Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Hoa Kỳ Xoay Trục... Vào Vô Định

Nguyễn Xuân Nghĩa

Trách nhiệm không thuộc về Kerry hay Clinton...

Lãnh đạo là tiên liệu. Người ta thường nói như vậy, và khi tiên liệu còn có cả việc dự đoán điều bất ngờ.

Khi lên lãnh đạo Hoa Kỳ từ đầu năm 2009, Tổng thống Barack Obama có trù tính một số việc. Trước hết là lần lượt triệt thoái khỏi hai chiến trường nóng là Iraq và Afghanistan, và quan niệm lại đối sách Hoa Kỳ với thế giới Hồi giáo theo khảo hướng mới, được ông trình bày trong hai bài diễn văn tại Cairo của xứ Egypt (Ai Cập) và Ankarra của Turkey (Thổ Nhĩ Kỳ). Với Liên bang Nga, ông Obama cũng muốn cải thiện quan hệ (chuyện "reset") để sẽ cùng Vladimir Putin, (khi đó còn là Thủ tướng) giải quyết nhiều hồ sơ nóng của thế giới, trong đó có kế hoạch chế tạo võ khí hạch tâm của Iran.

Quan trọng nhất, và ý thức được nhược điểm của hai nhiệm kỳ Bush là quá tập trung vào cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo và vào hồ sơ Trung Đông, ông Obama nói đến việc "chuyển trục" về Đông Á.

Là Ngoại trưởng của Obama trong nhiệm kỳ đầu, bà Hillary Clinton đã trước tiên thăm viếng Á Châu ngay từ Tháng Hai năm 2009. Qua năm sau, bà tuyên bố tại Hà Nội một quan điểm cứng rắn hơn với Bắc Kinh và rằng ưu tiên ngoại giao của Hoa Kỳ là giải quyết tranh chấp về chủ quyền giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á. Tháng 10 năm 2011, một tháng trước khi Tổng thống Obama công du Châu Á, bà đã (cùng Phụ tá Đặc trách Đông Á và Thái bình dương Kurt Campbell) có bài tiểu luận gần sáu ngàn chữ trên tạp chí Foreign Policy trình bày khái niệm về "chuyển trục". Hoa Kỳ là một cường quốc Á Châu, có quyền lợi gắn bó với khu vực này....

Tuy nhiên, trong toàn bộ chủ trương và chánh sách của Barack Obama, ưu tiên vẫn là đối nội để cải tạo xã hội Hoa Kỳ, với nhiều công sức dành cho việc cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế.

Chuyện bất ngờ của một chính quyền thiếu tiên liệu là những trục trặc liên miên sau khi Đạo luật Y tế Obamacare được ban hành. Bất ngờ hơn nữa là Tổng thống Mỹ đã hai lần hủy bỏ thượng đỉnh Á Châu và việc thăm viếng nhiều đồng minh trong khu vực chỉ vì bận đối phó với trận đấu về ngân sách ở nhà.

Tuần tới, Barack Obama lại có chuyến công du Châu Á - để chính thức thăm viếng Nhật Bản, Nam Hàn, Mã Lai Á (Malaysia) và Phi Luật Tân (Philippines) - thì gặp chuyện bất ngờ khác từ một người ông đặt nhiều kỳ vọng là Vladimir Putin: vụ khủng hoảng Ukraine.

Vụ Ukraine sẽ còn kéo dài nên ớm bóng lên chuyến Á du vào mùa Thu tới đây, khi Tổng thống Mỹ qua thăm Trung Quốc, Miến Điện và Dúc Đại Lợi (Australia). Việc chuyển trục về Đông Á của Barack Obama gặp sự bất ngờ - mà ai cũng có thể đoán trước – là trở thành chuyện hão. Ai cũng có thể đoán trước, trừ Chính quyền Obama. Vì sao như vậy?


* * *

Câu hỏi đầu tiên, rất Mỹ, vẫn là tiền đâu?

Tuần qua, Thượng viện trong tay đảng Dân Chủ vừa công bố một phúc trình của Ủy ban Đối ngoại do Nghị sĩ Robert Mendendez làm Chủ tịch, với một nhận định có màu sắc... Cộng Hoà: "Những diễn văn hay tuyên bố chính trị không dựa trên khả năng thực hiện chỉ gây ra khoảng cách lớn giữa kỳ vọng và thực tế". Khả năng thực hiện – hard deliverables – dễ hiểu là ngân sách của bộ Ngoại giao.

Trong dự chi ngân sách của tài khóa 2015, Hoa Kỳ dành 300 triệu (0,3 tỷ) Mỹ kim cho khu vực Đông Á Thái bình dương, nơi sinh sống của hai tỷ 300 triệu dân và sản xuất ra 31% sản lượng toàn cầu. So với một tỷ sáu dành cho khu vực Trung Đông, nơi chỉ có 400 triệu dân và sản xuất ra 5% sản lượng, thì đòn bẩy của Mỹ tại Đông Á có kích thước của một cái que.

Nói về thực chất và ấn tượng thì đấy là que diêm.

Một cách đếm khác là ngân sách ngoại viện: Hoa Kỳ dành 4% ngân sách viện trợ cho khu vực chiến lược này! Không có ngoại viện thì ta có thể dùng đòn bẩy ngoại thương.

Chính quyền Obama lại bị nội thương khi đảng Dân Chủ lại vì áp lực của các nghiệp đoàn trong một năm có bầu cử gây khó cho việc thương thuyết hiệp ước tự do mậu dịch với 12 nước trong vùng Á châu Thái bình dương. Sáng kiến xây dựng Đối tác Chiến lược Xuyên Thái bình dương TPP coi như bị đình đoạn, sau khi đã lỡ cuộc hẹn 2013, tiêu chí của Obama.

Thế rồi sau khi Hoa Kỳ tuyên bố từ nay đến năm 2020 sẽ đưa 60% chiến cụ của Hải quân và Không quân về Châu Á Thái bình dương, Bộ Quốc phòng nói tới việc cắt giảm ngân sách.

Hậu quả nhãn tiền là năm qua, Trung Quốc mở rộng vùng kiểm soát phòng không ADIZ tại Đông Á và quan hệ Hàn-Nhật, hai đồng minh chiến lược của Mỹ, trôi vào khoảng trũng nhất kể từ sau Thế chiến II. Và tháng tới, Putin sẽ qua Bắc Kinh nói về hợp tác năng lượng: Nga có thể bán khí đốt cho Trung Quốc để tìm lối thoát nếu bị mất khách Âu Châu do vụ khủng hoảng Ukraine. Còn giải pháp xuất cảng năng lượng của Mỹ để hóa giải áp lực của Putin với Âu Châu thì chưa đi tới đâu!

Rõ ràng là Hoa Kỳ chuyển trục vào cõi vô định. Hình ảnh bắt mắt và dễ hiểu hơn, là "quay như chong chóng"!


* * *

Nhiều người lạc quan, hay nhân nhượng, thì nói đến sự khác biệt hay thoái bộ của Chính quyền Obama trong nhiệm kỳ hai.

Khi Hillary Clinton làm Ngoại trưởng thì ít ra Hoa Kỳ có bày tỏ ý chí chuyển trục, mà rồi để lỡ vì những chuyện bất ngờ. Khi John Kerry làm Ngoại trưởng thì chánh sách đối ngoại của nước Mỹ tuột dốc. Lạc quan hay nhân nhượng, ta có thể quy ra trách nhiệm của người thi hành chánh sách. Của John Kerry. Hoặc gián tiếp đề cao nhân vật sau này sẽ ra tranh cử Tổng thống bên đảng Dân Chủ, là Hillary.

Nhưng sự thật lại chẳng vuông tròn như vậy.

Quả thật là trong nhiệm kỳ hai, Chính quyền Obama đã dám lấy nhiều rủi ro có tính toán khi mở cuộc thương thuyết với Iran, hoặc bán cái cho Putin giải quyết chuyện Syria, để nước Mỹ khỏi phải động binh như trong nhiệm kỳ một tại Libya (với hậu quả là bốn cái tang tại Benghazi khiến hào quang của Hillary bị ố). John Kerry cũng tích cực giải quyết hồ sơ Palestine với Chính quyền Israel.

Tuy nhiên, kết quả vẫn là sự đáng buồn: dự án Palestine tan vỡ, chế độ độc tài đa sát của Bashar al Assad vẫn tồn tại, Iran chưa hề nhượng bộ và Putin lại nhấn tới và sau khi thôn tính bán đảo Crimea lại còn thọc sâu hơn nữa vào miền Đông xứ Ukraine.

Thật ra, trong nhiệm kỳ hai, ngoài John Kerry, một người tự khoe là Tây nhất, ban tham mưu đối ngoại của Obama cũng có các nhân vật Âu Tây nhất, như Cố vấn An ninh Quốc gia Suzan Rice và Đại sứ tại Liên hiệp quốc là Samantha Power. Đây là những người thấm nhuần lý tưởng Âu Châu là đề cao nhân quyền và bảo vệ giá trị tinh thần của nền dân chủ - miễn là khỏi động binh.

Kết cuộc thì nhân quyền bị đạn ở Syria và nền dân chủ non yếu của Ukraine đang nằm trong tầm nhắm của Putin. Và chế độ chưa mấy dân chủ của các tướng lãnh tại Ai Cập thì thất vọng với nước Mỹ trước sự o bế của Liên bang Nga. Trong khi Trung Quốc vẫn lừng lững bước tới.

Ngần ấy chuyện xảy ra không vì John Kerry bất tài. Sự bất tài của ông ta được minh chứng từ lâu, chứ không đợi tới trận đối đầu với Ngoại trưởng Nga hay việc thuyết phục Âu Châu về một đối sách chung tại Ukraine. Ngần ấy chuyện xảy ra là do nhận thức của chính Barack Obama về thiên hạ sự.

Ông ta cứ tưởng thiên hạ cũng như cử tri Mỹ, rất dễ mềm lòng vì thuật hùng biện của mình. Cho nên, chẳng ai nên ngạc nhiên về kết quả hội nghị bốn phe về chuyện Ukraine vào Thứ Năm 17 vừa qua tại Geneva, giữa Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Ukraine và Liên hiệp Âu Châu.

Liên Âu không đầu thì có mấy mảnh chưa thống nhất về những biện pháp ứng xử với Putin nên núp sau Hoa Kỳ. Nước Mỹ thì hùng dũng quân viện cho Ukraine bằng cách đưa thêm khẩu phần cho lính cầm hơi. Chứ súng đạn là phạm vào đức hiếu sinh của kẻ văn minh. Còn Liên bang Nga đòi Ukraine cải tổ hiến pháp để công nhận dân quyền của người thiểu số, dĩ nhiên là Nga, rồi mới nói chuyện xuống thang....

Và lãnh đạo Ukraine thì đứng giữa chợ đời để ca bài dở khóc dở cười. Họ nói chữ "buồn thiệt" mà người Mỹ tưởng như tiếng "bull shit" đầy thô tục. Xin đợi 2017 thôi....

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Shinzo Abe khiến Tập Cận Bình lo ngại
Ngô Nhân Dụng

Trước khi ông Barack Obama tới Tokyo, chính phủ Mỹ đã công khai ủng hộ lời giải thích mới về Hiến Pháp Nhật của Thủ Tướng Shinzo Abe. Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chắc sẽ phải họp Bộ Chính Trị để bàn cách đối phó, vì chính sách bành trướng của Bắc Kinh sẽ bị cản trở nếu ông Abe đạt được mục đích.

Tháng Hai năm nay, ông Shinzo Abe làm nhiều người nghĩ ông đang giải thích lại bản Hiến Pháp Nhật Bản theo ý mới, khi ông chỉ bàn về một từ ngữ. Trong bản Hiến Pháp năm 1947, ban hành dưới thời quân Mỹ chiếm đóng, điều số 9 đặt ra nhiều giới hạn. Nước Nhật không được phép có quân đội mà chỉ được lập một lực lượng tự vệ, không được đem quân ra nước ngoài, không được can dự vào các tranh chấp quân sự của các nước khác. Cho tới nay, Nhật vẫn được Mỹ bảo vệ, qua một hiệp ước phòng thủ chung. Khi nói trước quốc hội vào đầu năm 2014, ông Abe đã giải thích những chữ “phòng thủ chung” bằng cách giả thiết một chuyện có thể xẩy ra: Nếu một chiến hạm Mỹ đang bị hỏa tiễn của một nước khác bay tới đánh, thì Nhật Bản, bị ràng buộc bởi bản Hiến Pháp, có phải tránh không được can thiệp hay không? Tất nhiên là Nhật Bản giúp Mỹ, ông Abe trả lời. Nếu không, thì cả bản hiệp định“phòng thủ chung” sẽ vô giá trị; với “hậu quả không thể lường được.” Do đó, theo ông Abe, Hiến Pháp Nhật vẫn cho phép quân đội Nhật can thiệp vì lý do “phòng thủ chung.”

Lời giải thích trên đây sẽ được Quốc Hội Nhật bàn và phê chuẩn trong mùa Thu năm nay. Nhưng trong ngày Thứ Hai, trước khi ông Obama lên đường thăm bốn nước Á Ðông, phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Mỹ đã nói rằng chính phủ Mỹ ủng hộ lối giải thích của ông thủ tướng Nhật. Nguyên văn lời Trung Tá Jeff Pool: “Bộ Quốc Phòng hoan nghênh lối giải thích Hiến Pháp mới của chính phủ Nhật về quyền phòng thủ chung.” Ðó là món quà ông tổng thống Mỹ mang tới Tokyo, trạm dừng chân đầu tiên của ông trong chuyến đi này.

Ông Tập Cận Bình sẽ lo lắng về lối giải thích mới của ông Shinzo Abe. Vì đây sẽ là bước đầu trong một tiến trình tái lập quân đội Nhật, vượt ra ngoài những giới hạn của điều 9 bản “hiến pháp hòa bình.” Nước Nhật có thể sẽ sản xuất thêm nhiều vũ khí, tăng cường lực lượng hải quân, và bắt đầu can dự vào những biến cố quân sự trong vùng Ðông Á. Thế nào họ cũng sẽ xuất cảng vũ khí, cạnh tranh cả với Nga, Mỹ, Anh, Pháp, Israel, vân vân.

Dư luận Nhật Bản đã bắt đầu chuyển động trong mấy năm gần đây, với nhiều ý kiến kêu gọi nước Nhật phải gia tăng lực lượng phòng thủ, tiến tới một đạo quân thực sự. Phong trào này đang lên cao vì những lý do cụ thể: Ngân sách quân sự của chính phủ Trung Cộng gia tăng rất nhanh trong khi chính phủ Mỹ đang chủ trương cắt giảm chi tiêu quốc phòng. Năm 2011, Tổng Thống Obama đã công bố chính sách “chuyển trục” sang Thái Bình Dương và Châu Á, nhưng nước Mỹ còn nhiều mối bận tâm khác, từ Afghanistan, Iran qua Syria, vùng Trung Ðông, và nay đến cả Ukraine.

Trong những năm trước, khi đưa ra kế hoạch gia tăng quân lực, Bộ Quốc Phòng Nhật thường dẫn lý do chính là mối đe dọa của Bắc Hàn. Tháng Mười Hai năm 2010, lần đầu tiên bản dự thảo kế hoạch quốc phòng của Nhật Bản đã công khai nói tới mối đe dọa do sự bành trướng quân lực của Trung Quốc, một điều mà trước đó mọi người đều hiểu ngầm nhưng không nói ra. Bản Bạch thư đính kèm ngân sách “tự vệ” nói rõ: “Gần đây Trung Quốc đang dùng vũ lực thay đổi nguyên trạng (status quo), trái với trật tự hiện được duy trì bằng luật pháp quốc tế.” Câu này chắc được viết ra không phải chỉ vì những đòi hỏi của Bắc Kinh về quần đảo Ðiếu Ngư (Senkaku), mà còn vì “Ðường Chín Ðoạn” vẽ ra trong vùng Biển Ðông nước ta. Từ đó, dư luận dân Nhật bắt đầu kêu gọi phải trở lại tình trạng một “quốc gia bình thường,” có nghĩa là phải đủ sức tự vệ bằng quân sự, chứ không thể chỉ dựa vào hiệp định an ninh với Mỹ.

Với lối giải thích Hiến Pháp mới của thủ tướng Nhật, phong trào “bình thường hóa” này sẽ cản trở kế hoạch bành trướng của chính quyền cộng sản Trung Quốc. Năm 1985, Trung Cộng đã bắt đầu kế hoạch canh tân hải quân. Thay vì chỉ nhắm vào việc phòng thủ bờ biển nước mình, hải quân Trung Cộng sẽ được trao cho nhiệm vụ phòng thủ ngoài biển xa. Nghĩa là trách nhiệm của họ bao trùm lên hai vòng phòng thủ. Vòng thứ nhất là các quần đảo kéo dài từ phía Nam Biển Nhật Bản xuống vùng Ðông Nam Á, tới tận Biển Ðông của Việt Nam. Vòng phòng thủ thứ hai lan rộng hơn, tới vùng biển của các nước Philippines, Indonesia, cho tới quần đảo Carolinas. Trong những vùng biển này là những đường vận chuyển hàng hóa, nguyên liệu và nhiên liệu lớn nhất thế giới, chưa kể đến những tài nguyên năng lượng nằm dưới đáy biển.

