "khiêm nhường" mà ngày khai giảng đã đến. Chu Văn An đã yên bề gia thất, mặc dù ăn nhờ ở đậu, nhưng đã có đất cắm dùi bèn nhính cho Trưng Vương một lớp gọi là giao duyên.

Lý do thứ hai, thày hiệu trưởng Vũ Ngô Sán, có hai cô con gái đến tuổi vào đệ thất. Tôi còn nhớ rất rõ tên tuổi hai cô: "Tây lầu hai đấng nữ nhi, Bích Liên là chị, em thì Mai Hương". Nhân dịp Trưng Vương cần lớp, Thày Sán tình nguyện cho mượn một lớp, vừa tỏ tình hữu nghị, vừa tiện việc kiểm soát hai cô con gái rượu.

Cũng vì có âm dương đề huề dưới cùng một mái trường, lớp chúng tôi quả thực có những sinh khí lạ thường. Cũng từ dẫy nhà ngang trên đường Trần Bình Trọng năm ấy đã đào tạo ra bao tên chọc trời khuấy nước trên mọi phương diện:

Bên thi văn có nhà thơ lực sĩ "Du Tử-Lê Cự Phách", Đả Cẩu Trương trọng Trác. Bên võ có Trụ Huỳnh-Trần Tán Trụ, một mớ khá bộn trung tá đại tá. Phía báo chí có "Ngọc Hoài Phương Kều". Bên điện ảnh truyền hình có "Cậu Trời Nguyễn Ngọc Chấn". Cửa quan có "Bùi Bảo Trúc Mảnh Mai" bên ngân khố có "Nguyễn Đình Hùng". Phía tu hành có Thày "Võ Hữu Hiệu" trụ trì tại động Washington. Riêng bộ môn nhạc, một sự ngạc nhiên vô cùng thích thú, có "Vũ Thành An"..v..v.

Trong hai năm học chung, Vũ Thành An là cậu học trò bị anh em chọc ghẹo nhiều nhất. Mang tên đầu mẫu tự, An bị xếp ngồi bàn đầu, dẫy ngoài. An cao lêu khêu từ hồi 13 tuổị Vần "C", ngồi ngay sau lưng Vũ Thành An cũng là cái lợị Tôi có khiếu làm biếng từ lớp đệ thất, mỗi khi không thuộc bài tôi núp mình theo chiều cao của An để tránh hướng nhìn, thày khỏi kêu trả bài. Từ đó động từ "che gió" được chế ra.
Vũ Thành An hiền và nhút nhát như con gái. Anh em đùa là chàng ngồi lộn lớp, đáng lẽ hắn phải ngồi lớp B3, của con gái. An trắng trẻo, cao ráo, hơi đẹp trai. Mỗi lần bị ghẹo mặt hắn ửng lên trông cũng xinh và tội nghiệp.

Chúng tôi làm văn nghệ, bích báo rất sớm, từ đệ nhất lục cá năm 1955. Vũ Thành An chưa trổ mã trên sinh hoạt văn học. Xuân năm ấy chúng tôi tổ chức văn nghệ liên lớp đệ thất. Nhân lực có thừa cả nam lẫn nữ, muốn làm cho các lớp đàn anh lác mắt.

Các cô B3 hát và múa líu lo, có cô Ngân giọng hay như Bích Chiêu, sau thành ca sĩ Bích Quyên. Tôi phụ trách kịch B2, làm một vở kịch tham ăn, tự biên tự diễn với cái hỗn danh là "Cậu Trời". Vở kịch cần một nữ đóng vai chị vợ hiền, kềm chồng bớt ăn để khỏi mang tiếng. Các chị bên nữ chẳng ai dám đóng vai vợ "Cậu trời", chúng tôi đè Vũ Thành An ra bắt đóng vai cô vợ . Cái bẽn lẽn của Vũ Thành An làm cho vở kịch thêm vui nhộn.

Năm đệ ngũ một số ở lại, số khác chia tay rải qua các trường khác tại Sàigòn, Gia định. Ngoại trừ một vài anh em cùng sở thích, còn liên lạc với nhau, các bạn Chu Văn An cũ phân tán mỏng.

Năm 1961, đang ở Kiến Hoà, cuối tuần về Sàigòn thăm gia đình. Tình cờ nghe radio theo dõi chiến dịch cứu trợ nạn lụt miền Trung, Nhạc sĩ Đan Thọ giới thiệu một nhạc phẩm có nội dung chia sẻ nỗi khổ của đồng bào ngoài nớ. Ông Đan Thọ giới thiệu ca khúc này là sáng tác đầu tay của một nhạc sĩ mới. Tên Vũ Thành An, tác giả ca khúc gây cho tôi một sự thắc mắc. Chẳng lẽ anh chàng trai trẻ, nhút nhát ngày xưa đã bắt đầu sáng tác.

Tôi nhớ sau khi diễn kịch năm 1955, An mắc cỡ, muốn khóc, thề suốt đời không lên sân khấu. Chờ mãi radio không phát lại bản nhạc "Giòng nước oan khiên", hy vọng bạn tôi đã thành danh, anh em xa bắc quàng nhận họ. Tôi hơi vô lý, nạn lụt đã hết ai còn phát nhạc lụt làm gì nữạ

Năm 1965 dạy học dưới tỉnh, tôi ngạc nhiên vì những ca khúc không tên, mang tâm trạng não nuột của kẻ si tình, thất tình trở thành đầu môi chót lưỡi của thanh thiếu niên. Tôi biết ngay tác giả Vũ Thành An chính người ngồi che gió suốt hai năm Chu Văn An cho tôi.

Từ đó tên tuổi Vũ Thành An được nhắc tới trên radio, tại phòng trà, quán cà phê, ngoài phông tên nước, khắp hang cùng ngõ hẻm, đâu đâu cũng nghe những câu hát của Vũ Thành An.

Tôi chỉ gặp lại An vài lần ở Sàigòn, chưa kịp tâm sự thì đã phải chia tay. Cuộc đời cứ lặng lẽ trôi, An viết nhạc, đi lính, làm thông tin..v..v. Tôi dạy học, làm lính, làm phim và làm biếng.

Một buổi chiều năm 1991 vợ chồng Ngọc Hoài Phương mời tôi xuống nhà ăn cơm tối, nhân tiện họp mặt bạn cũ vừa qua theo diện "HO gà". Thật xúc động gần 30 năm mới gặp lại những người bạn cũ. Hình ảnh thuở học trò hiện về trong ký ức thật mãnh liệt. Giờ đây đa số đã thành danh và thành ông nội, ông ngoại. 8 thằng chúng tôi ồn như cái chợ, tranh nhau nhắc lại những trò phá phách ngày xưa. Lâu lắm mới nghe nhắc đến cái hỗn danh "Cậu Trời" của tôị Nguyễn quang Minh, pháp danh "Minh Dê" vẫn hiên ngang như ngày nào, mặc dù tên trung tá giặc "Xe Bọc Sắt", gỡ mười mấy cuốn lịch, trở về mất vợ, lạc con. Đào Chí Hồng chính danh "Hồng Trố" vợ cũng đi chỗ khác chơi, vẫn triết lý vụn như ngày xưa. Vũ Thành An sống sót trở về chỉ còn con, lạc mất vợ!

An mới qua được vài tháng cầm cây đàn thùng khoe với anh em một nhạc khúc vừa sáng tác. Anh chàng cao lêu khêu, mái đầu đã điểm nhiều mảng da trắng bóng, vẫn mảnh khảnh và còn nguyên vẻ thẹn thùng ngày xưa.

An dạo đàn, "nói lối" như sắp vô "sáu câu", tả oán cảnh cha con đi shopping. Sau mấy vòng quay cuồng, choáng váng nhìn ông đi qua bà đi lại, những hào quang trong thương xá. An ngồi trên ghế đá nghỉ chân. Giữa một không gian đầy người, An vẫn thấy mình cô đơn, trống vắng, nghêu ngao trong đầu một tâm khúc đem ra chia sẻ, làm qùa với anh em.

Nhạc phẩm "XA LẠ"..có những câu nghe nhức nhối:

Lang thang giữa dòng người xa lạ..
Rưng rưng đáy hồn niềm xót xa..
Đời đông đảo quá ngược xuôi vội vã...
Gần bên mà cứ như xa!

Vũ Thành An không hát mà anh thì thầm tâm sự. Tất cả những ồn ào của tiệc rượu lắng lại, bùi ngùi chia sẻ tâm trạng lạc lòng của những người bạn H.O.

Du Tử Lê bưng ly, tớp một hớp rượu, ôm bụng, ôm bút chạy vào "toilet". Năm phút sau trở lại ngồi bên Vũ Thành An, dúi cho bạn một bài thơ viết trên giấy hiệu "kiss me". Lê bảo An, cho mày bài thơ, chừng nào rảnh phổ nhạc, kỷ niệm ngày hội ngộ. An ngập ngừng đọc bài "Nhìn nhau chợt thấy ra sông núi".

Thơ Du Tử Lê nghe thật cô hồn, nhất là thơ viết về bằng hữu, tới đoạn nhắc đến "cậu Trời, tôi giật mình, vội vồ lấy trước khi Vũ Thành An phổ thành nhạc. Tôi yêu cầu cậu Lê bỏ đoạn nói về tôi, để khỏi làm sứt mẻ lòng yêu thương của các tín đồ đối với tôi. Đoạn thơ nói về thời gian tôi "bụi".

Thơ rằng :

Thằng Chấn năm xưa nhận Cậu Trời,
Chúng mình đương học nó đà chơi,
Mười ba tuổi rưỡi nghề: thuê chém!
Bố khỉ! giờ đây cũng hóa ngườị

Sau tiệc rượu chúng tôi lại chia tay, Vũ Thành An chưa hết xót xa, chuyện gẫy gánh với vợ. Năm 1980 An còn ngồi gỡ lịch trong trại cải tạo Hà Tâỵ Người vợ không còn "Quấn quít vân vê tà áo", mà ôm trọn gia tài "bỏ mẹ" ra đi khi trời vừa sáng.

Nắng Cali không đủ làm ấm lòng, Người Cali không làm anh hết "Xa Lạ", An tìm lên miền Bắc sống trong âm thầm với mấy con.

Cách đây vài hôm An về Cali, tổ chức đêm văn nghệ nghe rất lạ tai: "Đêm Vũ Thàn An giã từ nhạc tình". Bạn bè hỏi tôi không biết đâu trả lời. Đêm 7 tháng 6, An nhính cho tôi vài giờ để ăn vội với nhau tại quán "Bắc Kỳ Nguyễn Huệ". Bữa ăn có Vũ Thành An, Du Tử Lê, Ngọc Hoài Phương, Hồng Trố và tôi. Sau bữa cơm thanh đạm tôi và Du Tử Lê kéo đến VAALA nghe nhạc "NHÂN BẢN" của Vũ Thành An.

Trước khoảng gần một trăm thân hữu ngồi chật phòng hội nghe Nghiêm Phú Phát đàn, Vũ Thành An hát. Nhạc mới do An sáng tác cũng có và nhạc cũ do Ngân Hà giúp vui nghe vẫn phê. Đoàn Châu Nhi chơi Guitar, Ngô Công Hậu ngâm thơ. Phòng họp VAALA nhỏ, vừa đù cho anh em nghe nhạc và chia sẻ những tâm tình rất đơn sơ nhưng thật đậm đà.

Tôi muốn phỏng vấn Vũ Thành An vài câu mà phải chờ từ 5 giờ chiều, ăn cơm với bè bạn, nghe nhạc ở VAALA với bằng hữu. Sau cùng hai thằng may mắn lọt vào tiệm fast food "Carl Junior" 3 phút trước giờ tiệm đóng cửa lúc 11 giờ khuya để làm cuộc phỏng vấn.

Trong lúc nhà hàng khóa cửa, nhân viên hút bụi, đổ rác, tôi mở máy thâu băng để phỏng vấn An trước khi nhà hàng đuổi ra. Vẫn quen làm việc như kiểu đánh du kích, tôi đi thẳng vào câu hỏi vì không còn thì giờ rông dài nữa.

Chấn Ngọc Nguyễn (CNN): Lý do Vũ Thành An từ giã nhạc Tình?

Vũ Thành AN: Không phải tôi từ gĩa nhạc, Vũ Thành An chỉ ngưng viết nhạc tình yêu lứa đôi. Tôi chuyển mình đi vào một loại nhạc khác ca ngợi tình yêu cao quí hơn, phổ quát hơn đó là Thánh nhạc và Thánh Vịnh.

Chuyện rất dài nhưng tóm gọn: Kể từ năm 1981 tôi được ơn cứu rỗi lúc cải tạo tại Hà Tây. Thoạt đầu vì những dằn vặt của tình yêu, cuộc đời và danh vọng, tôi bị chứng mất ngủ tệ hại. Trong một đêm trằn trọc, tôi nghe hai anh bạn tù thì thầm với nhau, mỗi lần mất ngủ họ đọc kinh "Kính mừng" là sẽ tìm ngay được giấc ngủ yên lành.

Tôi là người ngoại giáo, năm 17 tuổi có theo một cô gái rất ngoan đạo. Một trong những lần gặp gỡ cô bé chép cho tôi kinh Kính Mừng, khuyến khích tôi học thuộc. Vì chiều lòng cô, tôi thuộc kinh cho đến naỵ

Nghe hai người bạn tù thủ thỉ, tôi thử đọc nhẩm kinh Kính mừng, Vừa đọc xong kinh tôi tìm được giấc ngủ lần đầu tiên sau nhiều tháng trằn trọc. Tôi bắt đầu tìm hiểu về Thiên Chúa Giáo. Được sự giúp đỡ của những Ky tô hữu trong trại cấm. Tôi được ơn cứu rỗi. Nghiệm thấy vài phép lạ, lén học thánh kinh, lén làm dấu thánh và lén làm nhạc ca ngợi Thiên Chúa, nhất là mẹ Maria. Tôi được các tín đồ Công giáo chấp nhận, thêm sức và rửa tội cho tôi trong một đêm thật thiêng liêng và cảm động.

Tôi viết nhạc Thánh ca từ đó và chỉ ghi nhớ trong đầu, không giám chép thành văn bản. Việc truyền giáo trong trại cải tạo là một hình thức phạm kỷ luật của trại có thể bị phạt rất nặng.

CNN: Trở lại với thời Nhạc tình, Vũ Thành An đi vào âm nhạc trong trường hợp nào?

VTA: Năm 1965 tôi là biên tập viên đài phát thanh Sàigòn với Nguyễn Đình Toàn, có quen một cô bạn, tình yêu lúc ấy còn mãnh liệt lắm. Cô bạn muốn có một bản nhạc làm kỷ niệm. Vì sự khuyến khích đó tôi sáng tác "Tình khúc thứ nhất". và các tình khúc số 2, 3, 4. Cuộc tình kéo dài được một năm thì chấm dứt "Bài không tên cuối cùng" đánh dấu thời điểm đó. Các nhạc phẩm không tên được ái mộ vì nó là tâm trạng chung của nhiều người trẻ. Sau bài không tên cuối cùng tôi trở lại viết bài số 5,6,7...v...v.. không theo một thứ tự thời gian nào cả.

CNN: Sau cuộc tình thứ nhất chấm dứt, VTA làm gì?

VTA: Mình bị động viên ra trường làm quân cảnh, vào khoảng năm 1972,73. Được 6 tháng thì biệt phái trở lại Đài Phát Thanh Sàigòn và, sau đó làm trưởng Ty Dân vận Chiêu hồi tỉnh Gia Định. Trong suốt thời gian đi lính đi làm, mình bớt sáng tác. Năm 1974 mình viết một đợt gồm có bốn bài về "Người", chưa kịp phát hành thì sập tiệm mình ngưng luôn.

CNN: 30 tháng 4 /1975 Vũ Thành An làm gì?

VTA: Đầu năm 75 tôi qua làm Bộ thông tin, rồi trở lại làm tại Đài Phát Thanh Sàigòn vào những ngày cuối tháng 4. Tôi bị xúc động vì chính tôi phải phát thanh cuốn băng đầu hàng của Tướng "Big Minh".

CNN: Sau đó An ra sao?

