Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »


Những ngày tháng tù đầy không thể quên


Thanh Thương Hòang

Tôi bị bắt ngày 5 tháng 4 năm 1976, trong cái trò bắt người mà cộng sản gọi là “chiến dịch X2 đánh Văn Nghệ Sĩ phản động”. Chiến dịch X1 trước đó “đánh”tư sản mại bản (tức những nhà tỷ phú người Việt và người Việt gốc Hoa, đa số ở Chợ Lớn). Có 3 nhà tỷ phú người Việt bị bắt là cụ Hoàng Kim Quy (cựu Thượng Nghị Sĩ đệ nhị VNCH), hai anh em vua tầu thủy Phạm Quang Khai và Phạm Quang Hoa.

Trước và sau tôi bị bắt vài ngày có hơn trăm người gồm đủ bộ môn văn nghệ Miền Nam (Văn, Thơ, Báo chí, Nhạc, Kịch, đạo diễn điện ảnh, đạo diễn Cải lương có đôi chút tên tuổi). Đa số giam ở T20 (số 4 Phan Đăng Lưu bên hông chợ Bà Chiểu, Gia Định) vài người đi khám Chí Hòa.

Khoảng mười tháng sau một số lớn được tha về, chỉ còn mươi người bị quy kết tội “có nợ máu nhân dân” và “chống cộng ở thượng tầng kiến trúc” bị giữ lại. Đây là những “tội” có thể đưa tới tử hình. Sau hai năm tra vấn hỏi cung xong, họ đưa bọn tôi lên trại Gia Trung (xứ sương mù Pleiku) nằm trong khu rừng già, nghe nói trước đây là mật khu của Việt cộng, để lao động khổ sai.

Tưởng cũng nên kể ra đây tôi là người trong giới Văn nghệ đầu tiên, mới nhập trại đã bị tống ngay vào “biệt giam”(cachot) khu B1, phòng 11 trại Phan Đăng Lưu. Có lẽ họ tưởng tôi là nhân vật quan trọng, là tay sai của CIA được dựng lên làm Chủ tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam hoạt động trong báo giới. Vì ngoài Bắc chức vụ này “to” lắm, do đảng đưa ra và quyền hạn cũng như quyền lợi ngang bộ trưởng. Trong cùng dẫy biệt giam khu B1 có những nhân vật tên tuổi như Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Linh mục Đỗ Bác Ái, Tiến sĩ Mai Văn Lễ (cựu Khoa trưởng Khoa Luật đại học Huế), Luật sư Nguyễn Hữu Doãn, Luật sư Nguyễn Khắc Chính, Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ, Nhà báo Hồ Văn Đồng, Nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, Nhà Văn Nhà báo (nguyên dân biểu)Hồ Hữu Tường. Những người này lần lượt vào biệt giam sau tôi 1, 2 tuần.

Đầu dẫy khu biệt giam buồng số 1 là “tướng phục quốc Nguyễn Việt Hưng”. Tôi rất tiếc khi đó không biết nhiều về nhân vật này. Ông là người đầu tiên cầm đầu một số dăm bẩy người trấn trong nhà thờ Vinh Sơn (đường Trần Quốc Toản) đánh CS với vài vũ khí thô sơ, khi CS vào Saigon mấy tháng. Sau đó ông bị CS xử bắn. Vụ “vùng lên”khởi đầu chống đối CS này đã gây tiếng vang rộng lớn làm trấn động dư luận khắp nước khi đó. CS phải điều động bộ đội công an cảnh sát vây hãm quanh khu vực Nhà Thờ mấy ngày liền mới trấn áp được.

Tôi nghĩ chúng ta thật vô tình khi ở ngoài này, trải qua mấy chục năm, không thấy một ai nhắc nhở tới ông (người được gọi là tướng Nguyễn Việt Hưng mà dư luận khi đó đồn đãi là biệt danh của Tướng NCK hoặc Tướng cảnh sát NNL ở trong mật khu lãnh đạo cuộc chiến đấu với rất nhiều “hồ hởi phấn khởi”). Theo tôi đây là người chiến sĩ quốc gia can trường bất khuất, dám đứng ra chống CS ngay từ ngày đầu, chúng ta nên tỏ bầy lòng ngưỡng mộ và khâm phục.

Phía sau dẫy biệt giam B1 là dẫy biệt giam B2 có giáo sư Vũ Quốc Thông, ông chủ nhiệm nhật báo Lẽ Sống Mới, Ngô Công Minh (vào đầu năm 1975 làm phụ tá Tổng Trưởng Thông Tin), ông Tống Đình Bắc, Trưởng ty Công an nổi tiếng sát cộng Miền Tây, ông chủ Nhà sách Khai Trí và một vài người nữa từng giữ chức vụ cao chế độ cũ.

Riêng ông Ngô Công Minh sau khi lên trại tù lao động Gia Trung với chúng tôi hơn tháng thì CS đưa ông đi nơi khác. Từ đó không ai biết tin tức về ông. Có dư luận nói ông bị đem thủ tiêu vì mấy tay tổ văn nghệ, báo chí CS (từng quen biết ông trước kia) muốn cướp không ngôi nhà lớn của ông ở Saigon và vàng bạc của cải. Theo tôi, ông không phải nhà hoạt động chánh trị, chỉ là nhà báo thuần tuý nên không thể bị sát hại vì lý do chánh trị. Khi tù về tôi có dò hỏi tin tức ông nhưng không ai biết một cách chính xác.

Trong thời gian “nằm” biệt giam tôi cũng có vài việc để nhớ xin kể ra đây. Cứ mỗi tháng tù biệt giam được cho ra ngoài cắt tóc. Bọn “thế nhân” chúng tôi tất cả đều bị “gọt” trọc đầu, kể cả vị Linh mục, nhưng với hai vị Thượng Tọa Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ thì cai tù lại bắt để tóc. Hai cụ phản đối, cai tù thản nhiên:

“Đó là chính sách Nhà nước!”.

Việc thứ hai là vì biệt giam mới làm chưa lắp ống dẫn nước nên mỗi ngày chúng tôi chỉ được từ hai tới ba phút vòi nước ở ngoài thọc vào để làm vệ sinh. Tôi không biết nên thản nhiên chà xà bông gội đầu (bằng xà bông giặt). Đang làm nửa chừng vòi nước rút ra mặc cho tôi nài nỉ. Báo hại đêm đó đầu tôi bị xà bông làm ngứa ngáy khó chịu không tài nào nhắm mắt ngủ yên được. Cũng vì “nước” tôi phải tự “tranh đấu” với mình mãi mới nuốt xong phần cơm tù. Tôi chỉ có 2 cái tô nhựa: một dùng đựng cơm, một dùng đựng canh. Vì phải chứa nước làm vệ sinh (khi đi cầu) tôi nhịn tắm lấy nước chứa vào cái tô lớn mầu xanh. Trong khi đi “làm việc” (hỏi cung) tôi viết mấy chữ bằng bút chì dặn anh tù hành sự để cơm vào nửa tờ giấy báo cũ, còn canh để vào tô nhựa mầu đỏ. Nhưng anh ta đổ hết nước trữ đi, để cơm canh vào 2 cái tô và đặt ngay trên bệ cầu tiêu chưa được dội nước còn nồng nặc mùi phân của mình. Tôi ngồi hơn nửa tiếng đồng hồ nhìn hai tô cơm canh muốn ứa nước mắt tự “tranh đấu” với mình. Ăn hay nhịn? Nếu ăn, khó nuốt trôi miếng cơm vì tởm lợm. Nhưng nếu không ăn sẽ bị đói tới trưa hôm sau. Tôi lại mắc chứng đau dạ dầy từ ngày CS chiếm Saigon nên sẽ khốn khổ lắm. Cuối cùng tôi đành nhắm mắt nuốt vội chút cơm canh lạnh ngắt với hai hàng nước mắt.

Tôi bị nhốt biệt giam hơn 10 tháng, vào một buổi sáng trời âm u, được gọi tên mang đồ ra khỏi buồng giam. Phía chéo buồng giam, tôi liếc nhìn thấy nhà văn Duyên Anh để mặt sát ô vuông cánh cửa sắt phòng giam tập thể hướng về phía tôi nói khá lớn:

“Nhớ ghé nhà tao nói với vợ tao…”.

Tôi chỉ nghe được tới đây thì bị viên cai tù nạt nộ cấm nói. Thì ra Duyên Anh tưởng tôi được tha về nhờ tôi tới nhà nhắn tin vợ.

Khi đi đến trước sân “nhà khách” trại giam tôi thấy vài người quen ngồi đó với đồ đạc cá nhân lỉnh kỉnh. Chúng tôi chỉ đưa mắt chào nhau. Mấy phút sau họ điểm danh từng người xong còng tay lại đưa lên chiếc xe hơi bít bùng chuyển về cơ quan An ninh nội chính (Nha Công an thành phố Saigon cũ đường Trần Hưng Đạo). Cùng trên chuyến xe có tiến sĩ Mai Văn Lễ, thạc sĩ Vũ Quốc Thông, ông Tống Đình Bắc và một vài người nữa (giờ tôi quên mất tên). Trong lúc ngồi ngoài sân cơ quan chờ làm thủ tục gì đó, các bạn tù của tôi bàn cãi sôi nổi về dự đoán chúng tôi được đưa lên đây làm giấy tờ tha. Có vị còn “cá” một chầu ăn uống linh đình ở Chợ Lớn. Rồi lần lượt từng người được gọi tên đem hành lý đi vào phòng…biệt giam!

Tôi được gọi tên sau chót (may mắn cho tôi vì biệt giam hết chỗ(?) – viên công an tiếp nhận tù nói vậy) nên được nhốt vào khu tập thể A (làm từ thời Pháp). Gần 100 người đủ thành phần già trẻ lớn bé, tư sản, chính trị gia, Linh mục, Mục sư, Thượng tọa, Đại đức, trộm cắp, buôn lậu, nhốt chung trong một phòng dài trên 10 mét, bề ngang nhỏ hẹp, u tối, ẩm ướt, thiếu ánh sáng và khí trời. Phòng có 2 “sàn”, sàn trên cao khoảng một mét. Mỗi người được cấp manh chiếu rách cáu bẩn, nồng nặc mùi chua mồ hôi người tích tụ lâu năm đã kết thành “cao”.

Ở trên tôi nói may mắn không phải vào lại biệt giam vì mấy tháng sau anh Mai Văn Lễ được thả khỏi biệt giam vào phòng tôi kể cho nghe thảm cảnh trong buồng biệt giam anh đã “chết trong cõi sống” mấy tháng qua. Buồng biệt giam Sở An ninh nội chính được xây từ thời Pháp thuộc có tuổi đời trên mấy chục năm. Tường bẩn thỉu lam nham dầy cáu bẩn đen đúa, sàn xi măng ẩm ướt quanh năm. Mùi mồ hôi, mùi phân nước tiểu người tích tụ bao năm tạo thành một thứ mùi hôi hám khó tả, ngửi phải muốn nôn ọe ngay. Khủng khiếp nhất là cái cầu tiêu đã nứt nẻ và vỡ nhiều mảnh, mỗi khi trời mưa nước từ trong lỗ cầu dâng lên tràn lan khắp buồng với những cục phân chưa tiêu hủy. Nếu mưa lâu khoảng một giờ nước cầu tiêu dâng ngập buồng giam hơn gang tay, tù chỉ còn biết đứng dựa vào tường chờ cho nước rút hoặc ngủ đứng. Và khi nước vừa rút hết, sàn si măng còn ẩm ướt, tù mới ngả lưng nằm thì một hai chú chuột cống khá to, lông lởm chởm ghẻ lở khắp mình trông dơ dáy khủng khiếp chui lên từ miệng cầu, thản nhiên gặm bàn chân tù, đạp đuổi nó cũng cứ gan lỳ không chạy! Có lẽ từ lâu nó sống bằng xương thịt tù bị chết chưa kịp mang đi. Anh Mai Văn Lễ kết luận:

“Đúng là tầng chót địa ngục trần gian, có một không hai trên thế giới!”.

Tôi được biết Linh mục Hoàng Quỳnh, người lãnh đạo giáo dân khu Bùi Chu Phát Diệm nổi tiếng chống CS bằng vũ lực hồi còn ngoài miền Bắc. Linh mục bị bắt từ ngày đầu tháng 5. 1975, bị giam và chết trong “tầng chót địa ngục trần gian” này. Khi họ đem xác Linh mục đi trên cái băng ca, thân thể teo tóp gầy đét bé nhỏ như đưá trẻ lên 10.

Sau hai ngày đêm 15 chiếc xe vận tải lớn, trước đây dùng chở heo, chở mấy trăm tù ngồi bó gối trên sàn xe chật cứng nhúch nhích cánh tay cũng không được. Với bao gian khổ đói khát trên con đường dài mệt lả người, chập choạng tối chúng tôi tới trại tù lao động cải tạo Gia Trung (thuộc tỉnh Pleiku) nằm trong khu rừng núi hoang vu. Nghe nói nơi này khi trước là mật khu của CS. Trại Gia Trung lúc bọn tôi tới đã có 3 trại giam, mỗi trại cách nhau khoảng cây số. Trại nào cũng đầy nhóc người: từ 700 tới 1000. Tù đa số là các viên chức cấp nhỏ, địa phương quân, nhân dân tự vệ và đông nhất vẫn là tù hành sự từ các nơi đưa tới, có án hoặc chưa có án. Có cả tù chưa đến 10 tuổi, đói quá liều ăn tô bún riêu ở chợ không tiền trả bỏ chạy bị bắt.

Những nỗi đói khổ nhục nhã, sống cuộc đời trung cổ, sách báo đã nói nhiều từ hơn 30 năm, tôi xin miễn kể ra đây. Sự khổ sở nhục nhã chúng tôi còn có thể chịu đựng được. Nhưng cái khủng khiếp nhất đối với chúng tôi là sự vô vọng ngày trở về đoàn tụ với gia đình, với đời sống ngoài xã hội. Bọn cai tù bắt chúng tôi “học tập” chính sách Nhà nước là đem vợ con lên vùng đất tù đầy này cuốc đất trồng khoai sinh sống (như ngoài Bắc đã thực hiện). Tất nhiên chúng tôi không thể làm theo họ. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh đời mình chứ không thể để vợ con đã khốn khổ ngoài đời lại phải gánh thêm cảnh tù đầy.

Trong những năm tháng không tên dài dằng dặc như bao thế kỷ sống như cây cỏ như súc vật, chúng tôi hết cả hy vọng hết cả chờ mong thì có những tin tức như những làn gió mát mang theo hơi sống tới: tin đồn về chương trình HO, người Mỹ sẽ cứu chúng tôi đem sang Mỹ. Trong thời gian này các con tôi gửi thư cho tôi nói bóng nói gió là hai hội Văn Bút Quốc Tế và Việt Nam đang ráo riết can thiệp vận động cho anh em cầm bút chúng tôi. Và các con tôi cũng báo tin có nhận được “quà” của hai hội gửi. Thời gian này bọn tù chúng tôi “hồ hởi phấn khởi” lắm. Chỗ nào cũng bàn tán về chương trình HO (mỗi người tán một kiểu toàn có lợi cho mình) với bao hy vọng tốt đẹp. Và chúng tôi cũng hết lời ca ngợi Tổng Thống Carter – vị ân nhân vĩ đại – sẽ lập cầu Không vận đưa chúng tôi từ VN qua Mỹ sống một đời ấm no tự do tươi sáng. Tôi cũng nghe nói tới tên một bà lúc ấy còn rất xa lạ với chúng tôi: bà Khúc Minh Thơ. Biết bao giai thoại đồn đại thêu dệt về bà được dựng lên. Qua câu chuyện và lời bình luận của anh em tù, tôi có cảm tưởng bà Khúc Minh Thơ như một bà tiên đang cầm cây đũa thần giúp chúng tôi từ vực thẳm lên. Rồi ngày tháng tiếp tục lặng lẽ trôi qua, tất cả mọi việc vẫn như cũ không có biến chuyển gì xẩy ra, chúng tôi lại tiếp tục buồn nản thất vọng lê cái thân tù đầy mòn mỏi héo hắt trong quốc nạn khổ sai. “Mong nhưng không đợi không chờ” như câu thơ của Giáo sư Vũ Quốc Thông làm và đọc cho tôi nghe.

Sau gần 10 năm thân thể rã rời hư hao chỉ cỏn bộ da bọc xương, tinh thần suy sụp chán nản chẳng còn gì để mong để chờ và cũng hết cả “cú” tha bất ngờ thì anh Doãn Quốc Sỹ được gọi tên tha, năm sau anh Hồ Văn Đồng rồi thời gian sau nữa là giáo sư Vũ Quốc Thông. Những người này được tha về làm sự hy vọng tưởng tắt ngấm trong chúng tôi lại lóe lên, dù là ở cuối đường hầm mù mịt.

Có lẽ do nguồn từ gia đình ký giả Cao Sơn lên thăm nuôi nói đài VOA vừa loan tin tôi và họa sĩ CHÓE (Nguyễn Hải Chí) hiện bị giam tù ở trại Gia Trung, Pleiku. Thế là ầm cả trại đến nỗi viên quản giáo đội tôi cũng tò mò hỏi anh tù nấu nước có biết tôi không và hiện ở đội nào (vì đài VOA chỉ loan bút hiệu của tôi nên anh ta không biết).

Báo hại tôi từ khi có tin này không được tự động đi gánh phân người từ trại ra ngoài đồng nữa. phải về đội cuốc đất chặt cây đào mương như mọi anh em tù khác. Gánh phân tuy có vất vả bẩn thỉu hôi hám mất vệ sinh thật nhưng chỉ nửa buổi là “thanh toán” xong các hố xí. Thời gian còn lại thoải mái xuống suối tắm giặt và đi “va tạt linh tinh” kiếm củ khoai mì hay vài cọng rau lang “cải thiện”cho “ấm” cái bụng thường trực rỗng. Nếu tôi nói đã hơn một lần “tự động” ăn…phân người, có lẽ nhiều người không tin cho là tôi nói quá để kể khổ thân phận tù đầy dưới chế độ cộng sản.

Lần thứ nhất quãng hơn 10 giờ, tôi vừa đói vừa khát ghé vào chỗ chòi đun nước uống của đội để uống nước. Anh bạn được phân công đun nước, nguyên đại úy cảnh sát quốc gia, vốn quý mến tôi, thấy tôi đến, anh mắt nhìn chỗ khác nhưng miệng nói nhỏ:

“Bác đi tới phía bụi cây bên trái”.

Tôi biết là “có gì” rồi. Tới nơi nhìn vào trong bụi cây tôi thấy nửa trái dưa chuột nhỏ. Tôi cầm lên bỏ vào miệng nhai liền. Có lẽ trong đời tôi chưa bao giờ ăn miếng dưa chuột ngon đến thế (tôi vốn không thích ăn dưa chuột). Vừa nuốt xong nửa phần dưa chuột tôi chợt nhớ ra, ngừng nhai, tiến lại chỗ anh bạn đun nước, nói:

“Này ông ơi, có phải trái dưa này “tẩm” phân người?”.

Anh bạn gắt nhẹ:

“Đã bảo, bác cứ ăn đi, không chết đâu mà sợ!”.

Nghe anh bạn nói, tôi biết mình đã lỡ ăn rồi (hơn nữa cũng tại đói) nên tiếp tục cố nhai và nuốt nốt phần dưa chuột còn lại.

