QUÁN BIÊN THUỲ
Trí tuệ như thế này ...
Ngô Nhân Dụng
Sau khi đọc bài bàn về những ý kiến của ông Lê Ðăng Doanh, một người bạn hỏi ký giả tại sao không nhắc đến những câu phát biểu đặc sắc nhất mà ông Doanh đã nói. Chẳng hạn như khi ông Doanh kể chuyện một chuyên viên tài chánh quốc tế đặt câu hỏi với ông: “Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến thế, là thế nào? Trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin hoài thế?” Ông Doanh còn nhắc lại một câu rất cụ thể: “Chúng mày cứ đề ra một cái mục tiêu là ‘Ðến bao giờ chúng mày đừng có đi ăn xin nữa?’ Có được không?”
Ông Lê Ðăng Doanh chắc buồn quá nên dịch ra những tiếng quá nặng lời. Nhân viên các cơ quan viện trợ quốc tế - họ là những nhà ngoại giao, bao giờ họ cũng “Thưa quý ngài” chứ không ai gọi người khác là “chúng mày” cả. Nhưng ngay cả khi họ nói “Thưa quý ngài” thì nghe vẫn thấy nhục, vẫn thấy phẫn uất, phải hiểu là họ đang chửi mình, chửi cả nước mình. Mà mình không cãi vào đâu được. Khi nghe chửi thì phải hiểu là họ gọi mình là “chúng mày” chứ không còn là “quý ngài” nữa.
Trong số những cơ quan viện trợ quốc tế đó có Ngân Hàng Thế Giới. Ông Lê Ðăng Doanh kể Thủ Tướng Phan Văn Khải đã nói với Ngân Hàng Thế Giới và Tổ Chức Phát Triển Liên Hiệp Quốc rằng Việt Nam sẽ phải trở thành một nước trong khối OECD, tức các nước phát triển cao. Nhưng lợi tức bình quân của các nước trong OECD là hơn 10.000 mỹ kim một năm, hiện nay Việt Nam chỉ có 530 mỹ kim. Muốn đuổi kịp theo họ cũng phải đợi không biết bao nhiêu năm nữa; mà trong 10 năm tới chắc bình quân lợi tức cũng chỉ lên tới 1.060 đô la là cùng, nghĩa là vẫn được xếp hạng vào khối những nước “trung bình thấp.”
Ngân Hàng Thế Giới đã tới Việt Nam từ nhiều năm, mỗi năm chúng ta đều nghe nói họ viện trợ cho nước Việt Nam năm ba trăm triệu đô la. Nhưng sau đó lại có tin nói đến cuối tài khoá chính phủ Việt Nam vẫn chưa được rút tiền ra, vì không thực hiện những điều kiện của họ. Mà điều kiện của họ chủ yếu là đòi “sổ sách kế toán minh bạch, sạch sẽ” khi dùng tiền viện trợ! Mà làm sổ sách kế toán sạch sẽ là điều rất kiêng kị trong guồng máy hành chánh Việt Nam. Người ta bảo ở bẩn sống lâu, ở sạch chóng chết, không ai muốn chết non cả!
Mà vai trò của Ngân Hàng Thế Giới thì vốn là để “giảm bớt cảnh nghèo trên thế giới,” chứ không phải là “giúp chính phủ các nước nghèo,” như có thể nhiều người hiểu lầm. Từ mười năm qua, Ngân Hàng Thế Giới thay đổi nhiều, khi ông Chủ Tịch James Wolfenshon áp dụng chính sách buộc các nước phải bài trừ tham nhũng khi dùng các món viện trợ hoặc cho vay của Ngân Hàng Thế Giới. Một bản nghiên cứu của các giáo sư kinh tế, tài chánh như Meltzer, Sachs, vào năm 2000, đã thấy sự thất bại của các công cuộc viện trợ khi đưa tiền cho các chính phủ tham nhũng. Bản báo cáo nêu một kết luận là những nước nhận viện trợ vẫn tiếp tục nghèo nếu “chính trị bất ổn, quyền tư hữu bị hạn chế, hệ thống tư pháp yếu hoặc bị lũng đoạn, hay chính quyền tham nhũng.” Việc viện trợ cho các quốc gia đó sẽ “khá nhất cũng chỉ cứu giúp tạm thời, còn tệ nhất thì chỉ làm giàu cho hệ thống tham nhũng hoặc làm hao phí tài nguyên bản xứ cũng như từ bên ngoài đem vào.” Người cầm quyền ở những quốc gia không có luật pháp công minh có cơ hội ăn chặn bớt tiền viện trợ trên dưới chia với nhau, số tiền họ không ăn thì dùng để phân phát chút cho dân nghèo để họ đỡ phẫn uất và nổi loạn. Cả hai cách dùng đó đều nuôi dưỡng, duy trì, bảo vệ hệ thống tham nhũng. Chính Ngân Hàng Thế Giới tự thẩm lượng đã đi tới kết luận rằng 59 phần trăm các dự án đầu tư mà họ yểm trợ trong thập niên 1990 đã thất bại. Mục tiêu “giảm nghèo” của ngân hàng không đạt được.
Tham nhũng ngăn cản kinh tế không phát triển được hết tiền năng, điều này ai cũng biết. Cho nên Ngân Hàng Thế Giới không muốn đóng vai trò đồng loã với các chính quyền tham nhũng, đem tiền đi nuôi tham nhũng ở các nước nghèo. Từ mười năm qua một phong trào đang lên trên thế giới là “minh bạch công khai,” (transparency.) Trong cuộc nói chuyện của ông Lê Ðăng Doanh với Ðảng Cộng Sản Việt Nam ông đã cho biết thế giới đánh giá chế độ cộng sản như thế nào, trong đó có Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế (Transparency International.) Tổ chức này là tư nhân, trụ sở ở Berlin, Ðức Quốc, mỗi năm họ thẩm lượng các chính quyền, cho điểm, xếp hạng; xếp hạng 1 là tốt nhất, gần như không có tham nhũng, hạng chót là tham nhũng chằng chịt, vô địch. Trong năm qua tổ chức này cho chính quyền Cộng Sản Việt Nam đứng hạng 102 trong số 145 quốc gia! Ông Doanh nói, “việc chi tiêu, tham nhũng, và phải cống nạp các thứ này khác, thì mình thuộc loại rất là thấp, thuộc nhóm thấp nhất trong số được xếp hạng đấy!”
Tháng Sáu này Ngân Hàng Thế Giới sẽ có một vị chủ tịch mới. Và một tin buồn mà chính quyền cộng sản ở Việt Nam nên biết, là chắc ông ta sẽ không nương tay với các chế độ tham nhũng.
Tổng Thống George W. Bush mới đưa tên ông Paul Wolfowitz làm ứng viên chức Chủ Tịch Ngân Hàng Thế Giới, làm nhiều nước Âu Châu tỏ ra bất bình. Nhưng từ lâu nay đã có thông lệ, một người Âu Châu sẽ đứng đầu Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, còn một người Mỹ sẽ coi Ngân Hàng Thế Giới. Chính phủ Mỹ có 16 phần trăm cổ phần trong ngân hàng này, là cổ đông lớn nhất, và họ có thể lôi kéo nhiều nước nhỏ bỏ phiếu cho họ. Cho nên mặc dù ông Bush có vẻ khiêu khích các nước khác khi đưa ông Wolfowitz ra, chắc cuối cùng không ai chống được trừ khi muốn gây khủng hoảng. Ông Wolfowitz là Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, là người vạch ra chính sách tấn công Iraq ngay sau vụ 11 Tháng Chín. Thực ra ông ta đã cổ động việc đánh Iraq từ thời chính phủ Clinton. Ông Bush có thói quen tưởng thưởng những người trung thành với ông, mà không thể bổ nhiệm ông Wolfowitz vào một chức bộ trưởng nào, vì biết trước rằng khi ra Thượng Viện khó mà được chấp nhận. Các nghị sĩ Mỹ sẽ không quên những lời quả quyết của ông Wolfowitz khi ông điều trần trước cuộc tấn công Iraq. Ông đã nói chắc chắn rằng Hussein có vũ khí huỷ diệt tập thể. Ông cam đoan dân Iraq sẽ chạy ra đường hoan hô quân Mỹ. Ông bảo cuộc chiến tranh sẽ không tốn kém bao nhiêu vì công cuộc tái thiết đã có tiền bán dầu lửa của Iraq trang trải. Tất cả những lời nói đó bây giờ ai cũng biết là sai.
Nhưng ông Wolfowitz được ông Bush tin tưởng, và những ý kiến của ông phù hợp với quan niệm của ông Bush về vai trò của nước Mỹ trên thế giới hiện nay. Cả hai tin rằng nước Mỹ có thể hành động đơn phương không cần yểm trợ quốc tế, để phổ biến chế độ tư do dân chủ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Hồi Giáo. Ðây cũng là điều các chính phủ khác không chịu được, họ chống ông Bush, và họ chống việc bổ nhiệm ông Wolfowitz.
Nhưng ông Wolfowitz có thể là một vị Chủ Tịch Ngân Hàng Thế Giới đem lại những cải tổ cho tổ chức tài chánh này, trong chiều hướng thúc đẩy việc dân chủ hoá ở những quốc gia nghèo mà ngân hàng sẽ viện trợ.
Cái tên của ông thực ra rất giống tên ông chủ tịch hiện nay, Wolfensohn, họ dám gốc cùng một dòng họ lắm. Cả hai đều có chữ Wolf, con chó sói. Ông Wolfensohn người Áo, trong tiếng Ðức Sohn nghĩa là con trai. Ông Wolfowitz người gốc Ba Lan, chữ Witz ở cuối tên trong tiếng Slave cũng có nghĩa là “con của...” Có thể coi như hai người trùng tên, nhưng ngôn ngữ khác nhau.
Wolfowitz vốn học toán nhưng chuyển sang chính trị học, sau khi tham gia phong trào đòi dân quyền vào năm 1963. Ông đã làm thứ trưởng ngoại giao phụ trách vùng Á Ðông từ năm 1983, thời Tổng Thống Reagan. Ba năm sau ông được cử làm Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Jakarta, Indonesia, khi chế độ độc tài Suharto còn thịnh. Nhiều người bạn nói ba năm ở Indonesia ảnh hưởng rất lớn đến Wolfowitz vì nhìn thấy đời sống nghèo khổ của người dân trong một chế độ độc tài. Bà vợ ông lúc đó biết nói tiếng bản xứ, ông cũng học tiếng bản xứ, và đi thăm các làng quê cũng như các khu ngoại ô thủ đô Jakarta. Ông là một người Do Thái, tới một xứ Hồi Giáo đông dân nhất thế giới; nhưng ông kết bạn được với Abdurrahman Wahid là một học giả Hồi Giáo và đứng đầu tổ chức Hồi Giáo lớn nhất nước. Wolfowitz tỏ ra rất kính phục vị học giả này vì tính bao dung của ông về tôn giáo, với chủ trương tách giáo hội ra khỏi chính quyền. Sau này ông Wahid trở thành tổng thống đầu tiên được bầu lên ở Indonesia sau khi Suharto bị lật đổ và có bầu cử tự do, nhưng sau đó ông phải từ chức vì người chung quanh ông tham nhũng. Wahid đã từng đi học về giáo lý ở Baghdad, thủ đô Iraq. Ông đã kể lại chính ông chứng kiến cảnh Hussein treo cổ những người chống đối một cách tàn bạo như thế nào. Chính một vị thầy của ông cũng bị bắt và tra tấn đến chết.
Không biết những nhận xét của Wahid có ảnh hưởng tới lòng thù ghét của Wolfowitz đối với chế độ Hussein hay không. Nhưng ý kiến đòi các chính quyền nhận viện trợ phải bài trừ tham nhũng đã được gieo vào đầu Wolfowitz khi ông chứng kiến cảnh gia đình Suharto và thủ hạ sống trên tiền tham nhũng và lạm dụng quyền hành.
Cho nên khi ông Wolfowitz làm Chủ Tịch Ngân Hàng Thế Giới, chúng ta có thể tin là chiến dịch chống tham nhũng, thúc đẩy phong trào minh bạch công khai trong tổ chức này sẽ mạnh hơn. Các chính phủ Âu Châu còn muốn Tổng Thống Bush đưa ra tên nhiều ứng cử viên để lựa chọn, và nhiều người chỉ trích rằng ông Wolfowitz không có kinh nghiệm nào về tài chánh quốc tế cũng như về phát triển kinh tế. Năm 1967, Tổng Thống Johnson cũng đưa ông McNamara, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ ra làm ứng viên Chủ Tịch Ngân Hàng Thế Giới và đã được chấp thuận. Ông McNamara cũng không chuyên về tài chánh và phát triển, nhưng ông là một người đầu tiên muốn dùng Ngân Hàng Thế Giới làm dụng cụ chống nghèo đói. Nếu ông Wolfowitz cũng theo đuổi mục tiêu chống tham nhũng ở các nước nhận viện trợ một cách quyết liệt như ông theo đuổi việc triệt hạ Saddam Hussein, thì ông sẽ giúp được nhiều người hơn mà không bị mang tiếng vì những phán đoán sai lầm. Nhưng chính quyền cộng sản trong nước Việt Nam chắc không hồ hởi đối với một người cổ động cho tính minh bạch công khai.
Muốn giúp cho guồng máy kinh tế tài chánh của Việt Nam giảm bớt tham nhũng, có lẽ ông Wolfowitz cũng nên biết là cứ hỏi họ những câu khó trả lời, theo kiểu một người ngoại quốc đã hỏi ông Lê Ðăng Doanh. Hãy hỏi các quan chức cộng sản rằng, “Một nước trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin mãi thế? Sao cứ tham nhũng, ăn cắp ăn trộm công khai nhiều thế?” Nhiều người Việt Nam có khi không chịu nghe lẽ phải vì lòng tham lam, nhưng tất cả mọi người Việt Nam thì biết nhục.
17-3-2005
Ngô Nhân Dụng
Sau khi đọc bài bàn về những ý kiến của ông Lê Ðăng Doanh, một người bạn hỏi ký giả tại sao không nhắc đến những câu phát biểu đặc sắc nhất mà ông Doanh đã nói. Chẳng hạn như khi ông Doanh kể chuyện một chuyên viên tài chánh quốc tế đặt câu hỏi với ông: “Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến thế, là thế nào? Trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin hoài thế?” Ông Doanh còn nhắc lại một câu rất cụ thể: “Chúng mày cứ đề ra một cái mục tiêu là ‘Ðến bao giờ chúng mày đừng có đi ăn xin nữa?’ Có được không?”
Ông Lê Ðăng Doanh chắc buồn quá nên dịch ra những tiếng quá nặng lời. Nhân viên các cơ quan viện trợ quốc tế - họ là những nhà ngoại giao, bao giờ họ cũng “Thưa quý ngài” chứ không ai gọi người khác là “chúng mày” cả. Nhưng ngay cả khi họ nói “Thưa quý ngài” thì nghe vẫn thấy nhục, vẫn thấy phẫn uất, phải hiểu là họ đang chửi mình, chửi cả nước mình. Mà mình không cãi vào đâu được. Khi nghe chửi thì phải hiểu là họ gọi mình là “chúng mày” chứ không còn là “quý ngài” nữa.
Trong số những cơ quan viện trợ quốc tế đó có Ngân Hàng Thế Giới. Ông Lê Ðăng Doanh kể Thủ Tướng Phan Văn Khải đã nói với Ngân Hàng Thế Giới và Tổ Chức Phát Triển Liên Hiệp Quốc rằng Việt Nam sẽ phải trở thành một nước trong khối OECD, tức các nước phát triển cao. Nhưng lợi tức bình quân của các nước trong OECD là hơn 10.000 mỹ kim một năm, hiện nay Việt Nam chỉ có 530 mỹ kim. Muốn đuổi kịp theo họ cũng phải đợi không biết bao nhiêu năm nữa; mà trong 10 năm tới chắc bình quân lợi tức cũng chỉ lên tới 1.060 đô la là cùng, nghĩa là vẫn được xếp hạng vào khối những nước “trung bình thấp.”
