Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Giúp bạn hiểu về xung đột Nga-Ukraine

Bài viết dưới đây trên trang Global Post (Mỹ) của tác giả Sarah Dougherty, ngày 3/3/2014,
là nhằm giúp bạn đọc nhanh chóng có được một số kiến thức căn bản về bối cảnh địa chính trị, lịch sử… của Crimea.

TÀI LIỆU VỠ LÒNG ĐỂ BẠN HIỂU VỀ KHỦNG HOẢNG CRIMEA

Sarah Dougherty

Các sự việc ở Crimea đang xảy ra rất nhanh, đến nỗi thật khó mà bắt kịp tình hình. Đài Al Jazeera đã nói: ”Bán đảo tự trị của Ukraine đã trở thành trung tâm chú ý trong cuộc xung đột địa chính trị toàn cầu mới”. Chỉ trong vài ngày qua:

- Quân du kích thân Nga đã chiếm được cơ sở hạ tầng chủ chốt;
- Matxcơva đã ra lệnh can thiệp quân sự;
- Kyiv đã huy động quân đội phòng vệ;
- Các nhà lãnh đạo trên thế giới đã bắt đầu bàn về hậu quả.
Đã có nhiều phân tích xuất sắc về những gì đã và đang xảy ra kể từ khi phong trào biểu tình Euromaidan đem đến một chính thể mới ở Kyiv. (…) Nhưng ngay kể cả khi có những bài phân tích ấy, bạn có thể vẫn thấy lúng túng vì một số khái niệm. Do đó, sau đây sẽ là một từ điển tra cứu nhanh để bạn có được một số thông tin nền tảng.

Crimea

Crimea là một bán đảo thuộc Ukraine, nằm ở Biển Đen và có những mối liên hệ về địa lý, lịch sử, chính trị với nước Nga. Nó cũng là điểm nóng xung đột giữa Ukraine và Nga. Khu vực này là nơi sinh sống của khoảng 2 triệu dân: người Nga ở miền nam (chiếm 58%), người Ukraine ở miền bắc (24%), và người Hồi giáo Tatar (Tác-ta) ở miền trung (12%).
”Nga vốn là thế lực thống trị ở Crimea trong suốt phần lớn quãng thời gian 200 năm qua, kể từ khi họ thôn tính khu vực vào năm 1783” – BBC cho biết. Vào năm 1954, Crimea được chuyển giao lại cho Ukraine – khi đó là một phần của Liên Xô. Việc này bị một số người thuộc sắc dân Nga xem như là ”một sai lầm lịch sử”.

Năm 2010 bầu cử tổng thống, dân chúng trong khu vực bỏ phiếu ủng hộ nhiệt tình Viktor Yanukovych, và nhiều người tin tưởng rằng vị tổng thống vừa bị phế truất này là nạn nhân của một cuộc đảo chính bất hợp pháp. Trong những ngày gần đây, phe biểu tình ủng hộ Matxcơva đã tuần hành ở vài thành phố, kêu gọi Crimea tách khỏi Ukraine và sáp nhập vào Nga. Matxcơva có khoảng 6.000 quân đội đóng tại địa bàn, và theo báo cáo thì họ đã ”kiểm soát hoàn toàn các hoạt động” trên bán đảo.

Địa vị pháp lý của Crimea

Về mặt pháp lý, Crimea là một phần của Ukraine, nhưng hưởng quy chế bán tự trị, nghĩa là họ có thể bầu quốc hội riêng và chỉ định thủ tướng riêng, đóng tại thủ phủ Simferopol. Do vậy, tên chính thức của họ là Cộng hòa Tự trị Crimea. Vào ngày 27/2 vừa qua, trong một phiên họp diễn ra khi tòa nhà trụ sở đang bị các tay súng đeo mặt nạ chiếm đóng, Quốc hội Crimea đã chỉ định một nhà lãnh đạo không chính thức, thân Nga, là ông Sergei Aksenov.
Crimea không có quyền tiến hành chính sách đối ngoại riêng, nhưng Aksenov tự xưng là ”tổng tư lệnh của toàn bộ lực lượng vũ trang và cảnh sát” ở Crimea, và yêu cầu Nga giúp vãn hồi trật tự trong khu vực. Ngày 1/3, Quốc hội Nga ra lệnh can thiệp quân sự vào Ukraine để bảo vệ các lợi ích của Nga và những người nói tiếng Nga.

Ly khai

Kể từ khi khủng hoảng chính trị Euromaidan nổ ra, ngày càng có nhiều yêu cầu đòi Crimea phải tách khỏi Ukraine, đặc biệt trong cộng đồng sắc dân Nga, là những người phản đối lãnh đạo mới của Kyiv. Có vài điều khiến cho kịch bản ly khai này khả thi: sự hiện diện của quân đội và các lực lượng bán vũ trang của Nga, những tuyên bố công khai của chính quyền địa phương, và sự ủng hộ rộng lớn của dư luận làm cơ sở hậu thuẫn. Nhưng ngay cả đối với những người dân Crimea muốn ly khai (và nhiều người không muốn), việc Crimea ly khai khỏi Ukraine, trong khi củng cố các lực lượng chống Nga trên phần còn lại của Ukraine, có thể làm khu vực bị cô lập thêm trên phương diện kinh tế.

Michael Hikari Cecire viết cho Eurasianet: ”Nhìn vào bức tranh tổng thể, vở kịch địa chính trị ưa thích của Nga không phải là gặm dần Crimea; mà là tái sáp nhập cả nước Ukraine vào hệ thống Á-Âu của điện Kremlin”.

Người Tatar ở Crimea

Cộng đồng người Tatar Hồi giáo nói tiếng Turk ở Crimea – những người dân bản địa đầu tiên trên bán đảo – cấu thành khoảng 12% dân số. Họ ủng hộ lãnh đạo mới ở Kyiv, và họ vẫn còn nhớ một lịch sử dài bị Nga áp bức và dập tắt một cách đẫm máu mọi đề nghị ly khai. Vào năm 1944, lãnh tụ Xô Viết Josef Stalin trục xuất toàn bộ 200.000 người Tatar ở Crimea đến Trung Á, cho là họ đã hợp tác với Đức quốc xã; và tái định cư người Nga vào những ngôi nhà của người Tarta. Gần nửa số dân Tatar đã chết trong năm đầu tiên bị ép lưu vong.

Khi Liên Xô sụp đổ, hầu hết người dân Tatar trở về Crimea và do là một sắc dân, họ giúp Crimea giành được quyền tự trị lớn hơn ở Ukraine. Mặc dù cộng đồng Tatar bị kẹt ở giữa trong xung đột quyền lực giữa Matxcơva và Kyiv, nhưng không bên nào thừa nhận tình hình này cũng như quyền của người Tatar.

Thủ phủ Simferopol

Simferopol, thủ đô hành chính của Crimea, là trung tâm của các cuộc đối kháng giữa người ủng hộ Kyiv và người ủng hộ Matxcơva. Tuần trước, mọi sự leo thang nhanh chóng khi những người vũ trang nói tiếng Nga kiểm soát Quốc hội và tổ hợp cơ quan hành chính của Crimea, sân bay, đồng thời phong tỏa mọi con đường nối với thủ phủ Simferopol. Ngày 2/3, người ta thấy hàng trăm lính Nga được triển khai từ Sevastopol, thẳng tiến đến Simferopol. Tờ Guardian đưa tin: ”Quân đội Nga đã bao vây ít nhất hai căn cứ quân sự ở Crimea và đang kéo đến những căn cứ khác để tiếp cận hoặc chiếm vũ khí”, trong đó có cả căn cứ Perevalnoe, nằm cách Simferopol 20 km.

Thành phố Sevastopol

Sevastopol, thành phố cảng ở Crimea, có một căn cứ hải quân lớn của Nga, nơi Hạm đội Biển Đen của Nga đóng quân và do Nga thuê từ Ukraine. Nó giúp Nga phát huy ảnh hưởng trên Biển Đen, phần phía đông Địa Trung Hải, các khu vực Balkan và Trung Đông. Trong vài năm gần đây, Nga đã sử dụng căn cứ này để tiến hành các chiến dịch ở Gruzia, Lybia, Syria và Ấn Độ Dương.

Sevastopol cũng là nơi đồn trú của Lực lượng Hải quân Ukraine, một hạm đội 10 chiến hạm. Chỉ huy hải quân Ukraine, Denys Berezovsky, người mới được chỉ định gần đây, đang đối mặt với nguy cơ bị buộc tội phản quốc do đã giao nộp trụ sở cho các lực lượng thân Nga. Có khoảng 380.000 cư dân ở Sevastopol, bao gồm cả 15.000 công chức Nga và binh sĩ nghỉ hưu. Mới đây, hội đồng thành phố đã lập ra một thị trưởng mới là công dân Nga Aleksei Chaliy, còn cảnh sát trưởng của thành phố thì tuyên bố rằng các nhân viên cảnh sát sẽ không thực hiện ”mệnh lệnh tội ác” nào từ Kyiv.

Hạm đội Biển Đen

Hạm đội Biển Đen của Nga đón trụ sở tại căn cứ hải quân Sevastopol, cùng với 15.000 lính hải quân Nga. Hạm đội có vài chục chiến hạm, trong số đó nhiều chiến hạm được đóng từ thời Xô Viết. Mark Galeotti đánh giá về hạm đội này trên tờ Washington Post: ”Một tàu tuần dương tên lửa dẫn đường, tên là Matxcơva, đã rất cũ kỹ; một tuần dương hạm chiến đấu chống tàu ngầm – cực kỳ lạc hậu; một tàu khu trục lớn và hai tàu khu trục nhỏ, có vẻ linh hoạt hơn; tàu đổ bộ; và một tàu ngầm tấn công chạy bằng diesel”. Theo các điều khoản của hợp đồng cho Nga thuê địa điểm, mọi hoạt động quân sự bên ngoài căn cứ đều phải được sự cho phép của Ukraine. Tuy nhiên, mặc dù Matxcơva khẳng định rằng Hạm đội Biển Đen tuân thủ hoàn toàn thỏa thuận đó, nhưng theo tờ Guardian, hai chiến hạm Nga chống tàu ngầm đã từng xuất hiện trên vịnh Sevastopol.

Hiệp ước Kharkiv 2010

Hiệp ước Kharkiv 2010 gia hạn cho Nga thuê căn cứ đến năm 2042. Hiệp ước do vị tổng thống mà hiện giờ đã bị phế truất của Ukraine – ông Viktor Yanukovych – ký kết để đổi lấy khí đốt giá rẻ từ Nga. Tờ Thời báo Kinh doanh Quốc tế cho biết: ”Hiệp ước Kharkiv đã bị những người Ukraine thân châu Âu phê phán nặng nề. Phe đối lập hiện nay đã đe dọa hủy bỏ Hiệp ước Kharkiv và trục xuất Hạm đội Biển Đen vào năm 2017”.

Bản ghi nhớ Budapest 1994

”Bản ghi nhớ Budapest về Bảo đảm An ninh” là một thỏa thuận ngoại giao, được ký kết giữa Ukraine, Nga, Mỹ và Anh vào năm 1994. Theo bản ghi nhớ này, Ukraine đồng ý từ bỏ kho vũ khí hạt nhân của họ – và đó là một phần trong tiến trình dỡ bỏ vũ khí hạt nhân ở các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ. Đổi lại, ba quốc gia kia cam kết tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine. Theo Forbes, với hành vi xâm lược Crimea, ”Putin đang phát tín hiệu cho thấy rằng mọi thỏa ước ký kết trong giai đoạn Nga còn đang yếu, vào những năm 1990, là vô giá trị và vô hiệu lực”.

Khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)

NATO – một liên minh chính trị và quân sự gồm 28 nước thành viên – đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán khẩn cấp, kéo dài, ở cấp cao, và đã đưa ra những phát biểu mạnh mẽ về ”tình hình nghiêm trọng ở Ukraine”. Tổng Thư ký NATO Anders Fogh Rasmussen lên án Nga đe dọa hòa bình và an ninh ở châu Âu và vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc, đồng thời kêu gọi Nga ”không leo thang nữa”.

Do Ukraine không phải thành viên NATO, cho nên Mỹ và châu Âu không có nghĩa vụ và cũng không chắc sẽ can thiệp quân sự. Thay vì thế, NATO nhấn mạnh vào một giải pháp chính trị: ”Chúng tôi kêu gọi cả hai bên ngay lập tức tìm ra một giải pháp hòa bình, thông qua đối thoại, thông qua việc điều động các nhà quan sát quốc tế dưới sự bảo trợ của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc hoặc OSCE (Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu)”.

G7 và G8

G7 bao gồm bộ trưởng tài chính của 7 quốc gia công nghiệp hàng đầu: Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Đức, Italy, Anh và Canada. G8 là diễn đàn của chính phủ bảy nước G7, cộng thêm Nga.
Các nước đối tác của Nga trong G8 đã đình chỉ việc chuẩn bị cho một hội nghị thượng đỉnh, mà theo kế hoạch là sẽ diễn ra tại Sochi vào tháng 6 tới. Thay vì chuẩn bị họp, họ ra một tuyên bố lên án hành động của Nga và kêu gọi Nga ngồi vào bàn đàm phán trực tiếp, có giới quan sát quốc tế hoặc trung gian hòa giải quốc tế, thông qua Liên Hợp Quốc hoặc Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry phát biểu với chương trình Gặp gỡ báo chí của NBC rằng, nếu Nga không rút quân khỏi Ukraine, họ sẽ bị khai trừ khỏi G8 và có nguy cơ bị trừng phạt kinh tế. ”Putin có thể sẽ bị phong tỏa tài sản, doanh nghiệp Mỹ có thể rút hoạt động kinh doanh khỏi Nga, đồng rúp có thể bị rối loạn nhiều hơn nữa”.

Nam Ossetia và Abkhazia / Gruzia

Các sự biến ở Crimea gợi nhớ đến năm 2008, hồi Nga gây chiến với Gruzia xoay quanh hai vùng đất ly khai. Sau khi Gruzia tiến hành một chiến dịch nhằm vào Nam Ossetia, Nga đã triển khai quân đến Nam Ossetia và Abkhazia để bảo vệ những người nói tiếng Nga. NATO từ chối can thiệp, và xung đột chấm dứt nhờ vai trò trung gian hòa giải của Pháp.
BBC cho rằng lợi ích liên quan trong vụ Crimea này lớn hơn nhiều: ”Matxcơva căm ghét cái mà họ xem là sự thân thiết của EU và NATO với Ukraine. Đây không phải chỉ là một xung đột địa chính trị nhằm tranh giành ảnh hưởng tại sân sau của Nga. Tổng thống Putin đang tìm cách giữ mảnh đất mà ông ta cho là có mối liên hệ về lịch sử và văn hóa với nước Nga”.

Transnistria / Moldova

Các biến cố gần đây cũng gợi nhớ đến những năm đầu thập niên 1990, khi Transnistria tuyên bố độc lập, tách khỏi Moldova. Nga hậu thuẫn cho Transnistria, vì nơi này có cộng đồng người Nga lớn. Do đó, một cuộc chiến tranh khu vực ngắn đã nổ ra. Tờ Atlantic viết: ”Nga hiện giờ đóng quân trên rẻo đất dọc biên giới Ukraine, và viện trợ tài chính cho Transnistria. Mọi cuộc đàm phán để giải quyết tình thế hiện nay của Transnistria đều bị đóng băng”.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Ukraine và Việt Nam, 2 tiểu quốc cạnh láng giềng đầy dã tâm
Sunday, March 16, 2014 2:46:47 PM

Võ Long Triều

Tình hình chính trị quân sự của Ukraine hiện còn rối ren, bất ổn. Nội chiến có thể xảy ra đồng thời sự can thiệp nước ngoài cũng là mối đe dọa không nhỏ. Do đó, khó biết sẽ có một giải pháp nào đem lợi ích cho quốc gia. Tưởng cũng nên tóm lược vị thế của Ukraine và những diễn biến tình hình do biểu tình bạo động và lệnh nổ súng giết hơn 80 người đối lập, buộc Quốc Hội phải biểu quyết truất phế Tổng Thống Viktor Yanukovych. Cũng nhân cơ hội này thử so sánh Việt Nam có những điểm nào tương đồng với Ukraine.

Hành động của Nga, và phản ứng của các nước Tây phương, của Liên Hiệp Quốc sẽ là một giải đáp khuôn mẫu cho những trường hợp tương tự trên thế giới sau này.

Ukraine là một quốc gia Trung Âu, có diện tích 603,700 cây số vuông, lớn gần bằng hai Việt Nam với 331,212 cây số vuông. Ukraine giáp ranh với Nga, Ba Lan, Hungary, Roumania và nằm cạnh bờ Biển Ðen. Ukraine có 48 triệu dân, trong đó có 17.3% là người Nga và nhiều dân Ukraine có quốc tịch Nga. So với Việt Nam có 93 triệu dân, nhiều bằng hai lần dân Ukraine (trong số đó không biết có bao nhiêu người Tàu kể từ khi Hà Nội bỏ ngỏ, rước người Hoa sang không cần giấy tờ hộ chiếu). Ngôn ngữ chính thống 76% tiếng Ukraine 24% tiếng Nga. Ngày nay tại Việt Nam nhà nước có chương trình dạy tiếng Hoa cho học sinh Việt.

Năm 1922, Ukraine là một trong các nước sáng lập Liên Bang Sô Viết, khi Liên Sô sụp đổ Ukraine trở thành quốc gia độc lập chủ trương xây dựng dân chủ và kinh tế thị trường nhưng vì vướng mắc quan niệm và tổ chức kinh tế chỉ huy của cộng sản nên sự phát triển kinh tế lai căng không thể vươn lên được. Tổng sản lượng quốc gia Ukraine chỉ được khoảng 312 tỷ Mỹ Kim, thấp nhất Âu Châu. Ðã vậy còn phải nhập cảng hầu hết năng lượng từ dầu hỏa đến khí đốt do Nga chủ động cung cấp. Ðó là một nguồn sinh tử cho kỹ nghệ và đời sống của người dân Ukraine, một yếu tố lệ thuộc nặng nề. Bởi vì mỗi khi có sự bất đồng chính trị hay thiếu hụt ngân khoản thì bị Nga đe dọa cúp hợp đồng bán dầu khí.

