Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Tấm gương Võ Nguyên Giáp
Ngô Nhân Dụng
Một nhà báo ngoại quốc, ông Jonathan Head, đến Việt Nam quan sát và tường thuật đám tang ông Võ Nguyên Giáp cho đài BBC, nhận xét rằng trong số những người đến bày tỏ lòng thương tiếc và ngưỡng mộ ông, ngoài các cựu chiến binh lớn tuổi còn có hàng ngàn thanh niên, nhiều người chưa ra đời khi ông Giáp bị gạt ra khỏi Bộ Chính Trị đảng cộng sản năm 1982.
Jonathan Head viết: "... những hàng dài thanh niên với nét mặt buồn bã chẳng kém vẻ mặt của các cựu chiến binh.” Nhưng Head cũng nhận xét, “Những khẩu hiệu Marxist cũ rích vẫn được đảng Cộng sản Việt Nam rao giảng nhưng không còn gì hấp dẫn với thế hệ trẻ, vốn đã biết sống theo khuynh hướng xã hội tiêu dùng; và biết những cơ hội mà kinh tế thị trường mang lại cho họ.” Trong khi đó, thì “Tướng Giáp đã luôn trung thành với các khẩu hiệu cũ rích đó... Ông không bao giờ đi chệch đường lối chính sách hay nói về bất cứ nghi ngờ hay mối lo khủng hoảng nào của chế độ... Thay vào đó, ông vẫn hùng hồn nói về quy luật tất yếu lịch sử là chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng kinh tế tư bản.”
Võ Nguyên Giáp luôn luôn đóng vai trò một đảng viên cộng sản gương mẫu, tức là lúc nào cũng tin tưởng ở lý thuyết cộng sản và chấp nhận tất cả các quyết định của đảng, như trong mục này đã viết. Nhưng giải thích như vậy cũng không đầy đủ cho câu hỏi, như Huỳnh Thục Vy mới viết, tại sao ông Giáp “lặng thinh một cách vô cảm” trong nhiều trường hợp đáng lẽ phải lên tiếng.
Ông Giáp tuân theo lệnh đảng trước mọi quyết định đối với cá nhân. Vì vậy, ông cắn răng cam chịu khi bị nhóm Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ tước hết quyền hành. Ông Giáp vẫn giữ chức tổng tư lệnh, bí thư Quân Ủy Trung Ương; còn làm phó thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng, ủy viên Bộ Chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam cho đến năm 1975 nhưng nhiều người chỉ có Lê Duẩn chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam. Ông mất chức bí thư Quân Ủy năm 1977, mất chức bộ trưởng Quốc Phòng năm 1980, rồi năm 1982 bị loại khỏi Bộ Chính Trị.
Sau đó, Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ còn công khai làm nhục ông khi phong Võ Nguyên Giáp làm chủ tịch Ủy Ban Dân Số và Sinh Ðẻ Có Kế Hoạch, tức chương trình hạn chế sinh sản, còn gọi là cai đẻ. Với chức vụ tổng chỉ huy chiến dịch cai đẻ của ông, dân miền Bắc đã đặt câu ca dao chế nhạo: “Ngày xưa đại tướng cầm quân - Ngày nay đại tướng cầm quần chị em - Ngày xưa đại tướng công đồn, vân vân.”
Không ai nghe ông Giáp than phiền lời nào khi bị nhóm Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ hạ nhục trước mặt cả nước như thế. Nhưng trong chín năm làm phó thủ tướng phụ trách khoa học, kỹ thuật, từ 1982 đến 1991, cũng không ai thấy nước Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể nào về khoa học, kỹ thuật. Ngay cả việc sinh đẻ có kế hoạch cũng không ra gì; bằng cớ là dân số Việt Nam đã tăng vọt từ đó tới nay.
Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ là những người đồng thời với Võ Nguyên Giáp, dù địa vị thấp hơn nhiều. Ông chịu thua họ, cũng là điều chấp nhận được. Nhưng sau đó, cả đám thuộc hạ hàng thứ ba, hạng tư, như Lê Ðức Anh, Ðỗ Mười lại hạ nhục ông Giáp thêm một lần nữa. Họ phổ biến các tài liệu tố cáo ông từng là con nuôi của chánh sở mật thám Ðông Dương, Louis Marty; từng bán bí mật quân sự cho Ðại sứ Liên Xô Serbakov; còn trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ thì Giáp hèn nhát, sợ chết, quanh quẩn trong hầm, không dám ra ngoài (Gần đây, ông Bùi Tín xác nhận rằng hầm trú ẩn của ông Giáp khá an toàn, nằm ngoài tầm trọng pháo của quân Pháp). Ðó là chưa kể cái tội ăn nằm với một cô giáo tới nhà dạy piano. Lê Ðức Anh, Ðỗ Mười đã đuổi Võ Nguyên Giáp ra khỏi Trung Ương Ðảng, một hành động trước đó Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ còn tha, chưa nỡ tước bỏ. Bọn Lê Duẩn lột bỏ mũ mãng của Giáp nhưng còn cho mặc cái quần; bọn Ðỗ Mười, Lê Ðức Anh lột hết. Trong mấy chục năm, Bộ Chính Trị đặt ra những chức cố vấn. Lê Ðức Thọ, Phạm Văn Ðồng, Võ Chí Công, vân vân, rồi sau này tới Võ Văn Kiệt, Lê Ðức Anh, Ðỗ Mười đều được mời vào chức cố vấn; nhưng không ai ngó tới Võ Nguyên Giáp.
Võ Nguyên Giáp không bao giờ phản đối, cũng không hề cất tiếng than phiền về thân phận của mình. Lúc bị hạ bệ, đẩy xuống phụ trách việc cai đẻ, ông Giáp có thể từ chức, về hưu, vì đã ở tuổi 70 rồi, để tỏ thái độ, và giữ gìn danh tiết của một con người, nhất là của một ông tướng. Nhưng ông không dám cãi. Thái độ chịu đựng đó cũng thấy trong vụ Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ phát động “Vụ Án Xét Lại Chống Ðảng.” Họ nhắm vào ông Giáp nhưng không đánh trực tiếp, mà tấn công vào những người đồng chí trung thành của ông: Thượng tướng Chu Văn Tấn, tư lệnh Quân Khu Việt Bắc; Thiếu tướng Ðặng Kim Giang chỉ huy hệ thống hậu cần trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ; Tướng Lê Liêm; Trung tướng Trần Ðộ; người tiếp nhận việc đầu hàng của tướng de Castries; Ðại tá Ðỗ Ðức Kiên cục trưởng tác chiến; Ðại tá Phạm Quế Dương; ông Hoàng Minh Chính; Ðại tá Lê Minh Nghĩa, chánh văn phòng Bộ Tổng Tham Mưu, trưởng đoàn quân sự Việt Nam trong hội nghị Trung Giá; Ðại tá Ðỗ Ðức Kiên; Ðại tá Lê Trọng Nghĩa, cục trưởng Cục Quân Báo; Ðại tá Nguyễn Văn Hiếu chánh văn phòng Bộ Quốc Phòng; và Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân Hoàng Thế Dũng, vân vân. Tất cả bị vu cáo tội “chống đảng, xét lại, làm gián điệp cho nước ngoài.” Võ Nguyên Giáp biết những lời cáo buộc đó đều là ngụy tạo, nhưng ông không bao giờ mở miệng, không bênh vực, không bảo vệ, hay giúp đỡ những đồng đội trung thành đang bị bè lũ cầm quyền đàn áp.
Thái độ “chui trong hầm trú ẩn” của ông không biểu lộ trong đời tư mà thôi; trong cả việc công cũng vậy. Ông Giáp không nói một lời nào khi các chính sách kinh tế của đảng làm dân tộc kiệt quệ, nhiều nông dân chết đói, trong lúc ông đang làm phó thủ tướng. Gần đây, ông không hề lên tiếng khi đảng cộng sản đàn áp dân Việt Nam biểu tình chống Trung Cộng lấn chiếm Biển Ðông và đánh giết ngư dân Việt Nam. Ông không bàn một lời nào đến nạn tham nhũng lan tràn, hoàn toàn im lặng khi các nông dân mất ruộng, mất nhà đi biểu tình phản đối khắp nước. Việc ông lên tiếng về vụ bô xít giúp người ta nhớ đến ông; nhưng sau đó ông lại tiếp tục chui xuống hầm; bị coi là chỉ “đánh trống bỏ dùi.” Trước sau, ông Võ Nguyên Giáp vẫn chui dưới hầm, ngoài tầm pháo kích của các đồng chí đang nắm quyền sinh sát.
Giải thích thái độ im lặng của ông Giáp bằng tinh thần kỷ luật của một đảng viên trung kiên thì không đủ. Nhiều đảng viên và tướng lãnh đã từng lên tiếng phản đối chính quyền cộng sản tham nhũng, lệ thuộc Trung Cộng, và bất lực về kinh tế.
Các tướng Trần Ðộ, Nguyễn Văn Vịnh, Ðại tá Phạm Quế Dương, họ đâu có cam ngậm miệng khi thấy lòng dân phẫn uất?
Cho nên, ông Võ Nguyên Giáp lựa chọn chui xuống hầm chỉ vì lo cho chính ông, và con cháu ông.
Ông Giáp biết các đồng chí trong đảng Cộng sản không từ bỏ một thủ đoạn nào khi họ cần bảo vệ quyền hành. Họ cướp được chính quyền là nhờ dám giết người nhiều hơn, tàn bạo hơn những đối thủ chính trị của họ. Chính ông đã chỉ huy các vụ tàn sát các đảng phái quốc gia yêu nước trong năm 1946; ngụy tạo vụ Ôn Như Hầu để bắt, giết các chiến sĩ Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt Dân Chính, những người thoát chết phải sang Trung Quốc lưu vong. Ông đã biết rằng trong đảng bất cứ ai cũng có thể bị thủ tiêu. Ông biết những cái chết bất đắc kỳ tử mờ ám của bộ trưởng Dương Bạch Mai hay Ðại Tướng Hoàng Văn Thái. Sống trong chế độ cộng sản, không ai được an toàn. Ngay sau khi Lê Duẩn chết, các con ông ta còn hỏi Phó Thủ tướng Trần Duy Thành: Liệu “họ” có giết chúng cháu không; theo lời ông Thành kể trong hồi ký.
Mối lo lắng của ông Võ Nguyên Giáp được biểu lộ ngay cả khi chữa bệnh. Bác sĩ Phạm Văn Ngà, người săn sóc sức khỏe cho ông trong 30 năm, kể rằng: “Ðại tướng có một nguyên tắc bất di bất dịch là không bao giờ uống thuốc của ai đưa cho, kể cả con cái, trừ Bác sĩ Ngà.”
Nhờ biết thân, biết phận, giữ mình như vậy, ông vẫn được chế độ hậu đãi. Ông được cung cấp đủ dinh thự, xe cộ, phụ tá, nhân viên văn phòng, bác sĩ, y tá thường trực, vệ sĩ, người giúp việc, và mọi thứ bổng lộc, phụ cấp. Vì ông biết giữ mồm giữ miệng. Lâu lâu ông lại được các thuộc cấp cũ còn tại chức mời dự tiệc, liên hoan, để thấy mình vẫn còn được trọng vọng. Nhưng luôn luôn giữ mồm, giữ miệng; không nói một lời nào “chệch hướng.” Trong đời tư, ông được người ta kính trọng vì lối sống đơn giản, không chạy chọt cho con em làm giầu quá đáng, như các quan chức lớn khác. Ðó cũng là điều Jonathan Head coi là lý do tại sao nhiều cựu chiến binh và giới trẻ còn ngưỡng mộ, đi viếng tang Tướng Giáp.
Nhà báo Jonathan Head viết: “Ông là người giản dị, lịch thiệp và sống đơn giản, họ nói với tôi.” Lời giải thích này khiến Jonathan Head thấy những người dân đi viếng tang ông Giáp là để phản kháng đám lãnh tụ cộng sản đang cầm quyền, một cách gián tiếp. “Những phẩm chất họ ngưỡng mộ nơi ông cũng chính là điều khiến họ bất bình cực độ với giới lãnh đạo hiện nay. Những người đó đã để nạn tham nhũng và trục lợi cá nhân hoành hành; những người đó không đủ cứng rắn khi đối phó với Trung Quốc,” vân vân. Jonathan Head kết luận, “Sau khi chết, ông Giáp lại được người dân nhìn nhận như một biểu tượng của tất cả những gì mà các lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay không có.” Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang chắc cũng hiểu được thông điệp này. Phản kháng một cách gián tiếp chắc không đủ để bọn họ chuyển lòng, chú ý đến lợi ích của dân Việt Nam hơn. Nhưng trong đám tang ông Giáp, người dân làm được tới đó là quý lắm rồi. Bởi vì con người ông Giáp không thể nào khích lệ cho ai đứng lên phản kháng một cách mạnh mẽ hơn được. Chính ông là tấm gương nhịn nhục, chịu đựng suốt đời, để được sống an thân, khi chết thì được nghe điếu văn, truy điệu. Chắc chắn đó không phải là một tấm gương cho những thanh niên thời nay, như Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Uyên Phương!
Ngô Nhân Dụng
Một nhà báo ngoại quốc, ông Jonathan Head, đến Việt Nam quan sát và tường thuật đám tang ông Võ Nguyên Giáp cho đài BBC, nhận xét rằng trong số những người đến bày tỏ lòng thương tiếc và ngưỡng mộ ông, ngoài các cựu chiến binh lớn tuổi còn có hàng ngàn thanh niên, nhiều người chưa ra đời khi ông Giáp bị gạt ra khỏi Bộ Chính Trị đảng cộng sản năm 1982.
Jonathan Head viết: "... những hàng dài thanh niên với nét mặt buồn bã chẳng kém vẻ mặt của các cựu chiến binh.” Nhưng Head cũng nhận xét, “Những khẩu hiệu Marxist cũ rích vẫn được đảng Cộng sản Việt Nam rao giảng nhưng không còn gì hấp dẫn với thế hệ trẻ, vốn đã biết sống theo khuynh hướng xã hội tiêu dùng; và biết những cơ hội mà kinh tế thị trường mang lại cho họ.” Trong khi đó, thì “Tướng Giáp đã luôn trung thành với các khẩu hiệu cũ rích đó... Ông không bao giờ đi chệch đường lối chính sách hay nói về bất cứ nghi ngờ hay mối lo khủng hoảng nào của chế độ... Thay vào đó, ông vẫn hùng hồn nói về quy luật tất yếu lịch sử là chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng kinh tế tư bản.”
Võ Nguyên Giáp luôn luôn đóng vai trò một đảng viên cộng sản gương mẫu, tức là lúc nào cũng tin tưởng ở lý thuyết cộng sản và chấp nhận tất cả các quyết định của đảng, như trong mục này đã viết. Nhưng giải thích như vậy cũng không đầy đủ cho câu hỏi, như Huỳnh Thục Vy mới viết, tại sao ông Giáp “lặng thinh một cách vô cảm” trong nhiều trường hợp đáng lẽ phải lên tiếng.
Ông Giáp tuân theo lệnh đảng trước mọi quyết định đối với cá nhân. Vì vậy, ông cắn răng cam chịu khi bị nhóm Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ tước hết quyền hành. Ông Giáp vẫn giữ chức tổng tư lệnh, bí thư Quân Ủy Trung Ương; còn làm phó thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng, ủy viên Bộ Chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam cho đến năm 1975 nhưng nhiều người chỉ có Lê Duẩn chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam. Ông mất chức bí thư Quân Ủy năm 1977, mất chức bộ trưởng Quốc Phòng năm 1980, rồi năm 1982 bị loại khỏi Bộ Chính Trị.
Sau đó, Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ còn công khai làm nhục ông khi phong Võ Nguyên Giáp làm chủ tịch Ủy Ban Dân Số và Sinh Ðẻ Có Kế Hoạch, tức chương trình hạn chế sinh sản, còn gọi là cai đẻ. Với chức vụ tổng chỉ huy chiến dịch cai đẻ của ông, dân miền Bắc đã đặt câu ca dao chế nhạo: “Ngày xưa đại tướng cầm quân - Ngày nay đại tướng cầm quần chị em - Ngày xưa đại tướng công đồn, vân vân.”
Không ai nghe ông Giáp than phiền lời nào khi bị nhóm Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ hạ nhục trước mặt cả nước như thế. Nhưng trong chín năm làm phó thủ tướng phụ trách khoa học, kỹ thuật, từ 1982 đến 1991, cũng không ai thấy nước Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể nào về khoa học, kỹ thuật. Ngay cả việc sinh đẻ có kế hoạch cũng không ra gì; bằng cớ là dân số Việt Nam đã tăng vọt từ đó tới nay.
Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ là những người đồng thời với Võ Nguyên Giáp, dù địa vị thấp hơn nhiều. Ông chịu thua họ, cũng là điều chấp nhận được. Nhưng sau đó, cả đám thuộc hạ hàng thứ ba, hạng tư, như Lê Ðức Anh, Ðỗ Mười lại hạ nhục ông Giáp thêm một lần nữa. Họ phổ biến các tài liệu tố cáo ông từng là con nuôi của chánh sở mật thám Ðông Dương, Louis Marty; từng bán bí mật quân sự cho Ðại sứ Liên Xô Serbakov; còn trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ thì Giáp hèn nhát, sợ chết, quanh quẩn trong hầm, không dám ra ngoài (Gần đây, ông Bùi Tín xác nhận rằng hầm trú ẩn của ông Giáp khá an toàn, nằm ngoài tầm trọng pháo của quân Pháp). Ðó là chưa kể cái tội ăn nằm với một cô giáo tới nhà dạy piano. Lê Ðức Anh, Ðỗ Mười đã đuổi Võ Nguyên Giáp ra khỏi Trung Ương Ðảng, một hành động trước đó Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ còn tha, chưa nỡ tước bỏ. Bọn Lê Duẩn lột bỏ mũ mãng của Giáp nhưng còn cho mặc cái quần; bọn Ðỗ Mười, Lê Ðức Anh lột hết. Trong mấy chục năm, Bộ Chính Trị đặt ra những chức cố vấn. Lê Ðức Thọ, Phạm Văn Ðồng, Võ Chí Công, vân vân, rồi sau này tới Võ Văn Kiệt, Lê Ðức Anh, Ðỗ Mười đều được mời vào chức cố vấn; nhưng không ai ngó tới Võ Nguyên Giáp.
Võ Nguyên Giáp không bao giờ phản đối, cũng không hề cất tiếng than phiền về thân phận của mình. Lúc bị hạ bệ, đẩy xuống phụ trách việc cai đẻ, ông Giáp có thể từ chức, về hưu, vì đã ở tuổi 70 rồi, để tỏ thái độ, và giữ gìn danh tiết của một con người, nhất là của một ông tướng. Nhưng ông không dám cãi. Thái độ chịu đựng đó cũng thấy trong vụ Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ phát động “Vụ Án Xét Lại Chống Ðảng.” Họ nhắm vào ông Giáp nhưng không đánh trực tiếp, mà tấn công vào những người đồng chí trung thành của ông: Thượng tướng Chu Văn Tấn, tư lệnh Quân Khu Việt Bắc; Thiếu tướng Ðặng Kim Giang chỉ huy hệ thống hậu cần trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ; Tướng Lê Liêm; Trung tướng Trần Ðộ; người tiếp nhận việc đầu hàng của tướng de Castries; Ðại tá Ðỗ Ðức Kiên cục trưởng tác chiến; Ðại tá Phạm Quế Dương; ông Hoàng Minh Chính; Ðại tá Lê Minh Nghĩa, chánh văn phòng Bộ Tổng Tham Mưu, trưởng đoàn quân sự Việt Nam trong hội nghị Trung Giá; Ðại tá Ðỗ Ðức Kiên; Ðại tá Lê Trọng Nghĩa, cục trưởng Cục Quân Báo; Ðại tá Nguyễn Văn Hiếu chánh văn phòng Bộ Quốc Phòng; và Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân Hoàng Thế Dũng, vân vân. Tất cả bị vu cáo tội “chống đảng, xét lại, làm gián điệp cho nước ngoài.” Võ Nguyên Giáp biết những lời cáo buộc đó đều là ngụy tạo, nhưng ông không bao giờ mở miệng, không bênh vực, không bảo vệ, hay giúp đỡ những đồng đội trung thành đang bị bè lũ cầm quyền đàn áp.
Thái độ “chui trong hầm trú ẩn” của ông không biểu lộ trong đời tư mà thôi; trong cả việc công cũng vậy. Ông Giáp không nói một lời nào khi các chính sách kinh tế của đảng làm dân tộc kiệt quệ, nhiều nông dân chết đói, trong lúc ông đang làm phó thủ tướng. Gần đây, ông không hề lên tiếng khi đảng cộng sản đàn áp dân Việt Nam biểu tình chống Trung Cộng lấn chiếm Biển Ðông và đánh giết ngư dân Việt Nam. Ông không bàn một lời nào đến nạn tham nhũng lan tràn, hoàn toàn im lặng khi các nông dân mất ruộng, mất nhà đi biểu tình phản đối khắp nước. Việc ông lên tiếng về vụ bô xít giúp người ta nhớ đến ông; nhưng sau đó ông lại tiếp tục chui xuống hầm; bị coi là chỉ “đánh trống bỏ dùi.” Trước sau, ông Võ Nguyên Giáp vẫn chui dưới hầm, ngoài tầm pháo kích của các đồng chí đang nắm quyền sinh sát.
Giải thích thái độ im lặng của ông Giáp bằng tinh thần kỷ luật của một đảng viên trung kiên thì không đủ. Nhiều đảng viên và tướng lãnh đã từng lên tiếng phản đối chính quyền cộng sản tham nhũng, lệ thuộc Trung Cộng, và bất lực về kinh tế.
Các tướng Trần Ðộ, Nguyễn Văn Vịnh, Ðại tá Phạm Quế Dương, họ đâu có cam ngậm miệng khi thấy lòng dân phẫn uất?
Cho nên, ông Võ Nguyên Giáp lựa chọn chui xuống hầm chỉ vì lo cho chính ông, và con cháu ông.
Ông Giáp biết các đồng chí trong đảng Cộng sản không từ bỏ một thủ đoạn nào khi họ cần bảo vệ quyền hành. Họ cướp được chính quyền là nhờ dám giết người nhiều hơn, tàn bạo hơn những đối thủ chính trị của họ. Chính ông đã chỉ huy các vụ tàn sát các đảng phái quốc gia yêu nước trong năm 1946; ngụy tạo vụ Ôn Như Hầu để bắt, giết các chiến sĩ Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt Dân Chính, những người thoát chết phải sang Trung Quốc lưu vong. Ông đã biết rằng trong đảng bất cứ ai cũng có thể bị thủ tiêu. Ông biết những cái chết bất đắc kỳ tử mờ ám của bộ trưởng Dương Bạch Mai hay Ðại Tướng Hoàng Văn Thái. Sống trong chế độ cộng sản, không ai được an toàn. Ngay sau khi Lê Duẩn chết, các con ông ta còn hỏi Phó Thủ tướng Trần Duy Thành: Liệu “họ” có giết chúng cháu không; theo lời ông Thành kể trong hồi ký.
Mối lo lắng của ông Võ Nguyên Giáp được biểu lộ ngay cả khi chữa bệnh. Bác sĩ Phạm Văn Ngà, người săn sóc sức khỏe cho ông trong 30 năm, kể rằng: “Ðại tướng có một nguyên tắc bất di bất dịch là không bao giờ uống thuốc của ai đưa cho, kể cả con cái, trừ Bác sĩ Ngà.”
Nhờ biết thân, biết phận, giữ mình như vậy, ông vẫn được chế độ hậu đãi. Ông được cung cấp đủ dinh thự, xe cộ, phụ tá, nhân viên văn phòng, bác sĩ, y tá thường trực, vệ sĩ, người giúp việc, và mọi thứ bổng lộc, phụ cấp. Vì ông biết giữ mồm giữ miệng. Lâu lâu ông lại được các thuộc cấp cũ còn tại chức mời dự tiệc, liên hoan, để thấy mình vẫn còn được trọng vọng. Nhưng luôn luôn giữ mồm, giữ miệng; không nói một lời nào “chệch hướng.” Trong đời tư, ông được người ta kính trọng vì lối sống đơn giản, không chạy chọt cho con em làm giầu quá đáng, như các quan chức lớn khác. Ðó cũng là điều Jonathan Head coi là lý do tại sao nhiều cựu chiến binh và giới trẻ còn ngưỡng mộ, đi viếng tang Tướng Giáp.
Nhà báo Jonathan Head viết: “Ông là người giản dị, lịch thiệp và sống đơn giản, họ nói với tôi.” Lời giải thích này khiến Jonathan Head thấy những người dân đi viếng tang ông Giáp là để phản kháng đám lãnh tụ cộng sản đang cầm quyền, một cách gián tiếp. “Những phẩm chất họ ngưỡng mộ nơi ông cũng chính là điều khiến họ bất bình cực độ với giới lãnh đạo hiện nay. Những người đó đã để nạn tham nhũng và trục lợi cá nhân hoành hành; những người đó không đủ cứng rắn khi đối phó với Trung Quốc,” vân vân. Jonathan Head kết luận, “Sau khi chết, ông Giáp lại được người dân nhìn nhận như một biểu tượng của tất cả những gì mà các lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay không có.” Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang chắc cũng hiểu được thông điệp này. Phản kháng một cách gián tiếp chắc không đủ để bọn họ chuyển lòng, chú ý đến lợi ích của dân Việt Nam hơn. Nhưng trong đám tang ông Giáp, người dân làm được tới đó là quý lắm rồi. Bởi vì con người ông Giáp không thể nào khích lệ cho ai đứng lên phản kháng một cách mạnh mẽ hơn được. Chính ông là tấm gương nhịn nhục, chịu đựng suốt đời, để được sống an thân, khi chết thì được nghe điếu văn, truy điệu. Chắc chắn đó không phải là một tấm gương cho những thanh niên thời nay, như Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Uyên Phương!
