Bình Luận Thời Sự
Từ tổng thống thành tội phạm bị truy lùng
Bùi Tín (Blog VOA)
Viktor Yanukovych đang là kẻ tội phạm bị hệ thống pháp luật Ukraine truy lùng khẩn cấp, với tội danh chịu trách nhiệm về cái chết của hơn 80 công dân trong các cuộc nổi dậy trong tháng 2, 2014 này.
Viktor Yanukovych, 64 tuổi, được bầu làm tổng thống của nước Cộng Hòa Ukraine trong năm 2010, nhậm chức từ ngày 25 tháng 2, 2010 và bị Quốc Hội phế truất ngày 22 tháng 2, 2014, với tỷ lệ bỏ phiếu thuận là 328/450.
Theo tin các hãng thông tấn Pháp và Ðức ngày 21 tháng 2 Viktor Yanukovych đã rời thủ đô Kyiv đi Kharkiv, một thành phố ở phía đông gần biên giới với nước Nga.
Cũng ngày Thứ Sáu, 22 tháng 2 lịch sử ấy, sau khi được trả tự do, bà Yulia Tymoshenko, lãnh tụ khối BUT-Fatherland, bà ra ngay Quảng trường Ðộc Lập ở trung tâm thủ đô và tuyên bố trước hơn 20 vạn quần chúng: “Chế độ độc đoán chuyên chế đã sụp đổ.” Bà kêu gọi nhân dân giữ vững ý chí đấu tranh, hãy chia nhau ở lại quảng trường lịch sử này và ở các dinh thự quan trọng để tiếp tục cuộc đấu tranh không bạo lực, trước mắt là đến cuộc bầu cử 25 tháng 5, 2014 sắp tới. Bà tuyên bố sẽ ra ứng cử tổng thống trong dịp này.
Bà Yulia Tymoshenko cũng tuyên bố những kẻ đã đàn áp và gây nên cái chết của hơn 80 người trong những ngày qua phải bị bắt giữ để trả lời trước pháp luật về tội ác giết người của chúng. Một người chịu trách nhiệm chính là nguyên Tổng Thống Viktor Yanukovych vừa bị phế truất. Từ Kharkiv, Viktor Yanukovych tuyên bố chống lại “cuộc đảo chính phi pháp” và vẫn tự nhận là tổng thống hợp pháp. Nhưng ông ta biệt tăm.
Ngày 24 tháng 2, lệnh truy nã Viktor Yanukovych được ban hành, Bộ Công An phát động một cuộc truy lùng trên quy mô lớn. Báo Pháp le Figaro ngày 23 tháng 2 cho biết theo tin từ Kharkiv, vào chập tối 22 tháng 2 Viktor Yanukovych và một vài bộ hạ đã đi trên 2 xe bọc thép đến sân bay trong vùng và định lên một chiếc mày bay nhỏ để bay sang Nga, nhưng máy bay đã bị “cơ quan quản lý sân bay ngăn chặn không được cất cánh vì họ không có đủ giấy tờ hợp lệ.” Sau đó họ lên xe bọc thép đi đâu không rõ.
Nhân dân thủ đô đã kéo vào tư dinh của Viktor Yanukovych, một lâu đài hoành tráng vào loại đặc biệt, có nhiều tài sản quý giá, nhiều đồ cổ, tác phẩm hội họa hiếm, nhiều tượng và cả một vườn thú riêng - tất cả đến nay vẫn được coi là tài sản riêng của Viktor Yanukovych. Quốc Hội đã ra quyết định ngôi nhà này từ nay thuộc tài sản nhà nước. Nhiều tốp thanh niên nổi dậy đã chiếm giữ cơ sở này từ đêm 21 tháng 2 với ý thức công dân cao, bảo vệ tất cả tài sản được nguyên vẹn cho dù đã có hàng chục vạn người nô nức đến quan sát.
Viktor Yanukovych và bà Yulia Tymoshenko là 2 đối thủ chính trị chính ở Ukraine, theo hai đường lối đối lập. Ông Yanukovych là lãnh tụ của đảng các vùng miền (Parti des Régions), chủ trương gắn bó lâu dài với nước Nga, chủ yếu dựa vào gần nửa nước thuộc các tỉnh phía Ðông giáp giới Nga, nhân dân chủ yếu nói tiếng Nga. Nước Nga của ông Putin hết sức yểm trợ, ủng hộ xu hướng chính trị này, còn dùng món nợ lớn lưu cữu của Ukraine và nguồn dầu và khí đốt từ Nga để gây sức ép lớn.
Bà Yulia Tymoshenko, 54 tuổi, chuyên gia kinh tế, nhà kinh doanh, lãnh tụ của Liên Minh Tổ Quốc (Fatherland), chủ trương có quan hệ bình đẳng với nước Nga, nhưng ngả dần về phương Tây do những giá trị tinh thần về dân chủ, nhân quyền, cũng như thế mạnh bền vững về kinh tế-tài chính-thương mại quốc tế. Bà đã từng làm thủ tướng hai lần, lần đầu từ 21 tháng 11, 2002 đến 5 tháng 1, 2005, lần sau từ 4 tháng 8, 2006 đến 18 tháng 12, 2007. Tháng 10, 2011 bà bị kết án kinh tế “làm thiệt hại tài sản quốc gia” và bị tuyên án 7 năm tù giam. Trong tù bà bị đánh đập, tra khảo rất tàn bạo.
Ở giữa hai thế lực trên là một loạt các chính đảng nhỏ như Ðảng Xã Hội, Ðảng Cộng Sản, Ðảng Ðộc Lập Svoboda, Ðảng Xã Hội Dân Chủ, Ðảng Cải Cách. Các đảng nhỏ này đang bị phân hóa để gia nhập 2 khối đối lập.
Do thế địa lý-chính trị nên ảnh hưởng của các nước láng giềng trực tiếp của Ukraine rất quan trọng. Ukraine có 4,566 km biên giới, trong đó 1,576 km giáp Nga, 891 km giáp Belarus, còn 428 km giáp Ba Lan, 90 km giáp Slovakia, 103 km giáp Hungary, 362 km giáp Romania và 940 km giáp Moldovia.
Hiện Ukraine có hơn 1 triệu dân sống ở nước ngoài, phần lớn là trí thức thanh niên, các nhà kinh doanh rời nước sau khi Liên Bang Xô Viết tan vỡ, đổi mới về chính trị chập chờn, không rõ ràng, di sản cộng sản còn nặng, rồi rộ lên khi gặp khủng hoảng kinh tế năm 2008.
Số di dân này ủng hộ mạnh mẽ xu hướng thân phương Tây.
Tình hình từ tháng 9, 2013 đến nay có bước đột biến do tình hình chính trị biến chuyển, tâm lý xã hội có những thay đổi rõ, cán cân so sánh giữa các phe nhóm chuyển động, nạn tham nhũng lan tràn do cung cách cai trị kiểu XHCN-CS vẫn dai dẳng làm lòng dân không yên.
Việc hạ tượng Lenin biểu hiện tâm lý đoạn tuyệt với quá khứ. Xu thế ngả sang phương Tây cả về ý thức hệ dân chủ cả về hợp tác kinh tế lên khá mạnh. Ðã vậy các nước láng giềng Trung Âu vốn trong phe XHCN dứt khoát với những cung cách cai trị cũ, phát triển ổn định như Slovakia, Romania, đặc biệt là Hungary và Ba Lan có tác động mạnh vào Ukraine. Cả khối Liên Minh Châu Âu UE chìa tay sẵn sàng chào đón Ukraine gia nhập Liên Minh UE và khối đồng Euro.
Giữa cuộc khủng hoảng của tuần qua, 3 ngoại trưởng Ðức, Pháp và Ba Lan đã sang ngay Kyiv thúc đẩy thỏa thuận giữa các phe đối lập, buộc lực lượng đàn áp phải rút hết khỏi quảng trường Ðộc Lập, dẫn đến cuộc bỏ chạy của Tổng Thống Viktor Yanukovych và việc bà Yulia Tymoshenko được trả tự do là một chuyển biến rất cơ bản.
Vấn đề hiện nay là xem nước Nga của ông Putin phản ứng ra sao trước chuyển biến to lớn này ở Kyiv. Sự can thiệp của Nga lúc này xem ra rất hạn chế. Vì chính Nga đang phải đối phó với phong trào đòi dân chủ và nhân quyền khá mạnh. Ukraine có thể bị phân hóa thành nội chiến giữa 2 vùng Tây và Ðông không? Tôi vừa có dịp gặp và trao đổi với hai vị giáo sư đại học ở Paris vốn là người gốc Ukraine theo dõi chặt tình hình, 2 vị cho biết: “Chính dân phía Ðông lại chán ghét cung cách cai trị độc đoán thời CS, chính vùng Donbass phía Ðông là nạn nhân của khủng bố dưới thời Stalin-Beria rất rùng rợn, chúng tôi, cả dân phía Ðông và dân phía Tây, đều mong muốn có một nước Ukraine mới, dân chủ, phát triển, có nền pháp trị công minh, như là Ba Lan, Hungary và Czech ở rất gần chúng tôi vậy.”
Số phận của nguyên Tổng Thống Viktor Yanukovych sẽ ra sao? Tổng Thống Nga Putin có tiếp tục công nhận ông ta không? và có cho ông ta cư trú chính trị hay không? Hay ông ta phải chạy sang một nước nào khác?
Sau Saddam Hussein, sau Muammar Gaddafi, sau Osama bin Laden, lại thêm một tổng thống độc đoán tham nhũng cỡ bự Viktor Yanukovych bị truy lùng trốn chạy. Bản danh sách này chắc sẽ còn dài.
(Ghi chú của tòa soạn: Ðến thời điểm hiện tại, đã có tin chắc chắn, ông Viktor Yanukovych đã có mặt tại Nga, và được chính phủ Nga cam kết bảo đảm an ninh.)
Bùi Tín (Blog VOA)
Viktor Yanukovych đang là kẻ tội phạm bị hệ thống pháp luật Ukraine truy lùng khẩn cấp, với tội danh chịu trách nhiệm về cái chết của hơn 80 công dân trong các cuộc nổi dậy trong tháng 2, 2014 này.
Viktor Yanukovych, 64 tuổi, được bầu làm tổng thống của nước Cộng Hòa Ukraine trong năm 2010, nhậm chức từ ngày 25 tháng 2, 2010 và bị Quốc Hội phế truất ngày 22 tháng 2, 2014, với tỷ lệ bỏ phiếu thuận là 328/450.
Theo tin các hãng thông tấn Pháp và Ðức ngày 21 tháng 2 Viktor Yanukovych đã rời thủ đô Kyiv đi Kharkiv, một thành phố ở phía đông gần biên giới với nước Nga.
Cũng ngày Thứ Sáu, 22 tháng 2 lịch sử ấy, sau khi được trả tự do, bà Yulia Tymoshenko, lãnh tụ khối BUT-Fatherland, bà ra ngay Quảng trường Ðộc Lập ở trung tâm thủ đô và tuyên bố trước hơn 20 vạn quần chúng: “Chế độ độc đoán chuyên chế đã sụp đổ.” Bà kêu gọi nhân dân giữ vững ý chí đấu tranh, hãy chia nhau ở lại quảng trường lịch sử này và ở các dinh thự quan trọng để tiếp tục cuộc đấu tranh không bạo lực, trước mắt là đến cuộc bầu cử 25 tháng 5, 2014 sắp tới. Bà tuyên bố sẽ ra ứng cử tổng thống trong dịp này.
Bà Yulia Tymoshenko cũng tuyên bố những kẻ đã đàn áp và gây nên cái chết của hơn 80 người trong những ngày qua phải bị bắt giữ để trả lời trước pháp luật về tội ác giết người của chúng. Một người chịu trách nhiệm chính là nguyên Tổng Thống Viktor Yanukovych vừa bị phế truất. Từ Kharkiv, Viktor Yanukovych tuyên bố chống lại “cuộc đảo chính phi pháp” và vẫn tự nhận là tổng thống hợp pháp. Nhưng ông ta biệt tăm.
Ngày 24 tháng 2, lệnh truy nã Viktor Yanukovych được ban hành, Bộ Công An phát động một cuộc truy lùng trên quy mô lớn. Báo Pháp le Figaro ngày 23 tháng 2 cho biết theo tin từ Kharkiv, vào chập tối 22 tháng 2 Viktor Yanukovych và một vài bộ hạ đã đi trên 2 xe bọc thép đến sân bay trong vùng và định lên một chiếc mày bay nhỏ để bay sang Nga, nhưng máy bay đã bị “cơ quan quản lý sân bay ngăn chặn không được cất cánh vì họ không có đủ giấy tờ hợp lệ.” Sau đó họ lên xe bọc thép đi đâu không rõ.
Nhân dân thủ đô đã kéo vào tư dinh của Viktor Yanukovych, một lâu đài hoành tráng vào loại đặc biệt, có nhiều tài sản quý giá, nhiều đồ cổ, tác phẩm hội họa hiếm, nhiều tượng và cả một vườn thú riêng - tất cả đến nay vẫn được coi là tài sản riêng của Viktor Yanukovych. Quốc Hội đã ra quyết định ngôi nhà này từ nay thuộc tài sản nhà nước. Nhiều tốp thanh niên nổi dậy đã chiếm giữ cơ sở này từ đêm 21 tháng 2 với ý thức công dân cao, bảo vệ tất cả tài sản được nguyên vẹn cho dù đã có hàng chục vạn người nô nức đến quan sát.
Viktor Yanukovych và bà Yulia Tymoshenko là 2 đối thủ chính trị chính ở Ukraine, theo hai đường lối đối lập. Ông Yanukovych là lãnh tụ của đảng các vùng miền (Parti des Régions), chủ trương gắn bó lâu dài với nước Nga, chủ yếu dựa vào gần nửa nước thuộc các tỉnh phía Ðông giáp giới Nga, nhân dân chủ yếu nói tiếng Nga. Nước Nga của ông Putin hết sức yểm trợ, ủng hộ xu hướng chính trị này, còn dùng món nợ lớn lưu cữu của Ukraine và nguồn dầu và khí đốt từ Nga để gây sức ép lớn.
Bà Yulia Tymoshenko, 54 tuổi, chuyên gia kinh tế, nhà kinh doanh, lãnh tụ của Liên Minh Tổ Quốc (Fatherland), chủ trương có quan hệ bình đẳng với nước Nga, nhưng ngả dần về phương Tây do những giá trị tinh thần về dân chủ, nhân quyền, cũng như thế mạnh bền vững về kinh tế-tài chính-thương mại quốc tế. Bà đã từng làm thủ tướng hai lần, lần đầu từ 21 tháng 11, 2002 đến 5 tháng 1, 2005, lần sau từ 4 tháng 8, 2006 đến 18 tháng 12, 2007. Tháng 10, 2011 bà bị kết án kinh tế “làm thiệt hại tài sản quốc gia” và bị tuyên án 7 năm tù giam. Trong tù bà bị đánh đập, tra khảo rất tàn bạo.
Ở giữa hai thế lực trên là một loạt các chính đảng nhỏ như Ðảng Xã Hội, Ðảng Cộng Sản, Ðảng Ðộc Lập Svoboda, Ðảng Xã Hội Dân Chủ, Ðảng Cải Cách. Các đảng nhỏ này đang bị phân hóa để gia nhập 2 khối đối lập.
Do thế địa lý-chính trị nên ảnh hưởng của các nước láng giềng trực tiếp của Ukraine rất quan trọng. Ukraine có 4,566 km biên giới, trong đó 1,576 km giáp Nga, 891 km giáp Belarus, còn 428 km giáp Ba Lan, 90 km giáp Slovakia, 103 km giáp Hungary, 362 km giáp Romania và 940 km giáp Moldovia.
Hiện Ukraine có hơn 1 triệu dân sống ở nước ngoài, phần lớn là trí thức thanh niên, các nhà kinh doanh rời nước sau khi Liên Bang Xô Viết tan vỡ, đổi mới về chính trị chập chờn, không rõ ràng, di sản cộng sản còn nặng, rồi rộ lên khi gặp khủng hoảng kinh tế năm 2008.
Số di dân này ủng hộ mạnh mẽ xu hướng thân phương Tây.
Tình hình từ tháng 9, 2013 đến nay có bước đột biến do tình hình chính trị biến chuyển, tâm lý xã hội có những thay đổi rõ, cán cân so sánh giữa các phe nhóm chuyển động, nạn tham nhũng lan tràn do cung cách cai trị kiểu XHCN-CS vẫn dai dẳng làm lòng dân không yên.
Việc hạ tượng Lenin biểu hiện tâm lý đoạn tuyệt với quá khứ. Xu thế ngả sang phương Tây cả về ý thức hệ dân chủ cả về hợp tác kinh tế lên khá mạnh. Ðã vậy các nước láng giềng Trung Âu vốn trong phe XHCN dứt khoát với những cung cách cai trị cũ, phát triển ổn định như Slovakia, Romania, đặc biệt là Hungary và Ba Lan có tác động mạnh vào Ukraine. Cả khối Liên Minh Châu Âu UE chìa tay sẵn sàng chào đón Ukraine gia nhập Liên Minh UE và khối đồng Euro.
Giữa cuộc khủng hoảng của tuần qua, 3 ngoại trưởng Ðức, Pháp và Ba Lan đã sang ngay Kyiv thúc đẩy thỏa thuận giữa các phe đối lập, buộc lực lượng đàn áp phải rút hết khỏi quảng trường Ðộc Lập, dẫn đến cuộc bỏ chạy của Tổng Thống Viktor Yanukovych và việc bà Yulia Tymoshenko được trả tự do là một chuyển biến rất cơ bản.
Vấn đề hiện nay là xem nước Nga của ông Putin phản ứng ra sao trước chuyển biến to lớn này ở Kyiv. Sự can thiệp của Nga lúc này xem ra rất hạn chế. Vì chính Nga đang phải đối phó với phong trào đòi dân chủ và nhân quyền khá mạnh. Ukraine có thể bị phân hóa thành nội chiến giữa 2 vùng Tây và Ðông không? Tôi vừa có dịp gặp và trao đổi với hai vị giáo sư đại học ở Paris vốn là người gốc Ukraine theo dõi chặt tình hình, 2 vị cho biết: “Chính dân phía Ðông lại chán ghét cung cách cai trị độc đoán thời CS, chính vùng Donbass phía Ðông là nạn nhân của khủng bố dưới thời Stalin-Beria rất rùng rợn, chúng tôi, cả dân phía Ðông và dân phía Tây, đều mong muốn có một nước Ukraine mới, dân chủ, phát triển, có nền pháp trị công minh, như là Ba Lan, Hungary và Czech ở rất gần chúng tôi vậy.”
Số phận của nguyên Tổng Thống Viktor Yanukovych sẽ ra sao? Tổng Thống Nga Putin có tiếp tục công nhận ông ta không? và có cho ông ta cư trú chính trị hay không? Hay ông ta phải chạy sang một nước nào khác?
Sau Saddam Hussein, sau Muammar Gaddafi, sau Osama bin Laden, lại thêm một tổng thống độc đoán tham nhũng cỡ bự Viktor Yanukovych bị truy lùng trốn chạy. Bản danh sách này chắc sẽ còn dài.
(Ghi chú của tòa soạn: Ðến thời điểm hiện tại, đã có tin chắc chắn, ông Viktor Yanukovych đã có mặt tại Nga, và được chính phủ Nga cam kết bảo đảm an ninh.)
Bạn đọc và bạn văn
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Viết lách bao giờ cũng là một công việc cô đơn. Cực kỳ cô đơn. Có người còn cho đó là một việc làm cô đơn nhất. Giống như những người giữ hải đăng ngoài biển. Một mình. Hình ảnh tiêu biểu nhất của các nhà văn và nhà thơ, khi sáng tác, là hình ảnh, về không gian, một căn phòng khép kín hoặc một chiếc bàn trong góc khuất; về thời gian, thường là ban đêm, thậm chí, trong khuya khoắt. Một mình. Chung quanh hoàn toàn im ắng. Có người, dễ tính hơn, có thể viết ở chỗ làm, trong quán cà phê hay trên xe lửa, nhưng những lúc ấy, họ vẫn phải thu mình lại, tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, lắng vào trong, chỉ chạy đuổi theo trí tưởng tượng và tư tưởng của mình, nghe ngóng từng xao động nho nhỏ, khẽ nhàng và tế vi trong chính tâm hồn của mình. Như vậy, ngay ở những chỗ đông người nhất, tập nập nhất, ồn ào nhất, họ cũng vẫn cô đơn.
Dĩ nhiên, trong đời sống hàng ngày, với tư cách một con người hoặc một công dân, người cầm bút vẫn phải giao tiếp với người khác, từ gia đình đến xã hội.
Như mọi người khác. Nhưng với tư cách một người cầm bút, lúc sáng tác, hắn có một thế giới riêng, thế giới bên trong của hắn, ở đó, không có cửa ngõ nào thông ra bên ngoài. Thế giới bên ngoài cung cấp cho hắn những hiểu biết, kinh nghiệm, hình ảnh và nhân vật, nhưng chỉ ở thế giới bên trong, hắn mới bắt gặp tư tưởng, cảm xúc và giọng điệu, ba yếu tố làm cho hắn trở thành một nhà văn hay một nhà thơ. Thế giới bên ngoài có thể giúp hắn trở thành trí thức uyên bác hay lịch lãm, nhưng chỉ với thế giới bên trong, hắn mới có thể trở thành một nghệ sĩ sâu sắc và độc đáo. Hắn là kẻ gieo hạt bên ngoài nhưng lại gặt hái từ bên trong. Bên ngoài, hắn nhặt nhạnh và gom góp của cải; nhưng chỉ với những gì được tìm thấy từ bên trong, hắn mới trở thành giàu có. Ở cái cõi bên trong ấy, hắn hoàn toàn một mình. Cô đơn và cô độc.
Sự cô đơn ấy làm cho hắn khác người. Du hành, với người khác, là đi ra ngoài, đến những nơi xa lạ, ngắm nghía những kỳ quan của thiên nhiên hay của người khác; với người cầm bút, là đi ngược vào trong, đến tận đáy tâm hồn, để ngắm nghía những ngóc ngách bí hiểm của những gì ngỡ như rất quen thuộc, ở đó, bản thân hắn biến thành một kỳ quan cần được khám phá. Ở nhiều loại hình nghệ thuật khác, người ta có thể song tấu hay hợp tấu. Trong văn chương, chỉ có một trò chơi duy nhất: độc tấu. Lúc nào cũng độc tấu. Ngay cả với những tác phẩm viết chung, mỗi người vẫn sáng tác một mình. Và chỉ chơi cái trò chơi của mình. Một mình mơ mộng. Một mình nghĩ ngợi. Một mình nhớ nhung, dù phần lớn, nói theo Xuân Diệu, “nhớ xa xôi”, hay nói theo Quang Dũng, “nhớ ơ hờ”.
Một mình lắng nghe những xôn xao trong lòng mình. Một mình tìm cho mình một giọng nói. Từ bỏ cái một mình ấy để lao vào giàn đồng ca của thời đại, do chế độ điều khiển, chỉ là một cách tự sát. Dưới các chế độ cộng sản, ở Việt Nam cũng như trên khắp thế giới, bao nhiêu tên tuổi thuộc loại lỗi lạc, đã tự giết mình bằng cách ấy.
Số phận của người cầm bút là số phận cô đơn. Trải qua mấy ngàn năm, điều kiện sáng tác và phổ biến tác phẩm có thể thay đổi, hơn nữa, với đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật, thay đổi thật nhanh, nhưng cái số phận cô đơn ấy, từ Homer và Khuất Nguyên đến tận ngày nay, không hề thay đổi. Ở đâu và thơ bàn về sáng tác, ý kiến mỗi người một khác, có người đứng (Hemingway, Virginia Woolf), có người ngồi (phần đông), có người nằm (Marcel Proust, James Joyce,Truman Capote); có người viết tay, có người thích gõ rào rào trên bàn máy đánh chữ hay bàn phím computer; có người viết nhanh (Alexandre Dumas cha, Jack London, William Golding, Anthony Trollope, Stephen King), có người viết chậm (James Joyce, Dorothy Parker); có người cần cà phê để tỉnh táo (Voltaire và Balzac - tương truyền mỗi người uống khoảng từ 40 đến 50 ly cà phê mỗi ngày!), có người uống rượu để tìm cảm hứng (Lý Bạch, William Faulkner, Raymond Carver, Charles Bukowski, Edgar Allan Poe, Jack Kerouac, F. Scott Fitzgerald), nhưng hầu như ai cũng giống nhau ở một điểm: tất cả đều xem sự cô đơn như điều kiện, thậm chí, yếu tính của sáng tác. Sử gia Edward Gibbon có một câu nói nổi tiếng: “Sự đối thoại làm tăng hiểu biết nhưng chính sự đơn độc mới là ngôi trường của các thiên tài.” Johann Wolfgang von Goethe cũng có câu nói tương tự: “Người ta có thể được giáo dục trong xã hội, nhưng người ta chỉ được gợi hứng trong sự đơn độc.” Nói chung về nghệ thuật, Picasso nhận định: “Không có sự đơn độc lớn sẽ không có một tác phẩm nghiêm túc nào được ra đời.”
