Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Giấc mơ Trung Quốc, ác mộng láng giềng!
Võ Long Triều
Hơn 20 năm trước đây nhà văn Trung Quốc Tống Thái Thánh đã mơ một giấc mơ Ðại Hán, ông cho xuất bản một quyển sách tựa đề “Thời Ðại Trung Quốc,” trong đó ông tưởng tượng một cách kiêu căng rằng: “Bước vào thế kỷ 21, cho dù bầu trời thế giới có mọc thêm nhiều ngôi sao nhưng Trung Quốc mới đúng là mặt trời của thế giới. 'Thời Ðại Trung Quốc' là Kinh thánh Phúc âm của thế kỷ 21.”
Tháng 3 năm 2010, hàng triệu người Trung Quốc đổ xô mua và đọc quyển sách “Giấc Mơ Trung Quốc” do Ðại Tá Giáo Sư Ðại Học Quốc Phòng Trung Quốc Lưu Minh Phúc xuất bản. Trong đó ông đặt mục tiêu Trung Quốc sẽ trở thành quốc gia lớn mạnh nhứt thế giới, thay Mỹ lãnh đạo toàn cầu. Ðại Tá Phúc đưa ra chiến lược gồm 3 điểm: (1) Trung Quốc phải thay Mỹ lãnh đạo thế giới, làm quốc gia quán quân và quốc gia lãnh tụ; (2) Muốn vậy Trung Quốc phải tiến hành cạnh tranh với Mỹ (3) Ðể thắng cạnh tranh, Trung Quốc cần có quân đội mạnh nhứt thế giới. Không phải để đánh Mỹ mà để khỏi bị Mỹ đánh. Phải có lực lượng răn đe để cho không ai dám dùng quân sự ngăn chận Trung Quốc trỗi dậy. Ðiều khôi hài là Ðại Tá Phúc khẳng định: “Trung Quốc có một lịch sử rất trong sạch và có một nguyên tắc đạo đức cao cả, là một nước duy nhứt không có tội lỗi đối với sự phát triển văn minh nhân loại, chính vì vậy mà Trung Quốc có quyền truyền bá các quan điểm và cách giải quyết vấn đề của mình trên toàn cầu”! Ðọc xong quyển sách này nhà báo Jeffrey Schmidt cho rằng: “Trung Quốc đã tháo găng tay và đang thách thức sự thống trị thế giới của Mỹ.”
Giấc mơ Trung Quốc là gì? Chủ Tịch Tập Cận Bình là người tích cực cổ xúy cho giấc mơ này. Khi mới trở thành nguyên thủ của đất nước đông dân nhứt thế giới, ông tuyên bố: “Vào thế kỷ 21, Trung Quốc sẽ trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa hiện đại, thịnh vượng, hùng mạnh, văn hóa tiên tiến và sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa sẽ thành hiện thực.” Cũng là điều mà ông hứa trước Quốc Hội ngày 17 tháng 3, 2013 và được phát đi như một lời hiệu triệu quốc dân. Ngày 8 tháng 4, 2013 ông lập lại trong bài phát biểu khai mạc diễn đàn Châu Á tại Bác Ngao. Ngày 17 tháng 4, 2013 ông trở lại vấn đề này và nói: “Chúng ta hãy đưa vào thực tiễn đời sống Giấc Mơ Trung Hoa.”
Ðịnh nghĩa giấc mơ do Chủ Tịch Tập Cận Bình chính thức thông báo cho Quốc Hội, bao gồm nhiều khía cạnh, kinh tế, xã hội, văn hóa, v.v... Trong phạm vi nhỏ hẹp của bài này tôi chỉ nhìn vấn đề quân sự mà Trung Quốc dùng như một phương tiện hữu hiệu để “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa.” Ưu tiên hàng đầu phải là hiện đại hóa quân đội bằng sự gia tăng không ngừng và to lớn từ thời chiến lược gia Ðặng Tiểu Bình được toàn dân Trung Quốc sùng bái, do đó Trung Quốc tìm mua những thứ vũ khí hiện đại nhứt và sao chế thành sản phẩm của mình. Ðại Tá Lưu Minh Phúc phỏng định quân đội hùng mạnh sẽ răn đe không ai dám ngăn cản sự trỗi dậy hay nói cho đúng hơn là sự ngang ngược của Trung Quốc. Bằng cớ là Trung Quốc ngang nhiên mở rộng biên giới bằng đường 9 đoạn hay cái lưỡi bò liếm toàn biển đảo của các nước láng giềng, có ai dám gây sự đâu? Ngoài những lời phản đối suông hay phân chứng với quốc tế. Rồi đến việc tuyên bố ngày 23 tháng 11, 2013 vùng phòng không trên Biển Ðông và Biển Hoa Ðông, buộc phi cơ bay ngang phải khai báo, rồi đến lệnh cấm đánh bắt cá kể từ ngày 1 tháng 1, 2014 phải xin phép tỉnh Hải Nam. Từng bước, Trung Quốc thực hiện giấc mơ và sự phục hưng vĩ đại của Hán tộc. Sự phục hưng dựa vào vũ lực để lấn áp láng giềng, hoàn toàn không có nguyên tắc đạo đức cao cả, không trong sạch, trái ngược với lời khẳng định của Ðại Tá Lưu Minh Phúc rằng Trung Quốc là một nước duy nhứt không có tội lỗi đối với sự phát triển văn minh nhân loại.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong công cuộc “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa và thực hiện giấc mơ,” Trung Quốc cần tìm kiếm, chiếm đoạt tài nguyên và các nguồn năng lượng mới, gây ra nhiều cuộc xung đột, tranh chấp chủ quyền biển đảo rất căng thẳng với hầu hết các nước láng giềng nên chủ trương “thế giới hài hòa” của Trung Quốc là sự tuyên truyền giả dối.
Người ta còn nhớ, tàu hải giám Trung Quốc đánh chìm ngư thuyền Việt Nam bắt ngư phủ đòi tiền chuộc mạng; tàu Trung Quốc đã trực diện “đối đầu” với Philippines ở bãi cạn Scarborough. Tháng 3, 2013 tàu Trung Quốc bắn cháy cabin tàu đánh cá trong hải phận của Việt Nam; cũng trong tháng 3, bốn tàu chiến Trung Quốc tập trận trên bãi cạn James thuộc chủ quyền của Malaysia. Ngày 23 tháng 4, 2013 tám tàu lớn Trung Quốc có 40 máy bay quân sự hỗ trợ, đi vào lãnh hải xung quanh quần đảo Senkaku của Nhật Bản. Ngày 26 tháng 4, 2013 Trung Quốc đưa hàng chục binh lính tiến sâu vào lãnh thổ Ấn Ðộ và dựng trại tại đây. Nếu phải liệt kê tất cả những vụ cố tình khiêu khích của Trung Quốc thì hãy còn nhiều. Những sự vi phạm đó có mục đích vừa là đe dọa bằng vũ lực, vừa là thử lửa xem có ai dám phản ứng mạnh không, vừa là muốn xác định bằng vũ lực chủ quyền của mình.
Sự đe dọa có tính công khai với lời kêu gọi của Tập Cận Bình là quân đội nhân dân Trung Quốc phải chuẩn bị tinh thần, đề phòng chiến tranh có thể xẩy ra những ngày sắp tới, mặt khác họ Tập cũng đồng thời gởi thông điệp rằng giới lãnh đạo mới của Trung Quốc cam kết mở cửa, theo đuổi con đường phát triển hòa bình và chiến lược cùng thắng với thế giới bên ngoài. Chính sách hai mặt đó thể hiện qua cuộc gặp tay đôi giữa Tập Cận Bình và Tổng Thống Barack Obama tại trang trại Annenberg ở Sunnyland, California, ngày 7 tháng 6, 2013. Theo báo chí Trung Quốc, trong cuộc gặp gỡ đó Tập Cận Bình đã khái quát mô hình quan hệ nước lớn theo kiểu mới giữa Mỹ và Trung Quốc dựa theo 3 diễm sau đây: (1) Không xung đột và không đối đầu; (2) Tôn trọng lẫn nhau; (3) Hợp tác cùng thắng. Phía Trung Quốc cho biết hai bên đã đạt được thỏa thuận quan trọng.
Dựa vào sự thỏa thuận ngầm và theo chính sách vừa đấu tranh vừa hợp tác có lợi, Trung Quốc đã từng bước hành động ngang ngược trong vùng Châu Á vì biết chắc Mỹ sẽ không để xẩy ra “xung đột” dù có thỏa ước quân sự với Philippines và Nhật Bản. Tuy nhiên cung cách múa gậy vườn hoang của Trung Quốc ngày càng quá đáng buộc Mỹ phản ứng, không thể để một mình Trung Quốc làm bá chủ ở Châu Á Thái Bình Dương. Vì thế mới có chuyện Mỹ “xoay trục,” di chuyển 60% quân lực sang Á Châu với sự có mặt của 2500 quân nhân Mỹ tại Úc. Sự thay đổi chiến lược quốc tế trên vũ đài chính trị của các nước như Mỹ, Châu Âu, Úc Ðại Lợi, Nhật Bản, Ấn Ðộ, ảnh hưởng sâu sắc đến việc thực hiện giấc mơ của Trung Quốc. Tháng 11 năm 1996 trong cuộc thảo luận bàn tròn về chính sách quốc tế tại California dưới thời Tổng Thống George W. Bush, nhiều vị nguyên thủ quốc gia tham dự, trong đó cựu Thủ Tướng Nhật K. Myazawa đã tiên đoán rằng vào năm 2020, Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc lớn nhứt về kinh tế lẫn quân sự và ông lo ngại rằng “sẽ rất khó dự đoán Trung Quốc sẽ hành động như thế nào.” Cựu Thủ Tướng Hàn Quốc ông S. Lho, cũng đặt câu hỏi tương tự: “Nếu như Trung Quốc giàu có hùng mạnh thì điều gì sẽ xẩy ra ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương”? Riêng cựu Thủ Tướng Singapore Lý Quang Diệu thì khuyên “hãy để cho Trung Quốc ngủ yên.” Nhưng tiếc rằng Trung Quốc không chịu ngủ yên với chủ trương bành trướng của Hán tộc.
Cái mốc được các nhà lãnh đạo Trung Quốc xác định cho việc hoàn thành “Giấc Mơ Trung Hoa” là năm 2049, kỷ niệm 100 năm thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Người ta tự hỏi thời gian gấp rút buộc Bắc Kinh bất chấp phương tiện và hành động nào miễn đạt được mục đích, đặc biệt cướp đảo, lấn đất, khai thác tài nguyên của láng giềng một cách phi pháp, có thể xẩy ra xung đột quân sự rộng lớn, trở thành ác mộng chẳng những đối với các nước trong vùng mà cả đối với Hán tộc.
Võ Long Triều
Hơn 20 năm trước đây nhà văn Trung Quốc Tống Thái Thánh đã mơ một giấc mơ Ðại Hán, ông cho xuất bản một quyển sách tựa đề “Thời Ðại Trung Quốc,” trong đó ông tưởng tượng một cách kiêu căng rằng: “Bước vào thế kỷ 21, cho dù bầu trời thế giới có mọc thêm nhiều ngôi sao nhưng Trung Quốc mới đúng là mặt trời của thế giới. 'Thời Ðại Trung Quốc' là Kinh thánh Phúc âm của thế kỷ 21.”
Tháng 3 năm 2010, hàng triệu người Trung Quốc đổ xô mua và đọc quyển sách “Giấc Mơ Trung Quốc” do Ðại Tá Giáo Sư Ðại Học Quốc Phòng Trung Quốc Lưu Minh Phúc xuất bản. Trong đó ông đặt mục tiêu Trung Quốc sẽ trở thành quốc gia lớn mạnh nhứt thế giới, thay Mỹ lãnh đạo toàn cầu. Ðại Tá Phúc đưa ra chiến lược gồm 3 điểm: (1) Trung Quốc phải thay Mỹ lãnh đạo thế giới, làm quốc gia quán quân và quốc gia lãnh tụ; (2) Muốn vậy Trung Quốc phải tiến hành cạnh tranh với Mỹ (3) Ðể thắng cạnh tranh, Trung Quốc cần có quân đội mạnh nhứt thế giới. Không phải để đánh Mỹ mà để khỏi bị Mỹ đánh. Phải có lực lượng răn đe để cho không ai dám dùng quân sự ngăn chận Trung Quốc trỗi dậy. Ðiều khôi hài là Ðại Tá Phúc khẳng định: “Trung Quốc có một lịch sử rất trong sạch và có một nguyên tắc đạo đức cao cả, là một nước duy nhứt không có tội lỗi đối với sự phát triển văn minh nhân loại, chính vì vậy mà Trung Quốc có quyền truyền bá các quan điểm và cách giải quyết vấn đề của mình trên toàn cầu”! Ðọc xong quyển sách này nhà báo Jeffrey Schmidt cho rằng: “Trung Quốc đã tháo găng tay và đang thách thức sự thống trị thế giới của Mỹ.”
Giấc mơ Trung Quốc là gì? Chủ Tịch Tập Cận Bình là người tích cực cổ xúy cho giấc mơ này. Khi mới trở thành nguyên thủ của đất nước đông dân nhứt thế giới, ông tuyên bố: “Vào thế kỷ 21, Trung Quốc sẽ trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa hiện đại, thịnh vượng, hùng mạnh, văn hóa tiên tiến và sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa sẽ thành hiện thực.” Cũng là điều mà ông hứa trước Quốc Hội ngày 17 tháng 3, 2013 và được phát đi như một lời hiệu triệu quốc dân. Ngày 8 tháng 4, 2013 ông lập lại trong bài phát biểu khai mạc diễn đàn Châu Á tại Bác Ngao. Ngày 17 tháng 4, 2013 ông trở lại vấn đề này và nói: “Chúng ta hãy đưa vào thực tiễn đời sống Giấc Mơ Trung Hoa.”
Ðịnh nghĩa giấc mơ do Chủ Tịch Tập Cận Bình chính thức thông báo cho Quốc Hội, bao gồm nhiều khía cạnh, kinh tế, xã hội, văn hóa, v.v... Trong phạm vi nhỏ hẹp của bài này tôi chỉ nhìn vấn đề quân sự mà Trung Quốc dùng như một phương tiện hữu hiệu để “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa.” Ưu tiên hàng đầu phải là hiện đại hóa quân đội bằng sự gia tăng không ngừng và to lớn từ thời chiến lược gia Ðặng Tiểu Bình được toàn dân Trung Quốc sùng bái, do đó Trung Quốc tìm mua những thứ vũ khí hiện đại nhứt và sao chế thành sản phẩm của mình. Ðại Tá Lưu Minh Phúc phỏng định quân đội hùng mạnh sẽ răn đe không ai dám ngăn cản sự trỗi dậy hay nói cho đúng hơn là sự ngang ngược của Trung Quốc. Bằng cớ là Trung Quốc ngang nhiên mở rộng biên giới bằng đường 9 đoạn hay cái lưỡi bò liếm toàn biển đảo của các nước láng giềng, có ai dám gây sự đâu? Ngoài những lời phản đối suông hay phân chứng với quốc tế. Rồi đến việc tuyên bố ngày 23 tháng 11, 2013 vùng phòng không trên Biển Ðông và Biển Hoa Ðông, buộc phi cơ bay ngang phải khai báo, rồi đến lệnh cấm đánh bắt cá kể từ ngày 1 tháng 1, 2014 phải xin phép tỉnh Hải Nam. Từng bước, Trung Quốc thực hiện giấc mơ và sự phục hưng vĩ đại của Hán tộc. Sự phục hưng dựa vào vũ lực để lấn áp láng giềng, hoàn toàn không có nguyên tắc đạo đức cao cả, không trong sạch, trái ngược với lời khẳng định của Ðại Tá Lưu Minh Phúc rằng Trung Quốc là một nước duy nhứt không có tội lỗi đối với sự phát triển văn minh nhân loại.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong công cuộc “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa và thực hiện giấc mơ,” Trung Quốc cần tìm kiếm, chiếm đoạt tài nguyên và các nguồn năng lượng mới, gây ra nhiều cuộc xung đột, tranh chấp chủ quyền biển đảo rất căng thẳng với hầu hết các nước láng giềng nên chủ trương “thế giới hài hòa” của Trung Quốc là sự tuyên truyền giả dối.
Người ta còn nhớ, tàu hải giám Trung Quốc đánh chìm ngư thuyền Việt Nam bắt ngư phủ đòi tiền chuộc mạng; tàu Trung Quốc đã trực diện “đối đầu” với Philippines ở bãi cạn Scarborough. Tháng 3, 2013 tàu Trung Quốc bắn cháy cabin tàu đánh cá trong hải phận của Việt Nam; cũng trong tháng 3, bốn tàu chiến Trung Quốc tập trận trên bãi cạn James thuộc chủ quyền của Malaysia. Ngày 23 tháng 4, 2013 tám tàu lớn Trung Quốc có 40 máy bay quân sự hỗ trợ, đi vào lãnh hải xung quanh quần đảo Senkaku của Nhật Bản. Ngày 26 tháng 4, 2013 Trung Quốc đưa hàng chục binh lính tiến sâu vào lãnh thổ Ấn Ðộ và dựng trại tại đây. Nếu phải liệt kê tất cả những vụ cố tình khiêu khích của Trung Quốc thì hãy còn nhiều. Những sự vi phạm đó có mục đích vừa là đe dọa bằng vũ lực, vừa là thử lửa xem có ai dám phản ứng mạnh không, vừa là muốn xác định bằng vũ lực chủ quyền của mình.
Sự đe dọa có tính công khai với lời kêu gọi của Tập Cận Bình là quân đội nhân dân Trung Quốc phải chuẩn bị tinh thần, đề phòng chiến tranh có thể xẩy ra những ngày sắp tới, mặt khác họ Tập cũng đồng thời gởi thông điệp rằng giới lãnh đạo mới của Trung Quốc cam kết mở cửa, theo đuổi con đường phát triển hòa bình và chiến lược cùng thắng với thế giới bên ngoài. Chính sách hai mặt đó thể hiện qua cuộc gặp tay đôi giữa Tập Cận Bình và Tổng Thống Barack Obama tại trang trại Annenberg ở Sunnyland, California, ngày 7 tháng 6, 2013. Theo báo chí Trung Quốc, trong cuộc gặp gỡ đó Tập Cận Bình đã khái quát mô hình quan hệ nước lớn theo kiểu mới giữa Mỹ và Trung Quốc dựa theo 3 diễm sau đây: (1) Không xung đột và không đối đầu; (2) Tôn trọng lẫn nhau; (3) Hợp tác cùng thắng. Phía Trung Quốc cho biết hai bên đã đạt được thỏa thuận quan trọng.
Dựa vào sự thỏa thuận ngầm và theo chính sách vừa đấu tranh vừa hợp tác có lợi, Trung Quốc đã từng bước hành động ngang ngược trong vùng Châu Á vì biết chắc Mỹ sẽ không để xẩy ra “xung đột” dù có thỏa ước quân sự với Philippines và Nhật Bản. Tuy nhiên cung cách múa gậy vườn hoang của Trung Quốc ngày càng quá đáng buộc Mỹ phản ứng, không thể để một mình Trung Quốc làm bá chủ ở Châu Á Thái Bình Dương. Vì thế mới có chuyện Mỹ “xoay trục,” di chuyển 60% quân lực sang Á Châu với sự có mặt của 2500 quân nhân Mỹ tại Úc. Sự thay đổi chiến lược quốc tế trên vũ đài chính trị của các nước như Mỹ, Châu Âu, Úc Ðại Lợi, Nhật Bản, Ấn Ðộ, ảnh hưởng sâu sắc đến việc thực hiện giấc mơ của Trung Quốc. Tháng 11 năm 1996 trong cuộc thảo luận bàn tròn về chính sách quốc tế tại California dưới thời Tổng Thống George W. Bush, nhiều vị nguyên thủ quốc gia tham dự, trong đó cựu Thủ Tướng Nhật K. Myazawa đã tiên đoán rằng vào năm 2020, Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc lớn nhứt về kinh tế lẫn quân sự và ông lo ngại rằng “sẽ rất khó dự đoán Trung Quốc sẽ hành động như thế nào.” Cựu Thủ Tướng Hàn Quốc ông S. Lho, cũng đặt câu hỏi tương tự: “Nếu như Trung Quốc giàu có hùng mạnh thì điều gì sẽ xẩy ra ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương”? Riêng cựu Thủ Tướng Singapore Lý Quang Diệu thì khuyên “hãy để cho Trung Quốc ngủ yên.” Nhưng tiếc rằng Trung Quốc không chịu ngủ yên với chủ trương bành trướng của Hán tộc.
Cái mốc được các nhà lãnh đạo Trung Quốc xác định cho việc hoàn thành “Giấc Mơ Trung Hoa” là năm 2049, kỷ niệm 100 năm thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Người ta tự hỏi thời gian gấp rút buộc Bắc Kinh bất chấp phương tiện và hành động nào miễn đạt được mục đích, đặc biệt cướp đảo, lấn đất, khai thác tài nguyên của láng giềng một cách phi pháp, có thể xẩy ra xung đột quân sự rộng lớn, trở thành ác mộng chẳng những đối với các nước trong vùng mà cả đối với Hán tộc.
CS Khơi Lại Hận Thù Dân Tộc
Tác giả : Vi Anh
Đài truyền hình Á Rập Al Jazeera ngày 24/01/2014 có một một phóng sự tựa đề «Biểu tình tại Cam Bốt phơi bày quan điểm bài Việt Nam”. Nói các cuộc biểu tình của đối lập Miên thường có những khẩu hiệu, hành động chống đối, cướp phá tài sản của người Việt trên đất Miên, đã cướp phá ba cửa hàng của người Việt. Nhiều người Việt cư ngụ trong khu vực biểu tình lo sợ đã phải bỏ chạy về Việt Nam.