HRW - Việt Nam cần sửa đổi hiến pháp để bảo vệ nhân quyền.
Việt Nam: Sửa đổi Hiến pháp để Bảo vệ Nhân quyền
Quốc Hội cần cải tổ hệ thống nặng tính đàn áp và tiếp nhận các tiêu chuẩn quốc tế (New York) – Trong một văn thư vừa gửi tới Chủ tịch Quốc Hội, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng Quốc Hội Việt Nam cần đảm bảo bản hiến pháp sửa đổi của Việt Nam đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền. Quốc Hội Việt Nam đang xem xét và dự định sẽ bỏ phiếu về các nội dung sửa đổi hiến pháp trong phiên họp từ ngày 21 tháng Mười đến ngày 30 tháng Mười một năm 2013.
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho rằng các nghị viên Quốc Hội đang đứng trước một ngã rẽ lịch sử và, bất chấp các yêu cầu của Đảng Cộng sản đang cầm quyền, nên sử dụng thời cơ này để mang lại những thay đổi có ý nghĩa cho một hệ thống hiến pháp và pháp luật vốn đã cản trở người dân Việt Nam được hưởng các quyền cơ bản một cách có hệ thống. Lần gần đây nhất bản Hiến pháp Việt Nam 1992 được sửa đổi là vào năm 2001.
“Đây là cơ hội duy nhất trong cả một thế hệ để thay đổi hiến pháp Việt Nam sao cho các quyền tự do cơ bản của người dân được bảo đảm, ví dụ như quyền kêu gọi dân chủ hay thành lập các công đoàn độc lập và các tổ chức chính trị độc lập”, ông Brad Adams, Giám đốc Ban Á châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói. “Quốc Hội không nên chỉ thực hiện những thay đổi sơ bộ đối với một hệ thống pháp lý mang nặng tính đàn áp, mà cần đáp ứng các yêu cầu của công chúng và bắt tay vào cải tổ hiến pháp một cách cơ bản.
Dù Việt Nam đang là một nhà nước độc đảng và Đảng Cộng sản kiểm soát quá trình nghị sự, nhưng theo luật việc sửa đổi hiến pháp thuộc thẩm quyền của Quốc Hội. Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, một số nội dung sửa đổi hiến pháp được đề xuất chính thức có thể tạo những tiến bộ về nhân quyền. Cụ thể như, “nhân quyền” chỉ được nhắc tới một lần duy nhất, mang tính hình thức trong bản Hiến pháp 1992, nhưng đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bản dự thảo lần này với cách thể hiện cho thấy rằng nhân quyền thuộc về tất cả mọi người ở Việt Nam, bất kể có phải là công dân Việt Nam hay không. Những tiến bộ khác trong bản dự thảo gồm có các điều khoản về phân biệt đối xử, về tiếp cận trợ giúp pháp lý, về xét xử công bằng, về cưỡng bức lao động và điều khoản thành lập Hội đồng Hiến pháp.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều khoản loại trừ và các lỗ hổng pháp lý làm yếu đi đáng kể các nội dung về quyền con người cơ bản, như quyền tự do ngôn luận, nhóm họp và hội họp, theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền. Dự thảo sửa đổi nội dung điều 4 Hiến pháp, vốn gây nhiều tranh cãi, lại nới rộng thêm điều kiện cho Đảng Cộng sản tuyên bố về quyền lãnh đạo đất nước – ghi nhận rằng Đảng này là “đội tiên phong” của không riêng gì “giai cấp công nhân” Việt Nam như trong Hiến pháp 1992, mà còn của cả “dân tộc Việt Nam”, khiến cho đa nguyên chính trị và bầu cử chính trị định kỳ thực chất trở nên bất khả thi.
Để thực hiện được một chương trình cải tổ thực thụ, bảo đảm các quyền tự do và nhân quyền cơ bản, bản hiến pháp phải đáp ứng được các nghĩa vụ pháp lý quốc tế của Việt Nam với tư cách là một quốc gia thành viên của các công ước, hiệp ước quốc tế về nhân quyền đồng thời đảm bảo khả năng thực thi pháp lý của các điều khoản đó trong lãnh thổ Việt Nam. Bản hiến pháp cần có các điều khoản quy định rằng bất cứ sự hạn chế nào đối với nhân quyền và quyền tự do chỉ có thể là điều kiện cần thiết trong một xã hội dân chủ, và không cho phép các cơ quan nhà nước hay tòa án được vi phạm các quyền con người đã được quốc tế công nhận.
“Nhân dân Việt Nam đang chất vấn một cách chính đáng rằng liệu một bản hiến pháp mới có mang lại thay đổi cho đời sống của mình hay chỉ là những ngôn từ đẹp đẽ trên giấy tờ”, ông Adams nói. “Có quá nhiều điều khoản loại trừ và lỗ hổng khiến người ta có thể thắc mắc rằng liệu việc sửa đổi hiến pháp lần này có phải chỉ đơn thuần là một bài toán về quan hệ công hay không. Nếu có ý định nghiêm túc về cải tổ, Đảng Cộng sản sẽ để cho Quốc Hội chứng minh rằng những kẻ hoài nghi đã nghĩ sai.”
Dự thảo sửa đổi hiến pháp Việt Nam được chính thức công khai với công chúng và công chức nhà nước vào ngày mồng 2 tháng Giêng năm 2013, với việc công bố những nội dung dự kiến thay đổi so với bản Hiến pháp 1992 hiện hành. Trong một động thái chưa từng có tiền lệ, chính phủ đã mời người dân đóng góp ý kiến về dự thảo. Hàng chục ngàn người dân Việt Nam đã viết thư góp ý.
Những người dân Việt Nam có can đảm vận động để thay đổi hiến pháp đã trở thành đối tượng của một chiến dịch chính thức nhằm ngăn chặn những quan điểm không vừa ý nhà nước, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu. Điều này có vẻ là một nguyên nhân chính trong vụ bắt giữ luật sư Lê Quốc Quân vào ngày 27 tháng Mười hai năm 2012, sau đó ông bị xử vào ngày mồng 2 tháng Mười vừa qua với mức án 30 tháng tù về tội danh trốn thuế ngụy tạo. Những người lên tiếng phê bình một cách ôn hòa khác, như nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, blogger Nguyễn Hữu Vinh và nhà hoạt động Phật giáo Lê Công Cầu cũng là nạn nhân của chiến dịch này.
Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, các nhà lãnh đạo Việt Nam chưa thể hiện các dấu hiệu cho thấy họ nghiêng về giải pháp bớt tính đàn áp hơn trong vấn đề các quyền cơ bản của con người. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố trong một bài phát biểu ngày 19 tháng Ba về sửa đổi hiến pháp rằng Đảng Cộng sản, nhà nước, và “mọi người dân” phải đấu tranh với các lời nói và việc làm không với tinh thần xây dựng, gây phương hại, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong Đảng và xã hội.” Như để củng cố thêm ý tưởng này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu trong ngày 27 tháng Ba rằng bản hiến pháp mới phải thể hiện được tâm nguyện của Đảng Cộng sản.
“Thật là hết sức hài hước khi mời công chúng đóng góp ý kiến về dự thảo sửa đổi hiến pháp để rồi bỏ tù những người thể hiện quan điểm riêng của mình,” ông Adams nói. “Nếu bản hiến pháp mới thực hiện được một việc, việc đó phải là chấm dứt tùy tiện sử dụng pháp luật để bỏ tù những người lên tiếng phê bình một cách ôn hòa.”
Nguồn HRW
Việt Nam: Sửa đổi Hiến pháp để Bảo vệ Nhân quyền
Quốc Hội cần cải tổ hệ thống nặng tính đàn áp và tiếp nhận các tiêu chuẩn quốc tế (New York) – Trong một văn thư vừa gửi tới Chủ tịch Quốc Hội, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng Quốc Hội Việt Nam cần đảm bảo bản hiến pháp sửa đổi của Việt Nam đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền. Quốc Hội Việt Nam đang xem xét và dự định sẽ bỏ phiếu về các nội dung sửa đổi hiến pháp trong phiên họp từ ngày 21 tháng Mười đến ngày 30 tháng Mười một năm 2013.
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho rằng các nghị viên Quốc Hội đang đứng trước một ngã rẽ lịch sử và, bất chấp các yêu cầu của Đảng Cộng sản đang cầm quyền, nên sử dụng thời cơ này để mang lại những thay đổi có ý nghĩa cho một hệ thống hiến pháp và pháp luật vốn đã cản trở người dân Việt Nam được hưởng các quyền cơ bản một cách có hệ thống. Lần gần đây nhất bản Hiến pháp Việt Nam 1992 được sửa đổi là vào năm 2001.
“Đây là cơ hội duy nhất trong cả một thế hệ để thay đổi hiến pháp Việt Nam sao cho các quyền tự do cơ bản của người dân được bảo đảm, ví dụ như quyền kêu gọi dân chủ hay thành lập các công đoàn độc lập và các tổ chức chính trị độc lập”, ông Brad Adams, Giám đốc Ban Á châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói. “Quốc Hội không nên chỉ thực hiện những thay đổi sơ bộ đối với một hệ thống pháp lý mang nặng tính đàn áp, mà cần đáp ứng các yêu cầu của công chúng và bắt tay vào cải tổ hiến pháp một cách cơ bản.
Dù Việt Nam đang là một nhà nước độc đảng và Đảng Cộng sản kiểm soát quá trình nghị sự, nhưng theo luật việc sửa đổi hiến pháp thuộc thẩm quyền của Quốc Hội. Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, một số nội dung sửa đổi hiến pháp được đề xuất chính thức có thể tạo những tiến bộ về nhân quyền. Cụ thể như, “nhân quyền” chỉ được nhắc tới một lần duy nhất, mang tính hình thức trong bản Hiến pháp 1992, nhưng đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bản dự thảo lần này với cách thể hiện cho thấy rằng nhân quyền thuộc về tất cả mọi người ở Việt Nam, bất kể có phải là công dân Việt Nam hay không. Những tiến bộ khác trong bản dự thảo gồm có các điều khoản về phân biệt đối xử, về tiếp cận trợ giúp pháp lý, về xét xử công bằng, về cưỡng bức lao động và điều khoản thành lập Hội đồng Hiến pháp.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều khoản loại trừ và các lỗ hổng pháp lý làm yếu đi đáng kể các nội dung về quyền con người cơ bản, như quyền tự do ngôn luận, nhóm họp và hội họp, theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền. Dự thảo sửa đổi nội dung điều 4 Hiến pháp, vốn gây nhiều tranh cãi, lại nới rộng thêm điều kiện cho Đảng Cộng sản tuyên bố về quyền lãnh đạo đất nước – ghi nhận rằng Đảng này là “đội tiên phong” của không riêng gì “giai cấp công nhân” Việt Nam như trong Hiến pháp 1992, mà còn của cả “dân tộc Việt Nam”, khiến cho đa nguyên chính trị và bầu cử chính trị định kỳ thực chất trở nên bất khả thi.
Để thực hiện được một chương trình cải tổ thực thụ, bảo đảm các quyền tự do và nhân quyền cơ bản, bản hiến pháp phải đáp ứng được các nghĩa vụ pháp lý quốc tế của Việt Nam với tư cách là một quốc gia thành viên của các công ước, hiệp ước quốc tế về nhân quyền đồng thời đảm bảo khả năng thực thi pháp lý của các điều khoản đó trong lãnh thổ Việt Nam. Bản hiến pháp cần có các điều khoản quy định rằng bất cứ sự hạn chế nào đối với nhân quyền và quyền tự do chỉ có thể là điều kiện cần thiết trong một xã hội dân chủ, và không cho phép các cơ quan nhà nước hay tòa án được vi phạm các quyền con người đã được quốc tế công nhận.
“Nhân dân Việt Nam đang chất vấn một cách chính đáng rằng liệu một bản hiến pháp mới có mang lại thay đổi cho đời sống của mình hay chỉ là những ngôn từ đẹp đẽ trên giấy tờ”, ông Adams nói. “Có quá nhiều điều khoản loại trừ và lỗ hổng khiến người ta có thể thắc mắc rằng liệu việc sửa đổi hiến pháp lần này có phải chỉ đơn thuần là một bài toán về quan hệ công hay không. Nếu có ý định nghiêm túc về cải tổ, Đảng Cộng sản sẽ để cho Quốc Hội chứng minh rằng những kẻ hoài nghi đã nghĩ sai.”
Dự thảo sửa đổi hiến pháp Việt Nam được chính thức công khai với công chúng và công chức nhà nước vào ngày mồng 2 tháng Giêng năm 2013, với việc công bố những nội dung dự kiến thay đổi so với bản Hiến pháp 1992 hiện hành. Trong một động thái chưa từng có tiền lệ, chính phủ đã mời người dân đóng góp ý kiến về dự thảo. Hàng chục ngàn người dân Việt Nam đã viết thư góp ý.
Những người dân Việt Nam có can đảm vận động để thay đổi hiến pháp đã trở thành đối tượng của một chiến dịch chính thức nhằm ngăn chặn những quan điểm không vừa ý nhà nước, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu. Điều này có vẻ là một nguyên nhân chính trong vụ bắt giữ luật sư Lê Quốc Quân vào ngày 27 tháng Mười hai năm 2012, sau đó ông bị xử vào ngày mồng 2 tháng Mười vừa qua với mức án 30 tháng tù về tội danh trốn thuế ngụy tạo. Những người lên tiếng phê bình một cách ôn hòa khác, như nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, blogger Nguyễn Hữu Vinh và nhà hoạt động Phật giáo Lê Công Cầu cũng là nạn nhân của chiến dịch này.
Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, các nhà lãnh đạo Việt Nam chưa thể hiện các dấu hiệu cho thấy họ nghiêng về giải pháp bớt tính đàn áp hơn trong vấn đề các quyền cơ bản của con người. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố trong một bài phát biểu ngày 19 tháng Ba về sửa đổi hiến pháp rằng Đảng Cộng sản, nhà nước, và “mọi người dân” phải đấu tranh với các lời nói và việc làm không với tinh thần xây dựng, gây phương hại, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong Đảng và xã hội.” Như để củng cố thêm ý tưởng này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu trong ngày 27 tháng Ba rằng bản hiến pháp mới phải thể hiện được tâm nguyện của Đảng Cộng sản.
“Thật là hết sức hài hước khi mời công chúng đóng góp ý kiến về dự thảo sửa đổi hiến pháp để rồi bỏ tù những người thể hiện quan điểm riêng của mình,” ông Adams nói. “Nếu bản hiến pháp mới thực hiện được một việc, việc đó phải là chấm dứt tùy tiện sử dụng pháp luật để bỏ tù những người lên tiếng phê bình một cách ôn hòa.”
Nguồn HRW
Dạy sử theo lối ngu dân
Ngô Nhân Dụng
Trên các mạng Internet, có người mới vạch ra một sai lầm lớn trong một cuốn sách về lịch sử xuất bản hồi giữa năm 2013 ở trong nước. Trong trang hai, bài Lời Giới Thiệu cuốn sách, người ta viết: “Vua Gia Long tạ thế năm 1819, cháu nội là Nguyễn Phúc Ðảm lên ngôi năm 1820, lấy hiệu là Minh Mệnh.”
Bất cứ học sinh Việt Nam nào tốt nghiệp trung học cũng phải biết vị vua thứ hai triều Nguyễn, Minh Mệnh là con của vua Gia Long, chắc chắn không phải cháu nội. Vậy mà người ta viết sai như vậy, trong một cuốn sách nhằm làm tài liệu tranh đấu về ngoại giao, dịch ra ba thứ tiếng Anh, Pháp, Trung Hoa. Ðó là cuốn Tuyển tập các châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao xuất bản. Chắc người chủ trì việc xuất bản và ban biên tập ba người không ai đọc lại bản thảo trước khi in, hoặc chính một trong những người đó, người viết bài Lời Giới Thiệu, không có dịp học sử nước ta bao giờ.
Ðiều này có thể là sự thật. Học sinh Việt Nam có được học môn lịch sử thật hay không? Các em có được khích lệ để tìm hiểu lịch sử dân tộc hay không? Câu trả lời có thể là không, hoàn toàn không. Môn học Lịch sử đã bị cưỡng bức, biến thành một công tác tuyên truyền để củng cố địa vị độc quyền của các lãnh tụ đảng.
Ai cũng phải nhớ lại, cuối tháng 3 năm 2013, khi Bộ Giáo dục thông báo rằng trong kỳ thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông năm nay sẽ không có môn Lịch sử, nhiều học sinh đã hẹn nhau đem sách và tài liệu học sử ra xé đồng loạt, ném xuống trắng xóa sân trường. Các em xé sách, vì không cần dùng cho kỳ thi. Nhưng sách lịch sử, môn học về lịch sử, đâu phải chỉ cốt để đi thi? Các bạn trẻ có thể đọc sử để giải trí, để trau giồi kiến thức, để thỏa lòng yêu tổ tiên, đất nước. Cá nhân tôi, ngay từ lúc học lớp Ba, trường làng, khi vớ được một cuốn lịch sử chép tay, đã say sưa đọc các câu chuyện Bà Trưng, Bà Triệu, Trận Bạch Ðằng, Trận Chi Lăng, đọc đi đọc lại nhiều lần vì trong nhà không có cuốn sử nào khác! Tôi chắc rằng chính mình hồi trẻ cũng không yêu nước hơn các bạn trẻ bây giờ. Cũng không có trí tò mò tìm hiểu nhiều hơn, đặc biệt là tò mò tìm hiểu về quá khứ tổ tiên dân tộc mình. Tại sao các học sinh bây giờ lại xé cả các tài liệu giáo khoa môn lịch sử, khi biết không cần đến trong kỳ thi?
Có thể giải thích là do một trong hai nguyên nhân, hoặc cả hai. Thứ nhất, các tài liệu mà các em đem xé, vứt đi, không thật sự là lịch sử, mà các em đều biết như vậy. Thứ nhì, việc dạy môn sử trong trường học không nhằm giáo dục kiến thức và tinh thần yêu nước của các em; mà nó có một mục đích mờ ám khác; các em cũng biết như vậy. Cho nên, khi được “giải phóng,” các học sinh dang tay xé nát các trang sách giáo khoa môn sử; đó là một hành động phản kháng tiêu cực: Chúng ta được tự do, không phải học, thi môn học chán ngấy này nữa. Ném đống rác vụn đó xuống sân trường cũng là một hành động phản kháng: Chúng tôi không thể chịu nổi thủ đoạn lừa bịp này nữa rồi, hãy vứt chúng vào đống rác đi thôi!
Tại sao chúng tôi giải thích hành động xé sách môn sử của các học sinh theo tâm trạng như trên? Ðó là sau khi đọc các đề thi môn sử trong các kỳ thi vào đại học, từ 2008 đến 2013, theo đề nghị của bạn Nguyễn Duy Chính, một nhà nghiên cứu lịch sử thời Nguyễn Tây Sơn.
Kỳ thi tuyển vào đại học thường phải đặt các câu hỏi bao gồm kiến thức của học sinh từ đầu tới cuối môn học, trong môn lịch sử thì phải khảo hạch những điều các em được học trong suốt lịch sử Việt Nam, từ thời Hùng Vương đến thế kỷ 20.
Nhưng khi đọc các đề thi trong sáu năm trên, chúng ta thấy tất cả các đề đều hỏi về thế kỷ 20, không một câu nào tỏ vẻ quan tâm đến lịch sử nước Việt Nam từ thế kỷ 19 về trước. Hơn thế nữa, tất cả các câu hỏi đều nhằm vào các bài dạy lịch sử theo quan điểm của đảng Cộng sản.
Xin nêu mấy thí dụ các đề thi như sau.
Thí dụ thứ nhất: “Tại sao đảng và chính phủ phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày 19-12-1946?” (câu 2, năm 2008). Thứ nhì: “Trình bày và nhận xét chủ trương tập hợp các lực lượng cách mạng được đề ra tại Hội nghị thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam 1 - 1930, Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung Ương Lâm thời Ðảng Cộng sản Việt Nam 10-1930 và Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung Ương Ðảng Cộng sản Ðông Dương 5-1941” (câu hỏi 2, năm 2009). Thí dụ thứ ba: “Luận cương chính trị tháng 10-1930 của Ðảng Cộng sản Ðông Dương có những điểm gì khác so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Ðảng Cộng sản Việt Nam? Những vấn đề đó được giải quyết như thế nào trong giai đoạn 1939-1945?” (câu 2, năm 2011). Thứ tư: “Cuối tháng 3 năm 1975, Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng đã có quyết định gì để hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam? Quyết định đó được đề ra dựa trên các cơ sở nào? Tóm tắt diễn biến của chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 1975” (câu 3, năm 2012). Thí dụ năm: “Nêu những sự kiện chính trong 10 năm đầu sau Chiến tranh Thế giới thứ hai để làm rõ quá trình xác lập cục diện hai cực, hai phe - tư bản Chủ nghĩa và Xã hội Chủ nghĩa. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cục diện đó là gì? (câu 4b, 2013) Thí dụ sáu: “Trình bày sự chuyển biến về giai cấp trong xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất” (câu 1, năm 2013).
Trên báo chí trong nước, đã có nhiều người nhận xét về các đề thi năm 2013. Với câu hỏi trong thí dụ sau cùng kể trên, một giáo sư nói: “Câu này thuộc bài 12 của chương trình học và là bài đầu tiên của phần sử Việt Nam nên chỉ cần thuộc bài là có thể làm tốt.” Sang các câu hỏi sau, cũng vậy: “Thí sinh chỉ cần thuộc bài có thể làm tốt.” Nhưng một kỳ thi như vậy coi như vô ích, vì không phân biệt được học sinh trình độ giỏi với trình độ kém, khi hầu hết đều học thuộc lòng! Báo Thanh Niên Online, ngày 9 tháng 7 năm 2013 được nghe “Nhiều học sinh sau khi thi xong đã bày tỏ các em không thích một đề thi như vậy, vì sẽ khó đánh giá được trình độ thí sinh.”
Nhưng mục đích của đảng Cộng sản có phải là để đánh giá trình độ các học sinh trong môn sử hay không? Chắc là không. Họ bắt các học sinh phải học, các giáo sư phải dạy môn lịch sử, từ tiểu học lên tới hết trung học, và có thể ở bậc đại học, với mục đích tuyên truyền cho đảng Cộng sản, cho chế độ cộng sản, ý thức hệ cộng sản, mà sau cùng là để củng cố quyền hành và bám giữ các lợi lộc do quyền hành đem lại.
Tất cả các đề thi môn sử trong sáu năm qua cho thấy đảng cộng sản vẫn chưa từ bỏ một thủ đoạn quen dùng từ thời Hồ Chí Minh: Dùng giáo dục để tuyên truyền chính trị. Hồ Chí Minh đã nhập cảng lối trình bày lịch sử của Stalin và Mao Trạch Ðông vào nước ta, vì thấy đó là thủ đoạn củng cố quyền chuyên chế rất hiệu quả. Các bạo chúa Ðỏ xóa lịch sử, thay đổi sách sử theo nhu cầu giai đoạn. Mỗi năm Stalin lại cho sửa lại các sách giáo khoa lịch sử, cả các bức hình lịch sử in trên sách, báo; để xóa bỏ mặt mũi những người ông ta đã coi là phản động, hoặc đã thủ tiêu. Ðảng Cộng sản Việt Nam vẫn đi theo con đường đó. Như nhiều tờ báo ở Sài Gòn mới tiết lộ: Trong tất cả các sách giáo khoa môn Lịch sử lớp 9, lớp 12, có nêu diễn biến chiến dịch Ðiện Biên Phủ nhưng “không câu một lần nào nhắc tên Võ Nguyên Giáp, người chỉ huy trận chiến này.”
Nhìn lại tất cả các câu hỏi, mỗi năm ra đề, sáu năm 30 đề, chúng ta thấy dã tâm của đảng Cộng sản là hướng dẫn học sinh học thuộc lòng các lời tuyên truyền để củng cố địa vị độc quyền cai trị. Học sinh phải thuộc lòng lối giải thích lịch sử theo ý thức hệ Mác Lê Nin và quan điểm của đảng Cộng sản. Hết năm này sang năm khác, đề thi cứ như vậy, thì mọi học sinh đều biết mình phải học thuộc lòng các bài sử nói về đảng, về chính sách, chủ trương của đảng, đến công trạng mà đảng tự vẽ và tô điểm lấy. Ngoài ra, các em không cần học gì khác. Muốn thi đậu vào đại học, phải chịu ngồi đó nghe đảng tuyên truyền, không khác gì những người bị bắt giam trong nhà tù học tập cải tạo. Học sinh phải thuộc lòng tất cả những điều viết trong tài liệu giáo khoa do đảng Cộng sản phân phối. Không có vai trò nào cho các sử gia đích thực trong việc dậy môn lịch sử, vì các sử gia phải có lương tâm, tôn trọng sự thật, không thiên lệch, không che giấu. Ðảng Cộng sản không cần thứ chuyên gia đó.
Suy nghĩ như vậy, chúng ta sẽ hết ngạc nhiên khi thấy cảnh các em học sinh xé sách giáo khoa môn lịch sử, ném xuống sân trường. Các em đang hô lớn: Hãy vứt bỏ cái trò ngu dân bẩn thỉu này đi! Chúng ta cũng bớt ngạc nhiên khi thấy có những nhà khoa bảng nhớ nhầm rằng vua Minh Mệnh là cháu nội vua Gia Long. Vì ngay trong khi còn học trung học, họ không có thời giờ đọc các chương sách về lịch sử thề kỷ 20. Tất cả các thí sinh đều lo học lịch sử đảng Cộng sản, đọc những chuyện đời Lê, đời Nguyễn làm gì co phí thời giờ!
Nhưng không riêng gì môn lịch sử, tất cả các môn khác về văn học, xã hội, đều chỉ nhắm mục đích tuyên truyền, để củng cố ách độc tài chuyên chế của đảng cộng sản; tức là bảo vệ quyền tham nhũng của các lãnh tụ cùng đảng viên cao cấp.