Nhưng các nhà văn và nhà thơ không phải chỉ cô đơn trong quá trình sáng tác. Họ còn cô đơn cả trong quá trình phổ biến tác phẩm. Viết, nói chung, bao giờ cũng để cho người khác đọc. Tác phẩm chỉ thực sự hiện hữu khi được đọc. Theo Roland Barthes, không phải tác giả mà chính độc giả mới là kẻ làm cho tác phẩm hiện hữu như một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất và có ý nghĩa. Nhưng, về phương diện xã hội, giữa tác giả và độc giả bao giờ cũng có một khoảng cách lớn lao. Một họa sĩ hoặc một điêu khắc gia có thể nhìn thấy phản ứng của những người thưởng ngoạn trong các cuộc triển lãm. Thấy được sự thích thú hay ngưỡng mộ của họ. Với một nhạc sĩ hay một ca sĩ, cái thấy ấy còn cụ thể hơn nữa. Phản ứng của con người, khi nghe nhạc, thường rất nồng nhiệt. Không ai cần giấu giếm. Sự nồng nhiệt toát ra từ những tràng pháo tay hay từ những ánh mắt đắm đuối. Còn các nhà văn và nhà thơ thì hầu như không bao giờ được nghe những tiếng vỗ tay. Không ai vỗ tay khi đọc một cuốn sách, dù là một cuốn sách tuyệt hay. Ngay cả khi cuốn sách khiến người ta xúc động đến độ chảy nước mắt thì tác giả cũng không bao giờ được nhìn thấy. Người đọc bao giờ cũng đọc một mình. Nếu viết là một công việc cô đơn; đọc cũng cô đơn không kém. Quan hệ giữa tác giả và độc giả, do đó, là một thứ quan hệ oái oăm giữa những kẻ cô đơn.
Ở trên, tôi có viết: nhà văn hay nhà thơ không nghe được tiếng vỗ tay. Dĩ nhiên, trong cuộc sống, ở những buổi nói chuyện hay đọc thơ, họ cũng có thể nhận được những tiếng vỗ tay cổ vũ của người nghe. Nhưng đó là một trường hợp khác: Họ được vỗ tay vì bài nói hay giọng đọc chứ không phải vì các bài viết vốn là nơi chứa đựng những tinh hoa sâu thẳm nhất của họ. Nói cách khác, họ được vỗ tay ở cái phần kém cỏi nhất của họ: Nói. Không có nhà văn hay nhà thơ tài hoa nào có thể nói hay hơn những gì họ viết. Cái được nói, dù mạch lạc, lưu loát hay dí dỏm đến mấy, cũng chỉ là một bãi quặng. Chỉ trong cái viết mới có vàng đã được tinh chế. Bởi vậy, trừ các nhà văn và nhà thơ bình dân, hầu như không có người cầm bút thực sự nào có thể thấy thỏa mãn với những tràng pháo tay của người nghe: Ðiều họ cần nhất là những phản hồi của người đọc.
Người đọc khác với người nghe.
Viết: cô đơn. Ðọc: cũng cô đơn. Trong thế giới văn chương, sự gặp gỡ giữa người viết và người đọc là sự gặp gỡ giữa hai cái-một-mình. Trong thầm lặng. Gặp gỡ mà vẫn cô đơn.
May, quan hệ giữa những kẻ cô đơn ấy lại có thể là một thứ quan hệ sâu sắc và bền bỉ hiếm thấy, nếu không muốn nói là không bao giờ thấy, trong các loại hình nghệ thuật khác. Không có một bức tranh, một bức tượng hay một bản nhạc nào có thể làm thay đổi cách suy nghĩ hay cách sống của một con người.
Nhưng với sách thì có. Ðã có nhiều người nói, thậm chí, xuất bản những cuốn sách mang nhan đề “Những cuốn sách làm thay đổi thế giới”. Thánh Kinh, Coran, Những bài giảng của đức Phật, luận ngữ, đạo đức kinh, những cuốn sách về dân chủ của Alexis de Tocqueville, về tự do của John Stuart Mill, về pháp chế của Montesquieu, về chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx, về độc tài của George Orwell, về chính trị của Niccolo Michiavelli, về phân tâm học của Sigmund Freud, về triết học của Nietzsche, v.v. đã làm thay đổi thế giới.
Thế giới còn thay đổi được, huống gì là từng cá nhân.
Có lẽ nhờ sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc ấy, quan hệ giữa tác giả và độc giả, về bản chất, khác với quan hệ giữa các nghệ sĩ khác với các khán giả và thính giả của họ. Nhà văn Võ Phiến, trong bài “Viết lách” in trong tập Cuối Cùng (2009), có một nhận xét tinh tế là trong tiếng Việt chỉ có chữ “bạn đọc” chứ không có chữ bạn nhìn, bạn xem và bạn nghe. Khán giả lúc nào cũng là khán giả; khi được Việt hóa, chúng ta có: người xem. Thính giả lúc nào cũng là thính giả; khi được Việt hóa, chúng ta có: người nghe. Nhưng độc giả, ngoài chữ người đọc chung chung và xa cách, chúng ta còn có: bạn đọc. Võ Phiến trầm trồ: “Nghề văn hay nghề viết quả kỳ cục. Cổ lai nghề đâu có nghề chỉ nhằm vào một loại khách hàng duy nhất là ‘bạn’.” (tr. 154)
Mà không phải chỉ trong quan hệ giữa tác giả với độc giả mới có tình bạn. Giữa các tác giả với nhau cũng có tình bạn. Chúng ta thường nói đến bạn văn hay bạn thơ, nhưng không ai nói đến bạn vẽ, bạn đàn hay bạn hát; bạn họa hay bạn nhạc. Trong các loại hình nghệ thuật, hầu như chỉ có trong văn chương là có những tình bạn khắng khít, sâu đậm và lâu dài. Rất nhiều tình bạn đã đi vào lịch sử và trở thành giai thoại. Trong lĩnh vực hội họa hay âm nhạc, tình bạn giữa các văn nghệ sĩ với nhau, nếu có, cũng chỉ là họa hoằn. Nhà văn Gertrude Stein có lần nhận xét là Picasso có rất ít, cực ít, bạn bè trong giới họa sĩ. Bạn của ông toàn là các nhà văn và các nhà thơ. Nhìn vào giới văn nghệ sĩ Việt Nam, chúng ta cũng có thể thấy rõ điều ấy.
Chính tình bạn sâu đậm giữa các tác giả và độc giả cũng như giữa các tác giả với nhau đã làm cho công việc viết lách bớt đi chút cô đơn và hiu quạnh.
Cũng đỡ.
***
Chú thích:
Bài trên, tôi viết lại từ bài nói chuyện trong buổi ra mắt 3 cuốn sách mới của tôi (phản tỉnh và phản biện; văn học Việt Nam tại Úc: Chính trị và thi pháp của lưu vong; và Thơ Lê Văn Tài) tại giảng đường đại học Victoria ở Melbourne, Úc vào chiều Chủ Nhật 16 tháng 2, 2014. Hôm ấy, sách không đủ cung cấp cho những người tham dự. Với những người ấy, cũng như với bạn đọc ở xa, nếu muốn, có thể mua online tại Người Việt Shop: hoặc trên www.amazon.com.
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Viết lách bao giờ cũng là một công việc cô đơn. Cực kỳ cô đơn. Có người còn cho đó là một việc làm cô đơn nhất. Giống như những người giữ hải đăng ngoài biển. Một mình. Hình ảnh tiêu biểu nhất của các nhà văn và nhà thơ, khi sáng tác, là hình ảnh, về không gian, một căn phòng khép kín hoặc một chiếc bàn trong góc khuất; về thời gian, thường là ban đêm, thậm chí, trong khuya khoắt. Một mình. Chung quanh hoàn toàn im ắng. Có người, dễ tính hơn, có thể viết ở chỗ làm, trong quán cà phê hay trên xe lửa, nhưng những lúc ấy, họ vẫn phải thu mình lại, tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, lắng vào trong, chỉ chạy đuổi theo trí tưởng tượng và tư tưởng của mình, nghe ngóng từng xao động nho nhỏ, khẽ nhàng và tế vi trong chính tâm hồn của mình. Như vậy, ngay ở những chỗ đông người nhất, tập nập nhất, ồn ào nhất, họ cũng vẫn cô đơn.
Dĩ nhiên, trong đời sống hàng ngày, với tư cách một con người hoặc một công dân, người cầm bút vẫn phải giao tiếp với người khác, từ gia đình đến xã hội.
Như mọi người khác. Nhưng với tư cách một người cầm bút, lúc sáng tác, hắn có một thế giới riêng, thế giới bên trong của hắn, ở đó, không có cửa ngõ nào thông ra bên ngoài. Thế giới bên ngoài cung cấp cho hắn những hiểu biết, kinh nghiệm, hình ảnh và nhân vật, nhưng chỉ ở thế giới bên trong, hắn mới bắt gặp tư tưởng, cảm xúc và giọng điệu, ba yếu tố làm cho hắn trở thành một nhà văn hay một nhà thơ. Thế giới bên ngoài có thể giúp hắn trở thành trí thức uyên bác hay lịch lãm, nhưng chỉ với thế giới bên trong, hắn mới có thể trở thành một nghệ sĩ sâu sắc và độc đáo. Hắn là kẻ gieo hạt bên ngoài nhưng lại gặt hái từ bên trong. Bên ngoài, hắn nhặt nhạnh và gom góp của cải; nhưng chỉ với những gì được tìm thấy từ bên trong, hắn mới trở thành giàu có. Ở cái cõi bên trong ấy, hắn hoàn toàn một mình. Cô đơn và cô độc.
Sự cô đơn ấy làm cho hắn khác người. Du hành, với người khác, là đi ra ngoài, đến những nơi xa lạ, ngắm nghía những kỳ quan của thiên nhiên hay của người khác; với người cầm bút, là đi ngược vào trong, đến tận đáy tâm hồn, để ngắm nghía những ngóc ngách bí hiểm của những gì ngỡ như rất quen thuộc, ở đó, bản thân hắn biến thành một kỳ quan cần được khám phá. Ở nhiều loại hình nghệ thuật khác, người ta có thể song tấu hay hợp tấu. Trong văn chương, chỉ có một trò chơi duy nhất: độc tấu. Lúc nào cũng độc tấu. Ngay cả với những tác phẩm viết chung, mỗi người vẫn sáng tác một mình. Và chỉ chơi cái trò chơi của mình. Một mình mơ mộng. Một mình nghĩ ngợi. Một mình nhớ nhung, dù phần lớn, nói theo Xuân Diệu, “nhớ xa xôi”, hay nói theo Quang Dũng, “nhớ ơ hờ”.
Một mình lắng nghe những xôn xao trong lòng mình. Một mình tìm cho mình một giọng nói. Từ bỏ cái một mình ấy để lao vào giàn đồng ca của thời đại, do chế độ điều khiển, chỉ là một cách tự sát. Dưới các chế độ cộng sản, ở Việt Nam cũng như trên khắp thế giới, bao nhiêu tên tuổi thuộc loại lỗi lạc, đã tự giết mình bằng cách ấy.
Số phận của người cầm bút là số phận cô đơn. Trải qua mấy ngàn năm, điều kiện sáng tác và phổ biến tác phẩm có thể thay đổi, hơn nữa, với đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật, thay đổi thật nhanh, nhưng cái số phận cô đơn ấy, từ Homer và Khuất Nguyên đến tận ngày nay, không hề thay đổi. Ở đâu và thơ bàn về sáng tác, ý kiến mỗi người một khác, có người đứng (Hemingway, Virginia Woolf), có người ngồi (phần đông), có người nằm (Marcel Proust, James Joyce,Truman Capote); có người viết tay, có người thích gõ rào rào trên bàn máy đánh chữ hay bàn phím computer; có người viết nhanh (Alexandre Dumas cha, Jack London, William Golding, Anthony Trollope, Stephen King), có người viết chậm (James Joyce, Dorothy Parker); có người cần cà phê để tỉnh táo (Voltaire và Balzac - tương truyền mỗi người uống khoảng từ 40 đến 50 ly cà phê mỗi ngày!), có người uống rượu để tìm cảm hứng (Lý Bạch, William Faulkner, Raymond Carver, Charles Bukowski, Edgar Allan Poe, Jack Kerouac, F. Scott Fitzgerald), nhưng hầu như ai cũng giống nhau ở một điểm: tất cả đều xem sự cô đơn như điều kiện, thậm chí, yếu tính của sáng tác. Sử gia Edward Gibbon có một câu nói nổi tiếng: “Sự đối thoại làm tăng hiểu biết nhưng chính sự đơn độc mới là ngôi trường của các thiên tài.” Johann Wolfgang von Goethe cũng có câu nói tương tự: “Người ta có thể được giáo dục trong xã hội, nhưng người ta chỉ được gợi hứng trong sự đơn độc.” Nói chung về nghệ thuật, Picasso nhận định: “Không có sự đơn độc lớn sẽ không có một tác phẩm nghiêm túc nào được ra đời.”
Nhưng các nhà văn và nhà thơ không phải chỉ cô đơn trong quá trình sáng tác. Họ còn cô đơn cả trong quá trình phổ biến tác phẩm. Viết, nói chung, bao giờ cũng để cho người khác đọc. Tác phẩm chỉ thực sự hiện hữu khi được đọc. Theo Roland Barthes, không phải tác giả mà chính độc giả mới là kẻ làm cho tác phẩm hiện hữu như một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất và có ý nghĩa. Nhưng, về phương diện xã hội, giữa tác giả và độc giả bao giờ cũng có một khoảng cách lớn lao. Một họa sĩ hoặc một điêu khắc gia có thể nhìn thấy phản ứng của những người thưởng ngoạn trong các cuộc triển lãm. Thấy được sự thích thú hay ngưỡng mộ của họ. Với một nhạc sĩ hay một ca sĩ, cái thấy ấy còn cụ thể hơn nữa. Phản ứng của con người, khi nghe nhạc, thường rất nồng nhiệt. Không ai cần giấu giếm. Sự nồng nhiệt toát ra từ những tràng pháo tay hay từ những ánh mắt đắm đuối. Còn các nhà văn và nhà thơ thì hầu như không bao giờ được nghe những tiếng vỗ tay. Không ai vỗ tay khi đọc một cuốn sách, dù là một cuốn sách tuyệt hay. Ngay cả khi cuốn sách khiến người ta xúc động đến độ chảy nước mắt thì tác giả cũng không bao giờ được nhìn thấy. Người đọc bao giờ cũng đọc một mình. Nếu viết là một công việc cô đơn; đọc cũng cô đơn không kém. Quan hệ giữa tác giả và độc giả, do đó, là một thứ quan hệ oái oăm giữa những kẻ cô đơn.
Ở trên, tôi có viết: nhà văn hay nhà thơ không nghe được tiếng vỗ tay. Dĩ nhiên, trong cuộc sống, ở những buổi nói chuyện hay đọc thơ, họ cũng có thể nhận được những tiếng vỗ tay cổ vũ của người nghe. Nhưng đó là một trường hợp khác: Họ được vỗ tay vì bài nói hay giọng đọc chứ không phải vì các bài viết vốn là nơi chứa đựng những tinh hoa sâu thẳm nhất của họ. Nói cách khác, họ được vỗ tay ở cái phần kém cỏi nhất của họ: Nói. Không có nhà văn hay nhà thơ tài hoa nào có thể nói hay hơn những gì họ viết. Cái được nói, dù mạch lạc, lưu loát hay dí dỏm đến mấy, cũng chỉ là một bãi quặng. Chỉ trong cái viết mới có vàng đã được tinh chế. Bởi vậy, trừ các nhà văn và nhà thơ bình dân, hầu như không có người cầm bút thực sự nào có thể thấy thỏa mãn với những tràng pháo tay của người nghe: Ðiều họ cần nhất là những phản hồi của người đọc.
Người đọc khác với người nghe.
Viết: cô đơn. Ðọc: cũng cô đơn. Trong thế giới văn chương, sự gặp gỡ giữa người viết và người đọc là sự gặp gỡ giữa hai cái-một-mình. Trong thầm lặng. Gặp gỡ mà vẫn cô đơn.
May, quan hệ giữa những kẻ cô đơn ấy lại có thể là một thứ quan hệ sâu sắc và bền bỉ hiếm thấy, nếu không muốn nói là không bao giờ thấy, trong các loại hình nghệ thuật khác. Không có một bức tranh, một bức tượng hay một bản nhạc nào có thể làm thay đổi cách suy nghĩ hay cách sống của một con người.
Nhưng với sách thì có. Ðã có nhiều người nói, thậm chí, xuất bản những cuốn sách mang nhan đề “Những cuốn sách làm thay đổi thế giới”. Thánh Kinh, Coran, Những bài giảng của đức Phật, luận ngữ, đạo đức kinh, những cuốn sách về dân chủ của Alexis de Tocqueville, về tự do của John Stuart Mill, về pháp chế của Montesquieu, về chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx, về độc tài của George Orwell, về chính trị của Niccolo Michiavelli, về phân tâm học của Sigmund Freud, về triết học của Nietzsche, v.v. đã làm thay đổi thế giới.
Thế giới còn thay đổi được, huống gì là từng cá nhân.
Có lẽ nhờ sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc ấy, quan hệ giữa tác giả và độc giả, về bản chất, khác với quan hệ giữa các nghệ sĩ khác với các khán giả và thính giả của họ. Nhà văn Võ Phiến, trong bài “Viết lách” in trong tập Cuối Cùng (2009), có một nhận xét tinh tế là trong tiếng Việt chỉ có chữ “bạn đọc” chứ không có chữ bạn nhìn, bạn xem và bạn nghe. Khán giả lúc nào cũng là khán giả; khi được Việt hóa, chúng ta có: người xem. Thính giả lúc nào cũng là thính giả; khi được Việt hóa, chúng ta có: người nghe. Nhưng độc giả, ngoài chữ người đọc chung chung và xa cách, chúng ta còn có: bạn đọc. Võ Phiến trầm trồ: “Nghề văn hay nghề viết quả kỳ cục. Cổ lai nghề đâu có nghề chỉ nhằm vào một loại khách hàng duy nhất là ‘bạn’.” (tr. 154)
Mà không phải chỉ trong quan hệ giữa tác giả với độc giả mới có tình bạn. Giữa các tác giả với nhau cũng có tình bạn. Chúng ta thường nói đến bạn văn hay bạn thơ, nhưng không ai nói đến bạn vẽ, bạn đàn hay bạn hát; bạn họa hay bạn nhạc. Trong các loại hình nghệ thuật, hầu như chỉ có trong văn chương là có những tình bạn khắng khít, sâu đậm và lâu dài. Rất nhiều tình bạn đã đi vào lịch sử và trở thành giai thoại. Trong lĩnh vực hội họa hay âm nhạc, tình bạn giữa các văn nghệ sĩ với nhau, nếu có, cũng chỉ là họa hoằn. Nhà văn Gertrude Stein có lần nhận xét là Picasso có rất ít, cực ít, bạn bè trong giới họa sĩ. Bạn của ông toàn là các nhà văn và các nhà thơ. Nhìn vào giới văn nghệ sĩ Việt Nam, chúng ta cũng có thể thấy rõ điều ấy.
Chính tình bạn sâu đậm giữa các tác giả và độc giả cũng như giữa các tác giả với nhau đã làm cho công việc viết lách bớt đi chút cô đơn và hiu quạnh.
Cũng đỡ.
***
Chú thích:
Bài trên, tôi viết lại từ bài nói chuyện trong buổi ra mắt 3 cuốn sách mới của tôi (phản tỉnh và phản biện; văn học Việt Nam tại Úc: Chính trị và thi pháp của lưu vong; và Thơ Lê Văn Tài) tại giảng đường đại học Victoria ở Melbourne, Úc vào chiều Chủ Nhật 16 tháng 2, 2014. Hôm ấy, sách không đủ cung cấp cho những người tham dự. Với những người ấy, cũng như với bạn đọc ở xa, nếu muốn, có thể mua online tại Người Việt Shop: hoặc trên www.amazon.com.

Không được đổ lỗi cho dân
Nguyễn Văn Khải –
Ông già Ôzôn (Danlambao) - Từ trưa ngày 24/2, các báo Việt Nam ào ạt viết về vụ tai nạn ở cầu Chu Va 6, Tam Đường, Lai Châu: Đoàn người đưa tang đang qua cầu thì cầu bị lật sang một bên như – đỉnh màn bị đứt mất một dây treo. Ngay hôm đó trên các báo đã thấy ảnh ốc neo bị rời ra làm hai. Giống như khi xảy ra tai nạn cầu cánh ngầm trên tuyến Sài Gòn – Vũng Tàu, tiến sĩ Đinh La Thăng – Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải đã tới ngay hiện trường để chỉ đạo, tìm kiếm nguyên nhân và khắc phục hậu quả. Các báo đều đăng rằng ông đã phát hiện cầu được xây dựng không trùng với thiết kế và chỉ thị cho cán bộ trong ngành phải kiểm tra độ an toàn của tất cả các cầu treo trong nước nhất là ở vùng sâu vùng xa. Tiếp tục tìm kiếm đầy đủ các nguyên nhân gây ra “sập” cầu đây là việc làm rất có trách nhiệm của người đứng đầu ngành giao thông vận tải của Việt Nam. Xong, tiếc rằng việc triển khai tìm kiếm nguyên nhân đang có vấn đề.
Trước hết cây cầu treo này không sập mà chỉ đứt ốc neo – dân dã gọi là đứt dây chằng. Hàng trăm bức ảnh chụp ốc neo đứt đôi cho ta thấy chất lượng của ốc rất kém kể cả từ vật liệu cho tới công nghệ tạo ra nó. Với ba ốc neo còn lại chúng ta có thể xác định được: độ chịu căng dãn, độ chịu nén, độ chịu uốn và độ chịu xoắn của mỗi con ốc. Tôi đảm bảo rằng dù có kéo bốn cái ốc neo này với một lực bằng tổng trọng lượng cầu, trọng lượng những người đi qua và quan tài ốc neo cũng không thể tách làm đôi với mặt cắt rất phẳng như vậy vì bốn ốc neo này có thể chịu được lực kéo dãn còn lớn hơn rất nhiều lần. Đây là hiện tượng vật lý không thông thường, không được học trong trường phổ thông, đại học, mà chỉ có những người nghiên cứu áp dụng xung lực lớn trong thời gian ngắn để bẻ gãy những thanh gang lớn mới biết đến – tôi đã giảng về bài học này cho các học viên khoa xe năm 1977 trong chương trình “sức bền vật liệu”. Nói khác đi việc ốc neo tách làm hai không phải do nguyên nhân quá tải như ông Thiếu tướng, Giám đốc công an Lai Châu hoặc ông trưởng phòng cảnh sát điều tra của sở công an này yêu cầu các phóng viên tạm coi là như vậy.
Ốc neo đứt làm đôi cũng không phải là do hiện tượng cộng hưởng. Có một dây phơi quần áo được gõ đều đều dây sẽ rung động khi tần số gõ bằng tần số dao động riêng của dây phơi thì dây phơi sẽ dao động với biên độ cực đại – đây là kiến thức về dao động cưỡng bức và cộng hưởng ở phổ thông và vật lý đại cương. Nếu nhiều người cùng gõ dây mà tần số gõ của mọi người như nhau và cùng pha (tức là cùng gõ một lúc) thì sẽ ra hiện tượng cộng hưởng có biên độ lớn hơn trường hợp trước rất nhiều còn nếu như có nhiều người gõ ngược pha nhau và tần số gõ không trùng với tần số dao động riêng của dây thì dây dao động rất ít. Trong trường hợp tai nạn ở cầu trao Chu Va, số người đi qua cso thể nhiều hơn 50 người nhưng không bước đều nhau, nhất là những người khiêng quan tài thì hiện tượng cộng hưởng càng không thể xảy ra, ông Nguyễn Văn Thuấn – Vụ trưởng Vụ an toàn giao thông, Bộ giao thông vận tải và Giáo sư Phan Huy Pháp – Giảng viên chính của đại học giao thông khẳng định với các nhà báo: Do cộng hưởng là không phù hợp với lý thuyết và thực tiễn.
Nhìn vào cái cầu bị lật và ốc neo ta thấy chúng được sơn màu đỏ ở mặt dưới của cầu do bị nắng rọi ít nên màu còn đậm. Từ năm 1980 đến nay, tôi chưa tháy có cái cầu nào của nước ngoài sơn màu này. Vì đây là sơn chống gỉ, sau khi nó khô phải sơn màu khác lên. Hơn 30 năm trước, chúng ta thường thấy trên cầu Long Biên có những tốp thợ sơn cạo gỉ trên thành cầu rồi sơn đỏ và sau đó là sơn màu ghi, trên các cầu lớn của các quốc lộ cũng đều có thêm lớp sơn màu trên các lớp sơn chống gỉ. Điều này chứng tỏ quy trình xây cầu không thực hiện đầy đủ - ăn bớt sơn.
