Bình Luận Thời Sự
Tại sao lại đi đêm?
Bùi Tín
(Blog VOA)
Cuộc gặp bí mật giữa 2 đoàn đại biểu đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc ở Thành Đô, Trung Quốc, tháng 9 năm 1990, đang là đề tài nóng ở trong nước. Cả một phong trào rộng lớn “Tôi cần biết,” “Chúng tôi muốn biết,” “Quyền được biết là quyền công dân” đang lan rộng, ăn sâu, theo đúng cam kết của đảng Cộng Sản với nhân dân. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là phương châm căn bản trong mối quan hệ giữa đảng Cộng Sản với nhân dân.
Ngày 1 tháng 1 năm 2014, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cam kết trong thông điệp đầu năm rằng, “Mọi quyết định của Nhà Nước đều phải minh bạch.” Ông phải giữ lời hứa.
Trong khi đó báo chí chính thống và không chính thống của Trung Quốc đều đưa tin về cái gọi là Thỏa Thuận Thành Đô tháng 9, 1990, nói rõ rằng phía Việt Nam đã chấp thuận sẽ trở thành một khu tự trị của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa như Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương sau 30 năm, nghĩa là kể từ năm 2020...
Cả một làn sóng giận dữ trào dâng khắp đất nước ta. Do đó buộc lòng Ban Tuyên Huấn Trung Ương phải đưa ra một tài liệu giải thích trong nội bộ đảng Cộng Sản rằng không có chuyện “Việt Nam chấp nhận trong 30 năm trở thành một khu vực tự trị của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa như Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương.”
Cái kiểu cải chính vuốt đuôi, úp úp mở mở như thế không làm hài lòng dư luận được.
Dư luận nhân dân, nhất là trí thức, tuổi trẻ cùng đảng viên ở cơ sở yêu cầu Bộ Chính Trị phải nói rõ cho nhân dân nội dung cụ thể của Thỏa Thuận Thành Đô, phải thật sự công khai minh bạch, bạch hóa đầy đủ, khi đã qua thời gian hơn 25 năm rồi.
Trước hết không phải chỉ thông báo vắn tắt trong Đảng Cộng Sản, mà phải là trình bày cho toàn dân được biết. Lẽ ra từ ngay sau khi có thỏa thuận, Bộ Chính Trị, chính phủ phải báo cáo trước phiên họp của toàn thể Quốc Hội, hay ít ra là trước Ủy Ban Đối Ngoại và Ủy Ban Quốc Phòng của Quốc Hội theo đúng Hiến pháp, phép tắc quy định. Từ lý lẽ này, Bộ Chính Trị cần báo cáo đầy đủ về cuộc mật đàm Thành Đô ngay trong phiên họp Quốc Hội sắp tới, rồi phổ biến rộng rãi cho toàn dân biết rõ. Để đến nay là quá chậm rồi.
Hai là trong khi bác bỏ tin tức từ phía Trung Quốc đưa ra, là không hề có thỏa thuận nào về “Việt Nam, chấp nhận việc trở thành khu tự trị của Trung Quốc trong 30 năm,” phải nói rõ đây là sự bịa đặt có tính chất dựng đứng xấu xa của phía Trung Quốc và đòi hỏi chính quyền Trung Quốc phải công khai cải chính và xin lỗi phía Việt Nam về vụ việc này, vì chính Tân Hoa xã, cơ quan thông tấn chính thức của Trung Quốc đã tham gia truyền bá tin thất thiệt này. Cần yêu cầu họ không để xảy ra việc tái phạm. Tại sao không dám phản đối một sự xúc phạm lớn đến vậy?
Ba là qua sự kiện trên đây, cần nhìn lại toàn bộ các mối quan hệ Việt-Trung, quan hệ giữa 2 đảng, 2 nhà nước, giữa nhân dân 2 nước, trong đó nổi lên vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo, an ninh tài nguyên, khai thác biển, giao thông trên Biển Đông, vấn đề hợp tác khai thác rừng vùng biên giới, khai thác bô-xít trên Cao nguyên, việc các công ty Trung Quốc đấu thầu trên đất Việt Nam, vấn đề công nhân Trung Quốc vào Việt Nam sinh cơ lập nghiệp... đều có nhiều vấn đề nảy sinh cần giải quyết rốt ráo theo luật pháp và chủ quyền đất nước. Không thể để nhiều nơi như đất vô chủ, người Tàu lộng hành vì giỏi đút lót bọn tham quan địa phương.
Từ sự kiện trên đây cần công khai chỉ ra vừa qua phía Trung Quốc đã gây nên căng thẳng kéo dài khi cho giàn khoan HD 981 vào cắm trong vùng biển quốc gia nước ta, họ chỉ rút ra khi thời tiết không thuận vì mùa mưa bão, cho nên ta nên từ bỏ, trả lại họ mối quan hệ “4 tốt” và “16 chữ vàng” do phía Trung Quốc đưa ra mà không thực hiện, và từ đó Việt Nam có toàn quyền liên minh với các nước bạn bè tin cậy ở mọi nơi, nhằm bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải quốc gia, không nhằm chống một nước nào, trong khi vẫn duy trì quan hệ bình thường bình đẳng với Trung Quốc, quan hệ thân hữu với nhân dân Trung Hoa.
Nhân dân ta luôn chủ trương thực hiện một nền ngoại giao hòa bình, hợp tác, hữu nghị với tất cả các nước, một nền ngoại giao nhân dân, công khai minh bạch, không chấp nhận những cuộc đi đêm mờ ám, sau lưng nhân dân và quân đội, để mất đất, mất biển, mất đảo, chủ quyền bị vi phạm, nền độc lập giành lại bằng xương máu bị chà đạp phũ phàng như hiện nay.
Việc bạch hóa đầy đủ sự kiện Thành Đô là thuộc quyền được biết của mỗi công dân Việt Nam.
Bùi Tín
(Blog VOA)
Cuộc gặp bí mật giữa 2 đoàn đại biểu đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc ở Thành Đô, Trung Quốc, tháng 9 năm 1990, đang là đề tài nóng ở trong nước. Cả một phong trào rộng lớn “Tôi cần biết,” “Chúng tôi muốn biết,” “Quyền được biết là quyền công dân” đang lan rộng, ăn sâu, theo đúng cam kết của đảng Cộng Sản với nhân dân. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là phương châm căn bản trong mối quan hệ giữa đảng Cộng Sản với nhân dân.
Ngày 1 tháng 1 năm 2014, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cam kết trong thông điệp đầu năm rằng, “Mọi quyết định của Nhà Nước đều phải minh bạch.” Ông phải giữ lời hứa.
Trong khi đó báo chí chính thống và không chính thống của Trung Quốc đều đưa tin về cái gọi là Thỏa Thuận Thành Đô tháng 9, 1990, nói rõ rằng phía Việt Nam đã chấp thuận sẽ trở thành một khu tự trị của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa như Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương sau 30 năm, nghĩa là kể từ năm 2020...
Cả một làn sóng giận dữ trào dâng khắp đất nước ta. Do đó buộc lòng Ban Tuyên Huấn Trung Ương phải đưa ra một tài liệu giải thích trong nội bộ đảng Cộng Sản rằng không có chuyện “Việt Nam chấp nhận trong 30 năm trở thành một khu vực tự trị của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa như Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương.”
Cái kiểu cải chính vuốt đuôi, úp úp mở mở như thế không làm hài lòng dư luận được.
Dư luận nhân dân, nhất là trí thức, tuổi trẻ cùng đảng viên ở cơ sở yêu cầu Bộ Chính Trị phải nói rõ cho nhân dân nội dung cụ thể của Thỏa Thuận Thành Đô, phải thật sự công khai minh bạch, bạch hóa đầy đủ, khi đã qua thời gian hơn 25 năm rồi.
Trước hết không phải chỉ thông báo vắn tắt trong Đảng Cộng Sản, mà phải là trình bày cho toàn dân được biết. Lẽ ra từ ngay sau khi có thỏa thuận, Bộ Chính Trị, chính phủ phải báo cáo trước phiên họp của toàn thể Quốc Hội, hay ít ra là trước Ủy Ban Đối Ngoại và Ủy Ban Quốc Phòng của Quốc Hội theo đúng Hiến pháp, phép tắc quy định. Từ lý lẽ này, Bộ Chính Trị cần báo cáo đầy đủ về cuộc mật đàm Thành Đô ngay trong phiên họp Quốc Hội sắp tới, rồi phổ biến rộng rãi cho toàn dân biết rõ. Để đến nay là quá chậm rồi.
Hai là trong khi bác bỏ tin tức từ phía Trung Quốc đưa ra, là không hề có thỏa thuận nào về “Việt Nam, chấp nhận việc trở thành khu tự trị của Trung Quốc trong 30 năm,” phải nói rõ đây là sự bịa đặt có tính chất dựng đứng xấu xa của phía Trung Quốc và đòi hỏi chính quyền Trung Quốc phải công khai cải chính và xin lỗi phía Việt Nam về vụ việc này, vì chính Tân Hoa xã, cơ quan thông tấn chính thức của Trung Quốc đã tham gia truyền bá tin thất thiệt này. Cần yêu cầu họ không để xảy ra việc tái phạm. Tại sao không dám phản đối một sự xúc phạm lớn đến vậy?
Ba là qua sự kiện trên đây, cần nhìn lại toàn bộ các mối quan hệ Việt-Trung, quan hệ giữa 2 đảng, 2 nhà nước, giữa nhân dân 2 nước, trong đó nổi lên vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo, an ninh tài nguyên, khai thác biển, giao thông trên Biển Đông, vấn đề hợp tác khai thác rừng vùng biên giới, khai thác bô-xít trên Cao nguyên, việc các công ty Trung Quốc đấu thầu trên đất Việt Nam, vấn đề công nhân Trung Quốc vào Việt Nam sinh cơ lập nghiệp... đều có nhiều vấn đề nảy sinh cần giải quyết rốt ráo theo luật pháp và chủ quyền đất nước. Không thể để nhiều nơi như đất vô chủ, người Tàu lộng hành vì giỏi đút lót bọn tham quan địa phương.
Từ sự kiện trên đây cần công khai chỉ ra vừa qua phía Trung Quốc đã gây nên căng thẳng kéo dài khi cho giàn khoan HD 981 vào cắm trong vùng biển quốc gia nước ta, họ chỉ rút ra khi thời tiết không thuận vì mùa mưa bão, cho nên ta nên từ bỏ, trả lại họ mối quan hệ “4 tốt” và “16 chữ vàng” do phía Trung Quốc đưa ra mà không thực hiện, và từ đó Việt Nam có toàn quyền liên minh với các nước bạn bè tin cậy ở mọi nơi, nhằm bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải quốc gia, không nhằm chống một nước nào, trong khi vẫn duy trì quan hệ bình thường bình đẳng với Trung Quốc, quan hệ thân hữu với nhân dân Trung Hoa.
Nhân dân ta luôn chủ trương thực hiện một nền ngoại giao hòa bình, hợp tác, hữu nghị với tất cả các nước, một nền ngoại giao nhân dân, công khai minh bạch, không chấp nhận những cuộc đi đêm mờ ám, sau lưng nhân dân và quân đội, để mất đất, mất biển, mất đảo, chủ quyền bị vi phạm, nền độc lập giành lại bằng xương máu bị chà đạp phũ phàng như hiện nay.
Việc bạch hóa đầy đủ sự kiện Thành Đô là thuộc quyền được biết của mỗi công dân Việt Nam.

Việt Nam đã mất chủ quyền biển vào tay Trung cộng
Phạm Trần
- Lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã bằng lòng đổi chủ quyền Biển Đông để được sống yên ổn bên cạnh nước láng giềng Trung Quốc sau kỳ họp lần thứ 7 của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc diễn ra tại Hà Nội ngày 27/10/2014.
Kết quả này thật ra đã được đồng ý trên nguyên tắc giữa hai Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam và Lý Khắc Cường của Trung Quốc tại cuộc họp tại Milan, Italy ngày 16/10/2014, bên lề Hội nghị cấp cao ASEM-10 (The Asia–Europe Meeting,ASEM ).
Tuy nhiên, thỏa hiệp mới đã được chi tiết hóa rõ hơn tại phiên họp chung tại Hà Nội giữa 2 phái đoàn của Quốc vụ viện Trung Cộng Dương Khiết Trì và phía Việt Nam do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh dẫn đầu.
Vì vậy, không ai ngạc nhiên khi thấy phía Việt Nam đã tự ý phổ biến nhiều bức hình tươi cười, chứa đựng sự thỏa mãn của ông Dương Khiết Trì chụp chung với các ông Phạm Bình Minh, Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Những hình ảnh của ngày 27/10 đã khác một trời một vực với những tấm hình chứa nhiều nỗi bất bình, cố nén trong căm tức của Lãnh đạo Việt Nam với ông Dương Khiết Trì khi ông này sang Hà Nội ngày 18/06/2014 để nói như ra lệnh cho phía Việt Nam phải chấm dứt ngay lập tức các hoạt động phá rối hoạt động tìm kiếm dầu của giàn khoan Hải Dương 981, do Bắc Kinh tự đặt sâu trong vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam từ ngày 02/05/2014 đến ngày 17/07/2014.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đi thăm Ấn Độ cùng ngày họ Dương họp ở Hà Nội (27/10/2014) khiến Nhân Dân nhật báo của Trung Cộng bực mình, ngụ ý nói ông Dũng muốn mở rộng hợp tác kinh tế với Tân Đề Ly (New Delhi) để giảm lệ thuộc vào Bắc Kinh. Báo này đăng bài bình luận của Tô Hiểu Huy, Phó Chủ nhiệm Sở Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế còn lên án việc phái đoàn Nguyễn Tấn Dũng ký thỏa hiệp khai thác dầu khí chung ở Biển Đông với Ấn Độ là vi phạm “chủ quyền của Trung Quốc ở Nam Hải”.