Nguyên do thế này. Trong vườn ươm giống của đội trồng rau có một dàn dưa chuột. Khi dưa mới kết trái to hơn ngón tay đã bị tù (và cả cai tù) hái trộm ăn hết nên ban giám thị trại tù ra lệnh lấy phân tươi của người hòa với nước rồi hàng ngày quết vào những trái dưa chuột cho hết bị trộm. Nhưng tù vẫn hái trộm ăn sau khi rửa sơ qua. Thế là lần thứ nhất tôi ăn phân người.

Lần thứ hai thì chính do tôi (và mấy ông bạn) chủ động ăn phân người. Tôi và mấy “đồng sự” được “bố trí” dọn phân cầu tiêu các phòng giam. Một số anh em tù hình sự ra ngoài đồng làm việc đã hái và ăn tươi nuốt sống các trái bắp. Vì ăn trộm nên không kịp nhai (sợ cai tù thấy) các bạn tù hình sự cứ thế mà nuốt. Bắp già hạt cứng dạ dầy không tiêu nổi, hôm sau đi cầu ra nguyên cả hạt. Chúng tôi lúc đầu còn sợ bẩn sợ hôi và bệnh nhưng sau khi sôi nổi “bàn thảo”, chúng tôi đi tới việc lấy những hạt bắp này đem ra suối rửa, luộc hai ba lần cho hết mùi hôi rồi ăn một cách ngon lành thoải mái! Nhiều bạn tù biết chuyện cũng xin ăn ké. Tôi được “ấm bụng” ít ngày thì bị “ngưng công tác” (vì tin đài Voa loan?). Đó là hai dấu ấn khủng khiếp trong trại tù cho tới ngày hôm nay, mỗi khi nghĩ tới tôi vẫn không khỏi rùng mình tự hỏi không hiểu sao mình lại có thể “ghê gớm” đến thế!.

Còn một chuyện nhỏ nữa mà tôi cũng khó quên. Tôi vốn bị quy kết “học tập cải tạo” xấu, tư tưởng không ổn định và trây lười lao động nên thường xuyên bị ăn 13 ký một tháng (5 ký gạo, 8 ký khoai mì – nhưng bọn cai tù và bọn nhà bếp đồng lõa ăn chặn mất 2 ký gạo nên chỉ còn 3 ký).

Trong 7 năm sống ở trại Gia Trung tôi được gia đình “thăm nuôi” có 3 lần. Đáng nhớ nhất là lần 2 con tôi (còn vị thành niên: một trai 15 tuổi và một gái 13 tuổi) đi xe đò hơn ngàn cây số lên thăm Bố với gói quà khoảng 10 ký. Khi đến cây số 25 (quốc lộ 1Cool thì xuống xe, lúc đó là 2 giờ đêm. Trời rất lạnh lại ở chốn rừng thưa hoang vắng không biết đường vào trại, hai anh em phải ngồi dựa lưng vào nhau chờ sáng trong lòng vừa sợ vừa lo mọi thứ, nhất là với thú dữ và kẻ cướp.

Sáng hôm sau tôi được gọi thăm nuôi. Tôi cố làm nét mặt lạnh lùng vô cảm để tránh trận nước mắt của hai con tôi khi nhìn thấy thân thể tiều tụy mòn mỏi hết sinh lực của bố chúng. Như đã viết ở trên vì tôi học tập cải tạo xấu lao động kém nên chỉ được nhận 2 ký đồ thăm nuôi. Tôi nhìn thấy một gói bột trắng khoảng 1 ký, tôi tưởng là bột gạo hoặc bột sữa nên lấy gói này và 1 gói xả xào mắm ruốc vừa đủ 2 ký. Hai con tôi đứng trước cửa nhà thăm nuôi nhìn theo, tôi biết chúng đang khóc nhưng không đủ can đảm quay lại nhìn, tôi sợ không cầm được nước mắt và òa khóc. Tôi nghe tiếng con gái tôi nói trong nước mắt: “Bố ráng giừ gìn sức khỏe để còn sống trở về với các con”.

Vào tới buồng tôi mở ngay gói bột ra pha nước vào cái tô nhựa và ngoắng cho tan bột. Bột bị ngoắng sủi bọt lên trắng xoá. Đang đói đang khát tôi đưa lên miệng uống liền một ngụm lớn. Nhưng chất bột vừa trôi vào cổ họng, thấm vào lưỡi đắng chát và nóng rát, không có mùi vị gì có thể gọi là sữa cả, dù là sữa quá “đát”, tôi muốn nôn ọe vội nhổ ra ngay. Thì ra đó là sà bông bột (mà tôi cứ đinh ninh là bột gạo hay bột sữa). Kể lại cho anh em trong trại nghe ai cũng ôm bụng cười. Hai con tôi thật ngây thơ đem sà bông bột cho tù giặt quần áo!

Sau này tù về tôi mới biết hai con tôi cũng vô cùng khốn khổ trong chuyến về này. Vì xe đò hết chỗ chật cứng, chủ xe bảo hai con tôi muốn đi thì lên mui xe mà “nằm”. Bát đắc dĩ chúng phải làm theo. Mấy lần suýt chết khi xe chạy qua nhưng cái “cầu” thấp nhỏ bắc ngang đường, chỉ sơ sẩy một chút là bị vướng gạt ngã xuống đường chỉ có chết, nếu không thì cũng vỡ đầu gẫy chân tay.

Đầu năm 1985 tôi bất thần được gọi tên tha về cùng một số anh em quân nhân. Ngoài tôi không có thêm tên anh bạn văn nghệ sĩ nào. Các anh mừng cho tôi thì ít, lo lắng chán nản thất vọng cho mình thì nhiều. Viên quản giáo trở nên tử tế với tôi, gã chạy vào phòng nói:

“Mừng cho anh nhé. Có thuốc men gì cho tớ xin”.

Tôi cho gã mấy viên thuốc cảm, gã đòi lấy hết nhưng tôi không cho để cho anh em tù nghèo không thăm nuôi.

Trại tù phát cho chúng tôi 50 đồng tiền đi xe, trong khi giá xe về Saigon 150 đồng. Đi bộ từ trại tù ra tới quốc lộ 25 gần 5 cây số. Chúng tôi phải nài nỉ mãi bà chủ xe đò mới “thông cảm” lấy 50 đồng. Xe đày nhóc người ì ạch chạy như rùa bò trên con đường vòng vèo dốc núi cheo leo đầy bất trắc, nguy hiểm. Tôi và ba anh tù đi cùng chuyến xe không một đồng bạc dính túi, phải nhịn đói nhịn khát hai ngày đêm liền cho tới khi về tới nhà ở Saigon. Một anh có “sáng kiến” đem bộ quần áo tù mới tinh được trại tù phát khi tha, gạ bán cho mấy người trên xe để lấy tiền ăn, nhưng đều bị từ chối vì ai cũng sợ xui khi mặc đồ tù.

Rời nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn sống mấy năm thì “phong trào HO” nở rộ và tên tuổi bà Khúc Minh Thơ được anh em tù về hết lời ca ngợi công đức. Bà là ân nhân của tù cải tạo. Tôi vì nghèo, tiền ăn không có lấy đâu ra vàng đút lót hối lộ để được đi HO. Nhưng nghe theo lời các bạn đồng nghiệp cũ may mắn thoát sang Mỹ trước, viết thư về khuyên tôi cứ đến đường Nguyễn Du nộp đơn kèm theo những giấy tờ can thiệp (từ trước tới nay) của các tổ chức như Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Liên Đoàn Ký Giả Quốc Tế, Hội Nhân Quyền…v…v…

Nhưng tất cả đều vô vọng. Lần nào cũng vậy, hai lần, tôi “ôm” hồ sơ xin xuất cảnh tới Sở Ngoại Vụ đường Nguyễn Du đều được các viên chức hữu quyền (công an CS) trả lời dứt khoát:

“Nhà Nước không có chính sách cho anh xuất cảnh. Bọn lính cũ không có súng ống đâu còn đánh được chúng tôi nhưng với bọn anh chỉ một cây viết vẫn có thể chống phá chúng tôi như các anh đã làm trước đây. Anh nên biết bên đó bọn báo chí phản động nhiều như nấm”.

Thế là con đường sống bị triệt. Hết hy vọng, hết chờ mong. Tôi đành sống kiếp mạt rệp – một thứ công dân hạng bét – ngay trên quê hương đất nước mình. Nhưng tới cuối năm 1998 tôi được anh bạn nhà văn Hoàng Hải Thủy từ Mỹ gửi thư về báo cho biết tôi và Nhà văn Uyên Thao được bà Khúc Minh Thơ, chủ tịch Hội Bảo Vệ Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam đã tận tình can thiệp với Bộ Ngoại Giao Mỹ để chúng tôi được sang Mỹ định cư. Chính Hoàng Hải Thủy sốt sắng giới thiệu hai chúng tôi với bà Khúc Minh Thơ và cộng tác mật thiết với bà trong công việc vận động. Con đường hy vọng, con đường sống, lại mở rộng trước mắt tôi.

Buổi tối ngày 18 tháng 5 năm 1999 tôi lên máy bay giã biệt quê hương tăm tối sang Mỹ định cư. Tôi lại được sống lại dưới bầu trời tự do dân chủ như tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Tuy nhiên nhiều đêm vẫn giật mình thức giấc vì những ám ảnh não nề thê thảm khốn cùng của những năm tháng tù đầy.

Thanh Thương Hoàng

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Minh họa và bìa trong sách cũ

Viên Linh


Sách cũ lại trở thành tin tức nóng hổi vào tối Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013 khi trong một cuộc đấu giá tại Sotheby, New York,
một cuốn sách nhỏ in năm 1640 đã bán được với giá 14 triệu 165 ngàn Mỹ kim, là giá cao kỷ lục từ xưa tới nay
cho một cuốn sách tiếng Anh đầu tiên được in tại một vùng đất mà nay thuộc Bắc Mỹ.

Cuốn Bay Psalm Book được in tại Cambridge, Massachusettts, và do các nhà truyền giáo Puritan xuất bản.
Tin tức nói rằng đây là bản dịch Anh ngữ trung thực nhất từ nguyên bản tiếng Hebrew.
Tuy nhiên nó không phải là cuốn sách nói chung bán với giá cao nhất, danh dự này thuộc về một cuốn sách viết tay
gồm ghi chú và hình vẽ của danh tài Leonardo da Vinci (1452-1519), năm 1994 đã được bán ra với giá 30.8 triệu Mỹ kim.

Image
Hình ảnh những cuốn sách cũ tiếng Việt với bìa sách minh họa nội dung thể hiện mỹ thuật làm sách Việt Nam trong thế kỷ trước mà nay ít thấy:
sách in ở Hà Nội trước 1954 như Yêu của Hoàng Công Khanh. In ở Sài Gòn năm 1957 như Tuyết Hồng Lệ Sử của Từ Trẩm Á.
In năm 1960 ở Sài Gòn như Nó Giết Người của Lê Văn Trương. (Sách và hình của Viên Linh do tác giả cung cấp.)


Tổ chức Sotheby cho biết người mua cuốn Bay Psalm Book là nhà tài chính kiêm mạnh thường quân David Rubenstein, tham dự cuốc đấu giá bằng điện thoại từ Australia. Ông cho biết cuốn sách sẽ được cho các thư viện mượn để trưng bày các nơi. [“Một tài sản như thế không nên để trong nhà mình!”] Chủ cũ của cuốn sách là Old South Church ở Boston, họ có hai cuốn, nay bán đi một. Hiện trên thế giới có 11 cuốn này, sót lại từ số 1700 ấn bản in năm 1640. [Old South Church ở Boston do Linh Mục Benjamin Franklin thành lập, và truyền giáo, và ở đó sau này đã bùng nổ sự kiện lịch sử gọi là Boston Tea Party - năm 1773, khi dân chúng ở Boston cải trang thành dân Da Ðỏ trèo lên một thương thuyền Anh, ném hàng trăm thùng trà xuống biển để phản đối một lệnh bán trà của London có tác hại cho ngành sản xuất ở địa phương.]

Chín cuốn Bay Psalm kia đang lưu giữ bởi các thư viện khác trên thế giới. Nữ Mục Sư Nancy Taylor của nhà thờ Old South Boston nói từ hồi mấy tháng trước rằng đây là một cuốn sách “ngoạn mục,” tuy nhiên qua những trang hiện trên màn ảnh của máy vi-tính, người ta không thấy một hình vẽ nào, chỉ thấy chữ lớn nhỏ mà thôi. Mà một trong những đặc điểm của sách xưa lại chính là các minh họa. Một là vì các tác giả sách xưa phần lớn là những vị tài cao, không hẳn là mấy ông thợ in ngày nay - mà thợ in hồi xưa thường lại chính là các nhà trí thức, các ông chủ bút các báo tự đứng ra sắp chữ và in sách báo của mình - hai là hồi xưa thật xưa chưa có máy chụp hình, cũng như chưa có các scanner của vi tính như ngày nay - nên thay vào đó, người ta minh họa, dùng bút vẽ ra các hình ảnh mà văn bản mô tả bằng chữ in, hay viết tay, ở trên trang sách.

Mỹ thuật trong sách cũ khác xa mỹ thuật trong sách ngày nay, mà “sách ngày nay” nói trong bài này, chỉ gồm một số những cuốn thơ văn tuyển tập của các cây bút văn nghệ “hôm nay” mà thôi. Nhiều sách thơ văn tiếng Việt in ấn ở Hoa Kỳ khoảng 40 năm nay như người này biết, thua xa các sách in hồi thế kỷ XIX, khoan nói tới các sách in trong thế kỷ XX hay XXI của Âu Châu hay của Mỹ. Mà kỹ thuật in ấn hiện nay lại do máy móc tinh tế sản xuất, tinh tế ngàn lần hơn máy móc hai ba thế kỷ trước. Lỗi trước hết là ở người, chứ không ở máy.

Một trong những tệ hại nhất của hầu hết những cuốn sách tiếng Việt in trong vòng vài chục năm nay ở Hoa Kỳ là nội dung và cái bìa không ăn nhập với nhau. Bìa sách chính ra là phải “minh họa” nội dung, ít nhất là một vài cảnh có nói ở bên trong, thì các “tác giả” lại đi nhờ, đi xin, các họa sĩ trình bày bìa sách cho mình. Họa sĩ là người vẽ tranh, đâu phải nhà trình bày bìa sách? Cũng như các bích chương ca nhạc dán tràn lan hiện nay trên cột đèn, trên cửa kính các cửa tiệm, nhà hàng, đó đâu phải “bích chương” (poster) đúng nghĩa? Bích là tường. Bích chương là tranh phô bày trên tường. Tấm bích chương trước hết là để cho độc giả đang di chuyển, đang đi bộ chứ không cần nói đi xe đạp, có thể đọc được. Bích chương tiếng Việt hiện nay chèn ép cả trăm cái hình và những con chữ người đang di chuyển không thể nào đọc được (trong khi bạn đang lái xe bạn vẫn có thể đọc được các bích chương, poster đúng nghĩa thực hiện bởi những người có học về trình bày các sản phẩm ấn họa cho công chúng - public). Còn kia là những bích chương dành cho những kẻ vô công rồi nghề, không có gì làm, phải đứng lại [nếu đứng lại được giữa đám đông] cả năm mười phút mới đọc hết một tờ giấy in màu mè rối loạn trước mắt.

Về những cuốn thơ văn ngoài bìa in tranh của các họa sĩ, thật sự, những cái bìa sách như thế chỉ để quảng cáo tranh cho họa sĩ, nghĩa là lẽ ra họa sĩ phải trả tiền cho tác giả để in tranh của mình lên bìa sách của người khác, thì nghe đâu các tác giả lại phải trả tiền cho các họa sĩ để họ in tranh của họ trên bìa sách của mình. Người viết bài này có khoảng hai chục cuốn sách đã xuất bản, chưa bao giờ in tranh của họa sĩ lên bìa sách của mình, mà nếu in tranh của ai, thì tranh đó phải minh họa một cảnh trong sách. Chẳng hạn khi in Mã Lộ (con đường ngựa chạy, Văn xuất bản, 1969), tác giả đã nhờ bạn, họa sĩ Nguyễn Trung, vẽ cảnh Năm Xích Long (người xà ích) đang chạy cái xe thổ mộ chở hoa cho nàng bán hoa tươi ở Chợ Bến Thành. Như người đọc có thể thấy. Chẳng hạn khi xuất bản Chiều Hôm Gió Cuốn, tôi đã nhờ họa sĩ Chóe vẽ cho cái cảnh một con đường chạy giữa rừng Ban Mê Thuột, như người ta có thể thấy, nếu có cuốn sách. Truyện Vườn Quên Lãng, 1970, cái bìa là tranh vẽ cả trăm cái lá xanh lá vàng bao quanh tên truyện và tên tác giả. Bìa sách phải minh họa cảnh trong sách, như thế họa sĩ mới có lý do để lấy họa-phí, còn nếu in tranh của mình, lại đóng khung riêng rẽ không ăn nhập gì với nhan đề cuốn sách, lẽ ra họa sĩ cần phải trả ấn phí cho tác giả, hay cho nhà xuất bản. Nhưng lỗi không ở họa sĩ đâu, mà cũng không ai có lỗi, chỉ có các nhà xuất bản đã không muốn làm gì với cái bìa sách của ông A bà B, và các tác giả A và B đã không nghĩ gì về sách và bìa sách của mình, ngoài ý muốn sao cho đẹp, dù cái đẹp này không ăn nhập gì với suy niệm hay hoàn cảnh của nhân vật trong sách hết. Thành ra lòng yêu cái đẹp khoán trắng cho người vô tâm, chỉ nghĩ vì họ, sẽ hại tới sách của mình mà thôi. Hiện có cả ngàn cuốn sách với mặt ngoài và bên trong như thế. Sự việc này nếu áp dụng câu tục ngữ “Trông mặt mà bắt hình dung,” thì sách ế là phải.

Vài cuốn sách cũ tiếng Việt có hình in trong bài này, bìa sách rõ ràng là minh họa nội dung, đẹp và ý nghĩa vô cùng, đáng cho chúng ta suy gẫm về nghệ thuật in ấn sách của người xưa, khi kỹ thuật sơ khai so với thời vi tính bây giờ, là một trời một vực.

Trở về với việc bán đấu giá sách cũ, sau đây là vài cuốn sách cũ và bản thảo đắt giá nhất hoàn vũ:

-1994, Codex Leicaster: Sách ghi chép của Leonardo da Vinci, thế kỷ XVI, đóng bìa, bán 30.8 triệu Mỹ kim.

-1999, RothschildBook of Hours: Sách cầu nguyện, viết tay, minh họa, thế kỷ XVI, bán 14.3 triệu Mỹ kim.

-2007, Magna Carta: Viết tay, chưa đóng lại, thế kỷ XIII, bán 21.3 triệu Mỹ kim.

-2010, Birds of America, vẽ tay màu sắc của họa sĩ và nhà thiên nhiên học John James Audubon, thế kỷ XIX, bán 11.5 triệu Mỹ kim.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Một con người tài hoa, suốt đời đấu tranh cho nhân quyền
Linh Nguyễn & Ðỗ Dzũng/Người Việt

FOUNTAIN VALLEY, California (NV) - Ca nhạc sĩ Việt Dzũng đột ngột qua đời vì bệnh tim tại bệnh viện Fountain Valley
sáng Thứ Sáu, 20 Tháng Mười Hai, hưởng dương 55 tuổi, làm nhiều người, cả đồng hương, đồng nghiệp và bạn bè, bàng hoàng,
thậm chí nhiều người không tin là sự thật.