Đặc biệt từ mùng 3/3 các báo đưa tin trụ cầu được xây bằng gạch nung màu đỏ có lỗ với kích thước 650x300mm trong khi đó trụ cổng nhà tôi là 500x500mm chịu lực kéo xuống của hai cánh cửa được làm bằng ống tuýp nước chỉ sau một năm đã có vết rạn ở chỗ chôn giá bản lề. Với cấu tạo là gạch nung chất lượng kém có lỗ và xi măng rởm thì tru cầu này làm sao mà vững được, làm sao mà có thể chôn giữ dây chằng.
Một ốc neo của cầu Chu Va 6 bị tách làm đôi với mặt cắt rất phẳng mà ai cũng có thể thấy được là nguyên nhân gây ra tai nạn. Tại sao ốc neo này bị tách làm hai? Rất dễ trả lời. Ngoài ra người ta còn thấy nhiều sai phạm khác mặc dù chưa được biết bản thiết kế, chưa được biết quá trình giám sát và thẩm định cầu như thế nào. Để không xảy ra tai nạn như ở cầu Chu Va 6, tốt nhất tiến sĩ Đinh La Thăng – Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải cho mọi người quan tâm tới vụ này (thực ra số người quan tâm không nhiều vì trong 0,21 giây chỉ có 495000 kết quả trên Google) thấy rõ sơ đồ thiết kế yêu cầu các thông số kỹ thuật của các vật liệu, dụng cụ, linh kiện xây dựng cầu, hình ảnh cầu khi hoàn thành sẽ có nhiều người góp ý. Đây là hiện tượng vật lý sẽ có rất nhiều người giải thích được chứ không chỉ có những người trong ngành giao thông hoặc công an.
Nguyễn Văn Khải – Ông già Ôzôn
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Phương Tây có thể làm gì với Nga?
Trước một Putin quyết tâm đưa quân đội vào Ukraine và không có dấu hiệu nhượng bộ,
các nước phương Tây ít khả năng đáp trả bằng quân sự mà chỉ xem xét các biện pháp ngoại giao, kinh tế để cô lập Nga.

Quân đội Nga và các tay súng không rõ thuộc bên nào được triển khai tại Crimea khiến cuộc khủng hoảng tại Ukraine càng trở nên căng thẳng.
Ảnh: AP
Thượng viện Nga hôm 1/3 chấp thuận đề nghị của Tổng thống Vladimir Putin đưa quân vào Ukraine, động thái có thể làm leo thang khủng hoảng ở Ukraine. Putin cho biết ông sẽ làm những việc cần thiết để "bảo vệ những công dân Nga cũng như những người gốc Nga" vì làn sóng bạo loạn hiện đã xuất hiện ở các thị trấn phía đông Ukraine. Quân đội Nga cũng được điều động thêm đến biên giới để tham gia cuộc tập trận quy mô lớn ngay cạnh Ukraine trong tuần này.
Trong khi Nga tỏ ra rất dứt khoát, Mỹ và Liên minh châu Âu dường như chưa có một giải pháp rõ ràng để giải quyết khủng hoảng Ukraine.
Tính hợp pháp của chính quyền mới
Cả Nga và phương Tây đều khẳng định mong muốn một giải pháp hòa bình, nhưng cả hai bên lại không thể thống nhất trong vấn đề chính quyền hợp pháp tại Ukraine.
Phương Tây công nhận chính quyền lâm thời do Quốc hội Ukraine ủy quyền. Còn phía Nga lại cho rằng đó là một chính phủ bất hợp pháp của "phe quá khích cực hữu" với xu hướng "bài ngoại, chống Do Thái và phát xít mới", và là kết quả của "cuộc đảo chính" lật đổ Tổng thống Viktor Yanukovych một cách phi pháp.
Ông Putin muốn phương Tây và Kiev quay trở lại với các thỏa thuận đã ký với Yanukovych ngày 21/2 để tổ chức hội đàm về cải cách hiến pháp. Theo Moscow, việc làm này nhằm đáp ứng nhu cầu của tất cả các bên và khu vực, nói cách khác chính là cải cách Ukraine thành một liên bang trao nhiều quyền tự trị hơn cho các khu vực nói tiếng Nga và cộng hòa tự trị Crimea.
Nhưng điều đó đồng nghĩa với việc công nhận ông Yanukovych vẫn là tổng thống và phủ nhận tính hợp pháp của chính quyền Kiev mới nên phương Tây sẽ không đồng ý với mong muốn này của Moscow.
Biện pháp quân sự

Nga cũng được ủng hộ rộng rãi ở khu vực phía đông Ukraine. Ảnh: Reuters
Dù nhận được tín hiệu cầu cứu của Kiev, phương Tây vẫn chưa có hành động cụ thể nào. NATO và các nước EU mới chỉ triệu tập các cuộc họp khẩn cấp. Mỹ lên tiếng cáo buộc Nga có hành vi xâm lược Ukraine và vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cảnh báo nếu Nga không lập tức rút quân khỏi Ukraine, quan hệ Mỹ-Nga và vị thế của Nga trên trường quốc tế sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.
Tuy nhiên, có ít dấu hiệu cho thấy NATO sẽ có những đáp trả quân sự. Nếu có thì cũng chỉ là tham gia bảo đảm an ninh biên giới Ba Lan - Ukraine, hoặc chỉ dừng lại ở các biện pháp ngoại giao và kinh tế để cô lập Nga.
Nhưng ngay cả khi các nước phương Tây áp đặt các biện pháp trừng phạt hoặc các biện pháp khác, ông Putin cũng có thể biết được rằng giống như tại Gruzia, việc này không thể kéo dài được lâu.
Sau một hoặc hai năm, khi các chính phủ phương Tây bước vào nhiệm kỳ mới thì các nhà lãnh đạo mới sẽ tái thiết quan hệ với Moscow, vì thấy rằng không thể đối đầu quá lâu với một nước Nga quyền lực và có vai trò quan trọng đối với sự ổn định quốc tế như vậy.
Đánh vào kinh tế là chơi dao hai lưỡi
Phương Tây có thể áp dụng các biện pháp đánh thẳng vào các nguồn lợi kinh tế của Nga mà không cần sự thông qua của Liên Hợp Quốc. Nhưng đánh vào kinh tế cũng giống như chơi dao hai lưỡi.
Nga là nhà cung cấp khí đốt và dầu lớn nhất cho EU. 25% lượng khí đốt của EU tới từ Nga. Sự phụ thuộc này khiến khối liên minh của 28 nước thành viên khó có thể mạnh tay. EU không có những phương án khác để bù đắp lượng khí đốt từ Nga, dù sau một mùa đông không quá lạnh, liên minh này có thể đủ khí đốt để bù đắp sự thiếu hụt trong vài tháng.
Van áp suất trên một đường ống khí đốt của Nga. Ảnh minh họa: AFP.
Sergei Glazyev, cố vấn kinh tế điện Kremlin cho rằng Moscow có thể dừng việc sử dụng đồng USD, chuyển sang dùng các đồng ngoại tệ khác trong giao dịch thương mại quốc tế để bớt phụ thuộc vào Washington. Đồng thời, ông còn cảnh báo hệ thống tài chính Mỹ phải đối mặt "với nguy cơ sụp đổ" nếu điều này thực sự xảy ra.
"Trong trường hợp lệnh trừng phạt áp dụng đối với các tổ chức chính phủ, chúng tôi buộc phải tuyên bố rằng việc hoàn lại những khoản nợ mà ngân hàng Mỹ cung cấp cho Nga là không thể xảy ra", Voice of Russia dẫn lời Glazyev cho biết thêm.
"Các biện pháp trừng phạt là con dao hai lưỡi. Nếu Mỹ chọn cách phong tỏa tài sản của Nga thì thị trường cổ phiếu cùng những khoản nợ bằng đồng USD của Moscow cũng sẽ bị đóng băng. Điều này có nghĩa là ngân hàng cũng như các doanh nghiệp Nga không thể trả nợ cho đối tác Mỹ".
Các biện pháp hạn chế thị thực và đóng băng tài sản cũng từng được sử dụng trước đây. Mỹ đã áp dụng các biện pháp này với những quan chức Nga có liên quan tới việc bắt, cái chết và phiên tòa xét xử sau khi qua đời của luật sư Sergei Magnitsky. Những sự trừng phạt khá hạn chế này tác động xấu tới mối quan hệ Mỹ - Nga, dẫn tới các biện pháp trả đũa, trong đó có một lệnh cấm người Mỹ nhận con nuôi ở Nga.
Tuy nhiên, Francesco Giumelli, một chuyên gia về các lệnh trừng phạt quốc tế tại đại học Groningen ở Hà Lan, cho rằng những biện pháp nêu trên không thể được sử dụng để nhằm vào bất cứ người giàu nào ở Nga. "Về mặt pháp lý, rất khó để làm như vậy. Làm sao bạn có thể liên hệ những người đó với một vụ việc cụ thể nào ở Crimea? Bạn sẽ cần phải có những bằng chứng rằng họ liên quan tới điều sai trái nào đó".
Giumelli cũng không cho rằng việc áp đặt lệnh cấm đi lại đối với các quan chức cấp cao của Nga có liên quan tới những gì đang xảy ra ở Crimea sẽ mang lại lợi ích cho Ukraine. "Thật dễ để nói 'chúng ta cần phải mạnh mẽ', nhưng sẽ thế nào nếu họ (người Nga) cũng nói như vậy? Tôi không nghĩ là EU sẵn sàng đẩy tình hình tới mức mà có ai đó sẽ phải thoái lui", chuyên gia này nhận định.
Hoàng Uyên
(theo BBC)
Trước một Putin quyết tâm đưa quân đội vào Ukraine và không có dấu hiệu nhượng bộ,
các nước phương Tây ít khả năng đáp trả bằng quân sự mà chỉ xem xét các biện pháp ngoại giao, kinh tế để cô lập Nga.

Quân đội Nga và các tay súng không rõ thuộc bên nào được triển khai tại Crimea khiến cuộc khủng hoảng tại Ukraine càng trở nên căng thẳng.
Ảnh: AP
Thượng viện Nga hôm 1/3 chấp thuận đề nghị của Tổng thống Vladimir Putin đưa quân vào Ukraine, động thái có thể làm leo thang khủng hoảng ở Ukraine. Putin cho biết ông sẽ làm những việc cần thiết để "bảo vệ những công dân Nga cũng như những người gốc Nga" vì làn sóng bạo loạn hiện đã xuất hiện ở các thị trấn phía đông Ukraine. Quân đội Nga cũng được điều động thêm đến biên giới để tham gia cuộc tập trận quy mô lớn ngay cạnh Ukraine trong tuần này.
Trong khi Nga tỏ ra rất dứt khoát, Mỹ và Liên minh châu Âu dường như chưa có một giải pháp rõ ràng để giải quyết khủng hoảng Ukraine.
Tính hợp pháp của chính quyền mới
Cả Nga và phương Tây đều khẳng định mong muốn một giải pháp hòa bình, nhưng cả hai bên lại không thể thống nhất trong vấn đề chính quyền hợp pháp tại Ukraine.
Phương Tây công nhận chính quyền lâm thời do Quốc hội Ukraine ủy quyền. Còn phía Nga lại cho rằng đó là một chính phủ bất hợp pháp của "phe quá khích cực hữu" với xu hướng "bài ngoại, chống Do Thái và phát xít mới", và là kết quả của "cuộc đảo chính" lật đổ Tổng thống Viktor Yanukovych một cách phi pháp.
Ông Putin muốn phương Tây và Kiev quay trở lại với các thỏa thuận đã ký với Yanukovych ngày 21/2 để tổ chức hội đàm về cải cách hiến pháp. Theo Moscow, việc làm này nhằm đáp ứng nhu cầu của tất cả các bên và khu vực, nói cách khác chính là cải cách Ukraine thành một liên bang trao nhiều quyền tự trị hơn cho các khu vực nói tiếng Nga và cộng hòa tự trị Crimea.
Nhưng điều đó đồng nghĩa với việc công nhận ông Yanukovych vẫn là tổng thống và phủ nhận tính hợp pháp của chính quyền Kiev mới nên phương Tây sẽ không đồng ý với mong muốn này của Moscow.
Biện pháp quân sự

Nga cũng được ủng hộ rộng rãi ở khu vực phía đông Ukraine. Ảnh: Reuters
Dù nhận được tín hiệu cầu cứu của Kiev, phương Tây vẫn chưa có hành động cụ thể nào. NATO và các nước EU mới chỉ triệu tập các cuộc họp khẩn cấp. Mỹ lên tiếng cáo buộc Nga có hành vi xâm lược Ukraine và vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cảnh báo nếu Nga không lập tức rút quân khỏi Ukraine, quan hệ Mỹ-Nga và vị thế của Nga trên trường quốc tế sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.
Tuy nhiên, có ít dấu hiệu cho thấy NATO sẽ có những đáp trả quân sự. Nếu có thì cũng chỉ là tham gia bảo đảm an ninh biên giới Ba Lan - Ukraine, hoặc chỉ dừng lại ở các biện pháp ngoại giao và kinh tế để cô lập Nga.
Nhưng ngay cả khi các nước phương Tây áp đặt các biện pháp trừng phạt hoặc các biện pháp khác, ông Putin cũng có thể biết được rằng giống như tại Gruzia, việc này không thể kéo dài được lâu.
Sau một hoặc hai năm, khi các chính phủ phương Tây bước vào nhiệm kỳ mới thì các nhà lãnh đạo mới sẽ tái thiết quan hệ với Moscow, vì thấy rằng không thể đối đầu quá lâu với một nước Nga quyền lực và có vai trò quan trọng đối với sự ổn định quốc tế như vậy.
Đánh vào kinh tế là chơi dao hai lưỡi
Phương Tây có thể áp dụng các biện pháp đánh thẳng vào các nguồn lợi kinh tế của Nga mà không cần sự thông qua của Liên Hợp Quốc. Nhưng đánh vào kinh tế cũng giống như chơi dao hai lưỡi.
Nga là nhà cung cấp khí đốt và dầu lớn nhất cho EU. 25% lượng khí đốt của EU tới từ Nga. Sự phụ thuộc này khiến khối liên minh của 28 nước thành viên khó có thể mạnh tay. EU không có những phương án khác để bù đắp lượng khí đốt từ Nga, dù sau một mùa đông không quá lạnh, liên minh này có thể đủ khí đốt để bù đắp sự thiếu hụt trong vài tháng.
Van áp suất trên một đường ống khí đốt của Nga. Ảnh minh họa: AFP.
Sergei Glazyev, cố vấn kinh tế điện Kremlin cho rằng Moscow có thể dừng việc sử dụng đồng USD, chuyển sang dùng các đồng ngoại tệ khác trong giao dịch thương mại quốc tế để bớt phụ thuộc vào Washington. Đồng thời, ông còn cảnh báo hệ thống tài chính Mỹ phải đối mặt "với nguy cơ sụp đổ" nếu điều này thực sự xảy ra.
"Trong trường hợp lệnh trừng phạt áp dụng đối với các tổ chức chính phủ, chúng tôi buộc phải tuyên bố rằng việc hoàn lại những khoản nợ mà ngân hàng Mỹ cung cấp cho Nga là không thể xảy ra", Voice of Russia dẫn lời Glazyev cho biết thêm.
"Các biện pháp trừng phạt là con dao hai lưỡi. Nếu Mỹ chọn cách phong tỏa tài sản của Nga thì thị trường cổ phiếu cùng những khoản nợ bằng đồng USD của Moscow cũng sẽ bị đóng băng. Điều này có nghĩa là ngân hàng cũng như các doanh nghiệp Nga không thể trả nợ cho đối tác Mỹ".
Các biện pháp hạn chế thị thực và đóng băng tài sản cũng từng được sử dụng trước đây. Mỹ đã áp dụng các biện pháp này với những quan chức Nga có liên quan tới việc bắt, cái chết và phiên tòa xét xử sau khi qua đời của luật sư Sergei Magnitsky. Những sự trừng phạt khá hạn chế này tác động xấu tới mối quan hệ Mỹ - Nga, dẫn tới các biện pháp trả đũa, trong đó có một lệnh cấm người Mỹ nhận con nuôi ở Nga.
Tuy nhiên, Francesco Giumelli, một chuyên gia về các lệnh trừng phạt quốc tế tại đại học Groningen ở Hà Lan, cho rằng những biện pháp nêu trên không thể được sử dụng để nhằm vào bất cứ người giàu nào ở Nga. "Về mặt pháp lý, rất khó để làm như vậy. Làm sao bạn có thể liên hệ những người đó với một vụ việc cụ thể nào ở Crimea? Bạn sẽ cần phải có những bằng chứng rằng họ liên quan tới điều sai trái nào đó".
Giumelli cũng không cho rằng việc áp đặt lệnh cấm đi lại đối với các quan chức cấp cao của Nga có liên quan tới những gì đang xảy ra ở Crimea sẽ mang lại lợi ích cho Ukraine. "Thật dễ để nói 'chúng ta cần phải mạnh mẽ', nhưng sẽ thế nào nếu họ (người Nga) cũng nói như vậy? Tôi không nghĩ là EU sẵn sàng đẩy tình hình tới mức mà có ai đó sẽ phải thoái lui", chuyên gia này nhận định.
Hoàng Uyên
(theo BBC)
Quả bom nợ ở Trung Quốc
Friday, March 07, 2014 7:31:56 PM
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, Thứ Sáu, 7 Tháng Ba, 2014, công ty Siêu Nhật Thái Dương ở Thượng Hải đã thú nhận không thể trả đủ số tiền lãi gần 90 triệu được Nguyên (14.6 triệu đô la Mỹ) cho các trái khoán mới phát hành hai năm trước. Ngày Thứ Ba, công ty này đã loan báo họ không thể đi vay nợ thêm để trả tiền lãi, sau khi cố gắng kiếm được khoảng 4 triệu đồng Nguyên.
Siêu Nhật Thái Dương thành lập năm 2003, chuyên bán các bản kính biến năng lượng mặt trời thành điện bán ra khắp thế giới, thuộc một ngành đã phát triển rất nhanh trong mươi năm gần đây. Ðây là công ty đầu tiên khai vỡ nợ trong thị trường nội địa Trung Quốc mà không được chính quyền ra tay cứu. Trước đó, có những công ty Trung Quốc đã khai vỡ nợ trên các trái khoán vay bằng đô la Mỹ, ở nước ngoài; như công ty Trại Duy Thái Dương ghi danh ở Cayman Islands, và công ty Suntech Power Holdings Co khai phá sản tại tòa án ở Mỹ.
Siêu Nhật Thái Dương phá sản, cho thấy Ðảng Cộng sản Trung Quốc đang làm đúng lời hứa hẹn gần đây, là để cho thị trường đóng vai trò quyết định trong sinh hoạt kinh tế, ít nhất đối với một công ty nhỏ và một món nợ nhỏ. Cho đến Tháng Giêng vừa qua, một quỹ đầu tư lớn là Trung Thành Tín Thác đã được nhà nước bỏ tiền ra cứu sau khi không có tiền trả nợ cho các trái chủ. Lý do khiến đảng Cộng sản phải cứu các trái phiếu này, không để cho vỡ nợ là vì những trái chủ mua nhiều phiếu nhất chính là các ngân hàng lớn do nhà nước làm chủ. Nếu để cho công ty phát hành khai phá sản thì cả hệ thống ngân hàng đều lâm nạn!
Các xí nghiệp nhà nước ở Trung Quốc thường vay nợ của các ngân hàng, vì bên cho vay và bên đi vay đều thuộc quyền đảng cộng sản; nếu không trả được nợ cũng xí xóa! Thị trường trái phiếu mới phát triển gần đây, khác với giao dịch ngân hàng, cho phép các xí nghiệp phát hành “giấy nợ” (trái phiếu), cho công chúng. Thị trường này đã lớn lên rất nhanh, hiện nay tổng số nợ đã có trị giá trên giấy tờ khoảng 4,200 tỷ đô la Mỹ; tương đương với số ngoại tệ dự trữ tại ngân hàng trung ương. Vụ vỡ nợ của Chaori Solar còn rất nhỏ, nhưng cho thấy thị trường trái phiếu trong nước Tầu đang bị đe dọa với nhiều vụ phá sản khác. Các công ty sản xuất khí cụ biến ánh sáng mặt trời thành điện đua nhau ra đời nhờ nhu cầu lớn trên thế giới, kỹ thuật dễ bắt chước các nước tiên tiến và tiền lương công nhân tương đối vẫn thấp.
Nhưng số xí nghiệp bước vào ngành này nhiều quá, vay tiền để phát triển khả năng sản xuất rất nhanh trong khi nhu cầu trên thế giới bắt đầu giảm dần. Chaori Solar là công ty đầu tiên bị vỡ nợ vì không bán được hàng, nhưng chắc không phải là công ty chót phá sản. Trong năm 2014 này sẽ có nhiều công ty cùng ngành điện mặt trời phải trả đến tiền vốn đã vay, tổng số vốn phải trả cho các trái phiếu đáo hạn lên tới gần 8 tỷ đô la.
Ngành điện mặt trời cũng tương đối nhỏ. Các món nợ, vay qua ngân hàng hoặc vay bằng trái phiếu, của các ngành khác cũng đang lo ngại khó trả được, thuộc công nghiệp luyện thép, nhôm, làm tàu thủy, và khai thác than. Tất cả đều do cùng một nguyên nhân là vay nợ để phát triển khả năng sản xuất trong khi nhu cầu trong nước và trên thế giới không tăng mà lại giảm.
Nợ đang là một mối lo lớn của nền kinh tế Trung Quốc. Nó có thể bùng nổ khi các công ty không thể trả được nợ cho các ngân hàng hay trái chủ, và các ngân hàng chứa quá nhiều “nợ xấu” không thể tiếp tục cho vay, cả nền kinh tế vì thế sẽ đình trệ, giống như cơn khủng hoảng bắt đầu năm 2007 ở Mỹ, khi quá nhiều người vay tiền mua nhà rồi không trả được nợ. Ngày Thứ Tư vừa qua, Thủ tướng Lý Khắc Trường đọc báo cáo trước 2,900 đại biểu quốc Hội đã tuyên bố chính phủ ông hứa sẽ “tháo gỡ quả bom nợ” không cho nó bùng nổ!
Công ty nghiên cứu Thomson thuộc hãng Reuters cho biết tổng số nợ của 945 công ty ghi danh trên các thị trường chứng khoán ở Trung Quốc đã tăng từ 1,820 tỷ được Nguyên năm 2008 lên tới 4,740 tỷ trong năm 2013, tức là tăng hơn hai lần trong năm năm. Trong năm năm vừa qua, tổng số nợ đã gia tăng, từ 120% Tổng Sản lượng Nội địa (GDP) lên tới 215% GDP. Hầu hết các món nợ chồng chất và sẽ thiếu khả năng trả tiền vốn và lãi cho các ngân hàng chính là các doanh nghiệp nhà nước lớn và các chính quyền địa phương. Năm 2007, thị trường trái phiếu của các doanh nghiệp trị giá tổng công an 800 tỷ đồng nguyên, năm 2013 đã tăng hơn 10 lần, thành 8,700 tỷ. Tỷ số nợ trên tài sản của các xí nghiệp Trung Quốc đã lên tới 93%, trong khi ở các nước Châu Á khác trong mười năm qua chỉ lên tới tỷ số trung bình là 70%.
Quả bom nợ tại Trung Quốc đã đe dọa bùng nổ từ ba bốn năm qua, nhưng được trì hoãn vì chính quyền trung ương vừa bỏ tiền ra cứu, vừa ra lệnh giảm bớt việc cho vay. Trong nền kinh tế nửa thị trường, nửa chỉ huy, đảng Cộng sản vừa đóng vai chủ nợ, qua các ngân hàng của nhà nước, vừa đóng vai con nợ, qua các công ty quốc doanh và cơ quan chính quyền địa phương.
Giống như tay phải rút tiền từ trong túi ra cho tay trái vay vậy. Khi số nợ xấu gia tăng đến mức đe dọa, đảng cộng sản có thể ra lệnh cho tay phải giảm bớt, không cho tay trái vay nữa. Họ đã từng tăng lãi suất, tăng số dự trữ bắt buộc của các ngân hàng, để ban lệnh ngưng bớt việc gia tăng tín dựng. Khi số nợ xấu của các ngân hàng lên quá cao, nhà nước bèn bỏ tiền ra, lập ra một cơ quan đứng mua các món nợ xấu đó. Số nợ xấu trong sổ sách của các ngân hàng thương mại giảm ngay lập tức, vì đảng cộng sản lấy công quỹ “mua” các món nợ xấu đó; tức là lấy tiền của dân chúng bù lỗ cho việc làm ăn thất bại của cả hệ thống, từ các doanh nghiệp nhà nước đến các chính quyền địa phương, và các ngân hàng.
Tất nhiên, tình trạng đó gây ra một tâm lý “ỷ y” của tất cả các cán bộ trong hệ thống, trong ngôn ngữ kinh tế học gọi là “moral hazard” (mối rủi ro vì tinh thần ỷ lại). Nếu biết mình không bao giờ lo vỡ nợ, có thất bại cũng không lo mất chức, thì ai còn thấy cần phải cố gắng làm việc có hiệu quả hơn?
Cho nên trước đây hai tháng, Trung Ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc đã tuyên bố trong thời gian tới sẽ để cho thị trường đóng vai quyết định, thay vì để cho nhà nước quyết định tất cả. Muốn vậy, phải ra lệnh cho các ngân hàng giảm bớt số tín dụng, không được cho vay nhiều như trước nữa. Nhưng tuyên bố thì dễ, thực hiện mới khó.