Ngân Hàng Thế Giới đã tới Việt Nam từ nhiều năm, mỗi năm chúng ta đều nghe nói họ viện trợ cho nước Việt Nam năm ba trăm triệu đô la. Nhưng sau đó lại có tin nói đến cuối tài khoá chính phủ Việt Nam vẫn chưa được rút tiền ra, vì không thực hiện những điều kiện của họ. Mà điều kiện của họ chủ yếu là đòi “sổ sách kế toán minh bạch, sạch sẽ” khi dùng tiền viện trợ! Mà làm sổ sách kế toán sạch sẽ là điều rất kiêng kị trong guồng máy hành chánh Việt Nam. Người ta bảo ở bẩn sống lâu, ở sạch chóng chết, không ai muốn chết non cả!
Mà vai trò của Ngân Hàng Thế Giới thì vốn là để “giảm bớt cảnh nghèo trên thế giới,” chứ không phải là “giúp chính phủ các nước nghèo,” như có thể nhiều người hiểu lầm. Từ mười năm qua, Ngân Hàng Thế Giới thay đổi nhiều, khi ông Chủ Tịch James Wolfenshon áp dụng chính sách buộc các nước phải bài trừ tham nhũng khi dùng các món viện trợ hoặc cho vay của Ngân Hàng Thế Giới. Một bản nghiên cứu của các giáo sư kinh tế, tài chánh như Meltzer, Sachs, vào năm 2000, đã thấy sự thất bại của các công cuộc viện trợ khi đưa tiền cho các chính phủ tham nhũng. Bản báo cáo nêu một kết luận là những nước nhận viện trợ vẫn tiếp tục nghèo nếu “chính trị bất ổn, quyền tư hữu bị hạn chế, hệ thống tư pháp yếu hoặc bị lũng đoạn, hay chính quyền tham nhũng.” Việc viện trợ cho các quốc gia đó sẽ “khá nhất cũng chỉ cứu giúp tạm thời, còn tệ nhất thì chỉ làm giàu cho hệ thống tham nhũng hoặc làm hao phí tài nguyên bản xứ cũng như từ bên ngoài đem vào.” Người cầm quyền ở những quốc gia không có luật pháp công minh có cơ hội ăn chặn bớt tiền viện trợ trên dưới chia với nhau, số tiền họ không ăn thì dùng để phân phát chút cho dân nghèo để họ đỡ phẫn uất và nổi loạn. Cả hai cách dùng đó đều nuôi dưỡng, duy trì, bảo vệ hệ thống tham nhũng. Chính Ngân Hàng Thế Giới tự thẩm lượng đã đi tới kết luận rằng 59 phần trăm các dự án đầu tư mà họ yểm trợ trong thập niên 1990 đã thất bại. Mục tiêu “giảm nghèo” của ngân hàng không đạt được.
Tham nhũng ngăn cản kinh tế không phát triển được hết tiền năng, điều này ai cũng biết. Cho nên Ngân Hàng Thế Giới không muốn đóng vai trò đồng loã với các chính quyền tham nhũng, đem tiền đi nuôi tham nhũng ở các nước nghèo. Từ mười năm qua một phong trào đang lên trên thế giới là “minh bạch công khai,” (transparency.) Trong cuộc nói chuyện của ông Lê Ðăng Doanh với Ðảng Cộng Sản Việt Nam ông đã cho biết thế giới đánh giá chế độ cộng sản như thế nào, trong đó có Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế (Transparency International.) Tổ chức này là tư nhân, trụ sở ở Berlin, Ðức Quốc, mỗi năm họ thẩm lượng các chính quyền, cho điểm, xếp hạng; xếp hạng 1 là tốt nhất, gần như không có tham nhũng, hạng chót là tham nhũng chằng chịt, vô địch. Trong năm qua tổ chức này cho chính quyền Cộng Sản Việt Nam đứng hạng 102 trong số 145 quốc gia! Ông Doanh nói, “việc chi tiêu, tham nhũng, và phải cống nạp các thứ này khác, thì mình thuộc loại rất là thấp, thuộc nhóm thấp nhất trong số được xếp hạng đấy!”
Tháng Sáu này Ngân Hàng Thế Giới sẽ có một vị chủ tịch mới. Và một tin buồn mà chính quyền cộng sản ở Việt Nam nên biết, là chắc ông ta sẽ không nương tay với các chế độ tham nhũng.
Tổng Thống George W. Bush mới đưa tên ông Paul Wolfowitz làm ứng viên chức Chủ Tịch Ngân Hàng Thế Giới, làm nhiều nước Âu Châu tỏ ra bất bình. Nhưng từ lâu nay đã có thông lệ, một người Âu Châu sẽ đứng đầu Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, còn một người Mỹ sẽ coi Ngân Hàng Thế Giới. Chính phủ Mỹ có 16 phần trăm cổ phần trong ngân hàng này, là cổ đông lớn nhất, và họ có thể lôi kéo nhiều nước nhỏ bỏ phiếu cho họ. Cho nên mặc dù ông Bush có vẻ khiêu khích các nước khác khi đưa ông Wolfowitz ra, chắc cuối cùng không ai chống được trừ khi muốn gây khủng hoảng. Ông Wolfowitz là Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, là người vạch ra chính sách tấn công Iraq ngay sau vụ 11 Tháng Chín. Thực ra ông ta đã cổ động việc đánh Iraq từ thời chính phủ Clinton. Ông Bush có thói quen tưởng thưởng những người trung thành với ông, mà không thể bổ nhiệm ông Wolfowitz vào một chức bộ trưởng nào, vì biết trước rằng khi ra Thượng Viện khó mà được chấp nhận. Các nghị sĩ Mỹ sẽ không quên những lời quả quyết của ông Wolfowitz khi ông điều trần trước cuộc tấn công Iraq. Ông đã nói chắc chắn rằng Hussein có vũ khí huỷ diệt tập thể. Ông cam đoan dân Iraq sẽ chạy ra đường hoan hô quân Mỹ. Ông bảo cuộc chiến tranh sẽ không tốn kém bao nhiêu vì công cuộc tái thiết đã có tiền bán dầu lửa của Iraq trang trải. Tất cả những lời nói đó bây giờ ai cũng biết là sai.
Nhưng ông Wolfowitz được ông Bush tin tưởng, và những ý kiến của ông phù hợp với quan niệm của ông Bush về vai trò của nước Mỹ trên thế giới hiện nay. Cả hai tin rằng nước Mỹ có thể hành động đơn phương không cần yểm trợ quốc tế, để phổ biến chế độ tư do dân chủ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Hồi Giáo. Ðây cũng là điều các chính phủ khác không chịu được, họ chống ông Bush, và họ chống việc bổ nhiệm ông Wolfowitz.
Nhưng ông Wolfowitz có thể là một vị Chủ Tịch Ngân Hàng Thế Giới đem lại những cải tổ cho tổ chức tài chánh này, trong chiều hướng thúc đẩy việc dân chủ hoá ở những quốc gia nghèo mà ngân hàng sẽ viện trợ.
Cái tên của ông thực ra rất giống tên ông chủ tịch hiện nay, Wolfensohn, họ dám gốc cùng một dòng họ lắm. Cả hai đều có chữ Wolf, con chó sói. Ông Wolfensohn người Áo, trong tiếng Ðức Sohn nghĩa là con trai. Ông Wolfowitz người gốc Ba Lan, chữ Witz ở cuối tên trong tiếng Slave cũng có nghĩa là “con của...” Có thể coi như hai người trùng tên, nhưng ngôn ngữ khác nhau.
Wolfowitz vốn học toán nhưng chuyển sang chính trị học, sau khi tham gia phong trào đòi dân quyền vào năm 1963. Ông đã làm thứ trưởng ngoại giao phụ trách vùng Á Ðông từ năm 1983, thời Tổng Thống Reagan. Ba năm sau ông được cử làm Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Jakarta, Indonesia, khi chế độ độc tài Suharto còn thịnh. Nhiều người bạn nói ba năm ở Indonesia ảnh hưởng rất lớn đến Wolfowitz vì nhìn thấy đời sống nghèo khổ của người dân trong một chế độ độc tài. Bà vợ ông lúc đó biết nói tiếng bản xứ, ông cũng học tiếng bản xứ, và đi thăm các làng quê cũng như các khu ngoại ô thủ đô Jakarta. Ông là một người Do Thái, tới một xứ Hồi Giáo đông dân nhất thế giới; nhưng ông kết bạn được với Abdurrahman Wahid là một học giả Hồi Giáo và đứng đầu tổ chức Hồi Giáo lớn nhất nước. Wolfowitz tỏ ra rất kính phục vị học giả này vì tính bao dung của ông về tôn giáo, với chủ trương tách giáo hội ra khỏi chính quyền. Sau này ông Wahid trở thành tổng thống đầu tiên được bầu lên ở Indonesia sau khi Suharto bị lật đổ và có bầu cử tự do, nhưng sau đó ông phải từ chức vì người chung quanh ông tham nhũng. Wahid đã từng đi học về giáo lý ở Baghdad, thủ đô Iraq. Ông đã kể lại chính ông chứng kiến cảnh Hussein treo cổ những người chống đối một cách tàn bạo như thế nào. Chính một vị thầy của ông cũng bị bắt và tra tấn đến chết.
Không biết những nhận xét của Wahid có ảnh hưởng tới lòng thù ghét của Wolfowitz đối với chế độ Hussein hay không. Nhưng ý kiến đòi các chính quyền nhận viện trợ phải bài trừ tham nhũng đã được gieo vào đầu Wolfowitz khi ông chứng kiến cảnh gia đình Suharto và thủ hạ sống trên tiền tham nhũng và lạm dụng quyền hành.
Cho nên khi ông Wolfowitz làm Chủ Tịch Ngân Hàng Thế Giới, chúng ta có thể tin là chiến dịch chống tham nhũng, thúc đẩy phong trào minh bạch công khai trong tổ chức này sẽ mạnh hơn. Các chính phủ Âu Châu còn muốn Tổng Thống Bush đưa ra tên nhiều ứng cử viên để lựa chọn, và nhiều người chỉ trích rằng ông Wolfowitz không có kinh nghiệm nào về tài chánh quốc tế cũng như về phát triển kinh tế. Năm 1967, Tổng Thống Johnson cũng đưa ông McNamara, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ ra làm ứng viên Chủ Tịch Ngân Hàng Thế Giới và đã được chấp thuận. Ông McNamara cũng không chuyên về tài chánh và phát triển, nhưng ông là một người đầu tiên muốn dùng Ngân Hàng Thế Giới làm dụng cụ chống nghèo đói. Nếu ông Wolfowitz cũng theo đuổi mục tiêu chống tham nhũng ở các nước nhận viện trợ một cách quyết liệt như ông theo đuổi việc triệt hạ Saddam Hussein, thì ông sẽ giúp được nhiều người hơn mà không bị mang tiếng vì những phán đoán sai lầm. Nhưng chính quyền cộng sản trong nước Việt Nam chắc không hồ hởi đối với một người cổ động cho tính minh bạch công khai.
Muốn giúp cho guồng máy kinh tế tài chánh của Việt Nam giảm bớt tham nhũng, có lẽ ông Wolfowitz cũng nên biết là cứ hỏi họ những câu khó trả lời, theo kiểu một người ngoại quốc đã hỏi ông Lê Ðăng Doanh. Hãy hỏi các quan chức cộng sản rằng, “Một nước trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin mãi thế? Sao cứ tham nhũng, ăn cắp ăn trộm công khai nhiều thế?” Nhiều người Việt Nam có khi không chịu nghe lẽ phải vì lòng tham lam, nhưng tất cả mọi người Việt Nam thì biết nhục.
17-3-2005
Chân Dung Một H.O.: Trần Văn Cả
Huy Phương “Riêng đối với tôi, danh từ H.O. là biểu tượng của lòng dũng
cảm, tinh thần phục vụ và sự hy sinh. Tất cả những ai thuộc
diện H.O. đều là những anh hùng thật sự của thời đại chúng ta.”
(Cựu Đại Tướng John W. Vessey)
Nhân kỷ niệm đánh dấu thời gian ba mươi năm (1975-2005) của người Việt tỵ nạn bỏ nước ra đi và hình thành Cộng Đồng Việt Nam trên đất Mỹ, cũng như kỷ niệm 15 năm những người cựu tù nhân chính trị đến Mỹ theo diện H.O., trang Cựu Chiến Binh QLVNCH của Nhật Báo Người Việt sẽ có một loạt bài về đời sống hiện nay của những anh em H.O. ở quê người. Chúng tôi hy vọng, trong khả năng hạn hẹp, sẽ tìm hiểu và vẽ lại chân dung đa dạng của những người anh em mà chúng ta tạm gọi là những người H.O. Chúng tôi rất mong đón nhận sự đóng góp bài vở, ý kiến của anh em cựu tù nhân chính trị cho mục này. Xin liên lạc qua trang Cựu Chiến Binh VNCH, ấn hành vào mỗi thứ tư trong tuần. Email: nghuy9@yahoo.com
Trần Văn Cả sinh năm 1938 trong một gia đình đông con ở huyện Quảng Điền Thừa Thiên, một gia đình tiêu biểu của miền Nam đã có người chết trận và đi tù Cộng Sản trong chiến tranh. Ông tốt nghiệp khóa 10 trường Võ Bị Thủ Đức, ra trường vào tháng 8/1961 và phục vụ tại Trung Đội Tiểu Súng Cối thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Năm 1965, ông được đổi về gần quê quán tại Tiểu Đoàn 12 Pháo Binh và tăng phái cho một Chi Khu cận sơn là Ashau, Tà Bạt. Năm 1966 , ông bị thương nặng tại Quận Phú Lộc, mảnh pháo xuyên ngực vào phổi, nằm bệnh viện hơn một năm và được xếp hạng Phụ Dịch vĩnh viễn.
Tết Mậu Thân, Đại Úy Trần Văn Cả bị kẹt tại Bãi Dâu, Gia hội (Huế) trong vùng địch tạm chiếm đóng, ông phải ra trình diện một lần và sau đó thoát hiểm chạy về phía hữu ngạn Sông Hương, nương náu tại trại tạm cư đặt tại trường Kiểu Mẫu. Tất cả những người ra trình diện lần thứ hai đều bị Việt Cộng đem đi chôn sống, trong đó có người chủ nhà, anh rễ của ông là một Thượng Sĩ. Sau Tết Mậu Thân, Trần Văn Cả được đưa về Bộ Tư lệnh Quân Đoàn I và mặc dầu được xếp loại 2, nhưng ông vẫn tình nguyện ra đơn vị tác chiến (TĐ 14 Pháo binh) trấn đóng sát vùng phi quân sự tại căn cứ A.1. Năm 1972, Trần Văn Cả theo học Khóa Bộ Binh Cao Cấp và sau đó về Sư Đoàn 3 BB, chỉ huy một pháo đội đóng tại Quận Đại Lộc (Quảng Nam). Cuối năm 1974, Trần Văn Cả lại bị thương, sau khi nằm quân y viện ba tháng, được cử về chỉ huy hậu cứ TĐ 31 Pháo Binh ít lâu thì Đà Nẵng tan hàng.
Tháng 6- 1975, Đại Úy Trần Văn Cả trình diện đi tù “cải tạo”. Cuối năm 1976, bị lên tàu Sông Hương ra Bắc (đợt 2), qua Thác Bà và lên trại 5 Hoàng Liên Sơn chặt tre, dập nứa làm trại tù trong rừng để nhốt mình. Lúc này các trại tù Hoàng Liên Sơn đang còn sơ sài với nhà tranh vách đất và hàng rào tre bao bọc, do bộ đội CS canh gác chưa cẩn mật cho lắm nên Trần Văn Cả đã nẩy ý tưởng vượt trại. Chỉ một tháng sau đặt chân lên đất Bắc, cùng với ba người bạn (Trực, Dân, Vân- lâu ngày quên họ), người pháo đội trưởng này đã dấn thân vào con đường nguy hiểm, có chút vô định bằng cách với vài lon gô bắp nấu lấy trong nhà bếp và chiếc poncho, bẻ hàng rào tre trong đêm tối, nhắm hướng tây, lẫn vào núi cao mà đi. Vì chưa có kinh nghiệm và đường đi khó khăn, trong năm ngày đêm, bốn người tù vượt trại chỉ mới di loanh quanh được khoảng 10 cây số đường chim bay. Bộ đội CS đã huy động chó săn, dân quân và bản làng Mường Mán trong vùng sục sạo đi tìm. Trần Văn Cả sa lưới trong đêm giữa một rừng đuốc và chó săn, bị đem về lại trại cũ, lãnh đòn hội chợ và biệt giam chung với heo trong chuồng heo bộ đội.