VTA: Tôi bị bắt học tập, nếu chỉ làm trưởng Ty dân vận thì vài năm là về rồi, nhưng không may trong công ăn việc làm, cứ chuyển từ sở này qua bộ nọ. Hồ sơ cải tạo lung tung, họ nghi mình làm lớn hoặc có liên hệ với CIA chi đó, vì thế mình gỡ hơn 10 cuốn lịch. Thoạt đầu từ Long Thành ra Bắc Thái, Thanh Hoá, Hà Tây, Nam hà rồi mới được thả. Mình cũng nếm đủ 4 món ăn chơi của Bác và đảng.

CNN: Trong thời gian học tập Vũ Thành An có sáng tác không?

VTA: Có chứ, nhiều bản nhạc được làm trong thời gian cải tạo nhưng chỉ ghi nhớ trong đầu, chưa từng phổ biến. Nội dung những nhạc khúc trong thời gian đó mình nhấn mạnh đến cái nhân bản. Sau những chém giết, đổ vỡ, con người lại trở về với bản ngã của chính mình, cùng một mầu da, một sắc máu. Những bản nhạc mình trình bầy lúc chiều tại VAALA mang những tâm tình đó, lần đầu xuất hiện. Tỉ dụ bài "Nhân Bản 1" sáng tác năm 1983 tại Nam Hà thế này:

Từ đầu trời cuối đất ta đã là người nhà
Về đầu trời cuối đất ta vẫn một mẹ cha
Hãy xích lại đây chắp tay nguyện cầu
Hãy dắt dìu nhau cho qua cơn lửa máu
Ta xiết chặt tay chung xây đời mới
Rồi mai sánh vai ta về trờị


Bài "Nhân bản 2 " thế này:

Mới đang dầu đời sống vui
Đã rơi vào kiếp lao tù
Nghiến đay hận thù mãi thôi
Ta đâu phải là con thú
Tới lui một vùng kẽm gai
Loanh quanh một kiếp lưu đầy
Miếng ăn từng ngày xót xa
Ôi tình nghĩa lớn quê nhà...v...v.


CNN: Cải tạo ra Vũ Thành An có viết nhạc trở lại không ?

VTA: Có chứ, ít lâu sau mình bắt đầu viết nhạc tình trở lại, từ bài không tên 12 trở đi, và kéo dài đến bài thứ 50.

CNN: Vũ Thành An qua Mỹ năm 1991, ở Cali ít lâu rồi di chuyển lên Oregon làm gì?

VTA: Lên Portland Oregon mình vào sinh hoạt trong các ca đoàn, từ đó Vũ Thành An mới có dịp viết lại khoảng 200 bản Thánh ca đã thuộc trong đầu từ ngày vô đạọ Tại Portland tôi có thời gian để nghiền ngẫm thánh kinh, viết thành 150 bài Thánh vịnh. Hình thức cũng là những giai thoại trong thánh kinh nhưng diễn giải qua điệu nhạc cho dịu dàng và dễ nhớ. Trong số 200 bài Thánh ca, hai cuốn CD đã được phát hành và phổ biến rộng trong giới Công Giáọ

CNN: Song song với việc sọan Thánh ca và Thánh Vịnh Vũ Thành An có sáng tác nhạc tình nữa không?

VTA: Từ ngày lễ tạ ơn vừa rồi, quyết định ngưng viết nhạc tình đã chính thức đến với tôị Tôi nghĩ rằng cuộc đời mình cũng chẳng còn bao lâu nhiêu, muốn dành hết khoảng thời gian còn lại để tu bổ đời sống tâm linh. Chuẩn bị cho đời saụ Tôi tin tưởng sau cuộc sống hiện tại sẽ có một đời sống về sau vĩnh cửu, vì thế tôi chuẩn bị tâm hồn thanh thản để sẵn sàng cho đời saụ

CNN: Lần này An trở lại Cali với mục đích gì?

VTA: Tôi muốn về đây có một lời chào đến khán thính giả đã nghe và yêu mến nhạc Vũ Thành An. Tôi có một lời chào từ gĩa các ca khúc tình yêu đôi lứa. CD "Tinh yêu ơi giã biệt" cũng sẽ phát hành trong dịp này để dánh dấu ngày giã từ một giai đoạn đời, từ nhạc tình qua nhạc Thánh ca. An hy vọng gặp lại bạn bè, thân hữu và các khán thính giả ái mộ để Vũ Thành An có dịp cám ơn sự ưu ái của tất cả quí vị trong suốt 3 thập niên vừa qua.

Xin Ân cần giới thiệu đến khán thính gỉa "Tình yêu ơi giã biệt". Chân thành chúc Vũ Thành An thành công, chúc bạn mạnh tiến trên con đường tâm linh bạn đã chọn


Nguyễn Ngọc Chấn, CNN
Quán Gió (cựu học sinh Chu Văn An, Trần Lục & Nguyễn Trãi 1955-1961)

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Bùi Giáng, Ðười Ươi Thi Sĩ

Michelle Phương Thảo
Ngày xưa, có người bước bảy bước đã làm được một bài thơ. Ai nghe nói thế cũng lắc đầu, le lưỡi, xem đó như là một thiên tài thi sĩ.

Cách đây không đâu lắm, ở miền Nam Việt Nam, có người mỗi ngày “sản xuất” chừng một ngàn câu thơ! Không biết ta nên xưng tụng người đó là “cái gì... tài,” và ta cũng không biết mỗi ngày người đó đi bao nhiêu... bước!

Người ấy chính là nhà thơ Bùi Giáng của nước Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi ngày nhà thơ này đều đi (hoặc chạy, hoặc nhảy) khắp nơi chốn: cánh đồng, làng xóm, phố xá, quán cà phê, nhà bạn bè, trường đại học... Có lẽ chính ông cũng không biết ông đã đi/chạy/nhảy bao nhiêu bước. Còn nên xưng tụng ông là gì thì chính ông đã tự xưng tụng chính mình: Ðười Ươi Thi Sĩ! Nói cho công bằng, hồi trước ông đã chọn một biệt danh: Trung Niên Thi Sĩ. Nhưng hình như càng lớn hơn tuổi trung niên, ông càng cảm thấy mình gần với... đười ươi nên đã đổi bút hiệu thành Ðười Ươi Thi Sĩ!
Image
Poster chương trình “Bùi Giáng, Ðười Ươi Thi Sĩ,” do Viet Art Center tổ chức. (Hình: Viet Art Center tổ chức)


Một vài dòng trên không đủ để diễn tả con người và thiên tài Bùi Giáng, một nhà thơ đệ nhất tiêu sái, cũng là nhà thơ đệ nhất... thần kinh. Bùi Giáng điên mà rất tỉnh. Bùi Giáng khùng khùng mà rất mực khôn ngoan. Bùi Giáng coi thường sự thế, tung hê tất cả, khuấy nát cuộc sống làm thành một đống lộn xà ngầu, nhưng Bùi Giáng lại là một nhà thơ mà tác phẩm được ấn hành nhiều nhất, trước cũng như sau 1975.

Nói cho cùng, không phải mỗi ngày Bùi Giáng đều “sản xuất” một ngàn câu thơ. Tuy nhiên, số lượng thơ ông để lại quả thật vô cùng đồ sộ. Nếu nói theo kiểu “góp nhặt cát đá” thì trong những câu thơ ông viết, rất nhiều câu được coi là thơ thần, người thường không thể viết ra được. Cũng chẳng lấy làm lạ, Bùi Giáng vốn ở “cõi trên” hơi nhiều. Bên cạnh đó, nhiều câu thơ khác của Bùi Giáng được xem là viết lung tung, lộn xộn, ý nghĩa mù mờ hoặc chẳng có nghĩa gì cả. Tìm hiểu những câu thơ ấy, người ta thấy rối mù thiên địa. Nhưng biết đâu đó cũng là những câu “thơ thần” mà “người trần mắt thịt” chúng ta không thể hiểu được lẽ nhiệm mầu, cao siêu trong ấy! Một số câu khác, nếu người đọc nắm bắt được cách nói lái tài tình của Bùi Giáng thì hiểu được, mà một khi hiểu ra rồi thì cười lăn chiêng!

Nhiều nhà bình luận văn học đã tìm cách tập hợp các bài thơ và các câu thơ lẻ của Bùi Giáng rồi san định thành từng tập, từng phần, từng chủ đề. Ðó thật là những công trình đáng kể, giúp người đọc hiểu thêm về “hiện tượng Bùi Giáng.” Nói chung, thơ Bùi Giáng có thể được chia làm hai loại: triết thi và tình thi, thơ triết lý và thơ tình yêu. Bước vào cõi thơ nào của Bùi Giáng, dù là triết hay tình, người ta cũng thấy bát ngát hương hoa.

Giờ đây Bùi Giáng đã trở về với “cõi nguyên xuân,” “cõi ban sơ” của ông; không còn đứng giữa ngã tư cuộc đời chỉ đường cho người ta tiến tới hay rẽ phải rẽ trái nữa; cũng không còn tận hưởng cuộc đời với tách cà phê, tô mì vịt nữa; mà cũng không còn si mê cuộc đời với bao nhiêu dáng dấp giai nhân nữa, nhưng tác phẩm của ông vẫn được in ra, rất nhiều; người viết về ông cũng vẫn viết đều đều, nhiều lắm; những buổi tọa đàm, thuyết trình về ông vẫn được tổ chức nơi này nơi khác. Quả thật, Bùi Giáng vẫn hiện diễn giữa chúng ta, giữa một cuộc đời mà ông đã từng sống trong đó một cách say mê, cuồng nhiệt.

Việt Art Center, một tổ chức có tôn chỉ giới thiệu văn học nghệ thuật Việt Nam với thế giới, trước “hiện tượng Bùi Giáng,” đã quyết định tổ chức một buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật với chủ đề “Bùi Giáng, Ðười Ươi Thi Sĩ.” Việt Art Center đã mời giáo sư Việt học và Ðông Nam Á học Quyên Di của đại học UCLA làm diễn giả chính trong buổi sinh hoạt này. Cuộc nói chuyện của ông được chia làm hai phần: phần đầu, ông nói về “triết thi” của Bùi Giáng; phần hai, ông cùng với Michelle Phương Thảo đối thoại về “tình thi” của Bùi thi nhân. Vốn là một giáo sư văn chương, lại có lối nói chuyện rất duyên dáng, dí dỏm, ông đã khiến cử tọa thu nhận được những chia sẻ đầy tri thức một cách say mê và thích thú. Ai đã từng nghe Giáo Sư Quyên Di nói chuyện đều có một nhận định chung như thế.

Phần văn nghệ trong buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật “Bùi Giáng, Ðười Ươi Thi Sĩ” sẽ do hai nghệ sĩ tài hoa và chuyên nghiệp đảm trách: ca nhạc sĩ Lê Hồng Quang và dương cầm thủ Tường Vân. Lê Hồng Quang là giáo sư thanh nhạc, anh đã luyện thanh cho rất nhiều người yêu thích nghệ thuật đơn ca, hợp ca. Chính bản thân Lê Hồng Quang cũng là một ca sĩ có giọng hát rất đặc biệt. Tường Vân là giáo sư dương cầm của trường Virtuosos Russian Music Academy. Cô đã đào tạo rất nhiều dương cầm thủ thuộc đủ mọi lớp tuổi, mọi thành phần. Trong buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật này, Tường Vân vừa đệm dương cầm cho tiếng hát Lê Hồng Quang vừa độc tấu những bản nhạc đặc biệt. Tài nghệ của cô chắc chắn sẽ khiến khán thính giả vô cùng ngưỡng mộ.

Buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật “Bùi Giáng, Ðười Ươi Thi Sĩ” sẽ được tổ chức vào ngày Thứ Bảy, 9 tháng 11, lúc 3pm, tại thính phòng thánh đường St. Anselm Episcopal Church, 13091 Galway St., Garden Grove, CA 92844. Vé có hai hạng: VIP $30 và đồng hạng là $20 đang được đặt bán tại nhà sách Tự Lực, 14318 Brookhurst Street, Garden Grove, Ca 92843.
Ðiện thoại: (714) 531-5290.

Việt Art Center hân hạnh đón tiếp quý khách để chúng ta cùng chuyện trò về nhà thơ đặc biệt Bùi Giáng, một hiện tượng văn học của miền Nam Việt Nam.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Cây Hoàng Lan Hóa Thành Cây Si
Hồ Anh Thái

Mẹ càng đến tuổi về hưu thì bao nhiêu duyên lặn vào đang lặn vào trong bong hết ra ngòai, thóang nhìn lại tưởng người đàn bà hồi xuân tuổi bốn mươi. Trong nhà xưa nay duy trì một không khí cực kỳ dân chủ. Như mọi gia đình không có trụ cột đàn ông. Em gái tôi thông thạo tiếng Anh bảo là mẹ charming & attractive, ngày càng hấp dẫn và quyến rũ. Mẹ bảo cô nịnh thế chứ nịnh nữa thì con cô cứ phải đi nhà trẻ cho nó cứng cáp, xã hội hóa cho nó từ bé đi, tôi chẳng làm vú em bế con cho cô đâu, không nghe dân gian người ta nói à, càng già càng dẻo càng dai, bế cháu kêu nặng cõng trai trèo tường.
Tôi thì không nịnh mẹ. Dứt khóat không. Đơn giản vì tôi chưa con, còn lâu mới lấy vợ. Tôi phòng không, ngang hàng với mẹ.

Một đời mẹ vất vả. Tôi chắc thế. Hăm hai tuổi lấy chồng, hăm lăm tuổi chồng mất. Sinh được hai anh em tôi. Gái một con trông mòn con mắt, gái hai con mòn axít. Muốn ở yên mà nuôi con cũng chẳng xong. Tem phiếu bao cấp gạo nước không đủ. Tường đông ong bướm bay về. Vo ve. Nhặng xị cả lên. Có hẳn mấy anh trai tơ, mê lăn mê lóc. Anh hung hãn nhất dọa không lấy tôi, tôi xin tý tiết cả đôi ta, thế là em thủ tiết mà tôi khí tiết. Anh yểu tướng nhất thì thức suốt ba đêm bên giường trông tôi sốt li bì, đến mức mẹ đã mến lòng gật đầu cho xong. Đàn ông dễ thành công bằng chiến thuật thương con ăn mòn lòng mẹ. Chàng trai tân sắp đạt được mục đích với góa phụ, chàng cúi xuống định hôn nàng thì món ăn quá nhiều tỏi hôm ấy hại chàng. Hồi đó chưa có sing-gum với cun-e như bây giờ. Bị mẹ từ chối, chàng quay ra đòi uống thuốc ngủ tự tử, chàng không hung hăng bặm trợn, chàng yếu đuối chọn cách chết êm.

Rồi chẳng chàng nào chết. Mấy chàng trai tân ngày ấy về sau cũng lấy vợ, không đẹp lắm, con cũng không khôn lắm, nhà cửa chẳng biết làm sao mà bây giờ đều rơi vào một khuôn công thức, thành một đám ngũ tuần chuyên gia đi hát karaoke đọat giải Bàn tay vàng. Tôi bình luận ngày ấy mẹ lấy họ chắc bây giờ khổ nữa. Mẹ cười, biết đâu họ lấy được mẹ, bây giờ họ nên người.
Phụ nữ đẹp, lại thêm họat bát, thường có chút tự tin hoang tưởng. Chút hoang tưởng ở người đẹp khiến họ dễ quên cay đắng. Nó cũng là một thứ nội gián của đàn ông ở ngay trong lòng đàn bà. Tấn công một pháo đài hoang tưởng chỉ cần ranh mãnh một chút, thậm chí pháo đài thất thủ mà mà vẫn không tự biết. Mẹ rốt cục thất thủ trước một người đàn ông ra dáng đàn ông. Một kiểu đàn ông bất cứ người đàn bà nào cũng mơ ước. Chàng đưa nàng vi vu đi đó đi đây. Chàng đưa đón anh em chúng tôi đi học, kèm cặp bài vở cho cả hai đứa. Sửa từ cái bếp dầu cho đến cái mái nhà mưa dột. Các lọai châu chấu ma, cào cào ma lượn lờ quanh nàng, chàng làm một bữa rượu mời tất. Mấy bồ âm mưu, mấy bồ dục vọng được dịp thổ lộ trút bỏ, rượu vào ôm nhau khóc bây giờ mày mới hiểu tao, bây giờ em mới hiểu anh. Xong rồi tan hết mỗi người một phương.