Ngoài ra còn sự lệ thuộc trực tiếp vì đã nằm trong khối Sô Viết từ 1922 đến khi Liên Sô sụp đổ 1991. Riêng Việt Nam cũng bị lệ thuộc gián tiếp vào Trung Quốc bằng sự viện trợ người và thiết bị chiến tranh từ 1949 đến 1975.

Tổng Thống Viktor Yanukovych xuất thân từ một gia đình nghèo ở vùng Donetsk, từng bị tù hai lần vì tội hình sự. Ông chấp nhận làm con cờ của Tổng Thống Nga Vladimir Putin đổi lấy sự ủng hộ và bao che để cầm quyền cai trị Ukraine. Gần đây tại phiên họp Ủy Ban Hợp Tác Liên Chính Phủ, Nga và Ukraine ký 14 văn kiện hợp tác mà Tổng Thống Putin khẳng định rằng, “Nga và Ukraine là đối tác chiến lược, gắn bó với nhau bằng quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác chặt chẽ cùng có lợi trong nhiều lãnh vực.”

Cũng giống như giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam xuất thân bần cố nông ba đời, và tại hội nghị Thành Ðô giữa Trung Quốc-Việt Nam đã có thỏa thuận bí mật nên Hồ Cẩm Ðào mới xướng ra 16 chữ vàng và 4 cái tốt, buộc các nhà lãnh đạo cộng sản Hà Nội học nằm lòng các chữ “hợp tác toàn diện... tiến tới tương lai” và cùng nhau khai thác đáy biển Hoàng Sa, đôi bên đều có lợi.

Tuy nhiên, có điều khác biệt là các nhà lãnh đạo Trung Quốc thuộc nền văn hóa “hối lộ và mua chuộc” nên dùng đô la và mỹ nữ chiêu đãi các Ủy Viên Bộ Chính Trị Việt Nam còn Vladimir Putin, trùm mật vụ cũ của Liên Sô với bản chất cứng rắn và tàn nhẫn, xem Yanukovych như tôi tớ, theo ký giả Jean Baptiste Naudet thì Putin khinh rẻ và hạ nhục Yanukovych bằng cách để ông ta chờ đợi cả bốn tiếng đồng hồ mới cho gặp mặt. Cũng theo ký giả Naudet tham nhũng là vi trùng thúi thịt thúi xương (bệnh Gangrène) làm hư nền kinh tế Ukraine, y hệt như tham nhũng làm quốc gia Việt Nam trên bờ vực vỡ nợ. Mặt khác ông Yanukovych xây dựng một dinh thự sang trọng ngoài mức tưởng tượng của dân nghèo, cũng như dân oan Việt Nam choáng váng mặt mày khi nhìn hình ảnh các dinh thự của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ Tịch Nước Lê Ðức Anh và Tổng Thanh Tra Trần Văn Truyền ở Việt Nam.

Trước sự bất ổn gần như đại loạn quốc gia giữa phe thân Nga mà Yanukovych đại diện và phe đối lập đang nắm quyền bằng cuộc nổi dậy mới đây cùng với chủ trương ly khai khu tự trị Crimée có sự hỗ trợ quân sự của Nga, Putin tuyên bố quân đội Nga có quyền bảo vệ an ninh và sức khỏe của người Nga tại Ukraine. Quốc Hội Nga cũng đã cho phép ông Putin sử dụng quân đội đối với Ukraine. Trong khi đó ngày 2 tháng 3, 2014 tổng thống Hoa Kỳ kêu gọi Nga rút quân về các cơ sở quân sự Nga tại Crimée. Cùng ngày ông Obama có điện thoại cho tổng thống Pháp Francois Hollande và thủ tướng Canada ông Stephen Harper, ba vị đều tán đồng quan điểm nói trên. Trước đó ngày 28 tháng 2, 2014, ông Obama cũng nói rằng sự can thiệp của Nga “sẽ phải trả giá”, điều mà Quốc Hội Nga cho là Mỹ sỉ nhục Nga quốc. Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ông Ban Ki-Moon kêu gọi Tổng Thống Putin thương lượng gấp với các nhà lãnh đạo mới Ukraine, Tổ Chức Bắc Ðại Tây Dương (NATO) tuyên bố “Nga phải tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine.”

Chuyện gì sẽ xảy ra?

Thế giới đang chờ xem nội chiến Ukraine sẽ bùng nổ, khi Kiev ban bố lệnh tổng động viên và Crimée đòi độc lập, hay là Nga xâm chiếm Crimée để cố giành giữ hải cảng Sepastobol, hay là Tây phương can thiệp để bảo vệ luật pháp quốc tế, hoặc là sẽ có một vụ dàn xếp hòa bình đem lại quyền tự do và toàn vẹn lãnh thổ cho Ukraine. Phương thức, mẫu mực và tính chất của một giải pháp áp đặt tại Ukraine, thực tế sẽ có ảnh hưởng và tác dụng cho tương lai các nước nhược tiểu, đặc biệt đối với Việt Nam.

Dư luận thế giới còn đang hoang mang về tình hình chính trị quân sự tại Ukraine. Có lẽ phải chờ đến sau ngày16 tháng 3, 2014, quốc hội khu tự trị Crimée (Crimea) quyết định trưng cầu dân ý mới có thể nhận định những biến chuyển sau đó. Hiện tại hai phe thân và chống Nga vẫn tiếp tục biểu tình bạo động ở Ukraine, trong khi đặc phái viên của tổ chức Bắc Ðại Tây Dương (OTAN) được phái đến Crimée quan sát, bị lính Nga chặn không cho vào, các cơ sở quân sự của Ukraine tại bán đảo này bị quân đội Nga cấm cửa, Mỹ và Tây phương tiếp tục cảnh cáo Nga, hô hào sẽ trừng phạt.

Ngày Chủ Nhật 9 tháng 3, 2014, tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố cuộc trưng cầu dân ý ở Crimée sẽ là hợp pháp. Trong khi bà thủ tướng Ðức Angela Merkel nói với ông Putin, qua điện thoại, rằng bà xem cuộc bỏ phiếu đó là phi pháp. Cùng ngày 9 tháng 3, các nhà lãnh đạo Mỹ và Liên Âu (EU) bày tỏ mối quan ngại nghiêm trọng về hành động vi phạm rõ ràng luật pháp quốc tế của Nga, và khẳng định sự hỗ trợ của họ đối với chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine, đồng thời cảnh cáo Moscou sẽ phải chịu sự trừng phạt nếu quân đội Nga chiếm Crimée. Mỹ khuyến cáo, bất kỳ động thái nào sát nhập Crimée vào Nga sẽ đóng sập cánh cửa ngoại giao giữa hai nước Mỹ-Nga. Ðồng thời Ngoại Trưởng John Kerry cũng nói với người đồng sự Nga Sergei Lavrov rằng: “Crimée là một phần lãnh thổ của Ukraine.” Thủ Tướng David Cameron lên án những hành động vừa qua của Nga, khiến Anh Quốc và Châu Âu “không thể quan hệ bình thường với Nga.”

Ngay cả chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng xác nhận với Tổng Thống Barack Obama và thủ tướng Ðức Merkel, qua điện thoại, Trung Quốc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine. Tuy nhiên, ông vẫn muốn có giải pháp chính trị và ngoại giao, bởi vì theo ông, trừng phạt không phải là biện pháp hay nhất để giải quyết xung đột.

Ngược lại Nga tố cáo Hoa Kỳ và Liên Âu can thiệp vào Ukraine để chiếm ưu thế về địa bàn chính trị. Trong khi Tổng Thống Putin vẫn một mực tuyên bố Nga bảo vệ 17,3 triệu dân Nga ở Ukraine mà đa số cư ngụ tại Crimée và người dân ở đây sử dụng tiếng Nga.

Tưởng cũng nên nhắc lại, trước đây từ ngày 18 tháng 10, 1921 Crimée thuộc lãnh thổ của Liên-Sô. Dưới thời Tổng Bí Thư Nikita Khroutchew người gốc Ukraine lãnh đạo Sô-Viết, ông đã chuyển vùng Crimée cho bang Ukraine vào năm 1954, bằng một quyết định hành chánh đơn giản. Trong bối cảnh Ukraine vẫn là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Sô-Viết thì người Nga bản địa ở Crimée không hề cảm thấy họ bị tách rời khỏi quê hương. Sau khi Liên-Sô sụp đổ đa số người Nga ở Crimée bỗng nhiên trở thành người nước ngoài, vì Ukraine tuyên bố độc lập với bán đảo Crimée là khu tự trị. Từ đó vấn đề Crimée trở về với Nga hay độc lập tách rời khỏi Ukraine mới được đặt ra. Dư luận cho rằng thực tế Nga xem Crimée như Trung Quốc xem Ðài Loan.

Người ta còn nhớ năm 2008, Tây phương đã thất bại không ngăn cản được Nga tấn công chiếm lấy các tỉnh ly khai của Georgia thì bây giờ Tây phương cũng khó có thể ngăn cản Nga sát nhập Crimée vào lãnh thổ của mình. Nhìn chung tình hình tại Crimée biến chuyển đang có lợi cho Nga qua cuộc trưng cầu dân ý mà người ta đoán biết trước sẽ thuận theo Nga, một phần do quân Nga hiện diện và đa số cư dân là người Nga, hoặc dân Ukraine có quốc tịch Nga hay thân Nga. Mặc dù trên lý thuyết Nga đang vi phạm luật lệ quốc tế khi đưa quân bám sát biên giới Ukraine và ra lệnh cho đội quân Hắc Hải đóng tại cảng Sebastopol, phong tỏa các căn cứ quân sự của Ukraine và Quốc Hội Crimée.

Do đó tổng thống lâm thời Ukraine, ông Olexandre Tourtchinov cảnh cáo Nga rằng mọi sự di chuyển quân của hạm đội Hắc Hải ra khỏi căn cứ sẽ bị xem là “hành động xâm lược quân sự.” Lời cảnh cáo đó chưa có phản ứng kèm theo, ngoại trừ việc tuyên bố tổng động viên và yêu cầu Mỹ và Liên Hiệp Âu Châu can thiệp. Tuy nhiên, theo nhà báo Fred Kaplan thì ông Putin bất chấp những đe dọa của Tây phương, bởi vì Kaplan đặt câu hỏi: Âu Châu và Mỹ có sẵn sàng khai chiến với Moscou không? Và ông trả lời: “Ða số người Mỹ và Âu Châu sẽ không chấp nhận hy sinh lớn lao để bảo vệ Ukraine.” Vậy thì tại sao Tổng Thống Obama dám cảnh cáo, nếu Nga chiếm Crimée thì “sẽ phải trả giá.” Thử hỏi ông Obama có những phương tiện nào để buộc Tổng Thống Putin phải từ bỏ quyền lợi của mình? Bởi lẽ dân chúng Mỹ và Âu Châu không thể hy sinh chỉ vì quyền lợi của Ukraine.

Ngoài ra nếu là chiến tranh kinh tế thì đôi bên đều chịu thiệt hại nhiều, Châu Âu thiếu hụt 30% khí đốt do Nga cung cấp qua đường ống dẫn từ Ukraine, phần Nga mất tất cả tiền đầu tư của Mỹ và Âu Châu.

Hôm Thứ Sáu 8 tháng 3, 2014, Hiệp Hội Các Doanh Nghiệp Châu Âu (AEB) hoạt động tại Nga ra thông cáo kêu gọi các bên “đối thoại xây dựng” vì quan hệ kinh tế song phương tùy thuộc nhau quá lớn.

Một chuyên viên ngân hàng Ðức, ông Berrenberg cho rằng các biện pháp trừng phạt kinh tế sẽ gây thiệt hại cho phương Tây ít hơn là Nga, bởi vì tăng trưởng của Nga chỉ là 1,3% trong năm 2013 và nguồn vốn đầu tư giảm mạnh khoảng 17 tỷ Mỹ kim.

Nhiều người tỏ vẻ lạc quan cho rằng bài học Ukraine sẽ có lợi cho Việt Nam bởi vì sự nổi dậy chống độc tài tham nhũng, lật đổ bạo quyền đang có được sự ủng hộ và can thiệp của Tây phương, đó là một lợi thế nếu dân mình cũng nổi dậy xóa bỏ chế độ Hà Nội. Xét cho cùng, bài học đó khó thực hiện, bởi vì điều kiện và vị thế chính trị kinh tế khác nhau rất nhiều so với Ukraine. Tuy nhiên, lúc nào ta cũng phải ước mơ dân mình sẽ làm một cuộc cách mạng “Màu Cam” xóa bỏ chế độ độc tài bán nước.

Thực tế nhiều thập niên qua dân ta chịu sự áp bức gần như đã quen thuộc, thêm vào đó cảnh nghèo khó cột buộc người dân vào “miếng cơm manh áo,” không còn tim óc và hơi sức đòi tự do chống độc tài.
Ngoài ra nếu cần phải hy sinh đổ máu lâu dài, mấy ai dám bỏ mặc gia đình khi mình phải hy sinh mất mạng. Trừ khi có một nhà lãnh đạo nào đầy đủ uy tín, một giáo sĩ nào được dân tin như cựu Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đứng ra hô hào quần chúng nổi dậy thì người dân mới sẵn sàng hy sinh chết vì chính nghĩa. Hay là một đảng viên cao cấp, một tướng lãnh yêu nước chống Trung cộng xâm lăng làm một cuộc chính biến lật đổ chế độ. Lúc đó bọn thái thú tay sai sẽ chạy sang Tàu cầu cứu, như Tổng Thống Ukraine bị lật đổ, ông Vladimir Yakunovych đã cầu cứu Nga. Trung Quốc cũng sẽ viện lý do bảo vệ người Hoa đang tràn ngập đất nước do nhà cầm quyền Hà Nội cho họ tự do xâm nhập, cũng giống như Putin tuyên bố chiếm Crimée để bảo vệ người Nga. Và chừng đó thế giới cũng sẽ rầm rộ ủng hộ, cũng sẽ hô hào trừng phạt, nhưng thực tế sẽ không có dân chúng nước nào chấp nhận chết giùm người nước khác nếu thật sự quyền lợi và an ninh của chính nước họ không bị trực tiếp đe dọa.

Ngày xưa Nam Việt Nam là “tiền đồn” chống cộng vì Mỹ sợ kẻ thù cộng sản tràn ngập, thế giới tư bản của Mỹ và Tây phương sẽ bị thiệt hại. Còn Bắc Việt Nam làm “nghĩa vụ quốc tế” tay sai cho Tàu và Liên-Sô để bành trướng chủ nghĩa cộng sản nhằm tiêu diệt kẻ thù tư bản, thêm vào đó Hồ Chí Minh cũng chủ trương chiếm trọn Việt Nam để thống trị bằng độc tài. Kết quả dân Việt chết oan uổng vì bị kẹt vào bối cảnh quốc tế tranh hùng.

Thế giới đã thấy Chiến Tranh Lạnh gây nhiều thảm họa, ngày nay một loại chiến tranh lạnh khác, cộng thêm chiến tranh khủng bố, nhân loại sẽ gặp nhiều tai ương hơn thời gian trước.

Ngày xưa chỉ có hai cường quốc Liên-Sô và Mỹ ngự trị toàn cầu. Hai khối tàng trữ một số vũ khí nguyên tử đủ khả năng tiêu diệt hàng triệu sinh linh như đã từng thấy qua Ðệ Nhị Thế Chiến. Vì vậy sự ganh đua bị kiềm chế trong lo âu và dè dặt tối đa. Người ta còn sợ một cơn bão từ trường (orage magnétique) có thể đánh động một cách sai lạc các máy móc canh phòng, gây hiểu lầm có sự tấn công bất ngờ của đối phương, do đó xảy ra chiến tranh ngoài ý muốn. Cho nên hai bên mới đặt “dây điện thoại đỏ” trực tiếp nối liền hai vị lãnh đạo John Kennedy và Nikita Kroutchev. Sự lo ngại công khai đó chứng tỏ không bên nào muốn có chiến tranh.

Ngày nay Mỹ có phần yếu đi vì kinh tế sa sút, Trung Quốc trỗi dậy với tham vọng sẽ đứng đầu thế giới áp đặt một trật tự thế giới mới. Nhật Bản hứa hẹn sẽ cân bằng lực lượng quân sự với Trung Quốc trong hai năm, nghĩa là trong năm nay. Nga đang tàng trữ một khối vũ khí hạch tâm đủ quét sạch một phần dân số thế giới. Liên Âu có Anh, Pháp, Ðức, những cường quốc nguyên tử. Các quốc gia gọi là “nguyên tử lực” hãy còn nhiều thành viên như Pakistan, Ấn Ðộ, có thể là Do Thái, Iran trên con đường muốn trở thành hội viên, Bắc Hàn tí hon huênh hoang ta đây cũng có vũ khí giết người hàng loạt.

Tóm lại bầu không khí chiến tranh sôi sục ở Biển Ðông, ở Ðông Âu, ở Phi Châu, không còn ai sợ ai, khắp nơi người ta chủ trương “ăn miếng trả miếng.” Do đó, nhân loại có thể gặp nhiều tai ương.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Một sự hiểu lầm tai hại

Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)


Chung quanh việc Nga xâm chiếm Crimea của Ukraine, và liên quan đến Vladimir Putin, tổng thống của Nga, có một số vấn đề khiến giới bình luận chính trị Tây phương thắc mắc và bàn thảo nhiều nhất suốt mấy tuần vừa qua:

Một, tại sao tình báo của Mỹ không biết trước được việc Nga xua cả mấy ngàn quân (sau đó là cả mấy chục ngàn) đến chiếm Crimea? Hai, tại sao giới lãnh đạo Tây phương, kể cả các tổng thống Mỹ, từ George W. Bush đến Barack Obama, đều có vẻ cả tin Vladimir Putin đến vậy? Ðằng sau hai câu hỏi trên là một câu hỏi khác: Tại sao Tây phương, kể cả Mỹ, lại dễ bị Putin lừa đến như vậy?

Kiểm tra lại các bản tin tình báo gửi lên giới lãnh đạo Mỹ, ít nhất là ở Quốc Hội, người ta thấy tuy các tình báo biết rõ sự kiện Nga huy động khoảng 150,000 lính đến biên giới Ukraine nhưng hầu hết đều đánh giá khả năng Nga quyết định tấn công Ukraine rất nhỏ.

