Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Biểu Tình 11/5: Công nghệ cướp cờ, cướp diễn đàn, phá biểu tình của CSVN

Phan Châu Thành
(Danlambao)

Đi biểu tình ở Sài Gòn 11/5/2014

Chúng tôi có mặt ở Trung tâm Sài Gòn trước 8am sáng nay, tập kết ở Hồ con Rùa rồi đi lòng vòng, chuẩn bị sẵn sàng cho một ngày biểu tình chống Trung cộng xâm lược. Đường phố rất vắng người dân nhưng công an các sắc phục thì rất đông và lăm le tay gậy cao su tay walky-talky chuyên dụng (tần số riêng), họ quan sát dân ít ỏi đi qua đó như chúng tôi với thái độ rất căng thẳng. Khu vực Hai Bà Trưng đoạn có Lãnh sự quán Tàu xanh lè vàng loét toàn sắc phục công an, có lẽ có gần ngàn lính các loại trên một đoạn phố ngắn... Đúng 9am công an lập barie sắt và hàng rào quân cảnh màu đen và xanh đen trang bị tận răng và đông đặc để bảo vệ LSQ Tàu tại hai các ngã tư HBT với Võ văn Tần và ĐBP, và ngã ba với Ng Văn Thủ, không ai có thể tiếp cận LSQ Tàu nữa. Tôi nghĩ: “Chắc sẽ căng đây!”, và đi về phía nhà VNHT...

Khoảng sau 9am vài phút, chúng tôi hòa vào đoàn người biểu tình đi từ Nhà VHTN về phía LSQ Tàu, đoàn người đó nhanh chóng bị một đoàn lớn hơn đi từ Nhà hát TP nuốt chửng. Tôi ước lúc đó có khoảng 1-2 ngàn người biểu tình và khoảng gấp đôi số đó là CA các loại trong sắc phục công khai trên các đường phố trung tâm.

Đội quân cướp cờ

Vừa đi trong đám đông tôi vừa quan sát xung quanh để định vị xem mình đang trong “đoàn” nào thì thấy một người gầy cao quần xanh áo trắng dài tay civil đi cầm loa điện chỉ huy và dẫn đầu nhóm lớn rất “quyết liệt”, luôn ra các chỉ thị cho đám thanh niên xung quanh nhận lệnh rồi tản ra. Tôi nghĩ, “Đây là nhóm biểu tình nhà nước chăng? Toàn thanh niên nam nữ to khỏe có tác phong như quân đội! Sao không thấy khẩu hiệu chống Tàu mà toàn thấy cờ đỏ sao vàng với một vài tấm băng rôn ‘Chung tay giữ gìn hòa bình trên Biển Đông’ hay ‘ Đảng CSVN quang vinh muôn!’ hay ‘Đồng lòng cùng Chính phủ...” Tôi quay sang bạn cùng nhóm: “Bố khỉ, chúng mình nhập nhầm đoàn mất rồi, toàn bọn “chung tay” với Tàu thế này!”, nhưng chúng tôi vẫn đi tiếp vì sắp đến chỗ barie công an và quân cảnh chắn trước LSQ Tàu rồi, lúc đó khoảng 9am15’...

Nhóm chúng tôi có ba biểu ngữ khổ 80x60cm có khung và dương cao, có lẽ là 3 khẩu hiệu cao khá nổi vì thông điệp chống TQ rõ ràng lấy từ gợi ý của Lời kêu gọi của 20 đoàn thể chứ không chỉ có một màu đỏ với chữ nghĩa ly ti rối rắm của “đoàn nhà nước”, và tôi dương cao một chiếc. Lúc đoàn người biểu tình dừng trước (xa) LSQ đó, một nhóm hàng chục thanh niên mà tôi thấy trước đó nhận chỉ thị từ người cầm loa áo trắng cứ đứng xung quanh chúng tôi, rồi một cô bé rát dễ thương nói “Chú cho cháu mượn biểu ngữ của chú mang lên phía trước cho rõ!” - tôi chưa kịp trả lời thì cô bé đó đã giằng lấy biểu ngữ trên tay tôi và chạỵ lên phía trước gần sát hàng rào CA, tôi bèn chạy sát theo cô bé, vì hơi nghi nghi... Nhưng cô bé dừng lại bên hàng rào, tay cầm biểu ngữ của tôi giơ cao, nên tôi cũng dừng lại bên cạnh, bụng nghĩ: “Mình đã nghĩ oan cho cô bé và đoàn quân đông đảo của anh áo trắng cầm loa kia rồi…”. Áo trắng và nhóm của mình lúc đó cách tôi chừng 5m…

Rồi cô vé vẫy tay cho hai cậu thanh niên cao to, áo thun đen, cũng đeo balô con cóc như cô bé, đều đi giầy thể thao gọn gàng, đến đứng bên cạnh. Nhóm sau lưng tôi có người hô to “Đả đảo TQ xâm lược!” và tôi cũng hô theo: “Đả đảo!” Mới được hai câu thì từ nhóm kẻ “áo trắng” có người cất tiếng hát to “Như có Bác Hồ...” và cả đám thanh niên bên tôi đó gào theo thì tôi như ngã ngửa: “Mình tứ bề thọ địch rồi!”. Phía trước tôi là quân cảnh và LSQ Tàu, phía sau là nhóm “áo trắng” và hai bên tôi là những “thanh niên yêu nước đi biểu tình” của “áo trắng”…

Cũng lúc đó tôi nhìn thấy “cô bé dễ thương” trao biểu ngữ của tôi cho một cậu bên cạnh nó, và cậu này chạy ngay lên vỉa hè HBT phía có toàn CA đứng, vừa chạy vừa xé rách đôi biểu ngữ của tôi ra… Tôi lao theo chộp vai nó, giật lại biểu ngữ thét lên: “Sao cháu xé biểu ngữ của chú!”. Chắc nhìn mặt tôi nó sợ quá lủi mất, chứ câu thét của tôi chỉ như tự chửi mình: “Sao già rồi còn ngu thế PCT ơi là PCT!”. Tôi nhìn về phía “áo trắng”, còn nghe được người đó nói với quân biểu tình chìm: “Chúng ta đi thôi! Không được đứng đây nữa! Và tản ra!” Tôi đứng đó giữa đám đông “ngàn người yêu nước” với cái biểu ngữ rách trên tay, tự cười mình: “Mình ngu quá, cứ phải đợi cháy nhà mới nhìn ra mặt chuột thế này”…

Đoàn người bắt đầu đi diễu hành từ chỗ bị chặn trước LSQ 3 Tàu đó, tôi tìm lại mấy bạn nhóm nhỏ của mình thì họ cũng đang ngơ ngác tìm tôi: họ cũng đã cho các bạn trẻ của “áo trắng”, “mượn biểu ngữ để lên trước giơ cao hơn” và hai biểu ngữ đó của chúng tôi cùng “đám trẻ yêu nước” của “áo trắng” đó đã biến mất dạng…

Đi tìm người yêu nước

Đang khí thế mà bị cướp và xé hết biểu ngữ, như là bị cướp mất lá cờ trên tay thể hiện ý chí của mình giữa đám đông biểu tình “yêu nước”, chúng tôi đau đớn. Tôi không thể tả được cảm giác khinh bỉ và căm ghét bọn cộng sản bán nước đang đi biểu tình chống Tàu cùng chúng tôi lúc đó của tôi, chỉ biết đó là cảm giác tột cùng khinh bỉ và lần đâu tiên tôi cảm nhận như thế. Điều đó làm tôi quyết không lùi bước.

Chúng tôi tách đoàn biểu tình chính và đông của “áo trắng”, như con chim sợ cành cong, tìm cách phục hôi tấm biểu ngữ bị xé rách còn lại. May mà nó chỉ bị xé dọc thanh nẹp trên nên toàn bộ phần chữ chính còn nguyên và tôi lấy sợi dây treo nó (mà tôi dự phòng trong balô cùng hai chai nước cho cả đoàn), buộc treo lại. (Lần sau tôi sẽ mang theo băng keo, dây và kéo trong ba lô chứ không chỉ có chai nước!)

Thế là chúng tôi lại có tấm biểu ngữ giơ cao lên làm lá cờ tranh đấu tiếp của mình hôm nay! Và bỗng nhiên chúng tôi thấy yêu quí nó vô cùng! Dù nó bị rách và buộc lại nhưng nó vẫn giúp chúng tôi thét lên giữa các phố trung tâm Sài Gòn: Không được bán nước! Đả đảo TQ xâm lược!...

Đến lúc đó, vấn đề nhìn ra “ai địch ai ta” trong đoàn cùng biểu tình là rất quan trọng. Cậu bé “cũng bị mất cờ” trong nhóm tôi, “lá cờ” mà nó đã say mê thiết kế rồi chuẩn bị suốt cả ngày hôm qua, nói với tôi: “Có đi thế này cháu mới hiểu, thật không thể tin được họ có thể làm vậy…”. Tôi cười thú nhận: “Chú cũng thế thôi, CS bao giờ cũng làm chú bất ngờ khủng khiếp, tại vì chú cứ tưởng chúng vẫn là người bình thường…”. Chúng tôi đều lần đâu đi biểu tình trên phố…

Chúng tôi là nhập lại đoàn biểu tình và đi tìm người yêu nước như mình, không phải yêu nước kiểu CS! Tìm thế nào đây? Chúng tôi lắng nghe và quan sát, chúng tôi tìm những ánh mắt chân thật, chúng tôi để trái tim cảm nhận hút đẩy chúng tôi đến với những người giống mình… Và chúng tôi thấy xung quanh mình là một đám đông những người biểu tình khác, có rất nhiều phụ nữ già trẻ, nhiều thanh niên hăng hái nhưng không đô con, có cả nhiều người già và trẻ em… Họ ăn mặc, có thể nói, nhếch nhác hơn đoàn “áo trắng” nhiều, họ đều khan giọng và ướt đẫm mồ hôi vì hô khẩu hiệu, và họ không có lãnh đạo ”áo trắng” nào, không ai thì thầm tập trung nhận lệnh rồi tản ra… Họ chỉ tập trung một việc như chúng tôi muốn làm: Thét lên thông điệp chống Tàu xâm lược của người Việt cho vang đến trời xanh! Ai không nghe thấy thì không phải người Việt hay đó là Việt bán nước rồi… Thế thôi.

Chúng tôi đi lòng vòng mấy tiếng đồng hồ ở trung tâm thành phố Sài Gòn với thông điệp ấy. Đến đoạn trên Lê Lợi trước khi nhập vào đám đông đang biểu tình ở Nhà hát TP tôi bỗng thấy mình đi sau cậu bé Nguyễn Trí Dũng con trai ông Nguyễn Văn Hải – Điếu Cày. Tôi mừng đến độ chỉ muốn xông đến ôm chầm lấy Trí Dũng mà hôn và hét lên sung sướng: “Đây rồi! Chú tìm thấy cháu rồi Dũng ơi! Chú đã tìm thấy những người biểu tình yêu nước rồi!”

Những kẻ chiếm diễn đàn của dân

Suốt dọc đường chúng tôi đi với biểu ngữ không có đảng và sao, tôi đếm có gần chục lần đám CA chìm đi xung quanh cố dàn cảnh để “mượn” hay cướp biểu ngữ của chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã biết họ là ai và muốn gì rồi, nên chúng tôi đều cảnh giác vượt qua và cười khinh bỉ đi tiếp.

Ví dụ, ngay đoạn Lê Lợi tôi đi gần cậu bé Trí Dũng mà tôi yêu quí vô cùng, thì một kẻ chạy xe máy vờ đâm vào tôi nhằm làm tôi ngã hay hất tôi lên hè, và đúng là tôi phải nhảy lên hè thật sau khi “nhỡ” bị húc, và đối diện ngay hay thanh niên áo thun đen quần ngố xông đến “giúp tôi”. Dù đau tôi cũng cố cảm ơn những kẻ đã bẫy hại mình và quay vội lại với nhóm của mình đang đến cứu tôi và đến với đám đông có Trí Dũng đang đi phía trước. (Nên nhớ, CA không cho xe máy đi chỗ đó và càng không cho đi lẫn người đi bộ - phải tắt máy và dắt xe, vậy mà người đi xe máy đó không chỉ được vào mà còn tăng tốc để “nhỡ” đâm vào tôi…). Nhưng đó là chuyện nhỏ, khi ta đã biết họ là ai, họ muốn gì, họ sợ gì…

Hay, một gã đàn ông tóc muối tiêu thấp béo rà rà xe chạy bên tôi khen: “Anh có khẩu hiệu tốt và hay lắm! Đắng kia nhiều người mà không có khẩu hiệu, anh cho mươn chút đi?”. Tôi cười: “Hồi này bọn CA chìm cũng mượn của tôi rồi mang lên vỉa hè xé đôi, tôi phải giành lại rồi bược lại, anh thấy không? Giờ tôi không cho ai mượn nữa, tôi cũng chả biết anh có phải CA chìm?”. Thế là lão ta cụp mặt xuống chạy xe đi.

Rồi ba thằng đầu gấu tóc dài to cao củng theo tôi “mượn cờ” và tôi cũng nói như với gã tóc bạc nên chúng cũng phải bỏ đi vì giữa chỗ đông người chúng không dám cướp cờ của tôi… Nhưng đó đã là chuyện nhỏ.

Chuyện lớn là, ở Nhà hát TP, ngay bên dưới hai cô đầm vú to ấy (tượng bên cửa Nhà hát) tôi thấy nhí nhố những kẻ như ông Gs. Tương Lai phát biểu “định hướng” biểu tình, vỗ tay nhau, rồi lại hát “Như có bác Hồ...” Tóm lại là họ cướp diễn đàn biểu tình cuả người biểu tình để lập công với đảng... Hai “cô đầm vú to” đó mà nghe hiểu những gì họ làm ở đó để “biểu tình chống TQ” thì chắc phải cười sặc rơi hết cả phụ tùng mất.. Tôi đứng đó mấy phút thì thấy không hợp với khẩu hiệu chống Tàu của mình, nên theo ngay một nhóm nhỏ tách đoàn vì họ chắc cũng không chịu được sự bịp bợm đã diễn ra ở Nhà hát TP hôm nay lúc đó.