Có thể nói, sự ra đi của người nhạc sĩ tài hoa này làm chấn động cộng đồng người Việt tị nạn không chỉ tại Little Saigon mà còn ở khắp nơi trên thế giới.

Image
Cố ca nhạc sĩ Việt Dzũng. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

“Ðây là một mất mát lớn lao cho đài Radio Bolsa, giới truyền thông, giới nghệ sĩ, nói riêng, và cho cộng đồng người Việt tị nạn, nói chung,” ông Nguyễn Chí Thiện, giám đốc đài phát thanh Radio Bolsa, nơi nhạc sĩ Việt Dzũng làm việc hàng ngày từ gần 20 năm qua, nói với phóng viên nhật báo Người Việt.

“Mới hôm qua, Việt Dzũng gọi điện thoại xin nghỉ bệnh. Hôm nay mẹ của Việt Dzũng gọi vào đài, không gặp anh và bà đến nhà anh thì được biết anh đã được đưa vào bệnh viện cấp cứu từ sáng,” ông Thiện nói thêm.

Ngoài Bolsa Radio, nhạc sĩ Việt Dzũng còn làm việc cho đài truyền hình SBTN và Trung Tâm Asia trong gần 20 năm qua.

Nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN kiêm giám đốc nghệ thuật Trung Tâm Asia, không cầm được nước mắt, nói với nhật báo Người Việt bằng giọng xúc động: “Khi nhận hung tin, tôi chưa chấp nhận sự thật. Cho tới khi vào bệnh viện, thấy Việt Dzũng nằm đó, mới biết bạn mình thật sự đi rồi. Trong gần 20 năm qua, phải nói rằng nếu không có Việt Dzũng thì SBTN và Asia không được như ngày hôm nay. Ðối với tôi, Việt Dzũng vừa là người bạn, người anh, và đồng nghiệp. Sự ra đi của anh quá đột ngột. Chúng ta mất một người rất tài hoa.”

“Ðiều mà tôi nhớ nhất là Việt Dzũng rất thương 'đàn em' như ca sĩ và xướng ngôn viên, những người được anh đào tạo khi mới vào nghề,” nhạc sĩ Trúc Hồ nói tiếp. “Anh làm cho người khác nhiều và sống vì người khác nhiều lắm. Tôi nhớ anh nhất là những lần sang trại tị nạn quay phim, dù chân anh bị tật, đi lại khó khăn, nhưng anh vẫn cứ lướt tới, không bao giờ chùn bước.”

Nhà báo Khanh Nguyễn, giám đốc Ban Việt Ngữ đài phát thanh Á Châu Tự Do, chia sẻ: “Trong 30 năm làm việc chung với Việt Dzũng, qua các chương trình trên hai đài phát thanh Little Saigon Radio và Radio Bolsa, phải nói là chúng tôi thân nhau như anh em ruột. Tôi nhớ gặp Việt Dzũng lần đầu năm 1980 ở Washington, DC. Trước đó, tôi từng nghe những bản nhạc do anh sáng tác. Tôi nhớ hôm đó Việt Dzũng nói với tôi: 'Trước giờ anh nghe những bản nhạc của em rồi, nhưng do người khác hát. Hôm nay anh sẽ được nghe những bản nhạc đó, nhưng bằng chính giọng của em.'”

“Khi rời đài Little Saigon Radio và ra mở đài Radio Bolsa, Việt Dzũng có mời tôi cộng tác tiếp và nói 'anh đừng bao giờ bỏ em nhé.' Nhưng hôm nay, thì Việt Dzũng đã bỏ tôi rồi,” nhà báo Khanh Nguyễn chia sẻ tiếp. “Rất nhiều người hôm nay đến bệnh viện hỏi tôi 'Có thật là Việt Dzũng ra đi?' Nhiều người không tin vào hung tin này.”

Ông Nguyễn Hữu Công, giám đốc chương trình của Little Saigon Radio ở Westminster, từng làm việc chung với cố ca nhạc sĩ Việt Dzũng trong những năm đầu tiên khi đài mới thành lập.

Ông chia sẻ: “Phải nói đây là một mất mát lớn cho cộng đồng, cho phong trào nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam. Việt Dzũng rất tích cực, một tiếng nói được nhiều người tin cậy.”

“Về mặt phát thanh, anh là một người đa tài, và là người đầu tiên trình bày tin tức theo phong cách của người Mỹ,” ông Công nói tiếp. “Hồi bên Việt Nam, thế hệ chúng tôi được huấn luyện đọc tin rất trịnh trọng. Nhưng khi Phạm Long, Minh Phượng và Việt Dzũng ngồi chung, thì chính Việt Dzũng là người trình bày bản tin thoải mái, có tiếng cười, từ đó, ngành phát thanh có thay đổi.”
Image
Cố nhạc sĩ Việt Dzũng và xướng ngôn viên Minh Phượng trên trang báo OC Register ngày 1 Tháng Sáu, 1997. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Ông Nguyễn Hữu Công cho rằng, trong ngành truyền thông, ca nhạc sĩ Việt Dzũng là một nhà báo hơn là một xướng ngôn viên đọc tin tức, vì “anh biết tìm tòi tin tức và gởi đến thính giả một cách nhanh nhất.”

Nhà báo Phạm Long, hiện đang làm việc cho đài truyền hình Vietnam America 57.3, tâm sự: “Tôi rất ngậm ngùi khi hay tin, vì Việt Dzũng là một người làm việc rất chuyên nghiệp. Dù tôi ở trong nghề lâu hơn anh, nhưng chính anh là người luôn có những sáng kiến và đánh máy rất nhanh, từ tiếng Anh sang tiếng Việt và từ tiếng Việt sang tiếng Anh.”

“Kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi với anh là khi chúng tôi bắt đầu làm chương trình 'Niềm Mơ Ước Mùa Giáng Sinh.' Chương trình hôm đó rất cảm động, ngày nào chúng tôi cũng nhận được thư từ và đóng góp tài chánh, để có thể mua quà Giáng Sinh cho các em nhỏ.”

Tại Trung Tâm Asia, nhiều ca sĩ vẫn còn ngỡ ngàng khi hay tin “người anh” của họ ra đi.

Ca sĩ Ðoàn Phi kể: “Sáng thức dậy, tôi nhận được rất nhiều tin nhắn. Khi mở ra nghe, không thể tin đó là sự thật, vì tôi mới nói chuyện với anh hôm tham gia chương trình Viet Love for Philippines. Cho đến khi biết sự thật, tôi đi lang thang, thẫn thờ ngoài đường, suy nghĩ về anh, một người tôi coi như anh của mình.”

“Rồi tôi đến Asia để hỏi thăm việc hậu sự, rồi đến nhà thờ cầu nguyện cho anh,” ca sĩ Ðoàn Phi nói tiếp. “Anh là một người tài hoa, đóng góp rất nhiều cho cộng đồng. Hầu như cả cuộc đời anh cống hiến cho nhân quyền Việt Nam. Trong nghề nghiệp, anh là một người bạn, người anh, và người thầy của tôi.”

Ca sĩ Hoàng Anh Thư không nén nổi nỗi xúc động, nói chầm chậm: “Em chỉ biết khóc và cầu nguyện cho linh hồn anh thanh thản. Anh là một người rất tốt. Khi em mới tới Mỹ, anh chính là người nâng đỡ em, dạy dỗ từng lời, nhiệt tình và thật thà. Em chắc chắn anh sẽ lên Thiên Ðàng.”

“Em có rất nhiều kỷ niệm với anh. Mỗi lần đi show chung, em là người đẩy xe lăn cho anh, từng ăn cơm chung với vợ chồng anh tại nhà, rất là vui. Nhưng bây giờ, những ngày vui như vậy không còn nữa,” nữ ca sĩ này nói tiếp.

Từ 10 giờ sáng, một số thân hữu nghe hung tin và đến đài Radio Bolsa để hỏi thăm, như nhà báo Du Miên, ông Nguyễn Bá Thành, ký giả Khúc Minh, nữ sĩ Bích Huyền, Giám Sát Viên Janet Nguyễn, ông Lê Công Tâm, ca sĩ Chung Tử Lưu và một số bạn khác.

Khuôn mặt mọi người buồn rười rượi, có người mắt đỏ hoe.

“Mới gặp đó mà nay Dzũng đã đi rồi,” bà Bích Huyền nói trong cơn xúc động.

Trên tường, trước cửa phòng thu âm có treo bức ảnh cố nhạc sĩ Việt Dzũng và xướng ngôn viên Minh Phượng trong một bài viết của báo OC Register ra ngày 1 Tháng Sáu, 1997, nhân dịp khai trương đài Radio Bolsa.

Một tấm ảnh khác trên bức tường đối diện cũng là hình hai người trên trang “Show Saturday” với tựa đề “Tuning In To Little Saigon.”

Ông Nguyễn Bá Thành đến đài để quảng bá chương trình “Niềm Mơ Ước Mùa Giáng Sinh” cho biết: “Tưởng như mới ngày hôm qua thôi, vì tôi và Việt Dzũng cùng làm MC trên sân khấu ngày 15 Tháng Mười Một trong lần gây quỹ ở Dallas cho nạn nhân Philippines.”

“Chính Việt Dzũng và chị Minh Phượng đặt tên cho chương trình 'Niềm Mơ Ước Mùa Giáng Sinh” 21 năm trước trên đài Little Saigon Radio và Little Saigon Foundation. Việt Dzũng là một 'ông già Noen của thế hệ trẻ Việt Nam ở hải ngoại,'” ông Thành nói thêm.

Trên trang mạng của Người Việt Online, bản tin ca nhạc sĩ Việt Dzũng qua đời có tới hơn 50,000 lượt người vào đọc.

Trên các diễn đàn Internet, mở ra chỗ nào cũng thấy email “Vô cùng thương tiếc ca nhạc sĩ Việt Dzũng” chuyển đi khắp thế giới.

Tất cả các cơ quan truyền thông Việt Ngữ ở hải ngoại đều đưa tin sự ra đi của ca nhạc sĩ được nhiều người biết đến, từ khi còn ở trong nước, cho tới khi ra hải ngoại, nhất là ca khúc do ông sáng tác, “Một Chút Quà Cho Quê Hương.”

Tại hải ngoại, ca nhạc sĩ Việt Dzũng gần như không bao giờ vắng mặt trong các chương trình văn nghệ đấu tranh, nhất là cùng với ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh.
Image
Nữ sĩ Bích Huyền bật khóc trước hung tin khi nói chuyện với ca sĩ Chung Tử Lưu tại đài Radio Bolsa. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Trong một thông cáo báo chí, nữ Dân Biểu Loretta Sanchez (Dân Chủ-Ðịa Hạt 46) chia sẻ: “Hôm nay, chúng ta mất ca nhạc sĩ Việt Dzũng, một người đóng góp trong hơn 30 năm cho cộng đồng Việt Nam ở Orange County cũng như tại hải ngoại. Ông được biết là một nhạc sĩ, ca sĩ, nhà tổ chức, nhà thiện nguyện, nhà báo, MC và xướng ngôn viên Radio Bolsa.”

“Cá nhân tôi được biết ca nhạc sĩ Việt Dzũng trong vai trò một nhà hoạt động nhân quyền, một người bỏ cả cuộc đời đấu tranh cho tự do và dân chủ tại Việt Nam,” bà Sanchez cho biết tiếp. “Tôi xin chia sẻ sự mất mát này với cộng đồng Việt Nam, gia đình cố ca nhạc sĩ Việt Dzũng, và nhất là những người ngưỡng mộ ông. Mọi người sẽ không bao giờ quên ông.”

Ký giả Khúc Minh, một đồng nghiệp của ca nhạc sĩ tại Bolsa Radio, cho biết: “Việt Dzũng qua Mỹ ngày 30 Tháng Tư trên tàu Trường Xuân của cụ Phạm Ngọc Lũy, khi ấy là thuyền trưởng. Anh tốt nghiệp cử nhân Toán và Âm Nhạc đại học Oklahoma. Sau về làm việc chung với thi sĩ Du Tử Lê ở Houston, Texas, và được nhiều người biết đến qua tuyển tập nhạc 'Kinh Tị Nạn' năm 1983, trong đó có bài 'Một Chút Quà Cho Quê Hương.'”

Cũng theo ông Khúc Minh, cuối năm 1984, cố nhạc sĩ Việt Dzũng dọn về California và tham dự nhiều sinh hoạt văn hóa như cộng tác với báo Diễm (Trần Thị Diễm Phúc), báo Hồn Việt (Ngọc Hoài Phương). Anh từng sinh hoạt trong Phong Trào Hưng Ca Việt Nam với ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh, và tham dự nhiều sinh hoạt từ thiện, đấu tranh cho tự do và nhân quyền Việt Nam với các đoàn thể trong cộng đồng. Sau khi làm việc cho đài phát thanh Little Saigon Radio từ năm 1992 đến năm 1996, ông cùng Minh Phượng sáng lập Radio Bolsa ở Westminster từ đó đến nay.

Ngoài ra, ông cũng cộng tác với đài truyền hình SBTN ở Garden Grove và là MC trong nhiều băng nhạc của Trung Tâm Asia.

Hiền thê của ông là nhiếp ảnh gia Bébé Hoàng Anh.

Việt Dzũng tên thật Nguyễn Ngọc Hùng Dũng, sinh năm 1958 tại Sài Gòn.

Thân phụ của ông là Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Bảy, và mẹ là cựu giáo sư trung học Gia Long.

Ca nhạc sĩ Việt Dzũng sáng tác nhiều ca khúc, bao gồm nhạc đấu tranh và tình ca. Những ca khúc nổi tiếng của ông, ngoài “Một Chút Quà Cho Quê Hương,” còn có “Lời Kinh Ðêm,” “Mời Em Về,” “Tình Ca Cho Nguyễn Thị Sài Gòn,” “Tình Như Cây Cà Rem,” “Và Em Hãy Nói Yêu Anh,”...

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

Ông Già Noël Không Mặc Áo Đỏ
Tôi ngồi phành chân trên ghế trước trong xe Pontiac cũ của chúng tôi, bởi vì đó là cách ngồi hay nhất dànhcho một đứa trẻ lớp bốn. Ba tôi lái xe vào thành phố để mua sắm, còn tôi chỉ đi theo chơi. Đó là lý do tôi nói với ông. Thật ra, tôi có một vấn đề quan trọng cần hỏi ông, mà vấn đề đó cứ lởn vởn trong đầu tôi mấy tuần nay. Tôi bắt đầu lên tiếng:

- Ba à...

Tôi ngập ngừng. Ông không quay sang nói:

- Gì vậy?

- Dạo này, mấy đứa bạn trong trường con thường bàn tán về một điều mà con biết là không đúng...

Tôi cảm thấy môi dưới mình run rẩy vì phải cố kìm lại những giọt nước mắt chỉ trực trào ra.

- Chuyện gì vậy, Punkin?

Tôi biết tâm trạng ông đang vui khi ông dùng cách gọi thân mật như vậy để gọi tôi.

- Tụi nó nói là không có ông già Noel.

Một giọt nước mắt bên phải trào ra. Tôi ấm ức nói tiếp:

- Tụi nó nói con ngốc lắm mới tin là có ông già Noel... Chuyện đó chỉ dành cho con nít.

Một giọt nước mắt bên trái lăn nhanh xuống má. Tôi sụt sùi:

- Nhưng con tin những gì ba đã nói với con. Ông già Noel là có thật. Phải không ba?

Ba tôi dịu dàng nói:

- Patty, bọn trẻ ở trường con sai rồi. Ông già Noel có thật.

Tôi thở ra một hơi nhẹ nhõm:

- Con biết ngay mà!

- Nhưng ba cần nói thêm về ông già Noel với con. Ba nghĩ giờ đây con đã đủ lớn để có thể hiểu những gì ba sắp chia sẻ với con. Con sẵn sàng chưa?

Nét mặt ba tôi dịu dàng hẳn, và ánh mắt của ông thật ấm áp. Tôi biết sắp có một chuyện quan trọng, và tôi sẵn sàng vì tôi hoàn toàn tin tưởng nơi ông. Ba tôi sẽ không bao giờ nói dối tôi.

- Ngày xưa có một người đàn ông thường chu du khắp nơi trên thế giới. Đi tới đâu, ông ấy cũng tặng quà cho những đứa trẻ mà ông thấy là xứng đáng. Con sẽ tìm thấy ông ấy ở nhiều vùng đất khác nhau với nhiều tên khác nhau. Ông ấy là tinh thần của yêu thương vô điều kiện, và ông ấy mong muốn chia sẻ yêu thương bằng cách tặng những món quà từ trái tim. Khi con đến một độ tuổi nào đó, con sẽ biết ông già Noel thật sự không phải là người chui qua ống khói nhà con đêm trước Giáng Sinh. Cuộc đời thật và linh hồn thật của vị thần tiên này sống mãi trong lòng con, trong lòng ba, trong lòng mẹ, trong lòng - cũng như trong tâm trí - của tất cả những ai tin vào niềm vui mà chúng ta tặng cho người khác. Tinh thần thật sự của ông già Noel nằm trong điều con cho đi, chứ không phải điều con nhận được. Một khi con hiểu và chấp nhận khái niệm này, Giáng Sinh càng thêm lý thú và kỳ diệu, vì con biết phép lạ xuất phát từ tâm hồn con, khi ông già Noel sống trong trái tim của con. Con có hiểu những lời ba muốn nói với con không?

Tôi nhìn chằm chằm ra ngoài khung cửa, tập trung vào một thân cây phía trước mặt. Tôi sợ phải nhìn ba tôi - người mà lúc nào cũng đoan chắc với tôi rằng ông già Noel là có thật. Tôi chỉ muốn tin như hồi năm ngoái tôi đã tin - ông già Noel là một vị thần tiên to lớn, mập mạp, mặc bộ đồ đỏ. Tôi không muốn nuốt vào viên thuốc làm người lớn và nhìn thấy mọi việc khác đi.

- Patty, con hãy nhìn ba.

Ba tôi yên lặng chờ đợi. Tôi quay đầu lại nhìn ông.

Ba tôi cũng đang khóc - nước mắt của vui sướng. Nét mặt ông rạng rỡ bởi ánh sáng của hàng ngàn thiên hà, và trong đôi mắt ông, tôi thấy đôi mắt của ông già Noel. Ông già Noel thật sự. Là người bỏ nhiều công sức lựa những món quà đặc biệt mà tôi muốn trong tất cả những dịp Giáng Sinh. Là người sẵn sàng ăn phần cà rốt mà tôi bỏ lại cho con chó Rudolph. Là người - dù không có kỹ năng - vẫn ráp xe đạp, ráp cỗ xe ngựa, và những thứ linh tinh khác cho tôi trong suốt buổi sáng của những ngày Giáng Sinh.

Tôi đã nhận được điều đó. Tôi đã nhận được niềm vui, sự chia sẻ và yêu thương. Ba tôi kéo tôi vào vòng tay ấm áp của ông, âu yếm ôm tôi thật lâu. Hai cha con tôi cùng khóc vớinhau.