Nhưng đâu là sự thật?
Chuột Ba Đình, bình cộng sản. Tranh Babui.
Sự thật là ông Nguyễn Tấn Dũng đã “bắt cá hai tay” để chứng tỏ Việt Nam giữ vững đường lối ngoại giao độc lập, không chịu ảnh hưởng của Bắc Kinh để có lợi, nhưng mặt khác thì ông Dũng cũng đã để lộ ra “lá bài hai mặt” của Việt Nam trong cuộc chiến tranh chấp chủ quyền trên biển với Trung Cộng ở thế yếu, vì Việt Nam đã chịu làm theo “ý muốn của Trung Quốc”.
Tiêu biểu là trong cả 2 cuộc họp ở Hà Nội và ở Milan (Italy), phía Việt Nam đã không đề cập đến, hoặc có nói thì cũng chỉ trong tư thế “nói nhỏ cho nhau nghe”, những vụ tầu cá Việt Nam liên tục bị tầu Trung Cộng tấn công hoặc đâm chìm ở vùng biển Hoàng Sa mà báo chí Việt Nam, ngay cả Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng chỉ được phép gọi là “tầu lạ” hay “tầu nước ngoài”!
Việc Trung Cộng không ngừng củng cố, xây dựng trên quần đảo Hoàng Sa chiếm của Việt Nam năm 1974 và biến các đảo Gạc Ma và 7 bãi đá khác chiếm của Việt Nam ở Trường Sa năm 1988 thành các đảo nhân tạo, xây sân bay, bãi tầu, căn cứ quân sự phòng thủ cũng không thấy ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói trong cuộc họp với Lý Khắc Cưởng.
Thái độ nhu nhược này cũng diễn ra trong các cuộc họp giữa các ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Phạm Bình Minh với Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì tại Hà Nội ngày 27/10 (2014). Những vi phạm trắng trợn chủ quyền biển đảo Việt Nam và hành động vô nhân đạo, bất chấp sinh mạng của ngư dân Việt Nam và luật pháp quốc tế của phía Trung Cộng cũng đã không được báo chí của đảng CSVN và Bộ Ngoại giao nói đến trong dịp này.
Nếu cứ tin vào ngôn ngữ của nhà nước và báo chí Việt Nam thì không có chuyện gì xảy ra giữa Việt Nam và Trung Cộng trước và trong thời gian ông Dương Khiết Trì có mặt ở Hà Nội.
Như vậy, thiệt thòi cuối cùng đã thuộc về nhân dân Việt Nam, chủ nhân của đất nước nhưng quyền này đã bị đảng cướp mất từ lâu nên cứ è cổ ra mà gánh chịu hậu quả bởi những quyết định sai lầm trong quan hệ ngoại giao với Trung Cộng.
Lời hứa của Nguyễn Tấn Dũng
Trước hết hãy nói về chuyện ở Milan, Ý Đại Lợi, ngày 16/10 (2014) ông Dũng đã nhân danh Chính phủ cam kết với Lý Khắc Cường những điều sau đây, theo Bộ Ngoại giao Việt Nam:
Ông: “Khẳng định Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam quý trọng giữ gìn và mong muốn củng cố quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống và tăng cường hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển lành mạnh, ổn định.”
Ông: “Đề nghị hai bên duy trì gặp gỡ và tiếp xúc cấp cao để tăng cường tin cậy, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực, đồng thời kịp thời chỉ đạo giải quyết thỏa đáng các vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai nước.”
Ông cũng đã đồng ý: “Hai bên nhất trí triển khai thực chất 03 nhóm công tác hợp tác về xây dựng cơ sở hạ tầng, hợp tác về tiền tệ và bàn bạc hợp tác cùng phát triển trên biển trong khuôn khổ đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ hai nước.”
“Về vấn đề Biển Đông”, Bản tin Bộ Ngoại giao nói tiếp, “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh đề nghị hai bên kiểm soát tốt tình hình trên biển, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, thúc đẩy các cơ chế đàm phán tiến triển, nghiêm túc thực hiện Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc; tôn trọng Luật pháp quốc tế, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.”
Về phía ông Lý Khắc Cường, Bộ Ngoại giao cho biết ông ta đã: “Khẳng định Đảng, Chính phủ Trung Quốc luôn kiên trì phương châm láng giềng hữu nghị, hợp tác cùng có lợi với Việt Nam, luôn mong muốn xử lý thỏa đáng các vấn đề khó khăn phát sinh trong quan hệ hai nước, cùng thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển lành mạnh, ổn định.”
Sau cùng, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói ông Lý Khắc Cường “đã phản hồi tích cực đối với những đề xuất của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường quan hệ hai Đảng, hai nước thời gian tới.”
Tất nhiên là phải “phản hồi tích cực” vì những gì ông Nguyễn Tấn Dũng nói ra từ miệng mình, trong tư cách một Thủ tướng Việt Nam, đã đáp lại đúng lập trường bất di bất dịch của Trung Cộng gọi là “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc ở Nam Hải (Biển Đông) qua tuyên bố “Biển của ta, gác tranh chấp cùng khai thác”.
Chủ trương coi lãnh thổ của người khác cũng là của mình đã được Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đưa ra năm 1979 và được các thế hệ lãnh đạo thừa kế của Trung Cộng tuyệt đối tuân thủ và thi hành qua chiều bài “tự vẽ” ra hình Lưỡi Bò, hay “đường 9 đoạn” rồi chuyển sang “10 đoạn” chiếm ¾ diện tích 3.5 triệu cây số vuông Biển Đông.
Hai ông Trọng - Sang
Vì vậy mà ta không lạ khi thấy trong ngôn ngữ cuối cùng sau một ngày họp giữa Dương Khiến Trì và Phạm Bình Minh, phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang không gay gắt như khi hai ông Trọng tiếp họ Dương ngày 18 tháng 6 năm nay (2014).
Hồi đó, ông Trọng đã “khẳng định lập trường về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên biển Đông là không thay đổi và không thể thay đổi.” (Thông tấn xã Việt Nam, TTXVN).
Theo tin Chính phủ Việt Nam thì trong cuộc gặp Dương Khiết Trì ngày 27/10/2014, hai ông Trọng và Sang đã: "Khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc; nhấn mạnh việc giữ gìn, củng cố và làm cho mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc phát triển lành mạnh là trách nhiệm chung của cả hai bên, phù hợp với lợi ích căn bản, lâu dài của nhân dân hai nước và cũng có lợi cho cục diện hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới."
Hai Lãnh đạo Việt Nam cũng: “Đề nghị Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác song phương cần tiếp tục phát huy tốt hơn vai trò định hướng, góp phần thiết thực thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước, đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển ổn định, lành mạnh.”
Ông Sang không gặp Dương Khiết Trì ngày 18/06/2014, nhưng trong lần gặp hôm 27/10 (2014) vừa qua, Chủ tịch nhà nước CSVN nói: “Vấn đề trên biển hết sức hệ trọng đối với mỗi nước cũng như quan hệ hai nước. Đây không chỉ là vấn đề giữa hai Đảng, hai nước mà còn là vấn đề giữa nhân dân hai nước. Nếu hai Đảng, hai nước không kiểm soát được bất đồng trên biển thì quan hệ hai Đảng, hai nước không những bị ảnh hưởng mà tình cảm của nhân dân hai nước cũng bị tổn thương.”
Tại buổi tiếp này, ông Dương Khiết Trì “khẳng định Đảng, Chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng và luôn mong muốn tăng cường trao đổi cấp cao, củng cố hữu nghị nhân dân, xây dựng môi trường thuận lợi để phát triển quan hệ tốt đẹp, ổn định lâu dài với Việt Nam, đồng thời sẵn sàng cùng với Việt Nam đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hợp tác trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội, giao lưu nhân dân…”
Ông Dương Khiết Trì nhấn mạnh: “Việc xử lý thỏa đáng bất đồng là phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, có ý nghĩa tích cực đối với ổn định và phát triển của khu vực.”
Sự thật đã phơi ra
Qua những câu chữ đấy tình “vừa là đồng chí vừa là anh em” ngọt xớt này, tuy vắng bóng 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt (“láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.) nhưng bên trong vẫn thấy bóng dáng của “những nỗi xót xa” hiện ra nguyên hình trong thỏa thuận Phạm Bình Minh-Dương Khiết Trì sau đây:
1) “Hai bên cho rằng, xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển có ý nghĩa quan trọng đối với quan hệ hai nước.”
2) “Hai bên thực hiện nghiêm chỉnh nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, căn cứ “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc” thúc đẩy các cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển. Dựa trên nguyên tắc dễ trước khó sau, tuần tự tiệm tiến, sớm triển khai công việc khảo sát chung, tạo cơ sở cho việc thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ đi đôi với hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này như Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã nhất trí với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc gặp tại Mi-lan, I-ta-li-a ngày 16/10/2014.
Ở đoạn này, cả hai bên Việt Nam và Trung Cộng đều không giải thích hay làm cho rõ “khảo sát chung” những cái gì, khoáng sản, dầu khí, hay cả các tài nguyên, ngư trường khác nữa?
Và tại sao Việt Nam lại đồng ý “khảo sát chung” với Trung Cộng khi Bắc Kinh không có chủ quyền ở vùng Biển Đông?
Ngoài ra, nguy hiểm hơn, Việt Nam còn đồng ý “đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ đi đôi với hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này”?
Như vậy là rõ ràng thỏa hiệp Phạm Bình Minh-Dương Khiết Trì ngày 27/10/2014 đã vượt ra khỏi thỏa hiệp giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 20/06/2013 tại Bắc Kinh.
Hồi đó một “thỏa hiệp mới được phía Việt Nam gọi là “gia hạn” và “sửa đổi” lần thứ 4 hợp tác giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tổng Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (China National Offshore Oil Corporation, CNOOC), thì diện tích tìm kiếm chung sẽ mở rộng từ 1541 cây số vuông lên thành 4076 cây số vuông. Và hiệu lực của Thỏa thuận Thăm dò Chung có hiệu lực đến hết năm 2016.”
Ông Đỗ Văn Hậu-Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã giải thích về nguồn gốc của thỏa thuận giữa hai nước như thế này: “Theo Quy định tại Điều 7 của Hiệp định Việt Nam-Trung Quốc về Phân định Lãnh hải, Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ (ký ngày 25/12/2000 và có hiệu lực từ ngày 20/6/2004), nếu có các mỏ dầu khí vắt ngang qua Đường Phân định, hai nước sẽ cùng nhau hợp tác khai thác chung.
Từ năm 2005, Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Việt Nam, nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Tổng Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã ký kết và thực hiện Thỏa thuận Khung về hợp tác dầu khí trong Khu vực Thỏa thuận Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ. Trên cơ sở kết quả thực hiện Thỏa thuận Khung, Thỏa thuận Thăm dò chung Việt Nam-Trung Quốc trong Khu vực xác định Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa Petrovietnam và CNOOC ngày 6/11/2006 và có hiệu lực từ ngày 2/1/2007, sau khi được Chính phủ hai nước phê chuẩn.”
Hiệp định về Vịnh Bắc Bộ năm 2000, cũng như “Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Tổng bí thư đảng Lê Khả Phiêu ký với Trung Cộng ngày 30/12/1999 đã không được đem ra thảo luận tại Quốc hội trước khi ông Phiêu đặt bút ký nên toàn dân, cho đến bây giờ (2013), vẫn chưa được biết tường tận về những điểm lợi và hại của hai văn kiện quan trọng này.
Quốc hội của Nhà nước Cộng sản Việt Nam cũng đã nhắm mắt phê chuẩn Hiệp định này vào năm 2004 mà không có bất cứ cuộc điều tra hay nghe điều trần của Chính phủ nên cũng mập mờ như dân!
Do đó, sau khi có loan báo từ Bắc Kinh nói rằng hai phía Việt-Trung đã thỏa thuận “gia hạn” và “sửa đổi” hợp tác giữa hai tập đoàn dầu khí của hai nước trên Vịnh Bắc Bộ thì mọi người mới biết rằng Việt Nam đã chịu để cho Trung Cộng được quyền cùng khai thác dầu khí bên trong phần biển thuộc về Việt Nam, dù khu vực khai thác chung nằm trên đường ranh giới phân định giữa hai nước!
Ông Đỗ Văn Hậu giải thích tiếp rằng: “Thỏa thuận hợp tác giữa PVN và CNOOC được ký lần đầu từ năm 2006 phù hợp với Hiệp định đã ký kết giữa hai nước về phân định Vịnh Bắc Bộ. Thỏa thuận này đã được gia hạn 3 lần và lần này là lần thứ 4 với thời hạn đến năm 2016.
Theo đó, Việt Nam và Trung Quốc đã thỏa thuận với nhau về một vùng biển nằm trên Vịnh Bắc Bộ, nằm trên đường phân định hai quốc gia; cùng thăm dò và cùng khai thác khi phát hiện có dầu khí. Ngoài việc gia hạn, thỏa thuận lần thứ 4 này đã thống nhất mở rộng khu vực thăm dò chung nằm trên đường phân định hai quốc gia trên Vịnh Bắc Bộ lên gần 3 lần so với lần đầu năm 2006.