Đi khoảng hơn tiếng nũa thì chúng tôi lại đứng trước hàng ráo sắt và người đen kịt trước LSQ Tàu. Lúc đó khoảng 11am15’. Đoàn người lần này dù nhỏ hớn lúc 9am 30 nhưng không có sự lãnh đạo của những kẻ như “áo trắng” nữa, nên đã đứng thét vang nhiều khẩu hiệu về phái LSQ. Nhưng đột nhiên, lão già “thích định hướng” TL lại đứng lên (hàng rào) hô khẩu hiệu “đề nghị TQ rút giàn khoan HD981” (nhưng không thấy ai hô “đề nghị! đề nghị!” hùa theo gì cả?) và khẩu hiệu "Đề nghị hai đảng chung tay giữ gìn hòa bình Biển Đông!”. Tất nhiên chả thấy ai hô “chung tay! chúng tay!” theo cả! Thật đáng khinh cho những kẻ đã hèn, đã gian lại còn cố chiếm diễn đàn của dân biểu tình chống TQ xâm lược.

Lúc đó, nhóm chúng tôi đã nhập vào nhóm mặc áo “No-U”, có anh tên Lâm có bức ảnh chìa tay ra phía các cảnh sát chống bạo động mà tôi thấy được đăng nhiều trên mạng chiều nay… Thật ấm lòng khi đứng giữa những người biểu tình yêu nước và giương cao khẩu hiệu của mình cùng họ.


Và công nghệ giải tán biểu tình của CSVN

Sau đây là quan sát và suy luận của tôi thôi.

Giai đoạn đầu của biểu tình sáng nay ở Sài Gòn, từ 9am đến khoảng 10am30’, CA và các lực lượng quản lý giao thông nội đô đã phân luồng ưu tiên cho dòng người biểu tình đi qua các đường phố chính ở Trung tâm SG khá suôn sẻ. Chúng ta biết lúc đó họ tập trung vào mục tiêu kiểm soát những đoàn biểu tình bằng cách trà trộn vào đoàn biểu tình để cướp cờ (như đội của “áo trắng”) và cướp diễn đàn (như các lão già trí đã ngủ như Gs TL).

Vả lại họ cũng cần phải giả vờ để dân biểu tình chút chút để còn giả vờ mặc cả với Tàu, và rồi để Tàu có lý do giả vờ nhân nhượng và CSVN có công giả vờ “đấu tranh thắng lợi” với Tàu (sau khi đã đồng ý cho Tàu cùng chung khai thác trên biển nhà mình)!. Thông điệp chính mà CSVN gửi đến Trung cộng qua biểu tình hôm nay có lẽ là: Chúng em đang chuẩn bị cho dân Việt đồng ý để các anh ở lại khai thác chung thềm lục địa của VN rồi đấy nhé! Để cho họ xả stress chút rồi các anh sẽ giữ nguyên hiện trạng và tiếp tới… màn sau!

Mục tiêu trên thì đến khoảng 10am30 sáng nay CSVN đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng đám đông hàng nghìn người dân (như tôi) thì vẫn còn đó, dù có thêm cà hàng ngàn biểu tình viên ăn lương của đảng nữa xung quanh, thì giải tán thế nào đây, nếu không có chuyện gì xảy ra làm mếch lòng ông anh “4 hảo hảo 16 golden sheets” thì sao? Thế nên mới phải có chiến thuật giải tán biểu tình ở giai đoạn 2, từ 10am30 đến khoảng 12am…

Phải nói là sau hơn 1 giờ trực tiếp đi qua “giai đoạn 2” đó tôi mới nhìn ra chiến lược giải tán biểu tình của CSVN đã áp dụng hôm nay. Có thể nói tóm gọn bằng 1 câu như sau: họ đã lùa đàn cừu mấy ngàn con (mà tôi là 1 con ngu ngốc!) đi loanh quanh để chia nhỏ (cắt khúc) và giải tán, làm chúng tôi không thể nhập vào đoàn dẫn đầu mà sau tôi mới biết là những người biểu tình chống Tàu đích thực như chúng tôi.

Đầu tiên, họ pha loãng mấy ngàn người “biểu tình” của họ với khoảng ngàn người biểu tình thật (như nhóm của tôi) và kéo thật dài đoàn người biểu tình ra ở giai đoạn 2 (giai đoạn 1 họ cần tập trung để biểu diễn màn kịch biểu tình với Trang Nam Hải). Ở mỗi đoạn họ đều có tổ chức và “thủ lĩnh” cụ thể phụ trách.

Sau đó, họ kết hợp với cảnh sát giao thông dùng đèn đỏ giao thông (đã chuyển sang chế độ điểu khiển trực tiếp theo ý CA) và dùng dòng người dân giao thông trên đường không tham gia biểu tình để cắt khúc đoàn biểu tình (thay vì ưu tiên cho đoàn biểu tình như giai đoạn 1). Thế là đoàn biểu tình bị cắt rời xa nhau (“thủ lĩnh” phần đi trước thì cố kéo đoàn đi nhanh, “thủ lĩnh” phần sau thì bắt đoàn đợi thật lâu theo đèn đỏ và theo cảnh sát), sau đó khi “có đèn xanh” thì thủ lĩnh đoàn sau cùng cảnh sát lại ép đoàn biểu tình đí đường khác nhóm trước, nên họp không thể nối với nhau nữa… Biểu tình lớn chung bị cắt thành nhiều đoàn nhỏ hơn, rồi nhỏ nữa…

Nhóm tôi rất nhỏ mà mỗi người cũng đã bị tách ra và tự nhiên “tập kết” ở những nới khác nhau, đều có nhan nhản CA chìm nổi đủ sắc phục đợi sẵn theo dõi tiếp, sao cho số người bị theo dõi ít hơn số người đi theo dõi…

Bằng cách đó, họ đã giải tán đoàn biểu tình hàng ngàn người ngon ơ. Tôi hình dung, họ phải lên kế hoạch, tập dượt để làm việc này (điều khiển việc theo dõi và giải tán người biểu tình) trên sa bàn của cả thành phố từ một phòng điều khiển trung tâm tới hàng chục ngàn nhân viên thi hành thuộc các “binh chủng” khác nhau trên hiện trường… Đại khái như: Alô, Đội 12 cho cắt đuôi 50 con cừu ở ngã tư Nguyễn thị Minh Khai-Pauster rồi sau đó lùa về vườn hoa trước Dinh Độc lập, còn khoảng 200 con cho quay lại Hồ Con rùa để giải tán dần ở đấy…

Tôi, như một con cừu (lần đầu đi biểu tình tự nguyện và không có tổ chức), bị lùa về vườn hoa cạnh sở Ngoại vụ, từ đoàn đông hàng nghìn người, đến 11am35 chỉ còn vài chục người bao quanh bởi hàng trăm người mặc sắc phục khắp nơi… Tôi đã nghĩ mình trong nhóm người cuối cùng trụ lại (và ai cũng nghĩ thế?) thì hàng nghìn người trước đó đã giải tán rồi ư? Có lẽ không, hàng nghin người biểu tình đã bị chia thành hàng chục nhóm nhỏ rải rác trên các điểm khác nhau cách biệt nagy trong TT thành phố…?


Thay kết luận: Tự nhận xét sau biểu tình

Thắng lợi của tôi hôm nay là đã tìm thấy những người biểu tình yêu nước như Nguyễn Trí Dũng, như nhóm No-U… và nhiều người dân bình thường khác như chúng tôi trong đoàn biểu tình hàng ngàn người để tin hôm nay những người yêu nước đã thực sự xuống đường, dù CSVN có bày ra bất cứ trò gì đi nữa.

Thắng lợi thứ hai, khá đau đớn, là tôi càng nhìn rõ chân tướng của CSVN trên thực tế off-line chứ không chỉ trên online nữa. Tóm lại là, đi một ngày đang học một sàng… dại để khôn!

Thắng lợi thư ba là nhìn thấy chính quyền họ sợ những người dân bình thường như tôi, như các bạn, như các cụ già, các chị em phụ nữ, những thanh niên chất phác và cả các em thiếu nhi … đi biểu tình đến thế nào! Họ sợ một cách ghê gớm. Họ phải huy động đông đảo đủ mọi lực lượng chìm nổi, đủ mọi phương tiện và đủ mọi thủ đoạn hèn mạt nhất. Giá mà họ biết chuẩn bị để đối diện với giặc Tàu cướp nước một cách kỹ càng bang phần nhỏ như họ đã chuẩn bị đối phó với một nhúm người biểu tình tay không chỉ có một thông điệp “Không bán nước!”, thì nước Việt cũng đã được yên mà sống và phát triển sánh với năm châu rồi.

Thất bại, hơi cay đắng, là bị lùa đi và giải tán như con cừu, thậm chí không thể kêu “be be” với ai xung quanh, đành về nhà lên mạng, nhìn thấy các đồng đội vừa cùng biểu tình, nhìn thấy khẩu hiệu chống Tàu của mình giương cao mà…“đau” mãi, vì thực sự nhóm chúng tôi đã bị cách ly với nhóm chính lớn dẫn đầu của những nhà đấu tranh dân chủ hàng đầu, hôm nay…(có lẽ do chúng tôi đã chọn sai điểm xuất phát là từ Hồ Con Rùa?)

Vâng, tôi đã không tham gia đi đầu đoàn biểu tình 11/5 ở Sài Gòn, nhưng chúng tôi đã tham gia 100% bằng trí óc và trái tim mình. Và phải có khúc giữa khúc đuôi thi mới có khúc đầu oanh liệt chứ? Tôi đã là một điểm trong đám đông ngàn người chống Tàu, chỉ thế thôi.

Rồi chiều qua tôi gõ ra bài này “tâm sự” với các bạn, hy vọng cho bớt đau lần sau. Sáng nay tôi đã điều chỉnh lại những quan sát của mình hôm qua cho chính xác hơn dựa trên các bức ảnh và bài bình luận khác trên DLB, DL…

Nhưng túm lại, tôi không ân hận gì vì đã lần đầu xuống đường biểu tình, mà chỉ càng quyết tâm hơn cho lần biểu tình sau. Nếu có ân hận, thì đó là vì tôi đã hèn không dám đi biểu tình chống Tàu từ năm 2007 hay 2009 cùng cha của cậu bé đã biểu tình cùng chúng tôi hôm nay, ông Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải đang ở trong tù CS chỉ vì đã đi đầu biểu tình chống TQ xâm lược.

Phan Châu Thành
danlambaovn.blogspot.com

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Ai đứng đằng sau giật dây?

Ngô Nhân Dụng

Ngay sau vụ công nhân biểu tình đốt phá ở Bình Dương, cả công an lẫn hệ thống tuyên truyền nhà nước đều xác định các biến cố này là “tự phát,” không ai tổ chức. Ðiều này khó hiểu, vì xưa nay mỗi lần như vậy thế nào họ cũng tố cáo những “thế lực thù địch” xúi giục và tổ chức.

Tại sao họ xác nhận về tính “tự phát” nhanh chóng, không cần phải nghiên cứu, điều tra một thời gian nào cả? Câu trả lời tự nhiên là: Họ không cần điều tra, vì họ biết đây không phải là những hành động tự phát. Ai ra lệnh cho cả guồng máy nói cùng một giọng nói dối như vậy?

Ðể trả lời những câu hỏi này, cần kiểm điểm coi các sự kiện đã diễn ra như thế nào.

Trước hết, có thể khẳng định rằng các cuộc biểu tình bạo động ở Bình Dương ngày Thứ Ba, 13 Tháng Năm, 2014, không do công nhân phát động mà họ đã bị sách động. Nhiều nguồn tin khác nhau trên mạng cung cấp các thông tin cho ta thấy điều đó. Chẳng hạn, một số chủ nhân người Trung Quốc đã cho công nhân được nghỉ làm việc trong buổi sáng hôm đó. Ðây là một chuyện bất thường, không có lý do nào cả. Cùng trong buổi sáng, một số người không phải công nhân đã vào các nhà máy kêu mọi người đi biểu tình. Công nhân hưởng ứng ngay vì trong lòng đã chứa sẵn uất ức; và họ nghĩ việc này không nguy hiểm vì được chính quyền khuyến khích. Tâm lý họ được chuẩn bị rồi, vì hai ngày trước đó ai cũng biết các báo, đài, loan tin về những vụ biểu tình chống Trung Cộng ở Hà Nội, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Huế, vân vân, mà không ai bị đàn áp.

Hai chi tiết trên chứng tỏ có đám người lợi dụng tình cảm uất ức của công nhân, kêu họ đi biểu tình. Lại thêm các chi tiết khác bất thường hơn nữa. Chẳng hạn, trên các con đường đám biểu tình đi qua cảnh sát công an hoàn toàn vắng mặt. Có blogger nhìn thấy “một chiếc xe Matiz bí ẩn” mang cờ đỏ “búa liềm và ngôi sao” dẫn đầu đoàn biểu tình. Cờ búa liềm là biểu tượng uy quyền của đảng Cộng sản, các công nhân càng yên tâm tiến bước. Nhiều blogger ghi nhận có đám đầu gấu dẫn đầu đi lật đổ nhiều chiếc xe và container của các công ty, rồi đốt cháy, nhưng chúng không cướp của; chứng tỏ chúng đang thi hành những mệnh lệnh quan trọng hơn, chỉ nhằm khích động đám đông đốt, phá. Một nhạc sĩ đã ghi lại: “...một người đàn ông bí ẩn, mặc áo công nhân, phất tay liên tục,” hoặc “một anh người Bắc, đội nón bộ đội và đeo kính đen” ra lệnh cho đám người mang “dùi cui gỗ có hình dạng như điếu cày.” Việc đốt phá không phân biệt các nhà máy là của người Trung Quốc, Ðài Loan, Nhật Bản hay Hàn Quốc; chắc chắn do cố ý chứ không phải vô tình. Một chi tiết không biết xác thực tới đâu, cho biết: Những người chỉ huy “chạy trên các xe có biển số 36,” và trên xe mang theo “ống sắt, xà beng, cờ trống,” vân vân. Số xe 36 là của tỉnh Thanh Hóa.

Với các chi tiết được nhiều người quan sát đưa ra như trên, chúng ta có thể xác định: Công nhân đã được khích động đi biểu tình; nhưng các vụ cướp phá là do một đám khác cố ý gây ra, không phải do công nhân khởi xướng. Nhiều đồng bào trong nước cũng như ở hải ngoại đã kêu gọi các công nhân bình tĩnh, đừng đốt, đừng giết người Trung Quốc. Thực ra, không công nhân nào chủ mưu các hành động đó. Cho nên blogger Người Buôn Gió và Tiến Sĩ Nguyễn Quang A đã đặt câu hỏi: “Có ai đó đứng đàng sau giật dây cuộc bạo động.”