Vì vậy, trong mấy chục năm gần đây, Nhật Bản đã gia tăng phát triển hải quân, dù vẫn mang danh nghĩa một “lực lượng tự vệ.” Hải Quân Nhật đã có những đội tầu ngầm tối tân, và đang phát triển những hàng không mẫu hạm, cho máy bay chiến đấu và trực thăng. Trong năm qua, chính phủ Nhật đã đưa bộ binh và các giàn phòng không, kể cả hỏa tiễn, tới những hòn đảo cực năm lãnh hải. Chính phủ Nhật Bản vẫn chưa công bố kế hoạch làm hàng không mẫu hạm, vì lo dư luận dân chúng phản đối. Bản Hiến Pháp hiện hành cấm chế tạo các loại “vũ khí tấn công.” Nhưng vào Tháng Tám năm 2013, họ đã hạ thủy một khu trục hạm (destroyer) mang tên Izumo, chiến hạm lớn nhất kể từ sau Ðại Chiến Thứ Hai, với hình dạng đặc biệt là có một mặt bằng rộng lớn có thể cho các trực thăng và các máy bay chiến đấu lên thẳng cất cánh. Khu trục hạm Izumo chiều dài 248 mét, hơn chiều dài 209 mét của mẫu hạm HMS Invincible thuộc hải quân Anh. Chỉ cần lắp thêm bộ phận phóng máy bay nữa là Izumo sẽ biến thành một hàng không mẫu hạm.

Hiện nay, Hạm Ðội Thứ Bẩy của Mỹ vẫn là lực lượng hải quân mạnh nhất trong vùng. Với sáu hàng không mẫu hạm, mỗi mẫu hạm đi kèm với hàng trăm tầu chiến đủ loại, hơn 2,000 máy bay và 125,000 quân, Hạm Ðội Thái Bình Dương (US Pacific Fleet) đang trú đóng các căn cứ rải rác từ Nam Hàn qua Nhật Bản, được phép sử dụng các bến ở Ðài Loan, Philippines, Úc, Singapore, và các nước thân thiện vùng Ðông Nam Á. Quân đội Mỹ sắp hạ thủy một loại hàng không mẫu hạm mới. Thế hệ “mẫu hạm Ford” đang chuẩn bị hạ thủy sẽ sử dụng kỹ thuật điện tử trong việc phóng máy bay, nhanh hơn và an toàn hơn; mỗi mẫu hạm sẽ chứa nhiều máy bay hơn, sẽ thay thế hết các mẫu hạm cũ trong vòng vài chục năm tới.

Nhưng tất nhiên nước Mỹ cũng muốn Hải Quân Nhật Bản đóng một vai trò quan trọng hơn trong vùng Tây của Thái Bình Dương, để giảm bớt gánh nặng ngân sách của họ. Vì vậy, trước khi ông Obama lên đường sang Tokyo, chính phủ Mỹ đã công khai tuyên bố ủng hộ lối giải thích mới của ông Abe về bản Hiến Pháp.

Chính phủ Nhật biết trước Bắc Kinh sẽ công kích đường lối mới là hiếu chiến, tố cáo là trở về chính sách của chế độ quân Phiệt trước năm 1945. Ông Shigeru Ishiba, cựu bộ trưởng quốc phòng đã giải thích, “Với tình trạng ảnh hưởng của Mỹ đang xuống, của Trung Quốc đang lên, chúng tôi phải bắt đầu nghĩ làm cách nào tránh được cảnh chiến tranh sẽ xẩy ra.”

Chuyến đi của Tổng Thống Obama trong tuần này không đặt ra một mục tiêu cụ thể nào đối với cả bốn nước, Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines và Malaysia. Ðiều cụ thể nhất là việc Nhật tham dự vào khối mậu dịch tự do Thái Bình Dương chắc cũng không có kế quả nào trong chuyến đi này, vì hai bên còn rất nhiều mâu thuẫn. Nhưng chính phủ hai bên đã đề cao tính cách tượng trưng của cuộc công du này, khi họ đồng ý kéo dài trong ba ngày và hai đêm, để ông Obama có thể tham dự nhiều hoạt động và gặp cả chính phủ lẫn Nhật hoàng nhiều lần, cho thêm phần long trọng. Các chính khách Nhật đang muốn được chính phủ Mỹ giúp tăng thêm uy tín trong chương trình giải thích lại bản Hiến Pháp để tái vũ trang của họ. Vì cho tới nay Thủ Tướng Shinzo Abe vẫn cần chinh phục dư luận dân chúng Nhật.

Trong 60 năm qua đa số dân Nhật vẫn muốn duy trì bản“Hiến Pháp hòa bình.” Thái độ của họ gần đây đang thay đổi, nhưng chưa hoàn toàn đúng ý ông Abe. Số người chống đối việc xóa bỏ điều 9 đã giảm từ năm 2006 (67%), 2008 (58%) đến 2013 xuống chỉ còn 56%. Số người đồng ý xóa bỏ đã tăng: 27%, 31% trong hai năm trước, năm 2013 đã lên 36%. Vì vậy Thủ Tướng Shinzo Abe chưa dám đề nghị xóa bỏ điều 9 Hiến Pháp. Nhưng ông đã có cách đi đường vòng. Một điều ông đã ngỏ ý là muốn thay đổi điều số 96, để cho phép Quốc Hội tu chính Hiến Pháp với tỷ số quá bán, không cần đến 2 phần ba số đại biểu. Nếu được chấp thuận, đề nghị này có thể mở đường cho việc thay đổi điều 9 trong tương lai được dễ dàng hơn. Tất nhiên, dân Nhật không ngu, mà báo chí Nhật lại hoàn toàn tự do để vạch rõ hậu quả của việc thay đổi điều 96; cho nên ý định của ông Abe khó thực hiện! Ông chỉ còn cách là đi một đường vòng khác: Thay đổi trên thực tế, mà không thay đổi các quy tắc trong Hiến Pháp. Nếu năm ngoái dân Nhật không phản ứng gì khi khu trục hạm Izumo được hạ thủy, thì mai mốt Hải Quân Nhật làm thêm nhiều hàng không mẫu hạm chắc cũng được dân chúng bỏ qua! Trừ khi đảng Cộng sản Trung Quốc lớn tiếng tố cáo với dân Nhật rằng chính phủ của họ đang vi phạm điều số 9 trong Hiến Pháp!

Ðể gây ảnh hưởng trên dư luận dân Nhật, ông Tập Cận Bình và Bộ Chính Trị Cộng sản Trung Quốc sẽ tự đặt họ vào một tình trạng ngược đời. Họ vẫn muốn cai trị dân Trung Hoa bằng một chế độ độc tài chuyên chế, nhưng lại tuyên truyền kêu gọi dân Nhật Bản đòi quyền sống dân chủ tự do nhiều hơn. Trong khi việc thay đổi hiến pháp ở các nước cộng sản vẫn hoàn toàn do một nhóm lãnh tụ quyết định, ông Tập Cận Bình sẽ cổ động dân chúng Nhật đòi được tham dự nhiều hơn vào quyết định thay đổi bản Hiến Pháp hiện hành, một bản văn do quân đội Mỹ đặt ra trong thời gian chiếm đóng! Nhưng bất chấp tình trạng ngược đời đó, ông Tập Cận Bình vẫn phải lo lắng về tương lai một nước Nhật tái vũ trang.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Văn hóa từ chức

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)


Từ hai năm nay, dư luận dân chúng tại Việt Nam, đặc biệt trên các mạng truyền thông xã hội, chú ý một cách đặc biệt vào Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến. Nhiều người công khai lên tiếng kêu gọi bà từ chức với hai lý do chính: Một, sự bất lực của bà trước những sự thất bại nghiêm trọng của bộ (ví dụ, việc ngăn chận tham nhũng trong các bệnh viện, các phản ứng vụng về và bất lực trước nạn tiêm nhầm thuốc khiến trẻ em bị chết và gần đây nhất, cách đối phó với dịch sởi làm chết hơn 100 trẻ em và hàng ngàn trẻ em khác đang nằm la liệt trong các bệnh viện, v.v...); hai là, những cách trả lời ngô nghê, thậm chí vô cảm của bà trước sinh mệnh của dân chúng trong phạm vi trách nhiệm của bà.

Ai gào la thì mặc, bà vẫn “kiên quyết” không từ chức. Mà, thật ra, không riêng gì bà Kim Tiến. Hầu hết các bộ trưởng tại Việt Nam, thậm chí, cả chính phủ Việt Nam, kể cả những người đứng ở vị trí cao nhất, từ tổng bí thư đến chủ tịch nước và thủ tướng, từ trước đến nay, dù vẫn phạm vô số sai lầm, nhưng cũng chưa có ai từ chức cả. Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng, lúc đã về hưu, thường than thở là trên thế giới chưa ai làm thủ tướng lâu như ông và cũng chưa có thủ tướng nào ít quyền lực như ông; ít đến độ, suốt cả mấy chục năm, ông chưa hề, thực chất là không thể, bãi nhiệm bất cứ một viên chức nào dưới quyền: Ðó là công việc của đảng! Vậy mà ông vẫn “cắn răng” cam chịu và tiếp tục ngồi trên ghế thủ tướng suốt cả 32 năm (1955-1987). Gần đây, Thủ tướng đương nhiệm Nguyễn Tấn Dũng cũng nhiều lần than thở y như Phạm Văn Ðồng, nhưng ông cũng không từ chức. Có lần, bị tra hỏi, ông đáp: Ông được đảng phân công, do đó, ông phải tiếp tục.

Ở đây, chúng ta thấy có hai vấn đề: Một, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, từ trước đến nay, chỉ có hiện tượng bãi chức hay thuyên chuyển từ chức vụ này sang chức vụ khác chứ chưa hề có hiện tượng từ chức. Hiện tượng nhất định không từ chức này phổ biến đến độ người ta gọi đó là một thứ văn hóa: văn hóa không từ chức, hoặc, diễn tả một cách khác: Việt Nam chưa có cái gọi là văn hóa từ chức. Và hai, trong cơ chế công quyền ở Việt Nam, trách nhiệm của cá nhân hầu như chưa có: Toàn bộ việc quyết định bổ nhiệm hay sa thải đều nằm hết trong tay của đảng. Ngay cả với những người bất tài và bất lực, nếu đảng chưa quyết định thuyên chuyển hay cách chức, người ta vẫn tiếp tục giữ chiếc ghế của mình dù không làm gì cả hoặc nếu làm, làm một cách qua loa, dối trá, vô hiệu quả, bất chấp sự khinh bỉ của dân chúng.

Xin nói về vấn đề thứ hai trước.

Thật ra, ở Tây phương, bất cứ chiếc ghế nào trong chính phủ cũng xuất phát từ việc bổ nhiệm. Người đứng đầu chính phủ (hoặc tổng thống hoặc thủ tướng) là do dân chúng bổ nhiệm qua các cuộc bầu cử. Các chức vụ phía dưới đều cho tổng thống hoặc thủ tướng trực tiếp bổ nhiệm (có nơi, ví dụ ở Mỹ, với một số chức vụ quan trọng, cần sự chấp thuận của Quốc Hội). Ở cả hai cấp, người ta đều chịu trách nhiệm trước dân chúng và trước đảng của họ. Với tinh thần trách nhiệm ấy, người ta thường từ chức với một trong hai hoặc với cả hai lý do: Một, khi không còn được đảng tín nhiệm; và hai, khi đối diện với nguy cơ mất tín nhiệm của quần chúng. Nếu một quan chức nào đó, vì bất lực hoặc vì một sai phạm nghiêm trọng nào đó có thể gây ảnh hưởng tai hại đối với chính phủ hoặc đảng, họ có thể tự nguyện từ chức hoặc bị cách chức. Hai hình thức từ chức và cách chức có khi chỉ là một: đánh hơi được là sẽ bị cách chức, người ta tự ý xin từ chức trước, hoặc để bảo vệ danh dự của người ấy, thủ lãnh của họ có thể yêu cầu họ từ chức, nếu không, sẽ bị cách chức.

Trong mọi trường hợp, một chính phủ dân chủ bao giờ cũng bị sức ép của dân chúng để phải, một, thực hiện tất cả những gì mình từng hứa hẹn bằng cách tìm kiếm và sử dụng những người tài năng nhất trong mỗi chức vụ; và hai, công minh và nghiêm túc trong việc thưởng phạt để tránh bị dân chúng trừng phạt trong cuộc bầu cử kế tiếp. Trong suốt cả thời gian cầm quyền, bất cứ chính phủ dân chủ nào cũng đều bị theo dõi và kiểm soát nghiêm ngặt của giới truyền thông và đặc biệt, phe đối lập. Trước sức ép và những sự theo dõi ấy, không có sai lầm nào có thể bị bỏ qua; và vì không thể bỏ qua được, người ta chỉ có một trong hai lựa chọn: từ chức hoặc bị cách chức.

Ở Việt Nam, mọi quan chức chỉ chịu trách nhiệm trước đảng chứ không hề chịu trách nhiệm trước dân chúng; và đảng Cộng sản, vì không do dân bầu, nên không hề và cũng không cần chịu trách nhiệm trước dân chúng. Thành ra, từ góc độ cá nhân cũng như từ góc độ tập thể, không ai chịu trách nhiệm với ai cả. Không ai từ chức là vì thế. Người ta chỉ thuyên chuyển công tác. Và việc thuyên chuyển ấy chỉ là việc tái bố trí lực lượng trong nội bộ đảng nên không hiếm trường hợp: một người phạm sai lầm ở chức vụ này được thuyên chuyển sang một chức vụ khác, có khi còn cao hơn hẳn chức vụ cũ. Cho nên việc không từ chức và hiếm bị cách chức ở Việt Nam phản ánh một điều: nhà cầm quyền không cần giữ niềm tin của dân chúng, hay nói cách khác, bất cần dân chúng.

Chính đây là nguyên nhân dẫn đến vấn đề thứ nhất tôi nêu ở trên: Việt Nam chưa có, hoặc không có, văn hóa từ chức. Nói đến văn hóa là nói đến một cái gì sâu xa hơn những hiện tượng vào/ra, lên/xuống những chiếc ghế trong chính phủ. Nó là một nét trong cách suy nghĩ và, từ đó, hành xử của con người. Nó gắn liền với ý niệm về trách nhiệm và danh dự cũng như, rộng hơn, ý niệm về các chuẩn mực đạo đức trong xã hội.

Thứ nhất, việc thiếu văn hóa từ chức đồng nghĩa với việc thiếu tinh thần trách nhiệm. Ðảng cộng sản và chủ nghĩa xã hội nói chung rất tự hào đã sáng chế ra nguyên tắc “làm chủ tập thể” nhưng họ lại không thấy, hoặc thấy nhưng làm ngơ, một mặt trái của nguyên tắc này: cuối cùng không ai chịu trách nhiệm về bất cứ một sai lầm nào cả. Thành công, người ta nhận công lao thuộc về mình; nhưng thất bại, người ta lại đổ hết cho tập thể; có điều, tập thể là một đám đông vô hình và vô cùng mơ hồ và trừu tượng. Ðến lượt cái tập thể ấy đổ tội cho... lịch sử hoặc, nói theo chữ của Phạm Thị Hoài, khi bàn về vấn đề trí thức Việt Nam, cho “thằng khách quan” nào đó.

Thứ hai, quan trọng hơn, do thiếu ý thức trách nhiệm, người ta cũng mất hẳn ý thức về danh dự. Mất ý thức về danh dự, người ta cũng mất cả ý thức về sự xấu hổ. Ở Tây phương, khi một chính khách phạm sai lầm, dù rất nhỏ, ví dụ trường hợp Thủ hiến New South Wales Úc, ông Barry O'Farrell, mới đây, đã từ chức vì không khai báo món quà ông nhận được, một chai rượu đỏ hiệu Penfolds Grange trị giá 3000 đô theo luật định. Lỗi, thật ra, không lớn. Người ta có thể tự biện hộ một cách dễ dàng bằng một lý do khá chính đáng: quên. Mà dễ quên thật. Một lãnh tụ cỡ như vậy thường phải dự cả hàng chục cuộc họp mặt và nhận được cả chục món quà đủ loại mỗi tuần. Nhưng ông O'Farrell không sử dụng cách tự bào chữa ấy. Ông quyết định từ chức. Một là để bảo vệ uy tín của chính phủ và của đảng ông. Hai là vì... xấu hổ. Ở Việt Nam, ngược lại, dường như không có một lãnh tụ hay quan chức cao cấp nào có bất cứ một biểu hiện tự xấu hổ nào cả. Bị phê phán hay chửi bới đến mấy, họ cứ trơ ra, chờ thời gian làm mờ nhạt dần, và cuối cùng, mọi người đều quên lãng.