Khu vực này được chia đều qua đường phân định trên Vịnh Bắc Bộ, một nửa nằm phía Việt Nam và một nửa nằm bên phía Trung Quốc. Trên khu vực này, hai Tổng công ty của hai Nhà nước sẽ cùng nhau tiến hành thăm dò, nhằm phát hiện các cấu tạo địa chất có chứa dầu khí. Khi phát hiện có dầu khí thì 2 bên sẽ tiếp tục bàn thảo, để cùng nhau hợp tác khai thác.” (Thống tấn xã Việt Nam, TTXVN, 20-6-2013)
Giờ đây, Việt Nam và Trung Cộng lại đồng ý “thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ đi đôi với hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này” là vùng biển nào, nếu không là vùng còn lại của Biển Đông vẫn thuộc chủ quyền của Việt Nam thì của ai ?
Không có bất cứ bản tin nào của phía Việt Nam hay của Trung Quốc gỉải thích rõ về điểm quan trọng này, ngoài việc ông Phạm Bình Minh đã: “Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc; nhấn mạnh hai bên cần triển khai hiệu quả những thỏa thuận đạt được trong chuyến thăm Trung Quốc của đồng chí Lê Hồng Anh, Đặc phái viên của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 8/2014) về việc khôi phục giao lưu hợp tác, kiểm soát tốt những bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp.”
Điều này có nghĩa phía Việt Nam đã đồng ý “giữ nguyện hiện trạng” ở Biển Đông, hay nói cách khác là “quân đâu đứng nguyên ở đó”, có nghĩa công nhận sự có mặt của quân Trung Cộng trên vùng biển Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam.
Bộ trường Quốc phòng Phùng Quang Thanh mới họp từ Bắc Kinh về (từ 16 đến 19/10/2014) đã xác nhận với báo chí ở Hà Nội ngày 20/10 (2014).
Đáp câu hỏi: “Hai bên có bàn về việc phía Trung Quốc đốc thúc nhiều hoạt động xây dựng trên khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam, cũng như chuyện giàn khoan đã xảy ra ít tháng trước?
Tướng Thanh: “Chúng tôi có trao đổi phải giữ nguyên hiện trạng trên biển Đông và phải thực hiện đầy đủ tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông - DOC. Quan điểm chung là các bên không mở rộng tranh chấp, không cắm mốc mới. Khi trao đổi với bạn, nói chung bạn ghi nhận ý kiến của phía Việt Nam.
H: - Phía Trung Quốc có đưa ra cam kết nào về việc giữ nguyên hiện trạng, thưa ông?
Tướng Thanh: "Hai bên đều thống nhất phải thực hiện DOC – nghĩa là không mở rộng, làm phức tạp thêm tranh chấp. Quan trọng là phải thống nhất với nhau giữ cho được môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, tránh dùng vũ lực."
Bộ Ngoại giao Việt Nam nói thêm: “Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh cũng nêu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta trong vấn đề Biển Đông, khẳng định Việt Nam luôn ưu tiên thông qua các biện pháp hòa bình để cùng Trung Quốc giải quyết tranh chấp, bất đồng tại Biển Đông trên cơ sở tuân thủ các nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc, luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì bày tỏ, Trung-Việt là hai nước láng giềng quan trọng của nhau, Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc hết sức coi trọng và luôn kiên trì phương châm hợp tác hữu nghị với Việt Nam. Với sự nỗ lực chung, hai bên đã khắc phục được những khó khăn gặp phải trong thời gian vừa qua. Hiện quan hệ song phương đang từng bước khôi phục, hai bên cần nắm chắc phương hướng phát triển quan hệ hai nước, xử lý thỏa đáng và kiểm soát tốt bất đồng trên biển, tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác song phương. Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì nhất trí tăng cường chỉ đạo các cơ quan hữu quan Trung Quốc tích cực triển khai các thỏa thuận đã đạt được tại Phiên họp lần này.”
Như vậy xem ra Dương Khiết Trì đã “mát lòng mát dạ” sau khi chỉ mất một ngày họp ở Hà Nội với ông Phạm Bình Minh mà xem ra không tốn bao nhiêu công sức.
Bởi vì: “Hai bên cho rằng, quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc phát triển lành mạnh, ổn định là phù hợp với nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực. Hai bên sẽ cùng nhau nỗ lực thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận và nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, không ngừng củng cố và thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc phát triển ngày càng đi vào chiều sâu.
- Hai bên nhất trí tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy giao lưu hợp tác giữa hai nước; đẩy mạnh thực hiện hiệu quả Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam - Trung Quốc; khẩn trương thành lập Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng và Nhóm công tác về hợp tác tiền tệ để tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực liên quan.
- Hai bên nhất trí thực hiện nghiêm túc 3 văn kiện về biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc, phối hợp giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh trong công tác quản lý biên giới.”
Nghe qua thì có vẻ hòa bình, hữu nghị đấy nhưng kẻ bị thiệt trong thỏa thuận Phạm Bình Minh-Dương Khiết Trì ngày 27/10/2014 không phải là đảng CSVN mà thuộc về số phận hẩm hiu của nhân dân Việt Nam, những người đã không những chỉ mất quyền làm chủ đất nước vào tay đảng mà còn bị Lãnh đạo Việt Nam đầy vào chân tường khi không giữ được tài sản của Tổ tiên để lại cho đời sau. -/-
(10/014)
Phạm Trần

Nhà mới nhưng trong đó là 'đảng biểu’ hay ‘dân biểu’?
Bùi Tín
Thế là Quốc hội Việt Nam đã có trụ sở mới to lớn, sau 5 năm chuẩn bị và xây dựng. Chưa quyết toán là bao nhiêu nghìn tỷ đồng. Ngày 6/10 Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp phiên đầu tiên tại trụ sở mới trong hội trường nhỏ mang tên Tân Trào; ngày 20/10 phiên toàn thể kỳ thứ 8 khóa XIII họp trong hội trường lớn mang tên Diên Hồng.
Tổng diện tích trụ sở mới rộng 60.000 mét vuông, cao 39 mét, có đường hầm xuyên sang trụ sở Bộ Ngoại giao, xưa là Sở Tài chính thời Pháp thuộc. Ngôi nhà hình vuông, mái giữa hình tròn, có 5 tầng nổi và 2 tầng hầm. Ngoài Hội trường lớn 2 tầng, 600 chỗ ngồi, hội trường nhỏ 200 chỗ, còn phòng họp báo 1 trăm chỗ và 80 phòng họp nhỏ.
Ngoài ra còn tầng ngầm đỗ xe, thang cuốn và thang máy, khu trưng bày di tích trụ sở Quốc hội cũ, khảo cổ học, hệ thống chiếu sáng, âm thanh, truyền hình, điều hòa nhiệt độ, thông khí, phòng cháy, cấp cứu.
Ngay từ buổi khai mạc trụ sở Quốc hội mới từ trong nước đã có những ý kiến vui buồn lẫn lộn. Vui thấy trụ sở mới hoành tráng, bề thế, hiện đại, 2 mặt hướng ra đại lộ Độc Lập và Bắc Sơn, có 2 phòng họp mang tên Tân Trào, Diên Hồng lịch sử, kiến trúc chung nhìn từ trên cao xuống hình vuông với mái tròn, tượng hình của Trời tròn Đất vuông - thiên thời địa lợi, cũng mang hình tượng dân dã bánh chưng và bánh dày.
Thế nhưng có những nỗi buồn sâu đậm. Ngay từ trước hôm khai mạc, bà con công dân thủ đô và các tỉnh đổ về để thực hiện quyền công dân yêu cầu, đề nghị, chất vấn Quốc hội về cuộc mật đàm Thành Đô 25 năm trước, về đất đai bị “thu hồi”, về quyền tư hữu ruộng đất vốn tồn tại tự ngàn xưa, về các vụ án oan, công dân chết và bị đánh dã man trong các đồn công an… đều bị ngăn chặn, xua đuổi rất thô bạo. Các trụ sở tiếp dân đều khóa cửa, gần như thời thiết quân luật. Một chính quyền tự nhận là của dân, do dân, vì dân, một Quốc hội của dân, do dân, vì dân mà xử xự như thế?
Còn ngay ở trong Quốc hội, các nhà báo chen chân khó lọt, không có chỗ ngồi để tác nghiệp, phải ngồi bệt xuống đất trong khi các ghế của đại biểu thì cao rộng, được khoe rằng phải đặt hàng tận bên Tây Ban Nha chở về. Đây là nét đáng buồn cho con người và đất nước VN. Sao không tự làm nổi chiếc ghế ngồi họp cho Quốc hội nước nhà, lại phải nhập xa xôi đến vậy. Chả trách có nhận xét rằng nền công nghiệp VN chưa làm nổi một con ốc vít hiện đại đúng tiêu chuẩn! Chiếc ghế thì như thế, còn hình Quốc huy trong hội trường lớn là điểm trung tâm của cả tòa nhà lại bé nhỏ lúi xùi, bằng gỗ sơn, lẽ ra phải bằng đá quý và bề thế, cân đối.
Nhưng vấn đề mấu chốt quan trọng nhất hiện nay là ở trong tòa nhà chung, tòa nhà của cộng đồng dân tộc VN, như ngôi nhà Rông của cộng động mỗi dân tộc Tây Nguyên, phải là các đại diện xứng đáng, chân chính, thật sự là con người của cộng đồng, đại diện cho cộng đồng, tinh hoa của cộng đồng, tận tụy phục vụ cộng đồng, được cộng đồng xem xét kỹ, cân nhắc lựa chọn kỹ, bằng lá phiếu tự do của từng công dân. Thật là mỉa mai khi chính trong phiên họp này, Quốc hội thông qua đạo Luật về tổ chức của Quốc hội, tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, nhưng không có gì cải tiến so với trước.
Quốc hội khóa này có đại biểu Quốc hội tự nhận là trí thức, giáo sư, lại chửi bới đồng viện của mình là “ngu, thậm ngu”, còn công khai tự nguyện làm cố vấn cho tên độc tài sát nhân Saddam Hussein; có đại biểu đi quốc tế về khoe rằng tận mắt thấy tàu hỏa cao tốc có rất đông các bà nội trợ đi chợ (!), các học sinh đi học hàng ngày (!). Cứ như thật.
Lại có đại biểu xin nghỉ hẳn một phiên họp Quốc hội vì bận xuất ngọai dự buổi trao bằng cho cậu quý tử sắp tốt nghiệp (!). Trong đầu óc đại biểu này lợi ích cá nhân gia đình chiếm trọn chỗ, còn có tý chút nào cho tập thể, cho cộng đồng? Thật tội nghiệp!
Tôi đã vào dự thính họp Quốc hội khá nhiều nước, nhiều nhất là Pháp, Hoa Kỳ, Bỉ, Hà Lan, Canada, cả Philippines, Ấn Độ, Indonesia, Algeria, Ethiopia, Zimbabwe, rồi Argentina ở Nam Mỹ nữa. Tôi mở to mắt khi dự họp quốc hội ở Paris, Washington D.C., Ottawa, New Delhi, rồi hỏi chuyện các đại biểu và người dân thường. Vị trí xã hội của dân biểu lớn lắm, vinh dự lắm mà trách nhiệm, gánh nặng cũng cực lớn. Người dân khi có chuyện riêng là nghĩ ngay đến “ông” hay “bà dân biểu của tôi”. Họ quen coi người đại biểu sau khi họ bỏ phiếu và trúng cử là người nhà của mình. Con cái học hành, vào đời, chọn nghề, kinh doanh thuận lợi, khó khăn, có vụ kiện cáo gì… là họ gọi điện, gõ cửa hỏi ý kiến “dân biểu của mình”. Các dân biểu cũng gọi bà con trong vùng mình đại diện là “cử tri của tôi”, “vùng cử tri của tôi”. Có chuyện gì lớn xảy ra trong vùng là các đại biểu vùng đó quan tâm ngay, có khi có mặt ngay để tìm hiểu, tham gia giải quyết. Tai nạn, cháy nhà, lụt lội, bãi công, thất nghiệp, bệnh truyền nhiễm lây lan, môi trường … luôn là mối quan tâm thường xuyên của các dân biểu và tiếng nói của họ trong xã hội trên báo chí, truyền hình, cơ quan chính quyền luôn có trọng lượng. Đức tính đầu tiên quan trọng nhất của một dân biểu là tính tận tụy cho cộng đồng, phục vụ cộng đồng, là người sống vì cộng động, sống cho cộng đồng, do đó phần lo riêng cho cá nhân mình là tự nguyện giảm bớt, hy sinh vì lợi ích chung.
Việc ứng cử đề cử trong các cuộc bầu cử định kỳ là rất hệ trọng. Từ các đảng phái, hội nghề nghiệp, từ các giới sỹ nông công thương, tổ chức xã hội dân sự đề xuất, giới thiệu, trao đổi, sàng lọc đi lại nhiều lần mới lựa chọn được người đạt tiêu chuẩn, vì người tốt thường kín đáo, khiêm tốn, không ham danh vọng quyền lợi cá nhân. Cử tri có quyền bãi nhiệm dân biểu do mình bầu ra khi đại biểu đó tỏ ra bất xứng, vô trách nhiệm hay phạm pháp. Rõ ràng dân biểu nghị sỹ là nhân vật trung tâm của xã hội dân chủ.
Ở Việt Nam đã thành nếp, cố tật, là ban Tổ chức Trung ương đảng là nơi quyết định lên danh sách chọn toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương đảng, Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Tổ quốc, toàn bộ đại biểu Quốc hội – mà 90% là quan chức đảng viên CS.