Giới chức tình báo Mỹ biện minh: họ vẫn thường xuyên cập nhật các tin tức họ thu lượm được tại Nga và Ukraine và liên tục báo cáo cho chính phủ nhưng việc đánh giá đúng ý đồ của các nhà lãnh đạo nước khác, như Nga, chẳng hạn, rất khó chính xác.

Nói cách khác, thành thực hơn: lần này mọi người từ tình báo đến chính khách đều nhầm.

Sự nhầm lẫn này xuất phát từ hai nguyên nhân chính:

Thứ nhất, từ sau sự kiện 11 tháng 9 năm 2001, phần lớn ngân sách tình báo của Mỹ đều tập trung vào nỗ lực chống khủng bố, chủ yếu từ các quốc gia Hồi giáo hoặc ở những nơi các nhóm Hồi giáo cực đoan phát triển mạnh. Nga không còn là một ưu tiên để theo dõi như thời Chiến Tranh Lạnh nữa.

Thứ hai, quan trọng hơn, hầu như mọi người đều không hiểu đúng bản chất con người của Putin.

Nhớ, vào tháng 6 năm 2001, trong lần gặp gỡ đầu tiên giữa hai người, Tổng Thống George W. Bush đã bày tỏ sự tin tưởng sâu đậm đối với Putin, người đồng nhiệm của ông ở Nga. Khi được các phóng viên hỏi tại sao, Bush tự tin đáp: “Tôi nhìn vào mắt ông ấy và thấy được tâm hồn của ông” (I looked in his eyes and saw his soul). Sự tự tin ấy, sau này, bị nhiều người chê là ngây thơ.

Nhưng không phải ai cũng thoát được sự ngây thơ ấy. Trước ngày Nga xua quân tràn vào Crimea, phần lớn các tờ báo có uy tín nhất tại Mỹ đều cho việc Putin điều động binh sĩ đến biên giới Ukraine chỉ là một trò hăm dọa. Các bài viết mang nhan đề kiểu “Tại sao Nga không xâm lược Ukraine” hay “Không, Nga sẽ không can thiệp vào Ukraine” hoặc “Năm lý do để mọi người đừng lo lắng thái quá về tình hình ở Crimea” xuất hiện đầy trên các mặt báo.

Xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng, phần lớn các học giả, các chuyên gia quân sự và chính trị nổi tiếng đều không tin là Nga sẽ tấn công Ukraine như điều họ đã từng làm đối với Georgia vào năm 2008.

Tại sao người ta dám khẳng định một cách chắc chắn như vậy?

Có ba lý do chính:

Thứ nhất, nền kinh tế của Nga hiện nay quá yếu để có thể chịu đựng nổi một cuộc chiến tranh như thế. Putin hẳn thừa biết là nếu lao vào một cuộc xâm lược như vậy, ông sẽ bị Mỹ và Tây phương trừng phạt, ít nhất về phương diện kinh tế. Việc buôn bán sẽ bị ngưng trệ, đồng rúp sẽ bị giảm giá, uy tín của Nga trên trường quốc tế sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng; bao nhiêu tiền bạc đã đổ ra cho Olympic mùa Ðông tại Sochi vừa rồi như đổ vào biển, cuộc họp thượng đỉnh của khối Bát cường (8 group) được chuẩn bị vào tháng 6 sẽ hóa thành công cốc. Ðó là chưa kể các nguy hại lâu dài: Về kinh tế, Nga phải cưu mang hơn 2 triệu người ở Crimea, trong đó 20% là người lớn tuổi; về an ninh, Nga sẽ phải đối diện với nguy cơ đánh du kích hoặc khủng bố của mấy trăm ngàn người Tatar vốn có truyền thống thù ghét Nga.

Thứ hai, nó lại không cần thiết: Ai cũng biết chính quyền Ukraine, sau cuộc cách mạng vừa rồi, đang đối diện với vô số thử thách: Nếu Nga không can thiệp, tự nó sẽ sụp đổ. Kinh tế Ukraine vốn đã gầy guộc, lại thêm nạn tham nhũng tràn lan, càng ngày càng quặt quẹo với lạm phát và nợ nần chồng chất. Mới tuần trước, tân thủ tướng Ukraine ước chừng khoảng 37 tỉ Mỹ kim bị biến mất dưới thời Viktor Yanukovych. Hiện nay Ukraine cần ít nhất 25 tỉ Mỹ kim để trả nợ và bù đắp các thiếu hụt trong ngân sách. Trong khi đó số ngoại tệ họ dự trữ được chỉ còn có 12 tỉ.

Thứ ba, không những không cần thiết, nó còn có hại. Hai cái hại lớn nhất là: Một, nó làm cho Mỹ và Tây phương phải nhảy vào giúp Ukraine. Bình thường, không có sự uy hiếp của Nga, có lẽ Tây phương sẽ hờ hững với việc giúp đỡ Ukraine sau cuộc cách mạng vừa rồi. Tây phương đang phải đối đầu với các khó khăn của chính họ, nhất là ở các thành viên mới. Họ không đủ sức để cưu mang thêm một gánh nặng khác. Nếu Nga không tấn công Crimea, chắc chắn Mỹ và Châu Âu không nhảy vào giúp Ukraine một cách nhiệt tình và tận tình như vậy. Hai, hành động hiếu chiến thô bạo của Nga làm cho dân chúng Ukraine trở thành đoàn kết hơn, yêu nước hơn và sẵn sàng chống trả Nga một cách mãnh liệt hơn. Quan sát dân tình ở Ukraine hiện nay, Chrystia Freeland cho là Nga đã thực sự thua trận.

Tất cả những điều ấy chắc chắn Putin và nhóm cố vấn của ông đều biết rõ. Ngay cả những người bình thường nhất cũng biết rõ. Vậy mà ông vẫn quyết định chiếm Crimea và có vẻ như sẽ đánh chiếm cả Ukraine. Tại sao?

Lý do đầu tiên có lẽ do Putin quá tự tin. Ông nghĩ là Mỹ sẽ không dám phản ứng gì cả. Một phần, vì Mỹ đã quá mệt mỏi với hai cuộc chiến tranh ở Iraq và ở Afghanistan, hơn nữa, họ phải tập trung đối đầu với Trung Quốc ở Châu Á. Phần khác, ông cho là hầu hết các quốc gia Âu Châu, những đồng minh thân cận nhất của Mỹ hiện nay, đều lệ thuộc vào nguồn dầu khí của Nga, lại có nhiều liên hệ kinh tế với Nga: Tất cả những nước ấy, vì quyền lợi của mình, không thể mạnh tay với Nga được. Khi Châu Âu khoanh tay, một mình Mỹ cũng chẳng làm gì được. Chính sách của Mỹ, ít nhất là dưới thời Obama, thường rất cẩn thận, tránh né mọi rủi ro; khi cần, họ chỉ lãnh đạo từ phía sau. Nếu Châu Âu không đóng vai tiên phong, Putin tin là Mỹ cũng sẽ chỉ đánh võ mồm mà thôi. Mà kiểu đánh ấy thì ông chả ngán chút nào cả.

Lý do thứ hai, quan trọng hơn, là cách suy nghĩ và cách hành xử của Putin hoàn toàn khác với Tây phương. Khác đến độ bà Madeleine Albright, cựu ngoại trưởng MỸ, cho là Putin bị hoang tưởng; phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Mỹ cho những lời lẽ của Putin về các âm mưu của Tây phương tại Ukraine là những sự hư cấu đáng giật mình nhất kể từ Dostoyevsky.

Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry cho Nga hành xử như những kẻ sống trong thế kỷ 20 hoặc thế kỷ 19! Thủ Tướng Ðức Angela Merkel, trong một cuộc điện đàm với Tổng Thống Obama mới đây, cũng đồng ý như thế khi cho dường như Putin đang sống ở một thế giới khác.

Nhưng khác như thế nào? Khác ở ba điểm chính: Một, sẵn sàng dùng bạo lực để giải quyết mọi vấn đề; hai, sẵn sàng hy sinh tất cả, kể cả sự khủng hoảng của kinh tế và sự cùng khổ của dân chúng để đạt được điều mình muốn. Nhưng sự khác biệt lớn nhất là sự nghi ngờ và căm thù đối với Mỹ và Tây phương. Putin thường nói là việc để cho chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, từ đó, làm tan rã khối Liên Bang Xô Viết trước đây là một sai lầm lớn nhất trong lịch sử nước Nga. Ông tự đặt cho mình sứ mạng là phục hồi lại đế quốc Nga bằng cách thu phục lại, và nếu cần, xâm chiếm các quốc gia láng giềng vốn thuộc Liên Bang Xô Viết trước đây. Trên con đường thực hiện giấc mộng ấy, ông xem cản trở chính là tham vọng bành trướng của Mỹ và Châu Âu. Mỗi lần Liên Hiệp Âu Châu thu nạp một thành viên mới là một lần Putin giật mình căm hận. Ông không nhìn đó như một sự phát triển đáng mừng của lịch sử về hướng dân chủ hóa mà lại xem đó như một sự đe dọa. Trước những đe dọa ấy, ông phản ứng một cách quyết liệt, bất chấp những hậu quả về kinh tế, chính trị hay xã hội.

Tuy nhiên, ông lại quên thời thế đã đổi khác. Sự liều lĩnh của ông chỉ mang lại tai họa cho nước Nga.

Trước mắt, tai họa đầu tiên đến từ một yếu tố có lẽ Putin không nghĩ đến khi quyết định tung quân đánh chiếm Crimea: Khác với cuộc xâm chiếm Hungary vào năm 1956 và Czechoslovakia năm 1968, nước Nga hiện nay có một yếu tố mới có ảnh hưởng nhanh chóng và sâu sắc đến các quan hệ quốc tế: thị trường chứng khoán. Ngay ngày đầu tiên khi binh lính Nga xuất hiện trên đất Crimea, chỉ số thị trường chứng khoán bị rớt hơn 12%, làm bay mất 60 tỉ Mỹ kim và tỉ giá đồng rúp bị giảm đến mức kỷ lục.

Về lâu về dài, ngay cả khi chiếm được Crimea hoặc ngay cả toàn lãnh thổ Ukraine, nước Nga cũng sẽ phải chịu đựng những gánh nặng kinh tế hầu như vượt ngoài khả năng của họ. Hiện nay, Nga vẫn còn đang phải còng lưng ra tài trợ cho Abkhazia và South Ossetia họ chiếm được từ Georgia, và Transnistria từ Moldova. Ukraine, với những nợ nần và tham nhũng hiện nay, nếu lọt vào tay Nga, cũng sẽ trở thành một gánh nặng khủng khiếp. Ðó là chưa kể Nga sẽ phải đối diện với các cuộc chống đối bằng vũ trang, dưới hình thức du kích hoặc khủng bố, của người Ukraine và đặc biệt, người Tatars.

Trong một bài viết mới đăng trên tờ The Washington Post, Henry A. Kissinger, cựu ngoại trưởng Mỹ thời Nixon, có nêu lên một vấn đề hay: Một chính sách được kiểm tra không phải ở chỗ nó bắt đầu như thế nào mà ở chỗ nó kết thúc như thế nào.

Nhưng trong khi chờ cuộc xâm lược ấy kết thúc, không ai được quên bài học lần này: Cách suy nghĩ và hành xử của Putin hiện nay không khác gì mấy so với các nhà độc tài cộng sản trước đây. Thay tên đổi họ, ông vẫn không giấu được dòng máu của Stalin trong huyết quản.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Crimea hôm nay và 6 tỉnh biên giới phía bắc của Việt Nam ngày mai.
Nguyễn Nghĩa650
(Danlambao) - Cuộc trưng cầu dân ý mới đây tại Crimea với 97% cử tri ủng hộ việc tách Crimea ra khỏi Ukraine, để gia nhập Liên bang Nga, đã trao vào tay Tổng thống Nga Putin một lý do hợp pháp, nhằm đề nghị Quốc hội Nga tiến hành qui trình sát nhập Crimea vào Nga.

Đây là một hình thức chiếm đoạt lãnh thổ thời dân chủ: 97% dân số tình nguyện từ bỏ chủ quyền của bán đảo này.

Trước đây, trong lịch sử của Crimea, người Tatar luôn chiếm ti lệ đông nhất quãng 90% tổng dân số.

Vài chục năm về trước, khi Stalin còn sống, ông ta đã đuổi đi hầu hết người Tatar crimea.

Sau khi Liên Xô tan rã, người Tatar tha hương dần trở lại quê hương của mình.

Tuy vậy, hôm nay họ chỉ là thiểu số trên chính quê hương của mình.

Hiện nay, những chủ nhân gốc của Crimea chỉ còn chiếm khoảng dưới 10% dân số bán đảo Crimea, người Nga chiếm quãng 60% tổng dân số hiện nay.

Là Iwan hung tàn, giết người vô số, nhưng Stalin đã làm 1 việc mà vài chục năm sau còn có lợi cho Nga. Dĩ nhiên là sau khi đuổi người Tatar khỏi Crimea, Stalin di dân Nga vào Crimea.

Hôm nay hậu quả của việc di dân đã thấy rõ ràng: Nga xâm lược Crimea theo yêu cầu của người dân Nga tại Crimea.

Dẫu sao thì cũng phải nhận thấy rằng Stalin đã nhìn xa và muốn làm lợi cho nước Nga.

Còn các lãnh tụ Việt Nam ta thì sao?

Nguyễn Phú Trong, Tổng bí thư ĐCS VN ngày 15/10/11 trong Thông báo chung với Trung Quốc đã nhấn mạnh:

"4.11. Mở rộng hơn nữa sự giao lưu, hợp tác giữa các địa phương hai nước, nhất là các tỉnh giáp biển, giáp biên giới của hai nước như Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Quảng Ninh, Điện Biên, Hà Giang, Lai Châu của Việt Nam với Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Hải Nam của Trung Quốc."

Mở rộng giao lưu giữa các tỉnh biên giới là gì, nếu không phải là tuồn hàng hóa kém chất lượng sang VN; nếu không phải là di dân bất hợp pháp sang Việt Nam; nếu không phải là hối lộ, tha hóa cán bộ các tỉnh biên giới của Việt Nam; nếu không phải là thu mua lậu khoáng sản Việt Nam....

Chỉ một thời gian không lâu nữa, khi tình hình chính trị Việt Nam có biến động, cái trò hề nhân dân các tỉnh biên giới trưng cầu dân ý tình nguyện sát nhập với TQ sẽ được diễn ra.

Stalin làm lợi cho Nga ngay cả khi đã chết rồi, còn Nguyễn Phú Trọng làm lợi cho TQ, có thể khi đang còn sống.

Hôm nay ông ta còn dập khuôn TQ, ra vẻ như trong sạch chống tham nhũng.

Thế chiếc phong bì đầy ắp tiền. mà các ủy viên BCT ĐCS VN ai cũng được nhận sau khi dự án Boxit Tây Nguyên được triển khai, có tính là hối lộ của TQ không, hả TBT.

Bán nước tinh vi, nhận hối lộ cả tập thể là đặc tính chung của chóp bu cộng sản hôm nay.

Nguyễn Nghĩa650

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Đảng Có Lãnh Đạo Tài Tình Sáng Suốt?

Le Nguyen
Từ khởi thủy đảng cộng sản được lãnh đạo bởi những cá nhân vô tài kém đức, dư thủ đoạn tàn ác gian manh, thừa tham vọng độc quyền quyền lực nên đảng không ngần ngại đẩy dân vào bể máu, dìm nước xuống vũng lầy đói nghèo lạc hậu không lối thoát mà đảng vẫn cứ tự hào, tự cho rằng đảng lãnh đạo tài tình sáng suốt, đảng tự tiện đặt vào mồm đảng “xã hội chủ nghĩa” là sự chọn lựa đúng đắn của nhân dân?

Ai cũng nghe trong thời gian dài tồn tại, đảng thường lu loa “ý đảng lòng dân” nhưng người dân, những ai phản bác chứ chưa nói đến có thái độ chống chủ trương chính sách còn khiếm khuyết bất cập tồi dở của đảng, nghĩa là nói khác quan điểm khác ý đảng, động lực chính yếu cần phải có để xây dựng phát triển đất nước đều bị ghép vào tội, nhẹ là tuyên truyền chống phá, nặng hơn là thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân?

Hiện nay xét đến hậu quả kinh tế xã hội, xã hội chủ nghĩa hẳn người Việt Nam ai cũng biết đảng cộng sản chỉ có tài cầm súng cầm búa liềm, ôm bom ôm chủ nghĩa hoang dã mù quáng bất kể chết chứ đảng không có khả năng phát triển kinh tế, xây dựng đất nước ấm no hạnh phúc, hùng cường thịnh vượng. Người dân, nếu có ai cảm thấy bất bình, bức xúc công khai lên tiếng phê phán chủ trương hay chính sách phát triển ngu xuẩn của đảng đều bị đảng bịt miệng bịt mồm trắng trợn bằng nhiều cách, như cách cho du đảng chặn đường hành hung, rồi vu cho tội gây rối trật tự công cộng là một trong những cách bịt mồm của đảng trong nhà nước “dân chủ” cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thế thì những gì người dân khác quan điểm, khác ý đảng phê phán chủ trương chính sách yếu kém hoặc chê đảng nhà nước lãnh đạo tồi dở không có khả năng xây dựng phát triển kinh tế, xã hội công bình dân chủ văn minh, có phải là luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch nói xấu, chống phá đảng như đảng quy chụp?

Thú thật, chê nhà nước cộng sản tồi dở, nói đảng cộng sản tự khoe lãnh đạo tài tình sáng suốt là đảng nói láo, đảng mỵ dân thật sự chứ không phải nói xấu phỉ báng bôi nhọ ai cả và những ai nói hoặc cho rằng đảng lãnh đạo tồi dở là chính xác!

Để chứng minh cho luận điểm đảng không lãnh đạo sáng suốt tài tình, chúng ta sẽ lần lượt điểm qua một số tồi dở hiện nay, ngay thời điểm này do đảng lãnh đạo.