Chàng và nàng đang mặn nồng thì một hôm vợ chàng xồng xộc xông đến cơ quan nàng. Bà thợ dệt kiện tướng đứng mấy chục cái máy dệt, chẳng nói chẳng ràng, chồm vào cô kiều mảnh mai lả lướt, hai tay tát vun vút như thoi đưa. Đòn ghen kết thúc bằng một chưởng độc: bà vợ túm tóc nàng dúi xuống. Nàng cũng quờ quạng theo bản năng, túm được tóc tai đối phương. Hai cái đầu chúi xuống gần sát đất, hai cái phao câu chổng lên trời. Hai đối thủ trùng trục trong hội chọi trâu ở Đồ Sơn, ngoắc sừng ghìm đầu nhau xuống, biểu diễn miễn phí cho cả cơ quan nàng đứng xem.

Mọi cuộc đánh ghen đều kết thúc bằng sự can thiệp của đàn ông. Người can thiệp là một đồng nghiệp của nàng, biệt danh Đại dương, không phải vì yêu biển lớn mà có nghĩa là một con dê to. Ông dê to đi vòng ra sau cái phao câu đang chổng lên của bà Họan Thư, thò tay vào giữa hai chân bà ta, thành thạo làm động tác móc lốp. Bà kia trúng hiểm giật mình đánh thót, rú lên ối giời ơi thằng khốn nạn. Buông ngay tình địch ra. Ông Dê To đắc ý lắm với miếng võ cứu người đẹp. Ngày thường, ông Dê to vẫn bị coi là bệnh họan, các nữ đồng nghiệp ai cũng bị ông lợi dụng sờ mó, động chạm. Nhưng sau cú ngăn chặn có hiệu quả trận đánh ghen, ông Dê to được cánh đàn ông trong công ty học hỏi, nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm.
Những vết thâm tím trên mặt mẹ chưa kịp tan hết thì người tình của mẹ bị bắt. Chàng cho vợ uống một bát thuốc bắc sắc cùng bả chuột. Tất nhiên là chết đứ đừ. Chàng nàng bị điệu ra tòa. Nàng có nhân chứng, bằng chứng ngọai phạm. Nàng cũng chẳng biết tí gì về âm mưu thanh tóan vợ của chàng. Tuyệt nhiên không. Chàng một mình đi tù.

Nàng từ đấy thề độc, không bao giờ yêu đương lả lơi nữa.
Được gần hai chục năm cho đến bây giờ. Càng già càng duyên. Lại tường đông ong bướm bay về. Lại các ứng cử viên nô nức đến nhà. Đối tượng của mẹ toàn mầm non công ty nghĩa trang hoàn vũ, đa số là hội viên bể bơi người cao tuổi, sân vận động tình nghĩa. Các bậc phụ huynh càng cao tuổi, càng kiễng chân tươi duyên, rướn cổ tình tứ, gồng mình lãng mạn. Mẹ xiêu lòng, thầm xóa bỏ lời nguyền. Tôi cũng xiêu lòng theo, con chăm cha không bằng bà chăm ông, con chăm mẹ không bằng ông ké chăm bà già. Tôi gật đầu bật đèn xanh. Từ nay mẹ được phép mở cuộc kén rể. Trong khuôn viên gia đình có cây hoàng lan từ thời ông ngọai tôi. Tôi đặt dưới gốc cây bộ bàn ghế mây kiểu Louis XIV.
Địa điểm: dưới gốc hoàng lan
Thời gian: một ngày cuối tháng
Đối tượng: mỗi tháng một người
Nội dung: chuyện đời tôi
Tên chương trình: chân dung cuối tháng

Mỗi đối tượng được mời đều phải theo quy định kể chuyện đời mình trước. mẹ có nhiệm vụ lắng nghe truyền đạt lại cho tôi.
Câu chuyện thứ nhất …
Chân dung thứ nhất,
Ông tên là A. Tên thật. Không phải tôi sợ phiền viết tắt. Tên ông như một tiếng reo ngạc nhiên bất ngờ vỡ lẽ. Sáu mươi hai tuổi. Ly dị vợ. Con cái đều đã có gia đình không tróc nã gì ông. Nghĩa là nếu mẹ về theo ông thì con cái ông không đứa nào đến ăn theo, quấy phá, đòi chia tài sản vân vâ. Chân dung A đến đấy là hết. Đơn giản.

Nhưng ngay tối hôm đó, mẹ vừa kể chuyện xong cho tôi biết cái chân dung đầu tiên thì ông A gọi điện. Đã khuya. Hai mẹ con tôi nháy nhau, cầu hôn gì mà vội vàng thế, đánh nhanh thắng nhanh thế. Mẹ hỏi có chuyện gì vậy anh? Tôi nhận thấy ngay từ cái nhìn đầu tiên rằng cô và tôi có cùng chung quan điểm hòai bão lý tưởng, cùng chung sở thích, chung gu, chung thú vui. Em đâu dám. Không, tôi nói thật, có cái này tôi viết nhờ cảm hứng sau buổi gặp gỡ duyên số chiều nay, tôi đọc cô nghe. Thôi anh ơi, tâm trạng em lúc này chưa sẵn sàng đọc thơ, anh để cho khi khác.

Không gì uy hiếp mẹ bằng dọa đọc thơ cho bà nghe. Mấy ông nhà thơ bạn mẹ hai giờ sáng gọi điện thọai, tôi vừa làm bài thơ trong cơn xuất thần, tôi đọc nhé. Mẹ gà gật ôm máy ừ hứ à há như Tây. Mọi thứ thơ lang thang trong vườn cảm xúc, có thể nổ máy bất kỳ từ đâu, có thể dừng lại hái hoa bắt bướm ở bất kỳ đâu cũng được. Mẹ mơ màng chìm đắm một lát, giật mình tỉnh dậy, xong rồi hả anh. Xong rồi, bây giờ để tôi đọc cô nghe bài này, bài này hay hơn bài trước. Hết bài thứ hai, ông bảo còn bài nữa, bài này mới thật là hay. Bài thứ tư ông bảo hay một cách độc đáo. Bài thứ năm thì tuyệt đỉnh. Bài thứ sáu thì tuyệt vời. Cứ thế, ông tranh thủ xuất bản miệng. Một thời gian sau xuất bản phôtôcopi, tự trình bày vẽ minh họa chim lá cá gái. Công đọan cuối cùng là bỏ ra năm bảy triệu in thành tập, vừa biếu vừa cho cũng đắt hàng. Một người làm quan cả họ được nhờ, một người làm thơ cả họ bơ phờ. Mẹ dặn tôi hễ thấy mấy ông thơ gọi điện đến thì phải nói mẹ vắng nhà. Mẹ dạy tôi nói dối kể từ ngày ấy.

Bây giờ nghe ông A đòi đọc, mẹ hoảng lắm. Ông A bị từ chối phũ phàng thì hung hẳn lên. Ông dám nói những lời một người ngày đầu ra mắt chưa dám nói. Cô điên à, thơ thẩn đồng nát nào ở đây, thơ nào so sánh được. Mẹ giật mình. Tò mò nổi lên. Thế là ông chớp thời cơ đọc luôn.

Bản kiến nghị dài của một con người tâm huyết luôn ưu tư trước tình hình đất nước gửi lãnh đạo Đảng và chính phủ. Ông chê tất, chẳng còn gì mà không chê, từ quản lý kinh tế cho đến quản lý đô thị, từ truyền hình văn hóa tầm thường bình dân cho đến giáo dục tùy tiện, từ y tế không nhân cho đến giao thông hốn lọan nhân chi chít. Mẹ ôm cái điện thọai không dây chạy khắp nhà một lúc, vừa nghe vừa bật bếp ga hâm lại đồ ăn cho tôi đi học tại chức bằng hai về muộn, sau vướng víu quá, mẹ đưa phắt điện thọai cho tôi nghe tiếp. Tôi áp ống tay vào nghe, cũng chạy khắp nhà, việc mình mình làm. Lúc này đã sang chương phê phán lối sống tiêu thụ thiếu lý tưởng của thanh niên thời đại. Tôi mà không làm xong bài tập trên màn hình vi tính hôm nay thì ngày mai tôi cũng xa rời lý tưởng. Thế mà thỉnh thỏang cũng phải đệm thêm mấy âm thanh như thể mẹ đang nghe.

Định ừ hứ giọng bass nam trầm mới giật mình nhớ ra, phải đổi giọng à há cho ra vẻ soprano nữ cao.
Một tháng liền ông đến luôn luôn. Ôm theo một cặp giấy tờ những kiến nghị tâm huyết. Xuất trình cho mẹ những giấy biên nhận của các cơ quan chức năng hứa sẽ nghiên cứu trả lời. Trước khi ra về, ông tặng mẹ một cái chén uống trà ma-de-in Ý Đại lợi. Sao không tặng cả bộ mà chỉ tặng một chiếc? Mẹ tự giải thích là chàng muốn nàng chỉ uống trà một mình mà vò võ đợi chàng.

Vài ngày sau, ông lại đến. Lần này là đơn kiện ông thứ trường cơ quan ông. Bốn năm trước ông đã biết tay này lợi dụng chức quyền đưa một đống bà con đồng hương vào bộ, tay này ôm gọn cô trà nước tạp vụ, tay này có biểu hiện vọng ngọai diễn biến hòa bình, nhưng lúc ấy ông mũ ni che tai mồm lẩm nhẩm mình còn hai năm nữa hạ cánh an toàn. Sợ người ta moi ra mình khai bớt tuổi trì hõan về hưu. Bây giờ cái dằm cũ trong da thịt mới nhức nhối, tái phát. Bây giờ ông mới thực sự là chiến sĩ đấu tranh cho công lý. Hăng hái, dồn dập, bền bỉ, mạnh mẽ, không khoan nhượng. Trước khi ra về, ông tặng thêm một cái chén uống trà. Mẹ giải thích đấy là ông muốn nàng chỉ được phép uống trà với con trai nàng.
Đến cái chén thứ ba thì mẹ bảo chàng gửi gắm thông điệp mong muốn được trở thành thành viên thứ ba trong gia đình ngồi uống trà cùng với mẹ con tôi. Lần này ông xuất trình một đơn kiện nữa. Nghe nói cả cơ quan đang tang gia bối rối như đưa đám, lao đao lảo đảo như xơi quả nốc ao.

Mẹ con tôi chờ đến cái chén thứ tư. Nhưng ông không đến mà gọi điện. Trong đống giấy tờ hôm qua tôi để lại nhà cô có cái thư kiến nghị bổ sung, hôm nay cô cầm lên đưa cho tay vụ trưởng chuyển giúp tôi. Đêm qua tôi thức cả đêm thảo kiến nghị mới, bây giờ đau đầu quá không đi được. Cực chẳng đã, mẹ đi chuyển thư theo lời ông. Nhận là em gái chuyển thư giúp anh.
Ông vụ trường nhận thư, chân tình bảo, chị là em gái chị nên khuyên anh ấy. về hưu rồi ờ nhà nghỉ ngơi cho nó khỏe, chơi với cháu, đi dưỡng sinh, đi du lịch. Thiếu gì việc làm, mò đến cơ quan cũ làm gì. Anh em tiếp chuyện được vài hôm là sợ, thóang thấy bóng ông A là bỏ chạy hết như chạy giặc. Đùn đẩy nhau ra tiếp. Không phải tiếp mà phải hầu. Hầu chuyện. Toàn dạy bảo với chê bai thời thế. Cơ quan họp, ông cũng nhảy vào họp cùng,thủ trưởng mới nói một, ông là thủ trưởng cũ đế vào hai ba, ông không còn là vua nhưng cứ làm thái thượng hoàng bố vua.
Nhờ chị nói với anh ấy, giả sử không có chuyện gì làm, buồn chân buồn tay thì yêu đi. Già yêu mới đằm thắm, sẽ không còn hậm hực tức tối nữa.

Nói đến chuyện yêu đúng là đề tài ưa thích của mẹ. Mẹ long lanh ngôn ngữ đưa đẩy một lát thì chợt nhận ra cái chén trà đang cầm trên tay giống một cái gì đó. Súyt nữa nông nổi đường đột kêu nhà em cũng có ba cái giống hệt như thế này. Kịp nhớ ra người ta bảo gái đẹp không biết giữ mồm. Mẹ trầm ngâm uốn luỡi bảy lần rồi mới khen cái chén đẹp thật. Ông vụ trưởng bảo cơ quan có cả bộ sáu chiếc, một cán bộ đi Ý, công tác mang về, gần đây rơi vỡ mất đi đâu mất ba chiếc. Mẹ ngậm tăm im thin thít rồi chào ra về.
Nếu câu chuyện tiến diễn biết đâu nhà tôi sẽ có đủ bộ chén. Thói tắt mắt Kiều Trinh, kều được cái gì là kều được của ông A sẽ làm lợi cho người đẹp ngũ tuần. Nhưng mẹ đã mệt với đống giấy tờ bề bộn của ông. Lại cũng gần hết tháng thứ nhất. Giờ thì ông phải nhường chỗ cho chân dung cuối tháng thứ hai….
Ông đại tá về hưu…
Chân dung cuối tháng thứ hai…

Ông tên là Bê. Tên thật. Không phải tôi sợ phiền viết tắt. Đại tá về hưu. Vợ chết. Hai đứa con, đứa học phổ thông, đứa học đại học năm thứ ba. Nghe thế, tôi đã bảo mẹ không đủ lực chăm nom ăn học cho chúng nó đâu, cũng không thể theo được cho đến khi dựng vợ gả chồng cho chúng nó. Đấy là chưa kể ông ấy chết trước, chúng nó đòi nhà đuổi mẹ ra đường.
Lính tráng, má văn công, mông bộ đội, thấy cô văn công đong đưa lẳng lơ bao giờ cũng rạo rực hơn một cô hát nghiêm trang. Một nữ văn nghệ sĩ lúng liếng đưa đẩy họat ngôn một tý là đọat giải của lính. Thành ra mẹ lọt ngay vào tầm ngắm ông chỉ huy của lính.

Hôm đầu theo đúng quy định trần thuật chuyện đời tôi. Hôm thứ hai ông kể chuyện tình yêu của lính, tranh thủ tạt qua nhà ba ngày lấy được vợ, ở với vợ một đêm cũng có con. Lính thì đái vào gốc chuối, chuối phải chửa. Kể xong lại bảo biết hát, ngày xưa đọat giải trung đoàn. Hát quan họ luyến láy ới a, đàn ông hát quan họ lại còn nhắm mắt, lắc người, trai lơ đĩ thế nào. Bướm lượn là bướm ối a nó bay. Mẹ buộc miệng sao hát bậy thế. Ông phật ý không hát nữa, có thế em đã kêu bậy, em làm người nhà của lính thế nào được.
Lần thứ ba ông đến sinh nhật mẹ. Tôi đứng bên cửa sổ tầng hai nhìn xuống đường thấy ông đi xe máy tới. Ngồi xe máy hai chân khùynh khoàng, bẻ tõe ra hai bên đón gió muôn phương. Hai ống quần pho màu quân phục, kéo xếch lên tận đầu gối, hở một đọan bắp chân, trước khi cổ chân mất hút vào trong đôi bít tất cũng màu quân phục. Đến gần nhà tôi, ông xuống xe dựng chân chống xuống rồi quay lưng ra đường, người ốp sát vào gốc cây. A, ngày xưa lính trẻ đái gốc chuối, bây giờ suy thận, đi thăm người yêu tiểu tiện gốc xà cừ. Xin đố bạn đọc khi quay lại trên người ông có thêm vật gì? Nghe đố, sao cũng có người bảo tôi sắp sửa nói bậy. Thực sự là ông đứng ốp vào gốc cây để không có ai nhìn thấy ông thắt cà vạt trước khi vào nhà người đẹp. Một cái cà vạt màu xanh lá cây thẫm.