Tháng 2-1977, Trần Văn Cả cùng bốn người trốn trại được đưa về trại 4 Cẩm Nhân và cho đi lao động lại. Trại này nằm giữa ruộng, bên cạnh một con suối, giữa khu dân cư phần đông là người Tày, chỉ có một mặt là tiếp giáp núi cao. Lại chuẩn bị trong vòng ba tháng, tích trữ muối và thức ăn khô, Trần Văn Cả lần này chỉ kết hợp với một bạn tù là Lê Bá Tường, quyết tâm trốn trại lần nữa. Đợi tới ngày sinh nhật “bác Hồ” trại có ăn được chút “chất tươi” và vệ binh canh gác lỏng lẻo, đêm 19/6-1977, hai người đến những khu hàng rào đã được chuẩn bị nhổ gốc từ trước, lội qua suối, leo lên núi kiếm đường đi. Sau mấy ngày đi trên núi cao về hướng Thác Bà, hai người vượt trại quan sát thấy có dân sinh hoạt và thường dùng bè qua Thác nên đêm đến, anh em xuống thác lấy bè đi về hướng Tây. Trong vòng 15 ngày đêm, Trần Văn Cả và Lê Bá Tường chỉ mới đi được 45 cây số, và lần này “cán bộ địa chất giả” đụng đầu với “bộ đội thật”, hai người tù miền Nam lại bị bắt đưa trở lại cùm chân, biệt giam trong nhà giam của Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn (đoàn 776). Ngày 2/9 năm đó để kỷ niệm ngày lễ lớn, những người trốn trại được tha, đưa về lại trại Cẩm Nhân cho đi rừng chặt cây tiếp tục xây dựng trại tù đang còn dang dở.
Sau hai lần trốn trại thất bại và nhận những trận đòn thù nặng nề, người tù Trần Văn Cả vẫn con mang ý muốn “tự ký giấy ra trại cho mình”, anh lại điều nghiên, lần này kết hợp với ba bạn tù đã có kinh nghiệm một hai lần vượt trại ở các nơi khác là Lê Bá Tường (81 Biệt Kích Dù) Đặng Quốc Trụ (K.20 Đà Lạt), Vương Mộng Long (BĐQ Biên Phòng), tích trữ muối và bắp khô và bốn con dao “tông” đợi ngày ra đi. Qua năm sau (1978), vào tháng 5, giữa mùa nắng ráo, bốn người tù bắt tay quyết tâm vượt núi rừng qua tới đất Lào, họ băng suối để làm mất dấu theo dõi, lúc đầu ngày nghỉ đêm đi, khi thấy đã khá xa trại giam, họ đi suốt ngày lẫn đêm. Những người vượt trại này mưu sinh bằng cách ăn lá tàu bay, rau dại trong rừng, chặt buông lấy nước uống, đến đâu đào sắn của dân nấu ăn tới đó. Sau một trận đói ba ngày, bốn người tù quyết định giết một con trâu tại một công trường của bộ đội CS. Họ dẫn trâu vào sâu trong rừng, xẻ thịt, phần ăn, phần phơi khô và nhắm hướng tiếp tục đi về phía Tây. Tính từ khi ra đi, bốn người tù này đã ra khỏi trại, như những người thực sự “mưu sinh thoát hiểm” trong rừng già, thở bầu không khí tự do, không thấy bóng áo xanh bọn cai tù Cộng Sản một thời gian dài 3 tháng 14 ngày.
Vào ngày thứ 108, bốn người tù đã hầu như trở thành người rừng, râu tóc dài, ốm yếu, đen đúa, gần như kiệt sức, gần tới địa phận tỉnh Lai Châu thì họ bị rơi vào những giao thông hào của thời chiến tranh cũ mà không biết mình đã đặt chân tới Điện Biên Phủ. Chúng ta biết là năm 1979 mới có sự giao tranh giữa Trung-Việt, nhưng tại vùng Điện Biên , bộ đội CS đã có những vụ đụng độ lẻ tẻ với các toán tiền quân thám báo của địch, do đó bộ đội CS tình nghi đây là những người tù vượt trại để bắt liên lạc với quân Trung Cộng. Bốn người vượt trại tù được các cơ quan an ninh thẩm vấn và giải về trại 6 Hòang Liên Sơn, đi bằng xe hơi mất hai ngày. Trần Văn Cả và ba người bạn bị cách ly và giam trong hầm tối đào sâu dưới mặt đất. Tại đây và vào thời điểm này, vì tuyệt vọng, Trần Văn Cả có ý định quyên sinh nhưng không thành công vì trong tay không hề có chút phương tiện gì và bị còng suốt ngày đêm. Sau hơn một tháng bị giam, Trần Văn Cả bị giải về trại Phú Sơn 4 (Bắc Thái) và cho đi làm lò gạch.
Năm 1979, nhân vụ xung đột tại biên giới Việt-Trung, Cộng Sản giải tán các trại tù “cải tạo”và đưa tù dần về phía Nam. Tại trại Nam Hà, hơn 50 tù trốn trại được đưa về tập trung ở đây. Năm 1981, Trần Văn Cả bị đưa về trại Gia Trung (Kontum), tại đây có lần tù chính trị đã nổi loạn, tuyệt thực, đánh bọn “trật tự”, bọn cai tù lại biệt giam Trần Văn Cả và một số lớn tù binh. Chúng đã thẳng tay đàn áp và đánh chết hai người là Trung Tá Nguyễn Văn Thanh (ND) và Thiếu Tá Lò Văn Em (TK Pleiku), sau đó CS nhốt những người tù có thành tích và gan dạ chung với bọn tù hình sự để dễ bề kiểm soát và khống chế. Năm 1984, Trần Văn Cả được đưa về trại Hàm Tân (Z.30D) cho đến tháng 10- 1987 mới được tha về.
Với một đàn con bảy đứa, cảnh nhà Trần Văn cả rất nheo nhóc, ông phải vá xe đạp ngoài đường, vợ mua bán chợ trời để kiếm sống. Vào lúc này chương trình cho các cựu tù nhân đi định cư ở Hoa Kỳ đã ló dạng, đem lại nguồn hy vọng cho gia đình một người tù lâu năm đang lún dần vào tuyệt vọng. Tuy vậy cuộc ra đi cũng không song suốt, vết thương trong phổi của Trần Văn Cả đã làm cho ông phải hoãn chuyến bay nhiều lần.
Cuối cùng, Ông đến được Dallas, Texas trong danh sách H.O.7 vào tháng 10-1991, rồi sau đó theo bạn bè về định cư tại thành phố Philadelphia năm 1992. Ở đây nhà cửa rẻ và dễ kiếm việc làm. Trần Văn Cả, lúc đầu cũng như các anh em HO khác mới định cư phải làm những công việc nặng nhọc như hái trái cây, lựa cà, cắt rau giữa những mùa đông giá buốt của thành phố miền Đông này.
Bây giờ bảy đứa con của Trần Văn Cả đã ổn định có gia đình và công ăn việc làm trên đất mới, ngoài giờ đi làm, ông vẫn còn hăng say hoạt động trong các Hội Đoàn Quân Đội, với ý nguyện còn làm được một việc gì cho đất nước và để lại những bài học cho con em của thế hệ sau. Hiện nay Trần Văn Cả là:
Đại Diện các Hội Cựu Quân Nhân các binh chủng VNCH tại Philadelphia.
Hội Trưởng hội Cựu SVSQ Thủ Đức tại Pennsylvania.
Hội Viên Danh dự của Chi Hội Nhảy Dù Phila về những thành tích dũng cảm của ông.
(Các chiến hữu có thể liên lạc với người bạn tù này qua số điện thoại (215) 755-1762)
Huy Phương “Riêng đối với tôi, danh từ H.O. là biểu tượng của lòng dũng
cảm, tinh thần phục vụ và sự hy sinh. Tất cả những ai thuộc
diện H.O. đều là những anh hùng thật sự của thời đại chúng ta.”
(Cựu Đại Tướng John W. Vessey)
Nhân kỷ niệm đánh dấu thời gian ba mươi năm (1975-2005) của người Việt tỵ nạn bỏ nước ra đi và hình thành Cộng Đồng Việt Nam trên đất Mỹ, cũng như kỷ niệm 15 năm những người cựu tù nhân chính trị đến Mỹ theo diện H.O., trang Cựu Chiến Binh QLVNCH của Nhật Báo Người Việt sẽ có một loạt bài về đời sống hiện nay của những anh em H.O. ở quê người. Chúng tôi hy vọng, trong khả năng hạn hẹp, sẽ tìm hiểu và vẽ lại chân dung đa dạng của những người anh em mà chúng ta tạm gọi là những người H.O. Chúng tôi rất mong đón nhận sự đóng góp bài vở, ý kiến của anh em cựu tù nhân chính trị cho mục này. Xin liên lạc qua trang Cựu Chiến Binh VNCH, ấn hành vào mỗi thứ tư trong tuần. Email: nghuy9@yahoo.com
Trần Văn Cả sinh năm 1938 trong một gia đình đông con ở huyện Quảng Điền Thừa Thiên, một gia đình tiêu biểu của miền Nam đã có người chết trận và đi tù Cộng Sản trong chiến tranh. Ông tốt nghiệp khóa 10 trường Võ Bị Thủ Đức, ra trường vào tháng 8/1961 và phục vụ tại Trung Đội Tiểu Súng Cối thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Năm 1965, ông được đổi về gần quê quán tại Tiểu Đoàn 12 Pháo Binh và tăng phái cho một Chi Khu cận sơn là Ashau, Tà Bạt. Năm 1966 , ông bị thương nặng tại Quận Phú Lộc, mảnh pháo xuyên ngực vào phổi, nằm bệnh viện hơn một năm và được xếp hạng Phụ Dịch vĩnh viễn.
Tết Mậu Thân, Đại Úy Trần Văn Cả bị kẹt tại Bãi Dâu, Gia hội (Huế) trong vùng địch tạm chiếm đóng, ông phải ra trình diện một lần và sau đó thoát hiểm chạy về phía hữu ngạn Sông Hương, nương náu tại trại tạm cư đặt tại trường Kiểu Mẫu. Tất cả những người ra trình diện lần thứ hai đều bị Việt Cộng đem đi chôn sống, trong đó có người chủ nhà, anh rễ của ông là một Thượng Sĩ. Sau Tết Mậu Thân, Trần Văn Cả được đưa về Bộ Tư lệnh Quân Đoàn I và mặc dầu được xếp loại 2, nhưng ông vẫn tình nguyện ra đơn vị tác chiến (TĐ 14 Pháo binh) trấn đóng sát vùng phi quân sự tại căn cứ A.1. Năm 1972, Trần Văn Cả theo học Khóa Bộ Binh Cao Cấp và sau đó về Sư Đoàn 3 BB, chỉ huy một pháo đội đóng tại Quận Đại Lộc (Quảng Nam). Cuối năm 1974, Trần Văn Cả lại bị thương, sau khi nằm quân y viện ba tháng, được cử về chỉ huy hậu cứ TĐ 31 Pháo Binh ít lâu thì Đà Nẵng tan hàng.
Tháng 6- 1975, Đại Úy Trần Văn Cả trình diện đi tù “cải tạo”. Cuối năm 1976, bị lên tàu Sông Hương ra Bắc (đợt 2), qua Thác Bà và lên trại 5 Hoàng Liên Sơn chặt tre, dập nứa làm trại tù trong rừng để nhốt mình. Lúc này các trại tù Hoàng Liên Sơn đang còn sơ sài với nhà tranh vách đất và hàng rào tre bao bọc, do bộ đội CS canh gác chưa cẩn mật cho lắm nên Trần Văn Cả đã nẩy ý tưởng vượt trại. Chỉ một tháng sau đặt chân lên đất Bắc, cùng với ba người bạn (Trực, Dân, Vân- lâu ngày quên họ), người pháo đội trưởng này đã dấn thân vào con đường nguy hiểm, có chút vô định bằng cách với vài lon gô bắp nấu lấy trong nhà bếp và chiếc poncho, bẻ hàng rào tre trong đêm tối, nhắm hướng tây, lẫn vào núi cao mà đi. Vì chưa có kinh nghiệm và đường đi khó khăn, trong năm ngày đêm, bốn người tù vượt trại chỉ mới di loanh quanh được khoảng 10 cây số đường chim bay. Bộ đội CS đã huy động chó săn, dân quân và bản làng Mường Mán trong vùng sục sạo đi tìm. Trần Văn Cả sa lưới trong đêm giữa một rừng đuốc và chó săn, bị đem về lại trại cũ, lãnh đòn hội chợ và biệt giam chung với heo trong chuồng heo bộ đội.
Tháng 2-1977, Trần Văn Cả cùng bốn người trốn trại được đưa về trại 4 Cẩm Nhân và cho đi lao động lại. Trại này nằm giữa ruộng, bên cạnh một con suối, giữa khu dân cư phần đông là người Tày, chỉ có một mặt là tiếp giáp núi cao. Lại chuẩn bị trong vòng ba tháng, tích trữ muối và thức ăn khô, Trần Văn Cả lần này chỉ kết hợp với một bạn tù là Lê Bá Tường, quyết tâm trốn trại lần nữa. Đợi tới ngày sinh nhật “bác Hồ” trại có ăn được chút “chất tươi” và vệ binh canh gác lỏng lẻo, đêm 19/6-1977, hai người đến những khu hàng rào đã được chuẩn bị nhổ gốc từ trước, lội qua suối, leo lên núi kiếm đường đi. Sau mấy ngày đi trên núi cao về hướng Thác Bà, hai người vượt trại quan sát thấy có dân sinh hoạt và thường dùng bè qua Thác nên đêm đến, anh em xuống thác lấy bè đi về hướng Tây. Trong vòng 15 ngày đêm, Trần Văn Cả và Lê Bá Tường chỉ mới đi được 45 cây số, và lần này “cán bộ địa chất giả” đụng đầu với “bộ đội thật”, hai người tù miền Nam lại bị bắt đưa trở lại cùm chân, biệt giam trong nhà giam của Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn (đoàn 776). Ngày 2/9 năm đó để kỷ niệm ngày lễ lớn, những người trốn trại được tha, đưa về lại trại Cẩm Nhân cho đi rừng chặt cây tiếp tục xây dựng trại tù đang còn dang dở.
Sau hai lần trốn trại thất bại và nhận những trận đòn thù nặng nề, người tù Trần Văn Cả vẫn con mang ý muốn “tự ký giấy ra trại cho mình”, anh lại điều nghiên, lần này kết hợp với ba bạn tù đã có kinh nghiệm một hai lần vượt trại ở các nơi khác là Lê Bá Tường (81 Biệt Kích Dù) Đặng Quốc Trụ (K.20 Đà Lạt), Vương Mộng Long (BĐQ Biên Phòng), tích trữ muối và bắp khô và bốn con dao “tông” đợi ngày ra đi. Qua năm sau (1978), vào tháng 5, giữa mùa nắng ráo, bốn người tù bắt tay quyết tâm vượt núi rừng qua tới đất Lào, họ băng suối để làm mất dấu theo dõi, lúc đầu ngày nghỉ đêm đi, khi thấy đã khá xa trại giam, họ đi suốt ngày lẫn đêm. Những người vượt trại này mưu sinh bằng cách ăn lá tàu bay, rau dại trong rừng, chặt buông lấy nước uống, đến đâu đào sắn của dân nấu ăn tới đó. Sau một trận đói ba ngày, bốn người tù quyết định giết một con trâu tại một công trường của bộ đội CS. Họ dẫn trâu vào sâu trong rừng, xẻ thịt, phần ăn, phần phơi khô và nhắm hướng tiếp tục đi về phía Tây. Tính từ khi ra đi, bốn người tù này đã ra khỏi trại, như những người thực sự “mưu sinh thoát hiểm” trong rừng già, thở bầu không khí tự do, không thấy bóng áo xanh bọn cai tù Cộng Sản một thời gian dài 3 tháng 14 ngày.