Nhưng khi làm vậy, họ lại xói mòn, nếu không muốn nói là làm sụp đổ, mọi chuẩn mực đạo đức trong xã hội. Một xã hội bình thường bao giờ cũng có một số chuẩn mực nhất định để căn cứ vào đó người ta đánh giá và phân loại thiện/ác, tốt/xấu, hay/dở, những điều có thể chấp nhận được và những gì không thể chấp nhận. Ngày xưa, suốt cả ngàn năm, người ta viết những câu chuyện có hậu với kết thúc ở hiền gặp lành và ở dữ gặp dữ là vì vậy. Ngay cả ở Tây phương hiện nay, mỗi khi viết về những người thành công, ví dụ các tỉ phú - ở Việt Nam thường gọi là “đại gia” - người ta thường chỉ tập trung vào trí tuệ, tài năng và sức lao động không biết mệt mỏi của họ. Ở Việt Nam thì khác. Nhan nhản trong xã hội là hình ảnh những quan chức bất tài và bất lực, vô trách nhiệm và không có chút tự trọng nào, vẫn cứ ung dung ngồi trên những chiếc ghế cao ngất ngưởng, đi đâu cũng có thảm đỏ, người đưa kẻ đón, không những giàu có mà còn đầy quyền lực. Ðối diện với những kẻ như vậy, tất cả những người thông minh, tài năng và cần cù nhưng thật thà, biết xấu hổ, lúc nào cũng muốn giữ gìn nhân cách và nhân phẩm, trở thành những kẻ thất bại, và không chừng, bị dư luận cho là dại dột.

Bởi vậy, trong một ý kiến ngắn đăng trên facebook mới đây, tôi viết:

“Nhiều người thừa nhận: Ở Việt Nam chưa có văn hóa từ chức. Dường như chưa ai phủ nhận hay cãi lại. Nhưng đó chỉ là hiện tượng. Cần lưu ý, đằng sau sự thừa nhận ấy là hai sự thú nhận khác, quan trọng hơn: Một, Việt Nam thiếu một cơ chế thưởng phạt công minh để ngay cả những người bất tài, không xứng đáng hoặc vấp phải những sai lầm nghiêm trọng vẫn tiếp tục ngồi trên những chiếc ghế cao ngất ngưởng hầu tiếp tục phá hoại đất nước. Và hai, Việt Nam thiếu (hoặc đánh mất) một yếu tố cực kỳ cao quý không những đối với cá nhân mà còn đối với cả cộng đồng: lòng tự trọng. Cái thiếu đầu là sự bất toàn về phương diện tổ chức và pháp lý. Cái thiếu sau là sự bất toàn về phương diện văn hóa và đạo đức. Hệ quả của cả hai cái thiếu ấy là sự sụp đổ của các bảng giá trị, hoặc đúng hơn, các chuẩn mực của giá trị. Khi các chuẩn mực bị sụp đổ, người ta - mọi người, bất kể là ai, dù có chức quyền hay không có chức quyền - không còn phân biệt được cái tốt và cái xấu, cái thiện và cái ác, cái hay và cái dở: Cái hư ở trên, dù muốn hay không, cũng thấm dần xuống dưới. Xã hội, do đó, bị băng hoại tận đáy.”

Nhìn vấn đề như vậy, chúng ta dễ dàng trả lời câu hỏi nhiều người đặt ra: Tại sao xã hội, văn hóa, và đạo đức tại Việt Nam cứ mỗi ngày một băng hoại như vậy?

Câu trả lời: Bao giờ những người lãnh đạo các cấp chưa biết đến văn hóa từ chức, sự băng hoại ấy vẫn sẽ tiếp tục, hơn nữa, càng ngày càng trầm trọng hơn.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

'Tôi có một giấc mơ'

Giao Chỉ, San Jose
(Viết tặng trung úy quân pháp Việt Nam Cộng Hòa Phan Quang Tuệ)


Năm xưa, khi còn ở Việt Nam anh chàng trung úy quân pháp Việt Nam Cộng Hòa không thể tiên đoán được số mệnh của mình ra sao. Anh cũng không đoán được tương lai của đất nước. Năm 1975 chạy được qua Mỹ, đi rửa chén, chạy bàn, bỏ báo... Rồi đi học lại, dù vất vả trăm chiều nhưng cũng chỉ gọi là lao động như mọi người để xây dựng lại cuộc sống. Chuyện định cư khó khăn cách mấy cũng chẳng có gì đáng kể so với thiên hạ hay các chiến hữu còn kẹt lại. Dù là đã tốt nghiệp tại Việt Nam, anh chàng tỵ nạn đất Quảng cũng còn vất vả với chữ nghĩa Hoa Kỳ. Nhưng Phan Quang Tuệ không phải là mẫu người yên phận thủ thường. Ông luôn luôn tự nhủ thầm. “Tôi có một giấc mơ.”
Image
Ứng cử viên Phan Quang Tuệ và phu nhân. (Hình: Giao Chỉ cung cấp)

Mới sang đến Mỹ, vợ ông Tuệ qua đời. Ðã mất nước, mất bằng bây giờ lại mất vợ. Giấc mơ đầu tiên của ông là phải tốt nghiệp luật sư Mỹ và phải lập gia đình. Chấp nhận định mệnh, nỗ lực đi lại từ đầu. Ông Tuệ tục huyền trước hay tốt nghiệp trước. Cũng chẳng cần phải biết rõ. Ra luật sư rồi mới lấy được vợ hay nhờ lấy vợ mà được thúc đẩy việc học hành. Chuyện nọ yểm trợ chuyện kia. Sau khi yên bề gia thất và an cư lạc nghiệp ở miền Trung Mỹ. Luật Sư Phan Quang Tuệ vẫn còn nuôi mộng lớn: “Tôi có một giấc mơ.”

Trong khi Mục Sư King: “I have a dream” thì ông Tuệ cũng “I have a dream.” Ông King ước mơ một thế giới đại đồng thì ông Tuệ khiêm nhường hơn chỉ mơ ước làm ông tòa Hoa Kỳ. Có thể vì giấc mơ của vai trò chánh án Việt Nam lỡ dở, bây giờ nằm ngủ ở Mỹ ông bèn mơ tiếp.

Mới quen biết tại Hoa Kỳ tôi hỏi ông Tuệ là móc nối thế nào, vận động ra sao mà bỗng nhiên ông được chính phủ ký giấy bổ nhiệm làm thẩm phán tòa di trú liên bang. Ông tòa nói rằng: Tôi có vây cánh con ông cháu cha gì đâu. Bà Tổng Trưởng Tư Pháp Janet Reno chẳng phải người đồng hương gốc Quảng Trị. Hệ thống tư pháp Hoa Kỳ tưởng chừng rắc rối nhưng xem ra quá đơn giản. Có loại tòa phải bầu theo dân cử.

Có loại tòa trên, tòa dưới do thống đốc hay tổng trưởng bổ nhiệm. Lại hỏi: Chạy cửa nào để được bổ nhiệm. Ðáp rằng: Thẩm phán di trú là ghế liên bang. Mình chờ thông cáo, xem qua thấy đủ điều kiện. Ðã đủ diều kiện rồi làm sao. Rồi làm đơn xin. Xin rằng: thưa bà tổng trưởng, xem ra chỗ này hợp với tôi. Tôi thích làm ông tòa. Xin bà đề cử tôi. Bà Reno đâu có biết trung úy Phan Quang Tuệ là ai. Do ủy ban cứu xét thấy được đề nghị lên. Bà thấy anh luật sư tỵ nạn Việt Nam mà làm tòa di trú ở San Francisco chắc là đúng người, đúng việc. Bèn ký giấy bổ nhiệm.

Ðó là nguyên do anh chàng di cư tỵ nạn 1975 trở thành thẩm phán tòa di trú San Francisco vào năm 1995.
Mười tám năm sau, ông Tuệ chuẩn bị về hưu, anh em hỏi bây giờ làm gì. Ông có chương trình rủ bạn bè làm một chuyến đi vòng quanh thế giới. Anh em cười nói là mơ mộng hão huyền. Người ta người nào việc đó. Làm sao mà bỏ nhà ra đi khắp thế giới cả năm trời. Thực ra, đây chỉ là giấc mộng ảo. Mộng thực của ông muốn làm dân biểu liên bang.

Con đường gai góc bắt đầu

Trong thế giới của người Việt Nam di tản, giấc mộng lớn của giới cao niên là giải phóng quê hương. Ông biệt kích bộ binh Võ Ðại Tôn từ Úc qua Mỹ rồi qua Thái tìm đường vượt sông Mê Kông vào đất Lào. Kết quả đau thương bị bắt và trình diễn màn họp báo chống cộng hết sức vĩ đại tại Hà Nội. Ông tướng hải quân Hoàng Cơ Minh cũng lập căn cứ tại Thái Lan và Ðông tiến qua Lào. Kết quả là cái chết anh hùng tự sát để khỏi rơi vào tay địch. Từ Pháp, lãnh tụ sinh viên Trần văn Bá đi cùng không quân VNCH Mai Văn Hạnh xâm nhập qua ngả Cà Mau. Cả hai cùng các kháng chiến quân bị bắt, mang án tử hình. Như thế là có đủ hải lục không quân sinh quán từ ba miền đất nước cùng đứng lên làm lịch sử.

Toàn là các chiến sĩ tìm đường gai góc mà đi.

Bốn mươi năm sau 1975, đến lượt ông cựu trung úy VNCH 70 tuổi tìm đường giải phóng quê hương tại Quốc Hội Hoa Kỳ. Sau chiến tranh Việt Nam ai cũng nói chúng ta thua ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Vì vậy ông trung úy tư pháp tìm cách đánh từ DC Hoa Kỳ đánh về Việt Nam. Xem ra rất có lý. Gần 30 năm trong ngành tư pháp Mỹ, ông bước qua lập pháp quả là đúng đường. Bài vở biết hết rồi, đâu phải học hỏi nhiều cho vất vả. Chỉ cần phiếu là đủ. Tiếc thay muốn có phiếu ông phải có tiếng, có tiền, có tài và có thế. Tài giỏi hay không, tùy người đối diện. Tuy nhiên với con người thắng được hoàn cảnh đi từ rửa chén di cư mà lên đến ghế thẩm phán liên bang, chắc phải là có khả năng và nghị lực. Còn lại ông thiếu nhiều thứ. Thiếu tiền, thiếu tiếng và thiếu cả thế lực chính trị. Ðiều ông sẵn có lại không phải là ưu điểm. Ông là người có tuổi. 70 tuổi là quá tuổi về hưu chính thức. Ông tòa khi ra tranh cử có tâm sự với tôi: Ông đại tá thấy tôi có “khùng” không. Không dám nói khùng đâu, chỉ hơi điên. Tôi thành thực trả lời. Nhưng phải theo dõi công việc của ông một thời gian mới biết được.

Ngay khi ông công bố ý định đầu năm 2014, tháng đầu tiên có những bài báo đánh phá ông nặng nề. Có người đem cả thân phụ ông là Bác Sĩ Phan Quang Ðán ra chửi. Anh em nghĩ rằng, ông này điên thật, khi không nhảy ra làm chính trị để cho thiên hạ chửi. Ông Tuệ ngao ngán tâm sự rằng ở nhà có ba cái chum.

Một cái đựng tiền ủng hộ. Một cái đựng tiếng khen. Một cái đựng tiếng chê. Tính đến nay, tiếng chê gần đầy. Tiếng khen được một nửa, chum tiền còn trống. Nhu cầu tranh cử cần bạc triệu, gây quỹ chưa đi đến đâu, nghĩ có nên đi tới không.

Chẳng biết thiên hạ góp ý ra sao, phần tôi bàn như sau: Ðảng Cộng Hòa địa phương khu 11 thua phe Dân Chủ liên tiếp 19 kỳ. Chức vụ dân biểu bầu hai năm một lần. Ông già phe Dân Chủ ngồi suốt 38 năm, nổi danh Tây phương bất bại. Dù nhiều năm gần đây ông ù lì chẳng làm gì cả. Nhưng phe Cộng Hòa không hề có ai đại diện cho ngon lành. Kỳ trước có bà ứng cử viên Mỹ gốc Châu Phi Virginia Fuller cũng khá cương quyết và sắc xảo. Ra tranh cử hai năm trước đã có thành tích và nhiều phiếu nhưng vẫn thua. Bây giờ Ðảng Bộ Cộng Hòa địa phương tổ chức cho hai vị nam nữ ứng cử viên Châu Phi và Châu Á tranh luận.

Nếu ai thắng sẽ chính thức đại diện đảng. Tôi đề nghị nếu ông tòa thua thì nên bỏ cuộc, không nên cố tranh cử tự do. Nếu thắng tranh luận thì “đành” đi tới cho dứt đường trần.

Chẳng ai ngờ, ông tòa phe ta thắng vẻ vang trong kỳ tranh luận Tháng Ba vừa qua tại Walnut Creek. Ðảng Cộng Hòa nhận ông thẩm phán là đại diện chính thức. Ðó là tin mừng số 1. Tin mừng số 2 là ông dân biểu thâm niên, già cúp thùng thiếc của phe Dân Chủ quá mệt mỏi với chức vụ gần nửa thế kỷ. Ngài vừa xin từ chức. Phe Dân Chủ cử người khác.

Tháng Sáu này bầu sơ bộ đơn vị cử tri khu 11 dân biểu liên bang Hoa Kỳ sẽ có đến 6 người ra tranh cử.

Một tay tự do, thường chỉ ra cho vui, không quyết tâm. Bốn vị thuộc đảng Dân Chủ, trong số này có hai người ở ngoài đơn vị, cũng chẳng hết lòng và ông tòa của chúng ta, đại diện duy nhất của phe Cộng Hòa.

Phân tích theo lý luận thông thường, Dân Chủ sẽ bị chia phiếu. Hy vọng sau cùng sẽ có một Dân chủ và một Cộng Hòa cao phiếu nhất vào chung kết. Ðây chính là bác Cộng Hòa trung úy quân pháp Phan Quang Tuệ.

Nếu kết quả như thế, báo chí Hoa Kỳ sẽ xúm lại lấy tin. Gần 40 năm qua tại đất Dân Chủ khu 11 mới có một ông Cộng Hòa bước vào vòng chung kết. Ðảng Bộ Cộng Hòa Contra Costa sau hơn 30 năm chỉ đi câu cá chờ thời, ngày nay mới có được ông đại diện Việt Nam Cộng Hòa vào sân đấu. Sẽ phải xin Cộng Hòa trung ương rót tiền vào để đánh trận để đời. Không chừng sẽ kéo cả ông tổng thống già Bush cha xuống yểm trợ cho ông trung úy già xứ Quảng.

Kết quả cuối cùng ra sao, chưa cần biết. Chỉ vào chung kết cũng như võ sĩ lên võ đài Las Vegas là đã lừng danh thiên hạ.

Nửa sự thật không phải là sự thật, nhưng nửa khúc bánh mì vẫn là nửa khúc bánh mì. Và nửa giấc mộng vàng vẫn là nửa giấc mơ đẹp.

Vẫn còn vất vả

Tuy nhiên, đi đến kết quả trận sơ bộ hạ được đối phương để vào chung kết, con đường từ nay cho đến ngày 3 Tháng Sáu tuy gần mà rất xa. Thời gian gần kề nhưng tiền bạc vẫn còn xa cách. Cử tri chưa biết nhiều về ông tòa Tuệ. Cần tiền quảng cáo, trả tiền mua nước cho các em tình nguyện. Cần tiền cho truyền thông. Báo chí, TV, radio Hoa Kỳ rất đắt đỏ.

Thêm vào đó, khu vực ông tòa cư ngụ không phải là nơi có cộng đồng Việt Nam. Ðồng hương bỏ cho đồng hương chẳng được bao nhiêu.Tuy nhiên, nếu có lòng muốn bỏ phiếu cho vị dân biểu gốc Việt đầu tiên tại California vào Quốc Hội Hoa Kỳ, cử tri không cần phải dọn nhà. Cũng không cần là cư dân ở Mỹ.

Có thể ở khắp nơi trên thế giới. Các bạn có thể bỏ phiếu bằng tiền. 10 đồng, 100 đồng hay 1,000 đồng gửi cho ban vận động. Ðó chính là các lá phiếu trực tiếp mạnh mẽ nhất. Quả thực chúng ta rất cần một dân biểu Việt Nam trong tòa nhà Quốc Hội Mỹ. Tính theo tỷ lệ dân số toàn quốc hợp lý và công bình là trong số 435 ghế hạ viện, phải có ít ra hai dân biểu gốc Việt. Muốn trúng số thì phải mua số. Muốn trúng cử thì phải ra tranh cử. Xem ra kỳ này tại Mỹ khi ông thẩm phán về hưu ra quân thử sức, dường như lại chỉ có một mình. Không những cô đơn mà thiên hạ ác độc lại còn đem thân phụ của ông ra “tưởng niệm.” Rồi các nhân sĩ mẫn cán của cộng đồng trong thế giới ảo lại phổ biến rộng rãi để gọi là rộng đường dư luận.

Lại có bình luận rằng ông này chỉ nhằm phục vụ cho công quyền Mỹ trên đường hội nhập. Anh em chỉ gieo tiếng ác. Sự thực không phải vậy. Vị dân biểu gốc Việt không phải chỉ có nghĩa vụ riêng với cử tri địa phương và đất nước Hoa Kỳ. Khi đã mang hồn Việt với căn cước tỵ nạn là phải do Việt Nam, vì Việt Nam và cho Việt Nam Cộng Hòa.