Họ có thể dễ dàng “đứng đàng sau giật dây,” thực hiện âm mưu của họ; vì họ biết dân Việt Nam đang sẵn sàng xuống đường chống Trung Cộng. Những kẻ giật dây đó là ai? Những người đó là ai? Âm mưu của họ nhắm mục đích nào?

Những kẻ chủ mưu phải là người có đủ uy thế hoặc quyền lực; có như vậy họ mới có thể yêu cầu các chủ nhân người Trung Quốc cho công nhân nghỉ làm việc. Hơn nữa, họ có khả năng sai khiến một đám quân đầu gấu chuyên nghiệp. Vì thế, có người tin rằng đám người “đứng đàng sau giật dây” thuộc hàng cán bộ cao cấp của đảng Cộng Sản Việt Nam, từ trung ương hoặc địa phương.

Nhưng có người nào trong đảng Cộng sản muốn gây ra cảnh hỗn loạn như ở Bình Dương, lan ra Bắc đến tận Hà Tĩnh? Trong đám lãnh đạo cộng sản hiện nay có kẻ nào muốn gây loạn để lật đổ bọn nắm quyền, cho nhóm khác lên thay? Hoặc có người muốn gây loạn khiến quân đội phải can thiệp, sau đó quân đội sẽ lên nắm quyền? Chúng ta đã thấy đám côn đồ lợi dụng biểu tình đi đốt phá ở Bình Dương bị quân đội ngăn cản đã phải chuyển hướng qua Biên Hòa, chứng tỏ quân đội có khả năng dẹp loạn. Lần đầu tiên xe tăng đã xuất hiện trên đường phố Sài Gòn kể từ năm 1975 khiến dân chúng ngạc nhiên. Hiện tượng đó có chuẩn bị cho một chế độ quân phiệt lên thay chế độ cộng sản hay không?

Nhưng giả thiết “phá trong nội bộ” trên đây ngầm hiểu rằng những kẻ “đứng đàng sau giật dây” muốn thay thế cả bộ máy thống trị bằng một nhóm khác, với đường hoàn toàn lối mới. Hơn nữa, theo giả thuyết này thì những kẻ chủ mưu chấp nhận nguy cơ không ai kiểm soát được cảnh hỗn loạn lan tràn, dẫn tới cảnh chế độ tan rã.

Trong đảng Cộng sản có người nào hiện nay sẵn sàng làm liều như thế hay chưa? Người ngoài khó biết được. Nếu có, thì số người này rất ít, và chắc họ không có đủ quyền thế để có khả năng sai khiến, chỉ huy nhiều tay sai đầu gấu như thế, trong lúc đám công an đứng ngoài không can thiệp. Trừ khi chính các tay trùm công an chủ mưu. Bọn chỉ huy công an đã quen sử dụng côn đồ đàn áp đồng bào từ hàng chục năm nay.

Khi xét lại giả thiết nội bộ phá lẫn nhau để giành quyền, chúng ta thấy một điều khó tin nhất, là dù ai chủ mưu thì họ cũng phải thấy nhiều mối rủi ro, nguy hiểm. Thứ nhất là các phe tranh quyền sẽ chịu chung số phận nếu các cuộc bạo loạn khiến cả chế độ tan rã. Thứ hai là kinh tế sẽ suy sụp dù ai lên nắm quyền thay đám lãnh tụ hiện nay. Lâu nay Cộng sản Việt Nam vẫn khoe chế độ của họ tạo được “ổn định chính trị.” Nay thì ai cũng biết một xã hội không thể nào ổn định khi trong dân chúng chất chứa bao nhiêu bất công, oan ức. Có người nào trong đám lãnh tụ cộng sản, cả các tay chỉ huy công an, sẵn sàng chấp nhận hai thứ rủi ro đó hay không? Có lẽ bản năng sinh tồn sẽ ngăn cản không cho người ta làm liều như vậy.

Cho nên nhiều người nghĩ rằng các cuộc bạo loạn vừa qua không do một phe nào trong đảng Cộng sản Việt Nam chủ mưu. Thay vào đó là giả thuyết chính hệ thống tình báo Trung Cộng đứng đằng sau giật dây các cuộc bạo động. Gián điệp Trung Cộng hiện đang len lỏi khắp nơi, hoạt động bên trong và bên ngoài chính quyền. Họ không cần ra mặt mà có thể đứng đàng sau giật dây cả đám công an, mật vụ và đầu gấu. Giả thiết này có vẻ đáng tin, khi chúng ta nhận ra rằng chính quyền Bắc Kinh rất có lợi khi các cuộc bạo loạn tuần qua xảy ra.

Tình báo Trung Cộng chắc chắn biết trước người Việt Nam sẽ sôi máu khi họ đưa giàn khoan dầu HD-981 vào chiếm biển nước ta. Một chứng cớ mới được tiết lộ cho thấy hai tháng trước đó, một xí nghiệp lớn của Trung Quốc đã được báo động. Chứng cớ này là một bản văn do công ty Hua Wei gửi cho các nhân viên của họ ở Việt Nam vào ngày 8 Tháng Ba năm 2014. Trong văn thư gửi qua Internet, ban giám đốc ra lệnh nhân viên của họ đang làm việc ở Việt Nam hãy về nước, và đưa gia đình ra khỏi Việt Nam để tránh nguy hiểm. Cuối văn thư còn ghi ba số điện thoại để liên lạc nếu cần cấp cứu.

Ðược hỏi về văn thư trên, ban giám đốc Hua Wei nói rằng việc họ báo động nhân viên là có thật, nhưng không liên can gì tới các biến cố HD-981, lúc đó chưa xảy ra. Nhưng tại sao họ lại biết những mối nguy hiểm từ hai tháng trước? Công ty Hua Wei mua bán trong 150 quốc gia khắp thế giới; cho nên họ phải nhận được những tin mật quan trọng mà các công nhỏ không biết. Người nào đưa tin cho họ, chắc phải thuộc hàng quan chức cao cấp của đảng Cộng sản Trung Hoa, biết trước kế hoạch HD-981. Họ có thể đoán rằng khi giàn khoan vào Biển Ðông thì người Việt sẽ phản đối mạnh mẽ.

Nhưng làm sao họ đoán trước được rằng cuộc chống sẽ đưa tới tình trạng đốt, phá các nhà máy và tìm giết người Trung Hoa. Mối hiểm nguy chết chóc là căn bản khiến Hua Wei gửi thư báo động. Chính quyền Bắc Kinh làm sao biết chắc sinh mạng người Trung Hoa sẽ bị đe dọa, trong khi kinh nghiệm cho họ thấy các cuộc biểu tình chống Trung Cộng trong hàng chục năm qua đều ôn hòa mà vẫn bị chính quyền Cộng sản Việt Nam đàn áp, ngăn cấm.

Họ có thể biết trước được nếu chính họ chủ mưu gây ra cảnh hỗn loạn. Ðiều này có thể tin được khi chúng ta suy nghĩ theo lối nhà trinh thám đi tìm thủ phạm một vụ giết người. Ai được lợi nếu nạn nhân chết, những người đó được xếp vào loại tình nghi.

Tình trạng hỗn loạn ở Việt Nam rất lợi cho chính quyền Trung Cộng. Nếu biết trước dân Việt Nam sẽ chống đối giàn khoan HD-981, thì phản ứng tốt nhất của Bắc Kinh là vô hiệu hóa các cuộc chống đối này trước dư luận, làm sao cho cả thế giới thấy dân Việt chống Trung Quốc là một lũ người bạo động, kém văn minh, không tôn trọng các quy tắc pháp luật và đạo đức. Muốn vậy, hãy đẩy cho phong trào chống đối chuyển sang tình trạng vô kỷ luật, tham tàn, phi pháp, và phi đạo đức. Khi đó cả phong trào phản đối của nhân dân Việt Nam sẽ bị vô hiệu. Cả thế giới sẽ bỏ rơi dân Việt Nam, chính quyền Trung Cộng được tự do hành động ở Biển Ðông.

Nhưng Trung Cộng không chỉ nhắm mục tạo ra hình ảnh xấu xa nhất cho dân Việt Nam để họ chiếm cảm tình của thế giới loài người. Các cuộc bạo loạn còn có thể gây ảnh hưởng xa hơn, là phá hoại cả nền kinh tế Việt Nam. Các cuộc biểu tình chống Trung Cộng đã bị biến hóa thành những cuộc bạo động, cướp bóc và giết người. Nhưng nguy hiểm nhất là bọn chủ mưu đã đi tấn công cả các công ty không phải của người Trung Hoa trong lục địa. Một hệ quả thấy ngay, là chính quyền ở Hồng Kông, Ðài Loan, Singapore đã phản đối và cảnh cáo dân chúng của họ không nên tới Việt Nam. Nếu giới đầu tư ngoại quốc mất tin tưởng, rút lui khỏi Việt Nam, thì không biết bao giờ kinh tế mới phát triển?

Công ty Formosa Plastics Group đang thiết lập một nhà máy thép hàng lớn nhất tại tỉnh Hà Tĩnh, với số vốn đầu tư lên tới 20 tỷ đô la, là một công ty tư của Ðài Loan, không liên can đến Cộng sản Trung Quốc, nhưng vẫn bị đầu gấu tấn công và nhiều người bị giết. Làm sao các công ty khác tin tưởng được rằng họ chắc chắn tránh được tình cảnh đó?

Bây giờ chúng ta hiểu được một lời đe dọa trên một tạp chí của đảng Cộng sản Trung Quốc; khi họ báo trước rằng Bắc Kinh sẽ “dạy cho Việt Nam một bài học” khác. Bài học mới này là đánh cả nước Việt Nam bằng đòn kinh tế, thay vì dùng vũ lực như năm 1979.

Giả thuyết tình báo Trung Cộng là bọn đứng đàng sau giật dây các vụ bạo động có cơ sở đáng tin hơn là giả thuyết trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam phá lẫn nhau.

Nhưng giả thuyết Trung Cộng chủ mưu vẫn có một “lỗ hổng” cần giải thích: Tại sao Trung Cộng lại phá hoại cả hình ảnh “ổn định giả tạo” và làm suy yếu nền kinh tế Việt Nam như vậy, mà không lo cả chế độ cộng sản ở Việt Nam sẽ tan vỡ? Nếu còn sống thì đảng Cộng sản Việt Nam vẫn trung thành làm theo ý Bắc Kinh hơn bất cứ một chính phủ mới nào ở Việt Nam. Có lẽ nào Bắc Kinh sẵn sàng hy sinh đám đàn em của họ, sau khi đã nuôi nấng Cộng sản Việt Nam từ Hội nghị Thành Ðô năm 1990 đến nay?

Sự thật là Bắc Kinh không cần đến đảng Cộng sản Việt Nam nữa, họ sẵn sàng vứt bỏ, như vứt một đôi giầy cũ nát. Họ đã đạt được nhiều lợi thế sau khi ký kết các bản hiệp định về biên giới, trên đất liền và trên biển. Họ có nhiều quyền lợi cao hơn là duy trì một chế độ mang tên cộng sản ở nước láng giềng. Ngay cả những việc như khai thác bô xít, buôn lậu qua biên giới, vân vân, cũng chỉ là những quyền lợi kinh tế nhỏ, so với những quyền lợi lớn khi làm chủ được nhiều phần Biển Ðông hơn.

Cho nên, để đánh phủ đầu phong trào biểu tình phản đối vụ HD-981, và đánh đòn chí tử vào triển vọng đầu tư, phát triển ở Việt Nam, Trung Cộng có thể đã chủ mưu sai khiến đám đàn em trong Cộng sản Việt Nam gây bạo động, giết người trong các cuộc biểu tình, từ Bình Dương đến Hà Tĩnh. Những người tham dự cuộc biểu tình ngày Chủ Nhật, 18 Tháng Năm này phải hết sức bảo vệ trật tự, kỷ luật, và coi chừng đám đầu gấu sách động gây loạn.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Bộ mặt hèn của Phùng đại tướng

CTV Danlambao - Tấm hình trên một bên là phía ăn cướp, một bên là phía bị cướp.
Tên cướp thì mặt mày lầm lì, bức xúc như là kẻ bị cướp. Kẻ bên phía bị cướp mặt mày cười cầu tài chẳng khác gì đi ăn trộm bị bắt quả tang.

Image
Tên đại diện cho phía ăn cướp ở đây là Bộ trưởng quốc phòng tàu cộng Thường Vạn Toàn.

Tên cười cầu tài là Bộ trưởng quốc phòng việt cộng Phùng Quang Thanh. Nói chính xác: hắn không đại diện cho "phía bị cướp" mà là đại diện cho đám bán nước đang cai trị phía bị cướp.

Trong buổi gặp gỡ tại "Mi-an-ma" theo bản tin của trang web gọi là "Tiếng nói Hữu nghị" (giữa 2 băng đảng cướp và bán) thì:

Kẻ cướp Thường Vạn Toàn nói: "Thời gian qua, Việt Nam tiến hành quấy nhiễu tác nghiệp khoan thăm dò bình thường và hợp pháp của Trung Quốc tại vùng biển quần đẩo Tây Sa, đặc biệt là gần đây Việt Nam xảy ra các vụ bạo lực đánh đập, cướp bóc và thiêu đốt nhằm vào doanh nghiệp và công dân Trung Quốc, Trung Quốc kiên quyết phản đối và lên án việc này. Hoạt động tác nghiệp chính đáng trên vùng biển Tây Sa là quyền lợi của Trung Quốc, không có ai có thể ngăn cản được. Việt Nam cần tôn trọng lịch sử, nhìn thẳng vào thực tế, xuất phát từ đại cục hữu nghị Trung-Việt, không nên đã sai lại càng sai, trở thành sai lầm lớn."

Tên đại diện cho đám bán nước đang cai trị phía bị cướp trả lời: "Đảng, Chính phủ và quân đội Việt Nam cực kỳ coi trọng phát triển đoàn kết và hữu nghị với Trung Quốc, quân đội Việt Nam sẽ không áp dụng hành động làm phức tạp tình hình, sẵn sàng cùng với Trung Quốc duy trì trao đổi về các vấn đề liên quan."