Trước hết, một trong nhiều mặt lãnh đạo tồi dở của đảng là hệ thống y tế, lãnh vực y tế xuống cấp trầm trọng được cơ quan truyền thông loa đài nhà nước báo động đỏ đã từ lâu. Thế nhưng, lãnh đạo đảng không thể cải thiện được tình hình mà ngành y tế ngày càng tồi tệ hơn.

Ở đây, chúng ta sẽ không bàn đến tồi tệ của “tiêu cực”trong ngành y tế, chỉ kể đến những tồi dở cụ thể, nào là viện phí tăng nhưng tiêu chuẩn phục vụ lại xuống, bệnh viện hôi hám dơ dáy mất vệ sinh, tiên ích tối thiểu cho bệnh nhân không có, một giường hai ba bệnh nhân nằm chung, bệnh nhân nằm tràn lan dưới sàn phòng, tràn ra đến ngoài hành lang. Dụng cụ máy móc y khoa thiếu thốn lạc hậu, y tá y sĩ bác sĩ tay nghề kém lẫn thiếu trầm trọng, nhiều bệnh nhân chết do định bệnh sai, nhiều thai phụ chết do thiếu bác sĩ sản khoa thường xuyên xảy ra, vẫn không thấy bộ trưởng y tế, nhân vật chủ chốt đầu ngành y tế người chịu trách nhiệm trực tiếp đưa ra giải pháp khả thi nhằm giải quyết những hậu quả yếu kém của ngành y tế xuống cấp đang tồn tại. Chúng ta chỉ nghe người đầu ngành ồn ào tuyên bố tăng viện phí để cải thiện chất lượng phục vụ y tế?

Lẽ ra, nếu đảng cộng sản cầm quyền thật sự lãnh đạo tài tình sáng suốt thì đảng đã biết theo dõi tiên lượng, điều hợp ngành nhân dụng, giáo dục đào tạo để đáp ứng số lượng nhân viên, chuyên viên có tay nghề đủ chuẩn tối thiểu cho ngành y tế trước khi quá muộn và nếu bảo rằng đảng tài tình sáng suốt, chắc hẳn đảng đã biết phân bổ ngân sách, sử dụng viện trợ quốc tế hợp lý để trang bị dụng cụ máy móc y khoa tương đối tân tiến, xây thêm nhà thương, tăng thêm giường cho bệnh nhân mỗi năm một ít trước khi xảy ra quá tải để không phải lâm vào tình thế tồi tệ, thiếu thốn trầm trọng mọi mặt đã vượt ra ngoài khả năng ngân sách để nâng cấp, cải tổ ngành y tế Việt Nam như hiện nay.

Người dân cũng đã thấy, đảng lãnh đạo tồi dở không chỉ ở ngành y tế, ngay cả ngành du lịch, một ngành kinh tế không khói không gây hiệu ứng làm nóng quả địa cầu, không tàn phá tài nguyên thiên nhiên vô tội vạ gây ảnh hưởng đến môi trường sống như nhiều ngành kỹ nghệ khác. Ngành du lịch không những tạo ra nhiều công ăn việc làm cho dân mà nó lại còn kiếm tiền vừa dễ lại vừa nhiều cho nước. Vậy mà đảng “lãnh đạo” quá tệ, lãnh đạo du lịch như mèo mửa, làm du lịch như con nít bán đồ chơi, như anh nông dân cuốc cày vở đất lồi lõm phản cảm vô trách nhiệm với tâm trạng hồ hởi:

“Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng
Lòng khỏe nhẹ anh dân quê sung sướng” (1)

Có lẽ do đảng mang tâm thế hồ hởi của “bác” nông dân nên đảng không nhận ra yếu kém, nghịch lý trong phát triển kinh tế xã hội công bằng, dân chủ, văn minh có liên quan đến ngành du lịch như đảng hay tụng niệm. Đảng hồ hởi sung sướng như anh nông dân cày xong thửa ruộng nên đảng không thấy cơ sở hạ tầng, không thấy ưu điểm ngành du lịch của khu vực và quốc tế. Người ta làm du lịch biết cách hấp dẫn khách du lịch đến một lần phải trở lại nhiều lần nữa để khám phá, tìm hiểu đất nước con người của xứ sở mà họ đến du lịch vui chơi, giải trí sau một năm làm việc mệt nhọc căng thẳng.

Nói thật, du lịch Việt nam không đủ sức hấp dẫn cũng như không rẽ hơn so các nước trong khu vực, có thổ nhưỡng cảnh quang gần tương đồng và cơ sở hạ tầng của Việt Nam không thể sánh bằng cơ sở hạ tầng của các nước này. Chưa kể nhiều địa điểm du lịch của Việt nam nhếch nhác thiếu nghệ thuật thẩm mỹ, nếu không muốn nói là đảng dùng “thiện chí” cuốc cày trong thời đại toàn cầu hóa, tung xới bề bộn, phá hoại cảnh quang thiên nhiên, tàn phá kiến trúc cổ, di tích lịch sử Việt Nam. Đảng cũng thiếu “khả năng”, đúng hơn là không có khả năng thẩm thấu tính khoa học trong tổ chức du lịch, làm giảm sức hút khách du lịch trở lại thì lấy gì cạnh tranh, phát triển bền vững, lâu dài với kinh tế thị trường của thời đại toàn cầu để tự nhận vơ vào lãnh đạo tài tình sáng suốt?

Ngoài những yếu tố yếu kém khách quan vừa kể, Việt Nam còn thiếu hoàn thiện một việc rất nhỏ nhưng không hề nhỏ trong ngành du lịch? Đó là cầu tiêu, nói dân dã bổ bã hơn là chỗ “ỉa, đái” tương đối sạch sẽ để phục vụ nhu cầu du lịch như cầu tiêu ở nơi công cộng, cầu tiêu trên các trạm dừng nghỉ cho khách du lịch, cầu tiêu ở các địa điểm tham quan du lịch, những cầu tiêu này nhiều năm không đổi, khách có nhu cầu bước vào cầu tiêu như bị tra tấn khứu giác, khủng bố thị giác, các trẻ em sinh đẻ lớn lên ở nước ngoài bước vào thấy ruồi nhặng bay vèo vèo phải khóc thét lên, bị ám ảnh “ghê sợ” không dám trở lại lần nữa, đều là sự thật!

Kế đến là mục tiêu xã hội công bằng dân chủ văn minh cũng không thấy trong đảng lãnh đạo của ngành du lịch, vui chơi giải trí cho toàn dân Việt Nam, đối tượng được đảng ưu ái phong tặng chức “chủ” đất nước. Nếu chịu khó quan sát những tụ điểm du lịch vui chơi giải trí do đảng lãnh đạo đối chiếu với thực tiễn đời sống của người dân, chúng ta sẽ thấy đảng chỉ phục vụ chủ yếu cho khách nước ngoài, cho thiểu số lắm tiền nhiều bạc trong đó có đảng, bè đảng của đảng chứ không nằm trong cũng như không hề có trong khẩu hiệu xã hội công bằng dân chủ văn minh như đảng ra rả trên loa đài ngày này qua tháng khác.

Có lẽ, không khó để thấy du lịch, vui chơi giải trí do đảng lãnh đạo chỉ phục vụ cho thiểu số nếu những ai có cơ hội tiếp cận các sân golf hoành tráng, khu nghỉ dưỡng sang trọng, bãi biễn đẹp mơ màng trên lãnh thổ Việt Nam. chắc hẳn sẽ nhận ra không có cửa nào cho giai cấp công nhân, nông dân thành phần lao động được đảng tiên phong lãnh đạo theo chủ nghĩa Marx- Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh bước vào. Có thể nói, giai cấp làm chủ đất nước như đảng tuyên dương đúng theo định nghĩa của đảng có nằm mơ cả đời cũng không hưởng được, họa chăng là khi bước qua thế giới bên kia. Thế thì mục tiêu xã hội công bằng dân chủ văn minh nằm ở đâu trong thực tiễn đời sống của người dân Việt Nam?

Tình trạng đất nước ruỗng nát, xuống cấp trầm trọng mọi mặt từ cơ cấu hệ thống nhà nước đến con người và xã hội hiện nay đến độ “quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa”(2) không phải một ngày một bửa mà nó xảy ra trông phát tởm đến như vậy! Khách quan mà nói, với tình hình hiện tại bất cứ cá nhân nào dù có tài “thánh” cũng khó cải sửa cái được gọi là tài tình sáng suốt của đảng, bởi nó đã tích lủy ngày một ít trong thời gian dài từ đời lãnh đạo đảng này sang lớp lãnh đạo đảng khác, cho đến ngày hôm nay mức độ hư hoại của hệ thống tổ chức cai trị, nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gần như vô phương chỉnh đốn, chỉ còn cách duy nhất là đốn bỏ và chôn nó đi.

Có thể nói, không còn nghi ngờ gì nữa, nguyên nhân chính là do đảng không tài tình sáng suốt nhưng đảng giành độc quyền lãnh đạo mọi mặt đời sống, độc quyền cơ cấu, chỉ định những kẻ kém tài, thiếu chuyên môn với tư duy nhiệm kỳ không chịu trách nhiệm gì nữa sau khi rời nhiệm vụ và những kẻ này lại kém nhân cách, dư thừa ngu trung. Việc cơ cấu, chỉ định của đảng như hình thức đảng ban ơn mưa móc, mua chuộc sự trung thành của đám tay chân thuộc hạ chứ không quan tâm đến nhu cầu phát triển ổn định, điều hoà kinh tế xã hội với tầm nhìn xa, tầm nhìn mang tính chiến lược của đảng chính trị cầm quyền, lãnh đạo tài tình sáng suốt đúng thật với nghĩa của nó.

Lược sơ qua cung cách đảng lãnh đạo ngành y tế, du lịch, vui chơi giải trí đã phát sợ cho tài lãnh đạo của đảng, một đảng chính trị độc quyền lãnh đạo kinh tế xã hội và nếu chúng ta kiên nhẫn, xem xét đến việc đảng lãnh đạo kinh tế vĩ mô vi mô, công nghiệp hóa hiện đại hóa, tài chánh ngân hàng, chứng khoán bất động sản, vàng bạc đá quý... và soi rọi hơn tám mươi năm cuộc đời của đảng, của “đời ta” có đảng, trong đó có việc đảng chủ động làm theo “lệnh” khởi phát nhiều cuộc chiến tranh, thực hiện nhiều chiến dịch phong trào cách mạng của ai đó, ở ngoài biên giới quốc gia Việt Nam...chắc hẳn chúng ta sẽ rùng rợn hơn nhiều cho sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của đảng!

Như thế, những cảm nghĩ phát sợ hay cảm giác rùng rợn khi nhận diện rõ bản chất của đảng lãnh đạo, rồi chia sẻ suy tư với mọi người và bài tỏ thái độ lập trường rõ ràng dứt khoát chỉ thẳng mặt đảng nói: “đảng lãnh đạo tồi dở chứ tài tình sáng suốt con mẹ gì!” Hành động chỉ ra khả năng thật sự của đảng, có phải là thái độ phỉ báng bôi nhọ thanh danh lãnh đạo tài tình sáng suốt của đảng cộng sản Viêt nam?

Xin lỗi, nhìn thực tế nói chuyện hiện tại, nói thật đảng đừng “nãn” chuyện nhỏ như con thỏ là hệ thống cống rãnh, xử lý rác thải, làm cầu “ỉa”phục vụ điều kiện vệ sinh đàng hoàng, tối thiểu cho đời sống người dân, đảng làm còn chưa xong chưa tốt thì lấy chi sáng suốt tài tình? Nói theo lối nói của các quan lớn quan bé công an, an ninh còn đảng còn mình có phần hơi thô tục “vô tư”nhưng chính xác: “đảng lấy cái con c... gì để lãnh đạo tài tình sáng suốt mà đạt chuẩn xã hội công bằng dân chủ văn minh hở đảng?”

Chú thích:

1)Thơ Tố Hữu.
2)Thơ Bùi Minh Quốc.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Cuộc đấu trí giữa Putin và ba đời tổng thống Mỹ


Trong suốt 15 năm qua, Tổng thống Vladimir Putin là ẩn số làm đau đầu ba thế hệ tổng thống Mỹ.
Họ định xây dựng mối quan hệ với cựu đại tá tình báo KGB theo cách của Washington, nhưng thực tiễn không như mong muốn.

Tổng thống Bill Clinton coi Putin là một người lạnh lùng và đáng ngại, nhưng dự đoán ông sẽ trở thành một lãnh đạo cứng rắn, tài năng.
Còn tổng thống George W. Bush muốn làm bạn và đối tác với Putin trong vấn đề chống khủng bố, nhưng cuối cùng vỡ mộng.

Tổng thống Barack Obama nỗ lực cải thiện quan hệ với Điện Kremlin, bằng cách xây dựng quan hệ với các nhà lãnh đạo Nga khác.
Chiến lược này từng có tác dụng trong một thời gian, nhưng quan hệ Mỹ-Nga dần xấu đi và đang xuống đáy kể từ sau Chiến tranh Lạnh.

Với các phương thức khác nhau, ba đời tổng thống Mỹ đều nỗ lực xây dựng mối quan hệ mới, có ý nghĩa lịch sử với Nga.
Nhưng đến cuối cùng họ đều phát hiện ra rằng những cố gắng đều khó thành trước Putin, một cao thủ võ thuật đồng thời là cựu đại tá tình báo KGB.

Họ hoặc là hình dung Putin thành một con người hoàn toàn khác, hoặc là tự cho rằng có thể điều khiển một con người vốn không bao giờ
chịu bị khống chế. Họ quan sát Putin bằng lăng kính của mình, cho rằng ông sẽ tính toán lợi ích của Nga theo giả định của họ.
Và cả ba người đều đánh giá thấp sự bất mãn của tổng thống Nga.

Image
Cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton (trái) và Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Moscow tháng 4/2000. Ảnh: AFP


Washington hiện nay dường như không còn chút ảo tưởng gì về Putin nữa, đặc biệt sau sự kiện Crimea sáp nhập vào Nga dẫn đến hàng loạt quyết định trừng phạt của Mỹ và châu Âu. Theo nhiều chuyên gia, câu hỏi hiện nay không còn là Mỹ với Nga cần hợp tác như thế nào, mà là hai bên sẽ đối đầu ra sao.

"Ông ấy đã tuyên bố rõ lập trường. Đây là con người mà chúng tôi cần đối phó, không thể hy vọng vấn đề tự biến mất được", New York Times dẫn lời ông Tom Donilon, cựu cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Obama.

Theo nhận định của các trợ lý ba đời tổng thống Mỹ, các ông chủ Nhà Trắng không hề ngây thơ mà không nhận ra được con người thực của Putin, nhưng họ lại cho rằng xây dựng một mối quan hệ tốt hơn nữa là giải pháp duy nhất. Và có lẽ chính những chính sách của phương Tây đã khiến ông chủ Điện Kremlin bất mãn, ví dụ như việc Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) không ngừng mở rộng ra phía đông, chiến tranh Iraq hay chiến tranh Libya.

"Ông ấy đi ngủ với suy nghĩ của Peter Đại đế và thức giấc với tư duy của Stalin. Chúng ta cần phải hiểu rõ ông ấy là ai, muốn gì. Điều này có lẽ sẽ không giống với những gì chúng ta tưởng tượng trong thế kỷ 21", Nghị sĩ Mike Rogers, chủ tịch Ủy ban tình báo của Hạ viện Mỹ, cho biết trong một cuộc phỏng vấn với đài NBC.

Ông Clinton là tổng thống Mỹ đầu tiên đối mặt với Putin, mặc dù thời gian cùng tại nhiệm của hai người không nhiều. Phần lớn thời gian trong hai nhiệm kỳ của Clinton, ông xây dựng được mối quan hệ ổn định với cố tổng thống Boris Yeltsin. Năm 1999, Putin được chỉ định làm thủ tướng và sau đó trở thành tổng thống trong đêm giao thừa sau khi người tiền nhiệm từ chức.

"Tôi ra khỏi cuộc họp và tin rằng Yeltsin đã lựa chọn một người kế nhiệm có năng lực và mẫn cán, có thể ứng phó tốt hơn ông ấy trước tình hình kinh tế, chính trị bất ổn của Nga lúc đó. Hơn nữa, tình hình sức khỏe của Yeltsin thời điểm đó cũng không được tốt", tổng thống Clinton viết trong hồi ký của mình.

Sau khi Putin chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống hồi tháng 3/2000, Clinton đã gọi điện chúc mừng. "Sau khi gác máy, tôi nghĩ ông ấy đủ cứng rắn để đoàn kết nước Nga", cựu tổng thống Mỹ viết.

Nhưng Clinton cũng có những lo lắng về sự cứng rắn đó, khi ông chủ mới của Điện Kremlin chỉ huy cuộc chiến chống ly khai ở nước cộng hòa Chechnya. Clinton từng thúc giục Yeltsin chú ý đến người kế nhiệm, và cảm thấy bị bị gạt sang lề khi Putin dường như thờ ơ trong việc hợp tác với một tổng thống Mỹ sắp mãn nhiệm.

Tuy nhiên, đó là thời điểm Putin tăng tốc quá trình cải tổ hệ thống thuế, đất đai và luật pháp Nga. Theo đánh giá của ông Strobe Talbott, thứ trưởng Ngoại giao thời Clinton, Putin "đủ trẻ, đủ khéo léo và đủ thực tế để hiểu rằng, nước Nga đang diễn ra quá trình dịch chuyển cần thiết mà ông ấy cần phải thúc đẩy nó".
Image
Putin và cựu tổng thống George W. Bush tại Slovenia, tháng 6/2001. Ảnh: AFP


Tổng thống Bush nhậm chức với sự hoài nghi về Putin và từng gọi người đồng cấp là "kẻ lạnh lùng". Nhưng sau cuộc hội đàm tại Slovenia tháng 6/2001, Bush lại phát biểu rằng: "Khi tôi nhìn vào mắt ông ấy, tôi thấy cả tâm hồn của ông". Putin đã tạo sự kết nối với Bush, một con chiên thành kính, thông qua câu chuyện về đức tin của chính bản thân mình.