Vào ngày thứ 108, bốn người tù đã hầu như trở thành người rừng, râu tóc dài, ốm yếu, đen đúa, gần như kiệt sức, gần tới địa phận tỉnh Lai Châu thì họ bị rơi vào những giao thông hào của thời chiến tranh cũ mà không biết mình đã đặt chân tới Điện Biên Phủ. Chúng ta biết là năm 1979 mới có sự giao tranh giữa Trung-Việt, nhưng tại vùng Điện Biên , bộ đội CS đã có những vụ đụng độ lẻ tẻ với các toán tiền quân thám báo của địch, do đó bộ đội CS tình nghi đây là những người tù vượt trại để bắt liên lạc với quân Trung Cộng. Bốn người vượt trại tù được các cơ quan an ninh thẩm vấn và giải về trại 6 Hòang Liên Sơn, đi bằng xe hơi mất hai ngày. Trần Văn Cả và ba người bạn bị cách ly và giam trong hầm tối đào sâu dưới mặt đất. Tại đây và vào thời điểm này, vì tuyệt vọng, Trần Văn Cả có ý định quyên sinh nhưng không thành công vì trong tay không hề có chút phương tiện gì và bị còng suốt ngày đêm. Sau hơn một tháng bị giam, Trần Văn Cả bị giải về trại Phú Sơn 4 (Bắc Thái) và cho đi làm lò gạch.
Năm 1979, nhân vụ xung đột tại biên giới Việt-Trung, Cộng Sản giải tán các trại tù “cải tạo”và đưa tù dần về phía Nam. Tại trại Nam Hà, hơn 50 tù trốn trại được đưa về tập trung ở đây. Năm 1981, Trần Văn Cả bị đưa về trại Gia Trung (Kontum), tại đây có lần tù chính trị đã nổi loạn, tuyệt thực, đánh bọn “trật tự”, bọn cai tù lại biệt giam Trần Văn Cả và một số lớn tù binh. Chúng đã thẳng tay đàn áp và đánh chết hai người là Trung Tá Nguyễn Văn Thanh (ND) và Thiếu Tá Lò Văn Em (TK Pleiku), sau đó CS nhốt những người tù có thành tích và gan dạ chung với bọn tù hình sự để dễ bề kiểm soát và khống chế. Năm 1984, Trần Văn Cả được đưa về trại Hàm Tân (Z.30D) cho đến tháng 10- 1987 mới được tha về.
Với một đàn con bảy đứa, cảnh nhà Trần Văn cả rất nheo nhóc, ông phải vá xe đạp ngoài đường, vợ mua bán chợ trời để kiếm sống. Vào lúc này chương trình cho các cựu tù nhân đi định cư ở Hoa Kỳ đã ló dạng, đem lại nguồn hy vọng cho gia đình một người tù lâu năm đang lún dần vào tuyệt vọng. Tuy vậy cuộc ra đi cũng không song suốt, vết thương trong phổi của Trần Văn Cả đã làm cho ông phải hoãn chuyến bay nhiều lần.
Cuối cùng, Ông đến được Dallas, Texas trong danh sách H.O.7 vào tháng 10-1991, rồi sau đó theo bạn bè về định cư tại thành phố Philadelphia năm 1992. Ở đây nhà cửa rẻ và dễ kiếm việc làm. Trần Văn Cả, lúc đầu cũng như các anh em HO khác mới định cư phải làm những công việc nặng nhọc như hái trái cây, lựa cà, cắt rau giữa những mùa đông giá buốt của thành phố miền Đông này.
Bây giờ bảy đứa con của Trần Văn Cả đã ổn định có gia đình và công ăn việc làm trên đất mới, ngoài giờ đi làm, ông vẫn còn hăng say hoạt động trong các Hội Đoàn Quân Đội, với ý nguyện còn làm được một việc gì cho đất nước và để lại những bài học cho con em của thế hệ sau. Hiện nay Trần Văn Cả là:
Đại Diện các Hội Cựu Quân Nhân các binh chủng VNCH tại Philadelphia.
Hội Trưởng hội Cựu SVSQ Thủ Đức tại Pennsylvania.
Hội Viên Danh dự của Chi Hội Nhảy Dù Phila về những thành tích dũng cảm của ông.
(Các chiến hữu có thể liên lạc với người bạn tù này qua số điện thoại (215) 755-1762)
Xuân Lộc không lộc xuân
Nguyễn Nam An
Có bao giờ em nghĩ
Xuân Lộc không lộc xuân
Có bao giờ chiến trận
Xóm đạo chuông vang lừng
Đại pháo nát góc rừng
Vẫn chuông chiều Bảo Định
Rưng rưng về, rưng rưng
Rừng cao su cúi thấp
Vườn cây trái bâng khuâng
Có bao giờ đôi lần
Ngồi ăn cơm nón sắt
Nghe chuông hồi xa xăm
Đâu trời và đâu đất
Chúa Phật bạn ân tình
Em, giữa lòng chiến trận
Vẫn lời nguyện, câu kinh
Xin cho mai còn sống
Những bè bạn, bạn bè
Vào vùng và đang tấp
Quê hương giờ tháng tư
………………………
Coi như lá tình thư
Bao lâu rồi chưa gởi
Chuông xóm đạo bồi hồi
Lộc xuân buồn Xuân Lộc
“Anh nửa đời đứt hơi!”
Nguyễn Nam An
( 09/26/05 )

Lê Quang Lưỡng tại chiến trường An Lộc
Nguyễn Nam An
Có bao giờ em nghĩ
Xuân Lộc không lộc xuân
Có bao giờ chiến trận
Xóm đạo chuông vang lừng
Đại pháo nát góc rừng
Vẫn chuông chiều Bảo Định
Rưng rưng về, rưng rưng
Rừng cao su cúi thấp
Vườn cây trái bâng khuâng
Có bao giờ đôi lần
Ngồi ăn cơm nón sắt
Nghe chuông hồi xa xăm
Đâu trời và đâu đất
Chúa Phật bạn ân tình
Em, giữa lòng chiến trận
Vẫn lời nguyện, câu kinh
Xin cho mai còn sống
Những bè bạn, bạn bè
Vào vùng và đang tấp
Quê hương giờ tháng tư
………………………
Coi như lá tình thư
Bao lâu rồi chưa gởi
Chuông xóm đạo bồi hồi
Lộc xuân buồn Xuân Lộc
“Anh nửa đời đứt hơi!”
Nguyễn Nam An
( 09/26/05 )

Lê Quang Lưỡng tại chiến trường An Lộc
DU TỬ CA
Uống hết chai này rồi ta đi
Uống cạn ly này rồi ta về
Mưa giăng mưa giăng chiều đô thị
Lối ta về mù mịt mưa che
Đã từ lâu chẳng bạn chẳng bè
Viễn xứ tha phương không người thân thuộc
Quán rượu là nhà tối ngày say khướt
Đem cho không tất cả cuộc đời
Chẳng biết mình buồn hay mình đang vui
Chẳng biết mình đi hay mình đã đến
Khi hét rất to khi câm như hến
Sài rất sang rồi nhịn đói cả ngày
Xem ân tình một cái vẫy tay
Coi thân thế nụ cười nửa miệng
Đã có một thời tan hoang vốn liếng
Nên hôm nay chẳng dám đèo bòng
Mệt quá rồi ngày tháng long đong
Uống hết chai này rồi ta đi
Uống cạn ly này rồi ta về
Ai đó lên voi
Ai kia xuống chó
Ai tưng bừng tấp nập ngựa xe
Ta cả cười ha hả hi hi
Cuộc thế thăng trầm nay thịnh mai suy
Buổi sáng anh hùng buổi chiều gian tặc
Cờ một thuở đến tay chẳng phất
Tiếc làm chi tài chuyển núi lay trời
Kiếm đã mòn tên gãy cung rơi
Còn mong cuộc phong vân chi nữa
Dẫu hành khất hay đế vương vua chúa
Cũng phù du như một giọt sương tàn
Trần gian này tụ tụ tan tan
Thế sự nọ khi hưng khi phế
Cạn một chén rồi nằm nghe dâu bể
Xong một ly rồi ngẫm nghĩ chuyện đời
Ta còn đây thế là đủ lắm rồi !
Cứ tà tà nhìn thiên hạ khóc cười.
Uống hết chai này rồi ta đi
Uống cạn ly này rồi ta về
Thất thểu sơn cùng
Thênh thang thủy tận
Mặc phố phường kẻ tỉnh người mê .
TRẦN HOAN TRINH
Uống hết chai này rồi ta đi
Uống cạn ly này rồi ta về
Mưa giăng mưa giăng chiều đô thị
Lối ta về mù mịt mưa che
Đã từ lâu chẳng bạn chẳng bè
Viễn xứ tha phương không người thân thuộc
Quán rượu là nhà tối ngày say khướt
Đem cho không tất cả cuộc đời
Chẳng biết mình buồn hay mình đang vui
Chẳng biết mình đi hay mình đã đến
Khi hét rất to khi câm như hến
Sài rất sang rồi nhịn đói cả ngày
Xem ân tình một cái vẫy tay
Coi thân thế nụ cười nửa miệng
Đã có một thời tan hoang vốn liếng
Nên hôm nay chẳng dám đèo bòng
Mệt quá rồi ngày tháng long đong
Uống hết chai này rồi ta đi
Uống cạn ly này rồi ta về
Ai đó lên voi
Ai kia xuống chó
Ai tưng bừng tấp nập ngựa xe
Ta cả cười ha hả hi hi
Cuộc thế thăng trầm nay thịnh mai suy
Buổi sáng anh hùng buổi chiều gian tặc
Cờ một thuở đến tay chẳng phất
Tiếc làm chi tài chuyển núi lay trời
Kiếm đã mòn tên gãy cung rơi
Còn mong cuộc phong vân chi nữa
Dẫu hành khất hay đế vương vua chúa
Cũng phù du như một giọt sương tàn
Trần gian này tụ tụ tan tan
Thế sự nọ khi hưng khi phế
Cạn một chén rồi nằm nghe dâu bể
Xong một ly rồi ngẫm nghĩ chuyện đời
Ta còn đây thế là đủ lắm rồi !
Cứ tà tà nhìn thiên hạ khóc cười.
Uống hết chai này rồi ta đi
Uống cạn ly này rồi ta về
Thất thểu sơn cùng
Thênh thang thủy tận
Mặc phố phường kẻ tỉnh người mê .
TRẦN HOAN TRINH
Từ Hôm rã Ngũ Rời Long Khánh
Mường Giang
Kính tặng: Quý NT. SD18BB (Th.T Đảo, DT Lược, Lến, Hiếu, Dũng, Công) Riêng Th.T Chế, NgPhúc Sông Hương, Mỹ Phan ..cùng Quý Anh Hoa, Phúc, Hậu, Hào.. trong ngày Hội Ngộ 30 năm của SD18 BB tại Nam CA)
Từ hôm rã ngũ rời Long Khánh ,
treo mảnh tàn y lạnh với rừng
chân bước mà hồn trăng níu lại
giữa trời hiu quạnh khóc rưng rưng
Ba chục năm rồi, chưa xóa được
điã mòng bụi đỏ, chốn quê xa
nhũng ngày Xuân Lộc, mờ nhân ảnh
kiếp lính lang thang, chẳng mái nhà
Đâu Núi Ông sầu, trăng vạn kỷ
mây giăng nhuộm trắng cả sơn khê
quân về, quán lẽ thôi cô tịch
khói thuốc, men cay bớt nảo nề
Đâu Định Quán, đồi mưa chớp lũng
thảm buồn trải rợp cảnh chia phân
Bồ Đào còn ngất men tương ngộ
nghe đã phơi thây biệt cõi trần
Đâu bến Mê Pu, đêm đợi giặc
phơi hồn trên đá gọi hư vô
La Ngà sóng vở đôi bờ lạnh
thương quá Di Linh, thuơ mong chờ
Nay đã hết rồi cơn mộng mị
tuổi thơ còn lại những thành sầu
đời thêm gầy võ màu tang tóc
vỡ giấc mơ hoa vó ngựa câu
Tội nghiệp đời trai chưa thỏa chí
sa trường bao kẻ đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
Chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
đêm hát vang lừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa khép giữa hư vô
Dấu cũ còn nguyên ai xóa được ?
bao vùng chiến thuật bóng quân đi
khèn thay tiếng trống, bào làm quách
những nấm mộ hoang, tuổi niên thì
Mai về Long Khánh, đời dâu biển
ta biết tìm đâu bước bạn hiền ?
Định Quán, La Ngà qua Võ Đắc
Cù My héo hắt bóng trăng đơn
Mai về Phan Thiết, về Xuân Lộc
nhặt lại tàn y gửi giữa rừng
phận lính tuổi đời bao khát vọng
tha hương giờ đứng khóc rưng rưng
Xóm Cồn
12-7-05
Mường Giang

Mường Giang
Kính tặng: Quý NT. SD18BB (Th.T Đảo, DT Lược, Lến, Hiếu, Dũng, Công) Riêng Th.T Chế, NgPhúc Sông Hương, Mỹ Phan ..cùng Quý Anh Hoa, Phúc, Hậu, Hào.. trong ngày Hội Ngộ 30 năm của SD18 BB tại Nam CA)
Từ hôm rã ngũ rời Long Khánh ,
treo mảnh tàn y lạnh với rừng
chân bước mà hồn trăng níu lại
giữa trời hiu quạnh khóc rưng rưng
Ba chục năm rồi, chưa xóa được
điã mòng bụi đỏ, chốn quê xa
nhũng ngày Xuân Lộc, mờ nhân ảnh
kiếp lính lang thang, chẳng mái nhà
Đâu Núi Ông sầu, trăng vạn kỷ
mây giăng nhuộm trắng cả sơn khê
quân về, quán lẽ thôi cô tịch
khói thuốc, men cay bớt nảo nề
Đâu Định Quán, đồi mưa chớp lũng
thảm buồn trải rợp cảnh chia phân
Bồ Đào còn ngất men tương ngộ
nghe đã phơi thây biệt cõi trần
Đâu bến Mê Pu, đêm đợi giặc
phơi hồn trên đá gọi hư vô
La Ngà sóng vở đôi bờ lạnh
thương quá Di Linh, thuơ mong chờ
Nay đã hết rồi cơn mộng mị
tuổi thơ còn lại những thành sầu
đời thêm gầy võ màu tang tóc
vỡ giấc mơ hoa vó ngựa câu
Tội nghiệp đời trai chưa thỏa chí
sa trường bao kẻ đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
Chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
đêm hát vang lừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa khép giữa hư vô
Dấu cũ còn nguyên ai xóa được ?
bao vùng chiến thuật bóng quân đi
khèn thay tiếng trống, bào làm quách
những nấm mộ hoang, tuổi niên thì
Mai về Long Khánh, đời dâu biển
ta biết tìm đâu bước bạn hiền ?
Định Quán, La Ngà qua Võ Đắc
Cù My héo hắt bóng trăng đơn
Mai về Phan Thiết, về Xuân Lộc
nhặt lại tàn y gửi giữa rừng
phận lính tuổi đời bao khát vọng
tha hương giờ đứng khóc rưng rưng
Xóm Cồn
12-7-05
Mường Giang


Người Lính VNCH
(Tặng toàn thể Đồng Môn chiến hữu. Riêng tặng người lính N-D-Cận, hoạ sĩ SMC, và chị Linh Đắc)
"ĐÂY LÀ TIẾNG NÓI NƯỚC VIỆT NAM
PHÁT THANH TỪ THỦ ĐÔ SÀIGÒN..."