Chính sách giáo dục ngu dân này là đầu mối gây băng hoại xã hội và đạo lý ở nước ta hiện nay. Ðó là một trong những tội lớn nhất của đảng Cộng sản trong thế kỷ 20 và 21.
Ngô Nhân Dụng
Trên các mạng Internet, có người mới vạch ra một sai lầm lớn trong một cuốn sách về lịch sử xuất bản hồi giữa năm 2013 ở trong nước. Trong trang hai, bài Lời Giới Thiệu cuốn sách, người ta viết: “Vua Gia Long tạ thế năm 1819, cháu nội là Nguyễn Phúc Ðảm lên ngôi năm 1820, lấy hiệu là Minh Mệnh.”
Bất cứ học sinh Việt Nam nào tốt nghiệp trung học cũng phải biết vị vua thứ hai triều Nguyễn, Minh Mệnh là con của vua Gia Long, chắc chắn không phải cháu nội. Vậy mà người ta viết sai như vậy, trong một cuốn sách nhằm làm tài liệu tranh đấu về ngoại giao, dịch ra ba thứ tiếng Anh, Pháp, Trung Hoa. Ðó là cuốn Tuyển tập các châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao xuất bản. Chắc người chủ trì việc xuất bản và ban biên tập ba người không ai đọc lại bản thảo trước khi in, hoặc chính một trong những người đó, người viết bài Lời Giới Thiệu, không có dịp học sử nước ta bao giờ.
Ðiều này có thể là sự thật. Học sinh Việt Nam có được học môn lịch sử thật hay không? Các em có được khích lệ để tìm hiểu lịch sử dân tộc hay không? Câu trả lời có thể là không, hoàn toàn không. Môn học Lịch sử đã bị cưỡng bức, biến thành một công tác tuyên truyền để củng cố địa vị độc quyền của các lãnh tụ đảng.
Ai cũng phải nhớ lại, cuối tháng 3 năm 2013, khi Bộ Giáo dục thông báo rằng trong kỳ thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông năm nay sẽ không có môn Lịch sử, nhiều học sinh đã hẹn nhau đem sách và tài liệu học sử ra xé đồng loạt, ném xuống trắng xóa sân trường. Các em xé sách, vì không cần dùng cho kỳ thi. Nhưng sách lịch sử, môn học về lịch sử, đâu phải chỉ cốt để đi thi? Các bạn trẻ có thể đọc sử để giải trí, để trau giồi kiến thức, để thỏa lòng yêu tổ tiên, đất nước. Cá nhân tôi, ngay từ lúc học lớp Ba, trường làng, khi vớ được một cuốn lịch sử chép tay, đã say sưa đọc các câu chuyện Bà Trưng, Bà Triệu, Trận Bạch Ðằng, Trận Chi Lăng, đọc đi đọc lại nhiều lần vì trong nhà không có cuốn sử nào khác! Tôi chắc rằng chính mình hồi trẻ cũng không yêu nước hơn các bạn trẻ bây giờ. Cũng không có trí tò mò tìm hiểu nhiều hơn, đặc biệt là tò mò tìm hiểu về quá khứ tổ tiên dân tộc mình. Tại sao các học sinh bây giờ lại xé cả các tài liệu giáo khoa môn lịch sử, khi biết không cần đến trong kỳ thi?
Có thể giải thích là do một trong hai nguyên nhân, hoặc cả hai. Thứ nhất, các tài liệu mà các em đem xé, vứt đi, không thật sự là lịch sử, mà các em đều biết như vậy. Thứ nhì, việc dạy môn sử trong trường học không nhằm giáo dục kiến thức và tinh thần yêu nước của các em; mà nó có một mục đích mờ ám khác; các em cũng biết như vậy. Cho nên, khi được “giải phóng,” các học sinh dang tay xé nát các trang sách giáo khoa môn sử; đó là một hành động phản kháng tiêu cực: Chúng ta được tự do, không phải học, thi môn học chán ngấy này nữa. Ném đống rác vụn đó xuống sân trường cũng là một hành động phản kháng: Chúng tôi không thể chịu nổi thủ đoạn lừa bịp này nữa rồi, hãy vứt chúng vào đống rác đi thôi!
Tại sao chúng tôi giải thích hành động xé sách môn sử của các học sinh theo tâm trạng như trên? Ðó là sau khi đọc các đề thi môn sử trong các kỳ thi vào đại học, từ 2008 đến 2013, theo đề nghị của bạn Nguyễn Duy Chính, một nhà nghiên cứu lịch sử thời Nguyễn Tây Sơn.
Kỳ thi tuyển vào đại học thường phải đặt các câu hỏi bao gồm kiến thức của học sinh từ đầu tới cuối môn học, trong môn lịch sử thì phải khảo hạch những điều các em được học trong suốt lịch sử Việt Nam, từ thời Hùng Vương đến thế kỷ 20.
Nhưng khi đọc các đề thi trong sáu năm trên, chúng ta thấy tất cả các đề đều hỏi về thế kỷ 20, không một câu nào tỏ vẻ quan tâm đến lịch sử nước Việt Nam từ thế kỷ 19 về trước. Hơn thế nữa, tất cả các câu hỏi đều nhằm vào các bài dạy lịch sử theo quan điểm của đảng Cộng sản.
Xin nêu mấy thí dụ các đề thi như sau.
Thí dụ thứ nhất: “Tại sao đảng và chính phủ phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày 19-12-1946?” (câu 2, năm 2008). Thứ nhì: “Trình bày và nhận xét chủ trương tập hợp các lực lượng cách mạng được đề ra tại Hội nghị thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam 1 - 1930, Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung Ương Lâm thời Ðảng Cộng sản Việt Nam 10-1930 và Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung Ương Ðảng Cộng sản Ðông Dương 5-1941” (câu hỏi 2, năm 2009). Thí dụ thứ ba: “Luận cương chính trị tháng 10-1930 của Ðảng Cộng sản Ðông Dương có những điểm gì khác so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Ðảng Cộng sản Việt Nam? Những vấn đề đó được giải quyết như thế nào trong giai đoạn 1939-1945?” (câu 2, năm 2011). Thứ tư: “Cuối tháng 3 năm 1975, Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng đã có quyết định gì để hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam? Quyết định đó được đề ra dựa trên các cơ sở nào? Tóm tắt diễn biến của chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 1975” (câu 3, năm 2012). Thí dụ năm: “Nêu những sự kiện chính trong 10 năm đầu sau Chiến tranh Thế giới thứ hai để làm rõ quá trình xác lập cục diện hai cực, hai phe - tư bản Chủ nghĩa và Xã hội Chủ nghĩa. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cục diện đó là gì? (câu 4b, 2013) Thí dụ sáu: “Trình bày sự chuyển biến về giai cấp trong xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất” (câu 1, năm 2013).
Trên báo chí trong nước, đã có nhiều người nhận xét về các đề thi năm 2013. Với câu hỏi trong thí dụ sau cùng kể trên, một giáo sư nói: “Câu này thuộc bài 12 của chương trình học và là bài đầu tiên của phần sử Việt Nam nên chỉ cần thuộc bài là có thể làm tốt.” Sang các câu hỏi sau, cũng vậy: “Thí sinh chỉ cần thuộc bài có thể làm tốt.” Nhưng một kỳ thi như vậy coi như vô ích, vì không phân biệt được học sinh trình độ giỏi với trình độ kém, khi hầu hết đều học thuộc lòng! Báo Thanh Niên Online, ngày 9 tháng 7 năm 2013 được nghe “Nhiều học sinh sau khi thi xong đã bày tỏ các em không thích một đề thi như vậy, vì sẽ khó đánh giá được trình độ thí sinh.”
Nhưng mục đích của đảng Cộng sản có phải là để đánh giá trình độ các học sinh trong môn sử hay không? Chắc là không. Họ bắt các học sinh phải học, các giáo sư phải dạy môn lịch sử, từ tiểu học lên tới hết trung học, và có thể ở bậc đại học, với mục đích tuyên truyền cho đảng Cộng sản, cho chế độ cộng sản, ý thức hệ cộng sản, mà sau cùng là để củng cố quyền hành và bám giữ các lợi lộc do quyền hành đem lại.
Tất cả các đề thi môn sử trong sáu năm qua cho thấy đảng cộng sản vẫn chưa từ bỏ một thủ đoạn quen dùng từ thời Hồ Chí Minh: Dùng giáo dục để tuyên truyền chính trị. Hồ Chí Minh đã nhập cảng lối trình bày lịch sử của Stalin và Mao Trạch Ðông vào nước ta, vì thấy đó là thủ đoạn củng cố quyền chuyên chế rất hiệu quả. Các bạo chúa Ðỏ xóa lịch sử, thay đổi sách sử theo nhu cầu giai đoạn. Mỗi năm Stalin lại cho sửa lại các sách giáo khoa lịch sử, cả các bức hình lịch sử in trên sách, báo; để xóa bỏ mặt mũi những người ông ta đã coi là phản động, hoặc đã thủ tiêu. Ðảng Cộng sản Việt Nam vẫn đi theo con đường đó. Như nhiều tờ báo ở Sài Gòn mới tiết lộ: Trong tất cả các sách giáo khoa môn Lịch sử lớp 9, lớp 12, có nêu diễn biến chiến dịch Ðiện Biên Phủ nhưng “không câu một lần nào nhắc tên Võ Nguyên Giáp, người chỉ huy trận chiến này.”
Nhìn lại tất cả các câu hỏi, mỗi năm ra đề, sáu năm 30 đề, chúng ta thấy dã tâm của đảng Cộng sản là hướng dẫn học sinh học thuộc lòng các lời tuyên truyền để củng cố địa vị độc quyền cai trị. Học sinh phải thuộc lòng lối giải thích lịch sử theo ý thức hệ Mác Lê Nin và quan điểm của đảng Cộng sản. Hết năm này sang năm khác, đề thi cứ như vậy, thì mọi học sinh đều biết mình phải học thuộc lòng các bài sử nói về đảng, về chính sách, chủ trương của đảng, đến công trạng mà đảng tự vẽ và tô điểm lấy. Ngoài ra, các em không cần học gì khác. Muốn thi đậu vào đại học, phải chịu ngồi đó nghe đảng tuyên truyền, không khác gì những người bị bắt giam trong nhà tù học tập cải tạo. Học sinh phải thuộc lòng tất cả những điều viết trong tài liệu giáo khoa do đảng Cộng sản phân phối. Không có vai trò nào cho các sử gia đích thực trong việc dậy môn lịch sử, vì các sử gia phải có lương tâm, tôn trọng sự thật, không thiên lệch, không che giấu. Ðảng Cộng sản không cần thứ chuyên gia đó.
Suy nghĩ như vậy, chúng ta sẽ hết ngạc nhiên khi thấy cảnh các em học sinh xé sách giáo khoa môn lịch sử, ném xuống sân trường. Các em đang hô lớn: Hãy vứt bỏ cái trò ngu dân bẩn thỉu này đi! Chúng ta cũng bớt ngạc nhiên khi thấy có những nhà khoa bảng nhớ nhầm rằng vua Minh Mệnh là cháu nội vua Gia Long. Vì ngay trong khi còn học trung học, họ không có thời giờ đọc các chương sách về lịch sử thề kỷ 20. Tất cả các thí sinh đều lo học lịch sử đảng Cộng sản, đọc những chuyện đời Lê, đời Nguyễn làm gì co phí thời giờ!
Nhưng không riêng gì môn lịch sử, tất cả các môn khác về văn học, xã hội, đều chỉ nhắm mục đích tuyên truyền, để củng cố ách độc tài chuyên chế của đảng cộng sản; tức là bảo vệ quyền tham nhũng của các lãnh tụ cùng đảng viên cao cấp.
Chính sách giáo dục ngu dân này là đầu mối gây băng hoại xã hội và đạo lý ở nước ta hiện nay. Ðó là một trong những tội lớn nhất của đảng Cộng sản trong thế kỷ 20 và 21.
‘Thất vọng về sửa đổi Hiến pháp’
Không ít người tỏ ra thất vọng với Hiến pháp dự kiến sắp thông qua
Việc Quốc hội Việt Nam sắp thông qua Hiến pháp sửa đổi sẽ gây thất vọng lớn trong nhân dân, theo một số nhà quan sát từ Việt Nam.
Lý do của sự thất vọng là hầu như những điều người dân góp ý kiến không được đưa ra thảo luận một cách nghiêm túc và và đã bị bác bỏ, theo Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, cựu thành viên ban tư vấn Thủ tướng Chính phủ.
Trao đổi với BBC hôm 27/10/2013 từ Hà Nội, Tiến sỹ Doanh, người cũng là cựu Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) nói:
“Thí dụ như Hội đồng Hiến pháp không được lập, hay lại đưa lại câu kinh tế nhà nước là chủ đạo, mặc dù rằng kinh tế nhà nước bao gồm những gì, doanh nghiệp nhà nước hiện nay như thế nào, cơ chế quản lý như thế nào.”
“Có nước nào quy định như vậy hay không và quy định kinh tế nhà nước là chủ đạo có phù hợp với quy định rằng các thành phần kinh tế là bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật hay không?”
Tiến sỹ Doanh cho rằng không chỉ có người dân băn khoăn về lần sửa đổi Hiến pháp này, đặc biệt về chất lượng và cách thức, mà ngay trong các đại biểu quốc hội có trách nhiệm cũng có những tâm tư tuy không thể nói ra công khai.
Ông nói: “Hiện nay có thể nói trong rất nhiều đại biểu Quốc hội, họ đang âm thầm phát biểu ý kiến ở tổ, chứ ở hội trường, họ cũng dè dặt, và trong chỗ riêng tư, họ cũng trao đổi.”
“Và người dân rất quan tâm nếu như thông qua Hiến pháp như hiện nay, những vấn đề đang đứng trước Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam, xã hội Việt Nam, sẽ được giải quyết như thế nào.”
‘Không tiếp thu’
Tiến sỹ Doanh nói thêm rằng việc sửa đổi Hiến pháp đã gây rất thất vọng còn vì đã lãng phí 2lớn về mặt ngân sách nhà nước và thời gian trong xã hội nếu tính tới yếu tố hiệu quả.
Về các tổn phí trong đợt lấy ý kiến và thảo luận sửa đổi Hiến pháp, ông nói:
“Các cuộc họp ấy tốn ngân sách nhà nước 250 tỷ đồng, không kể chi phí thời gian, cũng như không kể chi phí của các cấp, các ngành tự chi ra, để dẫn đến là hầu như không có ý kiến nào đóng góp đã được tiếp thu cả.”
Mặt khác, theo Tiến sỹ Doanh, việc kêu gọi một đằng, tiếp thu một nẻo mà hầu như không tiếp thu gì có thể gây nên sự phân vân trong niềm tin của dân với Đảng và chính quyền.
Ông nói: “Khi đưa ra lời kêu gọi sửa đổi Hiến pháp không có bất kỳ sự hạn chế nào, người dân và rất nhiều các giới, kể cả các giới tôn giáo đều đóng góp ý kiến một cách rất chân thành và xây dựng.”
“Sau đó lại bị kết án là suy thoái về đạo đức và suy thoái chính trị và đến bây giờ thì bị bác bỏ hoàn toàn những ý kiến đóng góp đó.”
“Ngay cả dự thảo đầu tiên không có mục, không có câu ‘kinh tế nhà nước là chủ đạo’, thì ngày nay lại được đưa lại nữa, làm cho sự thất vọng của người dân và những người chân thành đóng góp ý kiến là hết sức to lớn.”
Trong khi đó, luật sư Trần Vũ Hải từ Hà Nội nói với BBC trong quần chúng và các giới chuyên môn đã có sự giảm sút sự quan tâm với lần sửa đổi Hiến pháp trong vòng gần một năm qua.
Ông nói: “Hiến pháp sửa đổi không khác gì so với Hiến pháp cũ, mặc dù cũng có một vài điểm sửa đổi có thể bình luận thế này, thế khác, nhưng nói chung đó không phải là những điểm quan trọng với một bản Hiến pháp.”
‘Không còn quan tâm’
3Về sự quan tâm của cộng đồng và người dân với dự thảo sửa đổi và lần sửa đổi hiến pháp, luật sư Hải nói:
“Gần đây người ta cũng không quan tâm lắm nữa, bằng chứng là những bài viết về hiến pháp không được độc giả quan tâm, bình luận nhiều. Có thể người ta thấy không khác gì mấy hoặc ý kiến của người ta không được chú ý, nên cũng không quan tâm so với cách đây khoảng nửa năm.”
Hôm Chủ Nhật, trao đổi với BBC, luật sư bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Đài, từ Hà Nội, cho rằng người dân Việt Nam có thể sẽ phải đợi thêm một thời gian nữa để có thể có được một bản hiến pháp do chính họ làm ra.
Ông nói: “Theo tình hình chính trị hiện nay, chúng ta không thể trông chờ vào những người cộng sản tự nguyện để xây dựng nên một bản hiến pháp phục vụ cho lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam, mà cái này hoàn toàn trông chờ vào người dân Việt Nam thôi.”
“Khi người dân chưa hiểu biết hết về quyền lợi của họ và họ cũng chưa dám đứng lên để đòi hỏi quyền lực của mình, thì đây là một tiến trình rất xa.”
Tuy nhiên, luật sư Đài bày tỏ hy vọng rằng trong tương lai gần, Việt Nam sẽ hội đủ điều kiện để tiếp cận một bản Hiến pháp như ý dân.
“Hy vọng trong tương lai không xa người dân sẽ hiểu mình cần phải làm gì để đất nước Việt Nam có thể phát triển, có thể giàu mạnh cũng như có thể hội nhập quốc tế được.”
“Lúc đó mới hy vọng có được một bản Hiến pháp đáp ứng được đòi hỏi tự do, dân chủ của dân,” ông nói với BBC.
BBC
Việc Quốc hội Việt Nam sắp thông qua Hiến pháp sửa đổi sẽ gây thất vọng lớn trong nhân dân, theo một số nhà quan sát từ Việt Nam.
Lý do của sự thất vọng là hầu như những điều người dân góp ý kiến không được đưa ra thảo luận một cách nghiêm túc và và đã bị bác bỏ, theo Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, cựu thành viên ban tư vấn Thủ tướng Chính phủ.
Trao đổi với BBC hôm 27/10/2013 từ Hà Nội, Tiến sỹ Doanh, người cũng là cựu Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) nói:
“Thí dụ như Hội đồng Hiến pháp không được lập, hay lại đưa lại câu kinh tế nhà nước là chủ đạo, mặc dù rằng kinh tế nhà nước bao gồm những gì, doanh nghiệp nhà nước hiện nay như thế nào, cơ chế quản lý như thế nào.”
“Có nước nào quy định như vậy hay không và quy định kinh tế nhà nước là chủ đạo có phù hợp với quy định rằng các thành phần kinh tế là bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật hay không?”
Tiến sỹ Doanh cho rằng không chỉ có người dân băn khoăn về lần sửa đổi Hiến pháp này, đặc biệt về chất lượng và cách thức, mà ngay trong các đại biểu quốc hội có trách nhiệm cũng có những tâm tư tuy không thể nói ra công khai.
Ông nói: “Hiện nay có thể nói trong rất nhiều đại biểu Quốc hội, họ đang âm thầm phát biểu ý kiến ở tổ, chứ ở hội trường, họ cũng dè dặt, và trong chỗ riêng tư, họ cũng trao đổi.”
“Và người dân rất quan tâm nếu như thông qua Hiến pháp như hiện nay, những vấn đề đang đứng trước Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam, xã hội Việt Nam, sẽ được giải quyết như thế nào.”
‘Không tiếp thu’
Tiến sỹ Doanh nói thêm rằng việc sửa đổi Hiến pháp đã gây rất thất vọng còn vì đã lãng phí 2lớn về mặt ngân sách nhà nước và thời gian trong xã hội nếu tính tới yếu tố hiệu quả.
Về các tổn phí trong đợt lấy ý kiến và thảo luận sửa đổi Hiến pháp, ông nói:
“Các cuộc họp ấy tốn ngân sách nhà nước 250 tỷ đồng, không kể chi phí thời gian, cũng như không kể chi phí của các cấp, các ngành tự chi ra, để dẫn đến là hầu như không có ý kiến nào đóng góp đã được tiếp thu cả.”
Mặt khác, theo Tiến sỹ Doanh, việc kêu gọi một đằng, tiếp thu một nẻo mà hầu như không tiếp thu gì có thể gây nên sự phân vân trong niềm tin của dân với Đảng và chính quyền.
Ông nói: “Khi đưa ra lời kêu gọi sửa đổi Hiến pháp không có bất kỳ sự hạn chế nào, người dân và rất nhiều các giới, kể cả các giới tôn giáo đều đóng góp ý kiến một cách rất chân thành và xây dựng.”
“Sau đó lại bị kết án là suy thoái về đạo đức và suy thoái chính trị và đến bây giờ thì bị bác bỏ hoàn toàn những ý kiến đóng góp đó.”
“Ngay cả dự thảo đầu tiên không có mục, không có câu ‘kinh tế nhà nước là chủ đạo’, thì ngày nay lại được đưa lại nữa, làm cho sự thất vọng của người dân và những người chân thành đóng góp ý kiến là hết sức to lớn.”
Trong khi đó, luật sư Trần Vũ Hải từ Hà Nội nói với BBC trong quần chúng và các giới chuyên môn đã có sự giảm sút sự quan tâm với lần sửa đổi Hiến pháp trong vòng gần một năm qua.
Ông nói: “Hiến pháp sửa đổi không khác gì so với Hiến pháp cũ, mặc dù cũng có một vài điểm sửa đổi có thể bình luận thế này, thế khác, nhưng nói chung đó không phải là những điểm quan trọng với một bản Hiến pháp.”
‘Không còn quan tâm’
3Về sự quan tâm của cộng đồng và người dân với dự thảo sửa đổi và lần sửa đổi hiến pháp, luật sư Hải nói:
“Gần đây người ta cũng không quan tâm lắm nữa, bằng chứng là những bài viết về hiến pháp không được độc giả quan tâm, bình luận nhiều. Có thể người ta thấy không khác gì mấy hoặc ý kiến của người ta không được chú ý, nên cũng không quan tâm so với cách đây khoảng nửa năm.”
Hôm Chủ Nhật, trao đổi với BBC, luật sư bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Đài, từ Hà Nội, cho rằng người dân Việt Nam có thể sẽ phải đợi thêm một thời gian nữa để có thể có được một bản hiến pháp do chính họ làm ra.
Ông nói: “Theo tình hình chính trị hiện nay, chúng ta không thể trông chờ vào những người cộng sản tự nguyện để xây dựng nên một bản hiến pháp phục vụ cho lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam, mà cái này hoàn toàn trông chờ vào người dân Việt Nam thôi.”
“Khi người dân chưa hiểu biết hết về quyền lợi của họ và họ cũng chưa dám đứng lên để đòi hỏi quyền lực của mình, thì đây là một tiến trình rất xa.”
Tuy nhiên, luật sư Đài bày tỏ hy vọng rằng trong tương lai gần, Việt Nam sẽ hội đủ điều kiện để tiếp cận một bản Hiến pháp như ý dân.
“Hy vọng trong tương lai không xa người dân sẽ hiểu mình cần phải làm gì để đất nước Việt Nam có thể phát triển, có thể giàu mạnh cũng như có thể hội nhập quốc tế được.”
“Lúc đó mới hy vọng có được một bản Hiến pháp đáp ứng được đòi hỏi tự do, dân chủ của dân,” ông nói với BBC.
BBC
VĂN BÚT QUỐC TẾ HỌP ĐẠI HỘI THẾ GIỚI Ở REYKJAVIK THỦ ĐÔ ISLANDE
ĐỒNG THANH LÊN ÁN CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN HÀ NỘI Như chúng tôi đã đưa tin trước đây, Đại Hội Thế Giới kỳ thứ 79 của Văn Bút Quốc Tế vừa diễn ra tại Reykjavik, thủ đô nước Islande từ ngày 9 đến 13 tháng 9 năm 2013. Chủ đề của Đại Hội là Biên giới Kỹ thuật số - Quyền Ngôn Ngữ và Quyền Tự Do Ngôn Luận. Có 70 Trung tâm Văn Bút gởi đại biểu tới ‘’Thành Phố Văn Chương của UNESCO’’. Phái đoàn Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại gồm có nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, đệ nhứt phó chủ tịch (Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm tù), nhà văn Zeki Ergas, tổng thư ký (Ủy Ban Nhà Văn vì Hòa Bình), nữ tiểu thuyết gia Fawzia Assaad, cựu chủ tịch, đại diện Văn Bút Quốc Tế tại Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc và nhà văn nữ Clara Franceschetta (Ủy Ban Nhà Văn Nữ).
Trong phiên họp khoáng đại sáng ngày 12 tháng 9, Đại hội đồng Đại biểu đồng thanh thông qua Bản Quyết Nghị về Việt Nam. Bản Dự thảo Quyết Nghị được Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại đề nghị, với sự tán trợ của ba Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức Thoại, Thụy Sĩ Ý Thoại và Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Qua Bản Quyết Nghị, Văn Bút Quốc Tế bày tỏ sự Bất bình và phẫn nộ vì ‘’được khẩn báo về tình trạng sức khỏe và điều kiện giam cầm của nhiều nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử và nhà hoạt động bênh vực nhân quyền bị hành hạ và ngược đãi’’. Văn Bút Quốc Tế nhận xét rằng ‘’Trong 12 tháng qua, tình hình của các nhà văn bị hành hạ và ngược đãi tại Việt Nam càng tồi tệ hơn nữa. Công an đã tăng cường đàn áp quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm, ở trong lẫn ở ngoài không gian mạng Internet bằng cách cho áp dụng những điều luật hình sự nhằm hủy diệt quyền tự do. Đặc biệt là điều 88 ‘’Tuyên truyền chống nhà nước’’ trù liệu những án tù giam đến 20 năm. Hay là điều 258 ’’Lạm dụng các quyền tự do dân chủ’’, án tù giam đến 7 năm’’. Cũng không quên tố cáo cái gọi là pháp lệnh 44 cho phép quản chế hành chính mà không xét xử, và nhứt là việc cho áp dụng kể 1 tháng 9 mới đây, nghị định 72 cấm chỉ người Việt Nam sử dụng Internet để bàn luận về chuyện thời sự và ngăn chận sự phổ biến trên mạng những tài liệu "chống đối’’ chính phủ hoặc ‘’xâm phạm an ninh quốc gia’’. Hiệp Hội Nhà Văn Thế Giới ‘’Cực lực lên án những vi phạm nghiêm trọng quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm tại Việt Nam và thúc giục nhà nước CHXHCNVN (tức là chế độ Cộng sản Hà Nội)
- Trả tự do, ngay lập tức và không điều kiện, nhà thơ Nguyễn Hữu Cầu, linh mục Nguyễn Văn Lý, nhà báo Nguyễn Văn Hải, bà Hồ Thị Bích Khương, bà Tạ Phong Tần và tất cả những nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử đang bị nhốt tù, quản chế hoặc giam cứu vì đã hành sử quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm của mình’’.
Nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã đích thân trình bày toàn văn bản dự thảo Quyết Nghị lúc duyệt xét tại phiên họp của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm Tù. Trước khi Đại hội đồng Đại biểu thông qua Quyết Nghị, nhà thơ Việt Nam lưu vong đã phát biểu : Giống như các văn thi hữu, chúng tôi, Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại, thiết tha gắn bó, trung thành với tinh thần Hiến chương Văn Bút Quốc Tế. Những nỗi đau thương áp đặt một cách quá bất công đối với các nhà văn ở Việt Nam, cũng như ở những nơi khác, tiếp tục tra hỏi chúng tôi và làm chúng tôi thêm lo lắng. Ở đất nước xinh đẹp nhưng xa xôi đó - nước Việt Nam từng bị chia cắt, tan nát bởi nhiều cuộc chiến tranh kéo dài, muốn được sống tự do, độc lập và trung thực, một tác giả phải chiến đấu chống lại cái bóng đen của nhân viên an ninh phường hay quận huyện, chống lại sự dối trá của nhà nước, mối đe dọa bị bắt, bị tra tấn, bị kết án tù và bị lưu đày trong các trại lao động cưỡng bức chỉ vì dám viết ra và nói lên ý kiến của mình. Cảm ơn sự đoàn kết và sự ủng hộ của quý bạn dành cho bản Quyết Nghị này’’.
Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại có đề nghị ghi thêm trong Dự thảo Quyết Nghị lời ‘’Chào đón bà Nguyễn Phương Uyên và ông Phan Thanh Hải được ra khỏi nhà tù và yêu cầu bải bỏ tất cả những sự hạn chế còn lại đối với hai tác giả viết nhựt ký điện tử’’. Nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đồng ý với đề nghị nhưng có lưu ý Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm Tù về sự kiện bà Nguyễn Phương Uyên ‘’không được tha bổng’’ và bà bị áp đặt ‘’bản án 3 năm tù treo’’* (có ghi trong Quyết Nghị). Còn về nhà báo Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải, ông chỉ được về với gia đình sau khi mãn hạn 3 năm tù giam, nhưng ông còn bị kiềm tỏa bởi ‘’3 năm tù quản chế’’. Hai bản án tù - kể cả án tù treo hay thử thách và tù quản chế - hoàn toàn vi luật quốc tế, bất công và vô nhân đạo, cho nên chúng ta không thể chấp nhận và bỏ qua được.
Được biết bên cạnh ông chủ tịch Vũ Văn Tùng còn có bà Vũ Tuyết Yên, vợ ông, cũng là đại diện chính thức của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Đại hội đồng Đại biểu đã biểu quyết chấp thuận tất cả 18 Quyết Nghị, gồm có
- 15 Quyết Nghị liên quan đến Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm Tù : Ai Cập, Liên bang Nga, Hung Gia Lợi, Tây Ban Nha, Mễ Tây Cơ, Trung Cộng, Cuba, Việt Nam cộng sản, Erythrée, Belarus, Châu Mỹ la tinh, Syrie, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Tạng (bị chiếm đóng) và Sự theo dõi vi phạm quyền Tư riêng, và
- 5 Quyết Nghị liên quan đến Ủy Ban Phiên Dịch và Quyền Ngôn Ngữ : Tiếng Kurde, Tiếng Bồ Đào Nha, Tiếng Basque ở Navarre (Tây Ban Nha), Tiếng Arpitan ở Thụy Sĩ và Hiến chương Âu châu về những ngôn ngữ Vùng hoặc Thiểu số.
Riêng Quyết Nghị về Liên bang Nga, sau khi được biểu quyết, toàn thể đại biểu tuần hành từ Trung tâm Hội Nghị Harpa đến tận tòa đại sứ Nga để văn hữu John Ralston Saul, chủ tịch Văn Bút Quốc Tế, trao Quyết Nghị này cho một nhà ngoại giao Nga.
Chúng tôi có đính theo Bản Tin này Quyết Nghị về Việt Nam với văn bản tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Theo yêu cầu của Văn Bút Quốc Tế, nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã phiên dịch ra tiếng Pháp các Quyết Nghị về Ai Cập, Cuba và Thổ Nhĩ Kỳ sau khi các văn bản tiếng Anh được tu chỉnh tiếp theo cuộc duyệt xét tại các phiên họp của Ủy Ban liên hệ.
Ngoài các buổi họp công tác, các văn thi hữu còn tham gia chương trình sinh hoạt văn học nghệ thuật, hội thảo chung quanh chủ đề ‘’Giải thoát Tiếng Nói’’ của Văn Bút Quốc Tế, kết hợp với Đại Hội Văn chương Quốc tế. Đông đảo thi văn hữu, kể cả nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, đã đọc thơ văn tại các Thư viện, Trung tâm Văn hóa Pháp và Phòng họp của các khách sạn lớn. Bộ trưởng Văn Hóa, Đô trưởng Reykjavik, Đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Đức và thi văn hữu Hội Nhà Văn Islande đã niềm nỡ tiếp đón các đại biểu Văn Bút Quốc Tế.
Đại Hội năm nay là dịp giới thiệu ba nhà văn trẻ được vào chung kết Giải thưởng ‘’Những Tiếng Nói Mới’’ của Văn Bút Quốc Tế : Masande Ntshanga (Nam Phi), José Pablo Salas (Mễ Tây Cơ) và Claire Battershill (nữ sĩ Gia Nã Đại). Nhà văn ‘’Mầm Non’’ Masande Ntshanga là khôi nguyên ‘’Những Tiếng Nói Mới’’ năm 2013.
Đại Hội cũng nồng nhiệt chào mừng hai Trung tâm Văn Bút mới thành lập là Delhi (Ấn Độ) và Miến Điện. Nhân dân Miến Điện nhờ biết đoàn kết, sáng tạo, kiên trì và anh dũng tranh đấu đã vượt thoát được chế độ độc tài quân phiệt bản xứ. Tấm gương đó càng làm chúng ta thêm tin tưởng vào cuộc thắng lợi sau cùng và nhứt định của chính nghĩa những thế hệ trẻ Việt Nam yêu nước, thương đồng bào, quý chuộng Nhân Ái, Công Lý và Hòa Bình.
Chúng tôi rất tiếc khuôn khổ hạn hẹp của bản tin phổ biến trên mạng Internet không cho chúng tôi được giới thiệu cùng quý bạn đọc và diễn đàn bản tường trình đầy đủ về Đại Hội Văn Bút Quốc Tế của nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt. Tài liệu được viết bằng tiếng Pháp dành cho Ban Chấp hành và văn thi hữu hội viên Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại. Chúng tôi hy vọng có dịp trở lại vấn đề này vì có nhiều điểm đáng nêu ra liên quan đến Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm tù.
Genève ngày 27 tháng 10 năm 2013
Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
Ligue Vietnamienne des Droits de l'Homme en Suisse
Vietnamese League for Human Rights in Switzerland
* Nghị định số 61/200/NĐ-CP 30.10.2000 Quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo.
Nguồn tin: nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại (Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm Tù), hội viên Trung tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong, Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc Genève và Hội Nhà Văn và Nhà Phiên Dịch Vùng Á Châu – Thái Bình Dương.
Tài liệu: Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ.
Ghi chú: Bản tiếng Việt của Quyết Nghị về Việt Nam được bà Nguyễn Ngọc và ông Hà Tản Viên thực hiện từ hai bản tiếng Pháp và tiếng Anh của Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại. Văn Bút Quốc Tế cung cấp bản tiếng Tây Ban Nha.
Quyết Nghị về Việt Nam do Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại soạn thảo và đề nghị với sự tán trợ của các Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại, Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche và Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại
Hội đồng Đại biểu của Văn Bút Quốc Tế họp Đại Hội Thế Giới kỳ thứ 79 tại Reykjavik, nước Islande, từ ngày 9 đến ngày 13 tháng 9 năm 2013
VIỆT NAM : Trong 12 tháng qua, tình hình của các nhà văn bị hành hạ và ngược đãi tại Việt Nam càng tồi tệ hơn nữa. Công an đã tăng cường đàn áp quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm, ở trong lẫn ở ngoài không gian mạng Internet bằng cách cho áp dụng những điều luật hình sự nhằm hủy diệt quyền tự do. Đặc biệt là điều 88 ‘’Tuyên truyền chống nhà nước’’ trù liệu những án tù giam đến 20 năm. Hay là điều 258 ‘’’’Lạm dụng các quyền tự do dân chủ’’, án tù giam đến 7 năm. Ngoài ra, pháp lệnh 44 cho phép quản chế hành chính mà không xét xử và lạm dụng đưa người bất đồng chính kiến vào bệnh viện tâm thần. Các tòa báo in, các cơ quan truyền thông đại chúng (phát thanh và truyền hình), mạng Internet và các cơ sở xuất bản bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ hoặc chịu sự kiểm duyệt gắt gao. Việc hạn chế tùy tiện trắng trợn vẫn còn hiệu lực đối với quyền tự do tìm kiếm, thu nhận và trao đổi tin tức, nhứt là tin tức nhằm xác định trách nhiệm đối với các hành động vi phạm nhân quyền, tham nhũng và bất công xã hội. Có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9 mới đây, nghị định 72 cấm chỉ người Việt Nam sử dụng Internet để bàn luận về chuyện thời sự và ngăn chận sự phổ biến trên mạng những tài liệu "chống đối’’ chính phủ hoặc ‘’xâm phạm an ninh quốc gia’’. Nhiều nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử và các nhà hoạt động bênh vực nhân quyền là nạn nhân của những vụ gây hấn để đánh đập tàn nhẫn, những vụ bắt giữ độc đoán, những sự đối xử hung ác của công an cùng những trận đòn tra tấn, những sự giam cứu kéo dài, những phiên tòa thiếu công minh và những bản án tù bất công. Trong các trại lao động cưỡng bức, tù nhân từ chối nhận tội hoặc tuyệt thực để phản đối các điều kiện giam cầm vô nhân đạo đều bị biệt giam. Tù nhân mắc bệnh nặng bị tước quyền được chăm sóc y tế thích hợp và được gặp gia đình tới thăm nom.
Chào đón bà Nguyễn Phương Uyên và ông Phan Thanh Hải được ra khỏi nhà tù, và yêu cầu bải bỏ tất cả những sự hạn chế còn lại đối với hai tác giả này.
Bất bình và phẫn nộ vì được khẩn báo về tình trạng sức khỏe và điều kiện giam cầm của nhiều nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử và nhà hoạt động bênh vực nhân quyền bị hành hạ và ngược đãi. Trong số những trường hợp nguy cấp nhứt :
- Ông Nguyễn Hữu Cầu là nhà thơ, nhà soạn nhạc và viết lời ca tiếng hát, và nhà hoạt động chống tham nhũng. Ông bị bắt hồi tháng 10 năm 1982 và bị kết án tử hình năm 1983 vì là tác giả của những bài hát và bài thơ bị coi là ''phạm tội''. Ông đã viết những lời tố cáo hai viên chức cấp cao cộng sản hãm hiếp và tham nhũng. Hành vi đó khiến cho ông bị buộc tội ‘’phá hoại’’, gây tổn thương cho hình ảnh của chế độ. Ông không nhận tội. Án tử hình được đổi thành án tù chung thân năm 1985. Kể từ đó ông bị biệt giam trong một trại tù ở sâu trong rừng. Ông bị mù mắt trái hoàn toàn. Thị giác mắt phải của ông ngày càng trở nên mờ đục. Ông gần như điếc. Ông bị suy tim nặng, bệnh tình càng bi đát hơn vì thiếu chăm sóc y tế thích đáng và các điều kiện giam cầm thật tồi tệ.
- Linh mục Nguyễn Văn Lý từng là biên tập viên của tạp chí Tự do Ngôn luận (bất hợp pháp đối với cộng sản). Năm 2007, linh mục bị kết án 8 năm tù giam và 5 năm tù quản chế. Linh mục không nhận tội. Nhắc lại, linh mục từng bị tù giam 15 năm trong thời gian 1977 - 2005. Tháng 11 năm 2009, linh mục bị tai biến mạch não gây liệt nửa người phải. Tháng 3 năm 2010, sợ linh mục Nguyễn Văn Lý sẽ chết nếu bị tai biến mạch não một lần nữa, Cộng sản quản thúc vị tù nhân giữa thành phố Huế, có công an kiểm soát. Cuối tháng 7 năm 2011, xe công an áp tải linh mục trở về trại tù. Linh mục vẫn bị liệt một phần cơ thể và chân phải.
- Ông Nguyễn Văn Hải (bút hiệu Điếu Cày) là nhà báo và tác giả nhựt ký điện tử, đồng sáng lập Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do. Đáng lẽ ông phải được trả lại tự do từ tháng 10 năm 2010 sau khi mãn hạn án tù giam (2 năm 6 tháng) về cái tội mà cộng sản đã gian dối dựng lên gọi là ‘’trốn thuế’’ hồi tháng 9 năm 2008. Thay vì vậy, ông bị chúng nhốt bí mật trong một trại giam. Ông không được gia đình thăm nom, tiếp nhận thuốc men và cung cấp thêm thức ăn cho tới ngày 2 tháng 5 năm 2012. Ông tuyệt thực để phản đối trong năm 2011. Ông không nhận phạm những tội mới mà công an dựng lên, dựa vào những bài ông viết đã phổ biến trên trang thông tin điện tử của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do và trên trang nhựt ký điện tử của ông trước khi ông bị bắt năm 2008. Ngày 24 tháng 9 năm 2012, ông bị kết án 12 năm tù giam và 5 năm tù quản chế về cái tội ‘’tuyên truyền chống nhà nước’’. Tình trạng sức khoẻ của ông rất dễ bị suy sụp và rất yếu kém.
- Bà Hồ Thị Bích Khương là tác giả nhựt ký điện tử và nhà bênh vực nhân quyền. Bà còn là tác giả một cuốn hồi ký viết trong tù, nhiều bài thơ châm biếm và bài báo trên mạng. Được các đài phát thanh ngoại quốc phỏng vấn, bà chỉ trích những sự lạm dụng quyền lực chống lại người nông dân nghèo. Bị bắt hồi tháng 12 năm 2010, mãi đến tháng 12 năm 2011 bà mới bị kết án 5 năm tù giam và 3 năm tù quản chế về cái tội ''tuyên truyền chống nhà nước''. Bà không nhận tội. Bà đã bị giam cầm hai lần trong năm 2005 và 2007. Bà bị hành hung gây thương tích nghiêm trọng và nhiều lần bị bắt giữ ngắn hạn. Bà bị tra tấn trong tù. Tháng 11 năm 2012, bốn thường phạm đã đánh vào mặt, vào bụng và vùng chỗ kín của bà. Bà bị thương nặng. Trước đó, những tên gây hấn khác đánh đập bà đến gãy tay trái lúc bà bị giam cứu. Bị biệt giam, bà tuyệt thực phản đối. Tình trạng sức khỏe của bà rất xấu từ tháng 5 năm 2013.
- Bà Tạ Phong Tần là tác giả nhựt ký điện tử có sáng tác phong phú, nhà luật học và hội viên Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do. Bị bắt ngày 5 tháng 9 năm 2011, mãi đến ngày 24 tháng 9 năm 2012 bà mới bị kết án 10 năm tù giam và 3 năm tù quản chế về cái tội ''tuyên truyền chống nhà nước''. Bà là tác giả của hơn 700 bài viết về các vấn đề nhạy cảm, bao gồm tham nhũng, lạm dụng quyền lực, tịch thu độc đoán đất của người dân cô thế và ngược đãi trẻ con. Những bài viết cho nhựt ký của bà được đọc nhiều nhứt trên các cơ quan truyền thông lớn và được phổ biến trên trang thông tin đài BBC. Từ năm 2008, bà bị tạm giam ngắn hạn nhiều lần. Công an đã sách nhiễu bà thật hung bạo. Đảng cộng sản thu hồi tư cách đảng viên của bà. Ngày 30 tháng 7 năm 2012, bà Mẹ tù nhân Tạ Phong Tần qua đời sau khi tự thiêu để phản đối việc giam cầm bất công con gái của mình. Vẫn không nhận tội, bà Tạ Phong Tần bị hành hạ, ngược đãi trong trại tù. Tình trạng sức khỏe của bà rất xấu.
Cực lực lên án những vi phạm nghiêm trọng quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm tại Việt Nam và thúc giục nhà nước CHXHCNVN :
- Trả tự do, ngay lập tức và không điều kiện, nhà thơ Nguyễn Hữu Cầu, linh mục Nguyễn Văn Lý, nhà báo Nguyễn Văn Hải, bà Hồ Thị Bích Khương, bà Tạ Phong Tần và tất cả những nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử đang bị nhốt tù, quản chế hoặc giam cứu vì đã hành sử quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm của mình;
- Chấm dứt tất cả những vụ công kích, sách nhiễu, đe dọa bắt bớ hoặc giam cầm độc đoán đối với những người có quan điểm và chính kiến khác biệt hoặc những người cổ xúy cho tự do tư tưởng, tự do về lương tâm, tôn giáo và tín ngưỡng;
- Cải thiện điều kiện giam cầm trong các nhà tù và các trại lao động cưỡng bức, chận đứng việc các tù thường phạm gây hấn và tấn công các tù nhân ngôn luận và lương tâm, nghiêm cấm và trừng phạt mọi hình thức tra tấn, hành hạ ngược đãi, cho phép các tù nhân ngôn luận và lương tâm mắc bệnh được chữa trị tại bệnh viện, được chăm sóc y tế thích hợp, cũng như tạo điều kiện dễ dàng cho gia đình tới thăm nom;
- Xóa bỏ mọi hình thức kiểm duyệt và giải tỏa các cấm đoán về quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm, quyền tự do báo chí, quyền được thông tin bằng mọi phương tiện kể cả nhứt là Internet, cũng như quyền tự do hội họp và lập hội, phù hợp với các điều 19, 21 và 22 của Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị (PIDCP/ICCPR).
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bản văn đính kèm: Danh sách (không đầy đủ) các nhà văn, nhà báo và tác giả nhựt ký điện tử bị đàn áp ngược đãi :
1. Đang thọ hình với bản án tù giam nặng nề hoặc án tù treo :
- Ông Cù Huy Hà Vũ 7 năm tù giam, bà Đặng Ngọc Minh 3 năm tù giam, ông Đặng Xuân Diệu 13 năm tù giam, ông Đinh Đăng Định 6 năm tù giam, ông Đinh Nguyên Kha 4 năm tù giam, ông Hồ Đức Hòa 13 năm tù giam, ông Hồ Văn Oanh 2 năm 6 tháng tù giam, ông Lê Thanh Tùng 5 năm tù giam, ông Lê Văn Sơn 4 năm tù giam, ông Lư Văn Bảy 4 năm tù giam, bà Nguyễn Đặng Minh Mẫn 9 năm tù giam, ông Nguyễn Đình Cương 4 năm tù giam, ông Nguyễn Kim Nhàn 5 năm 6 tháng tù giam, bà Nguyễn Phương Uyên 3 năm tù treo, ông Nguyễn Thanh Long (mục sư Nguyễn Công Chính) 11 năm tù giam, ông Nguyễn Tiến Trung 7 năm tù giam, ông Nguyễn Văn Duyệt 3 năm 6 tháng tù giam, ông Nguyễn Văn Khương 4 năm tù giam, ông Nguyễn Văn Oai 3 năm tù giam, ông Nguyễn Xuân Anh 2 năm tù giam, ông Nguyễn Xuân Nghĩa 6 năm tù giam, ông Nông Hùng Anh 5 năm tù giam, ông Phan Ngọc Tuấn 5 năm tù giam, ông Thái Văn Dũng 4 năm tù giam, ông Trần Anh Kim 5 năm 6 tháng tù giam, ông Trần Huỳnh Duy Thức 16 năm tù giam, ông Trần Minh Nhật 4 năm tù giam, ông Trần Vũ Anh Bình 6 năm tù giam, ông Vi Đức Hồi 5 năm tù giam, ông Võ Minh Trí (bút hiệu Việt Khang) 4 năm tù giam;
2. Đang bị nhốt tù chờ đưa ra tòa:
- Ông Lê Quốc Quân bị bắt hồi tháng 12 năm 2012, ông Trương Duy Nhứt bị bắt hồi tháng 5 năm 2013, ông Đinh Nhật Uy bị bắt hồi tháng 6 năm 2013 và ông Phạm Viết Đào bị bắt hồi tháng 6 năm 2013 ;
3. Bị quản chế từ năm 2003 :
- Hòa thượng Thích Quảng Độ (thế danh Đặng Phúc Tuệ), 84 tuổi, tu sĩ Phật giáo, nhà thơ.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đại biểu các Trung tâm Văn Bút Quốc Tế đã đồng thanh phê chuẫn Quyết Nghị về Việt Nam tại Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế Reykjavik, thủ đô nước Islande
PEN Algérien – PEN Allemand – PEN Américain – PEN Anglais – PEN Asie Centrale – PEN Autrichien – PEN Basque – PEN Belge d’Expression française – PEN Belge d’Expression flamande - PEN Biélorusse – PEN Cambodgien – PEN Canadien – PEN Catalan – PEN Chilien – PEN Chinois Taipei – PEN Coréen – PEN Croate – PEN Danois – PEN Delhi – PEN Ecossais - PEN Egyptien – PEN Espérantiste – PEN Estonien – PEN Ethiopien – PEN Finlandais – PEN Français – PEN Ghanéen – PEN Guinéen – PEN Haïtien – PEN Hongrois – PEN Indépendant Chinois – PEN des Ecrivains Iraniens en Exil – PEN Iraquien – PEN Islandais – PEN Japonais – PEN Kazakhstan – PEN Kurde – PEN Langue d’Oc – PEN Lituanien – PEN Malawite - PEN Melbourne – PEN Mexicain – PEN Myanmar – PEN des Ecrivains Nord-Coréens en exil – PEN Norvégien – PEN Ougandais – PEN Ouïghour - PEN Pays-Bas – PEN Porto Ricain – PEN Portugais – PEN Slovène – PEN Québécois – PEN Russe – PEN San Miguel de Allende - PEN Serbe – PEN Sud Africain – PEN Suédois – PEN Suisse Allemand – PEN Suisse Romand - PEN Sydney – PEN Tchèque - PEN des Ecrivains Tibétains à l’Etranger – PEN de Trieste – PEN Turquie – PEN des Vietnamiens à l’étranger.
ĐỒNG THANH LÊN ÁN CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN HÀ NỘI Như chúng tôi đã đưa tin trước đây, Đại Hội Thế Giới kỳ thứ 79 của Văn Bút Quốc Tế vừa diễn ra tại Reykjavik, thủ đô nước Islande từ ngày 9 đến 13 tháng 9 năm 2013. Chủ đề của Đại Hội là Biên giới Kỹ thuật số - Quyền Ngôn Ngữ và Quyền Tự Do Ngôn Luận. Có 70 Trung tâm Văn Bút gởi đại biểu tới ‘’Thành Phố Văn Chương của UNESCO’’. Phái đoàn Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại gồm có nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, đệ nhứt phó chủ tịch (Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm tù), nhà văn Zeki Ergas, tổng thư ký (Ủy Ban Nhà Văn vì Hòa Bình), nữ tiểu thuyết gia Fawzia Assaad, cựu chủ tịch, đại diện Văn Bút Quốc Tế tại Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc và nhà văn nữ Clara Franceschetta (Ủy Ban Nhà Văn Nữ).
Trong phiên họp khoáng đại sáng ngày 12 tháng 9, Đại hội đồng Đại biểu đồng thanh thông qua Bản Quyết Nghị về Việt Nam. Bản Dự thảo Quyết Nghị được Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại đề nghị, với sự tán trợ của ba Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức Thoại, Thụy Sĩ Ý Thoại và Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Qua Bản Quyết Nghị, Văn Bút Quốc Tế bày tỏ sự Bất bình và phẫn nộ vì ‘’được khẩn báo về tình trạng sức khỏe và điều kiện giam cầm của nhiều nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử và nhà hoạt động bênh vực nhân quyền bị hành hạ và ngược đãi’’. Văn Bút Quốc Tế nhận xét rằng ‘’Trong 12 tháng qua, tình hình của các nhà văn bị hành hạ và ngược đãi tại Việt Nam càng tồi tệ hơn nữa. Công an đã tăng cường đàn áp quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm, ở trong lẫn ở ngoài không gian mạng Internet bằng cách cho áp dụng những điều luật hình sự nhằm hủy diệt quyền tự do. Đặc biệt là điều 88 ‘’Tuyên truyền chống nhà nước’’ trù liệu những án tù giam đến 20 năm. Hay là điều 258 ’’Lạm dụng các quyền tự do dân chủ’’, án tù giam đến 7 năm’’. Cũng không quên tố cáo cái gọi là pháp lệnh 44 cho phép quản chế hành chính mà không xét xử, và nhứt là việc cho áp dụng kể 1 tháng 9 mới đây, nghị định 72 cấm chỉ người Việt Nam sử dụng Internet để bàn luận về chuyện thời sự và ngăn chận sự phổ biến trên mạng những tài liệu "chống đối’’ chính phủ hoặc ‘’xâm phạm an ninh quốc gia’’. Hiệp Hội Nhà Văn Thế Giới ‘’Cực lực lên án những vi phạm nghiêm trọng quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm tại Việt Nam và thúc giục nhà nước CHXHCNVN (tức là chế độ Cộng sản Hà Nội)
- Trả tự do, ngay lập tức và không điều kiện, nhà thơ Nguyễn Hữu Cầu, linh mục Nguyễn Văn Lý, nhà báo Nguyễn Văn Hải, bà Hồ Thị Bích Khương, bà Tạ Phong Tần và tất cả những nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử đang bị nhốt tù, quản chế hoặc giam cứu vì đã hành sử quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm của mình’’.
Nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã đích thân trình bày toàn văn bản dự thảo Quyết Nghị lúc duyệt xét tại phiên họp của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm Tù. Trước khi Đại hội đồng Đại biểu thông qua Quyết Nghị, nhà thơ Việt Nam lưu vong đã phát biểu : Giống như các văn thi hữu, chúng tôi, Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại, thiết tha gắn bó, trung thành với tinh thần Hiến chương Văn Bút Quốc Tế. Những nỗi đau thương áp đặt một cách quá bất công đối với các nhà văn ở Việt Nam, cũng như ở những nơi khác, tiếp tục tra hỏi chúng tôi và làm chúng tôi thêm lo lắng. Ở đất nước xinh đẹp nhưng xa xôi đó - nước Việt Nam từng bị chia cắt, tan nát bởi nhiều cuộc chiến tranh kéo dài, muốn được sống tự do, độc lập và trung thực, một tác giả phải chiến đấu chống lại cái bóng đen của nhân viên an ninh phường hay quận huyện, chống lại sự dối trá của nhà nước, mối đe dọa bị bắt, bị tra tấn, bị kết án tù và bị lưu đày trong các trại lao động cưỡng bức chỉ vì dám viết ra và nói lên ý kiến của mình. Cảm ơn sự đoàn kết và sự ủng hộ của quý bạn dành cho bản Quyết Nghị này’’.
Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại có đề nghị ghi thêm trong Dự thảo Quyết Nghị lời ‘’Chào đón bà Nguyễn Phương Uyên và ông Phan Thanh Hải được ra khỏi nhà tù và yêu cầu bải bỏ tất cả những sự hạn chế còn lại đối với hai tác giả viết nhựt ký điện tử’’. Nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đồng ý với đề nghị nhưng có lưu ý Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm Tù về sự kiện bà Nguyễn Phương Uyên ‘’không được tha bổng’’ và bà bị áp đặt ‘’bản án 3 năm tù treo’’* (có ghi trong Quyết Nghị). Còn về nhà báo Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải, ông chỉ được về với gia đình sau khi mãn hạn 3 năm tù giam, nhưng ông còn bị kiềm tỏa bởi ‘’3 năm tù quản chế’’. Hai bản án tù - kể cả án tù treo hay thử thách và tù quản chế - hoàn toàn vi luật quốc tế, bất công và vô nhân đạo, cho nên chúng ta không thể chấp nhận và bỏ qua được.
Được biết bên cạnh ông chủ tịch Vũ Văn Tùng còn có bà Vũ Tuyết Yên, vợ ông, cũng là đại diện chính thức của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Đại hội đồng Đại biểu đã biểu quyết chấp thuận tất cả 18 Quyết Nghị, gồm có
- 15 Quyết Nghị liên quan đến Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm Tù : Ai Cập, Liên bang Nga, Hung Gia Lợi, Tây Ban Nha, Mễ Tây Cơ, Trung Cộng, Cuba, Việt Nam cộng sản, Erythrée, Belarus, Châu Mỹ la tinh, Syrie, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Tạng (bị chiếm đóng) và Sự theo dõi vi phạm quyền Tư riêng, và
- 5 Quyết Nghị liên quan đến Ủy Ban Phiên Dịch và Quyền Ngôn Ngữ : Tiếng Kurde, Tiếng Bồ Đào Nha, Tiếng Basque ở Navarre (Tây Ban Nha), Tiếng Arpitan ở Thụy Sĩ và Hiến chương Âu châu về những ngôn ngữ Vùng hoặc Thiểu số.
Riêng Quyết Nghị về Liên bang Nga, sau khi được biểu quyết, toàn thể đại biểu tuần hành từ Trung tâm Hội Nghị Harpa đến tận tòa đại sứ Nga để văn hữu John Ralston Saul, chủ tịch Văn Bút Quốc Tế, trao Quyết Nghị này cho một nhà ngoại giao Nga.
Chúng tôi có đính theo Bản Tin này Quyết Nghị về Việt Nam với văn bản tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Theo yêu cầu của Văn Bút Quốc Tế, nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt đã phiên dịch ra tiếng Pháp các Quyết Nghị về Ai Cập, Cuba và Thổ Nhĩ Kỳ sau khi các văn bản tiếng Anh được tu chỉnh tiếp theo cuộc duyệt xét tại các phiên họp của Ủy Ban liên hệ.
Ngoài các buổi họp công tác, các văn thi hữu còn tham gia chương trình sinh hoạt văn học nghệ thuật, hội thảo chung quanh chủ đề ‘’Giải thoát Tiếng Nói’’ của Văn Bút Quốc Tế, kết hợp với Đại Hội Văn chương Quốc tế. Đông đảo thi văn hữu, kể cả nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, đã đọc thơ văn tại các Thư viện, Trung tâm Văn hóa Pháp và Phòng họp của các khách sạn lớn. Bộ trưởng Văn Hóa, Đô trưởng Reykjavik, Đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Đức và thi văn hữu Hội Nhà Văn Islande đã niềm nỡ tiếp đón các đại biểu Văn Bút Quốc Tế.
Đại Hội năm nay là dịp giới thiệu ba nhà văn trẻ được vào chung kết Giải thưởng ‘’Những Tiếng Nói Mới’’ của Văn Bút Quốc Tế : Masande Ntshanga (Nam Phi), José Pablo Salas (Mễ Tây Cơ) và Claire Battershill (nữ sĩ Gia Nã Đại). Nhà văn ‘’Mầm Non’’ Masande Ntshanga là khôi nguyên ‘’Những Tiếng Nói Mới’’ năm 2013.
Đại Hội cũng nồng nhiệt chào mừng hai Trung tâm Văn Bút mới thành lập là Delhi (Ấn Độ) và Miến Điện. Nhân dân Miến Điện nhờ biết đoàn kết, sáng tạo, kiên trì và anh dũng tranh đấu đã vượt thoát được chế độ độc tài quân phiệt bản xứ. Tấm gương đó càng làm chúng ta thêm tin tưởng vào cuộc thắng lợi sau cùng và nhứt định của chính nghĩa những thế hệ trẻ Việt Nam yêu nước, thương đồng bào, quý chuộng Nhân Ái, Công Lý và Hòa Bình.
Chúng tôi rất tiếc khuôn khổ hạn hẹp của bản tin phổ biến trên mạng Internet không cho chúng tôi được giới thiệu cùng quý bạn đọc và diễn đàn bản tường trình đầy đủ về Đại Hội Văn Bút Quốc Tế của nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt. Tài liệu được viết bằng tiếng Pháp dành cho Ban Chấp hành và văn thi hữu hội viên Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại. Chúng tôi hy vọng có dịp trở lại vấn đề này vì có nhiều điểm đáng nêu ra liên quan đến Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm tù.
Genève ngày 27 tháng 10 năm 2013
Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
Ligue Vietnamienne des Droits de l'Homme en Suisse
Vietnamese League for Human Rights in Switzerland
* Nghị định số 61/200/NĐ-CP 30.10.2000 Quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo.
Nguồn tin: nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại (Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Cầm Tù), hội viên Trung tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong, Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc Genève và Hội Nhà Văn và Nhà Phiên Dịch Vùng Á Châu – Thái Bình Dương.
Tài liệu: Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ.
Ghi chú: Bản tiếng Việt của Quyết Nghị về Việt Nam được bà Nguyễn Ngọc và ông Hà Tản Viên thực hiện từ hai bản tiếng Pháp và tiếng Anh của Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại. Văn Bút Quốc Tế cung cấp bản tiếng Tây Ban Nha.
Quyết Nghị về Việt Nam do Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại soạn thảo và đề nghị với sự tán trợ của các Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại, Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche và Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại
Hội đồng Đại biểu của Văn Bút Quốc Tế họp Đại Hội Thế Giới kỳ thứ 79 tại Reykjavik, nước Islande, từ ngày 9 đến ngày 13 tháng 9 năm 2013
VIỆT NAM : Trong 12 tháng qua, tình hình của các nhà văn bị hành hạ và ngược đãi tại Việt Nam càng tồi tệ hơn nữa. Công an đã tăng cường đàn áp quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm, ở trong lẫn ở ngoài không gian mạng Internet bằng cách cho áp dụng những điều luật hình sự nhằm hủy diệt quyền tự do. Đặc biệt là điều 88 ‘’Tuyên truyền chống nhà nước’’ trù liệu những án tù giam đến 20 năm. Hay là điều 258 ‘’’’Lạm dụng các quyền tự do dân chủ’’, án tù giam đến 7 năm. Ngoài ra, pháp lệnh 44 cho phép quản chế hành chính mà không xét xử và lạm dụng đưa người bất đồng chính kiến vào bệnh viện tâm thần. Các tòa báo in, các cơ quan truyền thông đại chúng (phát thanh và truyền hình), mạng Internet và các cơ sở xuất bản bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ hoặc chịu sự kiểm duyệt gắt gao. Việc hạn chế tùy tiện trắng trợn vẫn còn hiệu lực đối với quyền tự do tìm kiếm, thu nhận và trao đổi tin tức, nhứt là tin tức nhằm xác định trách nhiệm đối với các hành động vi phạm nhân quyền, tham nhũng và bất công xã hội. Có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9 mới đây, nghị định 72 cấm chỉ người Việt Nam sử dụng Internet để bàn luận về chuyện thời sự và ngăn chận sự phổ biến trên mạng những tài liệu "chống đối’’ chính phủ hoặc ‘’xâm phạm an ninh quốc gia’’. Nhiều nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử và các nhà hoạt động bênh vực nhân quyền là nạn nhân của những vụ gây hấn để đánh đập tàn nhẫn, những vụ bắt giữ độc đoán, những sự đối xử hung ác của công an cùng những trận đòn tra tấn, những sự giam cứu kéo dài, những phiên tòa thiếu công minh và những bản án tù bất công. Trong các trại lao động cưỡng bức, tù nhân từ chối nhận tội hoặc tuyệt thực để phản đối các điều kiện giam cầm vô nhân đạo đều bị biệt giam. Tù nhân mắc bệnh nặng bị tước quyền được chăm sóc y tế thích hợp và được gặp gia đình tới thăm nom.
Chào đón bà Nguyễn Phương Uyên và ông Phan Thanh Hải được ra khỏi nhà tù, và yêu cầu bải bỏ tất cả những sự hạn chế còn lại đối với hai tác giả này.
Bất bình và phẫn nộ vì được khẩn báo về tình trạng sức khỏe và điều kiện giam cầm của nhiều nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử và nhà hoạt động bênh vực nhân quyền bị hành hạ và ngược đãi. Trong số những trường hợp nguy cấp nhứt :
- Ông Nguyễn Hữu Cầu là nhà thơ, nhà soạn nhạc và viết lời ca tiếng hát, và nhà hoạt động chống tham nhũng. Ông bị bắt hồi tháng 10 năm 1982 và bị kết án tử hình năm 1983 vì là tác giả của những bài hát và bài thơ bị coi là ''phạm tội''. Ông đã viết những lời tố cáo hai viên chức cấp cao cộng sản hãm hiếp và tham nhũng. Hành vi đó khiến cho ông bị buộc tội ‘’phá hoại’’, gây tổn thương cho hình ảnh của chế độ. Ông không nhận tội. Án tử hình được đổi thành án tù chung thân năm 1985. Kể từ đó ông bị biệt giam trong một trại tù ở sâu trong rừng. Ông bị mù mắt trái hoàn toàn. Thị giác mắt phải của ông ngày càng trở nên mờ đục. Ông gần như điếc. Ông bị suy tim nặng, bệnh tình càng bi đát hơn vì thiếu chăm sóc y tế thích đáng và các điều kiện giam cầm thật tồi tệ.
- Linh mục Nguyễn Văn Lý từng là biên tập viên của tạp chí Tự do Ngôn luận (bất hợp pháp đối với cộng sản). Năm 2007, linh mục bị kết án 8 năm tù giam và 5 năm tù quản chế. Linh mục không nhận tội. Nhắc lại, linh mục từng bị tù giam 15 năm trong thời gian 1977 - 2005. Tháng 11 năm 2009, linh mục bị tai biến mạch não gây liệt nửa người phải. Tháng 3 năm 2010, sợ linh mục Nguyễn Văn Lý sẽ chết nếu bị tai biến mạch não một lần nữa, Cộng sản quản thúc vị tù nhân giữa thành phố Huế, có công an kiểm soát. Cuối tháng 7 năm 2011, xe công an áp tải linh mục trở về trại tù. Linh mục vẫn bị liệt một phần cơ thể và chân phải.
- Ông Nguyễn Văn Hải (bút hiệu Điếu Cày) là nhà báo và tác giả nhựt ký điện tử, đồng sáng lập Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do. Đáng lẽ ông phải được trả lại tự do từ tháng 10 năm 2010 sau khi mãn hạn án tù giam (2 năm 6 tháng) về cái tội mà cộng sản đã gian dối dựng lên gọi là ‘’trốn thuế’’ hồi tháng 9 năm 2008. Thay vì vậy, ông bị chúng nhốt bí mật trong một trại giam. Ông không được gia đình thăm nom, tiếp nhận thuốc men và cung cấp thêm thức ăn cho tới ngày 2 tháng 5 năm 2012. Ông tuyệt thực để phản đối trong năm 2011. Ông không nhận phạm những tội mới mà công an dựng lên, dựa vào những bài ông viết đã phổ biến trên trang thông tin điện tử của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do và trên trang nhựt ký điện tử của ông trước khi ông bị bắt năm 2008. Ngày 24 tháng 9 năm 2012, ông bị kết án 12 năm tù giam và 5 năm tù quản chế về cái tội ‘’tuyên truyền chống nhà nước’’. Tình trạng sức khoẻ của ông rất dễ bị suy sụp và rất yếu kém.
- Bà Hồ Thị Bích Khương là tác giả nhựt ký điện tử và nhà bênh vực nhân quyền. Bà còn là tác giả một cuốn hồi ký viết trong tù, nhiều bài thơ châm biếm và bài báo trên mạng. Được các đài phát thanh ngoại quốc phỏng vấn, bà chỉ trích những sự lạm dụng quyền lực chống lại người nông dân nghèo. Bị bắt hồi tháng 12 năm 2010, mãi đến tháng 12 năm 2011 bà mới bị kết án 5 năm tù giam và 3 năm tù quản chế về cái tội ''tuyên truyền chống nhà nước''. Bà không nhận tội. Bà đã bị giam cầm hai lần trong năm 2005 và 2007. Bà bị hành hung gây thương tích nghiêm trọng và nhiều lần bị bắt giữ ngắn hạn. Bà bị tra tấn trong tù. Tháng 11 năm 2012, bốn thường phạm đã đánh vào mặt, vào bụng và vùng chỗ kín của bà. Bà bị thương nặng. Trước đó, những tên gây hấn khác đánh đập bà đến gãy tay trái lúc bà bị giam cứu. Bị biệt giam, bà tuyệt thực phản đối. Tình trạng sức khỏe của bà rất xấu từ tháng 5 năm 2013.
- Bà Tạ Phong Tần là tác giả nhựt ký điện tử có sáng tác phong phú, nhà luật học và hội viên Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do. Bị bắt ngày 5 tháng 9 năm 2011, mãi đến ngày 24 tháng 9 năm 2012 bà mới bị kết án 10 năm tù giam và 3 năm tù quản chế về cái tội ''tuyên truyền chống nhà nước''. Bà là tác giả của hơn 700 bài viết về các vấn đề nhạy cảm, bao gồm tham nhũng, lạm dụng quyền lực, tịch thu độc đoán đất của người dân cô thế và ngược đãi trẻ con. Những bài viết cho nhựt ký của bà được đọc nhiều nhứt trên các cơ quan truyền thông lớn và được phổ biến trên trang thông tin đài BBC. Từ năm 2008, bà bị tạm giam ngắn hạn nhiều lần. Công an đã sách nhiễu bà thật hung bạo. Đảng cộng sản thu hồi tư cách đảng viên của bà. Ngày 30 tháng 7 năm 2012, bà Mẹ tù nhân Tạ Phong Tần qua đời sau khi tự thiêu để phản đối việc giam cầm bất công con gái của mình. Vẫn không nhận tội, bà Tạ Phong Tần bị hành hạ, ngược đãi trong trại tù. Tình trạng sức khỏe của bà rất xấu.
Cực lực lên án những vi phạm nghiêm trọng quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm tại Việt Nam và thúc giục nhà nước CHXHCNVN :
- Trả tự do, ngay lập tức và không điều kiện, nhà thơ Nguyễn Hữu Cầu, linh mục Nguyễn Văn Lý, nhà báo Nguyễn Văn Hải, bà Hồ Thị Bích Khương, bà Tạ Phong Tần và tất cả những nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử đang bị nhốt tù, quản chế hoặc giam cứu vì đã hành sử quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm của mình;
- Chấm dứt tất cả những vụ công kích, sách nhiễu, đe dọa bắt bớ hoặc giam cầm độc đoán đối với những người có quan điểm và chính kiến khác biệt hoặc những người cổ xúy cho tự do tư tưởng, tự do về lương tâm, tôn giáo và tín ngưỡng;
- Cải thiện điều kiện giam cầm trong các nhà tù và các trại lao động cưỡng bức, chận đứng việc các tù thường phạm gây hấn và tấn công các tù nhân ngôn luận và lương tâm, nghiêm cấm và trừng phạt mọi hình thức tra tấn, hành hạ ngược đãi, cho phép các tù nhân ngôn luận và lương tâm mắc bệnh được chữa trị tại bệnh viện, được chăm sóc y tế thích hợp, cũng như tạo điều kiện dễ dàng cho gia đình tới thăm nom;
- Xóa bỏ mọi hình thức kiểm duyệt và giải tỏa các cấm đoán về quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm, quyền tự do báo chí, quyền được thông tin bằng mọi phương tiện kể cả nhứt là Internet, cũng như quyền tự do hội họp và lập hội, phù hợp với các điều 19, 21 và 22 của Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị (PIDCP/ICCPR).
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bản văn đính kèm: Danh sách (không đầy đủ) các nhà văn, nhà báo và tác giả nhựt ký điện tử bị đàn áp ngược đãi :
1. Đang thọ hình với bản án tù giam nặng nề hoặc án tù treo :
- Ông Cù Huy Hà Vũ 7 năm tù giam, bà Đặng Ngọc Minh 3 năm tù giam, ông Đặng Xuân Diệu 13 năm tù giam, ông Đinh Đăng Định 6 năm tù giam, ông Đinh Nguyên Kha 4 năm tù giam, ông Hồ Đức Hòa 13 năm tù giam, ông Hồ Văn Oanh 2 năm 6 tháng tù giam, ông Lê Thanh Tùng 5 năm tù giam, ông Lê Văn Sơn 4 năm tù giam, ông Lư Văn Bảy 4 năm tù giam, bà Nguyễn Đặng Minh Mẫn 9 năm tù giam, ông Nguyễn Đình Cương 4 năm tù giam, ông Nguyễn Kim Nhàn 5 năm 6 tháng tù giam, bà Nguyễn Phương Uyên 3 năm tù treo, ông Nguyễn Thanh Long (mục sư Nguyễn Công Chính) 11 năm tù giam, ông Nguyễn Tiến Trung 7 năm tù giam, ông Nguyễn Văn Duyệt 3 năm 6 tháng tù giam, ông Nguyễn Văn Khương 4 năm tù giam, ông Nguyễn Văn Oai 3 năm tù giam, ông Nguyễn Xuân Anh 2 năm tù giam, ông Nguyễn Xuân Nghĩa 6 năm tù giam, ông Nông Hùng Anh 5 năm tù giam, ông Phan Ngọc Tuấn 5 năm tù giam, ông Thái Văn Dũng 4 năm tù giam, ông Trần Anh Kim 5 năm 6 tháng tù giam, ông Trần Huỳnh Duy Thức 16 năm tù giam, ông Trần Minh Nhật 4 năm tù giam, ông Trần Vũ Anh Bình 6 năm tù giam, ông Vi Đức Hồi 5 năm tù giam, ông Võ Minh Trí (bút hiệu Việt Khang) 4 năm tù giam;
2. Đang bị nhốt tù chờ đưa ra tòa:
- Ông Lê Quốc Quân bị bắt hồi tháng 12 năm 2012, ông Trương Duy Nhứt bị bắt hồi tháng 5 năm 2013, ông Đinh Nhật Uy bị bắt hồi tháng 6 năm 2013 và ông Phạm Viết Đào bị bắt hồi tháng 6 năm 2013 ;
3. Bị quản chế từ năm 2003 :
- Hòa thượng Thích Quảng Độ (thế danh Đặng Phúc Tuệ), 84 tuổi, tu sĩ Phật giáo, nhà thơ.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đại biểu các Trung tâm Văn Bút Quốc Tế đã đồng thanh phê chuẫn Quyết Nghị về Việt Nam tại Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế Reykjavik, thủ đô nước Islande
PEN Algérien – PEN Allemand – PEN Américain – PEN Anglais – PEN Asie Centrale – PEN Autrichien – PEN Basque – PEN Belge d’Expression française – PEN Belge d’Expression flamande - PEN Biélorusse – PEN Cambodgien – PEN Canadien – PEN Catalan – PEN Chilien – PEN Chinois Taipei – PEN Coréen – PEN Croate – PEN Danois – PEN Delhi – PEN Ecossais - PEN Egyptien – PEN Espérantiste – PEN Estonien – PEN Ethiopien – PEN Finlandais – PEN Français – PEN Ghanéen – PEN Guinéen – PEN Haïtien – PEN Hongrois – PEN Indépendant Chinois – PEN des Ecrivains Iraniens en Exil – PEN Iraquien – PEN Islandais – PEN Japonais – PEN Kazakhstan – PEN Kurde – PEN Langue d’Oc – PEN Lituanien – PEN Malawite - PEN Melbourne – PEN Mexicain – PEN Myanmar – PEN des Ecrivains Nord-Coréens en exil – PEN Norvégien – PEN Ougandais – PEN Ouïghour - PEN Pays-Bas – PEN Porto Ricain – PEN Portugais – PEN Slovène – PEN Québécois – PEN Russe – PEN San Miguel de Allende - PEN Serbe – PEN Sud Africain – PEN Suédois – PEN Suisse Allemand – PEN Suisse Romand - PEN Sydney – PEN Tchèque - PEN des Ecrivains Tibétains à l’Etranger – PEN de Trieste – PEN Turquie – PEN des Vietnamiens à l’étranger.

Chỉ có người Việt mang hồn Việt mới sống chết với Tổ Quốc Việt Nam
Le Nguyen Chỉ có những người bị hội chứng hoang tưởng, bị các loại tâm thần phân liệt hay nói theo ngôn ngữ bình dân là điên nặng mới mất khả năng nhận thức, tư duy theo lý lẽ thông thường của cuộc sống đời thường và những người phát triểntự nhiên với bộ óc bình thường, ai cũng có thể nhận ra một điều rất đơn giản, là không ai hiểu ta, thương ta bằng chính bản thân ta. Từ đó suy rộng ra, mọi người lương thiện đều tương đối ít nhiều có thể hiểu được mức độ năng lực, khả năng cũng như chiều sâu tâm lý yêu thương, giận ghét thật sự của cá nhân mình, và đương nhiên nếu mình không yêu thương mình, không yêu thương người thân cật ruột, bạn bè lối xóm, những người anh em đồng bào cùng khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…không thương nhớ cây đa cũ, bến đò xưa, con đường quê ngày hai buổi đến trường với nhiềukỷ niệm vui buồn, nhục vinh gắn bó…thì những điều đại loại như chuyện sống chết vì lý tưởng độc lập, tự do…vì thế giới đại đồng hay bài tỏ lòng thương yêu tổ quốc xa xăm, nhớ thương khóc lóc ông tây bà xẩm xa lạ không quen biết…hẳn ai cũng thấy rõ “ý đồ”, thấy có cái gì đó trái lẽ tự nhiên thiếu lương thiện, nếu không nói là gian manh, giả tạo!
Cách lý giải về hiểu biết, về yêu thương của bản thể lẫn khách thể vừa diễn giải chỉ ra rằng, chắc không ai hiểu cộng sản Việt Nam bằng người Việt Nam và không người Việt Nam nào hiểu cộng sản bằng những người cộng sản đã rời bỏ hàng ngũ cộng sản. Cũng như để vạch trần dối trá, tội ác cộng sản Việt Nam một cách chính xác, thuyết phục không ai làm hay hơn người Việt Nam, những người đã từng là nạn nhân, đã từng tin, nghe theo cộng sản, phục vụ cho đảng, chochế độ cộng sản và không ai yêu thương, sống chết với đất nước Việt Nam hơn con người Việt Nam. Vì thế muốn giải trừ kiếp nạn cộng sản, muốn xây dựng phát triển Việt Nam hiệu quả, không ai khác là phải do chính con người Việt Nam, những người đủ trải nghiệm hiểu biết cộng sản, đủ tâm huyết yêu thương, khao khát, cống hiến cho đất nước Việt Nam.
