Bình Luận Thời Sự
Kinh tế Nga đang xuống dốc
Ngô Nhân Dụng
Lúc đầu chỉ có năm “cường quốc kinh tế” G-5 họp với nhau: Anh, Pháp, Tây Ðức, Hoa Kỳ và Nhật. Các nước Âu châu muốn mời Ý tham dự, Hoa Kỳ đòi phải thêm Canada, nước bạn Bắc Mỹ, cho nên thành Nhóm Bảy Nước G-7. Công chuyện họ thường bàn nhau là làm sao điều hợp chính sách tiền tệ và ngoại thương để không làm thiệt hại lẫn nhau. Năm 1998, họ mời thêm nước Nga, không phải vì kinh tế Nga lớn, mà vì Nga có bom nguyên tử, lại đang cần được khích lệ trên đường tư bản hóa. Từ đó Nhóm Tám Nước G-8 bàn thêm chuyện an ninh thế giới. Năm nay, bảy nước G-7 họp khẩn cấp do tổng thống Mỹ yêu cầu, và họ đồng thanh tuyên bố sẽ không tham dự kỳ họp G-8 sắp tới ở Sochi, nước Nga, nơi mới diễn ra Thế Vận Hội Mùa Ðông. Thay vào đó, họ sẽ họp lại nhóm G-7 tại Bruxelles cũng vào Tháng Năm, và không mời Nga dự. Họ còn tuyên bố sẽ không bao giờ mời Nga họp, cho tới khi Nga “xuống thang” trong cuộc khủng hoảng Crimea và Ukraine.
Báo chí thế giới loan tin: Nga bị đuổi khỏi G-8. Nhưng trong thực tế, G-8 không phải là một tổ chức, cũng chẳng có điều lệ về tư cách thành viên. Năm ngoái, Nhóm G-7 cũng từng họp riêng với nhau vào Tháng Năm ở Aylesbury bên nước Anh, mà chẳng mời Nga dự. Bảy nước G-7 hiện nay bao gồm 63% tài sản kinh tế thế giới, tổng cộng 241,000 tỷ mỹ kim; chắc chắn những quyết định chính sách chung của họ sẽ ảnh hưởng trên kinh tế toàn cầu. Ðược tham dự, tức là được góp ý kiến trên các quyết định đó, và còn tăng thêm cho uy tín quốc gia. Tính trên tổng sản lượng thì kinh tế Trung Quốc lớn hơn Nga, lâu nay vẫn muốn góp mặt để thành một Nhóm G-9. Nhưng bây giờ sau khi Nga “bị đuổi” thì Trung Quốc khó có hy vọng được mời trong nhiều năm tới.
Quyết định của G-7 hoàn toàn vì chính trị. Họ lên án Nga đã không tôn trọng những “giá trị và nguyên lý” về bang giao quốc tế khi đem Crimea trở lại lãnh thổ Nga. Các nước Pháp, Ðức, Anh, Ý đã phong tỏa tài sản một số người thân cận với ông Vladimir Putin, Mỹ phong tỏa thêm một số công ty và ngân hàng. Nay bày nước dọa sẽ có các biện pháp trừng phạt kinh tế khác nếu Nga leo thang đe dọa thế quân bình vùng chung quanh Nga và Ukraine.
Nga đang đe dọa thật. Ông Putin có thể sách động dân gốc Nga ở mấy tỉnh miền Ðông Ukraine nổi lên, đòi theo gót Crimea. Và ngay sát bên còn một vùng đất tình trạng rất giống Crimea; là Transnistria, một dải đất dài nằm theo biên giới giữa Ukraine và Moldova. Transnistria đã ly khai khỏi Moldova vào năm 1992, sau khi xứ này tuyên bố độc lập lúc Liên Bang Xô Viết tan rã. Hiện có 1,200 quân Nga đóng ở đây, sau khi đã tới đóng vai “bảo vệ hòa bình” vì cuộc xung đột giữa Moldova và Transnistria; và đến nay vẫn không chịu rút về dù đã ký kết với Moldova, và được Liên Hiệp Quốc thúc giục! Trong số dân Transnistria gần 600,000 người có 90% mang hai hoặc ba quốc tịch; 300 ngàn nhận quốc tịch Moldova; 150 ngàn quốc tịch Nga và 100 ngàn quốc tịch Ukraine. Trong khi cả thế giới chưa nước nào công nhận Transnistria là một quốc gia cả, người gốc Nga ở đây cũng đang đòi trở về với “Nước Mẹ!”
Chính phủ Nga tỏ ra cứng rắn, coi được tham dự vào G-8 hay không chẳng có gì quan trọng. Ngoại trưởng SergeLavrov nói, “Ðể coi, một năm hay năm rưỡi sau, chúng tôi sẽ ra sao khi không còn tham dự nữa.” Ông biết rằng chỉ có Mỹ sẵn sàng tạo thêm áp lực phong tỏa kinh tế, còn các nước Âu Châu rất khó. Ðồng minh thân nhất của Mỹ là Anh quốc. Nhưng London hiện nay là nơi các đại gia giàu nhất nước Nga gửi tiền, mua nhà, và đầu tư. Trị giá 28 công ty Nga ghi danh ở thị trường chứng khoán London lên tới gần 400 tỷ Mỹ kim. Mỗi năm các công ty Nga trả cho các ngân hàng cố vấn London 300 triệu. Các luật sư cố vấn London đòi các công ty Nga trả mỗi giờ 1,500 bảng Anh (2,500 Mỹ kim). Ðức nhập cảng hơi đốt của Nga cho 40% nhu cầu, và cung cấp máy móc, xe đắt tiền cho Nga. Bà Thủ Tướng Angela Merkel nói rằng muốn phong tỏa kinh tế Nga cần phải tham khảo ý kiến của 28 nước trong Liên Hiệp Châu Âu (EU). Cho nên trong thời gian tới, các nước G-7 sẽ chỉ làm áp lực từng bước nhỏ, tấn công trên từng phần trong các ngành nhiên liệu, dịch vụ tài chánh, ngân hàng, và xuất cảng vũ khí.
Nhưng trong thực tế, khối G-7 không cần làm nhiều, vì trước khi ra khỏi G-8, kinh tế Nga đã đang trên đà xuống dốc rồi.
Trong mười năm từ khi ông Vladimir Putin lên cầm quyền, năm 2000, kinh tế Nga mạnh nhờ giá dầu lửa trên thế giới lên cao; trung bình mỗi năm lợi tức quốc gia (GDP) tăng 7%. Năm ngoái, GDP chỉ tăng được 1.3%, và ông Andrei Klepach, thứ trưởng kinh tế mới nói với báo chí rằng trong quý đầu năm 2014 chắc tỷ lệ tăng trưởng sẽ xuống số không. Tình trạng kinh tế ngưng trệ diễn ra trong khi giá dầu thô trên thế giới vẫn giữ mức khoảng 110 đô la một thùng, là mức cao nhất xưa nay. Ðiều đó cho thấy kinh tế Nga gặp khó khăn vì những nguyên do lớn trong cơ cấu kinh tế.
Vladimir Putin không tin tưởng ở sức mạnh của thị trường; ông tập trung quyết định kinh tế quốc gia vào trong tay, trao cho một số cận thần, nhiều người là cựu sĩ quan công an KGB như ông. Ông cũng theo thói quen như các nhà lãnh đạo Trung Quốc, chú trọng đến đầu tư, nhưng đem tiền cho những xí nghiệp vay dùng vào dự án không có hiệu quả. Mặc dù tiền đầu tư chiếm 26% của GDP, nhưng khả năng sản xuất của các xí nghiệp giảm dần, đường sá và đường xe lửa đang hư hỏng. Chính phủ Nga khuyến khích các đại gia, các đại công ty, phần lớn là doanh nghiệp nhà nước. Các nhà kinh doanh và ngân hàng nhỏ khó cạnh tranh với guồng máy quốc doanh. Nạn tham nhũng lan tràn từ trên xuống dưới khiến kinh tế càng khó phát triển.
Nhờ có nhiều dầu khí để bán, Nga không phát triển những ngành công nghiệp nhẹ nhắm vào xuất cảng như ở Trung Quốc. Vì vậy, sản xuất công nghiệp ở Nga không tiến lên theo đúng nhu cầu của một nước đang phát triển. Tại những nước đang hưng thịnh, như Nam Hàn, Cộng Hòa Tiệp, sản xuất công nghiệp đóng góp vào 20% tổng sản lượng nội địa. Công nghiệp Nga hiện nay chỉ chiếm 15% GDP, giảm xuống từ tỷ lệ 18% vào năm 2005.
Trong cuộc họp báo vào Thứ Hai, 24 Tháng Ba, 2014, Thứ Trưởng Kinh Tế Andrei Klepach nói rằng các hành động phong tỏa của Mỹ và Tây Âu không ảnh hưởng đến kinh tế Nga bao nhiêu, nhưng ông công nhận nhiều người Nga đã chuyển tiền ra nước ngoài. Trong mấy năm qua, mỗi năm số vốn chạy khỏi nước Nga trị giá khoảng 60 tỷ đô la; nhưng nay đến lượt các nhà đầu tư ngoại quốc cũng rút tiền đem về. Riêng trong ba tháng đầu năm 2014, ông Klepach cho biết số tiền vốn “vượt biên” khoảng từ 65 đến 70 tỷ, cao hơn tổng số của cả năm ngoái. Mà một nửa số tiền đó mới được chuyển đi trong Tháng Ba này.
Tiền rút khỏi nước Nga sẽ được đổi lấy ngoại tệ, nhất là mua đô la Mỹ. Từ năm 2011 đến nay, đồng rúp của Nga đã mất giá 22% so với đồng đô la; và hối suất xuống mạnh nhất trong tháng qua, từ khi vụ khủng hoảng Ukraine và Crimea bùng nổ. Ngân hàng trung ương Nga đã bỏ đô la dự trữ ra mua đồng rúp, và tăng lãi suất để giữ giá. Nhưng trong tình trạng kinh tế đang xuống việc tăng lãi suất sẽ chỉ khiến việc tiêu thụ và đầu tư giảm sút.
Ông Klepach cho biết ngân hàng trung ương Nga sẽ hạ thấp lãi suất, và trong Tháng Ba giá sinh hoạt sẽ chỉ tăng từ 0.9 đến 1%; ước đoán này cho thấy tỷ lệ lạm phát trong năm 2014 sẽ lên tới gần 7% cao hơn tỷ lệ lạm phát trung bình 3.8% của các nước đang phát triển cùng trình độ với Nga.
Với tình trạng kinh tế suy yếu như vậy, ông Vladimir Putin sẽ chịu hai thứ áp lực kinh tế từ Mỹ và các nước Châu Âu. Thứ nhất, phong tỏa tài sản các cận thần của ông Putin; thứ hai, chính phủ Mỹ đổi chính sách, sống xa hoa xuất cảng dầu lửa và khí đốt.
Ông Alexey Navalnymarch là người đã ra tranh cử thị trưởng thủ đô Matskva vào Tháng Chín năm ngoái, ông được một phần ba phiếu bầu mặc dù không được các báo đài nhắc tới. Ông mới bị quản thúc tại gia sau khi tham dự các cuộc biểu tình phản đối ông Putin. Trong một bài gửi ra nước ngoài vào tuần trước, ông đã nêu đích danh những nhân vật mà các nước Tây phương nên phong tỏa tài sản, vì họ đã kiếm được tiền nhờ tham nhũng, lạm quyền. Nhóm cận thần này không những cung cấp tiền cho đảng của ông Putin mà còn điều khiển cả bộ máy tuyên truyền gồm báo, đài chuyên đi xuyên tạc các đảng chính trị đối lập.
Những cận thần của ông Putin đều có tài sản lớn nằm ở các nước Tây phương, kể cả ở Mỹ. Nếu bị phong tỏa, cuộc sống xa hoa của họ sẽ chịu ảnh hưởng và họ sẽ lo lắng về tương lai. Áp lực đó sẽ khiến chính đám này khuyên ông Putin phải dè dặt.
Ðòn kinh tế thứ hai nước Mỹ có thể thi hành, là thay đổi chính sách năng lượng, khuyến khích việc xuất cảng dầu, khí; vì Mỹ đang trở thành nước sản xuất nhiều nhất thế giới, nhờ áp dụng những phát minh trong kỹ thuật khai thác mới. Mục này đã trình bày vấn đề đó trong một bài trước. Cả nước Nga đang sống khá giả nhờ xuất cảng dầu khí. Mỗi năm Nga thu về 220 tỷ đô la nhờ xuất cảng dầu khí, 160 tỷ bán cho các nước Âu Châu. Ngoài món đó ra, số khiếm hụt trong cán cân thương mại về các món hàng khác sẽ lên tới 10% tổng sản lượng nội địa. Cho tới nay, ông Putin không bao giờ muốn Iran với Mỹ hòa hoãn; vì nếu không bị cấm vận, Iran sẽ là nước xuất cảng dầu lửa và khí đốt đứng hàng thứ tư trên thế giới. Chỉ cần Mỹ tuyên bố xuất cảng dầu khí, giá thị trường thế giới sẽ xuống, ngân sách chính phủ Nga lập tức bị ảnh hưởng.
Chắc hẳn ông Vladimir Putin cũng biết nhược điểm kinh tế của mình, cho nên đã thấy dấu hiệu ông bắt đầu nhường nhịn. Cho đến nay, chính phủ Nga nhất định không coi chính phủ mới ở Ukraine là hợp pháp; vẫn chỉ công nhận Cựu Tổng Thống Yanukovych, tay chân của họ. Nhưng trong ngày Thứ Hai vừa qua, trong khi các nước G-7 họp ở Den Haag, Hòa Lan công khai phản đối Nga, ngoại trưởng Sergei Lavrov đã chịu gặp gỡ ngoại trưởng của chính phủ Ukraine mới, cũng tại thành phố này. Trước đó, ông Lavrov đã nhiều lần từ chối không gặp ở những nơi khác, dù hai người ở cùng một khách sạn!
Ngô Nhân Dụng
Lúc đầu chỉ có năm “cường quốc kinh tế” G-5 họp với nhau: Anh, Pháp, Tây Ðức, Hoa Kỳ và Nhật. Các nước Âu châu muốn mời Ý tham dự, Hoa Kỳ đòi phải thêm Canada, nước bạn Bắc Mỹ, cho nên thành Nhóm Bảy Nước G-7. Công chuyện họ thường bàn nhau là làm sao điều hợp chính sách tiền tệ và ngoại thương để không làm thiệt hại lẫn nhau. Năm 1998, họ mời thêm nước Nga, không phải vì kinh tế Nga lớn, mà vì Nga có bom nguyên tử, lại đang cần được khích lệ trên đường tư bản hóa. Từ đó Nhóm Tám Nước G-8 bàn thêm chuyện an ninh thế giới. Năm nay, bảy nước G-7 họp khẩn cấp do tổng thống Mỹ yêu cầu, và họ đồng thanh tuyên bố sẽ không tham dự kỳ họp G-8 sắp tới ở Sochi, nước Nga, nơi mới diễn ra Thế Vận Hội Mùa Ðông. Thay vào đó, họ sẽ họp lại nhóm G-7 tại Bruxelles cũng vào Tháng Năm, và không mời Nga dự. Họ còn tuyên bố sẽ không bao giờ mời Nga họp, cho tới khi Nga “xuống thang” trong cuộc khủng hoảng Crimea và Ukraine.
Báo chí thế giới loan tin: Nga bị đuổi khỏi G-8. Nhưng trong thực tế, G-8 không phải là một tổ chức, cũng chẳng có điều lệ về tư cách thành viên. Năm ngoái, Nhóm G-7 cũng từng họp riêng với nhau vào Tháng Năm ở Aylesbury bên nước Anh, mà chẳng mời Nga dự. Bảy nước G-7 hiện nay bao gồm 63% tài sản kinh tế thế giới, tổng cộng 241,000 tỷ mỹ kim; chắc chắn những quyết định chính sách chung của họ sẽ ảnh hưởng trên kinh tế toàn cầu. Ðược tham dự, tức là được góp ý kiến trên các quyết định đó, và còn tăng thêm cho uy tín quốc gia. Tính trên tổng sản lượng thì kinh tế Trung Quốc lớn hơn Nga, lâu nay vẫn muốn góp mặt để thành một Nhóm G-9. Nhưng bây giờ sau khi Nga “bị đuổi” thì Trung Quốc khó có hy vọng được mời trong nhiều năm tới.
Quyết định của G-7 hoàn toàn vì chính trị. Họ lên án Nga đã không tôn trọng những “giá trị và nguyên lý” về bang giao quốc tế khi đem Crimea trở lại lãnh thổ Nga. Các nước Pháp, Ðức, Anh, Ý đã phong tỏa tài sản một số người thân cận với ông Vladimir Putin, Mỹ phong tỏa thêm một số công ty và ngân hàng. Nay bày nước dọa sẽ có các biện pháp trừng phạt kinh tế khác nếu Nga leo thang đe dọa thế quân bình vùng chung quanh Nga và Ukraine.
Nga đang đe dọa thật. Ông Putin có thể sách động dân gốc Nga ở mấy tỉnh miền Ðông Ukraine nổi lên, đòi theo gót Crimea. Và ngay sát bên còn một vùng đất tình trạng rất giống Crimea; là Transnistria, một dải đất dài nằm theo biên giới giữa Ukraine và Moldova. Transnistria đã ly khai khỏi Moldova vào năm 1992, sau khi xứ này tuyên bố độc lập lúc Liên Bang Xô Viết tan rã. Hiện có 1,200 quân Nga đóng ở đây, sau khi đã tới đóng vai “bảo vệ hòa bình” vì cuộc xung đột giữa Moldova và Transnistria; và đến nay vẫn không chịu rút về dù đã ký kết với Moldova, và được Liên Hiệp Quốc thúc giục! Trong số dân Transnistria gần 600,000 người có 90% mang hai hoặc ba quốc tịch; 300 ngàn nhận quốc tịch Moldova; 150 ngàn quốc tịch Nga và 100 ngàn quốc tịch Ukraine. Trong khi cả thế giới chưa nước nào công nhận Transnistria là một quốc gia cả, người gốc Nga ở đây cũng đang đòi trở về với “Nước Mẹ!”
Chính phủ Nga tỏ ra cứng rắn, coi được tham dự vào G-8 hay không chẳng có gì quan trọng. Ngoại trưởng SergeLavrov nói, “Ðể coi, một năm hay năm rưỡi sau, chúng tôi sẽ ra sao khi không còn tham dự nữa.” Ông biết rằng chỉ có Mỹ sẵn sàng tạo thêm áp lực phong tỏa kinh tế, còn các nước Âu Châu rất khó. Ðồng minh thân nhất của Mỹ là Anh quốc. Nhưng London hiện nay là nơi các đại gia giàu nhất nước Nga gửi tiền, mua nhà, và đầu tư. Trị giá 28 công ty Nga ghi danh ở thị trường chứng khoán London lên tới gần 400 tỷ Mỹ kim. Mỗi năm các công ty Nga trả cho các ngân hàng cố vấn London 300 triệu. Các luật sư cố vấn London đòi các công ty Nga trả mỗi giờ 1,500 bảng Anh (2,500 Mỹ kim). Ðức nhập cảng hơi đốt của Nga cho 40% nhu cầu, và cung cấp máy móc, xe đắt tiền cho Nga. Bà Thủ Tướng Angela Merkel nói rằng muốn phong tỏa kinh tế Nga cần phải tham khảo ý kiến của 28 nước trong Liên Hiệp Châu Âu (EU). Cho nên trong thời gian tới, các nước G-7 sẽ chỉ làm áp lực từng bước nhỏ, tấn công trên từng phần trong các ngành nhiên liệu, dịch vụ tài chánh, ngân hàng, và xuất cảng vũ khí.
Nhưng trong thực tế, khối G-7 không cần làm nhiều, vì trước khi ra khỏi G-8, kinh tế Nga đã đang trên đà xuống dốc rồi.
Trong mười năm từ khi ông Vladimir Putin lên cầm quyền, năm 2000, kinh tế Nga mạnh nhờ giá dầu lửa trên thế giới lên cao; trung bình mỗi năm lợi tức quốc gia (GDP) tăng 7%. Năm ngoái, GDP chỉ tăng được 1.3%, và ông Andrei Klepach, thứ trưởng kinh tế mới nói với báo chí rằng trong quý đầu năm 2014 chắc tỷ lệ tăng trưởng sẽ xuống số không. Tình trạng kinh tế ngưng trệ diễn ra trong khi giá dầu thô trên thế giới vẫn giữ mức khoảng 110 đô la một thùng, là mức cao nhất xưa nay. Ðiều đó cho thấy kinh tế Nga gặp khó khăn vì những nguyên do lớn trong cơ cấu kinh tế.
Vladimir Putin không tin tưởng ở sức mạnh của thị trường; ông tập trung quyết định kinh tế quốc gia vào trong tay, trao cho một số cận thần, nhiều người là cựu sĩ quan công an KGB như ông. Ông cũng theo thói quen như các nhà lãnh đạo Trung Quốc, chú trọng đến đầu tư, nhưng đem tiền cho những xí nghiệp vay dùng vào dự án không có hiệu quả. Mặc dù tiền đầu tư chiếm 26% của GDP, nhưng khả năng sản xuất của các xí nghiệp giảm dần, đường sá và đường xe lửa đang hư hỏng. Chính phủ Nga khuyến khích các đại gia, các đại công ty, phần lớn là doanh nghiệp nhà nước. Các nhà kinh doanh và ngân hàng nhỏ khó cạnh tranh với guồng máy quốc doanh. Nạn tham nhũng lan tràn từ trên xuống dưới khiến kinh tế càng khó phát triển.
Nhờ có nhiều dầu khí để bán, Nga không phát triển những ngành công nghiệp nhẹ nhắm vào xuất cảng như ở Trung Quốc. Vì vậy, sản xuất công nghiệp ở Nga không tiến lên theo đúng nhu cầu của một nước đang phát triển. Tại những nước đang hưng thịnh, như Nam Hàn, Cộng Hòa Tiệp, sản xuất công nghiệp đóng góp vào 20% tổng sản lượng nội địa. Công nghiệp Nga hiện nay chỉ chiếm 15% GDP, giảm xuống từ tỷ lệ 18% vào năm 2005.
Trong cuộc họp báo vào Thứ Hai, 24 Tháng Ba, 2014, Thứ Trưởng Kinh Tế Andrei Klepach nói rằng các hành động phong tỏa của Mỹ và Tây Âu không ảnh hưởng đến kinh tế Nga bao nhiêu, nhưng ông công nhận nhiều người Nga đã chuyển tiền ra nước ngoài. Trong mấy năm qua, mỗi năm số vốn chạy khỏi nước Nga trị giá khoảng 60 tỷ đô la; nhưng nay đến lượt các nhà đầu tư ngoại quốc cũng rút tiền đem về. Riêng trong ba tháng đầu năm 2014, ông Klepach cho biết số tiền vốn “vượt biên” khoảng từ 65 đến 70 tỷ, cao hơn tổng số của cả năm ngoái. Mà một nửa số tiền đó mới được chuyển đi trong Tháng Ba này.
Tiền rút khỏi nước Nga sẽ được đổi lấy ngoại tệ, nhất là mua đô la Mỹ. Từ năm 2011 đến nay, đồng rúp của Nga đã mất giá 22% so với đồng đô la; và hối suất xuống mạnh nhất trong tháng qua, từ khi vụ khủng hoảng Ukraine và Crimea bùng nổ. Ngân hàng trung ương Nga đã bỏ đô la dự trữ ra mua đồng rúp, và tăng lãi suất để giữ giá. Nhưng trong tình trạng kinh tế đang xuống việc tăng lãi suất sẽ chỉ khiến việc tiêu thụ và đầu tư giảm sút.