Có người bàn rằng làm sao mà biết được ông tòa Tuệ hiện đang là người phe ta. Rồi cứ cho là phe ta, khi thành dân biểu ông có thể bị Cộng Sản mua chuộc trở thành...vân vân. Nếu bạn đã suy diễn xa xôi như thế thì mình chả bận tâm bàn thêm làm gì. Nhưng nếu ông bạn tâm tình nói rằng tôi cũng muốn xin địa chỉ để gửi tiền ủng hộ nhưng không biết tay này ra sao. Chúng tôi xin giãi bày. Anh Tuệ là sĩ quan Thủ Ðức, con Bác Sĩ Phan Quang Ðán. Anh có văn bằng luật nên ra trường được đưa về ngành quân pháp. Trận Quảng trị 1971 ở Ðông Hà có một máy bay của ta bị hạ, phi công mất xác. Người phi công đó là Phan Quang Tuấn, em trai của Phan Quang Tuệ. Bác Sĩ Phan Quang Ðán lúc đó đang là quốc vụ khanh Ðệ Nhị Cộng Hòa, có thể xin cho con hoãn dịch hay đi binh chủng khác, nhưng cậu con trai đã có hẹn ước với số trời.

Ði không ai tìm xác rơi. Khi nói chuyện cũ, trước máy thu hình ông Tuệ khóc cho người em, khóc cho số phận quê hương. Chúng tôi ngồi nghe hết sức xúc động. Bụng bảo dạ rằng, tay này ra ứng cử không phải vì sinh kế, không hoàn toàn vì danh vọng, đây là người yêu nước, thực sự muốn làm gì cho quê hương.

Khi nghe tin con thứ chết, ông quốc vụ khanh Phan Quang Ðán gọi cho người con trưởng Phan Quang Tuệ, lúc đó là trung úy biệt phái công cán ủy viên cho tối cao pháp viện. Cha con ra Quảng Trị làm lễ tang cho phi công Phan Quang Tuấn nhưng không có di hài. Bên này phòng tuyến, cha con ngó qua Ðông Hà nơi phi cơ bị hạ. Quân ta có đi tìm mà không thấy xác rơi. Thân nhân họ Phan đất Quảng nhìn lên cao chỉ thấy mây trời Cam Lộ một màu xanh ngắt.

Dòng dõi họ Phan, người đất Quảng, trực tính, nghĩ sao nói đó, nhưng biết phục thiện, biết sửa chữa, biết xin lỗi. Tôi bỏ phiếu cho ông Tuệ. Bạn lại hỏi rằng đang ở San Jose, thuộc Santa Clara County, làm sao bỏ phiếu ở Contra Costa County.

Thì bạn đem gửi cho ban bầu cử hình ảnh của các tổng thống Hoa Kỳ. Hình ông Hamilton trên giấy 10 đồng. Hình ông Jackson trên giấy 20 đồng. Ðừng gửi hình ông Washington 1 đồng. Tôi gửi hình ông Franklin trên giấy 100 đồng. Hy vọng sau này có dịp lên DC, được ông dân biểu đồng hương chở đi xem hoa anh đào.

Bạn lại hỏi thêm. Này, nếu “lui” vào được Quốc Hội liệu có giữ ghế lâu dài được hay được một kỳ rồi lại văng ra như tay dân biểu họ Cao ở bên New Orleans. Không, anh không biết người đất Quảng, đất cầy lên sỏi đá mà còn không bỏ đi, nếu được ghế dân biểu là sẽ ngồi luôn cho đến chết.

Bạn yên trí, chỉ có mấy chục bạc, gửi người chính thức vào Quốc Hội Hoa Kỳ hô đả đảo Cộng Sản cho đồng viện vỗ tay. Còn muốn hơn gì nữa.

Xin chiến hữu gửi ngay cho trung úy Tuệ hình ảnh của các vị tổng thống Hoa Kỳ. Có thể gửi bằng chi phiếu thay thế. PO. Box 1687, Danville, CA 94526 hoặc email: vannaphan@pacbell.net.

Ðoạn cuối cho bằng hữu. Tôi gửi bản thảo bài báo cho bạn cao niên rất quan tâm thế sự. Bạn hỏi rằng mục đích viết để làm gì. Thì còn làm gì nếu không phải là xin tiền tranh cử cho chiến hữu Việt Nam Cộng Hòa. Lại hỏi thêm, email này là của ai? Ðây là địa chỉ của phu nhân Phan Quang Tuệ. Cô hết lòng giúp chồng tranh cử. Kỳ này, mọi thành công là nhờ vợ. Thất bại là do chồng. Tiếp tân tranh cử cô vợ luôn luôn nhắc. Khách đến rồi, cười lên anh Tuệ. Anh qua chào bàn bên kia, sao cứ ngồi lì một chỗ. Khi cả hai đi phát tài liệu tranh cử, có ông cử tri Mỹ ghé tai thì thào với bà vợ ứng cử viên: “Sao cô không ra tranh cử. Cô ra tôi bỏ 2 phiếu.” Nàng nói, kỳ này xin bác một phiếu cho ông xã. Nếu không đậu, kỳ sau đến lượt em!

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Image

Nhìn lại chiến tranh

Thỉnh thoảng tôi đọc trong Internet một vài lá thư có nội dung bày tỏ thái độ không đồng ý của người viết đối với số chính sách của đảng và nhà nước, được gởi ra từ trong nước. Các tác giả của những lá thư đó tuy khác nhau ở tên họ, địa chỉ, nhưng chung dưới một tên gọi là "các cựu chiến binh lão thành".

Những lá thư như thế chắc không phải được viết bằng máy vi tính hiện đại như tôi đang sử dụng mà có lẽ bằng những cây viết có ruột cao su mềm, bơm mực bằng tay được cất giữ kỹ lưỡng từ lâu lắm. Nhìn vào tên tuổi và chức vụ, tôi biết các cụ thuộc thế hệ Điện Biên và không ít là người của thời mùa thu 1945 còn lại. Địa chỉ của các cụ tuy khác nhau nhưng giống như lá thư tập thể, phần đông sống trong các khu nhà cũng có tên chung là Khu Tập Thể.

Trong suốt bảy, tám mươi năm của đời mình, các cụ sống, làm việc và được rèn luyện để thừa hành chỉ thị của cấp trên chứ không quen đặt vấn đề, các cụ tập chịu đựng đau đớn chứ không được phép rên la. Và vì thế, viết một lá thư đã là một việc khó khăn, gởi lá thư đó đến các cấp đảng và nhà nước trung ương là một can đảm chưa từng nghĩ đến và phổ biến lá thư rộng rãi ngoài quần chúng quả thật là một hành động phi thường. So với việc ôm ngọn tầm vông vót nhọn lao vào phòng tuyến thực dân trong những ngày còn trai trẻ, hành động viết lá thư gởi lên trung ương đảng ngày nay có thể còn nguy hiểm hơn nhiều. Những kẻ mà các cụ lo sợ sẽ trả thù, dèm pha, nghi kỵ không phải bọn thực dân mắt xanh, mũi lõ dễ phân biệt mà là những người cùng tổ chức, cùng đảng, cùng gọi nhau là đồng chí và ngay cả những kẻ còn thuộc hàng con cháu các cụ.

Tôi hình dung cái đêm các cụ tập trung nhau ở nhà một người nào đó trong nhóm để thảo lá thư, chắc phải bí mật, hồi hộp hơn cả giờ ra trận và xúc động hơn cả đêm cuối cùng bên cạnh vợ con trước ngày lên đường đi Lai Châu, Hà Nam, Hà Bắc không biết có ngày trở lại, của mấy chục năm về trước. Các cụ lo sợ là phải. Những kẻ mà các cụ chống đối ngày nay, không những biết rõ nơi ăn chốn ở mà còn là người quyết định các chỉ tiêu lương thực, thực phẩm, tiền hưu trí, phụ cấp nhà ở của các cụ. Những kẻ đó không những nắm quyền sinh sát cho đoạn đời ngắn ngủi còn lại của các cụ mà cũng có luôn cả quyền xóa bỏ quá khứ mà các cụ vô cùng trân quý.

Tôi nghĩ đến các cụ và thương các cụ rất nhiều. Không phải sau khi đọc những lá thư được gởi từ các khu nhà tập thể, không phải sau khi đã ra được nước ngoài mà ngay cả từ thời mới lớn tại miền Nam trước 1975, hình ảnh các cụ vẫn rất đẹp trong lòng tôi. Tôi chưa bao giờ nghĩ tất cả những người Việt Nam sống bên kia sông Bến Hải là cộng sản, trái lại tin rằng ẩn khuất sau đám mây đen độc tài đảng trị đó vẫn có những tấm gương sáng của lòng yêu nước chân thành. Dân tộc nào trên thế giới cũng yêu thương và gắn bó với đất nước của họ, nhưng tôi vẫn có một niềm tin chủ quan rằng con người Việt Nam nặng lòng với quê hương đất nước nhiều hơn các giống dân khác. Bởi vì không có một đất nước nào, ở đó, mỗi ngọn núi, mỗi dòng sông, mỗi con đường đã được gìn giữ bằng một giá đắt như ông bà chúng ta đã phải hy sinh trong suốt dòng lịch sử.

Những ngày còn ở trung học, tôi thuộc lòng bài thơ “Nhà tôi” của Yên Thao và “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm. Cả hai bài thơ được đăng trong tạp chí Bách Khoa ở Sài Gòn, trong đó có những câu làm tôi rơi nước mắt:


Đêm buông xuống dòng sông Đuống

- Con là ai? Con ở đâu về?

Hé một cánh liếp

- Con vào đây bốn phía tường che

Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng.

(“Bên kia sông Đuống”, Hoàng Cầm)

hay là:

Đêm nay tôi trở về lành lạnh
Sông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưa
Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ
Chắp tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
Làng tôi đấy bên trại thù quạnh quẽ
Nằm im lìm như một nắm mồ ma
Có còn không! Em hỡi một mẹ già?

Những người thân yêu khóc buổi tôi xa.

(“Nhà tôi”, Yên Thao)

Tôi thường tự nhủ, nếu được sinh ra cùng thời với các cụ và có đủ can đảm, con đường đẹp nhất mà tôi chọn có lẽ cũng là con đường mà các cụ đã đi:


Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

(“Đất nước”, Nguyễn Đình Thi)

Sau 1975, nghe bài hát “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết trong thời chống Pháp, tôi cũng vô cùng cảm động:"Tấm áo ấy bấy lâu nay con quý hơn cơm gạo, người mẹ nghèo trong áo rách, áo rách nên thương, áo rách nên thương, các con ra đi đã mấy chiến trường, mang theo cả tình thương của mẹ." Trong hình ảnh nghèo nàn, đau xót đó đã toát lên một vẻ đẹp thiêng liêng của tình mẹ và tình đất nước.

Năm ngoái, trong một buổi thảo luận với các bạn trẻ, tình cờ trùng hợp với thời gian Việt Nam đang kỷ niệm 50 năm trận Điện Biên Phủ, một bạn đã hỏi cảm tưởng của tôi đối với những người ngã xuống trên phòng tuyến Điện Biên Phủ trên đường tấn công vào sào huyệt của tướng De Castries. Tôi đã trả lời người bạn trẻ rằng tôi rất có cảm tình và kính trọng những người chết trên đường đánh vào bộ chỉ huy của tướng De Catries.

Trả lời như vậy không phải vì tôi chưa suy nghĩ kỹ. Thật ra, từ khi biết nghĩ về đất nước, tôi đã suy nghĩ về cái chết của những người Việt Nam đó rất nhiều.

Khi nói cảm tình với những người chết khi tấn công vào Điện Biên Phủ không phải tôi không biết rằng trong thời điểm đó đã có mặt một chính phủ khác, hình thành như kết quả của hiệp ước Hạ Long 1948 và sau đó trong hiệp ước ký kết tại điện Élysée giữa Bảo Đại và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol năm 1949. Theo nội dung chính của cả hai hiệp ước, Pháp công nhận "nền độc lập" của Việt Nam. Thật ra, đó chỉ là chiếc bánh vẽ mà dân Việt Nam chẳng thể nào ăn được. Sử gia Phạm Văn Sơn ở miền Nam đã viết trong Việt sử toàn thư: "Nhưng sau 80 năm sống dưới quyền Pháp, nhân dân Việt Nam đã hiểu rõ người Pháp quá nhiều, lại nhìn vào Bảo Đại và thành phần chính của chính phủ Bảo Đại, nhân dân cũng hết tin tưởng, vì vậy mà cây bài quốc gia tức cây bài Bảo Đại không có hiệu quả."

Là một sĩ quan cấp đại tá, phụ trách phòng quân sử thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Việt Nam Cộng Hòa, lẽ ra ông phải viết khác đi cho thích hợp với bối cảnh chính trị Việt Nam sau hiệp định Geneva, nhưng không, sử gia Phạm Văn Sơn đã có một cái nhìn sáng suốt. Ông viết từ trái tim yêu nước và viết cho hàng trăm năm sau chứ không phải để thoả mãn các nhu cầu chính trị nhất thời.

Đại tá Phạm Văn Sơn, người đã chết trong trại tù Vĩnh Phú năm 1980, đã ví các nỗ lực của thực dân nhằm tiêu diệt lòng yêu nước bền bỉ của nhân dân Việt Nam chẳng khác gì là việc "cầm dao chém nước", chẳng thể nào chẻ được lòng yêu nước của người Việt Nam.

Khi nói cảm tình với những người lính chết trên đường tấn công vào Điện Biên Phủ không có nghĩa tôi không biết rằng ông Hồ Chí Minh là một cán bộ của Đệ tam Quốc tế Cộng sản và những người lãnh đạo phong trào Việt Minh phần lớn là đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Lenin đã khẳng định cuộc cách mạng chống thực dân là một bộ phận của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới và cũng chính Lenin cho rằng các nước thuộc địa lạc hậu có khả năng nhảy vọt lên chủ nghĩa xã hội mà không cần thông qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Ngay từ ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, tư tưởng đó luôn luôn là tư tưởng chỉ đạo cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Tôi kính trọng và quý mến những người đã ngã xuống, đơn giản bởi vì họ là những người yêu nước. Tình yêu họ dành cho nơi chôn nhau cắt rốn là một tình yêu thuần khiết và vô cùng trong sáng. Lòng yêu nước của họ không nhập từ đâu cả nhưng được hun đúc bằng xương máu từ nhiều ngàn năm lịch sử, lớn lên trong lời dạy bảo của cha và lời ru của mẹ.

Trong cuộc phỏng vấn ngày 26 tháng 2 năm 2005 của đài BBC, nhà thơ Hoàng Cầm cũng đã xác nhận: "Lúc ấy tôi còn trẻ (đỗ tú tài năm 1940), tham gia cách mạng là vì tinh thần yêu nước chứ cũng không biết gì về các chủ nghĩa. Tôi viết các vở kịch mang chất lịch sử, xuất phát từ lòng yêu nước."

Một người như nhà thơ Hoàng Cầm, có bằng tú tài, một trình độ giáo dục được xem là cấp cao của thời bấy giờ, vẫn không biết gì về chủ nghĩa Mác-Lê thì hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu tâm hồn nông dân chơn chất Việt Nam khác làm sao hiểu được thế nào là duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, giá trị thặng dư, thời kỳ quá độ và họ chắc cũng chẳng quan tâm đến các ông Các Mác râu xồm hay ông Lê-nin trán hói là ai.

Tôi tin tuyệt đại đa số những người đã chết trong cuộc chiến chống thực dân là những người hy sinh cho độc lập, tự do đúng nghĩa. Họ ngã xuống cho thanh bình sớm được vãn hồi trên quê hương khổ đau và bất hạnh Việt Nam. Họ ngã xuống trong nụ cười, bởi vì ngay cả khi nhắm mắt lìa đời họ vẫn tin rằng họ đang chết cho tổ quốc, đang chết cho tương lai dân tộc như tổ tiên họ đã chết trên sông Bạch Đằng, trên bến Chương Dương, trong đầm Dạ Trạch, giữa núi rừng Yên Thế. Họ chết đi trong giấc mơ tuyệt đẹp về một đất nước tương lai, một đất nước của Hùng Vương thương yêu và giàu mạnh. Tuyệt đại đa số, nếu không muốn nói rằng tất cả, đều tin như thế.

Tôi không tin một người Việt Nam nào có thể lấy thân mạng mình lấp vào ổ súng thực dân hay lấy thân mình làm đòn kê để khẩu pháo khỏi rơi xuống hố sâu chỉ để mong một ngày đất nước Việt Nam sẽ biến thành một thiên đường, ở đó con người làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, muốn gì có nấy như đã khẳng định trong kinh điển Mác-Lê. Không! Những nông dân Việt Nam yêu nước từ bỏ ruộng vườn ra đi theo tiếng gọi của non sông như một thời vang vọng từ Chí Linh, Lam Sơn, Bạch Đằng, từ bốn ngàn năm lịch sử. Họ đã từng ôm lấy nhau mà hát "Vì nước, ruộng nương anh để vợ anh cày, gian nhà tranh mặc kệ gió lung lay... Áo anh rách vai, quần tôi có hai miếng vá, miệng còn cười buốt giá chân không giày, thương nhau, ta nắm lấy bàn tay".