Nội dung bài viết này sẽ không bàn đến chuyện quá khứ bởi không ai thay đổi được quá khứ, dù biết rằng quá khứ là bài học hữu ích, là nền tảng điều chỉnh hành vi hiện tại để hoàn thiện, định hình cho cuộc sống tương lai và nội dung bài viếtchỉ bàn đến một số điểm then chốt về xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn được gọi là đổi mới của đảng cộng sản Việt Nam.
Phải nói rằng trong giai đoạn được gọi là đổi mới về phương diện kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thựcchất chỉ là bắt chước, mô phỏng làm theo cái cũ của nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam trước năm 1975 nhưng được lãnh đạo cuồng tín, trí tuệ có vấn đề, ngờ ngệch bảo rằng “có đảng cộng sản mới có đổi mới” (?) và đổi mới song song tồn tại cả hai mặt tiêu cực lẫn tích cực - mặt tích cực được đảng, nhà nước thổi phồng phô trương, tuyên truyềnkhông tiếc lời nhằm làm giảm nhẹ lẫn che dấu những mặt tiêu cực gây hậu quả nghiêm trọng khó khắc phục cho nhu cầuphát triển quốc gia theo hướng giàu đẹp, bền vững và cho cuộc sống người dân được tự do, ấm no, hạnh phúc.
Chẳng hạn như khi hô hào đổi mới, cộng sản Việt Nam tháo gở được cấm vận, thoát khỏi vòng vây cô lập của thế giới tự do, thu hút đầu tư nước ngoài, nhận viện trợ tài chánh không hoàn lại, nhận được hỗ trợ nguồn vốn ưu đãi với lãi suấtthấp, giao lưu thương mại thuận lợi, tiếp cận nền khoa học kỹ thuật hiện đại của các nước dân chủ giàu mạnh…giúp chobộ mặt Việt Nam sáng sủa hơn, cuộc sống vật chất có phần khá lên, nhất là thuận lợi trong công tác tuyên truyền, quabộ mặt hào nhoáng phồn vinh giả tạo thiếu thực chất, không bền vững nhằm che dấu, khỏa lấp những công trình, dự án, chính sách xây dựng, phát triển thiếu tầm nhìn chiến lược lẫn chiều sâu thực chất, khó nhận ra với cái nhìn hời hợt, lạc quan tếu của không ít người, rằng đảng lãnh đạo “tài tình, sáng suốt...”
Bên cạnh bộ mặt hào nhoáng tích cực của đổi mới là những tiêu cực như nợ nần nước ngoài chồng chất trên đầu người dân ngày càng cao, khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa và các quan tham vô đạo đức cấu kết, tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích hình thành xâu xé các nguồn viện trợ nước ngoài, xẻ thịt tài nguyên quốc gia vô tội vạ, tạo nên bất công trong xã hội, bất bình trong nhân dân là nguồn gốc của bất ổn kinh tế – xã hội, là nguyên nhân của bạo động lật đổ, làm cách mạng như lịch sử cách mạng của loài người đã từng diễn ra chứ không có thế lực thù địch nào gây ra mối đe dọa cho chế độ!
Hiện nay với những bất cập, lạc hậu, tồi dở do nhiều nguyên nhân hiện hữu, tồn tại trong nhà nước cộng sản Việt Nam và trong thời gian dài mấy mươi năm đã có rất nhiều chuyên gia quốc tế ở mọi lãnh vực ngành nghề bày tỏ thiện chí phân tích tình hình, tích cực đóng ý kiến cải cách thiết thực hữu ích cho đất nước, con người Việt nam. Có người tìnhnguyện làm cố vấn không công bán thời, có người làm việc toàn thời có nhận lương làm việc cho đảng, nhà nước cộngsản nhưng vẫn chưa có dấu hiệu tiến bộ khả quan. Bộ máy nhà nước Việt Nam vẫn như con tàu rệu rã đắp vá chỗ này lại gặp phải thủng vỡ chỗ khác nghiêm trọng hơn, vẫn lững lờ chìm nổi giữa giòng xoáy “luẩn quẩn” khủng hoảng, suy thoái không lối thoát.
Có thể những chuyên gia tài năng, hàng đầu của quốc tế “cố vấn” không hiệu quả trong hệ thống tổ chức chính trị ViệtNam, là bởi họ chưa hiểu được, chưa hiểu hết bản chất không trong sáng, thiếu thiện chí đổi mới, thậm chí đổi mới chỉ là chiêu trò giả vờ, mang tính đối phó để nhận được viện trợ, đầu tư nước ngoài của đảng cộng sản - đảng cầm quyền lãnh đạo toàn diện kinh tế, xã hội và các chuyên gia quốc tế với đầu óc quen nếp suy nghĩ trung thực, ngây thơ trong xã hội trong sáng, minh bạch đã chết ngộp với các bản báo cáo láo của các quan chức vừa gian, vừa bất tài của đảng cộng sản thì làm gì họ có được những lời cố vấn, những bản văn nghiên cứu chính xác để hoạch định những kế hoạch hữu hiệucho cải cách, đổi mới kinh tế - xã hội Việt Nam?
Hẳn ai cũng thấy trong những năm đầu đổi mới đã thu hút đầu tư lẫn viện trợ nước ngoài ồ ạt đổ vào Việt Nam giúp nâng cao mức sống tạo niềm tin, niềm hy vọng không nhỏ trong lòng người dân Việt Nam nhưng rồi sau một thời gian hứng khởi của đổi mới thì trong lòng kinh tế - xã hội, xã hội chủ nghĩa phát sinh các liên minh ma quỷ chằng chịt, chồngchéo lên nhau như: quan tham cấu kết với nhóm lợi ích; nhóm lợi ích hợp tác với băng đảng xã hội đen; băng đảng xãhội đen bắt tay với tham quan. Và chuỗi tam giác “tham quan – nhóm lợi ích – xã hội đen” như vòng tròn khép kín dựadẫm vào nhau cùng tồn tại, cùng ra tay tàn phá đất nước, cùng gây tội ác kinh hoàng hơn những gì đổi mới đem lại cho mặt bằng chung của đời sống người dân, cho đất nước tiến lên hùng cường, thịnh vượng.
Đã hơn hai mươi năm được gọi là đổi mới, bộ mặt vật chất bề nổi của đất nước Việt Nam có sáng sủa hơn như đường xá cầu cống, nhà ở sang trọng, chung cư cao tầng, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí phục vụ du lịch “hoành tráng”, đằng sau nó là những thân phận của không ít con người Việt Nam sống vô gia cư, chết vô địa táng…và các khu công nghiệp, vùng nông nghiệp nhà máy, công trường thi nhau mọc tràn lan vô tổ chức của những kẻ chân mang dép lốp, tóc còn bốc phèn, mộng mơ bay vào vũ trụ! Song song với lớp son chưng diện bề ngoài của nền kinh tế phát triển trên hoang mạc cát không thực chất, là những món nợ nước ngoài không hề nhỏ và chính sách phát triển kinh tế, xã hội thiếu chiều sâu, chỉ nhờ vào các khoản viện trợ không hoàn lại lẫn vốn vay ưu đãi có thời hạn cùng với những mục tiêu, chương trình phát triển được Liên Hiệp Quốc hổ trợ.
Có lẽ không ít người biết viện trợ, hổ trợ của nước ngoài, kể cả của người Việt hải ngoại gởi về giúp thân nhân hơn hai mươi năm qua không hề nhỏ nhưng không có thống kê công bố chính thức của nhà nước cộng sản nên tạm sử dụng nguồn tính toán không chính thức của một chuyên gia ẩn danh ước chừng như sau:
- ODA không hoàn lại: 6,67 tỷ đô la Mỹ.
- Vay ODA ưu đãi: 30,83 tỷ đô la Mỹ.
- Các khoản vay ưu đãi từ nước ngoài: 21,27 tỷ đô la Mỹ.
- Các khoản vay được chính phủ bảo lãnh: 14 tỷ đô la Mỹ.
- Trái phiếu địa phương: 0,7 tỷ đô la Mỹ.
- Tổng dư nợ của doanh nghiệp nhà nước: 62 tỷ đô la Mỹ.
- Tổng đầu tư nước ngoài FDI: 222 tỷ đô la Mỹ.
- Đầu tư gián tiếp của nước ngoài: khoảng 30 tỷ đô la Mỹ.
- Người Việt hải ngoại: trên dưới 200 tỷ đô la Mỹ.
Tất cả trợ giúp gián tiếp hay trực tiếp đều có nguồn gốc từ việc ký kết các công ước quốc tế, hứa hẹn tuân thủ về nhân quyền, về thương mãi minh bạch công bằng, về bảo vệ môi sinh môi trường, về phục vụ mục tiêu hòa bình, về lợi ích chung của cộng đồng nhân loại…Thế nhưng sau hơn hai mươi năm đổi mới, với nguồn vốn khổng lồ, với sự giúp đỡ nhiệt tình của các nước dân chủ tiến bộ, giàu mạnh tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hội nhập vào đời sống chính trị văn minh nhưng nhà nước cộng sản Việt Nam không những không tiến bộ mà còn thực hiện những bước lùi đáng lo ngại, đáng thất vọng, là củng cố độc tài, gia tăng đàn áp, phát triển tội ác và quyền con người cơ bản không được cải thiện trong thực tế đời sống, ngày càng đi xuống cuối bảng danh sách hạng mục kém “chất lượng sống” của thế giới.
Thời gian hơn hai mươi năm đủ dài cho thực hiện đổi mới, giờ nhìn lại kết quả đổi mới hay nói cách khác là tổng kết thực trạng đổi mới phơi ra trần trụi những bước lùi đáng sợ như: chính trị đầy dẫy bạo lực khủng bố; kinh tế hiển hiện dấu hiệu chết lâm sàng; văn hóa nằm dưới vùng trũng vô hồn mất dần bản sắc; xã hội băng hoại bất công tràn lan đáng kinh sợ…Tất cả đã đủ cơ sở để kết luận rằng, đảng cộng sản Việt Nam không thực tâm đổi mới cũng như không có khả năng tự đổi mới mà phải cần có lực đẩy tác động mạnh từ bên ngoài mới có thể tạo được chuyển đổi tích cực để đổi mới tốt đẹp hơn cho Việt Nam.
Hơn hai mươi năm, thiện chí của các chuyên gia quốc tế, các tổ chức lợi nhuận phi lợi nhuận, các tổ chức chính phủ phi chính phủ dần dần nhận ra bản chất đổi mới với nhiều cam kết quốc tế của đảng cộng sản Việt nam chỉ là “hứa hẹn”, là lừa đảo khiến nhiệt tình hợp tác, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Việt Nam xây dựng, phát triển đổi mới phai nhạt, không còn hăm hở như lúc ban đầu, dù trong thực tế vẫn còn một số không nhiều cá nhân, tổ chức, chính phủ ngoài Việt nam bám vào mục tiêu hô hào “đổi” nhưng không tạo ra điều gì “mới” có thực chất trên mọi phương diện tổ chức đổi mới để làm bệ phóng cho bước chuyển đổi từ độc tài sang dân chủ của đảng cộng sản Việt Nam. Qua đó, không loại trừ khả năng, các cá nhân, tổ chức có yếu tố nước ngoài đến thời điểm này vẫn còn ủng hộ, đi theo phục vụ đổi mới giả tạo của chế độ độc tài cộng sản, không có lý do nào khác là vì quyền, lợi ích cá nhân, tổ chức lẫn tổ quốc của họ, cũng là hợp lẽ tự nhiên không có gì đáng chê trách?
Điều quan trọng khác cũng cần nên hiểu là chính trị dân chủ phải đi đôi với kinh tế tự do, thị trường tự do và kinh tế thị trường là vùng tự do cạnh tranh, là nơi thi thố tài năng, là chỗ thể hiện năng lực lành mạnh của cá nhân tập thể, của địa phương vùng miền, của quốc gia quốc tế...Tâm lý chung của mọi người thường theo thứ tự ưu tiên là ai cũng nghĩ đến mình, gia đình mình, làng xóm mình, quốc gia mình rồi mới đến thế giới, đến vũ trụ bao la.
Do đó, những người nước ngoài, những quốc gia văn minh sống trong cộng đồng nhân loại có thiện tâm muốn giúp Việt Nam thay đổi tốt đẹp hơn nhưng những “yếu tố nước ngoài” không ai sống chết với đổi mới Việt Nam và thiện chí cùng với lòng thương người có mức giới hạn của nó nên người ta cũng không ngần ngại buông tay, bỏ mặc những kẻ ngoan cố ngu dốt, cứ tự cho mình là khôn ngoan và với lối sống, nếp nghĩ khoa học, thực dụng trong nền kinh tế thị trường, người ta cũng không ngần ngại sử dụng ngôn ngữ cầu an cầu tài, nghi thức ngoại giao để chôn đối thủ cạnh tranh tiềm năng trong hoang mộ ảo tưởng chủ nghĩa, để “đối thủ” tự sướng ra miệng “...mình như thế nào ngưòi ta mới mời mình chứ...vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng đuợc nâng cao...” để khuyến khích “đối thủ” ngây thơ bám giữ độc tài như lời nói dối ngọt ngào đẩy đối thủ cạnh tranh vào tử địa.
Cũng nên hiểu thêm rằng tự do, dân chủ, nhân quyền là giá trị chung của nhân loại và thể chế chính trị dân chủ qua thực tế tổ chức cai trị được chứng minh là công cụ hữu hiệu, là nền tảng xây dựng, phát triển có khả năng mang đến dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh trong thời hiện tại. Cũng như theo cách lý giải về hiểu biết, về yêu thương của bản thể lẫn khách thể ở phần mở đầu của bài viết này, thì không có người nước ngoài hay tư tưởng ngoại lai nào hiểu rõ thủ đoạn xảo quyệt của cộng sản Việt Nam hơn người Việt nam và không có yếu tố nước ngoài hay kẻ lai căng nào thánh thiện, cao cả đến mức hy sinh thân mình cho dân tộc, đất nước Việt Nam. Thực tế cuộc sống cho thấy, chỉ có người Việt Nam mới hiểu rõ bản chất lưu manh lẫn gian manh của đảng cộng sản Việt Nam, chỉ có người Việt Nam mới giải thoát được kiếp nạn cộng sản và chỉ có người Việt Nam mang hồn Việt Nam mới sẵn sàng chiến đấu “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” vì giá trị chung tự do, dân chủ, nhân quyền của nhân loại cũng chính là tương lai, là niềm hy vọng vươn lên của đất nước, dân tộc Việt Nam.
Le Nguyen
danlambaovn.blogspot.com
Những phản biện đầy sức nặng
Bùi Tín
(Nguồn: VOA) Quốc Hội trong nước đang bàn thảo để thông qua bản Hiến Pháp 2013, tuân theo nghị quyết của cuộc họp thứ 8 khóa XI của Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CS.
Ðể giúp cho gần 500 đại biểu hiểu rõ hơn việc hệ trọng này, trước khi mỗi người bấm máy bỏ phiếu tán thành hay phản đối bản dự thảo đã được đảng hoàn thiện và thông qua trước, xin giới thiệu dưới đây một vài ý kiến được coi là nặng ký nhất của một số đảng viên lão thành có uy tín và trình độ từng có vị trí cao trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước.

Quốc Hội Việt Nam nhóm họp hôm 21 Tháng Mười. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Trước hết là ý kiến của ông Nguyễn Văn An, từng là ủy viên Bộ Chính Trị, từng giữ 2 khóa trọng trách chủ tịch Quốc Hội.
Theo Tuần tin tức ngày 20 tháng 9, 2013, ông Nguyễn Văn An phát biểu: “Nhất thiết phải đưa Hiến Pháp ra cho toàn dân phúc quyết, vì Quốc Hội chưa từng được ai giao cho trọng trách thảo hiến pháp, và Hiến Pháp đầu tiên năm 1946 đã ghi rõ hiến pháp phải được đưa ra toàn dân phúc quyết.” Ông khẳng định nếu không làm vậy thì chế độ hiện nay là chế độ “đảng trị,” nhân dân không thể chấp nhận. Ông cho rằng “hiện nay đất nước đã thống nhất, có hòa bình, không có gì trở ngại để thực hiện một cuộc toàn dân phúc quyết bản Hiến Pháp mới và thực hiện một cuộc trưng cầu dân ý, thực hiện nguyên tắc của Hiến Pháp là quyền lực của đất nước thuộc về toàn dân. Theo báo Pháp Luật từ ngày 20 tháng 5 năm 2010, ông Nguyễn Văn An cũng đã phát biểu rằng “chế độ hiện nay trên thực tế là chế độ làm vua tập thể, tập thể bộ chính trị nắm trọn quyền cai trị đất nước.”
Ông Trần Phương, hiện là giáo sư chính trị-kinh tế học, hiệu trưởng trường đại học dân lập Quản lý Kinh doanh Hà Nội, từng là phó thủ tướng, là ủy viên Trung Ương đảng CS. Theo blog của Huỳnh Ngọc Chênh ngày 18 tháng 10 năm 2013, ông Trần Phương công khai góp ý vào các văn kiện dự thảo của đại hội XI rằng “chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm cả về lý luận và thực tiễn, là nguy hại, phải dứt khoát từ bỏ khỏi các văn kiện của đảng và nhà nước.” Ông còn nói rõ thêm rằng “ghi chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội trong Hiến Pháp không những là sai lầm mà còn là lừa dối, là bịp bợm, khi cả thế giới đã từ bỏ, chôn vùi những học thuyết sai lầm này rồi.” Xin nhớ Giáo Sư Trần Phương hiện là một giáo sư có uy tín với tuổi trẻ, sinh viên trong nước, 3 khóa là đại biểu Quốc Hội, là một tri thức nổi tiếng về tư duy độc lập.
Nhân vật thứ ba cần nhắc đến là ông Ðặng Quốc Bảo, nổi tiếng về tư duy độc lập, từng là trung tướng quân đội nhân dân, là hiệu trưởng trường kỹ thuật quân sự, là bí thứ thứ nhất Ðoàn Thanh Niên CS, là trưởng ban Khoa Giáo Trung Ương Ðảng. Theo blog của Lê Anh Hùng ngày 16 tháng 10 năm 2013, ông Ðặng Quốc Bảo đã công khai phát biểu rằng: “Việt Nam ta cần ngăn chặn nguy cơ lớn nhất là tai họa bị bành trướng từ phương Bắc, ta không khiêu khích Trung Quốc, nhưng cần kết thân với các nước Ðông Nam Á, thậm chí coi Ðông Nam Á là tổ quốc thứ hai của ta, ta cần kết liên minh mọi mặt với Ấn Ðộ, Nhật Bản và cả Hoa Kỳ nữa, vì các nước ấy không có ý đồ gì nguy hiểm đối với ta.” Ông Ðặng Quốc Bảo là một diễn giả rất được thanh niên hâm mộ, có “ma lực” thu hút tuổi trẻ, nói rõ thêm rằng: “Tôi bị bệnh hiểm nghèo, không còn sống được lâu, phải nói lên sự thật, đảng CS cần từ bỏ chế độ toàn trị, thi đua cạnh tranh với các tổ chức chính trị khác của nhân dân, trả cho nhân dân các quyền tự do dân chủ.”
Thúc ép bằng được Quốc Hội thông qua bản dự thảo mang tên Hiến Pháp 2013, quả thật Bộ Chính Trị cố tình thủ tiêu quyền tham gia việc nước của toàn dân, thủ tiêu ngay bằng hành xử của mình điều cốt lõi lớn nhất trong hiến pháp là quyền lực của đất nước thuộc về nhân dân. Thái độ này diễn ra, đúng vào lúc bất lợi cho đảng toàn trị nhất, khi Diễn đàn Xã hội Dân sự được khai trương, khi sức ép của quốc tế về thực thi nhân quyền đang tăng, khi các chiến sĩ dân chủ tay không vũ khí tỏ rõ ý chí hiên ngang của những dũng sỹ ra trận, trình diện hàng ngũ đông đảo tự tin, gắn bó, bất khuất trước cường quyền phi lý.
Nếu có ai hỏi: điều gì là nổi bật nhất trong xã hội ta vào thời điểm cuối năm này? Xin thưa ngay: đó là hàng ngũ nhân dân đi đầu là tuổi trẻ hiên ngang đứng dậy đấu tranh đòi quyền sống có tự do và nhân phẩm, đang tận dụng thời cơ để phát triển cả về số lượng và chất lượng, với gia tốc chưa từng có, nhân việc bàn về Hiến Pháp mới, đang dồn nhóm lãnh đạo chủ quan, mê muội, mù quáng vì tham nhũng vào tình thế cô lập, tiến lui đều khó.
Bùi Tín
(Nguồn: VOA) Quốc Hội trong nước đang bàn thảo để thông qua bản Hiến Pháp 2013, tuân theo nghị quyết của cuộc họp thứ 8 khóa XI của Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CS.
Ðể giúp cho gần 500 đại biểu hiểu rõ hơn việc hệ trọng này, trước khi mỗi người bấm máy bỏ phiếu tán thành hay phản đối bản dự thảo đã được đảng hoàn thiện và thông qua trước, xin giới thiệu dưới đây một vài ý kiến được coi là nặng ký nhất của một số đảng viên lão thành có uy tín và trình độ từng có vị trí cao trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước.

Quốc Hội Việt Nam nhóm họp hôm 21 Tháng Mười. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Trước hết là ý kiến của ông Nguyễn Văn An, từng là ủy viên Bộ Chính Trị, từng giữ 2 khóa trọng trách chủ tịch Quốc Hội.
Theo Tuần tin tức ngày 20 tháng 9, 2013, ông Nguyễn Văn An phát biểu: “Nhất thiết phải đưa Hiến Pháp ra cho toàn dân phúc quyết, vì Quốc Hội chưa từng được ai giao cho trọng trách thảo hiến pháp, và Hiến Pháp đầu tiên năm 1946 đã ghi rõ hiến pháp phải được đưa ra toàn dân phúc quyết.” Ông khẳng định nếu không làm vậy thì chế độ hiện nay là chế độ “đảng trị,” nhân dân không thể chấp nhận. Ông cho rằng “hiện nay đất nước đã thống nhất, có hòa bình, không có gì trở ngại để thực hiện một cuộc toàn dân phúc quyết bản Hiến Pháp mới và thực hiện một cuộc trưng cầu dân ý, thực hiện nguyên tắc của Hiến Pháp là quyền lực của đất nước thuộc về toàn dân. Theo báo Pháp Luật từ ngày 20 tháng 5 năm 2010, ông Nguyễn Văn An cũng đã phát biểu rằng “chế độ hiện nay trên thực tế là chế độ làm vua tập thể, tập thể bộ chính trị nắm trọn quyền cai trị đất nước.”
Ông Trần Phương, hiện là giáo sư chính trị-kinh tế học, hiệu trưởng trường đại học dân lập Quản lý Kinh doanh Hà Nội, từng là phó thủ tướng, là ủy viên Trung Ương đảng CS. Theo blog của Huỳnh Ngọc Chênh ngày 18 tháng 10 năm 2013, ông Trần Phương công khai góp ý vào các văn kiện dự thảo của đại hội XI rằng “chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm cả về lý luận và thực tiễn, là nguy hại, phải dứt khoát từ bỏ khỏi các văn kiện của đảng và nhà nước.” Ông còn nói rõ thêm rằng “ghi chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội trong Hiến Pháp không những là sai lầm mà còn là lừa dối, là bịp bợm, khi cả thế giới đã từ bỏ, chôn vùi những học thuyết sai lầm này rồi.” Xin nhớ Giáo Sư Trần Phương hiện là một giáo sư có uy tín với tuổi trẻ, sinh viên trong nước, 3 khóa là đại biểu Quốc Hội, là một tri thức nổi tiếng về tư duy độc lập.
Nhân vật thứ ba cần nhắc đến là ông Ðặng Quốc Bảo, nổi tiếng về tư duy độc lập, từng là trung tướng quân đội nhân dân, là hiệu trưởng trường kỹ thuật quân sự, là bí thứ thứ nhất Ðoàn Thanh Niên CS, là trưởng ban Khoa Giáo Trung Ương Ðảng. Theo blog của Lê Anh Hùng ngày 16 tháng 10 năm 2013, ông Ðặng Quốc Bảo đã công khai phát biểu rằng: “Việt Nam ta cần ngăn chặn nguy cơ lớn nhất là tai họa bị bành trướng từ phương Bắc, ta không khiêu khích Trung Quốc, nhưng cần kết thân với các nước Ðông Nam Á, thậm chí coi Ðông Nam Á là tổ quốc thứ hai của ta, ta cần kết liên minh mọi mặt với Ấn Ðộ, Nhật Bản và cả Hoa Kỳ nữa, vì các nước ấy không có ý đồ gì nguy hiểm đối với ta.” Ông Ðặng Quốc Bảo là một diễn giả rất được thanh niên hâm mộ, có “ma lực” thu hút tuổi trẻ, nói rõ thêm rằng: “Tôi bị bệnh hiểm nghèo, không còn sống được lâu, phải nói lên sự thật, đảng CS cần từ bỏ chế độ toàn trị, thi đua cạnh tranh với các tổ chức chính trị khác của nhân dân, trả cho nhân dân các quyền tự do dân chủ.”
Thúc ép bằng được Quốc Hội thông qua bản dự thảo mang tên Hiến Pháp 2013, quả thật Bộ Chính Trị cố tình thủ tiêu quyền tham gia việc nước của toàn dân, thủ tiêu ngay bằng hành xử của mình điều cốt lõi lớn nhất trong hiến pháp là quyền lực của đất nước thuộc về nhân dân. Thái độ này diễn ra, đúng vào lúc bất lợi cho đảng toàn trị nhất, khi Diễn đàn Xã hội Dân sự được khai trương, khi sức ép của quốc tế về thực thi nhân quyền đang tăng, khi các chiến sĩ dân chủ tay không vũ khí tỏ rõ ý chí hiên ngang của những dũng sỹ ra trận, trình diện hàng ngũ đông đảo tự tin, gắn bó, bất khuất trước cường quyền phi lý.
