Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa - người tù bất khuất trở về trong chiến thắng

Danlambao -


Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa - người bị chế dộ CS kết án nặng nhất trong đợt trấn áp hồi năm 2008 sẽ ra tù vào ngày 11/9/2014,
sau khi mãn hạn bản án 6 năm tù giam.

Nếu không có gì thay đổi, ông Nghĩa sẽ bị công an trại giam An Điềm (Quảng Nam) áp giải lên xe đưa về nhà riêng tại Hải Phòng
để ‘bàn giao’ cho địa phương.

Theo bản án được tuyên vào năm 2009, nhà văn 65 tuổi này sẽ tiếp tục bị án quản chế 3 năm tại địa phương,
một hình thức giam lỏng tại gia, cấm đi khỏi nơi cư trú.

Nhà dân chủ tiên phong

Image
Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa
Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa được xem là một trong những gương mặt tiên phong của Phong trào Dân chủ Việt Nam. Ông cũng là thành viên ban điều hành của khối 8406 - một tổ chức chính trị được thành lập vào năm 2006 góp phần mở ra những vận hội lớn đối với cuộc đấu tranh đòi tự do, nhân quyền cho nhân dân Việt Nam.

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa sinh năm 1949, trong một gia đình được cho là có nhiều ‘truyền thống cách mạng’ tại Nghệ An. Từ năm 1967 - 1970, ông được đưa đi học ngành cơ khí tại Tiệp Khắc.

Trong thời gian này, các cuộc cải cách Mùa xuân Praha bùng nổ dưới chế độ cộng sản Tiệp Khắc đã dẫn đến những thay đổi lớn đối với ông, một người trước đó luôn tin vào chủ nghĩa cộng sản.

Sau khi về nuớc, ông làm vịệc cho một nhà máy cơ khí tại Hải Phòng và bắt đầu viết văn. Ngọn lửa đấu tranh vẫn tiếp tục cháy bỏng trong trái tim của người nhà văn đa cảm.

Nhiều tác phẩm văn xuôi, thơ của ông đã đuợc xuất bản trong nước và được độc giả đón đọc. Nổi tiếng nhất là truyện ngắn "Hai Nửa Vỡ" và loạt bài phóng sự về người Việt lao động ở nuớc ngoài.

Không lâu sau, các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị cho là ‘nhạy cảm’ nên bị ngưng đăng tải.

Từ năm 2000, ông bắt đầu cuộc hành trình mới trên con đường đấu tranh, ông gửi các bài viết thể hiện quan điểm chính trị trên trang Talawas.

Năm 2006, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa chínhh thức công khai tuyên bố tham gia vào cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.

Năm 2007, giữa lúc các cuộc đàn áp ngày càng gia tăng nhắm vào những người bất đồng chính kiến, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bất chấp nguy hiểm đã chính thức tham gia vào ban điều hành khối 8406 đại diện cho miền Bắc.

Kiên cường trước bạo quyền

Các năm 2007, 2008 là giai đoạn mà Phong trào Dân chủ Việt Nam bị đàn áp khốc liệt sau sự ra đời của khối 8406.

Hàng loạt những người đấu tranh bị đàn áp, bắt bớ trong giai đoạn này. Điển hình là vụ bắt Linh Mục Nguyễn Văn Lý (người sáng lập và thành viên Ban điều hành khối 8406), các ông Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân... Đặc biệt là vụ mất tích bí ẩn của nhà họat động công đoàn Lê Trí Tuệ.

Hàng chục người đấu tranh khác tiếp tục bị lực lượng công an truy lùng và quản thúc tại nhà riêng.

Trong thời điểm này, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đã phải đối mặt với những nguy hiểm lớn nhất trong cuộc đời. Cán bộ tổng cục tình báo quân đội (tổng cục 2) trực tiếp đến nhà riêng để đe dọa ông, họ nhắc lại vụ tai nạn bí ẩn nhắm vào nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ nhằm khiến ông khiếp sợ phải từ bỏ con đường đấu tranh.

Dù vậy, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa vẫn tiếp tục tỏ ra kiên cường và bất khuất trước bạo quyền. Tên tuổi của ông liên tục được truyền thông nhắc đến bởi những hoạt động hết sức dũng cảm và hiệu quả, cùng với hai người cộng sự khác tại Hải Phòng là nhà đối kháng Vũ Cao Quận và cô Phạm Thanh Nghiên.

Khẩu hiệu do nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa cùng những người bạn treo tại cầu vượt Lạch Tray - Hải Phòng hôm 16/8/2008.

Tháng 6 năm 2008, ba nhà hoạt động này đã viết đơn yêu cầu UBND Thành phố Hà Nội về việc tổ chức cuộc biểu tình đòi hỏi chính phủ có biện pháp đẩy lùi lạm phát, cải thiện kinh tế vốn đang bị khủng hoảng.

Tất nhiên, yêu cầu này không được chấp thuận. Họ tiếp tục khiếu nại và khởi kiện. Việc làm này được đánh giá là một “sáng kiến táo bạo chưa từng có” vào giai đoạn đó.

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa không chỉ viết, mà ông còn là một người hành động. Ông xuất hiện trong hầu hết các hoạt động đường phố, đặc biệt là các cuộc biểu tình chống Trung cộng. Ông từng có mặt trong cuộc biểu tình yêu nuớc đầu tiên truớc đại sứ quán Trung cộng ngày 9 tháng 12 năm 2007.

Tháng 4 năm 2008 ông bi đánh và bị giam giữ trái phép nhiều ngày chỉ vì tham gia biểu tình ôn hòa chống Trung cộng rước đuốc Olympic qua lãnh thổ Việt Nam.

Người tù bất khuất

Ngày 11 tháng 9 năm 2008, ông bị bắt trong đợt đàn áp dữ dội nhắm vào giới đối laajo Việt Nam, cùng bị bắt với ông có nhiều nhà họat động nhân quyền khác như: Phạm Văn Trội, Phạm Thanh Nghiên, Vũ Hùng, Nguyễn Mạnh Sơn, Nguyễn Văn Tính, Ngô Quỳnh, Nguyễn Kim Nhàn, Trần Đức Thạch, Nguyễn Văn Túc.

Tất cả những nhà hoạt động này sau đó đều bị cáo buộc tội danh “tuyên truyền chống nhà nuớc CHXHCNVN” với những mức án tù nặng nề.


Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị án nặng nhất với mức án 6 năm tù giam, 3 năm quản chế.

Ông đã trải qua nhiều nhà tù với các lần bị biệt giam, bị kỷ luật vì những đòi hỏi quyền lợi chính đáng cho tù nhân.

Trong thời gian bị giam ở trại 6, Nghệ An, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đã phải trải qua một ca phẫu thuật trong bệnh viện. Cai tù đã trả thù ông bằng cách xiềng chân, xích tay ông khi ông vừa rời bàn mổ. Nhà văn đã phải tuyên bố chọn cái chết để phản đối hành vi vô nhân đạo này và cũng là để bảo vệ khí tiết của một trí thức yêu nước. Cán bộ trại giam sau đó đã buộc chấm dứt việc cùm chân ông trên giường bệnh.

Sau đó, bất chấp bị đe dọa, ông đã dũng cảm báo tin cho gia đình biết việc blogger Điếu Cày - Nguyễn Văn Hải tuyệt thực trong tù. Hành động này đã khiến ông bị công an trả thù, đánh đập, rồi bị chuyển đến một nhà tù xa hơn là trại An Điềm - Quảng Nam.

Trở về trong chiến thắng

Sau hơn 6 năm chịu cảnh tù đày khắc nghiệt, sức khỏe của nhà văn 65 tuổi này đã ngày càng trở nên kiệt quệ.

Bên ngoài, gia đình ông liên tục bị công an đàn áp, trả thù. Hồi tháng 4/2014, con trai ông Nghĩa là anh Nguyễn Thanh Thuỷ đã bị cấm xuất cảnh sang Mỹ mà không có lý do.

Vì sự can đảm và những đóng góp lớn lao cho phong trào dân chủ Việt Nam, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đã được trao nhiều giải thưởng cao quý của quốc tế như:

- Năm 2011, ông được trao giải thưởng Hellman/Hammett của tổ chức Human Rights Watch.

- Năm 2013, Trung Tâm Văn Bút Trung Hoa Độc Lập (ICPC) tại Hongkong trao giải thưởng 'Ngòi bút Can đảm Lưu Hiểu Ba'.

Hôm nay, ngày 11 tháng 9, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ trở về sau 6 năm bị đầy đọa qua nhiều nhà tù từ suốt miền Bắc tới miền Trung. Ông đã già đi 6 tuổi và sức khỏe cũng đã xấu đi rất nhiều.

Chắc chắn một điều, dù phải đối mặt vơi hình thức giam lỏng tại nhà 3 năm nữa thì với tinh thần bất khuất, ông sẽ tiếp tục đóng góp cho công cuộc tháo gỡ độc tài và thiết lập dân chủ cho Tổ quốc Việt Nam.

Danlambao xin được chúc mừng sợ trở về trong chiến thắng về của người tù bất khuất Nguyễn Xuân Nghĩa.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Tết Trung Thu Em Đọc “Đèn Cù”


Nguyễn Bá Chổi

Tết Trung Thu đọc Đèn Cù là thú vui đặc biệt hấp dẫn trong dịp lễ truyền thống năm nay.


Bao năm qua Tết Trung Thu đến là em nghĩ đến bánh Trung Thu, nhưng bây giờ hầu hết bánh kẹo bán ngoài chợ đều nhập từ Tàu đầy hóa chất độc hại, em không còn tha thiết gì đến thứ bánh chờ cả năm mới được ăn một lần này nữa, ngoại trừ bánh Trung Thu mà em biết chắc chắn là do người Việt mình làm. Tuy nhiên không phải vì miếng bánh mà em mất vui trong “ba ngày lễ lớn”. Em có món ăn tinh thần rất lành và làm sáng mắt: “Đèn Cù”.


Xưa nay, trong đám đèn Trung Thu có đèn cá chép, đèn ông sao, đèn chú thỏ, đèn cù – còn gọi là đèn kéo quân – v.v… em thích đèn cù hơn cả, vì nó biết chạy.
.
“Khen ai khéo vẽ (ôi a) đèn cù. Voi giấy (ôi a) ngựa giấy, vòng quanh nó chạy tít mù”.

Đèn cù, không chỉ con nít thích, người lớn cũng thích. Thích vì những hình ảnh người ta vẽ chạy vòng vòng, “cứ chạy vòng quanh”. Nhưng Trung Thu năm 2014, càng thú vị hơn khi được nhìn thấy những bộ mặt thật bị bóc trần son phấn trong “Đèn Cù”, tự truyện của người đi theo Việt Minh/CS từ lúc 16 tuổi, một người từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh, là ông Trần Đĩnh.

Em tin tưởng tuyệt đối những gì được viết trong Đèn Cù, vì tác giả không phải là bọn phản động chuyên đi chọc phá tổ Cuốc, bêu xấu bác và đảng, nhưng tác giả chính là người từng sống bên cạnh bác Hồ và được giao nhiệm vụ viết tiểu sử vị “cha già dân tộc”.

Em không “ưa chính trị”, em chỉ yêu bác Hồ và học tập đạo đức bác nên em chỉ thích những gì liên quan đến cá nhân bác. Chẳng hạn những “sự cố lịch sử” về bác trong cuốn Đèn Cù xoay mù mắt dân Việt suốt hơn nửa thế kỷ qua em đọc được vài trong phạm vi ngắn gọn của trang báo, em xin trích vài “sự cố“ sau đây.

Một là, Bác Hồ bịt râu để dấu mặt đi xem đấu tố người từng là đại ân nhân của bác và đảng, cụ bà Nguyễn Thị Năm/Cát Hanh Long. Bà Năm bị giết và đưa vào cái áo quan quá nhỏ nên “Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miểng cỗ áo rồi nhảy lên vừa dẫm vừa hô “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẩy vậy.” (ĐC/ trg 86)

“Sự cố” bác bịt râu dấu mặt để tận mắt chứng kiến cảnh đấu tố bà Năm chứng tỏ Hoàng Tùng đã ba sạo trong hồi ký của Hoàng Tùng khi viết về mười nỗi buồn của bác Hồ rằng, “bác không tán thành đấu tố Nguyễn Thị Năm, nhưng phải nghe Trung Quốc”. “Sự cố” bác bịt râu dấu mặt này rất là phù hợp với vài báo “Địa chủ ác ghê” ký tên C.B sau này bị lật tẩy chính là bác Hồ.

Hai là, “Một dạo Phan Kế An hàng ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: ”À, cái P.M (Phương Mai) tự nhiên mang ba lô, chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm.” Vài tháng sau, An lại về muộn. Hỏi vì sao thì An nói không thấy P.M (Phương Mai) đến nữa. “Chắc máy cụ yếu!”, giải đáp thuần túy sinh học. Không tính đến sở thích, gu của cụ.” (ĐC/ trg 30)

Ba là, “Chuẩn bị cải cách ruộng đất, từ giữa tháng 7 đến tháng 9-1953, trung ương mở một lớp chính huấn cho các trí thức trong cũng như ngoài đảng và các đoàn thể trung ương… Cụ Hồ cách nhật, có khi liền ngày đến xem điện ảnh, liên hoan với học viên. Cụ có mấy câu nổi tiếng trong hội trường “Bác Hồ muốn nằm” khi mọi người hô “Hồ Chủ tịch muôn năm.” Rồi tay chỉ vào đầu:” Từ đây thì Bác già, nhưng từ đây (tay chỉ vào bụng) thì Bác trẻ”. Một hôm Bác nói: “Các cô các chú không sợ người ta kêu mình kém trí thức, ít lý luận. Họ kêu thì bảo họ rằng tôi lú nhưng chú tôi khôn. Chú tôi là Stalin, Mao trạch Đông.” (ĐC/trg 72)


Bác già đầu nhưng phần dưới bụng “thì Bác trẻ” là “đúng quá rồi chứ còn gì nữa” Không khỏe mà họa sĩ Phan Kế An “hàng ngày đến vẽ Cụ Hồ” lại bị đuổi về sớm hàng ngày để Cụ cùng Cháu (P.M) hành quân trước khi trời tối suốt “vài tháng”. Cứ rúc vào hang Pắc Bó suốt như vậy, “bác” không lú sao được. Lú nên mọi sự giao cho Tàu cả, ngoài biển lẫn đất liền.

Em thích đọc Đèn Cù vì nó lù lù mọi sự thật, nhất là những sự thật về đạo đức bác mà em đang quyết tâm thi đua học tập để dành giải thưởng cuối mùa.