Ông Klepach cho biết ngân hàng trung ương Nga sẽ hạ thấp lãi suất, và trong Tháng Ba giá sinh hoạt sẽ chỉ tăng từ 0.9 đến 1%; ước đoán này cho thấy tỷ lệ lạm phát trong năm 2014 sẽ lên tới gần 7% cao hơn tỷ lệ lạm phát trung bình 3.8% của các nước đang phát triển cùng trình độ với Nga.
Với tình trạng kinh tế suy yếu như vậy, ông Vladimir Putin sẽ chịu hai thứ áp lực kinh tế từ Mỹ và các nước Châu Âu. Thứ nhất, phong tỏa tài sản các cận thần của ông Putin; thứ hai, chính phủ Mỹ đổi chính sách, sống xa hoa xuất cảng dầu lửa và khí đốt.
Ông Alexey Navalnymarch là người đã ra tranh cử thị trưởng thủ đô Matskva vào Tháng Chín năm ngoái, ông được một phần ba phiếu bầu mặc dù không được các báo đài nhắc tới. Ông mới bị quản thúc tại gia sau khi tham dự các cuộc biểu tình phản đối ông Putin. Trong một bài gửi ra nước ngoài vào tuần trước, ông đã nêu đích danh những nhân vật mà các nước Tây phương nên phong tỏa tài sản, vì họ đã kiếm được tiền nhờ tham nhũng, lạm quyền. Nhóm cận thần này không những cung cấp tiền cho đảng của ông Putin mà còn điều khiển cả bộ máy tuyên truyền gồm báo, đài chuyên đi xuyên tạc các đảng chính trị đối lập.
Những cận thần của ông Putin đều có tài sản lớn nằm ở các nước Tây phương, kể cả ở Mỹ. Nếu bị phong tỏa, cuộc sống xa hoa của họ sẽ chịu ảnh hưởng và họ sẽ lo lắng về tương lai. Áp lực đó sẽ khiến chính đám này khuyên ông Putin phải dè dặt.
Ðòn kinh tế thứ hai nước Mỹ có thể thi hành, là thay đổi chính sách năng lượng, khuyến khích việc xuất cảng dầu, khí; vì Mỹ đang trở thành nước sản xuất nhiều nhất thế giới, nhờ áp dụng những phát minh trong kỹ thuật khai thác mới. Mục này đã trình bày vấn đề đó trong một bài trước. Cả nước Nga đang sống khá giả nhờ xuất cảng dầu khí. Mỗi năm Nga thu về 220 tỷ đô la nhờ xuất cảng dầu khí, 160 tỷ bán cho các nước Âu Châu. Ngoài món đó ra, số khiếm hụt trong cán cân thương mại về các món hàng khác sẽ lên tới 10% tổng sản lượng nội địa. Cho tới nay, ông Putin không bao giờ muốn Iran với Mỹ hòa hoãn; vì nếu không bị cấm vận, Iran sẽ là nước xuất cảng dầu lửa và khí đốt đứng hàng thứ tư trên thế giới. Chỉ cần Mỹ tuyên bố xuất cảng dầu khí, giá thị trường thế giới sẽ xuống, ngân sách chính phủ Nga lập tức bị ảnh hưởng.
Chắc hẳn ông Vladimir Putin cũng biết nhược điểm kinh tế của mình, cho nên đã thấy dấu hiệu ông bắt đầu nhường nhịn. Cho đến nay, chính phủ Nga nhất định không coi chính phủ mới ở Ukraine là hợp pháp; vẫn chỉ công nhận Cựu Tổng Thống Yanukovych, tay chân của họ. Nhưng trong ngày Thứ Hai vừa qua, trong khi các nước G-7 họp ở Den Haag, Hòa Lan công khai phản đối Nga, ngoại trưởng Sergei Lavrov đã chịu gặp gỡ ngoại trưởng của chính phủ Ukraine mới, cũng tại thành phố này. Trước đó, ông Lavrov đã nhiều lần từ chối không gặp ở những nơi khác, dù hai người ở cùng một khách sạn!
Gặp gỡ trên Facebook
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Cuối cùng, tôi cũng bị mắc lưới Facebook.
Nói cuối cùng, vì đã năm bảy năm nay, tôi cố gắng khoanh tay đứng ở ngoài. Kính nhi viễn chi.
Ðọc báo, tôi biết không có mạng lưới truyền thông đại chúng nào phát triển nhanh như Facebook. Chỉ ra đời mới có 10 năm, đến đầu năm nay, mỗi tháng đã có 1.23 tỉ người, tức một phần sáu dân số thế giới, sử dụng Facebook. Riêng ở Mỹ, số người sử dụng Facebook lên đến 71% tổng số người trưởng thành.
Ở Việt Nam, theo báo Nhân Dân vào đầu tháng 2 vừa rồi, có 19.6 triệu người sử dụng Facebook, chiếm 74.1% số người dùng Internet và 20% dân số cả nước.
Có thể nói, trong lịch sử nhân loại, chưa bao giờ có một phương tiện truyền thông đại chúng nào lan rộng một cách nhanh chóng như vậy. Báo chí, dưới hình thức in, mất cả mấy trăm năm mới đến được, phần nào, những tầng lớp bình dân. Cả radio lẫn tivi đều mất trên dưới nửa thế kỷ mới thực sự được đại chúng hóa, đặc biệt, ở các nước nghèo. Hơn nữa, cái gọi là mạng lưới ở tất cả các phương tiện truyền thông truyền thống ấy chỉ có ý nghĩa rất giới hạn, chủ yếu, giữa những người sản xuất. Quần chúng, từ độc giả đến khán giả và thính giả, lúc nào cũng chỉ là những kẻ tiêu thụ thụ động và xa cách. Họ, dù đông đảo đến mấy, vẫn đứng ngoài. Sự tương tác, nếu có, cũng thật họa hoằn. Facebook thì khác. Nó đúng là một mạng lưới buộc mọi người lại với nhau. Ai cũng có quyền lên tiếng. Mọi người đều bình đẳng như nhau. Chỉ có một khác biệt ở phạm vi: người được nghe nhiều, người được nghe ít. Vậy thôi.
Mà không cần đọc báo, chỉ cần lắng nghe bạn bè tán gẫu trong các buổi nhậu nhẹt, tôi cũng biết được là Facebook phổ biến đến độ nào. Hầu như ai cũng vào Facebook. Một số người ăn dầm ở dề trên Facebook. Ðề tài các câu chuyện của họ phần lớn châu tuần chung quanh Facebook. Niềm vui và nỗi giận của họ nảy sinh từ Facebook. Bạn bè của họ, những kẻ họ thường tâm sự và lắng nghe tâm sự, cũng đến từ Facebook. Nghe, tôi vừa thèm thuồng vừa sợ hãi. Thèm thuồng trước cái thế giới mênh mông của họ. Sợ hãi vì số thời gian trong ngày họ bỏ ra cho Facebook. Bởi vậy, suốt cả mấy năm, Facebook, với tôi, vừa là một sự quyến rũ lại vừa là một đe dọa. Tôi biết tôi không có nhiều thì giờ để phây bút phây biếc. Tôi cũng biết tính tôi không thích đàn đúm, ngay trong đời thật, đừng nói gì trong thế giới ảo. Những lúc ấy, bạn bè thường xúi tôi vào Facebook. Tôi đều từ chối.
Vậy mà, cuối cùng, cách đây một tuần, tôi lại xiêu lòng. Cũng mở trang Facebook riêng. Cũng post bài này bài nọ. Cũng kết bạn kết bè và cũng lao xao “like” với người này người khác. Hơi chút thẹn thùng, tôi dùng hai câu thơ của Trần Lê Kỷ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 để phân bua: “Thấy ai ai ta cũng ai ai / Ai ai ấy thì ta cũng... ấy.”
“Ấy” trên Facebook, tôi có niềm vui là được gặp gỡ rất nhiều bạn bè. Trước, tôi chỉ có một số bạn, chủ yếu thuộc hai giới: các nhà văn/nhà thơ và các nhà giáo, hai lãnh vực sinh hoạt chính trong đời sống của tôi. Trong cả hai giới, tôi biết nhiều nhưng để gọi được là thân thì lại rất ít. Thực sự tâm sự được, chỉ có vài người. Trên Facebook thì khác. Không những có bạn mà còn có bạn của bạn rồi bạn của bạn của bạn, v.v... Rất nhiều người, được gọi là bạn trên Facebook nhưng tôi chưa bao giờ gặp, chưa bao giờ nghe tên. Nhưng tôi lại có thể THẤY được họ. Không phải là thấy mặt mũi hay dáng dấp hay quần áo và nhà cửa của họ. Mà là thấy được tính cách và phần nào tâm tư của họ. Chỉ cần vào trang Facebook của từng người, qua những gì được họ đăng tải hay bình luận, chúng ta cũng có thể thấy được người ấy thích gì, thường quan tâm đến vấn đề gì; nếu những vấn đề ấy liên qua đến chính trị, chúng ta cũng thấy được khuynh hướng cũng như trình độ và mức độ nhận thức của họ ra sao, v.v... Ngay với những người tôi quen biết ngoài đời, khi vào Facebook, có cảm giác như họ là kẻ khác. Ngoài đời, họ hiền lành, khiêm tốn, nhỏ nhẹ bao nhiêu, trên Facebook, họ dí dỏm, hoạt ngôn, xông xáo trong các cuộc tranh luận bấy nhiêu.
Nhưng thích nhất trên Facebook là được gặp lại những người quen và những người thân.
Quen, phần lớn là bạn học cũ và bạn cùng làng ngày xưa. Bạn học cũ, từ tiểu học và trung học của tôi, đều ở Quảng Nam và Ðà Nẵng. Sau năm 1975, vào Sài Gòn, tôi mất liên lạc với tất cả. Bạn học ở đại học, hầu hết đều ở Sài Gòn, sau ngày tôi vượt biên, qua Pháp rồi sang Úc, cũng dần dần bặt tăm. Bây giờ, qua Facebook, tôi mới được gặp lại một số. Nhìn hình, thấy ai cũng già và lạ hoắc, hầu như không thể nhận ra được. Nhưng qua họ, bao nhiêu kỷ niệm hồi nhỏ lại sống dậy và ùa về, nườm nượp. Tự dưng thấy bâng khuâng. Và hình như có chút nhớ nhung. Chả nhớ ai cụ thể cả. Chỉ nhớ. Hay nói như Xuân Diệu, “biết nhớ ai đành chỉ nhớ xa xôi.”
Người thân, nhiều nhất là trong gia đình và họ hàng. Ðã gần 10 năm nay, tôi không được về Việt Nam, ngay với anh em ruột, cũng không được gặp gỡ. Lâu, thật họa hoằn, mới điện thoại hay email cho nhau. Cũng lâu, thật lâu, mới gửi cho nhau vài bức ảnh. Thì cũng hình dung được ít nhiều cuộc sống của nhau. Nhưng chỉ khi vào Facebook, tôi mới thực sự THẤY các em tôi. Thấy được mặt mũi. Thấy được các sinh hoạt. Thấy được các suy nghĩ. Thấy được các tác phẩm chúng đã hoàn tất. Và thấy cả bạn bè của chúng.
Có thể nói, trên Facebook, người ta không những gặp nhau mà còn thấy được nhau. Cái gọi là tình bạn trên Facebook, do đó, vừa ảo vừa thật. Hơn nữa, có khi còn thật hơn cả thật.
Xưa, bạn bè chỉ giới hạn trong một không gian nhất định: bạn cùng làng, cùng lớp, cùng trường, cùng sở. Tất cả đều gắn liền với một địa điểm. Từ đời sống nông thôn đến đời sống thành thị, khái niệm địa điểm ấy thay đổi chút xíu: ở nông thôn, địa điểm ấy thường gắn liền với các đơn vị hành chính: làng, xã, huyện, và, hiếm hơn, tỉnh; ở thành thị, địa điểm ấy thường gắn liền với các đơn vị nghề nghiệp: chợ, công sở hay công ty. Nhưng tất cả những sự gần gũi ấy chưa chắc đã giúp người ta thấy được nhau một cách trọn vẹn. Thường, chỉ một góc. Có khi chỉ là một góc thật nhỏ. Trên Facebook, tính cách của người ta hiện ra rõ nét hơn. Dường như, cho đó là một thế giới ảo, nhiều người rất thành thực trong việc khoe khoang cũng như giãi bày tâm sự. Bất kể nội dung hay mức độ của sự khoe khoang hay giãi bày ấy thế nào, riêng sự thành thực như vậy đã đáng quý. Thành thực đến mức quên cả ý niệm về sự riêng tư.
Cũng có thể nói, Facebook dần dần làm thay đổi quan hệ cá nhân giữa người và người. Theo Pew Research Center, khoảng một nửa những người sử dụng Facebook có trên 200 bạn.
Trời, với những người ngoại đạo của Facebook, nghe con số ấy, hẳn không khỏi kinh ngạc. Bạn ở đâu mà lắm thế? Giới hạn trong không gian và địa điểm, bạn, theo nghĩa truyền thống, cả đời dồn lại may lắm mới được vài chục người. Bây giờ, người ta có cả hàng trăm người; một số, có cả hàng ngàn người. Con số ấy sẽ trở thành một lực lượng đáng kể. Trước hết, lực lượng cho giới làm thương mại: đó là đối tượng để người ta quảng cáo và là một trong những nguồn lợi lớn, cực lớn cho người sáng lập Facebook, Mark Zuckerberg. Dĩ nhiên, nó cũng là một lực lượng rất có ý nghĩa cho các thay đổi về chính trị và xã hội. Cuộc cách mạng tại Trung Ðông và Bắc Phi cách đây mấy năm là một ví dụ.
Nhiều người đã thấy điều đó. Dĩ nhiên công an Việt Nam cũng thấy. Bởi vậy, trong cái đám bạn bè đông đúc trên Facebook, chắc là có khá nhiều công an giả dạng để theo dõi và quấy rối. Chán.
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Cuối cùng, tôi cũng bị mắc lưới Facebook.
Nói cuối cùng, vì đã năm bảy năm nay, tôi cố gắng khoanh tay đứng ở ngoài. Kính nhi viễn chi.
Ðọc báo, tôi biết không có mạng lưới truyền thông đại chúng nào phát triển nhanh như Facebook. Chỉ ra đời mới có 10 năm, đến đầu năm nay, mỗi tháng đã có 1.23 tỉ người, tức một phần sáu dân số thế giới, sử dụng Facebook. Riêng ở Mỹ, số người sử dụng Facebook lên đến 71% tổng số người trưởng thành.
Ở Việt Nam, theo báo Nhân Dân vào đầu tháng 2 vừa rồi, có 19.6 triệu người sử dụng Facebook, chiếm 74.1% số người dùng Internet và 20% dân số cả nước.
Có thể nói, trong lịch sử nhân loại, chưa bao giờ có một phương tiện truyền thông đại chúng nào lan rộng một cách nhanh chóng như vậy. Báo chí, dưới hình thức in, mất cả mấy trăm năm mới đến được, phần nào, những tầng lớp bình dân. Cả radio lẫn tivi đều mất trên dưới nửa thế kỷ mới thực sự được đại chúng hóa, đặc biệt, ở các nước nghèo. Hơn nữa, cái gọi là mạng lưới ở tất cả các phương tiện truyền thông truyền thống ấy chỉ có ý nghĩa rất giới hạn, chủ yếu, giữa những người sản xuất. Quần chúng, từ độc giả đến khán giả và thính giả, lúc nào cũng chỉ là những kẻ tiêu thụ thụ động và xa cách. Họ, dù đông đảo đến mấy, vẫn đứng ngoài. Sự tương tác, nếu có, cũng thật họa hoằn. Facebook thì khác. Nó đúng là một mạng lưới buộc mọi người lại với nhau. Ai cũng có quyền lên tiếng. Mọi người đều bình đẳng như nhau. Chỉ có một khác biệt ở phạm vi: người được nghe nhiều, người được nghe ít. Vậy thôi.
Mà không cần đọc báo, chỉ cần lắng nghe bạn bè tán gẫu trong các buổi nhậu nhẹt, tôi cũng biết được là Facebook phổ biến đến độ nào. Hầu như ai cũng vào Facebook. Một số người ăn dầm ở dề trên Facebook. Ðề tài các câu chuyện của họ phần lớn châu tuần chung quanh Facebook. Niềm vui và nỗi giận của họ nảy sinh từ Facebook. Bạn bè của họ, những kẻ họ thường tâm sự và lắng nghe tâm sự, cũng đến từ Facebook. Nghe, tôi vừa thèm thuồng vừa sợ hãi. Thèm thuồng trước cái thế giới mênh mông của họ. Sợ hãi vì số thời gian trong ngày họ bỏ ra cho Facebook. Bởi vậy, suốt cả mấy năm, Facebook, với tôi, vừa là một sự quyến rũ lại vừa là một đe dọa. Tôi biết tôi không có nhiều thì giờ để phây bút phây biếc. Tôi cũng biết tính tôi không thích đàn đúm, ngay trong đời thật, đừng nói gì trong thế giới ảo. Những lúc ấy, bạn bè thường xúi tôi vào Facebook. Tôi đều từ chối.
Vậy mà, cuối cùng, cách đây một tuần, tôi lại xiêu lòng. Cũng mở trang Facebook riêng. Cũng post bài này bài nọ. Cũng kết bạn kết bè và cũng lao xao “like” với người này người khác. Hơi chút thẹn thùng, tôi dùng hai câu thơ của Trần Lê Kỷ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 để phân bua: “Thấy ai ai ta cũng ai ai / Ai ai ấy thì ta cũng... ấy.”
“Ấy” trên Facebook, tôi có niềm vui là được gặp gỡ rất nhiều bạn bè. Trước, tôi chỉ có một số bạn, chủ yếu thuộc hai giới: các nhà văn/nhà thơ và các nhà giáo, hai lãnh vực sinh hoạt chính trong đời sống của tôi. Trong cả hai giới, tôi biết nhiều nhưng để gọi được là thân thì lại rất ít. Thực sự tâm sự được, chỉ có vài người. Trên Facebook thì khác. Không những có bạn mà còn có bạn của bạn rồi bạn của bạn của bạn, v.v... Rất nhiều người, được gọi là bạn trên Facebook nhưng tôi chưa bao giờ gặp, chưa bao giờ nghe tên. Nhưng tôi lại có thể THẤY được họ. Không phải là thấy mặt mũi hay dáng dấp hay quần áo và nhà cửa của họ. Mà là thấy được tính cách và phần nào tâm tư của họ. Chỉ cần vào trang Facebook của từng người, qua những gì được họ đăng tải hay bình luận, chúng ta cũng có thể thấy được người ấy thích gì, thường quan tâm đến vấn đề gì; nếu những vấn đề ấy liên qua đến chính trị, chúng ta cũng thấy được khuynh hướng cũng như trình độ và mức độ nhận thức của họ ra sao, v.v... Ngay với những người tôi quen biết ngoài đời, khi vào Facebook, có cảm giác như họ là kẻ khác. Ngoài đời, họ hiền lành, khiêm tốn, nhỏ nhẹ bao nhiêu, trên Facebook, họ dí dỏm, hoạt ngôn, xông xáo trong các cuộc tranh luận bấy nhiêu.
Nhưng thích nhất trên Facebook là được gặp lại những người quen và những người thân.
Quen, phần lớn là bạn học cũ và bạn cùng làng ngày xưa. Bạn học cũ, từ tiểu học và trung học của tôi, đều ở Quảng Nam và Ðà Nẵng. Sau năm 1975, vào Sài Gòn, tôi mất liên lạc với tất cả. Bạn học ở đại học, hầu hết đều ở Sài Gòn, sau ngày tôi vượt biên, qua Pháp rồi sang Úc, cũng dần dần bặt tăm. Bây giờ, qua Facebook, tôi mới được gặp lại một số. Nhìn hình, thấy ai cũng già và lạ hoắc, hầu như không thể nhận ra được. Nhưng qua họ, bao nhiêu kỷ niệm hồi nhỏ lại sống dậy và ùa về, nườm nượp. Tự dưng thấy bâng khuâng. Và hình như có chút nhớ nhung. Chả nhớ ai cụ thể cả. Chỉ nhớ. Hay nói như Xuân Diệu, “biết nhớ ai đành chỉ nhớ xa xôi.”
Người thân, nhiều nhất là trong gia đình và họ hàng. Ðã gần 10 năm nay, tôi không được về Việt Nam, ngay với anh em ruột, cũng không được gặp gỡ. Lâu, thật họa hoằn, mới điện thoại hay email cho nhau. Cũng lâu, thật lâu, mới gửi cho nhau vài bức ảnh. Thì cũng hình dung được ít nhiều cuộc sống của nhau. Nhưng chỉ khi vào Facebook, tôi mới thực sự THẤY các em tôi. Thấy được mặt mũi. Thấy được các sinh hoạt. Thấy được các suy nghĩ. Thấy được các tác phẩm chúng đã hoàn tất. Và thấy cả bạn bè của chúng.
Có thể nói, trên Facebook, người ta không những gặp nhau mà còn thấy được nhau. Cái gọi là tình bạn trên Facebook, do đó, vừa ảo vừa thật. Hơn nữa, có khi còn thật hơn cả thật.
Xưa, bạn bè chỉ giới hạn trong một không gian nhất định: bạn cùng làng, cùng lớp, cùng trường, cùng sở. Tất cả đều gắn liền với một địa điểm. Từ đời sống nông thôn đến đời sống thành thị, khái niệm địa điểm ấy thay đổi chút xíu: ở nông thôn, địa điểm ấy thường gắn liền với các đơn vị hành chính: làng, xã, huyện, và, hiếm hơn, tỉnh; ở thành thị, địa điểm ấy thường gắn liền với các đơn vị nghề nghiệp: chợ, công sở hay công ty. Nhưng tất cả những sự gần gũi ấy chưa chắc đã giúp người ta thấy được nhau một cách trọn vẹn. Thường, chỉ một góc. Có khi chỉ là một góc thật nhỏ. Trên Facebook, tính cách của người ta hiện ra rõ nét hơn. Dường như, cho đó là một thế giới ảo, nhiều người rất thành thực trong việc khoe khoang cũng như giãi bày tâm sự. Bất kể nội dung hay mức độ của sự khoe khoang hay giãi bày ấy thế nào, riêng sự thành thực như vậy đã đáng quý. Thành thực đến mức quên cả ý niệm về sự riêng tư.
Cũng có thể nói, Facebook dần dần làm thay đổi quan hệ cá nhân giữa người và người. Theo Pew Research Center, khoảng một nửa những người sử dụng Facebook có trên 200 bạn.
Trời, với những người ngoại đạo của Facebook, nghe con số ấy, hẳn không khỏi kinh ngạc. Bạn ở đâu mà lắm thế? Giới hạn trong không gian và địa điểm, bạn, theo nghĩa truyền thống, cả đời dồn lại may lắm mới được vài chục người. Bây giờ, người ta có cả hàng trăm người; một số, có cả hàng ngàn người. Con số ấy sẽ trở thành một lực lượng đáng kể. Trước hết, lực lượng cho giới làm thương mại: đó là đối tượng để người ta quảng cáo và là một trong những nguồn lợi lớn, cực lớn cho người sáng lập Facebook, Mark Zuckerberg. Dĩ nhiên, nó cũng là một lực lượng rất có ý nghĩa cho các thay đổi về chính trị và xã hội. Cuộc cách mạng tại Trung Ðông và Bắc Phi cách đây mấy năm là một ví dụ.
Nhiều người đã thấy điều đó. Dĩ nhiên công an Việt Nam cũng thấy. Bởi vậy, trong cái đám bạn bè đông đúc trên Facebook, chắc là có khá nhiều công an giả dạng để theo dõi và quấy rối. Chán.