Cho đến nay, tiếng nói đó vẫn còn
Vang vọng mãi trong trái tim "Người Lính".
Là hình ảnh của một thời ổn định
Là tiền đồn của Thế giới tự do
Của miền Nam nước Việt rất ấm no
Là thành luỹ mang hồn thiêng sông núi.
"Người Lính" trẻ đã một thời dong ruỗi
Đem Tình người, Tình lính trấn biên cương
Vẫn một lòng chung thuỷ với quê hương
Dù oan nghiệt rẽ đời qua trăm hướng.
"Người Lính" chúng tôi tuy không Sinh Vi Tướng
Cũng hiên ngang chấp nhận Tử Vi Thần
Trọn một lòng chỉ vì Nước, vì Dân
Dâng hiến cả đời mình cho Tổ Quốc.
Từ QUảng Trị rét căm mùa gió bấc
Đến Cà Mau mưa, lũ ngập đồng sâu
Vết giầy saut lội bất cứ nơi đâu
Để mang lại Tin Yêu và Lẽ Sống.
"Người Lính" chúng tôi mang trái tim hào phóng
Của tuổi đời đẹp nhất: lúc đôi mươi
Làm nguồn vui nơi tuyến đầu lửa bỏng
Trong gian truân vẫn nồng ấm nụ cười.
Dù đôi lúc có hoang mang, phẫn nộ
Hay chán chường vì dấu ấn chiến tranh
Nhưng nỗi buồn cũng tan biến rất nhanh
Khi đối diện với kẽ thù ngoài mặt trận.
Rồi cũng đến lúc chào thua số phận
Khi tàn vong đành nước mất, nhà tan
Vì thế cùng, lực tận phải sang bang
Thân nhược tiểu, xót thầm, ôi ngang trái!
"Người Lính" chúng tôi không hề chiến bại
Chỉ chào thua định mệnh đã an bài
Bởi cô thế đành nương thân hải ngoại
Chờ bình minh quang phục của ngày mai.
Huy Văn
Dạo:
Bao năm bóng tối đọa đày,
Quê hương ắt sẽ có ngày tự do .
TVL
Đêm Quê Mẹ
Đêm sắc lạnh, ánh đèn dầu run rẩy,
Gượng hơi tàn, lùa bóng gẫy qua song.
Gió tha ma mò mẫm quét đồng không,
Đom đóm đói, nhọc lòng chong mả mới .
Mẹ ngồi đó, sầu vân vê thành sợi,
Trói chặt lòng, chẳng biết gởi về đâu .
Ba mươi năm, nước chối bỏ chân cầu,
Vết thương cũ còn sâu lằn dao cắt .
x
x x
Đêm khốn khổ dài lê thê dằng dặc,
Dân mỏi mòn ngóng mãi mặt trời xưa .
Nỗi đớn đau đã đọng ứa dư thừa,
Ai ngăn được cơn mưa tràn khoé mắt.
Đốm hạnh phúc theo tro tàn lụn tắt,
Chim mất đàn sớm tan tác lìa nhau,
Phút sa cơ, đành ôm hận ngàn sau,
Đứa biển cả, đứa rừng sâu mất xác .
Đêm tăm tối, người lính già phờ phạc,
Nhớ bạn bè thời súng vác ngang vai,
Tháng Tư buồn, cùng nuốt hận buông tay,
Rồi gánh chịu cảnh tù đày áp bức.
Đêm héo hắt, người phế binh thao thức,
Xác thân tàn dù khổ cực hư hao,
Vẫn cắn răng, quắc mắt, ngẩng đầu cao,
Nhìn kẻ địch thét gào khoe chiến thắng.
Người đã chết cũng trăm cay ngàn đắng,
Chốn mộ phần, nơi tĩnh lặng ngàn thu,
Vẫn không sao thoát nanh vuốt kẻ thù,
Nghĩa địa cũ biến thành khu buôn bán.
Sương rát mặt người vợ hiền dày dạn,
Kiếm xác chồng vùi cạn biết nơi đâu,
Mẹ quắt queo như hạt đậu khô dầu,
Cũng lặn lội theo con dâu tìm mộ .
Đêm đói rách, trẻ thơ gầy ở đợ,
Gái tròn trăng bán làm vợ xứ người .
Giới cầm quyền, tiền rủng rỉnh ăn chơi,
Sống xa xỉ, miệng tươi cười hể hả .
Nơi cung cấm, oang oang lời cãi vã,
Suốt đêm dài, bầy dã thú giành ăn.
Phe trên tay, vơ vét túi đầy căng,
Phe thất thế, lăng xăng vờ thức tỉnh.
Xác cáo chết nằm phơi trong lồng kính,
Khỉ từng đàn tuân lệnh lạy vang rân,
Thề noi theo gương bán nước hại dân,
Bỏ quê mẹ trầm luân trong vũng tối .
Già dắt trẻ thi đua trò phản bội,
Móc nối nhau, dụ dỗ gọi người về,
Dùng chiêu bài thăm chốn cũ, thăm quê,
Dưới cờ máu, một lũ hề lơ láo .
Đám "ngoại quốc" da vàng, chân chưa ráo
Nước Biển Đông, đã trâng tráo về làng,
Phận hàng thần, diện áo gấm xênh xang,
Huênh hoang bịp khắp năm làng bảy huyện.
Trên sân khấu, hân hoan đoàn "phước thiện",
Chốn bùn lầy, nghèn nghẹn cổ dân đen.
Già cả, mồ côi, phung hủi, tật nguyền,
Mấy ai thấy đồng tiền nhân danh họ .
Đồng tiền đó, vào tay đoàn cán bộ ,
Ra nước ngoài, tậu xe cộ, villa,
Mua công ty, mở chợ, kéo người qua,
Con "du học", sống xa hoa giàu có .
Chùa, đền thánh... biết xuôi theo chiều gió,
Nguy nga nằm giữa phố nhỏ đìu hiu .
Chúa Phật nhìn nhà rộng, dạ buồn thiu,
Lặng cất bước theo dân nghèo lưu lạc.
Đêm ác độc, cội luân thường xơ xác,
Người đối người bằng lừa gạt đảo điên .
Vì sống còn, vì muốn chút bình yên,
Cả dân tộc phải triền miên nói dối .
Lửa hy vọng vẫn nhọc nhằn le lói,
Mảnh đất buồn mòn mỏi đợi ngày mai .
Nếu chẳng may, ký ức cũ tàn phai,
Ngọn lửa tắt, đêm sẽ dài vô tận.
x
x x
Xiềng xích vướng, bước thời gian chầm chậm,
Chốn ngục tù, người người bận ngủ ngon.
Mẹ một mình chăm bẳm ngó hình con,
Dòng thống khổ xói mòn khe mắt dại .
Đêm đen kịt liệm mảnh hồn tê tái,
Mẹ chấp tay, miệng khấn vái thầm thì,
Xin Trời đừng bắt tội sớm ra đi,
Để còn được gặp con khi trời sáng.
Trần Văn Lương
Cali 10/2005

Bao năm bóng tối đọa đày,
Quê hương ắt sẽ có ngày tự do .
TVL
Đêm Quê Mẹ
Đêm sắc lạnh, ánh đèn dầu run rẩy,
Gượng hơi tàn, lùa bóng gẫy qua song.
Gió tha ma mò mẫm quét đồng không,
Đom đóm đói, nhọc lòng chong mả mới .
Mẹ ngồi đó, sầu vân vê thành sợi,
Trói chặt lòng, chẳng biết gởi về đâu .
Ba mươi năm, nước chối bỏ chân cầu,
Vết thương cũ còn sâu lằn dao cắt .
x
x x
Đêm khốn khổ dài lê thê dằng dặc,
Dân mỏi mòn ngóng mãi mặt trời xưa .
Nỗi đớn đau đã đọng ứa dư thừa,
Ai ngăn được cơn mưa tràn khoé mắt.
Đốm hạnh phúc theo tro tàn lụn tắt,
Chim mất đàn sớm tan tác lìa nhau,
Phút sa cơ, đành ôm hận ngàn sau,
Đứa biển cả, đứa rừng sâu mất xác .
Đêm tăm tối, người lính già phờ phạc,
Nhớ bạn bè thời súng vác ngang vai,
Tháng Tư buồn, cùng nuốt hận buông tay,
Rồi gánh chịu cảnh tù đày áp bức.
Đêm héo hắt, người phế binh thao thức,
Xác thân tàn dù khổ cực hư hao,
Vẫn cắn răng, quắc mắt, ngẩng đầu cao,
Nhìn kẻ địch thét gào khoe chiến thắng.
Người đã chết cũng trăm cay ngàn đắng,
Chốn mộ phần, nơi tĩnh lặng ngàn thu,
Vẫn không sao thoát nanh vuốt kẻ thù,
Nghĩa địa cũ biến thành khu buôn bán.
Sương rát mặt người vợ hiền dày dạn,
Kiếm xác chồng vùi cạn biết nơi đâu,
Mẹ quắt queo như hạt đậu khô dầu,
Cũng lặn lội theo con dâu tìm mộ .
Đêm đói rách, trẻ thơ gầy ở đợ,
Gái tròn trăng bán làm vợ xứ người .
Giới cầm quyền, tiền rủng rỉnh ăn chơi,
Sống xa xỉ, miệng tươi cười hể hả .
Nơi cung cấm, oang oang lời cãi vã,
Suốt đêm dài, bầy dã thú giành ăn.
Phe trên tay, vơ vét túi đầy căng,
Phe thất thế, lăng xăng vờ thức tỉnh.
Xác cáo chết nằm phơi trong lồng kính,
Khỉ từng đàn tuân lệnh lạy vang rân,
Thề noi theo gương bán nước hại dân,
Bỏ quê mẹ trầm luân trong vũng tối .
Già dắt trẻ thi đua trò phản bội,
Móc nối nhau, dụ dỗ gọi người về,
Dùng chiêu bài thăm chốn cũ, thăm quê,
Dưới cờ máu, một lũ hề lơ láo .
Đám "ngoại quốc" da vàng, chân chưa ráo
Nước Biển Đông, đã trâng tráo về làng,
Phận hàng thần, diện áo gấm xênh xang,
Huênh hoang bịp khắp năm làng bảy huyện.
Trên sân khấu, hân hoan đoàn "phước thiện",
Chốn bùn lầy, nghèn nghẹn cổ dân đen.
Già cả, mồ côi, phung hủi, tật nguyền,
Mấy ai thấy đồng tiền nhân danh họ .
Đồng tiền đó, vào tay đoàn cán bộ ,
Ra nước ngoài, tậu xe cộ, villa,
Mua công ty, mở chợ, kéo người qua,
Con "du học", sống xa hoa giàu có .
Chùa, đền thánh... biết xuôi theo chiều gió,
Nguy nga nằm giữa phố nhỏ đìu hiu .
Chúa Phật nhìn nhà rộng, dạ buồn thiu,
Lặng cất bước theo dân nghèo lưu lạc.
Đêm ác độc, cội luân thường xơ xác,
Người đối người bằng lừa gạt đảo điên .
Vì sống còn, vì muốn chút bình yên,
Cả dân tộc phải triền miên nói dối .
Lửa hy vọng vẫn nhọc nhằn le lói,
Mảnh đất buồn mòn mỏi đợi ngày mai .
Nếu chẳng may, ký ức cũ tàn phai,
Ngọn lửa tắt, đêm sẽ dài vô tận.
x
x x
Xiềng xích vướng, bước thời gian chầm chậm,
Chốn ngục tù, người người bận ngủ ngon.
Mẹ một mình chăm bẳm ngó hình con,
Dòng thống khổ xói mòn khe mắt dại .
Đêm đen kịt liệm mảnh hồn tê tái,
Mẹ chấp tay, miệng khấn vái thầm thì,
Xin Trời đừng bắt tội sớm ra đi,
Để còn được gặp con khi trời sáng.
Trần Văn Lương
Cali 10/2005

-
Guest
THƯ NGỎ
Kêu gọi giúp đỡ tài chánh để dựng tại Honolulu
BIA ĐÁ TƯỞNG NIỆM VÀ VINH DANH CHIẾN SĨ
HOA KỲ, ĐỒNG MINH VÀ QUÂN CÁN CHÍNH VIỆT NAM CÔNG HOÀ
đã anh dũng bỏ mình trong công cuộc chiến đấu bảo vệ tự do
cho nhân dân Việt nam chống lại sự xâm lăng của Đế Quốc Cộng Sản.
Thưa qúi đồng hương:
Một Ủy Ban Việt Mỹ đã được thành lập với nhiệm vụ lập và đặt một Bia Đá Tưởng Niệm và Vinh Danh các chiến sĩ VNCH và Đồng Minh (Bia Đá Vinh Danh) đã hy sinh để bảo vệ Tư Do cho dân tộc Việtnam tại Nghĩa Trang Quốc Gia Thái Bình Dương (National Memorial Cemetery of the Pacific: NMCP). Ủy Ban này được gọi tắt là Ủy Ban Vinh Danh.
(Chú thích: Trong Bài viết lúc đầu ngày 16 tháng 11,05, tôi dùng chữ Đài, có một nhà văn đề nghị dùng chữ Hán để diễn tả tảng đá ấy thay vì dùng chữ Đài, và trong phiên họp ngày
Chủ Nhật 8 tháng 1,vừa qua, Ủy Ban chấp thuận dùng chữ Việt là Bia Đá để chỉ tảng đá ấy)
1-Vài hàng về Nghĩa Trang Quốc Gia Thái Bình Dương
Theo tài liệu của Hawaii Visitor Information Center, NMCP là một thắng cảnh nổi tiếng tại Honolulu, Hawaii, một địa điểm mà đến nay có khoảng 5 hay 6 triệu du khách đến thăm. NMCP nằm trên miệng núi lửa rộng lớn có diện tích 116 mẫu đất. NMCP giống hình dạng của vành miệng một cái thố nên NMCP có tên là Punchbowl Cemetery. Đây cũng là nơi mà người bản xứ Hawaiian đã làm lễ tế thần của các phạm nhân hồi thời xa xưa, do đó nơi này còn có tên là Đồi Hi Sinh (Hill of Sacrifice).
Từ cổng NMCP, có một con đường rộng, hai chiều, dài chạy thẳng đến khán đài và một sân rộng nằm trên một mặt phẳng lộ thiên, có vị trí cao hơn so với đường cái, lát si măng trộn với đá. Ở nơi đây, người ta tổ chức các buổi lễ hằng năm như Lễ Cựu Chiến Binh, Lễ Chiến Sĩ Trận Vong, Lễ Thắp Nến Tưởng Niệm cho Việtnam Veterans. Cũng có các buổi đón tiếp Tổng Thống Hoa Kỳ hoặc Nhật Hoàng .... và rất nhiều sinh hoạt khác được tổ chức rất long trọng. Sân này có thể chứa được đến 2000 quan khách. Ngay tại chính điện là một bức tượng một người đàn bà, đứng trên mũi của một hàng không mẫu hạm Columbia, bằng đá trắng, cao 30 feet. Dưới chân bức tượng có ghi lời nói của TT Lincoln vinh danh và chia sớt nỗi thương cảm về một bà mẹ tên là Bixby. Bà này có 5 người con trai, tất cả đều hy sinh trong cuộc nội chiến HK cách đây mấy trăm năm. Ở phía sau cùng, trên một mặt phẳng có độ cao hơn, trong số các kiến trúc, về phía tay phải, có một tòa nhà cao, xây theo hình cánh cung, dài giống như một hành lang, phía mặt tiền để trống, có nhiều cột; phía sau lưng là một bức tường dài, có từng ô, trên đó có vẽ các bản đồ màu. Có bản đồ VN với chữ ghi Sài Gòn. Trên các bản đồ có chú thích chi tiết về các trận đánh xảy ra trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, kể từ trận Trân Châu Cảng cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Một con đường rộng dẫn vào khán đài là các mộ phần các tử sĩ, sắp xếp có hàng lối nằm ở hai bên. Có hơn 33 ngàn mộ phần. Có hai hàng cây với bóng mát chạy dọc hai bên đường. Tất cả mộ bia có diện tích theo một tiêu chuẩn chung và nầm sát mặt đất. Phía bên phải, tại cổng vào là văn phòng hành chánh, có phương tiện cho thân nhân tìm mộ của ai được chôn cất tại đây, và sổ lưu bút. Phía trái nằm trên bờ của miệng núi lửa, có một con đường rộng cho xe chạy, có hàng cây hai bên. Đường này được đặt tên là Memorial Path dẫn tới một cao địa là một đỉnh đồi, ở nơi đây thổ dân làm lễ tế thần linh. Khu này được biến cải thành một Vista Point, xây cất rất rộng rãi, lộ thiên. Xe du khách đi theo Memorial Path đến Vista Point. Từ đây, du khách có thể nhìn thấy thành phố Honolulu với ngọn núi Diamond Head về phía trái và Biển Thái Bình Dương ở phân độ 300 (gần vòng tròn 360 độ).