Cũng trong ngày Thứ Tư vừa qua, ông Lý Khắc Cường đã nói trước quốc hội rằng sẽ đặt mục tiêu phát triển kinh tế trong năm nay là 7.5%. Con số này khiến nhiều người nghi ngờ khả năng kiềm chế tín dụng của chính quyền Bắc Kinh. Bởi vì muốn kinh tế phát triển ở mức 7.5%, kinh tế Trung Quốc không thể dựa vào người tiêu thụ tiêu tiền, như ở các nước tiên tiến. Thúc đẩy người dân tiêu thụ khó hơn, vì cơ cấu kinh tế vẫn không nâng đỡ người tiêu thụ. Dễ dàng hơn cả, là chính quyền Trung Quốc cứ tiếp tục đổ tiền cho các doanh nghiệp nhà nước và các chính quyền địa phương, cho họ đầu tư mở mang thêm những nhà máy sản xuất ra rồi không bán được hàng, và xây dựng thêm những xa lộ, phi cảng không cần thiết, và dựng những khu gia cư xây lên không ai mua ở.
Quả bom nợ vẫn tiếp tục đe dọa nặng nề trong năm nay. Số tiền nợ các ngân hàng không đáng lo bằng số tiền mà các quỹ tín thác (trust) cho vay. Ðây là một hệ thống “ngân hàng nửa sáng nửa tối,” vì họ có thể gây vốn, cho vay, nhưng không phải tuân theo luật lệ ngân hàng bình thường. Những quỹ tín thác là một phương tiện làm tiền của các đại gia, trong đó có cả các người quản lý các doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng nhà nước lớn. Họ có thể vay tiền của chính xí nghiệp hay ngân hàng của họ, đem góp vốn, rồi cho vay với lãi suất cao hơn, kiếm lời dễ dàng. Ðại đa số các xí nghiệp tư nhân không thể đi vay ngân hàng, đều đến vay các quỹ tín thác. Tổng số nợ mà các quỹ tín thác cho vay năm nay đã lên tới 4,600 tỷ đồng nguyên, tương đương với 750 tỷ đô la Mỹ. Trong năm 2014, một phần ba số nợ đó đáo hạn, mà rất nhiều công ty đứng vay nợ đang gặp khó khăn.
Số nợ của các chính quyền địa phương đã tăng 67% từ năm 2010, lên tới 17,900 tỷ đồng nguyên, khoảng 300 tỷ đô la trong năm 2013, theo số thống kê của nhà nước cộng sản. Trong năm nay, một nửa số nợ đó cũng đáo hạn. Theo ước tính của chuyên gia Ngân hàng Standard Chartered thì một nửa số nợ đó sẽ không trả được.
Theo cuộc nghiên cứu khác của ngân hàng JP Morgan thì tổng số nợ của các quỹ tín thác đã tăng gấp đôi trong ba năm, 2010 đến 2012, lên tới gần 6,000 tỷ Mỹ kim, lớn bằng 70% tổng sản lượng nội địa Trung Quốc. Trong năm 2013, tổng số đó đả tăng thêm 46% nữa. Ðiều nguy hiểm là hệ thống “ngân hàng nửa sáng nửa tối” này nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng trung ương.
Trung Quốc đang ngồi trên một quả bom nợ. Không biết bao giờ thì bom sẽ nổ.
Friday, March 07, 2014 7:31:56 PM
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, Thứ Sáu, 7 Tháng Ba, 2014, công ty Siêu Nhật Thái Dương ở Thượng Hải đã thú nhận không thể trả đủ số tiền lãi gần 90 triệu được Nguyên (14.6 triệu đô la Mỹ) cho các trái khoán mới phát hành hai năm trước. Ngày Thứ Ba, công ty này đã loan báo họ không thể đi vay nợ thêm để trả tiền lãi, sau khi cố gắng kiếm được khoảng 4 triệu đồng Nguyên.
Siêu Nhật Thái Dương thành lập năm 2003, chuyên bán các bản kính biến năng lượng mặt trời thành điện bán ra khắp thế giới, thuộc một ngành đã phát triển rất nhanh trong mươi năm gần đây. Ðây là công ty đầu tiên khai vỡ nợ trong thị trường nội địa Trung Quốc mà không được chính quyền ra tay cứu. Trước đó, có những công ty Trung Quốc đã khai vỡ nợ trên các trái khoán vay bằng đô la Mỹ, ở nước ngoài; như công ty Trại Duy Thái Dương ghi danh ở Cayman Islands, và công ty Suntech Power Holdings Co khai phá sản tại tòa án ở Mỹ.
Siêu Nhật Thái Dương phá sản, cho thấy Ðảng Cộng sản Trung Quốc đang làm đúng lời hứa hẹn gần đây, là để cho thị trường đóng vai trò quyết định trong sinh hoạt kinh tế, ít nhất đối với một công ty nhỏ và một món nợ nhỏ. Cho đến Tháng Giêng vừa qua, một quỹ đầu tư lớn là Trung Thành Tín Thác đã được nhà nước bỏ tiền ra cứu sau khi không có tiền trả nợ cho các trái chủ. Lý do khiến đảng Cộng sản phải cứu các trái phiếu này, không để cho vỡ nợ là vì những trái chủ mua nhiều phiếu nhất chính là các ngân hàng lớn do nhà nước làm chủ. Nếu để cho công ty phát hành khai phá sản thì cả hệ thống ngân hàng đều lâm nạn!
Các xí nghiệp nhà nước ở Trung Quốc thường vay nợ của các ngân hàng, vì bên cho vay và bên đi vay đều thuộc quyền đảng cộng sản; nếu không trả được nợ cũng xí xóa! Thị trường trái phiếu mới phát triển gần đây, khác với giao dịch ngân hàng, cho phép các xí nghiệp phát hành “giấy nợ” (trái phiếu), cho công chúng. Thị trường này đã lớn lên rất nhanh, hiện nay tổng số nợ đã có trị giá trên giấy tờ khoảng 4,200 tỷ đô la Mỹ; tương đương với số ngoại tệ dự trữ tại ngân hàng trung ương. Vụ vỡ nợ của Chaori Solar còn rất nhỏ, nhưng cho thấy thị trường trái phiếu trong nước Tầu đang bị đe dọa với nhiều vụ phá sản khác. Các công ty sản xuất khí cụ biến ánh sáng mặt trời thành điện đua nhau ra đời nhờ nhu cầu lớn trên thế giới, kỹ thuật dễ bắt chước các nước tiên tiến và tiền lương công nhân tương đối vẫn thấp.
Nhưng số xí nghiệp bước vào ngành này nhiều quá, vay tiền để phát triển khả năng sản xuất rất nhanh trong khi nhu cầu trên thế giới bắt đầu giảm dần. Chaori Solar là công ty đầu tiên bị vỡ nợ vì không bán được hàng, nhưng chắc không phải là công ty chót phá sản. Trong năm 2014 này sẽ có nhiều công ty cùng ngành điện mặt trời phải trả đến tiền vốn đã vay, tổng số vốn phải trả cho các trái phiếu đáo hạn lên tới gần 8 tỷ đô la.
Ngành điện mặt trời cũng tương đối nhỏ. Các món nợ, vay qua ngân hàng hoặc vay bằng trái phiếu, của các ngành khác cũng đang lo ngại khó trả được, thuộc công nghiệp luyện thép, nhôm, làm tàu thủy, và khai thác than. Tất cả đều do cùng một nguyên nhân là vay nợ để phát triển khả năng sản xuất trong khi nhu cầu trong nước và trên thế giới không tăng mà lại giảm.
Nợ đang là một mối lo lớn của nền kinh tế Trung Quốc. Nó có thể bùng nổ khi các công ty không thể trả được nợ cho các ngân hàng hay trái chủ, và các ngân hàng chứa quá nhiều “nợ xấu” không thể tiếp tục cho vay, cả nền kinh tế vì thế sẽ đình trệ, giống như cơn khủng hoảng bắt đầu năm 2007 ở Mỹ, khi quá nhiều người vay tiền mua nhà rồi không trả được nợ. Ngày Thứ Tư vừa qua, Thủ tướng Lý Khắc Trường đọc báo cáo trước 2,900 đại biểu quốc Hội đã tuyên bố chính phủ ông hứa sẽ “tháo gỡ quả bom nợ” không cho nó bùng nổ!
Công ty nghiên cứu Thomson thuộc hãng Reuters cho biết tổng số nợ của 945 công ty ghi danh trên các thị trường chứng khoán ở Trung Quốc đã tăng từ 1,820 tỷ được Nguyên năm 2008 lên tới 4,740 tỷ trong năm 2013, tức là tăng hơn hai lần trong năm năm. Trong năm năm vừa qua, tổng số nợ đã gia tăng, từ 120% Tổng Sản lượng Nội địa (GDP) lên tới 215% GDP. Hầu hết các món nợ chồng chất và sẽ thiếu khả năng trả tiền vốn và lãi cho các ngân hàng chính là các doanh nghiệp nhà nước lớn và các chính quyền địa phương. Năm 2007, thị trường trái phiếu của các doanh nghiệp trị giá tổng công an 800 tỷ đồng nguyên, năm 2013 đã tăng hơn 10 lần, thành 8,700 tỷ. Tỷ số nợ trên tài sản của các xí nghiệp Trung Quốc đã lên tới 93%, trong khi ở các nước Châu Á khác trong mười năm qua chỉ lên tới tỷ số trung bình là 70%.
Quả bom nợ tại Trung Quốc đã đe dọa bùng nổ từ ba bốn năm qua, nhưng được trì hoãn vì chính quyền trung ương vừa bỏ tiền ra cứu, vừa ra lệnh giảm bớt việc cho vay. Trong nền kinh tế nửa thị trường, nửa chỉ huy, đảng Cộng sản vừa đóng vai chủ nợ, qua các ngân hàng của nhà nước, vừa đóng vai con nợ, qua các công ty quốc doanh và cơ quan chính quyền địa phương.
Giống như tay phải rút tiền từ trong túi ra cho tay trái vay vậy. Khi số nợ xấu gia tăng đến mức đe dọa, đảng cộng sản có thể ra lệnh cho tay phải giảm bớt, không cho tay trái vay nữa. Họ đã từng tăng lãi suất, tăng số dự trữ bắt buộc của các ngân hàng, để ban lệnh ngưng bớt việc gia tăng tín dựng. Khi số nợ xấu của các ngân hàng lên quá cao, nhà nước bèn bỏ tiền ra, lập ra một cơ quan đứng mua các món nợ xấu đó. Số nợ xấu trong sổ sách của các ngân hàng thương mại giảm ngay lập tức, vì đảng cộng sản lấy công quỹ “mua” các món nợ xấu đó; tức là lấy tiền của dân chúng bù lỗ cho việc làm ăn thất bại của cả hệ thống, từ các doanh nghiệp nhà nước đến các chính quyền địa phương, và các ngân hàng.
Tất nhiên, tình trạng đó gây ra một tâm lý “ỷ y” của tất cả các cán bộ trong hệ thống, trong ngôn ngữ kinh tế học gọi là “moral hazard” (mối rủi ro vì tinh thần ỷ lại). Nếu biết mình không bao giờ lo vỡ nợ, có thất bại cũng không lo mất chức, thì ai còn thấy cần phải cố gắng làm việc có hiệu quả hơn?
Cho nên trước đây hai tháng, Trung Ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc đã tuyên bố trong thời gian tới sẽ để cho thị trường đóng vai quyết định, thay vì để cho nhà nước quyết định tất cả. Muốn vậy, phải ra lệnh cho các ngân hàng giảm bớt số tín dụng, không được cho vay nhiều như trước nữa. Nhưng tuyên bố thì dễ, thực hiện mới khó.
Cũng trong ngày Thứ Tư vừa qua, ông Lý Khắc Cường đã nói trước quốc hội rằng sẽ đặt mục tiêu phát triển kinh tế trong năm nay là 7.5%. Con số này khiến nhiều người nghi ngờ khả năng kiềm chế tín dụng của chính quyền Bắc Kinh. Bởi vì muốn kinh tế phát triển ở mức 7.5%, kinh tế Trung Quốc không thể dựa vào người tiêu thụ tiêu tiền, như ở các nước tiên tiến. Thúc đẩy người dân tiêu thụ khó hơn, vì cơ cấu kinh tế vẫn không nâng đỡ người tiêu thụ. Dễ dàng hơn cả, là chính quyền Trung Quốc cứ tiếp tục đổ tiền cho các doanh nghiệp nhà nước và các chính quyền địa phương, cho họ đầu tư mở mang thêm những nhà máy sản xuất ra rồi không bán được hàng, và xây dựng thêm những xa lộ, phi cảng không cần thiết, và dựng những khu gia cư xây lên không ai mua ở.
Quả bom nợ vẫn tiếp tục đe dọa nặng nề trong năm nay. Số tiền nợ các ngân hàng không đáng lo bằng số tiền mà các quỹ tín thác (trust) cho vay. Ðây là một hệ thống “ngân hàng nửa sáng nửa tối,” vì họ có thể gây vốn, cho vay, nhưng không phải tuân theo luật lệ ngân hàng bình thường. Những quỹ tín thác là một phương tiện làm tiền của các đại gia, trong đó có cả các người quản lý các doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng nhà nước lớn. Họ có thể vay tiền của chính xí nghiệp hay ngân hàng của họ, đem góp vốn, rồi cho vay với lãi suất cao hơn, kiếm lời dễ dàng. Ðại đa số các xí nghiệp tư nhân không thể đi vay ngân hàng, đều đến vay các quỹ tín thác. Tổng số nợ mà các quỹ tín thác cho vay năm nay đã lên tới 4,600 tỷ đồng nguyên, tương đương với 750 tỷ đô la Mỹ. Trong năm 2014, một phần ba số nợ đó đáo hạn, mà rất nhiều công ty đứng vay nợ đang gặp khó khăn.
Số nợ của các chính quyền địa phương đã tăng 67% từ năm 2010, lên tới 17,900 tỷ đồng nguyên, khoảng 300 tỷ đô la trong năm 2013, theo số thống kê của nhà nước cộng sản. Trong năm nay, một nửa số nợ đó cũng đáo hạn. Theo ước tính của chuyên gia Ngân hàng Standard Chartered thì một nửa số nợ đó sẽ không trả được.
Theo cuộc nghiên cứu khác của ngân hàng JP Morgan thì tổng số nợ của các quỹ tín thác đã tăng gấp đôi trong ba năm, 2010 đến 2012, lên tới gần 6,000 tỷ Mỹ kim, lớn bằng 70% tổng sản lượng nội địa Trung Quốc. Trong năm 2013, tổng số đó đả tăng thêm 46% nữa. Ðiều nguy hiểm là hệ thống “ngân hàng nửa sáng nửa tối” này nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng trung ương.
Trung Quốc đang ngồi trên một quả bom nợ. Không biết bao giờ thì bom sẽ nổ.
Một cuộc chiến tranh lạ lùng nhưng nghiêm trọng
Nguyễn Hưng Quốc
(Blog VOA)
Những cảnh tượng đang xảy ra tại Ukraine, đặc biệt tại bán đảo tự trị Crimea có cái gì thật lạ lùng. Giới truyền thông quốc tế đồng loạt gọi đó là một cuộc xâm lược thô bạo của Nga nhưng lại không, hoặc chưa, gọi đó là một cuộc chiến tranh. Cho đến nay, đó là cuộc xâm lược chưa có tiếng súng, hoặc nếu có, toàn là những phát súng chỉ thiên, không nhắm vào ai và cũng chưa làm ai đổ máu cả.
Lạ lùng: Bỗng dưng một ngày có những người lính vũ trang hiện đại tràn ngập trên đất Crimea, chiếm Quốc Hội, các cơ quan chính phủ và các phi trường, tuần hành trên các đường phố. Ai cũng biết đó là lính Nga, nhưng chính phủ Nga vẫn phủ nhận. Sau đó mấy ngày, xuất hiện các xe tăng cực kỳ tối tân mang bảng số của Nga, nhưng chính phủ Nga vẫn phủ nhận. Trên các công thự, cờ Nga được treo lên và tung bay phấp phới, Nga vẫn phủ nhận. Lính Nga ra tối hậu thư cho lính Ukraine đang đóng trên đất và trên cảng Crimea hoặc đầu hàng hoặc buông súng về nhà, nhưng chính phủ Nga vẫn tiếp tục phủ nhận. Lạ lùng hơn nữa: Những người lính Ukraine đóng ở Crimea hoàn toàn không kháng cự. Họ không đầu hàng và cũng không buông súng nhưng không kháng cự. Không những không kháng cự, có lúc họ còn có vẻ nhởn nhơ đá bóng hoặc hát hò trước mặt đám lính Nga đang hầm hầm cầm súng.
Không có tiếng súng nổ, nhưng ai cũng biết các xung đột tại Crimea cực kỳ căng thẳng và có ảnh hưởng nghiêm trọng, trước hết, đến vận mệnh của cả nước Ukraine: Nga mới tuyên bố sẽ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 16 tháng 3 để sáp nhập Crimea vào Nga, trở thành một tỉnh của Nga thay vì một phần của Ukraine như hiện nay. Nếu cuộc trưng cầu dân ý này xảy ra, chắc chắn Nga sẽ thành công: Gần 60% dân số tại Crimea là người gốc Nga, nói tiếng Nga và lúc nào cũng tự xem mình là người Nga. Nhưng chưa hết. Chiêu bài để xâm lược Crimea của Nga là nhằm bảo vệ những người Nga đang sống trên lãnh thổ Ukraine. Nhưng người Nga không phải chỉ sống ở Crimea. Theo cuộc điều tra dân số năm 2001, ở Ukraine, người gốc Nga gồm trên 8 triệu, chiếm đến trên 17%. Ngoài Crimea, người Nga còn tập trung rất đông ở các thành phố phía Ðông (tỉ lệ xê xích từ 20 đến 40% dân số).
Ở đây nảy sinh ra ba vấn đề: Một, liệu Nga có tiếp tục xua quân đến các địa phương ấy để “giải phóng” người Nga hay không? Hai, liệu chính phủ Ukraine có, một lúc nào đó, mất kiềm chế, để đối đầu với Nga và biến cuộc xâm lược không tiếng súng hiện nay thành một cuộc chiến tranh vệ quốc thực sự? Và ba, liệu những người gốc Ukraine (chiếm 25%) và đặc biệt những người gốc Tatars (chiếm trên 12%) tại Crimea có chấp nhận kết quả cuộc trưng cầu dân ý để biến thành công dân Nga?
Xin lưu ý: Ô Phần lớn người Tatars theo Hồi Giáo từng bị Nga đàn áp nên mang tinh thần phản Nga và bài Nga rất mạnh mẽ. Chắc chắn họ sẽ không dễ dàng chấp nhận ách đô hộ của Nga. Một cuộc chiến tranh du kích hoặc ít nhất, khủng bố, chống lại Nga do họ khởi xướng có lẽ không phải là tưởng tượng.
Bất kể tình hình chính trị tại Ukraine biến thái như thế nào trong những ngày sắp tới, phần lớn giới bình luận chính trị Tây phương đều nhìn nhận một trong những đặc điểm nổi bật nhất của các tranh chấp tại Ukraine hiện nay: Ðây là một cuộc đối đầu mang tầm vóc thế giới đầu tiên kể từ ngày Chiến Tranh Lạnh chấm dứt với sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Ðông Âu.
Sau năm 1990, trên thế giới đã có nhiều cuộc chiến tranh, trong đó, có những cuộc chiến tranh lớn như ở Iraq và Afghanistan. Nhưng dù vậy, đó cũng chỉ là những xung đột có tính địa phương. Ðối thủ của Mỹ và các đồng minh của Mỹ quá nhỏ và quá yếu để có thể gây nên những tác động có tầm vóc thế giới.
Với những xung đột tại Ukraine hiện nay, người ta nhận thấy sự căng thẳng lan rộng ở hầu hết các nước lớn, đặc biệt tại Mỹ và châu Âu. Người ta bàn bạc với nhau, tranh cãi với nhau để ngăn chận tham vọng bành trướng của Nga. Chưa có ai, về phía Tây phương, nghĩ đến khả năng can thiệp bằng quân sự. Tất cả những gì họ nói và định làm chỉ giới hạn trong phạm vi ngoại giao và kinh tế. Nhưng cũng giống mọi cuộc xung đột khác trong lịch sử, khi đã đối đầu nhau, không ai có thể bảo đảm mọi tình huống sẽ theo đúng ý định ban đầu của mình cả.
Nhiều người cũng nhận ra điều đó. Người ta cho việc chiếm đóng Crimea và sau đó, có thể toàn bộ lãnh thổ Ukraine của Nga nằm trong một kế hoạch đế quốc to lớn nhằm đối đầu với Tây phương. Ðó là cuộc cưỡng chiếm lãnh thổ đầu tiên ở châu Âu kể từ thập niên 1930. Nếu mọi người ngoảnh mặt để Nga thực hiện tham vọng này, nó sẽ trở thành một tiền lệ: các nước lớn tha hồ chiếm các nước nhỏ và sáp nhập toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ của các nước nhỏ ấy vào nước mình. Chính vì thế, nhiều người, trong đó có cựu ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, so sánh chiêu bài cứu người Nga ở Ukraine khi xâm lăng Crimea của Putin với các luận điệu và hành động của Phát Xít Ðức trong thập niên 1930, hàm ý so sánh Putin với Hitler.
Ðiều đó cũng có nghĩa bà xem các xung đột tại Ukraine hiện nay có cái gì giống với những cuộc xâm lược mở màn của Phát Xít Ðức thời đệ nhị thế giới. Thượng Nghị Sĩ John McCain cũng có quan niệm tương tự: ông ví Putin với Hitler và Stalinthời Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Hai.
Có thể nói, một cách tóm tắt, sự xung đột tại Crimea hiện nay không phải là xung đột giữa Nga và Ukraine mà còn là, chủ yếu còn là, sự xung đột giữa Nga và Tây phương, đứng đầu là Mỹ.
Chưa biết cuộc xung đột này kết thúc như thế nào, nhưng người ta biết rõ ba điểm:
Một, nó sẽ kéo dài và thay thế cuộc chiến tranh chống khủng bố kéo dài từ năm 2001 đến nay.
Hai, nó có thể sẽ dẫn đến việc thay đổi bàn cờ chính trị thế giới. Nga có thắng ở Crimea hoặc ngay cả trên toàn bộ lãnh thổ Ukraine thì họ vẫn thua trên mặt trận quốc tế: Họ hiện nguyên hình như một kẻ hiếu chiến đầy tham vọng, đầy dã tâm và tuyệt đối không thể tin cậy được. Khi hình ảnh ấy càng đậm nét, nỗi sợ hãi của các quốc gia nhỏ chung quanh Nga càng lớn dần; nỗi sợ hãi ấy càng lớn càng thúc đẩy các nước ấy ngả theo Tây phương, mong muốn Tây phương sẽ giúp đỡ và bảo vệ họ trước tham vọng bá quyền của Nga. Peter Beinart, trong một bài báo đăng trên The Atlantic, còn mở rộng sự liên hệ đến Trung Quốc: Trung Quốc càng muốn biểu dương sức mạnh và quấy nhiễu các nước láng giềng càng đẩy họ ngả theo Mỹ, và đó, càng tự cô lập chính mình.
Ba, cũng theo Beinart, nó cũng có thể thay đổi ngôi thứ của các siêu cường quốc. Ở Tây phương, sau các cuộc chiến tranh của Napoleon trong mấy năm đầu thế kỷ 19, thế giới nổi lên năm siêu cường: Anh, Nga, Pháp, Áo và Phổ (Prussia, sau này là Ðức); sau đệ nhất thế chiến, ba trong năm siêu cường trên bị mất thanh thế: Nga, Ðức và Áo-Hung. Rồi đệ nhị thế chiến bùng nổ và khi kết thúc, vai trò siêu cường của Ðức bị mất, của Anh và Pháp cũng giảm sút rất đáng kể. Thế giới chỉ còn hai siêu cường đứng đầu hai phe: Nga và Mỹ. Khi hệ thống cộng sản sụp đổ vào năm 1990, vai trò siêu cường của Nga cũng mất; thế giới chỉ còn một siêu cường: Mỹ.
Tuy nhiên, do quan hệ kinh tế và địa chính trị càng lúc càng chằng chịt, mặc dù Mỹ vẫn mạnh, cực kỳ mạnh, thế giới vẫn có khuynh hướng càng ngày càng đa cực hóa. Chính nước Mỹ cũng trở thành bơ vơ và hoang mang trước thế giới đa cực ấy. Chính những thái độ hung hãn của Nga và của Trung Quốc đã kéo Mỹ trở về với thực tế: Họ vẫn còn đối thủ và vẫn đối diện với rất nhiều nguy cơ.
Cả ba điểm nêu trên đều chỉ là những tiềm năng. Chưa ai biết trong tương lai chúng sẽ phát huy ảnh hưởng như thế nào và đến mức độ nào. Tuy nhiên, dù vậy, chúng cũng cho thấy tính chất nghiêm trọng của sự kiện Crimea và Ukraine. Ðiều đó giải thích tại sao giới lãnh đạo các nước trên thế giới lo lắng và tập trung nhiều thì giờ để giải quyết như vậy.