Tuy nhiên, không phải ai trong chính phủ Mỹ cũng bị câu chuyện trên làm cảm động. Cựu phó tổng thống Dick Cheney cho biết mỗi lần nhìn thấy Putin, trong đầu ông chỉ nghĩ đến KGB. Nhưng tổng thống Bush đã quyết xóa nhòa hố ngăn lịch sử và lấy lòng Putin khi ông thăm trại Davis cùng trang trại của gia tộc Bush ở Texas.

Tổng thống Putin thường nói về việc ông là lãnh đạo nước ngoài đầu tiên gọi cho người đồng cấp Mỹ sau khi vụ khủng bố 11/9 xảy ra. Và ông cũng là người mở một hành lang cho lực lượng hậu cần của quân đội Mỹ vào Afghanistan chống khủng bố.

Nhưng ông chủ Điện Kremlin không cảm thấy sự báo đáp từ đối tác trong Nhà Trắng. Quan hệ giữa hai người trở nên căng thẳng bởi cuộc chiến Iraq và thái độ can thiệp của Washington trước tình hình chính trị trong nước Nga. Đến nhiệm kỳ thứ hai của Bush, hai nhà lãnh đạo tranh cãi không thôi về chế độ chính trị của Nga. Trong hội nghị tại Slovakia năm 2005, căng thẳng đạt đến đỉnh điểm.

"Chẳng khác nào một cuộc biện luận thời trung học", tổng thống Bush phàn nàn với cựu thủ tướng Anh Tony Blair. Một năm sau, sự thất vọng của Bush về Putin càng gia tăng hơn nữa. "Tôi nghĩ chúng ta đã không còn kiểm soát được ông ấy", Bush nói với một nhà lãnh đạo nước ngoài về Putin.

Tuy nhiên, Bush không muốn từ bỏ, bất chấp việc các quan chức xung quanh ông không còn thấy cơ hội. Sau cuộc hội đàm đầu tiên với Tổng thống Putin, bộ trưởng Quốc phòng Mỹ khi đó là Robert Gates đã nói với đồng nghiệp rằng: "Tôi nhìn thẳng vào mắt Putin và đúng như những gì tôi từng dự đoán, ông ấy lạnh lùng như đá".

Năm 2008, Bush thúc đẩy việc kết nạp Ukraine và Gruzia vào NATO, động thái gây chia rẽ trong nội bộ khối và khiến cho Putin tức giận. Tháng 8, khi hai nhà lãnh đạo đang tới dự Olympic Bắc Kinh, chiến sự tại Gruzia nổ ra.

Trong hồi ký, Bush nhớ lại cuộc đối đầu với Putin. "Tôi đã cảnh báo ông là Saakashvili (tổng thống Grudia khi đó) máu nóng mà", Bush nói.

"Tôi cũng máu nóng", Putin đáp.

"Không, ông là người máu lạnh", Bush trả lời.

Washington đáp trả bằng cách gửi viện trợ nhân đạo cho Gruzia, điều một tàu chiến tới khu vực và ngừng thoả thuận hạt nhân dân sự với Nga. Bush cũng lo rằng Crimea sẽ là mục tiêu tiếp theo, nhưng cuối cùng đã thành công trong việc ngăn cản Nga sáp nhập Gruzia.

Trước tình hình cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra và việc ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ, chính quyền Bush đã không áp dụng các lệnh trừng phạt kinh tế với Nga như việc chính phủ Obama đang làm hiện nay.

"Chúng tôi và các nước châu Âu bị đẩy vào mối quan hệ tồi tệ vào cuối 2008", ông Stephen Hadley, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Bush cho biết. "Chúng tôi khi đó muốn hy vọng gửi đi một thông điệp rằng, điều này là không thể chấp nhận được về mặt chiến lược. Nay nghĩ lại chúng tôi có lẽ nên làm nhiều hơn, ví dụ như trừng phạt kinh tế".
Image
Tổng thống Obama chưa từng xây dựng được mối quan hệ hợp tác tin tưởng lẫn nhau với người đồng cấp Nga Putin. Ảnh: AFP


Ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Obama đã thay đổi chiến lược của người tiền nhiệm, coi việc khôi phục quan hệ với Moscow là trọng tâm ngoại giao trong những ngày đầu làm chủ Nhà Trắng. Sách lược của Obama là bước qua Putin, nỗ lực gây dựng quan hệ với các lãnh đạo khác của Nga.

Tổng thống Putin đã tuân thủ Hiến pháp Nga, rời khỏi vị trí chủ nhân của Điện Kremlin sau khi kết thúc hai nhiệm kỳ. Ông chuyển giao quyền lực cho Dmitry Medvedev, còn bản thân mình đảm nhiệm vai trò thủ tướng. Trước sự kiện trên, Tổng thống Obama quyết định coi Medvedev như nhà lãnh đạo thực sự của Nga. Trước chuyến công du đầu tiên tới Moscow, ông còn công khai tán dương Medvedev như một nhà lãnh đạo thế hệ mới.

Không ít người nghi ngờ chiến lược này của Obama, bao gồm cựu bộ trưởng Quốc phòng Gates và cựu ngoại trưởng Hillary Clinton. Nhưng cả hai người đều thống nhất rằng chiến lược này đáng để thử. Hillary mang đến cho người đồng cấp Nga một món quà là chiếc nút bấm in chữ "tái khởi động".

Tuy nhiên, quan hệ Nga-Mỹ không diễn tiến như những điều ông Obama mong muốn. Bất chấp áp lực ngoại giao của Washington, Moscow từ chối dẫn độ và cấp phép tị nạn cho cựu nhân viên tình báo Edward Snowden. Trong vấn đề Syria, Nga cũng ba lần bỏ phiếu phản đối dự thảo nghị quyết do Mỹ đi đầu, có nội dung cho phép Liên Hợp Quốc áp đặt lệnh trừng phạt lên chính quyền Tổng thống Bashar al-Assad. Tổng thống Putin cũng không chấp thuận Hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược (START mới) do Tổng thống Obama ký duyệt.

Một số chuyên gia về Nga cho rằng Tổng thống Obama không hiểu ông Putin đánh giá như thế nào về cuộc biểu tình diễn ra tại thủ đô Kiev của Ukraine, cuộc biểu tình dẫn đến sự ra đi của ông Viktor Yanukovych.

"Trong hoàn cảnh Obama và Putin chưa xây dựng được mối quan hệ hữu hảo và tin cậy lẫn nhau, thì khả năng giải quyết vấn đề thông qua tiếp xúc cấp cao gần như là không thể", ông Andrew Weiss, phó chủ tịch Quỹ hòa bình quốc tế Carnegie, nguyên cố vấn về vấn đề Nga của tổng thống Clinton, bình luận.

Obama từng nỗ lực giải quyết khủng hoảng Ukraine, thông qua việc nhờ Thủ tướng Đức Angela Merkel, người có quan hệ tốt với Putin, làm trung gian điều đình. Nhưng bà Merkel nói riêng với tổng thống Mỹ rằng Tổng thống Putin "sống trong một thế giới khác".

Câu chuyện đang diễn ra tại Washington hiện nay xoay quanh câu hỏi: Tổng thống Putin không ngừng thay đổi trong suốt 15 năm qua, hay chỉ là bởi cách nhìn thế giới của ông và phương Tây không giống nhau.

Một số chuyên gia cho rằng Obama và hai người tiền nhiệm chỉ nhìn thấy điều mà họ muốn nhìn thấy. "Căn cứ theo quan niệm của phương Tây, Putin là một người theo chủ nghĩa thực dụng, sẽ hợp tác nếu như lợi ích chung đủ lớn. Nhưng chúng ta đã bị cách nghĩ này che mắt, bởi quên rằng mục đích của Putin là thay đổi trật tự thế giới sau Chiến tranh Lạnh", Giáo sư James Goldgeier, trưởng khoa quan hệ quốc tế thuộc đại học American, nhận định.

"Moscow đã mất đi sức hưởng quan trọng trong trật tự thế giới sau Chiến tranh Lạnh, phải chứng kiến cảnh phương Tây không ngừng mở rộng phạm vi ảnh hưởng.

"Phương Tây cho rằng ông ấy không lý trí, nhưng trên thực tế ông ấy rất lý trí theo logic của riêng mình và chuẩn bị rất kỹ càng", ông Andrei Illarionov, cựu cố vấn của Tổng thống Putin, nói. "Chính là phương Tây đã xa rời thực thế chứ không phải Putin".


Đức Dương
(theo New York Times)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Ukraine, Nga, Trung Quốc và Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc


Trong sinh hoạt chính trị thế giới từ đầu năm 2014 đến nay, sự kiện Nga xâm lược bán đảo Crimea của Ukraine chắc chắn là sự kiện quan trọng,
thu hút sự chú ý và gây nên nhiều phản ứng nhất. Các phản ứng ấy có thể chia ra làm ba loại:
Một, phê phán Nga; hai, bênh vực Nga; và ba, dè dặt hoặc né tránh một thái độ rõ ràng dứt khoát.

Phản ứng đầu tiên chiếm đa số. Hầu hết các tổ chức siêu quốc gia (supranational) từ Liên Hiệp Âu Châu (European Union)
đến Hội Ðồng Âu Châu (Council of Europe), Hội đồng an ninh Liên Hiệp Quốc (UN Security Council), NATO đều tuyên bố Nga vi phạm chủ quyền
của Ukraine. Hầu hết các quốc gia Tây phương cũng đều lên án hành động lấn chiếm phi pháp của Nga.

Image
Các chiến xa của quân đội Ukraine rời khỏi Crimea. (Hình: AP/Photo)


Ðiều đặc biệt là hầu hết các quốc gia Ðông Âu vốn tách ra từ Liên Bang Xô Viết hoặc vốn thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây cũng phê phán Nga một cách gay gắt. Lithuania và Ba Lan ra thông báo chung yêu cầu Nga phải tôn trọng chủ quyền của Ukraine. Bộ Ngoại Giao Albania cho hành động xâm chiếm Crimea của Nga là việc làm trái với luật pháp quốc tế. Azerbaijan, Belarus, Bosnia và Herzegovina đều yêu cầu Nga phải tôn trọng sự độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine. Tổng thống Bulgaria, Latvia và Georgia, Bộ trưởng ngoại giao các nước Cộng Hòa Czech, Estonia, Phần Lan, Hungary, Romania, Serbia, Liechtenstein, Lithuania, Malta, Uzbekistan, Maldova và Montenegro, v.v... đều kêu gọi quân lính Nga rút ra khỏi Crimea và Nga phải tôn trọng chủ quyền của nước láng giềng.

Những nước ủng hộ Nga rất ít. Hầu như chỉ có ba nước công khai ủng hộ Nga: Cuba, Syria và Trung Quốc. Cuba và Syria thì ra tuyên cáo ủng hộ Nga và lên án Mỹ cũng như khối NATO một cách kịch liệt. Còn ở Trung Quốc thì, một mặt, Bộ Ngoại Giao kêu gọi các bên tìm cách giải quyết tranh chấp một cách hòa bình; mặt khác, Chủ Tịch Tập Cận Bình lại điện thoại cho Putin thông báo là ông ủng hộ Nga.

Lưng chừng ở giữa là một số nước, như Armenia, Colombia, Ấn Ðộ, Kazakhstan, Macedonia, Pakistan, Slovenia, và Việt Nam: Tất cả đều bày tỏ sự “quan tâm” của họ trước sự căng thẳng tại Crimea và kêu gọi các bên giữ bình tĩnh và tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế.

Nói là ở giữa, nhưng nhiều nước trong số này lại tỏ ra thiên vị hẳn về phía Nga. Ví dụ, trả lời câu hỏi về quan điểm của Việt Nam trước tình hình Crimea, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Hải Bình, một mặt, “hy vọng mọi vấn đề được giải quyết trong khuôn khổ pháp luật, vì lợi ích của nhân dân Ukraine, vì hòa bình, phát triển tại khu vực và trên thế giới”; mặt khác, lại “đề nghị Ukraine có các biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn tính mạng và tài sản cho cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm ăn tại Ukraine.” Lời đề nghị ấy kể ra cũng bình thường, hơn nữa, còn chứng tỏ sự quan tâm đến những người Việt đang sinh sống và lao động tại Ukraine, nhưng nó lại hàm ý đổ trách nhiệm về phía chính quyền Ukraine.

Việc Cuba và Syria công khai lên tiếng bênh vực và ủng hộ hành động lấn chiếm Crimea của Nga thì không có gì đáng ngạc nhiên. Các nhà bình luận chính trị trên thế giới quan tâm nhiều nhất đến phản ứng của Trung Quốc. Họ đặt vấn đề: Tại sao Trung Quốc lại đồng ý với Nga trong việc xâm lấn này?

Theo James R. Holmes, lý do chính là Trung Quốc muốn biến hành động xâm chiếm Crimea của Nga thành một tiền lệ trong sinh hoạt chính trị thế giới để sau đó họ có thể dùng bạo lực để xâm chiếm Ðài Loan, hơn nữa, một số quốc gia láng giềng khác ở Ðông Nam Á. Thì cũng nhân danh việc cứu giúp những người đồng chủng. Thì cũng dùng vũ lực để đặt thế giới vào cái thế đã rồi. Nếu mọi người chấp nhận việc Nga cướp Crimea từ tay của người Ukraine thì tại sao lại lên án Trung Quốc nếu Trung Quốc, một ngày nào đó, đổ quân lên Ðài Loan hoặc một số hòn đảo đang tranh chấp với các nước khác?

Andong Peng thì cho Trung Quốc xem Crimea như một cái bẫy để làm cho Mỹ sa lầy vào đó và không còn khả năng để quay lại Châu Á. Với Trung Quốc, đó cũng là nơi làm tiêu hao quyền lực mềm của Mỹ: nếu Ukraine bất lực trước Nga và Mỹ cũng như NATO không giúp được gì Ukraine trong hoàn cảnh tuyệt vọng ấy, các nước nhỏ khác sẽ không còn tin tưởng ở Mỹ nữa.

Ðó là những tính toán chiến lược của Trung Quốc. Nhưng còn Việt Nam? Tại sao Việt Nam lại có vẻ đồng tình với Nga? Thiếu Tướng Lê Văn Cương, nguyên viện trưởng Viện Chiến Lược thuộc Bộ Công An, cho hành động xâm lược của Nga ở Crimea là “phù hợp với các hiệp định song phương được ký giữa Nga và Ukraine” và “không trái với Hiến chương Liên Hợp Quốc.” Hơn nữa, ông còn cho những đe dọa trừng phạt Nga của Mỹ và Tây phương chỉ là “chém gió.”

Trên các diễn đàn mạng, các dư luận viên của Hà Nội cũng đồng loạt bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với việc Nga dùng vũ lực để chiếm đóng Crimea. Họ cho đó là điều hợp lý bởi hai lý do: Một, về phương diện lịch sử, đó vốn là đất của Nga, chỉ được Tổng Bí Thư Liên Xô Nikita Khrushchev tặng cho Ukraine năm 1954; và hai, về phương diện dân số, hơn một nửa dân số Crimea là người Nga.

Việc ủng hộ một động thái của một nước khác, nhất là khi nước ấy lại là một cường quốc, bao giờ cũng là một lựa chọn chính trị.

Ở đây có hai lựa chọn chính: Một là lựa chọn đồng minh và hai là lựa chọn cách thế hành xử.

Khi Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ Nga, một cách mặc nhiên, họ chọn thái độ đối lập với Mỹ và Tây phương nói chung. Trong thời Chiến Tranh Lạnh, đó là một chọn lựa dễ hiểu. Nhưng nó sẽ lại trở thành khó hiểu ở thời điểm hiện nay khi Việt Nam đối diện với những nguy cơ lớn từ phía Trung Quốc, và, theo những gì một số nhân vật lãnh đạo muốn người ta hiểu, đang tìm mọi cách để cân bằng áp lực đến từ Trung Quốc. Nếu chiến lược ấy có thật thì Nga chỉ là một trong những lựa chọn, nhưng đó không phải là một lựa chọn tối ưu vì, thứ nhất, thành thực mà nói, hiện nay, trừ vũ khí nguyên tử, Nga không còn đủ sức mạnh để có thể giúp Việt Nam thoát khỏi hiểm họa từ Trung Quốc; và thứ hai, Nga không có lý do gì để vì Việt Nam mà phải đối đầu với Trung Quốc.

Về phương diện cách thế hành xử, rõ ràng Việt Nam hoàn toàn không có lợi gì, nếu không muốn nói chỉ có hại khi ủng hộ hành động một nước lớn xâm chiếm toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ của một nước nhỏ khác. Giáo Sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam của Úc, đã nhận thấy điều đó khi liên hệ vụ Crimea với vụ Hoàng Sa của Việt Nam: Cả hai đều bị một nước lớn cưỡng chiếm; và ở cả hai trường hợp, nước nhỏ và yếu hơn đành thúc thủ, hơn nữa, càng ngày càng thúc thủ ngay cả về phương diện pháp lý.

Nhưng Hoàng Sa chỉ là một việc thuộc về quá khứ. Vấn đề quan trọng hơn là những gì thuộc về tương lai. Những gì xảy ra ở Hoàng Sa trước kia hoặc Crimea hiện nay cũng có thể xảy ra ở Trường Sa hoặc bất cứ một mảnh đất nào trên lãnh thổ Việt Nam chỉ với những lý do bâng quơ, ví dụ, đó là đất ngày xưa (ví dụ thời Bắc thuộc) thuộc Trung Quốc hay là để bảo vệ người Hoa ở đó.

Ở Tây phương, một trong những lý do chính để người ta phản đối hành động xâm lược của Nga ở Crimea là vì thế. Thứ nhất, phần lớn biên giới giữa các quốc gia hiện nay không còn trùng hợp với biên giới ngày trước, do đó, yếu tố lịch sử không còn đủ sức thuyết phục. Ví dụ, nhân danh yếu tố lịch sử, Campuchia có thể đòi lại phần đất thuộc phía Nam của Việt Nam hoặc Pháp có thể đòi lại toàn bộ lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia với lý do cả ba đều thuộc vùng Ðông Dương của Pháp (vấn đề ở đây là người ta đẩy cái gọi là lịch sử ấy đến thời nào). Thứ hai, phần lớn biên giới các quốc gia hiện nay không còn đồng nhất với biên giới sắc tộc và/hoặc ngôn ngữ. Nếu nhân danh yếu tố sắc tộc và ngôn ngữ để đòi chủ quyền thì Anh có thể lấy lại đất của Úc, của Tân Tây Lan, thậm chí, của Canada và Mỹ; Pháp có thể đánh chiếm Quebec của Canada.