Nếu có ai hỏi: điều gì là nổi bật nhất trong xã hội ta vào thời điểm cuối năm này? Xin thưa ngay: đó là hàng ngũ nhân dân đi đầu là tuổi trẻ hiên ngang đứng dậy đấu tranh đòi quyền sống có tự do và nhân phẩm, đang tận dụng thời cơ để phát triển cả về số lượng và chất lượng, với gia tốc chưa từng có, nhân việc bàn về Hiến Pháp mới, đang dồn nhóm lãnh đạo chủ quan, mê muội, mù quáng vì tham nhũng vào tình thế cô lập, tiến lui đều khó.
Lời dặn nhau
Sunday, November 10, 2013 2:40:22 PM
Nguyễn Lân Thắng
(Nguồn: RFA)
Trở về nhà trên xe của bộ Công an sau 18 tiếng “làm việc” cùng cơ quan an ninh, tôi đã có một cuộc tranh luận nho nhỏ ngoài biên bản
với các chiến sỹ an ninh về tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, chuyện trao Tuyên bố 258...
Chuyện thì cũng vui vui thôi, nhưng đến cuối cùng chị T cục A67* nhắc nhẹ: “...Anh lưu ý, nói là một chuyện, làm là một chuyện khác nhé...”
Blogger Nguyễn Lân Thắng. (Hình: Facebook)
Lời dặn dò cuối cùng cứ văng vẳng trong đầu làm tôi suy nghĩ mãi, không biết lời dặn này có phải là có ý cho phép tôi cứ nói đi, còn làm nên dè chừng...??! Có một câu chuyện vui thế này: “Cả thế giới đều phải kiêng nể người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm. Nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm rồi mới nói. Người Nhật lại sợ Trung Quốc vì Trung Quốc không nói mà làm. Nhưng rồi tất cả chúng nó sợ ai??? Xin thưa, sợ nhất Việt Nam vì Việt Nam nói một đằng làm một nẻo...”
Nói đùa thì là như vậy, nhưng nói thật, tôi vẫn nhớ như in khẩu hiệu “Người cày có ruộng” năm xưa và hình ảnh đám lính mờ mờ cầm khiên đi cưỡng chế đất trên cánh đồng Văn Giang năm 2012. Tôi không thể quên lời hát “có sách mới áo hoa đây là nhờ ơn...” và hình ảnh đám trẻ con dân oan nheo nhóc ngoài vườn hoa hôm nay. Hôm trước thì trên Facebook có bạn nào đó nhắc lại chuyện năm 2010, một vị “tứ trụ” khẳng định tập đoàn Vinashin năm 2013 sẽ có lãi. Cách đây mươi ngày, tập đoàn này lặng lẽ quay về mô hình tổng công ty, và nợ thì chưa biết sẽ thế nào!
Tôi bối rối lắm, trả lời phỏng vấn mấy đài quốc tế rõ ràng rồi mà nhiều bạn bè Facebook cứ trách móc, sao ông chẳng lên tiếng gì nữa, hay là ông đã có thỏa thuận gì chăng? Hình như họ muốn tôi phải hô to lên để tố cáo chế độ, hét to lên để buộc tội chính quyền cầm tù tôi 18 tiếng đồng hồ. Chuyện của tôi nhỏ lắm, đâu đáng nói bằng bao nhiêu việc oan trái trên đất nước này.
Dù thế nào thì một điều rõ ràng là họ đã sợ. Họ sợ cả những điều tôi và bạn bè đã nói và những việc chúng tôi đã làm. Họ rất quan tâm xem tôi gặp ai, ở đâu, làm gì. Họ có thể tạm chấp nhận thả cho tôi tự do một thời gian vì sức ép của truyền thông quốc tế và hoàn toàn có thể bắt tôi trở lại bất cứ lúc nào mà họ muốn bằng những bản án nặng nề. Vâng, tôi biết. Tôi biết quá rõ những bản án trước đây cho những con người, chỉ vì muốn nói, muốn hát, hay muốn gửi gắm khát vọng vào thơ ca mà phải trả giá bằng cả cuộc đời trong tù ngục. Tôi biết quá rõ những điều tôi nói, những việc tôi làm mà chỉ bị câu lưu thế này là một sự “nhân nhượng” không hề nhẹ. Cảm ơn các anh chị đã lắng nghe và ghi chép tỉ mỉ từng lời nói của tôi, ít ra ta đã được nói với nhau một lần sòng phẳng. Nhưng có lẽ các anh chị vẫn tiếc là bằng ngần ấy thời gian, nhưng chẳng thể thuyết phục gì ở tôi, và tôi thì cũng tiếc, tiếc là tôi nói còn kém quá, chắc là anh chị cũng chẳng thay đổi được chút gì. Tôi biết công việc của các anh chị vất vả vô cùng, phải có một tình yêu và niềm tin mãnh liệt thế nào thì các anh chị mới ngày đêm làm việc như thế được. Nhưng xin các anh chị hãy hiểu, những gì tôi nói, những việc tôi đã làm cũng chỉ vì có những kẻ đáng ra phải làm được những gì như đã nói, đáng ra phải biết xấu hổ trước nhân dân... họ đã tự tước bỏ niềm tin từ tôi và bao nhiêu người khác nữa mất rồi.
Là những người có trọng trách trong ngành an ninh, chắc hẳn các anh chị được đào tạo bài bản và biết rất rõ về Karl Marx. Mộ của Karl Marx nằm trong nghĩa trang Highgate tại London vì ông đã sống lưu vong và qua đời tại đây. Ðó là một nghĩa trang rất thanh bình với những kiến trúc Gothic tuyệt đẹp thời Victoria. Là cha đẻ của chủ nghĩa xã hội, trên bia mộ của ông có khắc một dòng chữ rất nổi tiếng: Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!** Nhưng ít người để ý bên dưới tấm bia này còn khắc một dòng chữ khác: Nhà triết học chỉ cố gắng kiến giải thế giới theo nhiều cách khác nhau, nhưng điều quan trọng là phải cải tạo nó.***
Tôi thì không có tham vọng cải tạo thế giới. Tôi chỉ muốn làm gì đó để người nông dân mình không còn bị mất đất, trẻ em chúng ta không bị tiêm chủng nhầm thuốc co giãn tử cung và ngư dân ra biển của mình đánh cá mà không phải lạy thằng Tàu... Tôi không đánh giá cao kết quả thực tiễn những lý thuyết của ông Marx, nhưng tôi sẽ nghe ông ấy về chuyện là phải hành động. Chỉ nói không thôi chưa đủ giải quyết vấn đề.
Tôi là người vô thần, tôi tôn trọng niềm tin hay tín ngưỡng của người khác. Nhưng nếu bắt tôi phải tin vào những điều mà tôi không phục, bắt tôi phải yêu những điều mà tôi ghét thì không bao giờ các anh chị nhé!
Chú thích:
* A67: Cục Bảo vệ chính trị VI (Chống khủng bố, phản động trong nước).
** Workers of all lands, unite.
*** The philosopher have only interpreted the world in the various ways. The point however is to change it.
Sunday, November 10, 2013 2:40:22 PM
Nguyễn Lân Thắng
(Nguồn: RFA)
Trở về nhà trên xe của bộ Công an sau 18 tiếng “làm việc” cùng cơ quan an ninh, tôi đã có một cuộc tranh luận nho nhỏ ngoài biên bản
với các chiến sỹ an ninh về tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, chuyện trao Tuyên bố 258...
Chuyện thì cũng vui vui thôi, nhưng đến cuối cùng chị T cục A67* nhắc nhẹ: “...Anh lưu ý, nói là một chuyện, làm là một chuyện khác nhé...”
Blogger Nguyễn Lân Thắng. (Hình: Facebook)
Lời dặn dò cuối cùng cứ văng vẳng trong đầu làm tôi suy nghĩ mãi, không biết lời dặn này có phải là có ý cho phép tôi cứ nói đi, còn làm nên dè chừng...??! Có một câu chuyện vui thế này: “Cả thế giới đều phải kiêng nể người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm. Nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm rồi mới nói. Người Nhật lại sợ Trung Quốc vì Trung Quốc không nói mà làm. Nhưng rồi tất cả chúng nó sợ ai??? Xin thưa, sợ nhất Việt Nam vì Việt Nam nói một đằng làm một nẻo...”
Nói đùa thì là như vậy, nhưng nói thật, tôi vẫn nhớ như in khẩu hiệu “Người cày có ruộng” năm xưa và hình ảnh đám lính mờ mờ cầm khiên đi cưỡng chế đất trên cánh đồng Văn Giang năm 2012. Tôi không thể quên lời hát “có sách mới áo hoa đây là nhờ ơn...” và hình ảnh đám trẻ con dân oan nheo nhóc ngoài vườn hoa hôm nay. Hôm trước thì trên Facebook có bạn nào đó nhắc lại chuyện năm 2010, một vị “tứ trụ” khẳng định tập đoàn Vinashin năm 2013 sẽ có lãi. Cách đây mươi ngày, tập đoàn này lặng lẽ quay về mô hình tổng công ty, và nợ thì chưa biết sẽ thế nào!
Tôi bối rối lắm, trả lời phỏng vấn mấy đài quốc tế rõ ràng rồi mà nhiều bạn bè Facebook cứ trách móc, sao ông chẳng lên tiếng gì nữa, hay là ông đã có thỏa thuận gì chăng? Hình như họ muốn tôi phải hô to lên để tố cáo chế độ, hét to lên để buộc tội chính quyền cầm tù tôi 18 tiếng đồng hồ. Chuyện của tôi nhỏ lắm, đâu đáng nói bằng bao nhiêu việc oan trái trên đất nước này.
Dù thế nào thì một điều rõ ràng là họ đã sợ. Họ sợ cả những điều tôi và bạn bè đã nói và những việc chúng tôi đã làm. Họ rất quan tâm xem tôi gặp ai, ở đâu, làm gì. Họ có thể tạm chấp nhận thả cho tôi tự do một thời gian vì sức ép của truyền thông quốc tế và hoàn toàn có thể bắt tôi trở lại bất cứ lúc nào mà họ muốn bằng những bản án nặng nề. Vâng, tôi biết. Tôi biết quá rõ những bản án trước đây cho những con người, chỉ vì muốn nói, muốn hát, hay muốn gửi gắm khát vọng vào thơ ca mà phải trả giá bằng cả cuộc đời trong tù ngục. Tôi biết quá rõ những điều tôi nói, những việc tôi làm mà chỉ bị câu lưu thế này là một sự “nhân nhượng” không hề nhẹ. Cảm ơn các anh chị đã lắng nghe và ghi chép tỉ mỉ từng lời nói của tôi, ít ra ta đã được nói với nhau một lần sòng phẳng. Nhưng có lẽ các anh chị vẫn tiếc là bằng ngần ấy thời gian, nhưng chẳng thể thuyết phục gì ở tôi, và tôi thì cũng tiếc, tiếc là tôi nói còn kém quá, chắc là anh chị cũng chẳng thay đổi được chút gì. Tôi biết công việc của các anh chị vất vả vô cùng, phải có một tình yêu và niềm tin mãnh liệt thế nào thì các anh chị mới ngày đêm làm việc như thế được. Nhưng xin các anh chị hãy hiểu, những gì tôi nói, những việc tôi đã làm cũng chỉ vì có những kẻ đáng ra phải làm được những gì như đã nói, đáng ra phải biết xấu hổ trước nhân dân... họ đã tự tước bỏ niềm tin từ tôi và bao nhiêu người khác nữa mất rồi.
Là những người có trọng trách trong ngành an ninh, chắc hẳn các anh chị được đào tạo bài bản và biết rất rõ về Karl Marx. Mộ của Karl Marx nằm trong nghĩa trang Highgate tại London vì ông đã sống lưu vong và qua đời tại đây. Ðó là một nghĩa trang rất thanh bình với những kiến trúc Gothic tuyệt đẹp thời Victoria. Là cha đẻ của chủ nghĩa xã hội, trên bia mộ của ông có khắc một dòng chữ rất nổi tiếng: Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!** Nhưng ít người để ý bên dưới tấm bia này còn khắc một dòng chữ khác: Nhà triết học chỉ cố gắng kiến giải thế giới theo nhiều cách khác nhau, nhưng điều quan trọng là phải cải tạo nó.***
Tôi thì không có tham vọng cải tạo thế giới. Tôi chỉ muốn làm gì đó để người nông dân mình không còn bị mất đất, trẻ em chúng ta không bị tiêm chủng nhầm thuốc co giãn tử cung và ngư dân ra biển của mình đánh cá mà không phải lạy thằng Tàu... Tôi không đánh giá cao kết quả thực tiễn những lý thuyết của ông Marx, nhưng tôi sẽ nghe ông ấy về chuyện là phải hành động. Chỉ nói không thôi chưa đủ giải quyết vấn đề.
Tôi là người vô thần, tôi tôn trọng niềm tin hay tín ngưỡng của người khác. Nhưng nếu bắt tôi phải tin vào những điều mà tôi không phục, bắt tôi phải yêu những điều mà tôi ghét thì không bao giờ các anh chị nhé!
Chú thích:
* A67: Cục Bảo vệ chính trị VI (Chống khủng bố, phản động trong nước).
** Workers of all lands, unite.
*** The philosopher have only interpreted the world in the various ways. The point however is to change it.
Nhà nước bỏ trống
Ngô Nhân Dụng
Tuần trước có một một blogger dân Hà Nội bị nhà công an bắt giữ ở phi trường Nội Bài, sau một chuyến đi ra ngoại quốc dài mấy tháng, được coi là để vận động cho dân quyền. Anh Nguyễn Lân Thắng cho biết đã đem bản Tuyên Bố 258 của các mạng lưới, blogger Việt Nam đưa cho nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới. Bản Tuyên bố 258 tố cáo điều số 258 trong Luật Hình Sự, một điều luật vẫn được dùng để ngăn cấm quyền tự do ngôn luận của dân Việt.
Anh Thắng đã thu sẵn lời tuyên bố “Tôi bị bắt” gửi cho một người bạn; với lời dặn dò nếu anh bị bắt giữ thì đem công bố. Người bạn làm đúng lời, cho nên trong lúc anh đang bị công an giữ thì hình ảnh của anh vẫn xuất hiện trên facebook, nói rằng: “Khi các bạn xem video này, thì chắc chắn tôi đã bị an ninh bắt giữ...” Kỹ thuật thông tin hiện đại khiến câu chuyện một người bị bắt ở Hà Nội thì trong mấy phút cả thế giới được nghe tin! Mà tin tức lại do chính nạn nhân loan báo, hiệu quả càng mạnh hơn.
Câu chuyện rất đáng nhớ trong vụ bắt anh Nguyễn Lân Thắng một ngày rồi lại thả, là cảnh các bạn bè và gia đình anh đến đón anh ở sân bay (ngày 30 tháng 10 năm 2013). Họ đã giúp anh loan báo cho cả thế giới biết tin chính anh anh bị bắt. Sau đó, ông Nguyễn Tường Thụy, một người bạn của anh Thắng, là một trong những người thân đến Nội Bài đón anh, kể lại thái độ và hành động của đám công an ở phi trường như thế nào. Theo ông Thụy kể, các bạn bè và vợ anh Thắng chờ mãi không thấy anh đi ra, đã “tìm cách vào được phòng hướng dẫn thủ tục xuất nhập cảnh ở sân bay Nội Bài” để trực tiếp hỏi họ rằng “An ninh sân bay có giữ anh Thắng hay không?” Họ cũng muốn biết anh bị bắt vì lý do nào, và bao giờ hy vọng được thả.
Phản ứng của các nhân viên an ninh rất nhậy bén. Họ trả lời ngay, bảo nhóm của ông Thụy ra ngoài chờ mươi phút, họ sẽ tìm thêm tin tức rồi sẽ trả lời. Sau khi các công dân ngoan ngoãn ra ngoài chờ, mười phút, hai mươi phút, họ sốt ruột đi vào phòng xuất nhập cảnh. Lúc đó họ mới khám phá ra: Văn phòng bỏ trống. Không có nhân viên nào để trả lời các thắc mắc; vì không có ai ở đó cả. Nguyễn Tường Thụy, một người ký tên trong Tuyên Bố 258, thuật lại chuyện trên với lời chú thích: Cảnh trốn mặt của các quan chức nhà nước vẫn thường xuyên xảy ra. Mỗi lần các cơ quan bị dân đến chất vấn, họ không biết làm sao trả lời, bèn trốn biệt! Họ để mặc cho khách vào, “làm chủ cái văn phòng làm việc của họ!”
Bây giờ người ta mới hiểu ý nghĩa sâu xa của cái khẩu hiệu “Nhân dân làm chủ!” Nó nghĩa là có lúc nhà nước vắng mặt, hoàn toàn vắng mặt; mời nhân dân vào các gian phòng bỏ trống, cứ tự nhiên như người Hà Nội! Ai có thắc mắc gì cứ việc hỏi và trả lời lẫn cho nhau nghe!
Cảm ơn ông Nguyễn Tường Thụy cho biết hiện tượng “nhà nước bỏ trống” trên đây. Biết một câu chuyện lý thú như vậy, tuần trước tôi đem kể ngay cho một người bạn mới từ Huế qua chơi nước Mỹ. Tôi đoán chị nghe cảnh “nhà nước bỏ trống” sẽ “ấn tượng” lắm! Không ngờ, nghe xong chị còn cười lớn, nói thêm: “Ðó là chuyện bình thường!” Chị giải thích, đó không phải chuyện hàng ngày ở huyện đâu. Nó lan tràn khắp nơi, lên cấp tỉnh, lên tới trung ương, lên cấp toàn quốc!
Nhà nước của nhân dân ta hiện nay đang hoàn toàn bỏ trống!
Cảnh nhà nước bỏ trống này thể hiện trong công việc hàng ngày, hàng tháng, hàng năm. Người bạn tôi nêu lên một số câu hỏi để gợi cho mọi người nhìn thấy rõ. Có ai biết việc phát triển công nghiệp hiện nay có gì mới hay không? Những biện pháp cải tổ kinh tế sắp tới là cái gì, có nghe nói không? Nhà nước sẽ làm gì để giảm bớt nạn thất nghiệp ở nông thôn, họ đã công bố chưa? Có ai biết hiện nay Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo nước ta có chương trình nào để cung cấp nhân lực theo nhu cầu phát triển kinh tế trong mười năm tới hay không? Có chương trình xã hội nào để giảm bớt chênh lệch về thu nhuận, bất công trong xã hội hay không? Với hàng trăm câu hỏi như vậy, càng hỏi càng thấy câu trả lời chung là: Không biết. Không rõ. Thấy có nói nhưng chưa rõ ràng. Ðể chờ coi các nghị quyết, chỉ thị xem có gì mới không! Nếu không, tức là vẫn như cũ! Ðồng chí Vũ Như Cẩn lúc nào cũng có mặt để tiếp chuyện nhân dân! Mà nhân dân cũng biết nếu mình có thắc mắc, có hỏi han điều gì thì cuối cùng cũng chỉ được gặp đồng chí Vũ Như Cẩn! Cho nên nhân dân cũng “buông xuôi” cho nó đỡ “rách việc.”
Trong tình trạng không ai biết mình phải làm cái gì mới, hành động tự nhiên của tất cả các cỗ xe là cứ chạy trên con đường cũ, theo tốc độ cũ, tới đâu hay đó. Người bạn tôi mô tả cảnh tượng guồng máy cai trị ở nước ta, từ trên xuống dưới, là “buông xuôi.” Không ai dám, mà cũng không ai muốn làm cái gì ngoài những thói quen hàng ngày vẫn làm. Cứ coi như chung quanh chẳng có vấn đề nào đáng lo ngại hết. Nếu có gì bất thường, cứ theo chủ nghĩa Mặc kệ. Các ông trên chóp bu mở miệng ra là hùng hôn nói phải “đột phá,” nhưng tay chân họ thì cứng đơ, không ngó ngoáy! Ở dưới, không ai chờ đợi cái gì khác, cũng không ai hy vọng gì mới cả.
Người bạn tôi nêu một thí dụ: Giữa Tháng Sáu năm ngoái, ông Nguyễn Phú Trọng ban hành một bản “Kết luận Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.” Ðể chống tham nhũng cho mạnh, ông tổng bí thư chính thức loan báo: “Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí tổng bí thư làm trưởng ban.” Thế bây giờ có ai còn nhớ có một cái Ban Chỉ đạo Trung ương đó hay không? Ai cũng quên rồi. Không cần ngó vô coi, cũng thấy một cảnh tiêu điều như một căn phòng hoàn toàn bỏ trống. Dân chúng chẳng ai thắc mắc!
Một thí dụ khác: Năm ngoái, ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lên tiếng than rằng hiện nay “không chỉ có một bầy sâu đang lũng đoạn triều đình mà ở đó còn có kẻ âm mưu cõng rắn cắn gà nhà, rước voi dày mả tổ.” Nhưng tới năm nay, đã có ai bắt được con sâu nào chưa? Rồi chính ông Sang đã đi Bắc Kinh ký một loạt các hiệp ước với các đồng chí anh em, rước về nước cả một đàn voi. Khi thực hiện các hiệp ước do ông ký, trong nhiều năm sắp tới các đàn voi lớn voi nhỏ sẽ còn tiếp tục kéo sang nước ta. Chẳng thấy ai thắc mắc chi hết! Ðiều này cho thấy không những cả căn nhà đang bỏ trống mà đầu óc của con người cũng bị bỏ trống nữa! Người dân được tập thói quen chứng kiến và chịu đựng không có phản ứng. Tình trạng chung là “tê liệt,” trong hành động cũng như trong ý tưởng.
Vì vậy, chúng ta phải biết ơn và cổ võ những nhà trí thức đang bày tỏ những ý kiến phản kháng trước tất cả các bất công xã hội và trước các hành động thiệt hại cho quyền lợi của dân tộc. Giới trí thức Việt Nam, đặc biệt là các công dân mạng, đang giúp cho ngôi nhà Việt Nam bớt trống vắng. Họ khuấy động cả những cái đầu bỏ trống, giúp cho nhiều người tập thói quen suy nghĩ, phán đoán. Họ gây lòng can đảm bằng cách làm gương, dám có ý kiến và dám nêu ý kiến. Nhờ hoạt động của các công dân mạng, người Việt Nam sẽ bớt sợ hãi.
Ngày xưa Mạnh Tử sống vào thời nhà Chu phong kiến nhưng vẫn khuyên người ta đừng sợ hãi, đừng chịu nhục. Ông đề nghị một quy tắc cư xử của kẻ sĩ: “Không sợ hãi các vua chư hầu; hễ nghe họ nói điều sai quấy thì phản đối ngay.” - Vô nghiêm chư hầu, ác thính chí tất phản chi. (Chương Công Tôn Sửu, thượng). Vào thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên mà có Internet thì chắc ông thầy Mạnh này cũng là một blogger chứ không tránh được!
Tại sao Mạnh Tử, một người từng đi thăm viếng, dạy dỗ hết vua chư hầu này đến vua khác, để mong họ dùng ý kiến của mình, mà lại dám mạnh miệng nói năng như vậy? Có thể ông là người dũng cảm, xứng đáng bậc đại trượng phu “uy vũ bất năng khuất.” Cũng có thể là vì chế độ phong kiến thời ông sống nó không đến nỗi ác như bây giờ. Chế độ phong kiến còn cho phép người ta suy nghĩ tự do, nó không đặt ra những điều luật như điều 258, kết “tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.” Guồng máy nhà nước đời nhà Chu chưa bị bỏ trống. Mà đầu óc con người thời đó còn được phép suy nghĩ, không bị bắt buộc phải bỏ trống như trong chế độ cộng sản bây giờ.
Ngô Nhân Dụng
Tuần trước có một một blogger dân Hà Nội bị nhà công an bắt giữ ở phi trường Nội Bài, sau một chuyến đi ra ngoại quốc dài mấy tháng, được coi là để vận động cho dân quyền. Anh Nguyễn Lân Thắng cho biết đã đem bản Tuyên Bố 258 của các mạng lưới, blogger Việt Nam đưa cho nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới. Bản Tuyên bố 258 tố cáo điều số 258 trong Luật Hình Sự, một điều luật vẫn được dùng để ngăn cấm quyền tự do ngôn luận của dân Việt.
Anh Thắng đã thu sẵn lời tuyên bố “Tôi bị bắt” gửi cho một người bạn; với lời dặn dò nếu anh bị bắt giữ thì đem công bố. Người bạn làm đúng lời, cho nên trong lúc anh đang bị công an giữ thì hình ảnh của anh vẫn xuất hiện trên facebook, nói rằng: “Khi các bạn xem video này, thì chắc chắn tôi đã bị an ninh bắt giữ...” Kỹ thuật thông tin hiện đại khiến câu chuyện một người bị bắt ở Hà Nội thì trong mấy phút cả thế giới được nghe tin! Mà tin tức lại do chính nạn nhân loan báo, hiệu quả càng mạnh hơn.
Câu chuyện rất đáng nhớ trong vụ bắt anh Nguyễn Lân Thắng một ngày rồi lại thả, là cảnh các bạn bè và gia đình anh đến đón anh ở sân bay (ngày 30 tháng 10 năm 2013). Họ đã giúp anh loan báo cho cả thế giới biết tin chính anh anh bị bắt. Sau đó, ông Nguyễn Tường Thụy, một người bạn của anh Thắng, là một trong những người thân đến Nội Bài đón anh, kể lại thái độ và hành động của đám công an ở phi trường như thế nào. Theo ông Thụy kể, các bạn bè và vợ anh Thắng chờ mãi không thấy anh đi ra, đã “tìm cách vào được phòng hướng dẫn thủ tục xuất nhập cảnh ở sân bay Nội Bài” để trực tiếp hỏi họ rằng “An ninh sân bay có giữ anh Thắng hay không?” Họ cũng muốn biết anh bị bắt vì lý do nào, và bao giờ hy vọng được thả.