Ông vào nhà, bê hộp bánh ga tô to như cái quả đi ăn hỏi cho ai. Cái bánh ga tô trang trí các lọai dây leo khá là diêm dúa. Thằng con đứa em gái tôi trèo lên để đánh vần dòng chữ sô cô la trên chiếc bánh. Mừng sinh nhật, 1949- 2002. Nó hỏi hai con số này là gì hả bà? Con vẹt ghi âm trong tay nó léo nhéo theo, hai con số này là gì hả bà? Mẹ ré lên sao lại ghi số má giống năm sinh, năm mất thế này? Năm sinh của em là 1950 chứ? Anh tặng thêm cho em một tuổi, anh chỉ muốn em già. Con vẹt léo nhéo, anh chỉ muốn em già, anh chỉ muốn em già. Ông Bê tặc lưỡi, hàng bánh chúng nó nhầm đấy. Mẹ đối đáp, anh phải bảo nó chứ. Con vẹt lại eo éo, anh phải bảo nó chứ, anh phải bảo nó chứ.
Ông Bê chỉ còn biết nhìn con vẹt máy trừng trừng.

Hôm sau mẹ theo ông đi sinh họat Hội EM YÊU CHIẾN SĨ. Nghe tên tưởng Đội đoàn Thanh thiếu nhi. Đến nơi mới thấy toàn em gái ngấp nghé tuổi lục tuần, toàn văn công về hưu. Đầu tiên đồng diễn thể dục. Một em gái quay sang bảo mẹ, con kia nó xoay được bàn tay quanh cổ tay, rồi khóac rộng ra sau lưng là phải thôi, ngày xưa nó là diễn viên múa, báu bở gì một lũ đào già kép ế. Rồi em quay sang chỉ em gái bộ áo nâu sồng nhà chùa, đang hô một hai ba sang sảng, giọng nó lanh lảnh chuông đồng vì ngày xưa nó là diễn viên ca, thất tình chán đời nó đi tu, các sư ưu ái, các vãi căm hờn. Hờn ghen vì giọng nó thâm niên luyện thanh mấy chục năm, bây giờ đọc kinh, giảng kinh, phát âm nhả chữ điêu luyện truyền cảm. Nó vẫn đi tu nhưng không bỏ buổi sinh họat nào của EM YÊU CHIẾN SĨ. Đi tu rồi mà vẫn tham như mõ, nó giữ tiền quỹ hội, đi thăm hội viên ốm, mua cam táo hai chục nó khai ba chục.

Tiết lộ đầu ngọn cuối ngành các lọai lý lịch đàn bà xong, em gái này chuyển sang đề tài thế giới đàn ông. Em chỉ đúng ông Bê cho lên thớt đầu tiên, vô tư không biết chàng là người dẫn mẹ đến đây. Ở quê, anh chàng tên là Nguyễn Họan, tên đặt theo cái nghề gia truyền của gia đình, có biệt tài tịnh thân, biến tất cả các lọai lợn thành họan quan công công, đồng cô ái này ái nọ. Nghề vận vào thân, đẻ mãi không được mụn con trai chống gậy, phải cầu tự xin con giời, bây giờ con giai lớn rồi vẫn phấp phỏng, giời thương giời để, giời không thương giời xin lại bất cứ lúc nào. Nhưng chàng đâu có theo nghề gia đình, đến bây giờ bà mẹ chàng vẫn trách chàng không nối nghiệp gia đình.
Mới đây chàng về quê, bà mẹ chín mươi tư tuổi bảo chàng, con ơi làm thượng thọ đi, tuổi mụ năm nay sáu chín rồi, con vay một tuổi mà làm, mẹ cho con lợn một tạ mà làm. Chàng lễ phép kính thưa mẹ, mẹ còn đó con làm thượng thọ hàng xóm bảo con chơi trèo bất hiếu. Con vay một tuổi thì đầy thất tuần nhưng con vẫn thỉnh giảng trường bồi dưỡng, nhiều gái non vẫn tay bắt mặt mừng nhờ con hướng dẫn tốt nghiệp, nhiều giai non giai già viết bài phê bình bảo vệ giá trị chú Tễu đồng ruộng truyền thống.

Kể đến đây, em gái chuyển sang giọng, một phần kín, chín phần hở, này tớ nói cho ấy biết, chàng này toàn chọn con xinh rồi mới hướng dẫn luận văn, ngồi cạnh nữ sinh, tai bốc bải tưng tưng như gảy đàn, ban đầu bốc tay, sau bốc linh tinh một số thứ. Chả làm được gì nữa đâu, chỉ mở ra rồi lại đậy vào, thì thế, nhưng vẫn muốn nhìn xem trong nồi có gì cho bõ công.
Sau đồng diễn thể dục kiếm côn quyền là thi bơi. Sau thi bơi là thi chạy. Sau thi chạy là đốt lửa trại. Tất cả các em mặc quân phục tựa vào nhau, đung đưa như lúa mà hát. Em đi lên rừng cây xanh mở lối, em đi lên núi núi ngả cúi đầu, em đi bắc những nhịp cầu.
Nhưng họat động sau đó của hội, mẹ không biết nữa, đã hết tháng thứ hai...
Rồi cây hoàng lan, có biến thành cây si?

Chân dung cuối tháng lần này là ông Xê. Tên thật, không phải tôi sợ phiền viết tắt. Vợ bỏ đi làm ăn với ở Đông Âu với đứa con trai cũng đã hơn mười năm.
Hôm đầu ông đến, cứ đứng mãi bên gốc cây hoàng lan. Cái cây có tội tình gì đâu, chỉ vì ông cứ si tình đứng mãi như vậy, mời ngồi mấy lần vẫn đứng, mà cây hoàng lan hóa thành cây si. Si thật. Mái tóc nhuộm, tóc đen nhánh đáng ngờ như thế gọi là mốt đảo ngói. Rốt cuộc, ông cũng ngồi. Đèo thêm một câu rất triết học: đời tôi đâu có thiếu chỗ ngồi, chỉ thiếu một chỗ đứng.
Một câu nói như vậy có thể khiến khối kẻ ngu ngơ nửa mừng nửa lo.

Ông kể hơn ba chục năm nhà ông đã trải qua mấy lần bị kiểm tra hành chính. Tư thương buôn bán vàng bạc. Có lần vừa mới bê mâm cơm lên thì công an tới, ông nhanh trí trút hết chỗ vàng bạc vào nồi canh. Cơm xới cho mỗi người một bát rồi vùi đồ trang sức xuống đáy nồi. Người ta sục sạo khắp nơi, đào cả vườn lên mà không tìm được gì. Lần khác, ông ném được mấy túi tài sản xuống cái hồ gần đó. Lần khác, vợ ông mang đồ đi tẩu tán. Ngày ấy, Hà nội chưa có xe máy, bà đã sở hữu một cái xe tay ga 103 của Pháp. Nữ anh hùng xa lộ phóng xe vèo vèo qua cầu Long Biên. Báo đăng hẳn hoi câu chuyện phá án: thấy thị ích xì i dét chạy ra khỏi nhà, trinh sát ta bí mật bám theo. Y thị (đại từ nhân xưng báo công an hay dùng) đi ngoắt ngoéo cố tình cắt đuôi, nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Sang đến bên kia cầu, y thị rẽ vào ba nhà quen biết, nhà biếu cân cam, nhà gói bánh, gói mứt tết. Tất cả chỉ là động tác giả. Tại điểm cuối cùng y thị bị bắt với đầy đủ tang vật trị giá hàng trăm cây vàng... ông bảo mỗi lần như vậy là chết nửa con người, sau đó phải gượng dậy, tập đi đứng, tập làm ăn lại từ đầu. Sang thời làm ăn được khuyến khích mở cửa, vợ con ông hồi sinh kéo nhau đi nước ngoài. Ba đứa ở trong nước đều đã có gia đình, mỗi đứa cho ông một cái nhà và vốn liếng làm ăn. Số tiền còn lại đủ cho ông sống đời vui hạnh phúc lên tiên.

Tôi thiếu là thiếu một chỗ đứng trong tim em. Ông nói nốt cái vế sau. Nói năng kiểu ấy thanh niên ngày nay đều ngượng mồm, chỉ có ông mới xuất khẩu ra thành khẩu được. Mẹ xem ra bắt đầu ngả nghiêng. Một đời mẹ lận đận quá rồi, bây giờ sáng suốt nhất là lấy chồng giàu một tý. Yêu đương gì cái tuổi này nữa, chẳng qua dựa vào nhau khi tắt lửa tối đèn, khi hắt hơi sổ mũi. Tôi cảnh cáo, mẹ tính toán khéo thế mà lấy phải ông đang khỏe như vâm bỗng quay qua nằm liệt giường, có mà hầu ông đến chết. Mẹ bảo người ta mà kỹ tính người ta chẳng lấy mình làm vợ, có câu đố rồi đấy thôi, con gì ăn ít nói nhiều, mau già lâu chết miệng kêu tiền tiền? Đàn ông đang yên lành, báu bở gì tự dưng rước một con như vậy.
Lấy ông thì mẹ được nhờ. Đi thăm con cháu phải có quà mới ra người bà người mẹ đàng hoàng. Muốn đàng hoàng phải nhờ chồng giàu. Muốn yên tâm tuổi già ốm đau bệnh viện phải nhờ chồng giàu. Muốn thuê người giúp việc chăm nom người ốm cũng phải chồng giàu.

Nhưng ông có giàu thật không nhỉ? Ba đứa con ông đứa nào cũng bảo bố cháu còn nhiều tiền lắm. Vẫn còn vàng chôn dưới nền nhà. Vẫn còn vàng kiểm tra giấu trong đệm xa lông. Vẫn còn vàng giấu trong thân cây cổ thụ ngòai vườn. Ba đứa con đều mê mẹ, mê lăn mê lóc. Cô về với bố cháu đi, chúng cháu không đến quấy phá, ám quẻ gì đâu, không đòi chia của cải gì đâu. Hay cô ngại gần họ hàng nhà cháu phiền phức thì hai cụ dắt nhau vào Sài gòn mua nhà mà ở trong ấy.

Mẹ không muốn đi xa. Chàng nàng dắt díu nhau đi mua căn hộ đảo Linh Đàm. Đi đăng ký. Tôi bảo đăng ký làm gì, các cụ thích nhau thì về ở với nhau, ai nói sao. Mẹ không chịu. Đi du lịch, vào khách sạn, chúng nó nhìn mình cứ như trốn vợ trốn chồng, như bọn thuê phòng choai choai lần đầu thuê phòng thử mùi trái cấm.
Nhà mua rồi, đăng ký rồi. Về ở với nhau rồi. Lúc này mẹ mới nghe người ta nói giữ vàng trong nhà độc lắm. Thằng con ông ở BaLan lái xe chở hàng bị xe khách tông phải, bây giờ liệt nửa người, đẹp giai như tượng, chưa vợ, chưa biết mùi đời mà phải chung thân ngồi xe đẩy. Bà mẹ phải kè kè bên đấy, bà cạch mặt ông không bao giờ về nữa. Một đứa con gái ông, ba lần đẻ ra quái thai, đêm nào cũng thấy một thằng bé người Tàu mặc bộ đồ trắng ngồi ở đầu giường. Nó bảo cô ta phải chuyển tiệm vàng ra khỏi nhà rồi mới đẻ được.
Mẹ có sợ cũng chẳng kịp. Mẹ đã vượt qua tuyến phòng thủ, chẳng còn đường rút. Nhà tôi, ông Xê không đến trồng cây si nữa thì cây hoàng lan trở lại là cây hoàng lan như dạo trước ...

...

Tôi cứ tưởng chương trình chân dung cuối tháng đã hạ màn được rồi. Được nửa năm thì mẹ quay về. Ở Linh Đàm chỉ có căn hộ ba phòng trống không. Bảo ông Xê đi mua sắm đồ đạc, ông chỉ ừ hữ lảng tráng. Giục ông đào vàng lên, moi vàng trong nệm xa lông ra, móc vàng trên cây cổ thụ ông chỉ cuời sằng sặc. Sao cô lại đi nghe mồm lũ trẻ ranh ấy, mấy lần khám nhà chỉ có tôi đương đầu, chúng nó lại vanh vách biết hơn tôi à?
Rồi bao nhiêu uất hận tuôn ra bằng hết. Ngày trước, có lần công an đến, ông phải cạy mồm lũ trẻ ra, bắt mỗi đứa nuốt một cái nhẫn. Mỗi đứa phải hực hực mấy cái mới nuốt nổi. Nuốt được rồi thì con mình phất phơ đi lại trong nhà như ma vàng, mặt đần như ngỗng ỉa, đờ đẫn, lơ ngơ, người trong suốt nhìn qua được. Bị khám nhà xong, ông bắt lũ con ngồi dàn ngang đại tiện trước mặt mình, gẩy tung tóe cả lên mà chẳng tìm lại được nhẫn vàng. Ôi trời đất ơi, vàng đã tan vào máu con mình, từ đó con mình mà mình chẳng nhận ra được nữa. Cả tiệm vàng lũ con bàn nhau khoáng sạch, tráo vào đó bằng hàng mỹ ký mạ vàng. Mãi đến lần khách đến mua đem quẳng lại đồ rởm có hẳn hoi con dấu tiệm vàng, ông giật mình xem lại mới biết tất cả đã bị đánh tráo bằng hết.

Bà mẹ là đầu trò, lũ con tiểu yêu thi hành. Cũng chẳng phải con ông gian dối, ma vàng làm cả đấy. Bây giờ xong hết rồi, chúng nó mưu mẹo bẩy ông ra khỏi nhà, xóa sạch dấu vết, ông là dấu vết cuối cùng, chúng nó trở về với cõi âm.
Mẹ khóc sụt sùi cho một số phận éo le, có đầy hỉ nộ ai lạc, lại được mạ thêm màu liêu trai ma mị. Một câu chuyện cải lương có thể lấy được nước mắt nhưng không ngăn được mẹ đùng đùng đòi tôi giúp mẹ đi làm thủ tục ly dị. Hơi thở nặng mùi khiếp lên được, ghê hơn cả chàng trai tân ăn tỏi nặng mùi ngày xưa. Sau chuyến đi này, mẹ sẽ phục thù đi tìm cho bằng được một tay giàu có thật sự, một nhà tài phiệt thời đổi mới có thể đi karaoke ôm ấp gái non nhưng về nhà vẫn cần một bàn tay chăm chút hiểu biết.

Nhưng rồi mọi sự đảo lộn hết. Lần này người đến vườn nhà tôi là một người cũ. Chính là chàng. Kẻ một mình đi tù vì tội đầu độc vợ ngày xưa. Chàng sáu mươi rồi. Đi tù về vóc dáng vẫn vạm vỡ điềm đạm như ngày nào. Người như thế thì không thể nào đầu độc vợ. Bà Họan Thư ghen quá, điên quá, nghĩ ra cách hại mình, hại chồng. Bà cho bả chuột vào niêu thuốc bắc, kêu mệt, đòi chồng rót thuốc, bê bát đến, cầm bát cho bà uống. Dấu tay ông còn đó, trên niêu thuốc bắc, trên bát thuốc. Nhiều người biết ông vô tội nhưng chứng cứ chống lại ông.

Chàng trở về vào dịp áp Tết. Mẹ con tôi mất hết Tết vì chàng ngã bệnh ngay. Viêm phổi cấp. Mẹ quẳng hết mọi thứ. Đâm bổ vào bệnh viện. Một mình mẹ đi đi về về từ hai đầu, nhà và bệnh viện. Đêm đêm thức trắng ngồi trông bên giường bệnh. Đến cả tôi cũng bị cuốn vào. Thỉnh thỏang, người về từ ký ức, từ cõi sống chết giành giựt, lại mở mắt. Cái nhìn như hỏi, em có tin ngày xưa tôi không thể là người làm việc ấy? Nàng nắm tay chàng, nắm tay như vậy thì dù chàng có ở gần cõi chết lắm rồi, cũng phải cố chống chọi mà tìm về.
Tôi không dám nhìn hai người.

Tự hỏi chẳng lẽ mai kia chàng trở về thì cây hoàng lan trong vườn nhà lại phải hóa thành cây si vĩnh viễn mãi sao?

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image

Rừng thu đã khép

Trần Mộng Tú

Mùa thu đã tới, lá trong rừng đang thay màu, bầu trời xám, gió kéo vào chật ních cái làng Trout Creek nhỏ bé này. Mùa thu bắt đầu lạnh rồi, cụ ở trong trailer trốn gió thì cũng phải thôi, người già ra ngoài với thời tiết này dễ cảm lắm.

