Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Vậy Là Chia Biển Đông

Trần Khải

Vậy là Đảng CSVN đồng ý chia tài nguyên Biển Đông cho Đảng CS Trung Quốc.

Vậy là nhà nước CSVN tự ý quyềt định, không cần hỏi ý toàn dân Việt... đã chấp nhận khai thác chung Biển Đông.

Vậy là nhà nước Đại Hán CSTQ từ chỗ không có gì ở Biên Đông, nay đã bị ra có rất nhiều tài nguyên biển chỉ vì đàn em CSVN chấp nhận khai thác chung để được đán anh bảo kê.

Bản tin trên RFA hôm 27-8-2014 viết:

“Sau chuyến làm việc ở Trung Quốc của ông Lê Hồng Anh, đặc phái viên của đảng cộng sản Việt Nam, Trung Quốc và Việt Nam đã đưa tuyên bố về Ba nhận thức chung. Trong tuyên bố này có phần nói về biển Đông, và nói rằng hai bên sẽ tích cực nghiên cứu và thương lượng về vấn đề cùng khai thác. Tiến sĩ Địa chất Nguyễn Thanh Giang, người làm việc nhiều năm ở Tổng cục địa chất Việt Nam, và có nhiều bài viết về tài nguyên biển Đông, cho đài RFA biết quan điểm của ông về chuyện này.

Trước hết ông nói:

Chuyện cùng nghiên cứu và khai thác biển Đông là một sự nhượng bộ vô lối của Việt Nam, vì biển Đông là của Việt Nam, Việt Nam phải có cái quyền khai thác như là sở hữu của mình. Còn Trung quốc muốn vào hợp tác thì làm hợp đồng như các nước, đến và ăn chia sản phẩm theo sự thỏa thuận giữa đôi bên. Chứ không thể xem biển Đông là cái chỗ chung của hai bên. Tôi cho rằng cái cách ăn nói ỡm ờ đó là một sự khiếp nhược. Coi như là ta mất một nửa tài sản chăng? Chúng tôi thấy là không thể chấp nhận được. Không thể chung nhau khai thác được.”(hết trích)

Trong khi đó, công dân song tịch Việt-Pháp André Menras (tên VN là: Hồ Cương Quyết) có bài viết trên mạng Bauxite VN bày tỏ mối nguy về thời Bắc thuôc mới cho VN.

Bài dịch bởi Bauxite VN có tựa đề “Thảm đỏ cho một giàn khoan Tàu trên đất liền Việt Nam?” nêu lên nỗi lo về việc CSVN cắt một phần đất Hà Tĩnh cho hãng Formosa và cho 10.000 công nhân Tàu vào hãng này ở Vũng Áng, Hà Tĩnh, một cơ nguy khi chiến tranh bùng nổ có thể nơi này sẽ trở thành một Crimea mới kiểu Ukraine rồi sẽ sáp nhập vào Hoa Lục.

Bài viết của nhà trí thức yêu mến đất nước VN này có đoạn:

“Theo tin từ mạng vietnam.net thứ Hai vừa rồi: hơn 10.000 lao động nước ngoài trong đó 90% là người Tàu vừa được tuyển dụng bởi công ty Formosa ở Vũng Áng, Hà Tĩnh, chỉ chưa quá hai tháng sau những sự cố đẫm máu mà khu công nghiệp này là sân khấu.

Bắc Kinh trở lại, đầu ngẩng cao, nanh sắc nhọn

Trong một hoàn cảnh hợp tác lành mạnh giữa hai nước láng giềng và khuôn khổ trao đổi hai bên cùng có lợi, thì cái tin này lẽ ra có thể gây nên niềm lạc quan và thậm chí cả hy vọng của cư dân địa phương và của các nhà quan sát nước ngoài. Nhưng sự xâm nhập bạo liệt của giàn khoan Tàu cùng với đội tàu chiến hộ tống vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sau những vụ gây hấn với Viking 2, Bình Minh 2, gây hấn với dân chài miền Trung Việt Nam đang tiếp tục xảy ra, thì sự trở lại của đoàn ngũ «lao động» Tàu – mà việc ra đi trước đây đã được tuyên truyền mạnh mẽ - mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Bắc Kinh trở lại, đầu ngẩng cao và nanh vuốt thật sắc nhọn. Nó đánh dấu lãnh thổ của mình ngay trong lòng Việt Nam!”(hết trích)

Trong khi đó, báo mạng Tuần Việt?Nam có bài phỏng vấn tưạ đề “69 năm Việt Nam: Tỉnh táo để tìm đúng đường,” trong đó Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang trả lời thẳng thắn rằng vấn đề là phaả thay đôi thề chế đất nước mới khá được.

Tiến sĩ này sao dám nói thẳng về “thay đổi thể chế” như thế? Bởi vì, ông không còn mang quóc tịch Việt Nam nữa.

Tuần VN cho biết, “Đặng Hoàng Giang tốt nghiệp kỹ sư công nghệ thông tin, ĐH Kỹ thuật llmenau (Đức), và có bằng tiến sĩ trong lĩnh vực kinh tế phát triển của ĐH Công nghệ Vienna, Áo. Từng ở châu Âu gần 20 năm, quốc tịch Áo...”

Tiến sĩ cho biết trên TVN:

“Vì sao quốc gia này thành công, nhưng quốc gia kia lại thất bại? Đây là một câu hỏi đau đầu cho các chính trị gia và các nhà kinh tế học. Liệu có phải do văn hoá: người Do Thái hay người Nhật mang trong mình những yếu tố văn hoá giúp họ dễ thành công? Hay là do vị trí địa lý, những nước nhiệt đới nhiều thiên tại, dịch bệnh thì thường là nghèo?

Gần đây, các chuyên gia hội tụ ở quan điểm là không phải văn hoá, không phải địa lý, thậm chí không phải việc có hay không một minh chủ, mà thể chế là yếu tố chính giúp một quốc gia thịnh vượng. Cụ thể là các thể chế tạo ra một sân chơi bình đẳng cho mọi tác nhân trong xã hội, tôn trọng và bảo vệ sở hữu cá nhân, không bóc lột môi trường, và không thiên vị cho bất cứ một nhóm lợi ích nào.

Có những chứng cứ rất cụ thể cho vai trò quyết định của thể chế: Đông Đức và Tây Đức là ví dụ. Cùng một dân tộc, cùng một vị trí địa lý, cùng mức dân trí, cùng văn hoá, lịch sử, nhưng hai thể chế khác nhau cho ra hai con đường phát triển. Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc là một trường hợp khác...”(hết trích)

Bây giờ thì, Biển Đông chia cho Trung Quốc khai thác rồi... trong khi Hà Nội kiên quyết không đổi thể chế.

Biết nói sao bây giờ... hay là nên trách ông Hồ?

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Bùi Thị Minh Hằng hơn cả Rosa Parks

Nguyễn Ngọc Già
(Danlambao) - Bản án dành cho ba Tù Nhân Lương Tâm: Bùi Thị Minh Hằng (3 năm), Nguyễn Thị Thúy Quỳnh (2 năm), Nguyễn Văn Minh (2,5 năm) kết thúc ngày 26/8/2014 lúc 18 giờ 45 phút - thời điểm "twilight" trong ngày.


Ngoài nghĩa đen "chạng vạng" tương ứng trong tiếng Việt, từ tiếng Anh này còn mang nghĩa bóng - thoái trào. Đó là một điềm gở cho chế độ độc tài toàn trị tại Việt Nam hiện nay. Mê tín dị đoan lên ngôi "cửu ngũ" và trở thành "đức tin" chi phối mạnh mẽ trên khắp các lĩnh vực, do đó, ý nghĩa "lịm tắt dần" trở nên có giá trị như một lời cảnh cáo, dành cho người cộng sản.


Võ Thị Thắng


Trong "tiết xử thử" của những ngày thu, người cộng sản trang nghiêm và u sầu tiễn biệt người đồng chí của họ - bà Võ Thị Thắng.

Trong sổ tang của bà Thắng, Trương Tấn Sang - Chủ tịch nước bày tỏ [1]:

"...Với Võ Thị Thắng: Khi nước nhà tao loạn, Võ Thị Thắng phận gái mà vẫn hiên ngang đứng lên cầm súng "sống vĩ đại chết vinh quang"!. Khi đất nước thanh bình, lý ra Võ Thị Thắng phải được cống hiến công sức mình cho đất nước trong môi trường thuận lợi nhưng không hẳn được như vậy! Thời nào cũng có kẻ hiểm ác, giấu mặt đối xử bất nhân nhưng Võ Thị Thắng vẫn lại hiên ngang ngẩng cao đầu: "Sống vĩ đại chết vinh quang"!..."


Với vài dòng chữ, ông Sang đã thành công, khi phác họa ra cuộc đời của "người đồng chí thân thương", dù trong đó phần cay đắng làm người dân chú ý và tò mò hơn.

Nói đến Võ Thị Thắng không thể không nhắc lại "dấu ấn" riêng bà, khi ám sát một viên chức trong chính quyền VNCH - ông Trần Văn Đỗ.

Không biết do trục trặc súng ống hay vì run rẩy trước việc giết người, bà Thắng đã không thể hoàn thành nhiệm vụ do đảng của bà giao phó, dù phát súng thứ ba được bóp cò như báo QĐND mô tả.

Tuy nhiên, từ thất bại, "Nụ Cười Chiến Thắng" đã chói lòa trong "vòng tử sinh" lúc bấy giờ, với phát ngôn trước tòa án VNCH: "Liệu chính quyền của các ông có tồn tại đến 20 năm để bỏ tù tôi không?". Hình như Võ Thị Thắng xem việc ám sát là một việc làm "quang minh chính đại"(?).

Để từ đó xuất hiện trong chính trường nước CHXHCNVN bà Tổng Cục Trưởng Tổng cục Du lịch với oan án thấu trời - làm gián điệp cho CIA - theo ông Đào Hiếu viết trên trang nhà, trong tư cách người thân cật ruột với bà.

Mười tám năm qua, cho đến ngày Võ Thị Thắng quy tiên, sự thật vẫn chập choạng tựa những ánh hào quang chập chờn phủ quanh bà. Thời khắc nhá nhem - âm dương vẫn đang tranh nhau, kể ra cũng khó cho "những người con trung kiên" trả lại "tấm biển tiết liệt" cho "nữ đồng chí" vào lúc xuôi tay nhắm mắt(?).

Không chỉ vậy, ông Sang lại gây khó cho "Ông Tiên sống mãi", khi nâng người nữ biệt động thành Sài Gòn - Gia Định năm xưa lên hàng "sống vĩ đại" - vốn dĩ Hồ Chí Minh độc quyền về "sự hùng vĩ và lớn lao" hơn trăm năm qua, kể từ ngày đất Nghệ An sinh ra vị "cha già dân tộc" suốt đời không màng lợi danh (!).

Riêng việc bà Thắng "chết vinh quang" trở nên thô ráp, khi đến nay, dù trên cương vị Chủ tịch nước - đại diện cả một quốc gia - ông Sang vẫn không chỉ ra được "...kẻ hiểm ác, giấu mặt đối xử bất nhân..." với đồng đội - người chịu hàm oan cũng tròm trèm 20 năm, gần bằng cái án nhận lãnh vì tội ám sát để góp công cho "đảng ta" gầy nên nghiệp lớn (!).

Dù bà Thắng mất đi, việc rửa oan vẫn rất cần thiết, khi "thằng bán tơ" được lôi ra ánh sáng, mới chứng minh nổi "đảng đã cho ta sáng mắt sáng lòng" như thế nào trước thân bằng quyến thuộc của bà và công luận. Ông Chủ tịch nước bỏ đi đâu danh tiếng "Cơ quan điều tra VN thuộc diện giỏi nhất thế giới" (?).

Hay bên nén nhang bùi ngùi của những người đồng chí, bà Võ Thị Thắng đành ngậm cười nơi chín suối, cùng gia quyến đang văng vẳng đâu đây lời an ủi: Trung cộng nó đánh ta nhưng nó cùng là cộng sản, huống gì, những người lỡ tay hãm hại đồng chí Võ Thị Thắng, đều là Việt... cộng với nhau.


Bùi Thị Minh Hằng



Ánh Trăng Vằng Vặc vừa lâm vào tình trạng "Nguyệt Thực". Dù Nguyệt Thực toàn phần, hãy an tâm, bởi cũng chỉ là tạm thời.

Chị Hằng được biết đến từ những ngày xuống đường chống giặc Tàu cách đây ba năm.

Hình ảnh người đàn bà Việt Nam tuổi ngũ tuần cùng nhân dáng mặn mòi với hình ảnh xông xáo, ồn ã, nhiệt huyết, chân thành làm một số người "học cao" không dành thiện cảm cho chị. Cũng chắc bởi lẽ, vì chị không có bằng cấp đáng nể nào cả.