Những ví dụ vừa nêu có vẻ như quái gở. Nhưng nếu đồng ý với việc Nga chiếm Crimea thì người ta cũng đồng thời mở ngỏ cho vô số những khả năng quái gở như vậy.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tham vọng bành trướng của Putin đẩy Nga vào thế bị cô lập

Lý Ðại Nguyên

Dân chúng Ukraine nổi lên chống đối nhà độc tài tham nhũng thân Nga là Tổng Thống Viktor Yanukovych, để cho Quốc Hội Ukraine truất phế ông này. Nhân cơ hội đó, Vladimir Putin, tổng thống nước Nga, lấy cớ bảo vệ người Ukraine gốc Nga, đã mở ra các cuộc tập trận ở giáp ranh giới giữa Nga và Ukraine, đồng thời tung quân (không mang phù hiệu Nga) vào chiếm giữ Crimea, rồi ngày 16 tháng 3, 2014, tổ chức cuộc 'trưng cầu dân ý, kết quả có đến 97% cử tri Crimea xin gia nhập nước Nga, liền sau đó nhà nước Nga đã công nhận Crimea sát nhập vào nước Nga. Làm như thế Nga đã vi phạm Luật Pháp Quốc Tế, về Tuyên Bố Alma Ata tháng 12, 1991 của một nước Ukraine Ðộc Lập Thống Nhất. Vi phạm bản ghi nhớ Budapest năm 1994 (có Anh Mỹ tham dự,) nhằm bảo đảm an ninh cho Ukraine để đổi lấy việc chuyển kho vũ khí nguyên tử về Nga. Xé bỏ Hiệp Ðịnh năm 1997 về việc cho phép hạm đội Biển Ðen của Nga đóng tại quân cảng Sevastopol ở Crimea, ký giữa Ukrane và Nga.

Ðây là lý do chính đáng để tổng thống Mỹ, Barack Obama và các nước Ðồng Minh Liên Âu, tung ra một cuộc vận động, nhằm Cô Lập Hóa nước Nga. Trong một sắc lệnh mới được công bố, Tổng Thống Obama cho hay: “Các chính sách và hành động của Liên Bang Nga tỏ ra là gây phương hại cho các tiến trình và cơ chế dân chủ ở Ukraina, đe dọa đến hòa bình, an ninh, ổn định và sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraina, và góp phần vào việc phân bổ không đúng các tài sản, do đó gây ra mối đe dọa bất thường đối với an ninh quốc gia và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.” Cả Liên Âu và Hoa Kỳ đều đưa ra các biện pháp trừng phạt cụ thể, nhắm vào các cố vấn chính trị hàng đầu và các nhà đại tài phiệt của Nga đang ủng hộ chính sách Ðế Quốc Bành Trướng của Putin. Giữa lúc nền kinh tế của Nga bết bát, thị trường chứng khoán Nga xuống dốc thê thảm, các nhà đầu tư ngoại quốc chuẩn bị bỏ chạy. Hiện nước Nga đang nợ nước ngoài lên đến $732 tỉ. Nga chỉ dựa vào dầu hỏa và khí đốt để duy trì nền kinh tế èo uột của mình, nên không thể ngưng cung cấp nguồn nhiên liệu này để trả đũa Liên Âu, vì đó là thị trường không thể thiếu của Nga. Putin cũng không dám phiêu lưu dùng giải pháp quân sự.

Lại cũng không còn thể dùng tư thế chính trị quốc tế để mặc cả với Âu-Mỹ. Như việc Nga hợp tác với Mỹ về vấn đề Syria, hay vấn đề giải từ nguyên tử của Iran. Vì hiện nay Syria đã trao nộp kho vũ khí hóa học cho quốc tế, trừ được hiểm họa diệt vong của Do Thái, nên Mỹ đâu còn cần tới vai trò hòa giải của Nga nữa. Vì Putin cố giữ chiếc ghế tổng thống độc tài ác nhân cho ông Bashar al-Assad, làm cho hội nghị Geneva về Syria đã thất bại. Mỹ quyết bỏ al-Assad, nên đã ra lệnh đóng cửa tòa đại sứ và các tòa lãnh sự của Syria trên đất Mỹ. Vấn đề chiến tranh huynh đệ tương tàn ở Syria để cho các nước Ả Rập tự lo lấy. Còn Iran vì không chịu nổi sự cấm vận của Mỹ và lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc, đã chịu ngồi vào bàn thương thuyết. Như thế đâu còn cần tới lá phiếu phủ quyết của Nga nữa. Vậy là cuộc vận động “Cô Lập Hóa” Liên Bang Nga của tổng thống Mỹ, Obama đã thành hình, chỉ cần nước Tàu Cộng Sản theo xuôi là xong.

Bên lề Hội Nghị Thượng Ðỉnh An Ninh Hạt Nhân ở La Haye, 2 ngày 24-25 tháng 3, 14 tại Hòa Lan, trong cuộc họp bất thường khẩn cấp của nhóm G7 gồm Mỹ, Anh, Canada, Pháp, Ðức, Ý và Nhật.

Tổng Thống Obama nói rằng: “Mỹ và Âu Châu đồng lòng trong việc tìm cách áp đặt trừng phạt lên nước Nga vì hành động của nước này ở Ukraine.” G7 quyết định không tham dự hội nghị G8 do Nga chủ trì ở Sochi, mà sẽ họp G7 vào tháng 6 này tại Brussels. Tức là loại Nga ra khỏi tổ chức của các nước Kỹ Nghệ Hàng Ðầu Thế Giới. Trong cuộc gặp với thủ tướng Hòa Lan, Mark Rutte, ở Amsterdam cùng ngày, Tổng Thống Obama cho biết: “Âu Châu và Hoa Kỳ đoàn kết ủng hộ chính phủ Ukraine và người dân Ukraine.” Phó tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đi Âu Châu để trấn an các nước Ðông Âu.

Ngày 24 tháng 3, 14, tổng thống Mỹ Barack Obama gặp Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào của Trung Quốc ở Hòa Lan. Hai bên đã đạt được 10 thỏa thuận. Trong đó có việc thiết lập các nguyên tắc về an toàn hàng hải và không phận tại các vùng biển quốc tế. Dịp này ông Tập Cận Bình nói với ông Obama rằng, “Hoa Kỳ nên có thái độ công bằng trong vụ tranh chấp ở Biển Hoa Ðông và Biển Ðông.” Thật là ngược ngạo, kẻ đang gây hấn ở Biển Hoa Ðông, đang ngang nhiên dùng sức mạnh vũ lực xâm chiếm toàn vùng Biển Ðông của các nước láng giềng Ðông Nam Á một cách bất hợp pháp, và trực tiếp đe dọa an toàn hàng hải khắp vùng, lại yêu cầu Mỹ có thái độ công bằng ở đây là sao?” Công bằng duy nhất là Mỹ phải làm cho Trung Quốc ra khỏi cơn mê sảng Ðế Quốc Bành Trướng, mới là thái độ công bằng chính trực nhất. Trong khi đó ông Obama lên tiếng cảm ơn ông Tập Cận Bình và phu nhân Bành Lệ Viện đã tiếp đón bà Michelle Obama, hai con gái và bà mẹ vợ của ông, trong chuyến viếng thăm Trung Quốc ở Bắc Kinh đầy tình cảm. Ông vui vẻ nhắc tới trận bóng bàn giữa bà Obama với một cây vợt Trung Quốc, và đùa rằng: “Ðây không phải là cuộc ‘Ngoại Giao Bóng Bàn.’” Làm cho tất cả đều nhớ tới trận ngoại giao bóng bàn giữa các tuyển thủ Mỹ-Hoa năm 1971. Ngay sau đó, Trung Hoa Cộng Sản của Mao Trạch Ðông được vào thay thế Trung Hoa Quốc Gia của Tưởng Giới Thạch trong vị trí hội viên thường trực của Hội Ðồng Bảo An Liên Hợp Quốc. Phải chăng Obama ngầm gợi ý với họ Tập, G8 còn trống một ghế đang chờ Trung Quốc. Nếu Bắc Kinh từ bỏ tham vọng đế quốc, bành trướng ở Biển Hoa Ðông, cũng như ở Biển Ðông, làm hòa với Nhật và có trách nhiệm với các nước trong khối ASEAN.

Ngày 25 tháng 3, 14, Tổng Thống Obama tham gia Hội Nghị Thượng Ðỉnh 3 bên với thủ tướng Nhật Shinzo Abe và tổng thống Nam Hàn Parl Geun-Hye, để hòa giải thù hận lịch sử giữa hai đồng minh chiến lược, đang có quân Mỹ đóng ở các nước này. Nhằm củng cố thế liên minh quân sự, chính trị, kinh tế vững mạnh ở khu vực Bắc Á, vừa để “cô lập hóa Nga” vừa “ngăn bành trướng Trung Quốc.” Việc Mỹ cô lập Nga, lôi kéo Trung Quốc, nhưng vẫn không quên đề phòng tham vọng bành trướng của Trung Quốc, đó là một tuyệt chiêu chính trị trong giai đoạn đầy mâu thuẫn chằng chịt này. Ðến đây thì không thể chê ông Obama là tay non kém chính trị, nhu nhược trước các đế quốc bành trướng hung đồ, như Nga và Trung Quốc. Ông Obama biết cách nuôi tham vọng của các đế quốc đó, để cuối cùng họ bị bại vì chính lòng tham của họ. Việt Nam ta ngàn từ xưa đã có thành ngữ: “Tham thì thâm, bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham!” Không biết ông Tập Cận Bình của Trung Quốc đã học được bài học này của ông Putin nước Nga hay chưa? Liệu ông Nguyễn Tấn Dũng và giới lãnh đạo Việt Cộng có học được bài học cay nghiệt của Ukraine, hay vẫn cứ ngu si dựa vào đế quốc Trung Quốc, bám lấy quyền hành tham nhũng, để rồi chịu chung số phận như Viktor Yanulovych của Ukraine?

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nghị Quyết SR-455: 'Hãy trả lại sự thật cho lịch sử'

TNS. Richard Black vinh danh Quân, Dân, Cán, Chính VNCH

Linh Nguyễn/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Ông Richard Black, Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Virginia đến Little Saigon trong hai ngày để trao tặng
cộng đồng người Việt Nghị Quyết SR-455, vinh danh Quân, Dân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa,
và đặt vòng hoa lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật, 30 Tháng Ba, tại Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Mỹ ở Westminster.

Image
Thượng Nghị Sĩ Richard Black tại Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Mỹ hôm Chủ Nhật. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Tôi đến đây để đặt vòng hoa và nghiêng mình tưởng niệm các chiến hữu Việt-Mỹ đã anh dũng hy sinh trong trận chiến Việt Nam. Tôi xin trao tặng cộng đồng người Việt nghị quyết SR-455 của Thượng Viện Virginia, nhằm vinh danh Quân, Dân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời lên án sự tàn bạo của cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến cũng như trong hiện tại,” TNS. Richard Black tuyên bố trước một số cựu quân nhân thuộc mọi binh chủng, và đồng hương từng phục vụ trong guồng máy chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975.

Cùng tháp tùng với vị dân cử có Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ, cũng đến từ Virginia.

Sau khi đặt vòng hoa, TNS. Richard Black ca ngợi sự dũng cảm của người lính Quân Lực VNCH.

“Là một quân nhân tham chiến tại Việt Nam khi tôi mới 21 tuổi, tôi chứng kiến sự chiến đấu dũng cảm của người lính Việt Nam. Phải nói là tôi chưa từng thấy một người lính Việt Nam nào mà không biểu tỏ sự can đảm của mình. Họ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Chúng ta thua cuộc chiến không phải vì chúng ta không chiến đấu, mà vì Hoa Kỳ đã bỏ rơi họ,” ông cao giọng.
Image
TNS. Richard Black (trái) và Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích tại nhật báo Người Việt hôm Thứ Bảy. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Tôi chứng kiến người lính Việt Nam ngã xuống, vợ họ cầm súng, con họ tiếp đạn và họ chống lại quân cộng sản bạo tàn đến hơi thở cuối cùng. Tôi thấy những bà mẹ Việt Nam trao đứa con còn bồng trên tay, cho một quân nhân Mỹ hoàn toàn xa lạ và chỉ mong con của bà được đến xứ tự do,” ông nói và mắt nhìn mọi người tham dự.

“Những quân nhân Mỹ tham chiến tại Việt Nam bị lãng quên trong nhiều năm nhưng đã được dân chúng Mỹ phục hồi danh dự. Chiến hữu của họ là những quân nhân Việt Nam cũng xứng đáng được tôn trọng. Hãy trả lại sự thực cho những người lính kiêu hùng này. Vì thế, tôi soạn nghị quyết này để làm bằng chứng cho những sự thật lịch sử mà tôi thấy trong cuộc chiến,” lời ông nói bị ngắt quãng bằng những tràng pháo tay của mọi người tham dự.

Ông nhấn mạnh: “Tôi luôn thấy hình ảnh một ngày nào đó thế hệ trẻ lớn lên tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại, tìm được nội dung của nghị quyết SR-455 trong một ống tre đâu đó về sự thực của lịch sử và nói rằng 'tôi biết rõ ràng cha ông chúng tôi là những chiến sĩ can đảm', 'tôi biết mà'”

Tối Chủ Nhật là buổi tiếp tân, bắt đầu từ 4 giờ chiều tại nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana.

Hai chiếc xe Jeep được ban tổ chức đặt phía ngoài lối vào nhà hàng. Trên cao là một biểu ngữ, dưới ba sọc đỏ nằm ngang tượng trưng cho lá cờ Việt Nam, có dòng chữ lớn “Vinh danh Việt Nam Cộng Hòa”.

Phía dưới là chữ JR-455 nằm bên trái và chữ Quốc Hội Virginia, USA, bên phải.
Image
TNS. Richard Black (giữa) và mọi người tham dự tại lễ đặt vòng hoa. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Các quân nhân thay nhau chụp hình lưu niệm với tác giả của Nghị Quyết SR-455.

Rất đông người tham dự buổi tiệc. MC là ông Nguyễn Mạnh Chí với phần văn nghệ do thành viên của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt San Diego phụ trách.

Các tà áo dài rằn ri màu lính của các chị trong Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ do nha sĩ Cao Minh Hưng hướng dẫn, được mọi người tán thưởng nhiệt liệt. Vị chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia San Diego cùng tham gia hát bài “Lá cờ thiêng” cùng các thành viên của Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt San Diego.

TNS. Richard Black tóm tắt thời gian tham chiến và các kỷ niệm ở Việt Nam của ông qua lời dịch của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông không tiếc lời vinh danh sự quả cảm của Quân, Dân, Cán, Chính VNCH.

Ngoài một số quan khách được ban tổ chức giới thiệu như cựu Thượng Nghị Sĩ Lê Châu Lộc, bà quả phụ Thiếu Tướng Lê Trung Trực, cựu Đại Tá Lê khắc Lý, còn có hai dân cử gốc Việt hiện diện là Thị Trưởng Westminster Trí Tạ và Nghị Viên Chris Phan của Hội Đồng Thành Phố Garden Grove, và một số thân hữu khác như ông Hồ Văn Sinh, nhà văn Chu Tất Tiến...

Ông Hoàng Kim Thanh, 68 tuổi, cư dân Westminster, cựu đại úy Nhảy Dù, tâm sự: “TNS Black thật là người bạn quý. Sau 39 năm mà ông vẫn nhớ đến tình chiến hữu. Tôi cảm phục và xúc động khi nghe ông nói người lính Việt Nam kiên trì chống cộng suốt 39 năm qua. Việc ông làm rất có ý nghĩa. Hy vọng thế hệ hậu duệ trong và ngoài nước tiếp nối cha ông để giữ sự toàn vẹn lãnh thổ.”

“ Tôi bệnh nằm nhà, nghe ông thượng nghĩ sĩ đến tôi cũng phải chịu khó đến đây xem ông ấy nói gì. Người Mỹ hối hận và công nhận VNCH mình có chính nghĩa và lên án Việt cộng tàn ác là đúng rồi,” bà Hoàng Lan Lê, 75 tuổi, cư dân Westminster, nói.

Bà Ngân Nguyễn, 70 tuổi, cư dân Garden Grove, cho biết: “Tôi thấy đây là vấn đề mình chờ đợi từ lâu. Ông thượng nghị sĩ ấy là cựu quân nhân nên ông ấy hiểu được mình. Mong các tiểu bang khác cũng lấy nghị quyết này mà làm theo, như vụ cờ vàng ấy!”
Image
Một cựu quân nhân Không Quân VNCH chào vị dân cử trước cửa nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Trước đó, hôm Thứ Bảy, lúc 1 giờ trưa, TNS Richard Black và Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích dành cho nhật báo Người Việt một buổi tiếp xúc và phỏng vấn. Ngay sau đó, hai vị có buổi họp báo tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa & Báo Chí. Tại đây, sau khi họp báo, TNS Richard Black nhờ ông Lý Kiến Trúc, chủ nhiệm câu lạc bộ, giữ bản Nghị Quyết SR-455 tại trụ sở để giới truyền thông và đồng hương Việt Nam có thể tham khảo và vận động các tiểu bang khác của Hoa Kỳ làm theo, như Nghị Quyết Cờ Vàng trước đây.

Theo tài liệu của ban tổ chức họp báo, TNS Richard Black từng phục-vụ ba lần ở Việt-nam, từ 1969 đến 1972. Là một phi công trực thăng thuộc Sư-đoàn TQLC của Mỹ, ông bay tất cả 269 phi vụ, chuyên chở các binh sĩ đồng minh và VN vào chiến trận và vào bốc họ ra trong những chuyến tải thương. Qua kinh nghiệm này, ông chứng kiến sức chiến đấu dũng cảm, kiên cường và bền bỉ của các chiến sĩ VNCH do đó mà ông cũng rất được mến phục. Riêng phần ông, trực-thăng của ông trúng đạn tất cả bốn lần, và một lần chính người lính truyền tin của ông bị trúng đạn chết ngay tại chỗ. Trong một cuộc hành quân qua sông Hội An và đụng độ dữ dội với địch quân, hai người trong toán của ông sau đó đã được huy chương danh-dự “Medal of Honor,” huy chương cao quý nhất dành cho những hành động anh hùng kiệt xuất trong quân đội. Ông cũng là một trong những người hiếm hoi ở Quốc Hội Virginia được huy chương Sao Đồng “Bronze Star” do bị thương tại mặt trận.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Đối đầu tại Ukraine: “Công tâm và công thành” và bài học nào cho chúng ta?