Ba tôi nói tiếp:

- Bây giờ thì con thuộc về một nhóm người đặc biệt. Kể từ giây phút này, mỗi ngày trong năm, con sẽ chia sẻ niềm vui Giáng Sinh với mọi người. Vì giờ đây, ông già Noel đang sống trong tâm hồn con như ông ấy đang sống trong tâm hồn ba. Trách nhiệm của con là thực hiện trọn vẹn tinh thần trao tặng. Đây là một trong những điều quan trọng nhất có thể xảy ra trong suốt cuộc đời con, vì bây giờ con biết ông già Noel không thể tồn tại nếu như không có những người như con và ba - luôn giữ cho ông ấy sống mãi. Con có thể thực hiện được điều này không?

Tâm hồn tôi tràn ngập niềm tự hào, và tôi chắc chắn ánh mắt tôi sáng rực lên vì xúc động. Tôi nói:

- Được, thưa ba. Con muốn ông ấy luôn ở trong tim con, như ông ấy luôn ở trong tim ba. Ba ơi, con yêu ba lắm. Ba là ông già Noel tuyệt vời nhất trong đời con.

Khi đến lúc tôi phải giải thích sự hiện hữu của ông già Noel cho các con tôi biết, tôi cầu xin tôi có tài ăn nói và tình yêu thương như ba tôi vào ngày đã giúp tôi hiểu được ông già Noel không mặc bộ đồ màu đỏ. Tôi hy vọng các con tôi cũng dễ dàng chấp nhận như tôi ngày đó. Và tôi hoàn toàn tin tưởng nơi chúng.

Patty Hansen

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Bản Tình Ca Của Một Người Làm Thơ

Tác giả: Phạm Hồng Ân


Tác giả là một nhà thơ quân đội. Trước 1975, ông là một sĩ quan hải quân, từng tu nghiệp tại Mỹ. Sau năm 1975, ông trở thành người tù chính trị và định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. Tham dự Viết Về Nước Mỹ ngay từ những năm đầu tiên, Phạm Hồng Ân đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2012. Bài viết mới của ông được phổ biến đúng ngày đầu năm dương lịch 2014. Việt Báo Viết Về Nước Mỹ trân trọng chúc tác giả và bạn đọc, bạn viết một năm mới an lành.

* * *

Tôi trở lại làm việc cho GA-esi, sau một năm dài ngồi thở dài than vắn. GA-esi sắp tan. Hãng chuẩn bị dọn qua Mississippi, bám víu vô một đơn vị khác để ngáp ngáp. Giống như ngọn đèn leo lét, trước khi tàn lụi, chợt rực lên. Tôi đang gặp giai đoạn này. Trở lại, vì nó rực lên, mặc dù ngắn ngủi.

Công việc không nặng nhọc, nhưng nhem nhuốc quanh năm. CAP (capacitor) được hệ thống arc-spray phun chì ở hai đầu. Muốn test CAP, tôi phải cơi bỏ mảng bột chì dơ bên ngoài lớp plastic. Đó là lý do tại sao thân thể bị dị ứng và ngứa ngáy khó chịu.

Người bạn đồng nghiệp Việt Nam duy nhất bên cạnh tôi, là Vĩnh. Anh cũng nắng dãi mưa dầu, hàng ngày bó mình trong lò chì cực nóng. Tai và đầu lúc nào cũng bị tra tấn bởi hàng tỷ tiếng động quái dị, phát ra từ các cỗ máy Impregnation đua nhau xả hết tốc lực.

Thật ra, nếu chẳng vì Jessica, có thể tôi sẽ không muốn trở lại công việc. Tôi không muốn trở lại nơi chốn người ta đã mạnh dạn từ bỏ tôi, kể cả trong tình yêu, kể cả gia đình. Jessica thu hút mãnh liệt. Nàng như bóng như hình, lượn qua chao lại giữa đời tôi giống cánh hải âu chưa bao giờ rời biển. Đúng 8 giờ sáng, mỗi ngày, khi tôi vừa cầm ly cà phê ngậm ngùi ra tới parking lot, thì chiếc Jeep màu đỏ trờ tới, Jessica khoan thai bước ra, khép nhẹ cửa xe, vuốt mái tóc dài sang một bên, rồi uyển chuyển lướt vào hãng. Ngày, tuần, tháng, năm nào...cũng vậy. Cũng cái jupe ngắn khỏi gối. Cũng cặp đùi trắng muốt. Cũng mái tóc bồng bềnh xõa nhẹ bờ vai. Cũng nụ cười nửa miệng, nhếch môi khinh khỉnh. Bốn mùa trôi qua đều đặn. Xuân mát rượi. Hạ bứt rứt. Thu se sắt. Đông run rẩy. Dù nóng rát thịt hay lạnh thấu xương, nàng vẫn đằm thắm bó mình trong chiếc jupe dễ thương. Chỉ có mỗi ngày mỗi một sắc màu. Nay đỏ. Mai vàng. Mốt tím. Bữa kia xanh..v..v...

Chuyện tôi si Jessica bắt đầu thấu tai Vĩnh. Cái nhìn đắm đuối mỗi sáng cộng với sự thẩn thờ trong lúc làm việc đã tự tố cáo tôi một cách hiển nhiên. Vĩnh nhất định phản đối tình yêu cuồng dại này.

- Ông già rồi. Còn xí quách bao nhiêu mà đi yêu một cô gái khêu gợi như vậy?

Bôi đen hay xúc phạm thần tượng là điều không thể tha thứ. Tôi nhào tới Vĩnh.

- Tôi khoái ai, yêu ai...là quyền của tôi. Chẳng mắc mớ chi tới cậu?

Tôi xắn tay áo, bồi thêm.

- Cái hãng này sẽ như cái đám ma, nếu không có những cô gái "cởi mở" như Jessica.

*

Tôi thích nhìn Jessica, chẳng phải vì yêu nàng. Cũng chẳng phải vì tấm thân bốc lửa sẵn sàng phực lên thiêu cháy trái tim tôi. Tôi thích nàng vì nàng giống Lụa. Lụa của 40 năm về trước, lúc tôi còn là cậu học sinh chưa nếm mùi đời. Thượng Đế quả trớ trêu. Ngài đã tạo nên Lụa. Ngài còn đem phó bản rải khắp nơi trên trái đất. Rốt cuộc, xa Lụa một thời gian dằng dặc, qua Jessica, kỷ niệm ngày xưa chợt ùa về như dòng lũ ngược. Nếu cởi bỏ chiếc jupe cũn cỡn trên thân thể nuột nà của Jessica, thay vào đó tà áo dài trắng tha thướt học trò... thì chắc chắn phó bản sẽ trở thành chính bản. Jessica sẽ trở thành Lụa. Y hệt. Trăm phần trăm.

Nhắc Lụa, khung trời Cà Mau như ngả nghiêng trong ký ức tôi. Những con đường chụm lại. Dòng sông trôi giạt đôi bờ. Thành phố khóc mưa chiều. Mái trường trung học vắng bặt tiếng guốc nữ sinh. Chiến tranh bắt đầu tấn công tỉnh lỵ. Tuổi trẻ lội trong khói lửa như cá mắc cạn trong vũng lầy. Trước biến cố thời cuộc, Lụa vẫn vươn lên như mầm cây, mướt xanh và thắm sắc. Những bài thơ của tôi ra đời. Sầu, thương, than, khóc...cộng với khói thuốc và hơi rượu... đã làm đảo điên trái tim mềm yếu của nàng. Bài thơ đầu tiên tặng Lụa được đăng trên báo Phụ Nữ Diễn Đàn. Cả xóm le lưỡi thán phục. Cả trường trung học An Xuyên đi tìm tôi, nhìn mặt. Lúc đầu Lụa mắc cỡ, lên tiếng trách móc, phàn nàn. Sau đó, nàng lén nhìn tôi bằng ánh mắt thiết tha. Và thay vào cái nhếch môi khinh khỉnh năm xưa là nụ cười thầm kín, dường như có chất chứa một hứa hẹn nào đó cho mai sau.

Thời gian êm đềm trôi qua, những bài thơ tôi tiếp tục cho Lụa, đăng khắp nơi trên các báo Sài Gòn. Đến một lúc, tình yêu dâng trào, Lụa không thể giấu kín nỗi niềm nữa, nàng bộc lộ bằng cách âu yếm dắt tay tôi về giới thiệu với ông già. Nhà Lụa kín đáo, nằm bên hông rạp chiếu bóng Huỳnh Long, dưới hàng gòn vây quanh sân, che mát mái tôle. Mùa này, cuối năm, trái nứt bụng, lòi bông trắng xóa. Bông gòn theo gió, bay tung tăng trước sân, bay dính vào tóc Lụa, bay xà xuống đôi chân vạn dặm của tôi, và trải dài như hoa tuyết khắp lối đi. Chưa kịp vào nhà, tôi đã thấy một người đàn ông lom khom nhóm lửa trong cái bếp đặt dưới lườn chiếc xe bán mì lưu động. Như hiểu được nỗi băn khoăn của tôi, Lụa nhỏ nhẹ.

- Ba em đó! Ba em đang chuẩn bị đi bán đêm.

- Ba em bán mì gõ? Hèn chi tối nào anh cũng nghe tiếng gõ lóc cóc khắp các con đường. Nhiều khi thức khuya học thi, đói bụng, anh cũng kêu mì của ba em. Vậy mà... không biết?

Lần gặp đó, tôi thất vọng. Ba Lụa cố ý muốn cắt đứt tình cảm của tôi với Lụa, khi biết tôi làm thơ, phung phí tâm hồn.

- Con kết bạn với thằng này, lâu dần...có nước xách túi đi ăn mày. Thơ với thẩn làm sao kiếm được tiền? Ba thức khuya dậy sớm bán mì nuôi con ăn học, để rồi...ngó con ôm nhau chết đói hay sao?

Tôi buồn tình, lủi thủi ra về. Bông gòn vẫn rơi trên lối đi, trắng xóa như tuyết. Tôi tưởng chừng đấy là những đám bông tang, khâm liệm mối tình tôi vào đáy sâu kỷ niệm.

*

40 năm trôi qua như giấc mơ. Kể từ lúc chia tay với Lụa, tôi không có cách nào để gặp lại nàng. Chiến tranh bùng nổ khắp nơi, tôi bị cuốn hút vào vòng binh lửa như một định mệnh an bài. Chiến tranh còn làm thất lạc tất cả. Thất lạc ngay chính tôi. Một người lính làm thơ ngơ ngáo trước trận tiền. Rồi, chiến tranh kết thúc. Kết thúc một cách vội vã, hối hả. Tôi lại thất lạc thêm lần nữa. Một tù binh làm thơ bơ vơ trong ngục tù.

Tôi nướng rụi tuổi trẻ trong khói lửa và lao lung, cho đến khi tuổi già sắp bộc phát thì mới qua được Mỹ, theo chương trình HO. Chưa kịp định cư yên ổn, tôi đã liên lạc với các đồng hương để tìm tung tích Lụa. Vài ngày sau, tôi nhận được điện thoại của Hiền, một thằng bạn chung lớp thời trung học đệ nhị cấp.

- Tau tìm ra tung tích của chú Sáu rồi.

Tôi áp ống nghe vào sát tai. Nhăn mày, ngạc nhiên:

- Chú Sáu nào?

Tiếng chửi thề vang lên, nhừa nhựa kéo dài.

- Đù má. Chú Sáu bán mì gõ ở xóm Huỳnh Long đó!

- Ô! Ông già của Lụa. Mày gặp Lụa rồi ư?

- Chưa. Chỉ mới nghe tin. Tau ở Virginia qua Little Saigon có một tuần thôi! Mày muốn gặp chú Sáu, ngày mai lên đây. Tau và mày sẽ đến tiệm mì của ông ta.

- Hả? Ổng có tiệm mì ở Little Saigon sao?

- Nghe nói ổng mang cả xe mì gõ qua, lập nên tiệm mì. Làm ăn phát đạt lắm!

Mặt tôi bỗng nóng phừng lên, hừng hực. Hình như trái tim đang đập mạnh, phình phịch trong ngực.

- Còn Lụa. Lụa thì sao?

- Tau chỉ biết tới đó thôi!. Muốn biết thêm, ngày mai lên đây sẽ biết.

*

Buổi sáng, mặt trời vừa hực nắng, tôi đã khăn gói ra xe, trực chỉ hướng Little Saigon. Hôm qua, suốt đêm, tôi không ngủ được. Lâu lâu, cứ ngóc đầu dậy nhìn đồng hồ, rồi nằm xuống lăn qua lộn lại. Tôi trông đêm qua mau, ngày tới lẹ để nhào xuống xe, phóng một mạch rước Hiền, rồi chạy thẳng đến tiệm mì.

Hôm qua, hình ảnh Lụa cứ đập vào trí tôi như khúc phim quay ngược. Tà áo dài trắng thướt tha, mái tóc dài lay bay, và đôi chân thon thả vào đời...cứ trăn trở, cứ ray rứt, cứ sống lại trong tôi thời lãng mạn học trò. San Diego cách Santa Ana không xa, khoảng một tiếng đồng hồ sau, tôi có mặt ở Phước Lộc Thọ. Hiền chọn chỗ ngồi ngay cửa trước, nơi quầy cà phê đầu tiên, với cuốn đặc san Cà Mau trước mặt, chờ tôi.

Nhận diện Hiền dễ dàng, vì có những dấu hiệu báo trước. Nhưng tôi phải lưỡng lự vài giây, mới định thần nhào tới ôm nó reo mừng. Thằng bạn trẻ trung lém lỉnh ngày xưa, giờ là lão già xuội lơ, lờ rờ như rùa mắc cạn.

- Lên xe, chạy theo tau. Cứ nhắm Garden Grove tiến tới.

*

Cánh cổng to lớn tự động mở toang, trước mũi xe chú Sáu. Sân thênh thang. Chúng tôi lần lượt đậu xe vào, vẫn còn khoảng trống dọc ngang chạy mút tới bờ tường. Những tầng lầu chồng lên nhau, tạo nên một biệt thự uy nghi, bề thế. Hàng palm vươn lên, chung quanh. Thân thẳng đứng, biểu hiện cho sự hiên ngang, bất khuất. Tôi chợt nhớ hàng gòn nhà Lụa 40 năm về trước. Trái gòn, cuối năm nứt bụng, rắc bông trắng xóa xuống lối đi. Bông gòn từng được tôi ví như bông tang, khâm liệm mối tình học trò của tôi và Lụa xuống đáy sâu kỷ niệm.

Chú Sáu mời chúng tôi vào phòng khách. Chú vừa pha cà phê vừa huyên thiên.

- Ở tiệm mì, nói chuyện với nhau không tiện. Chú muốn mời mấy cháu về nhà, nói chuyện thoải mái hơn.

Hiền ngó nét tráng lệ xung quanh căn phòng, rồi ngó chú Sáu thán phục.

- Chú chỉ đem có gánh mì sang Mỹ mà làm ăn phát đạt. Chắc chú có bí quyết chi đó? Truyền lại cho con cháu đi chú!

- Làm ăn ngon lành, đâu phải chỉ có mình chú? Người ta đã đem món ăn Hà Nội, Huế, Sài Gòn qua cả bên này. Thậm chí họ còn muốn đem cả thành phố Sài Gòn qua luôn. Không tin, mấy cháu chạy tà tà đến phố Bolsa đi! Y hệt như Sài Gòn ngày xưa. Một Sài Gòn trên đất Mỹ.

Tôi nóng lòng, đứng lên ngồi xuống. Mắt ngó dáo dác, tứ tung. Lúc ngóng lên cầu thang. Lúc nghiêng xuống lối đi. Lúc dò xét các căn phòng. Tôi thất vọng hoàn toàn. Tất cả đều chìm trong im lìm, vắng lặng. Không dấu hiệu nào báo có sự hiện diện của Lụa ở đây.

Chú Sáu chợt xoay lưng, vỗ nhẹ vào vai tôi.

- Cháu này ở hẻm Huỳnh Long phải không? Ba cháu tên gì? Coi chú có nhớ ra không?

Hiền la lên.

- Cái thằng chuyên làm thơ tán gái. Nổi tiếng khắp xóm Huỳnh Long. Bộ chú không biết sao?

Chú Sáu buông tách cà phê xuống bàn, kêu "Trời ơi!", rồi choàng tay ôm tôi vào lòng. Nước mắt chú rưng rưng, làm nước mắt tôi cũng rưng rưng.

- Chú xin lỗi cháu. Ngày xưa, dại quá, chú nói những lời xúc phạm đến cháu. Bây giờ, hối hận lắm!

Tôi lắc đầu, thân mật nắm chặt tay chú Sáu.

- Lụa. Lụa vẫn khỏe hả chú?

Chú Sáu ôm mặt, khóc rống lên.

- Chú đã mất con Lụa rồi. Mất rồi.

Mắt tôi bỗng mờ dần. Trần nhà dường như nghiêng ngửa. Tôi nghe rõ từng nhịp tim tôi đập yếu ớt trong lồng ngực.

- Lụa mất rồi? Mất hồi nào? Trong trường hợp nào vậy chú?

Chú Sáu dìu tôi ngồi xuống sofa.

- Nó vẫn còn. Cái xác vẫn còn, Nhưng cái hồn thì thất lạc ở phương nào?

*

- Lụa đấy! Cháu cứ vào, nhỏ nhẹ khơi lại kỷ niệm với nó. Coi nó có nhớ cháu không?

Tôi sửng sốt ngó người đàn bà mặc áo nâu sòng đang khiếp sợ thét lên, khi tôi tiến đến gần bà. Bà chắp hai tay trước ngực, rạp người xuống, lạy lia lịa.

- Xin ông tha cho tôi. Tội nghiệp tôi, ông ơi!

Chú Sáu lẹ làng bước tới.

- Lụa. Đây là bạn thân của con. Bạn học với con hồi thời trung học. Nhớ không?

Người đàn bà ngưng lạy, ngước mặt lên, ngó tôi đăm đăm. Một thoáng trôi qua, bà lắc đầu quầy quậy.

- Bạn hả? Nói dóc. Bạn tui còn ở dưới biển kìa. Bạn tui không về. Bạn tui làm quen với nàng tiên cá.

Trời ơi! Lụa của tôi đây sao? Lụa dấu yêu ngày nào của tôi đây sao? Một người đàn bà bạc trắng mái đầu, tóc ngắn cũn cỡn, thân xác già nua tiều tụy trong bộ nâu sòng thùng thình thúng thính... mà là Lụa của tôi đây sao? Đâu rồi mái tóc thướt tha xõa xuống bờ vai? Đâu rồi nụ cười nửa miệng, ánh mắt thiết tha gợi tình? Đâu rồi tấm thân kiều diễm, với từng bước chân thon thả đi nhẹ vào đời? Dường như tôi bật khóc. Dường như tôi đang mất đi một điều gì quý báu nhất trên đời?

Chú Sáu ở sau lưng cứ thúc tôi tiến tới.

- Cháu đến với nó đi! Dùng tình cảm, nhắc lại mối tình năm xưa của hai đứa, coi nó có hồi phục tâm trí không?

Tôi dịu dàng nắm nhẹ tay Lụa. Lụa giựt tay lại, lùi mạnh vào vách tường.

