Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Kiện phóng viên BBC Nguyễn Hùng: Hu hu hu, anh Kông chơi anh Ku!
Vũ Đông Hà

(Danlambao) - Thường thì nếu nghe ai đó la toáng lên rằng "ra xem thằng kia ở truồng!" thì cũng có người tò mò, có người mặc kệ nó.
Nhưng khi một đồng chí trên vai có hai sao, dưới có AK, lựu đạn, tay có còng số 8 nghiến răng bặm trợn đòi bỏ tù người la toáng
thì đâm chết thiên hạ cũng đi tìm xem cái thằng có thông tin đang ở truồng là thằng nào.

Image
Anh Kông đây là anh Kông Tư - Trung tướng công an Hoàng Kông Tư. Anh Ku ở truồng là anh... Q - Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang.


Hôm thứ năm, 24 tháng 4, 2014 phóng viên Nguyễn Hùng của BBC lại lôi hủ mắm Phạm Quý Ngọ đã được chôn, mở nắp ra cho thiên hạ ngửi (1). Hủ mắm đã được chôn kỹ, chôn kín hôm tháng 2, trong đó có 20 tỷ đồng, có bàn tay Ngọ nắm tiền, có trợ lý của anh Ku và có luôn anh Ku.

Chuyện dài Dương Chí Dũng cúng tiền mãi lộ để "tạm lánh" sang Miên, chuyện Ngọ đang phi bỗng đột quỵ, chuyện cái bóng anh Ku đằng sau hồn ma bóng Ngọ xin xem lại ở đây:

- Dân ta tự mở hồ sơ Phạm Quý Ngọ (2)

- Vụ Phạm Quý Ngọ: Đại tá công an Nguyễn Như Phong muốn "cứu"
hay "giết" Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang? (3)

- Bàn cờ đấu đá nội bộ đảng với xe Dũng, mã Ngọ (4)

- Vui biết mấy Ngọ đồng chí đang sống chuyển sang từ trần! (5)

Nội dung chính của vụ lộ hàng này là lời khai của Dương Chí Dũng tại tòa sơ thẩm: Dương Chí Dũng hối lộ Thứ trưởng công an Phạm Quý Ngọ 20 tỷ đồng, có sự dính líu của Thiếu tướng Trần Quang Tiệp, trợ lý Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang và chỉ đạo của Bộ trưởng công an Trần Đại Quang.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao có nhiều bài viết liên hệ đến lời khai của Dương Chí Dũng trong mấy tháng qua mà ông Hoàng Kông Tư không đòi khởi tố các tác giả. Bây giờ khi đảng "ta" đã cố gắng cho vụ việc chìm xuồng theo cái chết có nhiều dấu chấm hỏi của tướng công an Phạm Quý Ngọ thì ông Kông Tư lại lôi ra qua hành động đòi khởi tố án hình sự về tội Vu khống đối với phóng viên Nguyễn Hùng (6)?

Trước hết, nếu chúng ta đọc nguyên bài viết của Nguyễn Hùng (1) thì thấy tất cả những dữ kiện liên quan đến cái mà ông Hoàng Kông Tư gọi là vu khống đều được lấy từ lời khai của Dương Chí Dũng tại tòa:


Phóng viên Nguyễn Hùng viết rằng: "Theo ông Dũng, người đưa tiền của bà Lan cho ông tên là Tiệp. Các nguồn tin nói đây là ám chỉ Thiếu tướng Trần Quang Tiệp, trợ lý Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang."

Trong khi đó Dương Chí Dũng khai tại tòa: "Và anh Tiệp là người đưa cho tôi. Tức là có 2 người biết việc, chứ không phải một mình tôi. Đấy là cái thứ nhất, tức là có 2 người biết...

Anh Tiệp có nói là "Anh yên tâm đi, tôi đã gặp và báo cáo với anh Trần Đại Quang - bộ trưởng bộ công an, để anh Quang có ý kiến với anh Ngọ. Và anh Quang sẽ điện cho anh, để anh Ngọ không can thiệp hay gây khó cho doanh nghiệp nữa".

Đọc đoạn văn trên thì câu viết "Theo ông Dũng... và Các nguồn tin nói đây là ám chỉ Thiếu tướng Trần Quang Tiệp, trợ lý Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang" của phóng viên Nguyễn Hùng không phải là một câu viết thiếu chuyên nghiệp. Anh còn cẩn thận viết "các nguồn tin nói...".

Còn "Tiệp" nào khác trong lời khai của Dương Chí Dũng nếu không phải là Trần Quang Tiệp - trợ lý của bộ trưởng Công An - mới là người có thể gặp và báo cáo với xếp của mình.

Thực tế như vậy nhưng lý do ông Hoàng Kông Tư đưa ra để đòi truy tố ký giả Nguyễn Hùng là: "tôi khẳng định thông tin này là hoàn toàn bịa đặt, vì trong quá trình điều tra, Dương Chí Dũng có khai người đưa tiền của bà Lan cho ông tên là Tiệc. Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã xác minh, làm rõ và xác định người tên Tiệc như Dương Chí Dũng khai là ông Ngô Xuân Tiệc, sinh năm 1961, thường trú tại 277 Phạm Văn Hải, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, là Chủ tịch, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư phát triển Tâm Sinh Nghĩa. Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã làm việc với ông Ngô Xuân Tiệc và ông Ngô Xuân Tiệc đã viết bản tường trình cam đoan, khẳng định hoàn toàn không có sự việc như Dương Chí Dũng khai."

Cho dù, giả dụ, tạm ráng tin... điều ông Hoàng Kông Tư nói trên đúng với sự thật thì người bị truy tố phải là Dương Chí Dũng với tội mới (bên cạnh 2 tội đã bị kết án tử hình - “Tham ô tài sản” và “Cố ý làm trái quy định của nhà nước) là khai gian trước tòa, vu khống cho Ngô Xuân Tiệc.

Rõ ràng (theo lý luận đầy tính "khẳng định" của ông Kông Tư) người vu khống là Dương Chí Dũng. Thế thì tại sao ông Trung tướng công an Hoàng Kông Tư đã "chuyện không có gì mà ầm ĩ" với phóng viên BBC để thiên hạ ùn ùn đi tìm bài viết Dương Chí Dũng và những triệu đô la "của phóng viên Nguyễn Hùng, BBC tiếng Việt, ngày 24/4/2014" (báo CAND online đã cẩn thận dẫn đường chỉ lối giới thiệu như thế) (6)

Tuy nhiên, chuyện tưởng vậy mà không phải vậy!:

Trở lại điều "khẳng định" của Hoàng Kông Tư nói rằng "Dương Chí Dũng có khai người đưa tiền của bà Lan cho ông tên là Tiệc." Nếu nghe lại clip ở trên từ phút số 1 đến 1:15 ở trên thì rõ ràng Dương Chí Dũng, giọng Hải Dương, nói về "anh Tiệp". Do đó:

1. Ông Hoàng Kông Tư lôi thương gia Ngô Xuân Tiệc ra để "viết bản tường trình cam đoan, khẳng định hoàn toàn không có sự việc như Dương Chí Dũng khai" thì dĩ nhiên ông Tiệc này cam đoan là đúng rồi. Ông Dương Chí Dũng có khai ông Tiệc đâu!

2. Ông Hoàng Kông Tư đã lộ hàng gian dối vì trong cương vị Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an thì ông dư biết đối tượng điều tra phải là Thiếu tướng Trần Quang Tiệp, trợ lý Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang. Tuy nhiên, lo sợ rút dây động rừng, Kông Tư đã dùng trò nhập nhằng giữa "Tiệp" và "Tiệc" để lôi một người không liên quan tên Tiệc ra làm giấy cam đoan là... không liên quan.

Điểm cần ghi nhận là bài viết của phóng viên Nguyễn Hùng được đăng tải trên BBC vào lúc 15:04 GMT - thứ Năm, 24 tháng 4, 2014, tức là khoảng 10 giờ tối tại Việt Nam.

Rất là nhanh, lẹ, thần tốc - chỉ một ngày sau, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự về tội Vu khống theo Điều 122 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với phóng viên Nguyễn Hùng.

11:29h, CAND Online đăng bài phỏng vấn ông Hoàng Kông Tư. Một vài phút sau, các trang web mang tên của các quan to chấm ọt và hàng loạt các báo lề đảng đăng theo, tin tức tràn lan trên mạng. Tất cả nhịp nhàng như vũ điệu loài Kông.

2 giờ 30 phút sau, vào lúc 14h, TAND tối cao tại Hà Nội hoãn tuyên án phúc thẩm Dương Chí Dũng.

Và Dương Chí Dũng đã rời tòa án vào chiều ngày thứ 6 với nét mặt và nụ cười hân hoan, rạng rỡ.


Điều gì đã xảy ra đằng sau hậu trường của vở tuồng tham ô bất trị trong đó những diễn viên chính, phụ, lớn, nhỏ toàn là cán bộ cao cấp của đảng và các ban ngành, những nhân vật đứng đầu Bộ Công an?

Sân khấu hài đang được cắm cọc, ngăn rào, khoanh vùng kỹ lưỡng trong đó các đồng chí đồng bọn đỗ thừa nhau (7) xoay quanh 28 tỷ đồng tiền lại quả từ ụ nổi đã chìm 83M đột nhiên anh Kông lại dùng cái chuyện tào lao kiện tụng không có cơ sở ra để làm cớ tung mắm Dũng-Ngọ-Tiệp-Quang ra khắp mọi miền cho nhân dân ngửi lại.

Phóng viên Nguyễn Hùng chỉ là diện. Những đồng chí không còn là đồng bọn mới là điểm đánh.

Anh Kông muốn cứu anh Ku,
Nhưng hơi bị ngu,
Hóa ra lại chơi anh Ku,
Hu hu hu...

Vũ Đông Hà

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

BÀI HỌC ĐẮNG CAY.

Bây giờ các tài liệu bí mật của Mỹ liên quan đến cuộc chiến Việt Nam đã được giải mã gần hết. Những tài liệu này giúp chúng ta tìm... hiểu tại sao miền Nam Việt Nam có một quân lực khá hùng mạnh và thiện chiến, có tinh thần chiến đấu rất cao, từng giữ vững miền Nam trong suốt 20 năm, lại có thể bị sụp đổ chỉ trong 40 ngày? Câu trả lời sẽ là một bài học lịch sử đắt giá mà mọi người Việt khi chiến đấu cho quê hương không thể không biết đến.

QUYẾT ĐỊNH BỎ MIỀN NAM :

Vào tháng 8 năm 2004, nhân kỷ niệm 30 năm ngày Tổng Thống Nixon từ chức (từ 9.8.1974 đến 9.8.2004), Miller Center of Public Affairs thuộc Đại Học Virgina cho công bố cuốn băng ghi âm các cuộc nói chuyện giữa Nixon và Kissinger về cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ cuối năm 1972, trong đó có đề cập đến số phận của miền Nam Việt Nam.
Tài liệu cho thấy mặc dầu đang mở cuộc oanh tạc Bắc Việt trong suốt mùa xuân và mùa hè 1972, Tổng thống Nixon đi đến kết luận rằng Hoa Kỳ ủng hộ việc “Nam Việt Nam có thể không bao giờ còn tồn tại dù bất cứ cách nào.” (South Vietnam probably can never even survive anyway). Ông nói với Cố vấn An ninh Kissinger:
“Henry, chúng ta cũng phải nhận thức rằng thắng trong một cuộc bầu cử là hết sức quan trọng. Nó hết sức quan trọng trong năm nay, nhưng chúng ta có thể có một chính sách ngoại giao sống còn (a viable foreign policy) nếu một năm kể từ bây giờ hay hai năm kể từ bây giờ, Bắc Việt thôn tính Nam Việt Nam? Đó thật là vấn đề.”
Kissinger trả lời:
“Nếu một hay hai năm kể từ bây giờ, Bắc Việt thôn tính Nam Việt Nam, chúng ta có thể có một chính sách ngoại giao sống còn, nếu coi điều đó như thể là kết quả của sự bất tài của người Nam Việt Nam (if it’s the result of South Vietnamese incompetence.)


Lúc đó, Tổng Thống Thiệu và các nhà cầm quyền tại miền Nam không hay biết gì. Khi Hoa Kỳ ép buộc VNCH phải ký Hiệp Định Paris có những điều khoản hoàn toàn bất lợi cho miền Nam, TT Thiệu cũng đã chấp nhận ký sau khi Tổng Thống Nixon hứa: “Tôi tuyệt đối cam đoan với Ngài rằng nếu Hà Nội không tuân theo những điều kiện của Hiệp Định nầy thì tôi cương quyết sẽ có hành động trả đủa mau lẹ, và ác liệt.”
Nhưng để cho miền Nam sụp đổ trong vòng một hay hai năm sau Hiệp Định Paris không phải là chuyện dễ, vì lúc đó Quân Lực VNCH còn khá mạnh.


TÌNH HÌNH QUÂN LỰC VNCH NĂM 1975 :


Đầu năm 1975, QLVNCH vẫn còn có một lực lượng khá hùng hậu, với quân số khoảng 1.351.000 người, trong đó có 495.000 chủ lực quân, 475.000 địa phương quân và 381.000 quân “phòng vệ dân sự” có vũ trang.
Lục quân gồm 11 Sư đoàn Bộ binh, 1 Sư đoàn Nhảy dù, 1 Sư đoàn Thủy quân lục chiến, Liên đoàn 81 Biệt cách dù, 15 Liên đoàn Biệt động quân (tương đương với 5 Sư đoàn), Lực lượng Lôi Hổ và Biệt Hải thuộc Nha Kỹ thuật, 4 Lữ đoàn Kỵ binh thiết giáp (với 2074 xe thiết giáp). Về pháo binh, QLVNCH có 1492 khẩu đại bác (hơn một nửa là 105 ly, 1/4 là 155 ly và khoảng 15% là 175 ly).
Không quân có khoảng 60.000 quân, có 5 sư đoàn Không quân tác chiến gồm: 20 Phi đoàn khu trục cơ, 23 Phi đoàn trực thăng, 1 Sư đoàn vận tải, 1 Không đoàn tân trang chế tạo, 4 Phi đoàn hỏa long, v.v, với 1850 phi cơ các loại (trong đó có 510 máy bay chiến đấu và 900 trực thăng).
Hải quân có hơn 40.000 quân, gồm: 3 lực lượng tác chiến: (1) Hành quân lưu động sông (với 14 Giang đoàn trang bị khoảng 260 chiến đỉnh), (2) Hành quân lưu động biển (một Hạm đội trang bị tuần dương hạm, hộ tống hạm, khu trục hạm, tuần duyên hạm, giang pháo hạm, trợ chiến hạm, dương vận hạm, hải vận hạm và giang vận hạm, và (3) các Lực lượng đặc nhiệm, trong đó có Liên đoàn Người nhái. Làm thế nào để hủy hoại lực lượng này rồi giao cho Tàu Cộng, và CSVN trong một thời gian khoảng hai năm, và Mỹ sẽ không còn dính líu gì đến cuộc chiến nữa?