Chu Chi Nam

(Danlambao) - Sau khi Poutine sát nhập Crimée vào Nga, tình hình Ukraine vẫn còn nóng bỏng, nhiều cuộc vận động chính trị, ngoại giao, nhiều lời tuyên bố, tất nhiên nhiều bài bình luận, và nhiều dự đoán tiên liệu là Poutine có ngừng tại đây hay tiếp tục thừa cơ lấn chiềm cả vùng lãnh thổ phía đông Ukraine.

Từ khi bà cựu Ngọai trưởng Hoa Kỳ, Hilary Clinton, trong một buổi họp mặt gây quỹ tại Californie đã so sánh hành động của ông Poutine với hành động của Hitler. Từ đó, khiến người ta liên tưởng đến Đệ Nhị Thế Chiến (1939 – 1945), tới Chiến tranh Lạnh (1945 – 1990), tới lời tuyên bố cũng của một người cựu Ngoại trưởng Hoa kỳ, ông Henry Kissinger trong thời gian Chiến tranh Lạnh: “Hoa kỳ không có bạn mà chỉ có đồng minh”, tới cuộc tranh hùng tư bản - cộng sản và xa hơn nữa, tới câu của một nhà tư tưởng quân sự:

“Thượng sách là công tâm - trung sách công lương - hạ sách mới tới công thành.” Công tâm đây là dùng chiến tranh tâm lý, chính trị, ngoại giao. Công lương là chiến tranh kinh tế. Công thành là chiến tranh quân sự.

Xét quá khứ, qua 3 câu nói trên, chúng ta hãy suy ngẫm về chiến lược ngoại giao của Hoa kỳ hiện nay tại Ukraine.

Khác với thời Đệ Nhất (1914 – 1918) và Đệ Nhị thế Chiến (1939 – 1945), Hoa kỳ luôn đợi cho cuộc chiến gần ngã ngũ, rồi mới nhảy vào, lần này Hoa kỳ nhảy vào cuộc đối đầu với Nga ở Ukraine rất sớm, chẳng hạn như hôm mồng 06/03, trong khi các nguyên thủ Âu châu đang họp ở Bruxelles, thủ đô nước Bỉ, chưa có quyết định, thì Tổng thống Hoa Kỳ, trong một bài diễn văn, đã đưa ra những biện pháp trừng phạt Nga về ngoại giao và kinh tế.

Giống như thời gian Chiến tranh Lạnh, Hoa kỳ lần này ở Ukraine, cũng đặt ưu tiên cho giải pháp ngoại giao và kinh tế. Ngay từ lúc đầu, qua chỉ thị của tòa Bạch ốc, đối với những cơ quan cấp dưới, thì không có vụ bàn về giải pháp quân sự, đó là chính thức được công bố, còn họ bàn kín thì không rõ.

Nói đến giải pháp kinh tế, nhớ đến câu nói của Bà Hilary Clinton, ví Poutine hiện nay với Hitler, làm người ta nhớ tới Staline và hội Nghị Yalta, ở Crimée, thời Đệ Nhị Thế Chiến.

Yalta nằm ngay phía đông của Crimée, nhìn ra Hắc hải (Mer Noire), là nơi nghỉ hè của Nga hoàng khi xưa, sau đó được đảng Cộng sản Liên sô dùng làm nơi nghỉ hè của cán bộ cao cấp.

Hội nghi Yalta họp từ ngày 4 đến 11 tháng hai năm 1945, gồm 3 nguyên thủ của 3 đại cường quốc lúc bất giờ: Roosevelt của Mỹ, Churchill của Anh và Staline của Liên sô, bàn về thế giới sau Đại Chiến, vì vào lúc đó Đức quốc xã của Hitler bị đặt vào tình trạng chắc chắn sẽ thua.

Cũng xin nói sơ về hội nghị này, nó chứng tỏ rất rõ ràng chính sách công tâm và công lương của Hoa Kỳ, ngược lại chính sách công thành của Staline suốt thời gian sau này trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Ba người đến hội nghị này với những dự tính khác nhau: Roosevelt đến hội nghị với lý tưởng xây dựng một thế giới hòa bình trong tương lai, dựa trên sự thành lập tổ chức Liên Hiệp quốc, với 5 quyền phủ quyết mà ông cho rằng là 5 cột trụ chính trong Hội Đồng Bảo An của tổ chức này để duy trì hòa bình. Đồng thời ông nghĩ đến việc xây dựng kinh tế và trao đổi thương mại trong tương lai. Chính vì vậy mà ông đã tổ chức Hội nghị Bretton Woods và một hiệp ước được ký kết bởi 44 quốc gia vào tháng 7 năm 1944, tại đây, sau khi ông chết vào ngày 12 tháng 4 trước đó, chết đúng 2 tháng sau hội nghị Yalta.

Hội nghị Brettons Wood qui định về hệ thống tiền tệ quốc tế và sự trao đổi mậu dịch với sự ra đời của Quĩ Tiền tệ quốc tế (FMI) và Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO).

Chúng ta cũng nhớ, trước đó là tất cả những tiền tệ thế giới đều dựa trên kim bản vị, có nghĩa là được bảo đảm bằng vàng, nhất là đối với những cường quốc. Nhưng Hoa kỳ biết rằng, sau Đệ Nhị Thế Chiến, các nước Âu châu kinh tế bị kiệt quệ, số vàng trong ngân hàng quốc gia bị giảm sút, mà nhu cầu trao đổi thương mại sẽ tăng, cần nhiều tiền tệ. Nếu giữ kim bản vị, thì không có vàng để bảo đảm, chính vì vậy, Hoa kỳ, qua hội nghị Bretton Wood, đã đưa ra nguyên tắc « Gold Exchange Standard «, có nghĩa là cho phép các nước Âu châu vừa lấy kim bản vị vừa lấy Dollar bản vị. Nói một cách cụ thể dễ hiểu, lấy trường hợp cụ thể như Ngân hàng Trung ương Đức, trong kho dự trữ có cả vàng lẫn Dollars, thì có thể phát hành đồng Đức Mã dựa trên tương quan giữa vàng và Đức mã theo qui định của chính phủ, và đồng thời cũng có thể phát hành đồng Đức Mã dựa trên tương quan giữa Đô la và Đức Mã, chẳng hạn tương quan đó là 1 Dollar ăn 3 Đức Mã, thì nếu Đức có dự trữ 1 tỷ $ trong Ngân hàng trung ương, thì Đức có thể phát hành 3 tỷ Đức Mã, cộng với phần Đức Mã phát hành dựa trên vàng. Nhưng chúng ta nên nhớ một điều rằng Hoa kỳ lúc nào cũng nói và giữ nguyên tắc là Đồng $ trị giá như vàng, nhất là đối với các ngân hàng quốc gia trung ương, nếu lúc nào muốn đổi ra vàng thì Hoa kỳ sẵn sàng đổi. Tuy nhiên số $ trên thị trường càng ngày càng nhiều, số vàng của ngân hàng trung ương Hoa kỳ không thể cung ứng sự đổi ra vàng được. Hiện tượng này cứ kéo dài mãi cho tới năm 1968, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon lấy quyết định qua một sắc luật là Dollar từ giờ phút này không còn được đổi ra vàng nữa, vì $ không phải chỉ dựa trên kim bản vị, mà dựa trên sức mạnh của kinh tế Hoa kỳ và lòng tin của mọi người. Đây là một quyết định, theo một số nhà kinh tế, thì có tính cách tân đế quốc và lợi dụng lòng tin của người khác.

Tân đế quốc ở chỗ Hoa Kỳ được coi như ông chủ sòng bạc, ông chủ sòng bạc đã là đế quốc rồi, nhưng ông chủ này còn có thể in số lượng tiền ra bao nhiêu cũng được để chơi, không có cái gì để bảo chứng, nên bao giờ cũng thắng.

Lợi dụng lòng tin người khác ở chỗ là những ngân hàng trung ương của các nước khác, ngay như hiện nay, lúc nào cũng dự trữ khoảng 70% Dollars, so với những ngoại tệ khác, và người dân thường, các nhà buôn, lúc nào đi du lịch hay buôn bán vẫn muốn cầm Dollar, vì dễ trao đổi. Kinh tế Hoa kỳ phát triển liên tục, tất nhiên có một vài lần khủng hoảng, do nhiều nguyên do, nhưng một trong những nguyên do chính là từ hệ thống tiền tệ này.

Điều này nó còn cắt nghĩa sự kiện hai quốc gia và có thể nói ở bình diện quốc tế, dự trữ số $ nhiều nhất hiện nay là 2 quốc gia Á châu, Trung cộng vào khoảng gần 3 000 tỷ $ và Nhật hơn 2 000 tỷ $.

Đây là 2 quốc gia buôn bán và thặng dư nhiều nhất với Hoa Kỳ.

Lấy trường hợp Trung cộng: Trao đổi giữa Hoa kỳ và Trung cộng một năm là vào khoảng gần 400 tỷ $, trong đó Trung cộng bán sang Hoa Kỳ vào khoảng 300 tỷ và mua của Hoa kỳ vào khoảng 100 tỷ, thặng dư có lợi cho Trung cộng là khoảng gần 200 tỷ.

Câu hỏi đặt ra là tại sao như vậy?

Nền kinh tế Trung cộng trong những thập niên gần đây chủ yếu là để xuất cảng, tuy nhiên với phần lớn các nước khác trên thế giới là thất thâu, chỉ với Hoa kỳ là bội thâu, như vừa nói. Tuy nhiên để giúp đỡ những nhà xuất cảng Trung cộng, thì nước này bắt buộc phải làm thế nào để giá trị đồng $ trên thị trường quốc tế và nhất là quốc nội phải ở giá cao. Theo trường phái Kinh tế Số lượng (Ecole quantitative), thì chúng ta lấy tổng số tiền Nhân dân tệ là M1 (Nhân dân tệ) và M2 (Tổng số Dollar), trên thị trường. Nếu chúng ta lấy M1 chia cho M2, thì sẽ ra giá trị của Dollar so với Nhân dân tệ.

M1/M2 = Giá trị Dollar.

Giá trị này tăng hay giảm là tùy theo sự tăng giảm của M1 và M2.

Nếu M1 tăng mà M2 giữ nguyên hay M1 giữ nguyên mà M2 giảm, thì trị giá Đollar tăng hay ngược lại. Chính vì vậy để cho $ tăng, nhằm giúp những nhà xuất cảng của mình sang Mỷ, chính quyền trung ương Trung Cộng, gần như lúc nào cũng phải bỏ tiền của mình ra mua Dollar; và cũng vì vậy mà số dự trữ $ của Trung cộng rất lớn và lúc nào cũng tăng. Tuy nhiên Trung cộng không dám tung $ ra thị trường thế giới, làm như vậy là tự giết những nhà xuất cảng của mình đầu tiên. Cũng lợi dụng tình trạng đó, Hoa Kỳ cứ in $ ra một cách không bảo chứng, để dùng tiền này làm nhiều việc trong đó có việc làm tăng trưởng kinh tế, việc chạy đua vũ trang v..v…

Một điều đáng ngạc nhiên là người ta chỉ nghe những lời chỉ trích Trung cộng là luôn đi theo một chính sách tiền tệ, kìm hãm đồng Nhân dân tệ rẻ hơn so vơi đồng Dollar từ 10 đến 15 % trên thị trường để giúp đỡ chính sách kinh tế nhằm vào xuất cảng, nhất là sang bên Hoa kỳ; nhưng người ta lại không nghe những lời chỉ trích Hoa kỳ in Dollar ra mà không có vàng bảo chứng, bảo rằng Dollar dựa trên nền kinh tế Hoa kỳ, nhưng nhiều khi nền kinh tế này khó khăn lại chính là lúc chính phủ cho in tiền ra để tiêu xài hay tìm cách hạ giá lãi xuất của Ngân hàng Trung Ương (taux d’escompte), để vực dậy kinh tế.

Trở về hội nghị Yalta, chúng ta vừa nói đến ý định của Roosevelt, nay xin nói đến Churchill và Staline. Churchill đến với hội nghị là để bảo vệ đế quốc Anh, làm thế nào để nó không bị sụp đổ. Còn Staline đến với hội nghị là trên nguyên tắc đồng ý với Roosevelt nhưng trên thực tế thì làm thế nào để bành trướng đế quốc cộng sản, cho quân tràn sang những nước Đông Âu, rồi xúi dục những đảng cộng sản bản xứ nổi lên cướp chính quyền. Điều này không những Staline làm ở Đông Âu, mà còn ở Tàu, Việt Nam và Hàn quốc.

Nguyên việc hội nghị Yalta được tổ chức tại vùng bờ biển Crimée, đối diện ra biển Hắc Hải, do Staline tổ chức đã cho thấy ưu thế của Liên sô lúc đó. Trong hội nghị, Staline đã nịnh bợ Roosevelt hết cỡ là mời ông làm chủ tịch luôn tất cả những buổi họp; nhưng đây là một dụng ý thâm độc của ông, vì làm như vậy ông loại được một địch thủ, nay chỉ còn mình ông đối đầu với Churchill. Ngay cả việc xắp xếp chỗ ở của 3 phái đoàn, ông chọn 3 cái biệt thự nằm xiên nhau theo hình 3 góc của 1 tam giác. Như thế là có thể kiểm soát sự đi lại của 2 phái đoàn khác, dù sao ông biết họ vẫn là bạn lâu đời.

Từ đó, sau hội nghị Yalta cho tới ít nhất vào giữa thời gian Chiến tranh Lạnh, nhiều sử gia cho rằng kẻ chiến thắng lớn nhất trong hội nghị là Staline. Tuy nhiên ngày hôm nay, sau chiến Tranh Lạnh, đế quốc Liên sô sụp đổ, tất nhiên do rất nhiều lý do, nhưng trong đó có 2 lý do chính là công tâm và công lương, người ta mới suy nghĩ lại, cho rằng kẻ chiến thắng sau cùng chính là Hoa kỳ.

Nói đến hội nghị Yalata, đến Chiến tranh Lạnh, mà không nói đến hội nghị Potsdam, thì quả là một điều thiếu xót, vì có người cho rằng chính tại hội nghị này đã bắt đầu chiến tranh Lạnh, chứ không đợi đến bài diễn văn của Churchill vào năm 1947, tại một đại học Hoa kỳ, cho rằng một bức màn sắt đã kéo xuống để ngăn cách 2 thế giới tư bản và cộng sản.

Potsdam là một thị trấn nhỏ ở phía tây nam Berlin. Hội nghị kéo dài từ ngày 17/7 tới ngày 2/8/ 1945, giữa Truman, Tổng thống Hoa Kỳ, Staline, Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên sô, và Churchill, Thủ tướng Anh, sau được thay thế bởi Atlee, vì đảng của Churchill bị thất cử.

Trong hội nghị này, người Cố vấn của Hội đồng An ninh quốc gia Hoa kỳ, ông Paul Nitzé, đã mang theo quyển truyện Trại Xúc vật cuả nhà văn hào Anh, Georges Orwells, và đã lấy ý từ quyển sách này để làm ra Chiến lược Be Bờ (Politique d’Endiguement), sau đó được gói ghém trong một chỉ thị được mang tên là Chỉ thị số 56 của Hội đồng An ninh quốc gia, mà những nhà ngoại giao Hoa kỳ cho là kim chỉ nam trong suốt thời gian chiến tranh Lạnh, cho tới khi bức tường Bá Linh sụp đổ, thì ông Paul Nitzé, lúc đó đang làm Trưởng Phái đoàn trong Hội nghị Thương thuyết về vấn đề Tài giảm binh bị tại Genève, Thụy sĩ, đã tuyên bố: “ Chúng ta đã chiến thắng Chiến tranh Lạnh.” (1)

Người khác đưa ra lý do thứ nhì: Đó là trong hội nghị Potsdam này, Truman đã thông báo cho Staline việc Hoa kỳ có bom nguyên tử.

Rồi sau đó 2 trái bom nguyên tử được thả xuống Hiroshima ngày 6/8 và ngày 9/8/1945 xuống Nagashaki. Có người người cắt nghĩa nguyên do của 2 trái bom này với 3 giả thuyết:

1) Để trả thù Nhật đã tấn công vào lực lượng hải quân Hoa kỳ ở Trân châu cảng vào ngày 7/12/1941, mà không tuyên chiến.

2) Để kết thúc chiến tranh sớm với Nhật.

3) Để cảnh cáo Liên sô không dám tiến quân thêm để tràn sang các nước Tây Âu.

Thực ra thì cả 3 nguyên do đều đúng, nhưng nguyên do thứ 3 quan trọng nhất vì nó nằm trong kế hoạch dài hạn, nói lên sự đối đầu Liên sô - Mỹ trong gần nửa thế kỷ. Còn hai nguyên do đầu, thì một thuộc về quá khứ, một thuộc về ngắn hạn, vì trong chính phủ Nhật hoàng lúc đó đã có phe đánh tiếng xin đầu hàng.

Có người ngạc nhiên rằng mặc dầu Paul Nitzé không phải là người Á châu, nhưng Chỉ thị 56 của ông phản ảnh đúng tư tưởng của Tôn Tử, một nhà chiến lược quân sự thời Xuân thu Chiến quốc bên Tàu (722 – 256, trước Tây Lịch), theo đó: “ Phàm giữa các chiến quốc, trong chiến tranh: Thượng sách là công tâm, trung sách là công lương, hạ sách mới tới công thành.”

Theo Chỉ thị số 56 của Paul Nitzé, thì “ Phải kiên nhẫn chờ đợi. Cố làm thế nào để Liên sô không dùng những nước Tây Âu để bắt chẹt Hoa kỳ. Phải hành xử khéo léo để đưa Liên sô trở lại con đường tôn trọng tự do dân chủ và hội nhập vào cộng đồng thế giới. Làm thế nào để ngăn chặn cộng sản tràn xuống vùng Đông Nam Á.”