Chị là một người bình dân như hàng chục triệu thường dân khác. Chị sống đúng chính bản thân mình. Yêu - Ghét rõ rệt. Trắng - Đen phân minh.

Bùi Thị Minh Hằng khá giả với tàu bè đánh cá, cổ phần cây xăng, nhà hàng, sau nhiều năm chắt chiu vốn liếng từ việc đi lao động tận xứ sở của nhà độc tài Lê Nin.

Vì oan ức cá nhân, chị Hằng dần hiểu ra đấu tranh nhân quyền là cho chính mình, đấu tranh dân chủ là cho chính mình. Một cá nhân không thể làm gì được trong xã hội toàn trị hôm nay. Chị đến với cộng đồng dân oan và trở thành bạn của tất cả những ai cùng cảnh ngộ. Từ đó, như gặp "con nước lớn", "Cánh Hoa Thời Loạn" quyết dấn bước trên con đường đấu tranh chính trị như số phận ông Trời đã đặt để.

Minh Hằng không phải nữ sinh danh tiếng trường Gia Long như Võ Thị Thắng. Chị cũng may, không phải học những tư tưởng cao siêu mà vô bổ lại độc hại, như những người cùng sinh ra dưới thời cộng sản cai trị.

Mẹ và chị em ruột đối xử gần như không còn tình nghĩa với Bùi Thị Minh Hằng. Chị cũng thật gieo neo với hai đời chồng, cùng ba đứa trẻ. Một mình chị nuôi chúng lớn khôn, từ khả năng vén khéo và tháo vát của người Mẹ Việt Nam.

Chị không giả tạo. Nhiều lúc chị cộc cằn, bổng chảng và điên tiết theo cách của những người bình dân trước những quá quắt, côn đồ đến bất nhẫn do giới an ninh gây ra.


Chị không che giấu mâu thuẫn gia đình và số phận cá nhân đen đủi. Nhiều người thuộc "trường phái" "đỉnh cao trí tuệ", mỗi khi nhận lệnh từ nơi "rũ bùn đứng dậy sáng lòa" để bôi nhọ chị, thường mang những đau khổ cá nhân của chị ra bêu rếu. Chị không màng.

Không có ai dạy Minh Hằng cầm súng giết người, như bà Võ Thị Thắng đượcdạy. Chị cũng không học theo chị Út Tịch leo lên cây đái xuống cho bỏ ghét, khi bị chọc ghẹo "Đàn bà đái không qua ngọn cỏ" như ông Nguyễn Đình Thi mô tả trong "Người Mẹ Cầm Súng".

Minh Hằng thích hoa và trang điểm. Chị cũng thích ăn ngon và mặc đẹp. Điều thú vị, chị ăn ngon và mặc đẹp từ đồng tiền lương thiện do tự tay tạo ra. Lúc chị bị khủng bố mọi mặt, cả về kinh tế, chị vẫn không quên son phấn mỗi khi xuất hiện. Bạn bè khắp nơi biếu chị tiền. Chị không giấu. Chị cũng không quên làm sinh nhật cho con và ra tay đầu bếp đãi bạn, mỗi khi có dịp.


Minh Hằng đẹp - Cái đẹp đậm đà theo nghĩa đen và đẹp cả từ tấm lòng đối với bạn cũng như quê hương của chị.

Minh Hằng không có uẩn khúc như bà Võ Thị Thắng mang trọng tội phản quốc, đến nỗi thà hy sinh danh dự để chú mục bảo vệ uy tín ĐCSVN - vốn dĩ "cái lai quần" của chị Út Tịch cũng không còn chỗ chứa.

Minh Hằng không có gì phải dằn vặt với bạn bè hay Đất Mẹ. Chị cũng không bận lòng bởi "quá nửa đời phiêu bạt" [*], chị chẳng có gì ân hận để "úp mặt vào sông quê" [*] mà sám hối (!).

Thích, chị bày hết tất cả những gì từ trong lòng và sẵn sàng xổ toẹt vào thói đạo đức giả. Chị không chất chứa. Không để bụng.

Minh Hằng lại là người biết lắng nghe lời ngay ý thẳng, có lẽ từ đó chị chưa bao giờ cô đơn, bởi rất nhiều người bạn chân thành luôn quan tâm và thương mến chị.

Từ buổi xử tội Bùi Thị Minh Hằng và hai người bạn, dù không có bất kỳ tấm ảnh nào, cho thấy cả ba người đứng trước những kẻ "kết án thuê", nhưng người quan sát vẫn cảm nhận được sự trưởng thành chính trị - tinh thần bất khuất - lòng tin về chân lý - sự chín chắn trong chiều sâu tâm hồn của chị và bạn hữu thật rõ rệt. Những tính chất đó sáng lấp lánh từ hình ảnh bầm dập của cả trăm người bạn do phía an ninh Cao Lãnh - Đồng Tháp ruồng bố và đàn áp khốc liệt. Tôi tin điều đó.


Rosa Parks

Người phụ nữ Mỹ da đen nổi tiếng khắp thế giới, khi dứt khoát không nhườngchỗ trên xe buýt cho người da trắng theo yêu cầu của tài xế. Bà đã đưa lịch sử nhân quyền Mỹ quốc sang trang mới.

Năm 1955, Rosa Parks - ở tuổi 42 - quyết liệt bằng hành động giản đơn như thế, để chống lại sự phân biệt kỳ thị chủng tộc.

Từ hành động "cỏn con" đó, Rosa Parks trở thành nhà hoạt động nhân quyền và được quốc hội Mỹ tôn vinh là "mẹ đẻ của phong trào nhân quyền hiện đại". Bà được tạp chí Time bầu chọn là một trong 100 nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất thế kỉ 20.

Nhà báo Huy Đức gọi Rosa Parks là "niềm tự hào của nước Mỹ" [2], khi viết bài tưởng niệm, ngày bà mất vào năm 2005, thọ 92 tuổi.

Nếu Rosa Parks xứng đáng vinh danh như thế, những tưởng Bùi Thị Minh Hằng còn vượt lên cả người phụ nữ Mỹ cùng xuất thân không học cao như chị. Thậm chí Rosa Parks có phần kém hơn Minh Hằng về sự sắc sảo và tài kinh doanh, cùng khả năng trong vai trò hoạt náo viên, thu hút đám đông.

Không những thế, Rosa Parks chỉ dừng lại ở lĩnh vực nhân quyền, đấu tranh cho cộng đồng người da màu lúc bấy giờ. Trong khi Bùi Thị Minh Hằng, ngoài vấn đề nhân quyền, chị trở thành biểu tượng tiêu biểu của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc chống ngoại xâm thời hiện đại.

Rosa Parks đấu tranh cho cộng đồng da màu tại Hoa Kỳ, Bùi Thị Minh Hằng đấu tranh cho cả dân tộc Việt Nam.

Bùi Thị Minh Hằng nói: Chúng tôi nằm xuống để đất nước này đứng lên - Một câu nói xuất thần và bất hủ, lúc chị sẵn sàng hy sinh thân mình để đấu tranh chống lại cường quyền.

Bùi Thị Minh Hằng - Một Phụ Nữ Việt Nam khả ái và khả kính. Chị xứng đáng được vinh danh, không chỉ trong quốc nội mà cả trên thế giới.

Nguyễn Ngọc Già

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »


CÓ NÊN TRANH LUẬN VỚI CS HAY VIỆT GIAN CỘNG SẢN KHÔNG ?

Lê Tường An

Kính Thưa Quý Vị,

Góp ý nầy dựa trên bài viết mới đây của LS Lê Duy San, trong đó LS San đề nghị là chúng ta không nên tranh luận với CS hay VGCS.

Trước hết, tôi đồng ý với luật sư San là ta nên tẩy chay những cuộc thảo luận do người Việt thân cộng (cs nằm vùng (?)) tổ chức và điều khiển. Trong các cuộc thảo luận nầy họ sẽ thiên vị cs và làm đủ mọi cách để cho cs chiếm ưu thế mà tuyên truyền. Do đó, tẩy chay là thái độ chống cộng rất khéo léo và hữu hiệu.

Một câu hỏi cần đặt ra là: Ta có nên tranh luận với CS hoặc VGCS hoặc người Việt hải ngoại "vô tình" đưa lên diễn đàn những bài viết gây ra chia rẻ cộng đồng người Việt QG hải ngoại, hoặc làm tổn thương chính nghiã của Người Việt QG hay không ?

LS San đã trả lời câu hỏi nầy như sau:

"Tranh luận ở trên diễn đàn với các thành phần VC hay VGCS cũng tương tự như vậy [tức là tẩy chay] Chúng ta nên dành hết thì giờ để đánh thẳng vào mục tiêu của chúng ta là bọn Việt Cộng."(LS/LDS)

Nói cách chung, tôi cũng đồng ý với LS San . Tuy nhiên, có những trường hợp ta cũng nên đối phó một cách thiết thực để bảo vệ sự đoàn kết của cộng đồng người Việt hải ngoại, đồng thời vạch rõ ác tâm cũng như những ngụy luận của tác giả. Tôi xin nói rõ suy nghĩ của tôi để đọc giả rộng đường suy luân.

1/ Đối với những bài viết (trên diễn đàn) tuyên truyền của cs như bài ca tụng Hồ Chí Minh (như của Chế Trung Hiếu), hoặc bài viết nhằm mục đích chia rẻ, như chia rẻ tôn giáo (thí dụ bài viết nặc mùi thân cộng của Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang, ...) và những emails kém văn minh vô giáo dục của nicks ma, nicks qủy, chúng ta phải tẩy chay.

2/ Tẩy chay như thế nào? Tẩy chay bằng cách BLOCK (hoặc SPAM hoặc bỏ vào TRASH) emails của họ để cô lập họ. Tuyệt đối không tranh luận và chửi bới bằng email gởi kèm bài viết tuyên truyền, gây chia rẻ, hoặc ăn nói lộng ngôn của nhóm người xuẩn động, nhưng nham hiểm nầỵ. Đối đáp với lũ người nầy là mắc kế của kẻ gian, tiếp tay đăng tải những bài viết tuyên truyền, đầu độc gây chia rẽ của chúng.

Tôi hiểu quý vị vì lý tưởng của mình nên không chịu nổi phải chửi lại, viện cớ : "Gặp Phật thì tu, gặp quỷ thì trừ" ! Nhưng trừ quỷ cách nầy thì rõ là không hiệu quả mà còn mắc kế, loan tải những bài viết đầu độc của kẻ địch. Người QG ta có sĩ diện, nếu ai chửi ta, ta nổi giân không chịu nỗi. Nhưng cộng sản thì khác, chúng không có sĩ diện gì cả, chúng không nao núng khi bị chửi mà còn lấy lời chửi bới của ta để tuyên truyền xấu về người QG. Do đó xin quý vị nào không nhịn được CS thì thay vì chửi bới họ trên diễn đàn, nên cô lập họ bằng cách nhốt họ vào "TRASH" hoặc đày họ bằng "BLOCK"! Dĩ nhiên có người không "TRASH" và cũng không "BLOCK" chúng vì họ cùng phe với chúng. Cứ để cho VGCS viết cho VGCS đọc. Nếu họ forward ra diễn đàn thì ta biết rằng họ là đồng lỏa của VGCS, thì ta TRASH và BLOCK họ luôn. Thế mới trừ được bọn VGCS.

Có người hỏi rằng nếu ta block hết thì còn ai trên diễn đàn. Xin quý vị đừng lo, trên các diễn đàn nầy có rất nhiều độc giả thầm lặng và những người QG chân chính. Hãy loại trừ những bài viết có tính cách đầu độc và chỉ phổ biến những bài viết đúng đắn, giúp ích cho công cuộc chống cộng. Những bài viết đúng đắn, dù hiếm hoi, luôn được loan truyền khắp thế giới. Chẳng hạn như bài thơ "Khép Lại Quá Khứ" của Trần Chiêu Yên được post lên các websites và được đọc đi đọc lại nhiều lần trên các paltalks.

(3) Đối với những bài viết của người QG, nhưng vì phe nhóm, "vô tình" viết những bài một chiều gây chia rẻ trong cộng đồng người Việt chống cộng. Điển hình là loạt bài mới đây của tác giả Trần Văn Thưởng (một sĩ quan trong QLVNCH).Bài viết nầy nhằm đả đảo TT Ngô Đình Diệm (NĐD) và nền Đệ I Công Hoà. Ở đây tôi miễn bàn về nội dung của bài viết. Tôi chỉ nói đến tính cách không hợp thời, không có tác dụng tốt mà còn gây chia rẻ trong cộng đồng người Việt QG. Lý do rõ ràng là trong khối người Việt chống cộng, có kẻ chống chính phủ NĐD, mà cũng có kẻ bênh . Thế nên, sau loạt bài của Trần Văn Thưởng, có kẻ bênh mà cũng có người chống kịch liệt. Kết qủa là : CHIA RẺ . Và câu hỏi đáng đặt ra là ai có lợi trong cuộc tranh biện nầy? Câu trả lời hiển nhiên là: Cộng sản hưởng lợi ! Và công đồng người Việt QG phải thiệt thòi!