Sở cứu hỏa của thành phố ở ngay sau lưng một cánh rừng nhỏ, nơi cụ Richmond cư ngụ, họ có bổn phận trông chừng cụ, vì cụ đã cho họ biết là khi cụ qua đời, cánh rừng của cụ sở hữu gần bốn mươi năm sẽ thuộc về họ. Mấy hôm nay không thấy bóng cụ ra vào, lũ mèo cụ nuôi dưới gầm nhà (trailer) kêu ầm lên, vọng sang đến tận sở cứu hỏa. Gần hai mươi con mèo chứ ít ỏi gì! Chắc là lạnh quá, cụ nằm trùm chăn rồi quên cho chúng ăn. Họ bàn tán về cụ và cuối cùng thì thấy cần phải cử một người sang gõ cửa.

Người cháu gái ở gần cụ nhất cũng cách cánh rừng này 60 miles, khoảng một tiếng lái xe. Bà được sở cứu hỏa báo cho biết là Bác của mình đã mất. Bà vội vã chạy tới, làm thủ tục mang xác cụ vào nhà thương, bác sĩ cho biết cụ mất được hai hôm rồi. Bà thông báo cho họ hàng xa, gần.

Cụ mất hôm thứ Hai, đến thứ Tư người cháu trai ở Seattle mới nhận được tin. Tuy biết là cụ rất thọ, 93 tuổi, và ra đi êm ả trong giấc ngủ, ngay trong cái trailer ở giữa rừng như ý cụ luôn luôn mong muốn. Anh vẫn ứa nước mắt khi báo tin cho vợ.

Cụ để lại di chúc cho cô cháu ở gần lo tang ma. Cụ muốn được chôn cất ở ngay nghĩa trang trong ngôi làng cụ đã sống hơn nửa đời người. Cái nghĩa trang nhỏ bé, mồ mả của người qua đời cũng thưa thớt, giản dị như những con người đang sống ở đây. Cụ lo sẵn phí tổn tang lễ, cụ không phiền đến ai cả. Mấy chục năm về hưu cụ có tiền hưu trí, cụ sống đạm bạc nên chẳng tốn kém là bao. Cụ đủ tiền ma chay cho mình không phải nhờ đến các cháu. Cụ cũng lo đến mấy con mèo nữa, cụ dặn dò phải giao chúng cho Humane Society, vì cụ biết khi sở cứu hỏa lấy miếng đất, họ sẽ hủy cái trailer cũ kỹ của cụ đi thì chúng sẽ tứ tán mỗi con một nơi, chúng sẽ trở lại cái đời mèo hoang trước đây.

Hơn hai mươi con mèo hình như hiểu được chuyện gì đang xẩy ra cho chúng. Chúng kêu meo…meo…meo suốt mấy ngày đêm. Khi người ta đến mang cụ đi, chúng chui ra một lượt khỏi cái gầm nhà, chụm lại một bầy với nhau kêu khóc. Chẳng ai để ý đến chúng, người ta còn lo thu dọn, khai quang cánh rừng. Cái cabin với mấy chồng sách của cụ sẽ được thiêu thành tro bụi, cái trailer cũ kỹ sẽ được kéo tới một nơi phế thải nào đó. Sở cứu hỏa sẽ khai quang cánh rừng, nới rộng mặt tiền cho cơ sở.

Chỉ vài ba năm sau, chẳng còn ai nhớ đến ở ngôi làng Trout Creek, trước mặt tiền của sở cứu hỏa xưa kia có một ông thầy dậy Âm nhạc, Pháp ngữ và La ngữ đã từng ở đó với một đàn mèo.

Tiếng đàn phong cầm của ông, tiếng hát của các ca sĩ mèo đã bay theo tiếng gió mùa thu năm ấy.

Rừng thu đã khép.

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

CÔ “BẮC KỲ NHO NHỎ” BÂY GIỜ RA SAO?

Thuyết phục mãi, chị Hoàng Thị Kim Oanh – nguyên mẫu trong bài thơ “ Cô Bắc kỳ nho nhỏ” của nhà thơ quá cố Nguyễn Tất Nhiên – mới đồng ý chia sẻ với tôi những hoài niệm tuổi học trò… Chị kể khi xưa chị hiền lành, nhưng không khờ khạo đến mức, không biết có nhiều cây si trước ngõ nhà mình. Nhưng điều đó, chỉ khiến chị mỗi lúc một ngại ngùng giao tiếp. Dần dà, chị sống khép kín tựa cô chim non trong chiếc lồng son. Ba mẹ của chị đông con, nhưng các con của ông bà rất thuận hòa, hết lòng yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Với suy nghĩ non nớt lúc bấy giờ, như vậy đã quá đủ cho cuộc sống riêng của chị.

Thật ra, chị Oanh không thuộc tuýp người lãng mạn. Ngoài tình thương yêu của ba mẹ và anh chị em trong gia đình, chị gần như không có nhu cầu tình cảm nào khác.
Hỏi chị khi xưa, có biết “Oanh là nguyên mẫu trong bài thơ của anh Hải?..”
Chị cười hiền lành: “Chị có biết, nhưng hồi đó chị sợ muốn chết luôn… ”
Biết chị thích đọc sách, anh Hải mang tặng chị nhiều quyển sách bìa cứng bọc gáy vàng rất đẹp. Anh cũng tặng chị nhiều cánh thiệp xinh xinh vào những dịp lễ, và cũng có khi anh tặng thiệp chỉ vì… thích vậy thôi! Và đặc biệt, anh Hải luôn tặng chị Oanh những bài thơ tình còn… nóng hôi hổi của anh, ngay khi thơ xuất hiện trên các trang tạp chí học trò. Tuy nhút nhát và kiệm lời, nhưng cô tiểu chủ cà phê Ca Dao luôn cư xử đúng mực với khách hàng đến quán.
Trước ngày sang Pháp, anh Hải mang đến cho chị Oanh một va-li đầy sách quí “ Em giữ sách cho anh…” Sau khi anh Hải ra đi, một phụ nữ trẻ tìm đến và đưa cho chị Oanh bức thư tay, bảo do anh Hải gửi. Nội dung thư, anh Hải nhắn chị giao va-li sách cho người cầm thư. Chị thoáng băn khoăn, vì nét chữ trong thư không giống nét chữ anh Hải thường xuyên gửi chị. Nhưng vốn cả tin, chị đã giao va-li sách của anh Hải cho người phụ nữ – mà đến tận bây giờ, chị vẫn chưa biết rõ – cô ấy là ai và từ đâu đến? Chị đã để lạc mất những quyển sách quí, như món quà từ biệt của anh Hải trước ngày anh xa xứ. Chỉ vì “cô Bắc kỳ nho nhỏ” ngày xưa ấy, nào biết chi “toan tính chuyện lọc lừa”, như anh Hải từng lên án… một người con gái Bắc khác.
Image
Tôi có cảm giác, thời gian quá thiên vị nguyên mẫu “ Cô Bắc kỳ nho nhỏ” trong thơ của Nguyễn Tất Nhiên. Không còn trẻ nữa – Tất nhiên rồi! – nhưng chị Oanh vẫn giữ nguyên vẻ đẹp thánh thiện thời con gái. Chị hứa một ngày đẹp trời, sẽ cho tôi xem lại những bút tích học trò của nhà thơ tài hoa bạc mệnh Nguyễn Tất Nhiên. Các con của chị, từ lâu cũng tò mò và vòi vĩnh mẹ Oanh cho xem “kho kỷ vật” từ lâu chị trân trọng giữ gìn. Chị Hoàng Thị Kim Oanh bây giờ vẫn nền nã dịu dàng, nhưng không hề “ ngầm ý khoe khoang” hay “ giả bộ ngoan hiền”, như lúc sinh thời nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã “trách oan”… một cô Bắc kỳ khác…

Tháng 11/2013
Diệp Hoàng Mai

Phụ đính:

Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ

Đôi mắt tròn, đen, như búp bế
Cô đã nhìn anh rất ... Bắc Kỳ
Anh vái trời cho cô dễ dạy
Để anh đừng uổng mớ tình si

Anh vái trời cho cô thích mộng
Để anh ngồi kể chuyện nằm mơ
"Đêm qua có một chàng bươm bướm
Nguyện chết khô trên giấy học trò "

Anh chắc rằng cô sinh trong nam
Cảnh tượng di cư chắc lạ lùng ?
Khi nghe ai luyến thương Hà Nội
Chắc cô nghe bằng tim dửng dưng

Anh vái trời cho cô dửng dưng
Coi như Hà Nội - xứ hoang đường
Để anh còn dắt cô đi dạo
Còn rủ cô vào rạp cải lương

Anh vái trời cô thích cải lương
"Thích kẻ anh hùng diệt bạo tàn"
Mốt mai thê thảm quanh đời sống
Cô sẽ còn đôi chút lạc quan

Đôi mắt tròn, đen, như búp bế
Cô nhớ nhìn thiên hạ lận lường
Mà hãy nhìn anh cay lắm chuyện
Nhưng còn con trẻ chuyện yêu đương

Nguyễn Tất Nhiên
(1973)

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

‘Bông Hồng Tạ Ơn’ của Nguyễn Ðình Toàn
Không chỉ đọc bằng mắt


Ngọc Lan
Khi đọc bằng mắt. Khi đọc bằng suy nghĩ. Khi phải vắt óc nhớ xem truyện đó nó như thế nào. Khi tự dưng thấy miệng mình mở ra, ngâm nga mấy dòng thơ. Rồi khi lại bật lên tiếng hát, hát cho đã điếu một đôi câu, có khi hát luôn cả một bài.

Ðó là những trạng thái đã diễn ra khi tôi lần đọc tập sách “Bông Hồng Tạ Ơn” của nhà thơ/nhà văn/nhạc sĩ Nguyễn Ðình Toàn.
Chính vì điều này, nên nếu có ai hỏi, “Bông Hồng Tạ Ơn” của Nguyễn Ðình Toàn là tập sách như thế nào? Thì có lẽ tôi sẽ không ngần ngại trả lời ngay rằng: Ðó là một tập sách đặc biệt.
Ðặc biệt, bởi nó khiến người đọc ở trong nhiều tâm trạng khi giở những trang sách, khi vui theo từng cung nhạc, khi buồn theo từng đoạn văn, khi thẫn thờ theo một khổ thơ, và lại khi tức mình kêu lên, “Trời ạ, sao viết gì có mấy dòng vậy!”

***

111 nhạc sĩ, 109 tác giả văn và thơ, 10 ca sĩ và 7 nghệ sĩ tạo hình, tổng cộng 237 tên tuổi (chứ không phải 234 như tựa sách ghi) được Nguyễn Ðình Toàn nhắc đến trong tập sách “Bông Hồng Tạ Ơn.”
237 tên tuổi này không hẳn là đại diện tiêu biểu cho lãnh vực thơ nhạc, sáng tác, hội họa của nghệ thuật Việt Nam trong và ngoài nước từ trước đến nay. Nói như tâm tình của chính tác giả, người một thời nổi tiếng với chương trình “Nhạc chủ đề Nguyễn Ðình Toàn,” thì đây là những người mà Nguyễn Ðình Toàn có “chút hiểu biết,” hay “còn nhớ về tác phẩm, tác giả.” Và ông muốn nhắc đến họ, “như một cách bày tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.”

Nhắc điều này, cũng như đọc lời “Thưa” của tác giả khi mở đầu tập sách: “Ðây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật,” để người đọc, giống như tôi, không phải bận lòng đặt thêm câu hỏi, “Sao lại không nói đến nhạc sĩ này?” hay “Sao không nhắc đến họa sĩ kia?” hay lầm bầm, “Người này có nổi tiếng, có mấy ai biết đâu mà cũng kể ra?”

Mỗi tác giả có một góc nhìn và một cách thể hiện khác với tất cả những người khác. Nguyễn Ðình Toàn cũng thế. Ông có lý do, có sự đắn đo, và có sự lựa chọn những điều ông muốn đưa vào tác phẩm của mình.
Vì vậy khi chọn đọc ông, thì nên đọc góc nhìn của ông, của tác giả Nguyễn Ðình Toàn, chứ không phải góc nhìn của bản thân mình.

***

Tập I của Bông Hồng Tạ Ơn gồm 2 phần, dày hơn 550 trang.
Phần I viết về 111 nhạc sĩ, từ những nhạc sĩ mà hầu như ai cũng một lần nghe nhắc tên như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Trần Thiện Thanh, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương, Ðặng Thế Phong, Lam Phương, Cung Tiến, Hoàng Thi Thơ, Nguyễn Văn Thương, Tuấn Khanh,... Ðến những nhạc sĩ “lạ hoắc lạ huơ” cả tên người lẫn bài hát, như: Bạch Bích, Lê Ðô... Văn Hạnh, Lê Vy, Lê Xuân Ái, Hồng Duyệt, Ðào Thừa Liệt, Ðức Quỳnh...

Phần 2 ông viết về 10 ca sĩ Anh Ngọc, Khánh Hà, Kim Tước, Lưu Hồng, Mai Hương, Ngọc Lan, Quỳnh Giao, Sĩ Phú, Thái Thanh và Tuấn Ngọc - những ca sĩ có thể rất quen thuộc với nhiều người nhưng cũng có thể xa lạ với nhiều người, đặc biệt là người trẻ trong nước.

Tập II của Bông Hồng Tạ Ơn cũng gồm 2 phần, dày hơn 570 trang.
Phần đầu Nguyễn Ðình Toàn viết về 109 tác giả thơ và văn, như Bùi Giáng, Cao Tần, Ðinh Hùng, Cung Trầm Tưởng, Huy Cận, Huy Phương, Mai Thảo, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Tường Tam, Phan Lạc Tiếp, Trần Dần, Trần Mộng Tú, Vũ Thư Hiên, Vũ Hoàng Chương, Song Thao, Lê Ðình Ðiểu,...
Phần sau của tập II, tác giả viết về 7 nghệ sĩ tạo hình: Ðằng Giao, Hồ Thành Ðức, Bé Ký, Mai Chửng, Nguyễn Cao Ðàm, Nguyên Khai, Nguyễn Văn Trung và Thái Tuấn.

Bấy nhiêu tác giả, tác phẩm, và nghệ sĩ gói gọn trong tập sách gồm 2 quyển, với hơn 1,000 trang viết, kể ra, vừa thật nhiều về số lượng tên tuổi mà độc giả sẽ được biết đến qua lời nhắc nhớ một cách chọn lọc của Nguyễn Ðình Toàn. Ðồng thời cũng vừa có vẻ “kiệm lời” quá cho từng tác giả. Thành ra, sẽ chẳng trách, nếu có người “nổi đóa” vì cảm thấy không thỏa mãn được ước muốn tìm hiểu của mình về một nhạc sĩ, một nhà văn nhà nhà thơ, hay một ca sĩ, họa sĩ mà mình yêu thích.

Nhưng như tác giả Nguyễn Ðình Toàn đã nói từ đầu, “đây không là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật,” mà bên cạnh việc “tạ ơn” những người đã mang đến cho cuộc đời “những gì tốt đẹp nhất mà họ họ có,” thì khát vọng của tác giả, còn nhằm “để các bạn sinh trưởng ở trong, ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.”
Thì đành, biết “chút dấu vết” tên họ ở đây, biết tác phẩm họ ở đây, và đi tìm chi tiết cặn kẽ ở nơi khác vậy.

***

Ðọc “Bông Hồng Tạ Ơn,” điều tôi thích nhất nằm ở chỗ những lời nhận xét ngắn gọn, khi bàng bạc những nỗi niềm, khi lưng chừng một câu hỏi của nhà văn/nhà thơ/nhạc sĩ Nguyễn Ðình Toàn về từng người ông chọn đưa vào trang sách.

Bởi, bản thân Nguyễn Ðình Toàn cũng là nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, nên tâm tình ông hiểu về thơ, về nhạc, về văn, về nghệ thuật hội họa là tâm tình của người trong cuộc. Dễ chia sẻ. Dễ cảm thông. Dễ đồng điệu. Và hơn hết, dễ nhìn ra những ẩn dụ, những nỗi niềm vùi sâu, chôn kín mà đôi lúc, người ngoài chưa hiểu hết đến nguồn cơn.