CUỘC THƯƠNG LƯỢNG NGA MỸ TẠI PARIS 30-3-2014
TẤM GƯƠNG SOI
Hôm chủ nhật 30-3-2014 người dân Crimea nhảy múa reo mừng, đồng hồ của họ được điều chỉnh đi trước 2 giờ để phù hợp với múi giờ của Moscow và cũng để chào mừng Thủ tướng Dmitri Medvedev bất ngờ đến thăm Crimea. Trong lúc đó, hai ngoại trưởng Mỹ và Nga, John Kerry và Sergei Lavrov, gặp nhau tại buổi thương lương đầu tiên tại Paris. Buổi thương lượng có tính khẩn trương này chỉ là bước đầu tiên của một chuổi dài thương lương giữa Mỹ và Nga bàn về tương lai của Cộng Hòa Ukraine. Theo ngoại trưởng Hoa Kỳ, John Kerry, tuy buổi thương lượng kéo dài 4 tiếng đồng hồ nhưng không đạt được bước tiến đột phá nào, nhiều khác biệt trong đường lối giải quyết hồ sơ Ukraine vẫn tồn tại giữa Washington và Moscow.
Về phía Hoakỳ, Ngoại trưởng John Kerry vẫn cho rằng:
- Việc Nga xâm chiếm Crimea là bất hợp pháp.
- Kerry tố cáo Lưc lượng lớn quân đội Nga trú đóng áp sát dọc theo biên giới Ukraine đã tạo nên sư lo ngại việc Nga có thể đang uy hiếp Ukraine. Ngoại trưởng Kerry yêu cầu Moscow hãy sớm rút toàn bộ 40,000 binh sĩ và lực lượng Nga ra khỏi biên giới của Ukraine.
- Để phán bác lại đề xuất của Moscow: Ukraine cần phải theo chế độ Liên Bang và Trung lập, Kerry đề nghị chính phủ hợp pháp của Ukraine phải được tham dư những buổi thương luơng tại Paris, vì phải chính Ukraine mới có quyền quyết định những đề xuất của Nga về Ukraine. Theo John Kerry, bàn về tương lai của Ukraine mà không có sự tham dự của chính phủ Ukraine, đối với Hoa Kỳ, là điều không thể chấp nhận được.
Về phía Nga, Ngoại trưởng Sergei Lavrov khẳng định:
- Nga không có ý đồ tấn công hay uy hiếp Ukraine bằng quân sự. Việc tập trung lưc lượng quân sư của Nga chỉ có mục đích diễn tập.
- Để bảo vệ thiểu số người nói tiếng Nga trong lãnh thổ Ukraine, ngoại trưởng Nga, Lavrov, cho rằng Ukraine cần phải theo đuổi thể chế Liên Bang và Trung lập-mọi người dân được quyền chọn lựa chính sách kinh tế, ngôn ngữ và tôn giáo riêng cho mình. (Được biết liền sau đó, bô Ngoại giao Ukraine cưc lực phán bác vì cho rằng giải pháp này là nỗ lực của Moscow nhầm làm tan rã Ukraine, mặc dầu trong buổi gặp gỡ riêng tư với báo chí, Ngoại trưởng Nga, Lavrov, cho hay rằng Kerry với ông cùng bàn bạc quan điểm này với thái độ vô cùng xây dựng- Nguyên văn Anh ngữ của nhà báo Matthew Lee: Lavrov said at separable briefing that he and Kerry discussed the possibility of a Federated Ukrainian State at very-very constructive talks)
Như đã thấy khá rõ ràng những khác biệt giữa Mỹ và Nga trong đường lối giải quyết những khủng hoảng ở Ukraine. Dù vậy, theo tường thuật Matthew Lee, thông tấn AP, cả hai ngoại trưởng Mỹ và Nga, John Kerry và Sergei Lavrov đều đồng ý và nhấn mạnh rằng giải pháp ngoại giao là giải pháp cần thiết và tốt nhất để giải quyến những vấn đề còn tồn động trong hồ sơ Ukraine.
Tôi là người Việt Nam, từng được vinh dự là một công dân của Việt Nam Cộng Hòa trước 75, tôi cảm nhận sâu sắc thân phận của đất nước cũng như của mọi công dân Cộng Hòa Ukraine hôm nay. Trước phong cảnh của buổi thương lượng đầu tiên tại Paris hôm 30-3 với hình ảnh của hai ngoai trưởng John Kerry và Sergei Lavrov lãnh đạo hai phái đoàn đàm phán Mỹ Nga, vực dậy ký ức của tôi về hình ảnh Everell Harriman của Hoa Kỳ và Xuân Thủy, ngoại trưởng của Cộng Sản Hà Nội, lãnh đạo hai phái đoàn Mỹ Việt tại phiên họp đầu tiên cũng tại Paris hôm 25-5-1968. Tôi phấn khởi khi nghe lời biện hộ của ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry cho sự có mặt cần thiết của phái đoàn chính phủ Kiev: “Chính Ukraine mới có quyền quyết định những đề xuất của Nga về Ukraine. Bàn về tương lai của Ukraine mà không có sư tham dư của chính phủ Ukraine,đối với Hoa kỳ là điều không thể chấp nhận được “. Như vậy chắc chắn là không có vấn đề ‘đi đêm’ giữa Mỹ và Nga. Tôi mong rằng tương lai của Cộng Hòa Ukraine sẽ không bi đát như số phận Việt Nam Cộng Hòa tổ quốc của tôi sau phiên họp cuối cùng tại Paris vào ngày 23-1-1973. Chúng tôi bị phản bội tận xương tủy, không phải từ kẻ thù mà bởi người bạn gọi là đồng minh của chúng tôi đâm sau lưng chúng tôi. Tôi tin rằng sự đấu tranh đầy gian khổ của 44 triệu người Ukraine hôm nay giành cho được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình, sẽ là tấm gương không phải riêng cho những người công dân Việt Nam Công Hòa như chúng tôi mà chung cho các dân tộc trên thế giới soi chung./.
Đào Như
Oak park, Illinois, USA
31-3-2014
TẤM GƯƠNG SOI
Hôm chủ nhật 30-3-2014 người dân Crimea nhảy múa reo mừng, đồng hồ của họ được điều chỉnh đi trước 2 giờ để phù hợp với múi giờ của Moscow và cũng để chào mừng Thủ tướng Dmitri Medvedev bất ngờ đến thăm Crimea. Trong lúc đó, hai ngoại trưởng Mỹ và Nga, John Kerry và Sergei Lavrov, gặp nhau tại buổi thương lương đầu tiên tại Paris. Buổi thương lượng có tính khẩn trương này chỉ là bước đầu tiên của một chuổi dài thương lương giữa Mỹ và Nga bàn về tương lai của Cộng Hòa Ukraine. Theo ngoại trưởng Hoa Kỳ, John Kerry, tuy buổi thương lượng kéo dài 4 tiếng đồng hồ nhưng không đạt được bước tiến đột phá nào, nhiều khác biệt trong đường lối giải quyết hồ sơ Ukraine vẫn tồn tại giữa Washington và Moscow.
Về phía Hoakỳ, Ngoại trưởng John Kerry vẫn cho rằng:
- Việc Nga xâm chiếm Crimea là bất hợp pháp.
- Kerry tố cáo Lưc lượng lớn quân đội Nga trú đóng áp sát dọc theo biên giới Ukraine đã tạo nên sư lo ngại việc Nga có thể đang uy hiếp Ukraine. Ngoại trưởng Kerry yêu cầu Moscow hãy sớm rút toàn bộ 40,000 binh sĩ và lực lượng Nga ra khỏi biên giới của Ukraine.
- Để phán bác lại đề xuất của Moscow: Ukraine cần phải theo chế độ Liên Bang và Trung lập, Kerry đề nghị chính phủ hợp pháp của Ukraine phải được tham dư những buổi thương luơng tại Paris, vì phải chính Ukraine mới có quyền quyết định những đề xuất của Nga về Ukraine. Theo John Kerry, bàn về tương lai của Ukraine mà không có sự tham dự của chính phủ Ukraine, đối với Hoa Kỳ, là điều không thể chấp nhận được.
Về phía Nga, Ngoại trưởng Sergei Lavrov khẳng định:
- Nga không có ý đồ tấn công hay uy hiếp Ukraine bằng quân sự. Việc tập trung lưc lượng quân sư của Nga chỉ có mục đích diễn tập.
- Để bảo vệ thiểu số người nói tiếng Nga trong lãnh thổ Ukraine, ngoại trưởng Nga, Lavrov, cho rằng Ukraine cần phải theo đuổi thể chế Liên Bang và Trung lập-mọi người dân được quyền chọn lựa chính sách kinh tế, ngôn ngữ và tôn giáo riêng cho mình. (Được biết liền sau đó, bô Ngoại giao Ukraine cưc lực phán bác vì cho rằng giải pháp này là nỗ lực của Moscow nhầm làm tan rã Ukraine, mặc dầu trong buổi gặp gỡ riêng tư với báo chí, Ngoại trưởng Nga, Lavrov, cho hay rằng Kerry với ông cùng bàn bạc quan điểm này với thái độ vô cùng xây dựng- Nguyên văn Anh ngữ của nhà báo Matthew Lee: Lavrov said at separable briefing that he and Kerry discussed the possibility of a Federated Ukrainian State at very-very constructive talks)
Như đã thấy khá rõ ràng những khác biệt giữa Mỹ và Nga trong đường lối giải quyết những khủng hoảng ở Ukraine. Dù vậy, theo tường thuật Matthew Lee, thông tấn AP, cả hai ngoại trưởng Mỹ và Nga, John Kerry và Sergei Lavrov đều đồng ý và nhấn mạnh rằng giải pháp ngoại giao là giải pháp cần thiết và tốt nhất để giải quyến những vấn đề còn tồn động trong hồ sơ Ukraine.
Tôi là người Việt Nam, từng được vinh dự là một công dân của Việt Nam Cộng Hòa trước 75, tôi cảm nhận sâu sắc thân phận của đất nước cũng như của mọi công dân Cộng Hòa Ukraine hôm nay. Trước phong cảnh của buổi thương lượng đầu tiên tại Paris hôm 30-3 với hình ảnh của hai ngoai trưởng John Kerry và Sergei Lavrov lãnh đạo hai phái đoàn đàm phán Mỹ Nga, vực dậy ký ức của tôi về hình ảnh Everell Harriman của Hoa Kỳ và Xuân Thủy, ngoại trưởng của Cộng Sản Hà Nội, lãnh đạo hai phái đoàn Mỹ Việt tại phiên họp đầu tiên cũng tại Paris hôm 25-5-1968. Tôi phấn khởi khi nghe lời biện hộ của ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry cho sự có mặt cần thiết của phái đoàn chính phủ Kiev: “Chính Ukraine mới có quyền quyết định những đề xuất của Nga về Ukraine. Bàn về tương lai của Ukraine mà không có sư tham dư của chính phủ Ukraine,đối với Hoa kỳ là điều không thể chấp nhận được “. Như vậy chắc chắn là không có vấn đề ‘đi đêm’ giữa Mỹ và Nga. Tôi mong rằng tương lai của Cộng Hòa Ukraine sẽ không bi đát như số phận Việt Nam Cộng Hòa tổ quốc của tôi sau phiên họp cuối cùng tại Paris vào ngày 23-1-1973. Chúng tôi bị phản bội tận xương tủy, không phải từ kẻ thù mà bởi người bạn gọi là đồng minh của chúng tôi đâm sau lưng chúng tôi. Tôi tin rằng sự đấu tranh đầy gian khổ của 44 triệu người Ukraine hôm nay giành cho được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình, sẽ là tấm gương không phải riêng cho những người công dân Việt Nam Công Hòa như chúng tôi mà chung cho các dân tộc trên thế giới soi chung./.
Đào Như
Oak park, Illinois, USA
31-3-2014
Mưu mẹo của Putin
Ngô Nhân Dụng
Sau khi Nga thành công trong việc chiếm lại vùng Crimea, nhật báo Le Monde ở Pháp đã đăng tựa lớn, “Poutine:1, Merkel và Obama: 0;” mô tả ông “siêu tổng thống” - Super Poutine - đang đưa hai tay lên trời, cười sung sướng.
Phải công nhận, ông Putin đang sống những ngày vui. Người ta thường vui nhất khi cảm thấy tự hài lòng với chính mình. Mà ông Vladimir Putin hiện nay đang rất hài lòng. Vì ông đã chiếm lại Crimea bằng những mưu mẹo tài tình, không cần huy động một tiểu đoàn hay bắn một phát đại bác. Vốn là một nhân viên tình báo KGB, ông Putin vui nhất vì ông đã dùng thủ đoạn tài tình làm cho cả CIA lẫn cơ quan tình báo thuộc Bộ Quốc Phòng Mỹ lầm lẫn.
Trong vụ chiếm lại Crimea, tình báo Mỹ hoàn toàn bị qua mặt; không đoán trước được lúc nào ông Putin sẽ hành động. Thành ra, cả ông Obama lẫn bà Thủ Tướng Ðức Merkel cứ tốn thời giờ gọi điện thoại cho điện Kremlin, tính thuyết phục ông Putin vì tưởng ông ta chưa quyết định ra tay. Một nhân viên cao cấp tình báo Mỹ nói với ký giả của tờ Wall Street Journal: “Chúng tôi biết họ có một mưu đồ ở vùng này, nhưng không đủ tin tức chính xác để kết luận chuyện gì sắp xảy ra;” và kết luận rằng câu chuyện lý thú này sẽ được đem ra dạy ở các trường huấn luyện sĩ quan trong nhiều năm tới.
Mấy tháng trước khi Crimea tổ chức trưng cầu dân ý để xin trở về với nước Nga, tình báo Mỹ đã báo cho Tòa Bạch Ốc biết rằng ông Putin đang có âm mưu nào đó ở Crimea. Nhưng cho đến ngày chót, họ không thể cung cấp các tin tức xác thực, cụ thể, làm bằng chứng. Trong thời gian đó các vệ tinh nhân tạo của Mỹ vẫn theo dõi các cuộc chuyển quân gần biên giới Nga-Ukraine; cơ quan tình báo Bộ Quốc Phòng Mỹ vẫn chăm chú nghe lén các cuộc điện đàm từ bộ tổng tư lệnh quân đội Nga tới các đơn vị. Họ lắng nghe cả bộ chỉ huy hạm đội Nga ở Sevastopol nằm ở bờ biển Crimea, mà không thấy một dấu hiệu nào khả nghi cho thấy quân Nga đang chuẩn bị cái gì cả.
Ngay từ đầu Tháng Hai, khi dân Ukraine biểu tình ở Kiev, thủ đô Ukraine, đòi cựu tổng thống thân Nga Viktor Yanukovych từ chức, tòa Ðại Sứ Mỹ đã gửi mấy sĩ quan tình báo qua Crimea thăm dò. Họ gặp gỡ những người Ukraine chống Nga, đặc biệt là các thủ lãnh của người Tartare, nhóm dân chiếm 12% dân số, trong lịch sử đã bị các Nga hoàng và Stalin bắt đày hàng loạt đi Siberia. Tin tức họ đem về, được báo cáo cho Washington biết, là có nhiều cuộc tụ họp của người gốc Nga chống lại cuộc cách mạng của dân Ukraine. Nhưng không có hành động quân sự nào đáng chú ý.
Bây giờ nhìn lại, tình báo Mỹ tin rằng ông Putin đã cho biệt kích xâm nhập bằng nhiều toán nhỏ, mặc thường phục, che mắt cả thế giới. Ở một nơi người Nga chiếm 55% trong dân số hai triệu, có thêm vài trăm người nói tiếng Nga nữa, vào ngủ trong trại lính Nga, không làm ai phải chú ý. Nhưng các biệt kích này đã được huấn luyện nghề tuyên truyền, xách động, sau đó mặc quân phục không mang phù hiệu, tự gọi là “dân quân người Crimea.” Họ tổ chức biểu tình chống chính phủ mới ở Kiev, rồi mang súng tới chiếm trụ sở Quốc Hội, trông cảnh các dân biểu thân Nga bỏ phiếu đòi tách khỏi Ukraine. Người Nga gọi mưu mô này là “maskirovka,” nghĩa là ngụy trang, trá hình.
Trong Tháng Hai, tình báo Mỹ lên tiếng báo động: Nga có thể sẽ đưa quân vào Ukraine nếu chính quyền Yanukovych bị lật đổ. Ngày 16 Tháng Hai, ông Yanukovych ra lệnh công an vũ trang Berkut tàn sát dân biểu tình. Tổ chức Berkut này gồm những sĩ quan được Nga huấn luyện, có cố vấn Nga bên cạnh. Bây giờ người ta biết họ đã dùng những xạ thủ lành nghề, nấp trên các ngôi nhà, nhắm bắn trúng vào đầu từng người biểu tình, khiêu khích cho dân nổi giận, tấn công lại công an. Ngày 18, dân chúng phản ứng mạnh, tiếm chiếm các cơ quan chính phủ; rồi Quốc Hội Ukraine yêu cầu công an ngừng bắn, sau đó Yanukovych bỏ trốn.
Nhưng ông Putin vẫn không cho ai thấy quân bài ông sắp đánh ra. Ngày 25, Bộ Quốc Phòng Nga mời tùy viên quân sự sứ quán Mỹ đến, thông báo họ sẽ tổ chức một cuộc thao diễn quân sự gần biên giới Ukraine, với 150,000 quân, 900 chiến xa, và phi cơ chiến đấu. Ai cũng còn nhớ năm 2008, quân Nga đã thao diễn gần biên giới Georgia trước khi tiến đánh nước này, thúc đẩy hai vùng ly khai tách khỏi Georgia! Nhưng năm nay, Ngoại Trưởng Nga Sergei Lavrov trấn an Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry, rằng Nga vẫn tôn trọng sự toàn vẹn của lãnh thổ Ukraine. Khi “dân quân” Nga ở Ukraine chiếm các cơ quan chính quyền, ông Putin còn nói với nhà báo rằng Nga không có tham vọng nào ở Crimea cả.
Ngày 26, Tòa Bạch Ốc họp với các cơ quan tình báo, kết luận rằng Nga đang có âm mưu ở Crimea, nhưng qua các cuộc nghe lén, họ không thấy tin tức chính xác về hành động quân sự nào cả. Ngay khi nghe lén các cuộc điện đàm trong hạm đội Nga đóng ở Sevatopol, trên bờ biển Crimea, cũng không thấy họ nói đến một cuộc chuyển quân nào cả. Không có điệp viên nào ở Crimea để cho biết tin tức; vệ tinh Mỹ cũng không chụp được hình ảnh nào khả nghi. Crimea đã nằm trong tay các “dân quân” do ông Putin chỉ huy. Trong khi đó thì các tin tức tình báo của Mỹ tập trung tại Sứ Quán Mỹ ở Kiev để chuyển về nước. Họ đã làm việc ngày đêm dùng điện thoại liên lạc với các đội quân biên phòng của Ukraine, được biết người ta đang đốt các tài liệu bí mật, đề phòng quân Nga tiến đánh. Bộ Quốc Phòng Mỹ liên lạc trực tiếp với phía Nga để hỏi thẳng, các quan chức Nga nói họ không biết gì cả, mà chắc họ không biết thật!
Cứ như thế, ông Putin đặt cả thế giới trước một “sự đã rồi;” Crimea xin nhập vào Liên Bang Nga, như trước năm 1954. Bây giờ, chính phủ Mỹ thấy ba lối giải thích tại sao họ bị đặt trước tình trạng bất ngờ. Thứ nhất, người Nga cố ý tránh không nói gì để bị Mỹ nghe lén. Thứ hai, Nga có sẵn một kế hoạch chiếm lại Crimea, cứ thế thi hành mà không đợi lệnh mới. Thứ ba, có thể ông Putin một mình biết kế hoạch đã trao cho một nhóm nhỏ các biệt kích đóng vai “dân quân” nổi lên ở Crimea, và chỉ một mình ông ta quyết định khi nào ra tay hành động.
Vì vậy, khi Quốc Hội Crimea tổ chức trưng cầu dân ý, ngày 28 Tháng Hai, ông Obama chỉ có thể cảnh cáo Nga một cách chung chung mà không thể cảnh cáo chính phủ Nga đang chiếm Crimea! Nếu ông Obama biết trước chắc cũng vậy thôi, vì Mỹ và các nước Châu Âu không thể làm gì khác được là sẽ trừng phạt ông Putin bằng các biện pháp kinh tế.
Có thể nói, ông Vladimir Putin đã đánh lừa được tất cả hệ thống tình báo của Mỹ, và của các nước Châu Âu. Vốn là một sĩ quan tình báo trú đóng tại Dresden, Ðông Ðức, ông Putin đã trải qua kinh nghiệm nhục nhã khi nghe tin tường Berlin sụp đổ. Cơ quan KGB ở Dresden lo đốt các tài liệu suốt ngày đêm, đến nỗi lò hơi đốt quá tải, ống dẫn hơi bị hư và ông bị sở cung cấp hơi đốt cảnh cáo sẽ cắt hơi đốt! Bây giờ, ông đã phục thù các nước Tây phương. Nhân đó ông cũng trả hận tất cả những người muốn đề cao các nguyên lý của lối sống dân chủ tự do.
Có thể chính người cố vấn Nga của cựu Tổng Thống Yanukovych, do ông Putin cử tới Kiev, đã xúi ông ta bắn dân Ukraine biểu tình ở công trường Maidan, vì họ thấy sẽ gây hai hậu quả, mà đằng nào cũng có lợi. Hoặc Yanukovych sẽ thành công, củng cố quyền hành, và vẫn đặt Ukraine trong vòng kiểm soát của Nga; hoặc dân mạnh hơn, sẽ lật đổ chính phủ Ukraine, nhân đó sẽ sách động dân gốc Nga ở Crimea nổi dậy đòi ly khai. Mưu kế của Vladimir Putin chắc Khổng Minh hay Tào Tháo cũng phải khen là tài tình. Ông Putin phải cảm thấy tự hài lòng!
Tại sao Vladimir Putin thành công, còn bà Merkel và ông Obama thất bại trong trận chiến tình báo vừa qua? Ông Putin được đào tạo trong guồng máy tình báo Xô Viết. Hiện nay, đám tài phiệt chung quanh ông, các cố vấn kinh tế của ông phần lớn là các cựu sĩ quan KGB. Sức mạnh của các chế độ cộng sản nằm trong guồng máy tình báo, đó là bộ phận quan trọng nhất trong các cuộc tranh chấp quân sự. Các lãnh tụ cộng sản thường hãnh diện về các âm mưu đánh lừa đối thủ, thời chiến cũng như thời bình. Nhà văn Mai Thảo, lúc sinh thời đã nhiều lần kể chuyện ông gặp lại người bạn cũ là nhà văn Hữu Mai, trong quân đội miền Bắc. Hai người là bạn rất thân khi Mai Thảo còn đi kháng chiến. Hữu Mai cho Mai Thảo biết điều “các cụ” trong Bộ Chính Trị thích thú nhất là mưu mẹo của họ bày ra khiến hàng trăm ngàn cựu quân nhân và công chức miền Nam tự mình đi trình diện để vào tù. Họ hãnh diện là đã bày ra được mưu mô bỏ tù được tất cả thành phần những người nguy hiểm cho chế độ, mà không cần tốn công đi bắt từng người một. Ông Putin cũng đang hãnh diện về thành tích đánh lừa tình báo Mỹ để chiếm được Crimea mà không cần hành động quân sự nào cả!