Phân tích sự vụ trong bối cảnh chung của lịch sử xa gần của hai nước láng giềng không có biên giới thiên nhiên với nhau, người ta thấy chính CS - chớ không ai vào đó cả - CS Việt lẫn CS Miên đã khơi lại tiền cừu hậu hận của người Miên đối với người Việt trong vụ này. Cuộc biểu tình của đối lập Miên xảy ra gần cả năm rồi, mà đâu có hiện tượng chống người Việt trên đất Miên cũng như ở các tỉnh của VN có người Miên ở. Chính chuyến viếng thăm của Thủ Tướng Hun Sen, một sĩ quan Việt Cộng, một người Việt gốc Miên ở Miền Tây Nam Việt, người Miên gọi là Khmer Krom được CS Hà nội bố trí lên làm thủ tướng sau khi Đảng Nhà Nước CSVN kéo quân qua lật đổ chế độ Khmer Đỏ Pol Pot. Chuyến đi đó của TT Hun Sen mới đây làm cho người Miên thấy TT Hun Sen đi VN để cõng rắn về cắn gà nhà, giống như mấy chục năm trước Hun Sen theo bộ đội CSVN dắt voi về dày mả tổ để được CSVN đưa lên làm thủ tướng cho đến bây giờ hơn 28 năm rồi. Nên người dân Miên, công nhân dệt may Miên, lực lượng lao động nồng cốt, nguồn ngoại tệ lớn của Hun Sen ở thủ đô Nam Vang và lực lượng dân chúng Miên đối lập mới vùng lên, trước hành động của Hun Sen đổ dầu vào cơn bão đấu tranh chống Hun Sen và lây lan qua người Việt sống trên đất Miên.
Thủ Tướng Hun Sen công du VNCS gặp hầu hết các nhân vật chóp bu của Đảng Nhà Nước CSVN và cám ơn 700 cán bộ đảng viên CS đã qua đánh Khmer Đỏ. Người CS Việt gốc Miên Hun Sen khơi lại tiền cừu hậu hận trong dã sử của nước Miên, cho rằng người Việt đã chiếm lãnh thổ Thuỷ Chân Lạp của Miên. Cái dã sử hận thù dân tộc đó làm người Miên ở VN được người Việt xem là đồng bào Việt gốc Miên, thế mà mỗi lần đất nước VN có biến động như thời Nhựt sắp đảo chánh Pháp, người Việt đứng lên giành độc lập thời Việt Minh, tình hình không ổn định, thì người Miên ở các sóc của các tỉnh Miền Tây nổi lên cáp duồng, người Việt ở gần các sóc chạy trối chết.
Bây giờ trong hai xôi nhồi một chõ, tiền cừu hậu hận của người Miên đối với VN dã sử xa xưa cộng với mối thù của người Miên đối với bộ đội VNCS kéo quân qua Miên đưa người Việt gốc Miên Hun Sen lên là thủ tướng mấy chục năm, biến cuộc đấu tranh của người dân Miên đấu tranh cho dân quyền và nhân quyền mang thêm tính chủng tộc. Mà khi cuộc đấu tranh đượm thêm màu sắc chủng tộc, thường mạnh lên, như rượu thêm men vậy.
Người dân Miên thấy rõ tư tưởng mãi quốc cầu an của TT Hun Sen. Sau khi về nước ngày 30/12/2013 là cảnh sát Miên ngày 3/1/2014 bắn chết 4 và bị thương 26 công nhân dệt may biểu tình và ngày 4/1/2014, nhà cầm quyền Hun Sen ra lịnh cấm biểu tình kể từ ngày 04/01/2014 và cho đến khi vãn hồi trật tự công cộng». Và trong một đêm, cảnh sát Miên giỡ khán đài, dẹp bàn thờ mà «từ hơn 20 ngày qua, cả trăm cảm tình viên đến từ mọi miền đất nước tập hợp tại công viên Tự Do và các nhà lãnh đạo của phong trào lên thuyết trình.”
Chưa hết, sau đó Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng còn đích thân đi Miên để “hà hơi tiếp sức” cho “đồng chí” Hun Sen và làm cơn bão đấu tranh của người dân Miên bùng mạnh lên hơn nữa. Cả hai Nguyễn tấn Dũng và Hun Sen đều là dân Miền Tây Nam Việt, nơi mà người Miên gọi là một phần nước của họ, gọi là Khmer Krom hay Thuỷ chân Lạp. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chiều 12/1, cầm đầu một phái đoàn cán bộ, đảng viên CSVN đến thủ đô Nam Vang như vua quan VN đến Trấn Tây Thành của VN, viếng thăm, làm việc ba ngày. Báo chí hai chế độ cho biết chuyến đi này là do Thủ tướng Miên Hun Sen đạt lời mời khi sang VN. Ngay khi đến thủ dô của Miên, TT Nguyễn Tấn Dũng tới cắt băng khánh thành trụ sở mới của Đại sứ quán VNCS, tại Campuchia; thăm và gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán, đại diện cộng đồng người Việt tại Campuchia. Người Miên nhìn sự việc này như một cuộc gặp gỡ, chỉ đạo, rèn cán chỉnh quân số cán bộ đảng viên CSVN mà Hà nội bố trí ở lại “nằm vùng”, lập gia đình với phụ nữ Miên, nhập quốc tịch Miên, mai phục ở lại trong guồng máy an ninh, tình báo, quân đội của Miên sau khi Hà nội bị buộc phải rút quân ra khỏi Miên.
Người Miên nhứt là đối lập Miên nhớ lại nhà cầm quyền Hun Sen năm 2013 và VNCS trao đổi nhiều đoàn các cấp, tăng cường hợp tác an ninh, quốc phòng, hạ quyết tâm sớm hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới.
Và Sam Rainsy, lãnh tụ đối lập bị Hun Sen lưu đày cũng vì từ lâu đã chống Hun Sen thông đồng cho VNCS chiếm đất Miên.
Và không ít người Miên trong hàng ngũ đối lập coi các cơ sở văn hoá của toà đại sứ VNCS là ổ gián điệp, một số tiệm quán của người Việt là tai mắt, tình báo nhân dân của CSVN.
Phóng sự của truyền hình Al Jazeera cũng có dẩn dụ phát biểu của một số người dân và đối lập Miên.
«Họ [VNCS] gửi người của họ sang Cam Bốt và cài Hun Sen lên làm lãnh đạo… để có được lãnh thổ Cam Bốt».«Một số chủ tiệm cà phê là gián điệp được cử qua để có được thông tin từ Cam Bốt. Tất nhiên họ có thể khẳng định rằng Cam Bốt là một nơi tốt cho kinh doanh và sinh hoạt, nhưng tôi đã nhìn thấy chứng minh thư của họ và họ là công an Việt Nam».
Và truyền hình Al Jazeera cũng nhận định, Thủ tướng Hun Sen vẫn duy trì một mối quan hệ thân thiết với Việt Nam, một kẻ thù lịch sử của Cam Bốt, qua đó cung cấp một mục tiêu tấn công dễ dàng cho đảng Cứu nguy Dân tộc.
Tác giả : Vi Anh
Đài truyền hình Á Rập Al Jazeera ngày 24/01/2014 có một một phóng sự tựa đề «Biểu tình tại Cam Bốt phơi bày quan điểm bài Việt Nam”. Nói các cuộc biểu tình của đối lập Miên thường có những khẩu hiệu, hành động chống đối, cướp phá tài sản của người Việt trên đất Miên, đã cướp phá ba cửa hàng của người Việt. Nhiều người Việt cư ngụ trong khu vực biểu tình lo sợ đã phải bỏ chạy về Việt Nam.
Phân tích sự vụ trong bối cảnh chung của lịch sử xa gần của hai nước láng giềng không có biên giới thiên nhiên với nhau, người ta thấy chính CS - chớ không ai vào đó cả - CS Việt lẫn CS Miên đã khơi lại tiền cừu hậu hận của người Miên đối với người Việt trong vụ này. Cuộc biểu tình của đối lập Miên xảy ra gần cả năm rồi, mà đâu có hiện tượng chống người Việt trên đất Miên cũng như ở các tỉnh của VN có người Miên ở. Chính chuyến viếng thăm của Thủ Tướng Hun Sen, một sĩ quan Việt Cộng, một người Việt gốc Miên ở Miền Tây Nam Việt, người Miên gọi là Khmer Krom được CS Hà nội bố trí lên làm thủ tướng sau khi Đảng Nhà Nước CSVN kéo quân qua lật đổ chế độ Khmer Đỏ Pol Pot. Chuyến đi đó của TT Hun Sen mới đây làm cho người Miên thấy TT Hun Sen đi VN để cõng rắn về cắn gà nhà, giống như mấy chục năm trước Hun Sen theo bộ đội CSVN dắt voi về dày mả tổ để được CSVN đưa lên làm thủ tướng cho đến bây giờ hơn 28 năm rồi. Nên người dân Miên, công nhân dệt may Miên, lực lượng lao động nồng cốt, nguồn ngoại tệ lớn của Hun Sen ở thủ đô Nam Vang và lực lượng dân chúng Miên đối lập mới vùng lên, trước hành động của Hun Sen đổ dầu vào cơn bão đấu tranh chống Hun Sen và lây lan qua người Việt sống trên đất Miên.
Thủ Tướng Hun Sen công du VNCS gặp hầu hết các nhân vật chóp bu của Đảng Nhà Nước CSVN và cám ơn 700 cán bộ đảng viên CS đã qua đánh Khmer Đỏ. Người CS Việt gốc Miên Hun Sen khơi lại tiền cừu hậu hận trong dã sử của nước Miên, cho rằng người Việt đã chiếm lãnh thổ Thuỷ Chân Lạp của Miên. Cái dã sử hận thù dân tộc đó làm người Miên ở VN được người Việt xem là đồng bào Việt gốc Miên, thế mà mỗi lần đất nước VN có biến động như thời Nhựt sắp đảo chánh Pháp, người Việt đứng lên giành độc lập thời Việt Minh, tình hình không ổn định, thì người Miên ở các sóc của các tỉnh Miền Tây nổi lên cáp duồng, người Việt ở gần các sóc chạy trối chết.
Bây giờ trong hai xôi nhồi một chõ, tiền cừu hậu hận của người Miên đối với VN dã sử xa xưa cộng với mối thù của người Miên đối với bộ đội VNCS kéo quân qua Miên đưa người Việt gốc Miên Hun Sen lên là thủ tướng mấy chục năm, biến cuộc đấu tranh của người dân Miên đấu tranh cho dân quyền và nhân quyền mang thêm tính chủng tộc. Mà khi cuộc đấu tranh đượm thêm màu sắc chủng tộc, thường mạnh lên, như rượu thêm men vậy.
Người dân Miên thấy rõ tư tưởng mãi quốc cầu an của TT Hun Sen. Sau khi về nước ngày 30/12/2013 là cảnh sát Miên ngày 3/1/2014 bắn chết 4 và bị thương 26 công nhân dệt may biểu tình và ngày 4/1/2014, nhà cầm quyền Hun Sen ra lịnh cấm biểu tình kể từ ngày 04/01/2014 và cho đến khi vãn hồi trật tự công cộng». Và trong một đêm, cảnh sát Miên giỡ khán đài, dẹp bàn thờ mà «từ hơn 20 ngày qua, cả trăm cảm tình viên đến từ mọi miền đất nước tập hợp tại công viên Tự Do và các nhà lãnh đạo của phong trào lên thuyết trình.”
Chưa hết, sau đó Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng còn đích thân đi Miên để “hà hơi tiếp sức” cho “đồng chí” Hun Sen và làm cơn bão đấu tranh của người dân Miên bùng mạnh lên hơn nữa. Cả hai Nguyễn tấn Dũng và Hun Sen đều là dân Miền Tây Nam Việt, nơi mà người Miên gọi là một phần nước của họ, gọi là Khmer Krom hay Thuỷ chân Lạp. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chiều 12/1, cầm đầu một phái đoàn cán bộ, đảng viên CSVN đến thủ đô Nam Vang như vua quan VN đến Trấn Tây Thành của VN, viếng thăm, làm việc ba ngày. Báo chí hai chế độ cho biết chuyến đi này là do Thủ tướng Miên Hun Sen đạt lời mời khi sang VN. Ngay khi đến thủ dô của Miên, TT Nguyễn Tấn Dũng tới cắt băng khánh thành trụ sở mới của Đại sứ quán VNCS, tại Campuchia; thăm và gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán, đại diện cộng đồng người Việt tại Campuchia. Người Miên nhìn sự việc này như một cuộc gặp gỡ, chỉ đạo, rèn cán chỉnh quân số cán bộ đảng viên CSVN mà Hà nội bố trí ở lại “nằm vùng”, lập gia đình với phụ nữ Miên, nhập quốc tịch Miên, mai phục ở lại trong guồng máy an ninh, tình báo, quân đội của Miên sau khi Hà nội bị buộc phải rút quân ra khỏi Miên.
Người Miên nhứt là đối lập Miên nhớ lại nhà cầm quyền Hun Sen năm 2013 và VNCS trao đổi nhiều đoàn các cấp, tăng cường hợp tác an ninh, quốc phòng, hạ quyết tâm sớm hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới.
Và Sam Rainsy, lãnh tụ đối lập bị Hun Sen lưu đày cũng vì từ lâu đã chống Hun Sen thông đồng cho VNCS chiếm đất Miên.
Và không ít người Miên trong hàng ngũ đối lập coi các cơ sở văn hoá của toà đại sứ VNCS là ổ gián điệp, một số tiệm quán của người Việt là tai mắt, tình báo nhân dân của CSVN.
Phóng sự của truyền hình Al Jazeera cũng có dẩn dụ phát biểu của một số người dân và đối lập Miên.
«Họ [VNCS] gửi người của họ sang Cam Bốt và cài Hun Sen lên làm lãnh đạo… để có được lãnh thổ Cam Bốt».«Một số chủ tiệm cà phê là gián điệp được cử qua để có được thông tin từ Cam Bốt. Tất nhiên họ có thể khẳng định rằng Cam Bốt là một nơi tốt cho kinh doanh và sinh hoạt, nhưng tôi đã nhìn thấy chứng minh thư của họ và họ là công an Việt Nam».
Và truyền hình Al Jazeera cũng nhận định, Thủ tướng Hun Sen vẫn duy trì một mối quan hệ thân thiết với Việt Nam, một kẻ thù lịch sử của Cam Bốt, qua đó cung cấp một mục tiêu tấn công dễ dàng cho đảng Cứu nguy Dân tộc.

Hồi Mã Thương Kiểu VC
Trần Khải Nhà nước Hà Nội sau khi rời cuộc chất vấn nhân quyền ở Geneva đã và đang suy nghĩ gì? Sẽ thực hiện như Liên Hiệp Quốc yêu cầu để làm cho tình hình nhân quyền VN được cải thiện hơn? Sẽ mời các bạn trẻ đấu tranh nhân quyền vào họp bàn tròn với các cán bộ chuyên trách nhân quyền của nhà nước để sẽ thật tâm đối thoại, cùng làm cho cả nước thay đổi?
Hay sẽ ra độc chiêu Hồi Mã Thương, quay ngựa phóng phi tiêu, phóng đao, phóng thương, phóng lựu đạn cay... vào người hoạt động nhân quyền?
Nhà báo Bùi Tín trên blog riêng ở đài VOA có bài nhận định tưạ đề “Màn tuồng vụng ở Genève” đã ghi nhận:
“...Sau cuộc ra quân ở Genève, các chiến sỹ dân chủ và nhân quyền có thêm tự tin và kinh nghiệm, mở đầu năm Giáp Ngọ với khí thế tấn công, được thế giới dân chủ phối hợp nhịp nhàng, chưa có năm nào vui mừng như năm nay.
Đội tuồng nhân quyền của một chính quyền có hạnh kiểm cực xấu về thực thi dân chủ và nhân quyền đã bị dư luận phủ định từ trong nước càng bị bịt mũi khi diễn xuất ở nước ngoài. Họ đã diễn một vở tuồng nhạt nhẽo, cũng là một cuộc phiêu lưu dại dột, từ nay họ “há miệng mắc quai”, không sao biện bạch nổi khi mở các phiên tòa kiểu “phát xít” không theo luật, không cho dân tham dự, khi vẫn đối xử độc ác với ông Nguyễn Hữu Cầu, ông Đinh Đăng Định, ông Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), em Nguyễn Phương Uyên...
Món nợ Nhân quyền ở Genève sẽ còn ám ảnh, đè nặng lên một chính quyền đã mất uy tín ở trong nước do đã phá tan cả nền kinh tế tài chính và làm tha hóa đến tận cùng nền văn hóa dân tộc. Sự trỗi dậy của nhân dân để tự cứu mình, cứu nước là không thể dập tắt. Lý sự cùn, nói lấy được, diễn tuồng chỉ là hạ sách, tự thú nhận “lạy ông tôi ở bụi này”, kích thích thêm sự phẫn nộ của nhân dân.”(hết trích)
Nghĩa là, không ai tin nổi nhà nước. Nghĩa là, các nhà hoạt động thắng lớn vì Hà Nội không chạy tội vi phạm nhân quyền nổi... Câu hỏi là, Ba Đình có chịu sám hối không?
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng trên BBC, qua bài viết “UPR và tâm thế 'đường ai nấy đi'...” ghi nhận:
“...Chưa kể đến những đòi hỏi từ Hoa Kỳ - quốc gia chiếm đến phân nửa thị trường xuất khẩu da giày, dệt may và hải sản của Việt Nam. UPR có thể không quá quan trọng và có thể bị coi thường, nhưng không phải ngẫu nhiên mà người Mỹ lại đặc tả đích danh bốn nhân vật Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Lê Quốc Quân và Trần Huỳnh Duy Thức “phải được trả tự do ngay lập tức”.
Cũng bởi thế, phiên xử phúc thẩm luật sư công giáo Lê Quốc Quân vào ngày 18/2/2014 sẽ là phép thử đầu tiên và đầy thách đố về một cuộc “kiểm điểm nhân quyền bất thường” tiếp nối.
Ai trong chính giới cao cấp sẽ lấy điểm nếu xử lý được tình huống thách đố đó?”(hết trích)
Nghĩa là, Hà Nội chấp nhận thiệt hại giao thương để vẫn ”nghiêm khắc nhân quyền”? Chúng ta không biết chính xác những gì Ba Đình suy nghĩ trong đầu, và cũng không biết chính xác Đảng CSVN hiện có đấu tranh nội bộ ra sao.
Điều biết chắc rằng, nhà nước biểu diễn quyền lực bằng cách vây bắt một nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng: anh Nguyễn Bắc Truyển, và bắt ngay vào nhuũng ngày trước hôn lễ, tại ngay nơi vùng đất đa số là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, một tôn giáo mà anh đã đấu tranh nhiệt tình cho quyền tự do hành đaọ.
Bản tin RFI kể:
“Nhà hoạt động nhân quyền Nguyễn Bắc Truyển, vào tối nay, 10/02/2014, đã được trả tự do sau một ngày câu lưu. Từ thành phố Hồ Chí Minh, ông Truyển nói với RFI là công an câu lưu ông là để «hỏi về vấn đề công nợ» liên quan đến các công ty cũ do ông phụ trách, hiện đã ngưng hoạt động. Ông Nguyễn Bắc Truyển cho biết đang chờ đợi sự tham gia của luật sư để giải trình trách nhiệm với các chủ nợ.
Trước đó, cô Bùi thị Kim Phượng cho biết là vào lúc 16 giờ trưa hôm qua 09/02/2014, công an thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Tháp, đến tận nhà riêng ở xã Long Hưng B, huyện Lấp Vò, đập cửa tấn công vào nhà bắt chồng sắp cưới là Nguyễn Bắc Truyển đem đi biệt tích. Gia đình cho biết lo ngại cho số phận của ông Nguyễn Bắc Truyển có thể bị trả thù vì các hoạt động ủng hộ dân oan vì tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.
Theo lời cô Bùi thị Kim Phượng, thì sau khi ra tù ông Nguyễn Bắc Truyển về sống ở Đồng Tháp để giúp đỡ tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Hai người dự trù làm lễ thành hôn vào ngày 18/02 tới đây nhưng cả nhà thường xuyên bị công an hăm dọa. Bản thân người vợ sắp cưới của ông Nguyễn Bắc Truyển cũng bị công an hỏi cung suốt 5 tiếng đồng hồ và dọa nạt.”(hết trích)
Bản tin RFA kể lại:
“...Hôm nay, hôn thê của ông Nguyễn Bắc Truyển, bà Bùi thị Kim Phượng có thư kêu cứu đưa lên mạng. Trả lời đài Á châu Tự do vào chiều tối ngày 10 tháng 2, bà Bùi Thị Kim Phượng, cho biết:
Sáng hôm qua khoảng 10 giờ, chiếc xe 16 chỗ có công an thành phố Sài Gòn, công an tỉnh, xã đến gia đình tôi ở ngoài cửa rào yêu cầu tôi mở cửa rào để mang anh Truyển về công an xã làm việc… Anh Truyển từ chối anh Truyển nói là phải có lệnh thì anh mới đi, không có lệnh anh không đi.
Tới chiều khoảng 4 giờ một lực lượng công an rất đông đến dùng xà beng đẩy cửa rào nhà tôi, xong rồi xông vô rồi phá cửa kéo sắt nhà tôi, làm bể cửa kính nhà tôi, làm hỏng tủ thờ và hai bức hình của đức Thầy là vị Giáo Chủ, khai sáng Phật giáo Hòa hảo của tôi, rồi nổ ba phát súng, phá cửa sau nhà tôi và bể mặt bàn và mấy cái ghế nhà tôi, làm bể tường nhà tôi. Xong rồi bắt anh Truyển, còng anh lại, lôi anh ra sân, đánh anh té xuống, tát vô mặt anh. Rồi kéo tôi và chị tôi lại và đọc nguyên nhân lệnh bắt là chiếm đoạt tài sản của người khác.
Theo bà Phượng, công an đã lục soát nhà bà và tịch thu các vật dụng của ông Truyển bao gồm máy tính xách tay, điện thoại di động, máy ảnh và nhiều vật dụng khác mà bà chưa kiểm hết được.