ĐÁNH LỪA TỔNG THỐNG THIỆU :


Để thực hiện chủ trương nói trên, Hoa Kỳ vừa cắt bớt viện trợ để miềm Nam suy yếu dần, vừa đánh lừa Thổng Thống Thiệu.
Miền Nam lúc đó cũng có nhiều nhà phân tích tình hình chính xác, nhưng TT Thiệu là người độc đoán, và thích hành động theo cảm tính nên chẳng nghe ai. Trong cuốn “Tâm tư Tổng Thống Thiệu”, Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng cho biết chính Tổng Thống Thiệu đã nói với ông:
“Tôi luôn là người quyết định. Luôn luôn như vậy. Tôi có thể nghe người khác gợi ý một quyết định, nhưng rồi làm quyết định ngược lại.” (tr. 373).
Khi chọn người để thay thế ông Ngô Đình Diệm, người Mỹ không chọn một nhà chính trị có khả năng bảo vệ miền Nam mà chỉ chọn những người bảo đảm sẽ làm theo ý họ. Trước hết Mỹ chọn Tướng Nguyễn Khánh, và Tướng Trần Thiện Khiêm. Nhưng khi Tướng Nguyễn Khánh gây rối loạn, họ dùng cặp Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm. Đây là những người không có tầm nhìn chiến lược cả về chính trị lẫn quân sự. Mọi việc đều để Mỹ lèo lái.
Quả thật ông Thiệu không có khả năng nhìn thấy Mỹ sẽ bỏ miền Nam, và tìm ra được một con đường nào khác để cứu miền Nam. Ông coi miền Nam như của Mỹ. Mỹ đưa đủ tiền, ông giữ cả miền Nam. Mỹ rút bớt tiền, ông thu nhỏ lãnh thổ lại.

1.- Cắt bớt viện trợ :
Như chúng ta đã biết số viện trợ quân sự Mỹ cho VNCH đã bị giảm dần sau Hiệp Định Paris ngày 27.1.1973:
1972 – 1973: 1 tỷ 614 triệu;
1973 – 1974: 1 tỷ 026 triệu và
1974 – 1975 xuống còn: 700 triệu.
2.- Đánh lừa bằng tài liệu :
Trong cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” (từ tr. 231 – 236), ông Hưng có kể lại rằng ông có được đọc trong “Phòng Tình Hình” của Dinh Độc Lập một tập báo cáo do Tướng John E. Murray (người điều khiển cơ quan DAO) và Bộ Tổng Tham Mưu trình lên.
Mặc dầu có nhiều báo cáo của DAO đã được giải mã, chúng tôi chưa tìm thấy bản văn này, nhưng ông Hưng cho biết ông nhớ được những điểm chính của bản báo cáo đó như sau:
- Nếu mức độ quân viện là 1,4 tỷ thì có thể giữ được tất cả những khu đông dân cư của cả bốn Vùng Chiến Thuật.
- Nếu là 1,1 tỷ thì Quân Khu I phải bỏ;
- Nếu là 900 triệu thì khó lòng giữ được QK I và II, hoặc khó đương đầu với cuộc tấn công của Bắc Việt;
- Nếu là 750 triệu thì chỉ có thể phòng thủ vài khu vực chọn lọc, và khó điều đình được với Bắc Việt;
- Nếu quân viện dưới 600 triệu thì chính phủ VNCH chỉ còn giữ được Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long.
Ông Hưng cho biết Tướng John Murray kết luận: “Tôi có thể ví sự mất tiền xấp xỉ như mất đất vậy.”
Từ ngày Mỹ tham chiến ở Việt Nam đến ngày miền Nam mất, chúng ta chưa bao giờ thấy các báo cáo hay tài liệu phân tích nào của cơ quan MACV, hay DAO được tiết lộ cho Bộ Tổng Tham Mưu, hay bất cứ cơ quan nào của VNCH. Chúng ta chỉ biết được một số tài liệu này sau khi được chính phủ Hoa Kỳ giải mã. Thế thì tại sao tài liệu nói trên lại được tiết lộ cho Bộ Tổng Tham Mưu VNCH? Chắc chắn là phải có âm mưu gì.
Ông Hưng cho rằng: vì bản báo cáo này, ông Thiệu đã nghĩ ra chiến lược mới “Đầu bé đít to”, tức bỏ Vùng I và II (đầu). Ông Thiệu thường nói: “Từng chiến lược cho từng mức viện trợ.” (tr. 235), sau đó ông dùng chữ “tái phối trí”. Thật ra, bản báo cáo mà ông Hưng nhắc đến ở trên, nếu có, cũng chỉ là một bản phân tích tình hình, chứ không phải là một giải pháp, hay một kế hoạch hành động được đề nghị. Nếu TT Thiệu nghĩ đó là một đề nghị về kế hoạch hành động là hoàn toàn sai lầm.
3.- Đánh lừa bằng kế hoạch giả :
Cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã không dùng một tướng Mỹ mà dùng một tướng Úc để đánh lừa Tổng Thống Thiệu.
Trong bài thuyết trình “”Get Me Ten Years’: Australia’s Ted Serong in Vietnam, 1962-1975″, bà Tiến sĩ Anne Blair, một Giảng viên về Quan Hệ Quốc Tế và Nghiên Cứu về Á Châu tại Đại Học Victoria University of Technology ở Úc, đã cho biết vào tháng 12 năm 1974, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm có tiếp xúc với Tướng Ted Serong, và yêu cầu ông ta đưa ra một kế hoạch cứu vãn miền Nam. Tướng Ted Serong đã khuyến cáo rút khỏi Quân Khu I và Quân Khu II, với lý do là 2/3 Quân Lực VNCH đã được triển khai ở phía bắc trong khi ở nơi này chỉ có 1/10 dân số và 1/3 tài nguyên của miền Nam.
Chúng ta nên nhớ rằng cả Tướng Trần Thiện Khiêm, lẫn tướng Đặng Văn Quang đều là nhân viên CIA được cài vào, để theo dõi và kiểm soát các hành động của Tổng Thống Thiệu. Nhiều người nghi ngờ việc Tướng Khiêm đi tìm gặp tướng Ted Seron là theo lệnh của CIA.
Ông Hưng cho biết TT Thiệu đã chỉ thị Tướng Đặng Văn Quang, Cố Vấn An Ninh Phủ Tổng Thống, phối hợp với Tướng Ted Serong nghiên cứu lập một phòng tuyến kéo dài từ Tuy Hoà đến Tây Ninh để làm phòng tuyến rút quân! Tướng Ted Seron là ai mà được giao cho nhiệm vụ lập phòng tuyến ở Tuy Hoà?
Tướng Francis Philip “Ted” Serong (1915 – 2002) tốt nghiệp Trường Huấn Luyện Quân Đội Hoàng Gia tại Duntroon vào năm 1937, có nhiều kinh nghiệm về chiến trường Đông Nam Á. Năm 1961 ông được cử làm cố vấn cho quân đội Miến Điện. Do kinh nghiệm của ông về chống nổi dậy (counterinsurgency), theo đề nghị của CIA, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã yêu cầu chính phủ Úc cho ông đến phục vụ tại miền Nam Việt Nam. Tại đây, ông vừa chỉ huy một toán nhỏ người Úc vừa là Cố Vấn Chống Nổi Dậy cho MACV dưới thời Tướng Harkins. Theo bà Blair, Tướng Harkins không tin vào chống nổi dậy, và ông không muốn một cố vấn. Tướng Ted Serong đã đưa nhiều đề nghị về huấn luyện quân lực VNCH nhưng không được đáp ứng.
Như vậy, Tướng Ted Serong chỉ là một chuyên gia về du kích chiến. Ông không phải là một nhà chiến lược. Ông chỉ là người được Mỹ dùng để gài bẩy Tổng Thống Thiệu.


MỘT QUYẾT ĐỊNH ĐIÊN RỒ :


Năm 1974, tin Tổng Thống Thiệu sẽ bỏ Cao Nguyên và miền bắc Trung Phần, rút quân về phòng thủ ở Tuy Hoà đã được tiết lộ ra, nhưng không ai tin vì hai lý do:
(1) Không thể lập một phòng tuyến từ Tuy Hòa kéo dài tới Tây Ninh được vì địa hình không cho phép hình thành một phòng tuyến như vậy.
(2) Muốn rút quân ở Cao Nguyên và phía bắc miền Trung phải thương thuyết với Hà Nội, và ký một hiệp ước như Hiệp Định Genève 1954, trong đó ấn định lại biên giới giữa hai bên, thời hạn di tản, rút quân… việc “tái phối trí” mới có thể thực hiện được.
Vì thế, không ai tin việc “tái phối trí” có thể xẩy ra khi ông Thiệu chưa thương thuyết để ký với Hà Nội một hiệp ước thu nhỏ lãnh thổ lại. Nhưng ông Thiệu đã làm điều điên rồ đó.
Đầu năm 1975, Tướng Ted Serong thông báo cho Tổng Thống Thiệu thời hạn chót cho việc tái phối trí quân đội phải kết thúc nội trong tháng hai. Ông cũng đã nói với Đức Cha Nguyễn Văn Thuận, Giám Mục Nha Trang, rằng: Ngài nên “chuẩn bị cho năm 1955 một lần nữa”, tức lại đi di cư!
Ngày 10.3.1975 Ban Mê Thuột bị mất, và Quân Lực VNCH khó có thể lấy lại được. Nhân vụ này, ngày 14.3.1975 Tổng Thống Thiệu cùng với các tướng Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang, và Cao Văn Viên đến Cam Ranh họp với Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn 2. Tổng Thống Thiệu hỏi Tướng Cao Văn Viên:
- Còn quân trừ bị để tăng cường cho Quân Đoàn 2 không?
Tướng Viên trả lời:
- Không còn.
TT Thiệu quay qua hỏi Tướng Phú:
- Nếu không có quân tăng viện, anh còn giữ được bao lâu?
Tướng Phú trả lời:
- Tôi có thể giữ được một tháng với điều kiện Không quân yểm trợ tối đa, và tiếp tế bằng không vận đầy đủ nhu cầu về tiếp liệu, vũ khí, đạn dược…
TT Thiệu nói rằng các điều kiện đó không thể thỏa mãn được. Vậy phải rút khỏi Kontum và Pleiku để bảo toàn lực lượng, đưa quân về giữ đồng bằng ven biển tiếp tế thuận lợi hơn.
TT Thiệu hỏi:
- Rút bằng đường 19 có được không?
Tướng Viên trả lời:
- Trong lịch sử chiến tranh Đông Dương chưa có lực lượng nào rút theo đường 19 mà không bị tiêu diệt.
Tổng Thống Thiệu lại hỏi:
- Thế thì đường 14 ra sao?
Tướng Viên nói:
- Đường 14 càng không được.
Sau khi thảo luận, mọi người thấy chỉ còn đường số 7 từ lâu không dùng đến, tuy dài (khoảng 228 km), và xấu, nhưng tạo được yếu tố bất ngờ.
TT Thiệu chỉ thị không thông báo cho các Tiểu khu và Chi khu biết, cứ để họ tiếp tục chống giữ, khi ta rút xong, ai biết thì biết. Tổng Thống nói Địa phương quân (36 tiểu đoàn) toàn là người Thượng, trả chúng về với Cao nguyên. Như vậy các Tỉnh trưởng, quận trưởng, cảnh sát và các nhân viên hành chánh cũng bị bỏ lại. Đại Tá Phạm Duy Tất, Tư Lệnh Biệt Động Quân Quân Đoàn 2 được thăng Chuẩn Tướng để chỉ huy cuộc rút quân. Tổng Thống cấm không ai được thông báo cho Mỹ biết.


ĐOÀN QUÂN TAN RÃ :


tl 7Diễn biến về cuộc tháo chạy trên Liên tỉnh lộ 7 rất bi thảm. Ở đây chúng tôi chỉ ghi lại những nét chính. Lúc đó QLVNCH còn có tại Kontum và Pleiku 7 Liên Đoàn Biệt Động Quân, đó là các Liên Đoàn 22, 23, 24 và 25, được tăng cường thêm 3 Liên Đoàn biệt phái từ Sài Gòn lên là 4, 6 và 7. Ngoài ra, Cao Nguyên còn có 36 tiểu đoàn địa phương quân.
Liên tỉnh lộ 7
Xe tăng và thiết giáp: 4 Thiết đoàn với 371 xe. Pháo binh: 8 Tiểu đoàn với 230 khẩu các cỡ từ 105 đến 175 mm.
Không quân: 1 Phi đoàn chiến đấu (32 chiếc), 2 Phi đoàn trực thăng (86 chiếc), 1 Phi đoàn vận tải, trinh sát và huấn luyện (32 chiếc). Riêng Sư đoàn 23 gồm các Trung Đoàn 44, 45 và 53 và Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đã bị tan rã trong trận Ban Mê Thuột. Sáng ngày 15.3.1975, hai Liên Đoàn 6 và 23 BĐQ từ Kontum được chuyển về Pleiku. Dân chúng chạy theo gây ra náo loạn.
Lúc 1 giờ chiều ngày 15.3.1975 cuộc di tản chính thức bắt đầu. Thiết đoàn 19, Liên Đoàn 6 và Liên Đoàn 24 BĐQ mở đường, đến tối đã vượt qua khỏi Phú Bổn, đèo Tuna, và tới quận Phú Túc để yểm trợ công binh làm cầu. Sáng 16.3.1975 đoàn quân mở đường tiếp tục đi xuống Củng Sơn. Cuộc hành trình mà đoàn quân phải di tản khá dài: Từ Pleiku tới Phú Bổn khoảng 93 km, và từ Phú Bổn đến Tuy Hòa khoảng 130 km.
Ngày 17.3.1975, Thiết Đoàn 21 và Liên Đoàn 7 BĐQ dẫn đầu đoàn quân và dân tiến về Phú Bổn. Theo sau là Liên Đoàn 22 và Liên Đoàn 23, kéo theo một đoàn quân xa khoảng 2000 chiếc và một đoàn xe dân sự đủ loại cũng gần 2000 chiếc. Liên Đoàn 4 và Liên Đoàn 25 đi tập hậu. Đoàn di tản đi rất chậm vì đường hẹp, bị hư hỏng và thường đạp lên nhau để tiến tới trước. Tối 17.3.1975 đoàn xe dừng lại ở tỉnh lỵ Phú Bổn vì không tiến được nữa. Cộng quân đã chận ở đèo Tuna cách Phú Bổn khoảng 4 km.
Vì cuộc rút quân quá bất ngờ, nên phải đến chiều ngày 17.3.1975, Bộ Tư Lệnh Tây Nguyên của Cộng quân mới biết được, và ra lệnh cho Tiểu đoàn 9, thuộc Trung đoàn 64, Sư đoàn 320, đang đóng chốt trên đường đi Thuận Mẫn, đem quân chận ở đèo Tuna, và pháo kích vào đoàn quân và dân đang dừng lại ở Phú Bổn. Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất được trực thăng tới bốc đi từ trường Tiểu học Phú Bổn, chỉ huy ở trên trời, ra lệnh cho Đại Tá Nguyễn Văn Đồng, Tư Lệnh Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh, đang chỉ huy ở dưới đất, phải phá cho được cái chốt này. Có Không quân bay tới yểm trợ.
Liên đoàn 25 BĐQ đang đi tập hậu cùng với Liên Đoàn 7 và thiết giáp tiến lên phá cái chốt ở đèo Tuna. Nhưng Đại Tá Nguyễn Văn Đồng cho chúng tôi biết Biệt Động Quân, Thiết giáp, và Không quân không phá nổi cái chốt đó. Chiếc xe tăng nào bò lên, chúng bắn cháy chiếc đó. Thảm hoạ xảy ra khi máy bay oanh tạc lầm quân của phe ta. Địch lại pháo kích dữ dội vào tỉnh lỵ Phú Bổn, quân và dân chạy tán loạn, nên đoàn quân tan rã. Không còn chỉ huy được, ông và một số quân nhân phải lội bộ đi vòng dưới chân đèo Tuna để vượt qua, nhưng rồi cũng bị bắt khi đến gần Củng Sơn. Đại Tá Đặng Đình Siêu, Tư Lệnh Phó Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh, theo tàn quân của Liên Đoàn 4 BĐQ chạy băng rừng, và về được đến Phú Yên.
Liên Đoàn 24 BĐQ đóng gần Củng Sơn do Trung Tá Niên chỉ huy bị tấn công dữ dội, cũng bị tan rã. Chỉ có Thiết Đoàn 19, và Liên Đoàn 6 BĐQ về tới được Tuy Hòa. Một cuộc kiểm tra cho biết có ít nhất 3/4 lực lượng của Quân đoàn II bị Cộng quân tiêu diệt, bắt sống, đào ngũ, hay rã ngũ. Khoảng 40.000 dân chúng di tản theo đoàn quân, chỉ có khoảng 1/4 đến nơi. Số người chết do hỏa lực của cả hai bên, do đuối sức, hay đói không ước tính được. Đa số phải trở lại Pleiku.
Kể từ khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết, Hoa Kỳ đã chi phối miền Nam cả về quân sự, kinh tế, lẫn chính trị, và đưa người của họ lên nắm chính quyền. Trong tình trạng như vậy, miền Nam khó quyết định được số phận của mình. Nhưng Tổng Thống Thiệu là người phải chịu trách nhiệm trước dân tộc, và trước lịch sử về những thảm trạng do các quyết định sai lầm của ông gây ra. Chiều 29.4.1975, Tướng Ted Seron đã rời khỏi Việt Nam trên một chiếc trực thăng ở trên nóc của Toà Đại Sứ Mỹ. Số phận của VNCH chấm dứt.