Vậy thì gọi là “đảng biểu” hay “dân biểu”? Cách tuyển chọn như thế làm sao tìm cho ra, cho đúng nhân tài!
Các nước hiện đại có cả một nền văn hóa của giới dân biểu, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Những cẩm nang cho dân biểu, tiêu chuẩn mẫu mực cho dân biểu, hồi ký các dân biểu gương mẫu, sáng tác văn học nghệ thuật của giới dân biểu… là tài sản chính trị - văn hóa của đất nước. Một dân biểu Pháp hay viết báo tâm sự với tôi, là dân biểu phải học không mỏi mệt, mọi ngành, trước hết là luật pháp vì Quốc hội là ngành lập pháp, còn cần am hiểu tâm lý, xã hội, am hiểu cả về kinh tế kinh doanh, lại phải biết về quan hệ đối ngoại, về sư phạm, về kỹ thuật truyền thông…
Trụ sở mới Quốc hội VN hoành tráng là điều đáng mừng. Mong rằng trụ sở mới sẽ là ngôi nhà chung mở rộng cửa cho nhân dân vào ra, là không gian mở rộng hơn bất cứ dinh thự nào khắp cả nước, là nơi đón nhân dân vào tham quan, dự các cuộc họp, là nơi giới báo chí tự do trong ngoài nước đến tác nghiệp thoải mái.
Đáng mừng hơn nữa là nếu như trong ngôi nhà cộng đồng này sẽ chỉ có toàn những con người của cộng đồng, là tinh hoa thật sự của cộng đồng, cúc cung tận tụy cho cộng đồng, là “dân biểu” thật sự chứ không phải là “đảng biểu”, tự đảm nhận vai trò “cơ quan quyền lực cao nhất” của đất nước được ghi trong Hiến pháp, không có một cơ quan nào có quyền lực cao hơn, bảo vệ nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải, thành quả phát triển được chia hợp lý cho toàn dân thụ hưởng.

Giấc mơ? – Hòa giải hòa hợp dân tộc?
Nguyễn Mạnh Trinh
Có nhiều người, cả những nhà văn, có nhận xét rằng ở trong nước đã thay đổi rất nhiều và đó là một chủ trương của những người cầm quyền muốn thoát ra khỏi những trì trệ cho đất nước. Ngay cả trong văn nghệ học thuật cũng có chủ trương như vậy. Và họ dẫn chứng là có những hội nghị Lý Luận Phê Bình văn học đã công nhận một thực tế của văn học Việt Nam và thúc đẩy sự thay đổi: “một số quan niệm cũ không còn phù hợp”, “những gì đã cũ và lỗi thời phải cương quyết vượt qua”, “một số nhà phê bình chỉ quen với những môtíp, mô hình cũ và dị ứng với những biểu hiện mới và lạ. Độ bao quát quá hẹp, nhiều ẩn số văn nghệ đứng ngoài tầm với của giới phê bình”. Và với nghị quyết “người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” cũng như việc “đối với nhà văn Việt Nam, trước hết và quan trọng nhất trong việc mở rộng quan hệ quốc tế là giao lưu với các nhà văn, các nhà văn hóa, các nghệ sĩ người Việt đang sinh sống và hành nghề ở các nước trên thế giới”. Muốn như vậy, phải rời bỏ cái suy nghĩ tư duy địch bạn của thời còn chiến tranh…
Thế mà từ tháng tư năm 1975, một thời điểm gắng quên mà vẫn mãi nhớ đến bây giờ chừng như vẫn chưa đổi. Đã mấy chục năm trôi qua cuộc chiến vẫn còn những dư âm đau xót. Bao nhiêu là hồi ức, bao nhiêu là những vết thương đau. Không phải với riêng cá nhân một người, mà còn với nhiều người và nói rộng ra, cả dân tộc nữa. Những vết chém của hận thù tới bây giờ vẫn chưa lành miệng. Những đau xót đến ngày nay vẫn còn tồn tại trong tâm. Nhiều người kêu gọi xóa bỏ chiến tuyến gạt bỏ hận thù. Nói thì dễ, nhưng hiện trạng bây giờ, vẫn còn rất nhiều điều để thấy rằng cái hố sâu ngăn cách dân tộc của thời nội chiến không dễ gì lấp đầy. Nhất là đối với những người Cộng sản mà câu nói của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày nào vẫn còn chính xác, “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”.
Tôi nhớ có lần đã phỏng vấn nhà văn Doãn Quốc Sỹ với câu hỏi: “Trong văn chương anh nghĩ có biên giới giữa người cầm bút Việt Nam ở trong nước và hải ngoại? Hoặc giữa người miền Nam và người miền Bắc?”. Và nhà văn nổi tiếng của hai mươi năm văn học miền Nam, người đã bị cầm tù và biệt giam nhiều năm vì can tội làm “nhà văn” đã trả lời “Văn chương Việt Nam là văn chương Việt Nam. Đơn thuần chỉ có vậy! Những người Việt miền Bắc, người Việt miền Nam, người Việt quốc nội, người Việt hải ngoại phản ánh những gì xẩy ra qua lăng kính cá tính văn chương từng người. Cả nền văn chương Việt Nam nói chung do đó mà có được sắc thái lung limh phong phú. Tôi hiểu biên giới trong câu trên là như vậy…” Với những người mà đảng Cộng sản đã muốn tiêu diệt mà nói như vậy thì không thể kết luận đó là một biểu hiện của hận thù…
Ở trong nước thì Võ Văn Kiệt, một lãnh tụ Cộng sản đã chết, cũng phát biểu, “Ba mươi năm qua, có những bà mẹ ngày thắp hương cho những người con của mình, người là chiến sĩ giải phóng đã hy sinh, người là lính của chế độ Sài Gòn đã tử trận. Phải chăng đã đến lúc chúng ta cần thấu hiểu tâm tình của người mẹ Việt Nam, cùng thắp nén nhang cầu cho linh hồn của những người con của mẹ được siêu thoát…”
Tưởng như thế, nhưng khi đọc trong những tác phẩm mới xuất bản gần đây ở trong nước tôi mới thấy rằng ngay cả những người cầm bút cũng vẫn còn ảnh hưởng cái tư tưởng “địch – ta” khá nặng nề và cái hội chứng thời chiến tranh vẫn còn tồn tại. Mà tư tưởng ấy lại là sản phẩm còn sót lại của một nền văn học cổ võ hận thù tán dương chém giết, sản phẩm của tuyên truyền. Dù có đổi mới tư duy, có nhìn ngắm lại, nhưng ảnh hưởng vẫn còn trong văn chương.
Với những người Cộng sản Việt Nam, tuyên truyền ở một vị trí xung yếu. Tất cả, trên mọi phương diện đều phục vụ cho một mục tiêu: tạo một bánh vẽ tốt đẹp để cưỡng bách bắt mọi người phục vụ theo đường hướng định sẵn. Nhà văn Alekxandr Solzhenitsyn trong diễn văn đọc khi nhận giải Nobel về văn chương đã viết về tính chất của các chế độ độc tài toàn trị như sau:
“… Ai là người sẽ đặt câu hỏi với chúng ta: văn học sẽ làm được gì để chống trả lại sự công hãm khốc liệt của cường quyền công khai? Là: chúng ta phải nhớ mãi rằng bạo lực không thể đơn độc một mình và cũng không có khả năng tồn tại duy nhất, nó bắt buộc phải bắt tay với sự dối trá. Giữa bạo lực và dối trá có mối quan hệ sâu sắc ruột thịt tự nhiên: bạo lực được che đậy kín đáo bằng dối trá và dối trá cũng nhờ vào bạo lực để tồn tại. Nếu có một kẻ nào tự nhận bạo lực là phương pháp áp dụng của mình thì bắt buộc phải chọn dối trá làm chỉ nam hướng dẫn. Khi khởi đầu quyền thế, bạo lực nghiễm nghiên công khai và rất là kiêu hãnh. Nhưng khi đã bành trướng, đủ sức mạnh áp chế với vị trí độc tôn của mình, nó lại cảm thấy bất an với giông bão chung quanh và chỉ thấy sẽ tồn tại được nếu cứ tiếp tục dối trá. Và dối trá đã sẵn được ngụy trang bằng những ngôn từ ngọt ngào hoa mỹ. Bạo lực không nhất thiết luôn luôn bóp cổ bẻ họng trực tiếp dân chúng mà phần đông chỉ đòi hỏi từ nhân dân của chúng một lời thề từ dối trá, để có mặt trong vai trò ấy một cách tự nguyện.
Bước giản dị của một người dũng cảm để chống lại là không tham dự vào trò dối trá và không đi theo những việc làm dối trá. Nếu bắt buộc cứ để nó ngự trị và nếu thống trị cả toàn cầu cũng chẳng sao, ta không đứng về phía nó! nhà văn và nghệ sĩ còn có thể tích cực hơn nữa: chiến thắng sự dối trá. Trong cuộc chiến sinh tử này, nghệ thuật bao giờ cũng đã và đang chiến thắng. Sự ấy hiển nhiên, không một ai có thể chối cãi. Dối trá có thể lừa được rất nhiều thứ trên thế gian này nhưng chỉ bị một khắc tinh: nghệ thuật…”
Trở lại với hiện tình Việt Nam tình trạng tụt hậu hiển nhiên rõ ràng. Từ mọi mặt, là sự sa sút tràn đầy. Xã hội tha hóa, giáo dục xuống cấp, con người chạy theo tiền bạc, luật pháp bất công, kinh tế trì trệ, thì đôi khi những nhà văn đã nhìn lại quá khứ chiến tranh và để tự hào vì những kinh nghiệm sống đã có.
Viết về chiến tranh của một thời đã qua đi, những nhà văn trong nước vẫn không qua được cái tâm lý hận thù của một hệ thống tuyên truyền sắt máu đã có sẵn từ một thời gian dài. Những điều được tuyên truyền như ngụy ăn gan uống máu như những loài thú mất nhân tính tới giờ vẫn còn được viết với tâm tư của thời chiến tranh. Nếu đã đọc những tác phẩm đại loại như của Tạ Duy Anh hoặc Hồ Anh Thái và quả tình người đọc đã cảm thấy thật xấu hổ khi có những nhà văn được tạm gọi là tiêu biểu cho văn học trong nước mà lại có giọng văn như thế. Như đoạn trích dẫn từ truyện dài: “Đi Tìm Nhân Vật” của Tạ Duy Anh:
“…quân ta ào lên, bắt giết, đâm, dẫm đạp. Một mụ ngụy cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa hết hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế! Một thằng ngụy bị mình xọc lê vào bụng, nghe “thụt” một cái. Mình nghiến răng vặn lê rồi trở báng súng phang vào giữa mặt hắn. Hắn lộn một vòng, gồng mình giẫy chết như con tôm sống bị ném vào chảo mỡ…”
và một đoạn khác cũng… kinh dị không kém:
“Hai ngày sau bọn địch phản công. Cả trung đội mình bị băm nát. Thằng Thiết bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào vừa bóp cò. Bọn ngụy ào lên như lũ quỷ, quyết bắt sống thằng Thiết. Như sau này anh em trinh sát kể lại, chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội. Nó đã hy sinh như một người anh hùng trên chiến trận…”
Thế mà sách của Tạ Duy Anh đã được in ở hải ngoại và có nhiều người cho rằng ông là người có tâm tư “thông thoáng” nhất và tác phẩm được coi là có “vấn đề” ở trong nước???
Và trong “Cõi người rung chuông tận thế” của Hồ Anh Thái (hình như là chủ tịch hội nhà văn Hà Nội) cũng ghê gớm tàn bạo không kém:
“Hùng lao người bơi xuôi theo dòng suối tương đối cạn, xa hẳn chỗ Hoa đang nấp. Lũ thám báo văng tục chạy men bờ đuổi theo. Có những chỗ suối cạn không bơi được Hùng phải chạy. Bốn tên thám báo nhảy chồm chồm trên những tảng đá giữa lòng suối rồi quây được Hùng vào giữa. Anh quật ngã một thằng. Nó cắm đầu xuống nước không thấy động đậy gì. Nhưng những thằng kia đã xúm lại. Chỉ một lát sau, chúng đã lôi xềnh xệch Hùng lên bờ. Thân thể anh bầm dập đẫm máu. Chúng đấm đá anh túi bụi để lấy cung cho tới khi anh ngất đi. Anh tỉnh lại chúng đánh tiếp. Hoa hiểu vì sao chúng không dùng đến súng. Chúng cũng không muốn gây ra tiếng nổ ở vùng rừng này.
Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn…”
Tôi tưởng những danh từ như “mụ ngụy cái”, “lũ thám báo”,.. hoặc những chuyện moi tim gan người để ăn nhậu, có lẽ đã mất biệt rồi chứ? Cái văn chương sặc mùi căm thù ấy vẫn còn tồn tại sao? Mà cả với những người cầm bút luôn luôn kêu gọi hòa giải!!!
Nhà văn Dương Thu Hương trong “Tiểu Thuyết Vô Đề” củng biểu lộ sự căm thù đúng y như những nhà văn Cộng sản trung kiên khác. Kể lại những cái chết của những bộ đội nữ bị lính thám báo hãm hiếp hay thái độ hèn nhát của những người lính VNCH khi bị bắt, giọng văn ấy không thể là của một người đã thấy cái phi lý của chiến tranh và cái huyền thoại “chống Mỹ cứu nước” vẫn còn vương vấn. Dù rằng bà cũng hiểu một điều là miền Bắc đã gây ra chiến tranh theo lệnh của Cộng sản quốc tế.
“Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực Cô Hồn gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.
Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những cô chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đây là những người con gái miền bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết. Những cái xác bầm dập méo mó. Da thịt con gái nõn nà tươi thắm vậy mà khi chết cũng thối rữa y như da thịt một lão già phong lở hay một con cóc chết. Đám dòi lúc nhúc trong các vết thương, trong các hốc mắt, hốc miệng. Những von dòi trắng nhờ béo tròn. Chúng trị trên các tử thi ngoi lội, trồi lên trụt xuống, vẻ viên mãn của loài dòi bọ.”
Đọc những đoạn trên, đâu có ai tránh khỏi cảm giác lợm giọng. Và, tác giả Tiểu Thuyết Vô Đề có quá tay để tạo thành những hận thù khi nói về những người thua trận. Như vậy, có thể nói chuyện bình thường hòa giải với nhau không? Thời chiến tranh đã qua, những người ở phe chiến thắng có còn bị khích động của cả một chính sách gây căm hờn để dồn toàn lực vào công cuộc chém giết thúc đẩy chiến tranh…
Nhà văn mà còn viết với giọng như thế thì những từ ngữ như “hòa giải, hòa hợp”, hay “hợp lưu, giao lưu” liệu còn ý nghĩa không? Tôi đọc những hàng chữ ấy và thấy hệ thống tuyên truyền quả đã có tác dụng, không phải với giới bình dân mà cả trong văn chương.
Trong Nỗi Buồn Chiến Tranh, Bảo Ninh cũng mô tả một cảnh tượng ghê rợn không kém:
“Kiên hờ hững ngó ra sau. A. Một cái xác. Một cái xác đàn bà trắng hếu, ngực ưỡn dựng lên, chân dang ra như hai lưỡi léo, mái tóc đổ xõa che lấp nửa mặt, nằm gần như chắn ngang trước cửa phòng hải quan. Còn trẻ, mắt nhắm hờ. Dưới lưng không thấy vũng máu…
Chợt có tiếng xe đỗ, tiếng kéo lê rồi tiếng chân huỳnh huỵch. Một gã hộ pháp. Đội mũ sắt, có lẽ là lính cao xạ từ trong phòng hải quan đi ra khệ nệ khuân trên tay hai két bia 33. Bước qua ngưỡng cửa mắt nghếch lên, gã vấp phải cái xác bị xô chúi tới, ngã sấp. Cả đống bia giáng xuống loảng choảng chai vỡ tan, bia óng vàng tuôn lênh láng. Đám lính tăng cười ro. Kiên nhếch mép.
Sượng sùng gã sục “đồ cổ” nhỏm dậy tức tối vò hai nắm đấm gườm gườm nhìn những kẻ đang cười nhạo mình. Rồi nhổ toẹt, hầm hầm cái mặt, hắn sấn lại đá tới tấp vào cái vật vừa ngáng chân hắn. Vừa đá vừa rống lên:
“Đ mẹ mầy, con đĩ! Mày ưỡn của nợ ra đây cho chúng nó ngắm à! Mày gài mìn bố mày! Tổ sư mày, cười cái cắc củ! Đứa nào thích ngắm nghía mày thì kệ bố mày! Bố mày cứ dọn phắt mày đi!”
Chửi đoạn, thằng cha “Chí Phèo” túm lấy một chân người chết sền sệt kéo lết đi.
Thằng chó má dã man léo sền sệt cái xác khốn khổ qua mặt sân bê tông loáng sáng nước mưa và nắng chói, rồi hự, hắn choãi chân vặn lưng lấy đà quăng mạnh, liệng bổng người ta lên.
Xoay lộn mấy vòng, cái xác trắng rợn bay chênh chếch rồi thịch xuống cạnh mấy cái thây lính dù chưa ai dọn. Lưng vừa chạm đất, người đàn bà chết ngồi bật dậy, hai tay đưa vung lên, cái miệng tuồng như há ra chực kêu rồi ngã vật nghiêng, đập đầu xuống. Tên súc sinh khệnh khạng bỏ đi tay khuỳnh khuỳnh ra dáng người hùng…”
Đi xa hơn nữa, Bảo Ninh, người viết truyện ngắn “305” in trong tập “Lan man khi kẹt xe” đã đổ tội cho cả toàn dân miền Nam cái tội vong bản chạy theo đế quốc mà bỏ lại người thân một cách lãnh đạm vô nhân. Truyện ngắn này kể lại chuyện những người lính lái xe tăng mang số 305 trên đường hành quân đã ghé vào một thị trấn nhỏ vào tháng tư năm 1975. Và nhờ cung cách hiền hòa họ đã làm cho người thiếu phụ ở đó cảm mến. Sau đó cả xa đoàn chết hết chỉ còn sót lại một người trở về thị trấn xưa ghé thăm người thiếu phụ ấy. Giây phút gặp lại anh ta mới biết cả gia đình đã bỏ rơi chị để di tản ra nước ngoài. So sánh gia đình chị và anh bộ đội kia, chị thấy cảm mến anh bộ đội ấy hơn…
Ở thời điểm bây giờ mà còn viết với luận điệu như thế, nào ta anh hùng, địch dã man, ăn tim gan người sống. Cái nếp nghĩ, nếp viết ấy đã ăn sâu vào tâm thức người viết và bao nhiêu năm sau chiến tranh mà vẫn chưa hề thay đổi. Nhà văn Phùng Nguyễn nhận xét khá xác đáng:
“… Có quá nhiều điều luôn rắp tâm kéo nhà văn xuống thấp có khi thấp hơn cả mức độ cho phép. Đó là khi họ, vì một hay nhiều lý do, phải nín thở qua sông, phải viết điều không muốn viết, phải ca tụng những điều không xứng đáng, phải báng bổ điều họ thực sự quý trọng. Họ buộc phải đứng về phía của kẻ mạnh. Nhưng cũng có khi, không phải là luôn luôn vô tình, họ chọn đứng cùng phía với những thế lực đen tối một cách tự nguyện, gieo rắc mầm độc hại xuyên qua việc xiển dương điều trá ngụy. Chính là ở đây, nhà văn trở thành không chỉ là kẻ đồng lõa”.
Câu hỏi là bây giờ, các người cầm bút sẽ phải làm gì để hố ngăn cách nhau được lấp dần đi? cả người cầm bút ở trong nước và hải ngoại? Nhưng xem ra câu hỏi chỉ để mà hỏi. Khi văn học ở trong nước còn là một công cụ để phục vụ cho nhu cầu tuyên truyền của chế độ hiện hữu thì còn rất lâu sự phân hóa tạo thành chiến tuyến của thời chiến tranh.
Nguyễn Mạnh Trinh

“Ðểu Cáng Đã Lên Ngôi !”
Ngô Nhân Dụng
November 1, 20140
2014 OCT 31 CSVN300Phim Sống Cùng Lịch Sử phải ngưng chiếu, trong thành phố Hà Nội, vì mỗi ngày chỉ có hai, ba người mua vé vào coi. Phim mới này, của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, được mô tả là làm ra để khen ông Võ Nguyên Giáp.
Cuốn phim làm tốn mất 21 tỷ đồng, tương đương với một triệu đô la Mỹ; dùng tiền nhà nước, tức là tiền của dân Việt Nam. Trước đó, năm 2010 đã có phim “Lý Công Uẩn – Ðường tới thành Thăng Long” tốn gấp năm lần, chi trên 100 tỷ; làm xong cũng đem cất trong kho.
Có người chỉ cho nhà sản xuất phim, có cách khiến dân Hà Nội kéo nhau đi coi phim về Tướng Giáp: Hãy xin Ðảng Cộng Sản ra lệnh cấm phim này! Cứ cái gì bị cấm thì người thế nào dân cũng tìm coi bằng được. Vào thế kỷ thứ 19 đã có một ông vua Hy Lạp dùng kế này.
Dân Hy Lạp hồi xưa không trồng khoai tây; mà bây giờ đó là một món ăn rất được ưa chuộng. Ðó là công của vua Óthon (tên ông có khi viết là Otho , hoặc Otto ; theo lối viết của người Hy Lạp, nay viết là Óthon ).
Vua Óthon (1815-1867) được các cường quốc đưa từ Bavaria sang làm vua xứ này khi mới 17 tuổi, sau khi dân nổi lên lật đổ đế quốc Ottoman . Nhưng khi trưởng thành ông rất yêu nước Hy Lạp. Nông dân Hy Lạp rất bảo thủ, không muốn trồng một thứ gì mới, kể cả khoai tây là món được đem giống từ Châu Mỹ về.
Muốn nông dân trồng khoai tây, vua Óthon đã ra lệnh cấm mua bán, tàng trữ khoai tây. Bị đế quốc Ottoman thống trị bốn thế kỷ, bị bóc lột không nương tay, nông dân Hy Lạp đã nhiễm một thói quen: Hễ cái gì nhà nước cấm thì ta làm, làm lén, càng cấm càng thèm, lén lút làm càng thích! Phàm người dân nước nào cũng vậy, họ thích ăn “trái cấm,” ở đây củ khoai có thể gọi là “củ cấm.”Thế là nông dân Hy Lạp đi gây giống khoai tây, lén trồng khoai trong vườn nhà mình, đêm đêm móc củ khoai lên mà ăn, cả nhà cùng sung sướng. Cuối cùng khoai tây trở thành một món quốc hồn quốc túy!
Một câu chuyện ly kì khác kể rằng vua Óthon cho người đi phao tin đồn rằng có một chiếc tàu thủy vừa cập hải cảng Piraeus , thành phố Athens , chở một đặc sản dành riêng cho hoàng cung, vì hoàng gia Bavaria đã quen món ăn chân quý đó rồi. Cấm không bán cho dân chúng, vì trình độ ẩm thực của họ còn thấp quá. Chiếc tàu thủy không cho ai canh gác, cho nên dân Hy Lạp ban đêm đã lén lên tàu lấy trộm về ăn thử. Và họ thấy quả nhiên ngon. Từ đó, họ thi đua trồng khoai tây.
Có thể nói cuốn phim “Sống cùng lịch sử” làm cho cả Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam mất mặt.
Bỏ hàng triệu đô la ra làm phim mà không có ai coi. Bây giờ, họ có thể gỡ thể diện, bằng một mật lệnh, bí mật nhưng cứ cho các công an dư luận đi rỉ tai cho mọi người biết, rằng cuốn phim đã bị cấm. Lý do, cũng cứ rỉ tai mà nói, là vì Bộ Chính Trị mới nhận được lá thư của bà Vân, vợ thứ nhì của ông Lê Duẩn, lá thư dài tố cáo những tội lỗi của ông Giáp, do ông Lê Duẩn thì thầm bên gối cho bà nghe. Nhân danh là một đảng viên Cộng Sản, bà Vân đã đả kích thậm tệ việc tung hô Tướng Giáp trong đám tang của ông. Bà còn chỉ trích cả việc ông Giáp chọn chỗ đặt mồ của mình ở tuốt miền quê hương ông, xa hẳn Hà Nội. Tức là trước khi chết ông ta còn nhất định không chịu nằm chung một chỗ với đám quý tộc đỏ ở nghĩa trang Mai Dịch. Cứ nói rằng Bộ Chính Trị đã tỉnh ngộ, đánh giá cao dóng góp của đồng chí Vợ Hai Lê Duẩn, cho nên ra lệnh từ nay cấm không cho ai chiếu phim, coi phim “Sống cùng lịch sử”!
Người hiến kế cho đạo diễn Nguyễn Thanh Vân có thiện trí muốn giúp ông thu được chút vốn về cho nhà nước. Nhưng kế này khó thực hiện, vì quên mất một điều: Phim Tướng Giáp không phải là khoai tây. Nông dân Hy Lạp nếm thử món khoai tây, thấy ngon thật cho nên đua nhau trồng chi, ăn chui. Còn cuốn phim “Sống cùng lịch sử” đã có người nếm thử rồi, mỗi ngày có tới hai ba người tò mò mua vé xem tại cả hai rạp hát; tổng cộng ba ngày có tới ít nhất 12 khán giả. Chắc hẳn 12 khán giả đều thấy lịch sử cuộc chiến 56 ngày đêm của ông Giáp cũng không ngon được như cái củ khoai tây, cho nên chẳng ai thèm đi xem nữa.
Có người giải thích tai nạn của phim “Sống cùng lịch sử”cũng là tai nạn của môn lịch sử tại Việt Nam hiện nay. Bà con còn nhớ mấy năm trước khi học trò biết tin môn sử học được bãi bỏ trong kỳ thi, các em đã làm lễ ăn mừng, đem tung hê hết các cuốn sách giáo khoa sử học, vứt từ trên lầu xuống đất, vui như coi pháo bông.
Nhưng giải thích như vậy không đủ. Nên nhớ khi học trò lớp 12 phải học môn lịch sử thì các em toàn phải học về công ơn của Ðảng Cộng Sản. Dân Việt Nam đã phải ăn cái món ăn tuyên truyền suốt ngày đêm, từ sáng đến tối, chán ứ đến mang tai rồi. Các em học sinh phải đi thi nên phải học, chỉ học thuộc lòng thôi chứ không được nghiên cứu, tìm tòi gì thêm cả. Cho nên, khi nghe tin được tha, không phải học nữa các em phải sướng như điên, biểu diễn màn xé sách tung hê. Kết tội các em không quan tâm đến lịch sử dân tộc là oan. Các em chỉ chán nghe tuyên truyền mà thôi. Như câu ca dao thịnh hành ở ngoài Bắc từ thời Hồ Chí Minh còn sống:
“Dân đói mà đảng thì no Sức đâu ủng hộ, hoan hô suốt ngày?”