Cách giới thiệu 237 tác giả và nghệ sĩ Việt Nam của Nguyễn Ðình Toàn không giống nhau cho mỗi người. Có người ông giới thiệu bằng sự ảnh hưởng của độc giả, như “Có thể nói, Nguyễn Hiến Lê là một trong những nhà văn được đọc nhiều nhất của chúng ta” (Nguyễn Hiến Lê); có người ông giới thiệu từ một tác phẩm nổi bật nào đó, như “Quê nhà 40 năm trở lại của Phan Lạc Tiếp dày 279 trang, do nhà xuất bản Mõ Làng Văn ấn bản, đã được tái bản chỉ sau khi phát hành một thời gian ngắn” (Phan Lạc Tiếp); có người ông giới thiệu bằng phong cách của nhà thơ, như “Nói đến Trần Ðức Uyển người ta nghĩ ngay đến những bài thơ đen, đen chì của ông” (Trần Ðức Uyển)... Ðiều này khiến cho người đọc ít bị nhàm chán bởi sự lặp lại của những công thức văn chương sáo mòn.

Ở mỗi tác giả và nghệ sĩ, Nguyễn Ðình Toàn lại biết chỉ ra, tìm ra một vài điểm nhấn, điểm độc đáo, chỉ có riêng ở con người đó.
Ðọc bài tác giả viết về nhạc sĩ La Hối người nổi tiếng với ca khúc “Xuân và Tuổi Trẻ,” có đoạn:

“Sau Ðệ Nhị Thế Chiến có tin đồn rằng 'Xuân và Tuổi Trẻ' là một bản mật mã các gián điệp Trung Hoa gửi cho nhau. Không biết chính La Hối là một gián điệp, hay chỉ khi bài hát đã có rồi, người ta mới tìm cách biến nó thành những tín hiệu. Nếu đúng như vậy ai sẽ giải mã cho chúng ta biết những nốt nhạc đó chứa đựng điều gì?”

Tôi cảm thấy chi tiết đó thú vị quá. Thì ra bài hát rất hay xưa nay vẫn được người ta ngân nga mỗi dịp Xuân về, từng có thể là “một bản mật mã gián điệp”! Nhưng tôi lại cũng hơi “tức mình,” một “nghi án văn học” như vậy mở ra, không có lời giải đáp, vậy là tự mình lại phải đi tìm hiểu, cho thỏa cái trí tò mò của mình, dù Nguyễn Ðình Toàn đã “thòng” thêm câu, “Ðến chín phần mười đây chỉ là một câu chuyện thiên hạ bịa đặt cho vui.”

Tôi thích bài Nguyễn Ðình Toàn viết về nhạc sĩ Hoàng Dương và bài hát “Hướng về Hà Nội.”
“Hà Nội đẹp
Hà Nội buồn
Hà Nội lãng mạn hay thực tế cũng sẽ mất như những đám sương mù Tháng Bảy đang xóa bỏ nó.
Người ta phải nói lời giã từ Hà Nội
Gọi hồn Hà Nội
Hoàng Dương đã chọn ở lại Hà Nội

Bài hát của ông có cả cái xa và cái gần Hà Hội, có cái ngọt ngào của một bản tình ca, cái não nùng của một cuộc chia lìa cho người ở lại giấu nó trong lòng
Cho người ra đi hát như một lời gọi vói.”
Lời giới thiệu đọc lên nghe cứ như thơ, gợi cho người đọc được nỗi niềm của Hà Nội những ngày tháng đứng trước cuộc chia ly khi Hiệp Ðịnh Geneve chuẩn bị ký. Ðể từ những dòng văn mượt mà đó, đọc lời thơ, nghe ra ca khúc “Hà Nội ơi hướng về thành phố xa xôi/ Ánh đèn giăng mắc muôn nơi/ Áo màu tung gió chơi vơi...” mà nghe lòng rưng rức những nhớ nhung.

Ðọc phần viết về nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tôi cảm thấy cái hay trong cách nhận xét của Nguyễn Ðình Toàn:
“Người ta bảo rằng Việt Nam là một dân tộc lãng mạn. Cứ đọc ca dao của chúng ta để biết ra điều đó.
Ðọc Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc để hiểu vì sao chúng ta không có anh hùng ca, chỉ có tình ca. Dù đau lòng, xé ruột nhưng vẫn là tình ca.
Tình ca dạy chúng ta cách yêu nhau và cả cách xa nhau nữa.”
Một đôi câu thôi, nhưng đầy đủ nét chấm phá về tình tự dân tộc mình trong nhạc, trong thơ. Một đôi câu đó sẽ giúp người ta nhớ lâu, khắc sâu hơn những diễn giải lan tràn.

***

Tôi nói “Bông Hồng Tạ Ơn” là tập sách thật đặc biệt là vậy.
Mình không thể đọc bằng mắt. Mà có lúc đang đọc, tự dưng lại buộc miệng hát lên. Chưa đủ. Lại chạy đi tìm nhạc mở lên để nghe lại một bài hát nào đó mà Nguyễn Ðình Toàn đang nhắc đến, như Vườn Thu của Văn Thủy, Con Thuyền Không Bến của Ðặng Thế Phong, Tình Lúa Duyên Trăng của Hoài An, Ðường Xưa Lối Cũ của Hoàng Thi Thơ, Sầu Ðông của Khánh Băng, Chiếc Lá Thu Phai của Trịnh Công Sơn, Ðoàn Lữ Nhạc của Ðỗ Nhuận...

Mình không thể đọc bằng mắt. Mà có lúc phải đọc lên thành tiếng, có cất lên thành tiếng thì mới nghe ra lời thơ, chất thơ của những tác giả mà ông nhắc đến như Ðinh Hùng, Huy Cận, Trần Mộng Tú, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Bùi Giáng, Vũ Hữu Ðịnh, Vương Ðức Lệ, Nguyên Sa,...

Hay khi đọc ông giới thiệu về Phan Lạc Tiếp với “Quê nhà 40 năm trở lại” cứ thấy mình muốn nhấp nhỏm chạy tìm kiếm quyển truyện đó mà đọc xem tâm trạng đi nhìn lại gặp lại những cảnh đời cũ, người cũ là như thế nào.
Hay khi đọc bài ông viết về Tô Hoài, tôi lại muốn đi tìm hồi ký “Cát Bụi Chân Ai” và “Chiều chiều” để đọc lại những chuyện thâm cung bí sử của giới văn nghệ miền Bắc là ra làm sao.

Tuy nhiên, dù đã lòng dặn lòng “phải đọc dưới góc nhìn của tác giả Nguyễn Ðình Toàn” nhưng cũng có lúc tôi hơi thất vọng trước những câu kiểu như, “Nghe nói về sau Hoài An thích nghiên cứu tử vi” hay “Nghe nói Lam Phương đã viết vì xúc động trước hoàn cảnh của Họa Mi.” Giá mà tác giả cứ hỏi ngay Hoài An hay Lam Phương cho rõ ràng những điều “nghe nói” đó thì bài viết càng có giá trị thuyết phục biết bao nhiêu!

Bỏ qua vài điều mình không như ý, bỏ qua đôi ba tác giả được giới thiệu quá vắn tắt, phải nhìn nhận rằng, từ những nét tưởng chừng có lúc như nguệch ngoạc cho ra chữ, có lúc như vắt ra từ con người của nhà thơ, nhà văn Nguyễn Ðình Toàn, mà người đọc, cũng như tôi, sẽ bất chợt nhận ra những điều cứ ngỡ mình biết lâu nay, nhưng thực ra là chẳng biết gì, qua “Bông Hồng Tạ Ơn.”

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ngộ Đạo Đất Trời

Tràm Cà Mau

Ông Tư bị ung thư và biết chắc không thể sống lâu hơn sáu tháng. Ông bình tỉnh chờ cái chết, và vui vẻ sống những ngày ngắn ngủi còn lại, mà không bi ai, không sợ hãi. Ông muốn sau khi chết, gia đình làm đám tang theo ý riêng của ông. Bà vợ nghe dặn dò cách thức làm đám tang kỳ dị, thì nói giọng buồn, với đôi mắt cầu khẩn:

- Em nghe nói ngày xưa ở Huế, người đàn bà đầu tiên đi xe đạp, bị cả thành phố phỉ nhổ, xem như là Me Tây, như kẽ phá hoại phong hóa nơi đất thần kinh. Cho đến khi chiếc xe gắn máy hiệu "Velo solex" ra đời, người đàn bà đầu tiên xữ dụng, cũng bị xem như là thứ côn đồ, cao bồi du đảng, chẵng ai dám giao du thân mật. Đến như bà Thu, vốn là một công chúa, dù là con của vị phế đế, là người đàn bà có xe hơi, và lái xe hơi dầu tiên ở Huế, cũng bị thiên hạ nghi ngờ oan ức đến cái đức hạnh của bà, mà suốt đời không kiếm được một tấm chồng. Thế mà bây giờ, anh bảo em làm đám tang khác thiên hạ, không giống ai, thì chịu sao nỗi lời tiếu đàm của bà con, họ hàng!

Ông Tư cười, nhìn vợ và nói:

- Cái gì cũng phải có khởi đầu, có người làm trước, về sau thiên hạ thấy hay mà làm theo. Không ai khởi đầu cả, thì làm sao có tiền lệ để mà bắt chước? Thời trước nếu không có cô, bà nào dám tiên phong leo lên xe đạp, thì bây giờ đàn bà đi bộ cho rã cẳng ra. Ngày nay, còn có ai xì xầm khi thấy các cô, các bà đi xe đạp, xe gắn máy và lái xe hơi đâu?

- Sao anh bắt em phải làm cái việc khác đời, cho tội cho nghiệp em. Em đâu phải là hạng người thừa gan dạ, để có thể phớt lờ dư luận, khen chê của thế gian ?

Ông Tư trả lời với giọng rất bình tĩnh:

- Chỉ là ước mong nhỏ nhoi cuối cuộc đời của anh, mà em cũng không giúp anh được sao? Ai có nói gì, thì em cứ bảo đó là ý nguyện của anh trước khi chết. Mà có lẽ, mọi người đều biết anh muốn như vậy, em khỏi cần giải thích cho ai. Em không làm theo ý nguyện, anh chết không nhắm mắt, làm sao linh hồn siêu thoát? Như thế, em không sợ anh về quấy phá em mãi sao?

Nghe đến đây, thì bà Hoa tái mặt. Bà vốn sợ ma, sợ người chết, sợ bóng tối, sợ sự thiêng liêng. Bây giờ ông chồng còn sống, bà có thể lấn áp, bắt nạt ông được, chứ sau khi ông chết rồi, thì bà phải chịu thua, phải sợ ông. Ông Tư biết tính vợ, nên đem ma quỷ ra mà dọa trước, may ra sau khi ông chết, thì bà chịu theo lời ước nguyện của ông.

Nếu có ai biết ông Tư đang cận kề cái chết mà ái ngại cho ông, thì ông cười vui mà an ủi họ - chứ không phải là họ an ủi ông - rằng, nếu tin theo đạo Chúa, thì khi chết được về thiên đàng, ngồi dưới chân Chúa, sung sướng thế sao mà ai cũng sợ chết? Nếu theo đạo Phật, thì khi chết cũng sẽ về Tây Phương Cực Lạc, vĩnh cửu an bình, thì mừng vui chứ sao lại bi ai? Và nếu nói theo đức Đạt Lai Lạt Ma, thì cái xác thân ở trần gian, có thể ví như bộ áo quần ta mang, khi nó đã sờn cũ, xấu xí, rách rưới mục nát rồi, thì nên bỏ đi, mà mang bộ áo quần khác, đại ý nói đi đầu thai kiếp khác, mang thân xác mới hơn.

Ông Tư nói với bạn rằng, thân xác ông bây giờ như cái quần đã mục mông, rách đáy, không còn che được cái muốn che, thì phải bỏ đi, không xài nữa là hơn. Bởi vậy, ông bình tỉnh đón chờ cái chết cận kề. Khi biết ông bị ung thư sắp chết, thì phút đầu tiên, ông lặng người đi. Nhưng rất mau sau đó, ông nghĩ ra rằng bây giờ chỉ còn hai con đường để lựa chọn.

Một là rầu rĩ bi ai, than thân trách phận, oán thán trời đất, làm cho những ngày ngắn ngủi còn lại trở thành u ám, khổ sở, muộn phiền.

Hai là bình tĩnh chấp nhận điều không thể tránh được với thái độ tích cực, lạc quan, vui vẻ. Làm cho những ngày còn lại thành tươi vui, tốt đẹp và ý nghĩa hơn. Khi ra đi sẽ không có chút tiếc thương vướng bận.

Ông chọn con đường sau, nên không buồn bả, không hoang mang, không bi ai. Ông thấy cuộc đời bỗng đáng yêu hơn, đẹp hơn. Ông mở lòng vui vẻ đón nhận từng thời khắc, từng ngày còn lại. Mỗi sáng dậy, ông ca hát nhạc vui, và nói chuyện khôi hài cùng vợ con. Ông cố làm đẹp lòng mọi người, vì ông nghĩ rằng, sau khi nhắm mắt nằm xuống, thì dù có muốn tử tế với những người thân thương, cũng không còn làm được nữa.

Ban đầu, vợ con, gia đình, ai cũng ái ngại, nên cư xử tế nhị, dè dặt, gượng nhẹ với ông. Về sau, thấy thái độ bình tỉnh của ông, mọi người quên đi chuyện ông sắp xa lìa cõi đời nầy, mà cư xử với ông không khác gì người bình thường. Đôi khi bị vợ gắt gỏng, bị con giận hờn, bị bạn bè to tiếng, ông không buồn giận, mà cảm thấy tức cười, và thấy thương họ hơn.

Ông Tư dặn thêm vợ rằng đừng đăng báo, không đăng cáo phó gì cả. Đừng làm rộn, bận trí bà con gần xa, buộc họ phải thăm viếng. Không nên để phiền ai phúng điếu chia buồn. Ông đưa tờ báo cho bà, và nói:

- Em nhìn vào mấy cái cáo phó nầy đây, đọc thấy buồn cười : “Chúng tôi đau đớn báo tin cho thân bằng quyến thuộc: Ông Nguyễn Văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày , tháng, năm, hưởng thọ 82 tuổi...” Được Chúa gọi thì phải vui mừng, sung sướng, chứ sao lại đau đớn báo tin ? Về với Chúa là khổ lắm sao? Có đi tù cải tạo đâu mà đau buồn? Đáng ra phải cáo phó bằng câu : "Chúng tôi hoan hỉ báo tin cùng thân bằng quyến thuộc rằng, Ông Nguyễn văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày, tháng, năm,..". Và đây, một cáo phó khác, cũng "khóc báo" với thân bằng quyến thuộc là thân nhân chúng tôi đã về cõi Phật. Về cõi ma vương quỷ sứ mới khóc báo, chứ về cõi Phật, sướng quá, mà khóc cái nỗi gì?”

Bà Hoa nhăn mặt nói:
- Anh đừng chi li bắt bẻ từng câu từng chữ . Đó là một lối nói thôi. Vì có ai biết chắc đi về đâu mà dám vui, buồn. Nhưng cứ cho là về thiên đàng, cực lạc, về với Chúa Phật, cho người sống an lòng. Không lẽ báo tin ông nội tôi được quỷ sứ rước đi rồi. Dù sống có gian ác đến đâu, khi chết cũng có quyền hy vọng về nơi lạc phúc, bình an.

Ông Tư lắc đầu nói tiếp:

- Em có thấy ông cụ Trương nằm liệt giường hai năm, không cử động được, như bị hành hình, cả nhà lao đao lận đận chăm sóc. Hai vợ chồng bác Thu con cụ, vì khổ nhọc quá, gây gỗ nhau, gia đình suýt tan vỡ.

Khi cụ mất, cả nhà thở phào sung sướng cho cụ, và cho mọi người trong gia đình. Thế mà khi cáo phó, cũng đau đớn báo tin. Bà con bạn bè đăng báo chia buồn, cũng là vô cùng thương tiếc, vô cùng đau đớn. Tang gia mừng, mà bà con lại chia buồn. Bà con muốn cụ nằm đó mãi, để khổ thân cụ, khổ con cháu cụ lâu dài hơn nữa hay sao? Hay là họ không phải khổ cực chăm sóc cụ, không phải đau lòng khi thấy cụ nằm liệt ra đó, nên cụ chết họ buồn đau? Bỡi thế, khi anh chết, anh không muốn cáo phó, không muốn ai phân ưu chia buồn. Chết cũng là một tiến trình của tự nhiên của trời đất, thì có chi mà phân ưu, chia buồn. Có ai sống mãi được?