Lữ Giang.

User avatar
tiendung
Posts: 348
Joined: Wed Dec 01, 2010 10:09 pm

Post by tiendung »

Image

Ba mươi chín năm ngày Quốc Hận

LỜI KINH ĐÊM:

Ba mươi chín năm đã trôi qua kể từ cái ngày oan nghiệt 30 tháng 4 năm 1975 !
Dẫu cho thời gian đã trôi đi, nhưng vết thương vẫn chưa lành !
Mỗi năm, vào dịp 30 tháng tư là vết thương lại chẩy máu.
Đau xót cho đất nước Việt Nam, đau xót cho bao chiến sĩ đồng bào, đau xót cho chính thân phận của mình.
Chỉ biết thắp lên một ngọn nến hay một nén nhang để tưởng nhớ… Tất Cả !

Tôi thắp ngọn nến này cho những chiên sĩ thuộc mọi quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Địa Phương Quân và Nghĩa Quân đã anh dũng hy sinh trên khắp các chiến trường để bảo vệ miền Nam. Nhưng than ôi ! lệnh đầu hàng đã khiến miền Nam rơi vào tay giặc. Để họ thấy dân ta không quên ơn họ !

Tôi thắp ngọn nến này cho những anh hùng bất khuất, thà chết không chịu nhục. Đó là những Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm văn Phú, Lê Nguyên Vĩ, Hồ Ngọc Cẩn, Trần Chánh Thành… và bao nhiều người vô danh khác… Để cho họ thấy lòng cảm phục của toàn dân !

Tôi thắp ngọn nến này cho những người tù cải tạo, gầy gò, ốm đói, đã bỏ mình nơi rừng thiêng nước độc ở các trại tù cải tạo…

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi,
Chinh phu, tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn !
Để họ thấy được nỗi đau chung của dân tộc !

Tôi thắp ngọn nến này cho những oan hồn dưới đáy đại dương, đã vùi thân trong sóng bạc đầu trên đường đi tìm Tự Do. Sóng to, gió lớn đã đánh nát con thuyền mong manh, trong đêm tăm tối, chới với không tìm được chỗ nào bám víu… Tưởng đã thoát nạn nhưng quân biên phòng phóng tầu đuổi theo, những tràng đạn đại liên đã bắn xối xả vào con thuyền mong manh, máu loang đỏ đại dương… Ra ngoài khơi, cướp biển dã man, cướp của, giết người, bao nhiêu tang tóc… Để họ thấy niềm đau xót của dân ta !

Tôi thắp lên ngọn nến này cho bao người yêu nước, quyết một sống một còn với quân giặc, đã chấp nhận gian nguy, xây dựng kháng chiến với lý tưởng giải phóng Việt Nam khỏi ách thống trị của độc tài cộng sản. Họ đã anh dũng hy sinh như một tấm gương cho lớp trẻ phải dấn thân tranh đấu chấm dứt độc tài đảng trị, mưu đồ dân chủ tự do cho quên hương Việt Nam của chúng ta. Để họ thấy lý tưởng của họ đang được tiếp nối !

Tôi thắp lên ngon nến này cho những đồng bào trong nước đang bị chế độ đàn áp, cướp đất, cướp nhà, lang thang đầu đường, xó chợ… Những dân oan bị tù, bị đánh, đến chết… những nhà dân chủ bị trù dập, hành hung… Để họ thấy chúng tôi đứng cùng chìến tuyến vói họ !

Tôi thắp lên ngọn nến này như một "Lời Kinh Đêm" cho quê hương Việt Nam yêu quý. Khẩn cầu Hồn Thiêng Sông Núi, các Anh Hùng Liệt Sĩ, soi sáng con đường đấu tranh của dân tộc Việt Nam hầu chấm dứt chế độ độc tài cộng sản dã man để xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, tự do, phú cường !

Trần Đức Tường
(Đêm tưởng niệm 30 tháng Tư-Paris)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc
30.04.2014
Trước đây, trên thế giới, có 15 quốc gia chính thức theo chủ nghĩa cộng sản và 11 quốc gia tự nhận là cộng sản hoặc theo khuynh hướng cộng sản. Mười lăm quốc gia ở trên là: Albania, Bulgaria, Czechoslovakia, Đông Đức, Hungary, Mông Cổ, Ba Lan, Romania, Liên Xô, Yugoslavia, Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam. Mười một quốc gia ở dưới là: Angola, Benin, Congo, Ethiopia, Mozambique, Zimbabwe, Grenada, Nicaragua, Campuchia, Afghanistan và Nam Yemen. Tổng cộng, từ hai bảng danh sách ấy, có cả thảy 26 nước cộng sản hoặc có khuynh hướng theo cộng sản. Từ đầu thập niên 1990, tất cả các chế độ cộng sản ấy đều lần lượt sụp đổ. Hiện nay, trên cả thế giới, chỉ còn năm nước mang nhãn hiệu cộng sản: Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam.

Chưa có dấu hiệu nào cho thấy chủ nghĩa cộng sản ở năm quốc gia này sẽ sụp đổ sớm. Trong năm nước, có ba nước có quan hệ chặt chẽ với nhau: Trung Quốc, Việt Nam và Lào. Có lẽ Lào chỉ thay đổi được thể chế chính trị nếu, trước đó, Việt Nam cũng thay đổi; và Việt Nam có lẽ chỉ thay đổi nếu trước đó Trung Quốc cũng thay đổi. Như vậy, quốc gia có khả năng châm ngòi cho bất cứ sự thay đổi lớn lao nào là Trung Quốc.

Tuy nhiên, ngay cả khi Trung Quốc và Việt Nam chưa thay đổi và chưa từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, giới nghiên cứu cũng phát hiện những dấu hiệu suy tàn âm thầm của chủ nghĩa cộng sản bên trong hai quốc gia này.

Ở đây, tôi chỉ tập trung vào Việt Nam.

Nhìn bề ngoài, chế độ cộng sản tại Việt Nam vẫn mạnh. Hai lực lượng nòng cốt nhất vẫn bảo vệ nó: công an và quân đội. Dân chúng khắp nơi bất mãn nhưng bất mãn nhất là nông dân, những người bị cướp đất hoặc quá nghèo khổ. Có điều nông dân chưa bao giờ đóng được vai trò gì trong các cuộc cách mạng dân chủ cả. Họ có thể thành công trong một số cuộc nổi dậy nhưng chỉ với một điều kiện: được lãnh đạo. Trong tình hình Việt Nam hiện nay, chưa có một tổ chức đối kháng nào ra đời, hy vọng nông dân làm được gì to lớn chỉ là một con số không. Ở thành thị, một số thanh niên và trí thức bắt đầu lên tiếng phê phán chính phủ nhưng, một, số này chưa đông; và hai, còn rất phân tán. Nói chung, trước mắt, đảng Cộng sản vẫn chưa gặp một sự nguy hiểm nào thật lớn.

Thế nhưng, nhìn sâu vào bên trong, chúng ta sẽ thấy quá trình mục rữa của chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu và càng ngày càng lớn. Như một căn bệnh ung thư bên trong một dáng người ngỡ chừng còn khỏe mạnh.

Sự mục rữa quan trọng nhất là về ý thức hệ.

Khác với tất cả các hình thức độc tài khác, chủ nghĩa cộng sản là một thứ độc tài có… lý thuyết, gắn liền với một ý thức hệ được xây dựng một cách có hệ thống và đầy vẻ khoa học. Thật ra, chủ nghĩa phát xít cũng có lý thuyết, chủ yếu dựa trên sức mạnh và tinh thần quốc gia, nhưng không phát triển thành một hệ thống chặt chẽ và có ảnh hưởng sâu rộng như chủ nghĩa cộng sản. Còn các chế độ độc tài ở Trung Đông chủ yếu gắn liền với tôn giáo cộng với truyền thống quân chủ kéo dài (thường được gọi là độc tài quốc vương, sultanistic authoritarianism) hơn là lý thuyết. Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh: các chế độ cộng sản không thể tồn tại nếu không có nền tảng ý thức hệ đằng sau.

Ý thức hệ cộng sản một thời được xem là rất quyến rũ vì nó bao gồm cả hai kích thước: quốc gia và quốc tế. Ở bình diện quốc gia, nó hứa hẹn giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân; ở bình diện quốc tế, nó hứa hẹn giải phóng giai cấp vô sản và tạo nên sự bình đẳng và thịnh vượng chung cho toàn nhân loại. Ở bình diện thứ hai, chủ nghĩa cộng sản, gắn liền với một ước mơ không tưởng, rất gần với tôn giáo; ở bình diện thứ nhất, đối lập với chủ nghĩa thực dân, nó rất gần với chủ nghĩa quốc gia. Trên thực tế, hầu hết các nước cộng sản trước đây đều cổ vũ và khai thác tối đa tinh thần quốc gia trong cả quá trình giành chính quyền lẫn quá trình duy trí chế độ. Sự kết hợp giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc gia dễ thấy nhất là ở các nước thuộc địa và cựu thuộc địa như Việt Nam.

Sau năm 1991, tức sau khi chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, ý thức hệ cộng sản cũng bị phá sản theo. Thực trạng nghèo đói, bất công và áp bức dưới các chế độ cộng sản ấy đều bị vạch trần và phơi bày trước công luận. Sự hứa hẹn về một thiên đường trong tương lai không còn được ai tin nữa. Tính hệ thống trong chủ nghĩa Marx-Lenin cũng bị đổ vỡ. Nền tảng ý thức hệ của các chế độ cộng sản bị tan rã tạo thành một khoảng trống dưới chân chế độ.

Để khỏa lấp cái khoảng trống ấy, Trung Quốc sử dụng hai sự thay thế: chủ nghĩa Mao và Nho giáo (trong chủ trương tạo nên một xã hội hài hòa, dựa trên lòng trung thành). Việt Nam, vốn luôn luôn bắt chước Trung Quốc, không thể đi theo con đường ấy. Lý do đơn giản: Đề cao chủ nghĩa Mao là một điều nguy hiểm cả về phương diện đối nội lẫn đối ngoại; còn với Nho giáo, một là Việt Nam không am hiểu sâu; hai là, nó đầy vẻ… Tàu, rất dễ gây phản cảm trong quần chúng. Bế tắc, Việt Nam bèn tạo nên cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng ông Hồ Chí Minh lại không phải là một nhà lý thuyết. Ông chỉ là một người hành động. Ông viết nhiều, nhưng tất cả đều rất thô phác và đơn giản. Hơn nữa, ở Việt Nam hiện nay, cũng không có một người nào giỏi lý thuyết để từ những phát biểu sơ sài của Hồ Chí Minh xây dựng thành một hệ thống sâu sắc đủ để thuyết phục mọi người. Thành ra, cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn không trám được khoảng trống do sự sụp đổ của ý thức hệ Marx-Lenin gây ra. So với Trung Quốc, khoảng trống này ở Việt Nam lớn hơn gấp bội.

Mất ý thức hệ cộng sản, chính quyền Việt Nam chỉ còn đứng trên một chân: chủ nghĩa quốc gia.

Nhưng cái chân này cũng rất èo uột nếu không muốn nói là đã lung lay, thậm chí, gãy đổ.

Trên nguyên tắc, Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước rất cao. Bao nhiêu chế độ ra đời từ giữa thế kỷ 20 đến nay đều muốn khai thác và tận dụng lòng yêu nước ấy. Tuy nhiên, với chế độ cộng sản hiện nay, việc khai thác vốn tài sản này gặp rất nhiều khó khăn. Lý do là lòng yêu nước bao giờ cũng gắn liền với sự căm thù. Không ai có thể thấy rõ được lòng yêu nước trừ phi đối diện với một kẻ thù nào đó của đất nước. Hai kẻ thù chính của Việt Nam, trong lịch sử mấy ngàn năm, là Trung Quốc; và gần đây nhất, là Mỹ. Nhưng Việt Nam lại không dám nói quá nhiều về hai kẻ thù này. Với Mỹ, họ cần cả về phương diện kinh tế lẫn phương diện chiến lược. Đề cao truyền thống chống Mỹ, do đó, là điều rất nguy hiểm. Đề cao truyền thống chống Trung Quốc lại càng nguy hiểm hơn: Trung Quốc có thể đánh hoặc ít nhất đe dọa VIệt Nam bất cứ lúc nào.

Bởi vậy, Việt Nam, một mặt, phải hạ giọng khi nói về truyền thống chống Mỹ và phải né tránh việc nhắc nhở đến truyền thống chống Trung Quốc. Hai hành động này có lợi về phương diện đối ngoại nhưng lại có tác hại nghiêm trọng về phương diện đối nội: chính quyền hiện ra, dưới mắt dân chúng, như những kẻ hèn, hèn nhát và hèn hạ. Từ một chế độ được xây dựng trên thành tích chống ngoại xâm, chế độ cộng sản tại Việt Nam lại bị xem như những kẻ bán nước, hoặc bán nước dần dần bằng cách hết nhượng bộ điều này sang nhượng bộ điều khác trước sự uy hiếp của Trung Quốc.