Nguyễn Bá Chổi

__._,_.___

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Phải chăng lịch sử chọn cộng sản Việt Nam?
Huỳnh Ngọc Tuấn
(Danlambao) - Từ trước đến nay CSVN vẫn rêu rao rằng lịch sử đã chọn họ chứ không phải bất cứ đảng phái quốc gia nào để lãnh đạo đất nước này, và bất cứ ai- thế lực nào chống lại họ là “đi ngược chiều của bánh xe lịch sử” và tất yếu sẽ bị “bánh xe lịch sử nghiền nát”!?

Đây là một sự tráo trở mị dân lớn nhất trong tất cả mọi sự tráo trở mị dân!
Luận điệu lộng ngôn, cường điệu, bóp méo sự thật này nhằm mục tiêu khẳng định sự “chính danh” và “chính nghĩa” của họ, nó được cả một hệ thống tuyên truyền đồ sộ gồm hơn 600 tờ báo, 100 đài phát thanh - truyền hình cộng với một hệ thống giáo dục từ mầm non đến đại học và hậu đại học rao giảng từ ngày này đến năm khác, mục đích là để khẳng định quyền độc tôn lãnh đạo của họ là “sứ mệnh” do lịch sử và dân tộc giao phó!?

Đây là “bửu bối” của CSVN để biện minh cho chế độ độc tài toàn trị, tàn bạo và thối nát hiện nay đang bị nhân dân nguyền rủa, thời đại “tẩy chay”.

Nhưng rất lạ là mới đây trên tờ Việt Nam thời báo của Hội nhà báo độc lập vừa mới ra đời (mục đích là để cổ xúy cho quyền tự do ngôn luận và bảo vệ quan điểm độc lập và trung thực), tập hợp những “cây bút dân chủ” và “bất đồng chính kiến” tại Việt nam lại đăng một bài viết của tác giả Liên Sơn với tựa đề rất ấn tượng:“Nói một chút về mộng mị Dân chủ”.

Luận điểm của bài báo này có những điều gây tranh luận, nhưng đa phần là những nhận xét trung thực, xác đáng và có tính xây dựng, đây là biểu hiện của quyền tự do ngôn luận và tôi tôn trọng quan điểm cá nhân của tác giả.

Nếu chỉ có vậy thôi thì không có gì đáng nói ở đây, nhưng trong bài viết trên có một câu mà theo tôi là không thể chấp nhận được vì nó hàm hồ, xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không đúng sự thật, xin trích:

“Cũng phải nhắc lại rằng, chính quyền hiện nay từng mất 15 năm để đi từ con số 0 trở thành Đảng phái chính trị lớn, mất 30 năm để thực hiện lý tưởng của mình. Gần 40 năm tiến hành xây dựng chế độ. Họ biết mọi mánh khóe, mọi thủ đoạn, mọi cách thức để định nghĩa hai chữ “sợ hãi”. “Lịch sử chọn họ chứ không chọn chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu chắc chắn không phải là sự ngẫu nhiên”.

Lịch sử là gì?

Lịch sử là sản phẩm của nhân loại, nhân loại làm nên lịch sử chứ không phải ngược lại, nhưng không phải tất cả nhân loại đều được dự phần làm nên lịch sử mà chỉ có những thế lực mạnh nhất trong một giai đoạn nào đó làm nên lịch sử.

Nói một cách khác, lịch sử là sản phẩm của kẻ mạnh, thế lực nào mạnh nhất sẽ quyết định hướng đi của lịch sử và viết nên lịch sử. Kẻ yếu bị kẻ mạnh chi phối và là nạn nhân của “Lịch sử”.

CSVN luôn nói rằng “lịch sử” đã chọn họ để tự khẳng định sự “chính danh” - “chính nghĩa” và tất nhiên là “hợp pháp” của họ. Điều này giúp họ “tỏ ra có lý” để đẩy các thế lực đối kháng vào chổ “bất hợp pháp” bất “chính danh” và cũng “có lý” khi họ thẳng tay đàn áp khủng bố. Đây là một luận điệu mị dân và lộng giả thành chân nhưng nó đã là cái cớ để CSVN áp đặt chế độ độc tài toàn trị, áp đặt sự kiểm soát và chế ngự người dân VN từ hơn nữa thế kỷ nay.

Điều lạ là nó lại xuất hiện trên tờ Việt nam Thời báo (một tờ báo được mệnh danh là Cơ quan ngôn luận của Hội nhà báo độc lập) nơi thực hiện quyền tự do ngôn luận và là nơi tập hợp của các ngòi bút “dân chủ”!?

Chúng ta thử đặt lại một câu hỏi cũ rích nhưng cần thiết lúc này: CSVN là ai?

CSVN là con đẻ của Cộng Sản quốc tế, được CS quốc tế nuôi dưỡng, huấn luyện, trang bị để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản ra khắp VN và Đông Dương. (chứ không phải bắt đầu từ con số 0 như tác giả viết)..

Năm 1945 được sự hậu thuẫn như vậy CSVN đã cướp được chính quyền từ tay chính phủ Trần trọng Kim và sau này họ đã cướp được chính quyền trên cả nước bằng một cuộc chiến tranh đẫm máu với vũ khí và tiền bạc từ Cộng sản quốc tế. Điều này đủ minh chứng kẻ nào mạnh kẻ đó làm nên lịch sử.!

Cuộc chiến mà CSVN tuyên truyền là cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” thực chất chỉ là cuộc chiến để mở rộng chủ nghĩa cộng sản. Trong cuộc chiến này chính phủ VNCH đã thua vì đồng minh Hoa kỳ bỏ cuộc, cho dù cuộc chiến tự vệ của quân dân miền Nam lúc đó là chính nghĩa nhưng chỉ có chính nghĩa thôi thì không đủ để tồn tại và thay đổi cục diện.

Cho nên phải nói một cách chính xác rằng: Đảng CSVN là con đẻ của cộng sản quốc tế và CSVN đã “hiếp dâm” lịch sử để đẻ ra chế độ CS hiện nay!

Không hề có cái gọi là “lịch sử chọn lựa” như CSVN đã rêu rao mà chính họ- CSVN và Cộng sản quốc tế đã “cưỡng hiếp” lịch sử! cho nên người Việt quốc gia trên toàn thế giới đều khẳng định ngày 30.4.1975 là ngày CSVN cưỡng chiếm VNCH, là ngày “Quốc hận”!

Nếu ai đó vô tình hoặc cố ý nói rằng: “lịch sử” đã “chọn lựa” CSVN lãnh đạo đất nước chứ không phải chính phủ Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu là một luận điểm sai lầm và nguy hiểm vì nói như vậy là sai sự thật, là phủ nhận tính chính danh và hợp thời đại của cuộc đấu tranh để dân chủ hóa đất nước ngày hôm nay, và những người đã và đang đấu tranh cho tiến trình dân chủ hóa VN chỉ đơn thuần là những người “vi phạm luật pháp”!

VNCH đã thất bại điều đó không đồng nghĩa VNCH không có chính nghĩa.

Phong trào đấu tranh đòi Dân chủ cho VN hiện nay tuy mỏng và yếu thì điều đó cũng không đồng nghĩa chúng ta không có chính danh và chính nghĩa!

Lịch sử không chọn ai hết, lịch sử là sản phẩm của kẻ mạnh. CSVN mạnh nên đã làm nên lịch sử chứ không phải lịch sử “chọn” họ.

Sự lập lờ đánh tráo trong ngôn từ và khái niệm, trong nhận thức thời cuộc và lịch sử của CSVN đã, đang và sẽ tạo ra sự ngộ nhận nguy hiểm. Những người cầm bút- nhất là những ai, những hội đoàn nào tự nhận mình đang đấu tranh vì dân chủ cho VN phải cẩn ngôn vì họ phải chịu trách nhiệm với bản thân, xã hội, đất nước và lịch sử.

Ở đây tồn tại một nghịch lý vì khi đã công nhận chế độ CSVN hiện nay là do “lịch sử” chọn thì cuộc đấu tranh để thay đổi nó có còn có ý nghĩa và chính nghĩa gì?

Bài viết này không mang dụng ý chỉ trích một cá nhân nào kể cả tác giả bài báo trên, chỉ xin góp ý để cùng nhau tiến bộ hầu phục vụ đất nước tốt hơn.

Thời cuộc luôn luôn vận động và không có thế lực nào là kẻ mạnh vĩnh viễn. Sắp tới đây cục diện tại khu vực Đông Á sẽ thay đổi và tương quan sức mạnh cũng thay đổi, đây là cơ hội để nhân dân VN viết nên trang sử mới của chính mình.


Huỳnh Ngọc Tuấn

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

....Ðọc để thêm một lần, thấm thía cái bi kịch của dân tộc Việt Nam xuất phát từ một sự chọn lựa sai lầm, mà thật ra cũng không phải tự nguyện chọn lựa mà là bị lừa, bị bịt mắt nên cứ tưởng đi theo đảng sẽ có tự do, độc lập, ấm no.....

Mỗi người kể một câu chuyện

Song Chi
Ðất nước Việt Nam chỉ tính riêng từ đầu thế kỷ XX đến nay đã trải qua bao nhiêu sự kiện long trời lở đất. Chiến tranh với Pháp, với Mỹ mà cũng là cuộc nội chiến Nam Bắc tương tàn, chiến tranh biên giới phía Bắc và các cuộc hải chiến trên biển Ðông với Trung Cộng, chiến tranh biên giới phía Tây Nam với Khơ Me Ðỏ...làm chết hàng triệu người Việt Nam.

Hàng loạt sự kiện bi thảm do những chính sách sai lầm, thất nhân tâm, xuất phát từ tầm nhìn hẹp hòi, thiển cận, từ niềm tin mù quáng vào học thuyết Mác-Lênin và lòng trung thành ngu muội với Liên Xô, Trung Cộng của Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đã gây bao tang thương cho đất nước, dân tộc.

Ðến khi nhận ra sai lầm thì cũng chỉ thay đổi nửa vời về kinh tế và tiếp tục giữ chặt con đường độc tài độc đảng.

Hậu quả là Việt Nam ngày nay lạc hậu, thua kém hàng chục, hàng trăm năm so với các nước láng giềng chứ chưa nói đến các cường quốc trên thế giới. Một xã hội nát bét về mọi mặt, người dân thì vẫn chưa được sống trong tự do, độc lập và hạnh phúc. Ðáng nói nhất, Ðảng Cộng Sản đã dẫn Việt Nam vào vòng lệ thuộc nặng nề và đánh mất một phần lãnh thổ lãnh hải cho Trung Cộng.

Cái hiện thực đau thương đó là nỗi bất hạnh lớn nhất của dân tộc Việt Nam trong suốt mấy ngàn năm qua, nhưng đồng thời, nó cũng là nguồn đề tài, chất liệu vô cùng phong phú cho người sáng tác.

Thế nhưng nhìn lại suốt thế kỷ XX cho tới đầu XXI, số lượng tác phẩm từ văn học, thơ ca, hội họa, phim ảnh, kịch nghệ... tái hiện được phần nào quãng đường lịch sử đen tối nhất, lại chưa có bao nhiêu. Chứ khoan nói được thế giới biết đến.

Ngay văn học, vốn là loại hình chỉ phụ thuộc chủ yếu vào nhà văn, bất cần yếu tố bên ngoài nào, nếu so với làm phim hay dựng kịch, nên có thể dễ ra đời hơn, nhưng cũng không có nhiều tác phẩm gây chú ý.

Có thể một phần vì suốt từ năm 1945 đến nay đối với người dân miền Bắc và từ năm 1975 đối với người dân cả nước, khi phải sống trong một chế độ kiểm soát chặt chẽ và bóp nghẹt mọi tư tưởng, suy nghĩ khác biệt và do đó, cũng bóp chết luôn tài năng sáng tác ở người nghệ sĩ nói chung và nhà văn nói riêng.

Nhưng bây giờ dù sao tình hình cũng khác. Bây giờ nhà văn nếu không xuất bản được trong nước thì gửi cho các nhà xuất bản ở bên ngoài, và tác phẩm có thể đến được với người đọc nhanh chóng bằng nhiều con đường khác nhau.

Trước kia đảng, nhà nước nắm chắc cái bao tử của nhà văn qua con đường tem phiếu, sổ gạo, xuất lương ở các cơ quan, hội đoàn...Nếu lôi thôi mà bị cắt sổ gạo, cúp lương, thì chỉ có nước đi câu cá trộm ở Hồ Tây như nhà thơ Phùng Quán hay lên rừng chở đá như nhà thơ Hữu Loan.

Bây giờ, nhà văn có nhiều đường sống hơn, không làm cho nhà nước thì làm cho tư nhân, không được phép sống bằng nghề thì sống bằng cách khác. Vấn đề là nhà văn có cái gì để viết, có muốn viết, dám viết hay không.

Trong số những tác phẩm ít ỏi ra đời, là hồi ký, tiểu thuyết hay công trình nghiên cứu, soi sáng lại một phần quá khứ lịch sử u ám, góp phần giải mã một sự kiện, một giai đoạn hay giải thiêng Ðảng Cộng Sản... Có “Ðêm giữa ban ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên, “Chuyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, “Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc” của nhà phê bình văn học Thụy Khê, “Hồi ký của một thằng hèn” của nhạc sĩ Tô Hải, “Bên thắng cuộc” của nhà báo Huy Ðức...Và mới đây là “Ðèn cù” của tác giả Trần Ðĩnh.

Nói một chút về cuốn sách mới nhất, “Ðèn cù.” Thật sự, tôi không đánh giá cao “Ðèn cù” ở góc độ một tác phẩm văn học. Văn phong trong “Ðèn Cù” khá là lủng củng, nhiều câu rối rắm, tối nghĩa, cấu trúc của tác phẩm lại càng lộn xộn vì viết theo trí nhớ, nhiều khi đang kể ở địa điểm này, thời gian này lại nhảy sang thời điểm khác, sau đó lại quay trở lại ...khiến người đọc hơi bị rối. Nhưng bù lại, tác giả có lối kể chuyện sinh động, nhiều chi tiết hóm hỉnh.

Giá trị lớn của “Ðèn cù” như nhiều người đã phân tích, là cái nhìn sám hối về một quãng đường lịch sử trong đó có sự dự phần của tác giả, là ở chuyện giải thiêng Ðảng Cộng Sản, giải thiêng một số nhân vật lãnh đạo Bắc Việt. Thông qua “Ðèn cù,” một số lập luận, quan điểm mà từ trước đến nay đa số thường cho là như vậy, hóa ra không phải. Ví dụ như vai trò của ông Hồ Chí Minh trong Cải Cách Ruộng Ðất hay Lê Duẩn thực ra lúc đầu rất tôn sùng Mao và Trung Cộng.

Có người bảo tác phẩm thiếu tính xác thực của thông tin, không có dẫn chứng văn bản, tư liệu đối chiếu, để tăng độ tin cậy. Nhưng thật ra, đây là một cuốn sách dạng hồi ký, là “truyện tôi” như lời tác giả, không phải là một công trình nghiên cứu và đòi hỏi văn bản trong hoàn cảnh bấy giờ là rất khó.