Hoan hô, hảo hảo lồng chí Phành Quang Thung - người đứng đầu quân đội nhân dân anh hùng, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng - đã đặt sứ mệnh cực kỳ coi trọng tình đoàn kết và hữu nghị với quân xâm lược lên trên hết.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

'Giàn khoan 981 là cơ hội để thoát khỏi Trung Cộng'
Saturday, May 24, 2014 2:26:10 PM

Phỏng vấn Giám Mục Nguyễn Thái Hợp

Hà Giang/Người Việt

LTS - Việc Trung Quốc đưa giàn khoan dầu Haiyang 981 vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Biển Ðông
khiến người Việt ở khắp nơi ưu tư về chủ quyền đất nước. Ðức Giám Mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, giám mục giáo phận Vinh,
chủ nhiệm câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, và là chủ biên cuốn“Công Lý và Hòa Bình trên Biển Ðông,” chia xẻ nhận định của ông
về tình hình Việt Nam, qua cuộc phỏng vấn với phóng viên Hà Giang, tại tòa soạn nhật báo Người Việt chiều 23 Tháng Năm.

Image
Giám Mục Nguyễn Thái Hợp trong cuộc phỏng vấn tại tòa soạn nhật báo Người Việt hôm 23 Tháng Năm, 2014. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Hà Giang (NV): Kính chào Ðức Giám Mục, xin ông vui lòng giới thiệu mục đích và những sinh hoạt tiêu biểu của câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Câu lạc bộ của chúng tôi là một câu lạc bộ nhỏ, quy tụ một số anh em trí thức công giáo, để hoạt động về vấn đề văn hóa, xã hội, kinh tế, giáo dục những gì liên quan đến cuộc sống của đất nước hôm nay. Qua những năm dài hoạt động, chúng tôi có tương giao rất nhiều với giới trí thức bên ngoài cũng như Công Giáo. Chúng tôi đề cập đến nhiều vấn đề nóng bỏng, được gọi là “nhạy cảm” ở Việt Nam, chẳng hạn vấn đề Biển Ðông, là vấn đề mà chúng tôi đề cập qua hai cuộc tọa đàm, và hiện giờ cũng đang chuẩn bị có một cuốn sách khác về Biển Ðông.

NV: Giám Mục có thể nói qua về nội dung cuốn sách “Công Lý và Hòa Bình trên Biển Ðông?”

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: “Công Lý và Hòa Bình trên Biển Ðông” là cuốn sách thứ hai chúng tôi nghiên cứu về vấn đề Biển Ðông. Cuốn sách này quy tụ một số tác giả trong và ngoài câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, một số người là người công giáo, một vài người là đảng viên cộng sản, chẳng hạn như Tiến Sĩ Ðinh Hoàng Thắng, nguyên đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, rồi có Thạc Sĩ Hoàng Việt hiện thời là giảng viên tại đại học luật và nhà nghiên cứu độc lập Phạm Hoàng Quân. Sở dĩ cuốn sách mang tựa đề “Công Lý và Hòa Bình trên Biển Ðông” là vì “Công Lý và Hòa Bình” là danh hiệu của một ủy ban trực thuộc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, mà tôi hân hạnh là chủ nhiệm đầu tiên của ủy ban đó. Sách là tập hợp của nhiều nghiên cứu với mục đích đòi công lý cho Biển Ðông bằng giải pháp hòa bình, có nhiều lãnh vực từ lịch sử đến địa lý đến pháp lý quốc tế.



NV: Theo giám mục, tại sao Trung Quốc lại mang giàn khoan dầu vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam vào thời điểm này, và họ làm thế vì có âm mưu gì?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Theo tôi nghĩ thì Trung Quốc đã dự đính từ lâu, và chọn một thời điểm rất thích hợp để kéo giàn khoan vào đó. Bởi vì theo biến cố Ukraine, khi mà Âu Châu đang phải đối phó với Nga, và khi mà Nga cũng phải dựa vào Trung Cộng để có thể có một vị thế tương đối khá trước Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, và khi mà Mỹ cũng đang vướng ở Ukraine, và Mỹ cũng ở một giai đoạn nợ nần khắp nơi, và chính sách ngoại giao đang trong tình trạng bị suy giảm, hơn nữa ở trong nước thì Việt Nam đang mừng lễ 60 năm chiến thắng Ðiện Biên (Phủ) rồi mừng ngày 30 Tháng Tư, thì chính lúc đó là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc kéo giàn khoan đến vào trong lãnh hải Việt Nam. Và tại sao kéo một giàn khoan mà không đưa một tàu chiến đến? Ðưa một tàu chiến đến thì nó mang tính cách tấn công một cách lộ liễu. Còn nếu giàn khoan mà đóng ở đó thì cũng là sự hiện diện của Trung Quốc ở đó rồi, thành thử ra người ta vẫn nói là người Tàu rất thâm, trong vấn đề này ta thấy người Tàu đã chuẩn bị để thực hiện kế hoạch đại Hán của họ từng bước nhỏ theo chiến thuật “tằm ăn dâu.”

NV: Rất nhiều người Việt ở hải ngoại, và ở trong nước nữa, ngạc nhiên với phản ứng của nhà cầm quyền Hà Nội trước việc Trung Quốc mang giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chẳng hạn như là việc cho người dân đi biểu tình, ngay cả để cho tình trạng bạo loạn xảy ra, và những lời phản đối rất gay gắt. Theo giám mục thì đây có là một sự kiện đánh dấu một thay đổi nào đó?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Có rất nhiều điều mà người ta vẫn suy nghĩ và tỏ thái độ không bằng lòng hay là phản kháng về chính sách của nhà cầm quyền đối với Biển Ðông. Có lẽ từ trước đến nay giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Trung Quốc vẫn kết nghĩa như là anh em và quá tin ở “4 tốt và 16 chữ vàng.” Chính vì vậy vẫn tin tưởng nơi “người anh” láng giềng phương Bắc, nhưng mà bây giờ cháy nhà mới ra mặt chuột, vụ giàn khoan này mới giúp nhà cầm quyền nhận rõ hơn đâu là cái thực tâm, đâu là cái tham vọng của Trung Quốc để thực hiện chương trình đại Hán của họ. Và người ta cũng bất mãn về vấn đề là trước nay khi mà có biểu tình về Biển Ðông thì những người yêu nước đó bị đàn áp dã man, mà lại quá hòa hoãn với Trung Quốc. Bây giờ trong một vài lần thì lại cho phép biểu tình, nhưng mà sau đó lại cấm. Chính sách đó vẫn chưa tìm thấy cái nhất quán. Hy vọng rằng với lời tuyên bố của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về thái độ cương quyết đối với Trung Quốc, đó là một bước đặc biệt để Việt Nam ra khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc chăng.
Sách “Công Lý và Hòa Bình trên Biển Ðông” do câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2013.
(Hình: Nhân Phạm/Người Việt)

NV: Trước nhiều đe dọa của chính quyền cũng như báo chí Trung Quốc hô hào phải đánh Việt Nam, phải dạy cho Việt Nam một bài học, ông Nguyễn Tấn Dũng nói rằng Việt Nam vẫn cương quyết bằng mọi cách bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam, suy diễn theo kiểu bình dân thì là muốn đánh thì cứ đánh đi, chúng tôi cũng chẳng sợ. Giám mục nhận định gì về câu nói này?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Trước nay thì Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có một số phát biểu về Biển Ðông mà một số người rất đắc ý. Chính chúng tôi cũng đã trích dẫn hai ba lần những lời phát biểu khác nhau về Biển Ðông của ông. Nhưng rồi sau đó lại thấy là hành động trên thực tế đi ngược với những lời phát biểu đó. Tôi hy vọng và tôi ước mong rằng nhân vụ giàn khoan này thì những lời phát biểu của ông, mà được rất nhiều người tán đồng, sẽ trở thành một định hướng để hành động, và ước mong rằng chính phủ của Việt Nam sẽ có những kế hoạch để thực hiện những lời phát biểu đó. Nếu được như vậy cũng là điều may cho dân tộc.

NV: Tuy nhiên, thưa giám mục, ông Nguyễn Tấn Dũng là người duy nhất có những lời phát biểu rất mạnh mẽ về quan điểm của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền, còn những người còn lại trong bộ chính trị, chẳng hạn như ông Nguyễn Phú Trọng thì nhất định không nói gì cả. Ðiều đó cho chúng ta thấy gì?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Tiền nhân ta vẫn có câu “nhất ừ, nhì làm thinh,” thì làm thinh cũng có một ý nghĩa nào đó. Cái làm thinh này trong một giai đoạn rất là quan trọng của đất nước, phải chăng đó cũng là một dấu chỉ có sự khác biệt về quan điểm, có sự bất đồng ý kiến, và bất đồng ý kiến về những vấn đề rất quan trọng, là vấn đề sống còn của đất nước, tôi cũng thấy một số người nói như vậy.

NV: Sự kiện Trung Quốc mang giàn khoan vào lãnh hải Việt Nam được đánh giá khác nhau. Có người thì lo rằng mất nước đến nơi rồi, người khác lại cho rằng đây là một biến cố có lợi cho Việt Nam, trước tiên là đốt tan 16 chữ vàng, và nếu Trung Quốc đánh Việt Nam thì dư luận quốc tế với Trung Quốc rất bất lợi, giám mục nghĩ sao?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Tích cực hay tiêu cực thì cũng do cái nhìn, cũng do bối cảnh. Tôi không phải là một thầy bói, mà cũng không phải là một nhà tiên tri. Tôi chỉ thấy rằng giàn khoan 981 là một cái tát tai vào dân tộc Việt Nam. Ðó là một sự kiện rất đau thương, nhưng mà rất có thể đó cũng là một điểm đặc biệt tạo ra cái đổi mới, cái khởi đầu nào đó cho Việt Nam. Nhiều người hy vọng rằng, biết đâu nhờ biến cố đặc biệt đó mà Việt Nam lấy lại cái thế chủ quyền độc lập của mình, thoát khỏi vòng tay Trung Cộng.

NV: Cảm ơn Giám Mục đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn này.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Kiện Trung Cộng, chưa đủ

Ngô Nhân Dụng
Người Việt đầu tiên qua đời trong cuộc xâm lăng mới của Cộng sản Trung Quốc vào năm 2014 là bà Lê Thị Tuyết Mai. Chính quyền Sài Gòn chỉ tiết lộ nội dung sáu “biểu ngữ viết tay” của vị nữ Phật tử pháp danh Ðồng Xuân, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, hiện đang bị cấm hoạt động. Các ước nguyện của bà cũng là ý kiến của toàn dân Việt Nam hiện này, “Yêu cầu đoàn kết đập tan mưu đồ xâm lược của Trung Quốc, Yêu cầu Trung Quốc rút khỏi biển Việt Nam,” vân vân.

Chính quyền cộng sản đã phỉ báng người quá cố khi nói rằng bà “tự thiêu vì cuộc sống bế tắc và để phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền.” Nêu lý do “cuộc sống bế tắc” là một hành động vô liêm sỉ, hạ thấp giá trị hành động yêu nước của bà Lê Thị Tuyết Mai. Họ còn giấu không cho biết nội dung của biểu ngữ thứ bảy, nhưng chúng ta có thể đoán được bà mẹ 67 tuổi này muốn nói gì.

Chúng tôi ước mong người Việt Nam ở trong nước cũng như ở ngoài không theo gương bà Lê Thị Tuyết Mai. Hàng trăm người Tây Tạng ở Trung Quốc đã tự thiêu đòi quyền tự chủ và bảo vệ văn hóa dân tộc trong một năm qua, nhưng vẫn chưa đạt kết quả nào cụ thể. Hành động tự thiêu chỉ có hiệu quả khi nhắm đánh thức lương tâm của những con người còn nhân tính. Chính quyền cộng sản không động tâm trước các hành động hy sinh đó. Như Thánh Gandhi đã nói, các cuộc tuyệt thực của ông để phản đối chính quyền Anh quốc chỉ có tác dụng vì họ cũng là những con người. Người ta không thể tranh đấu theo lối đó khi phải đương đầu với những con rắn. Chính quyền cộng sản giống như những con rắn, không mang những tình cảm tự nhiên của loài người.

Cuộc tranh đấu của dân tộc Việt Nam đối đầu với Trung Cộng trong thế kỷ 21 này sẽ kéo dài, và chúng ta cần sử dụng các phương pháp đấu tranh có hiệu quả và ít hao tổn mạng sống. Ba tuần trước, mục này đã đề nghị chính quyền Cộng sản Việt Nam hãy kiện Cộng sản Trung Quốc trước tòa án quốc tế. Ðây là hành động đầu tiên để giành lẽ phải về phía dân tộc Việt. Cả thế giới sẽ thấy việc Trung Cộng đem giàn khoan Hải Dương 981 tới vùng biển của nước ta là sai luật biển quốc tế; vì không một quốc gia nào được quyền khai thác một vùng biển còn đang tranh chấp. Trung Cộng khăng khăng nói họ đang tìm dầu ở hải phận nước họ, người Việt Nam phải chứng minh rằng điều đó không đúng sự thật. Chỉ có việc kiện trước một tòa án quốc tế mới chứng tỏ được rằng họ nói sai sự thật.

Thứ Năm vừa qua, ông Nguyễn Tấn Dũng đã nói trong một hội nghị ở Manila rằng chính quyền Cộng sản Việt Nam đang xem xét các biện pháp đối phó với Trung Cộng, trong đó có việc đưa vụ này ra trước tòa án quốc tế. Nhưng chúng ta vẫn phải dè dặt khi nghe lời tuyên bố này; vì nội dung được đưa ra với lời lẽ có tính cách nửa chừng. Nguyễn Tấn Dũng không nói đang hay sắp nộp đơn kiện Trung Cộng, như chính phủ Philippines đã làm vào năm ngoái, xin tòa tuyên bố bất hợp pháp ý kiến của Trung Cộng coi tất cả vùng biển trong “Ðường Chín Ðoạn” thuộc vào nước Trung Hoa. Việt Cộng đã từ chối không ủng hộ Philippines trong hành động này. Bây giờ ông Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ nói việc thưa kiện là một trong các phương cách đối phó. Liệu ông ta có dám nộp đơn kiện Trung Cộng hay không, đó là một câu hỏi lớn.

Năm ngoái, Nguyễn Tấn Dũng đã từng nói công khai rằng mọi việc ông làm đều do đảng Cộng sản quyết định, bảo sao ông làm vậy. Ngay trong việc điều hành nền kinh tế đưa tới chỗ suy đồi, thất thoát hàng chục tỷ đô la ông ta cũng không nhận trách nhiệm về phía mình. Cho nên, quyết định kiện hay không kiện, sau cùng sẽ phải được đảng Cộng sản Việt Nam công bố. Cho tới hôm nay, ba tuần lễ sau khi giàn khoan HD-981 xâm nhập biển nước ta, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn hoàn toàn theo đường lối cũ, tức là chỉ trông vào việc năn nỉ đàm phán tay đôi với Trung Cộng. Chỉ có áp lực mạnh mẽ của toàn dân Việt Nam mới khiến Việt Cộng phải thay đổi chính sách, không coi Trung Cộng là “đồng chí anh em” với họ nữa.