Trước sự sụp đổ của cả hai nền móng, ý thức hệ cộng sản và chủ nghĩa quốc gia, đảng Cộng sản Việt Nam bèn chuyển sang một nền tảng khác: kinh tế với phương châm ổn định và phát triển. Nội dung chính của phương châm này là: Điều cần nhất đối với Việt Nam hiện nay là phát triển để theo kịp các quốc gia khác trong khu vực cũng như, một cách gián tiếp (không được nói công khai), đủ sức để đương đầu với Trung Quốc. Nhưng để phát triển, cần nhất là phải ổn định về chính trị, nghĩa là sẽ không có thay đổi về thể chế và cũng không chấp nhận đa đảng.

Phương châm ấy, thật ra, là một sự bịp bợm: Nó chuyển vấn đề từ chính trị sang kinh tế với lý luận: nếu vấn đề quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay là vấn đề kinh tế thì mọi biện pháp sửa đổi sẽ chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế. Với lập luận này, chính quyền có thể trì hoãn mọi yêu cầu cải cách chính trị.

Tuy nhiên, nó hoàn toàn không thuyết phục, bởi, ai cũng thấy, lãnh vực kinh tế là mặt mạnh nhất của chủ nghĩa tư bản và cũng là mặt yếu nhất của chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản. Tất cả các quốc gia dân chủ ở Tây phương đều có hai đặc điểm nổi bật: về chính trị, rất ổn định và hai, về kinh tế, rất phát triển. Ở Việt Nam, người ta cố thu hẹp phạm vi so sánh: các cơ quan truyền thông chính thống chủ yếu tập trung vào các nước Đông Nam Á, đặc biệt Thái Lan với một thông điệp chính: đa đảng như Thái Lan thì lúc nào cũng bị khủng hoảng. Nhưng ở đây lại có hai vấn đề: Một, dù liên tục khủng hoảng về chính trị, nền kinh tế của Thái Lan vẫn tiếp tục phát triển, hơn hẳn Việt Nam; hai, ngày nay, do xu hướng toàn cầu hóa, tầm nhìn của dân chúng rộng rãi hơn nhiều; chính quyền không thể thu hẹp mãi tầm nhìn của họ vào tấm gương của Thái Lan được.

Về phương diện lý luận, chiêu bài ổn định và phát triển, do đó, không đứng vững. Về phương diện thực tế, những sự phá sản của các đại công ty quốc doanh và đặc biệt, khối nợ nần chồng chất của Việt Nam khiến dân chúng càng ngày càng thấy rõ vấn đề: các chính sách kinh tế của Việt Nam không hứa hẹn một sự phát triển nào cả, nếu không muốn nói, ngược lại, chỉ lún sâu vào chỗ bế tắc.

Thành ra, có thể nói, tất cả các nền tảng chế độ cộng sản Việt Nam muốn nương tựa, từ chủ nghĩa Marx-Lenin đến chủ nghĩa quốc gia và lập luận ổn định để phát triển, đều lần lượt sụp đổ. Chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay như một đám lục bình chỉ nổi bập bềnh trên mặt nước. Sự tồn tại của nó chỉ dựa vào sự trung thành của công an. Do đó, một mặt, đảng cộng sản đưa ra sự khuyến dụ đối với công an: “Còn đảng, còn mình”; mặt khác, họ ngoảnh mặt làm ngơ trước hai tệ nạn do công an gây ra: tham nhũng và trấn áp dân chúng một cách dã man. Nhưng chính sách này chỉ càng ngày càng biến công an thành một đám kiêu binh và càng ngày càng đẩy công an cũng như chính quyền trở thành xa lạ với dân chúng. Sự xa lạ này càng kéo dài và càng trầm trọng, đến một lúc nào đó, trở thành đối nghịch với quần chúng.

Một nhà nước được xây dựng trên một đám kiêu binh, trong thời đại ngày nay, không hứa hẹn bất cứ một tương lai nào cả.

Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

http://www.voatiengviet.com/content/su- ... 04798.html

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Sau 39 năm

Ngô Nhân Dụng


Ngày 30 Tháng Tư năm 2014, lần đầu tiên người dân miền Nam Việt Nam đã can đảm xuống đường, không phải để ca ngợi mà để chống chính quyền. Họ trưng những biểu ngữ công khai nói lên những sự thật, sau 39 năm bị bịt miệng: 30-4 NGÀY TANG DÂN TỘC! 30-4 DÂN VIỆT MẤT QUYỀN CON NGƯỜI!

Tại sao cuộc biểu tình này có thể thực hiện trong một ngày “nhạy cảm” như vậy?

Vì kỹ thuật tổ chức của dân Việt ngày càng tinh vi, nhưng cũng vì chính quyền không thể gán cho những người biểu tình tội “chống Cộng” trong ngày 30 Tháng Tư, cho công an đàn áp ngay lập tức. Nhìn trong hình thấy những bạn trẻ và các em bé chưa sinh ra trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Có cả những bà già có con đi theo cộng sản và chết, cho các quan chức bây giờ được hưởng giàu sang. Những người biểu tình đeo khăn tang trên đầu, trên đó viết chữ tự giới thiệu họ là những “dân oan.” Dân Oan một danh từ thường chỉ chung những người đã bị đảng cộng sản cướp ruộng, cướp đất để khai thác chia phần cùng với đám tư bản đỏ.

Nhưng tại sao dân biểu tình không bị đàn áp, có thể rất dã man như những cụ già, phụ nữ, trẻ em, ở Dương Nội, Văn Giang chống cướp đất đã bị đánh đập?

Vì chính quyền địa phương và guồng máy công an tại Dương Nội, Văn Giang có quyền lợi thiết thực cho họ khi đảng cướp đất của nông dân. Trên dưới tất cả đều được “chấm mút” trong những công trình rút ruột này. Còn guồng máy công an và chính quyền tại Sài Gòn thường không được ăn miếng nào khi các đồng chí lãnh đạo Bạc Liêu hay Cần Thơ cướp ruộng đất của nông dân. Có ngu gì mà họ lại chấp nhận cảnh đứa khác ăn ốc để mình phải đi dọn vỏ?

Cũng trong ngày 30 Tháng Tư năm 2014, một Hội Dân Oan Việt Nam ra đời. Trước đó ông Nguyễn Xuân Ngữ đại diện dân oan phía Nam đã gặp gỡ nhiều dân oan các tỉnh phía Bắc, đồng ý chọn ngày 24 Tháng Tư làm Ngày Dân Oan Việt Nam.

Cuộc nội chiến Việt Nam đã chấm dứt từ năm 1975. Ngay sau đó cho tới bây giờ, một cuộc chiến mới diễn ra. Một bên là chính quyền độc tài, tham nhũng, bất lực và thối nát. Bên kia là người dân đấu tranh đòi quyền sống làm người, quyền được hưởng tự do dân chủ. Những sinh viên học sinh, những nhà trí thức, và có những nông dân chân lấm tay bùn cùng tham gia mặt trận đấu tranh.

Sau 39 năm, dân Việt vẫn phải đấu tranh đòi quyền sống làm người, đòi được hưởng những quyền tự do tối thiểu như được nói, được suy nghĩ, được hội họp tự do. Sau 39 năm, dân Việt Nam vẫn nghèo khó nhất trong vùng Á Ðông. Trong những năm tới còn lo sẽ nghèo hơn cả người Campuchia, người Lào. Sau 39 năm, mối họa phương Bắc cho thấy chính sách ngoại giao “cõng rắn cắn gà nhà” từ năm 1950 đã gây họa trường kỳ cho dân tộc như thế nào. Cho nên những người biểu tình năm nay đã nói đúng sự thật: 30 Tháng Tư năm 1975 là một Ngày Tang của Dân Tộc. Cảnh nghèo nàn chậm tiến, mất tự do và lệ thuộc ngoại bang hiện nay có thể đoán trước được từ ngày 30 Tháng Tư năm 1975, khi thi sĩ Nguyễn Chí Thiện ngồi ở trong tù cũng nhìn thấy “Một mối nhục nhằn, một mối đau thương” trùm lên đất nước.

Bài trước trong mục này kể lại những ngày kết thúc cuộc nội chiến ở nước Mỹ vào Tháng Tư năm 1865; nhân ngày 30 Tháng Tư. Cả bài chỉ kể chuyện về cung cách đối xử của những người chỉ huy miền Bắc nước Mỹ đối với người miền Nam thua trận. Những gì xảy ra ở nước ta vào năm 1975 thì chắc quý vị độc giả đã biết cả rồi. Khi đọc bài, chắc thế nào quý vị cũng nảy ra ý so sánh cảnh các cuộc nội chiến kết thúc, ở Mỹ vào thế kỷ 19 và ở Việt Nam trong thế kỷ 20.

Cuộc chiến tranh nào cũng tàn khốc, và gây nên nỗi hận thù. Nhưng khi quân miền Bắc chiếm Richmond, Tổng Thống Abraham Lincoln vào thủ đô của chính phủ miền Nam. Richmond lúc đó đã vô cùng hỗn loạn vì các cuộc cướp phá, đốt nhà, hôi của. Khi Tướng Weitsel hỏi ý kiến nên đối xử với người miền Nam thế nào, Lincoln bảo: “Hãy cho họ dễ dàng - Let 'em up easy!” Ông bị nhiều người phản đối, kể cả phó tổng thống của ông, và vị bộ trưởng chiến tranh. Vì vậy, khi nghe tin ông bị ám sát, người miền Nam lo lắng cho số phận của họ. Vị tướng miền Nam Joseph Johnson đã nói với Tướng William Sherman miền Bắc, khi hai người gặp nhau thảo luận về điều kiện đầu hàng: “Ðây là tai họa lớn nhất cho miền Nam!” Nhưng sau cùng, tai họa cũng không xảy ra. Khi còn đang đánh nhau, Tướng Sherman từng nói với dân và quân miền Nam rằng: “Khi nào hết chiến tranh, các bạn cần gì cứ tìm đến tôi! Nếu tôi có mấy cái bánh cracker, sẽ chia sẻ với bạn; tôi sẽ bảo vệ gia đình các bạn.” Hai ông tướng bàn bạc mất mấy ngày mới đồng ý về điều kiện đầu hàng, cho quân sĩ miền Nam được tự do trở về nhà, mang theo ngựa hoặc lừa, để cầy bừa vườn ruộng. Sau đó, Tướng Sherman còn quyết định cung cấp cho tất cả 25,000 quân sĩ còn lại của Tướng Johnson mỗi người mười ngày lương thực. Sherman biết kho lẫm miền Nam đã cạn kiệt, chắc ông muốn những địch quân của mình, trên đường trở về nhà không ai phải đi xin ăn hay cướp bóc. Ðiều này không nằm trong các điều kiện đầu hàng đã ký kết. Khi “Old Joe” Johnson nhận được “quà tặng bất ngờ” đó, ông thẳng thắn ca ngợi: “Lòng yêu nước lớn lao” của vị tướng đối nghịch. Trước đây ông vẫn nghĩ rằng phải đối đầu với Tướng Sherman trên chiến trường nỗi bất hạnh của đời mình; nay hóa ra đó lại là điều may mắn cho cả đạo quân dưới quyền.

Nghĩ đến cảnh những người lính miền Nam nước Mỹ đem theo mười ngày lương thực trên đường về nhà, lại nhớ đến cảnh ở Việt Nam, sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Các sĩ quan và công chức miền Nam từ giã gia đình, “đem theo lương thực đủ dùng trong mười ngày;” có người đem theo đủ một một tháng, như ghi trong giấy mời trình diện. Họ ôm theo thức ăn, và quần áo, xà bông, khăn mặt, kem đánh răng, tự mình đi vào tù, ai cũng nghĩ rằng sẽ chỉ phải “học tập” một tháng là xong. Các lãnh tụ cộng sản ở Hà Nội tự vỗ bụng khen mình là “đỉnh cao trí tuệ” vì đã bày mưu đánh lừa được mấy trăm ngàn người tự nguyện chui đầu vào cái thòng lọng họ đã giương ra, sẵn sàng siết cổ. Bản thân ký giả này, nếu không may mắn thoát đi trước, chắc cũng đã tự nguyện chui đầu vào cái thòng lọng đó.

Nhiều người sẽ tự hỏi: Có phải người Mỹ vào thế kỷ 19 họ hiền lành, tử tế với nhau hơn người Việt Nam 110 năm sau hay không? Tôi không nghĩ như vậy. Ðã đi qua nhiều nước và đọc truyện kể từ nhiều nơi, tôi vẫn tin chắc rằng loài người ở đâu cũng như nhau, không ai tốt hơn mà cũng chẳng ai xấu hơn ai.

Vậy thì tại sao chính quyền miền Bắc nước Mỹ, các tướng lãnh và quân đội của họ lại đối đãi tử tế với những đạo quân miền Nam và dân chúng miền Nam thua trận như vậy? Vì vào năm 1965, chế độ dân chủ ở nước Mỹ đã được thực hiện hơn nửa thế kỷ. Một nguyên nhân chính gây nên cuộc nội chiến là các tiểu bang miền Nam không công nhận người da đen có quyền công dân như người da trắng, trong khi miền Bắc đã làm luật giải phóng nô lệ. Nhưng trong thời gian nội chiến 4 năm, chính quyền cả hai miền đều dùng các Hiến Pháp bảo đảm các công dân được bầu cử tự do, báo chí tự do, hội họp tự do, bộ máy nhà nước phải tôn trọng hiến pháp, luật pháp và các công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật. Với thể chế tự do, những người lãnh đạo phải theo ý dân. Mà dân chúng nước nào thì cũng sẵn sàng bao dung, đùm bọc đồng bào của mình.

Vào năm 1975, chế độ miền Nam Việt Nam được đặt trên nền tảng dân chủ, mặc dù chưa vì trong cảnh chiến tranh không được đầy đủ như nhiều người dân mong muốn. Tại miền Bắc thì chế độ cộng sản hoàn toàn bác bỏ các quy tắc dân chủ, coi đó là một sản phẩm của chủ nghĩa tư bản. Nhưng nguyên nhân chính khiến cho chế độ miền Bắc thắng trận đối xử với quân và dân miền Nam một cách khắc nghiệt tàn tệ, là vì họ theo chủ nghĩa Mác-Lê Nin.

Theo Mác-Lê Nin là theo một “tín ngưỡng,” mặc dầu vẫn là vô thần. Những người cộng sản tin những điều Mác-Lê Nin nói đều là “chân lý” tuyệt đối, không khác gì tín đồ các tôn giáo thời Trung Cổ. Tinh thần cuồng tín đó được nhồi sọ cho các đảng viên cộng sản, bảo họ chia thế giới ra làm hai phần; những người theo mình là bạn, còn tất cả những người khác ý kiến là kẻ thù. Và đối với kẻ thù, họ không cần áp dụng các quy tắc luân lý cũng như luật pháp nào cả. Cho nên họ tha hồ dùng thủ đoạn lừa gạt, dối trá, tha hồ dùng bạo lực, cho đến việc thu hộ khẩu, cắt tem phiếu, và bây giờ là thu hồi quyền sử dụng đất, để bắt mọi người phải phục vụ cho mình.

Các đảng viên cộng sản được đào tạo như vậy từ khi xin vào đảng, từ 1920, 30 cho tới năm 1975 vẫn như vậy. Trong thế giới cộng sản tình cảm giữa người với người bị xóa bỏ, thay vào đó là lòng trung thành tuyệt đối với Ðảng (viết hoa), tức là sẵn sàng tuân lệnh cấp trên. Những người như Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Ðức Thọ đã được đào tạo như vậy.