Cũng có người cho rằng phần lớn những sự kiện, hay một số những câu chuyện trong “Ðèn cù,” họ đã từng được nghe, được biết. Riêng đám bồi bút tự cho là biết nhiều thông tin trong ruột, còn dè bỉu là cứ bới c. ra làm gì, rằng tác giả viết vì thù hằn cá nhân v.v...

Nhưng cho đến tận bây giờ, trong hơn 90 triệu dân Việt, có bao nhiêu phần trăm biết được sự thật về Cải Cách Ruộng Ðất, vụ án xét lại, mặt thật của một số lãnh tụ hay bản chất của Ðảng Cộng Sản?

Có bao nhiêu phần trăm hiểu rõ mưu sâu của Trung Cộng từ đầu và trong suốt cuộc chiến Việt Nam, những chuyển biến trong nhận thức của từng nhân vật lãnh đạo cao cấp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam dẫn đến sự nhùng nhằng dích giắt trong mối quan hệ Việt Trung?

Và còn các thế hệ tương lai nữa. Kể lại quá khứ không có nghĩa là đào bới đống rác, càng không phải do thù hằn, mà cần phải sòng phẳng với lịch sử, rút ra những bài học sai lầm để không bao giờ lặp lại.

Ðọc “Ðèn cù,” một số người khó mà bào chữa rằng Ðảng Cộng Sản chỉ mới trở nên tệ đi sau này khi đã nắm được cả giang sơn về một mối, khi các quan chức đảng viên đã ngồi trên mọi vinh hoa phú quý hưởng lạc đâm ra tham nhũng, xa rời nhân dân, xa rời lý tưởng.

Trong con mắt của nhân chứng Trần Ðĩnh, bản chất của Ðảng Cộng Sản đã dối trá, tàn ác, bội ước, hiếu chiến ngay từ đầu, và quan trọng hơn cả, đã phụ thuộc, quỵ lụy quá mức đối với Liên Xô và Trung Cộng ngay từ đầu, kể từ ông Hồ Chí Minh trở đi. Bị phụ thuộc từ viện trợ tài chính cho tới tư tưởng, mọi chủ trương chính sách đều do Bắc Kinh cầm tay chỉ dạy, nhất cử nhất động đều phải báo cáo với Bắc Kinh.

Vì nếu không có sự giúp đỡ, chi viện tối đa của Liên Xô và Trung Cộng, Bắc Việt không thể nào đánh thắng Pháp, thắng Mỹ và miền Nam.

Cái tâm thức nô lệ, tôn sùng Bắc Kinh được Ðảng Cộng Sản truyền cho người dân miền Bắc và cho giới văn nghệ sĩ, trí thức nói riêng. Giới trí thức thay vì đóng vai trò phản biện, thức tỉnh chính quyền, khai trí cho nhân dân thì lại bị trở thành bồi bút, thậm chí góp phần giết người bằng ngòi bút. Sống hèn, sống không khác những con vật.

Ðảng kiểm soát tất cả từ tư tưởng, linh hồn, cho tới bao tử, bộ phận truyền giống của người dân. Nhân cách con người, từ giới làm chính trị, giới văn nghệ, trí thức trở đi, bị hủy hoại đến tận cùng.

Dễ hiểu vì sao con người Việt Nam ngày hôm nay lại tệ hại đi như vậy.

Dễ hiểu vì sao Ðảng Cộng Sản Việt Nam khó thoát Trung, không thoát được.

Ðọc để thêm một lần, thấm thía cái bi kịch của dân tộc Việt Nam xuất phát từ một sự chọn lựa sai lầm, mà thật ra cũng không phải tự nguyện chọn lựa mà là bị lừa, bị bịt mắt nên cứ tưởng đi theo đảng sẽ có tự do, độc lập, ấm no.

Hiện thực Việt Nam và cuộc sống của đại đa số người dân hôm nay là câu trả lời rõ ràng chua xót nhất cho cú lừa kéo dài xuyên thế kỷ này.

Như đã nói, lịch sử Việt Nam còn quá nhiều điều cần phải được viết lại kể lại, được bạch hóa, cho dân mình bây giờ và các thế hệ tương lai, cũng là cho cả thế giới cùng biết.

Mỗi người từ góc nhìn của mình, chỉ cần viết một cuốn sách, kể lại một câu chuyện, chuyện mình hay chuyện người, để góp phần vẽ lại bức tranh buồn của dân tộc. Góp phần giải mã quá khứ, giải thiêng Ðảng Cộng Sản, thức tỉnh người dân đứng dậy, dẹp bỏ cái chế độ này đi để xây dựng một chế độ tự do dân chủ, một xã hội tươi đẹp hơn.

Bởi dân tộc Việt đã khốn khổ khốn nạn lâu quá rồi, đã trả giá quá đắt rồi, dân tộc này phải xứng đáng được hạnh phúc.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tử huyệt: Tước đoạt kẻ tước đoạt
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Ở Hà Nội vừa xảy ra một sự kiện chính trị-văn hóa gây tiếng vang lớn. Một cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Ðất (CCRÐ)1945-1956 mở ra tại bảo tàng Lịch Sử Việt Nam dự định kéo dài đến cuối năm, được khai mạc khá trọng thể, bỗng đóng cửa sau có 2 ngày”vì lý do ánh sáng.”

Ðã có nhiều bài viết trên các blog tự do phỏng đoán vì sao một cuộc triển lãm quan trọng đến vậy lại đột nhiên “đứt phim” khi vừa khởi đầu. Có người cho rằng đó là vì ngay lúc khai mạc, hàng trăm bà con nông dân ở phường Dương Nội-Hà Ðông đã rủ nhau tụ tập thành hàng ngũ ra thủ đô cùng mặc áo đỏ với nhiều biểu ngữ, truyền đơn tố cáo bọn cường hào mới đã cướp đất, cướp nhà của bà con nông dân địa phương. Bà con cho rằng nếu cuộc triển lãm có mục đích biểu dương chính sách bênh vực nông dân của đảng thì đây có thể là nơi đảng sẽ phải biểu thị tiếp tình nghĩa công-nông liên minh nhất quán của mình.

Và thế là đảng bị chóng mặt. Vì việc gì sẽ xảy ra nếu như nông dân bị oan ức ở Thái Nguyên, Vĩnh Phú, Hòa Bình, Sơn Tây, rồi Hưng Yên, Thái Bình, Nam Ðịnh...cùng rủ nhau đi xem triển lãm với yêu sách đòi đảng phải có chính sách bảo vệ thực sự quyền lợi của nông dân? Ðóng cửa là thượng sách.

Một phản ứng của giới trí thức là cuộc triển lãm quá sơ sài, chỉ có 150 hiện vật, tranh ảnh, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của nông dân và của địa chủ, những khẩu hiệu sách báo nói về CCRÐ, những tài liệu đã được tuyển chọn kỹ nói về tội ác bán nước của giai cấp địa chủ Việt Nam theo thực dân Pháp, Nhật, bóc lột đến cùng cực nông dân. Cuộc triển lãm có chủ ý minh họa đường lối đúng đắn của Ðảng Cộng Sản, tuy có sai lầm nhưng đã được sửa chữa, mở ra một cuộc phát triển chưa từng có của nông thôn, nông nghiệp và nông dân.

Mặc dù toàn bộ sự thật về nông thôn và nông dân Việt Nam đã bị che giấu, nhưng tất cả mọi điều che giấu quan trọng nhất càng thêm nổi bật trong thời buổi thông tin nhanh nhạy ngày nay. Ðúng vào lúc nhạy cảm, cuốn Trần Ðức Thảo - Những Lời Trăng Trối của ký giả Tri Vũ Phan Ngọc Khuê và cuốn Ðèn Cù của nhà báo Trần Ðỉnh đã có nhiều tư liệu về CCRÐ phong phú, chính xác gấp bội phần so với cuộc triển lãm nghèo nàn nói trên.

Biết bao câu hỏi được đặt ra trong cuộc đối thoại toàn xã hội về CCRÐ. Có thật Hồ Chí Minh đã gửi thư kèm kế hoạch CCRÐ để xin ý kiến xét duyệt của Stalin, và kế hoạch ấy đã được xem xét bởi Lưu Thiếu Kỳ, chủ tịch nước CHND Trung Hoa hồi đó? Vai trò của đoàn cố vấn Trung Quốc về CCRÐ ra sao? Có bao nhiêu địa chủ bị tử hình và tỷ lệ oan sai là bao nhiêu? Con số do tiết lộ từ lưu trữ của Văn Phòng Trung Ương Ðảng là 172,008 địa chủ bị tử hình, trong đó oan sai là 123,266, có đúng không? Rồi thái độ của Hồ Chí Minh đối với việc bà Nguyễn Thị Năm - Cát Hanh Long thực sự là ra sao? Ông ga-lăng kiểu Tây phương ố “không đánh phụ nữ dù bằng một cành hoa” (theo lời ông Hoàng Tùng), ông hứa”sẽ can thiệp với các đồng chí Trung Quốc để không khởi đầu cuộc CCRÐ bằng cách xử bắn một phụ nữ” (qua lời kể của ông Hoàng Quốc Việt), hay chính ông đã che chòm râu lẩn vào đám đông đích thân dự cuộc xử bắn bà Năm, và cũng chính ông viết bài kể tội bà Năm”Ðịa chủ ác ghê,” gửi đăng báo Nhân Dân, ký tên C.B., nghĩa là Của Bác. Tôi tin 2 chi tiết vừa nói theo lời kể của nhà báo Trần Ðĩnh trong Ðèn Cù là chính xác.

Nhưng lý do chính đóng cửa vội vã cuộc triển lãm CCRÐ có thể là ở chỗ nó đụng đến cái tử huyệt của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay.

Vì CCRÐ cũng như Cải Tạo Tư Sản, Cải Tạo Gian Thương, Cải Tạo Công Thương Nghiệp đều tuân theo lời dạy của Mác và Lênin là “Tước đoạt của những kẻ tước đoạt.” Tài sản của địa chủ đều là tài sản từ sức lao động của nông dân bị địa chủ tước đoạt, nay CCRÐ chỉ là tước đoạt trở lại trả về cho nông dân, theo lẽ công bằng của đạo lý và pháp luật. Cuộc triển lãm trưng bày ảnh nhà cửa, bữa ăn, bàn đèn hút thuốc phiện của địa chủ và chòi rơm rạ, bữa ăn đạm bạc của bần cố nông. Thế nhưng người xem liền liên tưởng đến giai cấp “tư sản Ðỏ” hiện nay, mà nhà thơ Hà Sỹ Phu gọi là những “phú nông, địa chủ, cường hào cộng sản” mới, thì những địa chủ ác ôn cũ chỉ đáng xách dép cho các địa chủ và tư sản mới ngày nay.

Chẳng cần phải sưu tầm để triển lãm và giải thích minh họa cũng có thể thấy giai cấp địa chủ, tư sản Ðỏ hiện nay đang sống ra sao - nhà cao cửa rộng gấp trăm ngàn lần địa chủ ác ôn thế kỷ trước, có xe xịn Nhật, Ðức, có tài sản, cổ phần cổ phiếu, tài khoản ngân hàng lên đến vài triệu đôla. Tất cả không phải có được từ tài năng, cạnh tranh hợp pháp, mà phần lớn là từ đầu cơ quyền lực, chức vụ, mánh mung phe nhóm, chia chác của công, tức là của xã hội, của nhân dân nghèo khổ.

Họ giật mình là phải lẽ. Họ sợ, vì bị điểm trúng tử huyệt. Cái huyệt chết người. Người dân trước cuộc”triển lãm” của cuộc sống thật khắp nơi nhận ra bất công xã hội không thể chấp nhận nổi nữa, đang không đòi gì hơn là lẽ công bằng: Phải tước đoạt lại của những kẻ tước đoạt để trả về cho nhân dân, cho xã hội. Và ngay lúc này.

Tài sản của nguyên Tổng Thống Tunísia hơn 8 tỷ đôla đã bị sung công, tài sản của nguyên Tổng Thống Gaddafi ở Libya lên đến 12 tỷ cũng đã bị sung vào công quỹ. Ở Trung Quốc, toàn bộ tài sản ước tính lên đến 80 tỷ đôla của nguyên bộ trưởng Công An Chu Vĩnh Khang cùng với tài sản của hơn 400 cán bộ cấp cao liên quan đến ông Chu đã bị phong tỏa và sung công.

Những gì của Cesar phải trả lại cho Cesar. Các nhà lãnh đạo Cộng Sản ở Việt Nam định khoe công lao của họ trong CCRÐ qua cuộc triển lãm sơ sài chỉ nói lên một góc nhỏ của sự thật, đã và khơi dậy một đòi hỏi lớn lao và chính đáng là phải nói lên đầy đủ sự thật, và hãy thực hiện công bằng xã hội ngay nhãn tiền: chống tham nhũng thật sự, trả lại tài sản phi pháp đã tước đoạt của xã hội cho nhân dân, trả lại quyền tự do và quyền làm người cho toàn dân, đã bị đảng tước đoạt quá lâu. Ðây là cái huyệt nợ đời của Ðảng Cộng Sản.

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

TÁC PHẨM ĐÈN CÙ TRONG NƯỚC CỜ
THÍ XE GIỮ TƯỚNG CỦA CS HÀ NỘI


Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Cuốn sách được quảng bá rầm rộ và đón nhận ân cần nhất vào lúc này trong cộng đồng người Việt tỵ nạn là cuốn Đèn Cù. Từ tác giả cho đến tác phẩm, có rất nhiều điểm đặc biệt và độc đáo [quảng cáo nói thế] khiến nó trở thành cuốn sách đặc biệt, tức khác mọi người, tức không giống ai. Chẳng thế mà người giới thiệu cuốn Đèn Cù, nhà báo Ngô Nhân Dụng, đã kết luận ở ngay trên đầu bài viết của ông như thế này: "Nếu không phải là kho chứng liệu quan trọng và đầy đủ nhất thì đây là cuốn sách đọc lý thú nhất …"

Người viết cuốn Đèn Cù là nhà thơ kiêm nhà báo Trần Đĩnh. Ông Trần Đĩnh có năng khiếu thi ca, viết lách, nên nghiễm nhiên trở thành nhà báo vào lúc còn rất trẻ [19 tuổi] ngay khi vừa mới bước chân vào ATK (An toàn khu) của đảng cộng sản VN trong khu rừng già Việt Bắc. Ông được nâng đỡ và dậy dỗ nghề làm báo bởi người thầy đầy quyền lực lúc đó là TBT Trường Chinh, người đang nắm giữ tờ báo cơ quan ngôn luận và tuyên truyền của đảng là tờ Sự Thật, mà nhiều giới viết lách trong "đảng Kaki" ở miền Nam quen thòng vào mấy chữ "nó nói láo" để giải thích, thành ra là "Sự thật, nó nói láo". Cũng nhờ có cái bóng của tên sư phụ Trường Chinh nên Trần Đĩnh được sống ung dung thoải mái với nghề báo bổ của ông suốt cả cuộc đời cho đến ngày nay, bên cạnh những cây cổ thụ trong đảng từ tên cáo già cho đến hầu hết bọn đàm em, tôi tớ. Tài viết lách của ông dĩ nhiên là số dzách, nhưng tên ông thì ngày nay bỗng dưng người ta mới khám phá ra trong tác phẩm Đèn Cù. Ông chuyên về nghề viết tiểu sử cho vua quan, từ Hồ Chí Minh trở xuống. Chính vì được ở cạnh và quen biết nhiều nhân vật nắm quyền lực trong đảng nên cuốn Đèn Cù - theo quảng cáo - mới trở thành cuốn sách độc đáo và hấp dẫn, có thể được kể là bestseller trong cộng đồng người tỵ nạn vì những câu chuyện có tính cách thâm cung bí sử, ít người biết tới.