Các cán bộ cộng sản biết tập luyện được cách bày ra những mưu mẹo “tuyệt vời” như vậy, nhưng chế độ cộng sản đã sụp đổ ở Nga, vì các khả năng bày mưu lập kế này không ích lợi gì trong việc điều hành nền kinh tế quốc gia. Họ hoàn toàn bất lực không tìm ra cách nào kích thích cho các công nhân làm việc tận tụy gia tăng năng suất cao hơn, cũng không khích lệ được người ta nẩy ra những sáng kiến cải thiện năng suất. Nhiều âm mưu và thủ đoạn lừa gạt, nhưng họ hoàn toàn bất lực trong việc nâng cao đời sống kinh tế! Ðó là tình trạng ông Vladimir Putin đang lâm vào, khi đối đầu với các nước Tây phương trong cuộc “chiến tranh lạnh kinh tế” sắp diễn ra. Thời chiến Tranh Lạnh cũ, nước Mỹ đã theo chủ thuyết “ngăn chặn” (containment) mà nhà ngoại giao George F. Kennan đã đề nghị với chính phủ Mỹ từ năm 1947.
Chiến lược này, phỏng theo thuyết “vòng đai an toàn” (cordon sanitaire) của Pháp trong thập niên 1920, chủ trương rằng khối tư bản chỉ cần ngăn chặn sự bành trướng của các chủ nghĩa cộng sản; rồi cứ chờ đó, sẽ đến ngày chế độ cộng sản tự nó tan rã. Ngày nay, chủ thuyết “ngăn chặn” sẽ được áp dụng trong lãnh vực kinh tế.
Cách hành xử của ông Putin khác chính phủ các nước Tây phương cũng phản ảnh nền văn hóa mà ông đang sống. Chính quyền một nước tự do dân chủ rất khó bày đặt mưu mô đánh lừa đối thủ. Vì đánh lừa người nước khác cũng phải giấu diếm cả dân chúng của mình, mà các hành động của một chính quyền dân chủ đặt trên căn bản công khai và minh bạch. Người cầm quyền cũng bị hạn chế bằng cơ chế kiểm soát, qua các đại biểu của dân. Mỗi khoản chi của nhà nước phải được quốc hội phê chuẩn, ngay cả các hoạt động tình báo bí mật cũng phải được kê khai thì mới có tiền chi; ít nhất phải có một số đại biểu trong các ủy ban đặc biệt được thông báo đầy đủ!
Sống trong một chế độ chuyên chế, người ta tập thói quen nghi ngờ. Từ đó, suy ra nguyên tắc là thà phạt oan mười người còn hơn là tha nhầm một người. Ðánh lừa được một người cũng thú vị, đáng hãnh diện về thành công của mình, và dễ dàng hơn là khi muốn chinh phục lòng tin của mươi người. Khi tất cả nghi ngờ lẫn nhau, thì khi đánh lừa được một người khác ai cũng thích thú hơn. Vladimir Putin sống trong nền văn hóa KGB, chắc hẳn là ông ta thấm nhuần thói quen suy nghĩ này,
Ngược lại, sống trong xã hội tự do sống với luật pháp rõ ràng người ta có khuynh hướng giả thiết tất cả mọi người chung quanh đều đáng tin cậy. Nghĩ cho cùng thì sống với lòng tin tưởng có lợi hơn. Trong 100 người mình gặp có mươi người gian trá, mình có thể bị lừa dăm, ba lần, nhưng còn 95 lần gặp những người còn lại mình vẫn sống hạnh phúc hơn. Vì vậy loài người thường có khuynh hướng xây dựng lòng tín nhiệm, bằng cách sống có đạo đức và thiết lập những xã hội luật pháp công minh; coi không khí nghi ngờ là một tình trạng bệnh hoạn nên tránh.
Ngô Nhân Dụng
Sau khi Nga thành công trong việc chiếm lại vùng Crimea, nhật báo Le Monde ở Pháp đã đăng tựa lớn, “Poutine:1, Merkel và Obama: 0;” mô tả ông “siêu tổng thống” - Super Poutine - đang đưa hai tay lên trời, cười sung sướng.
Phải công nhận, ông Putin đang sống những ngày vui. Người ta thường vui nhất khi cảm thấy tự hài lòng với chính mình. Mà ông Vladimir Putin hiện nay đang rất hài lòng. Vì ông đã chiếm lại Crimea bằng những mưu mẹo tài tình, không cần huy động một tiểu đoàn hay bắn một phát đại bác. Vốn là một nhân viên tình báo KGB, ông Putin vui nhất vì ông đã dùng thủ đoạn tài tình làm cho cả CIA lẫn cơ quan tình báo thuộc Bộ Quốc Phòng Mỹ lầm lẫn.
Trong vụ chiếm lại Crimea, tình báo Mỹ hoàn toàn bị qua mặt; không đoán trước được lúc nào ông Putin sẽ hành động. Thành ra, cả ông Obama lẫn bà Thủ Tướng Ðức Merkel cứ tốn thời giờ gọi điện thoại cho điện Kremlin, tính thuyết phục ông Putin vì tưởng ông ta chưa quyết định ra tay. Một nhân viên cao cấp tình báo Mỹ nói với ký giả của tờ Wall Street Journal: “Chúng tôi biết họ có một mưu đồ ở vùng này, nhưng không đủ tin tức chính xác để kết luận chuyện gì sắp xảy ra;” và kết luận rằng câu chuyện lý thú này sẽ được đem ra dạy ở các trường huấn luyện sĩ quan trong nhiều năm tới.
Mấy tháng trước khi Crimea tổ chức trưng cầu dân ý để xin trở về với nước Nga, tình báo Mỹ đã báo cho Tòa Bạch Ốc biết rằng ông Putin đang có âm mưu nào đó ở Crimea. Nhưng cho đến ngày chót, họ không thể cung cấp các tin tức xác thực, cụ thể, làm bằng chứng. Trong thời gian đó các vệ tinh nhân tạo của Mỹ vẫn theo dõi các cuộc chuyển quân gần biên giới Nga-Ukraine; cơ quan tình báo Bộ Quốc Phòng Mỹ vẫn chăm chú nghe lén các cuộc điện đàm từ bộ tổng tư lệnh quân đội Nga tới các đơn vị. Họ lắng nghe cả bộ chỉ huy hạm đội Nga ở Sevastopol nằm ở bờ biển Crimea, mà không thấy một dấu hiệu nào khả nghi cho thấy quân Nga đang chuẩn bị cái gì cả.
Ngay từ đầu Tháng Hai, khi dân Ukraine biểu tình ở Kiev, thủ đô Ukraine, đòi cựu tổng thống thân Nga Viktor Yanukovych từ chức, tòa Ðại Sứ Mỹ đã gửi mấy sĩ quan tình báo qua Crimea thăm dò. Họ gặp gỡ những người Ukraine chống Nga, đặc biệt là các thủ lãnh của người Tartare, nhóm dân chiếm 12% dân số, trong lịch sử đã bị các Nga hoàng và Stalin bắt đày hàng loạt đi Siberia. Tin tức họ đem về, được báo cáo cho Washington biết, là có nhiều cuộc tụ họp của người gốc Nga chống lại cuộc cách mạng của dân Ukraine. Nhưng không có hành động quân sự nào đáng chú ý.
Bây giờ nhìn lại, tình báo Mỹ tin rằng ông Putin đã cho biệt kích xâm nhập bằng nhiều toán nhỏ, mặc thường phục, che mắt cả thế giới. Ở một nơi người Nga chiếm 55% trong dân số hai triệu, có thêm vài trăm người nói tiếng Nga nữa, vào ngủ trong trại lính Nga, không làm ai phải chú ý. Nhưng các biệt kích này đã được huấn luyện nghề tuyên truyền, xách động, sau đó mặc quân phục không mang phù hiệu, tự gọi là “dân quân người Crimea.” Họ tổ chức biểu tình chống chính phủ mới ở Kiev, rồi mang súng tới chiếm trụ sở Quốc Hội, trông cảnh các dân biểu thân Nga bỏ phiếu đòi tách khỏi Ukraine. Người Nga gọi mưu mô này là “maskirovka,” nghĩa là ngụy trang, trá hình.
Trong Tháng Hai, tình báo Mỹ lên tiếng báo động: Nga có thể sẽ đưa quân vào Ukraine nếu chính quyền Yanukovych bị lật đổ. Ngày 16 Tháng Hai, ông Yanukovych ra lệnh công an vũ trang Berkut tàn sát dân biểu tình. Tổ chức Berkut này gồm những sĩ quan được Nga huấn luyện, có cố vấn Nga bên cạnh. Bây giờ người ta biết họ đã dùng những xạ thủ lành nghề, nấp trên các ngôi nhà, nhắm bắn trúng vào đầu từng người biểu tình, khiêu khích cho dân nổi giận, tấn công lại công an. Ngày 18, dân chúng phản ứng mạnh, tiếm chiếm các cơ quan chính phủ; rồi Quốc Hội Ukraine yêu cầu công an ngừng bắn, sau đó Yanukovych bỏ trốn.
Nhưng ông Putin vẫn không cho ai thấy quân bài ông sắp đánh ra. Ngày 25, Bộ Quốc Phòng Nga mời tùy viên quân sự sứ quán Mỹ đến, thông báo họ sẽ tổ chức một cuộc thao diễn quân sự gần biên giới Ukraine, với 150,000 quân, 900 chiến xa, và phi cơ chiến đấu. Ai cũng còn nhớ năm 2008, quân Nga đã thao diễn gần biên giới Georgia trước khi tiến đánh nước này, thúc đẩy hai vùng ly khai tách khỏi Georgia! Nhưng năm nay, Ngoại Trưởng Nga Sergei Lavrov trấn an Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry, rằng Nga vẫn tôn trọng sự toàn vẹn của lãnh thổ Ukraine. Khi “dân quân” Nga ở Ukraine chiếm các cơ quan chính quyền, ông Putin còn nói với nhà báo rằng Nga không có tham vọng nào ở Crimea cả.
Ngày 26, Tòa Bạch Ốc họp với các cơ quan tình báo, kết luận rằng Nga đang có âm mưu ở Crimea, nhưng qua các cuộc nghe lén, họ không thấy tin tức chính xác về hành động quân sự nào cả. Ngay khi nghe lén các cuộc điện đàm trong hạm đội Nga đóng ở Sevatopol, trên bờ biển Crimea, cũng không thấy họ nói đến một cuộc chuyển quân nào cả. Không có điệp viên nào ở Crimea để cho biết tin tức; vệ tinh Mỹ cũng không chụp được hình ảnh nào khả nghi. Crimea đã nằm trong tay các “dân quân” do ông Putin chỉ huy. Trong khi đó thì các tin tức tình báo của Mỹ tập trung tại Sứ Quán Mỹ ở Kiev để chuyển về nước. Họ đã làm việc ngày đêm dùng điện thoại liên lạc với các đội quân biên phòng của Ukraine, được biết người ta đang đốt các tài liệu bí mật, đề phòng quân Nga tiến đánh. Bộ Quốc Phòng Mỹ liên lạc trực tiếp với phía Nga để hỏi thẳng, các quan chức Nga nói họ không biết gì cả, mà chắc họ không biết thật!
Cứ như thế, ông Putin đặt cả thế giới trước một “sự đã rồi;” Crimea xin nhập vào Liên Bang Nga, như trước năm 1954. Bây giờ, chính phủ Mỹ thấy ba lối giải thích tại sao họ bị đặt trước tình trạng bất ngờ. Thứ nhất, người Nga cố ý tránh không nói gì để bị Mỹ nghe lén. Thứ hai, Nga có sẵn một kế hoạch chiếm lại Crimea, cứ thế thi hành mà không đợi lệnh mới. Thứ ba, có thể ông Putin một mình biết kế hoạch đã trao cho một nhóm nhỏ các biệt kích đóng vai “dân quân” nổi lên ở Crimea, và chỉ một mình ông ta quyết định khi nào ra tay hành động.
Vì vậy, khi Quốc Hội Crimea tổ chức trưng cầu dân ý, ngày 28 Tháng Hai, ông Obama chỉ có thể cảnh cáo Nga một cách chung chung mà không thể cảnh cáo chính phủ Nga đang chiếm Crimea! Nếu ông Obama biết trước chắc cũng vậy thôi, vì Mỹ và các nước Châu Âu không thể làm gì khác được là sẽ trừng phạt ông Putin bằng các biện pháp kinh tế.
Có thể nói, ông Vladimir Putin đã đánh lừa được tất cả hệ thống tình báo của Mỹ, và của các nước Châu Âu. Vốn là một sĩ quan tình báo trú đóng tại Dresden, Ðông Ðức, ông Putin đã trải qua kinh nghiệm nhục nhã khi nghe tin tường Berlin sụp đổ. Cơ quan KGB ở Dresden lo đốt các tài liệu suốt ngày đêm, đến nỗi lò hơi đốt quá tải, ống dẫn hơi bị hư và ông bị sở cung cấp hơi đốt cảnh cáo sẽ cắt hơi đốt! Bây giờ, ông đã phục thù các nước Tây phương. Nhân đó ông cũng trả hận tất cả những người muốn đề cao các nguyên lý của lối sống dân chủ tự do.
Có thể chính người cố vấn Nga của cựu Tổng Thống Yanukovych, do ông Putin cử tới Kiev, đã xúi ông ta bắn dân Ukraine biểu tình ở công trường Maidan, vì họ thấy sẽ gây hai hậu quả, mà đằng nào cũng có lợi. Hoặc Yanukovych sẽ thành công, củng cố quyền hành, và vẫn đặt Ukraine trong vòng kiểm soát của Nga; hoặc dân mạnh hơn, sẽ lật đổ chính phủ Ukraine, nhân đó sẽ sách động dân gốc Nga ở Crimea nổi dậy đòi ly khai. Mưu kế của Vladimir Putin chắc Khổng Minh hay Tào Tháo cũng phải khen là tài tình. Ông Putin phải cảm thấy tự hài lòng!
Tại sao Vladimir Putin thành công, còn bà Merkel và ông Obama thất bại trong trận chiến tình báo vừa qua? Ông Putin được đào tạo trong guồng máy tình báo Xô Viết. Hiện nay, đám tài phiệt chung quanh ông, các cố vấn kinh tế của ông phần lớn là các cựu sĩ quan KGB. Sức mạnh của các chế độ cộng sản nằm trong guồng máy tình báo, đó là bộ phận quan trọng nhất trong các cuộc tranh chấp quân sự. Các lãnh tụ cộng sản thường hãnh diện về các âm mưu đánh lừa đối thủ, thời chiến cũng như thời bình. Nhà văn Mai Thảo, lúc sinh thời đã nhiều lần kể chuyện ông gặp lại người bạn cũ là nhà văn Hữu Mai, trong quân đội miền Bắc. Hai người là bạn rất thân khi Mai Thảo còn đi kháng chiến. Hữu Mai cho Mai Thảo biết điều “các cụ” trong Bộ Chính Trị thích thú nhất là mưu mẹo của họ bày ra khiến hàng trăm ngàn cựu quân nhân và công chức miền Nam tự mình đi trình diện để vào tù. Họ hãnh diện là đã bày ra được mưu mô bỏ tù được tất cả thành phần những người nguy hiểm cho chế độ, mà không cần tốn công đi bắt từng người một. Ông Putin cũng đang hãnh diện về thành tích đánh lừa tình báo Mỹ để chiếm được Crimea mà không cần hành động quân sự nào cả!
Các cán bộ cộng sản biết tập luyện được cách bày ra những mưu mẹo “tuyệt vời” như vậy, nhưng chế độ cộng sản đã sụp đổ ở Nga, vì các khả năng bày mưu lập kế này không ích lợi gì trong việc điều hành nền kinh tế quốc gia. Họ hoàn toàn bất lực không tìm ra cách nào kích thích cho các công nhân làm việc tận tụy gia tăng năng suất cao hơn, cũng không khích lệ được người ta nẩy ra những sáng kiến cải thiện năng suất. Nhiều âm mưu và thủ đoạn lừa gạt, nhưng họ hoàn toàn bất lực trong việc nâng cao đời sống kinh tế! Ðó là tình trạng ông Vladimir Putin đang lâm vào, khi đối đầu với các nước Tây phương trong cuộc “chiến tranh lạnh kinh tế” sắp diễn ra. Thời chiến Tranh Lạnh cũ, nước Mỹ đã theo chủ thuyết “ngăn chặn” (containment) mà nhà ngoại giao George F. Kennan đã đề nghị với chính phủ Mỹ từ năm 1947.
Chiến lược này, phỏng theo thuyết “vòng đai an toàn” (cordon sanitaire) của Pháp trong thập niên 1920, chủ trương rằng khối tư bản chỉ cần ngăn chặn sự bành trướng của các chủ nghĩa cộng sản; rồi cứ chờ đó, sẽ đến ngày chế độ cộng sản tự nó tan rã. Ngày nay, chủ thuyết “ngăn chặn” sẽ được áp dụng trong lãnh vực kinh tế.
Cách hành xử của ông Putin khác chính phủ các nước Tây phương cũng phản ảnh nền văn hóa mà ông đang sống. Chính quyền một nước tự do dân chủ rất khó bày đặt mưu mô đánh lừa đối thủ. Vì đánh lừa người nước khác cũng phải giấu diếm cả dân chúng của mình, mà các hành động của một chính quyền dân chủ đặt trên căn bản công khai và minh bạch. Người cầm quyền cũng bị hạn chế bằng cơ chế kiểm soát, qua các đại biểu của dân. Mỗi khoản chi của nhà nước phải được quốc hội phê chuẩn, ngay cả các hoạt động tình báo bí mật cũng phải được kê khai thì mới có tiền chi; ít nhất phải có một số đại biểu trong các ủy ban đặc biệt được thông báo đầy đủ!
Sống trong một chế độ chuyên chế, người ta tập thói quen nghi ngờ. Từ đó, suy ra nguyên tắc là thà phạt oan mười người còn hơn là tha nhầm một người. Ðánh lừa được một người cũng thú vị, đáng hãnh diện về thành công của mình, và dễ dàng hơn là khi muốn chinh phục lòng tin của mươi người. Khi tất cả nghi ngờ lẫn nhau, thì khi đánh lừa được một người khác ai cũng thích thú hơn. Vladimir Putin sống trong nền văn hóa KGB, chắc hẳn là ông ta thấm nhuần thói quen suy nghĩ này,
Ngược lại, sống trong xã hội tự do sống với luật pháp rõ ràng người ta có khuynh hướng giả thiết tất cả mọi người chung quanh đều đáng tin cậy. Nghĩ cho cùng thì sống với lòng tin tưởng có lợi hơn. Trong 100 người mình gặp có mươi người gian trá, mình có thể bị lừa dăm, ba lần, nhưng còn 95 lần gặp những người còn lại mình vẫn sống hạnh phúc hơn. Vì vậy loài người thường có khuynh hướng xây dựng lòng tín nhiệm, bằng cách sống có đạo đức và thiết lập những xã hội luật pháp công minh; coi không khí nghi ngờ là một tình trạng bệnh hoạn nên tránh.
Ðối phó với Trung Cộng
Ngô Nhân Dụng
Sau biến cố Nga chiếm Crimea và đe dọa Ukraine, nhiều người đã chỉ trích chính phủ Mỹ bỏ rơi Châu Âu từ năm 2003 vì các nước ở đó chống chiến tranh Iraq. Hơn mười năm qua Mỹ đã phó mặc số phận của các nước nằm sát biên giới Nga cho các nước Châu Âu lo lấy. Nhưng ai cũng biết Nga là một đế quốc đang xuống, mà các nước châu Âu đủ mạnh để tự vệ. Trong khi đó thì mối đe dọa của nước Trung Hoa cộng sản đang lớn mạnh đối với vùng Á Ðông ngày càng tăng lên, mà các nước trong vùng này thì không đồng lòng trong một chiến lược chung để đối phó với chương trình bành trướng của Trung Cộng.
Các nước Á Ðông quan tâm đến biến cố Crimea, vì lo rằng chính quyền cộng sản Trung Hoa sẽ bắt chước ông Vladimir Putin. Ông Tập Cận Bình cũng như các lãnh tụ cộng sản Trung Hoa, từ thời Mao Trạch Ðông, vẫn nuôi giấc mộng làm bá chủ cả vùng Ðông Á; như các lãnh tụ điện Kremlin nuôi giấc mộng tái lập đế quốc của các Nga hoàng. Ðài Loan đã nhập vào Trung Quốc từ cuối thế kỷ đời Nhà Thanh, cũng giống như Crimea được các Nga hoàng chiếu cố; Bắc Kinh vẫn coi Ðài Loan là một tỉnh trong nước Trung Hoa. Nếu cần, họ cũng có thể nói Việt Nam vốn thuộc lãnh thổ Trung Quốc suốt mười thế kỷ, từ thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, sau khi quân nhà Hán chiếm đóng và cai trị!
Ngày Thứ Năm vừa qua, trước ủy ban đối ngoại của thượng viện Mỹ, ông Danny Russel, phụ tá bộ trưởng ngoại giao phụ trách vùng Á Ðông đã nói đúng những gì mà nhiều người đang muốn nghe. Ông nói rằng những biện pháp trừng phạt Nga sau vụ Crimea cũng là lời cảnh cáo Trung Cộng không nên nghĩ đến việc bắt chước hành động của ông Putin ở Crimea. Ông Russel nhấn mạnh rằng chính phủ Mỹ vẫn cam kết thi hành những hiệp ước phòng thủ với các đồng minh như Nhật Bản, Nam Hàn và Philippines.
Ông Russel không nhắc đến Ðài Loan. Từ năm 1979, chính phủ Mỹ trên nguyên tắc không coi Ðài Loan là một “quốc gia” nữa. Họ vẫn có bổn phận bảo vệ Ðài Loan, nhưng không vì một hiệp ước nào giữa hai bên, mà chỉ vì bị ràng buộc bởi một đạo luật được Quốc Hội thông qua sau khi Mỹ quyết định công nhận Trung Cộng. Nhưng Ðài Loan khó biến thành Crimea. Dân chúng xứ này sẽ không bao giờ bỏ phiếu đòi nhập vào Trung Quốc. Ông cũng không nhắc đến Việt Nam, Malaysia, Indonesia, không nước nào có hiệp ước phòng thủ với Mỹ.
Vùng Biển Ðông của nước ta có thể sẽ thành nơi tranh hùng trong thế kỷ 21; tất cả đều lo lắng về ý đồ bành trướng của Trung Cộng tại Ðông Nam Á trong khi Mỹ sẽ tìm cách giúp các nước Ðông Nam Á ngăn chặn. Nhưng chính phủ Mỹ vẫn giữ lập trường “trung lập” không muốn góp ý kiến về vấn đề chủ quyền trên các quần đảo trong vùng này; chỉ muốn các nước giữ nguyên tình trạng hiện có, và giải quyết các xung đột theo luật pháp một cách hòa bình. Nhưng Trung Cộng không quan tâm đến luật pháp quốc tế; họ tiếp tục đóng vai “mèo vờn chuột” mà các nước Ðông Nam Á đóng vai các con chuột. Những lời tuyên bố của ông Russel cho thấy chính phủ Mỹ muốn cảnh cáo Bắc Kinh để chứng tỏ họ không hoàn toàn đóng vai khách bàng quan; trước khi ông Obama qua miền Ðông Châu Á. Thái độ cứng rắn tăng lên sau khi Bắc Kinh tuyên bố thiết lập một vùng kiểm soát không phận (ADIZ) ở phía Bắc Thái Bình Dương, bao gồm cả các quần đảo thuộc Nhật Bản và Nam Hàn.
Ngay sau đó, Washington đã cảnh cáo Bắc Kinh không nên có hành động tương tự trong vùng biển phía Nam.