Ðược “giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lê Nin” cho nên các lãnh tụ cộng sản vào năm 1975 trong lòng coi tất cả dân, quân miền Nam không phải là người, không phải là “đồng bào;” mà chỉ là những kẻ thù của cuộc cách mạng vô sản toàn thế giới.

Người Việt Nam bình thường không đối xử với nhau tàn tệ như bọn lãnh tụ cộng sản vào năm 1975. Nếu được bỏ phiếu lựa chọn, chắc chắn dân chúng miền Bắc không ai nỡ bắt dân chúng miền Nam phải qua cảnh tập thể hóa, đánh tư sản, tù cải tạo. Vì chính họ đã bị đem ra làm thí nghiệm cho chủ nghĩa cộng sản mấy chục năm rồi! Chính chủ nghĩa cộng sản đã biến dân Việt Nam thành kẻ thù đối với nhau, chia rẽ cả dân tộc khắp mọi nơi chứ không chỉ chia hai miền Nam Bắc.

Một độc giả mới gửi thư hỏi, “Tại sao nội chiến Mỹ người ta nhanh bỏ qua, còn ở Việt Nam thì sau 39 năm rồi vẫn còn còn nhiều việc phải làm?”

Câu trả lời là: Vì suốt 39 năm qua, dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục sống dưới quyền cai trị của một đảng cộng sản.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Sai lầm trong chính sách đối ngoại của Việt nam đã đến lúc phải trả giá Do vậy việc cho rằng thực chất đây được coi là hành động đối phó của Trung quốc, vì thông báo của Cục Hải sự Trung Quốc được đưa ra ngay sau khi có tin Việt Nam vừa đề nghị giao thêm hai lô cho Công t

Câu chuyện Biển Đông một lần nữa lại nóng bừng lên, sau khi chính quyền Trung quốc chính thức đưa giàn khoan HD-981 vào trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam và chỉ cách bờ biển Việt nam 120 hải lý. Điều đó chứng tỏ Trung quốc đang có những bước đi mới rất quyết đoán rất nguy hiểm và chắc chắn tất cả các bước đi này đều được họ tính toán một cách kỹ càng.

Điều này đã khiến cho không ít người giận dữ và hỏi rằng tại sao chính quyền Việt nam lại làm ngơ để Trung quốc hoành hành trên Biển Đông như trong ao nhà của họ, vì theo họ đây chắc chắn là một sự việc nghiêm trọng và có thể ví như giặc đã vào trong nhà, nghĩa là Trung quốc đã chính thức xâm lược lãnh hải của Việt nam.

Trên thực tế thì vị trí tọa độ của giàn khoan HD-981 nếu xét theo quy ước về thềm lục địa tính từ quần đảo Hoàng sa hiện tại thuộc quyền quản lý của Trung quốc, thì giàn khoan này vẫn nằm trong thềm lục địa của quần đảo Hoàng sa mà Trung quốc cho là của họ. Nếu vậy thì đương nhiên Trung quốc có quyền đặt giàn khoan trên mọi khu vực thuộc phạm vi này. Nhưng một khi khu vực này vẫn đang là khu vực tranh chấp, thì phía Trung quốc không có quyền đưa giàn khoan vào vùng biển này.

Do vậy việc cho rằng thực chất đây được coi là hành động đối phó của Trung quốc, vì thông báo của Cục Hải sự Trung Quốc được đưa ra ngay sau khi có tin Việt Nam vừa đề nghị giao thêm hai lô cho Công ty ONGC Videsh của Ấn Độ thăm dò dầu khí chỉ là bao biện và khó đứng vững. Cho dù trước đây Việt Nam từng đề nghị giao cho OVL năm lô để công ty này tổ chức thăm dò dầu khí ở biển Đông vào tháng 11.2013 và theo báo chí nước ngoài thì OVL chỉ chọn một trong 5 lô mà Việt Nam đề nghị giao hồi năm ngoái và đang thẩm định hai lô mà Việt Nam mới đề nghị giao thêm.
Image
Giàn khoan mở màn cho một giai đoạn xâm lấn mới?


Việc tranh chấp trong việc khai thác dầu khí ở khu vực này không phải là chuyện mới, mà trước đây đã có chuyện một số các công ty dầu khí của Hoa kỳ, Anh... đã đơn phương hủy bỏ các hợp đồng thăm dò và khai thác với Việt nam do chịu sức ép từ phía Trung quốc. Điều đó khiến Trung quốc càng ngày càng được thể lấn tới. Không chỉ thế, còn nhớ trong nhiều năm gần đây Trung quốc còn ra sức cản trở các hoạt động tìm kiếm, khảo sát thăm dò địa chấn của các tàu nghiên cứu của Việt nam, cụ thể là các hành động cắt cáp của các tàu thăm dò như Viking, Bình Minh 2... các năm 2011 và 2012. Hành động đó cộng với các hoạt động khác trên Biển Đông giới được quan sát cho rằng tất cả những động thái này đều nhằm hỗ trợ cho yêu sách đòi chủ quyền gần như toàn bộ vùng biển này của Trung quốc đã được cụ thể hóa trong đường lưỡi bò chín đoạn mà họ đơn phương đưa ra.

Tuy nhiên để đáp trả các hành động này từ phía Trung quốc thì chính quyền Việt nam chỉ có các phản ứng yếu ớt, lấy lệ cho qua với chiêu bài cũ rích và lặp đi lặp lại. Đó là luôn luôn chỉ bài ca: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình được xác định phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.".

Thử hỏi rằng với cách phản ứng lặp đi lặp lại như vậy trong nhiều năm qua, chính quyền Việt nam đã đạt được một kết quả gì đáng gọi là khả quan hay chưa? Chỉ bằng biện pháp thông qua con đường ngoại giao để phản đối, chỉ trích thì liệu có thể bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ và chủ quyền của quốc gia? Do đó vấn đề đặt ra bây giờ là tại sao chính quyền Việt nam không đưa vấn đề Biển Đông ra kiện Trung quốc trước tòa án quốc tế như Philippines đã và đang tiến hành? Vì chỉ có bằng các hành động kiên quyết, cụ thể và sức ép quốc tế như vậy mới có thể hy vọng ngăn chặn chính sách vết dầu loang trong việc bành trướng lãnh hải của Trung quốc trên Biển Đông.

Đây có thể nói là hệ quả của vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng sa đã bị mất vào tay Trung quốc từ năm 1974 nhưng không được giải quyết một cách cụ thể và rõ ràng trong suốt thời gian 40 năm qua. Vì theo luật quốc tế, nếu có tranh chấp lãnh thổ mà giữa các kháng nghị có 1 khoảng gián đoạn 50 năm hoặc nhiều hơn thì những đòi hỏi lãnh thổ trở nên vô hiệu. Nếu như vậy, Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm 40 năm vaf từ đó đến nay Việt Nam chưa gửi bất kỳ một kháng nghị, hoặc đơn kiện nào lên Tòa án Quốc tế về luật Biển. Như vậy Việt Nam chỉ còn 10 năm nữa để tiến hành, nếu như trong vòng 10 năm tới phía Việt nam không có bất kỳ một kháng nghị hay đơn kiện nào thì theo Luật biển quốc tế coi như Việt Nam chấp nhận mất Hoàng Sa và một số đảo ở khu vực Trường Sa vĩnh viễn về tay Trung Quốc.

Hiện nay, với đường lối đối ngoại giữa Việt nam và Trung quốc bị trói chặt vào nền tảng quan hệ láng giềng hữu nghị theo tinh thần bốn tốt và khẩu hiệu 16 chữ vàng và trong suốt một thời gian dài điều đó đã và đang bị phía Trung quốc triệt để khai thác trong quan hệ nước cộng sản lớn đối với một nước cộng sản nhỏ để lấn lướt, kể cả việc xâm chiếm lãnh thổ. Trong lúc các lãnh tụ cộng sản thì nhu nhược, cúi đầu trước các yêu sách và đòi hỏi hết sức ngang ngược của nhà cầm quyền Trung quốc đi từ các nhân nhượng này đến các nhân nhượng khác. Nhưng ngược lại trong chính sách đối nội thì vấn đề Biển Đông luôn được coi là vấn đề nhạy cảm, là vùng cấm mà người dân không có quyền quan tâm đến, mà để "Đảng và nhà nước lo". Với tình hình như vậy thì nguy cơ mất vĩnh viễn quần đảo Hoàng sa và một số đảo thuộc quần đảo Trường sa là điều tương đối chắc chắn. Nhất là trong lúc này nếu như Hoa kỳ đã bật đèn xanh cho Trung quốc trong chính sách Biển Đông để đổi lấy các chính sách có lợi cho họ từ phía Trung quốc, điều mà Hoa kỳ đã từng bắt tay với Trung quốc để bỏ rơi VNCH vào năm 1972. Nếu điều đó thực sự xảy ra thì có nghĩa là trong một tương lai gần Trung quốc sẽ lần lượt chiếm hết các đảo trong khu vực Biển Đông của Việt nam, điều đó cũng có nghĩa là Trung quốc đã làm chủ hoàn toàn Biển Đông.

Trở lại vấn đề giàn khoan HD-981 của Trung quốc nằm trong vị trí các lô mà Việt nam đã cho Công ty ONGC Videsh của Ấn Độ thăm dò dầu khí. Nếu như lần này phía Trung quốc tìm mọi cách để gây áp lực để buộc Công ty ONGC Videsh tự động đơn phương ngưng hợp đồng để rút khỏi việc khai thác và thăm dò dầu khí trong khu vực thềm lục địa của Việt nam thì chuyện gì sẽ xảy ra? Nếu không phải là việc phía Việt nam bị vô hiệu hóa và phải bất lực trong việc tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí trong phần thềm lục địa thuộc chủ quyền hợp pháp của mình. Và cứ như thế, nếu lần lượt có nhiều các giàn khoan cỡ lớn như DH-981 án ngữ trong khu vực quần đảo Hoàng sa và Trường sa thì điều gì sẽ xảy ra đối với Việt nam?

Việc Trung quốc đưa dàn khoan HD-981 vào thềm lục địa của Việt nam cách bờ biển Việt nam chỉ 120 hải lý cùng với việc Việt nam ngày càng lệ thuộc vào Trung quốc về kinh tế, đặc biệt là những dự án đầu tư của Trung quốc ở các vùng địa bàn chiến lược của Việt nam đã khiến người ta không thể không nghi ngờ về sự tồn tại của vùng biển cũng như các hòn đảo thuộc chủ quyền của Việt nam.

Sai lầm trong chính sách đối ngoại của Việt nam đã đến hồi phải trả giá.

Ngày 05 tháng 5 năm 2014

Kami
(Blog Kami)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Thôi rồi, biển Đông!
Dẫu vậy, người Việt vẫn thua rất đậm. Với cảnh báo gây sự của Cục Hải sự Trung Quốc, có nhiều khả năng, chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông chỉ còn trên giấy, trong các tuyên bố…

Mình tin, giàn khoan Hải dương 981 của Trung Quốc sẽ không cắm mũi khoan xuống bất kỳ chỗ nào ở lô 143 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Dẫu vậy, người Việt vẫn thua rất đậm. Với cảnh báo gây sự của Cục Hải sự Trung Quốc, có nhiều khả năng, chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông chỉ còn trên giấy, trong các tuyên bố…

***
Tuyên bố của Cục Hải sự Trung Quốc về việc đưa giàn khoan Hải dương 981 vào tìm dầu ở vị trí chỉ cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) chừng 220 cây số khiến người Việt sôi sùng sục.

Giống như nhiều lần trước, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam lên tiếng phản đối.

Trung Quốc đáp lại bằng việc tăng bán kính cấm tiếp cận khu vực Hải dương 981 hoạt động từ một hải lý thành ba hải lý.

Không có bằng chứng nào khắc họa rõ hơn cho bi kịch ra sức xiển dương “Tinh thần bốn tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt), “16 chữ vàng” (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai) mà Trung Quốc đề ra.

Mới đây, theo tường thuật của Thông tấn xã Việt Nam, anh Phạm Bình Minh, Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Việt Nam đã gọi điện thoại cho anh Dương Khiết Trì, Ngoại trưởng Trung Quốc về vụ giàn khoan Hải dương 981.

Anh Minh nhấn mạnh, Việt Nam không thể chấp nhận và kiên quyết phản đối chuyện đưa giàn khoan 981 vào thăm dò ở lô 143 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Anh Minh yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải dương 981 và các tàu hộ tống ra khỏi khu vực vừa kể. Anh Minh kêu gọi Trung Quốc cùng đàm phán để xử lý những bất đồng xung quanh vấn đề này.

Anh Minh khẳng định: “Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp phù hợp cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình”. Đồng thời bày tỏ hi vọng Trung Quốc “không để vấn đề này tổn hại đến sự tin cậy chính trị và hợp tác giữa hai bên”.

Mình tin giàn khoan Hải dương 981 sẽ không làm gì ở lô 143 cả. Tuy nhiên chuyện đó không phải do công của anh Minh, cũng chẳng phải “ơn Đảng, ơn Nhà nước”, hay vì Trung Quốc không muốn làm “tổn hại đến sự tin cậy chính trị và hợp tác giữa hai bên” (nếu quả thật giữa Trung Quốc và Việt Nam có cái gọi là “sự tin cậy chính trị và hợp tác”).

***
Quan sát kỹ các diễn biến thời sự, hẳn ai cũng thấy Trung Quốc đang gia tăng nỗ lực ve vuốt, trấn an lân bang trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Mình tin Trung Quốc đủ khôn ngoan để hiểu rằng, bối cảnh khu vực và thế giới không có lợi cho việc thực hiện một hành động như đưa giàn khoan Hải dương 981 vào thăm dò dầu khí ở lô 143.

Thế thì Cục Hải sự của Trung Quốc phát cảnh báo gây sự nhằm làm gì?

Mình tin là nó có liên quan tới chuyện Việt Nam đề nghị giao thêm hai lô cho Công ty ONGC Videsh của Ấn Độ thăm dò dầu khí.

Cảnh báo gây sự của Cục Hải sự có tính chất như một thông điệp, gửi cho ONGC Videsh của Ấn Độ.

Ai cũng biết, thăm dò dầu khí rất tốn kém. Cũng vì vậy, các tập đoàn dầu khí trên thế giới không bao giờ bỏ tiền thăm dò – đeo đuổi kế hoạch hợp tác khai thác dầu khí ở những vùng bất ổn về chính trị, bởi điều này rất dễ dẫn tới tình trạng “xôi hỏng, bỏng không”.

Tiền của các tập đoàn dầu khí nước ngoài không giống như tiền của tập đoàn dâu khí Việt Nam. thành ra cách người ta xài cũng rất khác.

***

Để dễ hình dung về hiện trạng và tương lai biển Đông của người Việt, mời bạn tưởng tượng…

Mình được thừa kế một khoảnh đất bên hông nhà. Trong lòng của khoảnh đất đó có một mỏ vàng. Phía bên kia khoảnh đất là một gã hàng xóm tham lam và nham hiểm. Y muốn hưởng lợi lớn nhất từ khoảnh đất bên hông nhà mình nên bảo nó là của y. Cũng vì vậy mà khỏanh đất này rơi vào tình trạng “đang có tranh chấp về chủ quyền”.