Nhưng cuộc tranh chấp về giàn khoan HD-981 sẽ không chấm dứt khi Việt Nam thưa kiện. Trung Cộng sẽ từ chối không tham dự vào bất cứ phiên tòa quốc tế nào, cũng như họ đã báo trước sẽ không ra trước tòa án đối diện với Philippines. Việc thưa kiện sẽ chỉ có tính cách tượng trưng, nhắm giành lấy lẽ phải trong dư luận thế giới. Tấn công vào dư luận, nước ta và Philippines chỉ hy vọng giảm bớt các hành động xâm lấn hung hăng của giới lãnh đạo Bắc Kinh. Nhưng hoàn cảnh nước ta và Philippines khác nhau rất nhiều.

Tranh chấp giữa Trung Cộng và Philippines nằm trong phạm vi địa dư và số lượng tài nguyên nhỏ, chỉ liên quan đến mấy bãi đá ngầm. Trung Cộng tìm cách giành chủ quyền trên các đảo san hô đó, nhắm vào danh nghĩa nhiều hơn là quyền lợi trước mắt. Giàn khoan HD-981 nhằm vào vùng biển có giá trị lớn hơn. Việc đưa một giàn khoan tới tìm dầu lửa đi xa nằm trong một chiến lược lớn, không giống như việc đưa mấy tàu đánh cá tới hải phận Philippines.

Cộng sản Trung Quốc đã tính toán rất kỹ từ nhiều năm qua, trước khi đưa giàn khoan qua xâm lấn biển Việt Nam. Từ 1950, Mao Trạch Ðông đã vạch ra kế hoạch đưa người Trung Hoa tới tất cả các nước vùng Ðông Nam Á. Các đảng cộng sản ở Mã Lai, Indonesia, vân vân, đều do cán bộ của Mao sách động. Việt Nam là đầu cầu bắc vào vùng này, nên được Mao chú ý nhiều nhất. Biển Ðông của nước ta là một mục tiêu chiến lược hiển nhiên mà các triều đình Trung Quốc nhòm ngó. Việt Cộng nhắm mắt tin vào tình đoàn kết “quốc tế vô sản” nên mắc bẫy Trung Cộng. Giang Trạch Dân, Tập Cận Bình chỉ thừa kế chính sách lấn chiếm mà Chu Ân Lai đã khai mào, khi cho đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Năm đó, phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa trong Hội Nghị Bốn Bên thi hành Hiệp Ðịnh Paris đã đề nghị hai miền Việt Nam cùng lên tiếng phản đối Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, nhưng phái đoàn Bắc Việt đã từ chối. Sau hội nghị Thành Ðô, 1990, Trung Cộng càng nắm chắc đảng Cộng sản Việt Nam trong tay trong âm mưu chiếm đoạt Biển Ðông. Chiến lược lâu dài của họ theo kế lấn chân từng bước một, năm 1974 chiếm Hoàng Sa, năm 1988 chiếm một phần Trường Sa; năm nay họ bắt đầu chương trình khai thác dầu khí.

Giàn khoan HD-981 lớn bằng một sân đá bóng, đã được Trung Cộng kiến tạo trong nhiều năm, tốn hàng tỷ đô la Mỹ. Ðây là một công trình kỹ thuật mà Bắc Kinh rất hãnh diện. Nguyễn Phú Trọng đã được đưa tới coi giàn khoan này khi công trình còn đang thực hiện; mà không hề nghĩ ra rằng Trung Cộng đang cho coi cái thòng lọng sẽ tròng vào cổ nước Việt Nam. Khi Bắc Kinh di chuyển cái giàn khoan vĩ đại này, rời vùng biển ngoài khơi Hương Cảng xuống quần đảo Hoàng Sa, họ thực hiện bước đầu tiên trong giai đoạn chiến lược mới. Họ không chỉ muốn tìm dầu mà còn cốt đánh dấu, chứng tỏ vùng biển này là “ao nhà” của họ. Dù sau này họ có rút giàn khoan đi nơi khác, nói rằng ở đó không có nhiều dầu lửa bõ công khai thác, thì họ đã ngang nhiên dựng một cột mốc để thế giới nhìn nhận tất cả quần đảo Hoàng Sa thuộc vào lãnh hải Trung Quốc. Lần này họ tới ngoài khơi Quảng Ngãi, lần sau họ có thể sẽ tiến xuống phía Nam. Cứ như vậy, họ muốn đặt dân tộc Việt Nam và cả thế giới trước những sự kiện “đã rồi.” Người Việt có câu tục ngữ “Ðể lâu cứt trâu hóa bùn.” Ðó là chủ trương lấn ép của Bắc Kinh trong vùng Biển Ðông. Họ có thể thực hiện âm mưu này trong một thời gian lâu dài, nửa thế kỷ hay một thế kỷ. Họ biết rằng nếu việc giao thương đường biển qua vùng này không bị gián đoạn thì các nước khác, từ Mỹ, Ấn Ðộ, đến Nhật Bản không thấy có lý do nào khiến họ phải can thiệp. Vì dù tài nguyên dầu khí nằm dưới đáy biển dù thuộc quốc gia nào thì cũng như nhau. Trái với lối suy nghĩ nặng về tình cảm, lưu cữu từ thời Chiến Tranh Lạnh, nước Mỹ không có nhu cầu ngăn chặn sự phát triển của Trung Quốc. Hai nước vẫn có thể buôn bán với nhau, chỉ cần Trung Cộng không làm cho hệ thống thương mại quốc tế bị đình hoãn trong vùng Biển Ðông. Mà điều này thì Trung Cộng luôn sẵn sàng bảo đảm với Mỹ.

Cho nên, khuynh hướng trông cậy vào nước Mỹ với hy vọng ngăn cản Trung Cộng là một ảo tưởng, trong nhiều thứ ảo tưởng khác. Khi Ðô đốc Samuel Locklear tuyên bố ở Manila rằng tình trạng căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Cộng rất nguy hiểm, ông ta chỉ nói một sự thật, chứ không hề tỏ ý muốn giúp Việt Nam chống Trung Cộng. Ông nói người Mỹ muốn hợp tác với Việt Nam nhiều hơn, nhưng nói rõ hơn, rằng Việt Nam chỉ là một trong nhiều quốc gia mà Mỹ muốn hợp tác. Ông nói rõ ràng: “Chỉ có người Trung Quốc can ngăn được người Trung Quốc,” chứ không phải người Mỹ hay các nước khác.

Cũng vậy, khi cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates nói rằng các nước Ðông Nam Á cần đoàn kết với nhau lên tiếng chống lại sự xâm lược của Trung Quốc; thì đó cũng chỉ là một lời khuyến cáo; không có gì ràng buộc chính phủ Mỹ.

Cho nên, người Việt Nam không nên trông cậy vào bất cứ quốc gia nào, kể cả Mỹ, Nhật Bản hay Ấn Ðộ, trong cuộc chiến đấu chống Trung Cộng xâm lăng trên biển, đảo. Chỉ có người Việt Nam có thể cứu được nước Việt Nam.

Khi Cộng sản Trung Quốc tính chiến lược lâu dài nhằm xâm chiếm đảo, biển của nước ta, chúng ta cũng phải tính kế hoạch lâu dài. Việc đưa đơn kiện Bắc Kinh trước tòa án quốc tế chỉ là một bước đầu mà thôi. Người Việt còn phải thi hành nhiều biện pháp ngắn hạn khác song song với việc thưa kiện.

Một việc có thể làm ngay là trả đũa Trung Cộng về mặt kinh tế. Chấm dứt các hợp đồng khai thác tài nguyên của các công ty Trung Quốc; trong đó có các mỏ bô xít mà ông Nguyễn Tấn Dũng từng đề cao là một chương trình lớn của đảng Cộng sản. Phải ngăn chặn các mạng lưới buôn lậu qua biên giới ngay lập tức; đồng thời, chấm dứt chế độ ưu đãi các nhà thầu Trung Quốc, họ đang đấu thầu 90% các dự án lớn ở nước ta. Phải trục xuất các công nhân Trung Hoa bất hợp pháp ở nước ta mà theo bộ Lao Ðộng,Thương Binh, Xã Hội, số lao động bất hợp pháp này lên đến 80 ngàn người.

Cắt đứt các quan hệ kinh tế bất bình đẳng này có thiệt hại cho người Việt Nam hay không? Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, nguyên giáo sư kinh tế học ở Ðại Học Laval, Québec, Canada thì việc chấm dứt quan hệ kinh tế với Trung Quốc chỉ giảm bớt khoảng 15 đến 20 tỷ đô la trong tổng sản lượng của Việt Nam. Ông Hùng so sánh với con số lỗ lã của các tập đoàn Vinalines, Vinashin cũng lên tới vài chục tỷ, để kết luận rằng người Việt Nam có thể chịu đựng được những thiệt hại khi ngưng giao thương với Trung Cộng. Hiện nay mỗi năm dân Việt mất 20 tỷ đô la vì mua hàng Trung Quốc nhiều ơn bán sang Tàu. Chấm dứt dòng máu chảy ra đó sẽ tạo cơ hội cho giới kinh doanh trong nước Việt Nam được phát triển nhanh hơn.

Phải coi những hành động trên đây chỉ là những đòn trả đũa ngắn hạn, để phản đối sự kiện giàn khoan HD-981. Trong dài hạn, phương pháp duy nhất để dân tộc Việt Nam có thể ngăn chặn kế hoạch bành trướng của Bắc Kinh là phải phát triển một nền kinh tế thị trường thực sự, không bám theo Trung Cộng cải tổ kinh tế nửa vời. Chỉ khi nào lãnh vực kinh doanh tư nhân được tự do phát triển, tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, bãi bỏ các độc quyền kinh tế dành cho đảng viên cộng sản, thì dân ta mới tiến lên được.

Muốn thực hiện được công cuộc cải tổ kinh tế triệt để đó, cần phải xóa bỏ độc quyền cai trị của đảng Cộng sản. Chỉ khi nào dân chúng Việt Nam được tự do dùng lá phiếu quyết định vận mạng đất nước, với các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập đảng chính trị, lập công đoàn độc lập, thì toàn dân mới có thể đoàn kết để chống quân xâm lược. Khi nước Việt Nam bắt đầu tiến trình dân chủ hóa thì người dân Trung Hoa trong lục địa cũng phấn khởi hơn, họ sẽ đòi được sống dân chủ. Khi nào nước Trung Hoa thành dân chủ thì việc thương thuyết các vấn đề biển, đảo sẽ đi theo những con đường hợp lý và ôn hòa hơn.

Chúng ta có thể đoán trước khi tự thiêu bà Lê Thị Tuyết Mai cũng nghĩ rằng muốn chống Trung Cộng xâm lăng thì việc đầu tiên cần làm là dân chủ hóa nước Việt Nam. Tấm biểu ngữ thứ bảy của bà chắc ghi những đòi hỏi xóa bỏ điều 4 trong Hiến Pháp, chấm dứt chế độ độc tài đảng trị, để toàn dân Việt Nam được hưởng quyền sống xứng đáng làm người. Có lẽ vì thế mà chính quyền cộng sản đã giấu diếm nội dung của biểu ngữ này.

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Nguyễn Tấn Dũng: Hoạt đầu chính trị

Vũ Đông Hà

(Danlambao) - Giữa bản đại hòa tấu toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, nên hòa hay bại râm rang khắp dãi đất còng lưng chữ S, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhảy lên sân khấu... Manila hướng về đất tổ cất giọng sơn hà nguy biến, nên hòa hay kiện. Bên này mảnh đất hình chữ S lắm lừa nhiều ma, rầm rầm tiếng vỗ tay hưởng ứng ca ngợi Thủ tướng muôn năm - thiếu điều tung hô tổng thống Nguyễn Tấn Dũng muôn năm.

Nhớ lại:

Ngày đăng quang Thủ tướng đăng đàn đóng vai một lãnh đạo cấp tiến - không dẹp được tham nhũng tôi sẽ từ chức. Trên mảnh đất lắm lừa, nhiều con ma vỗ tay rộn ràng, báo lề đảng chém gió mát cả mùa hè. Hai nhiệm kỳ sau Thủ tướng trở thành thủ lãnh một bầy sâu lổm ngổm đầu bờ cuối bụi của hệ thống ký sinh trùng mang tên nhà nước.

Còn nhớ:

Những ngày Tiên Lãng. Suốt một tháng dài báo lề đảng được bật đèn xanh cho chửi thoải mái, chửi như chưa bao giờ được chửi đám quan lại cộng sản Hải Phòng cướp ao cá Đoàn Văn Vươn. Cả nước phẫn nộ chắc còn hơn sóng biển Đông bao quanh giàn khoan của khựa. Cựu chủ tịch nước, đại tướng, thái thượng hoàng Lê Đức Anh đích thân đăng đàn dọn bãi cho Thủ tướng. Một tháng sau, thủ tướng xuất hiện với những cái tít to đùng trên báo đảng tiền hô hậu ủng: Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng yêu cầu làm rõ..., Tiên lãng - Kỳ vọng của thủ tướng, Uy tín của Thủ tướng tiếp tục được nâng cao, Người dân Tiên Lãng cám ơn thủ tướng...

Và thủ tướng cất cao tiếng hát của loài lừa: "Chính quyền Tiên Lãng đã sai từ đầu tới cuối về quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế, việc thực thi cưỡng chế, cách ngụy biện cho những sai lầm, sự vô cảm trước nỗi khổ của người dân, sự quanh co khi phải đối diện với sự thật."

Mãnh đất lắm lừa nhiều ma vỗ tay vang dội từ thành xuống xã. Báo lề đảng chém gió mát cả nước. Mát cho đến lúc Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Đoàn Văn Vệ vào tù - người 5 năm, kẻ 2 năm. Và Đỗ Hữu Ca - tên trùm băng đảng Hải Phòng trong chiến dịch "đốt phá chòi nuôi cá" - được thăng hàm Thiếu tướng.