Ðể biết câu kết luận, chúng ta chỉ có một cách: chờ.
Nguyễn Hưng Quốc
(Blog VOA)
Những cảnh tượng đang xảy ra tại Ukraine, đặc biệt tại bán đảo tự trị Crimea có cái gì thật lạ lùng. Giới truyền thông quốc tế đồng loạt gọi đó là một cuộc xâm lược thô bạo của Nga nhưng lại không, hoặc chưa, gọi đó là một cuộc chiến tranh. Cho đến nay, đó là cuộc xâm lược chưa có tiếng súng, hoặc nếu có, toàn là những phát súng chỉ thiên, không nhắm vào ai và cũng chưa làm ai đổ máu cả.
Lạ lùng: Bỗng dưng một ngày có những người lính vũ trang hiện đại tràn ngập trên đất Crimea, chiếm Quốc Hội, các cơ quan chính phủ và các phi trường, tuần hành trên các đường phố. Ai cũng biết đó là lính Nga, nhưng chính phủ Nga vẫn phủ nhận. Sau đó mấy ngày, xuất hiện các xe tăng cực kỳ tối tân mang bảng số của Nga, nhưng chính phủ Nga vẫn phủ nhận. Trên các công thự, cờ Nga được treo lên và tung bay phấp phới, Nga vẫn phủ nhận. Lính Nga ra tối hậu thư cho lính Ukraine đang đóng trên đất và trên cảng Crimea hoặc đầu hàng hoặc buông súng về nhà, nhưng chính phủ Nga vẫn tiếp tục phủ nhận. Lạ lùng hơn nữa: Những người lính Ukraine đóng ở Crimea hoàn toàn không kháng cự. Họ không đầu hàng và cũng không buông súng nhưng không kháng cự. Không những không kháng cự, có lúc họ còn có vẻ nhởn nhơ đá bóng hoặc hát hò trước mặt đám lính Nga đang hầm hầm cầm súng.
Không có tiếng súng nổ, nhưng ai cũng biết các xung đột tại Crimea cực kỳ căng thẳng và có ảnh hưởng nghiêm trọng, trước hết, đến vận mệnh của cả nước Ukraine: Nga mới tuyên bố sẽ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 16 tháng 3 để sáp nhập Crimea vào Nga, trở thành một tỉnh của Nga thay vì một phần của Ukraine như hiện nay. Nếu cuộc trưng cầu dân ý này xảy ra, chắc chắn Nga sẽ thành công: Gần 60% dân số tại Crimea là người gốc Nga, nói tiếng Nga và lúc nào cũng tự xem mình là người Nga. Nhưng chưa hết. Chiêu bài để xâm lược Crimea của Nga là nhằm bảo vệ những người Nga đang sống trên lãnh thổ Ukraine. Nhưng người Nga không phải chỉ sống ở Crimea. Theo cuộc điều tra dân số năm 2001, ở Ukraine, người gốc Nga gồm trên 8 triệu, chiếm đến trên 17%. Ngoài Crimea, người Nga còn tập trung rất đông ở các thành phố phía Ðông (tỉ lệ xê xích từ 20 đến 40% dân số).
Ở đây nảy sinh ra ba vấn đề: Một, liệu Nga có tiếp tục xua quân đến các địa phương ấy để “giải phóng” người Nga hay không? Hai, liệu chính phủ Ukraine có, một lúc nào đó, mất kiềm chế, để đối đầu với Nga và biến cuộc xâm lược không tiếng súng hiện nay thành một cuộc chiến tranh vệ quốc thực sự? Và ba, liệu những người gốc Ukraine (chiếm 25%) và đặc biệt những người gốc Tatars (chiếm trên 12%) tại Crimea có chấp nhận kết quả cuộc trưng cầu dân ý để biến thành công dân Nga?
Xin lưu ý: Ô Phần lớn người Tatars theo Hồi Giáo từng bị Nga đàn áp nên mang tinh thần phản Nga và bài Nga rất mạnh mẽ. Chắc chắn họ sẽ không dễ dàng chấp nhận ách đô hộ của Nga. Một cuộc chiến tranh du kích hoặc ít nhất, khủng bố, chống lại Nga do họ khởi xướng có lẽ không phải là tưởng tượng.
Bất kể tình hình chính trị tại Ukraine biến thái như thế nào trong những ngày sắp tới, phần lớn giới bình luận chính trị Tây phương đều nhìn nhận một trong những đặc điểm nổi bật nhất của các tranh chấp tại Ukraine hiện nay: Ðây là một cuộc đối đầu mang tầm vóc thế giới đầu tiên kể từ ngày Chiến Tranh Lạnh chấm dứt với sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Ðông Âu.
Sau năm 1990, trên thế giới đã có nhiều cuộc chiến tranh, trong đó, có những cuộc chiến tranh lớn như ở Iraq và Afghanistan. Nhưng dù vậy, đó cũng chỉ là những xung đột có tính địa phương. Ðối thủ của Mỹ và các đồng minh của Mỹ quá nhỏ và quá yếu để có thể gây nên những tác động có tầm vóc thế giới.
Với những xung đột tại Ukraine hiện nay, người ta nhận thấy sự căng thẳng lan rộng ở hầu hết các nước lớn, đặc biệt tại Mỹ và châu Âu. Người ta bàn bạc với nhau, tranh cãi với nhau để ngăn chận tham vọng bành trướng của Nga. Chưa có ai, về phía Tây phương, nghĩ đến khả năng can thiệp bằng quân sự. Tất cả những gì họ nói và định làm chỉ giới hạn trong phạm vi ngoại giao và kinh tế. Nhưng cũng giống mọi cuộc xung đột khác trong lịch sử, khi đã đối đầu nhau, không ai có thể bảo đảm mọi tình huống sẽ theo đúng ý định ban đầu của mình cả.
Nhiều người cũng nhận ra điều đó. Người ta cho việc chiếm đóng Crimea và sau đó, có thể toàn bộ lãnh thổ Ukraine của Nga nằm trong một kế hoạch đế quốc to lớn nhằm đối đầu với Tây phương. Ðó là cuộc cưỡng chiếm lãnh thổ đầu tiên ở châu Âu kể từ thập niên 1930. Nếu mọi người ngoảnh mặt để Nga thực hiện tham vọng này, nó sẽ trở thành một tiền lệ: các nước lớn tha hồ chiếm các nước nhỏ và sáp nhập toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ của các nước nhỏ ấy vào nước mình. Chính vì thế, nhiều người, trong đó có cựu ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, so sánh chiêu bài cứu người Nga ở Ukraine khi xâm lăng Crimea của Putin với các luận điệu và hành động của Phát Xít Ðức trong thập niên 1930, hàm ý so sánh Putin với Hitler.
Ðiều đó cũng có nghĩa bà xem các xung đột tại Ukraine hiện nay có cái gì giống với những cuộc xâm lược mở màn của Phát Xít Ðức thời đệ nhị thế giới. Thượng Nghị Sĩ John McCain cũng có quan niệm tương tự: ông ví Putin với Hitler và Stalinthời Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Hai.
Có thể nói, một cách tóm tắt, sự xung đột tại Crimea hiện nay không phải là xung đột giữa Nga và Ukraine mà còn là, chủ yếu còn là, sự xung đột giữa Nga và Tây phương, đứng đầu là Mỹ.
Chưa biết cuộc xung đột này kết thúc như thế nào, nhưng người ta biết rõ ba điểm:
Một, nó sẽ kéo dài và thay thế cuộc chiến tranh chống khủng bố kéo dài từ năm 2001 đến nay.
Hai, nó có thể sẽ dẫn đến việc thay đổi bàn cờ chính trị thế giới. Nga có thắng ở Crimea hoặc ngay cả trên toàn bộ lãnh thổ Ukraine thì họ vẫn thua trên mặt trận quốc tế: Họ hiện nguyên hình như một kẻ hiếu chiến đầy tham vọng, đầy dã tâm và tuyệt đối không thể tin cậy được. Khi hình ảnh ấy càng đậm nét, nỗi sợ hãi của các quốc gia nhỏ chung quanh Nga càng lớn dần; nỗi sợ hãi ấy càng lớn càng thúc đẩy các nước ấy ngả theo Tây phương, mong muốn Tây phương sẽ giúp đỡ và bảo vệ họ trước tham vọng bá quyền của Nga. Peter Beinart, trong một bài báo đăng trên The Atlantic, còn mở rộng sự liên hệ đến Trung Quốc: Trung Quốc càng muốn biểu dương sức mạnh và quấy nhiễu các nước láng giềng càng đẩy họ ngả theo Mỹ, và đó, càng tự cô lập chính mình.
Ba, cũng theo Beinart, nó cũng có thể thay đổi ngôi thứ của các siêu cường quốc. Ở Tây phương, sau các cuộc chiến tranh của Napoleon trong mấy năm đầu thế kỷ 19, thế giới nổi lên năm siêu cường: Anh, Nga, Pháp, Áo và Phổ (Prussia, sau này là Ðức); sau đệ nhất thế chiến, ba trong năm siêu cường trên bị mất thanh thế: Nga, Ðức và Áo-Hung. Rồi đệ nhị thế chiến bùng nổ và khi kết thúc, vai trò siêu cường của Ðức bị mất, của Anh và Pháp cũng giảm sút rất đáng kể. Thế giới chỉ còn hai siêu cường đứng đầu hai phe: Nga và Mỹ. Khi hệ thống cộng sản sụp đổ vào năm 1990, vai trò siêu cường của Nga cũng mất; thế giới chỉ còn một siêu cường: Mỹ.
Tuy nhiên, do quan hệ kinh tế và địa chính trị càng lúc càng chằng chịt, mặc dù Mỹ vẫn mạnh, cực kỳ mạnh, thế giới vẫn có khuynh hướng càng ngày càng đa cực hóa. Chính nước Mỹ cũng trở thành bơ vơ và hoang mang trước thế giới đa cực ấy. Chính những thái độ hung hãn của Nga và của Trung Quốc đã kéo Mỹ trở về với thực tế: Họ vẫn còn đối thủ và vẫn đối diện với rất nhiều nguy cơ.
Cả ba điểm nêu trên đều chỉ là những tiềm năng. Chưa ai biết trong tương lai chúng sẽ phát huy ảnh hưởng như thế nào và đến mức độ nào. Tuy nhiên, dù vậy, chúng cũng cho thấy tính chất nghiêm trọng của sự kiện Crimea và Ukraine. Ðiều đó giải thích tại sao giới lãnh đạo các nước trên thế giới lo lắng và tập trung nhiều thì giờ để giải quyết như vậy.
Ðể biết câu kết luận, chúng ta chỉ có một cách: chờ.
Mối lo của Tập Cận Bình
Friday, March 14, 2014 6:47:13 PM
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, thị trường chứng khoán New York tụt hơn 230 điểm. Không phải vì tin tức kinh doanh tại Mỹ, mà vì tin thế giới. Có hai nguyên do. Thứ nhất là mối lo ông Putin chiếm vùng Crimea ở Ukraine khiến các nước Âu Mỹ sẽ phong tỏa tài chánh các các đại gia ở Nga, “chiến tranh lạnh” sẽ làm nhiều công ty toàn cầu giảm bớt lợi nhuận. Nhưng đó là chuyện lo xa, còn lâu mới biết rõ sẽ thiệt hại nhiều hay ít. Mối lo gần hơn, biết rõ ràng hơn, là kinh tế Trung Quốc yếu hẳn đi trong cả hai tháng đầu năm 2014.
Nếu kinh tế Trung Quốc xuống thì các công ty Âu, Mỹ sẽ mất nhiều khách hàng, mà các nước khác bán nguyên liệu và dầu khí cho họ cũng thu ít tiền hơn, chính họ cũng bớt mua hàng nhập cảng từ Âu Mỹ. Trong dân số thế giới cứ 6 người là có một người Tàu; nếu cái anh thứ sáu này bị ho hen thì năm anh kia cũng khó mạnh khỏe. Ngày hôm qua, giới đầu tư thế giới lo lắng hơn một tỷ người tiêu thụ ở Trung Quốc sắp cạn tiền, các nước khác sẽ khó bán hàng, cho nên nhiều thứ cổ phần bị giảm giá!
Năm con Ngựa không hợp với tuổi các ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường. Ngay đầu năm đã gặp nhiều xui xẻo. Ông Thủ Tướng Lý Khắc Cường mới công bố năm nay sản lượng quốc gia (GDP) sẽ chỉ tăng 7.5%, giảm đi so với tỷ lệ 7.7% năm ngoái; và giảm rất mạnh so với ba bốn năm trước đây. Trước kia các nước Nam Hàn, Ðài Loan, khi ở vào trình độ phát triển như kinh tế Trung Quốc hiện nay, họ giữ được tỷ lệ cao hơn. Nhưng ông Lý Khắc Cường tuyên bố ông không chú trọng đến GDP. Nhưng nếu GDP mà không tăng lên cho dân có đủ việc làm thì các vị lãnh tụ cũng khó ngồi yên.
Các con số công bố trong ngày hôm qua cho thấy kinh tế Trung Quốc đang giảm tốc độ rõ rệt. Trong Tháng Giêng và Tháng Hai, số sản xuất công nghiệp chỉ tăng 8.6%, tỷ lệ gia tăng thấp nhất kể từ năm 2009; thấp hơn cả mức tăng gần 10% trong Tháng Chạp năm 2013. Do chính sách của tập đoàn lãnh đạo mới muốn kìm hãm những vụ đầu tư vô ích, trong hai tháng qua số đầu tư vào nhà cửa, máy móc chỉ tăng 17.9% so với cùng thời năm ngoái, cũng thấp hơn so với tỷ lệ 19.6% trong Tháng Mười Hai, 2013. Số tiền tiêu thụ chỉ tăng 11.8% trong hai tháng đầu năm 2014, so với 13.6% trong tháng cuối năm ngoái. Trong mấy năm qua kinh tế Trung Quốc được “bơm máu” nhờ số tiền đổ vào nhiều công trường xây cất, của chính quyền cũng như cho dân tiêu thụ; mà hiện nay thị trường địa ốc quá yếu. Tổng số nhà bán có giá trị giảm 5%, so với tỷ lệ tăng hơn 13% trong ba tháng sau cùng năm ngoái. Số nhà cửa mới xây giảm gần 30% so với cùng thời gian năm ngoái. Từ mấy chục năm nay, kinh tế Trung Quốc lên là nhờ thị trường xuất cảng. Số xuất cảng trong hai tháng đầu năm chỉ tăng khoảng 2.4% so với cùng thời kỳ năm ngoái.
Một chỉ dấu đáng lo ngại là tỷ lệ giá cả báo động có thể sinh ra tình trạng giảm phát, tức là giá xuống thấp chứ không tăng lên. Giá sinh hoạt trong Tháng Giêng tăng 2.5%, còn trong Tháng Hai chỉ tăng 2%. Nhưng đáng lo nhất là giá hàng bán sỉ, từ nhà sản xuất tới nhà buôn, trong Tháng Giêng chỉ số đã giảm 1.6%, sang Tháng Hai lại giảm thêm 2%. Mối nguy giảm phát khó chữa hơn lạm phát. Vì khi giá cả trên đà đi xuống, cả nhà sản xuất và người tiêu thụ sẽ ngưng bớt hoạt động! Người mua thì muốn chờ mai mốt giá có thể thấp hơn sẽ mua, người bán thì không muốn chịu lỗ vì giá thấp quá! Nước Nhật đã bị nạn giảm phát nhiều lần khiến cho kinh tế trì trệ hàng chục năm qua.
Các ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường đang đứng trước một thế lưỡng nan. Nếu chấp nhận để cho kinh tế giảm tốc độ, thì hy vọng cải tổ được cơ cấu tài chánh, khai phóng thị trường, như họ đã hứa hẹn sẽ thực hiện từ lúc bắt đầu nhiệm kỳ này. Nhưng họ sẽ phải đương đầu với hậu quả, là nhiều doanh nghiệp nhà nước sẽ phải đóng cửa, số người thất nghiệp tăng lên, chắc chắn nhiều người bất mãn, có thể đi tới xáo trộn. Ngược lại, nếu muốn kinh tế đừng giảm tốc nhanh quá, thì họ sẽ phải trở về biện pháp cũ, là tiếp tục bơm tiền công quỹ vào những dự án xây cất của quan chức cấp tỉnh, cấp huyện, và thả tiền cho các xí nghiệp quốc doanh tiêu phí. Nhưng nếu cứ tiếp tục như vậy thì các món nợ sẽ chồng chất, chờ ngày quả bom nợ xấu bùng nổ. Tính đường trường, thì giảm bớt tăng trưởng kinh tế để buộc cơ cấu thay đổi thì ích lợi cho tất cả mọi người, về lâu về dài. Nhưng trong ngắn hạn, liệu tập đoàn lãnh đạo ở Trung Nam Hải có chấp nhận chịu búa rìu của những người bất mãn vì kinh tế suy giảm hơn trước hay không?
Ðến đây, chúng ta lại thấy năm nay cả hai người lãnh đạo Trung Quốc không may mắn. Họ lên nắm quyền đúng vào lúc hệ thống kinh tế của đảng Cộng sản Trung Hoa đang cạn kiệt hết những điều kiện thuận lợi của họ. Thứ nhất là cả khối người lao động từ nông thôn lên thành phố chấp nhận lương rẻ mạt chỉ cốt có việc làm, khối người này đã thay đổi. Họ có những nhu cầu mới, đòi tăng lương. Thứ hai, chương trình công nghiệp hóa nhanh chóng, chỉ cốt tăng số lượng mà không quan tâm đến phẩm chất của đời sống, đã gây hậu quả làm môi trường sống ô nhiễm. Nhưng người được thụ hưởng nhiều nhất trong thời gian qua là giới trung lưu ở thành phố, chính họ bây giờ to tiếng nhất không chịu sống với bầu không khí khó thở và nước sông hồ toàn chất độc. Nguy hiểm nhất là cơ cấu kinh tế tài chánh đang đi vào ngõ cụt. Chính sách dùng ngân hàng của nhà nước thả tiền ra cho các doanh nghiệp nhà nước xây cơ xưởng, mua máy móc, cho các chính quyền địa phương dựng cao ốc, làm đường sá, phi trường, vân vân, đến lúc đầy lên, hàng không có người mua, nhà không có người thuê, tất cả là những vụ đầu tư phung phí, vì không căn cứ vào nhu cầu người sử dụng, mà chỉ theo nhu cầu “tiêu tiền chùa” của các cán bộ. Số nợ xấu chồng chất đang chờ ngày bùng nổ, gây khủng hoảng tài chánh có thể làm tê liệt cả guồng máy kinh tế. Hai ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường phải gánh những di sản đó, và ai cũng khuyên họ phải cải tổ cơ cấu nền kinh tế, trước khi quá trễ.
Hiện nay, hai người vẫn giương cao ngọn cờ cải tổ. Trong cuộc họp báo hàng năm mới rồi, ông Lý Khắc Cường đã nhắc lại hai lần những mục tiêu của chính sách mới, mà ông đã nói từ năm ngoái, lần đầu tiên tiếp xúc với nhà báo. Một mục tiêu là nâng cao vai trò của “thị trường,” giảm bớt vai trò của nhà nước trong đời sống kinh tế. Một cách cụ thể, năm nay ông Lý nhấn mạnh tới hành động giảm thiểu các rào cản do guồng máy nhà nước tạo ra để ngăn không cho các xí nghiệp tư ra đời và hoạt động. Giảm bớt quyền “cấp giấy phép,” đủ các thứ giấy phép do các thư lại bày ra, là một cách hiệu quả để giảm bớt tham nhũng, ông Lý nhấn mạnh. Ông nêu ra một thí dụ để làm gương: Trong năm qua, chính phủ trung ương tại Bắc Kinh đã tự giảm bớt quyền quyết định trong hơn 400 lãnh vực trước đây họ vẫn cấp các loại giấy phép, trao quyền này về cho các địa phương. Ông khoe thành tích, cho biết sau đó số xí nghiệp mới ra đời ở Trung Quốc đã tăng lên 27% so với năm trước.
Nhưng các ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường sẽ còn bị thử thách. Năm ngoái, họ cũng rất cứng rắn vào đầu năm, giảm bớt tín dụng để bắt các ngân hàng vào kỷ luật. Nhưng trong nửa năm sau, thấy tình hình kinh tế quá trì trệ, họ lại mở cửa cho tiền chạy vào túi các doanh nghiệp nhà nước. Hai người sẽ còn bị thử thách trong ít nhất ba năm nữa. Nếu họ thành công, chuyển đổi cả hệ thống tài chánh và kinh tế thì họ sẽ thành anh hùng, sánh ngang với Ðặng Tiểu Bình, người bắt đầu cuộc cải tổ theo kinh tế tư bản. Nếu không, thì không riêng hai người này mà cả đảng Cộng sản Trung Quốc chưa chắc đã được ngồi yên
Friday, March 14, 2014 6:47:13 PM
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, thị trường chứng khoán New York tụt hơn 230 điểm. Không phải vì tin tức kinh doanh tại Mỹ, mà vì tin thế giới. Có hai nguyên do. Thứ nhất là mối lo ông Putin chiếm vùng Crimea ở Ukraine khiến các nước Âu Mỹ sẽ phong tỏa tài chánh các các đại gia ở Nga, “chiến tranh lạnh” sẽ làm nhiều công ty toàn cầu giảm bớt lợi nhuận. Nhưng đó là chuyện lo xa, còn lâu mới biết rõ sẽ thiệt hại nhiều hay ít. Mối lo gần hơn, biết rõ ràng hơn, là kinh tế Trung Quốc yếu hẳn đi trong cả hai tháng đầu năm 2014.
Nếu kinh tế Trung Quốc xuống thì các công ty Âu, Mỹ sẽ mất nhiều khách hàng, mà các nước khác bán nguyên liệu và dầu khí cho họ cũng thu ít tiền hơn, chính họ cũng bớt mua hàng nhập cảng từ Âu Mỹ. Trong dân số thế giới cứ 6 người là có một người Tàu; nếu cái anh thứ sáu này bị ho hen thì năm anh kia cũng khó mạnh khỏe. Ngày hôm qua, giới đầu tư thế giới lo lắng hơn một tỷ người tiêu thụ ở Trung Quốc sắp cạn tiền, các nước khác sẽ khó bán hàng, cho nên nhiều thứ cổ phần bị giảm giá!
Năm con Ngựa không hợp với tuổi các ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường. Ngay đầu năm đã gặp nhiều xui xẻo. Ông Thủ Tướng Lý Khắc Cường mới công bố năm nay sản lượng quốc gia (GDP) sẽ chỉ tăng 7.5%, giảm đi so với tỷ lệ 7.7% năm ngoái; và giảm rất mạnh so với ba bốn năm trước đây. Trước kia các nước Nam Hàn, Ðài Loan, khi ở vào trình độ phát triển như kinh tế Trung Quốc hiện nay, họ giữ được tỷ lệ cao hơn. Nhưng ông Lý Khắc Cường tuyên bố ông không chú trọng đến GDP. Nhưng nếu GDP mà không tăng lên cho dân có đủ việc làm thì các vị lãnh tụ cũng khó ngồi yên.
Các con số công bố trong ngày hôm qua cho thấy kinh tế Trung Quốc đang giảm tốc độ rõ rệt. Trong Tháng Giêng và Tháng Hai, số sản xuất công nghiệp chỉ tăng 8.6%, tỷ lệ gia tăng thấp nhất kể từ năm 2009; thấp hơn cả mức tăng gần 10% trong Tháng Chạp năm 2013. Do chính sách của tập đoàn lãnh đạo mới muốn kìm hãm những vụ đầu tư vô ích, trong hai tháng qua số đầu tư vào nhà cửa, máy móc chỉ tăng 17.9% so với cùng thời năm ngoái, cũng thấp hơn so với tỷ lệ 19.6% trong Tháng Mười Hai, 2013. Số tiền tiêu thụ chỉ tăng 11.8% trong hai tháng đầu năm 2014, so với 13.6% trong tháng cuối năm ngoái. Trong mấy năm qua kinh tế Trung Quốc được “bơm máu” nhờ số tiền đổ vào nhiều công trường xây cất, của chính quyền cũng như cho dân tiêu thụ; mà hiện nay thị trường địa ốc quá yếu. Tổng số nhà bán có giá trị giảm 5%, so với tỷ lệ tăng hơn 13% trong ba tháng sau cùng năm ngoái. Số nhà cửa mới xây giảm gần 30% so với cùng thời gian năm ngoái. Từ mấy chục năm nay, kinh tế Trung Quốc lên là nhờ thị trường xuất cảng. Số xuất cảng trong hai tháng đầu năm chỉ tăng khoảng 2.4% so với cùng thời kỳ năm ngoái.