Vì không đủ sức tự khai thác vàng, mặt khác muốn có ai đó thay mình đương đầu với gã hàng xóm mạnh hơn, mình đi tìm người, mời đến cùng khai thác. Đã có vài người đến xem nhưng sau đó họ lần lượt rút lui, vì nhận ra cả vốn đầu tư lẫn công sức của họ trong chuyện “hợp tác thăm dò, khai thác” có thể tiêu tán.

Một phần do gã hàng xóm hung hãn quá, y có thể sẽ liên tục quấy rối. Phần khác, mình nhu nhược, khó hiểu quá.

Thiên hạ, đặc biệt là những kẻ có tiền để “hợp tác khai thác vàng” không mù, cũng chẳng ngu.

Ai cũng dễ dàng nhận ra, trên khoảnh đất mà mình bảo là của mình, con cái mình không thể tự do chạy nhảy, chơi đùa. Chúng liên tục bị gã hàng xóm rượt đuổi, đánh đập, có đứa còn bị gã bắn bỏ. Là chủ và là cha song thỉnh thoảng mình mới phản đối cho con cái yên tâm, thiên hạ không chê cười, còn thường thì mình vẫn “bá vai, bá cổ” gã hàng xóm, thề thốt, hứa hẹn trước thiên hạ, rằng mình suốt đời sẽ là “láng giềng tốt, bạn bè tốt”, thậm chí là “đồng chí tốt, đối tác tốt” của y. Đôi khi do… say, mình cao hứng tuyên bố, mình và y đã, đang, sẽ còn dựa vào nhau, bởi giống nhau từ cung cách quản trị gia đình, đến suy nghĩ về ứng xử với thiên hạ!

Ai cũng dễ dàng nhận ra, thay vì phải đối đầu với gã hàng xóm tham lam, độc ác, bảo vệ di sản của tiền nhân, mình ở trong nhà, khuyến khích con cái chạy nhảy, chơi đùa trên mảnh đất “đang có tranh chấp” để thay mình chứng minh “quyền chủ quyền”, rồi tiếp tục đi tìm đối tác. Đứa nào bị gã hàng xóm rượt đuổi, đánh đập, bắt giữ, bắn bỏ là chuyện của… nó. Mình không bận tâm, trừ khi điều đó ảnh hưởng tới vai trò… chủ gia đình của mình!

Hợp tác với một người chủ, một người cha thuộc loại “xưa nay hiếm” như mình, thay mình đối đầu với một gã phàm phu như hàng xóm của mình, chấp nhận đứng giữa một mối quan hệ phức tạp như quan hệ giữa mình và gã hàng xóm thì không thể loại trừ khả năng ngay cả cái… lai quần cũng mất. Chả ai dại!

Trước sau, dẫu mình vẫn ra rả bảo với thiên hạ và con cái mình rằng, khoảnh đất bên hông nhà mình là của mình nhưng do mình như thế và gã hàng xóm của mình là lọai như vậy, khoảnh đất đó không sinh lợi.

Với một người chủ và một người cha như mình, sẽ có ngày, hoặc là mình chấp nhận cùng gã hàng xóm hợp tác khai thác vàng để khỏi đi móc bọc. Hoặc tệ hơn, gã hàng xóm sẽ mời những đối tác cũ của mình cùng gã hợp tác khai thác.

Một người cha, một người chủ như mình phỏng sẽ làm được gì cho rạng rỡ tổ tông, con cái hoan hỉ.


***

Để dễ liên hệ với câu chuyện mình vừa kể, mời bạn xem lại các diễn biến thực tế mà mình tạm thống kê một số sự kiện mà hẳn bạn đã biết. Thống kê này có thể chưa đầy đủ nhưng đó là lý do tại sao: Thôi rồi, biển Đông!

- 6/ 2007: Tập đoàn Dầu khí British Petroleum (BP) của Anh, tuyên bố tạm ngưng thăm dò tại lô 5.2 và 5.3 vì “áp lực từ tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc”. BP giải thích việc tạm ngưng thăm dò là “để cho các quốc gia có liên quan có cơ hội giải quyết vấn đề”.


BP có 55,5% cổ phần ở lô 5.2 và 75% cổ phần ở lô 5.3. Các đối tác khác trong Dự án Nam Côn Sơn là ConocoPhillips của Hoa Kỳ và PetroVietnam.


BP đầu tư vào Việt Nam từ năm 1989 để thăm dò sản xuất dầu khí, phân phối khí gas lỏng LPG và dầu nhờn.


- 7/2008: Trung Quốc khuyên tập đoàn Exxon Mobil của Mỹ nên rút ra khỏi những dự án khai thác dầu với Việt Nam, sau khi có tin Exxon Mobil hợp tác với Petro Vietnam thăm dò các lô 135, 136, khu vực Tư Chính – Vũng Mây của bồn trũng Nam Côn Sơn.


Exxon Mobil cho biết chưa ký thỏa thuận nào về việc thăm dò – khai thác dầu ở biển Đông, trừ việc cùng PetroVietnam lượng định kỹ thuật và thương mại cho một số địa điểm có triển vọng ở biển Đông.

Tuy không rút lui nhưng Exxon Mobil không làm gì thêm.

- 3/2009: BP của Anh chính thức tuyên bố rút khỏi dự án thăm dò dầu khí tại hai lô 5.2 và 5.3 ngoài khơi Việt Nam, sau gần hai năm tạm ngưng hợp tác thăm dò – khai thác.


- 5/2010: Việt Nam phải cử chiến hạm hộ tống tàu Aquila Expoler của Công ty thăm dò – khai thác dầu khí Neon Energy (Úc) khi tàu này tiến hành thăm dò địa chấn hai chiều ở lô 120 ngoài khơi Quảng Ngãi.

- 5/2011: ConocoPhillips – Tập đoàn Dầu khí lớn thứ ba tại Mỹ xác nhận kế hoạch bán cổ phần trong ba công trình khai thác dầu hỏa và khí đốt tự nhiên ở biển Đông.

Lúc đó, ConocoPhilips nắm giữ 23,3% cổ phần trong một cụm gồm 5 mỏ dầu thuộc lô 15-1, 36% cổ phần của mỏ Rạng Đông trong lô 15-2 tại khu vực bể Cửu Long. Trong năm 2009, sản lượng các mỏ dầu này đạt mức tương đương 32.000 thùng mỗi ngày. Ngoài ra, Conoco còn có 16,3% cổ phần trong đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn, công suất 700m3/ngày, nối liền bể Nam Côn Sơn với miền Nam Việt Nam.

- 6/2011: South China Morning loan báo, Trung Quốc liên tục đe dọa Idemitsu (Nhật), BP (Anh) và ExxonMobil (Mỹ) nếu các tập đoàn này không rút khỏi những dự án hợp tác thăm dò – khai thác dầu với Việt Nam.

- 10/2011: Trung Quốc cánh cáo “các công ty nước ngoài không tham gia thăm dò và khai thác dầu khí tại các vùng biển đang tranh chấp” sau khi ExxonMobil loan báo đã phát hiện ra dầu khí sau mũi khoan thứ hai trong lô 119 ngoài khơi Đà Nẵng.

- 06/2012: Tổng công ty Dầu khi Hải dương Trung Quốc (CNOOC) mời thầu 9 lô dầu khí ở biển Đông, cả 9 lô này đều nằm sát bờ biển miền Trung và miền Nam của Việt Nam.

- 2/2014: Lưu Khiêm – chuyên gia Viện Hàn lâm Chiến lược Năng lượng Trung Quốc thuộc Đại học Dầu khí Trung Quốc, tuyên bố do rất nhiều điểm tương đồng trong nhu cầu năng lượng, Ấn Độ và Trung Quốc cần phải hợp tác với nhau. Các hãng dầu khí Ấn Độ sẽ không thể hợp tác với Trung Quốc trong các dự án khai thác dầu hay đường ống dẫn khí nếu tiếp tục tham gia vào các dự án dầu khí với Việt Nam ở biển Đông.


- 2/2014: Lukoil – tập đoàn dầu khí lớn thứ hai của Nga tuyên bố rút khỏi dự án Hanoi Trough-02 (НТ-02), tại biển Đông. Lukoil mua 50% cổ phần trong dự án từ tháng 4 năm 2011. Ông Vagit Alekperov cho biết. Lukoil “phải rút khỏi dự án này” nhưng không cho biết lý do.

***
Cũng cần phải nhắc thêm để bạn… giận. Đó là tháng 3 năm 2009, sau khi ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc, sang thăm Việt Nam và hai bên “nhất trí” lấy năm 2010 là “Năm Hữu nghị Việt – Trung”, nhằm kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai bên, BP chính thức thông báo ngưng hợp tác thăm dò – khai thác dầu khí trên biển Đông.

Trước đó, BP chỉ tạm ngưng hợp tác thăm dò – khai thác dầu khí trên biển Đông để chờ Việt Nam – Trung Quốc giải quyết tranh chấp chủ quyền. Họ chờ như thế gần hai năm và dứt hẳn khi quyết định chọn 2010 là “Năm Hữu nghị Việt – Trung” được công bố!

Tháng 11 năm ngoái, Việt Nam từng đề nghị giao cho ONGC Videsh của Ấn Độ năm lô để công ty này tổ chức thăm dò dầu khí ở biển Đông. Tuy nhiên, ONGC Videsh của Ấn Độ chỉ chọn một trong 5 lô mà Việt Nam đề nghị giao hồi năm ngoái và đang thẩm định hai lô mà Việt Nam mới đề nghị giao thêm.

Bảy lô mà Việt Nam giao cho ONGC Videsh của Ấn Độ là giao trực tiếp, không tổ chức đấu thầu theo thông lệ. Dưới gầm trời này chẳng lẽ chỉ còn ONGC Videsh của Ấn Độ đủ khả năng thăm dò, khai thác hay vì thiên hạ vẫy tay từ biệt hết rồi?

***
Đảng, Nhà nước nhận lo mọi chuyện. Cả mình và bạn đã nhiều lần tặc lưỡi, thôi thì… và bởi có rất nhiều người giống hệt chúng ta nên hậu quả phải là thế thôi! Tiên trách kỷ, hậu trách nhân!

Ngày hôm kia, nếu bạn hoan hỉ trước tin tàu của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam đang chặn đường tiến của giàn khoan Hải dương 981 và những hộ tống hạm của Trung Quốc trên biển Đông, ngày hôm qua nếu bạn hả hê trước viễn cảnh mà mấy ông tướng nghỉ hưu vạch ra, đó là tịch thu giàn khoan này thì cứ hoan hỉ, hả hê. Loại doping này không mất tiền mua mà tác dụng lại lớn.

Nếu thấy chưa đã, bạn cũng có thể tuyên bố “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình được xác định phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982”. Thậm chí bạn có thể gào lên “không thể chấp nhận và kiên quyết phản đối”, có thể thề “sẽ áp dụng mọi biện pháp phù hợp cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình”.

Song ráng nhớ là chỉ có thể đứng trong bờ để ti toe thôi. Biển Đông? Xong rồi!

Đồng Phụng Việt

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Biển Đông Dậy Sóng
Thách Thức Lòng Yêu Nước Của Người Việt Hải Ngoại

Hầu hết người Việt Hải ngoại đều căm thù chủ nghĩa cộng sản, và đó là lý do họ bỏ nước ra đi. Ngày nay dân tộc Việt Nam đều biết chính Hồ Chí Minh và thuộc hạ đã cỏng rắn cắn gà nhà, rước voi dày mã tổ.

Nói một cách ví von: "VC là một chế độ cực kỳ tham ô, kể cả tham ô bằng cách bán nước để mưu cầu lợi và danh. Nếu đất nước là một nhà kho thì VC là tên giữ kho vừa mở cửa kho cho những tên trộm (Trung cộng) vừa tự họ biển thủ hàng trong kho". (Thư riêng của Luật sư Đỗ Thái Nhiên).

Tất cả người Việt Nam, ai ai cũng căm thù bọn ba tàu đại Hán từ ngàn năm trước cho tận ngàn sau. Vì trót theo chủ nghĩa cộng sản, Việt Nam đã thành chư hầu của Trung cộng. Khi Tàu cộng ngang ngược mang dàn khoan lắp đặt trong lảnh hải Việt Nam, xịt nước và đâm vào tàu bè Việt Nam, đã gây sôi sục căn hờn cho niềm tự hào dân tộc.

Nhiều bậc thức giả, nhân cơ hội nầy, kêu gọi mọi người Việt bất kể chính kiến, nên đoàn kết để chống xâm lược. Cũng có bậc sâu sắc hơn, kều gọi dân chúng nhân cơ hội bọn đầu sỏ ác với dân hèn với giặc, cùng nỗi lên lật đổ chính quyền buôn dân bán nước rồi chống xâm lược thì hiệu quả hơn.

Thực vậy, trước sự hống hách của giặc tàu và sự nhu nhược của csvn, đã đặt người Việt hải ngoại vào tình thế phải cân nhắc

Chống Trung cộng? - Dĩ nhiên!.

Chống Việt cộng? - Dĩ nhiên!

Ủng hộ Việt cộng đánh Trung cộng? - ????

Là một cựu quân nhân, một cựu tù nhân chính trị, một công dân Việt Nam bỏ xứ, chúng tôi xin đưa ra 2 nhận định và 4 điều kiện như sau:

Nhận định 1- Những người Việt quốc gia, xưa nay trung thành với ngọn cờ chính nghĩa, ngọn cờ Dân Tộc, mà biểu tượng hiện nay là Cờ vàng ba sọc đỏ.

Nhận định 2- Chúng ta tranh đấu cho một Việt Nam Dân chủ, Tự do, Nhân quyên và Đa nguyên Đa đảng.

Từ hai nhận định trên, muốn toàn dân đứng lên chống giặc ngoại xâm, phải hội đủ những điều kiện cần thiết như sau:

Điều kiện 1- Đảng Cộng sản Việt Nam bỏ điều 4 Hiến Pháp, chủ trương Đa nguyên Đa đảng. Đây là lý do chính đáng để huy động toàn dân chống Trung cộng.

Điều kiện 2- Thay cờ đảng búa liềm và cờ đỏ sao vàng bằng lá cờ Dân tộc (Ví dụ lá cờ khởi nghĩa của các bậc anh hùng như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Hai Bà Trưng, Quang Trung...) Toàn dân Việt Nam chống Tàu dưới lá cờ Dân tộc, chứ không phải dưới lá cờ của Đảng cộng sản.

Điều kiện 3- Đảng Cộng sản Việt Nam xin lỗi nhân dân Việt Nam về sự lầm lẫn đã theo chủ nghĩa cộng sản, lầm lẫn bợ đở Tàu, lầm lẫn cải cách ruộng đất, lầm lẫn trả thù các chiến sĩ VNCH sau 04/1975, lầm lẫn bắt bớ giam cầm những người yêu nước hiện nay...Như vậy để nói lên thành tâm của người cộng sản..