Và cứ thế, còn nhiều lắm... trong suốt 2 nhiệm kỳ ngồi ghế Thủ, Nguyễn Tấn Dũng với một đội ngũ tiếp thị nhà nghề học được từ thị trường và chính trị phương tây đã sử dụng phương thức chụp thời cơ hoặc tạo thời cơ để khi lòng dân bất mãn cùng cực và có sẵn vài con tốt nhỏ đang bị dư luận căm phẫn, ông ta xuất hiện và hành xử như một "minh quân" hay một nhà lãnh đạo "biết điều".

Khi biển đông dậy sóng và lòng người bất mãn ông đem hải quân VNCH, chính quyền VNCH ra để vuốt trong phiên họp Quốc hội 25/11/2011.

Giữa lúc tình trạng vi phạm nhân quyền leo thang, nhiều blogger bị bắt giam bởi điều 258, thương lượng TPP đến hồi nóng bức, ông gửi thông điệp đầu năm (1) kêu đọi "đảng ta" phải nắm chắc ngọn cờ dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Ngày 2 tháng 5 năm 2014 vừa qua, Tàu cộng xâm lược Việt Nam bằng giàn khoan HD-981 cộng với hơn 130 tàu đủ loại. Cả nước người người phẫn nộ. Những cuộc biểu tình độc lập của dân, biểu tình có tổ chức của đảng, biểu tình có đốt phá, cướp của, giết người của thế lực đen trong đảng bùng nổ. Thủ tướng im lặng như tờ cho thời cơ chín mùi. Cứ để cho những tên ngu dốt như Phùng Quang Thanh mở miệng cóc chết “Đảng, Chính phủ và quân đội Việt Nam cực kỳ coi trọng phát triển đoàn kết và hữu nghị với Trung Quốc, quân đội Việt Nam sẽ không áp dụng hành động làm phức tạp tình hình, sẵn sàng cùng với Trung Quốc duy trì trao đổi về các vấn đề liên quan...” thì khi xuất hiện, phát biểu của thủ tướng sẽ ngời sáng như minh châu trời đông.

Ngày 21 tháng 5, tại Diễn đàn Kinh tế Thế Giới tổ chức ở Manila, thời đã chín và cơ đã mùi, thủ tướng xuất hiện, lên án Tàu cộng (2):

“Từ ngày 01/5/2014 đến nay, Trung Quốc đã sử dụng hơn 130 tàu, có cả tàu quân sự và máy bay bảo vệ để hạ đặt giàn khoan dầu vào vị trí sâu hơn 80 hải lý trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Đây là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng luật pháp quốc tế và Tuyên bố Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc là một bên tham gia ký kết. Hành động này của Trung Quốc đã và đang đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông.”

Ông đã dùng buổi phỏng vấn của hãng thông tấn AP để phát biểu:

“Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.

Hai câu này được trích dẫn nhiều nhất bởi báo lề đảng và những người ca tụng ông Thủ tướng của đảng.

Tuy nhiên, hãy nhớ lại phát biểu của ông tại diễn đàn an ninh Đối thoại Shangri-La vào năm ngoái khi ông gián tiếp lên án Trung Quốc:

“Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ từ biển Hoa Đông đến biển Đông đang diễn biến rất phức tạp, đe dọa hòa bình và an ninh khu vực, trước hết là an ninh, an toàn và tự do hàng hải đang gây quan ngại sâu sắc đối với cả cộng đồng quốc tế. Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền”

và lời khẳng định của Thủ tướng:

“cùng nhau xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng là lợi ích chung của tất cả chúng ta.” (3)

cũng từng đã được tung hô vàng trời.


Ông đã thực sự làm gì trong vai trò Thủ tướng sau gần một năm tuyên bố tại Shangri La trước cái gọi là “biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền”?

Câu trả lời: HD-981.


Nó không còn là một biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương hay đòi hỏi phi lý. Nó là một hành vi xâm lược cụ thể, trắng trợn, ngang nhiên của Tàu cộng.

Nhiều người đề cao phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng tại Manila. Tuy nhiên, hãy nhìn kỹ lại:

1. Bất kỳ một nhà ngoại giao hạng bét nào trên thế giới, chưa nói đến thủ tướng quốc gia, đều phải phát biểu như ông Dũng về hành vi xâm lược đối với quốc gia của họ, tương tự như Tàu cộng xâm lược Việt Nam bằng giàn khoan HD981. Toàn bộ sự việc đã được hàng ngàn blogger viết đến trong suốt gần 3 tuần ông im lặng. Và họ nói chính xác, đúng với bản chất của vụ việc hơn nội dung phát biểu của ông Thủ tướng - “Đây là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng luật pháp quốc tế và Tuyên bố Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc là một bên tham gia ký kết. Hành động này của Trung Quốc đã và đang đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông.” Họ nói đơn giản: Đây là hành vi xâm lược của Tàu cộng; đây là đe dọa nghiêm trọng đến chủ quyền của Việt Nam.

2. Bất kỳ người lãnh đạo nào cũng phải nói quốc gia của họ mong muốn có hòa bình, hữu nghị, phải bảo vệ chủ quyền bằng mọi giá và không đánh đổi chủ quyền bằng “hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”. Không có một nhà ngoại giao hạng tồi và vô liêm sỉ nào tuyên bố ngược lại tinh thần trên.

Tuy vậy, Thủ tướng được nhiều người hoan nghênh vì ông làm đánh vào được tâm lý của nhiều người dân Việt Nam:

- Lãnh đạo cao cấp của đảng CSVN hèn mạt không dám mở miệng nói lên một sự kiện xâm lược mà cả thế giới đều biết. Bây giờ chỉ có ông Dũng bừng sáng như một tên chột trong một đám mù.

- Gián tiếp gửi thông điệp ông “có gì thì gì đi nữa” nhưng không phải là một kẻ thân Tàu, không phải là người sẵn sàng đánh mất chủ quyền vì “quốc sách nô lệ 16 vàng 4 tốt”; và bây giờ chuyện độc tài, tham nhũng là chuyện nhỏ, chuyện cứu nước mới là đại cục.

Nhưng người ta vô tình hay cố tình xem nhẹ, phớt lờ, bỏ qua những phát biểu sau đây - mới là những “thông điệp chiến lược” của một chính trị gia hoạt đầu gửi đến “đối tượng” cần nhắn gửi:

“Chúng tôi kiên định và kiên quyết bảo vệ chủ quyền của mình bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.”

“Việt Nam không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào để chống lại một quốc gia khác. Đây là chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam.”

“Việt Nam không bao giờ đơn phương sử dụng biện pháp quân sự, không bao giờ khơi mào một cuộc đối đầu quân sự, trừ khi bị bắt buộc phải tự vệ.”


Đây mới là thông điệp thể hiện "chính sách hành động" của chính phủ CHXHCN.

Đây mới là thông điệp làm hài lòng quân xâm lược: nó muốn nói gì thì nói để củng cố địa vị chính trị bản xứ của chúng, nhưng cái lỏi phải “đồng lòng cùng chính phủ... Bắc Kinh”.

Kết hợp 3 câu trên sẽ thấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - đằng sau những phát biểu ngoại giao, mị được một số người Việt Nam lẫn ngoại quốc - đã đặt Việt Nam vào ngỏ cụt hiểm nghèo:

- Nhất định không chống trả cho dù 1 giàn khoan hay 10 giàn khoan hoặc bất kỳ một sự chiếm đóng nào của Tàu cộng trừ khi Tàu cộng nỗ súng trước và Việt Nam chỉ bắn trả để tự vệ. Thế nên mới có màn bắn nhau ướt đẫm cả biển Đông.

- Nhất định đặt Việt Nam vào thế một nước nhỏ, lẻ loi đơn độc đối đầu với một cường quốc xâm lăng khổng lồ là Tàu cộng. Đơn phương đồng nghĩa với vô phương.

- Đặt Việt Nam vào đúng thế trận chiến lược của Tàu cộng: biến chủ quyền của Việt Nam thành vùng tranh chấp, biến vùng tranh chấp thành vùng khai thác của Tàu cộng và sau đó cùng lắm thì kiện tụng về một sở hữu quyền “chưa rõ của bên nào”. Kết quả tệ nhất đối với Tàu cộng: vùng đất, biển của Việt Nam trở thành vùng “chủ quyền chung” của hai nước để cùng khai thác. Với một đất nước có nhiều tài lực, nhân lực như Tàu cộng, với chính sách đổ tiền, đổ người vào để khai thác, định cư, an sinh lập nghiệp... vài chục năm sau vùng chủ quyền chung đó sẽ trở thành chủ quyền riêng không chối cãi của Tàu cộng.

Nếu tình báo Hoa Nam muốn làm một cuộc đảo chánh Ba Đình thì con lừa này sẽ được chọn làm tổng thống, là lãnh tụ được lòng nhiều ma trên mảnh đất bên kia biên giới là nhà, lắm lừa nhiều ma này.

Con đường chúng ta đi

Tình trạng cực kỳ đen tối của đất nước ngày hôm nay không đến từ bối cảnh của một quốc gia nhỏ, trong đó chính phủ cùng với nhân dân qua nhiều năm tháng đã một lòng tìm mọi cách để chống lại một nước xâm lược to lớn. Ngược lại, nó là kết quả của gần một thế kỷ đến từ một tập đoàn cai trị được ra đời nhờ bàn tay của bà mụ Tàu cộng, hoạt động theo Tàu cộng, sinh tồn nhờ Tàu cộng và nô lệ cho Tàu cộng. Nguyễn Tấn Dũng - một đảng viên cộng sản leo lên được chức thủ tướng là một trong những kẻ trung thành nhất của tập đoàn nô lệ ngoại bang đó. Ông ta là một trong những đầu não của bộ máy cai trị “hèn với giặc và ác với dân” này.

Trước tình trạng hiểm nghèo của tổ quốc, chỉ có những người muốn đất nước độc lập, hòa bình, tự do nhưng không muốn sướt một móng tay, chảy một giọt máu mới đặt niềm tin vào những kẻ cai trị độc tài, tham nhũng, mị dân đứng ra bảo vệ đất nước và chiến đấu cho sự sống còn của đất nước. Những người như Điếu Cày, Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Đinh Nguyên Kha, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Xuân Nghĩa, Bùi Thị Minh Hằng... đã không đặt niềm tin, hy vọng vào những kẻ đó. Hàng ngàn người xuống đường biểu tình yêu nước trong những năm qua không thể nào đặt niềm tin, hy vọng vào một hoạt đầu chính trị đã ra công văn và chỉ thị cho công an trấn áp mọi nỗ lực phản đối quân xâm lược, cấm đoán, đánh đập, bắt giam người biểu tình yêu nước chỉ vài ngày trước khi cánh màn nhung chính trị mị dân ở sân khấu Manila được kéo ra.

Con đường trước mặt chỉ có chông gai và thử thách. Không còn chọn lựa nào khác đối với dân tộc Việt Nam sau bao năm tháng bị cai trị bởi một đảng độc tài và nô lệ ngoại bang.

Con đường ấy không phải là lần đầu tiên mà đất nước hơn 4000 năm phải dũng cảm tiến bước và chấp nhận những đớn đau, mất mát, hy sinh để thực sự sống còn trong độc lập và danh dự. 750 năm về trước đã có con đường ấy - con đường mang tên: Diên Hồng.


Vũ Đông Hà

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Thủ đoạn mập mờ Friday,

Ngô Nhân Dụng


Một bạn đọc, ký tên Dang Nguyen , đã góp ý kiến về bức công hàm Phạm Văn Ðồng 1958 như sau: “Ðiểm khác biệt cần làm rõ là chế độ chính trị ở hai miền Nam-Bắc và cả hai đều được quốc tế công nhận là hai nước. Vì thế, nó không như lập luận của tác giả (Ngô Nhân Dụng) rằng ông Phạm Văn Ðồng nhân danh nước Việt nam - có lãnh thổ từ ải Nam Quan đến Cà Mau. Sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị là hai khái niệm riêng biệt - trong thời điểm lịch sử của Việt Nam.” Một độc giả khác, ký tên Tran, nhận xét: “Bức công hàm của Phạm Văn Ðồng làm người đọc cảm thấy không rõ ràng, mập mờ khó hiểu, nhất là không đề cập gì tới Hoàng Sa và Trường Sa...”

Trong bài trước, ký giả không bàn đến dư luận hay ý kiến của thế giới đối với bức công hàm Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Tranh chấp pháp lý về chủ quyền lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa trên ý nghĩa bức công hàm đó trong tương quan giữa hai đảng cộng sản, và giữa hai quốc gia do họ đang cai trị vào thời điểm họ trao đổi văn thư này.

Về điểm thứ nhất, vào năm 1958, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tự coi họ làm làm chủ cả hai miền Nam, Bắc (hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng theo quan niệm này). Trong việc giao thiệp giữa hai bên, Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) chấp nhận quan điểm này của Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng). Trung Cộng chỉ lập bang giao với miền Bắc. Họ không công nhận chính quyền miền Nam, dù trong thời gian Hội Nghị Genève 1954, Chu Ân Lai đã tỏ ra muốn bắt cá hai tay, chính phủ Ngô Ðình Diệm từ chối.

Vì vậy, khi Phạm Văn Ðồng viết cho Chu Ân Lai, ông ta nhân danh toàn thể nước Việt Nam, không riêng miền Bắc. Bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam muốn “nói lại,” rằng ông Ðồng không thể đem tặng Trung Cộng những quần đảo mà ông ta không có quyền quản lý, lý luận này không thể đứng vững vì mâu thuẫn với điều Việt Cộng chủ trương năm 1958.

Chúng tôi đồng ý với vị độc giả ký tên Tran, là văn thư của Phạm Văn Ðồng có vẻ mập mờ, tính chất mập mờ này chắc là do cố ý. Ðúng là bức công hàm không nhắc đến tên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa). Tuy nhiên, bản văn đã viết rằng: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Nói như vậy tức là tán thành cả văn bản lẫn ý nghĩa tổng quát trong bản tuyên bố của Trung Cộng. Mà trong bản tuyên bố đó, Bắc Kinh nêu rõ ràng tên các quần đảo trên như thuộc quyền của họ. Tán thành bản tuyên bố tức là đồng ý họ làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, không thể nào chối bỏ hay giải thích đã hiểu lầm được.

Trong bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Bắc Kinh đoạn mang số một nói rõ ràng là các hòn đảo và chu vi quanh các đảo Ðài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa, đều thuộc Trung Quốc.