Phản ứng của các nhân viên an ninh rất nhậy bén. Họ trả lời ngay, bảo nhóm của ông Thụy ra ngoài chờ mươi phút, họ sẽ tìm thêm tin tức rồi sẽ trả lời. Sau khi các công dân ngoan ngoãn ra ngoài chờ, mười phút, hai mươi phút, họ sốt ruột đi vào phòng xuất nhập cảnh. Lúc đó họ mới khám phá ra: Văn phòng bỏ trống. Không có nhân viên nào để trả lời các thắc mắc; vì không có ai ở đó cả. Nguyễn Tường Thụy, một người ký tên trong Tuyên Bố 258, thuật lại chuyện trên với lời chú thích: Cảnh trốn mặt của các quan chức nhà nước vẫn thường xuyên xảy ra. Mỗi lần các cơ quan bị dân đến chất vấn, họ không biết làm sao trả lời, bèn trốn biệt! Họ để mặc cho khách vào, “làm chủ cái văn phòng làm việc của họ!”
Bây giờ người ta mới hiểu ý nghĩa sâu xa của cái khẩu hiệu “Nhân dân làm chủ!” Nó nghĩa là có lúc nhà nước vắng mặt, hoàn toàn vắng mặt; mời nhân dân vào các gian phòng bỏ trống, cứ tự nhiên như người Hà Nội! Ai có thắc mắc gì cứ việc hỏi và trả lời lẫn cho nhau nghe!
Cảm ơn ông Nguyễn Tường Thụy cho biết hiện tượng “nhà nước bỏ trống” trên đây. Biết một câu chuyện lý thú như vậy, tuần trước tôi đem kể ngay cho một người bạn mới từ Huế qua chơi nước Mỹ. Tôi đoán chị nghe cảnh “nhà nước bỏ trống” sẽ “ấn tượng” lắm! Không ngờ, nghe xong chị còn cười lớn, nói thêm: “Ðó là chuyện bình thường!” Chị giải thích, đó không phải chuyện hàng ngày ở huyện đâu. Nó lan tràn khắp nơi, lên cấp tỉnh, lên tới trung ương, lên cấp toàn quốc!
Nhà nước của nhân dân ta hiện nay đang hoàn toàn bỏ trống!
Cảnh nhà nước bỏ trống này thể hiện trong công việc hàng ngày, hàng tháng, hàng năm. Người bạn tôi nêu lên một số câu hỏi để gợi cho mọi người nhìn thấy rõ. Có ai biết việc phát triển công nghiệp hiện nay có gì mới hay không? Những biện pháp cải tổ kinh tế sắp tới là cái gì, có nghe nói không? Nhà nước sẽ làm gì để giảm bớt nạn thất nghiệp ở nông thôn, họ đã công bố chưa? Có ai biết hiện nay Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo nước ta có chương trình nào để cung cấp nhân lực theo nhu cầu phát triển kinh tế trong mười năm tới hay không? Có chương trình xã hội nào để giảm bớt chênh lệch về thu nhuận, bất công trong xã hội hay không? Với hàng trăm câu hỏi như vậy, càng hỏi càng thấy câu trả lời chung là: Không biết. Không rõ. Thấy có nói nhưng chưa rõ ràng. Ðể chờ coi các nghị quyết, chỉ thị xem có gì mới không! Nếu không, tức là vẫn như cũ! Ðồng chí Vũ Như Cẩn lúc nào cũng có mặt để tiếp chuyện nhân dân! Mà nhân dân cũng biết nếu mình có thắc mắc, có hỏi han điều gì thì cuối cùng cũng chỉ được gặp đồng chí Vũ Như Cẩn! Cho nên nhân dân cũng “buông xuôi” cho nó đỡ “rách việc.”
Trong tình trạng không ai biết mình phải làm cái gì mới, hành động tự nhiên của tất cả các cỗ xe là cứ chạy trên con đường cũ, theo tốc độ cũ, tới đâu hay đó. Người bạn tôi mô tả cảnh tượng guồng máy cai trị ở nước ta, từ trên xuống dưới, là “buông xuôi.” Không ai dám, mà cũng không ai muốn làm cái gì ngoài những thói quen hàng ngày vẫn làm. Cứ coi như chung quanh chẳng có vấn đề nào đáng lo ngại hết. Nếu có gì bất thường, cứ theo chủ nghĩa Mặc kệ. Các ông trên chóp bu mở miệng ra là hùng hôn nói phải “đột phá,” nhưng tay chân họ thì cứng đơ, không ngó ngoáy! Ở dưới, không ai chờ đợi cái gì khác, cũng không ai hy vọng gì mới cả.
Người bạn tôi nêu một thí dụ: Giữa Tháng Sáu năm ngoái, ông Nguyễn Phú Trọng ban hành một bản “Kết luận Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.” Ðể chống tham nhũng cho mạnh, ông tổng bí thư chính thức loan báo: “Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí tổng bí thư làm trưởng ban.” Thế bây giờ có ai còn nhớ có một cái Ban Chỉ đạo Trung ương đó hay không? Ai cũng quên rồi. Không cần ngó vô coi, cũng thấy một cảnh tiêu điều như một căn phòng hoàn toàn bỏ trống. Dân chúng chẳng ai thắc mắc!
Một thí dụ khác: Năm ngoái, ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lên tiếng than rằng hiện nay “không chỉ có một bầy sâu đang lũng đoạn triều đình mà ở đó còn có kẻ âm mưu cõng rắn cắn gà nhà, rước voi dày mả tổ.” Nhưng tới năm nay, đã có ai bắt được con sâu nào chưa? Rồi chính ông Sang đã đi Bắc Kinh ký một loạt các hiệp ước với các đồng chí anh em, rước về nước cả một đàn voi. Khi thực hiện các hiệp ước do ông ký, trong nhiều năm sắp tới các đàn voi lớn voi nhỏ sẽ còn tiếp tục kéo sang nước ta. Chẳng thấy ai thắc mắc chi hết! Ðiều này cho thấy không những cả căn nhà đang bỏ trống mà đầu óc của con người cũng bị bỏ trống nữa! Người dân được tập thói quen chứng kiến và chịu đựng không có phản ứng. Tình trạng chung là “tê liệt,” trong hành động cũng như trong ý tưởng.
Vì vậy, chúng ta phải biết ơn và cổ võ những nhà trí thức đang bày tỏ những ý kiến phản kháng trước tất cả các bất công xã hội và trước các hành động thiệt hại cho quyền lợi của dân tộc. Giới trí thức Việt Nam, đặc biệt là các công dân mạng, đang giúp cho ngôi nhà Việt Nam bớt trống vắng. Họ khuấy động cả những cái đầu bỏ trống, giúp cho nhiều người tập thói quen suy nghĩ, phán đoán. Họ gây lòng can đảm bằng cách làm gương, dám có ý kiến và dám nêu ý kiến. Nhờ hoạt động của các công dân mạng, người Việt Nam sẽ bớt sợ hãi.
Ngày xưa Mạnh Tử sống vào thời nhà Chu phong kiến nhưng vẫn khuyên người ta đừng sợ hãi, đừng chịu nhục. Ông đề nghị một quy tắc cư xử của kẻ sĩ: “Không sợ hãi các vua chư hầu; hễ nghe họ nói điều sai quấy thì phản đối ngay.” - Vô nghiêm chư hầu, ác thính chí tất phản chi. (Chương Công Tôn Sửu, thượng). Vào thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên mà có Internet thì chắc ông thầy Mạnh này cũng là một blogger chứ không tránh được!
Tại sao Mạnh Tử, một người từng đi thăm viếng, dạy dỗ hết vua chư hầu này đến vua khác, để mong họ dùng ý kiến của mình, mà lại dám mạnh miệng nói năng như vậy? Có thể ông là người dũng cảm, xứng đáng bậc đại trượng phu “uy vũ bất năng khuất.” Cũng có thể là vì chế độ phong kiến thời ông sống nó không đến nỗi ác như bây giờ. Chế độ phong kiến còn cho phép người ta suy nghĩ tự do, nó không đặt ra những điều luật như điều 258, kết “tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.” Guồng máy nhà nước đời nhà Chu chưa bị bỏ trống. Mà đầu óc con người thời đó còn được phép suy nghĩ, không bị bắt buộc phải bỏ trống như trong chế độ cộng sản bây giờ.
Vì Vinashin, Quốc Doanh Hấp Hối
Vi Anh
Cái gì đến phải đến, trong cái kiểu ‘làm kinh tế’ kinh thế của những người du kích CS như Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng. Mô thức tập đoàn kinh tế chaebol người Nam Hàn dù đất nước chia đôi, nhưng nhờ tự do dân chủ làm ăn ngày càng lên, biến Nam Hàn còn gọi là Hàn Quốc trở thành con rồng kinh tế ở Á châu và là một trong 20 siêu cường kinh tế của thế giới gọi là G-20. Còn Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng của VNCS bắt chước mô thức chaebol Nam Hàn biến nhiều công ty, xí nghiệp quốc doanh thành một tập đoàn thì lỗ lã, nợ ngập đầu nay đã chết chìm, như Vinashin. Lâu nay Vinashin coi như đã chết chưa chôn, bây giờ Đảng Nhà Nước CSVN mới khai tử, nhưng cho đầu thai kiếp khác thành Tổng Công Ty Công Nghiệp Tàu Thủy, có tên giao dịch quốc tế là Shipbuilding Industry Corporation, viết tắt là SBIC. Vấn đề đặt ra là thử phân tích xem tại sao tập đoàn Vinashin chết chìm mà Đảng Nhà Nước CSVN không cho chết luôn, giải thể hay phá sản, mà lại biến thành SBIC.
Với quyết định này, Vinashin vốn là một trong những trụ cột của khu vực kinh tế nhà nước, đã bị hạ cấp từ tập đoàn xuống thành tổng công ty. 234 doanh nghiệp trực thuộc Vinashin trước đây nay đã bị giải thể một số, phá sản một số, và số còn lại cũng không nằm trong SBIC hiện nay. Cái chết của tập đòan Vianhin là số phận đang chờ các đại công ty quốc doanh sớm muộn gì cũng chết.
Phải chăng vì chủ nghĩa CS, vì vấn đề mặt mũi, đổi sang kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ lòng thòng cái đuôi CS. Một phần nhỏ nào thôi. Phần lớn là, trong chánh trị dù CS hay tự do, chung mà không có riêng là vô hồn, thiếu động lực. Phần lớn CS vẫn bám víu quốc doanh, cứ khăng khăng coi quốc doanh là “chủ đạo”, là xương sống trong kinh tế dù kinh tế của họ, họ đã đổi sang kinh tế thị trường. Tại sao CS ngoan cố như vậy, không phải vì cái đuôi lòng thòng của con nòng nọc xã hội chủ nghĩa đâu. Cái chánh là vì quốc doanh là chỗ rửa tiền công của ngân sách quốc gia, tài nguyên của đất nước thành tiền riêng, tài sản riêng cho Đảng CS, cho đảng viên, cán bộ và một số bồ bịch ăn theo CS.
Vụ Vinashin làm tiêu tan hơn 4.4 tỉ Đô la, ở một mức độ nào đó là một vụ rửa tiền công ra tư nói theo kiểu CS bây giờ, hay một vụ “dĩ công vi tư”, lấy của công làm của tư nói theo xưa.
Vì vậy mà Bộ Chánh Trị của Đảng CSVN phải bất chấp hiến pháp, luật pháp, công luận ra một quyết định mà một chế độ độc tài dù chuyên chính thế mấy cũng không dám làm. Thế nhưng trước đây Bộ Chính trị của Đảng CSVN tỉnh bơ ra quyết định sẽ không xử lý kỷ luật đối với các tập thể, cá nhân trong chính phủ có liên quan đến những sai phạm của Vinashin.
Nên Ông Hà văn Thịnh, một giáo sư ở Đại Học Huế, thành phố cổ kính, tĩnh lặng cũng phải “kêu lên một tiếng cho dài kẻo câm” trên Đài Á châu Tự do RFA, rằng “Khi tôi ra ăn trộm một chiếc xe đạp ngoài đường là bị tống giam liền nhưng một trăm ngàn tỷ của dân thì chẳng ai chịu trách nhiệm cả.”
Rất đúng, không hề sai. Sai phạm của Vinashin lớn lắm, đúng ra phải gọi là đại trọng tội của siêu tập đoàn kinh tế quốc doanh lớn và mạnh nhứt của Đảng Nhà Nước CS Hà nội.
Thất bại của Tập đoàn Vinashin không những là thất bại kinh tế, tài chánh mà là một thất bại chánh trị của Đảng Nhà Nước CS Hà nội.
Hậu quả vụ Vinashin có thể làm chìm luôn hệ thống, cơ chế kinh tế quốc doanh mà Đảng vẫn coi là “chủ đạo”, xương sống, và định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường. Vinashin của Đảng Nhà Nước CS Việt Nam coi như thực chất đã vỡ nợ, phá sản đứt đuôi rồi. Nó thiếu ngoại quốc 4 tỷ 4 Đô la, tương đương với 4.5% tổng sản lượng nội địa của cả nước VN. Nợ đáo hạn tiền lời 60 triệu Đô là mà không có tiền để trả, làm cho Việt Nam mất nhiều uy tín kinh tế tài chánh. Nhựt báo lớn của Pháp Le Monde từ lâu mô tả “Tập đoàn Vinashin, con tàu khổng lồ đang bị ngập nước”.
Về con người và tổ chức, Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng vừa là người “chỉ đạo” cách làm “kinh tế” kinh thế, vừa là người bổ nhiệm các giới chức, vừa là người đứng đầu ngành quản trị và điều hành của tập đoàn đại công ty quốc doanh này.
Ngành nào tưởng “có ăn” thì với thế lực của Thủ Tướng Dũng là Vinashin nhảy vào, xen vô, loại đối thủ đối tác “đi chỗ khác chơi”, nói theo kiểu Ông Dũng gốc Nam kỳ Cà mau. Vinashin về bản lĩnh kinh doanh như con ểnh ương mà muốn thành con bò ngốn Đô la như ngốn cỏ. Với 200 công ty con làm kinh tế thật là kinh thế, từ nhiệt điện, thủy điện, xi măng, thép, bảo hiểm, du lịch, nghỉ mát, triển lãm, v.v,.. cái gì cũng có Vinashin.
Trên cõi ta bà thế giới này chưa có một công ty nào “vĩ đại” như vậy.
Về vay ngân hàng trong nước, nhờ TT Dũng, Vinashin không những được ưu đãi mà còn như ông chủ ngân hàng, vay vốn ngân hàng dễ như móc cái khăn mu-soa ra khỏi túi.
TT Dũng còn nhơn danh quốc gia VN bảo kê cho Vinashin bán trái phiếu ra ngoại quốc lấy 750 triệu đô la và còn yêu cầu các ngân hàng khoanh nợ cho Vinashin, những món nợ quá hạn bị chính phủ âm thầm ra lệnh làm ngơ không công khai trước dư luận khi nó sắp sụp đổ.
Về “mặt bằng sản xuất, kinh doanh” hay làm vốn hợp doanh, Vinashin muốn có đất ở đâu là có ở đó, suốt từ tỉnh địa đầu Quảng Ninh dĩ chí Cà Mau chót mũi, ở đâu Vinashin cũng được cấp đất.
Ủy ban thanh tra chính phủ cả chục lần phải “bó tay.com” (nói theo lớp trẻ trong nước thích computer), phải chịu thua trước sự bưng bít của các giới chức của Vinashin dưới cây dù che của TT Dũng.
Đã có 14 lần thanh tra, đã 14 lần trình những sai phạm nhưng Vinashin cứ tỉnh bơ kinh doanh lổ báo cáo lời. “Đại biểu nhân dân” nếu ai dám hó hé, đặt vấn đề trách nhiệm của TT Dũng trong nội vụ, thì tiếng kêu của đại biểu nhân dân như gió vào nhà trống, và người cố kêu một tiếng cho dài kẻo câm đó sớm muộn gì cũng bị bịt miệng, nhiệm kỳ sau không được “Đảng cử dân bầu”nữa.
Bộ Chánh trị phải cho xếp vụ Vinashin này vì không thể cho bể một chỗ rửa tiền từ ngân sách do dân đóng thuế trở thành “tư túi” cho đảng viên có chức có quyền chia chát nhau. Kỷ luật hay trừng phạt những người trong Vinashin thì phải có điều tra, phanh phui nhiều cơ quan ban ngành nhà nước biết, những người bị kỷ luật có thế tức lý khai tùm lum ra như hủ mắm thúi. Xấu cả lũ, mang tiếng cả phe, chết cả đám. Đã cùng ăn chia nhau thì phải bao che cho nhau.
Bộ Chánh trị đâu có gì phải lo. Dân thấp cổ bé miệng sẽ phải chịu, đóng thuế để trả nợ cho Vinashin. Nước sẽ phải chịu rút tài nguyên ra bán để trả vốn lời mà Vinashin khai báo là lổ.
Bộ chánh trị Đảng CSVN cho Vinashin đầu thai kiếp khác thành Tổng Công Ty Công Nghiệp Tàu Thủy, SBI để tiếp tục có chỗ, có người rửa tiền thuế của dân thành tiền riêng cho cán bộ đảng viên CS.
Vi Anh
Vi Anh
Cái gì đến phải đến, trong cái kiểu ‘làm kinh tế’ kinh thế của những người du kích CS như Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng. Mô thức tập đoàn kinh tế chaebol người Nam Hàn dù đất nước chia đôi, nhưng nhờ tự do dân chủ làm ăn ngày càng lên, biến Nam Hàn còn gọi là Hàn Quốc trở thành con rồng kinh tế ở Á châu và là một trong 20 siêu cường kinh tế của thế giới gọi là G-20. Còn Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng của VNCS bắt chước mô thức chaebol Nam Hàn biến nhiều công ty, xí nghiệp quốc doanh thành một tập đoàn thì lỗ lã, nợ ngập đầu nay đã chết chìm, như Vinashin. Lâu nay Vinashin coi như đã chết chưa chôn, bây giờ Đảng Nhà Nước CSVN mới khai tử, nhưng cho đầu thai kiếp khác thành Tổng Công Ty Công Nghiệp Tàu Thủy, có tên giao dịch quốc tế là Shipbuilding Industry Corporation, viết tắt là SBIC. Vấn đề đặt ra là thử phân tích xem tại sao tập đoàn Vinashin chết chìm mà Đảng Nhà Nước CSVN không cho chết luôn, giải thể hay phá sản, mà lại biến thành SBIC.
Với quyết định này, Vinashin vốn là một trong những trụ cột của khu vực kinh tế nhà nước, đã bị hạ cấp từ tập đoàn xuống thành tổng công ty. 234 doanh nghiệp trực thuộc Vinashin trước đây nay đã bị giải thể một số, phá sản một số, và số còn lại cũng không nằm trong SBIC hiện nay. Cái chết của tập đòan Vianhin là số phận đang chờ các đại công ty quốc doanh sớm muộn gì cũng chết.
Phải chăng vì chủ nghĩa CS, vì vấn đề mặt mũi, đổi sang kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ lòng thòng cái đuôi CS. Một phần nhỏ nào thôi. Phần lớn là, trong chánh trị dù CS hay tự do, chung mà không có riêng là vô hồn, thiếu động lực. Phần lớn CS vẫn bám víu quốc doanh, cứ khăng khăng coi quốc doanh là “chủ đạo”, là xương sống trong kinh tế dù kinh tế của họ, họ đã đổi sang kinh tế thị trường. Tại sao CS ngoan cố như vậy, không phải vì cái đuôi lòng thòng của con nòng nọc xã hội chủ nghĩa đâu. Cái chánh là vì quốc doanh là chỗ rửa tiền công của ngân sách quốc gia, tài nguyên của đất nước thành tiền riêng, tài sản riêng cho Đảng CS, cho đảng viên, cán bộ và một số bồ bịch ăn theo CS.
Vụ Vinashin làm tiêu tan hơn 4.4 tỉ Đô la, ở một mức độ nào đó là một vụ rửa tiền công ra tư nói theo kiểu CS bây giờ, hay một vụ “dĩ công vi tư”, lấy của công làm của tư nói theo xưa.
Vì vậy mà Bộ Chánh Trị của Đảng CSVN phải bất chấp hiến pháp, luật pháp, công luận ra một quyết định mà một chế độ độc tài dù chuyên chính thế mấy cũng không dám làm. Thế nhưng trước đây Bộ Chính trị của Đảng CSVN tỉnh bơ ra quyết định sẽ không xử lý kỷ luật đối với các tập thể, cá nhân trong chính phủ có liên quan đến những sai phạm của Vinashin.
Nên Ông Hà văn Thịnh, một giáo sư ở Đại Học Huế, thành phố cổ kính, tĩnh lặng cũng phải “kêu lên một tiếng cho dài kẻo câm” trên Đài Á châu Tự do RFA, rằng “Khi tôi ra ăn trộm một chiếc xe đạp ngoài đường là bị tống giam liền nhưng một trăm ngàn tỷ của dân thì chẳng ai chịu trách nhiệm cả.”
Rất đúng, không hề sai. Sai phạm của Vinashin lớn lắm, đúng ra phải gọi là đại trọng tội của siêu tập đoàn kinh tế quốc doanh lớn và mạnh nhứt của Đảng Nhà Nước CS Hà nội.
Thất bại của Tập đoàn Vinashin không những là thất bại kinh tế, tài chánh mà là một thất bại chánh trị của Đảng Nhà Nước CS Hà nội.
Hậu quả vụ Vinashin có thể làm chìm luôn hệ thống, cơ chế kinh tế quốc doanh mà Đảng vẫn coi là “chủ đạo”, xương sống, và định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường. Vinashin của Đảng Nhà Nước CS Việt Nam coi như thực chất đã vỡ nợ, phá sản đứt đuôi rồi. Nó thiếu ngoại quốc 4 tỷ 4 Đô la, tương đương với 4.5% tổng sản lượng nội địa của cả nước VN. Nợ đáo hạn tiền lời 60 triệu Đô là mà không có tiền để trả, làm cho Việt Nam mất nhiều uy tín kinh tế tài chánh. Nhựt báo lớn của Pháp Le Monde từ lâu mô tả “Tập đoàn Vinashin, con tàu khổng lồ đang bị ngập nước”.
Về con người và tổ chức, Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng vừa là người “chỉ đạo” cách làm “kinh tế” kinh thế, vừa là người bổ nhiệm các giới chức, vừa là người đứng đầu ngành quản trị và điều hành của tập đoàn đại công ty quốc doanh này.
Ngành nào tưởng “có ăn” thì với thế lực của Thủ Tướng Dũng là Vinashin nhảy vào, xen vô, loại đối thủ đối tác “đi chỗ khác chơi”, nói theo kiểu Ông Dũng gốc Nam kỳ Cà mau. Vinashin về bản lĩnh kinh doanh như con ểnh ương mà muốn thành con bò ngốn Đô la như ngốn cỏ. Với 200 công ty con làm kinh tế thật là kinh thế, từ nhiệt điện, thủy điện, xi măng, thép, bảo hiểm, du lịch, nghỉ mát, triển lãm, v.v,.. cái gì cũng có Vinashin.
Trên cõi ta bà thế giới này chưa có một công ty nào “vĩ đại” như vậy.
Về vay ngân hàng trong nước, nhờ TT Dũng, Vinashin không những được ưu đãi mà còn như ông chủ ngân hàng, vay vốn ngân hàng dễ như móc cái khăn mu-soa ra khỏi túi.
TT Dũng còn nhơn danh quốc gia VN bảo kê cho Vinashin bán trái phiếu ra ngoại quốc lấy 750 triệu đô la và còn yêu cầu các ngân hàng khoanh nợ cho Vinashin, những món nợ quá hạn bị chính phủ âm thầm ra lệnh làm ngơ không công khai trước dư luận khi nó sắp sụp đổ.
Về “mặt bằng sản xuất, kinh doanh” hay làm vốn hợp doanh, Vinashin muốn có đất ở đâu là có ở đó, suốt từ tỉnh địa đầu Quảng Ninh dĩ chí Cà Mau chót mũi, ở đâu Vinashin cũng được cấp đất.
Ủy ban thanh tra chính phủ cả chục lần phải “bó tay.com” (nói theo lớp trẻ trong nước thích computer), phải chịu thua trước sự bưng bít của các giới chức của Vinashin dưới cây dù che của TT Dũng.
Đã có 14 lần thanh tra, đã 14 lần trình những sai phạm nhưng Vinashin cứ tỉnh bơ kinh doanh lổ báo cáo lời. “Đại biểu nhân dân” nếu ai dám hó hé, đặt vấn đề trách nhiệm của TT Dũng trong nội vụ, thì tiếng kêu của đại biểu nhân dân như gió vào nhà trống, và người cố kêu một tiếng cho dài kẻo câm đó sớm muộn gì cũng bị bịt miệng, nhiệm kỳ sau không được “Đảng cử dân bầu”nữa.
Bộ Chánh trị phải cho xếp vụ Vinashin này vì không thể cho bể một chỗ rửa tiền từ ngân sách do dân đóng thuế trở thành “tư túi” cho đảng viên có chức có quyền chia chát nhau. Kỷ luật hay trừng phạt những người trong Vinashin thì phải có điều tra, phanh phui nhiều cơ quan ban ngành nhà nước biết, những người bị kỷ luật có thế tức lý khai tùm lum ra như hủ mắm thúi. Xấu cả lũ, mang tiếng cả phe, chết cả đám. Đã cùng ăn chia nhau thì phải bao che cho nhau.
Bộ Chánh trị đâu có gì phải lo. Dân thấp cổ bé miệng sẽ phải chịu, đóng thuế để trả nợ cho Vinashin. Nước sẽ phải chịu rút tài nguyên ra bán để trả vốn lời mà Vinashin khai báo là lổ.
Bộ chánh trị Đảng CSVN cho Vinashin đầu thai kiếp khác thành Tổng Công Ty Công Nghiệp Tàu Thủy, SBI để tiếp tục có chỗ, có người rửa tiền thuế của dân thành tiền riêng cho cán bộ đảng viên CS.
Vi Anh