Những câu trên nói rõ sự lưu tâm, quan trọng của công tâm và công lương.(1)

Trở về vấn đề Ukraine:

Hiện nay, Poutine cho quân tràn sang vùng Crimée và sát nhập vùng này vào Nga, Hoa kỳ cũng chỉ nói đến việc dùng áp lực kinh tế, làm nhiều người nghĩ đến chiến tranh Lạnh lại tái diễn là như vậy.

Tuy nhiên có rất nhiều điểm khác biệt giữa thời nay và thời sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Ukranine là một quốc gia có diện tích gần gấp 2 lần Việt Nam, là 604 000 Km2 ; dân số bằng nửa, là 45,6 triệu người ; sản lượng hàng năm tính theo đầu người là gấp 2, với 7 420,7 $, trong khi Việt nam là 3625,2$ ; cũng có một lịch sử kéo dài cả ngàn năm và cũng nhiều lần bị các đế quốc đô hộ và xâu xé.

Vào thế kỷ thứ 13, Ukraine bị đô hộ bởi đế quốc Mông cổ, sau khi đế quốc này sụp đổ, thì bị đô hộ bởi đế quốc Nga, rồi đế quốc cộng sản Liên sô, cho tới ngày đế quốc Liên sô sụp đổ thì Ukraine được độc lập. Đấy là chưa nói vào thời gian Đệ Nhất thế Chiến, Ukraine bị đô hộ bởi đế quốc Áo Hung, trong thời gian Đệ Nhị Thế Chiến, dân Ukhraine nổi lên chống Liên sô. Hành động này họ phải trả một giá rất đắt, đó là sau thế chiến, Staline đã cho quân lính tràn sang đàn áp dân Ukraine, đưa đến hậu quả cả triệu người chết.

Tình hình gần đây tại Ukraine:

Như chúng ta đã theo dõi, từ 3 tháng nay, thủ đô nước Ukraine là nơi mà các cuộc biểu tình chống chính quyền độc tài thân Nga, của ông Viktor Ianoukovictch, khiến cho quốc hội xứ này truất phế ông và đồng thời chỉ định người thay thế và một chính quyền lâm thời.

Sở dĩ có những cuộc biểu tình trên là vì ông này đang thương thuyết một hiệp ước hội nhập vào khối Âu châu, rồi bỗng từ bỏ, chấp nhận lời đề nghị của tổng thống Nga, ông Poutine, theo đó Nga sẽ giúp Ukraine 15 tỷ $ và giảm 1/3 giá dầu và khí đốt cho Ukraine.

Đó là sự tranh chấp giữa phe thân Nga và thân Âu châu.

Lỗi của khối Âu châu, là từ sau khi Ukraine giành được độc lập, năm 1991, nhất là từ cuộc hủng hoảng kinh tế năm 2008, tới nay, kinh tế Ukraine rất tồi tệ. Ukraine hiện mắc nợ tới 35 tỷ $. Thế giới và khối Âu châu chỉ nhắc tới và chú trọng đến tình trạng khó khăn của Hy lạp, Tây ban nha và Bồ đào nha, gần như quên lãng Ukraine.

Về phía Hoa kỳ cũng vậy, lại đi một chính sách ngoại giao nước đôi với cả Ukraine và khối Âu châu. Hoa kỳ muốn rằng Ukraine theo Hoa Kỳ vào khối OTAN, chứ không muốn nước này theo Nga hay theo khối Âu châu. Đã từ lâu, Hoa kỳ không muốn khối Âu châu yếu, nhưng cũng không muốn khối này đủ mạnh để có thể tranh quyền độc tôn của Hoa kỳ.

Theo một nhà nghiên cứu về địa lý chiến lược chính trị, ông Brezenski, cựu cố vấn an ninh vào thời tổng thống Carter, trong quyển Bàn cờ Chiến lược thế giới, ông luôn luôn nhắc nhở hiểm họa sự trổi dậy của đế quốc cộng sản Nga, coi Ukraine có một vị trí địa lý chiến lược quan trọng cho cuộc tranh hùng tại Âu châu trong tương lai.

Phải chăng lời tiên đoán của ông cựu cố vấn đang xảy ra? – Có một phần, nhưng ngày hôm nay, như trên đã nói, nước Nga chỉ còn là một cường quốc bậc trung, để đi đến siêu cường, tranh hùng, tranh bá với thế giới, còn rất nhiều yếu tố khác, và con đường còn dài.

Tại sao Poutine lại phản ứng mạnh và bà Hilary Clinton lại ví Poutin với Hitler:

Trở lại đôi chút tình hình thế giới trước và sau Đệ Nhị Thế Chiến:

Hitler lên nắm chính quyền ở Đức năm 1933, sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 – 1930, coi thường tất cả những hiệp ước quốc tế, tái võ trang Đức. Trước khi xẩy ra Đệ nhị Thế chiến, Đức đã xua quân chiếm đóng nước Áo và vào tháng 9/1938, cũng viện lý do là để bảo vệ hơn 3 triệu người Đức sống ở Tiệp Khắc, đã giàn quân tạo áp lực sát biên giới nước này. Phản ứng thế giới lúc đó nhất là các đại cường quốc Anh, Pháp, Hoa kỳ thì như thế nào?

Hoa kỳ lúc đầu luôn giữ vai trò trung lập, tổng thống Hoa Kỳ Franklin Rosevelt, cho tới năm 1939, trong cuộc vận động tranh cử, vẫn hứa với dân là không tham chiến. Mãi tới cuối năm 1941, khi Nhật tấn công Trân châu cảng, mà ngày hôm nay nhiều sử gia, nhiều nhà bình luận cho rằng đây là một hành động dụ Nhật mắc bẫy, để có lý do tham chiến của chính quyền Hoa kỳ lúc bấy giờ.

Anh, Pháp vì mới bị ảnh hưởng nặng nề trận Thế chiến thứ Nhất, kinh tế bị kiệt quệ, cố nhịn nhục chấp nhận hành động của Hitler, qua cuộc họp thượng đỉnh Munich ngày 29/9/1938, đã ép Tiệp Khắc giao cho Đức toàn vùng Sudeten, nơi có hơn 3 triệu người gốc Đức cư ngụ. Về sau này người ta thường nói đến “ Tinh thần Munich “, tinh thần chủ hòa quá mức, đi đến tinh thần chủ bại là vậy, như câu nói của Churchill: “ Chúng ta cố chịu nhục để có hòa bình. Nhưng kết quả chúng ta được những gì? không những vẫn bị nhục mà chúng ta còn có chiến tranh.”

Hành động gửi quân xâm lăng nước ngoài giữa Hitler và Poutine ngày hôm nay về hình thức thì giống nhau, nhưng về nội dung thì hơi khác: Hitler ngang nhiên gửi quân đội, dưới đất thì lục quân, xe tăng, cán hàng rào ngăn cản giữa 2 nước, trên không thì máy bay ngang nhiên xâm phạm không phận của nước Áo. Ngày hôm nay Poutine kín đáo hơn, gửi quân qua vùng Crimée, thuộc Ukraine, qua những hiệp ước được quốc tế công nhận trong đó có cả Nga.

Chính vì vậy mà có người cho rằng sẽ có một cuộc thế chiến mới. Họ không phải là không có lý, vì nhìn vào tình hình thế giới hiện nay, nhất là tại Âu châu, cũng giống tình hình Âu châu trước Đệ Nhị thế chiến: cũng có cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào năm 2 008, mà Âu châu hiện nay gượng dậy rất khó khăn, cũng có những phong trào quốc gia cực đoan, quá khích nổi dậy ở phần lớn các nước Âu châu. Tuy nhiên đấy mới chỉ là những nguyên nhân tất yếu, chưa phải là nguyên nhân đủ, để đi đến kết luận. Người và quốc gia có thể gây ra thế chiến là Poutine và nước Nga. Nhưng nếu so sánh giữa nước Nga hiện nay và nước Đức trước Thế Chiến, thì có khác, nước Đức thời Hitler không thua hai nước Anh và Pháp bất cứ trên phương diện nào. Ngày hôm nay nước Nga chỉ còn là một cường quốc bực trung, không còn là siêu cường như thời Liên sô.

Trở về đường lối chiến lược ngoại giao của Hoa Kỳ về Ukraine:

Tại sao có người lại ví chiến lược này giống như thời Chiến tranh Lạnh, chủ yếu nhằm công tâm và công lương hơn công thành. Đây là chiến lược mà Hoa kỳ đã dùng để đánh sụp đế quốc cộng sản Liên sô trước đây. Ngày hôm nay mộng của Poutine, như nhiều người đều rõ, là muốn gầy dựng lại đế quốc Liên sô trước đây, hay xa hơn nữa là đế quốc Nga hoàng trước thời cộng sản.

Cách cai trị của Poutine là cách cai trị độc tài, tham quyền cố vị, đã 2 nhiệm kỳ làm tổng thống, sau đó lùi về làm thủ tướng, rồi lại ra ứng cử lại lần thứ 3. Cách cai trị này dựa trên công an, mật vụ, đàn áp đối lập, và dựa trên một số những nhà tỷ phú, thân chính quyền, tham nhũng, hối lộ, những ai không thân và chống lại thì tìm cách làm khó dễ hay bỏ tù. Cách cai trị của cựu tổng thống Ukranie, ông Ianoukovicht, cũng vậy, sao y bản chính của Poutine. Chỉ cần nêu một thí dụ điển hình là con trai ông này chỉ có mấy năm mà đã trở thành tỷ phú, trong khi đó thì đời sống người dân bị khủng hoảng kinh tế càng ngày càng trở nên khó khăn.

Mộng của Poutine có khả thế thành công hay không?

Rất là mỏng manh, xin nói rõ ở một dịp khác, vì ngày hôm nay Nga không còn là một siêu cường, mà chỉ là một cường quốc bực trung. Tổng sản lượng hàng năm của Nga là 2014, 8 tỷ $, tất nhiên thua Hoa Kỳ, Trung cộng, Nhật và thua luôn cả Đức, là 3399,6 tỷ, ngay cả thua Pháp và Anh là 2 612,9 và 2 435,2 tỷ. Nga không sản xuất được mặt hàng tiêu dùng gì trên thị trường quốc tế ngoài việc xuất cảng dầu và khí đốt, chiếm tới gần 1/2 tổng sản lượng quốc gia, mà theo nhiều nguồn nghiên cứu đáng tin cậy, thì từ nay đến năm 2017, giá dầu khí thường dùng sẽ sụt xuống một nửa, nếu không là 1/3. Vào những thập niên 70 - 80 - 90, người ta cần đến những nước dầu hỏa, ngày hôm nay ngược, những nước dầu hỏa lại cần đến những nước tiêu thụ, để có nguồn thâu lợi. Nước xuất cảng dầu hỏa đứng đầu trên thế giới là Arabye Sahoudite, đã giảm mức độ sản xuất để giữ giá trên thị trường. Một thí dụ điển hình là nước Đức, nhập cảng phần lớn dầu hỏa và khí đốt của Nga, nhưng trên thực tế ngày hôm nay, Nga cần Đức mua dầu hỏa của mình để có tài chánh, hơn là Đức, vì nước này có lượng dầu dự trữ 6 tháng và trong thời gian này có thể mua dầu và khí đốt từ các nước khác trên thị trường quốc tế.

Chiến lược ngoại giao công tâm, công lương của Hoa kỳ, nhiều người cho rằng nó đã lỗi thời ngày hôm nay khi áp dụng với Nga, vì ảnh hưởng kinh tế và thương mại của Hoa kỳ với nước này không lớn, thua cả khối Âu châu.

Thật vậy, chiến lược công tâm, công lương của Hoa kỳ đối với Nga, thì công thành tức dùng giải pháp quân sự gần như không có, nhất là với chính quyền Obama hiện nay. Công lương thì ảnh hưởng kinh tế thương mại giữa Nga và Hoa kỳ không nhiều. Chỉ còn lại công tâm là dùng chiến tranh tâm lý và vận động ngoại giao.

Trong 3 lãnh vực, hai lãnh vực sau, Hoa kỳ thiếu những con bài tẩy về chiến lược ngoại giao hơn khối Âu châu. Và phải chăng từ đó Hoa kỳ phải lên tiếng mạnh. Mới tuần vừa qua, trong khi hội nghị thượng đỉnh khối Âu châu đang họp ở Bruxelles, chưa đi đến quyết định, thì trong một bài diễn văn, ông Obama đã đưa ra những biện pháp trừng phạt Nga và giúp đỡ chính quyền lâm thời Ukraine. Nhưng chúng ta chỉ cần nhìn những lời hứa giúp đỡ kinh tế và tài chánh nước này thì chúng ta rõ: Hoa kỳ 1 tỷ, Âu châu 11 tỷ, Ngân hàng và Quỹ tiền tệ thế giới 3 tỷ, đúng như con số hứa của Poutine giúp chính quyền cũ 15 tỷ. Nhưng với 11 tỷ của khối Âu châu, người ta đều rõ nước Đức đóng vai trò quan trọng nhất, vì kinh tế Đức lớn nhất và vững chắc nhất. Bà thủ tướng Đức Merkel mặc dầu rất ít tuyên bố về tình hình Ukraine, nhưng Đức hiện nay có một ảnh hưởng rất lớn không những với Nga mà cả hai phe vừa thân Nga vừa thân khối Âu châu của Ukraine.

Hiện nay chính quyền Hoa Kỳ có vẻ năng nổ nhất trong việc giúp dân tộc Ukranie và chính quyền lâm thời. Tuy nhiên có nguời cho rằng Hoa kỳ chỉ có đồng minh nhất thời chứ không có bạn lâu đời, viện dẫn lời tuyên bố của ông cựu Ngoại trưởng Hoa kỳ, Henry Kissinger.

Bảo rằng đây là trò chơi độc nhất vô nhị của Hoa kỳ thì cũng không đúng. Đây là trò chơi của tất cả những đế quốc, cường quốc từ xưa tới giờ. Nói như vậy cũng không thể nói là các dân tộc nhược tiểu tự đứng một mình. Không nói quá là ảnh hưởng của những cường quốc là tất cả, nhưng nó cũng rất mạnh và tiềm tàng, nó ảnh hưởng có thể nói hầu như thường nhật đối với chúng ta, như việc giá cả nhiên liệu, thực phẩm, dầu khí, dù chúng ta không muốn, nhưng nó tăng hay giảm, do quyết định của những nước lớn, chưa nói đến lãnh vực chính trị đều ảnh hưởng trực tiếp đến chúng ta.

Từ đó cho chúng ta bài học là phải biết dựa vào lúc nào, dựa vào ai và như thế nào để vẫn giữ được độc lập và chủ quyền. Nên hành xử trên trường bang giao quốc tế là chỉ nên có đồng minh, chứ không nên có bạn, và làm thế nào vẫn giữ được sĩ diện quốc gia dân tộc, chứ không như kiểu một số lãnh đạo Việt nam đã cúi gập mình làm hai, hay đi ôm giày những cường quốc hoặc những nhà tư bản quốc tế. Chỉ làm như vậy, mới không bị mất quốc thể, mới có thể ứng phó kịp thời và nếu trường hợp bị các cường quốc đồng minh bỏ rơi, cũng không mang hận.

Trông người lại ngắm tới ta, nước Ukraine có một lịch sử tương đối giống Việt nam: nằm cạnh những đế quốc, cường quốc, thường là nạn nhân của những nước này. Các cha ông ta thời xưa, từ thời Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn, mỗi lần có tranh chấp, đánh nhau với Tàu, nhưng sau đó đều gửi đặc sứ sang cầu hòa, vẫn giữ được chủ quyền quốc gia, thể thống dân tộc, nhưng không mất lòng anh khổng lồ láng giềng. Ngày xưa vấn đề bang giao quốc tế còn hạn hẹp, chỉ ở mức độ vùng, Việt Nam chỉ bang giang với Tàu và một vài nước chung quanh. Ngày hôm nay bang giao quốc tế ở mức độ rộng lớn, không phải chỉ có một anh khổng lồ, mà có nhiều anh khổng lồ, thêm vào đó có nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Khối Âu châu v.v.., đường lối ngoại giao hay nhất của các nước nhược tiểu là trung lập, chơi với nhiều anh khổng lồ để dùng anh này quân bằng với anh kia, đồng thời tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế, để nếu có những tranh chấp thì nhờ những tổ chức này làm trọng tài, đứng ra can thiệp. Đừng nghĩ việc này khó làm, vì nhiều quốc gia trên thế giới đã từng đi theo đường lối ngoại giao này, và cũng đã thành công.

Bài học mất nước của Tiệp Khắc không hoàn toàn là Tiệp nhỏ và yếu hơn Đức, mà lý do chính là dân Tiệp chia rẽ, một số lãnh đạo hèn hạ qụy lụy và khúm núm trước Hitler; cũng như Ukraine để mất Crimée là do có một chính phủ tham nhũng, một nhà nước lệ thuộc và khiếp nhược trước Nga sô. Đất nước chúng ta hiện tại cũng đang nằm trong tình trạng hiểm nguy không thua gì Tiệp trước Đệ nhị Thế chiến và Ukraine hôm nay. Chưa thời nào trong giòng lịch sử dân Việt lại bị phân hóa, kìm kẹp, ươn hèn như hiện nay dưới sự cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng không cội nguồn Dân tộc, ngay từ đầu đã cam tâm làm con chốt cho Nga Tàu, nay thì chỉ là một bọn thái thú mặc tình cho Trung cộng sai khiến.

Con đường duy nhất cho chúng ta là phải nhanh chóng giành lại quyền cho người dân. Vì chỉ khi nào người dân làm chủ đất nước, khi đó chúng ta mới có sức mạnh và chính nghĩa để tự vệ, tự chủ và đòi lại độc lập, đồng thời liên minh và đóng góp với những quốc gia yêu chuộng Hòa bình và Dân chủ để chống lại tham vọng bá quyền của anh láng giềng khổng lồ phương Bắc.

Paris, ngày 03/03/2014
Chu Chi Nam
(Danlambao)

Post Reply