Văn thư của Phạm Văn Ðồng viết mập mờ, không nói gì đến những tên Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng nội dung cả bức thư viết rõ ràng là chính quyền Cộng Sản Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên các quần đảo này. Phạm Văn Ðồng còn viết rằng chính phủ ông ta “tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Bây giờ, những người thừa kế Phạm Văn Ðồng tìm cách giải thích bằng cách dẫn chứng riêng một đoạn “tôn trọng hải phận 12 hải lý,” để nói rằng bức thư trên chỉ nói về chủ quyền 12 hải lý do Bắc Kinh nêu ra thôi, chứ không đồng ý Hoàng Sa hay Trường Sa thuộc Trung Quốc. Nhưng nói như vậy chỉ là cắt lấy một đoạn nói về một vấn đề kỹ thuật (hải phận 12 dặm biển chứ không phải 14, 15 hoặc 120 dặm). Trung Cộng sẽ nhắc Việt Cộng không nên “đoạn chương thủ nghĩa,” chỉ cắt một câu mà bỏ quên những câu quan trọng hơn trong văn thư của Phạm Văn Ðồng. Họ sẽ vạch ra ông Ðồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958;” mà nội dung đầy đủ như đã nêu trên. Không những thế, ông Ðồng nói sẽ ra lệnh cấp dưới “tôn trọng quyết định ấy,” “trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.”

Viết những chữ “trong mọi quan hệ ... trên mặt bể” này là ký một “văn tự bán nước.” Bây giờ, Trung Cộng ngang nhiên đem giàn khoan HD-981vào hải phận nước ta, họ nói chỉ là thể hiện câu văn “tôn trọng quyết định ấy ... trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Tóm lại, Việt Cộng không thể nào “cãi chày, cãi cối với Trung Cộng về bức công hàm năm 1958 được, dù Phạm Văn Ðồng đã cố ý viết một cách mập mờ.

Mập mờ là một thủ đoạn chính trị, đã được các đảng cộng sản sử dụng triệt để, nhất là khi nói với dân. Một câu nói mập mờ được ghi vào lịch sử là câu viết trong lời kêu gọi các cựu sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hòa đi trình diện “học tập cải tạo;” trong đó mập mờ nói rằng họ hãy đem theo đồ dùng cá nhân và lương thực “đủ trong 30 ngày.” Nghe vậy, ai cũng tưởng thời gian “cải tạo” chỉ kéo dài 30 ngày là dài nhất. Mấy trăm ngàn người đã bị mắc lừa vì câu nói mập mờ này. Nhưng trong nghề nói mập mờ thì Việt Cộng chỉ là học trò của Trung Cộng.

Trong điều kiện nào thì thủ đoạn nói mập mờ sẽ thành công? Khi kẻ nói mập mờ cũng là kẻ nắm dao đằng chuôi. Một câu mập mờ, nước đôi hay nước ba, có thể giải thích bằng nhiều lối khác nhau. Khi đó, anh nào đeo khẩu súng to hoặc nắm còng số 8 trong tay, anh ấy sẽ bắt anh yếu phải chấp nhận nghe theo lối giải thích của mình.

Năm 1975, 76, các tù binh “cải tạo” đã vào trong hàng rào kẽm gai rồi thì không thể đòi hỏi Việt Cộng hiểu câu “đủ trong 30 ngày” theo lối mình, hiểu rằng chỉ đi tù 30 ngày. Năm 2014 bây giờ Việt Cộng cũng không thể bắt Trung Cộng hiểu bức thư của Phạm Văn Ðồng không nói đến tên Hoàng Sa, Trường Sa tức là không dâng cùng Hoảng Sa, Trường Sa cho Bắc Kinh. Họ quên rằng trong các thủ đoạn lưu manh thì Trung Cộng vẫn chỉ là thày của Việt Cộng. Học được thói nói năng mập mờ, đem áp dụng để đánh lừa dân chúng trong nước mình thì dễ. Nhưng không thể đánh lừa cả tên “đồng chí anh em” đã dạy trò gian trá đó cho mình; trong khi nó viện trợ cho từng cây kim, từng hạt gạo, và súng, đạn, mìn, bẫy, để theo đuổi cuộc chiến tranh “chống Mỹ tới người Việt cuối cùng!”

Trong việc bang giao, khi nào thì người ta hay dùng thủ đoạn nói mập mờ? Thường người ta nói với nhau những điều không rõ ràng khi cả hai bên đều bị kẹt, không ai muốn nhường ai nhưng không ai muốn quyết liệt nói thẳng. Người lãnh đạo nhiều nước vẫn hay nói mập mờ để đánh lừa người nước khác. Chúng ta vẫn còn nhớ đặc sứ của ông Richard Nixon khi dụ chính phủ miền Nam tham dự hội nghị Paris đã hứa hẹn những gì với ông Nguyễn Văn Thiệu. Trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa thời đó, ai cũng biết bên nào mạnh hơn, có khả năng để nói mập mờ, sau thành tráo trở. Ngày nay, ông Karzai, tổng thống Afghanistan chọn một cách đối xử khác đối với chính phủ Mỹ. Ông đòi hỏi các thỏa thuận phải viết theo ý của mình, viết rõ ràng, không thể hiểu lầm được. Ðịa vị của ông Karzai, đối với chính phủ Mỹ, cũng không mạnh hơn bao nhiêu so với ông Nguyễn Văn Thiệu thời 1970, hoặc ông Phạm Văn Ðồng đối với Trung Cộng vào năm 1958.
Nhưng tại sao Karzai dám tỏ thái độ cứng rắn như vậy? Bởi vì ông ta không sợ, và tin rằng việc ông làm mang lại lợi ích cho dân ông. Tại sao chính phủ Mỹ phải chiều theo ý ông Karzai và người lên kế nhiệm ông?

Vì chính quyền Mỹ phải hành sử theo cung cách một chế độ tự do dân chủ, với lối sống dựa trên tính chất minh bạch, công khai. Sau thời ông Nixon, Quốc Hội Mỹ đã làm nhiều thứ luật hạn chế quyền quyết định của các vị tổng thống; trong đó có những quyền thương thuyết và thỏa hiệp trong vòng bí mật. Ở các nước khác, dù họ không làm ra những đạo luật bắt người cầm quyền phải làm mọi việc công khai, nhưng dư luận dân chúng, báo chí, các nhà chính trị đối lập, cũng có giá trị ngăn cản hoặc ràng buộc như những đạo luật.

Cũng vậy, chính quyền các nước dân chủ tự do rất khó dùng lối nói mập mờ đối với người dân của họ. Chúng ta có thể thông cảm rằng con người hay tránh không nói thẳng, không nói rõ ràng, nếu không bị bắt buộc. Vì người ta muốn tránh không quả quyết nói về bổn phận, trách nhiệm của mình đối với người khác cho rõ ràng; vì làm thế là bị ràng buộc. Các nhà chính trị trên thế giới đều thực hành câu tục ngữ của người Việt: “Làm trai cứ nước hai mà nói.”

Cho nên, trong chế độ tự do dân chủ các đại biểu của người dân phải làm ra những luật lệ bắt buộc bên hành pháp phải nói rõ ràng, chính sách của nhà nước thì không được mập mờ. Người ta tự nhiên làm như vậy vì những người nắm quyền, hành pháp cũng như lập pháp đều chịu trách nhiệm trước dân, do dân cử ra bằng lá phiếu tự do.

Ngược lại, thủ đoạn nói mập mờ chuyên được đem áp dụng trong các chế độ độc tài chuyên chế. Kẻ cầm quyền nói nước đôi, nước ba, rồi đến lúc cần đem giải thích theo một ý nghĩa phù hợp với quyền lợi của phe đảng họ nhất. Bọn lãnh tụ độc tài chuyên chế quen thói đánh lừa dân như thế mãi cũng được; vì họ có còng số tám. Nhưng khi tính đem áp dụng mưu mẹo lừa bịp đó với những kẻ mạnh hơn mình thì cuối cùng chỉ thiệt. Thiệt hại cho riêng họ không nói làm gì, họ còn gây tai hại cho cả nước Việt Nam nữa!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

'Nhường Trung Quốc mỗi tấc đất, là mất đi vĩnh viễn' -
(Phỏng vấn Tiến Sĩ Peter Navarro)

LTS: Việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, và chỉ cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý, khiến người Việt Nam khắp nơi sôi sục, và tranh chấp Biển Đông thêm căng thẳng. Sự kiện này có ý nghĩa và tạo ra những tác động gì, tại sao Trung Quốc lại có hành động cả quyết như vậy trong lúc này. Tiến sĩ Peter Navarro, chuyên gia về Trung Quốc, giáo sư đại học University of California, Irvine, tác giả hai cuốn sách bán chạy "The Coming China Wars," và "Death By China - Confronting the Dragon - A Global Call to Action" chia xẻ nhận định của ông, qua cuộc phỏng vấn do Hà Giang thực hiện.


Tiến Sĩ Peter Navarro giải thích về hiểm họa Trung Quốc trong buổi hội thảo ra mắt cuốn sách "Death By China - Confronting the Dragon - A Global Call to Action", tại Beckman Center, Irvine, ngày 7 tháng Sáu, 2011. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Hà Giang (NV): Theo nhận định của tiến sĩ, tác động của việc Trung Quốc đưa dàn khoan dầu vào vùng biển Đông thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam là gì, và tại sao Trung Quốc lại chọn thời điểm này?


Tiến sĩ Peter Navarro: Trung Quốc đã hiếp đáp Việt Nam kể từ khi chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và bắn giết biết bao người dân Việt Nam vô tội trong trận chiến đẫm máu tại bãi Gạc Ma, quần đảo Trường Sa, năm 1988. Càng lớn hơn và càng mạnh hơn, Trung Quốc càng ngang nhiên tiến chiếm những gì họ có thể tước đoạt từ những quốc gia nhỏ hơn và yếu hơn như Việt Nam. Trung Quốc sẽ cướp đi của người dân Việt Nam cả quyền đánh bắt cá lẫn khối dầu khí tự nhiên. Điều tồi tệ nhất là các nhà lãnh đạo và phương tiện truyền thông Trung Quốc luôn luôn đưa ra những tuyên truyền giả mạo rằng Trung Quốc là một quốc gia yêu chuộng hòa bình. Trên thực tế, Trung Quốc là một quốc gia chuyên hiếp đáp những nước yếu.


NV: Ngoài việc lên tiếng phản đối và yêu cầu Trung Quốc lập tức “ngừng ngay tất cả các hoạt động bất hợp pháp” và “thu hồi các giàn khoan” ở vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, chính phủ Việt Nam có thể làm được gì, và nên làm gì, thưa tiến sĩ?


Tiến sĩ Peter Navarro: Việt Nam cần phải thuyết phục và liên kết mật thiết với các nước khác trong khu vực cũng như Hoa Kỳ để tạo thành mặt trận thống nhất chống lại một Trung Quốc tham lam. Việt Nam cần tìm mọi cách sử dụng lực lượng quân sự, trong lúc bất ngờ, giữa đêm khuya, nếu cần thiết, để phá hủy các giàn khoan mà Trung Quốc ngang nhiên mang vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Hãy làm thế để cho Trung Quốc phản ứng, rồi thế giới sẽ thấy rõ Trung Quốc là một mối nguy hiểm lớn như thế nào cho hòa bình trong khu vực.


NV: Việc làm được Việt Nam cho là "bất hợp pháp" và "xân lấm chủ quyền một cách nghiêm trọng" này của Trung Quốc sẽ gây ảnh hưởng gì đến những quốc gia trong vùng?


Tiến sĩ Peter Navarro: Qua đường lưỡi bò chín đoạn, Trung Quốc đã từng tuyên bố và hành xử như thể toàn bộ Biển Đông là “ao nhà” của họ. Mỗi tấc đất biên cương, mỗi hải lý biển đảo nhường cho Trung Quốc là mất đi vĩnh viễn. Tất cả các nước trong vùng đều bị ảnh hưởng, đều là nạn nhân của chính sách xâm lược hung hăng của Trung Quốc.

NV: Trước tình hình này, Hoa Kỳ có nên tỏ thái độ, và nếu có thái độ, thì phải phản ứng như thế nào?

Tiến sĩ Peter Navarro: Hoa Kỳ không thể can thiệp trừ khi Việt Nam yêu cầu được giúp đỡ. Mời Hoa Kỳ thiết lập các căn cứ quân sự và hải quân sẽ là một bước đầu tốt cho việc kiềm chế sự xâm lăng của Trung Quốc.


NV: Cảm ơn giáo sư đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tướng họ Phùng là một tướng hèn nhát nhất trong lịch sử nước Nam

Nguyễn Nghĩa 650

(Danlambao) - Nhiệm vụ chính trị của quân đội là đảm bảo sự bất khả xâm phạm của bầu trời, lãnh thổ, lãnh hải quốc gia. Đây không phải là nhiệm vụ từ trên trời rơi xuống. Đây là nhiệm vụ tự nhiên phải thực hiện, từ khi xã hội loài người tổ chức thành các quốc gia riêng biệt.

Ở xã hội phong kiến, khi luật sức mạnh là luật cơ bản trong quan hệ giữa các quốc gia thì quân đội là lực lượng nòng cốt của mọi quốc gia.

Trong thời buổi loạn lạc, sự hưng vong của một quốc gia phụ thuộc vào tính tinh nhuệ của quân đội. Tính tinh nhuệ, được huấn luyện thuần thục, tinh thần quyết chiến của binh lính là những yếu tố có tính quyết định kết quả của một trận đánh, của một cuộc chiến tranh.

Mà binh lính tuần thục, có tinh thần chiến đấu hay không phụ thuộc vào người tướng cầm quân.

Việt Nam ta giữ được nước từ thủa khai thiên lập địa, 4000 nghìn năm trước, đến hôm nay, là nhờ có địa hiểm, và tại những thời điểm chống ngoại xâm, bao giờ cũng xuất hiện các tướng tài, những vị tướng cầm quân hết lòng vì tổ quốc.

Kìa xem lịch sử Việt Nam, từ Bà Trưng, Bà Triệu, những nữ nhi mà lòng căm thù quân xâm lược cháy bỏng đến hôm nay:

"Ta muốn cưỡi một cơn gió mạnh, chém cá kình ở Biển Đông, để dân Việt khỏi phải lầm than, đắm đuối".

Ta hãy đọc lại những vần thơ sang sảng khí phách Việt Nam của Thái Uý Việt Quốc Công Lý Thường Kiệt :

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
Như hà nghịch lỗ, lai xâm phạm,
Nhữ đẵng hành khan thủ bại hư”.

(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời).