Cuốn phim thất bại vì nó không phải lịch sử, nó chỉ là tuyên truyền mà thôi. Nói như một độc giả Bảo Minh ở Việt Nam sau khi đọc tin phim “Sống cùng lịch sử“ế khách trên mạng VnExpress : “Làm phim về lịch sử nếu không trung thực với lịch sử thì sẽ tiếp tục thất bại và khán giả hờ hững.” Cũng vì vậy, ông Nguyễn Thanh Vân cho biết đã liên lạc với các rạp nhà nước và tư nhân, nhưng “không phải rạp tư nhân nào cũng đồng ý” chiếu một bộ phim mà họ biết trước sẽ ế khách.

Vĩnh biệt Đại tướng Nhưng tại sao ông Nguyễn Thanh Vân và các cấp chỉ huy của ông trong ban văn hóa tư tưởng không đoán trước được phản ứng của khán giả trước khi bỏ tiền ra làm phim? Có một độc giả đã giải thích, “Người ta đâu cốt làm phim, người ta chỉ cố rút được càng nhiều tiền thuế càng tốt.” Ðó có lẽ là lời giải thích đúng sự thật nhất. Nhưng nói vậy cũng chưa đủ. Vì muốn rút tiền thuế của dân ra chia nhau thì thiếu gì cách, đâu cứ phải làm phim? Lý do quan trọng hơn khiến người ta làm cuốn phim này, là họ đã hoàn toàn vô cảm. Vô cảm trước tâm trạng của người dân Việt Nam hiện nay. Họ không biết dân nghĩ gì, dân yêu cái gì, ghét cái gì. Hoặc biết, nhưng bất cần, theo chủ nghĩa Mặc Kệ.
Cứ xem như họ tổ chức cuộc triển lãm cũng “lịch sử” về Cải Cách Ruộng Ðất thì thấy. Họ không cần biết đến những người dân đã tự thiêu vì phẫn uất khi bị đảng và nhà nước cướp đất hiến cho tư bản đỏ lấy tiền bỏ túi. Ca ngợi cuộc Cải Cách Ruộng Ðất làm mấy trăm ngàn người chết oan là khiêu khích hàng triệu các con cháu họ còn sống. Khiêu khích tất cả những người dân mất ruộng cày vì chính sách tư bản hóa các đảng viên. Khiêu khích tất cả giới nghiên cứu lịch sử, giới trí thức Hà Nội. Vậy mà họ vẫn cứ làm được. Cũng chỉ vì họ hoàn toàn vô cảm.
Thêm một bằng chứng nữa về tình trạng vô cảm của các cán bộ Cộng Sản: việc đem một em bé gái tám tuổi ra tòa, xử tội vì em đã nhét hình Hồ Chí Minh vào trong quần, từ hai năm qua. Một em bé tâm thần không ổn định như vậy, chỉ đáng thương, nên đưa em đi chữa trị. Nếu có độc ác mà phạt em, thì cũng nên phạt lén lút, đừng đem ra công khai bêu rếu. Bêu xấu một em bé tám tuổi chưa đủ trí khôn, nhưng bêu rếu luôn cả già Hồ! Làm như thế nhưng họ không hề biết rằng đem ra câu chuyện hình Hồ Chí Minh nhét trong quần ra bêu là một việc làm đáng xấu hổ cho cả Ðảng Cộng Sản tử trên xuống dưới. Vì họ hoàn toàn vô vảm.
Tình trạng vô cảm của các cán bộ, các lãnh tụ Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã hiển hiện từ nhiều năm qua. Thời Trường Chinh, Lê Duẩn , các cán bộ được đề bạt lên đều có ý thức về tác dụng chính trị của mỗi lời nói, mỗi hành động. Họ dối trá nhưng biết nói dối một cách khôn ngoan. Khôn ngoan tức là giữ được bộ mặt đạo đức giả, dân biết nghe nói dối mà không vạch mặt được.
Làm cán bộ Cộng Sản trước đây phải biết khéo léo mồm mép, nói cho giỏi. Nói cho giỏi tức là khả năng chính trị cao! Cho nên nhà thơ Nguyễn Duy mô tả xã hội Cộng Sản với hình ảnh: “Ðiếm cấp thấp lấy trôn nuôi miệng – Ðiếm cấp cao lấy miệng nuôi trôn.” Ngày nay các cán bộ được cất nhắc không theo tiêu chuẩn khả năng chính trị nữa. Tiêu chuẩn chính bây giờ là tiền. Anh nào giỏi moi ra được nhiều tiền, có nhiều tiền để dâng lên cấp trên, thì anh ấy sẽ khá, sẽ thăng quan tiến chức, ngày càng lên cao. Cách đề bạt, tuyển chọn trong Ðảng Cộng Sản đã hoàn toàn thay đổi kể từ khi theo con đường tư bản hóa cán bộ và đảng viên. Cho nên mới đẻ ra đám cán bộ không bao giờ để ý đến tâm trạng của người dân, vì họ không cần biết đến. Cho nên nhìn chung quanh thấy bao nhiêu chuyện lợm giọng, từ trò triển lãm cướp ruộng đến trò đem hình Hồ Chí Minh nhét vào quần ra tòa. Nhà thơ Bùi Minh Quốc viết: “Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa – Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!” Dân Việt phải chứng kiến cảnh “đểu cáng lên ngôi” đến bao giờ mới được tha?
Ngô Nhân Dụng
Củng cố chế độ Dân Chủ
Ngô Nhân Dụng Ngày hôm qua dân Mỹ đã bầu lại Hạ Viện và một phần ba các nghị sĩ Thượng Viện. Cuộc bỏ phiếu sẽ thay đổi đời sống chính trị, các chương trình kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới 300 triệu dân trong ít nhất hai năm tới. Nhưng, trừ các ứng cử viên và các người hoạt động chính trị tích cực, 99% người dân nước Mỹ vẫn tiếp tục cuộc sống hàng ngày, không thay đổi. Ngày mai, mọi người đã quên hết những cuộc tranh cãi trong mùa tranh cử. Ðếm phiếu xong, hai người hàng xóm cắm biển trước cửa nhà ủng hộ hai ứng cử viên đối lập sẽ nhổ lên, bỏ vô thùng rác. Gặp nhau họ vẫn chào hỏi như mọi ngày, cuối tuần vẫn có thể cùng đi coi đá banh hay mời nhau ăn tiệm.
Thái độ thản nhiên sau một cuộc bầu cử, cứ vài năm lại diễn ra một lần, cho thấy người dân đã quen với nếp sống dân chủ. Nó khác hẳn với tập quán ở các nước độc tài. Dân chủ chỉ là những “luật chơi” cố gắng đạt tiêu chuẩn công bằng, bình đẳng, cho mọi người được tham gia vào quyết định chọn người cai trị. Những luật chơi này cũng giống các luật chơi đá banh hay đấu vật. Mọi người tham dự cuộc chơi phải tuân theo luật, sau đó ai thắng, ai thua khôn cũng trở về nhà, chuẩn bị trận đấu sắp tới. Tinh thần này được thể hiện ở các nước đã thiết lập chế độ dân chủ lâu đời. Như ở nước Mỹ đã hơn 200 năm, ở Ấn Ðộ hơn 60 năm. Nhưng một nước nhỏ bé ở Bắc Phi, mới lật đổ chế độ độc tài ba năm nay, cũng thể hiện tinh thần dân chủ rất đáng ngưỡng mộ.
Năm 2011, Mùa Xuân Á Rập bắt đầu ở nước Tunisie trước khi lan qua các nước Bắc Phi và Trung Ðông, dân chúng nổi lên lật đổ các chế độ độc tài. Sau ba năm, tại nhiều quốc gia chế độ dân chủ vẫn chưa bền, khiến nhiều người thất vọng. Tại Ai Cập một chính phủ do dân bàu lên bị lật đổ. Quân đội sửa Hiến Pháp, tổ chức bàu cử lại; nhưng hàng ngàn người đã cầm súng nổi loạn. Tại các nước Libya, Yemen và Syria thì sau khi dân nổi dậy là nội chiến.
Dân Tunisie chứng tỏ ngọn lửa hy vọng của Mùa Xuân Á Rập vẫn còn cháy đỏ. Quốc gia nhỏ bé này vừa tiến thêm một bước củng cố thể chế dân chủ còn đang phôi thai; sau ba năm dò dẫm thiết lập các định chế mới. Họ mới đi bỏ phiếu bầu Quốc Hội, một tuần trước dân Mỹ.
Ðây là lần thứ hai dân Tunisie dùng lá phiếu tự do, sau khi lật đổ chế độ độc tài. Họ bầu một đảng mới lên thành lập chính phủ. Việc chọn lựa không dễ dàng vì có đến hàng trăm đảng chính trị tranh cử, trong đó có hai đảng lớn. Ðảng Hồi Giáo Ennahda cầm quyền thua, chỉ giữ được 69 ghế trong số 217 dân biểu trong Quốc Hội sắp họp. Ðảng đối lập Nidaa Tunis (còn viết là Nidaa Tounes) được nhiều phiếu nhất, 85 ghế. Các tỷ số này khác hẳn thời độc tài đảng trị, nhà độc tài Ben Ali lúc nào cũng thắng với tỷ số 99.9%! Người dân ngu nhất cũng thấy chế độ độc tài chuyên chế bao giờ cũng bắt con người sống giả dối, hành động gian trá.
Trong ba năm qua dân Tunisie đã chứng tỏ họ đủ dũng cảm và có khả năng sống tự do, dân chủ. Nói theo lối Phan Châu Trinh, đó là dân khí và dân trí đã cao. Năm 2011, họ nổi lên lật đổ chế độ độc tài, không cần bạo động. Ðược tự do, các đảng phái chính trị bột phát, nhưng các nhà chính trị biết phải hợp tác với nhau mới xây dựng được các định chế dân chủ. Năm nay dân Tunisie thay đảng cầm quyền, hoàn toàn chỉ dùng lá phiếu. Các nhà quan sát ngoại quốc đều tỏ ý thánh phục người dân cũng như cho các nhà chính trị xứ Tunisie.
Có lẽ vì người dân Tunisie trưởng thành cho nên các nhà chính trị cũng phải hành xử với tư cách xứng đáng. Cũng có thể nói nói ngược lại, nhờ các chính trị gia làm gương cho nên dân chúng biết sống trong tinh thần dân chủ.
Trước năm 2011 Ðảng Hồi Giáo Ennahda bị cấm hoạt động. Họ thắng cuộc bầu cử Quốc Hội lập hiến cuối năm 2011, với chủ trương đề cao đạo Hồi, đưa “Thánh Luật” (Sharia) vào làm luật pháp của quốc gia. Trong hai năm, dân chúng thấy chính phủ Ennahda không giải quyết được các khó khăn chung: Kinh tế trì trệ; nhiều người thất nghiệp hơn; giầu nghèo thêm chênh lệch; xã hội lại bất an vì các nhóm quá khích mới nổ dậy. Nhiều người bắt đầu chán, thấy có lẽ sống trong chế độ độc tài như trước lại tốt hơn.
Ðảng Ennahda đã tự ý rút lui; mời các đảng khác tham gia trong một chính phủ lâm thời, chờ quốc hội soạn thảo bản Hiến Pháp mới. Công cuộc lập hiến định làm trong một năm nhưng đã kéo dài hơn hai năm, vì một vấn đề gây mâu thuẫn mạnh nhất là: Có xác định Hồi Giáo là quốc giáo và Thánh Luật Sharia là luật pháp quốc gia hay không? Sau cùng khuynh hướng tách tôn giáo ra khỏi chính trị đã thắng thế. Tháng Giêng năm 2014, Quốc Hội biểu quyết một bản Hiến Pháp dung hòa. Ðảng Ennahda nhượng bộ, Tunisie là một quốc gia Hồi Giáo nhưng không áp đặt Thánh Luật Hồi Giáo Sharia trên tất cả mọi công dân nữa.
Hiến Pháp mới của Tunisie là bản Hiến Pháp dân chủ tự do nhất trong vùng. Bản Hiến Pháp là kết quả của nỗ lực thỏa hiệp giữa các khuynh hướng chính trị và đảng phái đối nghịch, một điều ít thấy trong các nước Hồi Giáo. Trong hai năm, các đảng phái tranh luận trong Quốc Hội, các công dân tự lập những tổ chức tư bàn luận công khai, được thông tin đầy đủ trên báo trên đài. Có thể nói cuộc thảo luận về hiến pháp được toàn dân tham dự và theo dõi. Các tổ chức phụ nữ đòi được bình quyền. Giới trí thức đại học đòi tinh thần tự do trong giáo dục. Quốc Hội lập hiến làm việc 14 giờ mỗi ngày để thông qua từng điểm. Sau cùng, bản Hiến Pháp được 200 phiếu chấp thuận, chỉ có 12 phiếu chống và bốn phiếu trắng. Hiện tượng này đáng ngạc nhiên tại một nước có hàng trăm đảng chính trị trong số 11 triệu dân! Tinh thần hợp tác, xây dựng này khác hẳn bên Ai Cập. Ở đó, một đảng Hồi Giáo lên cầm quyền sau cuộc cách mạng đã dùng đa số trong Quốc Hội thông qua một hiến pháp thiên lệch, đề cao phe đảng, lấn áp các nhóm thiểu số, dân chúng biểu tình phản đối nên cuối cùng bị đảo chính.