Một chỉ dấu đáng lo ngại là tỷ lệ giá cả báo động có thể sinh ra tình trạng giảm phát, tức là giá xuống thấp chứ không tăng lên. Giá sinh hoạt trong Tháng Giêng tăng 2.5%, còn trong Tháng Hai chỉ tăng 2%. Nhưng đáng lo nhất là giá hàng bán sỉ, từ nhà sản xuất tới nhà buôn, trong Tháng Giêng chỉ số đã giảm 1.6%, sang Tháng Hai lại giảm thêm 2%. Mối nguy giảm phát khó chữa hơn lạm phát. Vì khi giá cả trên đà đi xuống, cả nhà sản xuất và người tiêu thụ sẽ ngưng bớt hoạt động! Người mua thì muốn chờ mai mốt giá có thể thấp hơn sẽ mua, người bán thì không muốn chịu lỗ vì giá thấp quá! Nước Nhật đã bị nạn giảm phát nhiều lần khiến cho kinh tế trì trệ hàng chục năm qua.
Các ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường đang đứng trước một thế lưỡng nan. Nếu chấp nhận để cho kinh tế giảm tốc độ, thì hy vọng cải tổ được cơ cấu tài chánh, khai phóng thị trường, như họ đã hứa hẹn sẽ thực hiện từ lúc bắt đầu nhiệm kỳ này. Nhưng họ sẽ phải đương đầu với hậu quả, là nhiều doanh nghiệp nhà nước sẽ phải đóng cửa, số người thất nghiệp tăng lên, chắc chắn nhiều người bất mãn, có thể đi tới xáo trộn. Ngược lại, nếu muốn kinh tế đừng giảm tốc nhanh quá, thì họ sẽ phải trở về biện pháp cũ, là tiếp tục bơm tiền công quỹ vào những dự án xây cất của quan chức cấp tỉnh, cấp huyện, và thả tiền cho các xí nghiệp quốc doanh tiêu phí. Nhưng nếu cứ tiếp tục như vậy thì các món nợ sẽ chồng chất, chờ ngày quả bom nợ xấu bùng nổ. Tính đường trường, thì giảm bớt tăng trưởng kinh tế để buộc cơ cấu thay đổi thì ích lợi cho tất cả mọi người, về lâu về dài. Nhưng trong ngắn hạn, liệu tập đoàn lãnh đạo ở Trung Nam Hải có chấp nhận chịu búa rìu của những người bất mãn vì kinh tế suy giảm hơn trước hay không?
Ðến đây, chúng ta lại thấy năm nay cả hai người lãnh đạo Trung Quốc không may mắn. Họ lên nắm quyền đúng vào lúc hệ thống kinh tế của đảng Cộng sản Trung Hoa đang cạn kiệt hết những điều kiện thuận lợi của họ. Thứ nhất là cả khối người lao động từ nông thôn lên thành phố chấp nhận lương rẻ mạt chỉ cốt có việc làm, khối người này đã thay đổi. Họ có những nhu cầu mới, đòi tăng lương. Thứ hai, chương trình công nghiệp hóa nhanh chóng, chỉ cốt tăng số lượng mà không quan tâm đến phẩm chất của đời sống, đã gây hậu quả làm môi trường sống ô nhiễm. Nhưng người được thụ hưởng nhiều nhất trong thời gian qua là giới trung lưu ở thành phố, chính họ bây giờ to tiếng nhất không chịu sống với bầu không khí khó thở và nước sông hồ toàn chất độc. Nguy hiểm nhất là cơ cấu kinh tế tài chánh đang đi vào ngõ cụt. Chính sách dùng ngân hàng của nhà nước thả tiền ra cho các doanh nghiệp nhà nước xây cơ xưởng, mua máy móc, cho các chính quyền địa phương dựng cao ốc, làm đường sá, phi trường, vân vân, đến lúc đầy lên, hàng không có người mua, nhà không có người thuê, tất cả là những vụ đầu tư phung phí, vì không căn cứ vào nhu cầu người sử dụng, mà chỉ theo nhu cầu “tiêu tiền chùa” của các cán bộ. Số nợ xấu chồng chất đang chờ ngày bùng nổ, gây khủng hoảng tài chánh có thể làm tê liệt cả guồng máy kinh tế. Hai ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường phải gánh những di sản đó, và ai cũng khuyên họ phải cải tổ cơ cấu nền kinh tế, trước khi quá trễ.
Hiện nay, hai người vẫn giương cao ngọn cờ cải tổ. Trong cuộc họp báo hàng năm mới rồi, ông Lý Khắc Cường đã nhắc lại hai lần những mục tiêu của chính sách mới, mà ông đã nói từ năm ngoái, lần đầu tiên tiếp xúc với nhà báo. Một mục tiêu là nâng cao vai trò của “thị trường,” giảm bớt vai trò của nhà nước trong đời sống kinh tế. Một cách cụ thể, năm nay ông Lý nhấn mạnh tới hành động giảm thiểu các rào cản do guồng máy nhà nước tạo ra để ngăn không cho các xí nghiệp tư ra đời và hoạt động. Giảm bớt quyền “cấp giấy phép,” đủ các thứ giấy phép do các thư lại bày ra, là một cách hiệu quả để giảm bớt tham nhũng, ông Lý nhấn mạnh. Ông nêu ra một thí dụ để làm gương: Trong năm qua, chính phủ trung ương tại Bắc Kinh đã tự giảm bớt quyền quyết định trong hơn 400 lãnh vực trước đây họ vẫn cấp các loại giấy phép, trao quyền này về cho các địa phương. Ông khoe thành tích, cho biết sau đó số xí nghiệp mới ra đời ở Trung Quốc đã tăng lên 27% so với năm trước.
Nhưng các ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường sẽ còn bị thử thách. Năm ngoái, họ cũng rất cứng rắn vào đầu năm, giảm bớt tín dụng để bắt các ngân hàng vào kỷ luật. Nhưng trong nửa năm sau, thấy tình hình kinh tế quá trì trệ, họ lại mở cửa cho tiền chạy vào túi các doanh nghiệp nhà nước. Hai người sẽ còn bị thử thách trong ít nhất ba năm nữa. Nếu họ thành công, chuyển đổi cả hệ thống tài chánh và kinh tế thì họ sẽ thành anh hùng, sánh ngang với Ðặng Tiểu Bình, người bắt đầu cuộc cải tổ theo kinh tế tư bản. Nếu không, thì không riêng hai người này mà cả đảng Cộng sản Trung Quốc chưa chắc đã được ngồi yên
Không có đồng bào, không có đồng chí, chỉ có đồng lõa !!!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 191 (15-03-2014)
Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận - Trong cuộc sống của loài người, có nhiều mối dây liên kết diễn tả qua chữ “đồng”, như đồng môn, đồng hương, đồng đạo, đồng nghiệp…, nhưng có lẽ hai mối dây liên kết được người Cộng sản đề cao nhiều nhất là đồng bào và đồng chí, không những tại Việt Nam mà ở toàn thể các nước phe xã hội chủ nghĩa. Ta hãy nghe lại một đoạn trong lá thư của ông Hồ Chí Minh viết vào tháng 10-1944: “Toàn quốc đồng bào! Toàn thể đồng chí! Tháng 8 năm 1942, tôi vâng lệnh Đoàn thể đi cầu ngoại viện. Chẳng may gặp sự hiểu lầm ở ngoài, làm cho đồng bào, đồng chí lo phiền cho tôi hơn một năm giời. Vậy, một mặt thì tôi phải thừa nhận vì tôi hành động không đủ khôn khéo để đồng bào, đồng chí phải phiền lòng, một mặt thì tôi rất cảm ơn lòng thân ái của đồng bào, đồng chí đối với tôi.
Trong sự rủi lại có sự may. Nhân dịp ở ngoài mà tôi hiểu rõ tình hình thế giới và chính sách của các hữu bang, trước hết là Trung Quốc. Nay tôi mang về cho đồng bào, đồng chí một món quà cực kỳ quý báu, tức là lòng đồng tình sốt sắng của 450 triệu đồng bào Trung Quốc đối với 25 triệu đồng bào Việt Nam về cái tin Trung Quốc sẽ tích cực giúp đỡ cuộc dân tộc giải phóng của chúng ta….” (Hồ Chí Minh toàn tập, t.3). Ngoài ra, ông Hồ còn vô số thư gởi đồng bào các giai tầng, các sắc tộc và các tôn giáo. Sau cuộc chia đôi đất nước, ông ta lại luôn nói về đồng bào miền Nam. Tác giả Phạm Thị Thắng, trong bài “Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà”, có kể câu chuyện như sau: “Năm 1962, đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, do giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu đến thăm Bác. Hôm đó đoàn tặng Bác rất nhiều quà quý… Khi nhận quà, Bác rất xúc động, một đồng chí trong Ban bí thư Trung ương thưa với Bác: “Thưa Bác, Bác có quà gì tặng miền Nam không ạ?”. Tất cả mọi người hồi hộp chờ đợi xem Bác tặng quà gì cho miền Nam. Bác vẫn đứng im nhìn mọi người âu yếm, rồi Bác nói: “Bác chẳng có cái gì để tặng cho đồng bào miền Nam cả. Bác chỉ có cái này”. Bác đặt tay lên ngực của mình, nơi con tim đang đập và nói: “Quà Bác tặng cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam đây! Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn trong trái tim tôi”. Ngỡ như lãnh tụ CS họ Hồ chỉ có hai tâm tình sâu đậm là tình đồng chí và tình đồng bào!
Thế nhưng chính con người ấy lại đã ra tay tàn độc đối với các đồng chí thân thiết: nào thủ tiêu những người từng là cộng tác viên đắc lực hay từng vào sinh ra tử với mình như chiến hữu Lâm Đức Thụ, đại biểu Dương Bạch Mai, đại tướng Nguyễn Chí Thanh… nào tống vào tù đại công thần đã đem cả cuộc đời hi sinh chiến đấu dựng lên đảng và nhà nước cộng sản: người hùng Điện Biên Phủ tướng Đặng Kim Giang, nhà cách mạng tiền bối kiêm thư ký riêng Vũ Đình Huỳnh, viện trưởng viện triết học Mác-Lênin Hoàng Minh Chính... nào đày đọa cho đến chết những nhà trí thức uyên bác đã theo mình về nước làm cách mạng: tiến sĩ Trần Đức Thảo, luật sư Nguyễn Mạnh Tường... hay những văn nhân nghệ sĩ đã từng phục vụ chế độ và tô hồng xã hội cộng sản trong nhóm Nhân văn Giai phẩm. Chưa kể biết bao đồng chí và đồng đảng CS đã là nạn nhân của chính lãnh tụ tàn độc có một không hai này. Còn đối với đồng bào ruột thịt miền Bắc thì Hồ Chí Minh đã ra lệnh tàn sát trực tiếp và gián tiếp nửa triệu điền chủ và nông dân trong cuộc Cải cách Ruộng đất (trong đó có bà Cát Hanh Long là đại ân nhân của đảng), đối với đồng bào ruột thịt miền Nam thì hàng vạn vạn dân thường đã chết trong cái gọi là “cuộc chiến tranh giải phóng”, đặc biệt trong cuộc tổng công kích tết Mậu Thân mà chính Hồ Chí Minh phát động. Đang khi đó, bên các “nước anh em”, Lênin, Stalin và Mao Trạch Đông cũng mở những cuộc đại thanh trừng đối với các đồng chí thân thiết, đại tàn sát đối với các đồng bào thân yêu mà con số nạn nhân phải tính là hàng chục triệu (nói chung, các lãnh tụ CS đã đưa về chín suối 100 triệu đồng bào của mình). Chưa nói đến chuyện cùng chung lý tưởng Cộng sản, nhưng các đồng chí Đệ III Quốc tế đánh nhau chí tử với các đồng chí Đệ IV Quốc tế, các đồng chí Liên Xô đánh nhau chí tử với các đồng chí Trung Hoa, với các đồng chí Nam Tư; đến lượt các đồng chí Trung Hoa đánh nhau chí tử với các đồng chí Việt Nam, các đồng chí Việt Nam lại đánh nhau chí tử với các đồng chí Khmer đỏ….
Những kẻ kế tục Hồ Chí Minh cho đến hôm nay cũng không làm gì khác. Điển hình là Lê Đức Thọ và phe cánh đã thủ tiêu các đồng chí như đại tướng Lê Trọng Tấn năm 1986, đại tướng Hoàng Văn Thái cũng năm 1986, thượng tướng Đinh Đức Thiện (em ruột của Thọ) năm 1987, trung tướng Phan Bình cũng năm 1987… Mới đây là thượng tướng Phạm Quý Ngọ cũng bất ngờ qua đời, mà dư luận cho rằng đã bị các đồng chí thủ tiêu để bịt đầu mối, chỉ một ngày sau khi có quyết định sẽ điều tra và khởi tố việc Ngọ nhận 1.5 mỹ kim từ Dương Chí Dũng. Ngoài ra còn bao nhiêu cuộc thanh trừng nội bộ, thủ tiêu đồng chí chưa bị lộ trong đảng Cộng sản. Đó là chưa kể vô vàn đồng chí chết trong trận chiến Biên giới 1979, trận chiến Gạc Ma 1988 mà đã bị chôn vùi ký ức, bị đục bia tưởng niệm, bị cấm cản truy điệu…
Còn cái gọi là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam” thực chất chỉ là cuộc tàn sát đồng bào (theo kế hoạch của Mao: đánh Mỹ cho tới người Việt cuối cùng để mở rộng đế quốc Tàu đỏ), khiến gần 4 triệu dân Việt ở cả hai miền phải tan thây. Rồi cái gọi là cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa (mà theo Nguyễn Phú Trọng thì tới cuối thế kỷ này chưa chắc đã thành công) thực chất chỉ là cuộc hăm dọa đồng bào tận mức, bóc lột đồng bào tận xương và đàn áp đồng bào tận lực.
Hăm dọa đồng bào miền Nam tận mức qua chính sách kỳ thị ngụy quân ngụy quyền, chủ trương cải tạo tư sản, chương trình di dân kinh tế, kế hoạch chỉnh trang đô thị, khiến hàng triệu người phải điêu đứng cuộc sống vốn an lành, phải liều mạng vượt biên vượt biển ra hải ngoại.
Bóc lột tận xương hàng triệu đồng bào công nhân trong các công ty xí nghiệp quốc doanh lẫn tư doanh, qua bàn tay của các chủ nhân nội quốc lẫn ngoại quốc được đảng o bế, của các công đoàn lao động được đảng điều khiển. Bóc lột hàng vạn đồng bào xuất khẩu lao động ra nước ngoài qua việc tước đoạt gia sản của họ để làm tiền ký quỹ, qua việc bỏ mặc thân phận của họ cho các đại gia cá mập nước ngoài. Bóc lột hàng triệu đồng bào nông dân qua điều khoản Hiến pháp chết tiệt và điều luật Đất đai trời đánh: “Đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện sở hữu”, qua những cuộc cấu kết giữa bộ máy nhà nước và tập đoàn kinh doanh (VN hoặc ngoại quốc) để đẩy các thường dân vô tội đến cảnh khốn cùng, xuống hố tuyệt vọng. Ta hãy nghe Nhóm phóng viên RFA tường trình trong bài “Đất Quảng Trị tràn ngập người Trung Quốc” ngày 03-03-2014: “Thời gian gần đây, hầu như mọi mảnh vườn ở làng Hà Tây, xã Triệu An, huyện Triệu Phong đều lâm vào nạn xâm lăng một cách trắng trợn của người Tàu và nhà cầm quyền địa phương. Nghĩa là khi người Tàu đến đây, việc đầu tiên họ làm là tìm đến các cơ quan, các quan chức để bằng mọi giá liên kết, đút lót và mua chuộc bằng được các quan chức này. Để rồi sau đó là những hành động xâm lăng…. Thay vì thỏa thuận với nhân dân để mua đất, người Tàu lại mua chuộc và biến quan chức địa phương thành tay sai của họ, các quan chức địa phương nghiễm nhiên trở thành con rối trong cuộn dây giật của người Tàu. Thay vì bảo vệ cuộc sống đồng bào và bảo vệ quyền lợi quốc gia, quan chức địa phương lại bằng mọi giá bảo vệ người Tàu, xem họ như những quan thầy. Và bất chấp nỗi tủi nhục, đau khổ của nhân dân, họ dùng thủ đoạn này đến thủ đoạn khác để biến đất canh tác, đất vườn của nhân dân thành công trình của người Tàu”.
Đàn áp tận lực toàn thể đồng bào qua nền pháp chế hà khắc, bóp nghẹt mọi quyền tự do; qua những chủ trương chính sách vừa duy ý chí, vừa thậm ngu dốt, vừa vô hiệu quả; qua hệ thống cai trị vừa gian manh, vừa tham nhũng, vừa tàn bạo; qua bộ máy công an (và trợ thủ như dân phòng, côn đồ, đoàn thanh niên CS…) chỉ biết vâng lời mù quáng, hành hung tàn nhẫn, cướp đoạt thẳng tay. Sự mù quáng này sẽ càng gia tăng qua chế độ chính ủy cho ngành công an vừa được thành lập, sự tàn nhẫn này sẽ thêm tầm mức nhờ pháp lệnh mới ban hành cho phép bắn bỏ kẻ bị gọi là chống nhân viên công lực. Đàn áp tận lực toàn thể đồng bào qua hệ thống tư pháp gồm những điều tra viên, công tố viên và quan tòa chỉ biết cúi đầu tuân lệnh cấp trên từ trung ương hay địa phương, đặc biệt trong các vụ án chính trị xét xử các công dân yêu nước, hoặc chỉ biết nhắm mắt vâng lệnh đồng tiền đút lót trong nhiều vụ án kinh tế, hình sự… Rồi còn đàn áp đồng bào qua chủ trương trấn dẹp mọi cuộc biểu tình, xuống đường đòi công lý quyền lợi, đòi tự do dân chủ, đòi tưởng niệm tử sĩ, đòi chống lại ngoại xâm, bằng những cách thức hoặc tàn nhẫn hoặc thâm độc, đê tiện hoặc lố lăng…
Thật ra, đối với người Cộng sản, chỉ có một dây liên kết quan trọng, đó là đồng lõa. Nghĩa là cùng chung tay làm chuyện bất lương, chung sức thực hiện tội ác, thường là đối với đồng bào bị trị của mình. Và bao lâu còn chia sẻ quyền lực lẫn chia chác quyền lợi với nhau, còn bao che cho nhau sai lầm lẫn tội lỗi (trước quốc dân lẫn quốc tế), thì còn song hành sánh bước, thì còn đồng chí đồng rận, thì còn tình quốc tế vô sản. Bằng chứng là lãnh tụ các nước cộng sản chỉ kết thân với nhau hay với lãnh tụ các nước độc tài, ôm hôn nhau thắm thiết khi gặp gỡ, bênh vực và bốc thơm nhau tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc, viện trợ cho nhau tài lực vật lực bóc lột từ đồng bào của mình, đàn áp chính quốc dân đang tố cáo hay phản đối mưu đồ xâm lược của “nước lớn đại huynh”… để giúp nhau củng cố ngai quyền lực, ghế thống trị. Còn nếu tranh chấp quyền lợi, rắp tâm tố cáo lẫn nhau, hoặc tiểu đồng chí hết chịu nổi đại đồng chí thì thanh toán, thủ tiêu trong nội đảng, giữa hai đảng (như bao thí dụ trưng dẫn trên kia) hay rộng hơn thì gây chiến giữa hai quốc gia, hai dân tộc mà có thể đã từng thề thốt với nhau là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, từng đề cao với nhau chuyện “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, từng xưng tụng với nhau đặc tính “sơn thủy tương liên, văn hoá tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương quan”.
Bất biết nghĩa đồng bào, tình đồng chí, một chỉ quan tâm đến mối đồng lõa, đó là bản chất của những con người cai trị, của những chính đảng lãnh đạo đặt quyền lợi của mình lên trên quyền lợi dân tộc, và dùng quyền lực của mình không phải để phục vụ mà là để bóc lột quốc gia đất nước. Và lịch sử nhân loại đã cho thấy Cộng sản chính là mẫu hình đặc trưng, tiêu biểu cho thực thể này.
Ban biên tập
Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 191 (15-03-2014)
Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận - Trong cuộc sống của loài người, có nhiều mối dây liên kết diễn tả qua chữ “đồng”, như đồng môn, đồng hương, đồng đạo, đồng nghiệp…, nhưng có lẽ hai mối dây liên kết được người Cộng sản đề cao nhiều nhất là đồng bào và đồng chí, không những tại Việt Nam mà ở toàn thể các nước phe xã hội chủ nghĩa. Ta hãy nghe lại một đoạn trong lá thư của ông Hồ Chí Minh viết vào tháng 10-1944: “Toàn quốc đồng bào! Toàn thể đồng chí! Tháng 8 năm 1942, tôi vâng lệnh Đoàn thể đi cầu ngoại viện. Chẳng may gặp sự hiểu lầm ở ngoài, làm cho đồng bào, đồng chí lo phiền cho tôi hơn một năm giời. Vậy, một mặt thì tôi phải thừa nhận vì tôi hành động không đủ khôn khéo để đồng bào, đồng chí phải phiền lòng, một mặt thì tôi rất cảm ơn lòng thân ái của đồng bào, đồng chí đối với tôi.
Trong sự rủi lại có sự may. Nhân dịp ở ngoài mà tôi hiểu rõ tình hình thế giới và chính sách của các hữu bang, trước hết là Trung Quốc. Nay tôi mang về cho đồng bào, đồng chí một món quà cực kỳ quý báu, tức là lòng đồng tình sốt sắng của 450 triệu đồng bào Trung Quốc đối với 25 triệu đồng bào Việt Nam về cái tin Trung Quốc sẽ tích cực giúp đỡ cuộc dân tộc giải phóng của chúng ta….” (Hồ Chí Minh toàn tập, t.3). Ngoài ra, ông Hồ còn vô số thư gởi đồng bào các giai tầng, các sắc tộc và các tôn giáo. Sau cuộc chia đôi đất nước, ông ta lại luôn nói về đồng bào miền Nam. Tác giả Phạm Thị Thắng, trong bài “Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà”, có kể câu chuyện như sau: “Năm 1962, đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, do giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu đến thăm Bác. Hôm đó đoàn tặng Bác rất nhiều quà quý… Khi nhận quà, Bác rất xúc động, một đồng chí trong Ban bí thư Trung ương thưa với Bác: “Thưa Bác, Bác có quà gì tặng miền Nam không ạ?”. Tất cả mọi người hồi hộp chờ đợi xem Bác tặng quà gì cho miền Nam. Bác vẫn đứng im nhìn mọi người âu yếm, rồi Bác nói: “Bác chẳng có cái gì để tặng cho đồng bào miền Nam cả. Bác chỉ có cái này”. Bác đặt tay lên ngực của mình, nơi con tim đang đập và nói: “Quà Bác tặng cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam đây! Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn trong trái tim tôi”. Ngỡ như lãnh tụ CS họ Hồ chỉ có hai tâm tình sâu đậm là tình đồng chí và tình đồng bào!
Thế nhưng chính con người ấy lại đã ra tay tàn độc đối với các đồng chí thân thiết: nào thủ tiêu những người từng là cộng tác viên đắc lực hay từng vào sinh ra tử với mình như chiến hữu Lâm Đức Thụ, đại biểu Dương Bạch Mai, đại tướng Nguyễn Chí Thanh… nào tống vào tù đại công thần đã đem cả cuộc đời hi sinh chiến đấu dựng lên đảng và nhà nước cộng sản: người hùng Điện Biên Phủ tướng Đặng Kim Giang, nhà cách mạng tiền bối kiêm thư ký riêng Vũ Đình Huỳnh, viện trưởng viện triết học Mác-Lênin Hoàng Minh Chính... nào đày đọa cho đến chết những nhà trí thức uyên bác đã theo mình về nước làm cách mạng: tiến sĩ Trần Đức Thảo, luật sư Nguyễn Mạnh Tường... hay những văn nhân nghệ sĩ đã từng phục vụ chế độ và tô hồng xã hội cộng sản trong nhóm Nhân văn Giai phẩm. Chưa kể biết bao đồng chí và đồng đảng CS đã là nạn nhân của chính lãnh tụ tàn độc có một không hai này. Còn đối với đồng bào ruột thịt miền Bắc thì Hồ Chí Minh đã ra lệnh tàn sát trực tiếp và gián tiếp nửa triệu điền chủ và nông dân trong cuộc Cải cách Ruộng đất (trong đó có bà Cát Hanh Long là đại ân nhân của đảng), đối với đồng bào ruột thịt miền Nam thì hàng vạn vạn dân thường đã chết trong cái gọi là “cuộc chiến tranh giải phóng”, đặc biệt trong cuộc tổng công kích tết Mậu Thân mà chính Hồ Chí Minh phát động. Đang khi đó, bên các “nước anh em”, Lênin, Stalin và Mao Trạch Đông cũng mở những cuộc đại thanh trừng đối với các đồng chí thân thiết, đại tàn sát đối với các đồng bào thân yêu mà con số nạn nhân phải tính là hàng chục triệu (nói chung, các lãnh tụ CS đã đưa về chín suối 100 triệu đồng bào của mình). Chưa nói đến chuyện cùng chung lý tưởng Cộng sản, nhưng các đồng chí Đệ III Quốc tế đánh nhau chí tử với các đồng chí Đệ IV Quốc tế, các đồng chí Liên Xô đánh nhau chí tử với các đồng chí Trung Hoa, với các đồng chí Nam Tư; đến lượt các đồng chí Trung Hoa đánh nhau chí tử với các đồng chí Việt Nam, các đồng chí Việt Nam lại đánh nhau chí tử với các đồng chí Khmer đỏ….