Bà Hoa không đồng ý, nói lớn:

- Mất mát nào mà không đau buồn? Dù biết chắc rằng, ông cụ Trương chết là thoát được khổ đau đang hành hạ. Nhưng khi cụ mất, cả nhà cũng buồn vì mất cụ, mà vui vì cất đi được gánh nặng, bớt được mối thương tâm khi thấy người thân yêu của mình khổ cực nằm đó.

- Thế thì khi cụ mất, chắc chắn cả nhà vui nhiều hơn buồn, mừng nhiều hơn tiếc. Không ai dám nói mừng khi thấy thân nhân mình chết, vì sợ thiên hạ hiểu lầm, tiếu đàm. Thế thì đừng giả dối, nói là đau đớn, tiếc thương, mất mát. Mất cái gì mới ngại, chứ mất cái khổ đau hành hạ, thì cầu cho mất sớm, mất đi càng nhiều càng mau, càng tốt. Anh nghe nói người Lào có quan niệm rất hay về lẽ sống sự chết. Khi trong gia đình có người chết, họ không bao giờ khóc lóc rầu rĩ, mà bình tỉnh an nhiên, chắc rằng họ đã thấm nhuần cái lẽ thâm sâu của Phật giáo, biết chết là giải thoát, rũ sạch nợ đời.

Bà Hoa hỏi:

- Hay là đời sống dân họ đau khổ lầm than quá, nên chết đi là khỏe chăng? Chết là hết lo cơm áo, khỏi đói khát bệnh tật?

Bà Hoa nghĩ là ông Tư không thương bà đủ nhiều, nên cứ thản nhiên trước cái chết cận kề. Bà không biết làm sao chịu nỗi cảnh cô đơn khi sống thiếu ông trên đời.

Ông Tư thường nói với bạn bè rằng, rồi ai cũng phải chết. Không chết sớm thì chết muộn. Không chết lúc ba bốn mươi, thì bảy tám chín chục tuổi cũng phải chết. Cuộc đời, có thể ví như một đêm, không đi ngủ lúc chín mười giờ, thì mười hai giờ, một giờ sáng cũng phải đi ngủ. Nếu đêm không vui, thì tội gì không đi ngủ sớm cho khỏe, mà phải thức để nỗi buồn gặm nhấm. Nếu đêm nay đau răng thì cố thức làm gì, ngủ sớm đi mà quên đau.

Nhiều người sống với thái độ như sẽ không bao giờ chết, cho nên tích tụ của cải, bao nhiêu cũng không vừa, làm nhiều điều không đúng, không phải. Bỡi vậy , khi biết mình sắp chết, thì hốt hoảng khóc lóc, bi ai, mà vẫn không tránh được. Nhiều vị vua chúa đời xưa cũng muốn sống đời, nên uồng thuốc trường sinh, mà ngộ độc chết sớm. Còn gia đình, thì thời gian đầu thấy thiếu vắng, mất mát, nhưng rồi sau cũng quen dần, vì phải lo lắng nhiều công việc khác trong một cuộc sống bình thường, không còn có thì giờ mà tiếc thương, mà bi ai. Phần người chết, buông tay là xong tất cả, bình yên vĩnh viễn. Không còn phải lo công việc làm ăn, lo cơm áo gạo tiền, không còn lo làm giàu, lo tích trữ của cải, không còn ghen tuông, giận hờn, không còn phải thức khuya học hành, hoặc viết văn làm thơ mệt nhọc, không còn theo đuổi mộng lớn mộng bé, không ưu tư dằn vặt vì thời thế, vì đất nước, quê hương... Bỏ hết. Tất cả cũng chỉ là tro bụi. Thiên hạ còn ngưỡng mộ, còn khen ngợi những anh hùng liệt sĩ trong lịch sử, nhưng chính các người nầy có còn biết gì nữa đâu? Cũng là một mớ xương khô mục nát, đâu có nghe, có cảm xúc, hân hoan, vui thú gì. Có ca ngợi, nhắc nhở thì để các thế hệ con cháu về sau noi gương người đi trước mà dìn giữ quê hương, mà sống cho đàng hoàng, cho nên người, đừng làm việc xấu xa đê tiện.

Ông Tư dặn vợ làm một đám tang đơn giản, không mở nắp hòm cho bạn bè thăm viếng nhìn mặt. Hát nhạc vui trong tang lễ, không khóc lóc, mà vui cười tự nhiên. Sau khi thiêu xong thì gởi tro xương về quê nhà, đừng xây mộ, đừng đắp bia.

Bà Hoa thì chỉ muốn làm giống như tất cả mọi người. Ai làm sao mình làm vậy trong khả năng tài chánh của gia đình. Bà không muốn làm khác ai, để họ có thể nghị dị, bàn ra nói vào, thêm thắt thêu dệt. Nhưng bà cũng không nỡ từ chối ước nguyện cuối cùng của ông. Hai người con của ông bà, đứa con gái đầu thì tán thành, muốn làm theo ý kiến cũa bố, đứa con trai phản đối, vì sợ thiên hạ chê cười. Ông nói với con : “ Con nên vì bố, không nên vì thiên hạ.”

Ông Tư xin nghỉ việc, đi thăm bà con họ hàng, đến đâu ông cũng nói chuyện khôi hài, vui vẻ, nồng nàn với bạn bè bà con, thức đêm, uống rượu, hát hò, ngâm thơ, ăn uống không kiêng cữ. Theo ông, thì kiêng cũng chết, mà không kiêng cũng chết, chết sớm hơn vài tháng, vài tuần, cũng chẵng nghĩa lý gì. Còn chẵng bao lâu nữa, kiêng cử làm chi cho khổ thân, cho đời mất đi một phần ý vị. Ông cho rằng, đã sống đến trên năm mươi tuổi là quá lời, quá đủ, không có gì để nuối tiếc. Thấy ông tươi vui, người biết ông có bệnh sắp chết, cũng quên mất là ông đang bệnh, người không biết bệnh trạng của ông, thì ông cũng không muốn nói ra làm gì. Ông đưa bà và hai con đi chơi một chuyến trên du thuyền. Ông tham gia các cuộc chơi tập thể trên du thuyền như hát hò, nhảy múa ca hát, tham gia các buổi hòa nhạc, uống rượu, cho đến khi mãn cuộc. Ông vui vẻ, bình tĩnh đến nỗi nhiều khi bà quên mất là vợ chồng không còn bên nhau bao lâu nữa.

Ông Tư chuẩn bị tinh thần cho vợ, cho con, để chấp nhận một sự thực không tránh được. Chấp nhận với sự bình tỉnh, sáng suốt, không vui vẻ nhưng không bi ai. Có người nói cho ông Tư nghe về kinh nghiệm của những kẽ đã chết thật rồi, mà sống lại nhờ sự mầu nhiệm nào đó. Rằng khi chết, thì thấy mình đi vào một vùng ánh sáng lạ, rất hân hoan sung sướng, khoái cảm tràn trề. Bỡi vậy, nên người đã trãi qua cận tử, thì không cón sợ chết nữa, mà đón nhận như là một ân huệ của trời đất. Ông Tư không tin chuyện cận tử, vì ông vốn con người thực tế và lý trí, cái gì chưa kiểm nghiệm được thì chưa tin. Nhưng cho rằng, nếu được như vậy thì càng tốt. Nếu không được vậy, thì cũng thôi.

Cuộc đời ông Tư đã trãi qua nhiều giai đoạn sướng khổ. Chưa xong đại học thì bị kêu đi lính, tham dự những trận chiến kinh hoàng, ngày đêm trấn đóng nơi ma thiêng nước độc, đã từng bị bắt làm tù binh, đã vượt ngục. Khi miền Nam thua trận, phải đi tù nhiều năm. Đã sống trong chế độ hà khắc kìm khớp, bữa đói bữa no. Đã đi qua biển tìm tự do. Và ước nguyện rằng, được sống thêm một ngày trong xứ tự do, thì có chết cũng không có gì tiếc nuối. Thế mà ông đã sống thêm được nhiều năm trong một xã hội có tự do, dân chủ. Con người được pháp luật bảo vệ, tôn trọng. Ông biết ơn trời đất đã cho ông cái phần thưởng vô cùng quý giá đó trong nhiều năm qua.

Ông Tư chỉ là một người bình thường, có đủ cả tốt xấu. Có chút rượu chè, nhưng không ghiền và say sưa. Khi vui bạn vui bè, thì ai đến đâu, ông đến đó. Ông hòa đồng cùng đám đông. Thỉnh thoảng ăn nhậu cùng bạn bè, nói chuyện trời đất, vui chơi. Cờ bạc ông cũng có chút chút, từ xì phé, bài cào, cờ tướng, cờ vua, đi sòng bài. Nhiều khi ông xoa mạt chược cùng bạn bè, một mạch từ sáng thứ bảy cho đến chiều chủ nhật mới thôi, ai về nhà nấy để chuẩn bị cho ngày đi làm vào thứ hai.

Ông không mê, không lậm, biết dừng lại đúng lúc, không phải khi thua cờ bạc thì nóng mặt cố gỡ, và gỡ cho đến bán nhà. Trai gái ông cũng có, nhưng không làm hại đến ai, biết giới hạn của cuộc chơi. Không làm khổ vợ con, không gây khổ đau cho người khác phái. Thuốc lá, cà phê hàng ngày, ông không ghiền, nhưng cũng không bỏ hút thuốc. Ông Tư còn có chút máu nghệ sĩ . Ông thổi kèn hắc tiêu rất đạt, nên lâu lâu theo người bạn Mỹ gốc Phi Châu đến các hộp đêm thổi kèn chơi, không lấy thù lao. Ông có chân trong một ban nhạc tài tử, lâu lâu đi trình diễn ở các nơi công cọng. Ông Tư có sáng tác vài bản nhạc, nhưng không ai hát, và hát không ai nghe, không ai khen, nên ông không sáng tác nữa. Ông Tư cũng thích đọc truyện, đọc thơ. Ông cũng có làm thơ, nhưng bà Hoa là vợ ông, khuyên đừng để cho ai biết những bài thơ đó do ông viết, vì người sợ người ta cười lây cả bà. Ông nghe vợ chê, nãn lòng, không muốn làm thơ nữa. Tuy nhiên, có nhiều khi cao hứng, không cầm được cảm xúc, ông cũng làm thơ chơi, và dấu kín, vì sợ vợ đọc được chê bai.

Một người bạn của ông Tư cũng thích thơ phú, thường cùng ông ngâm vịnh khi nhàn tản, một hôm nghe ông nói về quan niệm cuộc đời, lẽ sống và cái chết. Ông nầy ngồi nghe mà đờ ra, và nói:

- Bác chờ chút, tôi lục tìm bài thơ của một ông bạn tôi, sao mà ý tưởng của bác với ông kia trùng nhau, như cùng học một sách. Kỳ lạ ghê. Lần đầu đọc bài thơ nầy, tôi khoái quá, phải xin ông bạn cho tôi mượn, chạy ra phố, chụp lấy một bản, còn cất giữ đây.

Ông Tư cầm lấy bài thơ dài, vừa đọc vừa gật gù, đọc xong ông vỗ đùi sung sướng, nói:

- Tuyệt. Hoàn toàn giống hệt suy nghĩ của tôi. Bác đem tôi đến giới thiệu tác giả bài thơ nầy đi. Bác xem đấy, đâu phải một mình tôi suy nghĩ khác đời đâu. Có nhiều người cùng một ý nghĩ, nhưng không dám nói ra, không dám thi hành. Đúng như cụ Nguyễn Công Trứ có viết là chỗ ta ngồi hiện tại, người xưa đã ngồi rồi. Tôi dốt chữ Hán, nhớ mang máng hình như là “Ngã kim nhật tại tọa chi địa, cổ chi nhân tằn tiện ngã tọa chi” . Mấy ông Tây cũng từng viết là dưới ánh mặt trời nầy, không có cái gì mới cả. Những suy nghĩ của tôi về cái chết, sự sống, người xưa cũng đã viết nhiều, tàng ẩn bàng bạc trong kinh Thánh, kinh Phật. Ngày xưa khi còn nhỏ, bố mẹ tôi gởi tôi vào học nội trú trường đạo Thiên Chúa, mỗi ngày mỗi đêm đều đọc kinh Thánh. Hồi đó tôi không hiểu hết ý nghĩa của kinh, tôi tưởng lầm đọc kinh là ngày đêm kêu gào sự xót thương của Chúa. Tuổi trẻ ngu muội và ngông cuồng nên tôi không có cảm tình với chuyện kinh kệ, nhưng khi lớn lên, đọc lại kinh Thánh, tôi thấy hay quá ông ạ. Lời kinh an ủi, vỗ về con người trong khổ đau, trong bước đường hoạn nạn, khi gặp cam go chìm nổi, tìm được yên bình để chịu đựng mà hy vọng qua khỏi nghịch cảnh.

Ông bạn cười, nói:
- Tôi thấy nhà bác thờ Phật, mà lại nói chuyện Chúa rành rẽ. Bác có theo đạo Cao Đài hay không?

- Không phải đạo Cao Đài, nhưng Phật Chúa gì cũng hoan nghênh. Bà xã tôi vẫn thường đi chùa. Ngày xưa khi còn trong quân đội, đóng quân giữa núi rừng, mẹ tôi gởi cho mấy bộ kinh Phật, không có sách vở, báo chí, buồn mà đọc chơi. Không có tâm tu hành, nhưng đọc mãi, nó thấm vào trong tư tưởng lúc nào không hay. Bỡi vậy, tôi có quan niệm rất rõ ràng về sự sống, cái chết, và bình tỉnh đón nhận như một lẽ thường của trời đất, tạo hóa.

Hai người đang nói chuyện, thì có bà bạn ghé chơi. Bà nầy yêu cầu ông Tư và bạn ông đóng tiền để mua đất chôn cất và xây mộ cho một người đồng hương Việt Nam nghèo mới chết. Gia đình không đủ tiền để làm ma chay và mua đất chôn ở nghĩa trang. Ông Tư móc ví, đóng ba chục đồng, và nói:

- Kêu gọi thì tôi đóng tiền, chứ thực tình trong lòng tôi nghĩ khác. Chết thì hỏa thiêu là đẹp nhất, tốt nhất và lại vệ sinh. Chôn xuống đất cho dòi bọ nó rúc rỉa, cho sình thối chứ có được gì. Một vạn cái xác, mới có được một cái không thối rữa, mà cũng khô đét nằm nhăn răng ra, hôi hám xấu xí. Nằm chật chội trong tối tăm âm u, dưới đất lạnh lẽo, chứ có sung sướng gì đâu. Rồi lâu ngày, thịt da cũng rữa, xương cũng mục. Được bao nhiêu năm? Mà cứ nghĩ kỹ xem, nếu mỗi người chết phải có một nấm mồ chừng hai thước vuông, thì trên thế giới nầy từ triệu năm trước đến nay, và nhiều triệu năm sau nữa, tỉ tỉ người đã chết và sẽ chết, lấy đâu ra đất mà chôn. Không lẽ cả thế giới nầy chẵng còn một tấc đất mà trồng trọt, nhịn đói chết hết sao? Nhiều xứ văn minh hiện nay, người ta thiêu xác. Bên Nhật, bên Tàu, Ấn Độ và nhiều xứ khác nữa, người chết được hỏa thiêu. Đạo Phật chính tông, thì các tăng ni đều được hỏa táng, nhưng những người theo đạo Phật nửa vời, thì lại chôn cất. Bày đặt ma chay linh đình cho thêm tốn kém.

Bạn ông Tư hỏi:

- Có phải người theo đạo Chúa không dám hỏa táng? Nghe đâu họ tin có ngày phán xét cuối cùng, và được sống lại. Bỡi vậy nên phải giữ thân thể, không muốn thiêu tan thành tro bụi.

Ông Tư cười lớn nói:

- Chờ đến ngày phán xét cuối cùng, thì sắt đá cũng đã mũn ra tro bụi, nói chi đến cái thân xác mong manh? Có lẽ những kẽ mê tín, kém hiểu biết, diễn dịch sai ý nghĩa của kinh Thánh chăng? Mà dù cho xương cốt có còn, thì cũng chỉ là bộ xương cũ mục, làm sao mà sống lại trên bộ xương đó được?