Hiến Pháp Tunisie tôn trọng quyền làm người và các quyền tự do căn bản, và công nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trong các định chế chính trị, một điều lần đầu tiên được ghi vào Hiến Pháp của một quốc gia Á Rập. Khi điều số 45 nói về quyền phụ nữ được thông qua, cả Quốc Hội đã đứng lên vỗ tay.
Dân Tunisie có thể hãnh diện đã thay đổi chính quyền một cách hòa bình; mặc dù hai đảng có chủ trương đối nghịch rõ ràng. Trong một quốc gia với hơn 90% theo đạo Hồi mà Ðảng Hồi Giáo thất cử, đảng chủ trương tách tôn giáo ra ngoài chính trị thắng, sắp lên nắm quyền. Các đảng chính trị tuân theo “luật chơi dân chủ.” Ðảng Ennahda chấp nhận mình thua, khi không còn được đa số dân tín nhiệm. Ông Beji Caid Essebsi, 87 tuổi, đã từng cộng tác với chế độ độc tài cũ, và mới thành lập Ðảng Nidaa Tunis trong năm 2012 để quy tụ những người không đồng ý với chính phủ Ennahda. Tunisie khác hẳn Libya, ở đó đảng Hồi Giáo thua phiếu đã tổ chức đảo chánh, xóa bỏ kết quả bầu cử. Thế là một nước có hai chính phủ, hai bên đang đánh nhau không biết bao giờ mới yên.
Các nhà lãnh đạo đảng Ennahda đã giải thích tại sao họ thua phiếu: Ðảng đầu tiên lên cầm quyền sau các cuộc cách mạng rất dễ làm dân chúng thất vọng. Vì sau một cuộc cách mạng, người ta nuôi kỳ vọng rất cao mà đất nước lại rất nhiều khó khăn mới; không chính quyền nào có thể đáp ứng đầy đủ những ước mong của dân chúng. Trong khi đó, các định chế dân chủ mới thành lập, guồng máy mới chưa thể nào làm việc hữu hiệu như mọi người mong muốn. Vì thế, sau các cuộc cách mạng, đảng chính trị lên nắm quyền đầu tên rất dễ làm cho dân thất vọng. Trước khi kết quả được công bố ở Tunisie, ông Rachid Ghannouchi, lãnh tụ đảng Ennahda đã điện thoại chúc mừng ông Beji Caid Essebsi. Ông Ghannouchi còn kêu gọi các đảng viên tới trụ sở tại thủ đô Tunis “ăn mừng chiến thắng của thể chế dân chủ.” Ông nói: “Cả thế giới Hồi Giáo đang ước mong được sống như người Tunisie chúng ta, vì chúng ta đang được sống tự do.”
Tờ báo tiếng Pháp ở thủ đô, La Presse de Tunisie ca ngợi đảng Hồi Giáo Ennahda có tinh thần thượng võ, “chơi thẳng thắn” (fair play). Dân Tunisie chứng tỏ rằng tất cả các dân tộc đều có thể dấn bước trên đường. Một nhà bình luận trên nhật báo Daily Star ở Lebanon, Rami G. Khouri viết: “Trong lịch sử dân Á Rập chưa bao giờ thấy cảnh dân một nước công khai tranh luận để cùng soạn ra một bản hiến pháp rồi áp dụng ngay. Quốc gia nhỏ bé này đang dẫn đường cho các nước Á Rập khác trên con đường chuyển hóa sang chế độ dân chủ.” Không biết bao giờ dân Việt Nam được người nước ngoài kính trọng như vậy.
Chúng ta có thể so sánh Tunisie với Việt Nam.
Cả hai nước đều bị Pháp chiếm làm thuộc địa vào thế kỷ 19. Cả hai từng tranh đấu giành độc lập sau Ðại Chiến Thứ Hai. Sau khi độc lập cả hai nước đều sống dưới ách độc tài. Tại Tunisie, lãnh tụ Habib Bourguiba nắm quyền trong 30 năm; khi quá già lão mới từ chức, năm 1987. Zine al-Abidine Ben Ali lên vẫn đàn áp những người có ý kiến đối lập, kinh tế trì trệ, xã hội vẫn bất công. Năm 2011, dân Tunisie nổi dậy khai mạc Mùa Xuân Á Rập, và năm nay họ đã đặt nền móng cho một thể chế dân chủ tự do vững vàng.
Dân trí và dân khí người Tunisie không cao hơn so với Việt Nam; mà trên nhiều mặt có thể nói còn kém dân mình. Tunisie là một nước nhỏ, 11 triệu dân. Lợi tức bình quân hơn 4,000 đô la một năm cao hơn Việt Nam, cũng chỉ bằng dân Trung Quốc. Trình độ học thức của dân Tunisie không hơn dân Việt. Tunisie chỉ có 75% người dân biết chữ, mà số đàn bà biết chữ còn thấp hơn nữa (65%). Tại Việt Nam 94% dân chúng và 92% phụ nữ biết đọc biết viết, chứng tỏ dân trí người Việt không thua. Nhìn suốt lịch sử thì chí khí của dân tộc Việt mạnh hơn nhiều. Ða số dân Tunisie bây giờ (hơn 95%) thuộc sắc dân Berber. Giống dân này bị người Á Rập đánh và đô hộ từ thế kỷ thứ bảy, họ từng nổi lên tranh đấu giành quyền tự chủ; nhưng sau cùng họ bị đồng hóa hoàn toàn; nói tiếng Á Rập và theo đạo Hồi. Dân Việt Nam quật cường hơn. Bị người Hán xâm lược để đồng hóa nhưng dân Việt vẫn giữ được tiếng nói, giành lại độc lập sau ngàn năm Bắc thuộc.
Ngày nay thì người Việt Nam phải noi theo tấm gương của dân Tunisie để học hỏi trên đường dân chủ hóa. Lịch sử cho thấy việc lật đổ một chế độ độc tài không khó; việc xây dựng và củng cố chế độ dân chủ mới là thử thách chứng tỏ một dân tộc đã “thành người lớn” hay chưa. Cuộc tranh đấu xóa bỏ độc tài ở Tunisie đã được cả thế giới ca ngợi. Nhưng công trình xây dựng thể chế dân chủ tại Tunisie trong ba năm qua còn đáng kính phục hơn nữa.
Ngô Nhân Dụng Ngày hôm qua dân Mỹ đã bầu lại Hạ Viện và một phần ba các nghị sĩ Thượng Viện. Cuộc bỏ phiếu sẽ thay đổi đời sống chính trị, các chương trình kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới 300 triệu dân trong ít nhất hai năm tới. Nhưng, trừ các ứng cử viên và các người hoạt động chính trị tích cực, 99% người dân nước Mỹ vẫn tiếp tục cuộc sống hàng ngày, không thay đổi. Ngày mai, mọi người đã quên hết những cuộc tranh cãi trong mùa tranh cử. Ðếm phiếu xong, hai người hàng xóm cắm biển trước cửa nhà ủng hộ hai ứng cử viên đối lập sẽ nhổ lên, bỏ vô thùng rác. Gặp nhau họ vẫn chào hỏi như mọi ngày, cuối tuần vẫn có thể cùng đi coi đá banh hay mời nhau ăn tiệm.
Thái độ thản nhiên sau một cuộc bầu cử, cứ vài năm lại diễn ra một lần, cho thấy người dân đã quen với nếp sống dân chủ. Nó khác hẳn với tập quán ở các nước độc tài. Dân chủ chỉ là những “luật chơi” cố gắng đạt tiêu chuẩn công bằng, bình đẳng, cho mọi người được tham gia vào quyết định chọn người cai trị. Những luật chơi này cũng giống các luật chơi đá banh hay đấu vật. Mọi người tham dự cuộc chơi phải tuân theo luật, sau đó ai thắng, ai thua khôn cũng trở về nhà, chuẩn bị trận đấu sắp tới. Tinh thần này được thể hiện ở các nước đã thiết lập chế độ dân chủ lâu đời. Như ở nước Mỹ đã hơn 200 năm, ở Ấn Ðộ hơn 60 năm. Nhưng một nước nhỏ bé ở Bắc Phi, mới lật đổ chế độ độc tài ba năm nay, cũng thể hiện tinh thần dân chủ rất đáng ngưỡng mộ.
Năm 2011, Mùa Xuân Á Rập bắt đầu ở nước Tunisie trước khi lan qua các nước Bắc Phi và Trung Ðông, dân chúng nổi lên lật đổ các chế độ độc tài. Sau ba năm, tại nhiều quốc gia chế độ dân chủ vẫn chưa bền, khiến nhiều người thất vọng. Tại Ai Cập một chính phủ do dân bàu lên bị lật đổ. Quân đội sửa Hiến Pháp, tổ chức bàu cử lại; nhưng hàng ngàn người đã cầm súng nổi loạn. Tại các nước Libya, Yemen và Syria thì sau khi dân nổi dậy là nội chiến.
Dân Tunisie chứng tỏ ngọn lửa hy vọng của Mùa Xuân Á Rập vẫn còn cháy đỏ. Quốc gia nhỏ bé này vừa tiến thêm một bước củng cố thể chế dân chủ còn đang phôi thai; sau ba năm dò dẫm thiết lập các định chế mới. Họ mới đi bỏ phiếu bầu Quốc Hội, một tuần trước dân Mỹ.
Ðây là lần thứ hai dân Tunisie dùng lá phiếu tự do, sau khi lật đổ chế độ độc tài. Họ bầu một đảng mới lên thành lập chính phủ. Việc chọn lựa không dễ dàng vì có đến hàng trăm đảng chính trị tranh cử, trong đó có hai đảng lớn. Ðảng Hồi Giáo Ennahda cầm quyền thua, chỉ giữ được 69 ghế trong số 217 dân biểu trong Quốc Hội sắp họp. Ðảng đối lập Nidaa Tunis (còn viết là Nidaa Tounes) được nhiều phiếu nhất, 85 ghế. Các tỷ số này khác hẳn thời độc tài đảng trị, nhà độc tài Ben Ali lúc nào cũng thắng với tỷ số 99.9%! Người dân ngu nhất cũng thấy chế độ độc tài chuyên chế bao giờ cũng bắt con người sống giả dối, hành động gian trá.
Trong ba năm qua dân Tunisie đã chứng tỏ họ đủ dũng cảm và có khả năng sống tự do, dân chủ. Nói theo lối Phan Châu Trinh, đó là dân khí và dân trí đã cao. Năm 2011, họ nổi lên lật đổ chế độ độc tài, không cần bạo động. Ðược tự do, các đảng phái chính trị bột phát, nhưng các nhà chính trị biết phải hợp tác với nhau mới xây dựng được các định chế dân chủ. Năm nay dân Tunisie thay đảng cầm quyền, hoàn toàn chỉ dùng lá phiếu. Các nhà quan sát ngoại quốc đều tỏ ý thánh phục người dân cũng như cho các nhà chính trị xứ Tunisie.
Có lẽ vì người dân Tunisie trưởng thành cho nên các nhà chính trị cũng phải hành xử với tư cách xứng đáng. Cũng có thể nói nói ngược lại, nhờ các chính trị gia làm gương cho nên dân chúng biết sống trong tinh thần dân chủ.
Trước năm 2011 Ðảng Hồi Giáo Ennahda bị cấm hoạt động. Họ thắng cuộc bầu cử Quốc Hội lập hiến cuối năm 2011, với chủ trương đề cao đạo Hồi, đưa “Thánh Luật” (Sharia) vào làm luật pháp của quốc gia. Trong hai năm, dân chúng thấy chính phủ Ennahda không giải quyết được các khó khăn chung: Kinh tế trì trệ; nhiều người thất nghiệp hơn; giầu nghèo thêm chênh lệch; xã hội lại bất an vì các nhóm quá khích mới nổ dậy. Nhiều người bắt đầu chán, thấy có lẽ sống trong chế độ độc tài như trước lại tốt hơn.
Ðảng Ennahda đã tự ý rút lui; mời các đảng khác tham gia trong một chính phủ lâm thời, chờ quốc hội soạn thảo bản Hiến Pháp mới. Công cuộc lập hiến định làm trong một năm nhưng đã kéo dài hơn hai năm, vì một vấn đề gây mâu thuẫn mạnh nhất là: Có xác định Hồi Giáo là quốc giáo và Thánh Luật Sharia là luật pháp quốc gia hay không? Sau cùng khuynh hướng tách tôn giáo ra khỏi chính trị đã thắng thế. Tháng Giêng năm 2014, Quốc Hội biểu quyết một bản Hiến Pháp dung hòa. Ðảng Ennahda nhượng bộ, Tunisie là một quốc gia Hồi Giáo nhưng không áp đặt Thánh Luật Hồi Giáo Sharia trên tất cả mọi công dân nữa.