Hai bên Memorial Path là khu vực dành riêng cho các Bia Đá tưởng niệm. Đã có khoảng 50 Bia Đá Kỷ Niệm được đặt nằm dọc theo con đường này. Tôi nhớ là Đại Hàn là một quốc gia có đặt một Bia Đá vinh danh các chiến sĩ bỏ mình trong cuộc chiến tranh chống Bắc Hàn; cũng có một Bia Kỷ Niệm của Không Quân Hoa Kỳ, vinh danh những người đã nằm xuống trong chiến tranh Việt Nam. Bia Đá Vinh Danh của Việt Nam Cộng Hoà sẽ đặt cạnh Bia Đá của không Quân Hoa Kỳ. NMCP là một nơi thắng cảnh nổi tiếng của Honolulu. Trong sổ lưu niệm, có một số Tổng thống Hoa Kỳ ký tên.
2. Bia Đá Vinh Danh (Memorial Stone).
Vị trí Bia Đá Vinh Danh: Bia Đá Vinh Danh sẽ đặt cùng hàng với các Bia Đá của các quốc gia hay các tổ chức khác, nằm sát bên cạnh Memorial Path dẫn tới Vista Point. Ủy Ban Bia Đá Vinh Danh đã đề nghị lấy một vị trí sát cạnh Bia Đá của Không Quân Hoa Kỳ nằm trên Khu Vực chạy dọc theo Memorial Path nói ở trên. Để nghị ấy đã được chấp thuận.
Bia Đá Vinh Danh: Đó là một tảng Đá nặng khoảng 2,000 lbs, lấy từ đỉnh núi Kapa’a của khu vực Kailua nằm trong đảo Oahu. Đó là loại đá ‘pyke stone’ nằm sâu 300 feet dưới đất, không bao giờ hư hỏng. Tảng đá đó sẽ được đục, đẽo, gọt, dũa theo thành Bia Đá mà kích thước của nó được Ban Giám Đốc NMCP qui định chung cho tất cả bia đá là: 33’’x20’’x24’’x18’’. Trên mặt, sẽ gắn một Bảng Đồng 12’’x24’’, với hàng chữ (bằng tiếng Anh) “Nhớ Ơn và Vinh Danh các chiến sĩ VNCH và Hoa Kỳ và Đồng Minh đã chiến đấu để bảo vệ Tự Do cho Nhân Dân Việt nam chống lại Cộng sản Xâm lăng”. Nằm dưới hàng chữ đó, có hình chiến binh Mỹ và VNCH ở một bên, và bên kia là Cờ Mỹ và VNCH. Bình thường thì Ban Giám Đốc NMCP chỉ cho phép đúc hàng chữ trên bảng Đồng đó mà thôi.
3. Ủy Ban Dựng Bia Đá Vinh Danh của VNCH gồm:
- LS Đỗ Doãn Quế, Chủ Tịch
- Ngọc Nhung, Giám Đốc VNTV, Phó Chủ Tị̣ch Điều hành
- Cựu Đại tá TQLC ,Gene Castagnetti: Đối Ngoại
- GS Mike Castell, ĐH Hawaii, Cựu Sĩ Quan KQ :Tài Chánh
- Thiếu tướng Lý Tòng Bá, Ban Vận Động
- Chị Hồ Tuyết Mai: Ban Vận Động
- GS Trần công Thiện, Truyền Thông
- Ông Nguyễn trung Cao: Kế Họach
- GS Hà học Lễ,
- Họa sĩ Đàm Lê: Nghệ Thuật
- Gia Đình VNTV: Nhân Lực
- Gs Nguyễn văn Canh: Cố Vấn
4. Nhu cầu để thục hiện Dự Án này:
Ủy Ban cần một phí khoản chừng trên dưới $15,000 để chi phí các công tác sau. Đây chỉ là ước tính, vì tôi không có đũ dữ kiện.
a) Chuyên chở khối đá này từ trên đỉnh núi Kapa’a xuống,
đến một công ti điêu khắc ở Honolulu.
b) Nhà điêu khắc sẽ đục, đẽo, mài dũa theo kích thước và mẫu
đưa cho họ, phù hợp với qui định của Ban Giám Đốc NMCP.
c) Cho đúc một Bản Đồng trên đó có Cờ VNCH và viết chữ và gắn vào Đài.
d) Chuyên chở Bia Đá đến vị trị mà Ban Giám Đốc NMCP chấp thuận.
e) Đặt Bia Dá vào vị trí
f) Lễ Khánh Thành dư trù vào ngày 30 Tháng Tư, năm 2006.......
Ủy Ban đã thương thảo với chủ nhân Công ti có Khối Đá và được tặng, và Ủy Ban không phải trả tiền. Ủy Ban đã xin được giấy phép của NMCP cho phép dựng Bia Đá
Cộng Đồng người tị nạn Cộng sản Việt nam tại Hoa Kỳ rất hãnh diện có được một Bia Đá Kỷ Niệm và Vinh Danh các chiến sĩ VNCH cũng như Hoa Kỳ và Đồng Minh đã bỏ mình chiến đấu bảo vệ Tự Do cho dân tộc Việt nam, chống lại công cuộc xâm lăng của Đế quốc Cộng Sản. Bia Đá đó được dựng lên với danh nghĩa Việt nam Cộng Hoà cùng với một số quốc gia hay tổ chức khác tại một nơi nổi tiếng này, không phải với danh nghĩa ngừơi tị nạn Cộng sản.
x
x x
Ủy Ban kêu gọi qúi đồng hương hoặc với tư cách cá nhân đóng góp hay các Hội Đòan hay các Cộng Đồng tại các địa phương tổ chức văn nghệ gấy quĩ …để giúp cho quí anh chị Việt Mỹ ở Honolulu có tài chánh để thực hiện dự án có ý nghĩa này, vì họ không có khả năng làm việc ấy. Hiện nay đã có hai vị hướng ứng, yểm trợ Dự án này. Đó là Luật sư Đỗ doãn Quế ở San Jose : $1,000 và Bác sĩ Nguyễn huy Trụ, ở Vancouver, BC, Canada: $500.
Mọi đóng góp xin gửi đến địa chỉ dưới đây và Ngân phiếu xin đề:
VNTV
1314 Piikoi St # 605
Honolulu, HI 96814
Memo: Republic of VN’s Memorial Stone.
Kính thư, GS Nguyễn văn Canh,
Ngày 10 tháng 1, 06
Trân trọng yêu cầu quí cơ quan truyển thông phổ biến giúpThư Ngỏ này.
Kêu gọi giúp đỡ tài chánh để dựng tại Honolulu
BIA ĐÁ TƯỞNG NIỆM VÀ VINH DANH CHIẾN SĨ
HOA KỲ, ĐỒNG MINH VÀ QUÂN CÁN CHÍNH VIỆT NAM CÔNG HOÀ
đã anh dũng bỏ mình trong công cuộc chiến đấu bảo vệ tự do
cho nhân dân Việt nam chống lại sự xâm lăng của Đế Quốc Cộng Sản.
Thưa qúi đồng hương:
Một Ủy Ban Việt Mỹ đã được thành lập với nhiệm vụ lập và đặt một Bia Đá Tưởng Niệm và Vinh Danh các chiến sĩ VNCH và Đồng Minh (Bia Đá Vinh Danh) đã hy sinh để bảo vệ Tư Do cho dân tộc Việtnam tại Nghĩa Trang Quốc Gia Thái Bình Dương (National Memorial Cemetery of the Pacific: NMCP). Ủy Ban này được gọi tắt là Ủy Ban Vinh Danh.
(Chú thích: Trong Bài viết lúc đầu ngày 16 tháng 11,05, tôi dùng chữ Đài, có một nhà văn đề nghị dùng chữ Hán để diễn tả tảng đá ấy thay vì dùng chữ Đài, và trong phiên họp ngày
Chủ Nhật 8 tháng 1,vừa qua, Ủy Ban chấp thuận dùng chữ Việt là Bia Đá để chỉ tảng đá ấy)
1-Vài hàng về Nghĩa Trang Quốc Gia Thái Bình Dương
Theo tài liệu của Hawaii Visitor Information Center, NMCP là một thắng cảnh nổi tiếng tại Honolulu, Hawaii, một địa điểm mà đến nay có khoảng 5 hay 6 triệu du khách đến thăm. NMCP nằm trên miệng núi lửa rộng lớn có diện tích 116 mẫu đất. NMCP giống hình dạng của vành miệng một cái thố nên NMCP có tên là Punchbowl Cemetery. Đây cũng là nơi mà người bản xứ Hawaiian đã làm lễ tế thần của các phạm nhân hồi thời xa xưa, do đó nơi này còn có tên là Đồi Hi Sinh (Hill of Sacrifice).
Từ cổng NMCP, có một con đường rộng, hai chiều, dài chạy thẳng đến khán đài và một sân rộng nằm trên một mặt phẳng lộ thiên, có vị trí cao hơn so với đường cái, lát si măng trộn với đá. Ở nơi đây, người ta tổ chức các buổi lễ hằng năm như Lễ Cựu Chiến Binh, Lễ Chiến Sĩ Trận Vong, Lễ Thắp Nến Tưởng Niệm cho Việtnam Veterans. Cũng có các buổi đón tiếp Tổng Thống Hoa Kỳ hoặc Nhật Hoàng .... và rất nhiều sinh hoạt khác được tổ chức rất long trọng. Sân này có thể chứa được đến 2000 quan khách. Ngay tại chính điện là một bức tượng một người đàn bà, đứng trên mũi của một hàng không mẫu hạm Columbia, bằng đá trắng, cao 30 feet. Dưới chân bức tượng có ghi lời nói của TT Lincoln vinh danh và chia sớt nỗi thương cảm về một bà mẹ tên là Bixby. Bà này có 5 người con trai, tất cả đều hy sinh trong cuộc nội chiến HK cách đây mấy trăm năm. Ở phía sau cùng, trên một mặt phẳng có độ cao hơn, trong số các kiến trúc, về phía tay phải, có một tòa nhà cao, xây theo hình cánh cung, dài giống như một hành lang, phía mặt tiền để trống, có nhiều cột; phía sau lưng là một bức tường dài, có từng ô, trên đó có vẽ các bản đồ màu. Có bản đồ VN với chữ ghi Sài Gòn. Trên các bản đồ có chú thích chi tiết về các trận đánh xảy ra trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, kể từ trận Trân Châu Cảng cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Một con đường rộng dẫn vào khán đài là các mộ phần các tử sĩ, sắp xếp có hàng lối nằm ở hai bên. Có hơn 33 ngàn mộ phần. Có hai hàng cây với bóng mát chạy dọc hai bên đường. Tất cả mộ bia có diện tích theo một tiêu chuẩn chung và nầm sát mặt đất. Phía bên phải, tại cổng vào là văn phòng hành chánh, có phương tiện cho thân nhân tìm mộ của ai được chôn cất tại đây, và sổ lưu bút. Phía trái nằm trên bờ của miệng núi lửa, có một con đường rộng cho xe chạy, có hàng cây hai bên. Đường này được đặt tên là Memorial Path dẫn tới một cao địa là một đỉnh đồi, ở nơi đây thổ dân làm lễ tế thần linh. Khu này được biến cải thành một Vista Point, xây cất rất rộng rãi, lộ thiên. Xe du khách đi theo Memorial Path đến Vista Point. Từ đây, du khách có thể nhìn thấy thành phố Honolulu với ngọn núi Diamond Head về phía trái và Biển Thái Bình Dương ở phân độ 300 (gần vòng tròn 360 độ).
Hai bên Memorial Path là khu vực dành riêng cho các Bia Đá tưởng niệm. Đã có khoảng 50 Bia Đá Kỷ Niệm được đặt nằm dọc theo con đường này. Tôi nhớ là Đại Hàn là một quốc gia có đặt một Bia Đá vinh danh các chiến sĩ bỏ mình trong cuộc chiến tranh chống Bắc Hàn; cũng có một Bia Kỷ Niệm của Không Quân Hoa Kỳ, vinh danh những người đã nằm xuống trong chiến tranh Việt Nam. Bia Đá Vinh Danh của Việt Nam Cộng Hoà sẽ đặt cạnh Bia Đá của không Quân Hoa Kỳ. NMCP là một nơi thắng cảnh nổi tiếng của Honolulu. Trong sổ lưu niệm, có một số Tổng thống Hoa Kỳ ký tên.
2. Bia Đá Vinh Danh (Memorial Stone).
Vị trí Bia Đá Vinh Danh: Bia Đá Vinh Danh sẽ đặt cùng hàng với các Bia Đá của các quốc gia hay các tổ chức khác, nằm sát bên cạnh Memorial Path dẫn tới Vista Point. Ủy Ban Bia Đá Vinh Danh đã đề nghị lấy một vị trí sát cạnh Bia Đá của Không Quân Hoa Kỳ nằm trên Khu Vực chạy dọc theo Memorial Path nói ở trên. Để nghị ấy đã được chấp thuận.
Bia Đá Vinh Danh: Đó là một tảng Đá nặng khoảng 2,000 lbs, lấy từ đỉnh núi Kapa’a của khu vực Kailua nằm trong đảo Oahu. Đó là loại đá ‘pyke stone’ nằm sâu 300 feet dưới đất, không bao giờ hư hỏng. Tảng đá đó sẽ được đục, đẽo, gọt, dũa theo thành Bia Đá mà kích thước của nó được Ban Giám Đốc NMCP qui định chung cho tất cả bia đá là: 33’’x20’’x24’’x18’’. Trên mặt, sẽ gắn một Bảng Đồng 12’’x24’’, với hàng chữ (bằng tiếng Anh) “Nhớ Ơn và Vinh Danh các chiến sĩ VNCH và Hoa Kỳ và Đồng Minh đã chiến đấu để bảo vệ Tự Do cho Nhân Dân Việt nam chống lại Cộng sản Xâm lăng”. Nằm dưới hàng chữ đó, có hình chiến binh Mỹ và VNCH ở một bên, và bên kia là Cờ Mỹ và VNCH. Bình thường thì Ban Giám Đốc NMCP chỉ cho phép đúc hàng chữ trên bảng Đồng đó mà thôi.