Không ai gần gũi với đất nước hơn là nông dân và cũng không ai yêu đất nước hơn người nông dân. Cả đời họ gắn liền với bờ ao, ruộng lúa. Họ đánh Tây chỉ vì một lý do đơn giản, để được sống thanh bình, tự do trong căn nhà tranh, bên bờ ao thửa ruộng của họ. Ý nghĩa của quê hương trong lòng người nông dân trong sáng như thế đó.Và cho dù những người nông dân áo vải thô đó có tham gia vào đảng cộng sản đi nữa, việc tham gia của họ cũng chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn mà thôi. Nếu họ sinh ra ở Quảng Nam họ sẽ gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, sinh ra ở Quảng Trị họ sẽ gia nhập Đại Việt, sinh ra ở Cần Thơ, Vĩnh Long họ sẽ gia nhập Dân xã Đảng. Đó là trọng điểm của các đảng phái chống Pháp trong những thập niên đầu của thế kỷ 20.

Trong ý thức đơn sơ của người dân Việt, các tổ chức chống thực dân là những chiếc phao họ bám để sang bờ độc lập. Người dân hiền lành ngày đó làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt cuộc đời họ cho đến ngày nay.

Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam nhưng tôi nhìn lịch sử từ hướng con tim và bằng lý trí chứ không nhìn từ điện Kremlin, White House, khu Trung Nam Hải Bắc Kinh hay bằng những kiến thức và lý luận một chiều. Tôi học để hiểu rằng cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Đó là cuộc chiến giữa dân tộc Việt Nam bị trị chống lại thực dân Pháp bóc lột và nô lệ đất nước chúng ta. Cuộc chiến đó bắt đầu khi tiếng đại bác của tướng thực dân Rigault de Genouilly bắn vào Đà Nẵng năm 1859 chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược cho đến khi chúng rút ra khỏi Việt Nam vào năm 1954.

Trong gần một trăm năm đó, máu của hàng triệu người Việt Nam đã đổ xuống khắp ba miền, từ ruộng lúa Tiền Giang đến châu thổ sông Hồng, từ Côn Đảo đến Réunion, từ dải Trường Sơn trùng điệp đến núi rừng âm u Việt Bắc. Bên tai tôi như vẫn còn nghe tiếng hô "Việt Nam vạn tuế" của Nguyễn Thái Học, lời dặn dò của Phan Chu Trinh, tiếng gào thống thiết của Nguyễn An Ninh, lá thư viết bằng máu của Phan Bội Châu, giọng thơ hùng tráng của Lý Đông A, tiếng sóng Châu Giang vỗ vào thân xác của Phạm Hồng Thái. Người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên.

Khoảng cách giữa thương nước và hại nước không phải là một chiếc cầu dài mà trái lại rất ngắn và mỏng như sợi tóc. Chiếc cầu nhận thức đó ngắn đến nỗi nếu chỉ bước thêm một bước nữa, một người yêu nước sẽ tức khắc trở thành kẻ bán nước.

Đó là thực chất của cuộc chiến gọi là "Chống Mỹ cứu nước" sau 1954 đến 30 tháng 4 năm 1975. Nhiều người nhìn cuộc chiến Việt Nam như nhìn vào màu nước biển. Tùy theo thời gian và chỗ đứng của mỗi người, nước biển có một màu sắc khác nhau. Nhưng màu thật sự của giọt nuớc không thay đổi dù sáng, trưa, chiều, tối, trong bờ hay ngoài khơi. Tương tự, cuộc chiến Việt Nam đã được gọi bằng nhiều tên gọi: nội chiến, chống đế quốc, ủy nhiệm, đánh thuê v.v…, nhưng bản chất của cuộc chiến vẫn chỉ là một mà thôi. Như vậy, bản chất của cuộc chiến từ 1954 đến 1975 là gì?

Trong các định nghĩa về chiến tranh, tôi vẫn đồng ý với định nghĩa của Karl von Clausewitz nhất, "chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng những phương tiện khác" (War is the continuation of politics by other means). Và từ định nghĩa đó, nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, thay vì đi tìm nhãn hiệu quốc gia nào trên từng vỏ đạn, trên mỗi chiến xa hay thử nghiệm DNA, màu da, chủng tộc của từng xác chết, có lẽ chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân và mục đích của cuộc chiến đã xảy ra trên đất nước mình, không phải trong thời chiến mà ngay cả trước và sau cuộc chiến.

Nói về mục đích chiến tranh, khoảng năm 1970, tôi có đọc một cuốn sách của giáo sư Nguyễn Văn Trung. Tôi không nhớ chính xác tên của tác phẩm nhưng nhớ rất rõ giáo sư đã dành nguyên trang đầu để viết mỗi một câu: "Nói cho cùng, cuộc chiến Việt Nam vẫn là cuộc chiến tranh ý thức hệ". Câu nói đó kích thích sự tìm hiểu của tôi rất nhiều về bản chất và mục đích của cuộc chiến Việt Nam mà các bên tham dự đang nhắm đến.

Ở miền Nam, chúng tôi lớn lên với nhiều câu hỏi và rất ít câu trả lời, trong khi đó, thế hệ trẻ miền Bắc lớn lên có tất cả câu trả lời chờ sẳn mà không cần đợi hỏi. Nếu ai hỏi một trăm em, hay thậm chí một ngàn em học sinh Việt Nam tốt nghiệp phổ thông về lý do của cuộc chiến tranh được mệnh danh là "giải phóng miền Nam", tôi tin người hỏi sẽ nhận về những câu trả lời giống hệt nhau, đó là "chống giặc Mỹ xâm lược để thống nhất đất nước".

Giặc Mỹ xâm lược?

Phải chăng vì "giặc Mỹ xâm lược" Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Tây Đức nên ngày nay các quốc gia này mới trở nên những nước giàu có nhất nhì trên thế giới. Thống nhất đất nước? Vâng, không một người Việt Nam nào muốn cắt đi phần da thịt của mình hay muốn đất nước mình phải chia đôi, chia ba, nhưng nếu để đổi sự thống nhất bằng sinh mạng nhiều triệu người dân vô tội, nhiều trăm ngàn người Việt Nam vẫn còn đang mất tích, hàng vạn cô gái Trường Sơn đã đánh mất tuổi xuân trong rừng sâu núi thẳm, một nền kinh tế đi sau nhân loại hàng thế kỷ, phải chăng là một giá nên đổi? Độc ác như Kim Nhật Thành nhưng sau cuộc thử lửa 1950 đã không còn nuôi giấc mộng xâm chiếm Nam Hàn lần nữa. Bạo chúa cỡ Erich Honecker cũng chưa bao giờ dám nghĩ chuyện phiêu lưu thống nhất nước Đức bằng con đường võ lực.

Trước 1975, tôi nghe rất nhiều về quốc gia, cộng sản nhưng ai cũng bận đánh nhau, chẳng bao nhiêu người dành thời gian nghiên cứu kỹ càng và phổ biến rộng rãi về thế nào là quốc gia và thế nào là cộng sản. Một số không ít các nhà lãnh đạo miền Nam từng là sĩ quan trong quân đội Pháp hay đã phục vụ trong chính quyền thuộc địa Pháp nên cũng không thích nghe quá nhiều những mẩu chuyện khơi dậy lòng yêu nước chống thực dân và họ cũng không đặt nặng việc xây dựng một hệ ý thức quốc gia dân tộc nào hoàn chỉnh. Một số người được gọi là trí thức trong xã hội miền Nam thì xem việc chống chính phủ, chống Mỹ là một thời trang, mặc dù nhiều trong số họ ăn lương Mỹ.

Xã hội miền Nam trước 1975 hẳn nhiên không phải là một xã hội lý tưởng. Miền Nam có tham nhũng, có cậy quyền, có lũng đoạn, có độc tài, có tham ô, có lãng phí, nói chung có đủ các biến chứng tiêu cực của một đất nước vừa thoát ra khỏi ách phong kiến và thực dân. Nhưng đồng thời miền Nam cũng có các điều kiện và nhân tố cần thiết để xây dựng một xã hội dân chủ pháp trị. Giống như việc trồng cây ăn trái, những hạt mầm dân chủ cũng phải được gieo, phân bón, tưới nước, chịu đựng nắng mưa, gió bão, truớc khi đâm chồi, nẩy lộc, đơm hoa và kết trái.

Mặc dù đang chập chững trên hành trình dân chủ hóa như thế, không có nghĩa là hàng triệu người lính miền Nam chiến đấu không lý tưởng. Một người lính nghĩa quân gác chiếc cầu ở đầu làng để mấy anh du kích khỏi về giựt sập cũng là một biểu hiện hùng hồn của lý tưởng tự do và chủ quyền. Chiếc cầu là huyết mạch kinh tế của làng, là trục giao thông chính của làng, là vẻ đẹp của làng, và bảo vệ chiếc cầu là nhiệm vụ sống còn mà người lính nghĩa quân phải làm cho bằng được. Lý tưởng tự do của một dân tộc dù thiêng liêng vĩ đại bao nhiêu cũng bắt nguồn từ những hình ảnh nhỏ nhoi nhưng đầy ý nghĩa đó.

Trong suốt 20 năm từ sau 1954, nhân dân miền Nam, không có một con đường nào khác hơn là phải chiến đấu để bảo vệ quyền được sống trong một xã hội họ đã chọn lựa. Phát xuất từ chính sách chia để trị của thực dân và hoàn cảnh trưởng thành, không ít nhà lãnh đạo miền Nam đã bắt đầu cuộc đời chính trị hay binh nghiệp trong hàng ngũ Pháp, nhưng giống như hàng triệu người dân miền Nam khác, họ đã chung lưng nhau chiến đấu để bảo vệ quyền được nói những điều họ nghĩ, quyền được sống nơi họ muốn sống, quyền đi nhà thờ, đi chùa họ chọn, quyền được hát bài hát họ thích.

Dù quá khứ khác nhau nhưng họ đều ngã xuống như những người yêu nước. Đừng quên, những người bị gọi là "Ngụy", là "theo Tây", "theo Mỹ" kia không chỉ phải bảo vệ miền Nam mà còn phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn để giữ từng cù lao, từng khoảng không gian của vùng trời, từng hải lý của vùng biển Việt Nam. Hạt cát Hoàng Sa vẫn còn đỏ màu máu của họ.

Thế nhưng, số phận các quốc gia nhược tiểu thì ở đâu và thời nào cũng vậy, nếu tương hợp với quyền lợi của đế quốc thì sống và ngược lại thì chết. Bởi vì mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam rất tương hợp với quyền lợi của Liên-Xô và Trung Quốc nên "vinh quang này thuộc về Đảng Lao động Việt Nam" như Lê Duẩn nói, trong lúc nhiều cấp lãnh đạo miền Nam phải tự sát hay sắp hàng đi vào tù bởi vì quyền lợi của nhân dân miền Nam (chiến đấu để bảo vệ và xây dựng các nền móng tự do dân chủ riêng ở miền Nam) không còn tương hợp với sách lược thế giới của tổng thống Richard Nixon.

Thật ra, không phải đợi đến khi tổng thống Nixon thay đổi đường lối chiến tranh mới dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam, chính sách của Mỹ tại Việt Nam đã thất bại ngay từ trong trứng. Đánh nhau với ba nước tiên phong và hùng hổ nhất trong khối cộng sản quốc tế (Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô) mà chỉ nhằm bảo vệ miền Nam Việt Nam thì sự thất bại là vấn đề thời gian mà thôi. Danh tướng Đức Erwin Rommel chẳng từng viết "Phòng thủ là tự sát" đó sao. Trong chiến tranh Đại Hàn, nếu quân đội đồng minh không đổ bộ Ichon, giải phóng Seoul, vượt vĩ tuyến 38, chiếm cả thủ đô Bình Nhưỡng của Bắc Hàn, mà chỉ lo phòng thủ miền Nam thì số phận Nam Hàn chưa biết sẽ ra sao. Sau 1975, chính ông bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã xác định cuộc chiến từ sau 1954 đến 1975 là chiến tranh ý thức hệ giữa cộng sản và tự do.

Trong diễn văn chào mừng chiến thắng vào đầu tháng 5 năm 1975, ông Lê Duẩn không còn che giấu tham vọng nhuộm đỏ cả nước Việt Nam khi tuyên bố: "Vinh quang này thuộc về Đảng Lao động Việt Nam quang vinh, người lãnh đạo của giai cấp công nhân, giai cấp tiền phong trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội". Câu nói "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc..." đã trở thành một trong những câu khẩu hiệu phổ biến nhất trong thời kỳ đó. Câu khẩu hiệu dài lòng thòng này đã làm tốn nhiều vải và mực nhất trong những năm mà người dân không có áo mặc sau 1975. Ngoài ra, trong tác phẩm được xem như là kinh điển, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, ông Lê Duẩn cũng nhiều lần khẳng định mục đích cuối cùng của cách mạng tại Việt Nam là đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội hiện đại (công nghiệp, nông nghiệp và khoa học kỹ thuật), tạo điều kiện vững chắc cho chủ nghĩa cộng sản khoa học trong tương lai. Nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập vào năm 1930 cho đến nay, tuy khác nhau về chiến lược của mỗi thời kỳ và hoạt động dưới nhiều tên gọi (Đảng Cộng sản Đông Dương, Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng ở miền Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam) nhưng hoàn toàn nhất quán về tư tưởng và mục đích chính trị.

Người đọc sẽ thắc mắc, thế thì công sức của Đảng Cộng sản trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp đầy gian khổ nhưng cũng rất vinh quang đó là gì? Xin thưa, từ nhỏ tôi được dạy rằng khi giúp đỡ ai thì đừng cầu ơn phước, vì giúp người chỉ để mưu cầu lợi lộc riêng tư thì không phải giúp người mà chỉ là một hành động đầu tư trên sự khổ đau của kẻ khác mà thôi.

Từ khi thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương cho đến 1954, giới lãnh đạo cộng sản đã chiến đấu trong hàng ngũ người Việt yêu nước, vâng, nhưng mục đích cuối cùng của họ không phải là độc lập dân tộc hay thống nhất đất nước. Ba mươi năm, kể từ 1975, một khoảng thời gian đủ dài và một vết chém đủ đau để nhân dân Việt Nam ý thức ra rằng thống nhất đất nước chỉ là điều kiện tiền đề cho mục đích cộng sản hóa toàn cõi Việt Nam.

Hành động đốt sách vở một cách không phân biệt, xóa bỏ mọi tàn tích văn hóa cũ, đổi tiền năm bảy lượt, bỏ tù hàng trăm ngàn người, đày đi kinh tế mới hàng triệu đồng bào là những bằng chứng hiển nhiên đến mức không ai còn có thể chối cãi được. Nếu chỉ đánh Mỹ để giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, tại sao họ đã thi hành các biện pháp đầy đọa, trừng phạt, tẩy não vô cùng thất nhân tâm như đã làm sau 1975 đối với chính đồng bào máu mủ của mình?

Trong quan điểm đó, Đảng Cộng sản không có công trạng hay ơn nghĩa gì với dân tộc Việt Nam cả. Họ chỉ là những người cho vay lấy lãi nặng bằng máu xương của bao nhiêu thế hệ Việt Nam. Hãy so sánh cách sống của những ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên trung ương đảng và cuộc đời của những người được gọi là "chủ nhân đất nước" đang lay lắt dưới gầm cầu Long Biên để thấy cái mức lãi mà dân tộc ta phải trả cho Đảng Cộng sản Việt Nam cao đến bao nhiêu.

Bất cứ người Việt Nam có một chút kiến thức kinh tế, chính trị và nhìn lịch sử một cách khách quan phải công nhận rằng, nếu không có ý thức hệ cộng sản, Việt Nam không những vẫn là một dân tộc thống nhất mà còn có đời sống tự do, dân chủ, nhân bản và giàu mạnh gấp trăm lần hơn hôm nay.

Trần Trung Đạo

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Suy nghĩ và tưởng niệm ngày 30 Tháng Tư
Tuesday, April 29, 2014 4:45:30 PM

Giám Sát Viên Janet Nguyễn, Ðịa Hạt 1, Hội Ðồng Giám Sát Quận Cam

Cách đây 39 năm, Sài Gòn rơi vào tay cộng sản, và cuộc đời tôi bị thay đổi hoàn toàn. Vào ngày này hôm nay,
tôi muốn hồi tưởng lại những năm tháng qua, và ảnh hưởng của “Tháng Tư Ðen” đối với chính bản thân tôi,
cũng như hàng triệu người Việt Nam tị nạn khác giống tôi, khắp thế giới.

Những kỷ niệm đầu tiên của tôi là cuộc sống trong trại tị nạn, sau khi gia đình tôi lênh đênh trên Biển Ðông.
Chú tôi, một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bị xử bắn ngay ngày Sài Gòn thất thủ. Sợ bị cộng sản trả thù, tất cả chúng tôi phải trốn đi,
bởi vì cha tôi từng phục vụ trong quân đội miền Nam Việt Nam. Biết rằng tương lai của chúng tôi ở Việt Nam sẽ rất đen tối,
cha mẹ tôi liều mình đưa cả nhà vượt biên đi tìm sự an toàn và tự do cho gia đình.

Image
Giám Sát Viên Janet Nguyễn. (Hình: Văn Phòng GSV Janet Nguyễn)


Ngay khi đến bờ biển Thái Lan, chúng tôi, cũng như nhiều gia đình khác, phải đập bể ghe và bơi vào bờ. Sau một thời gian sống ở các trại tị nạn, chúng tôi may mắn được đặt chân lên đất Mỹ.