Tác phẩm Đèn Cù từ trong nước không biết đi theo con đường mòn nào ra hải ngoại, người ta chưa biết được. Ngày xưa, khi quân đội cũng như vũ khí, tiếp liệu của Bắc Việt xâm nhập miền Nam, trưóc khi lên đường, chúng tập trung tại Thanh Hóa, qua đường mòn Hồ Chí Minh, điểm cuối cùng khi vô đến miền Nam là Lộc Ninh, rồi mới phân tán đi các chiến trường. Cuốn Đèn Cù xâm nhập cộng đồng hải ngoại bằng con đường nào thì không biết. Nó tập trung ở đâu trước khi xuất hiện tại hải ngoại, điểm này xin nói sau, nhưng điểm dừng chân cuối cùng của nó là tờ báo Người Việt tại Nam California. Người ta không mấy ngạc nhiên khi thấy điểm hẹn của cuốn Đèn Cù cũng giống như các cuốn Thằng Hèn của Tô Hải, hay cuốn Bên Thắng Cuộc của Huy Đức. Từ đó người ta có thể suy ra - mà chắc là trúng - điểm xuất phát của Đèn Cù là ở đường Yết Kiêu, Hànội, và như thế là nó cũng xâm nhập vào cộng đồng tỵ nạn tại hải ngoại qua con đường mòn mang tên lão giặc già. Lại nữa, khi tới điểm hẹn là tờ Người Việt, cuốn sách này còn được các nhà bình luận của trường phái "Trăng Liên Sô tròn hơn trăng Mỹ" thổi ống đu đủ lên đến tận tầng mây xanh, hơn cả Thằng Hèn của Tô Hải hay Bên Thắng Cuộc của Huy Đức. Có mấy cái ống loa tham gia tiếp hơi của mấy ông trong Khối 8406 chuyên viên chống cộng bằng nghề chuyển bài của người khác. Nghe thổi, người ta có thể biết chắc, các vị đó chưa biết mặt biết mũi cuốn Đèn Cù ra răng ra rứa. Các ngài cứ thấy cái loa gốc hót thế nào thì cũng hót theo như làm vậy.

Như thường lệ, cứ mỗi lần có một cuốn sách lạ xuất hiện thì tôi đoán lại sẽ có điện thoại và chờ. Quả đúng là như vậy. Cú phone reo lên là của một người bạn, xưa kia là sĩ quan không quân, và nay là bác sĩ châm cứu. Mấy cái nghề của anh chẳng liên hệ gì đến chữ nghĩa, nhưng cái đầu anh lại là một thư viện lớn. Nói là một tủ sách thì có hơi hẹp hòi. Phải nói là thư viện mới đúng. Sách gì anh cũng đọc nên biết rất nhiều, và biết tường tận. Tôi phục bạn ở chỗ đó. Khi vừa nghe mấy cái loa đài ca lên bài Đèn Cù thì hôm sau anh gọi tôi hỏi đã có quyển sách này chưa, và khoe liền: "Tôi mới mua một cuốn và đang đọc". Tôi trả lời ậm ừ là chưa mua, nhưng cũng đọc được dăm ba chục trang trên internet ở dạng PDF. Tôi chưa kịp hỏi thì anh đã than phiền: "sao văn chương gì mà đọc lủng cà lửng của, khó nuốt quá". Thì ra không phải một mình tôi, mà bạn tôi cũng có chung một cảm tưởng như thế. Thú thật lúc đó tôi đọc chưa hết cuốn sách, nhưng rất tin vào lời giới thiệu của nhà bình luận trường phái "Trăng Liên Sô tròn hơn trăng Mỹ". Tôi dự tính viết về cuốn Đèn Cù vì tin vào một lý lẽ rất đơn giản là nhà bình luận của tờ báo đứng ra xuất bản cuốn sách thì nhất định "mèo phải khen mèo dài đuôi" là cái cẳng. Quả thật nhà báo Ngô Nhân Dụng khen tờ Đèn Cù và tác giả, ông Trần Đĩnh, hết cỡ thợ mộc, không còn chừa chỗ để ai khen gì được nữa. Khá khen nhà báo Ngô Nhân Dụng, thế mà cũng rành business, show hàng toàn đồ xịn khỏi chê vào đâu được.

Lời giới thiệu của ông Ngô Nhân Dụng cho thấy nội dung toàn đồ xịn của cuốn sách thì nhất định Đèn Cù sẽ đắt như tôm tươi. Trước hết theo ông Ngô Nhân Dụng, văn phong của tác giả Trần Đĩnh là number one. Nhà phê bình họ Ngô hạ bút viết như đinh đóng cột rằng: "Trần Đĩnh gọi cuốn sách này là "truyện Tôi" … Truyện Tôi là một loại văn xuôi mới, do Trần Đĩnh tạo ra. Mai mốt có thể sẽ không còn ai viết Truyện Tôi nữa. Mà có ai viết thì chắc chắn cũng không viết giống như Trần Đĩnh. Đèn Cù là một cuốn sách độc đáo". Nó độc đáo thế nào thì ông Ngô Nhân Dụng cho biết: "Cuốn sách này tuyệt nhiên không dung lối văn viết báo. Nhà báo không ai mở đầu bằng mấy chữ: "Viết này vất vả," rồi chấm câu. "Lười là rõ," lại chấm câu. Cái khí văn đó tràn suốt tác phẩm. Có thể gọi đó là khí văn Trần Đĩnh. Một nhận định nhỏ mà bần bút xin mạn phép thêm vào đây là, cuốn Đèn Cù viết theo thể văn xuôi, nhưng nếu tác giả Trần Đĩnh muốn biến nó thành một tác phẩm văn vần - tức là thơ - thì cũng rất dễ dàng. Chỉ cần với cái "khí văn" độc dáo của mình, ông Trần Đĩnh dựa theo lối mần thơ của đại thi hào Du Tử Lê, cứ vài ba, hay dăm bẩy chữ, ông ngắt câu, xuống dòng là thành thơ rồi. Ông Trần Đĩnh sẽ có cuốn trường thi Đàn Cù không mấy chốc.

Ông Trần Đĩnh viết văn có "khí" đã vậy mà lại còn có "đức" nữa. Cái đức trong văn chương của ông theo nhà phê bình Ngô Nhân Dụng là "kể sự thật". Như thế phải hiểu là toàn bộ tác phẩm của ông Trần Đĩnh không có cái gì là phịa hay dối trá (fake or fiction) cả. Chẳng hạn như khi ông thuật lại cảnh xác bà Nguyễn Thị Năm địa chủ bị đấu tố chết đem chôn. Chiếc quan tài quá nhỏ, bọn du kích phải đứng lên trên tử thi mà đạp, xác bà Năm mới lọt vào áo quan. Thuật lại màn dựng tóc gáy này xong, ông Trần Đĩnh mới bật mí người kể là nhà báo Tiêu Lang. Tiêu Lang thố lộ: "Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị qui là thương địa chủ". Đúng là sự thật không còn gì thật bằng. Xin nhớ, Tiêu Lang chứ không phải Trần Đĩnh sợ bị qui là thương địa chủ. Sự thật rất thật ở điểm là Tiêu Lang sợ chứ không phải Trần Đĩnh sợ. Muốn biết lý do tại sao thì xin cứ hỏi ông Trần Đĩnh. Hay như một thí dụ khác, Tác giả đứng với Tô Hoài trên lề đường nhìn toán tù binh Mỹ bị đưa diễu trên đường phố cho dân chửi rủa, ném đá. Khi người phi công cuối cùng qua trước mặt, bỗng Tô Hoài chạy ra với tay đấm vào mặt người tù binh, nhưng cố ý đấm hụt. Tô Hoài giải thích với Trần Đĩnh: "Mình phải bầy tỏ lập trường, nếu không có đứa nào nó báo cáo mình đứng ngoài coi trong lúc nhân dân căm thù thì nguy". Lạ nhỉ, có hai người là bạn bè đi với nhau, Tô Hoài biểu diễn màn kịch "đấm hụt" vì sợ bị báo cáo. Tô Hoài sợ ai? Còn Trần Đĩnh tại sao không đóng kịch, tại sao không sợ bị báo cáo? Đây lại cũng là một sự thật rất thật nữa. Nhưng sự thật này cũng chỉ là một nửa. Còn nửa kia là Trần Đĩnh không đóng màn kịch đấm hụt vì ông đếch sợ Tô Hoài báo cáo. Lý do tại sao thì có lẽ Tô Hoài cũng biết, nhưng biết để bụng thôi chứ sức mấy mà dám nói. Những sự thật này tác giả Trần Đĩnh chỉ viết có một nửa, còn nửa quan trọng tại sao ông lại không viết ra cho bà con đọc cho vui.

Rồi một chuyện này nữa mới là động trời. Trần Đĩnh dám nắm tay người yêu của "Bác" là cô Nông Thị Xuân và dám lấy tên cô làm bút hiệu. Như thế có gan trời không? Trần Đĩnh đã chứng kiến tận mắt, và biết rất rõ Hồ Chí Minh lưu manh và tàn ác đến cỡ nào. Biết Hồ dùng nickname để viết báo kể tội bà Nguyễn Thị Năm địa chủ, người từng chứa chấp và nuôi ăn lũ đàn em của Hồ, nhưng chính Hồ quyết định cho đấu tố để giết bà. Bà Năm chết rồi một cỗ hòm tử tế cũng không có, chỉ có nhà báo Tiêu Lang thương hại, mà cũng chỉ dám thương thầm trong bụng. Biết Hồ giả dạng đi thị sát các cuộc đấu tố để giữ cho đúng chính sách triệt hạ hữu khuynh mà hắn đã đề ra. Biết Hồ dâm dục và trác táng đến cỡ nào, thế mà cả gan "cua" người tình của hắn. Trần Đĩnh bản lãnh gì mà không sợ mó dái ngựa, không sợ cả cô Xuân tố cáo? Cái nửa sự thật này cũng không được Trần Đĩnh nhắc tới.

Cả đến nhân vật Z, ngưòi con gái hộ lý của Hồ trong sách là ai, Trần Đĩnh cũng vẫn giấu. Hơn nữa thế kỷ rồi, ông còn sợ cái gì nữa! Vẫn là cái sự thật một nửa. Như vậy thì cái gì che lấp một nửa "Cái Đức viết báo" của tác giả Trần Đĩnh, làm mất đi sự vuông tròn mọi góc cạnh của sự thật. Câu trả lời ông Ngô Nhân Dụng đã xì ra, mà có lẽ vì thổi ống đu đủ quá trớn nên sự thật trần truồng và rất lộ liễu? Ngô Nhân Dụng viết: "Độc giả sẽ không ngạc nhiên khi đọc những tình cảm thân mến của tác giả (Trần Đĩnh) với nhân vật Hồ Chí Minh". Ông Ngô Nhân Dụng nói không sai, bằng chứng là trong toàn cuốn sách, tác giả Trần Đĩnh luôn luôn cẩn trọng gọi Hồ là Bác (viết hoa) hoặc Cụ (viết hoa) với một lòng tôn kính, và xưng cháu với Hồ. Tóm tắt lại là tác giả Trần Đĩnh muốn bảo vệ cái thần tượng Hồ Chí Minh của ông. Và chúng tôi xin nhấn mạnh thêm, đó cũng là nỗ lực và là công tác quan trọng nhất của đảng Việt gian cộng sản hiện naỵ

Đến đây thì người ta đã có đủ lý do để xác định được mục đích của tác phẩm Đèn Cù là gì, nó xuất xứ từ đâu, đi theo con đường mòn nào để tới được điểm hẹn cuối cùng là tòa soạn nhật báo Người Việt tại Nam California. Sự thành công của tác phẩm Đèn Cù ra sao thì chúng ta phải chờ. Thời gian sẽ trả lời. Bởi vì kết quả này tùy thuộc vào yếu tố chính là tinh thần và nhận thức của mọi người. Chúng ta có ý thức đúng không và có đủ sáng suốt để nhận thức không. Chúng tôi buồn lòng phải nói ra rằng, cái trở ngaị nhất trong công cuộc chống cộng hiện nay trong cộng đồng tỵ nạn chúng ta là tình trạng bát nháo và vô ý thức của cộng đồng. Tình trạng này, Lenin sư tổ của đảng CS Liên Sô đã cảnh giác các đồng chí của hắn. Chúng ta cũng nên lấy đó mà tự răn mình:

Nhiệt tình và Dốt nát trở thành : Phá hoại

Câu hỏi đặt ra là tại sao đảng VGCS lại phải bảo vệ cái thần tượng Hồ Chí Minh của chúng, và chúng đã thực hiện công việc bảo vệ này như thế nào.

Câu trả lời nên coi là một nguyên lý bất biến. Nguyên lý rất rõ ràng là nếu thần tượng Hồ Chí Minh bị sụp đổ thì tất nhiên đảng VGCS cũng sẽ phải sụp đổ theo. Vì thế, VGCS phải ra sức củng cố địa vị của Hồ Chí Minh cho thật vững chắc và bảo vệ nó. Điều đáng tiếc là nhiều tổ chức và cá nhân chống cộng, kể cả giới trí thức, vì quá xô bồ và bát nháo đã tiếp sức cho VGCS trong công tác này.

Có hai tội trạng chắc chắn đưa đến sự sụp đổ thần tượng Hồ Chí Minh nếu người chống cộng biết khai thác. Cả hai tội ác này Hồ đều phạm phải. Đó là tội bán nước và tội xua quân chiếm VNCH.