Sau khi tiến hành bắt giữ ông Truyển, công an xã Long Hưng B cũng đã áp giải bà Phượng về đồn công an xã để làm việc suốt 5 tiếng đồng hồ và chỉ thả bà ra vào khoảng 9 giờ tối cùng ngày...
...Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, trụ sở tại bang California, vừa ra thông cáo lên tiếng phản đối hành động sử dụng bạo lực bắt giữ ông Truyển của công an Việt Nam và yêu cầu chính quyền phải trả tự do ngay lập tức cho ông.
Ông Nguyễn Bắc Truyển đã từng bị chính quyền Việt Nam kết án tù 3 năm rưỡi vào năm 2007 với tội danh tuyên truyền chống nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông đã mãn hạn tù vào năm 2010. Theo dự kiến, vào ngày 18 tháng 2 tới ông Truyển và bà Phượng sẽ làm lễ cưới.”(hết trích)
Phải chăng trận vây bắt anh Nguyễn Bắc Truyển là cú Hồi Mã Thương sau khi phái đoàn nhà nước thua thê thảm ở Geneva?
Hóa ra đám cưới của anh Truyển bây giờ cả thế giới đều biết, và điều nhức nhối khó hiểu là, tại sao nhà nước muốn ngăn cản mối tình của anh?
Có phải đây đơn giản là trả thù trận thảm bại ở Geneva?
Hay đơn giản là bày trò hộ sự, tiền bạc dây dưa để làm anh Truyển rối trí... vì không lẽ ghép tội mở tiệc cưới lại mời các nhà hoạt động nhân quyền tới dự tiệc?
Khó vậy, xã hội này kinh khủng. Cứ tưởng sau Geneva sẽ là nhẹ thở, nhưng không phải đâu.

Ai kiềm hãm dân chủ?
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Không thể phủ nhận được giá trị, sự cần thiết và xu hướng phát triển tất yếu của dân chủ, giới cầm quyền Việt Nam, và cùng với họ, các cán bộ tuyên huấn cũng như gần đây, các “dư luận viên” được trả lương để nói quấy nói quá trên các diễn đàn mạng, thường tìm mọi cách để trì hoãn tiến trình dân chủ hóa. Hai lý do thường được đưa ra: Một, mỗi quốc gia và mỗi nền văn hóa có một mô thức dân chủ riêng; nước này không có quyền áp đặt mô thức dân chủ của mình lên các nước khác; và hai, Việt Nam chưa sẵn sàng cho một nền dân chủ đa đảng kiểu Tây phương.
Lý do thứ nhất, thật ra, là bắt chước từ luận điểm về các giá trị đặc thù của Châu Á (Asia values) của Lý Quang Diệu, nguyên thủ tướng Singapore, và Mahathir Mohamad, nguyên thủ tướng của Malaysia, trong thập niên 1990. Nội dung của quan điểm này là: Văn hóa Á Châu khác hẳn văn hóa Âu Châu và Bắc Mỹ, hoặc, nói cho gọn, Tây phương. Trong khi văn hóa Tây phương dựa trên Thiên Chúa giáo và tinh thần duy lý của triết học cổ đại Hy Lạp, văn hóa Á Châu dựa trên Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo và Hồi giáo; trong khi nền văn hóa trên được xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa cá nhân, nền văn hóa dưới được xây dựng trên nền tảng của tinh thần tập thể và cộng đồng; trong khi nền văn hóa trên đề cao tinh thần cạnh tranh, thích đối đầu và nhắm đến tham vọng chinh phục và khống chế, nền văn hóa dưới đề cao tinh thần hài hòa và đồng thuận, sẵn sàng hy sinh lợi ích của mình cho cộng đồng. Hệ quả, về phương diện chính trị, người Á Châu dễ dàng cảm thấy hài lòng dưới những chế độ dễ bị Tây phương xem là độc tài: Với họ, đó là điều hợp lý và cần thiết vì nhờ vậy, họ đạt được nhiều mục tiêu chung, trong đó, quan trọng nhất là sự ổn định và phát triển.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á vào năm 1997 dẫn đến sự suy thoái của nhiều nước, đặc biệt tại Indonesia, Thái Lan, Hàn Quốc, Hong Kong, Malaysia, Lào và Philippines... khiến người ta đặt lại vấn đề: Những cái gọi là tinh thần cộng đồng hay tập thể không bảo đảm được sự phát triển và ổn định. Sự suy thoái của Nhật Bản trước đó cũng đã chứng tỏ điều đó. Từ những cuộc khủng hoảng ấy, người ta nhận thấy: kinh tế và chính trị có những quy luật riêng, có tính phổ quát, bất kể các dị biệt về văn hóa; thậm chí, một số giá trị văn hóa mâu thuẫn với những quy luật ấy có thể bi# xem là có hại và không có lý do gì phải cố duy trì.
Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và các quốc gia Tây phương mười năm sau đó (từ 2007) làm cho những sự phê phán vừa kể dịu lại. Tuy nhiên, nó cũng làm cho các chính khách Châu Á thấy hoang mang và mất tự tin, từ đó, người ta ít nhấn mạnh một cách quá đáng vào những cái gọi là giá trị đặc thù của văn hóa Á Châu. Ở Việt Nam, giới lãnh đạo và giới tuyên huấn cũng bớt mạnh miệng.
Thế vào đó, họ nêu lên lý do thứ hai: người Việt chưa đủ điều kiện để xây dựng một nền dân chủ thực sự và lành mạnh. Ðó là những điều kiện gì? Không ai nói ra một cách cụ thể, nhưng hầu như ai cũng hàm ý này: Một, trình độ dân trí còn thấp; và hai, sự chia rẽ, thậm chí, thù hận, còn quá nặng nề.
Về lý do thứ nhất, trình độ dân trí (có người diễn tả một cách văn hoa hơn: tinh thần dân chủ), có nhiều vấn đề:
Một, về phương diện lý thuyết, cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này: giữa cơ chế dân chủ và tinh thần dân chủ, yếu tố nào xuất hiện trước và là tiền đề cho yếu tố kia? Một số người đáp: thể chế cần có trước để làm cơ sở, từ đó, làm nảy nở tinh thần dân chủ. Một số người khác lại đáp: cần có tinh thần dân chủ trước, nếu không, mọi thể chế, dù dân chủ đến mấy, cũng sẽ dẫn đến khủng hoảng mà hậu quả cuối cùng là làm sụp đổ cái cơ chế dân chủ vừa mới manh nha. Vấn đề này khá phức tạp, cần nghiên cứu riêng, do đó, tôi xin tạm gác lại cho một bài khác.
Hai, về phương diện thực tế, có thực trình độ dân trí Việt Nam còn thấp quá hay không? Ở đây, lại có nhiều vấn đề: Một, ngay cả khi dân trí Việt Nam còn thấp thì, như nhiều người đã chỉ, dân trí Việt Nam hiện nay dù sao cũng cao hơn “quan trí,” tức trình độ trí thức của giới lãnh đạo. Trong trường hợp này, không thể lấy trình độ của giới lãnh đạo để đo lường trình độ của dân chúng được. Làm vậy không những sai lầm mà còn là một sai lầm có tính lừa bịp. Hai, không thể chối cãi là dân trí Việt Nam chưa cao, nhưng chắc chắn là, nói chung, nó không thể thấp hơn trình độ dân trí của Mỹ và Pháp trong thế kỷ 19, thời khai sinh của dân chủ hay trình độ dân trí của nhiều quốc gia Âu Châu trong nửa đầu thế kỷ 20 (ở đây, tôi chỉ nói đến trình độ dân trí nói chung chứ không so sánh các đỉnh cao, trình độ của giới ưu tú - elite - trong xã hội giữa các nước, điều, thành thực mà nói, về nhiều phương diện, chúng ta vẫn còn thua khá xa!).
Ba, nếu trình độ dân trí Việt Nam thấp thật thì đâu là nguyên nhân của sự thấp kém ấy? Không nên quên, ở Việt Nam, đảng Cộng sản đã bắt đầu cầm quyền từ năm 1945: đến nay, đã gần 70 năm. Nếu tính, chỉ ở miền Bắc: đã 60 năm. Muộn hơn, trong cả nước: gần 40 năm. Một chế độ lúc nào cũng tự nhận là đỉnh cao của trí tuệ và lúc nào cũng huênh hoang về các cuộc cách mạng do họ tiến hành, từ cách mạng quan hệ sản xuất đến cách mạng văn hóa tư tưởng và cách mạng khoa học kỹ thuật, tại sao lại có thể để cho dân trí cứ thấp lè tè và lẹt đẹt mãi như vậy? Ðổ lỗi cho chiến tranh ư? Nhưng chiến tranh cũng đã kết thúc gần 40 năm rồi. Vậy, tại sao? Chỉ có một trong hai lý do: hoặc họ bất lực trong việc nâng cao dân trí hoặc họ cố tình kiềm hãm sự phát triển của dân trí bằng các chính sách ngu dân thâm độc?
Về lý do thứ hai, sự thù hận, ai cũng đồng ý: đó là một sự thật. Một trong những di sản lớn nhất của chiến tranh là thù hận. Chiến tranh càng kéo dài, thù hận càng sâu sắc. Ở đâu cũng vậy. Nhưng lại cũng không nên quên: chiến tranh Việt Nam đã kết thúc gần 40 năm rồi. Cho đến bây giờ, thành thực mà nói, rất hiếm người thù hận vì chiến tranh. Người ta thù hận vì những gì xảy ra sau chiến tranh: các chính sách cướp bóc cũng như trả thù của chính quyền đối với những người thua trận. Phong trào vượt biên dấy lên ào ạt là vì những chính sách ấy chứ không phải vì chiến tranh. Nếu không có các vụ tịch thu tài sản, đuổi đi kinh tế mới cũng như các vụ học tập cải tạo kéo dài đằng đẵng và sự kỳ thị đối với con cái những người bị bắt đi cải tạo, có lẽ không mấy người cảm thấy thù hận.
Sự thù hận trong chiến tranh là điều có tính chất gần như số phận: đã có chiến tranh thì có thù hận, không thể khác được. Nhưng những sự thù hận sau chiến tranh thì lại là một lựa chọn của chính quyền. Có thể nói, trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, đảng Cộng sản Việt Nam có hai sai lầm lớn: Một, phát động chiến tranh một cách không cần thiết sau Hiệp định Geneva; và hai, kết thúc cuộc chiến tranh một cách hẹp hòi và thiển cận. Sự thù hận mà người ta hay nói hiện nay chính là hệ quả của cả hai sai lầm ấy.
Hơn nữa, cho dù vấp phải hai sai lầm dẫn đến thù hận vừa kể, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Việt Nam cũng có thừa thời gian và thừa cơ hội để xóa bỏ sự thù hận ấy, nếu họ muốn. Gần 40 năm: gần hai thế hệ. Ở Nam Phi, khi Nelson Mandela lên cầm quyền vào năm 1994, chỉ một thời gian ngắn sau, mọi thù hận giữa người da đen và da trắng chấm dứt. Ở Việt Nam, nếu chỉ tính từ năm 1986, lúc phong trào đổi mới được phát động, nếu chính quyền có thực tâm hòa hợp và hòa giải, trong vòng 30 năm, họ có thể xóa bỏ hoặc ít nhất, làm nguôi ngoai sự thù hận ấy rất nhiều.
Trên nguyên tắc, sự thù hận bao giờ cũng là cảm giác của các nạn nhân, nghĩa là, của những người thua cuộc. Bị đè nặng bởi cảm giác thù hận, các nạn nhân làm nạn nhân đến hai lần: nạn nhân của bạo lực và, cùng lúc cũng như sau đó, nạn nhân của sự thù hận. Tính-nạn-nhân chỉ có thể được chấm dứt từ một trong hai, hoặc từ cả hai nguồn: sự bao dung của chính họ hoặc thiện chí của những người gây ra khổ nạn cho họ. Bao dung không, thật ra, không đủ. Sự bao dung có thể kéo dài tính-nạn-nhân thay vì chấm dứt nó. Sự bao dung chỉ có ý nghĩa khi nó đi kèm với thiện chí của tội phạm đồng thời là những kẻ đang nắm giữ quyền lực. Nelson Mandela chỉ chấp nhận hòa hợp hòa giải với chính quyền do người da trắng cầm đầu chỉ với điều kiện: chính quyền phải chấp nhận người da đen và sẵn sàng chia sẻ quyền lực với những người da đen.
Bởi vậy, sự thù hận của những người Việt Nam ở hải ngoại hay ở miền Nam, nếu có, không phải tự họ, xuất phát từ họ. Mà là từ phía chính quyền: chính quyền hoàn toàn không có bất cứ một chính sách hòa giải thực sự nào cả trừ những câu nói đãi bôi và giả dối. Khi chính quyền vẫn tiếp tục kỳ thị, tiếp tục trấn áp những người bất đồng chính kiến thì chính quyền đang nuôi dưỡng sự thù hận. Khi cho sự thù hận là nguyên nhân làm trì hoãn tiến trình dân chủ, nhà cầm quyền cũng thừa nhận: chính mình là nguyên nhân gây ra tình trạng trì trệ của dân chủ.
Có thể nói, khi cho trình độ dân trí thấp và sự thù hận giữa người Việt Nam là những lý do chính để trì hoãn dân chủ, nhà cầm quyền Việt Nam đang tự buộc tội chính mình.
Ðảng tan rã vì xã hội thay đổi
Friday, February 14, 2014 5:45:38 PM
Ngô Nhân Dụng
Các đảng Cộng sản ở Nga và Ðông Âu tan rã khi lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan không đường thoát vì những mâu thuẫn nội tại trong đảng và mâu thuẫn giữa đảng và xã hội. Những thay đổi bên ngoài thúc đẩy cho các mâu thuẫn nặng nề hơn. Nắm quyền thống trị trong một thời gian dài, tưởng như không có gì lay chuyển nổi, họ không thích ứng được với những thay đổi bên ngoài, đảng càng ngày càng yếu và xã hội ngày càng mạnh hơn, chế độ sụp đổ.
Hiện tượng này đang diễn ra tại Trung Quốc và Việt Nam. Các đảng cộng sản này đều chiếm được chính quyền khi canh nông vẫn còn là căn bản kinh tế ở hai nước. Trong những xã hội nông nghiệp, người dân vốn quen phục tòng quyền bính, một di sản thời phong kiến, họ chấp nhận một hệ thống đẳng cấp theo hàng dọc. Guồng máy cai trị lại lập ra được một hệ thống kiểm soát dân rất tinh vi hơn thời vua quan. Trong lịch sử chưa có một guồng máy thống trị nào dùng cơ cấu kiểm soát chặt chẽ, toàn diện, đủ mọi mặt đời sống, như các chế độ cộng sản, từ Nga, Trung Quốc, đến Việt Nam. Từ trên ban xuống, họ quy định việc chọn nơi cư trú và di chuyển (hộ khẩu), ban phát thức ăn, quần áo mặc, đồ dùng trong nhà (tem phiếu), nơi học hành, trò giải trí. Ðể kiểm soát cái đầu của người dân không cho phép ai suy nghĩ điều gì khác, họ không những nắm độc quyền các báo, các đài mà còn sử dụng hệ thống giáo dục uốn nắn con người tấm lòng trung thành, tuân phục tuyệt đối, từ lúc sinh ra đến lúc chết, dậy cho dân yêu những gì đảng yêu, ghét những gì đảng ghét.
Xã hội con người chưa bao giờ được thắt chặt vào một khuôn khổ như vậy. Bình thường, khi loài người phát triển ở đâu cũng cần lập ra một bộ máy nhà nước bảo vệ an ninh, trật tự; cần một mạng lưới sản xuất và trao đổi vì nhu cầu kinh tế; và trên hết là một trật tự tinh thần, với các tôn giáo, các hệ thống tư tưởng giải thích tại sao người ta nên sống chung như vậy. Chủ nghĩa cộng sản muốn bao biện cả ba lãnh vực: chính trị, kinh tế, và ý thức hệ. Các nhà xã hội học gọi đó là một chế độ ba chân: Caesaro-Papism-Mammonism (Hoàng đế, Giáo hoàng, và Thần tài). Chế độ ba chân này dễ đem áp dụng ở những xã hội nông nghiệp cổ truyền. Vì ở đó người ta đã quen thấy quyền hành chính trị bao trùm lên cả lãnh vực tín ngưỡng và tư tưởng, các vị hoàng đế cũng đóng vai trò lãnh đạo tinh thần, Max Weber đặt tên là Caesaropapism. Nhiều xứ Hồi Giáo nuôi lý tưởng một đế quốc thuần túy, Umma, thể hiện một chế độ hoàn thiện như vậy. Chủ nghĩa Mác Lê Nin mang tham vọng lớn hơn nữa, đã gom cả sinh hoạt kinh tế dưới một mái nhà, tạo thành chế độ ba chân, thường gọi là độc tài toàn trị.
Nhưng cuộc sống loài người thay đổi, chế độ ba chân toàn trị mất thế thăng bằng. Guồng máy chính trị bao trùm lên tất cả, sẽ tới lúc xã hội tiến hóa và phát triển không còn chịu đựng được nữa, giống như một trái lựu chín, các hạt lựu lớn căng lên, phá vỡ cái vỏ bọc, dù vỏ rất cứng rắn. Nhất là khi chế độ toàn trị phải mở hé cánh cửa cho dân được hưởng phần nào quyền tự do làm ăn để sinh sống. Một trong ba cái chân bắt đầu yếu dần, làm lệch thế cân bằng giữa nhóm thống trị và cả xã hội chung quanh họ. Cán cân sức mạnh tương đối giữa chính quyền và xã hội dần dần thay đổi. Xã hội tự nó lớn lên, không thể sống mãi trong cái vỏ do chính quyền bao bọc.
Chính quyền ngày càng yếu hơn, guồng máy kiểm soát lỏng lẻo hơn và uy tín bị soi mòn dần. Cùng thời gian đó, trong xã hội có những lực lượng mới dấy lên, ngày càng mạnh hơn. Người dân thấy họ có thể sống và suy nghĩ độc lập với guồng máy nhà nước; nhiều người dám kết hợp lại vì những nhu cầu, khát vọng chung; họ thông tin với nhau dễ dàng hơn. Có những thay đổi có thể quan sát được, như khả năng sống độc lập về kinh tế, lợi tức nhiều người lên cao và không phụ thuộc vào “chế độ xin-cho” ban phát của người cầm quyền. Ngoài ra còn những biến động ẩn chìm như những dòng nước ngầm nằm dưới đấy sâu, tới ngày sẽ làm vỡ các bờ đê ngăn chặn. Nhiều thành phần độc lập với guồng máy nhà nước càng ngày càng tự tin, đến lúc họ thấy cần sử dụng quyền công dân gây ảnh hưởng trên cuộc sống chung.
Ở Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, khi đảng cộng sản bỏ giáo điều Mao chủ tịch, cho dân được tự do làm ăn, một tầng lớp trung lưu thành hình, ngày càng đông và lên tiếng mạnh bạo hơn. Các quốc gia bắt đầu chuyển sang thể chế dân chủ khi lợi tức theo đầu người lên mức khoảng 4,000 Mỹ kim một năm (tính theo mãi lực tương ứng, purchasing power parity viết tắt là PPP, không tính theo hối suất). Nhiều nước mặc dù lợi tức theo đầu người (percapita income) lên cao vẫn theo chế độ độc tài, vì tài nguyên do thiên nhiên ưu đãi đặc biệt chứ không phải do sức làm việc của con người tạo ra. Hiện nay trên thế giới có 24 nước với lợi tức theo đầu người cao hơn Trung Quốc mà vẫn chưa được dân chủ hóa. Trong số đó 21 nước chỉ giầu lên nhờ mỏ dầu khí. Giới quyền quý ở các nước đó giầu sang, người dân bình thường vẫn nghèo những họ được chính quyền “hối lộ” bằng những chính sách trợ cấp để giữ không cho xã hội thay đổi.
Nhưng lợi tức lên cao chỉ là một trong nhiều biến chuyển dẫn đến khát vọng dân chủ. Tác động mạnh nhất trong xã hội hiện đại là kỹ thuật thông tin nhanh chóng, dễ dàng, và phổ cập. Tốc độ biến chuyển trong lãnh vực này tăng nhanh hơn và phổ cập rộng rãi trong số người càng ngày càng đông hơn. Trước năm 1979, pháp sư Hồi Giáo Ruhollah Khomeini phát động phong trào chống Sa hoàng Pahlavi bằng cách gửi những cuốn băng cát sét từ Pháp về cho các tín đồ ở Iran nghe. Từ đầu thập niên 1980, một tỷ phú gốc Hungary và sinh ở Mỹ là ông George Soros đã tặng cho các trường trung học ở Hungary những máy sao chụp (photocopy). Ông tin rằng ở đâu có phương tiện truyền thông dễ dàng thì ở đó xã hội sẽ thay đổi nhanh. Người dân Ðông Ðức vượt biên hàng loạt trong những năm 1988, 89 vì họ đã lén coi được những chương trình ti vi Tây Ðức. Nhưng sang thế kỷ 21, các khí cụ và phương tiện truyền thông mới có tác dụng mạnh và nhanh gấp trăm, ngàn lần những băng cassette, máy photocopy, và ti vi. Các mạng lưới điện tử ra đời nối kết loài người trong những cộng đồng ảo, không lệ thuộc vào khuôn khổ nơi cư trú. Các đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam chắc chắn đang lo lắng khi chứng kiến số phận các chế độ độc tài ở Tunisie hay Egypt, nơi cuộc cách mạng hoa nhài được phát động qua Internet và các máy điện thoại lưu động.