Tuy nhiên, đây mới chỉ là sự bắt đầu của một hành trình đầy khó khăn.

Trong lúc nuôi dạy các con, cha tôi vừa làm phụ tài xế xe buýt tại một trường đại học cộng đồng, vừa học tiếng Anh. Gia đình tôi phải sống nhờ vào trợ cấp xã hội, trợ cấp thực phẩm. Quần áo chúng tôi mặc là mua ở các tiệm bán đồ cũ, hoặc do nhà thờ địa phương tặng vào dịp Giáng Sinh. Khi bắt đầu học đại học, tôi phải làm 3 việc mới có đủ tiền chi tiêu, trong lúc học toàn thời gian tại đại học UC Irvine.

Qua những khó khăn trong đời sống, cha mẹ tôi khuyến khích anh em chúng tôi học thành tài và cống hiến lại cộng đồng. Chính vì những lời khuyên này mà tôi quyết định đi vào con đường phục vụ công chúng, trong khi người anh trai tôi gia nhập Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Bây giờ, tôi đã là nữ giám sát viên đầu tiên đại diện Ðịa Hạt 1, là người Mỹ gốc Châu Á đầu tiên, và là người Mỹ gốc Việt đầu tiên, trong Hội Ðồng Giám Sát Quận Cam. Tôi cũng là giám sát viên trẻ nhất trong lịch sử Quận Cam, là dân cử người Mỹ gốc Việt cao cấp nhất tại tiểu bang California, và là nữ dân cử người Mỹ gốc Việt cao cấp nhất ở Hoa Kỳ.

Cho dù thành công như vậy, tôi không bao giờ quên những gì tôi đã trải qua để có được ngày hôm nay.

Ðể tưởng niệm và để nhắc nhở các thế hệ sau về sự kiện quan trọng này, tôi đã đưa “Tháng Tư Ðen” vào trong nghị trình họp, để Hội Ðồng Giám Sát Quận Cam công nhận hàng năm. Tôi làm như vậy là để tưởng niệm “Tháng Tư Ðen,” để công chúng biết về thời điểm này, và để thấy rằng chúng ta thật sự cần phải bảo vệ tự do và dân chủ khắp nơi trên thế giới.

Kể từ khi có “Tháng Tư Ðen,” đời sống người dân ở Việt Nam ngày càng tệ hại. Vì thế, tôi luôn tham gia các sự kiện chống cộng sản được tổ chức ở nhiều nơi khắp Hoa Kỳ, điều trần trước Thượng Viện Hoa Kỳ, và mới đây nhất, phản đối ý định của thành phố Irvine kết nghĩa với thành phố Nha Trang ở Việt Nam.

Hiện nay, tôi cũng đang làm việc cùng với Dân Biểu Ed Royce để thông qua HR4254, Dự Luật Chế Tài Giới Chức CSVN Vi Phạm Nhân Quyền, nhằm trừng phạt những cá nhân vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Tôi hy vọng những việc làm này sẽ tạo ra thay đổi tích cực cho người dân đang sống tại đất nước mà tôi được sinh ra.

Qua những gì xảy ra trong cuộc đời, tôi có một cảm giác khó tả mỗi khi đến “Tháng Tư Ðen.” Tôi rất buồn khi thấy rất nhiều người Việt Nam và người Mỹ thiệt mạng trong chiến tranh. Thế nhưng, dù đang sống ở Mỹ, tôi cũng nhận thấy rằng, đấu tranh cho tự do và dân chủ là một điều vô cùng cao quý.

Chỉ có tại đất nước này, một người từng sống nhờ trợ cấp xã hội và trợ cấp thực phẩm nay đã trở thành một nhà lãnh đạo trong một cơ quan dân cử quận hạt, quản trị một ngân sách lớn hàng thứ bảy tại Hoa Kỳ.

Riêng đối với gia đình tôi, quyết định phải rời Việt Nam là một câu chuyện buồn, nhưng lại kết thúc có hậu, và tôi luôn trân trọng nó mỗi ngày. Thế nhưng, tôi sẽ không bao giờ quên quá khứ, bởi vì tôi biết, không phải tất cả người tị nạn Việt Nam đều may mắn.

30 Tháng Tư năm 1975 sẽ luôn luôn là ngày để tưởng nhớ hàng triệu người đã hy sinh tính mạng của họ cho những người như tôi, những người mà cuộc đời được thay đổi mãi mãi.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Sau 39 năm

Ngô Nhân Dụng

Ngày 30 Tháng Tư năm 2014, lần đầu tiên người dân miền Nam Việt Nam đã can đảm xuống đường, không phải để ca ngợi mà để chống chính quyền. Họ trưng những biểu ngữ công khai nói lên những sự thật, sau 39 năm bị bịt miệng: 30-4 NGÀY TANG DÂN TỘC! 30-4 DÂN VIỆT MẤT QUYỀN CON NGƯỜI!

Tại sao cuộc biểu tình này có thể thực hiện trong một ngày “nhạy cảm” như vậy?

Vì kỹ thuật tổ chức của dân Việt ngày càng tinh vi, nhưng cũng vì chính quyền không thể gán cho những người biểu tình tội “chống Cộng” trong ngày 30 Tháng Tư, cho công an đàn áp ngay lập tức. Nhìn trong hình thấy những bạn trẻ và các em bé chưa sinh ra trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Có cả những bà già có con đi theo cộng sản và chết, cho các quan chức bây giờ được hưởng giàu sang. Những người biểu tình đeo khăn tang trên đầu, trên đó viết chữ tự giới thiệu họ là những “dân oan.” Dân Oan một danh từ thường chỉ chung những người đã bị đảng cộng sản cướp ruộng, cướp đất để khai thác chia phần cùng với đám tư bản đỏ.

Nhưng tại sao dân biểu tình không bị đàn áp, có thể rất dã man như những cụ già, phụ nữ, trẻ em, ở Dương Nội, Văn Giang chống cướp đất đã bị đánh đập?

Vì chính quyền địa phương và guồng máy công an tại Dương Nội, Văn Giang có quyền lợi thiết thực cho họ khi đảng cướp đất của nông dân. Trên dưới tất cả đều được “chấm mút” trong những công trình rút ruột này. Còn guồng máy công an và chính quyền tại Sài Gòn thường không được ăn miếng nào khi các đồng chí lãnh đạo Bạc Liêu hay Cần Thơ cướp ruộng đất của nông dân. Có ngu gì mà họ lại chấp nhận cảnh đứa khác ăn ốc để mình phải đi dọn vỏ?

Cũng trong ngày 30 Tháng Tư năm 2014, một Hội Dân Oan Việt Nam ra đời. Trước đó ông Nguyễn Xuân Ngữ đại diện dân oan phía Nam đã gặp gỡ nhiều dân oan các tỉnh phía Bắc, đồng ý chọn ngày 24 Tháng Tư làm Ngày Dân Oan Việt Nam.

Cuộc nội chiến Việt Nam đã chấm dứt từ năm 1975. Ngay sau đó cho tới bây giờ, một cuộc chiến mới diễn ra. Một bên là chính quyền độc tài, tham nhũng, bất lực và thối nát. Bên kia là người dân đấu tranh đòi quyền sống làm người, quyền được hưởng tự do dân chủ. Những sinh viên học sinh, những nhà trí thức, và có những nông dân chân lấm tay bùn cùng tham gia mặt trận đấu tranh.

Sau 39 năm, dân Việt vẫn phải đấu tranh đòi quyền sống làm người, đòi được hưởng những quyền tự do tối thiểu như được nói, được suy nghĩ, được hội họp tự do. Sau 39 năm, dân Việt Nam vẫn nghèo khó nhất trong vùng Á Ðông. Trong những năm tới còn lo sẽ nghèo hơn cả người Campuchia, người Lào. Sau 39 năm, mối họa phương Bắc cho thấy chính sách ngoại giao “cõng rắn cắn gà nhà” từ năm 1950 đã gây họa trường kỳ cho dân tộc như thế nào. Cho nên những người biểu tình năm nay đã nói đúng sự thật: 30 Tháng Tư năm 1975 là một Ngày Tang của Dân Tộc. Cảnh nghèo nàn chậm tiến, mất tự do và lệ thuộc ngoại bang hiện nay có thể đoán trước được từ ngày 30 Tháng Tư năm 1975, khi thi sĩ Nguyễn Chí Thiện ngồi ở trong tù cũng nhìn thấy “Một mối nhục nhằn, một mối đau thương” trùm lên đất nước.

Bài trước trong mục này kể lại những ngày kết thúc cuộc nội chiến ở nước Mỹ vào Tháng Tư năm 1865; nhân ngày 30 Tháng Tư. Cả bài chỉ kể chuyện về cung cách đối xử của những người chỉ huy miền Bắc nước Mỹ đối với người miền Nam thua trận. Những gì xảy ra ở nước ta vào năm 1975 thì chắc quý vị độc giả đã biết cả rồi. Khi đọc bài, chắc thế nào quý vị cũng nảy ra ý so sánh cảnh các cuộc nội chiến kết thúc, ở Mỹ vào thế kỷ 19 và ở Việt Nam trong thế kỷ 20.

Cuộc chiến tranh nào cũng tàn khốc, và gây nên nỗi hận thù. Nhưng khi quân miền Bắc chiếm Richmond, Tổng Thống Abraham Lincoln vào thủ đô của chính phủ miền Nam. Richmond lúc đó đã vô cùng hỗn loạn vì các cuộc cướp phá, đốt nhà, hôi của. Khi Tướng Weitsel hỏi ý kiến nên đối xử với người miền Nam thế nào, Lincoln bảo: “Hãy cho họ dễ dàng - Let 'em up easy!” Ông bị nhiều người phản đối, kể cả phó tổng thống của ông, và vị bộ trưởng chiến tranh. Vì vậy, khi nghe tin ông bị ám sát, người miền Nam lo lắng cho số phận của họ. Vị tướng miền Nam Joseph Johnson đã nói với Tướng William Sherman miền Bắc, khi hai người gặp nhau thảo luận về điều kiện đầu hàng: “Ðây là tai họa lớn nhất cho miền Nam!” Nhưng sau cùng, tai họa cũng không xảy ra. Khi còn đang đánh nhau, Tướng Sherman từng nói với dân và quân miền Nam rằng: “Khi nào hết chiến tranh, các bạn cần gì cứ tìm đến tôi! Nếu tôi có mấy cái bánh cracker, sẽ chia sẻ với bạn; tôi sẽ bảo vệ gia đình các bạn.” Hai ông tướng bàn bạc mất mấy ngày mới đồng ý về điều kiện đầu hàng, cho quân sĩ miền Nam được tự do trở về nhà, mang theo ngựa hoặc lừa, để cầy bừa vườn ruộng. Sau đó, Tướng Sherman còn quyết định cung cấp cho tất cả 25,000 quân sĩ còn lại của Tướng Johnson mỗi người mười ngày lương thực. Sherman biết kho lẫm miền Nam đã cạn kiệt, chắc ông muốn những địch quân của mình, trên đường trở về nhà không ai phải đi xin ăn hay cướp bóc. Ðiều này không nằm trong các điều kiện đầu hàng đã ký kết. Khi “Old Joe” Johnson nhận được “quà tặng bất ngờ” đó, ông thẳng thắn ca ngợi: “Lòng yêu nước lớn lao” của vị tướng đối nghịch. Trước đây ông vẫn nghĩ rằng phải đối đầu với Tướng Sherman trên chiến trường nỗi bất hạnh của đời mình; nay hóa ra đó lại là điều may mắn cho cả đạo quân dưới quyền.

Nghĩ đến cảnh những người lính miền Nam nước Mỹ đem theo mười ngày lương thực trên đường về nhà, lại nhớ đến cảnh ở Việt Nam, sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Các sĩ quan và công chức miền Nam từ giã gia đình, “đem theo lương thực đủ dùng trong mười ngày;” có người đem theo đủ một một tháng, như ghi trong giấy mời trình diện. Họ ôm theo thức ăn, và quần áo, xà bông, khăn mặt, kem đánh răng, tự mình đi vào tù, ai cũng nghĩ rằng sẽ chỉ phải “học tập” một tháng là xong. Các lãnh tụ cộng sản ở Hà Nội tự vỗ bụng khen mình là “đỉnh cao trí tuệ” vì đã bày mưu đánh lừa được mấy trăm ngàn người tự nguyện chui đầu vào cái thòng lọng họ đã giương ra, sẵn sàng siết cổ. Bản thân ký giả này, nếu không may mắn thoát đi trước, chắc cũng đã tự nguyện chui đầu vào cái thòng lọng đó.

Nhiều người sẽ tự hỏi: Có phải người Mỹ vào thế kỷ 19 họ hiền lành, tử tế với nhau hơn người Việt Nam 110 năm sau hay không? Tôi không nghĩ như vậy. Ðã đi qua nhiều nước và đọc truyện kể từ nhiều nơi, tôi vẫn tin chắc rằng loài người ở đâu cũng như nhau, không ai tốt hơn mà cũng chẳng ai xấu hơn ai.







Vậy thì tại sao chính quyền miền Bắc nước Mỹ, các tướng lãnh và quân đội của họ lại đối đãi tử tế với những đạo quân miền Nam và dân chúng miền Nam thua trận như vậy? Vì vào năm 1965, chế độ dân chủ ở nước Mỹ đã được thực hiện hơn nửa thế kỷ. Một nguyên nhân chính gây nên cuộc nội chiến là các tiểu bang miền Nam không công nhận người da đen có quyền công dân như người da trắng, trong khi miền Bắc đã làm luật giải phóng nô lệ. Nhưng trong thời gian nội chiến 4 năm, chính quyền cả hai miền đều dùng các Hiến Pháp bảo đảm các công dân được bầu cử tự do, báo chí tự do, hội họp tự do, bộ máy nhà nước phải tôn trọng hiến pháp, luật pháp và các công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật. Với thể chế tự do, những người lãnh đạo phải theo ý dân. Mà dân chúng nước nào thì cũng sẵn sàng bao dung, đùm bọc đồng bào của mình.

Vào năm 1975, chế độ miền Nam Việt Nam được đặt trên nền tảng dân chủ, mặc dù chưa vì trong cảnh chiến tranh không được đầy đủ như nhiều người dân mong muốn. Tại miền Bắc thì chế độ cộng sản hoàn toàn bác bỏ các quy tắc dân chủ, coi đó là một sản phẩm của chủ nghĩa tư bản. Nhưng nguyên nhân chính khiến cho chế độ miền Bắc thắng trận đối xử với quân và dân miền Nam một cách khắc nghiệt tàn tệ, là vì họ theo chủ nghĩa Mác-Lê Nin.

Theo Mác-Lê Nin là theo một “tín ngưỡng,” mặc dầu vẫn là vô thần. Những người cộng sản tin những điều Mác-Lê Nin nói đều là “chân lý” tuyệt đối, không khác gì tín đồ các tôn giáo thời Trung Cổ. Tinh thần cuồng tín đó được nhồi sọ cho các đảng viên cộng sản, bảo họ chia thế giới ra làm hai phần; những người theo mình là bạn, còn tất cả những người khác ý kiến là kẻ thù. Và đối với kẻ thù, họ không cần áp dụng các quy tắc luân lý cũng như luật pháp nào cả. Cho nên họ tha hồ dùng thủ đoạn lừa gạt, dối trá, tha hồ dùng bạo lực, cho đến việc thu hộ khẩu, cắt tem phiếu, và bây giờ là thu hồi quyền sử dụng đất, để bắt mọi người phải phục vụ cho mình.

Các đảng viên cộng sản được đào tạo như vậy từ khi xin vào đảng, từ 1920, 30 cho tới năm 1975 vẫn như vậy. Trong thế giới cộng sản tình cảm giữa người với người bị xóa bỏ, thay vào đó là lòng trung thành tuyệt đối với Ðảng (viết hoa), tức là sẵn sàng tuân lệnh cấp trên. Những người như Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Ðức Thọ đã được đào tạo như vậy.

Ðược “giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lê Nin” cho nên các lãnh tụ cộng sản vào năm 1975 trong lòng coi tất cả dân, quân miền Nam không phải là người, không phải là “đồng bào;” mà chỉ là những kẻ thù của cuộc cách mạng vô sản toàn thế giới.

Người Việt Nam bình thường không đối xử với nhau tàn tệ như bọn lãnh tụ cộng sản vào năm 1975. Nếu được bỏ phiếu lựa chọn, chắc chắn dân chúng miền Bắc không ai nỡ bắt dân chúng miền Nam phải qua cảnh tập thể hóa, đánh tư sản, tù cải tạo. Vì chính họ đã bị đem ra làm thí nghiệm cho chủ nghĩa cộng sản mấy chục năm rồi! Chính chủ nghĩa cộng sản đã biến dân Việt Nam thành kẻ thù đối với nhau, chia rẽ cả dân tộc khắp mọi nơi chứ không chỉ chia hai miền Nam Bắc.

Một độc giả mới gửi thư hỏi, “Tại sao nội chiến Mỹ người ta nhanh bỏ qua, còn ở Việt Nam thì sau 39 năm rồi vẫn còn còn nhiều việc phải làm?”