1. Tội bán nước -Sự kiện Hồ làm Việt gian và bán nước thì chúng tôi đã đề cập đến trong bài viết "Sự thật về Hồ Chí Minh, không biết hay biết mà không dám nói" rồi. Nhờ nhà báo Việt Thường cung cấp tài liệu là những văn kiện chính thức của đảng CSVN, và do sự tìm tòi thêm của mình, chúng tôi đã chứng minh tường tận và tương đối đầy đủ về hai tội trạng này của Hồ. Bài viết của chúng tôi nhằm phê bình đĩa DVD của Lm Nguyễn Hữu Lễ. DVD tố cáo các tội ác của Hồ Chí Minh [điều đó là đúng] nhưng lại làm ngơ cái tội ác lớn nhất là tội bán nước của hắn. Chúng tôi không dám dị nghị về tinh thần chống cộng của cha Lễ, nhưng quả thật có nghi ngờ rằng chung quanh cha Lễ có bàn tay của VC hay Việt Tân nhúng vào với mục đích gián tiếp gỡ tội cho Hồ để củng cố địa vị cho hắn. Dù muốn dù không thì thiển nghĩ, đây cũng là một hình thức tiếp tay cho VGCS và nằm trong sách lược của chúng là bảo vệ Hồ để giữ đảng.

Dư luận cũng như báo chí hiện nay đang ì xèo về chuyện VGCS bán nước. Để ý một chút, chúng ta không mấy khó khăn nhìn ra rằng dư luận đang có xu hướng kết án "sự kiện Thành Đô" - tức là tội bán nước - bằng cách tất cả tội trạng đổ trên đầu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khá Phiêu v.v. nhưng lại bỏ sót cái tên Hồ Chí Minh. Đó là chủ tâm của bọn cầm quyền Hànội hiện nay. Có phải chỉ có những tên CS này bán nước, còn Hồ Chí Minh thì không? Như chúng tôi đã trưng dẫn trong bài viết "Sự thật về Hồ Chí Minh ….. ", có những sự kiện chứng tỏ Hồ là Việt gian bán nước. Cũng có những sự kiện khác, kẻ thi hành việc bán nước lúc hồ còn sống là Ung Văn Khiêm hay Phạm Văn Đồng, và ngày nay là các đồng đảng thế hệ sau của Hồ. Nhưng dù ai đi nữa, theo chế độ đảng trị của CS thì chủ tịch đảng tức Hồ Chí Minh phải chịu trách nhiệm chứ không đổ thừa cho ai được. Hồ không thể bịp bợm, vừa lau nước mắt vừa xin lỗi trước quốc dân như trong vụ Cải Cách Ruộng Đất: "các chú làm thế chứ bác đâu có muốn thế". Trong mọi trường hợp mỗi khi tố cáo và lên án tội bán nước của VGCS, lờ đi tên Hồ Chí Minh trong vấn đề này, chúng tôi không tin là vô tình, mà là một dụng ý nằm trong sách lược của bọn đầu sỏ Hànội. Chúng thà hy sinh cả một lũ chốt thí cũng không sao, miễn là địa vị "cha già dân tộc" của Hồ phải được bảo vệ. Với đảng VGCS, Hồ Chí Minh không thể bị kết tội là Việt gian bán nước. Luận điểm chúng tôi đặt ra là, bảo vệ sự tồn tại của Hồ tức là bảo vệ sự tồn tại của đảng VGCS. Đảng VGCS luôn theo đuổi sát luận điểm này.

2. Tội xâm lược miền Nam - VGCS cần phải phủ dụ để giữ yên dân chúng miền Nam, đồng thời để chinh phục hơn 3 triệu người miền Nam tỵ nạn tại hải ngoại. Sách lược của những tên đầu sỏ BCT là đổ cái tội xâm lược miền Nam lên đầu kẻ khác để giữ thanh danh và uy tín cho Hồ. Các người bị đổ tội là Lê Duẫn và Lê Đức Thọ. Cuốn Đèn Cù là một cố gắng, nhưng tin rằng chưa phải là cố gắng cuối cùng cho chính sách này. Chính sách trút trách nhiệm này - không chối cãi được - được bàng bạc thể hiện trong cuốn Đèn Cù của Trần Đĩnh. Chúng ta hãy đọc bình luận Gia Ngô Nhân Dụng viết về vấn đề này: "Đối với bên ngoài, Lê Duẫn bám sát chủ trương của Mao gây cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam. Theo Trần Đĩnh thì Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp không muốn đánh, nhưng không chiếm được đa số nên chịu phục tùng …" Luận điệu đổ tội này, như chúng ta thấy, xuất phát từ những thành phần dân chủ cuội trong nước trước đây là Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Trần Khuê, Nguyễn Văn Trấn v.v. rồi lan ra hải ngoại. Nhiều trí thức và đảng phái quốc gia tại hải ngoại đã dễ dàng rơi vào cái bẫy chuột chù này của bọn dân chủ cuội trong nước. Xin nêu một thí dụ điển hình là GS Trần Nhã Nguyên với cuốn "Lịch Sử Việt Nam 1940 - 2007". Ông Trần Nhã Nguyên là một giáo sư trung học, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm thời VNCH. Sau 30-4-1975 ông chạy ra hải ngoại viết báo và viết sách. Trong cuốn Lịch Sử VN 1940 - 2007, ông Nhã Nguyên trích dẫn một số nhân vật vốn là đối thủ của Lê Duẫn và Lê Đức Thọ cho rằng về cuối đời, Hồ đã mất hết quyền hành về tay bọn Duẫn - Thọ, và ông đi đến kết luận: "Ai ngờ con người đầy huyền thoại như Hồ Chí Minh, xác của ông đến nay còn được bảo trì ở lăng Ba Đình, lại mang nhiều niềm uất hận. Đến giờ phút cuối đời, chỉ trối trăn vài lời di chúc, cũng bị liên minh Lê Duẫn-Lê Đức Thọ xóa tẩy, thêm bớt, ngày qua đời cũng đổi. Đặc biệt là bao nhiêu thập niên qua, xác của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn giá trị như một kho báu trong chính sách bùa chú cho sự sống còn của đảng" (Lịch Sử Việt Nam 1940 - 2007 trang 746).

Bọn dân chủ cuội trong nước và lũ theo voi hít bã mía tại hải ngoại, về hình thức, có vẻ chống tập đoàn đương quyền tại Hànội, nhưng thật bất hạnh, chúng lại rơi đúng vào cái bẫy mà bọn ma đầu Hanội giương ra, tức là cái sách lược đổ hết tội lên đầu đàn em để cứu Hồ. Sự thực rõ ràng lắm nếu chúng ta chịu khó nhìn vào cái lăng mộ của Lê Duẫn và để tâm suy nghĩ một chút. Thật là mưu mô cao siêu và vô cùng thâm độc! Quí vị tưởng rằng bọn cầm quyền Hànội xây lăng mộ để thờ Lê Duẫn thật sao? Hoàn toàn không phải. Mà ngược lại, chúng cố tình hổ hắc ín lên cái thây ma Lê Luẫn đang nằm trong mồ. Nếu thực tâm xây lăng mộ để thờ Lê Duẫn thì lũ ma đầu Bắc Bộ Phủ đã chẳng trương lên ngay trước tiền đình tấm bảng ghi câu nói vô cùng ngu xuẩn của Lê Duẫn để muôn đời ngưòi VN mỉa mai: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, cho Trung Quốc". Còn gì là tinh thần yêu nước, là công trạng, là danh dự của một ông Tổng Bí Thư? Qua tấm bảng này, Lê Duẫn hiện nguyên hình là một tên đầy tớ của ngoại bang, vâng lệnh quan thầy Nga Tầu xua quâm xâm chiếm miền Nam. Bán nước chứ còn gì nữa. Nếu đuổi Mỹ để "giải phóng" miền Nam là tội, thì kẻ phạm tội ác này là Lê Duẫn chứ không phải Hồ. Đúng logic là thế. Thâm độc chưa! Dù đền thờ nguy nga đồ sộ, nhưng với cái bảng đề công kiểu này, Lê Duẫn gánh hết mọi tội lỗi thay cho Hồ Chí Minh trong chủ trương xâm lược miền Nam. Thế mà cũng có nhiều người tỵ nạn, kẻ cả bọn trí thức cục phân vẫn cứ tưởng là thật. VGCS xây lăng mộ cho Lê Duẫn để ghi nhớ công ơn của Duẫn là thật! Thế có buồn không!

Chỉ cần bỏ một chút xíu công sức thôi, người ta đã có thể dễ dàng lật tẩy sự gian manh của bọn Bắc Bộ Phủ. Này nhá, nếu Hồ Chí Minh không chủ trương gây chiến để xâm lược miền Nam, thì tại sao trước tết Mậu Thân 1968 hắn lại gởi mấy câu thơ này vào miền Nam để động viên tinh thần bộ đội của hắn đang đánh nhau trong đó:

Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta.

Hồ chí Minh hồi tết Mậu Thân tuy có già, nhưng không phải là đã lú lẫn. Bằng chứng là hắn vẫn còn tỉnh táo để làm thơ kia mà. Hơn nữa, trong hệ thống cầm quyền của chế độ độc tài toàn trị miền Bắc, ai dám có những quyết định quan trọng vượt quyền của chủ tịch đảng? Chạy tội cho Hồ Chí Minh trong vấn đề xâm lược miền Nam chỉ là một mánh lới lừa bịp người dân ít học và bọn trí thức đầu bò gía trị không bằng cục phân. Kể cũng tội Lê Duẫn, nhưng hắn đã chết rồi chẳng biết được, con xe bị thí để cho con tướng tội đồ được yên vị. Tác phẩm Đèn Cù đã góp công không nhỏ trong nước cờ thí này của bọn đầu lãnh Hànội.

Nhưng dù sao Đèn Cù cũng là một cuốn sách chứa đựng ít nhiều những dữ kiện được coi là sử liệu. Tác giả, để chứng tỏ sự trung thực của các dữ kiện ông viết ra, đã dám thẳng thắn thách thức: "Vâng, tôi xin đối mặt với công luận đây. Tôi ăn gian nói dối thì các ông cứ việc vạch ra". Đây là một thái độ thành khẩn đáng khen, nhưng đồng thời cũng là một thách thức có vẻ kiêu căng và tự mãn. Có lẽ bởi vì xưa nay ai cũng cho rằng đảng VGCS là một đảng chuyên môn gian dối và lừa bịp, cho nên thiển nghĩ, tác giả Trần Đĩnh, một đảng viên kỳ cựu, mới cảm thấy cần phải mạnh mẽ tự khẳng định mình và thách thức như thế. Kẻ hèn này không dám tự coi mình là một tiếng nói công luận, thành thử không muốn làm công việc gọi là vạch ra sự ăn gian nói dối, nếu có, của tác giả Trần Đĩnh. Thế nhưng, theo nhận xét riêng của chúng tôi, ý tưởng chính (main idea) trong cuốn Đèn Cù của tác giả Trần Đĩnh là muốn tố cáo tội ác gây ra cuộc chiến tranh Nam - Bắc. Vì thế, chúng tôi muốn nêu lên điều khẳng định này là, người chủ trương gây chiến tranh để chiếm miền Nam là Lê Duẫn là sai, sai lầm hoàn toàn. Kẻ gây ra tai họa này không phải ai khác hơn là Hồ Chí Minh. Trút tội lên đầu Lê Duẫn là sách lược "thí xe để giữ tướng" hiện nay của VGCS. Trong nước, VGCS mở hết chiến dịch này đến chiến dịch khác ca tụng đạo đức và công ơn của Hồ. Trong khi tại hải ngoại, chúng hướng dẫn có kế hoạch dư luận đi theo con đường này bằng truyền thông và các tác phẩm văn học trong đó có Đèn Cù. Tác giả Trần Đĩnh tin rằng Lê Duẫn đi theo chủ trương của Mao gây ra cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam, trong khi đó Hồ và Võ Nguyên Giáp không muốn đánh là sự hiểu biết và cách suy nghĩ của tác giả. Chúng tôi tôn trọng quyền tự do tư tưởng của ông, nhưng khẳng định rằng cách suy nghĩ đó phù hợp với sách lược của đảng là bằng mọi giá phải bảo vệ địa vị Hồ để giữ vững sự tồn tại của đảng, cho dù phải hy sinh cả những đảng viên có công và trung kiên nhất của đảng.

Chuyện ngoài lề. Anh bạn bác sĩ châm cứu của người viết như đã nói đến ở trên, sáng nay lại phone than phiền: "…. Loại sách viết về vấn đề VN luôn luôn rất hấp dẫn đối với tôi, nhưng từ trước tới nay, tôi chưa đọc cuốn sách nào tầm thường như cuốn Đèn Cù. Toàn là chuyện … khổ lắm, biết rồi. Nói mãi. Chán!"

Ngày 10-9-2014
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Việt Cộng Ắt Đi Với TC

Vi Anh


Thông tấn xã Trung Cộng loan tải Lê Hồng Anh, ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, đặc phái viên của Tổng bí Thư Nguyễn phú Trọng, đi TC từ ngày 26 đến 27 tháng 8, đã “nhất trí, đồng tình” cái gọi là “nhận thức chung” gồm ba điểm để tiếp tục phát triển quan hệ Việt Trung.

RFA tóm kết như sau: “Lãnh đạo đảng, hai nước sẽ tiếp tục tăng cường chỉ đạo trực tiếp phát triển quan hệ song phương, thúc đẩy quan hệ Trung Việt trước sau như một, phát triển lành mạnh, ổn đinh. Hai bên cần tiếp tục có giao lưu sâu sắc giữa hai đảng, nhìn về lâu dài, khôi phục và tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực quốc phòng, kinh tế thương mại, an ninh, hành pháp và nhân văn. Hai bên đồng ý tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa lãnh đạo đảng và hai nước, nghiêm túc thực hiện thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước, vận dụng tốt cơ chế đàm phán chính phủ về biên giới, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu và thương lượng về vấn đề cùng khai thác, không có hành động làm phức tạp và mở rộng tranh chấp, giữ gìn đại cục quan hệ hai nước cũng như hòa bình và ổn định ở biển Đông.”

Đây là dấu chỉ cho thấy CSVN không phải khó thoát Trung, mà ắt phải đi với Trung Cộng. Ắt phải đi với TC vì con đường CSVN đi không phải do CSVN chọn, mà do Đảng CS Trung Quốc sắp xếp, vạch ra, dàn dựng. CSVN về ý thức hệ như đệ tử đối với quan thầy, về tổ chức chánh quyền như thần tử đối với long nhan. Hai đảng, nhà nước CS tách người dân Việt qua một bên, nhà cầm quyền hoàn toàn của đảng, vì đảng, do đảng. Người dân hoàn toàn không có tiếng nói trong thương lượng và đảng nhà nước không cần mất thì giờ giải trình một thoả ước quốc gia đại sự như thế cho quốc dân.