- Lụa còn nhớ bài thơ đầu tiên anh tặng cho em không? Bài thơ đăng trên tuần san Phụ Nữ Diễn Đàn. Chính em đã dẫn một bầy con gái tìm anh, đưa guốc lên xin chữ ký?

- Thơ? Thơ hả? Thơ Vân Tiên chứ gì? Thơ đó, làm sao có chữ ký. Nói dóc.

Tôi kiên nhẫn.

- Bài thơ đó, ngày xưa em thuộc nằm lòng. Bây giờ, anh đọc lại cho em nghe:

Em từ tiền kiếp về đây
Bắn anh một mũi tên ngay huyệt tình
Dù ôm thương tích vô hình
Ngẩn ngơ suốt cuộc hành trình trăm năm
Phải chăng em ngọn dao gâm
Đâm anh những nhát vô tâm trong đời...

Lụa bỗng ngã lăn ra, cười rũ rượi.

- Tui ghét vọng cổ lắm. Ông ca dở ẹt. Về nhà ca cho má ông nghe đi!

Tôi hoàn toàn thất vọng. Ký ức của Lụa, giờ đây, trống rỗng. Thần trí của nàng thất lạc phương nào? Lụa quên mất tất cả những gì trong quá khứ, kể cả mối tình đầu nồng nàn và sâu đậm nhất của chúng tôi.

Chú Sáu đưa hai tay lên cao, kêu "Trời". Và kéo tôi ra hành lang.

- Mấy chục năm nay, chú đã đưa nó đi khắp nơi trị bệnh. Từ chùa chiền, nhà thờ, bệnh viện... cho tới bùa, chú, trấn, ếm... đủ kiểu. Hết thuốc tây tới thuốc bắc, thuốc nam... kể cả thần dược, nan dược. Ai bày chi dùng nấy. Ai chỉ thầy hay... cũng tìm đến. Rốt cuộc, bệnh vẫn hoàn bệnh. Tiền mất tật mang cháu ạ!

Tôi xót xa, nắm chặt tay chú Sáu.

- Chú có biết nguyên do nào làm Lụa điên cuồng như vậy?

- Năm chú vượt biên. Tàu chú chẳng may gặp hải tặc hung dữ. Chúng cưỡng bách và hãm hiếp phụ nữ vô cùng dã man. Lụa, là đứa con gái mới lớn, nên không thể tránh khỏi cảnh thương tâm đó. Nó đau đớn ngất xỉu, và khi tỉnh dậy - nó chợt hóa điên cuồng.

*

Tôi trở về San Diego giống một cái xác không hồn. Hy vọng tìm tung tích Lụa, từ 40 năm nay, thoáng chốc tan thành mây khói. Lụa còn đó như không có. Lụa còn đó, nhưng biến dạng biến hình, chết luôn cả tâm hồn thanh cao mà suốt tháng năm tôi nâng niu, trìu mến.

Chính bản mất, tôi chỉ còn cơ hội bấu víu vào phó bản. Thượng đế quả tuyệt vời. Chính Ngài đã đem phó bản rải khắp nơi để con người không có quyền tuyệt vọng. Tôi sẽ theo chân Jessica, sẽ làm những vần thơ mượt mà cho nàng. Tôi sẽ dựng lại tình yêu, dựng lại cái đẹp trên cuộc đời đầy thương đau này. Giống như Sài Gòn mất, người ta dựng lại Saigon trên đất Mỹ.

Ngày mai, tôi vào GA-esi làm việc, tôi sẽ nói với Vĩnh đôi lời. Nếu không có những người làm thơ ca tụng vẻ đẹp trên đời... thì cái hãng này sẽ buồn như đám ma và trần gian này sẽ ảm đạm như cái bãi tha ma khổng lồ.


Phạm Hồng Ân

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tiếng cười

Trà Lũ

Năm nay Canada vào đông rất sớm. Tháng trước mới cuối thu mà nhiều nơi ở miền tây và miền đông đã có tuyết. Thành phố Toronto thân yêu này có tuyết ngay cuối tháng Mười Một. Việc này ít khi xảy ra. Xưa nay dân Canada vẫn mơ có White Christmas nghĩa là chỉ ao ước trời bắt đầu có tuyết từ đêm Giáng Sinh. Ngày xưa ở quê nhà, tôi nghe tiếng White Christmas mà chẳng hiểu gì, sang đây tôi mới hiểu. Ở đây đi lễ Giáng Sinh lúc nửa đêm xong, khi tan lễ ra về mà trời tuyết trắng xóa thì dân Canada thích vô cùng, vì đó là điềm tốt cho một năm mới đang tới. White Christmas là một tin vui.
Khi tôi viết những dòng này thì lễ Christmas chưa tới. Mới có sứ giả tới thôi. Sứ giả đây là Ông già Santa Claus. Thành phố Toronto đã có cuộc rước ông rất trọng thể. Bao nhiêu là hội đoàn, bao nhiêu là ban nhạc, bao nhiêu là xe hoa. Và các em bé bắt đầu viết thư cho ông già để xin quà, và người lớn bắt đầu đi sắm tết, và các người đang yêu nhau bắt đầu tìm mua quà cho nhau. Cả một vùng trời yêu thương đang bao phủ lấy thành phố này.

Ngoài phố, chợ nào cũng đề bảng bán đại hạ giá. Việc này hoàn toàn khác chợ Việt Nam quê nhà. Bên mình, mỗi lần lễ tết đến là cái gì cũng lên giá. Ngay cả may áo, cắt tóc, tiền xe, cũng lên giá. Ở đây thì trái lại, mọi thứ xuống giá. Các nhà kinh tế cho biết, tuy là bán đại hạ giá, bán SALE, nhưng lại bán được nhiều, bán cạn kho, nên cuối cùng cộng lại, nhà buôn vẫn có lời. Nhà buôn có lời và nhà báo cũng lời to. Dịp này báo chí thu được bao nhiêu tiền quảng cáo.

Viết đến đây tôi chợt nhớ tới một bà Ý Đại Lợi làm chung sở với tôi khi xưa. Bà kể rằng khi bà mới sang Canada, tiếng Anh chưa giỏi nên mùa Giáng Sinh năm đó ra đường bà vô cùng ngạc nhiên vì thấy chỗ nào ở Canada cũng bán muối. Chữ muối viết rất to rất đẹp. Kỳ hết sức và lạ hết sức vậy đó. Nói đến đây rồi bà cười ngất. Chữ Sale trong tiếng Ý là muối, bà đâu có biết chữ Sale ở Canada vào dịp lễ có nghĩa là bán đại hạ giá.
Bà cụ B.95 trong làng tôi nêu thắc mắc là thư các em bé viết cho ông Già Santa Claus thì gửi về địa chỉ nào. Anh John trả lời ngay: Ở Canada ai cũng biết là ông già ở bắc cực, tức là mạn bắc nước Canada, nên thư các em bé viết chỉ cần đề địa chỉ ‘Bắc Cực’ là tới. Canada còn gần cả thiên đàng nữa. Nghe anh John nói như vậy thì cụ B.95 vô cùng ngạc nhiên. Ủa, vậy thiên đàng không ở trên trời mà ở dưới đất, ở miền Bắc cực sao? Anh John được dịp kể chuyện vui mùa Giáng Sinh. Anh kể rằng năm xưa có một ông da đen triệu phú đi du lịch. Ông đến Paris, Pháp quốc đầu tiên. Khi ông vào viếng nhà thờ Notre Dame thì ông thấy ở chân bàn thờ có một cái điện thoại ghi là để gọi lên thiên đàng. Giá mỗi lần gọi là một triệu đồng, vì là đường dây viễn liên, thiên đàng ở xa lắm. Sang tới Hoa Kỳ ông thấy nhà thờ chính tòa ở thủ đô D.C. cũng có điện thoại gọi lên thiên đàng và giá cũng là một triệu đồng vì là đường dây viễn liên, thiên đàng ở xa lắm. Khi sang tới Canada, nhà thờ chính tòa ở thủ đô Ottawa cũng có đường dây gọi lên thiên đàng, nhưng giá chỉ có 50 xu. Ông đem việc lạ lùng này hỏi một bà sơ đang lo việc nhà thờ, bà sơ trả lời: Từ Canada gọi thiên đàng rất gần, vì là đường dây ‘local’, đường dây địa phương. Sách có chép chuyện này. Kể đến đây xong thì anh John và cả làng cười ầm lên. Bà cụ biết là cái anh John này bữa nay muốn trêu cụ, muốn cụ cười cho vui cả ngày.

Cụ B.95 đáp ngay: Tết đến nơi rồi, và bác Từ Hoè từ miền Tây cũng sắp về làng ăn tết. Tôi sẽ đem việc này hỏi lại bác Từ Hoè. À, tôi chưa trình các cụ là bữa nay làng tôi họp để bàn về tết Con Ngựa sắp tới. Hai cô Huế Cao Xuân và Tôn Nữ nghe nói tới ông Từ Hoè thì mắt sáng hẳn lên. Hai cô gật gù với Cụ B.95: Đúng, cụ nên kiểm chứng với bác Từ Hoè về địa điểm nước thiên đàng và nơi ở của ông già Santa Claus.
Bữa nay làng tôi họp ở nhà Cụ Chánh tiên chỉ. Cụ đãi phở bò. Cụ bày một khay thịt vừa tái vừa chín, đủ cả nạm gầu vè sụn và hành ngò. Dân làng tự chọn lấy món mình thích, và nhiều ít tùy ý. Anh John vừa ăn phở vừa kể chuyện phở. Rằng tờ báo uy tín của Mỹ, tờ Wall Street Journal, ngày 18 tháng Mười vừa qua đã đăng một bài rất hay về phở, do ký giả Joe Ray viết. Ông ký giả này đã đi Việt Nam nhiều lần, cả Bắc cả Nam, rất thích món ăn Việt Nam và ông cho món Phở là tiêu biểu cái bếp Việt Nam. Ông ta quan sát tỉ mỉ cách người ta nấu phở, từ cách chẻ những cọng hành, cách đập miếng gừng sao cho dập để tiết ra những hương thơm và chất cay. Ông bảo hương vị phở Hà Nội giản dị và cổ điển, nước dùng trong và thanh, còn phở Saigon thì hương vị nồng nàn, đậm đà và nước không trong, có nhiều cải biến. Riêng ông thì ông thích phở Saigon hơn.
Ông ODP nói chen vào ngay: May mà ông ta không ăn phở ở hải ngoại, chẳng hạn ăn phở ở Toronto này. Ông mà đi ăn phở ở đây, thấy bà con cho tương đen tương đỏ, vắt chanh, xịt nước mắm, rồi quấy tô phở lộn tùng phèo lên thì ông sẽ hết hồn và vỡ mộng hoàn toàn. Nói đến đây rồi ông cười hà hà. Ông cũng đọc bài báo anh John vừa nói. Thấy ông nhà báo Joe Ray này hay đi Việt Nam và khen Việt Nam, nhất là khen phở Việt Nam, thì ông nghi rằng cái anh nhà báo này chắc có cô bồ ở Việt Nam. Mê bồ Việt Nam thì chắc sẽ mê luôn món phở mà cô bồ nấu hay dẫn đi ăn. Anh ta khen quá sức là thế.
Ông bồ chữ ODP này rất rành về các món ăn, ông có cái miệng của Cụ Thạch Lam và Cụ Nguyễn Tuân ngày xưa. Ông ODP không dùng muỗng, bao giờ ông cũng bưng tô phở lên húp. Ông bảo dùng muỗng thì hương phở sẽ bay đi hết. Bưng tô phở lên húp thì tất cả cái hương vị nồng nàn của phở bay thẳng vào miệng vào mũi. Người Nhật khi ăn xúp cũng húp như mình, họ bắt chước Việt Nam mình.

Khi cả làng đã ăn phở no nê và bắt đầu uống trà thì làng tôi bàn sang chuyện thời sự giúp nạn nhân bão lụt ở Phi Luật Tân. Gia đình cụ Chánh năm xưa đã ở Phi Luật Tân tại trại tỵ nạn Palawan. Cụ bảo dân Việt Nam mình mắc nợ Phi Luật Tân nhiều lắm. Không những chỉ thập niên 1980 tỵ nạn mà còn trước nữa. Chẳng hạn năm 1954 khi di cư vào miền Nam, phái đoàn y tế tới các trại di cư để chẩn bệnh và phát thuốc đa số là những phái đoàn Phi Luật Tân. Chẳng hạn thập niên 1960 họ tham chiến ở Việt Nam bên cạnh quân đội Hoa Kỳ…
Nghe đến đây thì ông ODP xin nói một chi tiết về đạo. Rằng cũng cuối thập niên 1960 này, Phi Luật Tân đã giới thiệu phong trào Cursillo cho giáo hội Công Giáo Việt Nam. Cursillo là một phong trào quốc tế cổ võ việc sống đạo, canh tân bản thân và môi trường. Khóa đầu tiên ở Saigon giữa thập niên 1960 có Cha Đoàn Cao Lý, Cha Phạm Văn Hội, Ông Nguyễn Duy Chỉ, GS Phan Huy Đức, GS Dương Minh Kính, GS Trần Trung Lương… Phong trào Cursillo này đã tỏa rộng khắp Miền Nam.
Bà Cụ B.95 không biết gì nhiều về nước Phi Luật Tân nên xin ông ODP soi sáng. Bồ chữ ODP liền nói ngay. Rằng nước Phi Luật Tân này ở phía đông nước Việt Nam mình. Đây là một tập hợp gồm hơn 7,000 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đồi núi, thiếu đất canh tác, nghèo về tài nguyên. Quần đảo này hằng năm hứng chịu bao nhiêu là thiên tai, bão tố, động đất, núi lửa. Trung bình mỗi năm chịu 20 trận bão lớn. Đất nghèo nhưng lòng dân không nghèo. Bản chất người dân Phi Luật Tân rất hiền hòa, giàu lòng bác ái thương người. Hồi đầu thập niên 1980, khi phong trào vượt biên lên cao, mấy nước Đông Nam Á có ý định cưỡng bách tỵ nạn Việt Nam hồi hương như Mã Lai, Indonesia, nhưng Hội đồng Giám Mục Phi Luật Tân đã tuyên bố nếu chính phủ Phi Luật Tân mà cưỡng bách thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam lên máy bay thì các giám mục sẽ ra nằm ở phi đạo không cho máy bay cất cánh.

Một hình ảnh bác ái gây xúc động. Nhờ lập trường này mà chính quyền Phi Luật Tân không hề cưỡng bách thuyền nhân Việt Nam về nước. Nhờ lập trường này mà gia đình cụ Chánh mới được ở lại trại rồi được sang Canada.

Cụ Chánh là người rất sốt sắng trong việc đóng góp cứu trợ. Ngay khi hay tin nhà thờ Cha Paolo kêu gọi giáo dân giúp Phi Luật Tân thì cụ Chánh đã góp tiền ngay. Rồi nhà thờ Việt Nam, chùa Việt Nam, cộng đồng Việt Nam vận động gây quỹ thì cụ Chánh cũng tiếp sức rất hăng hái. Làng tôi đã cộng tác với cụ rất chặt chẽ. Ai cũng giúp hết lòng vì đây là việc vừa trả ơn vừa bác ái.
Chính quyền Canada đã gửi đoàn quân thiện nguyện y tế sang tiếp cứu Phi Luật Tân khá sớm, và đã hô hào dân chúng Canada cứu trợ. Chính quyền hứa sẽ ‘match up’ tiền cứu trợ, nghĩa là nếu dân cho 100 thì chính quyền cũng cho thêm 100, nếu dân cho 1 triệu thì chính quyền cũng sẽ bỏ vào thêm 1 triệu. Phong trào cứu trợ đang lan rộng khắp nơi.

Hội Người Việt Toronto có một sáng kiến rất hay để gây quỹ giúp Phi Luật Tân là mở ra hai suất hát chiếu phim ‘Bolinao 52’ vào Chủ nhật đầu tháng 12. Các cụ đã xem phim này chưa? Hay lắm. Nếu chưa thì các cụ tìm cách xem ngay nha. Đây là phim nói về một con thuyền mong manh chở người Việt Nam chạy trốn chế độ CS. Con thuyền ra khơi tháng 5, 1988, chở 110 người. 37 ngày lênh đênh trên biển, gặp bao nhiêu sóng gió bão táp, hết lương thực, người trên thuyền chết quá nửa. Bao nhiêu tàu lớn đi qua nhưng không một tàu nào cứu vớt. Sau cùng họ đã tới được làng Bolinao của Phi Luật Tân. Dân làng đã cứu giúp họ. Cuốn phim ‘Bolinao 52’ mang tên ngôi làng Phi Luật Tân và số người sống sót. Người xem phim ai cũng khóc. Thương quá thuyền nhân Việt Nam. Cảm động quá lòng tốt của dân Phi Luật Tân.

Phim này đã được hai giải thưởng cao quý Emmy Awards. Hoa Kỳ rất hãnh diện về cuốn phim này. Đạo diễn tài ba là ông Nguyễn Hữu Đức. Chuyện phim là chuyện có thật. Ông Đức đã bỏ ra nhiều năm đi tìm tài liệu và nhân chứng. Ông đã sang tận làng Bolinao. Bà Tùng xuất hiện trong phim chính là nạn nhân sống sót trên con thuyền định mệnh 1988 này.
Cô Tôn Nữ hỏi bồ sách ODP về nguồn gốc tên nước Phi Luật Tân. Câu hỏi khó ha. Tôi cũng chả biết, dân làng đa số cũng chả biết. Ông ODP đáp tỉnh bơ: Phi Luật Tân là tên của Hoàng đế Philip nước Tây Ban Nha. Năm 1542, vua đem quân chinh phục quần đảo này và lấy tên mình đặt cho quần đảo thuộc địa. Năm 1898, Tây Ban Nha nhường Phi Luật Tân cho Hoa Kỳ. Mãi đến năm 1946 Phi Luật Tân mới là một quốc gia độc lập. Lãnh đạo một nước gồm 7.107 hòn đảo khó lắm chứ, thế mà nước này vẫn hòa bình, chỉ trừ mấy hòn đảo phía nam theo Hồi Giáo nên lâu nay nơi này có phong trào đòi ly khai.
Anh H.O. nói thêm: Các bác nói rất nhiều điều về nước Phi Luật Tân mà quên nói về 2 món ăn rất phổ thông của họ, đó là món rau đay và món hột vịt lộn. Người Phi Luật Tân cũng ăn hai món này y như người Việt Nam mình. Nếu từ món ăn này mà suy rộng ra thì dám dân Phi Luật Tân cũng có họ hàng với Việt Nam mình khi tổ phụ Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển. Tôi có đọc mấy bài báo nói rằng Cha Lạc Long Quân dẫn đàn con tỏa xuống miền nam, lan ra các hải đảo… Cụ Chánh nghe đến đây thì cười rồi bảo: Tôi biết anh là môn đệ của triết gia Kim Định. Sao anh không nói cho hết cái ý của sư tổ là Cha Lạc Long Quân đi xuống phía nam, một số đã đi xuống các đảo Phi Luật Tân, một số đã đóng bè đi sang tận Nam Mỹ và trở thành người Da Đỏ Nam Mỹ…

Làng tôi lại cười ầm lên với câu chuyện người Da Đỏ ở Canada, ở Hoa Kỳ và ở Nam Mỹ có dòng máu của con cái Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long Quân.
Nói xong chuyện cứu trợ nạn nhân Phi Luật Tân, làng tôi bàn sang chuyện thời sự thế giới. Nổi cộm vẫn là chuyện mấy nước Trung Đông với Do Thái và Palestine.
Nghe nhắc tới Do Thái một cái là anh John góp chuyện ngay. Không ngờ cái máu ghét Do Thái của anh John này mạnh như vậy. Anh John kể rằng nhiều người Mỹ gốc Do Thái rất giỏi, rất giàu và rất uy quyền. Họ nắm hết hệ thống truyền thông thế giới và ngân hàng thế giới. Xưa nay kẻ có tiền là kẻ có quyền. Họ chỉ nghĩ tới nước Do Thái mà thôi. VNCH thua trận 1975 là vì nhóm này chỉ muốn Mỹ rút ra khỏi Việt Nam để dành hết lực lượng và tiền bạc cho Do Thái.