Vì vậy, họ đều tìm cách kiểm soát Internet. Nhưng kỹ thuật thông tin tiến bước nhanh hơn phản ứng của con người. Ðầu năm 2014, một thanh niên ở Việt Nam bầy ra một trò chơi điện tử thu hút được giới trẻ khắp nơi trong vòng mấy tháng; sau đã tự rút lại khi thấy nhiều trẻ em trên thế giới bắt đầu “ghiền.” Một đặc tính của những biến đổi kỹ thuật trong hệ thống thông tin mạng là những phát minh và sáng kiến rất bất ngờ. Các biện pháp do chính quyền đưa ra để ngăn cản các công dân mạng bao giờ cũng đi một, hai bước sau những sáng kiến cải thiện kỹ thuật “vượt tường lửa” của giới sử dụng Internet. Chính quyền không thể nào kiểm soát được tất cả. Mỗi khi họ ra lệnh “bóc” một hình ảnh, bản tin hay ý kiến trên một mạng thì đã chậm ít nhất một hai giờ. Nhiều công dân mạng đã thấy, đã sao chép để truyền đi rộng hơn. Chính quyền không kiểm soát được tất cả các mạng lưới thông tin, trong khi các công dân mạng luôn luôn tìm ra những kỹ thuật mới. Hành động ngăn cấm chỉ khiến cho các trang mạng được mọi người tin tưởng, uy tín tăng lên. Ở Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, nhiều bloggers đã nổi tiếng vì những ý kiến tiến bộ, vì lòng can đảm không sợ hãi. Họ được nhiều người kính trọng, lôi kéo quần chúng càng ngày càng đông hơn. Các đảng cộng sản không thể tiếp tục ách cai trị bằng chính sách kiểm soát thông tin, bưng bít sự thật được nữa.
Ðảng Cộng sản bây giờ đã mất quyền kiểm soát nồi cơm và cái bao tử của dân vì phải chấp nhận mở cửa cho kinh tế thị trường. Họ đang mất độc quyền thông tin, tin tức phổ cập nhanh chóng đã trả lại cho dân quyền tự do suy nghĩ; dến chính các đảng viên cộng sản cũng mất hết lòng tin vào chủ nghĩa, chế độ và lãnh tụ. Trong ba chân của chế độ Caesaro-Papism-Mammonism, hai chân đang gẫy. Ðảng Cộng sản bảo vệ cái chân còn lại, cố nắm chắc quyền bính. Nhưng cái chân này cũng sẽ gẫy nốt, do những mâu thuẫn nội tại. Sức chịu đựng của bất cứ bộ máy nào cũng sẽ tới lúc mệt mỏi, rã rời, như một chiếc xe đã cũ. Ðảng còn tan rã vì các biến cố bên ngoài tác động. Một điều chúng ta biết chắc, là một chính quyền tỏ ra sợ sệt trước ngoại bang khiến người dân phải thấy hổ thẹn thì không thể đứng vững được.
Friday, February 14, 2014 5:45:38 PM
Ngô Nhân Dụng
Các đảng Cộng sản ở Nga và Ðông Âu tan rã khi lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan không đường thoát vì những mâu thuẫn nội tại trong đảng và mâu thuẫn giữa đảng và xã hội. Những thay đổi bên ngoài thúc đẩy cho các mâu thuẫn nặng nề hơn. Nắm quyền thống trị trong một thời gian dài, tưởng như không có gì lay chuyển nổi, họ không thích ứng được với những thay đổi bên ngoài, đảng càng ngày càng yếu và xã hội ngày càng mạnh hơn, chế độ sụp đổ.
Hiện tượng này đang diễn ra tại Trung Quốc và Việt Nam. Các đảng cộng sản này đều chiếm được chính quyền khi canh nông vẫn còn là căn bản kinh tế ở hai nước. Trong những xã hội nông nghiệp, người dân vốn quen phục tòng quyền bính, một di sản thời phong kiến, họ chấp nhận một hệ thống đẳng cấp theo hàng dọc. Guồng máy cai trị lại lập ra được một hệ thống kiểm soát dân rất tinh vi hơn thời vua quan. Trong lịch sử chưa có một guồng máy thống trị nào dùng cơ cấu kiểm soát chặt chẽ, toàn diện, đủ mọi mặt đời sống, như các chế độ cộng sản, từ Nga, Trung Quốc, đến Việt Nam. Từ trên ban xuống, họ quy định việc chọn nơi cư trú và di chuyển (hộ khẩu), ban phát thức ăn, quần áo mặc, đồ dùng trong nhà (tem phiếu), nơi học hành, trò giải trí. Ðể kiểm soát cái đầu của người dân không cho phép ai suy nghĩ điều gì khác, họ không những nắm độc quyền các báo, các đài mà còn sử dụng hệ thống giáo dục uốn nắn con người tấm lòng trung thành, tuân phục tuyệt đối, từ lúc sinh ra đến lúc chết, dậy cho dân yêu những gì đảng yêu, ghét những gì đảng ghét.
Xã hội con người chưa bao giờ được thắt chặt vào một khuôn khổ như vậy. Bình thường, khi loài người phát triển ở đâu cũng cần lập ra một bộ máy nhà nước bảo vệ an ninh, trật tự; cần một mạng lưới sản xuất và trao đổi vì nhu cầu kinh tế; và trên hết là một trật tự tinh thần, với các tôn giáo, các hệ thống tư tưởng giải thích tại sao người ta nên sống chung như vậy. Chủ nghĩa cộng sản muốn bao biện cả ba lãnh vực: chính trị, kinh tế, và ý thức hệ. Các nhà xã hội học gọi đó là một chế độ ba chân: Caesaro-Papism-Mammonism (Hoàng đế, Giáo hoàng, và Thần tài). Chế độ ba chân này dễ đem áp dụng ở những xã hội nông nghiệp cổ truyền. Vì ở đó người ta đã quen thấy quyền hành chính trị bao trùm lên cả lãnh vực tín ngưỡng và tư tưởng, các vị hoàng đế cũng đóng vai trò lãnh đạo tinh thần, Max Weber đặt tên là Caesaropapism. Nhiều xứ Hồi Giáo nuôi lý tưởng một đế quốc thuần túy, Umma, thể hiện một chế độ hoàn thiện như vậy. Chủ nghĩa Mác Lê Nin mang tham vọng lớn hơn nữa, đã gom cả sinh hoạt kinh tế dưới một mái nhà, tạo thành chế độ ba chân, thường gọi là độc tài toàn trị.
Nhưng cuộc sống loài người thay đổi, chế độ ba chân toàn trị mất thế thăng bằng. Guồng máy chính trị bao trùm lên tất cả, sẽ tới lúc xã hội tiến hóa và phát triển không còn chịu đựng được nữa, giống như một trái lựu chín, các hạt lựu lớn căng lên, phá vỡ cái vỏ bọc, dù vỏ rất cứng rắn. Nhất là khi chế độ toàn trị phải mở hé cánh cửa cho dân được hưởng phần nào quyền tự do làm ăn để sinh sống. Một trong ba cái chân bắt đầu yếu dần, làm lệch thế cân bằng giữa nhóm thống trị và cả xã hội chung quanh họ. Cán cân sức mạnh tương đối giữa chính quyền và xã hội dần dần thay đổi. Xã hội tự nó lớn lên, không thể sống mãi trong cái vỏ do chính quyền bao bọc.
Chính quyền ngày càng yếu hơn, guồng máy kiểm soát lỏng lẻo hơn và uy tín bị soi mòn dần. Cùng thời gian đó, trong xã hội có những lực lượng mới dấy lên, ngày càng mạnh hơn. Người dân thấy họ có thể sống và suy nghĩ độc lập với guồng máy nhà nước; nhiều người dám kết hợp lại vì những nhu cầu, khát vọng chung; họ thông tin với nhau dễ dàng hơn. Có những thay đổi có thể quan sát được, như khả năng sống độc lập về kinh tế, lợi tức nhiều người lên cao và không phụ thuộc vào “chế độ xin-cho” ban phát của người cầm quyền. Ngoài ra còn những biến động ẩn chìm như những dòng nước ngầm nằm dưới đấy sâu, tới ngày sẽ làm vỡ các bờ đê ngăn chặn. Nhiều thành phần độc lập với guồng máy nhà nước càng ngày càng tự tin, đến lúc họ thấy cần sử dụng quyền công dân gây ảnh hưởng trên cuộc sống chung.
Ở Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, khi đảng cộng sản bỏ giáo điều Mao chủ tịch, cho dân được tự do làm ăn, một tầng lớp trung lưu thành hình, ngày càng đông và lên tiếng mạnh bạo hơn. Các quốc gia bắt đầu chuyển sang thể chế dân chủ khi lợi tức theo đầu người lên mức khoảng 4,000 Mỹ kim một năm (tính theo mãi lực tương ứng, purchasing power parity viết tắt là PPP, không tính theo hối suất). Nhiều nước mặc dù lợi tức theo đầu người (percapita income) lên cao vẫn theo chế độ độc tài, vì tài nguyên do thiên nhiên ưu đãi đặc biệt chứ không phải do sức làm việc của con người tạo ra. Hiện nay trên thế giới có 24 nước với lợi tức theo đầu người cao hơn Trung Quốc mà vẫn chưa được dân chủ hóa. Trong số đó 21 nước chỉ giầu lên nhờ mỏ dầu khí. Giới quyền quý ở các nước đó giầu sang, người dân bình thường vẫn nghèo những họ được chính quyền “hối lộ” bằng những chính sách trợ cấp để giữ không cho xã hội thay đổi.
Nhưng lợi tức lên cao chỉ là một trong nhiều biến chuyển dẫn đến khát vọng dân chủ. Tác động mạnh nhất trong xã hội hiện đại là kỹ thuật thông tin nhanh chóng, dễ dàng, và phổ cập. Tốc độ biến chuyển trong lãnh vực này tăng nhanh hơn và phổ cập rộng rãi trong số người càng ngày càng đông hơn. Trước năm 1979, pháp sư Hồi Giáo Ruhollah Khomeini phát động phong trào chống Sa hoàng Pahlavi bằng cách gửi những cuốn băng cát sét từ Pháp về cho các tín đồ ở Iran nghe. Từ đầu thập niên 1980, một tỷ phú gốc Hungary và sinh ở Mỹ là ông George Soros đã tặng cho các trường trung học ở Hungary những máy sao chụp (photocopy). Ông tin rằng ở đâu có phương tiện truyền thông dễ dàng thì ở đó xã hội sẽ thay đổi nhanh. Người dân Ðông Ðức vượt biên hàng loạt trong những năm 1988, 89 vì họ đã lén coi được những chương trình ti vi Tây Ðức. Nhưng sang thế kỷ 21, các khí cụ và phương tiện truyền thông mới có tác dụng mạnh và nhanh gấp trăm, ngàn lần những băng cassette, máy photocopy, và ti vi. Các mạng lưới điện tử ra đời nối kết loài người trong những cộng đồng ảo, không lệ thuộc vào khuôn khổ nơi cư trú. Các đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam chắc chắn đang lo lắng khi chứng kiến số phận các chế độ độc tài ở Tunisie hay Egypt, nơi cuộc cách mạng hoa nhài được phát động qua Internet và các máy điện thoại lưu động.
Vì vậy, họ đều tìm cách kiểm soát Internet. Nhưng kỹ thuật thông tin tiến bước nhanh hơn phản ứng của con người. Ðầu năm 2014, một thanh niên ở Việt Nam bầy ra một trò chơi điện tử thu hút được giới trẻ khắp nơi trong vòng mấy tháng; sau đã tự rút lại khi thấy nhiều trẻ em trên thế giới bắt đầu “ghiền.” Một đặc tính của những biến đổi kỹ thuật trong hệ thống thông tin mạng là những phát minh và sáng kiến rất bất ngờ. Các biện pháp do chính quyền đưa ra để ngăn cản các công dân mạng bao giờ cũng đi một, hai bước sau những sáng kiến cải thiện kỹ thuật “vượt tường lửa” của giới sử dụng Internet. Chính quyền không thể nào kiểm soát được tất cả. Mỗi khi họ ra lệnh “bóc” một hình ảnh, bản tin hay ý kiến trên một mạng thì đã chậm ít nhất một hai giờ. Nhiều công dân mạng đã thấy, đã sao chép để truyền đi rộng hơn. Chính quyền không kiểm soát được tất cả các mạng lưới thông tin, trong khi các công dân mạng luôn luôn tìm ra những kỹ thuật mới. Hành động ngăn cấm chỉ khiến cho các trang mạng được mọi người tin tưởng, uy tín tăng lên. Ở Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, nhiều bloggers đã nổi tiếng vì những ý kiến tiến bộ, vì lòng can đảm không sợ hãi. Họ được nhiều người kính trọng, lôi kéo quần chúng càng ngày càng đông hơn. Các đảng cộng sản không thể tiếp tục ách cai trị bằng chính sách kiểm soát thông tin, bưng bít sự thật được nữa.
Ðảng Cộng sản bây giờ đã mất quyền kiểm soát nồi cơm và cái bao tử của dân vì phải chấp nhận mở cửa cho kinh tế thị trường. Họ đang mất độc quyền thông tin, tin tức phổ cập nhanh chóng đã trả lại cho dân quyền tự do suy nghĩ; dến chính các đảng viên cộng sản cũng mất hết lòng tin vào chủ nghĩa, chế độ và lãnh tụ. Trong ba chân của chế độ Caesaro-Papism-Mammonism, hai chân đang gẫy. Ðảng Cộng sản bảo vệ cái chân còn lại, cố nắm chắc quyền bính. Nhưng cái chân này cũng sẽ gẫy nốt, do những mâu thuẫn nội tại. Sức chịu đựng của bất cứ bộ máy nào cũng sẽ tới lúc mệt mỏi, rã rời, như một chiếc xe đã cũ. Ðảng còn tan rã vì các biến cố bên ngoài tác động. Một điều chúng ta biết chắc, là một chính quyền tỏ ra sợ sệt trước ngoại bang khiến người dân phải thấy hổ thẹn thì không thể đứng vững được.
Quân đội Trung Quốc sợ ai?
Dân Làm Báo thân gửi đến bạn đọc trong thôn bài viết của Giáo sư - bác sĩ Thạch Nguyễn là Giám đốc Khoa Tim mạch, Trung tâm Y học St. Mary, Hobart IN., thành viên gốc Việt đầu tiên và duy nhất trong ban chấp hành trường Tim mạch học Hoa Kỳ (American Cardiology of Cardiology: ACC), là người có thâm niên giảng dạy tại các trường ĐH danh tiếng ở Trung Quốc. Trong bài diễn văn nhận chức Giáo sư danh dự của trường Đại học Y khoa Hà Nội, giáo sư Thạch đã chia sẻ: “Từ năm 1992 đến nay, mỗi năm tôi đều đi dạy học ở Bắc Kinh, Thượng Hải hay Nam Kinh. Năm 1994, có một số bạn Việt Nam thấy tôi đi Trung Quốc nhiều mà không ghé Việt Nam, thì họ thắc mắc tại sao tôi hay đi làm việc ở Trung Quốc mà không hay đi Việt Nam hay những quốc gia khác.
Tôi trả lời là có một thôi thúc mãnh liệt khiến tôi đi làm việc nhiều ở Trung Quốc là vì tôi muốn đảo ngược một hướng lịch sử đã đã kéo dài gần 2.000 năm. Trong suốt gần 2.000 năm qua, cho đến tận thế kỷ 20, các học giả Việt Nam, Hàn Quốc, và Nhật Bản đều phải đến Bắc Kinh Trung Quốc để học hỏi về Khổng giáo hay tham vấn một kỹ thuật và nghệ thuật trị quốc khác. Nay tôi muốn đến Bắc Kinh để dạy lại và đóng góp vào sự phát triển và lớn mạnh của ngành tim mạch Trung Quốc.
Quân đội Trung Quốc Sợ Ai?
Trong 20 năm qua, do những cơ duyên lịch sử lạ lùng, tôi đã có cơ hội làm việc ở Trung Quốc (TQ) trong mảng dân sự cũng như quân sự. Tôi đã ăn ở nhiều lần tại Điếu Ngư Đài, nhà khách của chính phủ TQ. Tôi đã giảng dạy ở Bệnh viện Trung Ương 301 của Quân đội TQ, và nhiều trường đại học khác. Trong một chuyến thỉnh giảng theo lời mời của Quân y viện Thẩm Dương, nơi có tổng hành dinh quân sự miền Đông Bắc, tôi được mời đi thăm nhà máy chế tạo máy bay chiến đấu của họ. Thật không dễ dàng cho tôi chút nào khi đi xem những bảo tàng trưng bày những vũ khí mà triều Hán, Nguyên, Minh, Thanh đã sử dụng để xâm lược VN 2000 năm trước. Tôi buồn khi đến mộ Minh Thành Tổ, đại đế Trung Hoa đã ra lệnh xâm lược VN vào năm 1407. Tuy nhiên, việc chứng kiến nhiều sự kiện lạ lùng trong 20 năm gần đây của lịch sử cận đại còn đau đớn hơn nhiều.
Kẻ nội thù đối với nhiều sĩ quan TQ
Cuộc đời của họ cũng nặng nề như những người khác. Họ gia nhập quân ngũ để có một đời sống tiện nghi hơn, làm ít nhưng lương cao và ổn định hơn. Sau đó là tìm một trường tốt cho đứa con một, hầu hết là cậu ấm, và tiếp đến là tìm cho chúng một học bổng du học Mỹ. Đó là giấc mơ của họ. Chuyện chiến đấu không nằm trong kế hoạch tương lai của họ. Tuy nhiên, trong quân đội hay chính quyền, để leo cao trên bậc thang danh vọng, kẻ thù chính không phải là người Mỹ. Không phải người Âu. Không phải người Nhật. Mà là chính người Trung quốc với nhau. Để leo cao, người ta phải đè đầu cưỡi cổ những người khác và nhiều người không ngại dẫm đạp lên đầu trên cổ đồng bào hay gia đình mình để thăng quan tiến chức hay tìm một ghế trong bộ máy cầm quyền Bắc Kinh.
Cuộc tranh đấu của những lớp người trong và ngoài Đảng
Những hành động xấu xa của những kẻ giàu có và quyền lực trong chính quyền và đảng CS không lọt qua nổi con mắt tinh tường của mọi người dân. Tôi đã nghe nhiều chỉ trích về những hành động xấu xa của nhóm 10 người trong Bộ chính trị, trong Ủy ban Nhân Dân, trong Thường Vụ... Họ ăn cắp công quĩ, cướp đất nông dân (như ở Tiên Lãng), mua căn hộ sang trọng cho bồ nhí, thu vén tiền bạc cho gia đình chuyển ra nước ngoài, mua nhà và xin thẻ xanh ở Mỹ. Những người dân thường và đảng viên cấp dưới đã vô cùng oán hận khi phải bợ đỡ, hối lộ, cũng như thỏa mãn những đòi hỏi tình dục của xếp, những đảng viên cấp cao. Họ nhận thức rõ mình chỉ là đám tên nô lệ tân thời, phải quị luỵ, luồn cúi trước bí thư đảng ủy, hay phải đối phó với một gã công an đầu đường chặn xe hay nhân viên thuế vụ mỗi dịp cuối năm.
Người Dân Trung quốc nghĩ gì về Việt Nam?
Trong một quốc gia lúc nào cũng có nhiều bè phái. Cánh quân sự Trung quốc muốn phiêu lưu xa hơn bằng vũ lực. Nhưng nó đã tạo ra những phản ứng ngược. Đa số người dân Trung quốc muốn được đi trên con đường của thế giới văn minh và hiện đại. Tuy nhiên, họ cần nghe tiếng nói trung thực của người dân Việt Nam. Người Việt cần lên án những hành động hiếu chiến của đám diều hâu trong quân đội TQ đang ngồi chễm chệ ở Văn phòng Tổng đốc Lưỡng Quảng ở Quảng Châu hay tại dinh Thái Thú Đặc Mệnh Toàn Quyền ở Hà Nội.
Đối với đám diều hâu hiếu chiến, đám tướng lãnh chóp bu trong quân đội địa phương thì chẳng khác gì hoạn quan, tốt mã nhưng vô dụng. Các quan to ở triều đình chỉ là những con chó săn (CS) cho thiên triều Bắc Kinh. Đám vô lại này đã đem chủ nghĩa Mác Lê rác rưởi để đầu độc cả một dân tộc như chính sách ngu dân của Trương Phụ khi đốt tất cả các thư tịch cổ của Việt Nam, chỉ chừa lại các sách triết học và tôn giáo. Chủ nghĩa Mác Lê đã hủy diệt bao nhiêu thế hệ thanh niên Việt Nam trong chiến tranh Quốc Cộng để giờ đây, sự hy sinh đó chỉ để vỗ béo đám lãnh đạo và bầu đoàn thê tử. Việc cấm đoán kỷ niệm cuộc chiến 1979 được giải thích là do một cú điện thoại nóng từ Bắc Kinh. Làm gì có cú điện thoại qua đường dây nóng đó. Chỉ có đường dây điện thoại đỏ từ Quảng Châu thôi. Khi giải thích cho những học giả Trung Quốc, trong tiếng Việt, chữ tắt CS là chó săn, họ nghĩ ngay đến việc đổi tên đảng ở VN vì chính họ không muốn dây vào đám khuyển mã. Thái độ quị luỵ, luồn cúi của các quan chức VN khi đi sứ khất nợ chiến tranh làm ô nhục cho tổ quốc VN. Cuối cùng, họ phải bán rẻ đất, biển của cha ông để trả nợ vũ khí trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng 1954-1975. Rẻ mạt như khi Pháp bán Louisiana hay Nga bán Alaska cho Mỹ. Có đảng viên CS VN nào dám hãnh diện giơ cao thẻ đảng CS VN ở TQ hay Mỹ không? Tại Mỹ, Nga, Âu châu hay TQ, thẻ đảng là chứng chỉ hành nghề chuyên nghiệp của môn ăn cắp, đục khoét của công, dối trá, lường gạt gia đình, dân tộc và cả lừa mị chính mình nữa. Tôn Dật Tiên đã phải thốt lên: “Người VN cư xử như vậy vì họ đã quen làm nô lệ!”Những hành động của đảng CS VN tại TQ là bằng chứng hùng hồn cho thái độ hèn với giặc, ác với dân. Nhục này biết bao giờ rửa sạch?
Làm sao để biết quốc gia này có thể chận đứng một đoàn quân xâm lược?