Ngay như trong vụ TC đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế VN, dân chúng la làng lên, công nhân thù, đốt xưởng của TC, dân chúng biểu tình chống TC, Nhà Nước chỉ đưa tàu cảnh sát biển ra để CS gọi là “tuyên truyền chánh nghĩa” của VN, chớ không dám nói ngăn chận, Thủ Tướng bày kêu gọi ASEAN, Phi liên minh, quốc tế trong đó có Thượng Viện Mỹ lên tiếng yêu cầu TC rút giàn khoan. Phía Đảng CSVN, Tổng bí Thư Nguyễn phú Trọng coi thường sự chống đối, không buồn nói một lời. Nhưng khi dưới áp lực của quốc tế và nhân dân VN, TC rút giàn khoan trước hạn một thàng thì Đảng CSVN cướp công, cử Lê Hồng Anh sang Tàu “báo công” với TC, tuyên hứa phát triển hữu nghị và giải quyết song phương mọi thứ với TC. Dưới cái nhìn của người dân Việt, coi như Đảng CSVN “nạp mạng” đất nước và nhân dân VN “cho chằn”.

Thái độ và hành động của CSVN qua chuyến đi TC của Lê hồng Anh, đặc phái viên cho Tổng bí thư Nguyễn phú Trọng và nhận thức ba điểm của Đảng CSVN với Đảng CSTQ vừa rồi là một dấu chấm dứt những phỏng đoán, đồn đoán CSVN có thể đi với Mỹ hay ít ra nhờ thế của Mỹ để ngăn chận đà bánh trướng, xâm chiếm, thôn tính biển đảo của quốc gia dân tộc VN.

Không phải Đảng CSVN hành động tùy hứng mà có tính toán kỹ để đi với TC. Đây là một “hạ quyết tâm” của Đảng CSVN sau nhiều ngày suy nghĩ, bí mật tính toán với nhau về một đề tài chiến lược, đi với Mỹ thì mất Đảng, đi với TC thì mất đất. Đảng CSVN quyết định thà đi với TC mất đất nhưng còn được cầm quyền ít nhứt một thơi gian, còn hơn đi với Mỹ là mất đảng, mất đảng là mất tất cả. Tự do, dân chủ, nhân quyền là quyền lực mềm, là giá trị nhân bản, là giá trị chánh trị có tính tổng hợp, là khắc tinh, là huỷ thể của độc tài, chuyên chính. CSVN biết tiến trình, diễn biến của tự do, dân chủ, nhân quyền VN là một qui trình không thể đảo ngược được nữa. Do vậy Đảng CS muối mặt quyết định đi với TC để còn đảng hầu “thu vén cuối đời”.

Thêm vào đó Đảng CSVN biết dù muốn đi với Mỹ như đồng minh của Mỹ như Phi Luật Tân, Nhựt bổn, Nam Hàn, cũng không được. Vì theo truyền thống chánh trị và tinh lý hiến pháp, luật pháp, chánh quyền Mỹ chưa bao giờ đồng minh với một chế độ CS, chỉ đối tác ngoại giao, giao thương, chiến lược tùng phần là quá lắm rồi.

CSVN vì thế thà đi với TC mất đất, mất biển mà còn nắm được quyền cai trị độc tài, ít nhứt trong hiện tại và tương lai gần. Lãnh thổ, lãnh hải TC có chiếm thì cũng chiếm từ từ, chớ đâu có lấy một cái rụp. CSVN cố gắng hạn chế mất mát thôi, la làng lên cho dân đỡ chưởi, chớ biết chống lại quan thầy TC khổng lồ là tự sát. CSVN tin rằng ngay khi TC biến VN thành một thuộc địa kiều mới, cũng không hề chi, CSVN vẫn có thể được quan thầy cho làm thái thú trá hình, trong trường hợp bết nhứt đó vẫn có lợi cho Đảng CSVN.

Huống hố chánh trị Mỹ “cực kỳ” thực dụng, thực dụng một cách trơ trẽn. Trong đà bành trướng của TC, Mỹ lúc nào cũng nói chỉ bảo vệ con đường hàng hải huyết mạch ở Á châu Thái Bình Dương thôi, chớ không đứng về phía bên nào trong các cuộc tranh chấp biển đảo của các nước trong vùng.

Kinh nghiệm đau thương VN Cộng Hoà còn đó. VNCH là đồng minh sanh tử với Mỹ còn bị Mỹ phản bội bỏ rơi khi Mỹ bắt tay được với TC. Ai bảo đảm một ngày nào đó chánh trị “cực kỳ” thực dụng của Mỹ sẽ không “móc ngoặc” với TC chia quyền lợi, khai thác tài nguyên Á châu Thái Binh Dương trên đầu trên cố các nước trong vùng; Biển Đông trở thành biển của nỗi buồn nhược tiểu, của nỗi nhục da vàng.

Nếu đi với Mỹ, CSVN còn mắc một cục xương nuốt không bao giờ vô là cả triệu người Mỹ gốc Việt chống Cộng. Một trở ngại lớn trong bang giao và giao thương giữa Hà nội và Washington DC. Trên thực tế nhứt định Mỹ tin người Mỹ gốc Việt hơn vì xưa là đồng đội, đồng minh nay là công dân Mỹ.

Bà con xa không bằng láng giềng gần. Mỹ ở xa mà lại là kẻ thù xưa của CSVN. TC lâu này ở gần lại là đồng chí CS, là đồng minh viện trợ hào phóng cho CSVN trong chiến tranh VN.

Nếu quan niệm cứu cánh của chánh trị, chánh đảng là chiếm chánh quyền phục vụ quyền lợi Đảng thì con đường CSVN đi theo TC như trò và thầy, là rất “logic”. Còn nếu quan niệm chánh trị là phục vụ cho quốc gia dân tộc, cho đất nước nhân dân, con đường CSVN đang đi là một con đường bá đạo, phản quốc, mãi quốc câu an, cầu vinh, có tội đối với đất nước và nhân dân. Nhưng CSVN đâu có quyền chọn lựa. TC đã “gài độ”, CSVN không thể tránh được. Đó là con đường định mạng của CS Hà nội. Như hai câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu. Con đường CS như “Cái quay búng sẵn trên trời”; còn con người CSVN “Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”./.(Vi Anh)

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Văn hóa dân chủ
Nguyễn Hưng Quốc
(Blog VOA)

Một nền dân chủ không phải là tổng số các thiết chế dân chủ. Có những nơi và những lúc có các thiết chế dân chủ; ừ, thì cũng bầu cử, cũng có đối lập, cũng có tam quyền phân lập đàng hoàng nhưng lại vẫn không có dân chủ.

Ngoài vấn đề thiết chế, để có dân chủ, người ta cần một yếu tố khác: văn hóa dân chủ. Nói một cách tóm tắt, một nền dân chủ lành mạnh cần được xây dựng trên một nền văn hóa dân chủ lành mạnh. Không có văn hóa dân chủ, chế độ độc tài, sau khi bị lật đổ, sẽ dẫn đến tình trạng hoặc hỗn loạn hoặc một chế độ độc tài khác, có khi còn khắc nghiệt hơn nữa.

Nhưng văn hóa dân chủ là gì?

Trước hết, về khái niệm văn hóa: Trong cả mấy trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa, tôi tâm đắc nhất với định nghĩa của các nhà nhân học (anthropology) trong thời gian gần đây: Ðó là một hệ thống biểu tượng, ý nghĩa, giá trị và quy phạm (norm) chi phối cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm và cách hành sử của cả một cộng đồng đông đảo. Theo cách hiểu ấy, văn hóa dân chủ có thể được định nghĩa là một hệ thống biểu tượng, ý nghĩa, giá trị và quy phạm chi phối quan hệ quyền lực giữa những người cai trị và những người bị trị để mọi người biết phân biệt cái đúng và cái sai, cái nên và cái không nên, cái có thể chấp nhận được và cái không thể chấp nhận được, từ đó, biết tương nhượng nhau hầu tạo nên một cuộc sống hài hòa, ở đó, mọi người đều được tôn trọng.

Trong định nghĩa trên, yếu tố quan trọng nhất là sự tôn trọng những cái khác và những người khác. Nền độc tài nào cũng được xây dựng trên tinh thần loại trừ những người khác và những cái khác. Ðộc tài là một tâm lý ích kỷ và tự kỷ: Họ chỉ biết có mình họ và những gì quen thuộc nhất đối với họ. Mọi chế độ độc tài đều bài ngoại, đều kỳ thị chủng tộc hoặc kỳ thị giai cấp cũng như tôn giáo và phái tính. Văn hóa dân chủ, ngược lại, đề cao sự khoan dung và hòa đồng.

Việc tôn trọng cái khác dẫn đến đặc điểm thứ hai của văn hóa dân chủ: sự tương nhượng.

Về phương diện xã hội, giữa người này và người kia, giữa tầng lớp này và tầng lớp nọ, bao giờ cũng có những khác biệt nhất định. Cách giải quyết các sự khác biệt ấy sẽ dẫn đến độc tài và dân chủ. Ðộc tài: khi người hoặc nhóm người này nhất định dùng sức mạnh để cưỡng bức những người khác. Dân chủ: khi mọi người biết ngồi lại với nhau để cùng nhau thương thảo trong tinh thần cả hai cùng thắng (win-win), nghĩa là mỗi người nhường nhau một chút.

Về phương diện chính trị, ở các quốc gia dân chủ phương Tây, bất cứ chính phủ nào cũng được bầu lên từ hơn nửa số cử tri trong cả nước. Không có ai chiếm được 100% số phiếu. Thường thì chỉ quá bán một chút, tức khoảng trên 50%. Ðiều đó có nghĩa là không có một chính phủ nào thực sự đại diện cho nhân dân nói chung. Và cũng không có một chính phủ nào có được một thứ quyền lực tuyệt đối. Trong quá trình soạn thảo và thông qua các sắc luật và các chính sách, lúc nào họ cũng đối đầu với sự phản đối của các phe đối lập cũng như một bộ phận dân chúng nào đó. Bổn phận của chính phủ, do đó, phải đàm phán với những người ấy, cuối cùng, mỗi bên nhượng bộ nhau một chút để đi đến một chính sách chung. Trong ý nghĩa ấy, có thể nói thực chất của chính trị dân chủ là việc giải quyết các xung khắc về quyền lợi và quan điểm bằng biện pháp thảo luận để, cuối cùng, đi đến một sự đồng thuận.

Một văn hóa dân chủ bao giờ cũng là một văn hóa dân sự (civic culture) nơi các công dân ý thức vai trò và trách nhiệm của mình đối với cái chung. Các lý thuyết gia về chính trị hầu như đồng ý với nhau điểm này: các chế độ toàn trị và độc tài bao giờ cũng tìm cách truyền bá và nuôi dưỡng thứ văn hóa thụ động và vô cảm để người dân không quan tâm đến chính trị, bất kể số phận của dân tộc và của chính mình. Văn hóa dân chủ, ngược lại, khuyến khích mọi người tham gia thảo luận và phản biện, có tinh thần trách nhiệm và ý thức sâu sắc về các quyền của mình. Bằng cách hành xử như thế, mỗi người sẽ là một nhà dân chủ. Có những chế độ độc tài nhưng không có nhà độc tài (như trường hợp của Việt Nam hiện nay), nhưng tuyệt đối không thể có một chế độ dân chủ mà lại không có các nhà dân chủ. Những nhà dân chủ ấy là những công dân bình thường chứ không phải là những nhà lãnh đạo.

Cuối cùng, văn hóa dân chủ là một văn hóa tôn trọng pháp luật. Ví dụ, sau khi bầu cử một cách minh bạch, phe thất bại phải chấp nhận kết quả bầu cử chứ không đòi xóa kết quả để bầu lại cho đến khi nào mình thắng. Ðó là trường hợp của Thái Lan trong một hai thập niên gần đây. Các cuộc biểu tình làm tê liệt mọi hoạt động chính trị ở đó đều xuất phát từ tinh thần thiếu tôn trọng luật chơi của dân chủ. Tôi thích thái độ của các chính trị gia Tây phương hơn. Sau khi biết kết quả bầu cử, lãnh đạo phe bại bao giờ cũng điện thoại cho đối thủ để, một mặt, thừa nhận mình thua, mặt khác, chúc mừng kẻ chiến thắng. Kẻ chiến thắng, cũng vậy, trong diễn văn đầu tiên, bao giờ cũng, một mặt, cám ơn những người bỏ phiếu cho mình; mặt khác, hứa hẹn sẽ phục vụ cho cả nước chứ không phải chỉ riêng cho đảng mình hoặc những người đã bỏ phiếu cho mình.

Dĩ nhiên, trong cái gọi là văn hóa dân chủ ấy còn nhiều yếu tố và đặc điểm khác. Ở đây, tôi chỉ xin dừng lại ở những điểm chính. Những điểm ấy khá đơn giản, nhưng để có được, cần có thời gian học hỏi và rèn luyện. Người ta thường nói chính trị nhất thời còn văn hóa thì lâu dài. Văn hóa chính trị, trong đó, có văn hóa dân chủ, cũng vậy: Nó cần thời gian để phát triển.

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Sinh viên, ngọn lửa cách mạng của trí thức trẻ
Saturday, September 27, 2014 2:05:22 PM

Lê Diễn Ðức

(Blog RFA)
Mùa Xuân Prague 1967

Vào ngày 31 tháng 10 năm 1967 cuộc biểu tình của sinh viên ở Prague đòi loại bỏ các nhà lãnh đạo ngày càng không được lòng dân của Ðảng Cộng Sản Tiệp Khắc đã bị đàn áp tàn bạo.

Tháng 1 năm 1968, ông Alexander Dubcek trở thành bí thư thứ nhất chi nhánh Slovak bắt đầu một quá trình cải cách đã đi vào lịch sử với tên gọi của Mùa Xuân Prague.

Trong những tháng tiếp theo, những người biểu tình yêu cầu bãi bỏ kiểm duyệt, cho phép thành lập tổ chức độc lập, tự do hóa chính sách đối với các nhà thờ, dần dần sẽ đưa quy tắc dân chủ vào nội bộ đảng, chuẩn bị một nhà nước liên bang...


Mùa Xuân Prague bị dập tắt bởi sự can thiệp quân sự của các nước thuộc khối Hiệp Ước Warsaw. Các cuộc biểu tình chống lại sự hiện diện của quân đội Xô Viết đã bị đàn áp dã man. Biểu tượng của cuộc biểu tình chống lại cuộc xâm lược này là vụ tự thiêu của Jan Palach, sinh viên tại đại học Charles ở Prague, vào ngày 16 tháng 1 năm 1969. Tang lễ Palach trong ngày 25 tháng 1 đã trở thành một cuộc biểu tình lớn với sự tham gia của khoảng 100 ngàn người.

Cảm hứng từ Mùa Xuân Prague, tháng 3 năm 1968 sinh viên Ba Lan từ các thành phố Warsaw, Gdansk, Krakow, Lodz và Poznan đã tổ chức biểu tình đòi cải cách chính trị. Cuộc biểu tình cũng bị công an đàn áp tàn nhẫn.