Anh John nói có sách mách có chứng. Theo anh thì Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson (1908-1973) là người đã làm VC chới với điêu đứng. Thời đó trên không thì pháo đài bay B.52 sấm sét, dưới đất thì lực lượng liên quân hành quân liên tục, ngoài khơi thì 4 hàng không mẫu hạm luôn luôn cho máy bay oanh tạc cất cánh. Do Thái thấy Hoa Kỳ đã quá chú trọng tới cuộc chiến Việt Nam mà bỏ quên Do Thái nên đã dùng thế giới truyền thông mà họ chỉ huy để lên án Johnson là tiêu tốn ngân sách và nhân mạng… Do Thái vừa tấn công bằng truyền thông, vừa mua chuộc phong trào phản chiến, nên cuối cùng Johnson bị bó tay. Sau này Kissinger gốc Do Thái đã xúi Nixon bỏ rơi VNCH để bắt tay với Trung Cộng… Anh John kết luận: Không có cái nhóm Do Thái gốc lớn này thì bàn cờ Việt Nam và thế giới đã khác.

Thấy cụ B.95 ngáp mấy cái liền, dân làng biết cụ đã ngấy chuyện thời sự khô khan, nên chúng tôi liền chuyển sang nói chuyện thời sự dễ hiểu và gần kề. Anh John chịu trách nhiệm việc này. Anh bèn kể chuyện phát giác bộ xương hóa thạch khổng lồ của con khủng long thời tiền sử. Rằng cuối tháng 11 vừa qua, ở thành phố Leduc thuộc tỉnh bang Alberta miền trung Canada, người ta đã tìm thấy một bộ xương hóa thạch dài 12 thước của một con khủng long sống cách đây 68 triệu năm. Tôi xin nhắc lại, 68 triệu năm nha. Thế nghĩa là gì? Nghĩa là thế giới chúng ta ở bây giờ đã hiện diện hàng trăm triệu năm, và đất Canada này đã có mặt cũng hàng trăm triệu năm. Miền đất này có lẽ là miền đất tổ của khủng long trên trái đất. Tháng trước đây, cũng ở Alberta này, người ta cũng đã đào được một khúc đuôi hóa thạch cũng của một con khủng long. Anh John kể đến đây rồi nói: Đời sống của ta thọ lắm là 100 năm. Một trăm năm tuổi có nghĩa gì so với số tuổi trăm triệu năm của trái đất, phải không cơ.

Đấy là tin con vật hóa thạch, bây giờ là tin người đẹp Mylene Paquette ở Montreal miền Quebec. Người đẹp 35 tuổi này mới làm một cuộc vượt biển xuyên Đại Tây Dương. Nàng lái một chiếc canô dài hơn 7 mét đi từ bãi Halifax miền đông Canada. Nàng vượt Đại Tây Dương 5.000 cây số trong 4 tháng ròng rã. Nàng lên đênh trên đại dương, gặp bao nhiêu sóng to gió lớn, và cuối cùng nàng đã tới được bến cảng Lorient bên Pháp tháng 11 vừa qua. Nàng cho biết đã gặp nhiều trận bão và sóng biển có lúc cao tới 12 thước. Lúc đó nàng phải trốn vào phòng lái và phó mặc cho định mệnh. Lịch sử vượt đai dương này xưa nay chỉ có 13 cuộc thành công và chỉ có mình nàng là đã ra đi từ miền bắc Mỹ, tất cả còn lại là ra đi từ phía nam. Đi từ phía bắc mới khó khăn và nguy hiểm hơn là đi từ phía nam. Nàng là người Bắc Mỹ đầu tiên đã thành công trong cuộc vượt đại dương một mình. Phụ nữ Canada giỏi quá, các cụ đã thấy chưa?

Tin tiếp theo: Trung tuần tháng Mười Một vừa qua, thủ đô đã làm lễ tưởng niệm Các Chiến Sĩ Trận Vong. Các cụ có biết vào lúc nào không cơ. Tôi đọc tin mà giật mình kính phục. Thưa đó là ngày 11 tháng 11 vào lúc 11 giờ 11 phút. Buổi lễ diễn ra tại thủ đô, nơi có đài tưởng niệm các chiến sĩ National War Memorial. Thủ tướng và vị toàn quyền Canada với các cấp chính phủ, ngoại giao đoàn cùng tới dự và đặt vòng hoa. Lúc đó bọn đàn ông chúng tôi đang uống cà phê và đọc báo trong quán Starbuck. Tự nhiên thấy cả quán im lặng và mọi người đứng lên. Nhìn vào TV mới biết là lễ mặc niệm đang bắt đầu ở Ottawa. Cả quán im lặng và ai cũng đứng nghiêm chỉnh. Lễ chào quốc kỳ và mặc niệm xong mọi người mới ngồi xuống. Giây phút thật là cảm động. Dân trí Canada cao quá. Canada là xứ hòa bình, xưa nay chưa hề đem quân đi xâm chiếm và đánh nhau với nước nào, thế mà Thế Chiến I, Canada đã gửi quân sang giúp Âu Châu và 68.000 quân nhân đã bỏ mình để bảo vệ Âu Châu. Thế Chiến II, 48.000 quân nhân cũng bỏ mình bên Âu Châu. Trong cuộc chiến ở Triều Tiên 1950, 516 binh sĩ Canada đã bỏ mình. Trong cuộc chiến Afghanistan hiện nay, 158 quân nhân Canada cũng đã bỏ mình. Tôi thấy nhiều vị đại diện lên đặt vòng hoa mà nước mắt lưng tròng.

Và tin thời sự sau cùng là tin Thị trưởng Toronto Rob Ford bị rút quyền lực. Từ khi ông thị trưởng mập ù này lên nhậm chức, thành phố Toronto rối bung. Mấy tháng gần đây, ngày nào các cơ quan truyền thông cũng nhắc tới các bê bối của ông. Nào ông đã hút ma túy, nào ông đã uống rượu lái xe, nào ông đã thiên vị nhân viên. Cuối cùng thì hội đồng thành phố đã bỏ phiếu rút quyền của ông lại. Hiện nay Phó Thị trưởng Norm Kelly hầu như đang điều hành thành phố này. Chưa biết số phận ông Ford rồi sẽ ra sao.

Cụ Chánh chủ nhà nghe thấy anh John nói là hết chuyện thời sự thì mang một khay bánh rán ra đãi cả làng. Bánh rán này do Cụ già B.95 chính gốc Bắc kỳ làm nên có hương vị rất Bắc Kỳ. Vỏ bánh giòn tan và nhân bánh bùi ngậy. Dân làng vừa ăn bánh vừa uống trà, hai món này đi với nhau ngon hết sức. Cụ Chánh lên tiếng: Nãy giờ chúng ta nghe các thứ chuyện mà toàn là chuyện nghiêm trang, bây giờ xin sang phần chuyện cười. Xin bồ chữ ODP phụ trách phần này nha. Cả làng vỗ tay. Ông ODP vừa cuời vừa nhìn mọi người: Chúng ta đang ăn bánh cho nên tôi xin lấy đề tài ‘Bánh’. Tôi xin đố mọi người mấy câu về tên bánh. Tôi xin đố 2 câu thơ mở đầu để làng nghe làm quen:

- Bánh gì ăn ít mà nhiều?
- Bánh gì cả thúng vẫn kêu chưa vừa?
Cụ B.95 đáp ngay: Câu 1 ‘Bánh gì ăn ít mà nhiều’ là bánh Đa, ‘Bánh gì cả thúng vẫn kêu chưa vừa’ là bánh Ít.
Ông ODP gật gù tỏ vẻ bái phục. Ông xin đố tiếp:
- Bánh gì nhọn tựa răng cưa?
- Bánh gì nên nghĩa sớm trưa vợ chồng?
Cả làng suy nghĩ một lúc lâu mà không ai nghĩ ra đáp số. Ông ODP bèn cười hì hì:
- ‘Bánh gì nhọn tựa răng cưa’ là bánh Gai, ‘Bánh gì nên nghĩa sớm trưa vợ chồng’ là bánh Phu thê!
Cả làng nghe xong ai cũng à lên một tiếng rồi gật gù cho là có lý.
Ông ODP thấy làng còn thích thú nên ông bảo thay vì đố từng đồng bánh, ông xin đố một rổ bánh như sau:

- Bánh gì trắng tựa như bông?
- Bánh gì ăn diện nghênh ngông với đời?
- Bánh gì nhỏ, gọi mập đùng?
- Bánh gì sống tại những vùng rong rêu?
- Bánh gì tra tấn đủ điều?
- Bánh gì cất rượu ra chiều nồng thơm?
- Bánh gì ăn cỏ ăn rơm?
- Bánh gì mà lại bọc trong che ngoài?

Nghe 8 câu đố một lúc thì cả làng ai cũng lắc đầu, ai cũng kêu vừa dài vừa khó. Ông ODP bảo khó gì đâu. Dễ mà. Này nha:

- Bánh gì trắng tựa như bông là bánh Dày.
- Bánh gì ăn diện nghênh ngông với đời là bánh Chưng.
- Bánh gì nhỏ, gọi mập đùng là bánh Ú.
- Bánh gì sống tại những vùng rong rêu là bánh Bèo.
- Bánh gì tra tấn đủ điều là bánh Hỏi.
- Bánh gì cất rượu ra chiều nồng thơm là bánh Men.
- Bánh gì ăn cỏ ăn rơm là bánh Bò.
- Bánh gì mà lại bọc trong che ngoài là bánh Bao.

Anh John nghe xong các câu đố thì cười hì hì: Tôi không có gốc Việt Nam từ bé nên không được nghe tới hết các tên và không được ăn những đồng bánh này. Khi học tiếng Việt Nam thì tôi có một thắc mắc là trong tiếng Việt Nam, hễ gọi là bánh thì đều là thực phẩm để ăn, trừ có cái ‘bánh xe’ thì không hề là thực phẩm. Tại sao lại gọi là bánh, bánh xe ôtô, bánh xe đạp, bánh xe máy? Tôi nhớ hồi đó học đến chữ này tôi cứ tức cười mãi. Không ai giải thích được chữ bánh trong tiếng ‘bánh xe’. Anh John này rất thông thái, anh hỏi rồi tự trả lời: Tôi hỏi là hỏi chơi vậy chứ về mặt ngôn ngữ học thì ta phải chấp nhận nó là như vậy, không được hỏi tại sao. Tôi nhớ trong tiếng Việt Nam có nhiều tiếng suy ra thì cũng buồn cười lắm. Chẳng hạn động từ ĂN chỉ động tác nhai trong miệng rồi nuốt đi. Ngoài nghĩa ăn này ra, tiếng Việt Nam còn nói ăn trong nhiều trường hợp khác, như ăn mặc, ăn chơi, ăn học, ăn vạ, ăn nằm… Và tiếng ăn làm tôi cười nhiều nhất là lời đe dọa: ‘Tao cho mày ăn cái tát tai bây giờ; Tao cho mày ăn cái đá đít bây giờ…’ Sao lại ăn tát tai, ăn đá đít? Kỳ mà hay quá chứ.

Cứ thế, làng tôi vui cười mải mê tới tối mịt.
Tôi định viết nữa nhưng hết giấy mất rồi nên tôi xin phép dành mấy dòng cuối này để trình các cụ một tin ghê gớm: Nhờ tài năng về máy vi tính và lòng quý mến của anh John và Chị Ba Biên Hòa, nhân mùa lễ Giáng Sinh và Năm Mới đang tới, tôi sắp trình làng hai ấn phẩm mới: ‘Đất Quê Hương 2’ và ‘600 Chuyện Cười’. Đây là tác phẩm thứ 15 và 16 của bần bút. Đất Quê Hương 2 là một tập hợp các chuyện phiếm mà tôi ưng ý nhất trong mấy năm qua, và 600 Chuyện Cười là những chuyện tiếu lâm ngắn gọn mà tôi sưu tầm được từ đủ loại sách báo cũng từ mấy năm qua. 600 chuyện này khác với các chuyện trước đây. Nhìn lại kho chuyện cười mà tôi giật mình. Như vậy là tôi đã viết 4 cuốn chuyện cười trong 12 năm. Nhân việc in 2 sách mới, Anh Chị John cũng giúp tôi tái bản 3 cuốn chuyện cười đã xuất bản trước đây. Tôi cho tái bản vì lâu nay nhiều độc giả tìm hỏi mà kho sách của tôi đã hết từ lâu. Lần ra mắt sách này có tất cả 5 cuốn, quả là ghê gớm, quả là bạo gan, phải không cơ?
- 2 sách mới: Đất Quê Hương 2 + 600 Chuyện Cười
- 3 sách tái bản: 300 Chuyện Cười + 400 Chuyện Cười + 500 Chuyện Cười

Anh John và Chị Ba Biên Hòa đã đặt tên 4 sách cười này là ‘Chuyện Cười Trà Lũ Toàn Tập’. Cộng 4 con số trên 4 bìa sách là 1.800 chuyện cười, nhưng thực ra số chuyện cười còn nhiều hơn thế, cuốn nào tôi cũng viết thêm ở cuối để bù cho những chuyện viết sai in sai. Tôi chỉ viết vào sách những chuyện nào mà tôi thích và đã làm tôi cười, chứ không phải vơ vào bất cứ chuyện nào để cho tròn con số.

Tiếng cười là biểu hiệu hạnh phúc. Tiếng cười là ngôn ngữ quốc tế, không bao giờ cần thông dịch. Tiếng cười không tốn tiền nhưng mua được rất nhiều sự. Một tiếng cười bằng mười thang thuốc bổ, cha ông ta bảo thế. Laughter is the best medicine, nguyệt san quốc tế Reader’s Digest bảo thế.

Kính chúc các cụ Năm Mới đầy hạnh phúc và chan hòa tiếng cười.

Trà Lũ

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Rạp Aristo Sài Gòn và đoàn Kim Chung
Friday, January 17, 2014 2:26:53 PM

Ngành Mai


Rạp Aristo là một rạp hát cải lương ở ngay trung tâm Sài Gòn mà giờ đây người ta không còn thấy nữa, có còn chăng là trong ký ức
những người hâm mộ cải lương, họ sẽ hình dung được ngay, nếu như có ai nhắc tới. Rạp Aristo, còn có tên là Trung Ương Hí Viện,
nằm trên con đường chạy dọc theo bờ tường rào nhà ga xe lửa, mà thời Pháp có tên là Colonel Grimaux (đường Lê Lai sau này).

Image
Ðào Kim Chung, tài danh sân khấu cải lương đất Bắc. Bức hình thường được treo ở hai rạp Aristo và Olympic Sài Gòn thời thập niên 1960.
(Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)

Thuở đầu tiên nó chỉ là một khán trường nhỏ nằm trong một nhà hàng, nhưng vào khoảng những năm thập niên 1940, do khán giả đông, chủ nhân đã xây cất, mở rộng biến thành rạp hát. Và đến 1955 thì được đoàn Kim Chung từ miền Bắc vào thuê mướn dài hạn.

Trước 1954 đoàn Kim Chung thành lập ở ngoài Bắc, cũng là một đoàn hát có bề thế, nổi tiếng, chủ nhân là ông Trần Viết Long, một công tử con nhà giàu ở Hà Nội. Ông Long từng đi du học bên Pháp, bên Ðức nhưng khi về nước đã không làm cho cơ quan nào, mà đi... làm cải lương. Do bởi ông phải lòng cô đào tài sắc Kim Chung, rồi đứng ra thành lập đoàn Kim Chung - tiếng chuông vàng Bắc Việt vào năm 1950. Kế đó cùng với ông Phạm Thọ Minh, lập đoàn Kim Chung - tiếng chuông vàng Hải Cảng (Hải Phòng).

Khi đình chiến Pháp-Việt 1954, theo làn sóng đồng bào di cư, ông Long mang đoàn Kim Chung vào Nam. Khi mới vào Nam đoàn Kim Chung phải đi lưu diễn như các gánh trong Nam. Thế nhưng, đoàn đã thất bại ngay trong đợt đầu tiên này, bởi tuy là cải lương đó, nhưng đồng bào ở đây lại không quen với lối ca hát của đào kép đất Bắc. Lại nữa lúc mới vào cũng không thông thạo đường đi nước bước gì hết. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa cũng không kinh nghiệm như các gánh trong Nam. Hơn nữa đoàn Bích Hợp mới ra đời thời gian ngắn đã chết, làm cho Kim Chung cũng phải bối rối. Ấy thế là Bầu Long phải đánh liều, thuê rạp Aristo để nằm hát thường trực vậy chớ biết làm sao.

Từ trước tới giờ gánh hát diễn một tuần tại một nơi là chẳng còn bao nhiêu khán giả, xưa nay chưa gánh nào hát một chỗ thời gian 2 tháng. Có ngon lắm, tuồng hay lắm, thì cũng hơn một tháng mà thôi, như gánh Năm Châu hát tuồng “Tây Thi Gái Nước Việt” của những năm đầu thập niên 1950.

Rồi giờ đây một đoàn cải lương từ miền Bắc vào, lại thuê một rạp hát dài hạn, mà rạp đó lại là rạp Aristo, các gánh cải lương trong Nam không gánh nào muốn về rạp này, trừ trường hợp bị kẹt rạp. Bởi nếu như đem so sánh với những rạp hát khác ở Sài Gòn, thì rạp Aristo nằm ở địa điểm bất lợi, muốn đến coi hát thì chỉ có một con đường duy nhứt phía trước rạp, không có đường chạy ngang thông ra nhiều hướng như rạp Thành Xương, và còn kém xa hơn nữa nếu so với rạp Nguyễn Văn Hảo rộng rãi, lại là địa điểm thuận lợi cho khán giả từ miền Lục Tỉnh lên đậu ghe ở bến sông Cầu Ông Lãnh, vừa mua bán, vừa đi coi hát giải trí. Do vậy mà hiếm đoàn hát muốn về rạp Aristo, trừ trường hợp các rạp khác không còn trống.

Có lẽ do yếu thế, ít đoàn hát thuê mướn, nên khi được đoàn Kim Chung thuê dài hạn (hợp đồng 5 năm và trả tiền từ năm một) thì chủ rạp đồng ý ngay, dù rằng giá thuê quá rẽ. Nghe nói khoảng một phần ba giá tiền cho các gánh nếu như thuê chỉ một tuần. Ông bầu Long có cái suy nghĩ nếu như giá thuê rạp rẻ thì dù ít khán giả vẫn không lỗ lã, vì không tốn kém di chuyển như hầu hết các gánh.