- Nghe đâu các nghĩa trang cũng chỉ bán đất trong vòng một trăm năm thôi- Bà bạn bàn thêm - Sau một trăm năm thì không biết họ có đào lên, đem chôn ở hố tập thể, hoặc đem thiêu đốt đi chăng? Nhưng khi mua đất chôn, thân nhân, không nghe ai nói đến điều nầy. Mà dù cho chủ nghĩa trang có hứa miệng là bán đất vĩnh viễn, thì sau một trăm năm, họ đào bỏ đi, cũng chẵng ai hoài công đi kiện. Lời hứa trăm năm trước con cháu không nghe, không còn chứng cớ, cả người hứa hẹn lẫn người nghe hứa hẹn, đã chết từ lâu. Mà có lẽ con cháu cũng vì lo làm ăn, sinh kế, đi tứ tán, không ai còn đoái hoài chi đến mấy ngôi mộ của tiền nhân trong các nghĩa trang đây đó.

Bạn ông Tư nói:

- Trong phim tài liệu về Tây Tạng, ở đó đạo Phật là quốc giáo, ông Phật sống cai trị dân như vua. Khi có người chết, thì họ quàng dây kéo lê lên núi, sau đó mấy ông chuyên môn chặt xác chết ra nhiều khúc, và ném cho chim kên kên ăn. Trông khiếp lắm. Không biết họ làm như thế, có đau lòng thân nhân ? Rõ như câu nguyền rủa ở xứ mình là “ chim tha quạ rỉa”.

- Chẳng có đau lòng chi cả - Ông Tư bàn thêm – Bên đó toàn đá núi cứng. Muốn đào đá ra làm huyệt mộ cũng quá cực khổ. Thân nhân người chết, dẫu có muốn chôn cất đến mấy cũng không ai làm nỗi việc đó. Cho chim ăn là tiện nhất. Có điều, không biết làm sao chim kên kên không lây bệnh người chết, biết bao nhiêu là bệnh nan y, vi trùng, vi khuẩn. Bỡi thế, nên tôi cho hỏa thiêu là sạch sẽ và tiện lợi nhất.

Câu chuyện bàn rộng đến phong trào Việt Kiều về quê xây lăng mộ cho thân nhân, cho tổ tiên, đến nỗi có nhiều làng thi đua xây cất cho nguy nga, cho to lớn. Thấy lăng mộ người khác lớn hơn, thì đập cái cũ ra, xây lại cho lớn, cho đồ sộ hơn. Có nơi người ta đặt tên là Làng Ma, vì toàn cả lăng mộ. Ông Tư cho rằng, xây lại mồ mả cho tổ tiên để báo hiếu, cũng là một hành động tốt, không có chi sai trái. Nhưng thi đua nhau xây và xây cất có tính cách phô trương thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Liệu những phần mộ kia đứng vững được bao nhiêu năm, và còn được con cháu chăm sóc đến bao giờ? Rồi cũng có ngày trở thành hoang phế, chẵng ai đoái hoài đến, mà mục rữa với thời gian. May ra, những nơi thiêng liêng như đền quốc tỗ Hùng Vương, lăng mộ các bậc anh hùng giữ nước, dựng nước, mới được con cháu tiếp tục tu sửa chăm nom. Thế mà cũng có còn tả tơi, tàn tạ, không ai chăm nom. Huống chi mình, là thứ thường dân, vô danh tiểu tốt, chưa làm được gì. ...(bỏ 2 hàng). Bỡi thế, ông Tư dặn vợ con đừng xây mộ, tạc bia cho ông làm chi.

Ông Tư mượn bài thơ của ông bạn về đánh máy và sắp xếp lại cho đẹp, in ra nhiều bản, phóng ra một bản lớn, để dành khi ông chết sẽ sử dụng.

Chỉ bốn tháng, sau khi được báo tin ung thư, ông Tư qua đời mà không đau đớn nhiều, không dùng hóa học trị liệu trước khi chết. Có người mách cho ông nhiều loại thuốc ngoại khoa, ông cũng dùng thử. Trong giới bạn bè thân tình, có người nói là ông Tư đã tự chọn lấy con đường ra đi nhẹ nhàng, không để bệnh hoạn hành hạ trước khi chết. Ông Tư thường đùa rằng, còn nước thì còn tát, biết là dù có tát thì thuyền cũng chìm, thì quẳng gàu đi cho đở mệt trước khi thuyền chìm.

Bà con bạn bè đến viếng tang ông Tư tại nhà, khi bước vào cỗng, họ cố sửa soạn lại bộ mặt cho có vẽ buồn rầu, nghiêm nghị, để hợp với cảnh tang ma, dù trong lòng họ không có chút bi ai nào. Nhưng họ nghe có tiếng nhạc vui đang rộn rã vẵng ra từ bên trong, hòa với tiếng nhạc là tiếng cười vui vang vang, tiếng ồn ào. Người nào cũng giật mình, vội vả xem kỹ lại số nhà, sợ đi lầm.

Vào nhà, mỗi khách viếng tang được phát một tờ giấy màu hồng, bên trên ghi bài thơ “ Sau Khi Tôi Nhắm Mắt”. Bài thơ cũng được chụp phóng lớn, dán trên tấm bảng che kín cả một bức tường. Khách và chủ đang vui vẻ chuyện trò, cười đùa. Không thấy quan tài ông Tư đâu cả. Trên bệ thờ có cái ảnh ông Tư phóng lớn, miệng cười toe toét, tóc bù gió lộng. Trước tấm ảnh có cái hộp vuông chứa tro xương của ông Tư. Tiếng nhạc vui vang vang từ máy hát. Bài thơ in đậm nét:





Sau Khi Tôi Nhắm Mắt.

Khi tôi chết, viếng tang đừng buồn bả
Cười cho to, kể chuyện tếu vui đùa ,
Trong sáu tấm biết chắc tôi hả dạ,
Lên tinh thần, ấm áp buổi tiển đưa,

Nếu làm biếng, cứ nằm nhà thoải mái
Viếng thăm chi, vài phút có thêm gì ?
Mắt đã nhắm. Lạnh thân. Da bầm tái .
Dẫu bôi son, trát phấn cũng thâm chì .

Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó,
Ai thay da mãi mãi sống trăm đời .
Kẽ trước người sau, xếp hàng xuống mộ
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi .

Nếu có khóc, khóc cho người còn lại,
Bỡi từ nay thiếu vắng nỗi đầy vơi .
Cũng mất mát, dáng hình , lời thân ái
Tựa nương nhau, hụt hẫng giữa đất trời .

Đừng đăng báo, phân ưu lời cáo phó
Chuyện thường tình, phí giấy có ích chi ?
Gởi mua gạo, giúp người nghèo đói khó
Dịu đau buồn những kiếp sống hàn vi,

Trỗi nhạc vui cho người người ý thức,
Cuộc nhân sinh sống chết cũng tương đồng,
Khi nằm xuống, xuôi tay và nhắm mắt
Thì đau buồn hạnh phúc cũng hư không .

Đừng xây mộ, khắc bia ghi tên tuổi
Vài trăm năm hoang vắng, chẳng ai hoài .
Vũ trụ vô cùng, thời gian tiếp nối,
Tỉ tỉ người đã chết tự sơ khai

Khi tôi chết đừng ma chay đình đám,
Hỏa thiêu tàn, tro xác gởi về quê
Dẫu bốn biển, cũng là nhà, bầu bạn
Trong tôi còn tha thiết chút tình mê

Thì cũng C, H, O, N kết lại
Nắm tro xương hài cốt khác nhau gì
Nhưng đất mẹ chan hòa niềm thân ái
Cho tôi về, dù cát bụi vô tri.



Khi đọc xong bài thơ, có người thì mĩm cười, có người vui hẵn, và nói chuyện oang oang. Họ cho rằng bài thơ đã nói hết ý nguyện của người chết. Người chết không muốn bạn bè buồn rầu, thương tiếc, thì việc chi mà lại làm bộ, gượng gạo tạo ra nét buồn khổ trên mặt.

Vợ con người chết cũng không tỏ vẽ buồn rầu, mà cũng không hớn hở. Không một tiếng khóc lóc, thở than. Nhạc vui vẫn dồn dập phát ra từ máy vang dội. Khi khách đã đến chật nhà, và đúng giờ cử hành tang lễ, bà vợ ông Tư và đứa con trai mang áo quần trắng đứng chắp tay bên bàn thờ, cô con gái đứng bên tấm ảnh ông, cầm máy vi âm nhoẻn miệng cười và nói:

- Thưa các cụ, cô bác chú dì, bà con bạn bè thân thiết xa gần, chúng tôi xin cám ơn quý vị đã có lòng đến viếng tang Ba chúng tôi. Tang lễ nầy làm theo ý nguyện của người quá cố. Không làm tang lễ theo tục lệ bình thường, vì sợ trái với ước vọng cuối cùng của Ba chúng tôi. Chúng tôi xin nhận lấy mọi lời trách móc nếu có từ bà con bạn bè. Ba chúng tôi đã bình tĩnh và vui vẻ đón cái chết như một sự trở về không tránh được. Trong những ngày cuối của cuộc đời, Ba chúng tôi rất vui, chuẩn bị kỹ cho gia đình và cho chính ông. Ông đã dặn dò chúng tôi, không nên khóc lóc, không nên buồn rầu, vì sự thực không có chi đáng buồn cả. Ông dặn chúng tôi vặn cuốn băng sau đây cho bà con cô bác nghe.

Người con gái đến bên bàn thờ, bật máy , có tiếng ông Tư cười hăng hắc vui vẻ, làm một số người không cầm được, cũng cười theo. Một vài bà yếu bóng vía sợ xanh mặt. Sau tiếng cười chào, thì có tiếng ông Tư đọc bài thơ dán trên tường, giọng đọc rất chậm rãi, rõ ràng, như đang nói chuyện thủ thỉ với bạn bè. Mọi người im lặng lắng nghe, người thì nghiêm trang, người thì mĩm cười. Giọng Huế của ông Tư đọc chậm và ngân dài những đoạn ông đắc ý : “Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó . Ai thay da mãi mãi sống muôn đời, Kẽ trước người sau xếp hàng xuống mộ, biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi.” Cuối cùng, có một tràng cười ha ha của ông Tư để chấm dứt bài thơ. Sau bài thơ, có ba ông người Mỹ, hai ông da đen, một ông da trắng, cầm đàn và kèn trỗi lên mấy khúc nhạc vui, các ông nhún nhẫy uốn éo, nhiều lúc dậm chân xuống sàn. Ba ông cùng lúc lắc, làm hàng một, đi quanh phòng khách, như múa lượn trước bàn thờ ông Tư. Những ông nầy, là bạn chơi nhạc với ông Tư tại các quán ca nhạc ban đêm.

Bỗng nhiên, bà chị ông Tư nhào ra, lăn lộn trước bàn thờ mà khóc lóc gào lớn:

- Cậu Tư ơi là cậu Tư. Chúng nó đem cái chết của cậu ra mà bêu rếu họ hàng. Vợ cậu muốn đi lấy chồng sớm nên bày ra cái cảnh chướng tai gai mắt nầy. Con cậu cũng là thứ bất hiếu bất mục, cha chết mà không có một giọt nước mắt, còn cười nói lung tung. Chỉ có tôi là chị câu, thương cậu thật tình thôi, ruột đứt lòng đau, nên khóc than đây.

Ông chồng chạy đến ôm bà kéo ra, và nhỏ nhẹ giãi bày. Bà vùng vằng và càng khóc lớn hơn, xỉ vả bà Tư những câu tục tỉu nặng nề. Bà Tư ôm mặt khóc lóc. Bà chị chồng nói lớn: “Mai mốt chúng mày chết, bà đến phóng uế lên hòm chúng mầy”. Nhiều người bà con đến phụ ông chồng lôi bà chị ông Tư ra xe chạy đi.

Khách viếng tang lảng ra, và có người lẵng lặng ra về không chào hỏi ai, vì sợ gia quyến ngượng ngùng. Cô con gái ông Tư đứng ra xin lỗi mọi người vì chuyện không may, không vui vừa xẫy ra.

Một bạn thân của ông Tư, quen nhau từ thuỡ trung học, đại diện bà con, đến trước bàn thờ, vỗ vào hộp tro xương, cười ha hả và nói:

- Tư ơi, ông là số một rồi đó, chả có ai bằng ông. Ông hiểu tận tường lẽ huyền vi của tạo hóa. Sống cũng vui, mà chết cũng vui. Sống cũng dám làm, mà chết rồi cũng dám làm, và làm được. Tôi cũng ước mong rằng, sau khi chết, vợ con làm cho tôi một đám tang như thế nầy, thì vô cùng sung sướng. Tưởng ông nói đùa chơi, ai ngờ làm thật.

Một vị mục sư là bạn thân của gia đình, cũng đến trước bàn thờ, và đoan chắc rằng bây giờ ông Tư đã được về với Thiên Chúa. Ông cho rằng thái độ của ông Tư trước cái chết rất sáng suốt, đáng khâm phục, và đáng được mọi người noi theo. Một vị sư già, có bà con họ hàng với ông Tư, đã từng viết nhiều sách Phật và rao giảng đạo từ bi, nói trước linh vị :

- Bần đạo không cần đọc kinh cầu siêu cho thí chủ. Bỡi linh hồn thí chủ đã thực sự siêu thoát trước khi chết. Thí chủ không vướng bận cõi trần, không hệ lụy vào cái thân xác tạm bợ. Thanh thản ra đi như kẽ đi chơi, thong dong, dễ dàng. Thí chủ đã hiểu thấu đáo cái lẽ vô thường trong đạo pháp.

Mọi người ra về, lòng nhẹ nhàng, tưởng như đi trong mơ. Từ phía nhà ông Tư, còn vang vọng nhạc vui đưa tiển đám tang khách.

Sau tang lễ, bà Hoa vợ ông Tư thở phào. Bà vui mừng vì đã làm được đúng lời căn dặn của chồng mà không bị tai tiếng. Bà chỉ sợ tai tiếng thôi. May mắn, đa số bà con đều tán thành nghi thức tang lễ, và nếu không tán thành, họ cũng im lặng, chỉ có bà chị ông Tư gây rắc rối thôi.

Nắm tro xương của ông Tư được vợ con gói kỹ bốn năm lớp, bỏ vào hộp bằng chất nhựa dày, để cho khỏi vỡ, rồi gởi bảo đảm về Việt Nam.

Chiếc xe chở hàng của hãng vận chuyển bị tai nạn trên đường ra phi trường. Xe rơi từ cầu xa lộ cao ba từng xuống đất, thùng xe vở nát, hàng hóa tung vung vãi, rách nát, cháy xém. Anh tài xế gảy hết tay chân và xương sống, hấp hối. Người ta đồn rằng anh tài xế buồn vì bị vợ cắm sừng, đã uống rượu say xỉn, không điều khiển được tay lái. Cái hộp tro xương của ông Tư bị rách và cháy xém mất một phần địa chỉ, được gởi lầm đi ngao du qua xứ Nambia bên Phi Châu. Cô con gái ông Tư hỏi tin tức bên nhà hàng ngày, qua liên mạng máy vi tính, về cái hộp tro xương, mãi đến hai ba tháng vẫn chưa nhận được. Bà Hoa viết nhiều thơ khiếu nại hãng chuyên chở. Họ trả lời là sẽ bồi thường cho bà hai trăm sáu mươi tám đồng. Bà Tư khóc lóc, thuê luật sư đâm đơn kiện. Sáu tháng sau, nhờ còn có địa chỉ người gởi, nên cái hộp tro xương được hoàn trả cho gia đình, với ghi chú là không có địa chỉ người nhận. Bà Hoa mừng ôm cái hộp mà khóc ròng.

Lần nầy, bà Hoa quyết định tự tay đem hộp tro xương ông chồng về tận Việt Nam. Bà sợ thất lạc thêm lần nữa, thì tấm lòng hoài vọng quê hương của chồng bà không được mãn nguyện, và bên kia cõi đời, ông Tư không yên ổn mà an giấc ngàn thu.

Tràm Cà Mau
Last edited by khieulong on Fri Jun 12, 2015 5:54 am, edited 1 time in total.

Post Reply