Những người biểu tình mình đã hy vọng mờ nhạt về sự khắc phục các giả định của hệ thống Cộng Sản và cũng muốn qua việc biểu tình sẽ thay đổi ý thức của giới trí thức trẻ Ba Lan. Nhiều sinh viên sinh viên tham gia bị nhà cầm quyền bắt giữ là những người năng động nhất trong năm 1980, khi họ tham gia thành lập các cơ sở của “Công đoàn Ðoàn kết” và trở thành những nhà lãnh đạo chủ chốt của phong trào xã hội này như Jacek Kuron, Adam Michnik...

Trong thập niên 80 sinh viên Ba Lan phát động phong trào “Orange Alternative” (PomaraDczowa Alternatywa) tức là “lựa chọn màu cam” qua ăn bận, trang trí, sử dụng đồ dùng trong sinh hoạt, với mục đích chọc diễu chính quyền, chống lại màu đỏ chính trị tràn ngập trong đời sống công cộng. Phong trào xuất phát từ Wroclaw, lan ra các thành phố Lodz, Lublin và thủ đô Warsaw.

Những hoạt động tích cực của sinh viên Ba Lan đã đặt nền móng cho một cuộc cách mạng dân chủ mùa Thu năm 1989 xóa bỏ chế độ Cộng Sản.

Vào ngày 8 tháng 8 năm 1988, các cuộc biểu tình của sinh viên Miến Ðiện lan rộng khắp đất nước, thu hút sự ủng hộ của các tu sĩ, công nhân, trí thức và thành viên của tất cả các nhóm dân tộc và tầng lớp xã hội.

Cuộc biểu tình đã kéo dài thành một cuộc đình công 5 ngày, đã bị chính quyền quân sự dìm trong biển máu với khoảng ba ngàn người thiệt mạng (chính quyền Miến Ðiện đưa ra con số khoảng 350 người). Sinh viên đã bày tỏ sự ghê tởm của họ với chính sách kinh tế, chính trị và tiền tệ thù địch của chính quyền quân sự được lãnh đạo bởi tướng Ne Win.

Sự đàn áp và cảnh máu của những người dân lương thiện bị đổ xuống đã thúc đẩy bà Aung San Suu Kyi lúc bấy giờ từ Anh quốc về nước lo cho mẹ già, ở lại và lần đầu tiên bước vào vũ đài chính trị, trở thành một biểu tượng của nền dân chủ và tự do không chỉ là của Miến Ðiện, mà còn phần còn lại của thế giới.

Giờ đây, khi Miến Ðiện đang chuyển mình, bắt đầu những bước đi thay đổi cho lộ trình dân chủ, tại trung tâm Prague và trên toàn thế giới vào ngày 08 tháng 8 năm 213 đã kỷ niệm 25 năm biến cố được gọi là
“8888.” để tôn vinh nạn nhân trong quá khứ và hiện tại của chế độ độc tài Miến Ðiện.

Ngay trong ngày Ba Lan tổ chức cuộc bầu cử tự do đầu tiên trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, ngày 4 tháng 6 năm 1989, trên quảng trường Thiên An Môn tại Bắc Kinh, đã diễn ra một trong những vụ thảm sát khủng khiếp nhất trong lịch sử hiện đại. Cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn sinh viên đòi cải cách chính trị, dân chủ trong đời sống công cộng và chống sự gia tăng tham nhũng, đã bị quân đội Trung Quốc sử dụng xe tăng đàn áp. Những ước tính về con số thiệt mạng khác nhau: 4000-8000 (CIA), 2600 (Hội Chữ Thập Ðỏ Trung Quốc) và có nguồn khác chưa được xác định khác là 5 ngàn. Số người bị thương từ 7 ngàn đến 10 ngàn người.

Từ đó, mỗi năm cứ đến ngày 4 tháng 6, hàng chục ngàn, có khi tới hàng trăm ngàn người Hoa ở Hồng Kông tập trung mít tinh, đốt nến tưởng niệm những nạn nhân của vụ thảm sát này. Nhiều sinh viên tham gia cuộc biểu tình trở thành những nhà hoạt động đối lập.

Hồng Kông 214

Và cũng tại Hồng Kông, 25 năm sau, ngày 22 tháng 9 năm 214, sinh viên Hồng Kông bắt đầu một tuần bãi khóa với quy mô lớn để phản đối lập trường của chính phủ trung ương Trung Quốc trong việc cải cách bầu cử ở đặc khu hành chính này.

Có 24 trường đại học tổng hợp, bách khoa và trung học Hồng Kông tham gia bãi khóa. Tờ bưu điện Hoa Nam cho hay, khoảng 400 học giả và nhân sự không giảng dạy ở các trường học cũng bãi công để ủng hộ học sinh sinh viên. Ðây chỉ mới là màn dạo đầu cho một cuộc biểu tình rầm rộ hơn dự kiến sẽ diễn ra vào ngày 1 tháng 10 tới do phong trào Occupy Central tổ chức.

Sinh viên cáo buộc Trung Quốc phản bội lời hứa về việc trao thêm quyền dân chủ cho Hồng Kông trong vòng 50 năm tiếp theo, sau khi Anh quốc trao trả lại cho Trung Quốc vào năm 1997. Họ đòi hỏi phải cho cư dân Hồng Kông được quyền tự do ứng cử, thay vì Bắc Kinh tự đưa ra danh sách các ứng cử viên.
Trong cao trào này nổi bật lên khuôn mặt trẻ trung Joshua Wong.

Tháng 6 năm 2011, khi mới 14 tuổi, Joshua Wong đã thành lập phong trào “Scholarism“chống lại việc bắt buộc các trường tiểu học Hồng Kông từ 2015 đưa vào giảng dạy “Mô hình Trung Quốc,” bao gồm chào cờ Trung Quốc, học lịch sử nói về tính ưu việt của chính quyền Trung Quốc, “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”... Cha của Joshua Wong, người từng chạy trốn khỏi chế độ Cộng Sản hàng chục năm về trước, và những người Hồng Kông khác đã phẫn nộ khi thấy trong sách giáo khoa sử sắp tới không hề nhắc đến những biến cố to lớn tại Trung Quốc như Cách Mạng Văn Hóa 1966-1976, hay thảm sát Thiên An Môn 1989.

“Scholarism” đã thu thập được 20 ngàn chữ ký cho kiến nghị hủy bỏ sách giáo khoa này. Nhà cầm quyền Trung Quốc gọi Joshua Wong và bạn bè là những kẻ đấu tranh cực đoan, những phần tử nổi loạn tuổi teen.
“Chương trình giáo dục quốc dân muốn bồi dưỡng lòng yêu nước mù quáng trong giới sinh viên. Chúng tôi lo ngại rằng nhiều sinh viên sẽ bị tẩy não.” “Chúng tôi chỉ không muốn nhìn thấy thế hệ tiếp theo của mình mất tự do và trở thành những con rối ,” Joshua Wong nói.

Theo báo chí quốc tế, sinh viên đã vấp phải những phản ứng quyết liệt đầu tiên từ phía nhà cầm quyền. Bưu điện Hồng Kông từ chối gửi truyền đơn kêu gọi bãi khóa, trong khi một loạt trường học đe dọa sẽ hạ điểm hạnh kiểm nếu học sinh, sinh viên bỏ học.

Vì tính chất đặc biệt về quản lý hành chính của Hồng Kông, nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ khó có thể cho một “Thiên An Môn” tái hiện trong ngày 1 tháng 10 năm 214.

Hơn nữa, nhận rõ cuộc vận động của sinh viên là một hoạt động dân sự ôn hòa dường như đã thấm vào máu của người Hồng Kông, Joshua Wong đã thẳng thắn nói rằng, “Nếu quân đội kéo đến, tất cả chúng tôi sẽ đi về nhà... chúng tôi không muốn nhìn thấy đổ máu.”

Cuộc tranh đấu của sinh viên dù có thành công hay không cũng sẽ là ngọn lửa cách mạng đầu tiên nung nấu, biểu hiện sự đoàn kết, nguyện vọng chung của xã hội. Ðây là một sự thách thức lớn đối với nhà cầm quyền Trung Quốc.

Sinh viên là giới trí thức trẻ, sôi nổi, cầu tiến và luôn có khao khát tự do, dân chủ, những giá trị mà họ nhìn nhận khi đi ra thế giới bên ngoài.

Tinh thần của sinh viên Hồng Kông khác hoàn toàn với sinh viên Việt Nam. Một ví dụ điển hình nhất có thể nêu ra. Khi Nguyễn Thị Phương Uyên bị bắt, 109 sinh viên của trường đại học thực phẩm đồng ký đơn gửi lên chủ tịch nước đòi trả tự do cho cô, nhưng sau đó đã nhanh chóng phủ nhận, hoặc rút tên vì bị đe dọa đuổi học. Họ sống trong sợ hãi, cũng như đa số còn lại bị tẩy não, bị thuần phục trong cái lò giáo dục dối trá.

Khi sinh viên, lực lượng trí thức tương lai của xã hội, có điều kiện tiếp cận thông tin và hiểu biết mà vô cảm với chính trị, chưa nhận thức được sự cần thiết phải thay đổi thể chế để lành mạnh hóa đời sống, thì khó hy vọng gì về một tiến trình dân chủ cho Việt Nam.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Cuộc Chiến Tranh Mới Của Mỹ

Vũ Linh

...khi máy bay Mỹ đánh bom Syria thì TT Obama bận tham dự hội nghị LHQ về khí hậu...

Sau khi tấm màn được kéo lên và khán giả có dịp nhận diện rõ hình ảnh trên sân khấu, thì sự thật hiện ra: nước Mỹ chính thức bước vào một cuộc chiến mới tại Trung Đông. Chống một đối thủ mới là lực lượng khủng bố ISIS. Trên một lãnh thổ mới là Syria.

Trước hết, phải nói ngay kẻ viết này hoan nghênh quyết định của TT Obama. Cuối cùng thì tổng thống cũng đã quyết định hành động, không thể tiếp tục vùi đầu dưới cát, chối cãi sự thật để tiếp tục khẳng định al-Qaeda đã bị tiêu diệt, các nhóm khủng bố chỉ là tép riu, kiểu các đội bóng rổ trung học.

Nhưng rồi xin tổng thống thứ lỗi, kẻ viết này cũng phải nhận định đây có lẽ là một cuộc chiến lạ lùng nhất trong lịch sử nhân loại, tự cổ chí kim, chứ chẳng riêng gì trong lịch sử hơn hai trăm năm của Hiệp Chủng Quốc Cờ Hoa. Dưới đây là vài điểm đặc biệt khó hiểu.

- Cuộc chiến này là cuộc chiến tranh đầu tiên trong lịch sử nhân loại (hay ít ra cũng kể từ ngày có giải Nobel!) được phát động bởi một người đã từng được giải Nobel Hòa Bình. Từ trước đến giờ, ta thường thấy những người được giải Nobel Hòa Bình là những người cố gắng chấm dứt chiến tranh, cho dù bằng tương nhượng như cựu thủ tướng Do Thái với cựu tổng thống Ai Cập, hay bằng chiến thắng trọn vẹn như Lê Đức Thọ, hay bằng... tháo chạy như Kissinger. Bây giờ Liên Hiệp Quốc được nghe diễn văn của một tổng thống Nobel giải thích tại sao ông phát động chiến tranh.

- Cuộc chiến này là cuộc chiến duy nhất trong lịch sử nhân loại mà vị Tư Lệnh Tối Cao của một bên công khai tuyên bố trước khi lâm trận là sẽ không có một người lính nào của ông tham gia trận chiến, trong khi ông đang cố vận động các quốc gia đồng minh cùng tham chiến làm Lê Lai cứu Chúa, gửi lính của họ đến đánh dùm. Năm xưa TT Johnson cũng đánh bom Bắc Việt ào ạt mà không thả lính Mỹ xuống, nhưng ít ra ông không tuyên cáo trước “không có một đôi giầy lính Mỹ nào chạm đất” –no boots on the ground, và cũng không kêu gọi các đồng minh thả lính đến đánh thế. Hiệu quả của không tập như thế nào ai cũng thấy, khỏi bàn thêm.

- Cuộc chiến này cũng là cuộc chiến đầu tiên trong lịch sử nhân loại mà một phe “không có sách lược” gì, không biết mục tiêu cuối cùng của cuộc chiến là gì. Vị Tư Lệnh Tối Cao khi thì tuyên bố mục đích là “tiêu diệt” –destroy- địch, khi thì lại xác định chỉ muốn “hạ cấp xuống một vấn đề có thể quản lý được” –downgrade to a manageable problem. Có thể mục tiêu là muốn tiêu diệt thật, nhưng vì đánh nhau kiểu chân ngoài chân trong, chỉ muốn kiếm cớ tháo chạy, nên lại thòng theo câu “vấn đề có thể quản lý được” để khi cần thiết là có lý do cuốn cờ về tử thủ ở Hạ Uy Di. “Tiêu diệt” thì ai cũng biết nó như thế nào. Nhưng “quản lý được” thì chẳng ai hiểu nghiã là gì, tức là muốn rút thì gọi là “quản lý được rồi”, chưa muốn rút thì nói “chưa quản lý được”. Uyển chuyển đến vậy là hết cỡ.

- Cuộc chiến này cũng hết sức đặc biệt ở điểm dù không có chiến lược tổng quát, nhưng tất cả các mục tiêu quân sự có tính chiến thuật thì lại phải được quyết định từng trường hợp một, tại Tòa Bạch Ốc bởi đích thân tổng thống và ban tham mưu, trong đó không có một người nào đã đi lính tới một ngày, nhưng tất cả đều là chuyên gia tranh cử. Có nghiã là tất cả mọi quyết định sẽ được lấy theo nhu cầu chính trị bầu cử quốc nội, không phải theo nhu cầu quân sự trên chiến trường. Đây cũng là cuộc chiến đầu tiên được mở màn bằng cuộc chiến nội bộ giữa vị Tổng Tư lệnh trong Toà Bạch Ốc và các tướng lãnh trong Bộ Quốc Phòng. Để chính trị nội bộ chi phối một cuộc chiến sinh tử bên kia thế giới có vẻ hình như tréo cẳng ngỗng, nếu không muốn nói sẽ bảo đảm thua trên cả hai mặt trận. Cái gương TT Johnson đích thân chỉ huy các cuộc đánh bom Bắc Việt còn sờ sờ đó.

- Cuộc chiến này cũng là cuộc chiến có một không hai khi toàn bộ lực lượng chiến đấu được đặt dưới quyền của một vị tướng đã về hưu, tướng TQLC 4 sao John Allen, cựu Tư Lệnh chiến trường Trung Đông, chịu trách nhiệm trực tiếp với Bộ Ngoại Giao, chứ không phải Bộ Quốc Phòng. Tư lệnh mặt trận Trung Đông –CentCom- là tướng Lloyd Austin, đóng tại Tampa, bây giờ chịu trách nhiệm trước ông tướng đàn anh đã về hưu.