Đối với những loại bài như thế nầy, tôi thiết nghĩ là người Việt QG chân chính và có kiến thức cần ra tay để baỏ vệ chính nghĩa và sự đoàn kết của cộng đồng chống lại những bài viết có lợi cho công sản (dù tác giả vô tình hoặc cố ý).

Trong những ngày vưà qua tôi học được rất nhiều từ những người trẻ dấn thân như tác giả Hương Saigon (HSG) và Amie Nguyễn. Những người tuy trẻ, nhưng không khờ khạo hoặc kém kinh nghiệm. Ngược lại, họ có can đảm, kiến thức, và nhiệt tình với quốc gia dân tộc. Họ rất nhạy bén, nhanh nhẹn dấn thân đánh đổ ngay ngụy biện, và tính cách thiên lệch của tác giả, đập tan mối đe doạ cho tình đòan kết của người Việt QG.

Cũng như các độc giả bình thường khác, trước kia tôi từng đọc và cảm thấy bị thuyết phục bởi các tác giả như Lữ Giang, Hà Tiến Nhất, Sơn Tùng, v.v. vì họ "viết có sách mách có chứng". Nghĩa là những gì họ viết đều dựa vào tin tức, sách vở, hoặc do các giới chức tuyên bố. Vì không có thì giờ cũng như không có cơ hội để đọc tất cả mọi tài liệu, tôi nông cạn và hầu như chấp nhận những gì các tác giả nầy viết.

Sau khi đọc một số bài phản luận của HSG, tôi phải thú nhận rằng tôi đã “giác ngộ” . Nhờ những phản luận nầy mà tôi thấy rõ rằng không phải "viết có sách, mách có chứng" là lúc nào cũng đúng và chân thật. Theo ngôn ngữ của tác giả HSG, bài viết của Lữ Giang chẳng hạn, là lối viết “lộng giả thành chân”, và thiên lệch do lực chọn (selection bias -- chọn tài liệu theo lập trường của mình).

Thật vậy, thữ đọc lại một đoạn của Lữ Giang viết trên diễn đàn nầy:

“Trước 30.4.1975, Tổng Thống Thiệu không hề biết Mỹ đang làm gì và Việt Cộng đang làm gì, ngay cả Mỹ đem miền Nam giao cho Trung Quốc từ năm 1972 ông cũng không biết. Ông cứ suy nghĩ và hành động theo cảm tính, ôm chặt “Bốn Không” và nhìn vào số tiền viện trợ Mỹ để quyết định số phận của miền Nam: Mỹ viện trợ 2 tỷ, ta sẽ giữ cả miền Nam. Mỹ rút xuống còn 700 triệu, ta thu nhỏ lãnh thổ lại, chỉ giữ từ Tuy Hoà trở vào .. Ông làm như miền Nam là của Mỹ, ông chỉ là người lính đánh thuê! Kết quả, thi hành những ý nghĩ ngông cuồng và thô thiển của mình, ông đã làm mất miền Nam trong không đầy 40 ngày, gây ra vô số tang tóc cho các chiến sĩ và dân chúng. Trên tỉnh lộ số 7 từ Pleiku về Tuy Hoà và trên các đường từ Huế đến Sai Gòn nơi nào cũng vung vãi đầy xe tăng, đại pháo, súng ống, quần áo trận..., máu, nước mắt và mồ hôi! “ [Lữ Giang]

Tôi xin che'p lại phản luận của HSG:

“Ông Lữ Giang viết một cách trơn tru như một chú học trò lém lỉnh kể lại cho thầy giáo nghe những gì đã xãy ra về một cuộc "uýnh lộn" trong giờ nghĩ. Ông đưa ra những cáo buộc nghiêm trọng mà không có một dữ kiện nào để làm bằng chứng: Nào là "Tổng Thống Thiệu không hề biết Mỹ đang làm gì" nên làm mất MNVN. Nào là "Mỹ đem miền Nam giao cho Trung Quốc từ năm 1972".

Đến nay chưa ai thấy tài liệu đáng tin cậy nào nói rõ ràng là "Mỹ đem miền Nam giao cho trung cộng." Nhưng ông Lữ Giang viết lên đây như là một sự thật hiễn nhiên không phản bác được. Thật ra, Lữ Giang không còn đủ trí để nhận biết mình nói gì, bởi lẽ nếu Mỹ đã giao MNVN cho trung cộng rồi, thì còn gì để TT N.V. Thiệu làm mất?

Ông Lữ Giang có cách viết theo lối "lộng giả thành chân" rất "có hệ thống" . Ông luôn đưa ra những con số, ngày tháng và địa danh thật (như là năm 1973, 2 tỷ , 40 ngày, tỉnh lộ số 7 ...) cũng như chép tài liệu từ báo chí rồi lồng vào đó những khẳng định theo định hướng của ông. Đây là một tiểu xảo tuyên truyền có nghiên cứu đã được áp dụng từ nhiều năm qua nhằm hướng dẫn quần chúng tin tưỡng vào một đường hướng chính trị mà tác giả (hoặc một quyền lực nào đó) mong muốn.” [HSG].

Suy nghĩ cho kỹ, lý luận trên của HSG rất vũng và chính xác. Chính vì thế mà Lữ Giang chưa bao giờ chống đở được. Tam thập lục kế, ông chọn kế “CHẨU (TRỐN)” là lẽ đương nhiên.

Tóm lại, đối luận trên của HSG chống lại bài viết của Lữ Giang là một bằng chứng hùng hồn cho thấy rằng ta nên trực diện với những bài viết của bất cứ ai có hại cho chính nghĩa và cuộc chiến đấu của người Việt QG chống cộng. Nếu những đối luận nầy không làm cho kẻ ác tâm lùi bước, nó cũng giúp cho đọc giả thấy rõ dả tâm của tác giả và không mắc bẩy của kẻ gian.

Trong thời đại truyền thông, một bài viết trong phút chốc có thể được truyền di khắp năm châu. Để mặc cho CS và VGCS tự do tuyên truyền mà không phản bác là một thái độ tiêu cực nguy hiểm.

Lê Tường An

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image

'Lãnh đạo VN cần biết rõ bạn và thù'
Kiến nghị nói Việt Nam nên kết bạn với các nước phương Tây từng là cựu thù

Chính quyền Việt Nam phải giải trình cho người dân rõ về những gì mà họ đã ký kết với Trung Quốc tại Hội nghị Thành Đô cách nay hơn 20 năm, một số vị tướng tá về hưu trong quân đội và công an Việt Nam vừa lên tiếng.

Đây là một trong bốn điểm mà 20 vị tướng tá ký tên vào bản kiến nghị đề ngày 2/9 gửi đến Chủ nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu.

Các bài liên quanĐảng viên lão thành kêu gọi thoát TrungVận động thành lập 'Văn đoàn Độc lập VN'Tiến sỹ Hà Vũ ‘sẽ tiếp tục tranh đấu’
Chủ đề liên quanĐảng Cộng sản, Chính trị Việt Nam, Quan hệ Việt Trung
Trao đổi với BBC, Đại tá Bùi Văn Bồng, người từng là cán bộ cao cấp trong báo Quân đội nhân dân, đã xác nhận tính xác thực của bản kiến nghị này.

Ông Bồng cũng bình luận về những đồn đoán liên quan tới nội dung thỏa thuận giữa hai bên từ Hội nghị Thành Đô.

“Chủ quyền đất nước là của toàn dân chứ không phải của các nhà lãnh đạo Đảng,” ông nói, “Cho nên với cương vị lãnh đạo Đảng mà quyết định vận mệnh, lãnh thổ quốc gia là sai hoàn toàn.”

“Hội nghị Thành Đô vẫn đang là một tấm màn bí mật,” ông nhận định.

“Từ khi hội nghị Thành Đô xong, hầu như đường lối đổi mới của Đảng xoay chuyển hẳn. Trong 24 năm vai trò của Đảng ngày càng yếu, uy tín kém đi.”

Kiến nghị được đưa ra vào lúc này, theo ông Bồng, là nhân lúc Đảng đang chuẩn bị văn kiện cho Đại hội 12 để đóng góp ý kiến cho Đảng.

Ngoài điểm về Hội nghị Thành Đô, các vị cựu tướng tá còn thúc giục giới lãnh đạo cam kết cho điều họ gọi là "không được dùng quân đội và công an đàn áp nhân dân, ghi nhận thỏa đáng sự hy sinh của các thương binhh liệt sỹ trong cuộc chiến năm 1979 với Trung Quốc, và xác định chính xác bạn và thù."

“Chúng tôi (những người ký kiến nghị) muốn có sự đổi mới trong các lãnh đạo sao cho có dân chủ, có lợi cho dân và đúng với bản chất truyền thống của quân đội và công an,” ông Bồng nói.

‘Kẻ thù truyền kiếp’
Image
Quân đội Việt Nam phải trung thành với Đảng theo quy định Hiến pháp
Ông giải thích là những vấn đề nêu lên trong các kiến nghị là ‘bức xúc từ lâu lắm rồi’, nhất là việc công an và quân đội được trưng dụng để ‘đàn áp dân’ trong các vụ cưỡng chế thu hồi đất.

Về kiến nghị xác định rõ ràng bạn thù, ông Bồng nói ông không rõ quân đội Việt Nam hiện nay xác định bạn thù như thế nào nhưng bản thân ông cho rằng ‘Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam vì họ luôn lăm le xâm lược Việt Nam’.

“Pháp với Mỹ là kẻ thù của thời loạn, của hoàn cảnh thế giới nằm trong kế hoạch của các nước tư bản đế quốc một thời,” ông nói thêm.

Hội nghị Thành Đô 1990
Image
Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười thăm Thành Đô, Tứ Xuyên từ ngày 3 đến ngày 4/9 năm 1990, họ cũng hoan nghênh Cố vấn Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng cùng đi.
Bản kiến nghị thu hút được 20 chữ ký của các tướng tá về hưu, đứng đầu là Trung tướng Lê Hữu Đức, cựu cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.

Ngoài ra còn có năm vị thiếu tướng quân đội khác cũng tham gia ký tên, bao gồm các ông Trần Minh Đức, cựu phó tư lệnh Hậu cần ở Thừa Thiên-Huế, Huỳnh Đắc Hương, cựu tư lệnh kiêm chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Lê Duy Mật, cựu tư lệnh kiêm phó tham mưu trưởng Quân khu 2, Bùi Văn Quỳ, cựu phó tư lệnh chính trị Bộ đội Tăng-thiết giáp và Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu chính ủy Quân khu 4, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc.

Đại tá Bồng nói rằng 20 chữ ký này ‘chỉ là sự tập hợp điển hình’ bởi vì các ông ‘không có thời gian kêu gọi vận động mọi người’.

“Trong tâm tư của các cựu chiến binh thì họ ủng hộ đông lắm nhưng khi lên tiếng ủng hộ thì họ sợ sệt thế này thế kia. Có khi bị cho là suy thoái tư tưởng,” ông Bồng nói.

Nguồn BBC

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Image

Tôi muốn biết vì tôi là công dân chứ không phải thần dân của chế độ

Phóng Sự Đặc Biệt: HÁT CHO BIỂN ĐÔNG VÀ QUYỀN CON NGƯỜI
Trần Quốc Việt


(Danlambao) - Bức màn bí mật về mật ước Thành Đô ngay từ đầu đã như tấm vải liệm rủ xuống số phận và tương lai của cả một dân tộc! Một quốc gia sẽ biến mất một cách đau đớn cực kỳ sau quá trình lăng trì chậm kéo dài hàng chục năm. Việt Nam đã chính thức bắt đầu chịu cảnh lăng trì kể từ ngày mật ước Thành Đô được ký kết.

Phong trào "Tôi muốn biết" đã chạm vào điểm nhạy cảm nhất trong lương tri của đa số người Việt trong và ngoài nước: Mật ước Thành Đô. Nó như là vết thương không bao giờ lành trong tâm tưởng chúng ta. Bao nhiêu ngờ vực trỗi dậy như muôn vàn hạt muối chà xát không ngừng vào vết thương lòng ấy. Họ đã bán đứng Việt Nam như thế nào? Tương lai của tổ quốc và của con cái chúng ta ra sao? Ngày nào mật ước Thành Đô chưa được tiết lộ là ngày ấy chúng ta phải sống dở chết dở phần hồn với biết bao nhiêu câu hỏi và ngờ vực trong đầu. Chúng ta chết không thể nào nhắm mắt được chừng nào mật ước Thành Đô không được bạch hóa cho nhân dân Việt Nam biết...