Điều kiện 4- Chọn đồng minh tốt, biết điều, không nham hiểm như Tàu. "Những sự việc kiểu mua vũ khí của Nga, kiểu tập trận bằng đạn thật chẳng qua chỉ là trò chơi "đạn thật nhưng mục tiêu là mả tử". Nếu thực sự chống Trung cộng thì hành động tiên khởi của VC là phải nhiệt thành và tích cực liên minh chặt chẽ với Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Phi luật tân, Đại Hàn...Tập trận bằng đạn thật không hề làm cho một quân đội mà tướng tá là những tay tham ô lập tức trở nên hùng mạnh". (Thư riêng của LS/ ĐTN)

Thực hiện được bốn điều kiện trên, nhà cầm quyền Việt Nam mới chứng tỏ cho toàn dân và lịch sử thấy được thực tâm của mình đối với tiền đồ dân tộc, nếu không, thì chỉ là bọn mãi quốc cầu vinh mà thôi.

Trong hiện tại, mong sao người Việt hải ngoại nên đặt sự an nguy của VN trước hiểm họa bắc phương, hơn là chia rẻ, nghi kỵ và đánh phá lẫn nhau.

Vũ khí khả dụng của cộng đồng người Việt hải ngoại để chống Trung cộng là truyền thông, báo chí, là vận động sự ủng hộ của các giới chức dân cử và chính quyền sở tại, qua họ, đánh động cho cả thế giới thấy đuợc sự xâm lăng trắng trợn của Trung cộng.

Chúng tôi mạo muội nêu lên những suy nghĩ nông cạn của một quân nhân cộng hòa trước sự kiện Biển Đông liên quan đến tâm tư tình cảm của người Việt tị nạn cộng sản. Mong các bậc hiền nhân tài trí chỉ dạy thêm cao kiến để bồi đắp cách suy nghĩ của cộng đồng sao cho thích hợp với hiện trạng của đất nước.

Trân trọng

KQ võ ý

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Báo chí Việt Nam lại nói láo lừa bịp dân vấn đề biển Đông

Ngọc Nhi Nguyen (Danlambao) -
Báo Việt Nam giật tít “Tất cả các nhà lãnh đạo ASEAN ủng hộ bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng”

Trong khi đó thì báo chí thế giới cho biết Việt Nam đã hoàn toàn thất bại trong việc cầu xin sự giúp đỡ của các nước trong khối ASEAN.

Sau đây là phần trích dịch bài báo của tờ New York Times:

Việt Nam thất bại trong việc kêu gọi đối tác giúp đỡ vấn đề tranh chấp với Trung Quốc.


HÀ NỘI, Việt Nam - Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, vào Chủ nhật vừa qua, đã cáo buộc Trung Quốc có “hành vi vi phạm nguy hiểm và nghiêm trọng” trong tranh chấp lãnh thổ. Việc này đã khiến cho sự tức giận đối với Trung Quốc ở Việt Nam tăng lên mức cao nhất trong năm.

Ý kiến của ông Dũng, được công bố trên các phương tiện truyền thông nhà nước Việt Nam, đã được gửi đến các nhà lãnh đạo của các nước Đông Nam Á tham dự cuộc họp thượng đỉnh tại Myanmar. Đó là tuyên bố mạnh nhất của ông kể từ khi Trung Quốc kéo một giàn khoan dầu khổng lồ vào vùng biển tranh chấp ngoài khơi bờ biển của Việt Nam trong tháng này.

“Hành động cực kỳ nguy hiểm này đã trực tiếp gây nguy hiểm cho hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải”, ông Dũng đã được trích dẫn khi nói thêm rằng Việt Nam đã hành động với “sự kiềm chế tối đa.”

Ý kiến của ông Dũng là trái với tinh thần ôn hòa thường lệ giành cho các cuộc họp của Hiệp hội 10 nước của các quốc gia Đông Nam Á, nhưng Hiệp hội đã không đưa ra lời chỉ trích chung nào đối với Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo, bằng sự đồng thuận, không đề cập đến tranh chấp Việt Trung trong tuyên bố cuối cùng của họ vào ngày Chủ nhật. Myanmarsau đó phát hành một tuyên bố sau cuộc họp, bày tỏ “lo ngại nghiêm trọng trong phát triển liên tục trong vùng biển Đông,” nhưng không đề cập đến Trung Quốc. Họ kêu gọi tự kiềm chế và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.

Việc các nước từ chối liên quan đến việc này dường như là một chiến thắng cho Trung Quốc và nhấn mạnh rằng tổ chức này chưa có một sự sẵn sàng hoặc khả năng để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Ít nhất năm quốc gia tuyên bố có đảo của mình trong khu vực này, và đây là tuyến đường hàng hải quan trọng cũng là điểm nóng tiềm năng khi Trung Quốc vì đói tài nguyên đã trở nên quyết đoán và hung hăng hơn.

Murray Hiebert, một chuyên gia về Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Washington, cho biết Việt Nam và Philippines, lên tiếng chỉ trích và khiếu nại thái độ hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông, chứng tỏ cả 2 “rõ ràng muốn một cái gì đó quyết liệt hơn rất nhiều” từ cuộc họp.

Nhưng Hiệp hội các nước Đông Nam Á, hay ASEAN, đã không thể trong những năm gần đây đạt được vị trí đồng thuận chung trên Biển Đông, thậm chí là khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền chiếm hơn 1.000 dặm về phía nam từ Trung Quốc đại lục. Một cuộc họp hội nghị thượng đỉnh tại Campuchia cách đây hai năm đã không đưa ra được một tuyên bố chung cuối cùng vì các nhà lãnh đạo còn tranh cãi về vấn đề này.

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của khu vực, và các quốc gia như Campuchia và Lào là những người nhận viện trợ lớn của Trung Quốc.

“Trong các nước ASEAN, họ thực sự không muốn gây xáo trộn”, ông Hiebert nói. “Họ đang chơi trò đu dây ở giữa”

Bộ trưởng Ngoại giao tại cuộc họp ở Myanmar đã ban hành một tuyên bố tạm thời vào thứ Bảy trích dẫn “những quan ngại nghiêm trọng trong phát triển liên tục trong vùng biển Nam Trung Quốc,” nhưng không đề cập đến Trung Quốc bằng tên.

Ngọc Nhi Nguyen

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Biểu Tình 11/5: Công nghệ cướp cờ, cướp diễn đàn, phá biểu tình của CSVN

Phan Châu Thành
(Danlambao)

Đi biểu tình ở Sài Gòn 11/5/2014

Chúng tôi có mặt ở Trung tâm Sài Gòn trước 8am sáng nay, tập kết ở Hồ con Rùa rồi đi lòng vòng, chuẩn bị sẵn sàng cho một ngày biểu tình chống Trung cộng xâm lược. Đường phố rất vắng người dân nhưng công an các sắc phục thì rất đông và lăm le tay gậy cao su tay walky-talky chuyên dụng (tần số riêng), họ quan sát dân ít ỏi đi qua đó như chúng tôi với thái độ rất căng thẳng. Khu vực Hai Bà Trưng đoạn có Lãnh sự quán Tàu xanh lè vàng loét toàn sắc phục công an, có lẽ có gần ngàn lính các loại trên một đoạn phố ngắn... Đúng 9am công an lập barie sắt và hàng rào quân cảnh màu đen và xanh đen trang bị tận răng và đông đặc để bảo vệ LSQ Tàu tại hai các ngã tư HBT với Võ văn Tần và ĐBP, và ngã ba với Ng Văn Thủ, không ai có thể tiếp cận LSQ Tàu nữa. Tôi nghĩ: “Chắc sẽ căng đây!”, và đi về phía nhà VNHT...

Khoảng sau 9am vài phút, chúng tôi hòa vào đoàn người biểu tình đi từ Nhà VHTN về phía LSQ Tàu, đoàn người đó nhanh chóng bị một đoàn lớn hơn đi từ Nhà hát TP nuốt chửng. Tôi ước lúc đó có khoảng 1-2 ngàn người biểu tình và khoảng gấp đôi số đó là CA các loại trong sắc phục công khai trên các đường phố trung tâm.

Đội quân cướp cờ

Vừa đi trong đám đông tôi vừa quan sát xung quanh để định vị xem mình đang trong “đoàn” nào thì thấy một người gầy cao quần xanh áo trắng dài tay civil đi cầm loa điện chỉ huy và dẫn đầu nhóm lớn rất “quyết liệt”, luôn ra các chỉ thị cho đám thanh niên xung quanh nhận lệnh rồi tản ra. Tôi nghĩ, “Đây là nhóm biểu tình nhà nước chăng? Toàn thanh niên nam nữ to khỏe có tác phong như quân đội! Sao không thấy khẩu hiệu chống Tàu mà toàn thấy cờ đỏ sao vàng với một vài tấm băng rôn ‘Chung tay giữ gìn hòa bình trên Biển Đông’ hay ‘ Đảng CSVN quang vinh muôn!’ hay ‘Đồng lòng cùng Chính phủ...” Tôi quay sang bạn cùng nhóm: “Bố khỉ, chúng mình nhập nhầm đoàn mất rồi, toàn bọn “chung tay” với Tàu thế này!”, nhưng chúng tôi vẫn đi tiếp vì sắp đến chỗ barie công an và quân cảnh chắn trước LSQ Tàu rồi, lúc đó khoảng 9am15’...

Nhóm chúng tôi có ba biểu ngữ khổ 80x60cm có khung và dương cao, có lẽ là 3 khẩu hiệu cao khá nổi vì thông điệp chống TQ rõ ràng lấy từ gợi ý của Lời kêu gọi của 20 đoàn thể chứ không chỉ có một màu đỏ với chữ nghĩa ly ti rối rắm của “đoàn nhà nước”, và tôi dương cao một chiếc. Lúc đoàn người biểu tình dừng trước (xa) LSQ đó, một nhóm hàng chục thanh niên mà tôi thấy trước đó nhận chỉ thị từ người cầm loa áo trắng cứ đứng xung quanh chúng tôi, rồi một cô bé rát dễ thương nói “Chú cho cháu mượn biểu ngữ của chú mang lên phía trước cho rõ!” - tôi chưa kịp trả lời thì cô bé đó đã giằng lấy biểu ngữ trên tay tôi và chạỵ lên phía trước gần sát hàng rào CA, tôi bèn chạy sát theo cô bé, vì hơi nghi nghi... Nhưng cô bé dừng lại bên hàng rào, tay cầm biểu ngữ của tôi giơ cao, nên tôi cũng dừng lại bên cạnh, bụng nghĩ: “Mình đã nghĩ oan cho cô bé và đoàn quân đông đảo của anh áo trắng cầm loa kia rồi…”. Áo trắng và nhóm của mình lúc đó cách tôi chừng 5m…

Rồi cô vé vẫy tay cho hai cậu thanh niên cao to, áo thun đen, cũng đeo balô con cóc như cô bé, đều đi giầy thể thao gọn gàng, đến đứng bên cạnh. Nhóm sau lưng tôi có người hô to “Đả đảo TQ xâm lược!” và tôi cũng hô theo: “Đả đảo!” Mới được hai câu thì từ nhóm kẻ “áo trắng” có người cất tiếng hát to “Như có Bác Hồ...” và cả đám thanh niên bên tôi đó gào theo thì tôi như ngã ngửa: “Mình tứ bề thọ địch rồi!”. Phía trước tôi là quân cảnh và LSQ Tàu, phía sau là nhóm “áo trắng” và hai bên tôi là những “thanh niên yêu nước đi biểu tình” của “áo trắng”…

Cũng lúc đó tôi nhìn thấy “cô bé dễ thương” trao biểu ngữ của tôi cho một cậu bên cạnh nó, và cậu này chạy ngay lên vỉa hè HBT phía có toàn CA đứng, vừa chạy vừa xé rách đôi biểu ngữ của tôi ra… Tôi lao theo chộp vai nó, giật lại biểu ngữ thét lên: “Sao cháu xé biểu ngữ của chú!”. Chắc nhìn mặt tôi nó sợ quá lủi mất, chứ câu thét của tôi chỉ như tự chửi mình: “Sao già rồi còn ngu thế PCT ơi là PCT!”. Tôi nhìn về phía “áo trắng”, còn nghe được người đó nói với quân biểu tình chìm: “Chúng ta đi thôi! Không được đứng đây nữa! Và tản ra!” Tôi đứng đó giữa đám đông “ngàn người yêu nước” với cái biểu ngữ rách trên tay, tự cười mình: “Mình ngu quá, cứ phải đợi cháy nhà mới nhìn ra mặt chuột thế này”…

Đoàn người bắt đầu đi diễu hành từ chỗ bị chặn trước LSQ 3 Tàu đó, tôi tìm lại mấy bạn nhóm nhỏ của mình thì họ cũng đang ngơ ngác tìm tôi: họ cũng đã cho các bạn trẻ của “áo trắng”, “mượn biểu ngữ để lên trước giơ cao hơn” và hai biểu ngữ đó của chúng tôi cùng “đám trẻ yêu nước” của “áo trắng” đó đã biến mất dạng…

Đi tìm người yêu nước

Đang khí thế mà bị cướp và xé hết biểu ngữ, như là bị cướp mất lá cờ trên tay thể hiện ý chí của mình giữa đám đông biểu tình “yêu nước”, chúng tôi đau đớn. Tôi không thể tả được cảm giác khinh bỉ và căm ghét bọn cộng sản bán nước đang đi biểu tình chống Tàu cùng chúng tôi lúc đó của tôi, chỉ biết đó là cảm giác tột cùng khinh bỉ và lần đâu tiên tôi cảm nhận như thế. Điều đó làm tôi quyết không lùi bước.

Chúng tôi tách đoàn biểu tình chính và đông của “áo trắng”, như con chim sợ cành cong, tìm cách phục hôi tấm biểu ngữ bị xé rách còn lại. May mà nó chỉ bị xé dọc thanh nẹp trên nên toàn bộ phần chữ chính còn nguyên và tôi lấy sợi dây treo nó (mà tôi dự phòng trong balô cùng hai chai nước cho cả đoàn), buộc treo lại. (Lần sau tôi sẽ mang theo băng keo, dây và kéo trong ba lô chứ không chỉ có chai nước!)

Thế là chúng tôi lại có tấm biểu ngữ giơ cao lên làm lá cờ tranh đấu tiếp của mình hôm nay! Và bỗng nhiên chúng tôi thấy yêu quí nó vô cùng! Dù nó bị rách và buộc lại nhưng nó vẫn giúp chúng tôi thét lên giữa các phố trung tâm Sài Gòn: Không được bán nước! Đả đảo TQ xâm lược!...

Đến lúc đó, vấn đề nhìn ra “ai địch ai ta” trong đoàn cùng biểu tình là rất quan trọng. Cậu bé “cũng bị mất cờ” trong nhóm tôi, “lá cờ” mà nó đã say mê thiết kế rồi chuẩn bị suốt cả ngày hôm qua, nói với tôi: “Có đi thế này cháu mới hiểu, thật không thể tin được họ có thể làm vậy…”. Tôi cười thú nhận: “Chú cũng thế thôi, CS bao giờ cũng làm chú bất ngờ khủng khiếp, tại vì chú cứ tưởng chúng vẫn là người bình thường…”. Chúng tôi đều lần đâu đi biểu tình trên phố…

Chúng tôi là nhập lại đoàn biểu tình và đi tìm người yêu nước như mình, không phải yêu nước kiểu CS! Tìm thế nào đây? Chúng tôi lắng nghe và quan sát, chúng tôi tìm những ánh mắt chân thật, chúng tôi để trái tim cảm nhận hút đẩy chúng tôi đến với những người giống mình… Và chúng tôi thấy xung quanh mình là một đám đông những người biểu tình khác, có rất nhiều phụ nữ già trẻ, nhiều thanh niên hăng hái nhưng không đô con, có cả nhiều người già và trẻ em… Họ ăn mặc, có thể nói, nhếch nhác hơn đoàn “áo trắng” nhiều, họ đều khan giọng và ướt đẫm mồ hôi vì hô khẩu hiệu, và họ không có lãnh đạo ”áo trắng” nào, không ai thì thầm tập trung nhận lệnh rồi tản ra… Họ chỉ tập trung một việc như chúng tôi muốn làm: Thét lên thông điệp chống Tàu xâm lược của người Việt cho vang đến trời xanh! Ai không nghe thấy thì không phải người Việt hay đó là Việt bán nước rồi… Thế thôi.