Khi dạy học ở Hàn quốc, tôi không ngạc nhiên khi trao đổi với những trí thức về thái độ hiếu chiến của người Tàu và người Nhật. Tuy nhiên, tôi hỏi những bà cụ già, những người đàn bà làm việc chân tay, một người buôn thúng bán bưng trên đường phố. Khi họ dạy tôi một bài học sắc bén về chủ nghĩa ái quốc bài Hoa, tôi biết TQlà bên thua cuộc trong cuộc xung đột với người Hàn quốc. Việc này cũng xảy ra ở Nhật bản hay Đài loan. Tinh thần chống CS Tàu thấm tận xương tủy mỗi người dân ở mọi tầng lớp, mọi tuổi. Già, trẻ, lớn, bé… họ hợp thành một lực lượng chống TQ mạnh mẽ và hữu hiệu. Tôi học được bài học đầu tiên và căm ghét quân xâm lược qua những lời nhẹ nhàng của một bà mẹ chưa học hết lớp năm. Lời răn ái quốc của các bậc cha mẹ ắt mạnh mẽ gấp vạn lần những thông điệp rỗng tuếch của những ông tổng bí thư của băng đảng phường bán nước.
Hôm nay kỷ niệm ngày TQ tấn công Việt Nam theo lệnh của Đặng Tiểu Bình. Ai sẽ là chiến sĩ mạnh mẽ nhất chống lại mọi đoàn quân xâm lược? Đó là toàn thể nhân dân Việt Nam, già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà, có học nhiều hay học ít... Quân xâm lược sợ ai nhất? Cũng là sợ hãi toàn bộ người dân Việt Nam. Đó là nhưng người can đảm nói lên sự thực. Những người dám đưa những hình ảnh, bằng chứng sống động về sự tàn bạo và bất công của một thể chế bán nước ra trước công luận thế giới. Và đằng sau họ, là một dân tộc 90 triệu người đang phẫn nộ, mặc dù không phải ai cũng cất cao tiếng thét căm giận. Nên hiểu rằng, sự im lặng cũng đồng nghĩa với khinh bỉ.
Một lời nguyện cầu dâng lên các Tiền nhân đất Việt: Trong ngày kỷ niệm đau thương của lịch sử, cúi xin Tổ tiên phù hộ cho dân tộc và đất nước chúng ta được tự do, độc lập và no ấm. Xin các bác, các cụ, các anh chị, các em, các bạn hãy tiếp tục tranh đấu chống bọn hiếu chiến xâm lăng, chống lại những kẻ đã và đang bán nước. Lời nói, hành động của các bạn đã làm ấm lòng và cổ vũ mọi con dân Việt trong và ngoài nước. Các bạn là ngọn đuốc đi đầu, dẫn đường. Tự do của nhân dân, độc lập của dân tộc là trên hết. Khi thời điểm chín mùi, các bạn sẽ là những kẻ đánh bại bọn bán nước, vì sự thực và lẽ phải thuộc về chúng ta, tất cả những người dân VN yêu nước.
Viết từ mùa đông đầy tuyết tại Bắc Kinh, Trung quốc và Laporte IN, USA.
Thạch Nguyễn
danlambaovn.blogspot.com
Tôi trả lời là có một thôi thúc mãnh liệt khiến tôi đi làm việc nhiều ở Trung Quốc là vì tôi muốn đảo ngược một hướng lịch sử đã đã kéo dài gần 2.000 năm. Trong suốt gần 2.000 năm qua, cho đến tận thế kỷ 20, các học giả Việt Nam, Hàn Quốc, và Nhật Bản đều phải đến Bắc Kinh Trung Quốc để học hỏi về Khổng giáo hay tham vấn một kỹ thuật và nghệ thuật trị quốc khác. Nay tôi muốn đến Bắc Kinh để dạy lại và đóng góp vào sự phát triển và lớn mạnh của ngành tim mạch Trung Quốc.
Quân đội Trung Quốc Sợ Ai?
Trong 20 năm qua, do những cơ duyên lịch sử lạ lùng, tôi đã có cơ hội làm việc ở Trung Quốc (TQ) trong mảng dân sự cũng như quân sự. Tôi đã ăn ở nhiều lần tại Điếu Ngư Đài, nhà khách của chính phủ TQ. Tôi đã giảng dạy ở Bệnh viện Trung Ương 301 của Quân đội TQ, và nhiều trường đại học khác. Trong một chuyến thỉnh giảng theo lời mời của Quân y viện Thẩm Dương, nơi có tổng hành dinh quân sự miền Đông Bắc, tôi được mời đi thăm nhà máy chế tạo máy bay chiến đấu của họ. Thật không dễ dàng cho tôi chút nào khi đi xem những bảo tàng trưng bày những vũ khí mà triều Hán, Nguyên, Minh, Thanh đã sử dụng để xâm lược VN 2000 năm trước. Tôi buồn khi đến mộ Minh Thành Tổ, đại đế Trung Hoa đã ra lệnh xâm lược VN vào năm 1407. Tuy nhiên, việc chứng kiến nhiều sự kiện lạ lùng trong 20 năm gần đây của lịch sử cận đại còn đau đớn hơn nhiều.
Kẻ nội thù đối với nhiều sĩ quan TQ
Cuộc đời của họ cũng nặng nề như những người khác. Họ gia nhập quân ngũ để có một đời sống tiện nghi hơn, làm ít nhưng lương cao và ổn định hơn. Sau đó là tìm một trường tốt cho đứa con một, hầu hết là cậu ấm, và tiếp đến là tìm cho chúng một học bổng du học Mỹ. Đó là giấc mơ của họ. Chuyện chiến đấu không nằm trong kế hoạch tương lai của họ. Tuy nhiên, trong quân đội hay chính quyền, để leo cao trên bậc thang danh vọng, kẻ thù chính không phải là người Mỹ. Không phải người Âu. Không phải người Nhật. Mà là chính người Trung quốc với nhau. Để leo cao, người ta phải đè đầu cưỡi cổ những người khác và nhiều người không ngại dẫm đạp lên đầu trên cổ đồng bào hay gia đình mình để thăng quan tiến chức hay tìm một ghế trong bộ máy cầm quyền Bắc Kinh.
Cuộc tranh đấu của những lớp người trong và ngoài Đảng
Những hành động xấu xa của những kẻ giàu có và quyền lực trong chính quyền và đảng CS không lọt qua nổi con mắt tinh tường của mọi người dân. Tôi đã nghe nhiều chỉ trích về những hành động xấu xa của nhóm 10 người trong Bộ chính trị, trong Ủy ban Nhân Dân, trong Thường Vụ... Họ ăn cắp công quĩ, cướp đất nông dân (như ở Tiên Lãng), mua căn hộ sang trọng cho bồ nhí, thu vén tiền bạc cho gia đình chuyển ra nước ngoài, mua nhà và xin thẻ xanh ở Mỹ. Những người dân thường và đảng viên cấp dưới đã vô cùng oán hận khi phải bợ đỡ, hối lộ, cũng như thỏa mãn những đòi hỏi tình dục của xếp, những đảng viên cấp cao. Họ nhận thức rõ mình chỉ là đám tên nô lệ tân thời, phải quị luỵ, luồn cúi trước bí thư đảng ủy, hay phải đối phó với một gã công an đầu đường chặn xe hay nhân viên thuế vụ mỗi dịp cuối năm.
Người Dân Trung quốc nghĩ gì về Việt Nam?
Trong một quốc gia lúc nào cũng có nhiều bè phái. Cánh quân sự Trung quốc muốn phiêu lưu xa hơn bằng vũ lực. Nhưng nó đã tạo ra những phản ứng ngược. Đa số người dân Trung quốc muốn được đi trên con đường của thế giới văn minh và hiện đại. Tuy nhiên, họ cần nghe tiếng nói trung thực của người dân Việt Nam. Người Việt cần lên án những hành động hiếu chiến của đám diều hâu trong quân đội TQ đang ngồi chễm chệ ở Văn phòng Tổng đốc Lưỡng Quảng ở Quảng Châu hay tại dinh Thái Thú Đặc Mệnh Toàn Quyền ở Hà Nội.
Đối với đám diều hâu hiếu chiến, đám tướng lãnh chóp bu trong quân đội địa phương thì chẳng khác gì hoạn quan, tốt mã nhưng vô dụng. Các quan to ở triều đình chỉ là những con chó săn (CS) cho thiên triều Bắc Kinh. Đám vô lại này đã đem chủ nghĩa Mác Lê rác rưởi để đầu độc cả một dân tộc như chính sách ngu dân của Trương Phụ khi đốt tất cả các thư tịch cổ của Việt Nam, chỉ chừa lại các sách triết học và tôn giáo. Chủ nghĩa Mác Lê đã hủy diệt bao nhiêu thế hệ thanh niên Việt Nam trong chiến tranh Quốc Cộng để giờ đây, sự hy sinh đó chỉ để vỗ béo đám lãnh đạo và bầu đoàn thê tử. Việc cấm đoán kỷ niệm cuộc chiến 1979 được giải thích là do một cú điện thoại nóng từ Bắc Kinh. Làm gì có cú điện thoại qua đường dây nóng đó. Chỉ có đường dây điện thoại đỏ từ Quảng Châu thôi. Khi giải thích cho những học giả Trung Quốc, trong tiếng Việt, chữ tắt CS là chó săn, họ nghĩ ngay đến việc đổi tên đảng ở VN vì chính họ không muốn dây vào đám khuyển mã. Thái độ quị luỵ, luồn cúi của các quan chức VN khi đi sứ khất nợ chiến tranh làm ô nhục cho tổ quốc VN. Cuối cùng, họ phải bán rẻ đất, biển của cha ông để trả nợ vũ khí trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng 1954-1975. Rẻ mạt như khi Pháp bán Louisiana hay Nga bán Alaska cho Mỹ. Có đảng viên CS VN nào dám hãnh diện giơ cao thẻ đảng CS VN ở TQ hay Mỹ không? Tại Mỹ, Nga, Âu châu hay TQ, thẻ đảng là chứng chỉ hành nghề chuyên nghiệp của môn ăn cắp, đục khoét của công, dối trá, lường gạt gia đình, dân tộc và cả lừa mị chính mình nữa. Tôn Dật Tiên đã phải thốt lên: “Người VN cư xử như vậy vì họ đã quen làm nô lệ!”Những hành động của đảng CS VN tại TQ là bằng chứng hùng hồn cho thái độ hèn với giặc, ác với dân. Nhục này biết bao giờ rửa sạch?
Làm sao để biết quốc gia này có thể chận đứng một đoàn quân xâm lược?
Khi dạy học ở Hàn quốc, tôi không ngạc nhiên khi trao đổi với những trí thức về thái độ hiếu chiến của người Tàu và người Nhật. Tuy nhiên, tôi hỏi những bà cụ già, những người đàn bà làm việc chân tay, một người buôn thúng bán bưng trên đường phố. Khi họ dạy tôi một bài học sắc bén về chủ nghĩa ái quốc bài Hoa, tôi biết TQlà bên thua cuộc trong cuộc xung đột với người Hàn quốc. Việc này cũng xảy ra ở Nhật bản hay Đài loan. Tinh thần chống CS Tàu thấm tận xương tủy mỗi người dân ở mọi tầng lớp, mọi tuổi. Già, trẻ, lớn, bé… họ hợp thành một lực lượng chống TQ mạnh mẽ và hữu hiệu. Tôi học được bài học đầu tiên và căm ghét quân xâm lược qua những lời nhẹ nhàng của một bà mẹ chưa học hết lớp năm. Lời răn ái quốc của các bậc cha mẹ ắt mạnh mẽ gấp vạn lần những thông điệp rỗng tuếch của những ông tổng bí thư của băng đảng phường bán nước.
Hôm nay kỷ niệm ngày TQ tấn công Việt Nam theo lệnh của Đặng Tiểu Bình. Ai sẽ là chiến sĩ mạnh mẽ nhất chống lại mọi đoàn quân xâm lược? Đó là toàn thể nhân dân Việt Nam, già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà, có học nhiều hay học ít... Quân xâm lược sợ ai nhất? Cũng là sợ hãi toàn bộ người dân Việt Nam. Đó là nhưng người can đảm nói lên sự thực. Những người dám đưa những hình ảnh, bằng chứng sống động về sự tàn bạo và bất công của một thể chế bán nước ra trước công luận thế giới. Và đằng sau họ, là một dân tộc 90 triệu người đang phẫn nộ, mặc dù không phải ai cũng cất cao tiếng thét căm giận. Nên hiểu rằng, sự im lặng cũng đồng nghĩa với khinh bỉ.
Một lời nguyện cầu dâng lên các Tiền nhân đất Việt: Trong ngày kỷ niệm đau thương của lịch sử, cúi xin Tổ tiên phù hộ cho dân tộc và đất nước chúng ta được tự do, độc lập và no ấm. Xin các bác, các cụ, các anh chị, các em, các bạn hãy tiếp tục tranh đấu chống bọn hiếu chiến xâm lăng, chống lại những kẻ đã và đang bán nước. Lời nói, hành động của các bạn đã làm ấm lòng và cổ vũ mọi con dân Việt trong và ngoài nước. Các bạn là ngọn đuốc đi đầu, dẫn đường. Tự do của nhân dân, độc lập của dân tộc là trên hết. Khi thời điểm chín mùi, các bạn sẽ là những kẻ đánh bại bọn bán nước, vì sự thực và lẽ phải thuộc về chúng ta, tất cả những người dân VN yêu nước.
Viết từ mùa đông đầy tuyết tại Bắc Kinh, Trung quốc và Laporte IN, USA.
Thạch Nguyễn
danlambaovn.blogspot.com

Cái chết tự nhiên và tự nhiên chết
Huỳnh Bá Hải
(Danlambao) - Tin ông tướng công an Phạm Quý Ngọ chết đột ngột ngay trong thời điểm này làm dư luận xôn xao càng xôn xao. Đây là cái chết tự nhiên hay là cái chết được dàn xếp?
Chết tự nhiên là cái chết do bệnh tật. Khi bệnh lý đến hồi nan giải, mọi can thiệp y khoa, dinh dưỡng đều bó tay thì việc ra đi của một con người là bình thường. Nhưng ở đây, ngay trong thời điểm ông Phạm Quý Ngọ bị tạm đình chỉ công tác vì liên quan đến việc nhận hối lộ hơn 1,5 triệu USD và tiết lộ bí mật nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng thì đột ngột ông lại... lên đường đoàn tụ với Mác với Lê Nin.
Cái chết của ông tướng công an không bình thường ở các điểm sau:
1. Thời điểm vụ án làm lộ bí mật đang được mở rộng lên tầng cao hơn.
2. Tại sao ông Ngọ là tướng công an mà được điều trị ở bệnh viện quân đội mà không phải là bệnh viện của Bộ công an hay là Viện K hoặc là bệnh viện Bạch Mai chẳng hạn?
3. Báo Tuổi Trẻ đưa tin là ông Ngọ từng điều trị ung thư tại Singapore điều này có phải là làm giảm nghi ngờ hay là một cách làm cho vụ việc thêm phức tạp?
4. Nếu ông Ngọ là tướng công an bị ung thư mà không điều trị ở Bệnh viện Bộ công an mà đưa vào bệnh viện của quân đội hay được đem qua Singapore chữa trị thì tại sao ông Đinh Dăng Định phải vào bệnh viện 30.4 là bệnh viện của Bộ Công An điều trị. Khi ung thư đến giai đoạn 4 là giai đoạn cuối cùng thì công an trại giam An Phước mới cho thầy giáo yêu nước "tạm hoãn thời gian thi hành án tù 12 tháng". Chính sách khoan hồng của đảng sao kỳ cục vậy?
5. Số tiền mà ông Ngọ tham nhũng vòi vĩnh các cá nhân và doanh nghiệp khác chắc chắn không dừng lại ở con số hơn 1,5 triệu USD đã được bạch hóa. Còn bao nhiêu cá nhân và doanh nghiệp khác bị nhũng nhiễu sẽ lên tiếng khi ông Ngọ ngã ngựa. Tốt nhất chọn cái chết thì sẽ bảo tồn được số tiền lớn cho gia đình vợ con mà nếu còn sống với mức lương của công an chắc hơn 1000 năm nữa cũng chưa bằng số tiền mà ông đã tham nhũng.
6. Vụ án Dương Chí Dũng, Dương Tự Trọng chắc còn nhiều người liên quan khác đồng cấp hay cao hơn ông Ngọ chắc sẽ bị liên lụy và chịu liên đới trách nhiệm. Nếu ông Ngọ ra đi thì mọi việc coi như chìm xuồng và dừng hết trách nhiệm của những người liên quan khác tại đây.
Như vậy cái chết của ông tướng công an Phạm Quý Ngọ là một cái chết không phải tự nhiên. Có nhiều lý do để người ta dị nghị đây là cái chết có toan tính của cá nhân ông Ngọ hay của phe nhóm nào đó.
Giải pháp cho ông tướng công an Phạm Quý Ngọ tự nhiên lăn đùng ra chết là giải pháp tối ưu nhất. Nhưng xem ra cái chết của ông tướng công an này cũng không là cho tình hình thêm sáng sủa chút nào nhất là việc tranh giành quyền lực ở trong nội bộ của đảng cộng sản ngày càng quyết liệt.
Huỳnh Bá Hải
danlambaovn.blogspot.com
Những ngờ vực và hệ quả sau cái chết của Tướng Phạm Quý Ngọ
Việc Thứ trưởng Bộ Công An Việt Nam, Thượng tướng Phạm Quý Ngọ, đột ngột từ trần gây ra nhiều tranh cãi và ngờ vực
giữa lúc công luận đang trông chờ hồi kết của một đại án tham nhũng

Thứ trưởng bộ Công an Phạm Quý Ngọ (Ảnh: Danlambao) Tiểu sử ông Phạm Quý Ngọ
Sinh ngày 24 tháng 12 năm 1954, tại xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Từng theo học và tốt nghiệp Đại học Cảnh sát Nhân dân, vào đảng CSVN ngày 19 tháng 4 năm 1980.
Ðược bổ nhiệm kiêm chức Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra, thay Thiếu tướng Cao Ngọc Oánh vào tháng 7 năm 2006.
Giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an, năm 2008.
Ðược bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an năm 2010.
Ðược bầu làm Ủy viên Chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, năm 2011.
Ðược thăng hàm Thượng tướng năm 2013.
Nguồn: Wikipedia, CAND
Việc Thứ trưởng Bộ Công An Việt Nam, Thượng tướng Phạm Quý Ngọ, đột ngột từ trần gây ra nhiều tranh cãi và ngờ vực giữa lúc công luận đang trông chờ hồi kết của một đại án tham nhũng cấp cao từ lời khai của cựu chủ tịch Vinalines Dương Chí Dũng.
Tin ông Ngọ bị bạo bệnh được loan ra sau khi có đề nghị điều tra ông ‘tiết lộ bí mật’ trong vụ án Dương Chí Dũng, và tin ông qua đời chỉ xuất hiện 1 ngay sau khi Phó Trưởng Ban Nội chính Trung Ương đề xuất đình chỉ công tác Thứ trưởng Công an để phục vụ điều tra.
Hình ảnh ông Ngọ trong đám cưới con trai cách đây hơn 1 tháng không biểu hiện dáng vẻ của người mà báo Petrotimes của nhà nước mô tả là trong ba tháng nay phải chống chọi với căn bệnh ung thư gan giai đoạn cuối.
Ngay cả thời gian ông Ngọ từ trần được công bố trên truyền thông nhà nước cũng không đồng nhất, khiến dư luận thêm nghi ngờ về cái chết bất thường của giới chức cao cấp, nhân vật số hai trong ngành công an, đang bị tố cáo nhận hối lộ hàng triệu đô la.
Một nhà quan sát từng là cán bộ trong Ban An ninh Nội chính Thành ủy nhận định ‘sự ra đi’ của Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ xoay chuyển tình thế giữa các thế lực chính trị Việt Nam và làm phá sản công cuộc chống tham nhũng của nhà nước.
Trong cuộc trao đổi với VOA Việt ngữ, Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng, phân tích thêm chi tiết, mời quí vị bấm vào đường dẫn sau đây để nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn:
Ngờ vực, hệ quả sau cái chết của Tướng công an Phạm Quý Ngọ
Phạm Chí Dũng: Dư luận đang đặt vấn đề nghi ngờ rất nhiều về cái chết rất bất thường này. Người ta không thể nghĩ ông chết bất đắc kỳ tử vì trước đó không hề có thông tin bệnh tật của ông được thông báo chính thức. Sự ra đi của ông Ngọ bị xem như có thể có một tác động nào đó không nhất thiết từ quá trình sinh học tự nhiên của cơ thể, mà có thể do một tác động khác từ bên ngoài vào. Hôm nay, Tòa án Nhân dân Hà Nội đã chính thức công bố vụ án ‘làm lộ bí mật’ phải đình chỉ căn cứ điều 107 Bộ Luật Hình sự vì đối tượng bị tình nghi đã chết.
VOA: Nếu những nghi ngờ trong công luận là đúng, liệu có thể đã xảy ra những khả năng nào gây ra cái chết của ông?
Phạm Chí Dũng: Đây là lần đầu tiên xảy ra một cái chết bất thường của một tướng cao cấp trong ngành công an. Trước đây có vài cái chết bất thường bên khối quân đội. Người ta nghi ngờ là ngoài khả năng chết do bệnh tật, Tướng Ngọ vì một số lý do ‘tế nhị’ nào đó đã tự sát. Một khảc năng khác nữa là người ta cho rằng có thể ông bị đầu độc. Nếu chuyện này thật sự xảy ra, vấn đề đang cực kỳ nghiêm trọng ở Việt Nam và trong tương lai gần sẽ diễn ra một cuộc đấu mạnh. Liên quan đến 1 triệu rưỡi đô la tình nghi ông Ngọ đã nhận, người ta đang nghĩ tới một siêu án trên cao hơn nữa chứ không phải là một đại án Dương Chí Dũng. Nếu siêu án đó hình thành, có thể nói cuộc đấu chính trị giữa các thế lực lên tới đỉnh điểm một mất-một còn.