Tôi lớn lên ở Đà Nẵng. Nơi tôi thường đến và luôn luôn muốn đến ở thành phố này là Cổ Viện Chàm nằm ở cuối đường Bạch Đằng chạy dọc theo sông Hàn. Tôi đến để ngắm những bức tượng trầm mặc u buồn - vết tích của một nền văn minh vàng son. Bước đi giữa các bức tượng, nhiều tượng không còn nguyên vẹn, tôi trầm tư mặc tưởng và thấy lòng mình lắng dịu lại, nghe như thoảng đâu đây tiếng vang vọng rì rào trong gió của nền văn minh tưởng chừng như đang muốn trở mình từ quá khứ xa xăm. Rồi trên đường về nhà, tôi vừa đi vừa suy nghĩ lan man về số phận của những người Chàm ngày xưa, về những nghệ sĩ điêu khắc tài hoa ấy, và về nền văn minh của họ. Khi tạc những bức tượng đẹp và thấp thoáng bao nét trầm tư ấy, họ có chợt nghĩ rằng đất nước, nền văn minh, dân tộc họ biết đâu sẽ diệt vong và thế giới mai sau chỉ còn nhìn thấy hình ảnh của nền văn minh đã biến mất qua những bức tượng đá xám gãy vỡ và những tháp Chàm rêu phong đổ nát theo thời gian. Tôi đã muốn biết rất nhiều về nền văn minh Chàm.

Mấy ngày qua hình ảnh những người Việt Nam cầm bảng ghi dòng chữ "Tôi muốn biết" cứ hiện ra trong lòng tôi và khiến tôi liên tưởng đến những tượng Chàm ở Đà Nẵng. "Tôi muốn biết" là tiếng kêu vang lên của những người Việt Nam không muốn số phận của quê hương và tương lai con cháu mình phải bị biến mất như số phận của dân tộc và văn minh Chàm. Bối cảnh lịch sử khác nhau nhưng số phận chung cuộc là như nhau giữa người Chàm và người Việt nếu chúng ta không hành động. Khởi đầu của hành động ấy là muôn vàn tiếng kêu "tôi muốn biết" và kết thúc phải là cuộc cách mạng sinh tồn nếu chế độ tiếp tục nhắm mắt bịt tai trước biển âm thanh và hình ảnh dâng trào "tôi muốn biết" ấy.

Phong trào "Tôi muốn biết" đã chạm vào điểm nhạy cảm nhất trong lương tri của đa số người Việt trong và ngoài nước. Đó là mật ước Thành Đô. Nó như là vết thương không bao giờ lành trong tâm tưởng chúng ta. Bao nhiêu ngờ vực trỗi dậy như muôn vàn hạt muối chà xát không ngừng vào vết thương lòng ấy. Họ đã bán đứng Việt Nam như thế nào? Tương lai của tổ quốc và của con cái chúng ta ra sao? Ngày nào mật ước Thành Đô chưa được tiết lộ là ngày ấy chúng ta phải sống dở chết dở phần hồn với biết bao nhiêu câu hỏi và ngờ vực trong đầu. Chúng ta chết không thể nào nhắm mắt được chừng nào mật ước Thành Đô không được bạch hóa cho nhân dân Việt Nam biết.

Nhà báo kỳ cựu Nayan Chanda phỏng vấn Thủ tướng cộng sản Đỗ Mười trong Dinh Độc Lập tại Sài Gòn vào ngày 11 tháng 2, 1991. Đỗ Mười cùng với Nguyễn Văn Linh và Phạm Văn Đồng là những người dự hội nghị Thành Đô từ ngày 3-4 tháng 9, 1990. Nayan Chanda đã hỏi Đỗ Mười liên tiếp hai lần về các thỏa thuận và hiệp ước trong hội nghị thượng đỉnh Thành Đô nhưng Đỗ Mười chỉ trả lời rất chung chung về quan hệ hai nước Việt Trung ¹. Bức màn bí mật về mật ước Thành Đô ngay từ đầu đã như tấm vải liệm rủ xuống số phận và tương lai của cả một dân tộc!

Nhà báo Nayan Chanda mới đây đã viết bài bàn về chính sách bành trướng của Bắc Kinh. Trong bài viết ấy ông đề cập đến hình thức xâm lăng mới tên "lăng trì" của Trung Quốc đối với các nước lân bang tức "giết chết qua tùng xẻo hàng ngàn lần." ² Một quốc gia sẽ biến mất một cách đau đớn cực kỳ sau quá trình lăng trì chậm kéo dài hàng chục năm. Việt Nam đã chính thức bắt đầu chịu cảnh lăng trì kể từ ngày mật ước Thành Đô được ký kết.

Nhà cầm quyền chắc chắn không cho nhân dân biết về mật ước Thành Đô. Nhưng chúng ta hãy thực thi quyền sinh tồn của người Việt Nam. Chúng ta phải biết tất cả về mật ước Thành Đô. Hàng triệu người Việt Nam hãy cất lên tiếng nói "tôi muốn biết" để nâng cao ý thức của tất cả mọi người về mối hiểm nguy như ngọn giáo treo lơ lửng trên đầu của dân tộc. Nếu cần thiết chúng ta sẵn sàng trả giá cho điều chúng ta muốn biết bằng một cách mạng khởi đi từ lòng yêu nước.

Tôi muốn biết vì tôi là công dân chứ không phải thần dân của chế độ. Tôi muốn biết vì tôi là người Việt Nam! Mẹ Việt Nam ơi! Chúng con ở bên Mẹ để bảo vệ Mẹ không bị cảnh lăng trì.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »


Chủ nghĩa dối trá và lừa gạt


Lê Diễn Ðức

Hôm 30 tháng 8 năm 2014, tại Nhà Hát Lớn Hà Nội người ta làm lễ kỷ niệm 45 năm làm theo di chúc của Hồ Chí Minh.

Bản di chúc đã công bố năm 1969 có chữ ký của ông Lê Duẩn được “chứng nhận” là “chính thức” là một bản chắp vá từ các bản nháp khác nhau vào thời điểm năm 1965 và năm 1968-1969, bỏ hẳn đoạn Hồ Chí Minh viết “Về việc riêng” là yêu cầu hỏa táng sau khi chết.


Vì những mục đích chính trị, người ta đã chỉnh sửa và đã đưa ra công luận một bản di chúc không đúng với ý của Hồ Chí Minh. Ðây là một sự dối trá.

Ngay cả ngày Hồ Chí Minh chết là mồng 2 tháng 9 cũng bị chỉnh thành ngày 3 tháng 9, trong suốt hai mươi năm sau.

Lo ngại xui xẻo cho chế độ, vì cái ngày ông Hồ ra đi vĩnh viễn để “gặp Các-Mác, Lênin,” cũng chính là cái ngày mà 24 năm trước, ngày 2 tháng 9 năm 1945, ông tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một nhà nước cộng sản đầu tiên ở Ðông Nam Á. Sợ rằng, chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam có thể ra đi theo cái chết của ông chăng?

Suy cho cùng, những điều của bản di chúc không trung thực cũng chẳng có gì oan uổng, vì nó giống như bản thân Hồ Chí Minh với nhiều bí ẩn và những vết đen trong cuộc đời.

Hồ Chí Minh là biểu tượng của một nhà chính trị khôn ngoan, đã xây dựng hào quang cho mình từ sự dối trá.

Chẳng phải Hồ Chí Minh quên mình “hết lòng hết sức phục vụ tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.” Thực chất ông có vợ chính thức, bà Tăng Tuyết Minh, nhưng đã không dám nhìn nhận để bà phải đi tìm chồng trong thất vọng và sống cô đơn đến lúc chết. Ông đã làm ngơ (hoặc là tòng phạm) trong vụ giết chết người tình Nông Thị Xuân rồi quẳng ra đường mạo dựng tai nạn giao thông. Ông đã bỏ rơi đứa con trai Nguyễn Tất Trung. Ông lấy bút hiệu Trần Dân Tiên viết bài ca ngợi chính mình, thần tượng hóa chính con người mình. Ông tự xưng là “cha già dân tộc” khi tuổi mới ngoài 50, v.v...

Trong bản di chúc, mong muốn “phe xã hội chủ nghĩa sẽ đoàn kết lại” của Hồ Chí Minh đã trở nên ảo tưởng. Hai mươi năm sau khi ông chết, năm 1989-1991, toàn bộ phe xã hội chủ nghĩa tại Ðông Âu và Liên Xô sụp đổ tan tành.

Năm 2006, Nghị Viện Châu Âu đã phán quyết chủ nghĩa cộng sản là tội ác của nhân loại, gây nên cái chết khoảng 100 triệu người trên thế giới mà phần “đóng góp” của ông có khoảng 200 ngàn người Việt qua chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất. Trong những nạn nhân ấy, có bà Nguyễn Thị Năm, một nhân sĩ yêu nước, từng che giấu, nuôi dưỡng, cán bộ cách mạng. Nhiều cảnh tang thương, bi thảm khác diễn ra, con giết mẹ, vợ đấu tố chồng. Khi báo cáo tổng kết Hồ Chí Minh đã vờ thấm nước mắt hối hận. Ôi! Những giọt nước mắt nghệ thuật của cá sấu!

Sau 45 năm được gọi là thực hiện di chúc của Hồ Chí Minh, ÐCSVN xứng đáng là đệ tử bậc nhất của các thủ đoạn dối trá và lừa gạt.

Hồ Chí Minh từng viết trong di chúc rằng, “Còn non còn nước còn người / Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.” Thế nhưng, thực tế sau 40 năm “thắng Mỹ” nước Việt Nam ra sao?

40 năm là một khoảng thời gian đủ dài để một quốc gia có thể tiến về phía trước. Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai, những nước bị tàn phá và thiệt hại về vật chất và con người nặng nề như Ba Lan, Ðức hay Nhật Bản, cũng với số thời gian này, đã trở thành những nước phát triển, đóng góp đáng kể cho nền văn minh của nhân loại.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam (ÐCSVN), sau 40 năm hòa bình, đất nước mới chỉ vượt qua ngưỡng thấp nhất của thu nhập trung bình (trên 1,000 USD/người). Theo Báo Cáo Phát Triển Việt Nam 2009 của Ngân Hàng Thế Giới, khi mà mức tăng trưởng của Việt Nam còn đạt mức xấp xỉ 10%, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. Có người đã mỉa mai rằng, Việt Nam sản xuất ra nhiều tiến sĩ, giáo sư hơn là ốc vít.

Gần đây, một ủy viên Trung Ương ÐCSVN, phó Ban Tuyên Huấn đã phải cay đắng nhìn nhận:

“Nước ta cùng Hàn Quốc cách đây 50 năm đều trong một hoàn cảnh giống nhau. Vậy mà, hôm nay ở Việt Nam có 90,000 người Hàn Quốc thì họ đều làm chủ! Còn cũng 90,000 người Việt ở Hàn Quốc thì đều làm đầy tớ!”

Huênh hoang, ngạo mạn, tự sướng với sự thay đổi đất nước, nhưng trong bảng xếp hạng “Good Country Index” của Liên Hiệp Quốc năm 2014 về đóng góp cho loài người, Việt Nan chiếm vị trí áp chót 124/125 quốc gia.

Trong 40 năm qua, hàng trăm tỷ đô la đổ vào một đất nước nhỏ như Việt Nam, từ nguồn ngân sách, từ vốn đầu tư phát triển ODA và vốn đầu tư nước ngoài FDI, đất nước không thay đổi mới là chuyện lạ! Nhưng sự thay đổi này trả một giá quá đắt bằng món nợ nước ngoài khổng lồ mà hiện nay tới ngày đáo hạn phải vay khoản mới để trả nợ cũ.

Từ các dự án 30-40% số tiền đầu tư bị thất thoát chảy vào túi riêng của các quan chức do bộ máy tham nhũng thối nát. Tham nhũng “trở thành đường dây” chứ chẳng còn đơn lẻ, từ trên xuống dưới. Xe hơi, nhà lầu sang trọng, tiêu xài hoang phí trở thành cách ăn chơi phổ biến của một tầng lớp quan chức bỗng chốc giàu có và giới làm ăn “đục nước béo cò,” hốt bạc bằng đầu cơ bất động sản, buôn lậu. Số tiền riêng trong két hay trong các tài khoản ở ngân hàng nước ngoài của quan chức và món nợ mà các thế hệ sau phải còng lưng trả, tỷ lệ thuận với mức độ đầu tư để làm đất nước “thay đổi.”

Chủ nghĩa Cộng Sản và hình tượng Hồ Chí Minh thực chất chỉ còn là tấm bình phong che chắn cho một hệ thống chính trị cầm quyền độc đảng.

Những hậu duệ của Hồ Chí Minh trong cuộc chơi quyền-tiền đã biến công nhân, đội ngũ tiên phong của cách mạng, thành giai cấp bần cùng với đồng lương ít ỏi, làm việc quá sức, không có tổ chức công đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi trước sự bóc lột tận cùng của các ông chủ tư bản.

Còn nông dân, giai cấp nòng cốt của cách mạng thì khốn khổ với chính sách nông nghiệp nửa vời, vá víu và quyền sở hữu đất đất đai.