3. Ủy Ban Dựng Bia Đá Vinh Danh của VNCH gồm:
- LS Đỗ Doãn Quế, Chủ Tịch
- Ngọc Nhung, Giám Đốc VNTV, Phó Chủ Tị̣ch Điều hành
- Cựu Đại tá TQLC ,Gene Castagnetti: Đối Ngoại
- GS Mike Castell, ĐH Hawaii, Cựu Sĩ Quan KQ :Tài Chánh
- Thiếu tướng Lý Tòng Bá, Ban Vận Động
- Chị Hồ Tuyết Mai: Ban Vận Động
- GS Trần công Thiện, Truyền Thông
- Ông Nguyễn trung Cao: Kế Họach
- GS Hà học Lễ,
- Họa sĩ Đàm Lê: Nghệ Thuật
- Gia Đình VNTV: Nhân Lực
- Gs Nguyễn văn Canh: Cố Vấn
4. Nhu cầu để thục hiện Dự Án này:
Ủy Ban cần một phí khoản chừng trên dưới $15,000 để chi phí các công tác sau. Đây chỉ là ước tính, vì tôi không có đũ dữ kiện.
a) Chuyên chở khối đá này từ trên đỉnh núi Kapa’a xuống,
đến một công ti điêu khắc ở Honolulu.
b) Nhà điêu khắc sẽ đục, đẽo, mài dũa theo kích thước và mẫu
đưa cho họ, phù hợp với qui định của Ban Giám Đốc NMCP.
c) Cho đúc một Bản Đồng trên đó có Cờ VNCH và viết chữ và gắn vào Đài.
d) Chuyên chở Bia Đá đến vị trị mà Ban Giám Đốc NMCP chấp thuận.
e) Đặt Bia Dá vào vị trí
f) Lễ Khánh Thành dư trù vào ngày 30 Tháng Tư, năm 2006.......
Ủy Ban đã thương thảo với chủ nhân Công ti có Khối Đá và được tặng, và Ủy Ban không phải trả tiền. Ủy Ban đã xin được giấy phép của NMCP cho phép dựng Bia Đá
Cộng Đồng người tị nạn Cộng sản Việt nam tại Hoa Kỳ rất hãnh diện có được một Bia Đá Kỷ Niệm và Vinh Danh các chiến sĩ VNCH cũng như Hoa Kỳ và Đồng Minh đã bỏ mình chiến đấu bảo vệ Tự Do cho dân tộc Việt nam, chống lại công cuộc xâm lăng của Đế quốc Cộng Sản. Bia Đá đó được dựng lên với danh nghĩa Việt nam Cộng Hoà cùng với một số quốc gia hay tổ chức khác tại một nơi nổi tiếng này, không phải với danh nghĩa ngừơi tị nạn Cộng sản.
x
x x
Ủy Ban kêu gọi qúi đồng hương hoặc với tư cách cá nhân đóng góp hay các Hội Đòan hay các Cộng Đồng tại các địa phương tổ chức văn nghệ gấy quĩ …để giúp cho quí anh chị Việt Mỹ ở Honolulu có tài chánh để thực hiện dự án có ý nghĩa này, vì họ không có khả năng làm việc ấy. Hiện nay đã có hai vị hướng ứng, yểm trợ Dự án này. Đó là Luật sư Đỗ doãn Quế ở San Jose : $1,000 và Bác sĩ Nguyễn huy Trụ, ở Vancouver, BC, Canada: $500.
Mọi đóng góp xin gửi đến địa chỉ dưới đây và Ngân phiếu xin đề:
VNTV
1314 Piikoi St # 605
Honolulu, HI 96814
Memo: Republic of VN’s Memorial Stone.
Kính thư, GS Nguyễn văn Canh,
Ngày 10 tháng 1, 06
Trân trọng yêu cầu quí cơ quan truyển thông phổ biến giúpThư Ngỏ này.
Những Bài Thơ 32 năm tưởng-niệm Hoàng Sa
Rồng Tiên Ơi
Xin Giữ Vẹn Sơn Hà
Từ Nam Quan, ta ngàn năm ngó lui
Suối Phi Khanh mãi lệ tuôn ngậm ngùi
Hận vong nô hơn ngàn năm Bắc thuộc
Rồng Tiên ơi đau nỗi đau biển trời
Từ Đồng Đăng ta nhớ nàng Tô Thị
Bồng con thơ người hóa đá vọng phu
Chùa Tam Thanh gióng lời chuông thanh nghị
Buông hồi kinh hoài niệm vào thiên thu
Từ Hoàng Sa ta nhớ thù Tô Định
Bắt dân ta từng đáy biển mò châu
Giết dân ta bằng hả hê thú tính
Như giặc Hồ từng mổ ruột bêu đầu
Từ Mê Linh ta vọng nhớ Vua Bà
Đánh qua Tầu ôi dũng tướng quần thoa
Chiếm hiên ngang sáu mươi lăm thành lũy
Động Đình Hồ sóng máu còn dư ba
Lý Thường Kiệt từng phá Tống ngàn xưa
Chiếm Khâm, Liêm** ngài viết trang kỳ thư
Như sấm ký mang một lời cảnh báo
"Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư"
Hoàng Liên Sơn biên thùy ta một cõi
Từng bao lần ta đại phá quân Nguyên
Hưng Đạo Vương, đức Quang Trung, Lê Lợi
Khiến giặc Tầu từng khiếp vía nhiều phen
Ải Chi Lăng, đang chìm vào đớn nhục
Lũ giặc Hồ ngầm cắt đất cầu an
Rồi Hoàng Sa sắp thành thềm hải ngục,
Đồng bào ta, rồi mạt kiếp cơ hàn
Đòi Nam Quan vì xương máu ông cha
Vì cháu con, quyết giữ lấy Hoàng sa
Vì tương lai vì hồn thiêng sông núi
Rồng Tiên ơi xin giữ vẹn sơn hà.
hahuyenchi
*Phía Nam sông Dương Tử và Động Đình Hồ vẫn còn miếu thờ Vua Bà
**Lý Thường Kiệt chiếm Khâm Châu, Liêm Châu đại sát 8 vạn giặc Tầu

---------------------------
Lê Khắc Anh Hào
Hoàng Sa ơi! Hoàng Sa ơi!
Cũng ngày này năm xưa, đầu xuân 1974, hải quân Trung cộng đã sẵn sàng trực chỉ Hoàng Sa. Ngày này năm nay, 1/1/2001, 26 năm sau, từ một góc trời lưu vong, tôi xin được gửi đến quí đồng bào Việt Nam toàn thế giới nỗi đau “Hoàng Sa ơi! Hoàng Sa!” để cùng nhau chia sẻ và khắc ghi những bất hạnh về hai mùa xuân đen tối liên tiếp của dân tộc. Mùa xuân 1974, trận chiến Hoàng Sa nổ ra, và dù Hải Quân VNCH đã chiến đấu, đã đổ máu oai hùng để giữ phần hải đảo của Tổ Quốc, chúng ta cũng đã mất Hoàng Sa vào 19/01/1974 vào tay Bắc phương. Và mùa xuân 1975, mất Sài Gòn và miền Nam...
( Trích lại từ NSVN Online)
Hoàng Sa ơi! Đảo Hoàng Sa ơi!
Một mảnh giang sơn đã mất rồi
Ta như mất cả phần da thịt
Tổ Quốc còn đau một góc trời.
Vẫn nhớ Hoàng Sa! Ôi Hoàng Sa!
Trận chiến năm xưa máu lệ nhoà?
Sao không giăng trận cầu phao cũ
Chôn xác quân thù, trận Đống Đa!
Hoàng Sa! Hoàng Sa! Ta vẫn đau
Biển như còn đỏ máu loang mầu
Máu ai thấm giữa lòng hải đảo
Xương trắng ai chìm giữa biển sâu?
Hoàng Sa! Hoàng Sa! Đã mấy trăng?
Sao không là sóng dậy Bạch Đằng!
Sao không báu kiếm, lời Sát Đát!
Sao sóng muôn trùng không thét vang?
Một mảnh cơ đồ giữa biển khơi
Ta con chim lạc cuối chân trời
Còn mơ Vạn Kiếp chôn thây giặc
Hoàng Sa đâu rồi, Hoàng Sa ơi!
Hoàng Sa dưới bóng cờ Bắc phương
Giang sơn oan uất giữa bạo cường
Sóng nước ầm vang lời tủi hận
Hào kiệt đâu rồi? Hay khói sương!!
Huyền sử oai hùng, hay bãi hoang?
Hoàng Sa từng lớp sóng oai hùng
Hồn oan tử sĩ Nam quân vẫn
Theo dấu quân thù, theo dấu trăng!
Tổ Quốc còn đau mỗi mùa xuân
Âm ba hải chiến dậy sóng hờn
Xung phong! Hải kích bên bờ nước
Từng rặng san hô loang máu vương.
Hoàng Sa! Hoàng Sa! Mảnh trăng rơi
Một mảnh giang sơn, một mảnh đời
Một mái tóc xanh sầu điểm bạc
Tổ Quốc kêu gào! Hoàng Sa ơi!
Ghi chú:
- Tôi viết bài “ Hoàng Sa ơi! Hoàng Sa ơi!” để thế hệ đàn em tôi nhớ là Bắc phương đã đoạt của dân tộc ta một hải đảo quan trọng là Hoàng Sa với sự đồng loã lặng thinh của cộng sản Việt Nam, và của ván cờ Mỹ – Trung cộng. Nhớ bài thơ là nhớ một mối hận Hoàng Sa, một mảnh giang sơn của tổ tiên cần thu hồi lại...
-------------------------------------
SẼ CÓ MỘT NGÀY
(Kính dâng hương hồn các chiến sĩ Hải Quân VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa)
Việt Nam xưa, Ðức Thánh Trần
Bạch Ðằng cưỡi ngọn sóng thần tuốt gươm
Giặc Mông Cổ tìm đường tháo chạy
Tướng như quân hết thảy rụng rời
Tàn binh cọc nhọn thây phơi
Một phen thủy chiến muôn đời sử xanh (1287)
Mộng xâm lấn tranh giành bờ cõi
Vẫn âm mưu dẫn lối quân Tàu
Sáu trăm tám bảy năm sau (1974)
Hoàng Sa máu lại đỏ ngầu biển Ðông
Trận hải chiến hào hùng, khốc liệt
Với kẻ thù truyền kiếp Trung Hoa
Đây, trang chiến sử Hoàng Sa
Chỉ huy hải đội, họ Hà điều binh2
Bốn chiến hạm hải trình tham chiến3
Những người con của biển kiên cường
Trong vòng lửa đạn đau thương
Lưu danh muôn thuở tấm gương anh hùng
Và chiến đấu vô cùng dũng liệt
Dù địch quân ứng chiến đông hơn
Ðạn bay súng nổ từng cơn
Bốn tàu Trung Cộng chiến trường lâm nguy
Cái bị pháo chìm đi mất dấu
Cái nước theo phía hậu tuôn vào
Ðịch quân hoảng hốt xôn xao
Và quân ta cũng bước vào khó khăn
Gương chiến đấu Bạch Ðằng bỗng hiện
Sáng như sao trên phiến linh hồn
Biển xanh đỏ máu oan hờn
Chiến hạm Nhật Tảo trong cơn nguy nàn4
Ðã anh dũng chận làn sóng địch
Ðể đoàn quân rời đích an toàn
Lòng tàu nước ngập, máu loang
Nhưng lòng thủy thủ hiên ngang trên tàu
Ngay cả lúc chìm sâu đáy biển
Vẫn một niềm tận hiến, hy sinh
Trong lòng biển mẹ mông mênh
Trái tim bất khuất đau tình quê hương!
Sẽ một ngày trùng dương sóng nổi
Về Hoàng Sa rửa mối hận này
Chủ quyền Hoàng đảo trong tay
Xanh reo ngọn sóng, vàng bay sắc cờ
Sẽ một ngày cõi bờ dân Việt
Thoát qua hồi nạn kiếp đau thương
Có anh đứng giữa đại dương
Hát mừng bốn cõi quê hương thanh bình
(Thơ Ngô Minh Hằng)
------------------------------------
Giọt Nước Mắt Cho Hoàng Sa Và Trường Sa
(để nhớ ngày 25/12/2000 CS.Trần Ðức Lương ký hiệp ước bán nước cho Trung Cộng)
Hỡi Trường Sa! Hỡi Hoàng Sa!
Giặc đem bán đất nước ta cho người!!!
Hoàng Sa ơi, Trường Sa ơi!
Máu hồng, xương trắng bao đời dựng xây
Ông cha ta để lại đây
Cho ta, con cháu tiếp tay vun bồi
Hôm nay, Trời hỡi là Trời ...
Giặc đem đất nước dâng người cầu vinh!
Ðồng, Lương ký với Bắc Kinh
Dâng hai quần đảo, chia tình núi sông!
Hỡi ai con Lạc, cháu Hồng
Nghe tin, lòng có thấy lòng đớn đau?
Hồn kia có ngút lửa sầu ?
Tim kia có khắc hận sâu, sơn hà?
Hỡi Trường Sa! Hỡi Hoàng Sa!
Giặc đem bán đất nước ta mất rồi!
Hoàng Sa ơi, Trường Sa ơi!
Khóc nhau mắt lệ ngàn đời còn cay!
Hỡi ai nghe tiếng khóc này
Xin thương đất nước góp tay đòi về!
Ngô Minh Hằng
--------------------------------------------

Hào Quang Cho Ngụy Văn Thà
Tác Giả: Ngọc Giao Nguyễn Ðình Nhạc
Anh Thà, Ngụy Văn Thà!
Ðược hung tin như tóe lửa tại Hoàng Sa,
Tàu địch đắm mà tàu anh cũng đắm.
Trong bão lửa, máu biển khơi anh đỏ thắm.
Chết theo tàu, ôi Hạm trưởng, ôi anh ơi.
Ðược tin anh như xé ruột nói không lời.
Khi tỉnh dậy mới chắc anh theo Thánh Tổ!
Em quá khổ, lụy tràn nhòe áo sổ,
Thi hài đâu để nước mắt em lau?
Thi hài đâu để con trẻ lạy lần sau?
Ðể nghe ngóng, anh nói gì phải trả?
Ðể chiêm bái, hận thù em quyết trả,
Diệt Tàu ô, Tàu cộng mới hả gan!
Rượt đuổi về như chó chạy đến Hải Nam,
Cho khiếp đảm đảo Hoàng Sa dũng cảm!
Em quả phụ: Ngụy văn Thà; thê thảm,
Tuổi còn xanh mới được số ba mươi,
Mới cùng nhau, tay nắm chửa buông lơi,
Mới hỏi vặn, nụ ai cười trên áo trắng?
Mới cù lét, cõng con bò đi tắm,
Mới kinh nghi, nhẹ hỏi: kính thưa anh,
Sao đăm đăm, nét giận phá tan thành?
Anh không nói, bây giờ anh mới nói!
Thảo nào lúc trước khi vào một cõi,
Tráng sĩ khứ hề, bất phục hoàn!
Treo gươm đại sảnh, nét hân hoan,
Anh đi hải chiến không cần kiếm,
Bắn nát Tàu ô giữ đảo Hoàng.
Giờ đây đáy biển đảo Hoàng Sa,
Em xuống cùng anh, sống một nhà,
Thủy lộ xem chừng em biết lắm,
Em đem ba trẻ để gần cha!
Anh Thà, Anh hỡi, Ngụy văn Thà,
Tỉnh dậy em buồn nhỏ lệ sa,
Tượng đá là em, tay dắt trẻ,
Vọng phu em gọi, bớ Hoàng Sa!
Anh Thà, Anh hỡi, Ngụy Văn Thà,
Ðáy biển trồi lên, trẻ gặp cha,
"Quả phụ" em quăng tròng biển Bắc
"Vọng phu" em thả, giữ Hoàng Sa!
Anh Thà, trả kiếm, hỡi anh Thà!
Biển động, tàu Mao sắp sửa ra,
Nhựt Tảo sửa chưa mau nổi lại,
Bắn tan hạm giặc đoạt Hoàng Sa!
Tân Hiệp ngày 9 tháng 2 năm 1974
Ngọc Giao Nguyễn Ðình Nhạc
"Cuối hàng thế kỷ thứ hai mươi,
Chống giữ Hoàng Sa có lắm người ..."
---------------------------------
Bài Cho Hải Ðảo Hờn Căm
Phạm Lê Phan
Lời biển gọi cuối năm
Hờn căm trừng mắt lửa
- Hỡi Hoàng Sa, hỡi Hoàng Sa ...