Trong hai tuần nữa Tổng Thống Barack Obama sẽ đi thăm bốn nước Á Ðông: Nhật Bản, Nam Hàn, Malaysia và Philippines. Ông sẽ phải xác nhận lại, là chính sách “chuyển trục” về châu Á, Thái Bình Dương không thay đổi. Thủy quân lục chiến Mỹ mới vừa tập trận chung với thủy quân lục chiến Nam Hàn ở vùng biển phía Ðông Nam nước này. Cuộc diễn tập mang tên Song Long (Sang Yong trong tiếng Ðại Hàn) là cuộc tập trận lớn nhất của hai nước từ trước đến nay, đông gấp đôi cuộc tập trận năm ngoái; với 3,000 quân Hàn Quốc,10,000 quân Mỹ trong đó ba phần tư từ Okinawa tới, phần còn lại từ San Diego, California. Cuộc tập trận “đổ bộ” này lấy đề tài là tái chiếm một miền đất Nam Hàn đã bị “địch quân” chiếm, không nói là từ nước nào. Theo chương trình của bộ quốc phòng Mỹ, đến năm 2017 số thủy quân lục chiến trong vùng Á Châu, Thái Bình Dương từ 19,000 sẽ tăng lên thành 22,000. Mỹ cũng tăng số lần tập trận cùng với quân Úc và quân Nhật; hai nước đang tăng thêm số lượng quân đổ bộ. Hiện nay lực lượng thủy quân lục chiến của Trung Quốc có 10,000 người và đang làm thêm nhiều tàu đổ bộ.
Ngày Thứ Sáu, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang ở Berlin, cũng có ý đáp lại các lời lẽ của ông Russel, nói rằng chính phủ ông sẽ không gây ra một xáo trộn nào trong vùng “Nam Hải,” tức vùng Biển Ðông của nước ta. Nhưng cả thế giới đều biết câu “đừng nghe những gì Trung Cộng nói, mà hãy nhìn kỹ những gì họ làm.”
Ngoài việc chiếm Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Cộng còn liên tiếp gây sự với Philippines. Chính phủ Philippines cho thấy nếu mèo vờn chuột được thì chuột cũng có thể chọc mèo. Chủ Nhật vừa rồi, Manila đưa vấn đề tranh chấp các hòn đảo vùng Ðông Nam Á ra trước tòa án thế giới ở Den Haag (The Hague, Hòa Lan.) Lập tức Bắc Kinh tuyên bố sẽ không tham dự phiên tòa xử, và không quan tâm đến quyết định của tòa án này. Trong tuần qua, một cuộc chơi mèo vờn chuột diễn ra ở ngoài biển Philippines tại mỏm đá là hòn đảo Second Thomas Shoal, nơi Trung Cộng đang đòi chiếm. Chính phủ Phi đã đánh chìm một chiếc tàu cũ ở đây từ năm 1999 để chứng tỏ đây là đất nước họ. Trên tàu có tám anh lính đồn trú, ba tháng lại đổi phiên. Từ ngày 9 Tháng Ba, tàu chiến Trung Cộng đã tới bao vây, ngăn không cho tiếp tế tám anh lính này; người Phi phải thả dù xuống cho họ. Nhưng Chủ Nhật vừa rồi, một nhóm hải quân Phi mặc thường phục đã lái một chiếc ca nô vượt qua hàng rào phong tỏa của hải quân Trung Cộng, đem đồ tiếp tế đến cho đồng đội. Tàu chiến Trung Cộng đuổi theo, ra lệnh ngừng, nhưng chiếc thuyền nhỏ đi vào vùng nước nông khiến chiến hạm của Trung Cộng phải đứng ngoài nhìn theo. Trong thời gian đó, có máy bay của Philippines, của Trung Cộng và cả của Mỹ bay trên không theo dõi cuộc đuổi bắt. Dân chúng Philippines coi đây là một cuộc chơi mèo vờn chuột mà hải quân Phi đóng vai mèo.
Năm 2012, Bắc Kinh đã làm áp lực với chính phủ Philippines bằng cách ngăn không cho nhập cảng chuối nước này, lấy cớ chuối thiếu vệ sinh. Nhưng sau cùng họ cũng chịu nhường, để người Trung Hoa được ăn chuối Phi trở lại. Những đòn qua lại giữa các nước đang tranh chấp trong vùng biển Ðông Nam Á sẽ còn tiếp tục trong nhiều năm tới. Tháng trước, Trung Cộng đã gây trở ngại ở biên giới Hoa Việt, khiến hàng chục xe hàng chở dưa hấu của thương gia Việt Nam không qua được biên giới, bao nhiêu nhà buôn mất hết vốn liếng. Tuần này, chính quyền Ðà Nẵng ở Việt Nam đã ra lệnh bỏ hết các bảng hiệu viết toàn chữ Hán trong thành phố, cả những bảng hiệu viết chữa Hán lớn hơn chữ Việt. Ghép hai sự kiện lại, có thể thấy giống như những đòn trả đũa với nhau giữa hai nước đang có tranh chấp.
Các nước Ðông Nam Á sẽ còn phải trả đòn lại Trung Cộng trong thời gian tới. Một cách quang minh chính đại nhất là đưa tất cả các vấn đề tranh cãi ra tòa án quốc tế, để được trọng tài xét xử. Một giải pháp tốt cho cả vùng Ðông Nam Á là các nước giữ nguyên trạng, như chính phủ Mỹ đề nghị, trong khi cùng khai thác các tài nguyên trong vùng biển này, chia nhau theo tình trạng đang có. Nhưng chính quyền Trung Cộng không chấp nhận giải pháp này, vì họ không thể bỏ được tham vọng đế quốc, muốn một mình ăn cả! Trong khi chính quyền Bắc Kinh không chấp nhận cuộc chơi quang minh chính đại, thì tất cả các nước cũng phải sẵn sàng dùng các thủ đoạn mà người Trung Hoa có thể hiểu được.
Làm như thế nào thì người Trung Hoa có thể hiểu được? Chúng ta có thể rút kinh nghiệm từ một viên tướng thời Pháp thuộc, Joseph Galliéni.
Khi còn đeo lon đại tá, Galliéni chỉ huy cả vùng biên giới Lạng Sơn, Cao Bằng ở nước ta, từ năm 1892 đến 1896. Ông ta luôn phải đi tiễu trừ những đoàn “thổ phỉ” bên Tàu sang cướp bóc dân Việt. Những toán thổ phỉ này phần lớn là lính đi ăn cướp. Một hôm, Galliéni sang bên kia biên giới, gặp viên tướng nhà Thanh, yêu cầu ngăn cấm không cho lính sang “An Nam” ăn cướp. Viên tướng Tàu đáp: “Tôi rất ân hận, và xin ông tha lỗi. Nhưng lính của tôi chúng nó vô kỷ luật, không thể nào ngăn cấm được! Nếu ông bắt được đứa nào, tôi xin ông, cứ việc bắn. Bắn, không cần đem ra xử làm gì!”
Tất nhiên, khó bắt được thổ phỉ, mà nếu có người bị bắt thì cũng bắn rồi. Sau đó, Galliéni đã đổi cách đối phó. Ông ta cho quân “Lê Dương” lên đồn trú ở sát biên giới. Những người lính ngoại quốc trong quân đội Pháp này được lệnh lâu lâu sang cướp phá mấy làng bên kia biên giới. Cho đến lúc viên tướng nhà Thanh phải sang than phiền với Galliéni. Ông đại tá Pháp bèn trả lời: “Tôi rất ân hận, tôi xin ông tha lỗi. Nhưng lính của tôi toàn người ngoại quốc không phải người Pháp, chúng nó vô kỷ luật, không thể nào ngăn cấm được! Nếu ông bắt được đứa nào, tôi xin ông, cứ việc bắn. Bắn, không cần đem ra xử làm gì!” Viên tướng Tàu khen ngợi Galliéni: Ông đáng lẽ phải là người Tàu mới phải! [Theo sách Extrême Orient của Claude Farrère, in năm 1934, được kể lại trong cuốn Lịch Sử Binh Ðoàn Lê Dương, của Douglas Porch, 1991, trang 243].
Joseph Galliéni đã hành động theo cách mà người Trung Hoa có thể hiểu được.
Ngô Nhân Dụng
Sau biến cố Nga chiếm Crimea và đe dọa Ukraine, nhiều người đã chỉ trích chính phủ Mỹ bỏ rơi Châu Âu từ năm 2003 vì các nước ở đó chống chiến tranh Iraq. Hơn mười năm qua Mỹ đã phó mặc số phận của các nước nằm sát biên giới Nga cho các nước Châu Âu lo lấy. Nhưng ai cũng biết Nga là một đế quốc đang xuống, mà các nước châu Âu đủ mạnh để tự vệ. Trong khi đó thì mối đe dọa của nước Trung Hoa cộng sản đang lớn mạnh đối với vùng Á Ðông ngày càng tăng lên, mà các nước trong vùng này thì không đồng lòng trong một chiến lược chung để đối phó với chương trình bành trướng của Trung Cộng.
Các nước Á Ðông quan tâm đến biến cố Crimea, vì lo rằng chính quyền cộng sản Trung Hoa sẽ bắt chước ông Vladimir Putin. Ông Tập Cận Bình cũng như các lãnh tụ cộng sản Trung Hoa, từ thời Mao Trạch Ðông, vẫn nuôi giấc mộng làm bá chủ cả vùng Ðông Á; như các lãnh tụ điện Kremlin nuôi giấc mộng tái lập đế quốc của các Nga hoàng. Ðài Loan đã nhập vào Trung Quốc từ cuối thế kỷ đời Nhà Thanh, cũng giống như Crimea được các Nga hoàng chiếu cố; Bắc Kinh vẫn coi Ðài Loan là một tỉnh trong nước Trung Hoa. Nếu cần, họ cũng có thể nói Việt Nam vốn thuộc lãnh thổ Trung Quốc suốt mười thế kỷ, từ thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, sau khi quân nhà Hán chiếm đóng và cai trị!
Ngày Thứ Năm vừa qua, trước ủy ban đối ngoại của thượng viện Mỹ, ông Danny Russel, phụ tá bộ trưởng ngoại giao phụ trách vùng Á Ðông đã nói đúng những gì mà nhiều người đang muốn nghe. Ông nói rằng những biện pháp trừng phạt Nga sau vụ Crimea cũng là lời cảnh cáo Trung Cộng không nên nghĩ đến việc bắt chước hành động của ông Putin ở Crimea. Ông Russel nhấn mạnh rằng chính phủ Mỹ vẫn cam kết thi hành những hiệp ước phòng thủ với các đồng minh như Nhật Bản, Nam Hàn và Philippines.
Ông Russel không nhắc đến Ðài Loan. Từ năm 1979, chính phủ Mỹ trên nguyên tắc không coi Ðài Loan là một “quốc gia” nữa. Họ vẫn có bổn phận bảo vệ Ðài Loan, nhưng không vì một hiệp ước nào giữa hai bên, mà chỉ vì bị ràng buộc bởi một đạo luật được Quốc Hội thông qua sau khi Mỹ quyết định công nhận Trung Cộng. Nhưng Ðài Loan khó biến thành Crimea. Dân chúng xứ này sẽ không bao giờ bỏ phiếu đòi nhập vào Trung Quốc. Ông cũng không nhắc đến Việt Nam, Malaysia, Indonesia, không nước nào có hiệp ước phòng thủ với Mỹ.
Vùng Biển Ðông của nước ta có thể sẽ thành nơi tranh hùng trong thế kỷ 21; tất cả đều lo lắng về ý đồ bành trướng của Trung Cộng tại Ðông Nam Á trong khi Mỹ sẽ tìm cách giúp các nước Ðông Nam Á ngăn chặn. Nhưng chính phủ Mỹ vẫn giữ lập trường “trung lập” không muốn góp ý kiến về vấn đề chủ quyền trên các quần đảo trong vùng này; chỉ muốn các nước giữ nguyên tình trạng hiện có, và giải quyết các xung đột theo luật pháp một cách hòa bình. Nhưng Trung Cộng không quan tâm đến luật pháp quốc tế; họ tiếp tục đóng vai “mèo vờn chuột” mà các nước Ðông Nam Á đóng vai các con chuột. Những lời tuyên bố của ông Russel cho thấy chính phủ Mỹ muốn cảnh cáo Bắc Kinh để chứng tỏ họ không hoàn toàn đóng vai khách bàng quan; trước khi ông Obama qua miền Ðông Châu Á. Thái độ cứng rắn tăng lên sau khi Bắc Kinh tuyên bố thiết lập một vùng kiểm soát không phận (ADIZ) ở phía Bắc Thái Bình Dương, bao gồm cả các quần đảo thuộc Nhật Bản và Nam Hàn.
Ngay sau đó, Washington đã cảnh cáo Bắc Kinh không nên có hành động tương tự trong vùng biển phía Nam.
Trong hai tuần nữa Tổng Thống Barack Obama sẽ đi thăm bốn nước Á Ðông: Nhật Bản, Nam Hàn, Malaysia và Philippines. Ông sẽ phải xác nhận lại, là chính sách “chuyển trục” về châu Á, Thái Bình Dương không thay đổi. Thủy quân lục chiến Mỹ mới vừa tập trận chung với thủy quân lục chiến Nam Hàn ở vùng biển phía Ðông Nam nước này. Cuộc diễn tập mang tên Song Long (Sang Yong trong tiếng Ðại Hàn) là cuộc tập trận lớn nhất của hai nước từ trước đến nay, đông gấp đôi cuộc tập trận năm ngoái; với 3,000 quân Hàn Quốc,10,000 quân Mỹ trong đó ba phần tư từ Okinawa tới, phần còn lại từ San Diego, California. Cuộc tập trận “đổ bộ” này lấy đề tài là tái chiếm một miền đất Nam Hàn đã bị “địch quân” chiếm, không nói là từ nước nào. Theo chương trình của bộ quốc phòng Mỹ, đến năm 2017 số thủy quân lục chiến trong vùng Á Châu, Thái Bình Dương từ 19,000 sẽ tăng lên thành 22,000. Mỹ cũng tăng số lần tập trận cùng với quân Úc và quân Nhật; hai nước đang tăng thêm số lượng quân đổ bộ. Hiện nay lực lượng thủy quân lục chiến của Trung Quốc có 10,000 người và đang làm thêm nhiều tàu đổ bộ.
Ngày Thứ Sáu, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang ở Berlin, cũng có ý đáp lại các lời lẽ của ông Russel, nói rằng chính phủ ông sẽ không gây ra một xáo trộn nào trong vùng “Nam Hải,” tức vùng Biển Ðông của nước ta. Nhưng cả thế giới đều biết câu “đừng nghe những gì Trung Cộng nói, mà hãy nhìn kỹ những gì họ làm.”
Ngoài việc chiếm Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Cộng còn liên tiếp gây sự với Philippines. Chính phủ Philippines cho thấy nếu mèo vờn chuột được thì chuột cũng có thể chọc mèo. Chủ Nhật vừa rồi, Manila đưa vấn đề tranh chấp các hòn đảo vùng Ðông Nam Á ra trước tòa án thế giới ở Den Haag (The Hague, Hòa Lan.) Lập tức Bắc Kinh tuyên bố sẽ không tham dự phiên tòa xử, và không quan tâm đến quyết định của tòa án này. Trong tuần qua, một cuộc chơi mèo vờn chuột diễn ra ở ngoài biển Philippines tại mỏm đá là hòn đảo Second Thomas Shoal, nơi Trung Cộng đang đòi chiếm. Chính phủ Phi đã đánh chìm một chiếc tàu cũ ở đây từ năm 1999 để chứng tỏ đây là đất nước họ. Trên tàu có tám anh lính đồn trú, ba tháng lại đổi phiên. Từ ngày 9 Tháng Ba, tàu chiến Trung Cộng đã tới bao vây, ngăn không cho tiếp tế tám anh lính này; người Phi phải thả dù xuống cho họ. Nhưng Chủ Nhật vừa rồi, một nhóm hải quân Phi mặc thường phục đã lái một chiếc ca nô vượt qua hàng rào phong tỏa của hải quân Trung Cộng, đem đồ tiếp tế đến cho đồng đội. Tàu chiến Trung Cộng đuổi theo, ra lệnh ngừng, nhưng chiếc thuyền nhỏ đi vào vùng nước nông khiến chiến hạm của Trung Cộng phải đứng ngoài nhìn theo. Trong thời gian đó, có máy bay của Philippines, của Trung Cộng và cả của Mỹ bay trên không theo dõi cuộc đuổi bắt. Dân chúng Philippines coi đây là một cuộc chơi mèo vờn chuột mà hải quân Phi đóng vai mèo.
Năm 2012, Bắc Kinh đã làm áp lực với chính phủ Philippines bằng cách ngăn không cho nhập cảng chuối nước này, lấy cớ chuối thiếu vệ sinh. Nhưng sau cùng họ cũng chịu nhường, để người Trung Hoa được ăn chuối Phi trở lại. Những đòn qua lại giữa các nước đang tranh chấp trong vùng biển Ðông Nam Á sẽ còn tiếp tục trong nhiều năm tới. Tháng trước, Trung Cộng đã gây trở ngại ở biên giới Hoa Việt, khiến hàng chục xe hàng chở dưa hấu của thương gia Việt Nam không qua được biên giới, bao nhiêu nhà buôn mất hết vốn liếng. Tuần này, chính quyền Ðà Nẵng ở Việt Nam đã ra lệnh bỏ hết các bảng hiệu viết toàn chữ Hán trong thành phố, cả những bảng hiệu viết chữa Hán lớn hơn chữ Việt. Ghép hai sự kiện lại, có thể thấy giống như những đòn trả đũa với nhau giữa hai nước đang có tranh chấp.
Các nước Ðông Nam Á sẽ còn phải trả đòn lại Trung Cộng trong thời gian tới. Một cách quang minh chính đại nhất là đưa tất cả các vấn đề tranh cãi ra tòa án quốc tế, để được trọng tài xét xử. Một giải pháp tốt cho cả vùng Ðông Nam Á là các nước giữ nguyên trạng, như chính phủ Mỹ đề nghị, trong khi cùng khai thác các tài nguyên trong vùng biển này, chia nhau theo tình trạng đang có. Nhưng chính quyền Trung Cộng không chấp nhận giải pháp này, vì họ không thể bỏ được tham vọng đế quốc, muốn một mình ăn cả! Trong khi chính quyền Bắc Kinh không chấp nhận cuộc chơi quang minh chính đại, thì tất cả các nước cũng phải sẵn sàng dùng các thủ đoạn mà người Trung Hoa có thể hiểu được.
Làm như thế nào thì người Trung Hoa có thể hiểu được? Chúng ta có thể rút kinh nghiệm từ một viên tướng thời Pháp thuộc, Joseph Galliéni.
Khi còn đeo lon đại tá, Galliéni chỉ huy cả vùng biên giới Lạng Sơn, Cao Bằng ở nước ta, từ năm 1892 đến 1896. Ông ta luôn phải đi tiễu trừ những đoàn “thổ phỉ” bên Tàu sang cướp bóc dân Việt. Những toán thổ phỉ này phần lớn là lính đi ăn cướp. Một hôm, Galliéni sang bên kia biên giới, gặp viên tướng nhà Thanh, yêu cầu ngăn cấm không cho lính sang “An Nam” ăn cướp. Viên tướng Tàu đáp: “Tôi rất ân hận, và xin ông tha lỗi. Nhưng lính của tôi chúng nó vô kỷ luật, không thể nào ngăn cấm được! Nếu ông bắt được đứa nào, tôi xin ông, cứ việc bắn. Bắn, không cần đem ra xử làm gì!”
Tất nhiên, khó bắt được thổ phỉ, mà nếu có người bị bắt thì cũng bắn rồi. Sau đó, Galliéni đã đổi cách đối phó. Ông ta cho quân “Lê Dương” lên đồn trú ở sát biên giới. Những người lính ngoại quốc trong quân đội Pháp này được lệnh lâu lâu sang cướp phá mấy làng bên kia biên giới. Cho đến lúc viên tướng nhà Thanh phải sang than phiền với Galliéni. Ông đại tá Pháp bèn trả lời: “Tôi rất ân hận, tôi xin ông tha lỗi. Nhưng lính của tôi toàn người ngoại quốc không phải người Pháp, chúng nó vô kỷ luật, không thể nào ngăn cấm được! Nếu ông bắt được đứa nào, tôi xin ông, cứ việc bắn. Bắn, không cần đem ra xử làm gì!” Viên tướng Tàu khen ngợi Galliéni: Ông đáng lẽ phải là người Tàu mới phải! [Theo sách Extrême Orient của Claude Farrère, in năm 1934, được kể lại trong cuốn Lịch Sử Binh Ðoàn Lê Dương, của Douglas Porch, 1991, trang 243].
Joseph Galliéni đã hành động theo cách mà người Trung Hoa có thể hiểu được.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm tàu sân bay Trung Quốc
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel hôm nay sẽ trở thành vị khách nước ngoài đầu tiên thăm tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc,
một diễn biến được đánh giá là "đáng chú ý".Mỹ cảnh báo Trung Quốc về những tuyên bố chủ quyền / Mỹ điều thêm hai tàu chiến tới Nhật Bản

Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc. Ảnh: Xinhuanet
Ông Chuck Hagel đang ở thăm Trung Quốc ba ngày, trong nỗ lực của Mỹ nhằm thúc đẩy đối thoại với Trung Quốc và kêu gọi nước này minh bạch quân sự.
Một quan chức quốc phòng cấp cao Mỹ giấu tên nhận định, chuyến thăm tàu sân bay của ông Hagel là đáng chú ý. "Chúng tôi yêu cầu điều này và họ nhất trí", người này nói.
Chuyến thăm tàu diễn ra chỉ một ngày sau khi ông Hagel rời Nhật Bản, nơi ông nhắc lại cam kết sẽ bảo vệ đồng minh nếu có xung đột xảy ra quanh vấn đề đảo tranh chấp ở Hoa Đông. Nhật Bản và Trung Quốc cùng tuyên bố chủ quyền với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Hagel cho rằng vấn đề tranh chấp cần được giải quyết mà không có "sự ép buộc hay hăm dọa".
"Anh không thể đi khắp thế giới để vẽ lại bản đồ và vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của người khác bằng cách dùng vũ lực, ép buộc hay hăm dọa, cho dù là đối với các hòn đảo nhỏ ở Thái bình dương, hay với những quốc gia lớn ở châu Âu", Hagel phát biểu ở Tokyo.
Tàu sân bay Liêu Ninh, được coi là biểu tượng sức mạnh mới của hải quân Trung Quốc, được đưa vào biên chế quân đội nước này sau quá trình đại tu nhiều năm. Năm ngoái, khi Trung Quốc tuyên bố thiết lập khu vực cảnh báo phòng không trên biển Hoa Đông, tàu Liêu Ninh được triển khai xuống Biển Đông diễn tập.
Khánh Lynh
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel hôm nay sẽ trở thành vị khách nước ngoài đầu tiên thăm tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc,
một diễn biến được đánh giá là "đáng chú ý".Mỹ cảnh báo Trung Quốc về những tuyên bố chủ quyền / Mỹ điều thêm hai tàu chiến tới Nhật Bản

Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc. Ảnh: Xinhuanet
Ông Chuck Hagel đang ở thăm Trung Quốc ba ngày, trong nỗ lực của Mỹ nhằm thúc đẩy đối thoại với Trung Quốc và kêu gọi nước này minh bạch quân sự.
Một quan chức quốc phòng cấp cao Mỹ giấu tên nhận định, chuyến thăm tàu sân bay của ông Hagel là đáng chú ý. "Chúng tôi yêu cầu điều này và họ nhất trí", người này nói.