- Cuộc chiến này cũng có điểm đặc thù quái lạ: Mỹ đang muốn tiêu diệt lực lượng ISIS, ISIS đang muốn tiêu diệt TT Assad mà Mỹ cũng muốn tiêu diệt Assad luôn. Bình thường thì kẻ thù của kẻ thù của ta phải là bạn của ta, nhưng trong trường hợp này, kẻ thù của kẻ thù của ta cũng là kẻ thù của ta luôn.

Tất cả những điểm lạ lùng, “lần đầu tiên” nêu trên xác nhận đây là một cuộc cách mạng toàn diện trong binh pháp, mà cử tri Mỹ đã kỳ vọng –Change We Can Hope For-. Những Clausewitz và Tôn Tử quả đã đi vào lịch sử từ lâu lắm rồi. Bây giờ là thế kỷ thứ XXI, với một Barack Obama như tân Clausewitz hay tân Tôn Tử, với binh pháp quái chiêu thắng hữu chiêu.

Bình luận về cuộc chiến này thật không dễ. Điểm đầu tiên phải hỏi, đây là cuộc chiến mới hay cũ? Địch thủ ISIS hoàn toàn là địch thủ mới lạ, mới xuất hiện trong vòng vài ba tháng nay, trước đây không hề ai nghe nói tới. Lãnh thổ bị đánh bom là Syria, là nước từ trước đến giờ chưa bị dính dáng trực tiếp vào cuộc chiến tại Iraq. Trên lý luận, hiển nhiên đây là cuộc chiến mới toanh. Nhưng Tòa Bạch Ốc giải thích TT Obama lần này ra quân không cần phải “xin phép” quốc hội như vài nhà báo đặt câu hỏi, vì đây là cuộc chiến Iraq tiếp nối, một cuộc chiến đã được cả hai viện quốc hội cho phép năm 2003, theo yêu cầu của TT Bush.

Khi tranh cử những năm 2007-08, ứng viên Obama chỉ trích cuộc chiến Iraq là cuộc chiến chẳng những “ngu xuẩn” mà còn “bất hợp pháp” vì TT Bush đã lừa quốc hội. Bây giờ TT Obama ra trước dân Mỹ và cả thế giới giải thích khủng bố đe dọa cả thế giới, ông có nhu cầu phải tiêu diệt khủng bố, và ông chỉ tiếp nối chuyện TT Bush đã làm không phải là một cuộc chiến mới. Thế thì cuộc chiến của Bush có còn là “ngu xuẩn và bất hợp pháp” nữa không? Hay là chỉ sau khi làm tổng thống 6 năm ông mới nhìn ra cái lý của cuộc chiến của Bush?

TT Obama giải thích lý do phát động cuộc chiến là nhu cầu nhân đạo, an ninh nhân loại, chống khủng bố cuồng tín không biết lẽ phải, không thể điều đình, mà chỉ có thể dùng võ lực để truy diệt, v.v... Nếu không nghe giọng và thấy hình TT Obama, mà chỉ đọc bài viết, thì thiên hạ sẽ tưởng đây là bài diễn văn của TT Bush. Đó là nhận định của báo phe ta Washington Post.

Nói đi nói lại, tóm lại, TT Obama quyết định đánh bom Syria, nếu không phải là một cuộc chiến mới toanh thì cũng là bành trướng rất lớn cuộc chiến của Bush, mà không hề xin phép quốc hội gì hết. Khi biểu quyết cho TT Bush đánh Saddam, quốc hội không hề ghi vô điều khoản tự do thả bom Syria. Khi quốc hội mới đây biểu quyết về chuyện Syria, cũng chỉ cho phép TT Obama viện trợ súng đạn cho những nhóm chống đối Assad được coi như “ôn hòa”, không hề có điều khoản cho phép TT Obama tự do đánh bom trên đất Syria như đất vô chủ.

Thật ra, cuộc chiến Trung Đông, từ Afghanistan đến Iraq chưa bao giờ chấm dứt, cho đến nay vẫn còn tiếp tục, chưa bao giờ ngưng. Nếu có chuyện “chấm dứt” thì chỉ là chấm dứt sự tham gia của Mỹ vì TT Obama đã quyết định tháo chạy, bỏ mặc các đồng minh do chính Mỹ dựng lên trong một cuộc chiến do chính Mỹ phát động, để mặc các chính quyền Kabul và Baghdad tự lo lấy thân. Không khác gì ngày xưa bỏ mặc chính quyền và quân lực VNCH tự lo lấy thân.

Cái điểm khác biệt lớn giữa Miền Nam VN ngày xưa và Trung Đông ngày nay là tại Miền Nam VN, Mỹ có cuốn cờ về nước và VC có chiếm được cả miền nam VN thì Mỹ cũng chẳng sao, vì VC không có ý định cũng như không có khả năng đe dọa tới Hoa Thịnh Đốn. Nghỉ ngơi vài năm cho thiên hạ “quên bớt hận thù” là chúng ta lại có quyền bắt tay lo chuyện áp-phe, cùng nhau kiếm tiền. Chưa phải là tận thế.

Tình trạng Iraq và Afghanistan không như vậy. Nếu khủng bố thắng, sẽ không có chuyện bắt tay nhau kiếm tiền, chúng sẽ tìm cách đánh Mỹ trên đất Mỹ ngay, kiểu như 9/11. Không một tổng thống nào dám để chuyện này xẩy ra lần nữa. Do đó, trước sự suy xụp mau lẹ của chính quyền Iraq, Mỹ không còn lựa chọn nào khác hơn là lại phải trở lại để diệt trừ mối hoạ khủng bố Hồi giáo cuồng tín. Đúng như TT Bush đã cảnh giác từ năm 2007. Trở lại để đối đầu với một địch thủ lớn mạnh và nguy hiểm hơn xa Saddam hay al-Qaeda. Cũng đúng như TT Bush đã tiên đoán.

Mối đe dọa khủng bố hiện nay rõ hơn ban ngày, ai cũng thấy. Cả thế giới đều thấy. Và TT Obama loan báo sẽ thành lập một liên minh của cả thế giới để chống khủng bố ISIS. Nhưng danh sách các nước đồng minh cũng như sự tham gia của họ được giữ kín, bí mật hoàn toàn. Không ai biết có bao nhiêu nước đồng minh, bao nhiêu tướng tá, quân lính hay máy bay, đại bác “đồng minh” tham gia. Bí mật quân sự. Hay bí mật chính trị?

Thiên hạ lúc đầu chỉ được thông báo là có “rất nhiều nước đồng minh tham dự”. Có thể là một triệu quân đồng minh của 100 nước, hay chỉ 20 quân nhân của 3 nước. Hiểu sao cũng được. Rồi mới đây, trong cuộc tập kích Syria, nếu tin vào sự khoe khoang của Nhà Nước Obama thì thiên hạ được biết có năm nước Ả Rập “yểm trợ” –supported-, trong đó có Ả Rập Saudi, Jordan, và ba tiểu vương Vùng Vịnh, mỗi tiểu vương chắc lớn hơn tỉnh Mỹ Tho một chút! Không ai hiểu rõ “yểm trợ” nghiã là gì. Có thể một máy bay Mỹ cất cánh từ căn cứ Qatar, bay qua không phận Ả Rập Saudi và Jordan để tới Syria cũng đã được kể như là ba nước Qatar, Ả Rập Saudi và Jordan đã “yểm trợ” cuộc chiến của Mỹ. Tích cực hơn thì có thể mấy nước này tham gia theo kiểu gửi hai chiếc phản lực thả bốn quả bom cho có rồi chạy về cũng coi như đã “chung lưng sát cánh” với Mỹ rồi.

Điều đáng nói trong cuộc tập kích Sayria đầu tiên là sự vắng bóng của tất cả các đồng minh Âu Châu, cũng như sự vắng bóng của hai cường quốc Trung Đông là Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ, là hai nước mà TT Obama đã viếng thăm đầu tiên khi mới nhậm chức, đầu năm 2009, để vuốt ve khối Hồi giáo. Cái bóng thiếu vắng quan trọng nhất và cũng có ý nghiã nhất là của Anh Quốc, một đồng minh đã chấp nhận sinh tử với Mỹ trong các cuộc chiến Afghanistan và Iraq trước đây.

Năm xưa, TT Bush tập hợp được một “liên minh” 48 nước để đánh Saddam. Dĩ nhiên, đa số các nước trong “liên minh” cũng chỉ tham gia có tính cách tượng trưng, như Uganda gửi một tiểu đội chẳng ai biết để làm công tác gì, nhưng dù sao cũng có gần 50 nước chính thức ghi danh đăng ký. Danh sách chính thức được công bố hẳn hoi. Nhưng khi đó, thiếu bóng hai đại cường đồng minh Pháp và Đức, thế là truyền thông cấp tiến nhao nhao sỉ vả liên minh cuội, chỉ là ông cao bồi Bush một người một ngựa múa gậy rừng hoang thôi. Bây giờ, TT Obama hùng hổ khoe Mỹ “không chiến đấu một mình”, mà chung lưng sát cánh với các đồng minh. Nhưng “liên minh” của TT Obama cho đến nay chỉ mới thấy vài anh Ả Rập tép riu tượng trưng, mặc dù cũng đủ để CNN ra rả tung hô “lực lượng đồng minh”, -partner nation forces-, và “US and Allies bomb ISIS”, nghe như là mấy chục không đoàn oanh tạc cơ Ả Rập đang đánh vậy.

Cho đến nay, lý do tại sao các đồng minh NATO dè dặt trong việc tham gia không được giải thích cho rõ, truyền thông phe ta im lặng tránh bàn, nhưng có rất nhiều lý do chính đáng.

- Lý do đầu tiên là cơ sở pháp lý quốc tế của chuyện đánh bom Syria không có. Dù sao Syria cũng là một nước độc lập, có chủ quyền. Không được phép của Syria, không tuyên chiến gì với Syria, không có biểu quyết gì tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, tự nhiên đơn phương đánh bom ào ào thì chỉ có Mỹ mới làm thôi, coi công pháp quốc tế như pha. Còn tệ hơn Bush. Năm xưa, Bush đánh Afghanistan và Iraq đều có quốc hội cho phép, và Liên Hiệp Quốc biểu quyết. Bây giờ một mình Hoàng Đế Obama quyết định, xong rồi ra trước Liên Hiệp Quốc lên lớp thế giới phải chống khủng bố tích cực hơn. Cuối cùng thì dưới áp lực mạnh của Mỹ, một vài nước đồng minh NATO rồi sẽ tham gia, nhưng có triển vọng sẽ chỉ giới hạn trong Iraq chứ không đánh Syria.

- Đại đa số các nước chưa tin tưởng lắm vào sự “lãnh đạo” của ông tổng thống Nobel, không có chiến lược mà chỉ có chiến thuật lãnh đạo từ sau lưng. Họ cần có những bảo đảm vững chắc hơn, đề phòng ông tổng thống này lạnh cẳng, tháo chạy bất tử để họ ở lại lãnh đủ.

- Các nước đồng minh NATO chưa chịu nhẩy vào lửa là có lẽ họ thấy rõ sách lược –tạm cho là có sách lược đi- của TT Obama rõ ràng không phải là tiêu diệt ISIS, mà chỉ là ngăn cản không cho ISIS bành trướng quá lớn, có thể xáo trộn hoàn toàn cái thế hiện hữu ở Trung Đông, rồi đe dọa trực tiếp đến an ninh của nước Mỹ. Nếu chỉ là kềm hãm ISIS trong một giới hạn nào đó để khỏi đe dọa an ninh của Mỹ thì một mình Bác Sam lo được rồi, không cần các đồng minh NATO nhẩy vào làm gì khi các nước này đang lo sót vó về những mưu đồ của TT Putin bên Đông Âu. Câu hăm doạ của Putin là có thể chiếm bất cứ thủ đô Đông Âu nào trong vòng hai ngày vẫn còn văng vẳng bên tai.

- Tình hình Trung Đông rối hơn tơ vò. Ai cũng thấy rõ ISIS là khủng bố, là kẻ thù, nhưng ngoài mấy ông ISIS ra, thì không ai rõ ai là đồng minh của ai, ai là kẻ địch của ai. Cách đây không lâu, Mỹ giúp đánh bom giết Khaddafi, thành lập tân chính phủ Libya, bây giờ Mỹ vắt giò lên cổ tháo chạy khỏi Libya. Cách đây không lâu, TT Obama đòi thanh toán TT Assad của Syria, bây giờ lại thông báo cho Assad biết là Mỹ sắp đánh bom ISIS để cứu Assad. Cách đây không lâu, Mỹ đòi thanh toán các giáo chủ cuồng tín Iran, bây giờ lại nghe tin ngoại trưởng Kerry cố vận động hậu thuẫn của các giáo chủ để chống ISIS. Kiếm một xứ khủng bố có khả năng có bom nguyên tử làm đồng minh để diệt một nhóm khủng bố vừa chiếm được vài mỏ dầu hỏa. Tính toán chiến lược của Mỹ quả đúng như TT Obama đã khẳng định: chưa có chiến lược gì hết, đang mò mẫm tìm lối thoát.

- Và lý do cuối cùng, cũng là quan trọng nhất khiến khối NATO dè đặt: đánh bom ISIS tại Syria bây giờ, rồi sao nữa? Đánh bom bao nhiêu lâu? Bước kế tiếp là gì? Nguy cơ tình trạng đổ đốn, chiến tranh tràn lan khắp Trung Đông không thể là chuyện không thể xẩy ra và không đáng quan tâm. Có tin ISIS dự tính trả đũa bằng cách đánh thẳng vào thủ đô Baghdad, mà quân Iraq sẽ không chống đỡ nổi. Vậy thì Mỹ sẽ làm gì? Thả bom phá nát Baghdad để cứu Baghdad? Hay thả dù tướng Lương Xuân Việt xuống để cứu Baghdad?

Sáng ngày 23 tháng 9, cả CNN lẫn báo Washingon Post rầm rộ quảng bá sáng nay TT Obama sẽ ra trước truyền hình công bố chiến lược chống ISIS. Truyền thông háo hức chờ đợi. Cuối cùng thì TT Obama đã có chiến lược. Rồi TT Obama xuất hiện, trong vòng chưa đầy năm phút, chỉ để quảng cáo có tới 5 đồng minh Ả Rập chung lưng sát cánh với Mỹ. Hết. Vẫn chưa có chiến lược hay gì gì khác. Vẫn mò đường.

Trong khi lửa cháy bùng bùng khắp nơi trên thế giới thì TT Obama lo báo động về chuyện... hâm nóng địa cầu. Không phải hâm nóng vì những cuộc chiến đó, mà hâm nóng vì thay đổi khí hậu thế giới trong 15.000 năm nữa. Trong khi máy bay Mỹ đánh bom Syria thì TT Obama bận tham dự hội nghị thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về khí hậu tại Nữu Ước. Bây giờ nước Mỹ đã vào mùa thu, để xem năm nay mùa đông có ấm áp hơn chút nào không. (28-09-14)

Vũ Linh

Post Reply