Thế nhưng, cái may mắn của đoàn Kim Chung là khi ký hợp đồng rồi thì đêm nào khán giả cũng đông chật rạp, là điều không ai ngờ được.

Tuồng có sẵn ngoài Bắc mang hát lại hằng đêm, khán giả xem đông, không phải là khán giả của Sài Gòn, mà là khán giả thuộc đồng bào di cư miền Bắc, vào đây còn nằm tại Sài Gòn chưa được biết định cư đâu cả. Họ còn tiền bạc, họ đang nhớ đến quê hương miền Bắc, chợt có gánh hát ngoài Bắc vào, đương nhiên họ ủng hộ hết mình. Giai đoạn đầu của Kim Chung kiếm tiền dễ dàng, ăn bạc là vì thế.

Như vậy rạp Aristo, nơi trụ diễn của đoàn cải lương Kim Chung thuở đầu lập nghiệp tại Sài Gòn, sân khấu cải lương Sài Gòn đón nhận đoàn hát từ ngoài Bắc vào an cư lạc nghiệp. Và cũng từ đó sân khấu Aristo “nổi đình nổi đám”, rầm rộ luôn hàng đêm từ 1955 đến 1960.

Ðương thời ít có đoàn cải lương nào trụ diễn thường trực tại một rạp hát, mà thường chỉ ghé ở mỗi rạp khoảng một tuần và diễn mỗi đêm một vở khác. Thế nhưng, đoàn cải lương Kim Chung không những trụ diễn lâu dài tại rạp Aristo mà còn gây kinh ngạc cho giới cải lương qua việc diễn nhiều ngày chỉ có một vở hát “Trăng Giãi Ðêm Sương” được diễn liên tục trên 40 đêm. Có thể nói rằng, đây là vở cải lương được hát liên tục trên sân khấu lần đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn. Và từ đó, chuyện hát nhiều ngày một vở diễn bắt đầu được các đoàn cải lương khác áp dụng.

Có thể nói phần lớn tài danh sân khấu cải lương đã ở dưới trướng của Bầu Long. Các nghệ sĩ tên tuổi phục vụ cho Kim Chung người ta phải kể: Út Trà Ôn, Hùng Cường, Tấn Tài, Út Bạch Lan, Thanh Hải, Diệu Hiền, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, và 3 chàng Minh: Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương...

Sang đến đầu thập niên 1960, một loạt rạp hát ra đời với tầm cỡ lớn hơn, tiện nghi hơn đã kéo dần khán giả của Aristo. Hơn nữa rạp Aristo lại nằm ở vị trí không thuận tiện, một bên là nhà ga xe lửa bít bùng, một bên là đường cùng. Do đó rạp Aristo gần như bỏ trống và khoảng thời gian sau đó cũng dần biến mất.

User avatar
tiendung
Posts: 348
Joined: Wed Dec 01, 2010 10:09 pm

Post by tiendung »

Image

Con Gái của Người Ta

Tác giả : Trần Thiện Phi Hùng
Tiệc rửa lon trung úy của tôi chung với tiệc đầy tháng của con gái tôi và “con gái của người ta”.

Con gái của người ta sau 24 giờ sinh ra đã trở thành con gái của tôi và chỉ sinh sau con gái của tôi có 4 giờ tại Bảo Sinh Viện Quân Đội Thành phố Nha Trang năm 1972. Mẹ của nó còn trẻ lắm nhưng lanh lợi sành đời. Cô ta sinh xong mạnh khỏe đi đứng bình thường chứ không nằm liệt như bà vợ tôi. Cô ta nói với vợ tôi cô ta là vợ của một Trung úy Biệt Kích. Anh ta ít khi về nhà và công tác ở đâu không bao giờ nói. Cô ta đi làm sỡ Mỹ ở Chu Lai vì sinh kế sao đó nên nhảy dù với Mỹ. Tai nạn có thai ngoài ý muốn nhưng không biết con của Chồng hay của Mỹ nên cứ sinh xong rồi tính. Con chồng thì để nuôi; con Mỹ thì cho.

Nghe vợ nói lại, tôi sang phòng cô ta gõ cửa xin vào xem đứa nhỏ ra sao. Trong bóng đèn mờ của căn phòng, con bé nằm bó mình trong khăn lông; chỉ lòi cái mặt da trắng đỏ và cái miệng nhỏ xíu hai môi như chu ra làm tôi nghĩ ngay con bé nầy chắc sau nầy hỗn lắm! Tôi không nói gì với cô ta mà về phòng bảo bà vợ tôi:

- Mình xin Con Bé nuôi luôn nhen Em ?

- Làm sau đũ sữa cho 2 đứa? Thiên hạ nói bậy bạ làm sau chịu nổi?

- Cho uống sữa bò; Anh mướn thêm người giúp việc nửa cho em.

- Tùy anh.

Thế là thủ tục Xin của Tôi và đồng ý cho con do cô ta viết được đưa cho Cô Mụ; nhưng sáng hôm sau thì cô ta đã rời khỏi bệnh viện, bỏ con lại mà thủ tục chưa hoàn tất. Ban Xã hội Quân đội cũng dễ dàng hoàn tất nốt thủ tục nhận con nuôi mà làm khai sinh giống như thủ tục khai sinh của con gái của tôi. Đây có lẽ là trường hợp hy hữu một đứa trẽ Lai Mỹ mà khai sinh do hai vợ chồng là người miền Đông và Tây Nam Việt Nam coi như sinh ra. (rất tiếc trong cơn biến loạn di tản năm 75 tất cả hình ảnh đều mất hết. Trong tiệc đầy tháng; 2 đứa bé như cặp song sinh; nhưng một Việt một Mỹ đẹp như thiên thần!); nhưng mà khổ cho thân tôi! Hai đứa trẻ đứa nào cũng đòi bồng một lúc. Đứa trên lưng thì đứa kia phải bế trên tay. Lưng Tôi bị thoái hóa cột sống năm 2000 có lẽ cũng vì hai đứa con ngày một lớn dần mà cứ phải thay đổi đứa trên lưng đứa trên tay mấy năm.

Tháng Tư đen 1975, tôi bị rã ngũ. Tôi không thể về quê ngoại như ước muốn sống ở Rừng Dừa năm xưa vì nay B52 cày nát thành bình địa. Tôi muốn phá hoang trồng lại; nhưng phải trình diện vào tù cải tạo. Một tháng trôi qua, rồi một năm, rồi năm nữa..! Vợ không thấy đi thăm mà con cũng không bao giờ được gặp mặt. Mỗi tháng chỉ có Mẹ tôi được 15 phút thăm nuôi. Hỏi gì mẹ tôi cũng nói tất cả bình an; các con ngoan và khỏe mạnh. Tôi lúc nào cũng nhờ Mẹ lưu tâm cho Thùy An, tên đứa Con Lai Mỹ. Chắc là Nó bị kỳ thị ở trường học và sống với mọi người sẽ rất khó khăn! Mẹ tôi nói con khỏi lo. Nó sống rất tốt học rất giỏi nên được Thầy Cô và bạn bè quí mến. Mẹ tôi lúc nào cũng né tránh khi tôi hỏi đến vợ và con gái của tôi, Thanh An. Tôi đoán có lẽ chuyện gì không tốt đã xảy ra nhưng đành bó tay không biết hỏi ai!

Bốn năm sau tôi được ra tù. Con gái mang 2 dòng máu ôm tôi khóc như mưa; nhưng con gái và vợ tôi thì không thấy đâu nữa. Tôi đoán biết chuyện không hay nên cũng không hỏi mẹ. Cơm chiều xong, con gái xin tôi:

- Ba cho con ngủ chung với Ba đêm nay?

- Ngày thường con ngủ một mình?

- Không Con ngủ với Bà Nội.

- Ừ! nếu con muốn.

Con bé thỏ thẻ kể hết cho tôi nghe. Ba đi rồi mấy tháng sau má dẫn Chị Hai đi với Má về thăm Ngọai mà không cho con đi và từ đó không về nữa. Con hỏi Nội Má con chừng nào về? Nội nói Nội không biết.

Một năm trôi qua; tính ra tôi đi làm “lao động xã hội chủ nghĩa” có nghĩa “ăn cơm nhà làm lao động nặng không công” khoảng hơn 3 tháng. Đào kinh, đắp đường, gánh lúa thuê…v.v.. Cạnh đó là làm thuê, làm mướn đi lao động thay cho người trả tiền để khỏi đi. Tôi hết thời gian quản chế một năm, làm phó thường dân, rồi được đề cử làm Đại Đội trưởng Lao động; chuyên đi kêu người đi lao đông. Ai thấy mặt tôi đến thăm là biết phải cơm gạo nhà đem đi làm không công mấy ngày hay nửa tháng.

Thời chinh chiến; tiền lương của 3 đứa con cho Mẹ, mẹ tôi xài tiện tặn có dư, hễ đủ 1 chỉ thì mua 1 chỉ vàng y; đủ 10 chỉ thì đổi thành 1 lượng. nhét kẹt giường, đào nền nhà, tủ làm 2 nóc để cất vàng. Con thất thế sa cơ Mẹ bán vàng nuôi con. Mẹ cho con vàng để vượt biên.

Năm 1982, tôi và em gái tôi vượt biên. Con gái của tôi nhứt định Ba đâu con ở đó; Con không sợ chết. Con chỉ sợ phải xa Ba! Tôi lái tàu ra khơi lần cuối cùng để một là chết, hai là được thật sự tự do. Tôi thành công sang bến bờ tự do. Con gái tôi bắt đầu vào Trung học; có lẽ nhờ cái máu Mỹ của nó hay sao mà chỉ mấy tháng thì nó nói tiếng Mỹ như súng liên thanh; cứ có dịp là đeo bên tay Cha khi đi chợ hay đi ăn nhà hàng hay có đám tiệc…. Hình ảnh một ông già Việt Nam có một cô gái hoàn toàn Mỹ không thấy có gì lai đeo theo một bên và nhõng nhẽo thì chắc chưa có ai bằng. Tối ngày gặp mặt gọi Daddy; không thấy mặt thì daddy, Ba đâu rồi. Tôi vui với con gái của người ta và là nguồn an ủi cho tôi vui sống. Tôi làm công nhân cho hãng làm phụ tùng xe hơi, lương cũng dư sức nuôi con lên đại học và mua nhà trả góp. Phải mất 5 năm tôi mới trả hết nợ nhà. Năm 1995 con gái tôi thành y sĩ nhãn khoa và có việc làm ngay. Ngày làm lễ Mãn khóa; cầm mảnh bằng trên tay, con gái ôm tôi khóc như chưa bao giờ khóc như thế. Tôi bảo:

- Con vui mừng sao lại khóc dữ thế?

- Cám ơn; Con cám ơn Daddy nhiều lắm; Con đang nghĩ không biết có bao nhiêu ngàn hay chục ngàn đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi mà có bằng Đại học như con. Con thương Daddy nhiều lắm.

- Daddy cũng cám ơn Con; nhờ có con mà cuộc sống của Ba mới có ý nghĩa mà vui sống tiếp bấy lâu nay.

Hai Cha Con dị chủng ôm nhau cùng khóc.

Bạn bè của con biết thì không có gì lạ về sự khắng khích của Hai Cha Con Việt Mỹ nầy; nhưng những người xa lạ thì hiếu kỳ nghĩ suy lung tung nhưng không thể nào ra được đáp án. Cha Việt sao con Mỹ mà không có chút gì là dáng vẻ Việt Nam.

Tôi đi làm đem cơm theo ăn nay làm thêm phần cho con gái. Lương của con gái đưa hết cho tôi và chỉ lấy 100 bạc để đổ xăng và ăn quà vặt. Khi cần mua sắm gì thì nói xin. Tôi từ chối cách nào cũng không được nên mỡ một sổ bank riêng bỏ hết tiền của con gái đưa để khi nó cần đưa lại cho nó. Hai năm sau, em Gái của tôi bán 2 cái nhà cũ để mua cái nhà lớn hơn, tôi bảo con gái vay tiền ngân hàng mua cả 2 cái. Vì không vay được một lúc gần nửa triệu bạc nên tôi dùng cái nhà tôi để thế chấp vay mua 2 cái nhà cho con gái đứng tên và cho mướn.

20 năm trôi qua nhanh. Lưng của tôi bị thoái hóa cột sống nên đau càng ngày càng nhiều. Chân tôi bắt đầu bị tê. Lái xe lúc nào chân cũng phải nhịp nhịp thử coi còn hoạt động được hay không; nhỡ bị tê khi cần thắng mà không xử dụng được thì nguy to. Tinh thần tôi bị hoảng loạn khi nghĩ đến lúc không cữ động được tay chân bởi dây thần kinh bị gai xương sống ép nên không hoạt động được. Mổ xương sống thì xác xuất rủi ro khá cao; nên khi còn gượng đi đừng được tôi không chịu mổ để cắt gai cột sống. Con gái thì đeo theo một bên ít đi chơi ít giao thiệp với bạn bè. Đi làm về là quanh quẩn bên Cha làm tôi thêm lo lắng.

- Sao Con không có bạn trai? Con lập gia đình cho ba yên tâm!

- Ai bảo Ba con không có bạn trai. Bạn trai của con đang ghi tên học tiếng Việt; bao giờ nói được tiếng Việt con sẽ đem về ra mắt Ba. Anh ta người Đức nhưng sinh trưởng ở đây và chịu điều kiện phải sống chung với Ba suốt đời; nhưng con thêm điều kiện phải nói được những câu thông dụng tiếng Việt Nam.

- Ba nói tiếng Anh cũng tạm hiểu được mà Con.

Nhưng con muốn con của con sau nầy phải nói được tiếng Việt, nên anh ta ghi tên học một năm tiếng Việt ở Đại học Victoria.

Tuổi 60 cũng đúng lúc tôi được phép về hưu vì là cựu quân nhân nên sớm hơn dân sự 5 năm. Con Gái thì hối thúc Ba nghỉ việc đi; tiền hưu Ba đủ sức tiêu dùng; nếu có cần mua gì hay đi đâu con lo cho ba được.

Tôi xin nghỉ việc về hưu. Sáng nào 5.30AM cũng đi bơi để chữa trị bệnh đau lưng. Con gái cũng đi theo. Sáng nào hai cha con xe ai nấy lái đến hồ bơi. Con tập Gym, cha thì Bơi. Con gái đem quần áo uniform thay đi làm luôn.

Một hôm con gái tôi nói:

- Ngày mai con không đi làm; Ba có muốn con chở Ba đi thăm Bác Hoàn không? Con nghe con gái của Bác nói Bác đã bị đưa vào Viện Dưỡng lão tuần rồi.

- Sau con lại dùng chữ “bị”? Chẵng lẽ Bác Hoàn không muốn vào Nursing home mà bị bắt buộc vào hay sao?

- Bác Hoàn bị stroke té; xe cấp cứu đem vào nhà thương; Bác bị méo mặt và miệng không nói được nên các con của Bác xin Bác sĩ cho vào Viện Dưỡng lão; vì nếu về nhà sau nầy xin vào thì Bộ Y tế sẽ check sức khỏe và trí nhớ khó khăn lắm mới được chấp nhận nên để nhà Thương quyết định thì khỏi phải check gì hết!

- Bác chỉ hơn Ba có 2 tuổi và trí nhớ còn tốt lắm mà! Ừ! Ba với con đi thăm Bác kẻo tội nghiệp; hơn nữa mai mốt Ba có vào sẽ có người thăm lại ba.

- Không bao giờ có chuyện đó Ba đừng mơ; Con không bao giờ gởi Ba vô Viện Dưỡng Lão đâu. Con tập Gym để đủ sức bồng Ba khi Ba cần đến; Con cũng chọn chồng lớn con để phụ với Con. Ba xài Computer và Internet thường xuyên, trí nhớ của ba sẽ không bị Dementia hay Alzheimer.

- Cám ơn con; nhưng con còn công việc và cuộc sống của riêng con.

- Viện Mồ Côi không dành cho con thì Viện Dưỡng Lão cũng không dành cho ba.

- Con nhớ mua trái cây biếu Bác; nhớ đừng mua bánh ngọt vì Bác ấy cử ăn đường.

Hai cha con tôi vào Viện Dưỡng Lão Cửu Long vừa sau giờ ăn sáng; nên gặp Bác Hoàn ngay phòng ăn. Mặt và miệng của Bác Hoàn trở lại gần bình thường và giọng nói tuy có biến giọng nhưng vẫn còn nghe rõ lắm. Bác bắt tay tôi coi vẻ mừng và cảm động lắm nhưng hai mắt lệ ứ tròng. Con gái tôi lúc nào đi với tôi đều là mục tiêu để nhiều người chú ý và tò mò muốn biết về Cha Con Viêt Mỹ nầy. Hơn nữa vẻ trìu mến và lúc nào cũng như nhõng nhẽo với cha từ lúc còn bé thành thói quen làm mọi người càng chú ý hơn. Thăm Bác Hoàn khoảng một tiếng sau hai cha con xin phép ra về. Con gái tôi lái xe ghé Chợ và nói:

- Con đãi ba ăn bún bò Huế.

- Ừ! ăn thì ăn.

Con gái mở cửa cho tôi và kéo ghế cho tôi ngồi; gần như ai cũng quay ngó chúng tôi. Cô bé chạy bàn thì quen quá với cha con tôi vì nhiều lần ăn ở quán nầy.

- 2 tô bún bò Huế phải không Chú?

- Ờ! Cháu cho Chú 2 tô.

Con gái mở cái xách tay của nó ra; mà nó đổi cái xách tay lớn hơn hồi nào tôi không để ý. Nó kéo ra một bịch nylon và kéo Rau kinh giới ra. Nó để rau kinh giới tím qua một bên và nói:

- Cái nầy của Daddy.

Rồi kéo mớ khác là kinh giới xanh và nói:

- Cái nầy của con.

Ông ngồi bàn gần kế bên quay sang

- Cô Tây nầy sau nói tiếng Việt rành quá và rành ăn bún bò Huế hơn cả người Việt Nam!

- Nó là người Việt Nam chứ không phải Tây. Nó chê rau kinh giới tím ăn nồng quá mà tôi thì thích kinh giới tím hơn nên nó hái riêng hai loại cho cha con chúng tôi.

- Cô ta là Dâu của Anh?

- Không. Nó là con gái của tôi.

- Hai tô bún bò Huế được bưng ra; cuộc đàm thoại ngưng tại đây và có lẽ ai cũng liếc mắt xem khi cô Tây 100% vắt chanh và ngắt từng cọng rau bỏ vào tô cho cha. Tôi hãnh diện là đã không lầm khi bỏ công bao năm cơ cực nuôi “con của người ta.”

Về tới nhà chưa kịp thay quần áo thì điện thoại reo. Bạn Hoàn, người tôi vừa đi thăm, phone cho tôi từ Viện Dưỡng Lão.

- Anh mới về tới nhà phải không? Hồi nãy tôi gọi không ai bốc phone. Sau khi Anh về rồi có một Bà trong Viện dưỡng lão này hỏi anh có phải Hải Quân hay không và đứa con gái Mỹ đi theo Anh là con của Anh? Bà ta nói là người quen của Anh ở Nha Trang khi xưa; muốn xin số phone của Anh, nên tôi hỏi Anh trước. Có phải nhân tình cũ ngày xưa hay không? Nếu phải thì vào gặp gấp đi; dễ gì xa xứ gặp cố tri!