Chuyến thăm tàu diễn ra chỉ một ngày sau khi ông Hagel rời Nhật Bản, nơi ông nhắc lại cam kết sẽ bảo vệ đồng minh nếu có xung đột xảy ra quanh vấn đề đảo tranh chấp ở Hoa Đông. Nhật Bản và Trung Quốc cùng tuyên bố chủ quyền với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Hagel cho rằng vấn đề tranh chấp cần được giải quyết mà không có "sự ép buộc hay hăm dọa".
"Anh không thể đi khắp thế giới để vẽ lại bản đồ và vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của người khác bằng cách dùng vũ lực, ép buộc hay hăm dọa, cho dù là đối với các hòn đảo nhỏ ở Thái bình dương, hay với những quốc gia lớn ở châu Âu", Hagel phát biểu ở Tokyo.
Tàu sân bay Liêu Ninh, được coi là biểu tượng sức mạnh mới của hải quân Trung Quốc, được đưa vào biên chế quân đội nước này sau quá trình đại tu nhiều năm. Năm ngoái, khi Trung Quốc tuyên bố thiết lập khu vực cảnh báo phòng không trên biển Hoa Đông, tàu Liêu Ninh được triển khai xuống Biển Đông diễn tập.
Khánh Lynh
Ðài Loan: Sinh viên thắng chính quyền
Ngô Nhân Dụng
Sinh viên Ðài Loan đã thành công. Sau khi chiếm trụ sở Quốc Hội ba tuần lễ, chính quyền đã chịu nhượng bộ. Chủ tịch Viện Lập Pháp (Quốc Hội) chấp nhận ngưng thảo luận về hiệp định trao đổi “phục vụ mậu dịch” với Trung Cộng. Ông Vương Kim Bình (王金平) nói sau khi có một đạo luật thiết lập một cơ cấu giám sát việc giao thương giữa hai nước Trung Hoa mới bàn tiếp về bản hiệp định mà chính phủ đã ký với chính phủ Trung Hoa lục địa từ năm ngoái. Viện Lập Pháp sẽ bàn một dự luật trong đó sẽ buộc chính quyền phải tham khảo ý kiến của các đại biểu quốc hội và dân chúng “trước khi” ký bất cứ một hiệp định nào với chính phủ Bắc Kinh.
Sinh viên Ðài Loan thắng lớn trong cuộc đấu tranh đòi chính quyền phải “minh bạch, công khai.” Ðó là mục tiêu họ đưa ra từ khi phát động cuộc đấu tranh. Tổng Thống Mã Anh Cửu (馬英九) thuộc Quốc Dân Ðảng, mà đảng của ông cũng chiếm đa số trong viện lập pháp; cho nên họ tưởng rằng sau khi ký bản hiệp ước mậu dịch với Trung Cộng, Quốc Hội sẽ thông qua nhanh chóng. Họ không ngờ phong trào sinh viên tranh đấu cho dân chủ ở Ðài Loan vẫn giữ được truyền thống sau gần 30 năm.
Ngày 18 Tháng Ba, 2014, sau khi một đại biểu thuộc Quốc Dân Ðảng cho các nhà báo bước rằng hai ủy ban trong Quốc Hội đã nhanh chóng đồng ý đưa bản hiệp định ra trước Quốc Hội để thông qua, trong vòng 30 giây đồng hồ, 60 sinh viên tới trụ sở Viện Lập Pháp yêu cầu ngưng thảo luận bản hiệp định! Họ không chịu ra khỏi tòa nhà Quốc Hội trước khi yêu cầu này được chấp thuận. Phong trào sinh viên được dân chúng ủng hộ, nhờ báo chí, truyền thông loan tin đầy đủ, vì những vấn đề mà các sinh viên nêu ra cũng là những điều lo lắng của nhiều người.
Kể từ khi Ðài Loan và Trung Quốc giao thương, dân Ðài Loan được lợi nhờ bán được những hàng hóa có giá trị cao do họ sản xuất trong khi mua lại những thứ hàng rẻ tiền sản xuất ở lục địa, một phần cũng do các doanh nhân Ðài Loan đầu tư vào Trung Quốc để kiếm lợi dễ dàng hơn. Bản hiệp định ký năm ngoái mở cửa cho các cuộc trao đổi về dịch vụ. Các sinh viên chiếm trụ sở Quốc Hội nói rõ rằng họ không chống lại giao thương với lục địa. Nhưng họ muốn dân chúng được đóng góp ý kiến vào bản hiệp định; vì việc mở cửa thị trường giữa Ðài Loan và lục đại sẽ chỉ mang lời cho các đại công ty, còn các xí nghiệp cỡ trung và nhỏ bị người lục địa cạnh tranh sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Khi các xí nghiệp trung và nhỏ bị loại bỏ thì dân sẽ thất nghiệp nhiều hơn. Ngoài ra, khi nền kinh tế hai bên liên hệ chặt chẽ, Cộng sản Trung Hoa có thể lợi dụng gây áp lực dễ dàng hơn, nếp sống dân chủ tự do ở Ðài Loan cũng bị đe dọa.
Ðài Loan xuất cảng 43% hàng hóa sang Trung Quốc và Hồng Kông, so với 11.5% bán sang Mỹ. Người Ðài Loan đầu tư 80% sang Trung Quốc, chỉ có 20% đi nơi khác. Số du khách từ lục địa nay đã cao hàng đầu, hơn số du khách Nhật. Số chuyến bay trực tiếp sang lục địa lên tới 558 chuyến mỗi tuần.
Dư luận giới truyền thông và dân chúng Ðài Loan tỏ ra đồng ý với các sinh viên khiến chính quyền không dám đàn áp, để cho các sinh viên chiếm trụ sở Quốc Hội trong ba tuần qua.
Phong trào sinh viên tranh đấu năm nay mang tên Hoa Hướng Dương, gợi lại những cuộc biểu tình tranh đấu trước đây 24 năm mang tên Dã Bách Hợp (hoa Huệ). Năm 1990, mấy chục ngàn sinh viên Ðại Học Quốc Lập Ðài Loan biểu tình đòi thay đổi Hiến Pháp để cho dân chúng được trực tiếp bầu tổng thống và bầu lại các đại biểu Quốc Hội để thay thế hết những đại biểu Quốc Dân Ðảng vẫn được lưu nhiệm vì họ được bầu lên trong lục địa, trước khi Quốc Dân Ðảng thua trận phải rút ra Ðài Loan. Sau những cuộc biểu tình từ ngày 16 đến ngày 22 Tháng Ba, cuối cùng Tổng Thống Lý Ðăng Huy đã đồng ý tiến hành việc tu chính Hiến Pháp. Sáu năm sau, chính ông được dân bầu thêm một nhiệm kỳ nữa. Phong trào Dã Bách Hợp là một khúc quanh lớn trong quá trình dân chủ hóa Ðài Loan.
Năm nay, cuộc tranh đấu của sinh viên Ðài Loan được dân chúng ủng hộ mạnh mẽ hơn 24 năm trước, nhờ báo chí tự do. Một cuộc nghiên cứu do một đài truyền hình thân cận với Quốc Dân Ðảng cho biết một nửa dân chúng ủng hộ các sinh viên, chỉ có một phần năm ủng hộ bản hiệp định mà chính quyền đã ký. Chủ Nhật trước, dân chúng biểu tình tại thủ đô Ðài Bắc ủng hộ các sinh viên, cuộc biểu tình đông từ 116,000 người (theo cảnh sát báo cáo) đến 500,000 (theo các sinh viên). Ðó là lý do khiến chính quyền Quốc Dân Ðảng phải lùi bước.
Báo chí và dân chúng Ðài Loan cảm phục các sinh viên biểu tình cũng vì họ tỏ ra rất kỷ luật. Trong ngày đầu tiên sinh viên chiếm Viện Lập Pháp, một số người đã leo lên bàn, lục lọi bàn giấy của các đại biểu, và đem bia ra uống. Hai sinh viên Lâm Phi Phàm (Lin Fei-Fan, 林飛帆) và Trần Vi Ðình (Chen Wei-ting, 陳為廷) đã cảnh cáo các bạn rằng các ống kính máy ảnh và ti vi đang chiếu hình ảnh của họ cho đồng bào khắp nơi coi. Sau đó, hai sinh viên này đã chỉnh đốn và thiết lập các quy tắc cư xử. Số sinh viên đến tham dự đông hơn, họ tự đi mua thêm thùng rác đem vào Quốc Hội, đặt ban cứu thương, ban thực phẩm, vân vân. Ðể biểu lộ tinh thần minh bạch, công khai, họ đặt thêm máy quay phim khắp tòa nhà Quốc Hội để ai cũng có thể nhìn thấy các sinh hoạt bên trong. Bên ngoài trụ sở, các sinh viên đứng ra điều khiển lưu thông để người đi làm khỏi bị kẹt xe.
Trong thời gian sinh viên đang chiếm trụ sở Quốc Hội, một trang facebook đã cho coi hình ảnh những du khách từ lục địa qua Ðài Loan. Các ông này chỉ mặc quần lót trắng trên bãi biển Khẩn Ðinh Kenting (墾丁) đứng giữa đám đông người đi nghỉ trong dịp lễ Thanh Minh. Trong hai ngày có hơn 15,000 người vào trang này, phê phán hành vi bất lịch sự này; có người còn lo rằng du khách ngoại quốc sẽ chê cười người Ðài Loan và không muốn tới nữa.
Lâm Phi Phàm, 25 tuổi, từ Ðài Nam lên học Ðại Học Quốc Lập lấy bằng cao học (thạc sĩ) chính trị học. Năm 2008, anh đã dự một biểu tình chống chuyến đi của một quan chức Trung Cộng đến Ðài Loan. Trần Vi Ðình đã tham dự các cuộc tranh đấu cho quyền lợi người lao động cũng như các thổ dân Ðài Loan. Hai người được coi là thủ lãnh trong suốt thời gian biểu tình. Họ duy trì được kỷ luật trong đám sinh viên và trình bày lập trường một cách sáng sủa cho giới truyền thông. Một sinh viên được bầu làm phát ngôn viên cho sinh viên biểu tình là cô Lại Phẩm Hảo (Lai Pin-yu, 賴品妤). Cô sinh viên năm thứ nhất Luật khoa đã lên ti vi tranh luận với các đại biểu Quốc Hội về lập trường của sinh viên. Cô tố cáo chính quyền cai trị theo lối bí mật như trong một cái hộp kín, trong khi sinh viên đòi hỏi nền dân chủ phải minh bạch công khai.
Ðài Loan đã được dân chủ hóa từ năm 1984, khi ông Tưởng Kinh Quốc làm tổng thống. Ông đã trả tự do cho các tù nhân chính trị, cho phép đảng đối lập được hoạt động, và báo chí được tự do hơn. Ðến năm 1991, các nền tảng dân chủ mới được chính thức hóa khi người kế vị là Lý Ðăng Huy thắng thế trước các người bảo thủ trong Quốc Dân Ðảng. Tuy đã được dân chủ hóa gần 30 năm, các chính trị gia vẫn chưa bỏ được thói quen mị dân chỉ để kiếm phiếu; trong khi họ phục vụ các nhóm quyền lợi riêng biệt, đặc biệt là các đại công ty. Phong trào sinh viên tranh đấu năm nay đã buộc Quốc Dân Ðảng. Họ đã từng thất cử, để ghế tổng thống lọt vào tay đảng Dân Tiến đối lập.
Cơ chế dân chủ ở Ðài Loan đã đạt được một bước tiến mới nhờ các sinh viên biểu tình tranh đấu. Một nền dân chủ thành hình khi người ta có một bản hiến pháp mới. Nhưng các nhà chính trị có thể lợi dụng cơ chế dân chủ, quyết định các đạo luật hay hiệp ước mà người dân không được biết chi tiết, không được hỏi ý kiến. Chính vì vậy nền dân chủ cần phải được hỗ trợ bởi một xã hội công dân năng động. Các tổ chức tư của xã hội công dân đáp ứng các nhu cầu của từng nhóm công dân, là nền móng của chế độ tự do dân chủ. Phong trào sinh viên là một thành phần trong đó, và là thành phần quan trọng nhất trong những lúc xã hội đang biến chuyển. Ðây là một bài học cho các sinh viên và dân chúng ở những nước còn đang tranh đấu đòi dân chủ hóa, như Trung Quốc hay Việt Nam.
Ngô Nhân Dụng
Sinh viên Ðài Loan đã thành công. Sau khi chiếm trụ sở Quốc Hội ba tuần lễ, chính quyền đã chịu nhượng bộ. Chủ tịch Viện Lập Pháp (Quốc Hội) chấp nhận ngưng thảo luận về hiệp định trao đổi “phục vụ mậu dịch” với Trung Cộng. Ông Vương Kim Bình (王金平) nói sau khi có một đạo luật thiết lập một cơ cấu giám sát việc giao thương giữa hai nước Trung Hoa mới bàn tiếp về bản hiệp định mà chính phủ đã ký với chính phủ Trung Hoa lục địa từ năm ngoái. Viện Lập Pháp sẽ bàn một dự luật trong đó sẽ buộc chính quyền phải tham khảo ý kiến của các đại biểu quốc hội và dân chúng “trước khi” ký bất cứ một hiệp định nào với chính phủ Bắc Kinh.
Sinh viên Ðài Loan thắng lớn trong cuộc đấu tranh đòi chính quyền phải “minh bạch, công khai.” Ðó là mục tiêu họ đưa ra từ khi phát động cuộc đấu tranh. Tổng Thống Mã Anh Cửu (馬英九) thuộc Quốc Dân Ðảng, mà đảng của ông cũng chiếm đa số trong viện lập pháp; cho nên họ tưởng rằng sau khi ký bản hiệp ước mậu dịch với Trung Cộng, Quốc Hội sẽ thông qua nhanh chóng. Họ không ngờ phong trào sinh viên tranh đấu cho dân chủ ở Ðài Loan vẫn giữ được truyền thống sau gần 30 năm.
Ngày 18 Tháng Ba, 2014, sau khi một đại biểu thuộc Quốc Dân Ðảng cho các nhà báo bước rằng hai ủy ban trong Quốc Hội đã nhanh chóng đồng ý đưa bản hiệp định ra trước Quốc Hội để thông qua, trong vòng 30 giây đồng hồ, 60 sinh viên tới trụ sở Viện Lập Pháp yêu cầu ngưng thảo luận bản hiệp định! Họ không chịu ra khỏi tòa nhà Quốc Hội trước khi yêu cầu này được chấp thuận. Phong trào sinh viên được dân chúng ủng hộ, nhờ báo chí, truyền thông loan tin đầy đủ, vì những vấn đề mà các sinh viên nêu ra cũng là những điều lo lắng của nhiều người.
Kể từ khi Ðài Loan và Trung Quốc giao thương, dân Ðài Loan được lợi nhờ bán được những hàng hóa có giá trị cao do họ sản xuất trong khi mua lại những thứ hàng rẻ tiền sản xuất ở lục địa, một phần cũng do các doanh nhân Ðài Loan đầu tư vào Trung Quốc để kiếm lợi dễ dàng hơn. Bản hiệp định ký năm ngoái mở cửa cho các cuộc trao đổi về dịch vụ. Các sinh viên chiếm trụ sở Quốc Hội nói rõ rằng họ không chống lại giao thương với lục địa. Nhưng họ muốn dân chúng được đóng góp ý kiến vào bản hiệp định; vì việc mở cửa thị trường giữa Ðài Loan và lục đại sẽ chỉ mang lời cho các đại công ty, còn các xí nghiệp cỡ trung và nhỏ bị người lục địa cạnh tranh sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Khi các xí nghiệp trung và nhỏ bị loại bỏ thì dân sẽ thất nghiệp nhiều hơn. Ngoài ra, khi nền kinh tế hai bên liên hệ chặt chẽ, Cộng sản Trung Hoa có thể lợi dụng gây áp lực dễ dàng hơn, nếp sống dân chủ tự do ở Ðài Loan cũng bị đe dọa.
Ðài Loan xuất cảng 43% hàng hóa sang Trung Quốc và Hồng Kông, so với 11.5% bán sang Mỹ. Người Ðài Loan đầu tư 80% sang Trung Quốc, chỉ có 20% đi nơi khác. Số du khách từ lục địa nay đã cao hàng đầu, hơn số du khách Nhật. Số chuyến bay trực tiếp sang lục địa lên tới 558 chuyến mỗi tuần.
Dư luận giới truyền thông và dân chúng Ðài Loan tỏ ra đồng ý với các sinh viên khiến chính quyền không dám đàn áp, để cho các sinh viên chiếm trụ sở Quốc Hội trong ba tuần qua.
Phong trào sinh viên tranh đấu năm nay mang tên Hoa Hướng Dương, gợi lại những cuộc biểu tình tranh đấu trước đây 24 năm mang tên Dã Bách Hợp (hoa Huệ). Năm 1990, mấy chục ngàn sinh viên Ðại Học Quốc Lập Ðài Loan biểu tình đòi thay đổi Hiến Pháp để cho dân chúng được trực tiếp bầu tổng thống và bầu lại các đại biểu Quốc Hội để thay thế hết những đại biểu Quốc Dân Ðảng vẫn được lưu nhiệm vì họ được bầu lên trong lục địa, trước khi Quốc Dân Ðảng thua trận phải rút ra Ðài Loan. Sau những cuộc biểu tình từ ngày 16 đến ngày 22 Tháng Ba, cuối cùng Tổng Thống Lý Ðăng Huy đã đồng ý tiến hành việc tu chính Hiến Pháp. Sáu năm sau, chính ông được dân bầu thêm một nhiệm kỳ nữa. Phong trào Dã Bách Hợp là một khúc quanh lớn trong quá trình dân chủ hóa Ðài Loan.
Năm nay, cuộc tranh đấu của sinh viên Ðài Loan được dân chúng ủng hộ mạnh mẽ hơn 24 năm trước, nhờ báo chí tự do. Một cuộc nghiên cứu do một đài truyền hình thân cận với Quốc Dân Ðảng cho biết một nửa dân chúng ủng hộ các sinh viên, chỉ có một phần năm ủng hộ bản hiệp định mà chính quyền đã ký. Chủ Nhật trước, dân chúng biểu tình tại thủ đô Ðài Bắc ủng hộ các sinh viên, cuộc biểu tình đông từ 116,000 người (theo cảnh sát báo cáo) đến 500,000 (theo các sinh viên). Ðó là lý do khiến chính quyền Quốc Dân Ðảng phải lùi bước.
Báo chí và dân chúng Ðài Loan cảm phục các sinh viên biểu tình cũng vì họ tỏ ra rất kỷ luật. Trong ngày đầu tiên sinh viên chiếm Viện Lập Pháp, một số người đã leo lên bàn, lục lọi bàn giấy của các đại biểu, và đem bia ra uống. Hai sinh viên Lâm Phi Phàm (Lin Fei-Fan, 林飛帆) và Trần Vi Ðình (Chen Wei-ting, 陳為廷) đã cảnh cáo các bạn rằng các ống kính máy ảnh và ti vi đang chiếu hình ảnh của họ cho đồng bào khắp nơi coi. Sau đó, hai sinh viên này đã chỉnh đốn và thiết lập các quy tắc cư xử. Số sinh viên đến tham dự đông hơn, họ tự đi mua thêm thùng rác đem vào Quốc Hội, đặt ban cứu thương, ban thực phẩm, vân vân. Ðể biểu lộ tinh thần minh bạch, công khai, họ đặt thêm máy quay phim khắp tòa nhà Quốc Hội để ai cũng có thể nhìn thấy các sinh hoạt bên trong. Bên ngoài trụ sở, các sinh viên đứng ra điều khiển lưu thông để người đi làm khỏi bị kẹt xe.
Trong thời gian sinh viên đang chiếm trụ sở Quốc Hội, một trang facebook đã cho coi hình ảnh những du khách từ lục địa qua Ðài Loan. Các ông này chỉ mặc quần lót trắng trên bãi biển Khẩn Ðinh Kenting (墾丁) đứng giữa đám đông người đi nghỉ trong dịp lễ Thanh Minh. Trong hai ngày có hơn 15,000 người vào trang này, phê phán hành vi bất lịch sự này; có người còn lo rằng du khách ngoại quốc sẽ chê cười người Ðài Loan và không muốn tới nữa.
Lâm Phi Phàm, 25 tuổi, từ Ðài Nam lên học Ðại Học Quốc Lập lấy bằng cao học (thạc sĩ) chính trị học. Năm 2008, anh đã dự một biểu tình chống chuyến đi của một quan chức Trung Cộng đến Ðài Loan. Trần Vi Ðình đã tham dự các cuộc tranh đấu cho quyền lợi người lao động cũng như các thổ dân Ðài Loan. Hai người được coi là thủ lãnh trong suốt thời gian biểu tình. Họ duy trì được kỷ luật trong đám sinh viên và trình bày lập trường một cách sáng sủa cho giới truyền thông. Một sinh viên được bầu làm phát ngôn viên cho sinh viên biểu tình là cô Lại Phẩm Hảo (Lai Pin-yu, 賴品妤). Cô sinh viên năm thứ nhất Luật khoa đã lên ti vi tranh luận với các đại biểu Quốc Hội về lập trường của sinh viên. Cô tố cáo chính quyền cai trị theo lối bí mật như trong một cái hộp kín, trong khi sinh viên đòi hỏi nền dân chủ phải minh bạch công khai.
Ðài Loan đã được dân chủ hóa từ năm 1984, khi ông Tưởng Kinh Quốc làm tổng thống. Ông đã trả tự do cho các tù nhân chính trị, cho phép đảng đối lập được hoạt động, và báo chí được tự do hơn. Ðến năm 1991, các nền tảng dân chủ mới được chính thức hóa khi người kế vị là Lý Ðăng Huy thắng thế trước các người bảo thủ trong Quốc Dân Ðảng. Tuy đã được dân chủ hóa gần 30 năm, các chính trị gia vẫn chưa bỏ được thói quen mị dân chỉ để kiếm phiếu; trong khi họ phục vụ các nhóm quyền lợi riêng biệt, đặc biệt là các đại công ty. Phong trào sinh viên tranh đấu năm nay đã buộc Quốc Dân Ðảng. Họ đã từng thất cử, để ghế tổng thống lọt vào tay đảng Dân Tiến đối lập.
Cơ chế dân chủ ở Ðài Loan đã đạt được một bước tiến mới nhờ các sinh viên biểu tình tranh đấu. Một nền dân chủ thành hình khi người ta có một bản hiến pháp mới. Nhưng các nhà chính trị có thể lợi dụng cơ chế dân chủ, quyết định các đạo luật hay hiệp ước mà người dân không được biết chi tiết, không được hỏi ý kiến. Chính vì vậy nền dân chủ cần phải được hỗ trợ bởi một xã hội công dân năng động. Các tổ chức tư của xã hội công dân đáp ứng các nhu cầu của từng nhóm công dân, là nền móng của chế độ tự do dân chủ. Phong trào sinh viên là một thành phần trong đó, và là thành phần quan trọng nhất trong những lúc xã hội đang biến chuyển. Ðây là một bài học cho các sinh viên và dân chúng ở những nước còn đang tranh đấu đòi dân chủ hóa, như Trung Quốc hay Việt Nam.

Chỗ đứng nào cho Đảng Cộng Sản Việt Nam trong lịch sử?
Tháng Hai này Đảng Cộng Sản Việt Nam kỷ niệm lần thứ 82 ngày thành lập. Đây là thời điểm tốt để nhìn lại một cách tổng quát thành tích của nó.