VOA: Cũng có những suy đoán cho rằng không có chuyện ‘đột ngột từ trần’ mà đây có thể là một sự sắp xếp ‘mafia’ tìm đường cho ông Ngọ tẩu thoát ở một nơi nào đó để ‘cái chết’ của ông chấm dứt đầu mối nghi ngờ liên quan đến một siêu án có thể có. Theo ông, có khả năng xảy ra điều này không?
Phạm Chí Dũng: Khả năng này thấp. Nghiên cứu lịch sử các vụ án hình sự tại Việt Nam chưa từng có chuyện ‘chết giả’ để thoát nạn đối với những nhân vật cao cấp. Trong lĩnh vực hình sự thì có thể có những trường hợp như vậy, có những vụ ngụy tạo hiện trường để trốn tránh pháp luật. Tuy nhiên, trong chính giới cao cấp, đặc biệt là ngành công an và quân đội, chưa từng xảy ra chuyện đó. Tất nhiên việc này vẫn có một xác suất nhỏ có thể xảy ra, không thể loại trừ, nhưng đối với chính giới cao cấp thì chưa từng có việc này. Cho nên, theo tôi, trong trường hợp của Tướng Ngọ có thể loại trừ phương án này.
VOA: Ông dự đoán chuyện gì sẽ xảy ra sau ‘cái chết’ của nhân vật đầu mối có thể giúp phanh phui ra những quan tham cao cấp khác trong vụ án tham nhũng hàng triệu đô la này?
Phạm Chí Dũng: Vụ án ‘làm lộ bí mật’ sẽ đóng khung. Sẽ không còn bất kỳ tia sáng nào khác có thể dẫn tới một vụ siêu án. 95% là không có một manh mối nào để có thể từ ông Ngọ lần ngược lên một cấp cao hơn. Ông Ngọ ‘ra đi’ ảnh hưởng tới kết quả điều tra và xử án đối với một nhân vật nổi cộm khác là Bầu Kiên. Có nhiều khả năng ông Kiên nhận án chung thân, nhưng vụ Bầu Kiên cũng sẽ như vụ Dương Chí Dũng, sẽ đóng khung ở đó.
VOA: Theo ý ông, ‘sự ra đi’ này là hồi kết dứt điểm một nghi án cao cấp mà dư luận đang trông chờ, theo dõi cách nhà nước giải quyết tham nhũng?
Phạm Chí Dũng: Tôi còn cho rằng ‘sự ra đi’ của ông Ngọ không chỉ đóng khung riêng vụ án Dương Chí Dũng mà còn là một điểm mốc xoay chuyển tình thế giữa các thế lực chính trị Việt Nam, dẫn tới hệ quả là chương trình chống tham nhũng của Ban Nội chính Trung ương không triển khai được thành công. Sẽ là những kế hoạch ‘đầu voi đuôi chuột’ ngay trong năm 2014. Ngoài ra, chúng ta có thể chứng kiến sự trở lại của phe lợi ích và xu hướng thân phương Tây sẽ lấn lướt hơn so với xu hướng thân Bắc Kinh trong năm nay.
VOA: Công luận có thể thấy gì từ diễn tiến vụ án tham nhũng này?
Phạm Chí Dũng: Cũng có một số người hy vọng về công cuộc chống tham nhũng của đảng nhưng sau ‘sự ra đi’ này, không có hy vọng tuyệt đối, đặc biệt trong bối cảnh các nhóm lợi ích chi phối phủ trùm toàn bộ đất nước như hiện nay. Trong cảnh nhập nhoạng tối-sáng và sự mâu thuẫn xung đột gia tăng giữa các thế lực, dân chủ-nhân quyền có đất để sống hơn. Trong hoàn cảnh này, giới quan chức còn phải quan tâm tới quyền lực-quyền lợi, giải quyết mâu thuẫn-xung đột của họ nhiều hơn là để ý tới các vấn đề tự do ngôn luận, báo chí, hay tôn giáo. Theo tôi, năm nay nếu biết tận dụng cơ hội, tiếng nói của nhân dân trong ‘xã hội dân sự’ manh nha hiện nay sẽ có thể được biểu đạt rõ ràng hơn.
VOA: Xin cảm ơn ông về thời gian dành cho cuộc trao đổi này.
Mai Anh chuyển
Việc Thứ trưởng Bộ Công An Việt Nam, Thượng tướng Phạm Quý Ngọ, đột ngột từ trần gây ra nhiều tranh cãi và ngờ vực
giữa lúc công luận đang trông chờ hồi kết của một đại án tham nhũng

Thứ trưởng bộ Công an Phạm Quý Ngọ (Ảnh: Danlambao) Tiểu sử ông Phạm Quý Ngọ
Sinh ngày 24 tháng 12 năm 1954, tại xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Từng theo học và tốt nghiệp Đại học Cảnh sát Nhân dân, vào đảng CSVN ngày 19 tháng 4 năm 1980.
Ðược bổ nhiệm kiêm chức Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra, thay Thiếu tướng Cao Ngọc Oánh vào tháng 7 năm 2006.
Giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an, năm 2008.
Ðược bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an năm 2010.
Ðược bầu làm Ủy viên Chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, năm 2011.
Ðược thăng hàm Thượng tướng năm 2013.
Nguồn: Wikipedia, CAND
Việc Thứ trưởng Bộ Công An Việt Nam, Thượng tướng Phạm Quý Ngọ, đột ngột từ trần gây ra nhiều tranh cãi và ngờ vực giữa lúc công luận đang trông chờ hồi kết của một đại án tham nhũng cấp cao từ lời khai của cựu chủ tịch Vinalines Dương Chí Dũng.
Tin ông Ngọ bị bạo bệnh được loan ra sau khi có đề nghị điều tra ông ‘tiết lộ bí mật’ trong vụ án Dương Chí Dũng, và tin ông qua đời chỉ xuất hiện 1 ngay sau khi Phó Trưởng Ban Nội chính Trung Ương đề xuất đình chỉ công tác Thứ trưởng Công an để phục vụ điều tra.
Hình ảnh ông Ngọ trong đám cưới con trai cách đây hơn 1 tháng không biểu hiện dáng vẻ của người mà báo Petrotimes của nhà nước mô tả là trong ba tháng nay phải chống chọi với căn bệnh ung thư gan giai đoạn cuối.
Ngay cả thời gian ông Ngọ từ trần được công bố trên truyền thông nhà nước cũng không đồng nhất, khiến dư luận thêm nghi ngờ về cái chết bất thường của giới chức cao cấp, nhân vật số hai trong ngành công an, đang bị tố cáo nhận hối lộ hàng triệu đô la.
Một nhà quan sát từng là cán bộ trong Ban An ninh Nội chính Thành ủy nhận định ‘sự ra đi’ của Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ xoay chuyển tình thế giữa các thế lực chính trị Việt Nam và làm phá sản công cuộc chống tham nhũng của nhà nước.
Trong cuộc trao đổi với VOA Việt ngữ, Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng, phân tích thêm chi tiết, mời quí vị bấm vào đường dẫn sau đây để nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn:
Ngờ vực, hệ quả sau cái chết của Tướng công an Phạm Quý Ngọ
Phạm Chí Dũng: Dư luận đang đặt vấn đề nghi ngờ rất nhiều về cái chết rất bất thường này. Người ta không thể nghĩ ông chết bất đắc kỳ tử vì trước đó không hề có thông tin bệnh tật của ông được thông báo chính thức. Sự ra đi của ông Ngọ bị xem như có thể có một tác động nào đó không nhất thiết từ quá trình sinh học tự nhiên của cơ thể, mà có thể do một tác động khác từ bên ngoài vào. Hôm nay, Tòa án Nhân dân Hà Nội đã chính thức công bố vụ án ‘làm lộ bí mật’ phải đình chỉ căn cứ điều 107 Bộ Luật Hình sự vì đối tượng bị tình nghi đã chết.
VOA: Nếu những nghi ngờ trong công luận là đúng, liệu có thể đã xảy ra những khả năng nào gây ra cái chết của ông?
Phạm Chí Dũng: Đây là lần đầu tiên xảy ra một cái chết bất thường của một tướng cao cấp trong ngành công an. Trước đây có vài cái chết bất thường bên khối quân đội. Người ta nghi ngờ là ngoài khả năng chết do bệnh tật, Tướng Ngọ vì một số lý do ‘tế nhị’ nào đó đã tự sát. Một khảc năng khác nữa là người ta cho rằng có thể ông bị đầu độc. Nếu chuyện này thật sự xảy ra, vấn đề đang cực kỳ nghiêm trọng ở Việt Nam và trong tương lai gần sẽ diễn ra một cuộc đấu mạnh. Liên quan đến 1 triệu rưỡi đô la tình nghi ông Ngọ đã nhận, người ta đang nghĩ tới một siêu án trên cao hơn nữa chứ không phải là một đại án Dương Chí Dũng. Nếu siêu án đó hình thành, có thể nói cuộc đấu chính trị giữa các thế lực lên tới đỉnh điểm một mất-một còn.
VOA: Cũng có những suy đoán cho rằng không có chuyện ‘đột ngột từ trần’ mà đây có thể là một sự sắp xếp ‘mafia’ tìm đường cho ông Ngọ tẩu thoát ở một nơi nào đó để ‘cái chết’ của ông chấm dứt đầu mối nghi ngờ liên quan đến một siêu án có thể có. Theo ông, có khả năng xảy ra điều này không?
Phạm Chí Dũng: Khả năng này thấp. Nghiên cứu lịch sử các vụ án hình sự tại Việt Nam chưa từng có chuyện ‘chết giả’ để thoát nạn đối với những nhân vật cao cấp. Trong lĩnh vực hình sự thì có thể có những trường hợp như vậy, có những vụ ngụy tạo hiện trường để trốn tránh pháp luật. Tuy nhiên, trong chính giới cao cấp, đặc biệt là ngành công an và quân đội, chưa từng xảy ra chuyện đó. Tất nhiên việc này vẫn có một xác suất nhỏ có thể xảy ra, không thể loại trừ, nhưng đối với chính giới cao cấp thì chưa từng có việc này. Cho nên, theo tôi, trong trường hợp của Tướng Ngọ có thể loại trừ phương án này.
VOA: Ông dự đoán chuyện gì sẽ xảy ra sau ‘cái chết’ của nhân vật đầu mối có thể giúp phanh phui ra những quan tham cao cấp khác trong vụ án tham nhũng hàng triệu đô la này?
Phạm Chí Dũng: Vụ án ‘làm lộ bí mật’ sẽ đóng khung. Sẽ không còn bất kỳ tia sáng nào khác có thể dẫn tới một vụ siêu án. 95% là không có một manh mối nào để có thể từ ông Ngọ lần ngược lên một cấp cao hơn. Ông Ngọ ‘ra đi’ ảnh hưởng tới kết quả điều tra và xử án đối với một nhân vật nổi cộm khác là Bầu Kiên. Có nhiều khả năng ông Kiên nhận án chung thân, nhưng vụ Bầu Kiên cũng sẽ như vụ Dương Chí Dũng, sẽ đóng khung ở đó.
VOA: Theo ý ông, ‘sự ra đi’ này là hồi kết dứt điểm một nghi án cao cấp mà dư luận đang trông chờ, theo dõi cách nhà nước giải quyết tham nhũng?
Phạm Chí Dũng: Tôi còn cho rằng ‘sự ra đi’ của ông Ngọ không chỉ đóng khung riêng vụ án Dương Chí Dũng mà còn là một điểm mốc xoay chuyển tình thế giữa các thế lực chính trị Việt Nam, dẫn tới hệ quả là chương trình chống tham nhũng của Ban Nội chính Trung ương không triển khai được thành công. Sẽ là những kế hoạch ‘đầu voi đuôi chuột’ ngay trong năm 2014. Ngoài ra, chúng ta có thể chứng kiến sự trở lại của phe lợi ích và xu hướng thân phương Tây sẽ lấn lướt hơn so với xu hướng thân Bắc Kinh trong năm nay.
VOA: Công luận có thể thấy gì từ diễn tiến vụ án tham nhũng này?
Phạm Chí Dũng: Cũng có một số người hy vọng về công cuộc chống tham nhũng của đảng nhưng sau ‘sự ra đi’ này, không có hy vọng tuyệt đối, đặc biệt trong bối cảnh các nhóm lợi ích chi phối phủ trùm toàn bộ đất nước như hiện nay. Trong cảnh nhập nhoạng tối-sáng và sự mâu thuẫn xung đột gia tăng giữa các thế lực, dân chủ-nhân quyền có đất để sống hơn. Trong hoàn cảnh này, giới quan chức còn phải quan tâm tới quyền lực-quyền lợi, giải quyết mâu thuẫn-xung đột của họ nhiều hơn là để ý tới các vấn đề tự do ngôn luận, báo chí, hay tôn giáo. Theo tôi, năm nay nếu biết tận dụng cơ hội, tiếng nói của nhân dân trong ‘xã hội dân sự’ manh nha hiện nay sẽ có thể được biểu đạt rõ ràng hơn.
VOA: Xin cảm ơn ông về thời gian dành cho cuộc trao đổi này.
Mai Anh chuyển
Độc Chiêu Nhảy Võ Ngựa
Tác giả : Trần Khải
Nơi đây chúng ta không bàn chuyện ông Tướng Nguyễn Quý Ngọ vừa từ trần. Nơi đây chỉ bàn về chuyện nhà nước Hà Nội nghĩ ra độc chiêu mời nhiều cặp nam nữ xồn xồn ra nơi sân trước tượng đài Vua Lý Thái Tổ để “múa đôi,” không, đúng ra là để “múa võ ngựa,” nhằm phá cuộc biểu tình ngày 16-2-2014 ở Hà Nội để tưởng niệm 35 năm ngày quân Trung Quốc tràn vào 6 tỉnh biên giới Việt Nam.
Vâng, đúng là võ ngựa, họ nhảy ngựa cả ở gót chân, nhảy ngựa ở cả đế giày tây của quý ông xồn xồn, nhảy ngựa ở các giày cao gót của quý bà xồn xồn... ngựa trào lên ngập cả tâm hồn -- nếu họ có cái gì gọi là tâm hồn.
Kiếm đâu ra quý vị này với độc chiêu võ ngựa như thế? Có phải từ các câu lạc bộ khiêu vũ Hà Nội? Hay từ Hội Văn Hóa UNESCO Ba Đình?
Có thấy rằng Vua Lý Thái Tổ rất buồn chăng? Khi một thời ngựa là để cùng quân ra trận, không phải để chế biến thành kiểu nhảy ngựa múa đôi như thế.
Ca dao ông bà mình ngày xưa cũng kể chuyện ngựa rất tình từ, rất lãng mạn. Thí dụ như các dòng thơ:
“Chiều chiều mượn ngựa ông Đô,
Mượn kiệu chú lính đưa cô tôi về.
Cô về chẳng lẽ về không,
Ngựa ô đi trước, ngựa hồng theo sau.
Ngựa ô đi tới Quán Cau,
Ngựa hồng đủng đỉnh còn sau Gò Điều.”
Dòng ca dao thanh thoát, thơ mộng, không vướng bận trần gian thô tục kiểu Câu lạc bộ Múa Đôi được công an thuê tới nhảy xập xình, nhảy tập thể, nhảy nắm tay nhau, nhảy cạ đôi chân -- trời ạ, sao ngựa quá nhỉ. Nói thể, nên thấy rằng ngựa là loài vật rất tuyệt vời, ngựa là để ra tác chiến, để ra trận, và khi chiến mã trở về lại, ngựa sẽ là đê đón nàng về dinh – không phảỉ để xuống cấp thành kiểu nhảy trên nỗi đau của cả dân tộc như thế.
Ngay cả lãng mạn như bài ngựa ô, khi chiến binh thời bình, đã dùng ngựa để đón nàng, cũng không hề gợn lên chút gì có thể làm người xem nổi giận, như vần ca dao:
“Khớp con ngựa ngựa ô.
Khớp con ngựa ngựa ô,
Ngựa ô anh thắng, anh thắng kiệu vàng.
Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen, búp sen lá dậm,
Dây cương nhuộm thắm cán roi anh bịt đồng vàng...”
Không hề bị chỉ đạo vì điệu nhạc đầy âm mưu nào cả.
Ông bà mình ngày xưa khi luyện võ để bảo vệ tổ quốc, cũng đã chọn ngựa làm bạn để cùng luyện võ.
Bải viết tưạ đề “Tinh hoa võ ngựa trong võ thuật cổ truyền dân tộc” trên báo Người Đưa Tin ngày 31-1-2014, ghi lời một võ sư cổ truyền:
“Bàn về võ ngựa trong di sản võ thuật của dân tộc, võ sư Nguyễn Văn Thắng cho rằng: Võ ngựa được ứng dụng phong phú và linh hoạt trong lịch sử dân tộc. Từ việc cha ông ta đã dùng ngựa để di chuyển trong chiến đấu, đến việc mô phỏng hình ảnh con ngựa để sáng tạo ra các đòn đánh, thế đánh hữu dụng. Di sản về võ ngựa trong nền võ thuật của dân tộc rất lớn nhưng điểm độc đáo nhất của võ ngựa phải kể đến các thế đá nghịch mã, các thế hồi mã cùng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các thế võ ngựa và cách di chuyển chiến đấu của ngựa tạo nên những thế đánh độc đáo và đầy sức mạnh.
Theo võ sư Văn Thắng, trong võ ngựa trước hết phải nhắc đến việc dùng ngựa di chuyển trong chiến đấu. Trong các thế di chuyển độc đáo nhất là thế di mã và thế phi hành mã. Các thế di chuyển này luôn được kỵ binh thời xưa ứng dụng nhằm tận dụng tốc độ và sức mạnh của ngựa để di chuyển, luồn lách trong chiến đấu, tạo ra sự lấn lướt, tiếp cận và tiêu diệt kẻ thù. Phần quan trọng nhất của võ ngựa đó chính là các đòn, thế mô phỏng hình ảnh con ngựa...”(hết trích)
Thế đấy nhé, có Vua Lý Thái Tổ chứng giám, nhìn xuống đấy. Võ ngựa mà các cặp xồn xồn ôm nhau “múa đôi” đó không phảỉ là võ ngựa trong di sản dân tộc, kiểu các cặp ôm nhau xập xình hoàn toàn không phải cách “tận dụng tốc độ và sức mạnh của ngựa để di chuyển, luồn lách trong chiến đấu, tạo ra sự lấn lướt, tiếp cận và tiêu diệt kẻ thù.”
Câu lạc bộ Múa Đôi kia không hề liên hệ gì tới võ ngưạ của dân tộc.
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong bài viết tưạ đề “Đức vua trầm tưởng” trên mạng Bauxite VN ngày 21-2-2014 – bài này trích như sau:
“Lý Thái Tổ nhíu đôi mắt lo âu,
Nhìn dõi xuống chân mình... rõ ràng một lũ Tàu
bụng ưỡn ẹo, ngoáy mông, ca những lời nhí nhố:
“Cha cha cha, cha cha cha, cha cha cha
Cô gái đẹp trên đường phố cất tiếng ca vui trong thời tiết âu sầu”(1).
Ông tự hỏi: “Sao nảy nòi ra một lũ dân mất gốc,
Ba mươi lăm năm sừng sững mối hận quân cướp nước
sao không biết buồn đau?
Thác Bản Giốc chúng ngoạm luôn một nửa,
Ải Nam Quan đã thuộc về lãnh thổ chúng từ lâu.
Núi Đất (chúng gọi Lão Sơn) chúng chà đi xát lại, chôn sống cả trăm ngàn anh hùng còn sống sót,
Sáu vạn con em mình ngã xuống để giữ vững biên cương Tổ quốc
nay mồ mả nơi đâu?”(hết trích)
Phần chú thích (1) được GS Nguyễn Huệ Chi giảỉ thích như sau:
“(1) Phỏng dịch lời trong một điệu vũ nhạc cổ Trung Quốc “Trung Quốc cáp cáp” (Đúng là Trung Quốc), được lệnh “cấp trên” cho phổ biến để các “dư luận viên” múa nhảy xập xình trong buổi sáng ngày 16-2-2014 trên quảng trường Lý Thái Tổ ở vườn hoa Chí Linh nhằm ngăn chặn dân chúng mít tinh kỷ niệm ngày mấy chục vạn giặc Tàu do Đặng Tiểu Bình xua xuống đánh chiếm biên giới Việt Nam 35 năm trước: “Cha cha cha, cha cha cha, cha cha cha / Cô gái Trung Quốc xinh đẹp như đóa hoa / Đi trên đường phố muốn nhìn ngó khắp nơi / Cô nương có đôi môi hồng tươi / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi cha cha cha / Là lúc tiết trời hoan lạc / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi cha cha cha / Là lúc thời tiết âu sầu...”...”(hết chú thích)
Thiệt là hết nước nói. Bụng ưỡn ẹo, ngoáy mông, ca nhí nhố... Đúng vậy, vị Giáo sư mô tả đúng hình ảnh như thế.
Trong khi đó, nhà thơ Trần Mạnh Hảo trong bài viết trên mạng Dân Làm Báo tựa đề “Lời sáu vạn người đã hi sinh chống giặc Tàu xâm lược: Sao lại giỗ chúng tôi bằng bài khiêu vũ: “Trung Quốc chính nghĩa”?” đã cho biết, thựa ra điệu nhạc kia là nhạc chôm, nghĩa là nhạc sĩ Việt chôm của nhạc sĩ Tàu.
Nhà thơ họ Trần cho biết rằng FBker Thùy Trang đã chứng minh bản nhạc để nhảy nhót ăn mừng sáng nay là nhạc Tàu, được nhạc sĩ Hồ Quang Hiếu đạo nhạc, đặt lời Việt là "Con bướm xuân". Nguyên bản của bài hát "Trung Quốc Chính Nghĩa”....
Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã viết những dòng thơ như sau:
“Lời sáu vạn người đã hi sinh chống giặc Tàu xâm lược: Sao lại giỗ chúng tôi bằng bài khiêu vũ: “Trung Quốc chính nghĩa”?