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong cảnh đất nước đang sắp bị giặc Thát- Mông xâm lược, "...nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Lại ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để thỏa lòng tham khôn cùng; còn khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, nhằm vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau", đã Hịch cho các tướng sĩ nhà Trần:

"Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng."

Đến như cha con Hồ Qúy Ly "chính sự phiền hà", làm lòng dân li tán, mà khi giặc nhà Minh ngấp nghé đất Việt, còn muốn có "trăm vạn tinh binh để sống mãi với kẻ thù một trận", Hồ Nguyên Trừng còn khảng khái: "Thần không sợ đánh giặc, chỉ sợ lòng dân không theo".

Lê Lợi , Nguyễn Trãi thì canh cánh một lòng cứu nước:

"Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ."

Quang Trung Hoàng Đế thì sảng khoái đánh giặc Mãn Thanh, trước hết là đánh kẻ thù của văn minh Việt Nam:

Đánh cho để tóc dài,

Đánh cho để răng đen,

Đánh cho chúng trích luân bất phản,

Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn,

Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Thế mới biết rằng trước giặc mạnh, lòng yêu nước của người làm tướng phải cháy bỏng, phải truyền được ngọn lửa nóng bỏng này đến từng người lính trong những lời hịch của mình.

Việt Nam ta hôm nay đang là một quốc gia trên bán đảo Đông Dương này, là nhờ đất Việt đã có những người con anh tuấn, yêu nước như vậy.

Nhưng thật cũng chớ trêu của lịch sử, trong những ngày giặc Trung Quốc kéo giàn khoan HD 981 vào lãnh hải Việt Nam, một vị tướng 4 sao, một người đứng đầu Bộ quốc phòng Việt Nam, một tổng chỉ huy Hải, Lục, Không quân Việt Nam lại qùy gối trước TQ, lại rụt cổ trước TQ, lại phát biểu vô trách nhiệm tại Diễn đàn an ninh Shangri-La 5/2014, trước tình hình vận mệnh dân tộc ngàn cân treo sợi tóc:

"Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi."

"Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng".

Ông Thanh, tôi sẽ không nhắc lại lời ông phát biểu tại Quốc hội vài năm trước, khi ngư dân Việt Nam bị TQ o ép, đánh đập trên lãnh hải Việt Nam.

Hôm nay, tôi nói thẳng với điều này:

Câu phát biểu của ông là câu phát biểu của một đại tướng hèn nhát, của một Lê Chiêu Thống, một Trần Ích Tắc chứ không phải câu phát biểu của 1 người thống lĩnh quân đội Việt Nam suốt 4 nghìn năm luôn cự giặc Tầu, và luôn chiến thắng chúng.

Giặc đã vào nhà, ăn cướp của cải Việt Nam tại lãnh hải 200 hải lý, mà ông còn nhận giặc làm cha thì ông quả là một vị tướng bán nước vô liêm sỉ.

Hàng ngày, các chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam đang đương đầu với lũ lính TQ hung bạo, đang bị bọn TQ phun những vòi rồng nước áp xuất, như những quả đạn thép đập vào người.

Tầu, thuyền của họ đang bị những con thú TQ chủ ý đâm cho tan, vỡ, để mong họ làm mồi cho cá mập.

Những con thú xâm lược TQ này là "gia đình" của tướng Phùng ư?

Các chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam đang đối mặt với cái chết để bảo vệ lãnh hải Việt Nam.

Các chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam cần một ngọn lửa yêu nước, sưởi tan những gian nguy trên Biển.

Họ cần một lời lên án bọn xâm lăng từ vị tướng của họ.

Những chiến sĩ Cảnh sát Biển sẽ rất đau lòng khi thấy người chỉ huy của họ nhận giặc làm anh em.

Thế hóa ra những nguy hiểm, gian truân của họ là vô ích.

Thế hóa ra lòng yêu nước của họ chỉ đáng so sánh với xích mích trong "gia đình" ông Phùng.

Ông Phùng đã thỏa hiệp với giặc Tầu trên xương máu của họ.

Hãy đưa ông ta lên tầu Cảnh sát biển ra giàn khoan HD 981 để ông ta thấy những người trong "gia đình" của ông ta là những con người như thế nào?

Tướng họ Phùng là tướng không khí phách, hèn nhát nhất lịch sử Việt Nam.

Không bảo vệ được bất khả xâm phạm của lãnh hải Việt Nam, ông Phùng thật đáng bị cách chức.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Trung Quốc vẫn lấn lướt, thế giới khó ngăn

Võ Long Triều

Quyết định đặt giàn khoan HD-981 trong vùng biển của Việt Nam, Trung Quốc đã toan tính sẽ gặp phản ứng dây chuyền.
Thế giới bất bình, lo ngại, phê phán gắt gao, thậm chí còn đe dọa và chuẩn bị đối phó. Những điều đó chắc chắn Bắc kinh đã có dự trù.
Một khi đã khẳng định và xác quyết chủ quyền của mình trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì sẽ không vì phản ứng,
dù gắt gao hay chiếu lệ, của thế giới mà Trung Quốc e ngại phải rút lui.

Image
Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Chuck Hagel (trái) và Bộ Trưởng Quốc Phòng Nhật Itsunori Onodera,
tại Thượng đỉnh Quốc phòng Shangri-La, Singapore. (Hình: AP/Photo)


Làm như vậy Bắc Kinh sẽ mất hết uy tín và danh dự của một cường quốc có tham vọng trở thành giàu mạnh nhứt về kinh tế và quân sự, thay Mỹ áp đặt một trật tự mới cho sinh hoạt chính trị thế giới. Ðó là chủ trương của chiến lược gia Ðặng Tiểu Bình từ năm 1991. Ông đã công khai đặt việc hiện đại hóa quân sự lên hàng ưu tiên số một. Ông đã bí mật tăng ngân sách quốc phòng ngoài sự hiểu biết và tưởng tượng của Tây phương. Ông được toàn dân sùng kính mãi cho đến ngày nay. Ban lãnh đạo hiện thời của Trung Quốc đang theo đuổi và từng bước thực hiện chiến lược của Ðặng Tiểu Bình.

Ðặt giàn khoan trong vùng biển Hoàng Sa, Trung Quốc biết chắc Việt Nam sẽ không dám phản ứng vì há miệng mắc quai. Ngoài ra Việt Nam còn là một đồng đảng vệ tinh “tốt” của Trung Quốc, nếu không muốn nói là chư hầu. Cộng Sản Bắc Việt không hề liên kết quân sự với bất cứ một quốc gia nào từ khi mới thành lập, ngoại trừ làm tay sai cho cộng sản Liên Xô và Trung Quốc với “nghĩa vụ quốc tế” là cộng sản hóa miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Ðiện, v.v... Hai quan thầy của Việt Nam là Liên Xô, và Trung Quốc luôn luôn đối đầu với các quốc gia tư bản Tây phương suốt thời gian Chiến Tranh Lạnh.

Vậy thì bây giờ ai sẵn sàng bênh vực cho một chư hầu Cộng Sản Việt Nam bị quan thầy Cộng Sản Trung Quốc áp bức. Vả lại Tổng Trưởng Quốc Phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh vừa mới tuyên bố tại Shangri-La: Quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và sự xung đột trên biển Ðông chỉ là “mâu thuẫn gia đình”!

Theo một chuyên gia người pháp, về Trung Quốc và Việt Nam, ông Laurent Guédéon, cho rằng trong toàn bộ cuộc khủng hoảng này, Trung Quốc đã thắng vì họ đã làm được những gì họ muốn trên biển Ðông. Với cách nhìn của ông Guédéon thì đây là chiến thắng của Trung Quốc về mặt chính trị lẫn về mặt ngoại giao. Bởi vì từ năm 1974 Hoàng Sa đã chịu sự trực tiếp quản lý của Trung Quốc, nên một khi họ đưa giàn khoan vào vùng này rồi nếu có rút đi thì chủ quyền của họ đối với vùng này vẫn không thay đổi. Ðiều quan trọng hơn là một hành động thử nghiệm phản ứng của các nước láng giềng với Việt Nam và của Hoa Kỳ.

Sở dĩ Nhật Bản và Philippines lên tiếng ủng hộ Việt Nam vì họ cũng là nạn nhân đồng cảnh ngộ, nên thừa cơ hội, tố cáo Trung Quốc lộng hành. Hai quốc gia này cũng biết chắc Trung Quốc không dám động tới mình vì có đồng minh Hoa Kỳ công khai tuyên bố sẽ bảo vệ nếu họ bị tấn công.

Tóm lại Trung Quốc đang cần tài nguyên khổng lồ dưới đáy biển Hoàng Sa và Trường Sa để vương lên thành cường quốc số một, trong khi Hoa Kỳ đang yếu dần vì hai trận chiến Afganistan và Iraq.

Dù vậy mặc lòng ngày 29 tháng 5, 2014, Tổng Thống Barak Obama vẫn tuyên bố tại học viện quân sự West Point: “Mỹ sẵn sàng đáp trả, hành động gây hấn của Trung Quốc đối với các nước láng giềng trên biển... Mỹ cần phải dứt bỏ chính sách đứng ngoài cuộc và quân đội Mỹ phải chuẩn bị cho những cuộc khủng hoảng... Những hành động gây hấn trong khu vực dù ở miền Nam Ukraine hay biển Nam Trung Hoa, hoặc bất cứ nơi nào khác trên thế giới, cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến các đồng minh của chúng ta và có thể lôi cuốn quân đội chúng ta can dự.” Ông Obama còn nói thêm, “Tôi muốn nhắc lại một nguyên tắc mà tôi đã đặt ra từ khi nhậm chức tổng thống: Hoa Kỳ sẽ sử dụng quân đội, đơn phương nếu cần thiết, nếu cần cho lợi ích cốt lõi của chúng ta.” Ông cả quyết Mỹ sẽ lãnh đạo, tuy nhiên sẽ dựa trên “hành động mang tính tập thể” với đồng minh.

Ngày 30 tháng 5, 2014, bộ trưởng quốc phòng 3 nước Nhật Bản, Australia và Mỹ đưa ra một tuyên bố chung phản đối mưu đồ có mục đích thay đổi hiện trạng bằng vũ lực.

Tại Shangri-La ngày 1 tháng 6, 2014, tổng trưởng Quốc Phòng Mỹ ông Chuch Hagel xác định quan điểm của Tổng Thống Obama. Ông Hagel nói: “Trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã thực hiện các hành động đơn phương, gây mất ổn định và đòi hỏi chủ quyền ở biển Ðông. Mỹ sẽ không làm ngơ khi các nguyên tắc cơ bản của trật tự quốc tế bị thách thức.”

Những lời tuyên bố rõ ràng, mạnh dạn của tổng thống và bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ khiến Trung Quốc phải giật mình lo ngại và phản ứng qua lòi tuyên bố của Trung Tướng Vương Quang Trung, phó tổng tham mưu trưởng quân giải phóng Trung Quốc, rằng: “Những lời phát biểu trên đây chứa đầy sự bá quyền, khiêu khích, đe dọa, một sự hăm dọa hoàn toàn không mang tính xây dựng, hơn nữa lại công khai chỉ trích đích danh Trung Quốc. Những kiểu cáo buộc này là hoàn toàn vô căn cứ, không có lý lẽ.” Tướng Vương Quang Trung công khai tố cáo hai nước đồng minh Mỹ-Nhật đã cùng nhau khiêu khích Trung Quốc...

Trong khi đó Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe chiếm diễn đàn Shangri-La, đọc diễn văn khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Châu Á, còn gọi là Ðối Thoại Shangri-La lần thứ 13, Ông Abe tuyên bố: “Nhật Bản sẽ đóng vai trò và chủ động lớn hơn trong việc duy trì hòa bình tại Châu Á và thế giới. Nhật Bản và đồng minh Hoa Kỳ sẵn sàng hợp tác cùng ASEAN trong việc thúc đẩy hòa bình tại khu vực.” Ông so sánh những hành động của Trung Quốc ở biển Ðông và việc Nga xâm chiếm bán đảo Crimea, ông cho rằng tình hình giống như trước khi xảy ra Thế Chiến Thứ Nhứt.

Ngoài ra ông cho biết Nhật Bản sẽ đào tạo 250 người Philippines, Indonesia và Malaysia về việc bảo vệ bờ biển. Ðồng thời ông Abe đang thúc đẩy việc chỉnh sửa điều 9 Hiến Pháp Nhật Bản cho phép Tokyo thực hiện quyền tự vệ tập thể và hỗ trợ quân sự cho các nước cần sự giúp đỡ khi bị tấn công. Báo chí Trung Quốc tố cáo thủ tướng Nhật Bản làm loạn ở Châu Á.

Có thể nhận xét một bên là tổng thống Mỹ nói, sẽ “hành động mang tính tập thể” với đồng minh. Một bên khác thủ tướng Nhật tuyên bố, sẽ đóng vai trò và chủ động lớn hơn trong việc duy trì hòa bình tại Châu Á và thế giới. Phải chăng là hai cường quốc Mỹ-Nhật đã thỏa thuận chia nhau vai trò gìn giữ an ninh hòa bình trên thế giới. Nhật Bản là tai mắt và sức mạnh kềm chế Trung Quốc ở Á Châu, Mỹ và đồng minh Âu Châu phụ trách việc đối đầu với Nga, một phần tử chính của công sản Liên Xô còn sót lại. Cái thế của đồng minh Mỹ Nhật ở Á Châu còn có thêm sự hỗ trợ của Ðại Hàn, Úc Châu và Ấn Ðộ.

Riêng phần Trung Quốc chuẩn bị đương đầu với Mỹ chỉ còn cách kết hợp với Nga là đồng minh cộng sản ngày trước. Ðể chứng minh tình hữu nghị đó và đồng thời cũng tỏ cho thế giới biết Nga-Tàu là một, ngày 26 tháng 5, 2014, Bắc Kinh cùng với Moscou diễn tập quân sự chung trên biển Hoa Ðông, bắn đạn thật.

Tình hình chính trị quốc tế ngày nay cho thấy hai khối đối đầu nhau không còn là Hoa Kỳ và Liên Xô như thời Chiến Tranh Lạnh trong thế kỷ 20, mà chiến tranh lạnh, hay có thể nóng, trong tương lai sẽ xẩy ra giữa hai tập đoàn Mỹ-Nhật đương đầu với Nga-Tàu, đang giành nhau quyền áp đặt một trận tự thế giới mới cho thế kỷ 21.

Post Reply