Cũng vì khẩu hiệu “Người cày có ruộng,” “Ðồng bào ai ai cũng có cơm ăn áo mặc” và lòng yêu nước mà người nông dân đã đi theo Việt Minh đánh đuổi thực dân Pháp và theo tiếng gọi của ÐCSVN “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.” Giờ đây họ bị lừa gạt và phản bội đau đớn! Ðất đai, tài nguyên vô giá, bị thâu tóm trong tay một thiểu số cầm quyền nhân danh nhà nước. Họ ban phát cho dân chúng quyền sử dụng đất có thời hạn và có thể thu hồi bất kỳ khi nào cần thiết, bằng bạo lực, thậm chí sử dụng cả côn đồ xã hội đen. Một thứ giai cấp địa chủ, cường hào mới đúng với ý nghĩa của nó ra đời. Từ hai thập niên nay, hàng triệu nông dân trên khắp ba miền bị tước đoạt đất đai oan ức, ăn chực nằm chờ, khiếu nại trong tuyệt vọng, có người lõa thể, tự thiêu hay tự tử để phản kháng vì bất lực trước bất công.

Sau 45 năm “trồng người” theo di chúc của Hồ Chí Minh, xã hội Việt Nam khủng hoảng niềm tin nghiêm trọng, mọi người lao vào cuộc mưu sinh chụp giật, cam phận cộng sinh “sống chung với lũ.” Mọi thứ đều có thể làm giả, từ thực phẩm tới bằng cấp, bất chấp mọi chuẩn mực đạo đức. Ăn cướp, trộm cắp hoành hành khắp nơi, len lỏi cả vào bệnh viện, học đường.

Tất cả là một kho tàng tư liệu của chủ nghĩa dối trá dối trá, lừa gạt, từ con người Hồ Chí Minh, đến bản di chúc và suốt 45 năm ÐCSVN thực hiện nó.

Phải chăng “ác giả ác báo” nên thân xác Hồ Chí Minh bị mổ xẻ, vứt bỏ nội tạng, tẩm hóa chất và cho tới hôm nay vẫn bị đưa ra trưng bày nơi công cộng như một vật thí nghiệm y học, trái với thuần phong mỹ tục đối với người chết của văn hóa Á Ðông?

Mọi thứ được nhào nặn, thổi phồng, vo tròn, bóp méo bởi ÐCSVN, một tổ chức mafia chính trị, “cái tổ chức độc quyền tất cả, bao cấp toàn bộ độc lập, tự do, chính nghĩa, đạo đức, nhân dân, đất nước, chân lý, quy luật rồi miếng ăn, chỗ ở, hôn nhân, ma chay, quyền sống, phận chết cho mỗi hạng người, mỗi con người.” (Trần Ðĩnh - sách “Ðèn Cù”)

__._,_.___

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

TẬP CẬN BÌNH CHUẨN BỊ HẠ BỆ GIANG TRẠCH DÂN

Lê Thọ Bình

Thời gian còn lại của Giang Trạch Dân chỉ còn được đếm từng ngày. Kẻ thống trị hệ thống chính trị của Trung Quốc trong hơn hai thập kỷ qua hiện đang bị điều tra tại chính sân sau của ông ta, thành phố Thượng Hải.
Tin về đoàn điều tra chống tham nhũng của lãnh đạo đứng đầu ĐCSTQ Tập Cận Bình đến làm việc tại Thượng Hải đã được thông báo rộng rãi. Một công bố ngắn gọn vào ngày 11 tháng 8 trên trang web chính thức của Viện kiểm sát tối cao Thượng Hải, cơ quan chịu trách nhiệm việc điều tra và truy tố tội phạm, cho biết cuộc điều tra đang được tiến hành một cách nghiêm túc.

Doanh nhân nổi tiếng Vương Tông Nam, chủ tịch của Tập đoàn Thực phẩm Bright, đã bị bắt vì hối lộ và biển thủ công quỹ. Đó được cho là tội ác sẽ bị xét xử của Vương, nhưng hành vi phạm tội thực sự của ông ta là do có mối quan hệ chặt chẽ với cựu lãnh đạo ĐCSTQ Giang Trạch Dân và con trai của Giang là Giang Miên Hằng.
Thượng Hải là bệ phóng cho tham vọng chính trị quốc gia của Giang Trạch Dân và ông ta đã hình thành cơ sở quyền lực cho mình tại đây.
Giang từng là người đứng đầu Đảng của Thượng Hải từ năm 1985 đến năm 1989. Đối mặt với một phong trào dân chủ mạnh mẽ vào năm 1989, Đặng Tiểu Bình đã rất ấn tượng với cách làm mạnh tay của Giang trong việc xử lý các bất đồng chính kiến ở Thượng Hải, trong khi nhiều vị lãnh đạo ĐCSTQ khác thì đứng bên lề.
Sau khi cách chức Tổng bí thư Triệu Tử Dương vì sự cảm thông của ông đối với sinh viên, Đặng Tiểu Bình đã đưa Giang Trạch Dân đến Bắc Kinh. Sau khi nắm quyền, Giang đã lần theo dấu vết và trừng phạt tàn nhẫn những ai bất đồng chính kiến trong vụ ‘xe tăng’ vào đêm mùng 4 tháng 6.
Sau khi nắm quyền ở Bắc Kinh, Giang cất nhắc những cán bộ không mấy tiếng tăm ở Thượng Hải vào các vị trí quan trọng trong Đảng. Họ hình thành một đội ngũ lãnh đạo chủ chốt để Giang có thể sử dụng để chi phối hệ thống chính trị của Trung Quốc trong hơn 20 năm.

Nhắm mục tiêu vào Giang

Hơn 19 tháng qua, người đứng đầu ĐCSTQ Tập Cận Bình đã thực hiện một chiến dịch chống tham nhũng trên diện rộng, đồng thời đã hạ bệ các đồng minh thân cận nhất của Giang Trạch Dân.
Đỉnh cao của chiến dịch này là việc thông báo công khai cuộc điều tra chính thức về cựu chiến lược gia an ninh Chu Vĩnh Khang vào ngày 29 tháng 7. Dự đoán sự sụp đổ của Chu sẽ đánh dấu hồi kết cho cuộc thanh trừng phe phái đối lập trong Đảng của Tập đã nhanh chóng bị xua tan.
Ngay sau khi có thông báo về Chu, Nhân Dân nhật báo – cơ quan ngôn luận của ĐCSTQ đã công bố một bài bình luận có tiêu đề “Hạ bệ con hổ lớn Chu Vĩnh Khang chưa phải là sự kết thúc của chiến dịch chống tham nhũng”. Bài báo chỉ ra rằng Chu đã được cấp trên nâng đỡ. Ai cũng biết rằng Giang Trạch Dân là người đã cất nhắc Chu.
Mặc dù bài báo đã nhanh chóng bị gỡ bỏ, nhưng vẫn đủ thời gian để được sao chép và lan truyền rộng rãi trên toàn mạng Internet Trung Quốc.
Hai tuần trước đó, Thời báo Đại Kỷ Nguyên đã báo cáo rằng cố vấn hàng đầu của Giang Trạch Dân là Tăng Khánh Hồng đã bị bắt. Nếu chiến dịch chống tham nhũng trở thành một hoạt động càn quét, thì sau đó mục tiêu hợp lý tiếp theo chính là Giang Trạch Dân. Những con hổ lớn khác đều đã bị hạ bệ.
Việc bắt giữ Vương Tông Nam vào tuần trước đã khiến cho Giang bị tổn thất. Nếu Giang không thể bảo vệ Vương tại Thượng Hải, thì sau đó ông ta sẽ bị tước bỏ quyền lực tại thành lũy thâm sâu nhất của mình.
Nếu những động thái vừa qua mới chỉ là màn mở đầu, thì sau khi Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương điều tra hàng ngàn vụ trước đây tại những nơi khác ở Trung Quốc, thì hiện nay nó đang được thực hiện tại Thượng Hải, tạo ra một cuộc điều tra bủa vây từ ngoài vào trong. Ủy ban kiểm tra đang tấn công vào những mắt xích yếu nhất ở ngoại vi để chúng phơi bày các mối liên hệ với trung tâm và sau đó tiến hành từng bước cho đến khi mục tiêu cuối cùng bị bao vây và vô hiệu.

‘Bế tắc’

Theo cơ quan ngôn luận nhà nước Tân Hoa Xã, 85.000 quan chức đã bị điều tra trong vòng 6 tháng qua.
Mặc dù phạm vi điều tra của chiến dịch này rất rộng lớn, tuy nhiên tại một cuộc họp vào ngày 26 tháng Sáu của Bộ Chính trị, Tập Cận Bình đã phàn nàn rằng lực lượng tham nhũng và chống tham nhũng đang ở thế “bế tắc”.
Bốn ngày sau đó có thông báo rằng bốn quan chức cấp cao đã bị thanh trừng trong cùng một ngày: cựu lãnh đạo quân sự hàng đầu Từ Tài Hậu; cựu Chủ nhiệm Ủy ban Quản lý và Giám sát tài sản nhà nước Tưởng Khiết Mẫn, và nguyên phó chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc Vương Vĩnh Xuân; và Lý Đông Sinh, cựu thứ trưởng Bộ Công an và là người đứng đầu phòng chuyên trách đàn áp Pháp Luân Công.
Bất chấp sự thanh trừng mạnh mẽ này, phe của Giang vẫn có những động thái chống cự.
Ngô Phạp, trưởng ban biên tập tạp chí các vấn đề Trung Quốc bằng tiếng Hoa có trụ sở tại Hoa Kỳ, gần đây đã nói với NTDTV rằng quân đội đang tiếp tục theo dõi Quách Bá Hùng, nay đã nghỉ hưu, là một trong những nhân vật được Giang Trạch Dân bổ nhiệm vào vị trí cao trong lực lượng vũ trang Trung Quốc.
Ngô Phạp cho biết “Một số khu vực quân sự, bao gồm cả Quân khu Quảng Châu và Quân khu Bắc Kinh, đã hoàn toàn không nghe theo sự chỉ đạo của Tập Cận Bình. Họ làm theo lệnh của Quách Bá Hùng và phe của ông ta”.
Cuộc chống cự của Quách là theo chỉ thị của phe Giang, bất chấp lệnh từ Trung ương Đảng.
Trong mười năm Hồ Cẩm Đào là người đứng đầu danh nghĩa của ĐCSTQ, đã có một câu nói phổ biến ở Trung Quốc là “một trật tự không bao giờ vượt quá xa cổng ra vào của Trung Nam Hải.” Trung Nam Hải là trụ sở chính và là khu liên hợp lãnh đạo của ĐCSTQ tại Bắc Kinh.
Để Tập Cận Bình được biết đến là người hoàn toàn thống lĩnh ĐCSTQ, ông ta cần phải nhổ tận gốc phe cánh của Giang, cũng có nghĩa là phải hạ bệ Giang.

“Cuộc sống và cái chết”


Nhưng ông Tập chậm chí có một lý do mạnh mẽ hơn để theo đuổi chiến dịch của mình vì kết quả của nó chính là: sự sống còn.
Trong bài phát biểu ngày 26 tháng 6 trước Bộ Chính trị, Tập được cho là đã nói rằng: “Trong cuộc chiến chống tham nhũng, cuộc sống và cái chết và danh lợi là vô nghĩa đối với tôi.”
Tập đã học được bài học về mối đe dọa đối với cuộc sống của mình trước khi chính thức được bầu vào vị trí cao nhất của Đảng. Theo những người trong Đảng, việc phát hiện ra kế hoạch đảo chính chống lại Tập Cận Bình là cùng lúc với những động thái trong chiến dịch chống lại Giang Trạch Dân và phe của ông ta.
Sau khi cảnh sát trưởng Trùng Khánh Vương Lập Quân xin tị nạn tại Lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô vào tháng Hai năm 2012, ông ta đã bị chuyển đến Bắc Kinh. Sau đó Trung ương Đảng biết được rằng Chu Vĩnh Khang và Bạc Hy Lai – cựu Bí thư tỉnh ủy Trùng Khánh – là người Giang đã từng muốn cất nhắc lên vị trí Tổng Bí thư, đã có dự định hạ bệ Tập ngay sau khi ông nhậm chức.
Các mối đe dọa đối với Tập vẫn chưa chấm dứt mặc dù âm mưu đảo chính đã bị vỡ lở. Đại Kỷ Nguyên báo cáo rằng trong khoảng thời gian các nhà lãnh đạo Đảng tập trung tại Bắc Đới Hà vào mùa hè năm 2013, Chu Vĩnh Khang đã từng nỗ lực ám sát Tập với một quả bom được hẹn giờ tại một hội nghị và trong một dịp khác với một cây kim độc khi Tập đến thăm một bệnh viện.
Vào ngày 6 tháng 8, Tạp chí Thế giới (World Journal) bằng tiếng Hoa có trụ sở tại Hoa Kỳ đã đăng bài về những tin đồn được lưu truyền rộng rãi trong quân đội Trung Quốc rằng Quách Bá Hùng đã lên kế hoạch thực hiện một cuộc đảo chính.