Trước hết là sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam do ông Hồ Chí Minh chủ động. Đó là một thảm kịch mà mọi người có chút lương thiện tối thiểu đều phải nhìn nhận. Trên khắp thế giới, và ngay trong khu vực của chúng ta, các nước không mắc vào chế độ cộng sản đều đã hơn hẳn các nước cộng sản trong những điều kiện lịch sử và địa lý tương tự. Sự so sánh đã quá rõ ràng trong trường hợp các quốc gia thử nghiệm cùng một lúc hai chế độ dân chủ và cộng sản như Nam Cao Ly và Bắc Cao Ly, Đông Đức và Tây Đức, Đài Loan và Trung Quốc, ngay cả Bắc và Nam Việt Nam trước năm 1975. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã làm thiệt mạng trên 100 triệu người vô tội. Nó đã bị Châu Âu, cái nôi của nó, lên án như một tội ác đối với loài người.
Cụ thể hơn đối với nước ta, ĐCSVN đã gây ra hai cuộc chiến đẫm máu tàn phá đất nước, làm chết gần năm triệu người và để lại những đổ vỡ tình cảm và đạo đức mà phải nhiều thế hệ nữa mới có thể hàn gắn. Một sự hiểu biết tối thiểu cũng đủ để cho thấy chủ nghĩa thực dân đã chết sau Thế Chiến II; đấu tranh với người Pháp để giành độc lập toàn vẹn - trong thời gian ngắn nhất và trong những điều kiện tốt đẹp nhất - là việc phải làm và khó khăn nhưng chắc chắn không cần một cuộc chiến khốc liệt đến như thế. Cuộc chiến tranh gọi là "chống Mỹ" lại càng vô lý vì Hoa Kỳ hoàn toàn không phải là một cường quốc thực dân, nó không có thuộc địa và cũng không muốn có thuộc địa. Hoa Kỳ đã trả độc lập cho Phi-lip-pin, từ chối sáp nhập Porto Rico, rút lui khỏi Nhật và Hàn Quốc. Cuộc chiến tranh chống Mỹ chỉ thuần túy do mù quáng say mê quyền lực và bạo lực. Vả lại sau khi đã khiến đất nước tổn hại cả núi xương sông máu để đánh Mỹ người ta đã cố tìm mọi cách để kéo Mỹ trở lại. Cũng chính sự mù quáng đó đã dẫn tới những tội ác to lớn khác đối với dân tộc: tàn sát những người yêu nước không theo chủ nghĩa cộng sản để giành độc quyền kháng chiến sau Cách Mạng Tháng 8; tàn sát hàng trăm nghìn người bị coi là địa chủ trong Cải Cách Ruộng Đất năm 1955; hạ nhục tập thể và bỏ tù cả nước đối với miền Nam sau chiến thắng 1975; dồn hàng triệu người, sau khi bắt nộp tiền chuộc mạng, lên các con tàu ọp ẹp làm mồi cho hải tặc và sóng gió trong chính sách vượt biên bán chính thức. Phân biệt đối xử, cướp của, cướp nhà và đày hàng trăm nghìn người đi các vùng kinh tế mới. Và vô số hành động thô bạo khác. Tất cả đều là những tội ác đối với loài người theo đúng định nghĩa của công pháp quốc tế. Tất cả để giành và giữ độc quyền thống trị cho đảng cộng sản. Với kết quả nào? Chúng ta đang là một trong những nước nhiều bất công nhất thế giới trong đó sự xa hoa thách đố của một thiểu số được phơi bày ngay bên cạnh sự cùng khổ của tuyệt đại đa số; sự cướp bóc nhà đất diễn ra hàng ngày đã tạo ra hàng triệu dân oan và còn đang tiếp tục tạo ra. Chúng ta cũng là một trong những nước nghèo và tụt hậu nhất thế giới với lợi tức bình quân trên mỗi đầu người chỉ bằng 1/10 trung bình thế giới. Một người dân quê Việt Nam cũng đã biết là nếu không có đảng cộng sản thì đất nước ngày nay đã khá hơn nhiều. Chúng ta mất đất, mất đảo, mất biển, mất không khí sạch để thở và nước sạch để uống. Chúng ta mất cả một vũ khí sống còn của mọi dân tộc trong kỷ nguyên tri thức này: đó là quyền suy nghĩ và phát biểu độc lập. Đau đớn hơn và nguy hiểm hơn, chúng ta mất cả tinh thần dân tộc. Trong số gần 100 triệu người Việt Nam trong cũng như ngoài nước còn có bao nhiêu người quan tâm đến tương lai đất nước? Sự thù ghét bất lực đối với một chính quyền tồi tệ kéo dài quá lâu đã dần dần biến thành sự chán nản đối với chính đất nước. Đảng cộng sản đã khiến trí tuệ Việt Nam thui chột và trái tim Việt Nam khô cằn.
Thành tích của đảng cộng sản đã quá kinh khủng, chính vì thế mà dù đã thấy sự độc hại của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự tuyệt vọng của chế độ toàn trị ban lãnh đạo cộng sản vẫn ngoan cố từ chối dân chủ. Họ sợ thay đổi vì sợ phải đối diện với thành tích thực sự của chính mình. Họ cố quên rằng một thay đổi bắt buộc phải đến nhưng bị trì hoãn quá lâu sẽ rất mãnh liệt khi cuối cùng vẫn đến.Và dân tộc Việt Nam sẽ nhớ tới đảng cộng sản như một cơn ác mộng .
₪ Thông Luận (www.ethongluam.org)
Chào đón Luật Sư Cù Huy Hà Vũ
Bùi Tín (Blog VOA)
Thế là Luật Sư Cù Huy Hà Vũ đã được tự do. Anh đã được sang Hoa Kỳ để nghỉ ngơi và chữa bệnh. Dù cho niềm vui chưa trọn vẹn theo ý muốn của bản thân anh và bè bạn là anh ở trong nước để tiếp tục cuộc đấu tranh có hiệu quả hơn, nhưng dù sao đây cũng là tin mừng chung cho mọi người có lương tri.
Mừng vì con người trí thức dấn thân cho tự do của dân tộc tiêu biểu cho hàng ngũ trí thức thời đại đã ra khỏi tù ngục tàn bạo của chế độ độc đảng bất nhân trước thời hạn của án lệ 7 năm tù giam và 3 năm quản thúc. Dù sao 3 năm rưỡi trong tù của Luật Sư Hà Vũ mãi mãi là vết nhơ của một chế độ ''hèn với giặc, ác với dân,'' một nền tư pháp theo luật rừng, hãm hại những người con ưu tú nhất của dân tộc.
Cuộc sống trong tù đã làm sức khỏe anh sa sút nghiêm trọng. Những cuộc tuyệt thực dài hạn đã làm anh thêm suy yếu.
Chúng ta mừng vì nhà cầm quyền đã phải lùi một bước trước sức ép của cuộc đấu tranh ở trong nước kết hợp khá chặt chẽ với sức ép từ các tổ chức nhà nước và quốc tế ở ngoài nước.
Ðã có những đồn đoán về chuyện có chăng sự mặc cả kín đáo, hiểu ngầm với nhau, trao đổi để phía Hoa Kỳ châm chước, hạ thấp tiêu chuẩn cho Việt Nam tham gia khối Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương TPP.
Nhưng trường hợp Luật Sư Hà Vũ đâu phải là người tù chính trị duy nhất, không phạm một điều luật hình sự nào, những người mà Tổng Thống Barack Obama cho rằng: “Một ngày trong tù với những người như thế cũng là quá nhiều.” Còn những Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hải - Ðiếu Cày, Tạ Phong Tần, Lê Quốc Quân, nhạc sĩ Việt Khang, blogger Trương Duy Nhất ... thì sao? Còn nói là vì bệnh, vậy cô Ðỗ Thị Minh Hạnh, cô Hồ Thị Bích Khương thì sao? Không thể giải quyết trường hợp này mà lại ù lỳ bất động về các trường hợp tương tự khác.
Việc nhà cầm quyền mới giải quyết một trường hợp càng thúc đẩy cuộc đấu tranh đòi nhân quyền, tự do cho mọi tù nhân chính trị - lương tâm - tôn giáo khác, không thể yên lòng và tự mãn.
Chúng ta hiểu Luật Sư Hà Vũ chấp nhận ra nước ngoài chữa bệnh là một quyết định khó khăn của anh.
Anh muốn tự do ở trong nước, nhưng mặt khác anh mắc nhiều bệnh mà nếu không được điều trị đàng hoàng sẽ có thể trở nên nguy kịch khi còn trong nhà tù. Mong anh sớm có điều kiện khám và chữa bệnh thuận lợi, phục hồi sức khỏe để rồi tham gia cuộc đấu tranh chung.
Ðã có nhiều ý kiến đặt vấn đề là liệu sau khi Luật Sư Hà Vũ phục hồi sức khỏe, liệu ông có trở về nước được hay không. Ðây là câu hỏi chưa có giải đáp, mọi sự còn mập mờ. Luật Sư Hà Vũ không có án xử bị trục xuất khỏi đất nước, nhưng ông có được mang theo hộ chiếu công dân hay không, cơ quan an ninh, đối ngoại có cho ông biết ra sao hay không, là điều chưa rõ.
Ngay trước mắt, mong rằng Luật Sư Hà Vũ có một thời gian bổ ích sống ở nước ngoài. Quan trọng nhất theo tôi là tạo nên mối quan hệ thân hữu với đông đảo bà con ta ở Hoa Kỳ và các nước khác, không vướng mắc, vấp váp vào một số tranh cãi tuy có vẻ cần thiết nhưng có thể tổn hại cho công cuộc đấu tranh chung.
Mọi người biết rõ Luật Sư Hà Vũ là một chiến sỹ tự do kiên định, gan góc, hiếm có, dám đâm đơn kiện thủ tướng về quyết định tệ hại khai phá quặng Bô-xít khi Quốc Hội chưa có ý kiến, có câu nói vang động:
“Liên minh quân sự Việt Nam với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của tình thế.”
Tôi mong rằng Luật Sư Hà Vũ sẽ mau chóng hội nhập với cộng đồng hải ngoại nói chung, luôn giữ bản lĩnh là mình, con người tự do, không ai bó buộc được mình, cũng sẵn sàng từ bỏ những định kiến sai lầm cũ cũng như tự mình đổi mới tư duy khi được sống trong một nước dân chủ, có môi trường cởi mở tranh luận bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.
Bùi Tín (Blog VOA)
Thế là Luật Sư Cù Huy Hà Vũ đã được tự do. Anh đã được sang Hoa Kỳ để nghỉ ngơi và chữa bệnh. Dù cho niềm vui chưa trọn vẹn theo ý muốn của bản thân anh và bè bạn là anh ở trong nước để tiếp tục cuộc đấu tranh có hiệu quả hơn, nhưng dù sao đây cũng là tin mừng chung cho mọi người có lương tri.
Mừng vì con người trí thức dấn thân cho tự do của dân tộc tiêu biểu cho hàng ngũ trí thức thời đại đã ra khỏi tù ngục tàn bạo của chế độ độc đảng bất nhân trước thời hạn của án lệ 7 năm tù giam và 3 năm quản thúc. Dù sao 3 năm rưỡi trong tù của Luật Sư Hà Vũ mãi mãi là vết nhơ của một chế độ ''hèn với giặc, ác với dân,'' một nền tư pháp theo luật rừng, hãm hại những người con ưu tú nhất của dân tộc.
Cuộc sống trong tù đã làm sức khỏe anh sa sút nghiêm trọng. Những cuộc tuyệt thực dài hạn đã làm anh thêm suy yếu.
Chúng ta mừng vì nhà cầm quyền đã phải lùi một bước trước sức ép của cuộc đấu tranh ở trong nước kết hợp khá chặt chẽ với sức ép từ các tổ chức nhà nước và quốc tế ở ngoài nước.
Ðã có những đồn đoán về chuyện có chăng sự mặc cả kín đáo, hiểu ngầm với nhau, trao đổi để phía Hoa Kỳ châm chước, hạ thấp tiêu chuẩn cho Việt Nam tham gia khối Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương TPP.
Nhưng trường hợp Luật Sư Hà Vũ đâu phải là người tù chính trị duy nhất, không phạm một điều luật hình sự nào, những người mà Tổng Thống Barack Obama cho rằng: “Một ngày trong tù với những người như thế cũng là quá nhiều.” Còn những Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hải - Ðiếu Cày, Tạ Phong Tần, Lê Quốc Quân, nhạc sĩ Việt Khang, blogger Trương Duy Nhất ... thì sao? Còn nói là vì bệnh, vậy cô Ðỗ Thị Minh Hạnh, cô Hồ Thị Bích Khương thì sao? Không thể giải quyết trường hợp này mà lại ù lỳ bất động về các trường hợp tương tự khác.
Việc nhà cầm quyền mới giải quyết một trường hợp càng thúc đẩy cuộc đấu tranh đòi nhân quyền, tự do cho mọi tù nhân chính trị - lương tâm - tôn giáo khác, không thể yên lòng và tự mãn.
Chúng ta hiểu Luật Sư Hà Vũ chấp nhận ra nước ngoài chữa bệnh là một quyết định khó khăn của anh.
Anh muốn tự do ở trong nước, nhưng mặt khác anh mắc nhiều bệnh mà nếu không được điều trị đàng hoàng sẽ có thể trở nên nguy kịch khi còn trong nhà tù. Mong anh sớm có điều kiện khám và chữa bệnh thuận lợi, phục hồi sức khỏe để rồi tham gia cuộc đấu tranh chung.
Ðã có nhiều ý kiến đặt vấn đề là liệu sau khi Luật Sư Hà Vũ phục hồi sức khỏe, liệu ông có trở về nước được hay không. Ðây là câu hỏi chưa có giải đáp, mọi sự còn mập mờ. Luật Sư Hà Vũ không có án xử bị trục xuất khỏi đất nước, nhưng ông có được mang theo hộ chiếu công dân hay không, cơ quan an ninh, đối ngoại có cho ông biết ra sao hay không, là điều chưa rõ.
Ngay trước mắt, mong rằng Luật Sư Hà Vũ có một thời gian bổ ích sống ở nước ngoài. Quan trọng nhất theo tôi là tạo nên mối quan hệ thân hữu với đông đảo bà con ta ở Hoa Kỳ và các nước khác, không vướng mắc, vấp váp vào một số tranh cãi tuy có vẻ cần thiết nhưng có thể tổn hại cho công cuộc đấu tranh chung.
Mọi người biết rõ Luật Sư Hà Vũ là một chiến sỹ tự do kiên định, gan góc, hiếm có, dám đâm đơn kiện thủ tướng về quyết định tệ hại khai phá quặng Bô-xít khi Quốc Hội chưa có ý kiến, có câu nói vang động:
“Liên minh quân sự Việt Nam với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của tình thế.”
Tôi mong rằng Luật Sư Hà Vũ sẽ mau chóng hội nhập với cộng đồng hải ngoại nói chung, luôn giữ bản lĩnh là mình, con người tự do, không ai bó buộc được mình, cũng sẵn sàng từ bỏ những định kiến sai lầm cũ cũng như tự mình đổi mới tư duy khi được sống trong một nước dân chủ, có môi trường cởi mở tranh luận bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.
Hận Thù Nam Bắc
Năm ngoái, một ông bạn cải tạo về thăm quê hương sang có than thở về tinh trạng kỳ thị tại miền nam hiện nay. Ông bạn nói “ Nay tình trạng kỳ thị tại Sài Gòn thật là nặng nề, miền Nam đã bị Bắc Kỳ vào cai trị , họ lấy hầu hết nhà cửa ngoài phố và đẩy người miền Nam đi những vùng xa xôi khác ”, ông bạn này người miền Nam còn tôi người gốc miền Bắc, ông ta không thể nói hết lòng mình vì còn chút nể nang tôi.
Gần đây một bài viết của một người về Việt Nam cho biết tình trạng quê nhà, tác giả nói nay tại Sài Gòn người miền Bắc kéo vào rất đông, họ là những người giầu có và quyền thế nhất Sài Gòn hiện nay, họ làm chủ hầu hết các nhà cửa to lớn của Sài Gòn và các nhà hàng lớn, các cơ sở thương mại, các cơ quan nhà nước... Đó là những cán bộ cao cấp và bà con thân thụộc của họ được đưa vào đây để tranh dành hết những chức vụ béo bở, những công việc hái ra tiền….tác giả cho biết vào các cửa hàng lớn, các .. cơ quan chỗ nào cũng thấy toàn là Bắc Kỳ, nói tóm lại họ là giai cấp giầu có thống trị tại Sài Gòn hiện nay. Mặc dù chưa được chứng kiến tận mắt nhưng tôi tin ngay lời tác giả trong bài viết..
Tuần vừa qua, một người bạn đã về thăm quê Nha Trang năm ngoái cũng cho tôi biết tại Nha Trang bây giờ toàn là Bắc Kỳ, họ giầu sụ, buôn to bán lớn, chiếm giữ hầu hết các cơ sở thương mại kinh tế của Nha Trang. Họ giữ các chức vụ nhiều lợi lộc, chiếm cứ hầu hết các khu phố xá sầm uất và đẩy những người cũ đi xa như vùng kinh tế mới hoặc những vùng đất quê mùa khô cằn như sỏi đá. Người bạn cũng xác nhận cho tôi thấy Nha Trang nay là một thành phố đã bị Bắc Kỳ cai trị và chiếm đoạt hết tài sản, những nguồn lợi béo bở của thị xã du lịch này. Nếu chúng ta hỏi những người đã về thăm các tỉnh khác như Đà Lạt, Đà Nẵng, Biên Hoà… người ta cũng sẽ nói tình cảnh tương tự như thế.
Khi đọc bài viết và nghe người ta kể lại những sự thật phũ phàng như trên tôi tin ngay vì tôi cho rằng đó là những nhận xét khách quan vô tư nhất.
Ngược dòng thời gian 40 năm trước vào những ngày sau vụ Mậu Thân 1968, hồi ấy chúng tôi là sinh viên, được huấn luyện quân sự hai tuần và đưa vào Chợ Lớn canh gác theo chương trình Nhân Dân Tự Vệ. Một buổi tối đứng gác trên sân thượng của nhà thương gia trong khu phố Tầu, anh bạn cùng gác với tôi nhìn những dẫy phố nguy nga, sầm uất của Chợ Lớn , trước cảnh giầu sang tráng lệ của Tầu Chợ Lớn anh ta thốt lên.
“Đứng địa vị thằng Việt Cộng tao cũng đánh đến cùng, đằng nào cũng đã là thằng cùng mạt, chiếm được thì hưởng hết” Ý anh bạn muốn nói thằng nghèo đói sẽ đánh thí mạng cùi để cướp đoạt những tài sản của người giầu có, thế mà 7 năm sau, năm 1975 lời nói của anh ấy đã thành sự thật, thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi và đã cườp đươc tài sản của miền Nam giầu có.
Ngược dòng thời gian ba mươi bốn năm trước đây sau khi chiếm được miền Nam, cán bộ Cộng Sản rất cởi mở tươi cười với đồng bào miền Nam khiến người ta tin tưởng rằng hoà bình thống nhất rồi, hai miền cùng xoá bỏ hận thù và cùng nhau xây dựng đất nước, hàn gắn những vết thương do chiến tranh để lại. Thế nhưng kẻ chiến thắng không bao giờ bỏ được bản chất gian trá có từ hồi mới cướp chính quyền mùa thu 1945. Vừa xua quân chiếm xong Sài Gòn hoa lệ, đạo quân chiến thắng vội vã chở hết vàng bạc, quí kim của ngân hàng, tháo gỡ các máy móc trong các cơ xưởng, bệnh viện, vét hết các kho dụng cụ, hàng hoá, máy móc hiện đại… đem về Bắc, sự kiện này khỏi cần phải dẫn chứng vì thực tế đã chứng minh và ai cũng đều biết cả. Số vàng bạc quí kim vơ vét được vào túi các quan cán bộ gộc hết. Họ vơ vét nhanh gọn y như đàn cào cào châu chấu phá hoại mùa màng, sau cơn trấn lột tập thể vĩ đại ấy miền Nam chỉ còn là một mảnh đất nghèo xơ xác.
Một hai năm sau ngày 30-4-75 Cộng Sản đánh tư sản hai lần, đổi tiền ba lần, chính quyền đã vét gần sạch gần hết túi tiền người dân, kế đó họ phát động chiến dịch đẩy dân chúng đi kinh tế mới để chiếm nhà dân một cách hợp pháp. Chỉ sau ngày 30-4-75 một hai tháng, họ lùa các viên chức , sĩ quan chế độ cũ vào các trại cải tạo lâu dài rồi đẩy miền Nam tới chỗ nghèo nàn cùng cực để không thể trỗi dậy chống lại chế độ độc tài. Người Sài Gòn mỗi ngày một nghèo, nhiều người phải bán nhà với giá rẻ mạt cho kẻ chiến thắng để lấy tiền đong gạo sinh sống.
Kế hoạch chiếm nhà dân đã được kẻ chiến thắng hoạch định một cách tinh vi khoa học, đánh tư sản hai lần để chiếm nhà của bọn tư sản bóc lột cho cán bộ ở, ép buộc mọi tầng lớp nhân dân đi kinh tế mới để dãn dân ra khỏi thành thị ngõ hầu có chỗ đưa dân từ miền Bắc vào. Những người đi vượt biên dù đi thoát hay không thoát đều bị lấy nhà, những nhà lớn, nhà mặt đường của dân cải tạo liên hệ chế độ cũ hầu hết bị tịch thu, họ lấy tất cả nhà cửa tài sản của những người đi chính thức, cho tới nay năm 2008 một người bạn mới ở Sài Gòn sang Hoa Kỳ đoàn tụ cho biết chính quyền không cho phép anh bán nhà mà phải để lại cho nhà nước , sau chạy chọt mãi với cán bộ địa phơơng mới bán được nhưng phải chia tam chia tứ anh chỉ được hưởng 1/5 trị giá căn nhà… … Thế rồi dần dần kẻ chiến thắng, tầng lớp thống trị vơ vét bóc lột người dân, tích lũy tiền bạc mua nhà cửa, bất động sản của những người cũ nay đã khánh tận phải bán của cải đi để lấy cơm ăn áo mặc, thành phần này thuộc loại“ Tư bản mại sản”. Người ta chê kẻ chiến thắng quá tham lam, họ đã được cả một đất nước to lớn mà vẫn chưa vừa lòng tham vô đáy còn đi chiếm từng căn nhà một. Cho tới nay bộ mặt đổi đời của miền Nam càng lộ rõ hơn bao giờ hết bộ, kẻ thắng trận ngày càng giầu có, họ vơ vét bóc lột, tập trung tài sản của đất nước trong tay, bà con của họ cũng được chia chác những chức vụ béo bở, cơ sở làm ăn lớn tha hồ mà đớp hít… trong khi ấy người dân miền Nam, những kẻ bại trận ngày càng khốn khổ, trừ những người có thân nhân ở nước ngoài trợ cấp còn đa số phải làm lụng đầu tắt mặt tối vì miếng cơm manh áo . Người miền Bắc nay đã trở thành giai cấp thống trị người miền Nam, họ tước đoạt tài sản nhà cửa của người miền Nam, đuổi người miền Nam đi các vùng kinh tế xa xôi khỉ ho cò gáy. Những kẻ bị áp bức bóc lột này dẫu căm phẫn cũng đành ngậm đắng nuốt cay vì họ phải chịu khuất phục trước lưỡi lê và họng súng của bọn độc tài thống trị. Theo như lời kể của những người đã về thăm quê hương đã nói ở trên chúng ta có thể mường tượng ra cái hận thù Nam Bắc hiện nay nó sâu đậm như thế nào rồi..