Chúng tôi đi lòng vòng mấy tiếng đồng hồ ở trung tâm thành phố Sài Gòn với thông điệp ấy. Đến đoạn trên Lê Lợi trước khi nhập vào đám đông đang biểu tình ở Nhà hát TP tôi bỗng thấy mình đi sau cậu bé Nguyễn Trí Dũng con trai ông Nguyễn Văn Hải – Điếu Cày. Tôi mừng đến độ chỉ muốn xông đến ôm chầm lấy Trí Dũng mà hôn và hét lên sung sướng: “Đây rồi! Chú tìm thấy cháu rồi Dũng ơi! Chú đã tìm thấy những người biểu tình yêu nước rồi!”

Những kẻ chiếm diễn đàn của dân

Suốt dọc đường chúng tôi đi với biểu ngữ không có đảng và sao, tôi đếm có gần chục lần đám CA chìm đi xung quanh cố dàn cảnh để “mượn” hay cướp biểu ngữ của chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã biết họ là ai và muốn gì rồi, nên chúng tôi đều cảnh giác vượt qua và cười khinh bỉ đi tiếp.

Ví dụ, ngay đoạn Lê Lợi tôi đi gần cậu bé Trí Dũng mà tôi yêu quí vô cùng, thì một kẻ chạy xe máy vờ đâm vào tôi nhằm làm tôi ngã hay hất tôi lên hè, và đúng là tôi phải nhảy lên hè thật sau khi “nhỡ” bị húc, và đối diện ngay hay thanh niên áo thun đen quần ngố xông đến “giúp tôi”. Dù đau tôi cũng cố cảm ơn những kẻ đã bẫy hại mình và quay vội lại với nhóm của mình đang đến cứu tôi và đến với đám đông có Trí Dũng đang đi phía trước. (Nên nhớ, CA không cho xe máy đi chỗ đó và càng không cho đi lẫn người đi bộ - phải tắt máy và dắt xe, vậy mà người đi xe máy đó không chỉ được vào mà còn tăng tốc để “nhỡ” đâm vào tôi…). Nhưng đó là chuyện nhỏ, khi ta đã biết họ là ai, họ muốn gì, họ sợ gì…

Hay, một gã đàn ông tóc muối tiêu thấp béo rà rà xe chạy bên tôi khen: “Anh có khẩu hiệu tốt và hay lắm! Đắng kia nhiều người mà không có khẩu hiệu, anh cho mươn chút đi?”. Tôi cười: “Hồi này bọn CA chìm cũng mượn của tôi rồi mang lên vỉa hè xé đôi, tôi phải giành lại rồi bược lại, anh thấy không? Giờ tôi không cho ai mượn nữa, tôi cũng chả biết anh có phải CA chìm?”. Thế là lão ta cụp mặt xuống chạy xe đi.

Rồi ba thằng đầu gấu tóc dài to cao củng theo tôi “mượn cờ” và tôi cũng nói như với gã tóc bạc nên chúng cũng phải bỏ đi vì giữa chỗ đông người chúng không dám cướp cờ của tôi… Nhưng đó đã là chuyện nhỏ.

Chuyện lớn là, ở Nhà hát TP, ngay bên dưới hai cô đầm vú to ấy (tượng bên cửa Nhà hát) tôi thấy nhí nhố những kẻ như ông Gs. Tương Lai phát biểu “định hướng” biểu tình, vỗ tay nhau, rồi lại hát “Như có bác Hồ...” Tóm lại là họ cướp diễn đàn biểu tình cuả người biểu tình để lập công với đảng... Hai “cô đầm vú to” đó mà nghe hiểu những gì họ làm ở đó để “biểu tình chống TQ” thì chắc phải cười sặc rơi hết cả phụ tùng mất.. Tôi đứng đó mấy phút thì thấy không hợp với khẩu hiệu chống Tàu của mình, nên theo ngay một nhóm nhỏ tách đoàn vì họ chắc cũng không chịu được sự bịp bợm đã diễn ra ở Nhà hát TP hôm nay lúc đó.

Đi khoảng hơn tiếng nũa thì chúng tôi lại đứng trước hàng ráo sắt và người đen kịt trước LSQ Tàu. Lúc đó khoảng 11am15’. Đoàn người lần này dù nhỏ hớn lúc 9am 30 nhưng không có sự lãnh đạo của những kẻ như “áo trắng” nữa, nên đã đứng thét vang nhiều khẩu hiệu về phái LSQ. Nhưng đột nhiên, lão già “thích định hướng” TL lại đứng lên (hàng rào) hô khẩu hiệu “đề nghị TQ rút giàn khoan HD981” (nhưng không thấy ai hô “đề nghị! đề nghị!” hùa theo gì cả?) và khẩu hiệu "Đề nghị hai đảng chung tay giữ gìn hòa bình Biển Đông!”. Tất nhiên chả thấy ai hô “chung tay! chúng tay!” theo cả! Thật đáng khinh cho những kẻ đã hèn, đã gian lại còn cố chiếm diễn đàn của dân biểu tình chống TQ xâm lược.

Lúc đó, nhóm chúng tôi đã nhập vào nhóm mặc áo “No-U”, có anh tên Lâm có bức ảnh chìa tay ra phía các cảnh sát chống bạo động mà tôi thấy được đăng nhiều trên mạng chiều nay… Thật ấm lòng khi đứng giữa những người biểu tình yêu nước và giương cao khẩu hiệu của mình cùng họ.


Và công nghệ giải tán biểu tình của CSVN

Sau đây là quan sát và suy luận của tôi thôi.

Giai đoạn đầu của biểu tình sáng nay ở Sài Gòn, từ 9am đến khoảng 10am30’, CA và các lực lượng quản lý giao thông nội đô đã phân luồng ưu tiên cho dòng người biểu tình đi qua các đường phố chính ở Trung tâm SG khá suôn sẻ. Chúng ta biết lúc đó họ tập trung vào mục tiêu kiểm soát những đoàn biểu tình bằng cách trà trộn vào đoàn biểu tình để cướp cờ (như đội của “áo trắng”) và cướp diễn đàn (như các lão già trí đã ngủ như Gs TL).

Vả lại họ cũng cần phải giả vờ để dân biểu tình chút chút để còn giả vờ mặc cả với Tàu, và rồi để Tàu có lý do giả vờ nhân nhượng và CSVN có công giả vờ “đấu tranh thắng lợi” với Tàu (sau khi đã đồng ý cho Tàu cùng chung khai thác trên biển nhà mình)!. Thông điệp chính mà CSVN gửi đến Trung cộng qua biểu tình hôm nay có lẽ là: Chúng em đang chuẩn bị cho dân Việt đồng ý để các anh ở lại khai thác chung thềm lục địa của VN rồi đấy nhé! Để cho họ xả stress chút rồi các anh sẽ giữ nguyên hiện trạng và tiếp tới… màn sau!

Mục tiêu trên thì đến khoảng 10am30 sáng nay CSVN đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng đám đông hàng nghìn người dân (như tôi) thì vẫn còn đó, dù có thêm cà hàng ngàn biểu tình viên ăn lương của đảng nữa xung quanh, thì giải tán thế nào đây, nếu không có chuyện gì xảy ra làm mếch lòng ông anh “4 hảo hảo 16 golden sheets” thì sao? Thế nên mới phải có chiến thuật giải tán biểu tình ở giai đoạn 2, từ 10am30 đến khoảng 12am…

Phải nói là sau hơn 1 giờ trực tiếp đi qua “giai đoạn 2” đó tôi mới nhìn ra chiến lược giải tán biểu tình của CSVN đã áp dụng hôm nay. Có thể nói tóm gọn bằng 1 câu như sau: họ đã lùa đàn cừu mấy ngàn con (mà tôi là 1 con ngu ngốc!) đi loanh quanh để chia nhỏ (cắt khúc) và giải tán, làm chúng tôi không thể nhập vào đoàn dẫn đầu mà sau tôi mới biết là những người biểu tình chống Tàu đích thực như chúng tôi.

Đầu tiên, họ pha loãng mấy ngàn người “biểu tình” của họ với khoảng ngàn người biểu tình thật (như nhóm của tôi) và kéo thật dài đoàn người biểu tình ra ở giai đoạn 2 (giai đoạn 1 họ cần tập trung để biểu diễn màn kịch biểu tình với Trang Nam Hải). Ở mỗi đoạn họ đều có tổ chức và “thủ lĩnh” cụ thể phụ trách.

Sau đó, họ kết hợp với cảnh sát giao thông dùng đèn đỏ giao thông (đã chuyển sang chế độ điểu khiển trực tiếp theo ý CA) và dùng dòng người dân giao thông trên đường không tham gia biểu tình để cắt khúc đoàn biểu tình (thay vì ưu tiên cho đoàn biểu tình như giai đoạn 1). Thế là đoàn biểu tình bị cắt rời xa nhau (“thủ lĩnh” phần đi trước thì cố kéo đoàn đi nhanh, “thủ lĩnh” phần sau thì bắt đoàn đợi thật lâu theo đèn đỏ và theo cảnh sát), sau đó khi “có đèn xanh” thì thủ lĩnh đoàn sau cùng cảnh sát lại ép đoàn biểu tình đí đường khác nhóm trước, nên họp không thể nối với nhau nữa… Biểu tình lớn chung bị cắt thành nhiều đoàn nhỏ hơn, rồi nhỏ nữa…

Nhóm tôi rất nhỏ mà mỗi người cũng đã bị tách ra và tự nhiên “tập kết” ở những nới khác nhau, đều có nhan nhản CA chìm nổi đủ sắc phục đợi sẵn theo dõi tiếp, sao cho số người bị theo dõi ít hơn số người đi theo dõi…

Bằng cách đó, họ đã giải tán đoàn biểu tình hàng ngàn người ngon ơ. Tôi hình dung, họ phải lên kế hoạch, tập dượt để làm việc này (điều khiển việc theo dõi và giải tán người biểu tình) trên sa bàn của cả thành phố từ một phòng điều khiển trung tâm tới hàng chục ngàn nhân viên thi hành thuộc các “binh chủng” khác nhau trên hiện trường… Đại khái như: Alô, Đội 12 cho cắt đuôi 50 con cừu ở ngã tư Nguyễn thị Minh Khai-Pauster rồi sau đó lùa về vườn hoa trước Dinh Độc lập, còn khoảng 200 con cho quay lại Hồ Con rùa để giải tán dần ở đấy…

Tôi, như một con cừu (lần đầu đi biểu tình tự nguyện và không có tổ chức), bị lùa về vườn hoa cạnh sở Ngoại vụ, từ đoàn đông hàng nghìn người, đến 11am35 chỉ còn vài chục người bao quanh bởi hàng trăm người mặc sắc phục khắp nơi… Tôi đã nghĩ mình trong nhóm người cuối cùng trụ lại (và ai cũng nghĩ thế?) thì hàng nghìn người trước đó đã giải tán rồi ư? Có lẽ không, hàng nghin người biểu tình đã bị chia thành hàng chục nhóm nhỏ rải rác trên các điểm khác nhau cách biệt nagy trong TT thành phố…?


Thay kết luận: Tự nhận xét sau biểu tình

Thắng lợi của tôi hôm nay là đã tìm thấy những người biểu tình yêu nước như Nguyễn Trí Dũng, như nhóm No-U… và nhiều người dân bình thường khác như chúng tôi trong đoàn biểu tình hàng ngàn người để tin hôm nay những người yêu nước đã thực sự xuống đường, dù CSVN có bày ra bất cứ trò gì đi nữa.

Thắng lợi thứ hai, khá đau đớn, là tôi càng nhìn rõ chân tướng của CSVN trên thực tế off-line chứ không chỉ trên online nữa. Tóm lại là, đi một ngày đang học một sàng… dại để khôn!

Thắng lợi thư ba là nhìn thấy chính quyền họ sợ những người dân bình thường như tôi, như các bạn, như các cụ già, các chị em phụ nữ, những thanh niên chất phác và cả các em thiếu nhi … đi biểu tình đến thế nào! Họ sợ một cách ghê gớm. Họ phải huy động đông đảo đủ mọi lực lượng chìm nổi, đủ mọi phương tiện và đủ mọi thủ đoạn hèn mạt nhất. Giá mà họ biết chuẩn bị để đối diện với giặc Tàu cướp nước một cách kỹ càng bang phần nhỏ như họ đã chuẩn bị đối phó với một nhúm người biểu tình tay không chỉ có một thông điệp “Không bán nước!”, thì nước Việt cũng đã được yên mà sống và phát triển sánh với năm châu rồi.

Thất bại, hơi cay đắng, là bị lùa đi và giải tán như con cừu, thậm chí không thể kêu “be be” với ai xung quanh, đành về nhà lên mạng, nhìn thấy các đồng đội vừa cùng biểu tình, nhìn thấy khẩu hiệu chống Tàu của mình giương cao mà…“đau” mãi, vì thực sự nhóm chúng tôi đã bị cách ly với nhóm chính lớn dẫn đầu của những nhà đấu tranh dân chủ hàng đầu, hôm nay…(có lẽ do chúng tôi đã chọn sai điểm xuất phát là từ Hồ Con Rùa?)

Vâng, tôi đã không tham gia đi đầu đoàn biểu tình 11/5 ở Sài Gòn, nhưng chúng tôi đã tham gia 100% bằng trí óc và trái tim mình. Và phải có khúc giữa khúc đuôi thi mới có khúc đầu oanh liệt chứ? Tôi đã là một điểm trong đám đông ngàn người chống Tàu, chỉ thế thôi.

Rồi chiều qua tôi gõ ra bài này “tâm sự” với các bạn, hy vọng cho bớt đau lần sau. Sáng nay tôi đã điều chỉnh lại những quan sát của mình hôm qua cho chính xác hơn dựa trên các bức ảnh và bài bình luận khác trên DLB, DL…

Nhưng túm lại, tôi không ân hận gì vì đã lần đầu xuống đường biểu tình, mà chỉ càng quyết tâm hơn cho lần biểu tình sau. Nếu có ân hận, thì đó là vì tôi đã hèn không dám đi biểu tình chống Tàu từ năm 2007 hay 2009 cùng cha của cậu bé đã biểu tình cùng chúng tôi hôm nay, ông Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải đang ở trong tù CS chỉ vì đã đi đầu biểu tình chống TQ xâm lược.

Phan Châu Thành
danlambaovn.blogspot.com

Post Reply