Động cơ

Trong khi truyền thông phương Tây đã bắt đầu quan tâm hơn đến cuộc chiến sống còn giữa Tập và Giang, thì các thông tin quan trọng đang dần hé lộ động cơ của cuộc chiến này. Họ cho rằng nền chính trị Trung Cộng đang ở vào thời điểm vô cùng nguy hiểm.
Rõ ràng là nếu Tập thể hiện sự yếu kém của mình trước kẻ thù, ông sẽ bị thua. Nhưng tại sao Giang Trạch Dân cần phải cho rằng Tập là kẻ thù trí mạng của mình?
Câu trả lời cho câu hỏi này nằm ngoài tầm hiểu biết của các phương tiện truyền thông: đó chính là chính sách đàn áp Pháp Luân Công.
Giang Trạch Dân đã cấu kết với Chu Vĩnh Khang, Từ Tài Hậu, Bạc Hy Lai, Lý Đông Sinh và các nhà lãnh đạo hàng đầu khác của ĐCSTQ để thực hiện tội ác tày trời đối với nhân dân Trung Quốc.
Theo văn phòng báo chí của Pháp Luân Công, Trung tâm Thông tin Pháp Luân Đại Pháp, hàng trăm ngàn học viên Pháp Luân Công vẫn đang bị giam giữ kể từ khi Giang phát động chiến dịch đàn áp Pháp Luân Công vào tháng Bảy năm 1999.
Theo thông cáo báo chí vào thời điểm đó, chiến dịch này đã tìm cách nhổ tận gốc môn tu luyện tinh thần truyền thống của Trung Quốc được 100 triệu người dân Trung Quốc tập luyện vào năm 1999. Do đó nó đã thiết lập trạng thái chiến tranh cho chế độ cầm quyền nhằm làm việc trái lương tâm lên 1/13 dân số Trung Quốc, xử lý họ như những tội phạm hình sự khi họ nỗ lực tuân theo các nguyên tắc của Chân Thiện Nhẫn.
Các học viên bị giam giữ thường bị tra tấn và tẩy não. Theo trang web của Pháp Luân Công Minghui.org, 3.776 trường hợp đã được xác nhận bị chết vì tra tấn và lạm dụng. Do khó khăn trong việc tiếp nhận thông tin từ Trung Quốc, số lượng học viên thực tế bị chết được cho là cao hơn nhiều lần.
Ngoài ra, các học viên còn là mục tiêu bị thu hoạch nội tạng cưỡng bức. Trong năm 2011, các nhà nghiên cứu David Kilgour và David Matas, các tác giả của cuốn sách “Thu hoạch đẫm máu” (Bloody Harvest) đã điều tra về hoạt động mổ cướp nội tạng cưỡng bức, và nhà báo điều tra Ethan Gutmann, tác giả của “Sự tàn sát: Giết người hàng loạt, thu hoạch nội tạng, và Giải pháp bí mật của Trung Quốc đối với vấn đề bất đồng chính kiến” (The Slaughter: Mass Killings, Organ Harvesting, and China’s Secret Solution to Its Dissident Problem) ước tính rằng trong những năm 2000-2008, có tới 62.000 học viên đã bị giết để lấy nội tạng. Hiện nay con số này có thể là nhiều hơn hàng chục ngàn.
Giang Trạch Dân và phe của ông ta sợ Tập Cận Bình vì Tập không liên quan đến tội ác chống lại nhân loại này. Có khả năng Tập sẽ chấm dứt cuộc bức hại. Nếu Tập làm như vậy thì sự kêu gọi việc bắt những kẻ có trách nhiệm trong việc này ở Trung Quốc sẽ chiếm áp đảo.
Để tránh phải chịu trách nhiệm, phe Giang Trạch Dân đã tìm mọi cách để giành lại quyền lực, cũng đồng nghĩa với việc cố gắng hạ bệ Tập.

Hệ thống tham nhũng

Tập không phải là lãnh đạo ĐCSTQ đầu tiên sử dụng tham nhũng để tấn công kẻ thù của mình, nhưng trong trường hợp của phe Giang Trạch Dân, chiến dịch chống tham nhũng này không chỉ là một cái cớ. Nó nhắm đến một hệ thống quyền lực chính trị.
Giang Trạch Dân được coi là một tên hề ở Trung Quốc, nhưng ông ta đã biết cách điều hành để trở thành người quyền lực nhất tại Trung Quốc trong hơn 20 năm qua. Bằng cách cho phép tham nhũng ở mọi cấp lãnh đạo của Đảng, Giang đã mua lòng trung thành của cấp dưới đối với ông ta.
Các nhà bình luận về chiến dịch của Tập cho rằng tham nhũng như thể rằng đó đơn giản là cách thức điều hành của ĐCSTQ. Khi làm như vậy, họ đã bỏ qua quy mô tham nhũng trên diện rộng của phe Giang, thực sự vượt xa bất cứ điều gì được biết trước đó.
Các nhà bình luận cũng thường viết một cách khá vô cảm, và thiếu đi mặt cấp bách của vấn đề này đối với người dân Trung Quốc.
Khi người dân Trung Quốc nghĩ về tham nhũng, họ không nghĩ về những chiếc ô tô Audi lấp lánh đi trên đường phố hoặc sự nuông chiều của tình nhân hay những bữa ăn xa hoa.
Họ nghĩ về cuộc sống bên trong những ngôi làng ung thư. Họ nghĩ về thực phẩm nhiễm độc, nước nhiễm độc, và không khí không còn trong lành.
Họ nhớ đến hệ thống trại cải tạo lao động đã gần như chấm dứt hoạt động trước khi Giang lên nắm quyền và làm thế nào mà dưới quyền ông ta số lượng trại cải tạo lại tăng nhiều đến như vậy.
Họ biết về “hệ thống duy trì sự ổn định” – do Chu Vĩnh Khang sử dụng để chống lại các học viên Pháp Luân Công – cướp nhà cửa và trang trại của những người phản đối sự đàn áp này.
Người dân Trung Quốc cũng nhìn thấy một xã hội không còn ràng buộc đạo đức. Họ lướt qua câu chuyện kinh khủng này đến câu chuyện kinh khủng khác trên Internet và tự hỏi, làm thế nào các giá trị đạo đức của dân tộc mình lại suy đồi đến vậy?
Bằng cách này và vô số những cách khác, cuộc chiến chống tham nhũng của Tập hứa hẹn cho người dân Trung Quốc sẽ thoát khỏi sự bất bình nhức nhối.

Hạ bệ Giang

Ý nghĩa lớn nhất của việc khôi phục lại các luật lệ này, bằng việc chống tham nhũng, sẽ là việc hạ bệ chính Giang Trạch Dân.
Khi các cán bộ Đảng thấy rằng Giang đã nằm dưới sự kiểm soát của Tập, thì mạng lưới ảnh hưởng của Giang khắp Trung Quốc sẽ bắt đầu phân rã.
Ông Tập có thể hy vọng sau đó người dân Trung Quốc sẽ có thể tin tưởng vào một ĐCSTQ thuần khiết, nhưng sự tin tưởng của người dân Trung Quốc vào sự hồi sinh của Đảng đã qua rồi.
Chiến dịch của Tập Cận Bình sẽ chấm dứt một kỷ nguyên, nhưng con đường dẫn tới tương lai vẫn chưa rõ ràng.

(Theo Epoch Times)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Mang tiếng

Bùi Bảo Trúc

[img]http://www.danchimviet.info/wp-content/ ... a-đình.jpg[/img]
Cử nhân và Tiến sĩ cầu giấy Ba đình
Thì ra nước ta cũng biết giữ gìn danh tiếng lắm chứ không phải lúc nào cũng nhâng nhâng nháo nháo như kiểu cái thứ chích đít trong rừng Ba Ếch vác cái mặt chó nhảy bàn độc vừa ngu vừa dốt đi làm trò cười mà truyền hình Pháp đã bêu cho cả triệu người coi khi nó xuất hiện cạnh thủ tướng Pháp tại một cuộc họp báo cách đây không lâu.

Một bài báo trong nước mới đây có một bài viết với cái tựa lúc thoạt ngó qua người đọc phải ngỡ ngàng một lúc vì không hiểu tại sao lại có kiểu dùng chữ kỳ lạ như thế. Bài báo viết nguyên văn như thế này: “Ðừng để nước Việt mang tiếng quốc gia nhiều tiến sĩ.”

Ô hay, sau những vụ người Việt mang tiếng ở Nhật, Ðài Loan, Ðại Hàn, Thái Lan ... với những vụ ăn cắp trong siêu thị đến nỗi ở nhiều nơi tại các quốc gia vừa kể người ta đã phải treo bảng viết bằng tiếng Việt cảnh cáo những bàn tay nhám thì nay, Việt Nam lại đang mang thêm một tiếng xấu mới khác nữa hay sao?

Hai chữ “mang tiếng” trong tựa đề của bài báo khiến người đọc ngỡ ngàng. “Mang tiếng” là phải chịu những điều tiếng thường là xấu xa, không tử tế, làm mất danh dự như ăn tham, tục uống trong các tiệm ăn (Thái Lan), ăn cắp trong các tiệm buôn (Nhật, Ðài Loan, Ðại Hàn) mang về nước tiêu thụ (nhờ tay các phi công và chiêu đãi viên Air Vietnam)... Hay vì cách hành xử của nhà nước mà chính Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã phải nói thẳng ra tại cuộc họp với Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội hôm 20 tháng 9 năm 2008, theo đó, ngài rất xấu hổ khi mang thông hành Việt Nam trong những chuyến xuất ngoại.

Nhưng mang tiếng vì quốc gia có nhiều người có bằng tiến sĩ thì hơi khó hiểu. Một quốc gia dân chúng có nhiều bằng cấp, mà lại là những bằng cấp cao, trên cả cấp cử nhân, thì đó phải là điều đáng cho người dân kiêu hãnh chứ tại sao lại là chuyện làm người dân phải mang tiếng?

Theo bài viết của tờ Việt Báo ở trong nước, hiện Việt Nam có khoảng trên 24 ngàn tiến sĩ. So với nhiều nước trên thế giới, đây không phải là con số cao lắm. Nhưng so với các nước trong vùng Ðông Nam Á thì, vẫn theo tờ Việt Báo, Việt Nam là quốc gia có nhiều tiến sĩ nhất. Trong khi đó, ở Mỹ, chỉ tính riêng bằng MBA không thôi, mỗi năm có thêm khoảng 160 ngàn tân khoa. Vậy thì 24 ngàn tân khoa của Việt Nam (tính tất cả, không phải là con số tân khoa MỖI năm) không phải là con số mang lại tiếng tốt. Nhưng cũng không phải là con số khiến cho người trong nước phải xấu hổ hay mang tiếng.


Thế thì tại sao bài báo lại viết rằng nhiều tiến sĩ là chuyện khiến Việt Nam “mang tiếng”? Ðọc thêm mấy dòng sau đó thì thấy ngay. Ngươì viết bài báo đó đã dùng hai chữ “mang tiếng” rất đúng. Mang tiếng là phải. Vì đa số những người có bằng tiến sĩ gần như không được những công trình nghiên cứu sáng chế trong các lãnh vực chuyên môn của họ. Việc nghiên cứu khoa học, theo bài báo, bị coi nhẹ nên không có được bao nhiêu đóng góp nếu không nói rõ là không có một công trình nghiên cứu nào ở tầm cỡ khu vực, nói chi đến tầm cỡ thế giới. Sinh viên tốt nghiệp chỉ lo đi kiếm việc, nhưng với kiến thức tồi tệ của họ, việc đó cũng rất khó. Không ít người phải xin đi lao động ở ngoại quốc, nói trắng ra là đi làm cu li cả ở Phi châu, những nơi văn minh, trình độ thua kém cả Việt Nam như Lybia, như Ghana... Những thứ công việc như thế cũng không giúp họ học hỏi thêm được những kiến thức, kỹ năng mới.

Ðáng nói hơn nữa là hệ thống đại học của Việt Nam rất tồi. Ðại học mở ra khắp hang cùng ngõ hẻm, trường sở nhếch nhác, ban giảng huấn thiếu khả năng. Không một đại học Việt Nam nào lọt được vào danh sách 500 trường đại học giỏi nhất thế giới. Chi tiết này cũng đủ nói lên phẩm chất và giá trị của các trường đại học Việt Nam. Trong khi đó, các nước Ðông Nam Á không có nhiều tiến sĩ như Việt Nam như Thái Lan, Indonesia cũng có đại học được ghi trong danh sách 500 đại học theo bảng xếp hạng của QS World University Rankings năm 2014. Ðó là chưa nói tới các đại học Hàn Quốc, Hương Cảng, Singapore...