Nếu không có ngày 17-02-1979
Nếu không có cuộc xâm lăng của sáu mươi vạn quân Tàu xâm lược
Sáu vạn người Việt chúng tôi đâu đã bỏ mình
Sao nhà nước mới 35 năm đã vội quên cuộc chiến tranh tàn khốc
Quên thắp nhang, quên tưởng niệm đồng bào chiến sĩ đã hi sinh…
.Không, không, không…
Nhà nước này vẫn nhớ đinh ninh
Nhớ sáu mươi vạn Hoa quân nhập Việt
Đốt sạch, phá sạch, giết sạch biên giới phía Bắc quê hương mình
.Nên sáng 16-2-2014 trước tượng vua Lý vườn hoa Chí Linh
Khi một nhóm đồng bào mang hương hoa đến giỗ sáu vạn người hi sinh
Cũng là lúc đám ăn mặc hở hang chiếm quảng trường tưng mừng khiêu vũ
Đây là Hà Nội hay Bắc Kinh
Mà hàng trăm công an chìm canh chừng cho hàng trăm người khiêu vũ
Họ múa theo nhạc nền bài hát Tàu: TRUNG HOA CHÍNH NGHĨA…
Các ông các bà cầm quyền và ăn chơi nhảy nhót ơi
Xin các ông bà đừng giết sáu vạn chiến sĩ đồng bào chúng tôi lần nữa
Chúng tôi đã bị giặc Tàu giết ba mươi nhăm năm rồi
Chúng tôi cứ tưởng người chống xâm lăng như chúng tôi mới là chính nghĩa
Hóa ra giặc ngoại xâm ngày ấy nay thoắt thành chính nghĩa, trời ơi!
Sài Gòn ngày 18-02-2014
Trần Mạnh Hảo”(hết trích)
Than ôi, một thời là vó ngựa quân Nguyên, quân Thanh... từ phương Bắc tràn vào. Và bây giờ là những “bước nhảy ngựa múa đôi” từ Ba Đình xốc tới.
Nghẹn lời vậy, nói hết nổi. Nói hết nổi.
Tác giả : Trần Khải
Nơi đây chúng ta không bàn chuyện ông Tướng Nguyễn Quý Ngọ vừa từ trần. Nơi đây chỉ bàn về chuyện nhà nước Hà Nội nghĩ ra độc chiêu mời nhiều cặp nam nữ xồn xồn ra nơi sân trước tượng đài Vua Lý Thái Tổ để “múa đôi,” không, đúng ra là để “múa võ ngựa,” nhằm phá cuộc biểu tình ngày 16-2-2014 ở Hà Nội để tưởng niệm 35 năm ngày quân Trung Quốc tràn vào 6 tỉnh biên giới Việt Nam.
Vâng, đúng là võ ngựa, họ nhảy ngựa cả ở gót chân, nhảy ngựa ở cả đế giày tây của quý ông xồn xồn, nhảy ngựa ở các giày cao gót của quý bà xồn xồn... ngựa trào lên ngập cả tâm hồn -- nếu họ có cái gì gọi là tâm hồn.
Kiếm đâu ra quý vị này với độc chiêu võ ngựa như thế? Có phải từ các câu lạc bộ khiêu vũ Hà Nội? Hay từ Hội Văn Hóa UNESCO Ba Đình?
Có thấy rằng Vua Lý Thái Tổ rất buồn chăng? Khi một thời ngựa là để cùng quân ra trận, không phải để chế biến thành kiểu nhảy ngựa múa đôi như thế.
Ca dao ông bà mình ngày xưa cũng kể chuyện ngựa rất tình từ, rất lãng mạn. Thí dụ như các dòng thơ:
“Chiều chiều mượn ngựa ông Đô,
Mượn kiệu chú lính đưa cô tôi về.
Cô về chẳng lẽ về không,
Ngựa ô đi trước, ngựa hồng theo sau.
Ngựa ô đi tới Quán Cau,
Ngựa hồng đủng đỉnh còn sau Gò Điều.”
Dòng ca dao thanh thoát, thơ mộng, không vướng bận trần gian thô tục kiểu Câu lạc bộ Múa Đôi được công an thuê tới nhảy xập xình, nhảy tập thể, nhảy nắm tay nhau, nhảy cạ đôi chân -- trời ạ, sao ngựa quá nhỉ. Nói thể, nên thấy rằng ngựa là loài vật rất tuyệt vời, ngựa là để ra tác chiến, để ra trận, và khi chiến mã trở về lại, ngựa sẽ là đê đón nàng về dinh – không phảỉ để xuống cấp thành kiểu nhảy trên nỗi đau của cả dân tộc như thế.
Ngay cả lãng mạn như bài ngựa ô, khi chiến binh thời bình, đã dùng ngựa để đón nàng, cũng không hề gợn lên chút gì có thể làm người xem nổi giận, như vần ca dao:
“Khớp con ngựa ngựa ô.
Khớp con ngựa ngựa ô,
Ngựa ô anh thắng, anh thắng kiệu vàng.
Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen, búp sen lá dậm,
Dây cương nhuộm thắm cán roi anh bịt đồng vàng...”
Không hề bị chỉ đạo vì điệu nhạc đầy âm mưu nào cả.
Ông bà mình ngày xưa khi luyện võ để bảo vệ tổ quốc, cũng đã chọn ngựa làm bạn để cùng luyện võ.
Bải viết tưạ đề “Tinh hoa võ ngựa trong võ thuật cổ truyền dân tộc” trên báo Người Đưa Tin ngày 31-1-2014, ghi lời một võ sư cổ truyền:
“Bàn về võ ngựa trong di sản võ thuật của dân tộc, võ sư Nguyễn Văn Thắng cho rằng: Võ ngựa được ứng dụng phong phú và linh hoạt trong lịch sử dân tộc. Từ việc cha ông ta đã dùng ngựa để di chuyển trong chiến đấu, đến việc mô phỏng hình ảnh con ngựa để sáng tạo ra các đòn đánh, thế đánh hữu dụng. Di sản về võ ngựa trong nền võ thuật của dân tộc rất lớn nhưng điểm độc đáo nhất của võ ngựa phải kể đến các thế đá nghịch mã, các thế hồi mã cùng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các thế võ ngựa và cách di chuyển chiến đấu của ngựa tạo nên những thế đánh độc đáo và đầy sức mạnh.
Theo võ sư Văn Thắng, trong võ ngựa trước hết phải nhắc đến việc dùng ngựa di chuyển trong chiến đấu. Trong các thế di chuyển độc đáo nhất là thế di mã và thế phi hành mã. Các thế di chuyển này luôn được kỵ binh thời xưa ứng dụng nhằm tận dụng tốc độ và sức mạnh của ngựa để di chuyển, luồn lách trong chiến đấu, tạo ra sự lấn lướt, tiếp cận và tiêu diệt kẻ thù. Phần quan trọng nhất của võ ngựa đó chính là các đòn, thế mô phỏng hình ảnh con ngựa...”(hết trích)
Thế đấy nhé, có Vua Lý Thái Tổ chứng giám, nhìn xuống đấy. Võ ngựa mà các cặp xồn xồn ôm nhau “múa đôi” đó không phảỉ là võ ngựa trong di sản dân tộc, kiểu các cặp ôm nhau xập xình hoàn toàn không phải cách “tận dụng tốc độ và sức mạnh của ngựa để di chuyển, luồn lách trong chiến đấu, tạo ra sự lấn lướt, tiếp cận và tiêu diệt kẻ thù.”
Câu lạc bộ Múa Đôi kia không hề liên hệ gì tới võ ngưạ của dân tộc.
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong bài viết tưạ đề “Đức vua trầm tưởng” trên mạng Bauxite VN ngày 21-2-2014 – bài này trích như sau:
“Lý Thái Tổ nhíu đôi mắt lo âu,
Nhìn dõi xuống chân mình... rõ ràng một lũ Tàu
bụng ưỡn ẹo, ngoáy mông, ca những lời nhí nhố:
“Cha cha cha, cha cha cha, cha cha cha
Cô gái đẹp trên đường phố cất tiếng ca vui trong thời tiết âu sầu”(1).
Ông tự hỏi: “Sao nảy nòi ra một lũ dân mất gốc,
Ba mươi lăm năm sừng sững mối hận quân cướp nước
sao không biết buồn đau?
Thác Bản Giốc chúng ngoạm luôn một nửa,
Ải Nam Quan đã thuộc về lãnh thổ chúng từ lâu.
Núi Đất (chúng gọi Lão Sơn) chúng chà đi xát lại, chôn sống cả trăm ngàn anh hùng còn sống sót,
Sáu vạn con em mình ngã xuống để giữ vững biên cương Tổ quốc
nay mồ mả nơi đâu?”(hết trích)
Phần chú thích (1) được GS Nguyễn Huệ Chi giảỉ thích như sau:
“(1) Phỏng dịch lời trong một điệu vũ nhạc cổ Trung Quốc “Trung Quốc cáp cáp” (Đúng là Trung Quốc), được lệnh “cấp trên” cho phổ biến để các “dư luận viên” múa nhảy xập xình trong buổi sáng ngày 16-2-2014 trên quảng trường Lý Thái Tổ ở vườn hoa Chí Linh nhằm ngăn chặn dân chúng mít tinh kỷ niệm ngày mấy chục vạn giặc Tàu do Đặng Tiểu Bình xua xuống đánh chiếm biên giới Việt Nam 35 năm trước: “Cha cha cha, cha cha cha, cha cha cha / Cô gái Trung Quốc xinh đẹp như đóa hoa / Đi trên đường phố muốn nhìn ngó khắp nơi / Cô nương có đôi môi hồng tươi / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi cha cha cha / Là lúc tiết trời hoan lạc / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi cha cha cha / Là lúc thời tiết âu sầu...”...”(hết chú thích)
Thiệt là hết nước nói. Bụng ưỡn ẹo, ngoáy mông, ca nhí nhố... Đúng vậy, vị Giáo sư mô tả đúng hình ảnh như thế.
Trong khi đó, nhà thơ Trần Mạnh Hảo trong bài viết trên mạng Dân Làm Báo tựa đề “Lời sáu vạn người đã hi sinh chống giặc Tàu xâm lược: Sao lại giỗ chúng tôi bằng bài khiêu vũ: “Trung Quốc chính nghĩa”?” đã cho biết, thựa ra điệu nhạc kia là nhạc chôm, nghĩa là nhạc sĩ Việt chôm của nhạc sĩ Tàu.
Nhà thơ họ Trần cho biết rằng FBker Thùy Trang đã chứng minh bản nhạc để nhảy nhót ăn mừng sáng nay là nhạc Tàu, được nhạc sĩ Hồ Quang Hiếu đạo nhạc, đặt lời Việt là "Con bướm xuân". Nguyên bản của bài hát "Trung Quốc Chính Nghĩa”....
Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã viết những dòng thơ như sau:
“Lời sáu vạn người đã hi sinh chống giặc Tàu xâm lược: Sao lại giỗ chúng tôi bằng bài khiêu vũ: “Trung Quốc chính nghĩa”?
Nếu không có ngày 17-02-1979
Nếu không có cuộc xâm lăng của sáu mươi vạn quân Tàu xâm lược
Sáu vạn người Việt chúng tôi đâu đã bỏ mình
Sao nhà nước mới 35 năm đã vội quên cuộc chiến tranh tàn khốc
Quên thắp nhang, quên tưởng niệm đồng bào chiến sĩ đã hi sinh…
.Không, không, không…
Nhà nước này vẫn nhớ đinh ninh
Nhớ sáu mươi vạn Hoa quân nhập Việt
Đốt sạch, phá sạch, giết sạch biên giới phía Bắc quê hương mình
.Nên sáng 16-2-2014 trước tượng vua Lý vườn hoa Chí Linh
Khi một nhóm đồng bào mang hương hoa đến giỗ sáu vạn người hi sinh
Cũng là lúc đám ăn mặc hở hang chiếm quảng trường tưng mừng khiêu vũ
Đây là Hà Nội hay Bắc Kinh
Mà hàng trăm công an chìm canh chừng cho hàng trăm người khiêu vũ
Họ múa theo nhạc nền bài hát Tàu: TRUNG HOA CHÍNH NGHĨA…
Các ông các bà cầm quyền và ăn chơi nhảy nhót ơi
Xin các ông bà đừng giết sáu vạn chiến sĩ đồng bào chúng tôi lần nữa
Chúng tôi đã bị giặc Tàu giết ba mươi nhăm năm rồi
Chúng tôi cứ tưởng người chống xâm lăng như chúng tôi mới là chính nghĩa
Hóa ra giặc ngoại xâm ngày ấy nay thoắt thành chính nghĩa, trời ơi!
Sài Gòn ngày 18-02-2014
Trần Mạnh Hảo”(hết trích)
Than ôi, một thời là vó ngựa quân Nguyên, quân Thanh... từ phương Bắc tràn vào. Và bây giờ là những “bước nhảy ngựa múa đôi” từ Ba Đình xốc tới.
Nghẹn lời vậy, nói hết nổi. Nói hết nổi.
Vì sao mà hèn?
Trần Hoàng Lan (Danlambao) - Tưởng niệm là hành động để tỏ lòng thương tiếc, tôn kính, biết ơn với những người đã khuất. Một hoạt động tâm linh phổ biến của người Việt cũng như của toàn nhân loại. Vào những ngày giỗ tết, thế hệ con cháu của gia đình, dòng họ thắp hương tưởng nhớ tới những người đã khuất của thế hệ trước. Lễ tri ân các anh hùng, liệt sĩ đã có công được tổ chức hàng năm với sự tham gia của nhân dân cả nước. Ngày xảy ra những vụ tai nạn khủng khiếp như động đất, sóng thần, những vụ khủng bố cướp đi sinh mạng của nhiều người ở một số quốc gia thường được lấy làm ngày tưởng niệm các nạn nhân. Những người đã khuất có công đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng nhân loại vẫn được tưởng nhớ tới một cách thường xuyên vào những thời gian nhất định.
Cá biệt cũng có những cuộc tưởng niệm bị phản đối. Nhưng đó là cuộc tưởng niệm ở quốc gia này bị quốc gia khác phản đối với lý do chính đáng. 26/12/2013 Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đến thăm đền Yasukuni (một hình thức tưởng niệm) bị Trung Quôc, Hàn Quốc lên án với lý do "Ngôi đền vinh danh một số tội phạm chiến tranh của Nhật trong Thế chiến thứ hai và bị Bắc Kinh và Seoul xem là biểu tượng cho lịch sử xâm lược của nước này".
Đầu năm 2014 nhà nước cộng sản đã liên tiếp có những hành động ngăn chặn, phá hoại các buổi lễ tưởng niệm.
19/1/2014 là 40 năm ngày Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa (19/1/1974) cũng là ngày mà 74 chiến sĩ của hải quân VNCH đã hy sinh để bảo vệ. Mặc dù trước đó báo chí nhà nước đã nhắc tới, vinh danh họ và đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hứa hẹn sẽ tổ chức lễ kỷ niệm. Nhưng kế hoạch thắp nến tri ân họ của UBND thành phố Đà Nẵng đã bị hủy vào phút chót, lễ tưởng niệm họ do các nhân sĩ trí thức yêu nước tổ chức dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ ở Hà Nội bị "công an đóng giả công nhân cưa đá" chiếm dụng địa điểm. Dư luận đã đồn đoán sự thay đổi đột ngột này có thể là do Hà Nội đã làm theo yêu cầu của Băc Kinh qua cuộc điện đàm nóng giữa Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng.
Gần một tháng sau, 16/2/2014 cũng tại địa điểm trên với chiến thuật đưa "quần chúng tự phát ôm nhau nhảy múa" dưới chân tượng đài và hát vang bài "con bướm xuân"(đạo nhạc từ một bài hát của Trung Quốc ) nhà nước cộng sản lại tiếp tục ngăn cản lễ tưởng niệm 60 nghìn chiến sĩ, đồng bào ngã xuống trong chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược (lễ tưởng niệm mà đã có một thời họ vẫn tổ chức). Ít bụi bặm hơn "cưa đá" nhưng lố bịch, kệch cỡm, láo xược thì khôn tả.
Có vẻ như muốn thanh minh với 60 vạn vong linh, một "dư luận viên" đã thay mặt đảng, nhà nước nói ra lý do ngăn cản là: "tránh đối đầu với Trung Quốc để phát triển kinh tế...". Đây là đường lối ngoại giao đã được nhà nước cộng sản Việt Nam tuân thủ triệt để sau hội nghị Thành Đô 1991 đồng thời tuyên truyền để người dân đã lầm tưởng nó gần giống như "giữ hòa hiếu với Trung Quốc" thủa xưa: kết thúc chiến tranh với Trung Quốc mặc dù thắng Việt Nam vẫn sang cầu hòa, xin phong vương, nhận triều cống hàng năm. Nhưng thực chất thì khác hẳn nhau. Thời phong kiến, tuy Trung Quốc là nước lớn mạnh bên cạnh Việt Nam nhỏ yếu và một nước xâm lược một nước khác không gặp bất cứ một trở ngại gì từ cộng đồng quốc tế. Nhưng ngoại trừ các triều vua Việt Nam bán nước, chính quyền phong kiến Trung Quốc ngoài chuyện phong vương cho vua Việt Nam mang tính hình thức và nhận triều cống hàng năm thì không thể, không được đáp ứng bất cứ một yêu cầu nào khác.
Câu "Sông núi nước Nam vua Nam ở" trong bài thơ "Thần" chính là lời tuyên bố độc lập rất đanh thép của các triều đại phong kiến Việt Nam. Mặc dù cầu hòa, nhưng có lần Việt Nam đã chủ động đánh trước để đập tan âm mưu xâm lược của Trung Quốc từ trong trứng nước. Như Lý Thường Kiệt đã từng mang quân sang đánh thành Ung Châu để ngăn chặn chiến tranh xâm lược của nhà Tống. "Tránh đối đầu với Trung Quốc" của nhà nước cộng sản Việt Nam ngày nay thực chất là đáp ứng hầu như mọi yêu sách ngang ngược của một chính quyền vốn có truyền thống bành trướng. Rõ rệt nhất là từ sau hội nghị thành đô 1991 tới nay.
Năm 1958 tuy chưa chiếm được hoàn toàn Hoàng Sa, Trường Sa nhưng Trung Quốc đã ngang ngược tuyên bố lãnh hải bao gồm cả hai quần đảo này cộng sản Việt Nam đã có ngay công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng tán thành tuyên bố của họ.
Năm 1974 Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn im tiếng không dám phản đối.
Năm 1988 Trung Quốc tấn công chiếm đảo Gạc Ma ở Trường Sa tàn sát 64 chiến sĩ hải quân của QĐND, nhà nước cộng sản Việt Nam coi như không có chuyện gì xảy ra.
Năm 1999 họ muốn lãnh thổ rộng ra thì có ngay hiệp ước phân định biên giới công nhận hàng chục ngàn cây số vuông biên giới, các địa danh quen biết như Ải Nam Quan, một nửa thác Bản Giốc, bãi Tục Lãm,… từng là của Việt Nam nay đã thuộc Trung Quốc.
Để tiêu thụ hàng giá rẻ nhưng độc hại Trung Quốc chỉ cần lệnh cho báo chí nhà nước của Việt Nam không được nêu thông tin trên.
Sợ mất lòng Trung Quốc báo, chí "lề đảng" chỉ dám gọi những tàu của họ đã đâm chìm tàu của ngư dân là “tàu lạ”, tấm bia kỷ niệm chiến thắng cầu Khánh Khê năm 1979 cũng bị đục bỏ đi bốn chữ "Trung Quốc xâm lược", những hy sinh mất mát của quân dân trong cuộc chiến biên giới đã cố tình bị lãng quên trong thông tin của "lề đảng".
Khi họ không thích ở Việt Nam có những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc là lập tức công an Việt Nam trấn áp những cuộc biểu tình đó “chu đáo” hơn bất kỳ một cuộc nào khác. Những người bày tỏ lòng yêu nước mà có liên quan tới phản đối Trung Quốc dù dưới bất kỳ hình thức nào: từ biểu tình, mang khẩu hiệu, viết báo,... thậm chí chỉ là ngồi nhà tọa kháng đều bị nhà nước Việt Nam nếu không sách nhiễu thì cũng vu cho một tội nào đó để bắt cho kỳ hết.
Khai thác bauxite ở trong nước có hại cho môi trường bị người dân phản đối, Trung Quốc chuyển sang khai thác ở Tây Nguyên Việt Nam liền được chính quyền cộng sản đón nhận coi là “chủ trương lớn”để thực thi.
Thấy nhà nước Trung Quốc thường xuyên đàn áp, bắt bớ những người luyện tập Pháp luân công, lãnh đạo cộng sản Hà Nội dù chưa rõ lợi hại cũng trù dập, sách nhiễu họ.
Những năm gần đây sau hàng loạt hành động xâm lấn công khai, vi phạm chủ quyền biển như: bắn giết, bắt bớ ngư dân, cắt cáp tàu thăm dò của tàu Bình Minh, Viking trên hải phận của Việt Nam,... làm tình hình biển Đông ngày thêm căng thẳng, Trung Quốc muốn Việt Nam chỉ đàm phán song phương không đưa ra quốc tế. Việt Nam luôn đáp ứng bằng lập trường trước sau như một “đàm phán song phương, không muốn bên thứ ba xen vào".
Đầu năm 2014 Trung Quốc không muốn Việt Nam nhắc lại cuộc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và tội ác đẫm máu trong cuộc chiến tranh xâm lược 1979. Việt Nam đã triệt để thi hành.
Rõ ràng là vì sợ. Nhưng sợ thì cũng có nhiều kiểu sợ. Sợ mang tính di truyền từ đời này sang đời khác là nỗi sợ của những loài vật sợ kẻ ăn thịt mình. Sợ theo kiểu "tránh voi chẳng xấu mặt nào" mà những kẻ yếu thường lấy để tự an ủi mình. "Thứ nhất sợ kẻ anh hùng. Thứ hai sợ kẻ cuối cùng liều thân" là kiểu mà cộng đồng quốc tế hiện nay vẫn sợ một nước nghèo khổ vào loại bậc nhất là Bắc Hàn. Kiểu sợ của chính quyền cộng sản Việt Nam trước Bắc Kinh như nêu trên là kiểu sợ đến mức đáng khinh mà từ điển tiếng Việt gọi là "hèn". Và "cái hèn" đó có nguyên nhân từ sự phụ thuộc nói đúng hơn là sự lệ thuộc ngày càng nhiều của họ vào Trung Quốc nhất là từ sau hội nghị Thành Đô 1991.