Năm ngoái nhân ngày Quốc Hận, một viên chức chính quyền cũ nhìn những hình ảnh biểu tình, chống đối rồi thở dài bảo:
-Anh nghĩ xem, cái hận thù Nam Bắc biết bao giờ mới hết… Theo tôi nghĩ cái hận thù Nam Bắc nay không phải là chỉ mối hận của lớp người cũ đã bị tù đầy cải tạo mà nó thể hiện ở một bình diện rộng lớn bao quát hơn của cả một đất nước, của cả một khối quần chúng đông đảo, của những kẻ bị trị … đó là mối hận thù giữa kẻ bị trị và những bọn cầm quyền cai trị, giữa những kẻ bại trận và bọn thắng trận..
Người ta thường nói cuộc chiến tranh Việt nam là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai luồng tư tưởng đối nghịch nhau của hai khối Cộng Sản và Tư bản . Những người khuynh tả cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam 1960-1975 là cuộc chiến chống Đế Quốc xâm lăng cũng như cuộc chiến tranh giành độc lập chống Pháp 1945-1954. Cũng có người cho rằng đó là cuộc chiến tranh ủy nhiệm, nghĩa là chính quyền hai Miền đã được các siêu cường uỷ nhiệm thực hiện.. nhưng nay thì sự thể đã quá rõ ràng, nó chỉ là một cuộc “chiến tranh ăn cướp” giữa một nước nghèo đói lạc hậu và một đất nước giầu có sung túc với một vựa lúa phì nhiêu. Thằng nghèo đói đã ra sức đánh thí mạng cùi để chiếm cho được mảnh đất phì nhiêu rồi tha hồ mà vơ vét, bóc lột… thằng nghèo đói chỉ biết dùng lưỡi lê và họng súng để theo đuổi cuộc chiến tranh ăn cướp lâu dài. Nhiều người ngoài Bắc vào Nam nói “các anh không thể thắng được chúng tôi những thằng nghèo đói, thằng nghèo đói không sợ chết”. Sau di cư 1954, Hà Nội sống chết cũng phải chiếm cho được vựa lúa miền nam, họ đã thèm thuồng cái vựa lúa này từ lâu..
Nay tại hải ngoại nhiều người chủ trương hoà giải với Cộng Sản Việt Nam, họ lý luận rằng cuộc chiến tranh ba mươi năm đã tàn phá đất nước nhiều rồi, chúng ta hãy bắt tay nhau cùng xây dựng lại những vết thương do chiến tranh để lại, cùng nhau xoá bỏ hận thù. Luận điệu ấy thoáng nghe thật chan chứa tình thương yêu đồng loại, nhưng thực ra họ đã đặt sai đối tượng hoà hợp hoà giải vì có phải rằng khối người lưu vong hải ngoại hận thù Cộng Sản đâu? thực ra như chúng tôi đã trình bầy ở trên hận thù sâu sắc hiện nằm ngay trong lòng quần chúng miền Nam nước Việt, hận thù Nam Bắc hiện nay đang nằm trong lòng dân tộc, nó đã ăn sâu vào tận xương tủy kẻ bị trị nghèo nàn đói khổ..
Nay Cộng Sản Việt Nam vẫn cho thực hiện những phim tuyên truyền kết án chế độ địa chủ ác ôn như trong phim Áo Lụa Hà Đông nhưng trớ trêu và trơ trẽn thay chế độ của họ tự nhận là “Đảng của giai cấp công nhân” lại là một chế độ áp bức, bóc lột gấp trăm gấp ngàn lần thời kỳ địa chủ, cường hào ác bá thập niên 40 trở về trước. Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay chính là một tập đoàn địa chủ giầu có ác ôn, hà hiếp bóc lột dân nghèo tàn nhẫn nhất chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà từ trước đến nay.
Một người mới về Việt Nam sang Mỹ cho biết chênh lệch giầu nghèo thì không thể tưởng tượng nổi, bọn nhà giầu không ai hơn là cán bộ cao cấp ăn chơi hưởng thụ tại những nhà hàng, khách sạn sang trọng hằng nghìn, hằng mấy nghìn đô la một đêm trong khi có nhiều bà mẹ tay trái thì bồng con, tay phải bán vé số .. chạy ăn từng bữa. Nay nhiều người chủ trương hoà giải với người Cộng Sản Việt Nam bằng một lối lý luận đạo đức giả “ xoá bỏ hận thù, xây dựng đất nước” nhưng họ không biết rằng người Cộng Sản có chịu xoá bỏ hận thù hay đào sâu thêm hận thù? người Cộng Sản xây dựng đất nước hay xây dựng cho chế độ của họ thêm vững mạnh bằng lưỡi lê và họng súng?
Nhiều người thuộc lớp trẻ cho rằng lớp người cũ, sĩ quan, viên chức chính phủ, cải tạo HO… đã chịu nhiều ngược đãi của Cộng Sản nên cho tới nay họ vẫn giữ lập trường hận thù Cộng Sản. Ngược lại giới trẻ đã không từng trải qua những cay đắng gian khổ của chiến tranh như tù đầy, loạn lạc vì họ còn nhỏ hoặc thậm chí chưa ra đời nên họ không có cái nhìn hằn học với người Cộng Sản như thế hệ cha ông của họ. Họ chủ trương hoà giải với Cộng Sản để cùng bắt tay nhau xây dựng đất nước vì nay Cộng Sản vẫn lớn tiếng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy quên dĩ vãng, cùng nhau xoá bỏ hận thù..
Người Cộng Sản có thực sự xoá bỏ hận thù hay không? Họ xóa bỏ hận thù hay đào sâu thêm cái hố hận thù đã vốn dĩ sâu thăm thẳm từ bao năm qua? Chúng ta hoà hợp hoà giải với Cộng Sản , đem tài nguyên tài năng về Việt Nam xây dựng đất nước hay là để củng cố thêm quyền lực và tài sản cho bọn thống trị, để họ vơ vét thêm tài sản nhân dân cho đầy túi tham và đè đầu cưỡi cổ nhân dân miền Nam thêm nhiều thế kỷ nữa? Trước mắt chúng ta thấy Cộng Sản Việt Nam vẫn ngoan cố như tự bao giờ, trước sau như một. Địa vị của Đảng vẫn phải được củng cố vững mạnh hơn bao giờ hết bằng lưỡi lê và họng súng.
Nay Cộng Sản Quốc tế đã sụp đổ tan tành nhưng Cộng Sản Việt Nam và Trung Hoa vẫn còn bám víu vào quyền lợi riêng tư của Đảng một cách trơ trẽn và ngoan cố, họ không biết rằng con người không thể nào quay ngược bánh xe lịch sử, không thể nào vặn ngược chiều kim đồng hồ. Để quay ngược bánh xe lịch sử họ vẫn ngoan cố bảo vệ Đảng, bảo vệ tập đoàn thống trị bằng bạo lực.
Sáu mươi năm trước đây, thánh Ghandi đã nói “ Chúng ta thấy qua lịch sử, con đường của sự thật và tình thương luôn luôn thắng bạo tàn, độc ác, bất nhân… Bạo tàn chỉ thắng lợi được một thời gian rồi cũng phải thất bại sụp đổ tan tành”.
Thật vậy lịch sử loài người tự cổ chí kim đã cho ta thấy rằng tất cả những triều đại, những chế độ tàn bạo, độc ác bất nhân cho dù có vững mạnh tới đâu cuối cùng cũng phải bị bánh xe lịch sử nghiền nát như tương như cám. Nay Cộng Sản Việt nam không chiu nhìn lại cái gương của quá khứ, nếu họ tiếp tục đào sâu hận thù Nam Bắc bằng lưỡi lê và họng súng, cho dù họ có thể tồn tại được trong một khoảng thời gian nào đó, nhưng cuối cùng họ sẽ tự đào hố chôn mình...
Trọng Đạt
Năm ngoái, một ông bạn cải tạo về thăm quê hương sang có than thở về tinh trạng kỳ thị tại miền nam hiện nay. Ông bạn nói “ Nay tình trạng kỳ thị tại Sài Gòn thật là nặng nề, miền Nam đã bị Bắc Kỳ vào cai trị , họ lấy hầu hết nhà cửa ngoài phố và đẩy người miền Nam đi những vùng xa xôi khác ”, ông bạn này người miền Nam còn tôi người gốc miền Bắc, ông ta không thể nói hết lòng mình vì còn chút nể nang tôi.
Gần đây một bài viết của một người về Việt Nam cho biết tình trạng quê nhà, tác giả nói nay tại Sài Gòn người miền Bắc kéo vào rất đông, họ là những người giầu có và quyền thế nhất Sài Gòn hiện nay, họ làm chủ hầu hết các nhà cửa to lớn của Sài Gòn và các nhà hàng lớn, các cơ sở thương mại, các cơ quan nhà nước... Đó là những cán bộ cao cấp và bà con thân thụộc của họ được đưa vào đây để tranh dành hết những chức vụ béo bở, những công việc hái ra tiền….tác giả cho biết vào các cửa hàng lớn, các .. cơ quan chỗ nào cũng thấy toàn là Bắc Kỳ, nói tóm lại họ là giai cấp giầu có thống trị tại Sài Gòn hiện nay. Mặc dù chưa được chứng kiến tận mắt nhưng tôi tin ngay lời tác giả trong bài viết..
Tuần vừa qua, một người bạn đã về thăm quê Nha Trang năm ngoái cũng cho tôi biết tại Nha Trang bây giờ toàn là Bắc Kỳ, họ giầu sụ, buôn to bán lớn, chiếm giữ hầu hết các cơ sở thương mại kinh tế của Nha Trang. Họ giữ các chức vụ nhiều lợi lộc, chiếm cứ hầu hết các khu phố xá sầm uất và đẩy những người cũ đi xa như vùng kinh tế mới hoặc những vùng đất quê mùa khô cằn như sỏi đá. Người bạn cũng xác nhận cho tôi thấy Nha Trang nay là một thành phố đã bị Bắc Kỳ cai trị và chiếm đoạt hết tài sản, những nguồn lợi béo bở của thị xã du lịch này. Nếu chúng ta hỏi những người đã về thăm các tỉnh khác như Đà Lạt, Đà Nẵng, Biên Hoà… người ta cũng sẽ nói tình cảnh tương tự như thế.
Khi đọc bài viết và nghe người ta kể lại những sự thật phũ phàng như trên tôi tin ngay vì tôi cho rằng đó là những nhận xét khách quan vô tư nhất.
Ngược dòng thời gian 40 năm trước vào những ngày sau vụ Mậu Thân 1968, hồi ấy chúng tôi là sinh viên, được huấn luyện quân sự hai tuần và đưa vào Chợ Lớn canh gác theo chương trình Nhân Dân Tự Vệ. Một buổi tối đứng gác trên sân thượng của nhà thương gia trong khu phố Tầu, anh bạn cùng gác với tôi nhìn những dẫy phố nguy nga, sầm uất của Chợ Lớn , trước cảnh giầu sang tráng lệ của Tầu Chợ Lớn anh ta thốt lên.
“Đứng địa vị thằng Việt Cộng tao cũng đánh đến cùng, đằng nào cũng đã là thằng cùng mạt, chiếm được thì hưởng hết” Ý anh bạn muốn nói thằng nghèo đói sẽ đánh thí mạng cùi để cướp đoạt những tài sản của người giầu có, thế mà 7 năm sau, năm 1975 lời nói của anh ấy đã thành sự thật, thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi và đã cườp đươc tài sản của miền Nam giầu có.
Ngược dòng thời gian ba mươi bốn năm trước đây sau khi chiếm được miền Nam, cán bộ Cộng Sản rất cởi mở tươi cười với đồng bào miền Nam khiến người ta tin tưởng rằng hoà bình thống nhất rồi, hai miền cùng xoá bỏ hận thù và cùng nhau xây dựng đất nước, hàn gắn những vết thương do chiến tranh để lại. Thế nhưng kẻ chiến thắng không bao giờ bỏ được bản chất gian trá có từ hồi mới cướp chính quyền mùa thu 1945. Vừa xua quân chiếm xong Sài Gòn hoa lệ, đạo quân chiến thắng vội vã chở hết vàng bạc, quí kim của ngân hàng, tháo gỡ các máy móc trong các cơ xưởng, bệnh viện, vét hết các kho dụng cụ, hàng hoá, máy móc hiện đại… đem về Bắc, sự kiện này khỏi cần phải dẫn chứng vì thực tế đã chứng minh và ai cũng đều biết cả. Số vàng bạc quí kim vơ vét được vào túi các quan cán bộ gộc hết. Họ vơ vét nhanh gọn y như đàn cào cào châu chấu phá hoại mùa màng, sau cơn trấn lột tập thể vĩ đại ấy miền Nam chỉ còn là một mảnh đất nghèo xơ xác.
Một hai năm sau ngày 30-4-75 Cộng Sản đánh tư sản hai lần, đổi tiền ba lần, chính quyền đã vét gần sạch gần hết túi tiền người dân, kế đó họ phát động chiến dịch đẩy dân chúng đi kinh tế mới để chiếm nhà dân một cách hợp pháp. Chỉ sau ngày 30-4-75 một hai tháng, họ lùa các viên chức , sĩ quan chế độ cũ vào các trại cải tạo lâu dài rồi đẩy miền Nam tới chỗ nghèo nàn cùng cực để không thể trỗi dậy chống lại chế độ độc tài. Người Sài Gòn mỗi ngày một nghèo, nhiều người phải bán nhà với giá rẻ mạt cho kẻ chiến thắng để lấy tiền đong gạo sinh sống.
Kế hoạch chiếm nhà dân đã được kẻ chiến thắng hoạch định một cách tinh vi khoa học, đánh tư sản hai lần để chiếm nhà của bọn tư sản bóc lột cho cán bộ ở, ép buộc mọi tầng lớp nhân dân đi kinh tế mới để dãn dân ra khỏi thành thị ngõ hầu có chỗ đưa dân từ miền Bắc vào. Những người đi vượt biên dù đi thoát hay không thoát đều bị lấy nhà, những nhà lớn, nhà mặt đường của dân cải tạo liên hệ chế độ cũ hầu hết bị tịch thu, họ lấy tất cả nhà cửa tài sản của những người đi chính thức, cho tới nay năm 2008 một người bạn mới ở Sài Gòn sang Hoa Kỳ đoàn tụ cho biết chính quyền không cho phép anh bán nhà mà phải để lại cho nhà nước , sau chạy chọt mãi với cán bộ địa phơơng mới bán được nhưng phải chia tam chia tứ anh chỉ được hưởng 1/5 trị giá căn nhà… … Thế rồi dần dần kẻ chiến thắng, tầng lớp thống trị vơ vét bóc lột người dân, tích lũy tiền bạc mua nhà cửa, bất động sản của những người cũ nay đã khánh tận phải bán của cải đi để lấy cơm ăn áo mặc, thành phần này thuộc loại“ Tư bản mại sản”. Người ta chê kẻ chiến thắng quá tham lam, họ đã được cả một đất nước to lớn mà vẫn chưa vừa lòng tham vô đáy còn đi chiếm từng căn nhà một. Cho tới nay bộ mặt đổi đời của miền Nam càng lộ rõ hơn bao giờ hết bộ, kẻ thắng trận ngày càng giầu có, họ vơ vét bóc lột, tập trung tài sản của đất nước trong tay, bà con của họ cũng được chia chác những chức vụ béo bở, cơ sở làm ăn lớn tha hồ mà đớp hít… trong khi ấy người dân miền Nam, những kẻ bại trận ngày càng khốn khổ, trừ những người có thân nhân ở nước ngoài trợ cấp còn đa số phải làm lụng đầu tắt mặt tối vì miếng cơm manh áo . Người miền Bắc nay đã trở thành giai cấp thống trị người miền Nam, họ tước đoạt tài sản nhà cửa của người miền Nam, đuổi người miền Nam đi các vùng kinh tế xa xôi khỉ ho cò gáy. Những kẻ bị áp bức bóc lột này dẫu căm phẫn cũng đành ngậm đắng nuốt cay vì họ phải chịu khuất phục trước lưỡi lê và họng súng của bọn độc tài thống trị. Theo như lời kể của những người đã về thăm quê hương đã nói ở trên chúng ta có thể mường tượng ra cái hận thù Nam Bắc hiện nay nó sâu đậm như thế nào rồi..
Năm ngoái nhân ngày Quốc Hận, một viên chức chính quyền cũ nhìn những hình ảnh biểu tình, chống đối rồi thở dài bảo:
-Anh nghĩ xem, cái hận thù Nam Bắc biết bao giờ mới hết… Theo tôi nghĩ cái hận thù Nam Bắc nay không phải là chỉ mối hận của lớp người cũ đã bị tù đầy cải tạo mà nó thể hiện ở một bình diện rộng lớn bao quát hơn của cả một đất nước, của cả một khối quần chúng đông đảo, của những kẻ bị trị … đó là mối hận thù giữa kẻ bị trị và những bọn cầm quyền cai trị, giữa những kẻ bại trận và bọn thắng trận..
Người ta thường nói cuộc chiến tranh Việt nam là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai luồng tư tưởng đối nghịch nhau của hai khối Cộng Sản và Tư bản . Những người khuynh tả cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam 1960-1975 là cuộc chiến chống Đế Quốc xâm lăng cũng như cuộc chiến tranh giành độc lập chống Pháp 1945-1954. Cũng có người cho rằng đó là cuộc chiến tranh ủy nhiệm, nghĩa là chính quyền hai Miền đã được các siêu cường uỷ nhiệm thực hiện.. nhưng nay thì sự thể đã quá rõ ràng, nó chỉ là một cuộc “chiến tranh ăn cướp” giữa một nước nghèo đói lạc hậu và một đất nước giầu có sung túc với một vựa lúa phì nhiêu. Thằng nghèo đói đã ra sức đánh thí mạng cùi để chiếm cho được mảnh đất phì nhiêu rồi tha hồ mà vơ vét, bóc lột… thằng nghèo đói chỉ biết dùng lưỡi lê và họng súng để theo đuổi cuộc chiến tranh ăn cướp lâu dài. Nhiều người ngoài Bắc vào Nam nói “các anh không thể thắng được chúng tôi những thằng nghèo đói, thằng nghèo đói không sợ chết”. Sau di cư 1954, Hà Nội sống chết cũng phải chiếm cho được vựa lúa miền nam, họ đã thèm thuồng cái vựa lúa này từ lâu..
Nay tại hải ngoại nhiều người chủ trương hoà giải với Cộng Sản Việt Nam, họ lý luận rằng cuộc chiến tranh ba mươi năm đã tàn phá đất nước nhiều rồi, chúng ta hãy bắt tay nhau cùng xây dựng lại những vết thương do chiến tranh để lại, cùng nhau xoá bỏ hận thù. Luận điệu ấy thoáng nghe thật chan chứa tình thương yêu đồng loại, nhưng thực ra họ đã đặt sai đối tượng hoà hợp hoà giải vì có phải rằng khối người lưu vong hải ngoại hận thù Cộng Sản đâu? thực ra như chúng tôi đã trình bầy ở trên hận thù sâu sắc hiện nằm ngay trong lòng quần chúng miền Nam nước Việt, hận thù Nam Bắc hiện nay đang nằm trong lòng dân tộc, nó đã ăn sâu vào tận xương tủy kẻ bị trị nghèo nàn đói khổ..
Nay Cộng Sản Việt Nam vẫn cho thực hiện những phim tuyên truyền kết án chế độ địa chủ ác ôn như trong phim Áo Lụa Hà Đông nhưng trớ trêu và trơ trẽn thay chế độ của họ tự nhận là “Đảng của giai cấp công nhân” lại là một chế độ áp bức, bóc lột gấp trăm gấp ngàn lần thời kỳ địa chủ, cường hào ác bá thập niên 40 trở về trước. Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay chính là một tập đoàn địa chủ giầu có ác ôn, hà hiếp bóc lột dân nghèo tàn nhẫn nhất chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà từ trước đến nay.
Một người mới về Việt Nam sang Mỹ cho biết chênh lệch giầu nghèo thì không thể tưởng tượng nổi, bọn nhà giầu không ai hơn là cán bộ cao cấp ăn chơi hưởng thụ tại những nhà hàng, khách sạn sang trọng hằng nghìn, hằng mấy nghìn đô la một đêm trong khi có nhiều bà mẹ tay trái thì bồng con, tay phải bán vé số .. chạy ăn từng bữa. Nay nhiều người chủ trương hoà giải với người Cộng Sản Việt Nam bằng một lối lý luận đạo đức giả “ xoá bỏ hận thù, xây dựng đất nước” nhưng họ không biết rằng người Cộng Sản có chịu xoá bỏ hận thù hay đào sâu thêm hận thù? người Cộng Sản xây dựng đất nước hay xây dựng cho chế độ của họ thêm vững mạnh bằng lưỡi lê và họng súng?
Nhiều người thuộc lớp trẻ cho rằng lớp người cũ, sĩ quan, viên chức chính phủ, cải tạo HO… đã chịu nhiều ngược đãi của Cộng Sản nên cho tới nay họ vẫn giữ lập trường hận thù Cộng Sản. Ngược lại giới trẻ đã không từng trải qua những cay đắng gian khổ của chiến tranh như tù đầy, loạn lạc vì họ còn nhỏ hoặc thậm chí chưa ra đời nên họ không có cái nhìn hằn học với người Cộng Sản như thế hệ cha ông của họ. Họ chủ trương hoà giải với Cộng Sản để cùng bắt tay nhau xây dựng đất nước vì nay Cộng Sản vẫn lớn tiếng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy quên dĩ vãng, cùng nhau xoá bỏ hận thù..
Người Cộng Sản có thực sự xoá bỏ hận thù hay không? Họ xóa bỏ hận thù hay đào sâu thêm cái hố hận thù đã vốn dĩ sâu thăm thẳm từ bao năm qua? Chúng ta hoà hợp hoà giải với Cộng Sản , đem tài nguyên tài năng về Việt Nam xây dựng đất nước hay là để củng cố thêm quyền lực và tài sản cho bọn thống trị, để họ vơ vét thêm tài sản nhân dân cho đầy túi tham và đè đầu cưỡi cổ nhân dân miền Nam thêm nhiều thế kỷ nữa? Trước mắt chúng ta thấy Cộng Sản Việt Nam vẫn ngoan cố như tự bao giờ, trước sau như một. Địa vị của Đảng vẫn phải được củng cố vững mạnh hơn bao giờ hết bằng lưỡi lê và họng súng.
Nay Cộng Sản Quốc tế đã sụp đổ tan tành nhưng Cộng Sản Việt Nam và Trung Hoa vẫn còn bám víu vào quyền lợi riêng tư của Đảng một cách trơ trẽn và ngoan cố, họ không biết rằng con người không thể nào quay ngược bánh xe lịch sử, không thể nào vặn ngược chiều kim đồng hồ. Để quay ngược bánh xe lịch sử họ vẫn ngoan cố bảo vệ Đảng, bảo vệ tập đoàn thống trị bằng bạo lực.
Sáu mươi năm trước đây, thánh Ghandi đã nói “ Chúng ta thấy qua lịch sử, con đường của sự thật và tình thương luôn luôn thắng bạo tàn, độc ác, bất nhân… Bạo tàn chỉ thắng lợi được một thời gian rồi cũng phải thất bại sụp đổ tan tành”.
Thật vậy lịch sử loài người tự cổ chí kim đã cho ta thấy rằng tất cả những triều đại, những chế độ tàn bạo, độc ác bất nhân cho dù có vững mạnh tới đâu cuối cùng cũng phải bị bánh xe lịch sử nghiền nát như tương như cám. Nay Cộng Sản Việt nam không chiu nhìn lại cái gương của quá khứ, nếu họ tiếp tục đào sâu hận thù Nam Bắc bằng lưỡi lê và họng súng, cho dù họ có thể tồn tại được trong một khoảng thời gian nào đó, nhưng cuối cùng họ sẽ tự đào hố chôn mình...
Trọng Đạt