Mà đó là mới nói tới các đại học có thật, còn các đại học như đại học trong rừng mà Ba Ếch nói phét là tốt nghiệp cử nhân luật khoa hay những thứ trường cấp cho bọn đười ươi để khoe nhắng lên là giáo sư tiến sĩ thì còn khiếp đảm đến đâu nữa. Ngoài ra, còn bằng mua, bằng giả bán đầy đường, bằng tiến sĩ y khoa cũng rao bán như ở đại học Thái Nguyên...

Hay là tại vì thế mà có bằng cao học nên mới ... “mang tiếng” như bài báo phải lo ngại và viết như tờ Việt Báo số đề ngày 27 tháng 3 năm 2014 mà người ta vẫn còn đọc được trong Internet?

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Kinh tế dối trá

Nguyễn-Xuân Nghĩa



Những lý luận nhảm nhí dẫn tới tiêu vong
Một nhân vật Hoa Kỳ đã có lời phát biểu đáng suy ngẫm:

“Tôi phải nghiên cứu chính trị và chiến tranh, để các con tôi có thể được tự do học hỏi toán pháp và triết học, địa dư và lịch sử thiên nhiên, kiến trúc hải thuyền và kỹ thuật hải vận, thương mại và canh nông - ngõ hầu đời con của chúng có cái quyền được nghiên cứu hội họa, thơ văn, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc, thêu dệt và nghệ thuật đồ sứ.”

Sinh vào năm 1735 và mất năm 1826, John Adams không chỉ nghiên cứu về chính trị. Ông là nhà lãnh đạo thuộc lớp “Quốc Phụ” và là tổng thống thứ nhì của Mỹ. Lời phát biểu đáng chú ý ở vài chi tiết, có và không:
Về chuyện “có,” hai lần John Adams nhắc đến “kiến trúc.”

Thế hệ của ông là những người đi làm cách mạng để giành độc lập nên phải học hỏi và vận dụng cả chính trị lẫn quân sự. Nhờ vậy mà thế hệ nối tiếp, trong đó có con trai ông là John Quincy Adams sau này cũng làm tổng thống Hoa Kỳ, được quyền tự do học hỏi về kiến trúc hải thuyền (naval architecture). Ðấy là một bộ môn kết hợp cả chiến tranh cho hải quân, lẫn khoa đóng tàu và thương mại hàng hải. Mục tiêu là để tới đời thứ ba, các con cháu mới được quyền nghiên cứu về kiến trúc, một ngành học rất gần với nghệ thuật. Họ kiến trúc cho kiến trúc, đó là sáng tạo...

Ðiều “có” trong lời phát biểu này là trình tự thăng tiến của quyền tự do.

Thế hệ đầu tiên đi vào đấu tranh là để giành được quyền học hỏi cho thế hệ nối tiếp. Việc học hỏi ấy mở từ quân sự để bảo vệ an ninh qua hàng hải để phục vụ đời sống, hầu thế hệ thứ ba có thể tự do nghiên cứu về kiến trúc hay thi ca, hội họa hay thêu thùa... Quyền sáng tạo khởi đi từ tự do, và xứ sở chỉ có tự do khi giải quyết được bài toán ban đầu.

Then chốt nhất là bài toán chính trị.


***


Ðọc cuốn “Ðèn Cù” của tác giả Trần Ðĩnh, người viết nhớ John Adams và trình tự thăng tiến của các thế hệ từ thời đấu tranh đến xây dựng để tiến tới quyền tự do mơ chuyện viển vông cho nghệ thuật vì nghệ thuật.

Nhớ đến ba vòng xoay lên của John Adams thì cũng biết được ba vòng xoáy xuống vì chính trị đốn mạt. Nếu trong đấu tranh có thể thủ tiêu đối thủ chính trị, cải cách ruộng đất hay truy diệt trí thức thì kết cuộc về nông tang là chuyện tang thương, về sáng tạo là sự nhắm mắt, hoặc thậm chí chẳng nhíu lưỡi thì “nhíu nhìn” - chữ của Trần Ðĩnh.

Còn về hàng hải, thế hệ đốn mạt thứ ba cho ta Vinashin phá sản và Hải Quân Việt Nam ngơ ngác thúc thủ trước giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc...

John Adams là đại trí thức và tranh đấu cho một nền chính trị sau này có thể đảm bảo quyền tự do cho mọi người, kể cả trí thức và nghệ sĩ. Những gì xảy ra tại Việt Nam từ 90 năm nay lại xoay theo hướng khác, và trí thức cùng nghệ sĩ là thành phần bị đầy đọa nhiều nhất.


***


Chúng ta trở lại một điều “không” trong lời phát biểu của John Adams.

Nhân vật lỗi lạc này nói đến quyền tự do nghiên cứu về toán học, triết lý, về địa dư, lịch sử, cho tới kiến trúc, thi ca, hội họa và cả nghệ thuật điêu khắc hay dệt thảm, v.v... vậy mà chẳng thấy ông nói gì về... kinh tế. Chỉ vì kinh tế cũng là chính trị, nội dung của cột báo định kỳ này.

Chính trị, như một cách diễn tả khác của Khổng Tử, là làm cho ngay ngắn. Nền tảng đầu tiên cho cả xã hội mà được ngay ngắn thì quyền tự do học hỏi và sáng tạo mới được phát huy theo viễn kiến lý tưởng của John Adams. Nếu vậy, tại sao ông không nhắc tới kinh tế, hay kinh tế chính trị học, là khái niệm đã có trong thời đại của ông?

Phải chăng vì đấy là môn học quá khó? Nhà vật lý thời danh của thế kỷ 20 là Max Planck có lần nói với kinh tế gia nổi tiếng John Maynard Keynes rằng ông cũng có lúc muốn học về kinh tế mà về sau phải bỏ là môn quá khó. Có lẽ ông chỉ muốn nói cho vui, hay cho bạn mình vui mà thôi.

Nhưng quả rằng nếu ai cũng có thể học về kinh tế, khi hành về kinh tế thì sợ đời lại khác. Vì khoa kinh tế cũng chứa đầy chân lý nhảm nhí, hoặc bị bẻ queo để phù trợ chính sách nhảm nhí của chính trị.

Nhảm nhất là “Kinh tế Chính trị học Mác-Lênin,” một môn học thuộc diện khảo cổ về loài tuyệt chủng, hay trong các Trường đảng của những đảng Cộng sản chỉ còn đếm được bằng vài ngón của nửa bàn tay. Nhảm nhì là “kinh tế học xã hội chủ nghĩa,” theo định hướng nhà nước, với màu sắc Trung Hoa, Ba Ðình hay Venezuela...

Tại sao một bộ môn có vẻ khoa học mà lại có thể đưa tới áp dụng nhảm nhí và gây phá sản, hoặc hiện tượng “sản nhập” thay vì sản xuất?

Lý luận nhảm nhí thật ra không phải là chuyện điên khùng. Nó khởi đi từ những tư tưởng có vẻ hợp lý và nghe được. Nếu không thì đã chẳng được cái mẻ khoa học tráng sơ ở bên ngoài và được nhiều chính khách áp dụng với khẩu hiệu bùi tai. Nhưng xâu chuỗi lý luận ấy thiếu mất vài mắt xích - và thành lý luận nhảy cóc.

Mắt xích bị thiếu đầu tiên - vi thiếu nên ít ai thấy! - chính là định nghĩa. Không có định nghĩa thì nhân dân hay giai cấp có thể hòa làm một và đảng của một giai cấp có thể cai trị toàn dân. Không định nghĩa thì “cải tạo” là xóa rồi mới xây, mà xây không nổi nên sau cải tạo mới là khủng hoảng. Thiếu định nghĩa nên “địa tô” mới là đấu tố, điền chủ mới bước xuống hố chôn người, “công bằng” mới thành cào bằng. Và mọi người đều thành vô sản dưới quyền cai trị của một thiểu số đang là đại gia phe phẩy sau khi đảng ta đã “đổi mới.”

Ðịnh nghĩa của đổi mới hay định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Ðấy là một bí mật quốc gia của hệ thống lý luận nhảm nhí của kinh tế.

Cuốn sách của Trần Ðĩnh vẽ lại chân dung u ám của kinh tế chính trị học Mác-Lênin khiến lãnh đạo thời nay ở Hà Nội... yên tâm. Vì so với thời xưa được Trần Ðĩnh viết lại thì họ có vẻ khá hơn cha anh trong đảng. Họ có thể nhét vào đầu chúng ta cái lý luận nhảm nhí đó về kinh tế thời nay.

Mà không chỉ có tại Trung Quốc hay Việt Nam, lý luận nhảm nhí về kinh tế cũng xuất hiện - và tung hoành - trong các nước có dân chủ, kể cả Hoa Kỳ.

Nhảm nhí như lý luận về mức lương tối thiểu pháp định đang được chính trường Mỹ thổi lên với sự cổ động om xòm của các nghệ sĩ màn bạc. Cái mắt xích bị thiếu là “hậu quả bất lường.”

Chính khách viện dẫn mục tiêu cao đẹp của biện pháp mà bất chấp hậu quả không lường được về kinh tế là càng làm giới trẻ và những người nghèo hoặc thiếu tay nghề càng khó kiếm việc. Lãnh tụ các nghiệp đoàn thiên tả đều biết vậy mà lại ồ ạt chi tiền vận động không vì quyền lợi công nhân viên. Họ trục lợi nhờ biện pháp đó.

Vì sao lại có nghịch lý ấy thì nhiều người không hiểu, nhất là trong giới truyền thông!

Kỳ khác ta sẽ tìm hiểu tiếp.


***


Ở đầu dòng, bài kinh tế này khởi sự với John Adams. Xin kết thúc cũng với John Adams, một trong những nhà sáng lập ra nền dân chủ Hoa Kỳ.

Nhân vật uyên bác này vẽ ra giấc mơ lý tưởng về chính trị, nhưng chẳng là người hoang tưởng khi nhắc rằng trong lịch sử ông chưa thấy một nền dân chủ nào mà không tự sát. Nền dân chủ có thể tiêu vong không vì nạn động đất hay ngoại xâm, mà vì tự sát khi áp dụng lý luận nhảm nhí.

Thí dụ thời sự là chuyện Argentina vỡ nợ. Ðầu thế kỷ trước, xứ này thuộc về 10 quốc gia giàu nhất thế giới.

Kinh tế vốn không dối trá, nhưng lý luận nhảm nhí về kinh tế khiến xứ này lụn bại dần.

Lên tới trình độ ấy mà còn tuột dốc thì lý gì đến Việt Nam, vốn chưa leo khỏi cái hố của đảng.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Obama sẽ làm gì ở Syria?

Ngô Nhân Dụng

Sau khi nói chuyện với dân Mỹ vào ngày Thứ Tư, 10 Tháng Chín, 2014, Tổng Thống Barack Obama có vẻ nắm được tất cả các quân bài tốt trong tay để đối phó với lực lượng Quốc Gia Hồi Giáo, ISIS hay còn gọi là ISIL, ở Iraq và Syria. Trong nước, các lãnh tụ Quốc Hội đều đồng ý, đa số dân chúng ủng hộ (63%). Ở nước ngoài, các nước Á Rập hoan nghênh và hứa đóng góp, các nước lớn ở Châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ hỗ trợ, Iran im lặng không chống. Chỉ có Nga và chính phủ Syria phản đối, tố cáo Mỹ hành động phi pháp. Sau khi Nga đã đem xe tăng và đại pháo vào Ukraine thì những lời lẽ của ông Putin không được ai chú ý.

Nhưng sau những hình ảnh tốt đẹp bên ngoài đó, ông Obama sẽ phải trả lời những câu hỏi căn bản sau đây: Ðối nội, việc bỏ bom lực lượng ISIL có cần được Quốc Hội chính thức cho phép hay không? Cuộc hành quân này có thể sẽ kéo dài, và sau cùng chính phủ Mỹ sẽ phải làm gì với chính quyền Bashar Assad tại Syria? Ðối ngoại, nước Mỹ sẽ lấy danh nghĩa nào khi can thiệp vào cuộc nội chiến tại một nước như Syria? Hiện nay các nước trong Liên Ðoàn Á Rập và Iran đều đồng ý đánh ISIL, nhưng sau này tới lúc phải quyết định số phận chính quyền Assad họ có thể sẽ bất đồng ý kiến với nhau. Cho nên, dù muốn hay không, Tổng Thống Obama sẽ phải quyết định ngay bây giờ: Sẽ làm gì với chế độ Assad? Quyết định này nằm trong chính sách chung của nước Mỹ đối với cả vùng Trung Ðông; trong đó là các mối bang giao giữa Mỹ và các đồng minh như Israel, Á Rập Saudi, Jordan; giữa Mỹ với các nước lớn như Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập và tất nhiên cả Iran.