Năm 1949 đảng cộng sản Trung Quốc giành được chính quyền, nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập. Từ năm 1950 theo yêu cầu của đảng cộng sản Việt Nam Trung Quốc đã không ngừng viện trợ vũ khí và cả người (dưới hình thức cố vấn) cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Mù quáng vì ý thức hệ cộng sản và ở thế của kẻ xin và nhân viện trợ. Cộng sản Việt Nam dưới danh nghĩa Việt Minh đã nhất nhất tuân theo sự chỉ đạo của cộng sản Trung Quốc qua đội ngũ cố vấn. Giải pháp chia đôi đất nước trong hiệp định Giơ ne phần nào do áp đặt của cộng sản Trung Quốc.
Sau kháng chiến chống Pháp sự lệ thuộc là một loạt các chủ trương chính sách sai lầm của nhà nước cộng sản Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng. Chúng đều là những chủ trương chính sách hoặc bị áp đặt, hoặc bắt chước dập khuôn theo của Trung Quốc. Đó là cuộc cải cách ruộng đất giết oan hàng vạn người. Là việc bắt bớ, đày ải các văn nghệ sĩ chân chính qua vụ án nhân văn giai phẩm làm thui chột nền văn nghệ nước nhà. Là phong trào hợp tác hoá làm cho nông thôn Việt Nam tiêu điều, xơ xác,…
Trong cuộc chiến tranh Nam - Bắc mặc dù bất hòa nhưng Trung Quốc và Liên Xô vẫn ra sức viện trợ cho cộng sản Việt Nam. Để nhận được nhiều viện trợ trong thời gian này cộng sản Việt Nam đã sử dụng chiến thuật "đu dây" và lệ thuộc vào cả hai nước "đàn anh".
Sau năm 1975 nhận thấy sự tiếp tay của cộng sản Trung Quốc cho Khơ me đỏ đánh phá mình ở biên giới Tây Nam cộng sản Việt Nam đã ngả hẳn vào nước "đàn anh" Liên Xô và ký hiệp định an ninh giữa hai nước vào năm 1978. Nhưng cũng không tránh được cuộc chiến tranh biên giới 1979 do Trung Quốc phát động. Đây là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc gây ra tội ác đẫm máu với quân dân các tỉnh biên giới phía Bắc. Năm 1980 cộng sản Việt Nam sửa đổi hiến pháp mà trong lời nói đầu đã xác định cộng sản Trung Quốc là kẻ thù.
Những năm tiếp theo. Bị cấm vận do mang quân đánh Campuhia, sai lầm về các chính sách kinh tế, viện trợ của Liên Xô ít dần nhà nước cộng sản Việt Nam đứng trước viễn cảnh sụp đổ. Hiển hiện rõ ràng nhất khi cuối thập niên 80 đầu 90 thế kỷ trước khi Liên Xô và một loạt các nước cộng sản Đông Âu tan rã. Thân cô thế cô, không nơi dựa dẫm cộng với nỗi lo sụp đổ lên tới tột bậc buộc cộng sản Việt Nam tưởng như đoạn tuyệt được với Trung Quốc lại phải một lần nữa ngả vào vòng tay của Bắc Kinh. Đầu tiên là sửa đổi hiến pháp để bỏ nội dung ghi Trung Quốc là kẻ thù, tiếp đó bầu đoàn thê tử của Hà Nội lục tục dắt díu nhau sang cầu cứu Bắc Kinh gọi cho oai là "sang để bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc".
Biết rõ thân thế của Hà Nội. Với bản tính nham hiểm, bành trướng Bắc Kinh đã không bỏ lỡ cơ hội để thực hiện những mưu đồ thâm độc với Việt Nam mà từ trước tới nay vẫn giấu giếm vì chưa có thời cơ. Hiệp ước Thành Đô được ký kết trong bối cảnh trên giữa một bên là "Trung Quốc thì gian ngoan mưu lược" một bên là " ta thì dại dột cả tin" như một nhà cựu ngoại giao đã thú nhận. Tuy không công bố nội dung nhưng chắc chắn là phía Việt Nam phải chịu thua thiệt đủ đường. Bởi sau khi được ký kết có người trong cuộc đã gọi nó là: "cái tròng Bắc thuộc mới", từ nó hàng loạt các hiệp ước phân định biên giới, vùng biển, những tuyên bố chung, đàm phán song phương,... khiến Việt Nam mất đất, mất biển, mất các địa danh quen thuộc và trở nên "nhũn như con chi chi" thực thi mọi yêu cầu đòi hỏi ngang ngược của Trung Quốc.
Ngoài sự lệ thuộc do ràng buộc của hiệp ước Thành Đô, Hà Nội còn tự nguyện lệ thuộc vào Bắc Kinh. Vì "kẻ thù truyền kiếp" ngày nào giờ đây trong mắt họ đã trở thành “thần tượng”. "Thần tượng" về kinh tế với mức tăng trưởng cao sau khi đã bỏ đường lối kinh tế XHCN chạy theo tư bản, "Thần tượng”về chính trị với mô hình độc tài đảng trị ,đàn áp các phong trào đòi tự do dân chủ, đàn áp tôn giáo và từng “nổi tiếng” với “Thiên An Môn”, "Pháp luân công”, "Tây Tạng”, "Tân Cương”. Do vậy họ đã tự nguyện sao chép bắt chước nhiều chính sách chủ trương của Bắc Kinh trong kinh tế, chính trị, ngoại giao. Có cả bắt buộc và tự nguyên, sự lệ thuộc của Hà Nội với Bắc Kinh giống như của tay sai đối với quan thày. Không loại trừ khả năng Bắc Kinh cam kết bảo kê cho chế độ Hà Nội vì tay sai và quan thày đều rất cần đến nhau.
Từ trước tới nay người Việt ta thường có quan niệm: Người Tàu vốn thâm, lãnh đạo của họ lại càng thâm. Nếu đúng vậy thì cái "tương lai" trong 16 chữ "Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. Ổn định lâu dài. "Hướng tới tương lai" mà Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đã tặng cho Việt Nam sau hội nghị Thành Đô chính là sự "lệ thuộc hoàn toàn" của Việt Nam vào Trung Quốc. Thật là bi thảm!
Trần Hoàng Lan (Danlambao) - Tưởng niệm là hành động để tỏ lòng thương tiếc, tôn kính, biết ơn với những người đã khuất. Một hoạt động tâm linh phổ biến của người Việt cũng như của toàn nhân loại. Vào những ngày giỗ tết, thế hệ con cháu của gia đình, dòng họ thắp hương tưởng nhớ tới những người đã khuất của thế hệ trước. Lễ tri ân các anh hùng, liệt sĩ đã có công được tổ chức hàng năm với sự tham gia của nhân dân cả nước. Ngày xảy ra những vụ tai nạn khủng khiếp như động đất, sóng thần, những vụ khủng bố cướp đi sinh mạng của nhiều người ở một số quốc gia thường được lấy làm ngày tưởng niệm các nạn nhân. Những người đã khuất có công đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng nhân loại vẫn được tưởng nhớ tới một cách thường xuyên vào những thời gian nhất định.
Cá biệt cũng có những cuộc tưởng niệm bị phản đối. Nhưng đó là cuộc tưởng niệm ở quốc gia này bị quốc gia khác phản đối với lý do chính đáng. 26/12/2013 Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đến thăm đền Yasukuni (một hình thức tưởng niệm) bị Trung Quôc, Hàn Quốc lên án với lý do "Ngôi đền vinh danh một số tội phạm chiến tranh của Nhật trong Thế chiến thứ hai và bị Bắc Kinh và Seoul xem là biểu tượng cho lịch sử xâm lược của nước này".
Đầu năm 2014 nhà nước cộng sản đã liên tiếp có những hành động ngăn chặn, phá hoại các buổi lễ tưởng niệm.
19/1/2014 là 40 năm ngày Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa (19/1/1974) cũng là ngày mà 74 chiến sĩ của hải quân VNCH đã hy sinh để bảo vệ. Mặc dù trước đó báo chí nhà nước đã nhắc tới, vinh danh họ và đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hứa hẹn sẽ tổ chức lễ kỷ niệm. Nhưng kế hoạch thắp nến tri ân họ của UBND thành phố Đà Nẵng đã bị hủy vào phút chót, lễ tưởng niệm họ do các nhân sĩ trí thức yêu nước tổ chức dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ ở Hà Nội bị "công an đóng giả công nhân cưa đá" chiếm dụng địa điểm. Dư luận đã đồn đoán sự thay đổi đột ngột này có thể là do Hà Nội đã làm theo yêu cầu của Băc Kinh qua cuộc điện đàm nóng giữa Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng.
Gần một tháng sau, 16/2/2014 cũng tại địa điểm trên với chiến thuật đưa "quần chúng tự phát ôm nhau nhảy múa" dưới chân tượng đài và hát vang bài "con bướm xuân"(đạo nhạc từ một bài hát của Trung Quốc ) nhà nước cộng sản lại tiếp tục ngăn cản lễ tưởng niệm 60 nghìn chiến sĩ, đồng bào ngã xuống trong chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược (lễ tưởng niệm mà đã có một thời họ vẫn tổ chức). Ít bụi bặm hơn "cưa đá" nhưng lố bịch, kệch cỡm, láo xược thì khôn tả.
Có vẻ như muốn thanh minh với 60 vạn vong linh, một "dư luận viên" đã thay mặt đảng, nhà nước nói ra lý do ngăn cản là: "tránh đối đầu với Trung Quốc để phát triển kinh tế...". Đây là đường lối ngoại giao đã được nhà nước cộng sản Việt Nam tuân thủ triệt để sau hội nghị Thành Đô 1991 đồng thời tuyên truyền để người dân đã lầm tưởng nó gần giống như "giữ hòa hiếu với Trung Quốc" thủa xưa: kết thúc chiến tranh với Trung Quốc mặc dù thắng Việt Nam vẫn sang cầu hòa, xin phong vương, nhận triều cống hàng năm. Nhưng thực chất thì khác hẳn nhau. Thời phong kiến, tuy Trung Quốc là nước lớn mạnh bên cạnh Việt Nam nhỏ yếu và một nước xâm lược một nước khác không gặp bất cứ một trở ngại gì từ cộng đồng quốc tế. Nhưng ngoại trừ các triều vua Việt Nam bán nước, chính quyền phong kiến Trung Quốc ngoài chuyện phong vương cho vua Việt Nam mang tính hình thức và nhận triều cống hàng năm thì không thể, không được đáp ứng bất cứ một yêu cầu nào khác.
Câu "Sông núi nước Nam vua Nam ở" trong bài thơ "Thần" chính là lời tuyên bố độc lập rất đanh thép của các triều đại phong kiến Việt Nam. Mặc dù cầu hòa, nhưng có lần Việt Nam đã chủ động đánh trước để đập tan âm mưu xâm lược của Trung Quốc từ trong trứng nước. Như Lý Thường Kiệt đã từng mang quân sang đánh thành Ung Châu để ngăn chặn chiến tranh xâm lược của nhà Tống. "Tránh đối đầu với Trung Quốc" của nhà nước cộng sản Việt Nam ngày nay thực chất là đáp ứng hầu như mọi yêu sách ngang ngược của một chính quyền vốn có truyền thống bành trướng. Rõ rệt nhất là từ sau hội nghị thành đô 1991 tới nay.
Năm 1958 tuy chưa chiếm được hoàn toàn Hoàng Sa, Trường Sa nhưng Trung Quốc đã ngang ngược tuyên bố lãnh hải bao gồm cả hai quần đảo này cộng sản Việt Nam đã có ngay công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng tán thành tuyên bố của họ.
Năm 1974 Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn im tiếng không dám phản đối.
Năm 1988 Trung Quốc tấn công chiếm đảo Gạc Ma ở Trường Sa tàn sát 64 chiến sĩ hải quân của QĐND, nhà nước cộng sản Việt Nam coi như không có chuyện gì xảy ra.
Năm 1999 họ muốn lãnh thổ rộng ra thì có ngay hiệp ước phân định biên giới công nhận hàng chục ngàn cây số vuông biên giới, các địa danh quen biết như Ải Nam Quan, một nửa thác Bản Giốc, bãi Tục Lãm,… từng là của Việt Nam nay đã thuộc Trung Quốc.
Để tiêu thụ hàng giá rẻ nhưng độc hại Trung Quốc chỉ cần lệnh cho báo chí nhà nước của Việt Nam không được nêu thông tin trên.
Sợ mất lòng Trung Quốc báo, chí "lề đảng" chỉ dám gọi những tàu của họ đã đâm chìm tàu của ngư dân là “tàu lạ”, tấm bia kỷ niệm chiến thắng cầu Khánh Khê năm 1979 cũng bị đục bỏ đi bốn chữ "Trung Quốc xâm lược", những hy sinh mất mát của quân dân trong cuộc chiến biên giới đã cố tình bị lãng quên trong thông tin của "lề đảng".
Khi họ không thích ở Việt Nam có những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc là lập tức công an Việt Nam trấn áp những cuộc biểu tình đó “chu đáo” hơn bất kỳ một cuộc nào khác. Những người bày tỏ lòng yêu nước mà có liên quan tới phản đối Trung Quốc dù dưới bất kỳ hình thức nào: từ biểu tình, mang khẩu hiệu, viết báo,... thậm chí chỉ là ngồi nhà tọa kháng đều bị nhà nước Việt Nam nếu không sách nhiễu thì cũng vu cho một tội nào đó để bắt cho kỳ hết.
Khai thác bauxite ở trong nước có hại cho môi trường bị người dân phản đối, Trung Quốc chuyển sang khai thác ở Tây Nguyên Việt Nam liền được chính quyền cộng sản đón nhận coi là “chủ trương lớn”để thực thi.
Thấy nhà nước Trung Quốc thường xuyên đàn áp, bắt bớ những người luyện tập Pháp luân công, lãnh đạo cộng sản Hà Nội dù chưa rõ lợi hại cũng trù dập, sách nhiễu họ.
Những năm gần đây sau hàng loạt hành động xâm lấn công khai, vi phạm chủ quyền biển như: bắn giết, bắt bớ ngư dân, cắt cáp tàu thăm dò của tàu Bình Minh, Viking trên hải phận của Việt Nam,... làm tình hình biển Đông ngày thêm căng thẳng, Trung Quốc muốn Việt Nam chỉ đàm phán song phương không đưa ra quốc tế. Việt Nam luôn đáp ứng bằng lập trường trước sau như một “đàm phán song phương, không muốn bên thứ ba xen vào".
Đầu năm 2014 Trung Quốc không muốn Việt Nam nhắc lại cuộc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và tội ác đẫm máu trong cuộc chiến tranh xâm lược 1979. Việt Nam đã triệt để thi hành.
Rõ ràng là vì sợ. Nhưng sợ thì cũng có nhiều kiểu sợ. Sợ mang tính di truyền từ đời này sang đời khác là nỗi sợ của những loài vật sợ kẻ ăn thịt mình. Sợ theo kiểu "tránh voi chẳng xấu mặt nào" mà những kẻ yếu thường lấy để tự an ủi mình. "Thứ nhất sợ kẻ anh hùng. Thứ hai sợ kẻ cuối cùng liều thân" là kiểu mà cộng đồng quốc tế hiện nay vẫn sợ một nước nghèo khổ vào loại bậc nhất là Bắc Hàn. Kiểu sợ của chính quyền cộng sản Việt Nam trước Bắc Kinh như nêu trên là kiểu sợ đến mức đáng khinh mà từ điển tiếng Việt gọi là "hèn". Và "cái hèn" đó có nguyên nhân từ sự phụ thuộc nói đúng hơn là sự lệ thuộc ngày càng nhiều của họ vào Trung Quốc nhất là từ sau hội nghị Thành Đô 1991.
Năm 1949 đảng cộng sản Trung Quốc giành được chính quyền, nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập. Từ năm 1950 theo yêu cầu của đảng cộng sản Việt Nam Trung Quốc đã không ngừng viện trợ vũ khí và cả người (dưới hình thức cố vấn) cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Mù quáng vì ý thức hệ cộng sản và ở thế của kẻ xin và nhân viện trợ. Cộng sản Việt Nam dưới danh nghĩa Việt Minh đã nhất nhất tuân theo sự chỉ đạo của cộng sản Trung Quốc qua đội ngũ cố vấn. Giải pháp chia đôi đất nước trong hiệp định Giơ ne phần nào do áp đặt của cộng sản Trung Quốc.
Sau kháng chiến chống Pháp sự lệ thuộc là một loạt các chủ trương chính sách sai lầm của nhà nước cộng sản Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng. Chúng đều là những chủ trương chính sách hoặc bị áp đặt, hoặc bắt chước dập khuôn theo của Trung Quốc. Đó là cuộc cải cách ruộng đất giết oan hàng vạn người. Là việc bắt bớ, đày ải các văn nghệ sĩ chân chính qua vụ án nhân văn giai phẩm làm thui chột nền văn nghệ nước nhà. Là phong trào hợp tác hoá làm cho nông thôn Việt Nam tiêu điều, xơ xác,…
Trong cuộc chiến tranh Nam - Bắc mặc dù bất hòa nhưng Trung Quốc và Liên Xô vẫn ra sức viện trợ cho cộng sản Việt Nam. Để nhận được nhiều viện trợ trong thời gian này cộng sản Việt Nam đã sử dụng chiến thuật "đu dây" và lệ thuộc vào cả hai nước "đàn anh".
Sau năm 1975 nhận thấy sự tiếp tay của cộng sản Trung Quốc cho Khơ me đỏ đánh phá mình ở biên giới Tây Nam cộng sản Việt Nam đã ngả hẳn vào nước "đàn anh" Liên Xô và ký hiệp định an ninh giữa hai nước vào năm 1978. Nhưng cũng không tránh được cuộc chiến tranh biên giới 1979 do Trung Quốc phát động. Đây là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc gây ra tội ác đẫm máu với quân dân các tỉnh biên giới phía Bắc. Năm 1980 cộng sản Việt Nam sửa đổi hiến pháp mà trong lời nói đầu đã xác định cộng sản Trung Quốc là kẻ thù.
Những năm tiếp theo. Bị cấm vận do mang quân đánh Campuhia, sai lầm về các chính sách kinh tế, viện trợ của Liên Xô ít dần nhà nước cộng sản Việt Nam đứng trước viễn cảnh sụp đổ. Hiển hiện rõ ràng nhất khi cuối thập niên 80 đầu 90 thế kỷ trước khi Liên Xô và một loạt các nước cộng sản Đông Âu tan rã. Thân cô thế cô, không nơi dựa dẫm cộng với nỗi lo sụp đổ lên tới tột bậc buộc cộng sản Việt Nam tưởng như đoạn tuyệt được với Trung Quốc lại phải một lần nữa ngả vào vòng tay của Bắc Kinh. Đầu tiên là sửa đổi hiến pháp để bỏ nội dung ghi Trung Quốc là kẻ thù, tiếp đó bầu đoàn thê tử của Hà Nội lục tục dắt díu nhau sang cầu cứu Bắc Kinh gọi cho oai là "sang để bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc".
Biết rõ thân thế của Hà Nội. Với bản tính nham hiểm, bành trướng Bắc Kinh đã không bỏ lỡ cơ hội để thực hiện những mưu đồ thâm độc với Việt Nam mà từ trước tới nay vẫn giấu giếm vì chưa có thời cơ. Hiệp ước Thành Đô được ký kết trong bối cảnh trên giữa một bên là "Trung Quốc thì gian ngoan mưu lược" một bên là " ta thì dại dột cả tin" như một nhà cựu ngoại giao đã thú nhận. Tuy không công bố nội dung nhưng chắc chắn là phía Việt Nam phải chịu thua thiệt đủ đường. Bởi sau khi được ký kết có người trong cuộc đã gọi nó là: "cái tròng Bắc thuộc mới", từ nó hàng loạt các hiệp ước phân định biên giới, vùng biển, những tuyên bố chung, đàm phán song phương,... khiến Việt Nam mất đất, mất biển, mất các địa danh quen thuộc và trở nên "nhũn như con chi chi" thực thi mọi yêu cầu đòi hỏi ngang ngược của Trung Quốc.
Ngoài sự lệ thuộc do ràng buộc của hiệp ước Thành Đô, Hà Nội còn tự nguyện lệ thuộc vào Bắc Kinh. Vì "kẻ thù truyền kiếp" ngày nào giờ đây trong mắt họ đã trở thành “thần tượng”. "Thần tượng" về kinh tế với mức tăng trưởng cao sau khi đã bỏ đường lối kinh tế XHCN chạy theo tư bản, "Thần tượng”về chính trị với mô hình độc tài đảng trị ,đàn áp các phong trào đòi tự do dân chủ, đàn áp tôn giáo và từng “nổi tiếng” với “Thiên An Môn”, "Pháp luân công”, "Tây Tạng”, "Tân Cương”. Do vậy họ đã tự nguyện sao chép bắt chước nhiều chính sách chủ trương của Bắc Kinh trong kinh tế, chính trị, ngoại giao. Có cả bắt buộc và tự nguyên, sự lệ thuộc của Hà Nội với Bắc Kinh giống như của tay sai đối với quan thày. Không loại trừ khả năng Bắc Kinh cam kết bảo kê cho chế độ Hà Nội vì tay sai và quan thày đều rất cần đến nhau.
Từ trước tới nay người Việt ta thường có quan niệm: Người Tàu vốn thâm, lãnh đạo của họ lại càng thâm. Nếu đúng vậy thì cái "tương lai" trong 16 chữ "Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. Ổn định lâu dài. "Hướng tới tương lai" mà Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đã tặng cho Việt Nam sau hội nghị Thành Đô chính là sự "lệ thuộc hoàn toàn" của Việt Nam vào Trung Quốc. Thật là bi thảm!