- Ừ! Thì Anh cứ cho; có sao đâu. Bốn mươi mấy năm rồi làm sao ai còn nhớ được ai!

Một ý nghĩ thoáng qua trong óc tôi: Không lẽ là Mẹ ruột của con gái của tôi? Chứ nếu bà ta là người vợ bỏ tôi ngày nào thì chắc chúng tôi phải nhìn nhau, chứ chẳng lẽ tình chồng vợ sống với nhau 5 năm mà nhìn nhau không ra! Nhưng nếu là mẹ ruột của con gái của tôi, tôi phải làm sao đây, vì dù sao cũng là... “Con gái của người ta”.

Trần Thiện Phi Hùng

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Áo bông chần ngày Tết

Hồi bà nội tôi còn sống, gần đến tết, vào những ngày nắng ráo, nội thường mang chiếc áo bông chần ra phơi trước hiên nhà. Chiếc áo ấy, nội chỉ mặc trong ba ngày tết, còn cả năm nội gấp vuông vắn cất ở đầu giường, cạnh cái gối nội hay nằm.

***

Trong kí ức của tôi, mỗi lần nhìn thấy chiếc áo bông chần vải chéo go, màu bã trầu đung đưa trong gió mới, lòng tôi lại nao nao kì lạ một niềm thương nhớ bồi hồi. Mẹ tôi kể, chiếc áo bông chần ấy là kỉ vật của ông nội tôi. Ông tôi mất khi bố tôi mới lên ba, nội ở vậy tới cuối đời. Mỗi năm tết đến, nội mới khoác chiếc áo bông chần ông tặng, cổ đeo chuỗi tràng hạt Bồ Đề, bàn tay run run vấn lại mái tóc đã bạc trắng xác xơ, trông ra ngoài ngõ vắng xa tiếng chân người. Mẹ tôi bảo, nội đang đợi ông về.



Vào ba ngày đầu năm mới, nội thường kêu tôi mở toang hết cửa nẻo trong nhà, mặc cho cái lạnh heo hút từ ngoài cánh đồng thổi tới, cù li buốt lịm trên da thịt. Nội nói: "Mấy ngày này, tổ tiên sẽ về ăn tết cùng con cháu, tụi bây cứ cửa đóng then cài kín mít làm sao các cụ vào nhà được". Rồi nội trải cái chiếu hoa ngay dưới chân ban thờ, ngồi têm trầu và vấn thuốc lá. Một nhúm lá thuốc đã thái sợi, phơi khô, nội quận lại trong mảnh giấy quyến, thành những điếu thuốc dài nhỏ xinh, đặt vào một cái đĩa sứ. Mặc cho bao bận cha tôi mua về hộp lớn hộp bé thuốc lá ngoại xịn, tết hằng năm, nội vẫn tự quấn thuốc đặt lên ban thờ ông. Nội bảo: "Ngày xưa, lúc ông nội bay còn sống, ông mê hút thuốc lắm. Dạo ấy không có thuốc lá gói sẵn như bây giờ, mà phải tự vấn lấy bằng lá chuối non phơi nắng hoặc lá chằm chày, to hơn ngón tay cái, gọi là thuốc rê. Phải chi, ông bay sống đến bây giờ...".

Mùi hương khói quện với mùi vôi, cay xè cả mắt nội. Tôi nằm trong lòng nội, nghe nội bỏm bẻm kể lại những chuyện xưa lắc xưa lơ. Cái thời nội còn trẻ, nội mới đi lấy chồng, gia đình chồng nghèo lắm, ba mươi tết mà trong nhà mới chỉ có một vại dưa muối. Vậy mà ông nội dám lén lên chợ huyện mua cho vợ cái áo bông chần chơi tết, bị mẹ mắng té tát như mưa... Nội cứ nói liên miên một mình như thế, cho đến khi tôi ngủ thiếp đi, giữa đám bụi thời gian bay lất phất, bên tai văng vẳng tiếng nội ru: "Anh têm cho em là miếng trầu, là duyên, là nợ/ Em vấn cho anh hút một điếu thuốc là nghĩa vợ chồng...".

Có lẽ, với nội tôi, ba ngày tết đầu năm chính là ngày sum họp, vui vầy cùng ông nội trong miền thức cảm nhớ thương thăm thẳm.

Năm nội ốm nặng, tết ấy, nội chẳng còn đủ sức để mang chiếc áo bông chần ra phơi trước thềm nhà, nắng cứ đứng mãi bên ô cửa sổ cạnh giường nội, như một quầng sáng vàng hiu hắt. Sáng mồng một tết, nội gọi tôi: "Mặc cho nội cái áo, đưa nội ra ban thờ ông". Tôi ôm nội với hơi thở mong manh trong lồng ngực, nghe nội dặn: "Khi nào nội mất, nhớ chôn cái áo bông chần cùng với nội".

Nội đi yên bình, ngày ấy - mùa xuân vẫn còn đang dập dìu ngoài ngõ. Nội đi mang theo tuổi thơ của chúng tôi lên tận Thiên Đàng. Từ nay, sẽ không còn ai gói bánh chưng ngon như nội, không còn ai nấu thịt đông, muối dưa hành khéo tay bằng nội, và cũng không còn ai, mỗi bận tết đến xuân sang, vào những ngày nắng ủ vàng trời đất, lại đem phơi chiếc áo bông chần trước hiên nhà.

My Việt

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Những Cánh Mai Trong Tách Trà

Trần Mộng Tú
Hà có cái thú thích tìm vào những tiệm bán đồ cũ. Đi tới một thành phố lạ, bao giờ Hà cũng liếc nhìn bên đường xem có tiệm nào
kẻ cái bảng Antiques Store là nàng phải tìm thời giờ ghé vào.
Nàng thích chạm tay vào những cái chén trà, cái nón vải, cái áo len, cái dây đeo cổ, cái khung hình hay bất cứ một cái gì trong tiệm bán đồ cũ. Đối với Hà mỗi vật thể đó nó cất giấu cả một linh hồn thiêng liêng và bí mật.
Đôi khi cái mùi quần áo đã chạm vào da thịt lâu năm treo trong tiệm, làm nàng bị dị ứng, nhưng Hà cố bỏ nó sang một bên để chỉ nghĩ và tưởng tượng đến những hình hài đã khoác nó lên người. Cũng may, phần đông những tiệm đồ cổ của tư nhân ở những thành phố nhỏ nơi Hà đi du lịch qua họ ít bán quần áo, chỉ những tiệm có tính cách gây quỹ cho một charity nào đó mới có thôi.

Hôm nay đã cận tết lắm rồi, chỉ còn năm hôm nữa tết đến mà hai vợ chồng Hà còn lang thang ngao du ở Coeur d’alene, Idaho cách nhà bảy, tám tiếng lái xe. Hai vợ chồng chắc là phải thay nhau lái một mạch về nhà, dừng lại ăn đường, đổ xăng, thư giãn tay chân thôi, chứ không ngủ qua đêm nữa. Còn về nhà lo dọn dẹp bàn thờ, nhà cửa cho năm mới đang đến.
Hà nói với chồng:
Em vừa nhìn thấy cái bảng hiệu bán đồ cũ ở góc đường gần tiệm ăn, anh cho em ghé vào xem một chút rồi hãy ra xa lộ.
Đoàn biết ý vợ, cười dễ dãi:
Em thích thì vào, nhưng xe của mình không có chỗ cho em khênh cái gì to tướng về nhà đâu đấy nhé.
Tuy nói thế nhưng anh dư biết Hà chỉ thích đặt tay lên mấy cái vật cũ kỹ nhỏ bé, cầm lên để xuống, đứng tần ngần một lúc, rồi thôi. Nàng hay mua tách trà nhất, nàng đã có tới gần ba mươi cái tách khác nhau mua ở các tiệm đồ cũ rồi. Cái tủ chén ở nhà đã hết chỗ cho nàng chất thêm. Hà đã hứa nhiều lần sẽ không mua nữa, nhưng vào xem thì nhất định nàng phải vào mới hài lòng.
Hà dặn chồng ngồi ngoài xe đọc sách, “em vào mười lăm phút, ra ngay.” Đoàn vui vẻ, ngả cái ghế thấp ra sau một chút mang mấy cuốn tạp chí ra đọc, đợi vợ.

Cái tiệm Antique này không lớn lắm, nhưng chất khá nhiều hàng. Hà cầm lên bỏ xuống ngắm nghía đủ mọi thứ. Mỗi thứ đẩy trí tưởng tượng nàng đi thật xa hiện tại. Sợi dây đeo cổ này chắc phải thuộc về một phụ nữ giầu có nào từ vài chục năm về trước. Những hạt đá đỏ thẫm lấp lánh được gắn vào sợi dây vàng rất mỹ thuật, tuy cái móc đã mất mà giá khá cao trong một của tiệm như thế này. Hà tưởng tượng ra nó được đeo vào một chiếc cổ mịn màng nõn nà như cổ con thiên nga. Người phụ nữ đó bây giờ ở đâu, nàng còn sống, da mồi, tóc bạc, cổ nhăn nheo và đang ở trong một khu nhà già hay nàng đã nằm ngủ vùi trong lòng đất? Cái khăn quàng cổ bằng nhung lam đã bạc màu, nhưng đường ren gắn ở hai đầu khăn thì không hề mất một sợi chỉ nào. Ai choàng chiếc khăn này trong một buổi dạ vũ nhỉ; đôi giầy bạc kia nữa, chắc nó đi vào một bộ với nhau nên người ta mới bày cạnh nhau. Hà nhìn thấy ngay hình ảnh của người con gái mới lớn, má đỏ môi hồng, đang ngã vào vòng tay người đàn ông nàng yêu trong một vòng luân vũ. Ô, còn những khung hình này nữa, có cái hình đã tháo đi chỉ còn lại khung, cũ kỹ và trầy trụa, có cái còn nguyên hình của một cặp vợ chồng mặc quần áo của thế kỷ có Nã Phá Luân; rồi cái này, hình em bé gái độ lên 10, với chú thích chụp năm1911. Cả trăm năm rồi cơ à? Sao cái hình lại lưu lạc tới đây. Con cháu không giữ à?

Hà lan man bước len lỏi giữa những kệ hàng, cầm lên, bỏ xuống, thứ này thứ nọ, ngắm nghía và tưỏng tượng. Cuối cùng nàng cũng tới kệ bát đĩa. Chẳng cái nào đủ bộ cả. Bát lớn, bát nhỏ, đĩa và chén, ly thủy tinh nữa, chủ tiệm cứ xếp đầy lên kệ chẳng theo một thứ tự nào cả. Có những cái mới tinh, chẳng có dấu vết gì là đồ cổ Nhưng có những cái trông lạ lắm.

Hà cầm lên một cái tách trà nhỏ, có cả đĩa bên dưới. Hà ngắm nghía, lật trước, lật sau, ngẫm nghĩ:“Tách trà này chắc của Trung Quốc hay Việt Nam”, vì Hà tự nhiên thấy nó thân thuộc quá, cả hai đều có men xanh thật nhạt và vẽ một cành mai vàng rất mỹ thuật. Trên tách trà, phía ngoài vẽ nguyên một cành mai thếp vàng, phía trong lòng tách vẽ hai bông mai rơi trong tách, không có lá, nét vẽ tinh xảo trông như hai bông mai đang nổi trên mặt nước. Ở chiếc đĩa nhỏ kèm theo một bông mai lớn trên một cạnh đĩa, đầy đủ năm cánh với những đường gân của cánh hoa. Hà tự nhiên thấy rùng mình vì cái tinh xảo của những cánh mai. Bỗng một giọng đàn ông cất lên sau lưng làm nàng giật mình, tuy giọng nói đó nhẹ nhàng.
Bà nên mua cái tách này, nó đợi bà đến mang nó về đấy.
Hà quay hẳn người lại. Trước mặt nàng là một người đàn ông Á Châu, mặc dù cách phát âm tiếng Anh của ông khá giống như người bản xứ.

Ông trạc ngoài sáu mươi, tóc bạc, hơi gầy, trông khá tươm tất, nhưng buồn buồn ở hai con mắt. Hà chưa kịp nói gì thì ông ta đã nói tiếp:
Cái tách này ở trong một bộ sáu cái, hai cái lớn, bốn cái nhỏ, có ấm nữa. Nhưng do chiến tranh, cái thì mất, cái thì vỡ, cái ấm thì phải bán lúc cần tiền mua thuốc cho con. Khi hết chiến tranh, hết tù đầy, trở về, chỉ sót lại được có một cái nhỏ, may còn cả đĩa. Chủ nhân quý nó lắm, nhưng khi ông ta mất đi, con cái mang vật dụng của ông đem cho, nó cũng bị vứt chung trong đó. May mà không bị sứt mẻ gì.
Hà lơ đãng không để ý lắm đến lời ông kể lể, nàng còn mải chú ý nhìn giá tiền ghi, thấy hai mươi đồng. Nàng nghĩ thầm, mọi khi mình mua những cái tách lẻ ở tiệm đồ cũ như thế này, thì giá cao lắm cũng chỉ khoảng mười lăm đồng thôi.
Như đoán được ý nghĩ của Hà, người đàn ông nói:
Tôi biết là giá cao, nhưng tôi cứ để như thế cố ý không muốn ai mua, để chờ bà. Tôi sẽ hạ xuống mười lăm đồng thôi. Bà cứ lấy đi.
Hà vẫn cầm cái tách cái đĩa bằng cả hai tay. Nàng thấy nó đẹp quá, nếu ông chủ tiệm muốn bán hai mươi đồng thì nàng vẫn mua. Nàng nói:
Cám ơn ông, chắc chắn là tôi mua rồi. Tôi thích sưu tầm tách trà lạ và đẹp. Cái tách trà này tôi nghĩ là đẹp nhất trong số tách tôi có ở nhà.
Người đàn ông mỉm cười, nói xã giao mà như thật:
Tôi biết hôm nay bà sẽ ghé qua đây, tôi đợi suốt từ sáng đến giờ để trao nó cho bà, vì bà biết nhìn ra cái giá trị của nó. Trao được nó cho bà tôi rất yên tâm.
Người đàn ông nói xong, rút cái bút trên túi áo ra, sửa lại giá tiền của cái chén, rồi lại nói:
Chắc ông nhà đang chờ bà ngoài xe. Chúc bà về nhà bình an. Bà còn về lo sửa soạn đón năm mới. Năm nay bà có cái tách mai vàng cho chén trà đầu năm, sẽ may mắn nguyên năm.
Vâng, cám ơn ông, chắc ông cũng ăn Tết phải không? Ông là người Hoa hay người Việt.
Người đàn ông chỉ mỉm cười, không trả lời câu hỏi của Hà, đưa tay chỉ nàng ra chỗ quầy tính tiền.
Hà có cảm tưởng ông chủ tiệm này như một người mà nàng đã biết từ lâu lắm rồi. Nàng cố tìm trong trí nhớ xem ông ta có phải là bạn của cha mẹ mình không? Chắc là không? Vì cha mẹ Hà đã mất trên hai mươi năm rồi và khi mất cũng bằng trạc tuổi ông này bây giờ, thì làm sao mà họ là bạn với nhau được. Còn nữa, ông này chắc gì là người Việt. Cách phát âm tiếng Anh của ông ấy cho Hà biết ông ấy không phải đồng trang lứa với cha mẹ nàng.
Hà đặt chiếc tách trà lên quầy tính tiền, cô thâu ngân tóc vàng nhìn giá tiền trên cái tách trà, hơi cau mày lại. Cô nói trống không:
Lạ nhỉ, cái tách trà này, ông chủ tôi đề giá là mười lăm đồng, nhưng khi nào tôi ra thu dọn, lau bụi tôi cứ thấy bị sửa lại là hai mươi đồng. Vì giá cao nên chẳng ai mua. Bây giờ bà mang ra đây nó lại trở về giá mười lăm đồng.
Hà cười nói:
Số tôi may, hôm nay chính ông chủ thấy tôi cũng là người Á Đông nên ông bớt cho tôi năm đồng, ông ấy lấy bút mới sửa tức thì đấy.
Cô thâu ngân tròn mắt:
Ở đây làm gì có người Á Đông nào. Chủ tiệm là người Mỹ, tôi cũng là người Mỹ, hơn nữa ngày hôm nay chỉ có mình tôi ở đây, ông chủ bận không ra được. Bà có đùa cho vui không đấy?
Hà nghe lạnh buốt sau lưng. Nàng quay đầu lại, cố nhìn về phía kệ để bát đĩa, tuyệt nhiên không có bóng một ai, sát sau lưng kệ là bức tường ngang, chẳng có cánh cửa nào. Thế người đàn ông đó ở đâu ra? Nàng im lặng hấp tấp trả tiền rồi đi như chạy ra xe.
Suốt trên đường về nhà, Đoàn lái xe, ngưng lại, nghỉ giải lao. Hà cứ im lặng, chỉ trả lời những khi Đoàn hỏi làm Đoàn phải ngạc nhiên tưởng Hà bệnh.

Em sao vậy, em bệnh à?
Không, em không sao cả.
Hà nói dối. Nàng đang hoang mang không biết cái ông Á Đông nói chuyện về cái tách trà hoa mai ở đâu ra. Tiệm chỉ có bốn bức tường, không phải là một cái nhà ở, nơi đó không có thêm gian nào ngoài gian bán hàng. Mà sao ông ấy lại sửa giá tới, sửa giá lui để chờ nàng tới mua. Sao ông biết nàng sẽ tới.
Bỗng Hà thấy đau quặn ruột, nàng nghĩ ra rồi. Ông ấy là người Việt Nam. Ông ấy đã đi qua chiến tranh, qua mất mát, qua tù đầy, qua Mỹ và qua đời rồi.

Cái tách trà này trước đây là của gia đình ông. Ông muốn trao cho một người biết trân quý nó. Hà ôm chặt cái gói giấy vào lòng, nước mắt ràn rụa.
Nàng đã nói chuyện với một hồn ma, một cái hồn tha hương thất lạc tìm về quá khứ trong những ngày cuối năm.
Đêm ba mươi, Hà thắp nhang, pha trà để lên bàn thờ cha mẹ xong, nàng mang cái tách hoa mai vàng ra, cầm lên ngắm nghía. Hà thấy lòng nàng nao nao xúc động, nghĩ đến người đàn ông Á Đông trong tiệm đồ cũ. Ông có thật hay không? Hay nàng chỉ tưởng tượng ra vào những ngày cuối năm âm lịch, những ngày mà hồn nàng chao đảo nhất.
Nàng xót xa lan man nghĩ tới những người đàn ông Việt Nam đã đi qua chiến tranh, qua tù đầy, qua một nước khác không phải quê hương mình để sống nốt những ngày còn lại rồi qua đời ở quê người. Toàn là những vượt qua thống khổ, ngậm ngùi.
Nàng rót trà vào cái tách hoa mai, cúi xuống, nói nho nhỏ:
Image Xin mời ông ngụm trà đầu năm trong cái tách mai vàng gia bảo này.
Hà đợi cho tàn hết một tuần nhang, mở cửa ra trước hiên nhà, cầm tách trà rót xuống mặt đất tân niên.
Những cánh mai trong tách như theo nhau trôi vào lòng đất.

Trần Mộng Tú
Giao Thừa Giáp Ngọ 2014

Post Reply