Tất cả các câu hỏi trên cho thấy ông Obama đang đứng trước một thử thách lớn về ngoại giao và nội trị, một thử thách quyết định có thể đánh giá hai nhiệm kỳ tổng thống của ông. Ông phải làm sao thuyết phục Quốc Hội Mỹ về chính sách tổng quát đó, vì các đại biểu không thể ký một ngân phiếu trắng cho Tòa Bạch Ốc.

Trong bản thông điệp ngày 10 Tháng Chín, ông Obama nói sẽ “làm giảm khả năng (degrade) và sau cùng sẽ tiêu diệt (destroy) ISIL.” Câu này khá mơ hồ, nhưng các lãnh tụ hai đảng trong Quốc Hội Mỹ không ai phản đối, vì họ không dám nói ngược với dư luận dân chúng Mỹ đang phẫn nộ sau cảnh phiến quân giết hai ký giả Mỹ một cách dã man. Năm ngoái, ông Obama đã dự tính dùng hỏa tiễn (cruise missiles) đánh vào kho vũ khí hóa học của chính quyền Assad, nhưng sau không làm vì biết không đủ đa số trong Quốc Hội Mỹ cho phép.

Theo luật pháp ông tổng thống không thể đưa quân can thiệp ở nước ngoài quá 60 ngày nếu không được phép Quốc Hội. Ðể biện minh việc đánh ISIL, ông Obama đã dựa trên quyết định của Quốc Hội Mỹ thường gọi là AUMF 2001 và AUMF 2002 (AUMF viết tắt Authorizations for the Use of Military Force), khi Quốc Hội cho phép cựu Tổng Thống George W. Bush tấn công tổ chức khủng bố “al-Qaeda và đồng lõa” tại Afghanistan và Iraq. Nhưng ISIL không phải là al-Qaeda. Tổ chức al-Qaeda đã khai trừ ISIL, và hai bên bắn giết nhau thật sự khi quân ISIL đánh nhóm al-Nusra Front tại Syria, mặc dù lãnh tụ al-Qaeda, Bác Sĩ Ayman al-Zawahiri yêu cầu ngưng.

Cho nên ông Obama không thể né tránh không yêu cầu, mà Quốc Hội Mỹ cũng không thể né tránh không biểu quyết một AUMF mới, nói rõ tên ISIS hoặc ISIL thay chữ al-Qaeda (chúng tôi dùng ISIL vì tên gọi tắt này được Liên Ðoàn Á Rập chính thức sử dụng). AUMF 2014 có thể viết đủ mơ hồ để không lộ rõ ý định của chính quyền Mỹ đối với chế độ Assad tại Syria, tránh các phản ứng bất lợi quốc tế sớm quá. Quốc Hội có thể gài thêm một điều khoản giới hạn về không gian địa giới và thời gian, thí dụ sau hai năm phải được tái tục (sunset clause) để ngăn tổng thống lạm quyền. Vì trong tình trạng hiện nay, quyết định đánh ISIL của ông Obama không có giới hạn nào, cả địa lý lẫn thời gian. Quốc Hội và dân chúng Mỹ sẽ không thể chấp nhận tình trạng đó quá lâu.

Trên mặt ngoại giao, Ngoại Trưởng John Kerry đã được sự ủng hộ của các nước Á Rập như Saudis, Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar và United Arab Emirates, cũng như Egypt, Iraq, Jordan và Lebanon. Ông Kerry tuyên bố các nước Á Rập sẽ đóng vai trò dẫn đầu (leading role) trong liên minh chống ISIL. Nhưng dẫn đầu nghĩa là gì?

Thực ra, các nước trên chỉ hứa hẹn ngăn chặn không cho các công dân của họ đi theo ISIL, ngăn chặn các nguồn tài trợ cho ISIL, công khai bác bỏ các lý thuyết cực đoan của ISIL khi giải thích thánh luật Hồi Giáo. Ngoài ra, họ cũng hứa sẽ giúp các quốc gia đang bị ISIL đe dọa (Iraq, Lebanon, Jordan, và cả Thổ Nhĩ Kỳ); hứa sẽ bắt đưa các người theo ISIL ra tòa. Không thấy nước nào nói đến việc gửi quân đánh ISIL, cũng không nói sẽ cho máy bay oanh tạc. Chiến dịch đánh bom chỉ một mình nước Mỹ lo, vì chính phủ Ðức đã nói sẽ không dự, chính phủ Anh còn đang cứu xét (chắc sẽ tham gia). Ðối với chính phủ Pháp, người ta được nghe Thủ Tướng Haidar al-Abadi tiết lộ Pháp sẽ đánh bom quân ISIL ở Iraq, trong lúc Tổng Thống Francois Hollande đang thăm Baghdad. Không Quân Mỹ sẽ phải cất cánh từ khu tự trị của người Kurd trong nước Iraq khi đi đánh quân ISIL tại Syria, vì chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ từ chối không cho xuất phát từ nước họ. Chính quyền Mỹ thông cảm vì hiện có 50 người Thổ bị quân ISIL bắt giữ sau khi họ chiếm thành phố Mosul ở Iraq tháng trước.

Nhưng không một cuộc chiến tranh nào chỉ dùng không lực mà có thể hoàn tất. Tổng Thống Obama đã lảng tránh vấn đề then chốt này. Sau khi Không Quân Mỹ tiêu diệt một cứ điểm của ISIL tại Syria rồi, ai sẽ vào đó chiếm đóng? Tất nhiên, ông Obama không muốn giúp đạo quân Syria trung thành với nhà độc tài Bashar Assad.

Vì vậy, chính phủ Mỹ phải giúp cho các lực lượng kháng chiến chống Assad khác, miễn không quá khích như ISIL và al-Qaeda. Trong hơn ba năm nội chiến ở Syria, các lực lượng này rất yếu vì họ không lôi kéo được những thanh niên cuồng tín, như nhóm al-Nusra Front hoặc ISIL. Chính quyền Obama đã không giúp họ hết lòng vì trong nội bộ họ chia rẽ, các thủ lãnh phần lớn sống an toàn ở nước ngoài. Bây giờ tình hình có thể thay đổi, với sự tham dự của các nước Á Rập, đặc biệt là vương quốc Á Rập Saudi.

Hiện nay, theo ước tính của trung ương tình báo CIA, nhờ các chiến thắng tại Iraq quân ISIL đã gia tăng gấp đôi trong ba, bốn tháng vừa qua, hiện có từ 20 đến 31 ngàn người. Muốn chống lại họ, cần một đạo quân tương đương trên mặt đất, Syria sẽ là bãi chiến trường cho ba phía: quân ISIL, quân đội của Assad, và một lực lượng thứ ba, dưới danh nghĩa mới. Việc huấn luyện đám quân này còn tùy thuộc việc chấp nhận ngân khoản 500 triệu Mỹ kim của Quốc Hội Mỹ.

Chính phủ Obama cần thuyết phục thế giới rằng việc can thiệp vào Syria, và sau cùng là việc lật đổ chế độ Assad là một hành động có chính nghĩa, do các nước Á Rập chủ trương và “đóng vai chính.” Cho nên, các nước Á Rập phải góp người vào đạo quân “giải phóng” này, dù chỉ góp tượng trưng. Liên minh này không cần xin phép Liên Hiệp Quốc. Nước Qatar và các hầu quốc United Arab Emirates đã cho quân tham dự vào cuộc chiến lật đổ nhà độc tài Moammar Gadhafi tại Libya năm 2011, cùng với Mỹ và các nước Châu Âu. Hiện nay quân Lebanon đang đánh nhau với quân ISIL xâm nhập ở biên giới. Mỹ đã viện trợ vũ khí cho chính quyền Lebanon, Hoàng Gia Saudi đã giúp tiền, tuy vẫn có một lực lượng Hezbollah từ Lebanon đang giúp quân đội Assad đánh ISIL. Các nước Á Rập đang cộng tác với Mỹ đều theo giáo phái Sun Ni trong khi chế độ Assad dựa trên một thiểu số Alawites thuộc phái Shi A; cho nên họ cũng không ngại ngần lật đổ Assad. Trong bản thỏa hiệp của các nước Á Rập họp tại Jeddah, Á Rập Saudi vừa qua, các nước đã hứa sẽ tham dự vào hành động quân sự, nhưng chưa nói rõ rệt.

Hành động tham gia của Saudi quan trọng nhất, vì họ đang cho phép CIA huấn luyện đạo quân chống cả ISIL lẫn Tổng Thống Bashar al-Assad trong lãnh thổ vương quốc. Họ sẵn sàng góp một ngân sách đủ lớn để nuôi dưỡng, tiếp tế cho đạo quân sau này. Ông hoàng Saud al-Faisal, ngoại trưởng Saudi đã tuyên bố: “Việc hỗ trợ của vương quốc không có giới hạn nào. Vương quốc quyết tâm tiêu diệt tai họa này.” Chính nhóm ISIL cũng công khai nói muốn lật đổ hoàng gia Saudi cùng các chính quyền Á Rập khác.

Cuối cùng, liên quân Mỹ và các nước Á Rập sẽ phải lo một điều còn lại, là phản ứng của các quốc gia đã hỗ trợ chế độ Assad. Trong ba năm nội chiến vừa qua, Assad được hai đồng minh này giúp tiền bạc, vũ khí, và nhân lực.
Nhưng hiện nay ông Putin còn đang lo đối phó với các nước Âu Châu và Mỹ tại Ukraine, kinh tế Nga đang suy yếu, ông ta sẽ không còn sức để tiếp tục bảo vệ một khách hàng mua vũ khí trong khi chính khách hàng đó đang khánh tận. Ngày hôm qua, các nước Châu Âu đã công bố các biện pháp cụ thể cấm vận kinh tế đối với Nga, và Mỹ ủng hộ ngay. Ngoại Trưởng Mỹ Kerry nêu sự kiện Nga đã chiếm Crimea và tiến quân vào Ukraine để bác bỏ lời tố cáo của Nga rằng Mỹ can thiệp vào Syria là trái với luật pháp quốc tế.

Iran đã tiêu phí hàng tỉ Mỹ kim để hỗ trợ chính quyền Assad. Nhưng hiện nay Iran đang cùng với Mỹ đối phó với một kẻ thù chung là ISIL. Vì vậy, Iran không phản đối mà còn hoan nghênh việc máy bay Mỹ trở lại Iraq đánh quân ISIL. Việc tiếp viện của Iran cho Assad còn đang gặp khó khăn vì những “đường mòn” gửi quân và vũ khí qua Iraq đã mất sau khi quân ISIL chiếm đóng một phần ba lãnh thổ của cả hai nước này, trong đó có vùng biên giới.

Cả Nga lẫn Iran không thể làm gì để cứu chế độ Assad trong thời gian tới. Chính phủ Mỹ sẽ được rộng tay hành động, nếu có quyết tâm xếp đặt một giải pháp chính trị cho xứ Syria, sau khi tiêu diệt quân ISIL. Tổng Thống Barak Obama chưa nói gì về giải pháp chính trị đó mà chỉ nói tới mục tiêu quân sự là tiêu diệt quân ISIL. Có thể ông tránh không nói mục tiêu xa này vì không dám đưa ra trước quốc hội và dân Mỹ một tham vọng quá lớn, khó được dư luận dân chúng chấp thuận. Nhưng ai cũng hiểu rằng việc đánh quân ISIL chỉ để tiêu diệt họ sẽ không có ý nghĩa nào cả nếu chỉ giúp cho chính quyền Assad càng thêm vững mạnh.

Việc tiêu diệt quân ISIL sẽ khó khăn và lâu dài, vì đó là một đạo quân cuồng tín. Nhưng việc lật đổ chế độ Assa có thể dễ và nhanh chóng hơn. Assad có thể bị lật đổ dưới hình thức đảo chính hay bạo loạn sau khi thất trận. Khi đó thì chính nhóm ISIL sẽ suy yếu, vì mất một nguyên nhân tồn tại. Người Syria theo ISIL vì họ thuộc phái Sun Ni và bị ức hiếp từ nửa thế kỷ nay. Một chính quyền mới ở Syria tụ họp được người theo phái Sun Ni, người Thiên Chúa Giáo, và cả phái Alawites, sẽ tước bỏ vũ khí tuyên truyền mạnh nhất của quân ISIL.

Chính phủ Mỹ có thể nhân Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc trong tháng tới đề nghị một giải pháp chính trị cho Syria, trong đó đưa việc chống quân ISIL lên hàng đầu. Mặc dù trong Hội Ðồng Bảo An, Nga và Trung Cộng sẽ phản đối chính sách lật đổ Assad, nhưng tại đại hội đồng thì họ khó lôi cuốn được đa số khi mục tiêu nêu ra chỉ là tiêu diệt nhóm ISIL.

Ông Obama có thể nhân cơ hội này chứng tỏ chính quyền của ông và đảng Dân Chủ có khả năng quyết định mạnh trong chính sách đối ngoại. Ðó cũng là một cách vận động trong cuộc tranh cử bầu Quốc Hội Mỹ năm nay.

Post Reply