Câu trả lời là: Vì suốt 39 năm qua, dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục sống dưới quyền cai trị của một đảng cộng sản.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Trung Quốc tiếp tục 'vỗ mặt' Việt Nam
Sunday, May 04, 2014 1:35:48 PM


HÀ NỘI 4-5 (NV) - Cục Hải sự Trung Quốc vừa phát “cảnh báo hàng hải” về việc giàn khoan Hải dương 981 “tác nghiệp tại Nam Hải”
(cách Trung Quốc gọi biển Đông) trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.


Vị trí dàn khoan lớn của Trung quốc 981 dự tính đem tới tìm dầu thềm lục địa Việt Nam,
80 hải lý phía bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nó nằm giữa hai lô 142 và 143 trong bản đồ phân lô dầu khí của Việt Nam. (Hình: MTG)

Image
Theo đó, từ 2 tháng 5 đến 15 tháng 8-2014, giàn khoan Hải dương 981 sẽ hoạt động tại tọa độ 15029’N/1110 12’E và Trung Quốc “cấm tất cả các loại phương tiện xâm nhập vào khu vực HD 981 hoạt động trong bán kính một hải lý”.

Tọa độ của giàn khoan Hải dương 981 là “lô 143” trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, cách đảo Lý Sơn 119 hải lý và cách phía Nam đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam khoảng 18 hải lý.

Điều đó cho thấy Trung Quốc không thèm đếm xỉa tới nỗ lực duy trì quan hệ “hợp tác hữu nghị với Trung Quốc” của Việt Nam. Giống như nhiều lần trước liên quan tới chủ quyền lãnh thổ, Bộ Ngoại giao của chế độ Hà Nội chỉ ra tuyên bố “phản đối Trung Quốc có hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông”.

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) cho biết đã gửi thư cho Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc để phản đối việc đưa giàn khoan đến thăm dò “lô 143” trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Thư cũng nhắc đến “phương châm hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc”.
Image
Dàn khoan dầu trên biển HD 981 khổng lồ của Trung quốc, trị giá 1 tỉ đô la, loan báo kéo tới dò tìm ở lô 143 thềm lục địa Việt Nam. (Hình: Pvoil)
Thông báo của Cục Hải sự Trung Quốc được phát ra ngay sau khi có tin Việt Nam đề nghị (hồi tuần trước) giao thêm hai lô cho Công ty ONGC Videsh (gọi tắt là OVL) của Ấn Độ thăm dò dầu khí.

Tháng 11 năm ngoái, Việt Nam từng đề nghị giao cho OVL năm lô để công ty này tổ chức thăm dò dầu khí ở biển Đông. Tuy nhiên, theo tờ Kinh tế Thời báo của Ấn Ðộ, OVL chỉ chọn một trong 5 lô mà Việt Nam đề nghị giao hồi năm ngoái và đang thẩm định hai lô mà Việt Nam mới đề nghị giao thêm.

Đáng lưu ý là bảy lô vừa kể được Việt Nam giao trực tiếp cho OVL chứ không tổ chức đấu thầu theo thông lệ. Hợp tác khai thác dầu khí giữa Việt Nam và Ấn Ðộ diễn ra trong lúc Việt Nam đang cố gắng mở rộng hợp tác quân sự với nhiều quốc gia, từ Hoa Kỳ, Nhật, tới Ấn Ðộ. Giới phân tích thời sự tin rằng, tất cả những động thái này đều nhằm ứng phó với tình trạng Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động quân sự trên biển Đông nhằm hỗ trợ cho yêu sách đòi chủ quyền gần như toàn bộ vùng biển này.

Trước đây, Việt Nam từng ký kết hợp đồng thăm dò với nhiều công ty phương Tây, trong đó có cả những công ty Hoa Kỳ nhưng những công ty này đã đơn phương ngưng thăm dò, hợp tác khai thác dầu khí với việt Nam vì ngán ngại Trung Quốc.

Trung Quốc vẫn thường xuyên vỗ mặt Việt Nam dù Việt Nam nhiều lần thề thốt sẽ thực hiện “tinh thần bốn tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) và tuân thủ “16 chữ vàng” (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai) do Trung Quốc đề ra.

Riêng trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí trên biển Đông, hồi giữa năm 2011, tàu Trung Quốc không chỉ xâm nhập lãnh hải Việt Nam mà còn cắt đứt cáp của Viking 2 - một tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam. Đến giữa năm 2012, Trung Quốc chính thức yêu cầu Việt Nam ngưng thăm dò dầu khí ở biển Đông. Sáu tháng sau, cuối năm 2012, tàu Trung Quốc tiếp tục xâm nhập lãnh hải Việt Nam, cắt đứt cáp của Bình Minh 2, một tàu thăm dò địa chấn khác của Việt Nam.

Một mặt, Trung Quốc luôn khuyến khích Việt Nam duy trì quan hệ “hợp tác, hữu nghị”, giải quyết các bất đồng, tranh chấp theo “tinh thần bốn tốt” và tuân thủ “16 chữ vàng”, mặt khác, Trung Quốc thường xuyên vỗ mặt Việt Nam khi Việt Nam thực hiện các động thái có liên quan tới thăm dò, khai thác dầu khí trong lãnh hải của mình.

Đáp lại, Việt Nam chỉ phản đối bằng các tuyên bố của Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao, hoặc gửi công hàm phản đối rồi thôi. Cũng vì vậy, các tập đòan dầu khí của phương Tây đã đơn phương hủy những hợp đồng thăm dò, khai thác dầu khí từng ký với Việt Nam. Hiện chưa rõ OVL của Ấn Độ có hành xử như thế nào sau cảnh báo của Cục Hài sự Trung Quốc hay không (?). (G.Đ.)

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Chúng Ta Rút Được Những Kinh Nghiệm Gì Sau 39 Năm Mất Miền Nam

VÌ ĐÂU NÊN NỖI?

Mặc Giao

Lý do mất miền Nam vào tay cộng sản đến bây giờ vẫn còn được tranh cãi, dù ai cũng thấy nguyên nhân chính là việc Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam VN. "Tiền đồn chống cộng" này không còn cần thiết nữa, sau khi Mỹ biết Trung Cộng vào thời gian đó không có ý định và chưa đủ khả năng nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á. Những sửa soạn cho việc Mỹ rút khỏi VN đã được thực hiện với chương tình Việt Nam Hóa chiến tranh. Đến năm 1972, sau khi Cố vấn An ninh Kissinger và TT Nixon sang Tàu nói chuyện với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai thì ván bài đã được lật ngửa. Không đầy một năm sau, ngày 27-1-1973, Hiệp Định Paris chấm dứt chiến tranh VN được ký kết, với phần thua thiệt về phiá Nam VN, phần thắng lợi bất ngờ về phiá Bắc Việt, và Hoa Kỳ được "rút lui trong danh dự".

Cầm bản dự thảo Hiệp Định đã được Mỹ và Bắc Việt phó thự (initial), Cố vấn Kissinger đi Sài Gòn bắt TT Nguyễn Văn Thiệu ký. Nếu TT Thiệu ký ngay thì chẳng khác gì ký vào tờ khai tử của chính ông và của cả miền Nam. Bản dự thảo coi như chung quyết (final draft) này dự trù TT Thiệu phải từ chức liền, trao chính quyền cho Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc gồm 3 thành phần (Quốc, Cộng và thành phần thứ ba ở giữa). Hội đồng sẽ tổ chức một cuộc tổng tuyển cử để bầu lên một chính quyền mới cai trị miền Nam. Một điều khoản khác vô cùng tai hại là trong khi các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ và của các nước đồng minh (Đại Hàn, Úc, Thái, Phi Luật Tân) phải rút đi thì những đơn vị quân đội chính qui của Bắc Việt vẫn được quyền ở lại miền Nam.

Dĩ nhiên TT Thiệu, Quốc Hội và chính phủ VNCH phản đối. Kissinger không thành công trong việc thuyết phục TT Thiệu. Ông ta giận dữ ra về và thề không trở lại Sài Gòn nữa. TT Nixon phải cử tướng Alexander Haig, Tổng Quản Trị (Chief of staff) Phủ Tổng Thống, qua Sài Gòn điều đình và làm áp lực tiếp. Cuối cùng Mỹ cũng phải thỏa hiệp không đòi TT Thiệu từ chức, không thay thế chính quyền miền Nam bằng Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc, nhưng giữ nguyên điều khoản không buộc quân đội Bắc Việt rút khỏi miền Nam, vì sợ cộng sản sẽ không nhượng bộ điều này. Kissinger phải đi điều đình lại với Lê Đức Thọ. Phiá cộng sản không chịu sửa đổi bản thảo Hiệp định, Mỹ phải dội bom Hà Nội và phong tỏa hải cảng Hải Phòng vào những ngày cuối năm 1972 để làm áp lực. Cuối cùng Hà Nội cũng phải nhượng bộ nhưng vẫn còn lời chán vì họ được giữ quân tại miền Nam để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm chiếm. Thế là Hiệp định Paric được ký vào ngày 27-1-1973.

Để buộc TT Thiệu phải làm theo ý Hoa Kỳ, TT Nixon dùng chiến thuật vừa dỗ vừa dọa. Một mặt ông viết thư cho TT Thiệu hứa hẹn tiếp tục gúp đỡ VNCH, trừng phạt cộng sản nếu vi phạm Hiệp định, một mặt ông chính thức hăm dọa "không muốn trường hợp TT Ngô Đình Diệm tái diễn" (Xem Palace Files và Khi Đồng Minh Tháo Chạy của Nguyễn Tiến Hưng). Những tài liệu liên quan tới những lời TT Nixon nói về TT Thiệu đã được giải mật và lưu trữ tại Thư viện Nixon ở Yorba Linda, California, cho thấy Nixon rất giận dữ trước việc ông Thiệu chống đối những điều khoản căn bản của bản dự thảo Hiệp định. Cuốn băng ghi âm từ 1973 dài 150 giờ và viết lại thành 30,000 trang đã được giải mật và đã được ông Hughes, nhà chuyên môn nghiên cứu các băng ghi âm của các tổng thống Mỹ, tiết lộ Nixon đã từng nói trong một phiên họp tại Bạch Ốc về ông Thiệu: "Tôi không rõ đe dọa đó có đủ hay không, nhưng tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì, kể cả cắt đầu của hắn nếu cần thiết" (cut off his head if necessary - Nguồn: BBCvietnam.com June 24, 2009). Dĩ nhiên, Nixon nói điều này trong lúc nóng giận nhưng cũng phản ảnh một phần sự thật.

Chính tướng Alexander Haig cũng viết trong hồi ký là vào thời điểm đó, tên ông Thiệu thường được nhắc tới trong các cuộc thảo luận và có người đưa ý kiến ám sát ông Thiệu. Tướng Alexander Haig viết thêm: "Nixon rất mong muốn giải quyết chuyện Việt Nam cho xong và chia sẻ sự bực bội và tức giận như núi lửa của Kissinger đối với người đồng minh cứng đầu này (ám chỉ ông Thiệu) đã gây trở ngại lớn nhất cho ông trong việc kết thúc cuộc chiến" (1).

Dọa nhau như thế, nhưng Mỹ đã không dám làm, vì không dại gì gây chuyện rắc rối mới khi sắp đến cuộc bầu cử nhiệm kỳ 2 của TT Nixon. Vì vậy thầy trò Nixon phải thuyết phục VNCH bằng những hứa hẹn trừng phạt những vi phạm Hiệp định và tiếp tục viện trợ cho Nam VN. Khi tiếp ông Nguyễn Phú Đức, Phụ Tá Ngoại Giao của TT Thiệu tại tòa Bạch Ốc, TT Nixon đã hứa sống hứa chết (he repeated his bedrock assurance) là sẽ bỏ bom Bắc Việt một cách nặng nề nếu Bắc Việt vi phạm hỏa ước (2). Về phần Ngoại Trưởng Henry Kissinger (nhận chức Bộ Trưởng Ngoại Giao ngày 22-9-1973) cũng viết trong hồi ký rằng chính TT Nixon, Bộ trưởng Quốc Phòng và các giới chức cao cấp của Mỹ đều xác nhận nhiều lần với ông Thiệu là chính phủ Hoa Kỳ sẽ buộc Bắc Việt phải tôn trong Hiệp định (3). Hứa như vậy chỉ là để ông Thiệu yên tâm ký một hiệp ước bất lợi.

Thực tế, Mỹ chỉ muốn chấm dứt chiến tranh "trong danh dự", có nghiã là lấy được tù binh về, rút chân khỏi vũng lầy VN, mặc cho Nam VN rơi vào tay cộng sản, trong một "khoảng thời gian coi được" (decent interval). Vì thế Hành Pháp bầy trò đề nghị Lập Pháp viện trợ cho Nam VN 700 triệu Đô-la. Lập Pháp lờ đi. TT Gerard Ford lại yêu cầu viện trợ khẩn cấp 300 triệu. Quốc Hội lấy cớ nghỉ hè, không thể triệu tập phiên họp cứu xét. Một khi người ta đã quyết tâm bỏ cho chết luôn, làm sao có thể cho tiền để sống lay lứt thêm một thời gian nữa?

Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản, ông đạo diễn phù thủ Kissinger mới viết vuốt đuôi "Lúc này tôi nghĩ tới một ông tướng VN nhỏ bé, một người yêu nước". Ở một đoạn khác, ông viết:"Tôi có rất ít tình bạn cá nhân với ông Thiệu, nhưng nhìn ông theo đuổi cuộc chiến đấu một cách cô độc sau khi người Mỹ rút lui, tôi thấy mến phục ông ấy rất nhiều. Ông ít được thương hại, cũng cũng không được nhiều người hiểu, nhưng những điều đó không ảnh hưởng gì tới nhân cách của ông" (4).

Đúng là những lời ai điếu để an ủi. Chính Kissinger đã tiên đoán với Nixon là sau 2 năm ký Hiệp định Paris, miền Nam VN sẽ sụp đổ. Các chính khách có thói quen chỉ đấm ngực nhận lỗi sau khi rời chức vụ. Về trường hợp Việt Nam, cựu Tổng Thống Richard Nixon viết cả một cuốn sách rút những kinh nghiệm sai lầm, No More Vietnams. Cựu Ngoại Trưởng Henry Kissinger viết hồi ký có những đoạn xoa vuốt Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và gần đây đã chính thức xin lỗi về những sai lầm của mình. Ông còn xác nhận trong khi Mỹ chấm dứt viện trợ cho miền Nam thì khối Xô Viết vẫn tiếp tục cung ứng đầy đủ các tiếp liệu cho Bắc Việt. Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird nói rằng các khoản viện trợ Mỹ dành cho VNCH đã bị cắt theo yêu cầu của các thế lực chính trị Mỹ, đưa tới kết qủa chung cuộc là chế độ miền Nam VN thua trận vào ngày 30-4-1975 (VOA 2-7-2007).

Khi nhìn thấy vấn đề thì đã trễ. Nhưng khi tại chức, họ chỉ nghĩ tới quyền lợi của nước họ, tới ghế ngồi và danh dự của cá nhân họ. Một tay cầm súng, một tay cầm túi Đô la, họ cứ bước lên đầu người khác mà đi. Vì vậy, chúng ta phải nhớ, trong trường chính trị, không có đồng minh vĩnh viễn và cũng không có kẻ thù vĩnh viễn. Lý tưởng còn thay đổi huống chi chính sách. Khi nhu cầu đòi hỏi, họ có thể xoay đổi chính sách 180 độ, bất kể bao nhiêu tiền bạc và xương máu đã đổ ra. Tiền và mạng người được coi là những chi phí cần thiết cho một giai đoạn với một chính sách giai đoạn. Lúc phải tiêu là tiêu. Tiêu rồi không tiếc.

Dù quy trách nhiệm lớn nhất cho Hoa Kỳ trong việc mất miền Nam, chúng ta cũng phải tự nhận lỗi về những khuyết điểm của mình. Những tính toán sai của các lãnh đạo quân sự và dân sự, nạn tham nhũng, lính ma lính kiểng, hối mại quyền thế... đều có xảy ra dù không ở mức độ trầm trọng như dưới chế độ cộng sản. Không thể chấp nhận những tệ nạn này nhưng chúng không làm mất nước khi ở một mức độ thấp. Dân miền Nam vẫn sống no đủ, tự do, xây dựng hiện tại và tương lai với đà tiến triển không ngừng.

Tội nặng nhất phải quy vào những kẻ chỉ biết vụ lợi, những kẻ "ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản". Họ là những con buôn bán lén gạo và thuốc Tây cho cộng sản với giá cao. Họ là những người hướng về rừng với hoài cảm thời Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Họ là những trí thức viễn mơ đề cao giá trị dân tộc và chống sự hiện diện của người ngoại quốc trên đất nước. Họ lý luận rằng cộng sản hay quốc gia đều là người Việt, chắc không xử tệ với nhau như người ngoại chủng xử với dân mình. Từ đó, họ chống đối chính quyền quốc gia, gán cho mọi thứ xấu và sẵn sàng nghe theo những lời dụ dỗ của những cán bộ cộng sản nằm vùng. Họ là những người trẻ bị đàn anh phỉnh gạt bằng những lý luận sai lầm.