Mẹ Ðứng mũi Sơn Chà
Gửi hồn ra Ðông Hải
Ðảo nổi giận nên biển cuồn sống dậy
Ôi, đất nước ông cha: tay đứt lòng đau
Súng thét khơi xa, sao lửa đốt trong đầu
Lòng mẹ bời bời: ruột mềm máu chảy
Mắt mẹ trông vời, triền môi run rẩy:
- Hỡi Hoàng Sa, hỡi các cháu con ta?
Con cháu mẹ
Năm mươi đứa làm anh hùng của bể
Năm mươi con thành dũng sĩ Trường Sơn
Bốn ngàn năm mài nhọn mũi căm hờn
Phóng mắt hận, nghiến răng ghìm giặc Bắc.
Cờ Nương Tử phất bay hồn xâm lược
Gươm Mê Linh thét máu nhuộm đầu voi
"Trèo lên đỉnh núi mà coi
Dáng Bà quản tượng trăng soi ngời ngời".
Cửu Chân hề, Cửu Chân ơi!
Gót nhi nữ ra khơi
Ðạp tan luồng sóng dữ
Chém cá tràng kình, rạng danh liệt nữ
Dũng khí Nhụy Kiều gục mặt Bắc quân!
Ngậm mối thù truyền kiếp mấy ngàn năm
Con cháu mẹ từng nhọc nhằn u uất
Đắm biển mò châu phơi rừng tìm ngọc
Nanh vuốt sài lang nào kể gái hay trai
Máu mỡ no nê muông thú một bầy
Loài đỉa Hán vốn cuồng say máu Việt
Nước độc rừng thiêng một đi là một chết
Vạn người đi, không một bóng ma về
Ðá Trường Sơn con khắc ngập câu thề:
"Ðòi nợ máu phải đổi răng, đổi mắt!"
Bạch Ðằng xưa nghẹn giòng muôn xác giặc
Dù Hán, dù Mông nước đỏ cũng hôi tanh
Tóc thú đuôi sam - gươm giáo Việt tung hoành.
Vó ngựa Lý, Lê từng phen đạp Tống
Ngọn giáo Ðinh, Trần vạch cõi Nam uy dũng,
Ðầu Mãn Thanh vờn kiếm lộng Quang Trung.
Trải an nguy son sắt vẫn một lòng
Mỗi tấc đất một chiến công oanh liệt
Mỗi tên người một anh hùng, nữ kiệt
Mỗi gốc cây muôn xác quỉ vùi sâu
Dòng Việt Nam chưa hề biết cúi đầu
Dù giặc Bắc bạo tàn hơn súc vật!
Hồn Nam Hải cuối năm
Lạnh căm căm hơi bấc
Bởi thương con mẹ lên đỉnh Sơn Chà
"Ôi Hoàng Sa, hỡi Hoàng Sa
Khôn thiêng nối gót mẹ cha mà về".
Hãy đứng thẳng mà đi
Hởi đàn con từng khua sôi biển cả
Cất cao đầu uống lời thề sông Hóa
Hàm Tử, Vân Ðồn, Tây Kết, Chương Dương,
Vươn chiến công kim cổ Bạch Ðằng Giang
Xô cuồng vọng Bắc Kinh vào biển máu!
Xưa ông cha mình giết Liễu Thăng, Hoằng Tháo
Ðánh gục đầu Tôn Sĩ Nghị , Thoát Hoan.
Giờ bè lũ Mao lại xâm phạm biên quan
Xua hải tặc cuồng điên lên cướp đảo
Ôi Hoàng Sa, hỡi Hoàng Sa yêu dấu
Ðất đai ta một mảng cũng thịt xương
Tổ quốc ta một tấc cũng tim gan
Xương thịt đứt thì tim gan đau xót!
Hỡi đàn con của Cửu Long bất khuất
Ngạo nghễ trên vai hồn An Lộc, Tam Biên
Mang trong tim giòng máu thép Trị Thiên
Lời phạt Bắc thét run hồn biển cả.
Chiều cuối năm, một mối thù chưa trả
Xuân sắp về - trời bỗng nặng nề mưa ...
Gia Ðịnh, chiều 30 Tết Giáp Dần (22-01-1974)
Phạm Lê Phan
--------------------------------------
Hoàng Sa ơi !
Hoàng Sa ngủ vùi trong biển sóng
Vô tận dập dồn con nước trong
Cù Lao Chàm thương yêu vẫy gọi
Đà Nẵng bến cảng tình chờ mong
Bắc phương cướp rồi quân xâm lược
Hoàng Sa máu thịt Việt Nam hồng
Đảo nửa nụ cười nửa giọt lệ
Ngày mai giải phóng hận đảo vong
Paris, Đông 1985 - Đêm chợt nhớ tiếng gọi Hoàng Sa
Nguyễn Hữu Viện
-----------------------------------------------

Tên Con Là HOÀNG SA
Hướng về phía Tây, biển xa tít tắp,
Từng đàn hải âu bay về chốn sương mây
Ráng dương đỏ chìm dần trong vô tận
Gió bùng lên lùa sóng vỗ miên man
Con khẽ hỏi tại sao kia bố
Đặt tên con là Trần thị Hoàng Sa???
Mỗi độ Xuân sang, bố lại dẫn con ra biển
Để kỷ niệm ngày sinh nhật của con
"Bé con " ạ, con ghi lời bố nhé
Đời bố sẽ thừa nếu thiếu biển, thiếu con
Ba mươi năm chĩu nặng mối ưu hờn
Con đã đem lại cho bố vạn niềm an ủi
Con làm bố nhớ những chàng trai trẻ
Dâng tuổi thanh xuân phục vụ dưới cờ
Nhớ biển trời xanh phấp phới ánh vàng son
Niềm kiêu hãnh là cháu con Trần Quốc Tuấn
Con làm bố nhớ quãng đời hồ hải
Giãi nắng tuần dương gìn giữ đất ông cha
Nhớ trứng chim, phốt phát Hoàng Sa
Nhớ những giọt mồ hôi dựng bia trấn đảo
Ngày hôm ấy, giặc lén cắm cờ đỏ đảo
Quân ta tràn lên dựng lại ngọn cờ vàng
Ghì súng gươm hùng khí ngất trời xanh
Giặc nổ súng, bãi cát vàng nhuốm máu
Hải pháo ta nổ dòn công kích địch
Trực xạ đài chỉ huy, tướng Tầu nát xác
Lưới đạn giăng vây quân thù truyền kiếp
Tầu giặc chìm dần, sôi sục Biển Đông
Ngày hôm ấy cũng là ngày định mệnh
Thuỷ thủ đoàn cùng Hạm Trưởng Nguỵ Thà
Chìm theo tầu bảo vệ đảo thiêng
Cột mốc muôn năm mang hồn Nhật Tảo*
Sinh nhật của con, hãy đơm hoa hy vọng
Thế hệ đồng vai con gánh vác non sông
Xiết chặt mối keo sơn, kết đoàn dân tộc
Đuổi sạch quân thù , giành lại giang sơn
Con của Bố là bia chủ quyền sống
Của mẹ con và các chú bác con
Ngày mai kia giành lại đảo Cát Vàng
Con sẽ là người mang hoa dâng Đảo
Cát Vàng
San Diego, Đông 2003
Chú thích:
*Ngày 19/1/1974 là ngày thất thủ Hoàng Sa, một số các cháu bé, con của các chiến hữu Hải Quân sinh vào ngày này
được đặt tên là Hoàng Sa, để thương tiếc phần máu thịt của tổ quốc đã bị giặc Tầu cưỡng chiếm. Cháu Trần thị Hoàng Sa hiện nay là một Luật Sư của thành phố Sydney, Australia
** Nhật Tảo : danh xưng của Hộ Tống Hạm HQ 10, bị đánh chìm trong trận hải chiến Hoàng Sa.
____________________________________________
MÁU THẮM ĐẢO HOÀNG SA
- Kính dâng nén nhang lòng đến hương hồn các tử sĩ đã anh dũng bảo vệ Lãnh Hải Tổ Quốc Việt Nam, Hải Quân QL/VNCH.
- Kính tặng toàn thể các Chiến Sĩ Hải Quân QL/VNCH khắp nơi trên toàn Thế Giới.)
Hoàng Sa ơi hỡi ! Hoàng Sa ơi !
"Nhật Tảo" tang thương oán góc trời (1)
Một mãnh giang sơn hồn Nước Việt
Bao đời ngạo nghễ giữa trùng khơi.
Tinh thần tiết tháo Hải Quân ta (2)
Anh dũng máu loang tô thắm nhà
Chiến tích kiêu hùng năm Bảy Bốn !
Uy danh Hạm Trưởng Ngụy văn Thà.
Hoàng Sa hải đảo ! vẫn trơ gan !
Ngậm đắng nuốt cay hận giặc càn (3)
Lấn chiếm ngang tàng quân rợ cướp
Nhận chìm hải đảo cảnh tan hoang.
Hải đảo thân yêu máu lệ nhoà
Hoàng Sa oan nghiệt, hỡi Hoàng Sa !
Sao không chôn giặc : Bạch Đằng trận ??
Tiếp nối vang lừng Hải Chiến ta.
Ray rức linh hồn cách biển sông
Sơn Hà mây nước rộng mênh mông
Giữa lòng hải đảo lưu danh tiếng
Trải mật phơi gan một tấc lòng.
Tổ Quốc nghìn năm giống Lạc Hồng
Ngậm cười chín suối nức Cha Ông
Bóng trăng chênh chếch hồn Nam Quốc
Đáy nước Hoàng Sa hận biển Đông !!
Khai Trinh
(1) Hộ Tống Hạn HQ10 mang tên Nhật Tảo do Hạm Trưởng Thiếu Tá Ngụy Văn Thà, đã tuẫn tiết theo Chiến Hạm, và Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí Hạm Phó đã hy sinh trong cuộc giao chiến với 4 chiến Hạm Kronstadt 271,274,389,396 của Trung Cộng ngày 19-1-74.
(2) Các Chiến Sĩ Hải Quân Trung Sĩ Lê Văn Tây, Trung Sĩ Đinh Hoàng Mai đã nêu cao gương anh dũng theo Truyền Thống bất khuất và đã đền nợ nước trong trận hải chiến 19-1-74 trên Hộ Tống Hạm HQ10.
(3) Năm 1958 Hồ Chí Minh đã cúi đầu làm tôi tớ cho Trung Cộng ra lệnh cho Thủ Tướng Phạm-Văn-Đồng ký hiệp ước dâng đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng. Kể từ đó TC đem quân ồ ạt chiếm quần đảo Đông Bắc Amphibious, dần dần theo kế hoạch "Tầm ăn dâu" đổ quân chiếm xuống các quần đảo phía Tây Nam Croissant : đó là Duy Mộng (Duymont) và Quang Hòa, và sẽ dần đến các quần đảo phía trái là Robert và Money rồi chiếm nốt Pattern. Biết được tin này Đại Tá NGẠC Tư Lệnh Lực Lượng chỉ huy ra lệnh Tuần Dương Hạm HQ16 cùng Hộ Tống Hạm HQ10 đến thị sát và ngăn chận mọi sự xâm nhập bất họp pháp của Trung Cộng nếu có. Nhưng trong thời gian còn điều nghiên tình hình thì bọn Trung Cộng cho lệnh tập trung 4 chiến hạm của chúng dồn hỏa lực mạnh và tấn công. Trước tình thế nguy ngập chiến đấu đơn phương HQ10 chống trả mãnh liệt, nhưng rồi HQ10 bị trúng đạn Đại bác 130 ly và hỏa tiễn nên Hộ Tống Hạm ngấm chìm vào lòng Đại Dương, và Hạm Trưởng Thiếu Tá Ngụy Văn Thà phải đành tuẫn tiết theo Hạm tại Hải Đảo Hoàng Sa.
_______________________________________
Con Nhớ Hoàng Sa
Lời Giới Thiệu:
Bài thơ sau đây là của một cháu gửi tới THHQ&HH qua Email. Có lẽ tác giả thuộc hàng con cháu của một trong những anh hùng Hoàng Sa, đã có cảm hứng làm bài thơ này khi đọc những tài liệu về Trận Hải Chiến. Lời thơ tuy mộc mạc nhưng ý tứ rất thâm trầm cảm động, diễn tả được tình cảm chân thành hiếm có của một người trẻ đối với Tổ Quốc Việt Nam và thế hệ cha anh.
-------------------------------
(Cậu ba, và các anh hùng HQ-10)
Sóng biển chiều nay cuồn cuộn quá
Còn đây uy dũng pháo Hoàng Sa
Vành khăn tang trăng đầu con trẻ
Kinh buồn vĩnh biệt tiếng cười cha
Vị quốc vong thân ngời sĩ khí
Thái Sơn ơi! bóng cha hùng vĩ
Lịch sử bốn nghìn năm giữ nước
Tiền nhân soi đuốc bước người đi
Gió lộng chiều nay thôi thúc lạ
Anh hào xưa cung kiếm xông pha
Hoàng Sa quyết chiến tiếng vang rền
Hạm mười trỗi dậy khúc hùng ca
Nhựt Tảo (*), chí trai đã vẹn thề
Tổ quốc quật cường bao thế hệ
Yên giấc Hoàng Sa hồn tử sỉ
Trùng dương rộng mở đón cha về
* HQ-10 (June 08, 1999)
Nguyệt Trinh
Hãnh diện và thương nhớ các chiến hữu:
Nguỵ Văn Thà, HQ 10
Nguyễn Thành Trí, HQ 10
Đinh Hoàng Mai, HQ 10
Lê Văn Tây, HQ 10
Lê Anh Dũng, HQ 10
Lê Văn Đơn, LDNN
Nguyễn Văn Thạch
Trần Văn Bằng
Nguyễn Phúc Xá, HQ 4
Ngô Chí Thành
Trần Văn Bảy, HQ 10
Đỗ văn Long, Hải Kích
Cùng các anh-hùng chiến hữu khác đã hy-sinh.
_______________________________________
Nghe tin xảy ra trận đánh Hoàng Sa, một người phía bên kia chiến tuyến đã ngậm ngùi làm một bài thơ để vinh danh các chiến sĩ HQVN đã hy sinh để bảo vệ hải biên Tổ Quốc.
Mới đây Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang đã đề nghị làm bia để ghi danh tử sĩ Hoàng Sa. Đây là những bạn đồng hành khả kính đang cùng đấu tranh để giành từng tấc đất của ông cha ra khỏi nanh vuốt của bọn tầu đỏ. Các bạn HQ nghĩ sao???
Hải chiến Hoàng Sa
Huy Minh
Nhìn xem hải chiến Hoàng Sa
Việt Nam Quân Lực Cộng Hoà xuất chiêu
Dù cho tàu chiến không nhiều
Hải quân anh dũng dám liều xông pha
HQ... Hạm đội của ta
Nã vào tàu chiến Trung Hoa tơi bời
Tiếc thay đảng Bác ngồi chơi
Cấu kết cùng giặc để rồi đánh Nam
Làm cho đất nước tiêu tan
Anh em Trung Quốc kiếm đàng lấn sang
Trường sa như một đảo vàng
Tài nguyên phong phú dàu tràn khắp nơi
Hỡi người dân Việt Nam ơi!
Cùng nhau đoàn kết ta thề cứu nguy!
Đảo nhà lịch sử còn ghi
Ông cha gìn giữ ta thì trình ra.. (!?)
Quyết tâm lấy lại Hoàng Sa
Trường Sa một dãy ta mà lấy luôn
Anh hùng nước Việt muôn phương
Yêu dân yêu nước lên đường cùng nhau
Đánh tan cái bọn Cộng Tàu
Thế giới biết mặt nước nào xâm lăng
Nước ta hơn bốn nghìn năm
Anh hùng nữ kiệt vang danh khắp trời
Sẵn đây xin có mấy lời
Cúi đầu bái tạ đất trời chứng minh
Hải Quân tử sĩ anh linh
Vì non vì nước liều mình vong thân
Nghiêng mình cúi lạy tiền nhân
Hồn linh phảng phất cõi trần chứng tri!
From: HuyMinh <huyminh@aol.com>