Những kẻ kế tục Hồ Chí Minh cho đến hôm nay cũng không làm gì khác. Điển hình là Lê Đức Thọ và phe cánh đã thủ tiêu các đồng chí như đại tướng Lê Trọng Tấn năm 1986, đại tướng Hoàng Văn Thái cũng năm 1986, thượng tướng Đinh Đức Thiện (em ruột của Thọ) năm 1987, trung tướng Phan Bình cũng năm 1987… Mới đây là thượng tướng Phạm Quý Ngọ cũng bất ngờ qua đời, mà dư luận cho rằng đã bị các đồng chí thủ tiêu để bịt đầu mối, chỉ một ngày sau khi có quyết định sẽ điều tra và khởi tố việc Ngọ nhận 1.5 mỹ kim từ Dương Chí Dũng. Ngoài ra còn bao nhiêu cuộc thanh trừng nội bộ, thủ tiêu đồng chí chưa bị lộ trong đảng Cộng sản. Đó là chưa kể vô vàn đồng chí chết trong trận chiến Biên giới 1979, trận chiến Gạc Ma 1988 mà đã bị chôn vùi ký ức, bị đục bia tưởng niệm, bị cấm cản truy điệu…
Còn cái gọi là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam” thực chất chỉ là cuộc tàn sát đồng bào (theo kế hoạch của Mao: đánh Mỹ cho tới người Việt cuối cùng để mở rộng đế quốc Tàu đỏ), khiến gần 4 triệu dân Việt ở cả hai miền phải tan thây. Rồi cái gọi là cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa (mà theo Nguyễn Phú Trọng thì tới cuối thế kỷ này chưa chắc đã thành công) thực chất chỉ là cuộc hăm dọa đồng bào tận mức, bóc lột đồng bào tận xương và đàn áp đồng bào tận lực.
Hăm dọa đồng bào miền Nam tận mức qua chính sách kỳ thị ngụy quân ngụy quyền, chủ trương cải tạo tư sản, chương trình di dân kinh tế, kế hoạch chỉnh trang đô thị, khiến hàng triệu người phải điêu đứng cuộc sống vốn an lành, phải liều mạng vượt biên vượt biển ra hải ngoại.
Bóc lột tận xương hàng triệu đồng bào công nhân trong các công ty xí nghiệp quốc doanh lẫn tư doanh, qua bàn tay của các chủ nhân nội quốc lẫn ngoại quốc được đảng o bế, của các công đoàn lao động được đảng điều khiển. Bóc lột hàng vạn đồng bào xuất khẩu lao động ra nước ngoài qua việc tước đoạt gia sản của họ để làm tiền ký quỹ, qua việc bỏ mặc thân phận của họ cho các đại gia cá mập nước ngoài. Bóc lột hàng triệu đồng bào nông dân qua điều khoản Hiến pháp chết tiệt và điều luật Đất đai trời đánh: “Đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện sở hữu”, qua những cuộc cấu kết giữa bộ máy nhà nước và tập đoàn kinh doanh (VN hoặc ngoại quốc) để đẩy các thường dân vô tội đến cảnh khốn cùng, xuống hố tuyệt vọng. Ta hãy nghe Nhóm phóng viên RFA tường trình trong bài “Đất Quảng Trị tràn ngập người Trung Quốc” ngày 03-03-2014: “Thời gian gần đây, hầu như mọi mảnh vườn ở làng Hà Tây, xã Triệu An, huyện Triệu Phong đều lâm vào nạn xâm lăng một cách trắng trợn của người Tàu và nhà cầm quyền địa phương. Nghĩa là khi người Tàu đến đây, việc đầu tiên họ làm là tìm đến các cơ quan, các quan chức để bằng mọi giá liên kết, đút lót và mua chuộc bằng được các quan chức này. Để rồi sau đó là những hành động xâm lăng…. Thay vì thỏa thuận với nhân dân để mua đất, người Tàu lại mua chuộc và biến quan chức địa phương thành tay sai của họ, các quan chức địa phương nghiễm nhiên trở thành con rối trong cuộn dây giật của người Tàu. Thay vì bảo vệ cuộc sống đồng bào và bảo vệ quyền lợi quốc gia, quan chức địa phương lại bằng mọi giá bảo vệ người Tàu, xem họ như những quan thầy. Và bất chấp nỗi tủi nhục, đau khổ của nhân dân, họ dùng thủ đoạn này đến thủ đoạn khác để biến đất canh tác, đất vườn của nhân dân thành công trình của người Tàu”.
Đàn áp tận lực toàn thể đồng bào qua nền pháp chế hà khắc, bóp nghẹt mọi quyền tự do; qua những chủ trương chính sách vừa duy ý chí, vừa thậm ngu dốt, vừa vô hiệu quả; qua hệ thống cai trị vừa gian manh, vừa tham nhũng, vừa tàn bạo; qua bộ máy công an (và trợ thủ như dân phòng, côn đồ, đoàn thanh niên CS…) chỉ biết vâng lời mù quáng, hành hung tàn nhẫn, cướp đoạt thẳng tay. Sự mù quáng này sẽ càng gia tăng qua chế độ chính ủy cho ngành công an vừa được thành lập, sự tàn nhẫn này sẽ thêm tầm mức nhờ pháp lệnh mới ban hành cho phép bắn bỏ kẻ bị gọi là chống nhân viên công lực. Đàn áp tận lực toàn thể đồng bào qua hệ thống tư pháp gồm những điều tra viên, công tố viên và quan tòa chỉ biết cúi đầu tuân lệnh cấp trên từ trung ương hay địa phương, đặc biệt trong các vụ án chính trị xét xử các công dân yêu nước, hoặc chỉ biết nhắm mắt vâng lệnh đồng tiền đút lót trong nhiều vụ án kinh tế, hình sự… Rồi còn đàn áp đồng bào qua chủ trương trấn dẹp mọi cuộc biểu tình, xuống đường đòi công lý quyền lợi, đòi tự do dân chủ, đòi tưởng niệm tử sĩ, đòi chống lại ngoại xâm, bằng những cách thức hoặc tàn nhẫn hoặc thâm độc, đê tiện hoặc lố lăng…
Thật ra, đối với người Cộng sản, chỉ có một dây liên kết quan trọng, đó là đồng lõa. Nghĩa là cùng chung tay làm chuyện bất lương, chung sức thực hiện tội ác, thường là đối với đồng bào bị trị của mình. Và bao lâu còn chia sẻ quyền lực lẫn chia chác quyền lợi với nhau, còn bao che cho nhau sai lầm lẫn tội lỗi (trước quốc dân lẫn quốc tế), thì còn song hành sánh bước, thì còn đồng chí đồng rận, thì còn tình quốc tế vô sản. Bằng chứng là lãnh tụ các nước cộng sản chỉ kết thân với nhau hay với lãnh tụ các nước độc tài, ôm hôn nhau thắm thiết khi gặp gỡ, bênh vực và bốc thơm nhau tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc, viện trợ cho nhau tài lực vật lực bóc lột từ đồng bào của mình, đàn áp chính quốc dân đang tố cáo hay phản đối mưu đồ xâm lược của “nước lớn đại huynh”… để giúp nhau củng cố ngai quyền lực, ghế thống trị. Còn nếu tranh chấp quyền lợi, rắp tâm tố cáo lẫn nhau, hoặc tiểu đồng chí hết chịu nổi đại đồng chí thì thanh toán, thủ tiêu trong nội đảng, giữa hai đảng (như bao thí dụ trưng dẫn trên kia) hay rộng hơn thì gây chiến giữa hai quốc gia, hai dân tộc mà có thể đã từng thề thốt với nhau là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, từng đề cao với nhau chuyện “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, từng xưng tụng với nhau đặc tính “sơn thủy tương liên, văn hoá tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương quan”.
Bất biết nghĩa đồng bào, tình đồng chí, một chỉ quan tâm đến mối đồng lõa, đó là bản chất của những con người cai trị, của những chính đảng lãnh đạo đặt quyền lợi của mình lên trên quyền lợi dân tộc, và dùng quyền lực của mình không phải để phục vụ mà là để bóc lột quốc gia đất nước. Và lịch sử nhân loại đã cho thấy Cộng sản chính là mẫu hình đặc trưng, tiêu biểu cho thực thể này.
Ban biên tập
Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận

Chủ tịch tỉnh Bình Dương và những “chiếc ghế nóng” Nguyễn Hải Thanh
(Danlambao) - Vụ Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Lê Thanh Cung với khối tài sản kếch sù (gồm hơn trăm hecta cao su ở xã Long Nguyên, huyện Bến Cát cùng “dinh thự” sang trọng ở P. Định Hòa, TP. Thủ Dầu Một) đã trở thành đề tài bàn tán xôn xao suốt mấy tuần qua. Dư luận chưa lắng xuống thì nhóm cán bộ hưu trí (trong đó có người từng là lãnh đạo tỉnh Bình Dương) lên tiếng đề nghị làm rõ việc giới thiệu, bổ nhiệm nhiều chức vụ chủ chốt có dấu hiệu bất thường liên quan đến ông Cung. Rõ nhất là hai “quý tử” trẻ măng của Chủ tịch được ngồi vào hai chiếc ghế “vàng”...
Made in Thuận An
Ông Lê Thanh Cung, thường gọi Chín Cung, sinh ngày 30-12-1954, quê quán P. Định Hòa, TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (tách ra từ tỉnh Sông Bé từ tháng 1-1997). Theo trang web của Văn phòng Chính phủ, ông Chín Cung có trình độ văn hóa 12/12, trước khi ngồi vào ghế Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, đã trải qua các chức vụ Trưởng Ban Kế hoạch huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé (tháng 10-1987); Phó Chủ tịch UBND huyện Bến Cát (11-1987); Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch tỉnh Sông Bé (tháng 4-1995); Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư (tháng 4-1996); Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sông Bé (tháng 8-1996) kiêm Trưởng ban Quản lý Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore. Giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương đến tháng 1-2001, ông Cung chuyển về làm Bí thư Huyện ủy Thuận An suốt 8 năm. Tháng 2009, ông Cung quay về tỉnh, giữ chức Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bình Dương kiêm Trưởng Ban quản lý khu công nghiệp Việt Nam - Singapore. Đến tháng 1-2011, ông Cung lên chức Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, Bí thư Ban cán sự Đảng UBND tỉnh.
Ông Chín Cung quay về tỉnh, chức vụ Bí thư huyện ủy Thuận An thuộc về ông Trần Thanh Liêm (Hai Liêm, SN 1958, Giám đốc Sở Giao thông - Vận tải tỉnh Bình Dương). Ông Chín Cung ngồi vào ghế Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương tháng 1-2011 thì ông Hai Liêm rời Thuận An (vừa được nâng lên thành thị xã đầu năm 2011) để nhậm chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương phụ trách khối kinh tế. Chức vụ Bí thư Thị ủy Thuận An do một cán bộ khác cũng có tên Trần Thanh Liêm (Sáu Liêm, SN 1962, Phó Bí thư, Chủ tịch UBND thị xã Thuận An) nắm giữ.
Tại phiên họp đầu tháng 11-2013, HĐND tỉnh Bình Dương đã miễn nhiệm chức vụ Phó chủ tịch UBND tỉnh khối văn xã đối với ông Huỳnh Văn Nhị để chuyển sang làm Chủ tịch MTTQ tỉnh. Một sự trùng hợp đến khó ngờ, người được bầu bổ sung ngồi vào chiếc ghế của ông Nhị là Sáu Liêm! Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn (theo QĐ số 2340/QĐ-TTg ngày 2-12-2013), sáng 13-12-2013, ông Chín Cung chủ trì buổi bàn giao công việc, nhiệm vụ giữa ông Nhị và Sáu Liêm (gồm lĩnh giáo dục - đào tạo, thể dục thể thao, văn hóa, khoa học công nghệ, thông tin truyền thông, bảo hiểm xã hội, chính sách xã hội và hoạt động của các tổ chức, đoàn thể…). Sáu Liêm chính thức nhận nhiệm vụ Phó Chủ tịch từ ngày 16-12-2013.
Như vậy, thường trực UBND tỉnh Bình Dương gồm bốn người, trong đó có đến ba người từng là Bí thư thị xã Thuận An gồm Chủ tịch Lê Thanh Cung và hai Phó chủ tịch đều mang tên Trần Thanh Liêm!
Hai “chiếc ghế nóng”
Chuyện “trùng hợp” vẫn chưa dừng lại, ông Mai Hùng Dũng (SN 1964, Thường vụ Huyện ủy Thuận An, Chủ tịch UBND thị trấn Lái Thiêu) được bầu bổ sung làm Phó chủ tịch UBND huyện Thuận An tháng 4-2006. Sau khi ông Chín Cung rời Thuận An, ông Dũng cũng được chuyển về làm Phó chánh Thanh tra tỉnh Bình Dương tháng 7-2010 rồi nhảy lên chức Chánh Thanh tra tỉnh không lâu sau đó. Chỉ một thời gian ngắn, ông Dũng chuyển sang Sở Kế hoạch - Đầu tư (KH-ĐT) ngồi vào ghế Phó Giám đốc rồi Giám đốc ngày 28-6-2012. Một lãnh đạo đương chức của tỉnh tiết lộ:“Từ Chánh thanh tra chuyển qua làm Phó giám đốc sở đồng nghĩa với việc bị xuống chức nhưng ông Dũng vẫn vui vẻ chấp nhận khiến nhiều cán bộ ngạc nhiên; đến khi ông này ngồi vào “chiếc ghế nóng” thì mọi người mới vỡ lẽ. Lãnh đạo tỉnh ai cũng biết, chức vụ Giám đốc Sở KH-ĐT trước đó đã được quy hoạch cho một người khác, chứ không phải ông Dũng ở Thuận An! Với đà này, không loại trừ ông Dũng sẽ giới thiệu ngồi ghế Phó Chủ tịch UBND tình Dương!
Một “chiếc ghế nóng” khác cũng được ông Chín Cung tin tưởng giao cho một cán bọ ở Thuận An nắm giữ là Giám đốc Ban quản lý dự án Đầu tư - Xây dựng (QLDA ĐT-XD) tỉnh Bình Dương. Một lãnh đạo tỉnh cho biết, trước đây, các sở ngành thuộc tỉnh đều có quản lý dự án riêng; theo chủ trương của Chính phủ, các ban này giải thể để thành lập Ban QLDA ĐT-XD tỉnh do UBND tỉnh trực tiếp quản lý. Chiều 4-8-2011, Chủ tịch Cung công bố QĐ thành lập Ban QLDA ĐT-XD tỉnh Bình Dương Theo đó, Ban QLDA ĐT-XD là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc UBND tỉnh, cơ cấu tổ chức giống như một sở chuyên ngành gồm một Giám đốc, 3 Phó Giám đốc cùng 5 phòng chức năng (Hành chính tổ chức; Kỹ thuật dân dụng; Kỹ thuật giao Thông; Tài chính kế toán; Đền bù giải tỏa và Phòng Kế hoạch Tổng hợp). Ban có chức năng quản lý dự án xây dựng công trình do UBND tỉnh đầu tư, đồng thời làm chủ đầu tư các dự án được UBND tỉnh giao.
Theo QĐ, Ban QLDA ĐT-XD tỉnh có đến nhiệm vụ, quyền hạn rất lớn. Cụ thể: Chuẩn bị hồ sơ báo cáo đầu tư dự án, báo cáo kinh tế kỹ thuật, thiết kế, tổng dự toán trình UBND tỉnh phê duyệt; thực hiện các thủ tục về giao nhận đất, xin giấy phép và các công việc phục vụ cho việc xây dựng công trình; lập hồ sơ mời thầu, tổ chức lựa chọn nhà thầu, trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch đấu thầu và kết quả đấu thầu; đàm phán, ký kết hợp đồng với các nhà thầu theo ủy quyền của UBND tỉnh; giám sát thi công xây dựng công trình; thanh toán, quyết toán theo hợp đồng ký kết, nghiệm thu, bàn giao công trình; lập báo cáo thực hiện vốn đầu tư và quyết toán hàng năm; tiếp nhận dự án đầu tư xây dựng trong và ngoài nước. Đối với các dự án thực hiện theo hình thức “tổng thầu”, Ban được thỏa thuận về hồ sơ mời dự thầu, hồ sơ mời đấu thầu mua sắm thiết bị công nghệ; phê duyệt danh sách các nhà thầu phụ trong trường hợp chỉ định tổng thầu…
Vị lãnh đạo tỉnh lên tiếng: cùng với QĐ thành lập, Chủ tịch Cung trao QĐ bổ nhiệm người đứng đầu Ban QLDA ĐT-XD. Thật bất ngờ, “chiếc ghế nóng” (Quyền giám đốc) lại được ông Cung giành cho một cán bộ Thuận An! Đó là ông Phạm Ngọc Sơn - nguyên Giám đốc Ban quản lý dự án thị xã Thuận An.
Nối nghiệp cha
Ngoài hàng loạt chức vụ quan trọng được cán bộ “Made in…Thuận An” nắm giữ; dư luận tỉnh Bình Dương đang xì xào bán tán về hai chiếc ghế khá “nóng” được giao cho hai con trai cưng của Chủ tịch Cung. Đó là chiếc ghế Trưởng phòng Tổng hợp thuộc Sở KH-ĐT do Lê Thanh Tâm (SN 1981) đảm nhận và Phó Giám đốc Ban QLDA ĐT-XD tỉnh Bình Dương do Lê Thanh Toàn nắm giữ.
Một cán bộ hưu trí đặt vấn đề: trước đây, ông Cung từng là Giám đốc Sở KH-ĐT, sau này nếu ông Mai Hùng Dũng được lên chức, có cất nhắc con của “sếp” cũ cũng không là chuyện bình thường. Ông Toàn thì giỏi hơn cả anh mình lên chức to tuổi đời còn nhỏ (SN 1985). Trước khi ngồi vào ghế Phó Giám đốc Ban QLDA ĐT-XD tỉnh, Toàn từng làm Trưởng phòng Quản lý Đầu tư Xây dựng Tổng công ty Becamex. Biết đâu, cả hai anh em Tâm - Toàn có trình độ cao sẽ nối nghiệp cha, còn tiến xa hơn nữa!
Ngoài những “chiếc ghế nóng”, chủ một doanh nghiệp có tiếng ở Thủ Dầu Một đề nghị làm rõ việc Chủ tịch Chính Cung “ưu ái” cho Tổng công ty Becamex phân lô bán nền tại thành phố mới Bình Dương. Hàng trăm giấy phép xây dựng “tạm” được cấp trái không đúng quy định khiến nhiều doanh nghiệp kinh doanh bất động sản bất bình…

Chủ tịch Lê Thanh Cung trao QĐ bổ nhiệm chức vụ cho ông Phạm Ngọc Sơn

Căn nhà như “dinh thự” của ông Chín Cung (ảnh: CTV)
Nguyễn Hải Thanh
danlambaovn.blogspot.com
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Tìm hiểu sức mạnh mềm của Trung Quốc hiện nay
Sunday, March 23, 2014 5:50:38 PM
Ðòan Thanh Liêm
Từ xưa, cha ông chúng ta vẫn thường nhắc nhở cho con cháu mình với câu văn thật ngắn gọn như sau: “Mạnh thì dùng sức, yếu thì dùng chước.”
Nói theo ngôn ngữ ngày nay, thì chữ sức ở câu trên có thể gọi là “sức mạnh cứng” (hard power), và chữ chước thì đúng là “sức mạnh mềm” (soft power).
Trong cuốn sách “Việt Nam Trong Chiến Tranh Tư Hữu” xuất bản năm 2010 mới đây ở Mỹ, tác giả Nguyễn Cao Quyền có nêu ra một nhận định như sau:
“Bắc Kinh tiến hành xâm thực Việt Nam bằng cả sức mạnh quân sự lẫn sức mạnh 'mềm.'
Họ dùng ‘sức mạnh cứng’ ở biển Ðông và ‘sức mạnh mềm’ trong lãnh thổ và xã hội Việt Nam.” (trang 434)

Ông Tập Cận Bình, lúc còn làm phó chủ tịch Trung Quốc, khai trương Học Viện Khổng Tử đầu tiên tại Úc,
bên trong đại học RMIT, Melbourne, năm 2010. (Hình: William West/AFP/Getty Images)
Và tại nơi khác, tác giả viết: “Về phần mình, Việt Nam chẳng có sức mạnh cứng đủ tầm cỡ để đương đầu với kho vũ khí hiện đại của Trung Quốc, cũng chẳng có sức mạnh mềm nào để thuyết phục. Sức mạnh mềm duy nhất Việt nam có trong tay là lòng yêu nước và niềm tin của người dân sẽ được sống trong một xã hội tự do dân chủ.” (trang 436).
Sự nhận định này có thể gợi ý cho chúng ta cùng nhau tổ chức một thứ “Hội Nghị Diên Hồng” nhằm thảo luận về phương thức làm sao để người Việt Nam có thể phát triển cái sức mạnh của lòng yêu nước và niềm tin đó thành một khả năng hiện thực khả dĩ chống đỡ lại được với hiểm họa xâm lăng thâm độc của Trung Quốc. Trong khi chờ đợi sự lên tiếng của các thức giả có sự quan tâm lo lắng đến sự sống còn của dân tộc, người viết bài này xin được trình bày về sức mạnh mềm của Trung Quốc vào đầu thế kỷ XXI hiện nay. Chúng ta cần phải biết rõ ràng về nội tình thực lực của đối phương, hầu có thể tìm ra được biện pháp đối phó thích ứng đối với kẻ địch.
1. Khái niệm về sức mạnh mềm
Thuật ngữ này mới trở thành thông dụng trong chừng 15 - 20 năm gần đây, thọat đầu do vị giáo sư tại đại học Harvard là Joseph Nye, Jr. đưa ra. Ông viết:
“Sức mạnh mềm của một nước, đó chính là khả năng làm ảnh hưởng đến cung cách ứng xử của những quốc gia khác, bằng cách lôi cuốn và thuyết phục những nước đó chấp nhận những mục tiêu của mình.” Trong bang giao quốc tế hồi xưa, người ta hay nói đến cái chính sách “cây gậy và củ cà rốt,” tức là một nước lớn đưa cái gậy ra (sức mạnh cứng) để răn đe hù dọa, và cũng đưa ra củ cà rốt (sức mạnh mềm) để dụ dỗ thuyết phục đối với một nước nhỏ bé yếu đuối.
Ngày nay, mấy nước lớn hay dùng cách phổ biến văn hóa, phát triển nền ngọai giao, cấp phát viện trợ kinh tế, mở rộng trao đổi thương mại và đầu tư... nhằm lôi cuốn các nước khác theo vào với phe của mình.
Ðiển hình như nước Mỹ, những phim ảnh của Hollywood, các đại học, các hội... là những yếu tố căn bản thiết yếu tạo thành cái sức mạnh mềm thật mạnh mẽ vững chắc cho cường quốc này, ngòai sức mạnh quân sự và kinh tế.
2. Trung Quốc phát triển sức mạnh mềm
Giới thức giả tại Trung Quốc từ lâu đã nghiên cứu và thảo luận về chuyện sức mạnh mềm. Mà cả đến Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào trong dịp đại hội lần thứ 17 của đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng đã phát biểu công khai vào ngày 15 Tháng Mười, 2007 rằng: “Ðảng Cộng Sản phải củng cố nâng cao văn hóa như là một phần của sức mạnh mềm của đất nước... một yếu tố có ý nghĩa mỗi ngày thêm lớn mạnh trong sự tranh đua về sức mạnh tòan diện của quốc gia.”
Với sự thành công về mặt kinh tế, nhà nước Trung Quốc đã phát động cả một chiến dịch quảng cáo và tuyên truyền rất mạnh mẽ về tính cách ưu việt của văn hóa Trung Hoa. Ðiển hình là họ đã cho thiết lập hàng mấy trăm học viện Khổng Tử (Confucius Institute) tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhằm giảng dậy về ngôn ngữ và văn hóa. Trong vòng 30 năm, từ 1978 đến 2008, đã có đến 1.4 triệu sinh viên Trung Quốc đi du học ở nước ngòai. Và vào năm 2009, thì có đến 220,000 sinh viên ngọai quốc đến học tại các đại học ở Trung Quốc. Trong khi Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ bớt giờ phát thanh bằng tiếng Hoa từ 19 xuống còn có 14 giờ mỗi ngày, thì ban quốc tế của Ðài Phát Thanh Trung Quốc lại tăng lên đến 24 giờ mỗi ngày.
3. Những con số thống kê đáng chú ý
Ðể bạn đọc có một số khái niệm tương đối rõ ràng về tầm vóc lớn lao trong lãnh vực sức mạnh mềm của Trung Quốc, người viết xin trưng ra một số dữ liệu thống kê cụ thể, trích từ tài liệu đáng tin cậy do giới nghiên cứu quốc tế thâu thập được trong thời gian gần đây.