Cuối cùng, họ là những người lãnh đạo tinh thần của một số tôn giáo đã vô tình hay hữu ý lẫn lộn chuyện đạo với chuyện đời, không phân biệt đấu tranh cho công lý với đấu tranh chính trị để lật đổ một chế độ hợp pháp, chưa kể một số tu sĩ là cộng sản nằm vùng khéo ngụy trang. Để cai trị một xã hội bị lũng đoạn như thế, chính quyền vẫn phải áp dụng những nguyên tắc dân chủ, hơi mạnh tay là bị kết án đàn áp, sửa đổi luật lệ cho hữu hiệu thì bị kết án độc tài. Có bàn tay cộng sản nhúng vào mọi chỗ mà nhiều người không biết, cứ tưởng mình đang tranh đấu cho hòa bình, tự do và quyền lợi của dân tộc. Chính những người như vậy đã tiếp tay cho cộng sản mau chiếm miền Nam.

Mất rồi mới tiếc. Mắt mở ra mới thấy mình lầm. Trong khi dân trong nước đang đấu tranh gian khổ để đòi lại những quyền công dân và quyền con người đã bị cướp mất, đang vật vã đòi lại và giữ gìn những phần biển, đảo mà ông cha để lại, chúng ta ở hải ngoại đang làm gì? Còn bao nhiêu người nghĩ tới quê hương? Có bao nhiêu người dấn thân trong những hành động tranh đấu đòi công lý và nhân quyền cho anh em ruột thịt trong nước? Hay đa số chúng ta vẫn thờ ơ, coi đó là việc của người khác? Có người còn tiếp tay cho những kẻ cầm quyền bán nước và hà hiếp dân dù chính họ đã từng là nạn nhân.

May mắn thay, vẫn còn nhiều người âm thầm tranh đấu, hay ít ra cũng âm thầm góp công góp của để yểm trợ những người tranh đấu. Họ thuộc đa số thầm lặng, chỉ lên tiếng khi cần. Vì sống trong những xã hội tự do, các đoàn thể của người Việt đua nở như nấm gặp mưa. Có những đoàn thể tốt nhưng cũng có những đoàn thể hữu danh vô thực, thùng rỗng kêu to. Có những người tốt nhưng cũng có những người chỉ thích danh lợi, thích làm lãnh tụ, mới làm chủ tịch một hội nhỏ xíu đã mơ và cư xử như một thủ tướng, bộ trưởng, dân biểu tương lai. Do đó sự đố kỵ và chia rẽ gia tăng, cộng thêm những bàn tay bí mật của cộng sản và tay sai nhúng vào quậy phá các cộng đồng.

Trước những tệ nạn trước mắt, chúng ta vẫn không thất vọng khi thấy sau 39 năm, cộng sản vẫn chưa chiếm được một cộng đồng người Việt nào ở hải ngoại, chưa đưa được khối người Việt hải ngoại vào vòng chi phối và thần phục nhà đương quyền Hà Nội, dù cộng sản đã tốn bao công sức và tiền bạc để thi hành Nghị Quyết 36.

Kỷ niệm 39 năm miền Nam bị đặt dưới chế độ cộng sản, chúng ta cần thay đổi phương cách hành động. Chúng ta nên ý thức rằng việc trực diện đấu tranh với cộng sản phải là việc của người trong nước, người ở ngoài chỉ có thể yểm trợ tinh thần, ngoại vận và phương tiện. Chúng ta không nên phí tiền bạc vào những việc phô trương bề ngoài.

Hãy dồn phương tiện giúp anh chị em trong nước. Khi tranh đấu trong thời đại điện tử và thông tin nhanh chóng như hiện nay, họ cần phải có máy hình, điện thoại di động, computer... Khi ốm đau hoặc khi bị bắt vào tù, họ cần được tiếp tế lương thực và thuốc men, chưa kể những hoạt động khác đòi hỏi nhiều phương tiện hơn. Các đoàn thể ở hải ngoại nên phối hợp trong việc phân phối sự yểm trợ cho trong nước để tránh tình trạng chỗ ít qúa, chỗ nhiều qúa. Hãy tạo thêm những đường dây liên lạc mới, tìm kiếm thêm những người dấn thân mới và giúp đỡ họ. Nếu làm được như thế, đồng bào trong nước sẽ lên tinh thần và phong trào tranh đấu có cơ lớn mạnh nhanh chóng vì có sự yểm trợ cụ thể và hữu ích của đồng bào ngoài nước.

Mong rằng ngày 30-4 năm tới,
chúng ta sẽ có một nước Việt Nam đẹp hơn nước Việt Nam hiện nay.

_________________________________________________

(1) Alexander M. Haig, Jr., Inner Circle, tr 307, Warner Books, New York 1992
(2) Alexander Haig, sách đã dẫn, tr 306
(3) Henry Kissinger, Les Années Orageuses, tr 355, Fayard, France 1982
(4) Henry Kissinger, sách đã dẫn, tr 365

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Làm cách nào chứng tỏ chó có răng?

Ngô Nhân Dụng

Ðảng Cộng sản Trung Hoa mang giàn khoan tới ngự giữa vùng biển nước ta, khi bị phản đối thì họ làm như không nghe, không hiểu; rồi chính họ lại la làng. Trong một cuộc nói chuyện ở cấp cao nhất, giữa các bộ trưởng ngoại giao; khi ông Phạm Bình Minh gọi điện thoại cho ông Dương Khiết Trì than phiền về việc công ty CNOOC chiếm ngự vùng biển Việt Nam, Dương Khiết Trì đã “kêu gọi phía Việt Nam ngừng quấy nhiễu các hoạt động của các công ty Trung quốc ở khu vực quần đảo Tây Sa,” theo bản tin Tân Hoa Xã. Người Việt Nam gọi đó là “Vừa cướp vừa la làng;” hoặc “Vừa đánh trống đánh trống vừa ăn cướp.”

Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa từ năm 1974, người Trung Hoa đặt tên là Tây Sa. Ông Dương Khiết Trì còn dạy dỗ ông Phạm Bình Minh rằng: “Quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ Trung Quốc và không có tranh chấp ở đó.” Trong khi ông Dương Khiết Trì trách mắng người Việt Nam “quấy nhiễu” công việc làm ăn của công ty CNOOC thì Hoàn Cầu Thời Báo, một cơ quan ngôn luận của Cộng sản Trung Hoa lên tiếng đe dọa sẽ “dạy cho Việt Nam một bài học” nếu cản trở chuyện tìm kiếm dầu của CNOOC. Năm 1979, Trung Cộng đã “dạy cho Việt Nam một bài học” một lần rồi; sau khi ông Lê Duẩn dại dột theo Nga chống Tàu. Không những thế, Lê Duẩn còn dại dột sửa Hiến Pháp, hung hăng xác nhận ngay trong lời nói đầu rằng Trung Quốc (cùng với Pháp, Mỹ) là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam. Trên thế giới chưa có một quốc gia nào ngu ngốc đến mức kể tên các quốc gia thù nghịch công khai ngay trong bản Hiến Pháp như vậy.

Nhưng đám con cháu của ông Lê Duẩn bây giờ thì ngược lại, lúc nào cũng nhún nhường, nếu không phải là khúm núm khi đối diện với thiên triều. Trước cảnh vùng biển nước mình bị xâm phạm trắng trợn, ông Phạm Bình Minh vẫn còn xác định “...luôn thể hiện thiện chí, kiên trì giải quyết thỏa đáng bất đồng thông qua đàm phán, đối thoại và các biện pháp hòa bình khác theo đúng nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước...” Ðàm phán, đối thoại thế nào được khi người đối diện hoàn toàn không nghe mình nói gì cả? Trước cảnh chiến thuyền Trung Cộng kèm sát hai bên, đâm thẳng vào tàu cảnh sát biển của nước mình, ông Phạm Bình Minh vẫn còn nhấn mạnh đến những chữ “tin cậy, hợp tác;” chỉ dám than phiền rằng hành động cướp biển này “ảnh hưởng tiêu cực đến sự tin cậy chính trị và các mặt hợp tác giữa hai nước!” Trong lúc toàn dân phẫn nộ, hô nhau đi biểu tình, thì ông bộ trưởng ngoại giao chỉ dám nói đến mối lo “tổn thương tình cảm của người dân Việt Nam.” Còn công an của chế độ thì vẫn lo bắt giam Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh. Ðối với dân thì đàn áp, với ngoại bang thì run rẩy.

Thái độ nhún nhường, rụt rè như “gà phải cáo” này chắc chắn không có hiệu quả. Không những thế, còn làm cho đối phương khinh thường và làm tới nữa. Ðảng Cộng sản Việt Nam đã chịu nhịn nhục như vậy từ năm 1992, khi Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Ðồng kéo nhau sang Thành Ðô xin quy phục, mong được tha thứ cho những lầm lỗi đã phạm thời Lê Duẩn.

Trong các vụ tranh chấp ở Biển Ðông, thay vì liên kết với các nước Ðông Nam Á khác để đối phó với Trung Cộng, Cộng sản Việt Nam lại hoàn toàn theo đường lối của Bắc Kinh là chỉ thương thuyết giữa hai nước mà thôi. Trong hai năm qua, Trung Cộng đã cướp những hòn đảo của Philippines và Malaysia; thay vì phản ứng tập thể cùng hai quốc gia đồng hoạn nạn, hoặc ít nhất lên tiếng bày tỏ mối quan tâm, chính quyền Hà Nội hoàn toàn im tiếng. Năm nay, khi Philippines làm đơn kiện “Ðường Chín Ðoạn” của Trung Quốc trước tòa án quốc tế, Manila yêu cầu hỗ trợ nhưng Hà Nội vẫn làm ngơ! Thái độ “cháy nhà hàng xóm bình chân như vại” này đưa tới hậu quả bây giờ. Không một nước nào lên tiếng bênh vực nước ta khi bị Trung Cộng bắt nạt trắng trợn. Không những “bình chân như vại” khi các nước láng giềng bị Trung Cộng đè nén, chính quyền cộng sản còn cúi đầu nhịn nhục ngay cả khi ngư dân Việt mình bị người Trung Quốc cướp, phá. Thay vì rút đại sứ của mình về nước và gọi đại sứ Trung Quốc đến mắng vào mặt, chính quyền Hà Nội lại chỉ phản đối nhẹ nhàng ở cấp thấp nhất, làm như các hành động cướp bóc, xâm lấn đó chỉ là những xung đột địa phương. Chắc chắn giới lãnh đạo Bắc Kinh cũng như dân chúng Trung Hoa coi thái độ chịu nhịn nhục nhã này là dấu hiệu yếu ớt, yếu ớt và hèn hạ. Tự nhiên, họ phải tiếp tục “được đằng chân lân đằng đầu;” đưa tới cảnh CNOOC lộng hành.

Phải chấm dứt thái độ cúi đầu, ngậm miệng nhục nhã đó.

Hành động đầu tiên mà chính quyền Hà Nội có thể làm được là chấm dứt không tuân theo đường lối thương thuyết song phương, một chiến thuật chia rẽ các đối thủ của Bắc Kinh. Phải xin tòa án thế giới xét xử các vấn đề tranh chấp do công ty CNOOC mới gây ra. Dù Bắc Kinh không chịu ra tòa đối chất, nhưng hành động này sẽ đặt họ vào thế yếu. Nhất là khi cuộc tranh chấp diễn ra ở mức độ căng thẳng hơn, có thể đổ máu, thì trước dư luận thế giới Việt Nam sẽ ở thế mạnh hơn.

Ðưa đơn kiện chính quyền Bắc Kinh và công ty CNOOC là một cách phủ nhận lời nói của ông Dương Khiết Trì, khi ông ta nói rằng “không có tranh chấp” ở quần đảo Hoàng Sa. Ðây là một câu nói rất quan trọng, cần phải bác bỏ ngay, và bác bỏ một cách cương quyết; để đặt trên bàn một căn bản pháp lý có lợi cho nước mình.

Dương Khiết Trì nhấn mạnh rằng, “Quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ Trung Quốc và không có tranh chấp ở đó,” vì một lý do: Luật biển quốc tế xác định khi một vùng biển đang ở trong tình trạng tranh chấp giữa nhiều quốc gia thì không nước nào được phép khoan dầu khí trong đó.

Bây giờ, người Việt Nam phải chứng tỏ cho cả thế giới thấy và hiểu rằng quần đảo Hoàng Sa, bản đồ thế giới gọi là Paracels, đã là một vùng “có tranh chấp” từ năm 1974 đến nay. Cho nên, việc công ty CNOOC đem giàn khoan tới đó là bất hợp pháp.

Chứng minh Paracels đang nằm trong vòng tranh chấp không phải là việc khó. Trung Cộng đã đem chiến thuyền tới chiếm quần đảo này vào Tháng Giêng năm 1974. Các nhân chứng vẫn còn sống. Các tờ báo quốc tế loan tin này vẫn còn đầy trong các thư viện. Phim ảnh cũng sẵn đó, đầy trên các mạng, kể cả phim chiếu cảnh những tù binh Việt Nam Cộng Hòa được Trung Cộng trả về nước. Dù chính quyền Bắc Kinh không chịu ra trước tòa, Việt Nam vẫn có thể trình bày tất cả các bằng chứng trên trước tòa án và trước dư luận thế giới. Dù các trọng tài không xác định ngay rằng Hoàng Sa thuộc chủ quyền nước ta, thì ít nhất cũng phải công nhận đây là một vùng biển đang có tranh chấp. Một khi đã xác định tính chất tranh chấp rồi, thì mọi hành động của CNOOC hay các công ty Trung Quốc khác ở vùng này đều bất hợp pháp.

Không những thế, trước tòa án và dư luận quốc tế, địa điểm mà CNOOC đang bố trí giàn khoan HD-981 trong “lô 143” ở vùng biển Paracels rõ ràng là bất hợp pháp, ngay cả khi giả thiết rằng quần đảo Paracels có thể thuộc quyền của Bắc Kinh. Vì “lô 143” này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 120 hải lý từ bờ biển tỉnh Quảng Ngãi của Việt Nam. Trong khi đó, giàn khoan HD-981 cách đảo Tri Tôn hơn 18 hải lý. Mà theo Quy ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc (UN Convention on the Law of the Sea) thì “hải phận” của các hòn đảo nhỏ không người ở như thế chỉ được kể là bao gồm vùng biển chung quanh cách hòn đảo 12 hải lý mà thôi. Nghĩa là dù Bắc Kinh cố bám lấy ý kiến “Quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ Trung Quốc” thì việc khai thác HD-981 cũng bất hợp pháp, vì nó ở xa hòn đảo tới 18 hải lý.

Tóm lại, trước khi bàn tới những hành động khác nhằm bảo vệ vùng biển nước ta không cho các công ty Trung Quốc chiếm đoạt, chính quyền Hà Nội phải lập tức đưa vấn đề tranh chấp này ra trước tòa án trọng tài về luật biển. Không lo bị thiệt hại nào hết, mà chỉ có lợi thôi.

Nếu không nhân cơ hội này “làm cho vỡ nhẽ” về vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, thì Trung Cộng sẽ cho CNOOC tiếp tục những hành động tương tự như giàn khoan HD-981, ở các lô khác. Họ cố ý tiến từng bước một, đặt cả thế giới trước những tình trạng đã rồi, mở rộng vùng hoạt động theo lối tầm ăn dâu. HD-981 mở đầu cho vết dầu loang, sẽ lan ra xa mãi. Lúc đó thì không còn gỡ được nữa.

Phạm Bình Minh đã dọa Dương Khiết Trì rằng: “Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp phù hợp cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng.”
Những lời nói suông đó đã được nhắc đi nhắc lại hàng trăm lần rồi. Dương Khiết Trì bỏ ngoài tai, giống như nghe tiếng chó sủa mãi nhưng biết con chó này không có răng. Bây giờ là lúc đảng Cộng sản Việt Nam phải chứng tỏ dân Việt cũng có răng, dù mới chỉ đưa ra một hàm răng pháp lý.

Theo tin tức quốc tế thì giàn khoan dầu của CNOOC sẽ chỉ hoạt động cho tới Tháng Tám năm nay. Từ đây tới lúc đó, nếu kéo dài được cuộc tranh tụng về pháp lý thì có thể Trung Cộng sẽ có lý do để rút giàn khoan về mà không bị mất mặt. Vùng đáy biển ở Lô 143 đã được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thuê các công ty Mỹ thăm dò từ trước năm 1974. Trong lòng đất có bao nhiêu dầu lửa, hiện nay cũng chưa ai biết chắc. Ðối với công ty CNOOC, đây không phải là một món lợi chắc chắn. Nhưng đối với dân tộc Việt Nam, đây là vấn đề chủ quyền và thể diện không thể lùi bước được. Trong ba tháng sắp tới, việc tối thiểu mà chính quyền cộng sản ở Việt Nam có thể làm được là nộp đơn kiện Cộng sản Trung Quốc về vấn đề chủ quyền của tất cả quần đảo Hoàng Sa. Phải bắt đầu quốc tế hóa cuộc tranh chấp này. Từ năm 1974 đến nay đảng Cộng Sản đã hoàn toàn ngậm miệng khi Trung Cộng cướp Hoàng Sa. Chính vì thế Dương Thiết Trì mới ngang nhiên nói “không có tranh chấp.” Bây giờ là cơ hội cho đảng Cộng sản mở miệng, sửa chữa lỗi lầm nhục nhã 40 năm đó. Họ chịu trách nhiệm trước lịch sử về nỗi nhục “quốc sỉ” này.

Post Reply