Trong năm 2009-2010, Trung Quốc đã đầu tư đến $8.9 tỉ vào “công trình quảng cáo ở ngọai quốc,” kể cả kênh truyền hình liên tục 24 giờ Tân Hoa, bắt chước theo Al Jazeera. Trung Quốc cũng gửi 3,000 quân tình nguyện để phục vụ trong các chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc. Và đại diện Trung Quốc cũng tham gia vào nhiều hội nghị cấp vùng như Hội Nghị Thương Ðỉnh Ðông Á, nhằm tạo uy tín và thiện cảm đối với các quốc gia lân cận.
Trung Quốc cũng chú trọng nhiều đến những động tác gây chú ý trong công luận, cụ thể như giúp việc tái thiết trụ sở Quốc Hội của Cambodia hay trụ sở Bộ Ngoại Giao của Mozambique. Ðặc biệt nhân Thế Vận Hội năm 2008 tại Bắc kinh, Trung Quốc đã dồn mọi nỗ lực về tài chính cũng như về kỹ năng tổ chức để quảng cáo cho vị thế nổi bật của mình trên thế giới. Năm 2009, Trung Quốc công bố những kế hoạch chi tiêu hàng nhiều tỷ mỹ kim để phát triển những cơ sở truyền thông đồ sộ nhằm cạnh tranh với các hãng Bloomberg, Time Warner và Viacom “để sử dụng sức mạnh mềm hơn là sức mạnh quân sự nhằm tạo thêm được nhiều bạn bè thân hữu ở nước ngòai.”
Và còn hơn thế nữa, viện trợ của Trung Quốc cho nước ngòai thường không đòi hỏi điều kiện gì như là phải có sự điều hành tốt trong guồng máy chính quyền (good governance) hay là phải tôn trọng nhân quyền mà các nước Âu Mỹ thường nêu ra. Trung Quốc chỉ yêu cầu các nước nhận viện trợ là “không được công nhận Ðài Loan” hoặc “ủng hộ lập trường của Trung Quốc trên diễn đàn quốc tế.” Ðó là hai điều kiện quá dễ dàng, nhất là đối với các nước theo chế đô độc tài chuyên chế, thường hay đàn áp đối lập chính trị trong nước.
4. Sức mạnh mềm của Trung Quốc và Ấn Ðộ
Chúng ta cần chú ý đến hai nước lớn và có đông dân số nhất tại Á Châu và khôn khéo tạo được cái thế dựa vào Ấn Ðộ để kiềm chế bớt được áp lực của Trung Quốc vốn là kẻ thù truyền kiếp đối với Việt Nam. Ấn Ðộ thua xa Trung Quốc về sức mạnh cứng do thực lực cũng như do tiềm năng quân sự và kinh tế. Nhưng về sức mạnh mềm, thì Ấn Ðộ tỏ ra có một số ưu điểm, cụ thể như sau:
a. Ấn Ðộ có một nền văn hóa đại chúng (popular culture) và những kỹ nghệ văn hóa (cultural industries) vượt xa Trung Quốc, điển hình như các phim ảnh do
Bollywood của Ấn Ðộ sản xuất thì hấp dẫn gấp nhiều lần so với phim của Trung Quốc. Lại nữa, có đến hàng trăm triệu người Ấn Ðộ nói thông thạo tiếng Anh, có một giai cấp trung lưu khá đông đảo gồm nhiều trăm triệu người, do đó Ấn Ðộ dễ dàng mở rộng sự tiếp cận và giao lưu văn hóa kinh doanh với thế giới hơn Trung Quốc gấp bội.
b. Thể chế tự do dân chủ đã ăn rễ sâu xa nơi xã hội Ấn Ðộ, đặc biệt là khu vực xã hội dân sự với hàng triệu tổ chức phi chính phủ-bất vụ lợi, thì có sức lôi cuốn đối với công cuộc xây dựng tự do dân chủ và bảo vệ nhân quyền tại khắp nơi trên thế giới hiện nay, hơn rất nhiều so với mô hình Trung Quốc hiện vẫn còn dựa trên cơ sở độc tài chuyên chính của Lenin và Mao Trạch Ðông.
c. Sự tranh chấp căng thẳng giữa Ấn Ðộ với Trung Quốc kể từ cuộc chiến tranh biên giới vào năm 1962 tới nay vẫn chưa có dấu hiệu suy giảm. Do đó, Ấn Ðộ sẽ dễ dàng kết hợp với các quốc gia Á Châu khác để tạo thành được cái thế quân bình tại khu vực, hạn chế được tham vọng lấn áp bá quyền của Trung Quốc vốn từ lâu vẫn theo truyền thống cố hữu cường quyền Ðại Hán.
5. Người Việt hải ngoại và gia tăng sức mạnh mềm
Ðây là một vấn đề rất cấp bách đặt ra cho tất cả trên 4 triệu người Việt hiện đang sinh sống tại mấy chục quốc gia trên thế giới. Nó đòi hỏi một sự tìm tòi và thảo luận nghiêm túc của mọi người trong một thứ Hội Nghị Diên Hồng với phương tiện trao đổi suy nghĩ trong thời đại kỹ thuật Internet ở thế kỷ XXI hiện nay.
Trong khi chờ đợi ý kiến của các bậc thức giả có sự quan tâm sâu sắc đối với hiểm họa mất nước, người viết bài này xin tạm nêu ra một vài suy nghĩ sơ khởi tóm lược như sau:
a. Thế hệ con và cháu chúng ta, tính từ 40 tuổi trở xuống, hầu hết đều tốt nghiệp đại học và thông thạo ngôn ngữ của quốc gia sở tại nơi mình định cư. Do đó, các cháu dễ dàng hội nhập sâu đậm vào với dòng chính của xã hội nơi mình cư ngụ và làm việc. Vì thế, các cháu có thể tham gia vào việc vận động dư luận quần chúng, kêu gọi các nhân vật lãnh đạo chính quyền, các tổ chức văn hóa, tôn giáo, xã hội... để tạo được sự thông cảm, hiểu biết và yểm trợ rộng rãi cho công cuộc tranh đấu vì sự sống còn của dân tộc Việt Nam trước hiểm họa xâm lăng rất thâm độc của Trung Quốc. Thế giới ngày nay đang mỗi ngày một tiến xa trên quá trình toàn cầu hóa, nên cái chính nghĩa sáng ngời của chủ trương dân tộc sinh tồn tại Việt Nam sẽ dễ có điều kiện được sự ủng hộ của khắp thế giới, miễn là thế hệ thứ hai và thứ ba của khối người Việt hải ngọai chúng ta nhiệt tâm dấn thân vào công cuộc vận động nơi các quốc gia sở tại.
b. Việt Nam lúc này vừa bị nạn ngoại xâm đe doạ, vừa bị nạn nội xâm do chính quyền tham nhũng độc tài cộng sản gây ra. Do đó, việc giải cứu khỏi nguy cơ bị xâu xé thôn tính qua cái thứ “thù trong giặc ngòai” này rất là khó khăn phức tạp cho tòan thể dân tộc chúng ta. Một trong các phương thức vận động và duy trì được một cao trào quần chúng tham gia tích cực bền bỉ vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, thiết nghĩ là phải phát triển mạnh mẽ xã hội dân sự trong mọi lãnh vực nhân đạo xã hội, văn hóa giáo dục và cả tôn giáo tâm linh nhằm lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân cùng nhất tề tham gia vào các dự án cụ thể, thiết thực và thường xuyên để cải tiến xã hội và xây dựng quốc gia. Người hải ngoại có thể lôi cuốn cả phương tiện vô biên của xã hội dân sự ngoại quốc nơi mình cư ngụ, cũng như của xã hội dân sự toàn cầu (global civil society) vào việc hỗ trợ tích cực và hữu hiệu cho các tổ chức, đòan thể phi chính phủ ở trong nước vốn có nhiệm vụ trực tiếp và chính yếu đối với sự thịnh suy của nước nhà.
c. Ðặc biệt cần tạo được một thế liên hoàn vững chãi giữa nhân dân các quốc gia Á Châu từ Nhật, Nam Hàn, Ðài Loan, đến Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia, Thái Lan và nhất là Ấn Ðộ với nhân dân Việt Nam hầu cùng đối phó được với mối đe dọa cho an ninh và thịnh vượng chung của tòan thể khu vực. Việc này có thể làm được trong khả năng của xã hội dân sự Việt Nam và của nền ngọai giao nhân dân của chúng ta (people’s diplomacy,) chứ không phải chỉ là thẩm quyền chuyên biệt riêng của một chính quyền nhà nước nào cả. Với khả năng chuyên môn cao về khoa học kỹ thuật của thế hệ thứ hai, thứ ba, cùng với một tầm nhìn xa rộng toàn cầu, người Việt hải ngoại có dư điều kiện để hòan thành nhiệm vụ cao cả này đối với quê hương yêu quý của mình vậy.
Tài liệu tham khảo
Bài viết này được xây dựng trên nhiều tài liệu có ghi trên Internet như Google, Yahoo. Và đặc biệt các số liệu thống kê được trích dẫn từ cuốn sách vừa do nhà xuất bản Public Affairs tại New York cho ấn hành vào đầu năm 2011, có nhan đề “The Future of Power,” do ông Joseph S. Nye, Jr., giáo sư lâu năm tại đại học Harvard và là tác giả nhiều cuốn sách rất có giá trị về lãnh vực ngọai giao quốc tế, biên soạn.
Bạn đọc muốn tìm hiểu chi tiết hơn về đề tài rộng lớn này, thì có thể tham khảo cuốn sách nói trên, cũng như trong các sách báo mà tác giả đã ghi ra ở phần cuối sách. Ðồng thời, bạn đọc cũng có thể tìm trên Google hay Yahoo, bằng cách gõ các chữ: “Soft Power và China’s Soft Power.”
Sunday, March 23, 2014 5:50:38 PM
Ðòan Thanh Liêm
Từ xưa, cha ông chúng ta vẫn thường nhắc nhở cho con cháu mình với câu văn thật ngắn gọn như sau: “Mạnh thì dùng sức, yếu thì dùng chước.”
Nói theo ngôn ngữ ngày nay, thì chữ sức ở câu trên có thể gọi là “sức mạnh cứng” (hard power), và chữ chước thì đúng là “sức mạnh mềm” (soft power).
Trong cuốn sách “Việt Nam Trong Chiến Tranh Tư Hữu” xuất bản năm 2010 mới đây ở Mỹ, tác giả Nguyễn Cao Quyền có nêu ra một nhận định như sau:
“Bắc Kinh tiến hành xâm thực Việt Nam bằng cả sức mạnh quân sự lẫn sức mạnh 'mềm.'
Họ dùng ‘sức mạnh cứng’ ở biển Ðông và ‘sức mạnh mềm’ trong lãnh thổ và xã hội Việt Nam.” (trang 434)

Ông Tập Cận Bình, lúc còn làm phó chủ tịch Trung Quốc, khai trương Học Viện Khổng Tử đầu tiên tại Úc,
bên trong đại học RMIT, Melbourne, năm 2010. (Hình: William West/AFP/Getty Images)
Và tại nơi khác, tác giả viết: “Về phần mình, Việt Nam chẳng có sức mạnh cứng đủ tầm cỡ để đương đầu với kho vũ khí hiện đại của Trung Quốc, cũng chẳng có sức mạnh mềm nào để thuyết phục. Sức mạnh mềm duy nhất Việt nam có trong tay là lòng yêu nước và niềm tin của người dân sẽ được sống trong một xã hội tự do dân chủ.” (trang 436).
Sự nhận định này có thể gợi ý cho chúng ta cùng nhau tổ chức một thứ “Hội Nghị Diên Hồng” nhằm thảo luận về phương thức làm sao để người Việt Nam có thể phát triển cái sức mạnh của lòng yêu nước và niềm tin đó thành một khả năng hiện thực khả dĩ chống đỡ lại được với hiểm họa xâm lăng thâm độc của Trung Quốc. Trong khi chờ đợi sự lên tiếng của các thức giả có sự quan tâm lo lắng đến sự sống còn của dân tộc, người viết bài này xin được trình bày về sức mạnh mềm của Trung Quốc vào đầu thế kỷ XXI hiện nay. Chúng ta cần phải biết rõ ràng về nội tình thực lực của đối phương, hầu có thể tìm ra được biện pháp đối phó thích ứng đối với kẻ địch.
1. Khái niệm về sức mạnh mềm
Thuật ngữ này mới trở thành thông dụng trong chừng 15 - 20 năm gần đây, thọat đầu do vị giáo sư tại đại học Harvard là Joseph Nye, Jr. đưa ra. Ông viết:
“Sức mạnh mềm của một nước, đó chính là khả năng làm ảnh hưởng đến cung cách ứng xử của những quốc gia khác, bằng cách lôi cuốn và thuyết phục những nước đó chấp nhận những mục tiêu của mình.” Trong bang giao quốc tế hồi xưa, người ta hay nói đến cái chính sách “cây gậy và củ cà rốt,” tức là một nước lớn đưa cái gậy ra (sức mạnh cứng) để răn đe hù dọa, và cũng đưa ra củ cà rốt (sức mạnh mềm) để dụ dỗ thuyết phục đối với một nước nhỏ bé yếu đuối.
Ngày nay, mấy nước lớn hay dùng cách phổ biến văn hóa, phát triển nền ngọai giao, cấp phát viện trợ kinh tế, mở rộng trao đổi thương mại và đầu tư... nhằm lôi cuốn các nước khác theo vào với phe của mình.
Ðiển hình như nước Mỹ, những phim ảnh của Hollywood, các đại học, các hội... là những yếu tố căn bản thiết yếu tạo thành cái sức mạnh mềm thật mạnh mẽ vững chắc cho cường quốc này, ngòai sức mạnh quân sự và kinh tế.
2. Trung Quốc phát triển sức mạnh mềm
Giới thức giả tại Trung Quốc từ lâu đã nghiên cứu và thảo luận về chuyện sức mạnh mềm. Mà cả đến Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào trong dịp đại hội lần thứ 17 của đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng đã phát biểu công khai vào ngày 15 Tháng Mười, 2007 rằng: “Ðảng Cộng Sản phải củng cố nâng cao văn hóa như là một phần của sức mạnh mềm của đất nước... một yếu tố có ý nghĩa mỗi ngày thêm lớn mạnh trong sự tranh đua về sức mạnh tòan diện của quốc gia.”
Với sự thành công về mặt kinh tế, nhà nước Trung Quốc đã phát động cả một chiến dịch quảng cáo và tuyên truyền rất mạnh mẽ về tính cách ưu việt của văn hóa Trung Hoa. Ðiển hình là họ đã cho thiết lập hàng mấy trăm học viện Khổng Tử (Confucius Institute) tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhằm giảng dậy về ngôn ngữ và văn hóa. Trong vòng 30 năm, từ 1978 đến 2008, đã có đến 1.4 triệu sinh viên Trung Quốc đi du học ở nước ngòai. Và vào năm 2009, thì có đến 220,000 sinh viên ngọai quốc đến học tại các đại học ở Trung Quốc. Trong khi Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ bớt giờ phát thanh bằng tiếng Hoa từ 19 xuống còn có 14 giờ mỗi ngày, thì ban quốc tế của Ðài Phát Thanh Trung Quốc lại tăng lên đến 24 giờ mỗi ngày.
3. Những con số thống kê đáng chú ý
Ðể bạn đọc có một số khái niệm tương đối rõ ràng về tầm vóc lớn lao trong lãnh vực sức mạnh mềm của Trung Quốc, người viết xin trưng ra một số dữ liệu thống kê cụ thể, trích từ tài liệu đáng tin cậy do giới nghiên cứu quốc tế thâu thập được trong thời gian gần đây.
Trong năm 2009-2010, Trung Quốc đã đầu tư đến $8.9 tỉ vào “công trình quảng cáo ở ngọai quốc,” kể cả kênh truyền hình liên tục 24 giờ Tân Hoa, bắt chước theo Al Jazeera. Trung Quốc cũng gửi 3,000 quân tình nguyện để phục vụ trong các chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc. Và đại diện Trung Quốc cũng tham gia vào nhiều hội nghị cấp vùng như Hội Nghị Thương Ðỉnh Ðông Á, nhằm tạo uy tín và thiện cảm đối với các quốc gia lân cận.
Trung Quốc cũng chú trọng nhiều đến những động tác gây chú ý trong công luận, cụ thể như giúp việc tái thiết trụ sở Quốc Hội của Cambodia hay trụ sở Bộ Ngoại Giao của Mozambique. Ðặc biệt nhân Thế Vận Hội năm 2008 tại Bắc kinh, Trung Quốc đã dồn mọi nỗ lực về tài chính cũng như về kỹ năng tổ chức để quảng cáo cho vị thế nổi bật của mình trên thế giới. Năm 2009, Trung Quốc công bố những kế hoạch chi tiêu hàng nhiều tỷ mỹ kim để phát triển những cơ sở truyền thông đồ sộ nhằm cạnh tranh với các hãng Bloomberg, Time Warner và Viacom “để sử dụng sức mạnh mềm hơn là sức mạnh quân sự nhằm tạo thêm được nhiều bạn bè thân hữu ở nước ngòai.”
Và còn hơn thế nữa, viện trợ của Trung Quốc cho nước ngòai thường không đòi hỏi điều kiện gì như là phải có sự điều hành tốt trong guồng máy chính quyền (good governance) hay là phải tôn trọng nhân quyền mà các nước Âu Mỹ thường nêu ra. Trung Quốc chỉ yêu cầu các nước nhận viện trợ là “không được công nhận Ðài Loan” hoặc “ủng hộ lập trường của Trung Quốc trên diễn đàn quốc tế.” Ðó là hai điều kiện quá dễ dàng, nhất là đối với các nước theo chế đô độc tài chuyên chế, thường hay đàn áp đối lập chính trị trong nước.
4. Sức mạnh mềm của Trung Quốc và Ấn Ðộ
Chúng ta cần chú ý đến hai nước lớn và có đông dân số nhất tại Á Châu và khôn khéo tạo được cái thế dựa vào Ấn Ðộ để kiềm chế bớt được áp lực của Trung Quốc vốn là kẻ thù truyền kiếp đối với Việt Nam. Ấn Ðộ thua xa Trung Quốc về sức mạnh cứng do thực lực cũng như do tiềm năng quân sự và kinh tế. Nhưng về sức mạnh mềm, thì Ấn Ðộ tỏ ra có một số ưu điểm, cụ thể như sau:
a. Ấn Ðộ có một nền văn hóa đại chúng (popular culture) và những kỹ nghệ văn hóa (cultural industries) vượt xa Trung Quốc, điển hình như các phim ảnh do
Bollywood của Ấn Ðộ sản xuất thì hấp dẫn gấp nhiều lần so với phim của Trung Quốc. Lại nữa, có đến hàng trăm triệu người Ấn Ðộ nói thông thạo tiếng Anh, có một giai cấp trung lưu khá đông đảo gồm nhiều trăm triệu người, do đó Ấn Ðộ dễ dàng mở rộng sự tiếp cận và giao lưu văn hóa kinh doanh với thế giới hơn Trung Quốc gấp bội.
b. Thể chế tự do dân chủ đã ăn rễ sâu xa nơi xã hội Ấn Ðộ, đặc biệt là khu vực xã hội dân sự với hàng triệu tổ chức phi chính phủ-bất vụ lợi, thì có sức lôi cuốn đối với công cuộc xây dựng tự do dân chủ và bảo vệ nhân quyền tại khắp nơi trên thế giới hiện nay, hơn rất nhiều so với mô hình Trung Quốc hiện vẫn còn dựa trên cơ sở độc tài chuyên chính của Lenin và Mao Trạch Ðông.
c. Sự tranh chấp căng thẳng giữa Ấn Ðộ với Trung Quốc kể từ cuộc chiến tranh biên giới vào năm 1962 tới nay vẫn chưa có dấu hiệu suy giảm. Do đó, Ấn Ðộ sẽ dễ dàng kết hợp với các quốc gia Á Châu khác để tạo thành được cái thế quân bình tại khu vực, hạn chế được tham vọng lấn áp bá quyền của Trung Quốc vốn từ lâu vẫn theo truyền thống cố hữu cường quyền Ðại Hán.
5. Người Việt hải ngoại và gia tăng sức mạnh mềm
Ðây là một vấn đề rất cấp bách đặt ra cho tất cả trên 4 triệu người Việt hiện đang sinh sống tại mấy chục quốc gia trên thế giới. Nó đòi hỏi một sự tìm tòi và thảo luận nghiêm túc của mọi người trong một thứ Hội Nghị Diên Hồng với phương tiện trao đổi suy nghĩ trong thời đại kỹ thuật Internet ở thế kỷ XXI hiện nay.
Trong khi chờ đợi ý kiến của các bậc thức giả có sự quan tâm sâu sắc đối với hiểm họa mất nước, người viết bài này xin tạm nêu ra một vài suy nghĩ sơ khởi tóm lược như sau:
a. Thế hệ con và cháu chúng ta, tính từ 40 tuổi trở xuống, hầu hết đều tốt nghiệp đại học và thông thạo ngôn ngữ của quốc gia sở tại nơi mình định cư. Do đó, các cháu dễ dàng hội nhập sâu đậm vào với dòng chính của xã hội nơi mình cư ngụ và làm việc. Vì thế, các cháu có thể tham gia vào việc vận động dư luận quần chúng, kêu gọi các nhân vật lãnh đạo chính quyền, các tổ chức văn hóa, tôn giáo, xã hội... để tạo được sự thông cảm, hiểu biết và yểm trợ rộng rãi cho công cuộc tranh đấu vì sự sống còn của dân tộc Việt Nam trước hiểm họa xâm lăng rất thâm độc của Trung Quốc. Thế giới ngày nay đang mỗi ngày một tiến xa trên quá trình toàn cầu hóa, nên cái chính nghĩa sáng ngời của chủ trương dân tộc sinh tồn tại Việt Nam sẽ dễ có điều kiện được sự ủng hộ của khắp thế giới, miễn là thế hệ thứ hai và thứ ba của khối người Việt hải ngọai chúng ta nhiệt tâm dấn thân vào công cuộc vận động nơi các quốc gia sở tại.
b. Việt Nam lúc này vừa bị nạn ngoại xâm đe doạ, vừa bị nạn nội xâm do chính quyền tham nhũng độc tài cộng sản gây ra. Do đó, việc giải cứu khỏi nguy cơ bị xâu xé thôn tính qua cái thứ “thù trong giặc ngòai” này rất là khó khăn phức tạp cho tòan thể dân tộc chúng ta. Một trong các phương thức vận động và duy trì được một cao trào quần chúng tham gia tích cực bền bỉ vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, thiết nghĩ là phải phát triển mạnh mẽ xã hội dân sự trong mọi lãnh vực nhân đạo xã hội, văn hóa giáo dục và cả tôn giáo tâm linh nhằm lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân cùng nhất tề tham gia vào các dự án cụ thể, thiết thực và thường xuyên để cải tiến xã hội và xây dựng quốc gia. Người hải ngoại có thể lôi cuốn cả phương tiện vô biên của xã hội dân sự ngoại quốc nơi mình cư ngụ, cũng như của xã hội dân sự toàn cầu (global civil society) vào việc hỗ trợ tích cực và hữu hiệu cho các tổ chức, đòan thể phi chính phủ ở trong nước vốn có nhiệm vụ trực tiếp và chính yếu đối với sự thịnh suy của nước nhà.
c. Ðặc biệt cần tạo được một thế liên hoàn vững chãi giữa nhân dân các quốc gia Á Châu từ Nhật, Nam Hàn, Ðài Loan, đến Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia, Thái Lan và nhất là Ấn Ðộ với nhân dân Việt Nam hầu cùng đối phó được với mối đe dọa cho an ninh và thịnh vượng chung của tòan thể khu vực. Việc này có thể làm được trong khả năng của xã hội dân sự Việt Nam và của nền ngọai giao nhân dân của chúng ta (people’s diplomacy,) chứ không phải chỉ là thẩm quyền chuyên biệt riêng của một chính quyền nhà nước nào cả. Với khả năng chuyên môn cao về khoa học kỹ thuật của thế hệ thứ hai, thứ ba, cùng với một tầm nhìn xa rộng toàn cầu, người Việt hải ngoại có dư điều kiện để hòan thành nhiệm vụ cao cả này đối với quê hương yêu quý của mình vậy.
Tài liệu tham khảo
Bài viết này được xây dựng trên nhiều tài liệu có ghi trên Internet như Google, Yahoo. Và đặc biệt các số liệu thống kê được trích dẫn từ cuốn sách vừa do nhà xuất bản Public Affairs tại New York cho ấn hành vào đầu năm 2011, có nhan đề “The Future of Power,” do ông Joseph S. Nye, Jr., giáo sư lâu năm tại đại học Harvard và là tác giả nhiều cuốn sách rất có giá trị về lãnh vực ngọai giao quốc tế, biên soạn.
Bạn đọc muốn tìm hiểu chi tiết hơn về đề tài rộng lớn này, thì có thể tham khảo cuốn sách nói trên, cũng như trong các sách báo mà tác giả đã ghi ra ở phần cuối sách. Ðồng thời, bạn đọc cũng có thể tìm trên Google hay Yahoo, bằng cách gõ các chữ: “Soft Power và China’s Soft Power.”