Hiến Pháp mới của Tunisie là bản Hiến Pháp dân chủ tự do nhất trong vùng. Bản Hiến Pháp là kết quả của nỗ lực thỏa hiệp giữa các khuynh hướng chính trị và đảng phái đối nghịch, một điều ít thấy trong các nước Hồi Giáo. Trong hai năm, các đảng phái tranh luận trong Quốc Hội, các công dân tự lập những tổ chức tư bàn luận công khai, được thông tin đầy đủ trên báo trên đài. Có thể nói cuộc thảo luận về hiến pháp được toàn dân tham dự và theo dõi. Các tổ chức phụ nữ đòi được bình quyền. Giới trí thức đại học đòi tinh thần tự do trong giáo dục. Quốc Hội lập hiến làm việc 14 giờ mỗi ngày để thông qua từng điểm. Sau cùng, bản Hiến Pháp được 200 phiếu chấp thuận, chỉ có 12 phiếu chống và bốn phiếu trắng. Hiện tượng này đáng ngạc nhiên tại một nước có hàng trăm đảng chính trị trong số 11 triệu dân! Tinh thần hợp tác, xây dựng này khác hẳn bên Ai Cập. Ở đó, một đảng Hồi Giáo lên cầm quyền sau cuộc cách mạng đã dùng đa số trong Quốc Hội thông qua một hiến pháp thiên lệch, đề cao phe đảng, lấn áp các nhóm thiểu số, dân chúng biểu tình phản đối nên cuối cùng bị đảo chính.
Hiến Pháp Tunisie tôn trọng quyền làm người và các quyền tự do căn bản, và công nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trong các định chế chính trị, một điều lần đầu tiên được ghi vào Hiến Pháp của một quốc gia Á Rập. Khi điều số 45 nói về quyền phụ nữ được thông qua, cả Quốc Hội đã đứng lên vỗ tay.
Dân Tunisie có thể hãnh diện đã thay đổi chính quyền một cách hòa bình; mặc dù hai đảng có chủ trương đối nghịch rõ ràng. Trong một quốc gia với hơn 90% theo đạo Hồi mà Ðảng Hồi Giáo thất cử, đảng chủ trương tách tôn giáo ra ngoài chính trị thắng, sắp lên nắm quyền. Các đảng chính trị tuân theo “luật chơi dân chủ.” Ðảng Ennahda chấp nhận mình thua, khi không còn được đa số dân tín nhiệm. Ông Beji Caid Essebsi, 87 tuổi, đã từng cộng tác với chế độ độc tài cũ, và mới thành lập Ðảng Nidaa Tunis trong năm 2012 để quy tụ những người không đồng ý với chính phủ Ennahda. Tunisie khác hẳn Libya, ở đó đảng Hồi Giáo thua phiếu đã tổ chức đảo chánh, xóa bỏ kết quả bầu cử. Thế là một nước có hai chính phủ, hai bên đang đánh nhau không biết bao giờ mới yên.
Các nhà lãnh đạo đảng Ennahda đã giải thích tại sao họ thua phiếu: Ðảng đầu tiên lên cầm quyền sau các cuộc cách mạng rất dễ làm dân chúng thất vọng. Vì sau một cuộc cách mạng, người ta nuôi kỳ vọng rất cao mà đất nước lại rất nhiều khó khăn mới; không chính quyền nào có thể đáp ứng đầy đủ những ước mong của dân chúng. Trong khi đó, các định chế dân chủ mới thành lập, guồng máy mới chưa thể nào làm việc hữu hiệu như mọi người mong muốn. Vì thế, sau các cuộc cách mạng, đảng chính trị lên nắm quyền đầu tên rất dễ làm cho dân thất vọng. Trước khi kết quả được công bố ở Tunisie, ông Rachid Ghannouchi, lãnh tụ đảng Ennahda đã điện thoại chúc mừng ông Beji Caid Essebsi. Ông Ghannouchi còn kêu gọi các đảng viên tới trụ sở tại thủ đô Tunis “ăn mừng chiến thắng của thể chế dân chủ.” Ông nói: “Cả thế giới Hồi Giáo đang ước mong được sống như người Tunisie chúng ta, vì chúng ta đang được sống tự do.”
Tờ báo tiếng Pháp ở thủ đô, La Presse de Tunisie ca ngợi đảng Hồi Giáo Ennahda có tinh thần thượng võ, “chơi thẳng thắn” (fair play). Dân Tunisie chứng tỏ rằng tất cả các dân tộc đều có thể dấn bước trên đường. Một nhà bình luận trên nhật báo Daily Star ở Lebanon, Rami G. Khouri viết: “Trong lịch sử dân Á Rập chưa bao giờ thấy cảnh dân một nước công khai tranh luận để cùng soạn ra một bản hiến pháp rồi áp dụng ngay. Quốc gia nhỏ bé này đang dẫn đường cho các nước Á Rập khác trên con đường chuyển hóa sang chế độ dân chủ.” Không biết bao giờ dân Việt Nam được người nước ngoài kính trọng như vậy.
Chúng ta có thể so sánh Tunisie với Việt Nam.
Cả hai nước đều bị Pháp chiếm làm thuộc địa vào thế kỷ 19. Cả hai từng tranh đấu giành độc lập sau Ðại Chiến Thứ Hai. Sau khi độc lập cả hai nước đều sống dưới ách độc tài. Tại Tunisie, lãnh tụ Habib Bourguiba nắm quyền trong 30 năm; khi quá già lão mới từ chức, năm 1987. Zine al-Abidine Ben Ali lên vẫn đàn áp những người có ý kiến đối lập, kinh tế trì trệ, xã hội vẫn bất công. Năm 2011, dân Tunisie nổi dậy khai mạc Mùa Xuân Á Rập, và năm nay họ đã đặt nền móng cho một thể chế dân chủ tự do vững vàng.
Dân trí và dân khí người Tunisie không cao hơn so với Việt Nam; mà trên nhiều mặt có thể nói còn kém dân mình. Tunisie là một nước nhỏ, 11 triệu dân. Lợi tức bình quân hơn 4,000 đô la một năm cao hơn Việt Nam, cũng chỉ bằng dân Trung Quốc. Trình độ học thức của dân Tunisie không hơn dân Việt. Tunisie chỉ có 75% người dân biết chữ, mà số đàn bà biết chữ còn thấp hơn nữa (65%). Tại Việt Nam 94% dân chúng và 92% phụ nữ biết đọc biết viết, chứng tỏ dân trí người Việt không thua. Nhìn suốt lịch sử thì chí khí của dân tộc Việt mạnh hơn nhiều. Ða số dân Tunisie bây giờ (hơn 95%) thuộc sắc dân Berber. Giống dân này bị người Á Rập đánh và đô hộ từ thế kỷ thứ bảy, họ từng nổi lên tranh đấu giành quyền tự chủ; nhưng sau cùng họ bị đồng hóa hoàn toàn; nói tiếng Á Rập và theo đạo Hồi. Dân Việt Nam quật cường hơn. Bị người Hán xâm lược để đồng hóa nhưng dân Việt vẫn giữ được tiếng nói, giành lại độc lập sau ngàn năm Bắc thuộc.
Ngày nay thì người Việt Nam phải noi theo tấm gương của dân Tunisie để học hỏi trên đường dân chủ hóa. Lịch sử cho thấy việc lật đổ một chế độ độc tài không khó; việc xây dựng và củng cố chế độ dân chủ mới là thử thách chứng tỏ một dân tộc đã “thành người lớn” hay chưa. Cuộc tranh đấu xóa bỏ độc tài ở Tunisie đã được cả thế giới ca ngợi. Nhưng công trình xây dựng thể chế dân chủ tại Tunisie trong ba năm qua còn đáng kính phục hơn nữa.

Đấu Tranh Qua Truyền Thông
Vi Anh
Truyền thông là danh xưng gọn của truyền thông đại chúng (mass-news media). Cũng như văn học có văn học kinh điển với văn học sử, tác giả, tác phẩm và văn học bình dân với ca dao, tục ngữ, hát đối, túi khôn của một dân tộc nhiều đời, nhiều người, không tên tác giả. Truyền thông dù sanh sau đẻ muộn hơn nhưng phần nào cũng như thế, gồm có báo chí, truyền thanh, truyền hình là truyền thông truyền thống chuyên nghiệp, và blog, web, paltalk, online và các trang mạng xã hội như Youtube, Facebook, Twitter là truyền thông tài tử, dân dã, không chuyên nghiệp, bình dân. Thời đại này là thời đại tin học, khoa học kỹ thuật đã cung ứng những phát minh truyền tải trên Internet khiến bất cứ người bình dân nào cũng có thể làm công việc của một nhà truyền thông, chỉ trong vài giây dùng máy điện thoại di động bấm hình và lời chuyển đi cho khắp thế giới hay biết. Nên truyền thông truyền thống, báo chí, phát thanh, phát hình nào bây giờ cũng mở ra online, và web cùng tên để khán, thính giả góp ý một cách dễ dàng nhờ không gian tin học rộng rãi ngàn lần hơn tờ báo hay thời lượng của phát thanh, phát hình. Và thích ứng này của truyền thông truyền thống cũng là con đường sinh lộ cho truyền thông đại chúng. Thí dụ trên báo Le Monde của Pháp những bài nổi bật muốn mở xem phải trả tiền bằng thẻ tín dụng. Báo Washington Post, tờ báo gối đầu giừơng của chính khách Mỹ cũng thế.
Thành ra, trong tuần lễ đầu đến Mỹ, Anh Blogger Điếu Cày Nguyễn văn Hải có nói khá nhiều trên truyền thông đại chúng có chương trình tiếng Việt. Trên đài VOA, RFA, nào là Anh sẽ kiện VN ra toàn quốc tế, nào là Anh sẽ chỉ rõ những khuyết tật của VN, nào là Anh tiếp tục “đấu tranh bằng truyền thông”.Về “đấu tranh bằng truyền thông”, “Anh nhận định Anh dù ra nước ngoài như thế này, Anh vẫn không bị tách khỏi môi trường đấu tranh ở trong nước. Anh khẳng định “Bởi vì chúng tôi hoạt động tự do báo chí trên internet mà trên internet thì không có khoảng cách… Ra ngoài hải ngoại, làm việc trên internet thì không có khoảng cách, tôi cũng không nghĩ rằng tôi bị tách khỏi xã hội Việt Nam thì tôi sẽ không hoạt động, không đấu tranh được.”… “Thật ra, ngay sau khi rời khỏi sân bay về đến nhà thì từ ngày hôm đó đến hôm nay chúng tôi đã thực hiện những việc đó là kết nối. Đến hôm nay, chúng tôi đã một nhóm ở đây rồi. Anh em từ Canada sang cũng đã có một nhóm ở đây. Do vậy những chương trình sắp tới tôi đang thảo luận, bàn bạc để tiếp tục làm việc. Tôi là người của hành động nên từ hôm đó đến nay, mặc dù là chưa được khỏe để tiếp xúc với anh em bên truyền thông nhưng chúng tôi đã thực hiện những việc kết nối anh em trong và ngoài nước rồi.”… “Bởi vì trong thế giới phẳng này, trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa và hội nhập, hợp tác và phát triển này thì việc liên lạc, việc đi lại cũng không phải là khó khăn như trước. Do vậy, ở hải ngoại này tôi vẫn cứ làm việc hiệu quả được như thường.”
Trả lời câu hỏi của nhà báo Nam Nguyên của RFA, Anh Blogger Điếu Cày nói: “Đó là câu chuyện truyền thông chúng ta cần phải làm. Với những người đấu tranh dân chủ như chúng ta thì việc cất lên tiếng nói thay cho những người tù mà đã bị bắt vào trong đó là điều rất quan trọng. Chính nhờ truyền thông chúng ta loan tin rộng rãi, đấu tranh mạnh mẽ thì sẽ đưa được tiếng nói của những người tù đến được với những tổ chức quốc tế mà khiến họ phải lưu tâm, khiến họ cũng phải góp tay đấu tranh để yêu cầu những chính quyền độc tài phải thả người của chúng ta ra.”
Qua những ý và lời trên của Blogger Điếu Cày cho thấy đường đi nước bước, hình thức đấu tranh của Anh không khác của người Việt ở hải ngoại đã thực hiện trước Anh hàng chục năm rồi. Sách lược đó họp thời cơ, địa lợi, nhân hoà. Thời cơ bây giờ của người Việt trong ngoải nước là đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền; đó là mẫu số chung của người Việt trong quốc nội hay ngoài hải ngoại, của người Việt ở Bắc, ở Trung, ở Nam và ở hải ngoại. Chánh nghĩa đấu tranh đó cũng phú họp với chính trị ngoại giao của cộng đồng Thế Giới Tự do văn minh, đặc biệt là Mỹ. Họp địa lợi – đặc biệt với Anh Điếu Cày vì Blogger Điếu Cày ở trong nước dùng báo mạng, dùng blog chánh trị để đấu tranh. Qua Mỹ là Anh đến được đất lành, thừa mứa phương tiện để phát huy tối đa sở trường, chuyển lửa về quê hương, xứ sở.
Anh có nói ở tù sáu bảy năm, Anh còn lọng cọng sử dụng computer. Nhưng đó là chuyện nhỏ, thước sẽ dạy thầy, cây dạy thợ, on job training, chẳng lo gì ở xứ Mỹ quê hương của computer này. Nhiều thủ tướng, bộ trưởng, tướng lãnh, nghị sĩ, dân biểu VN Cộng Hoà lúc đương thời chưa có môn computer để học, khi làm việc có nhiều nhân viên tuỳ dịch đâu có biết đánh máy. Nhưng khi qua Mỹ không bao lâu cũng học lóm, tập tành cũng rành xài computers.
Anh Điếu Cày mới qua chắn chắn sự hiểu biết của Anh mới hơn, cập nhựt hơn về nguyện vọng của người dân Việt và “ý đồ” của nhà cầm quyền CSVN. Điều đó sẽ giúp cho đồng bào hải ngoại hiểu rõ CS hơn, rõ đồng bào hơn. Anh có thể như con thoi liên kết phong trào đấu tranh giữa trong và ngoài nước.
Anh là nhân chứng sống mới nhứt. Anh có thể chứng tỏ cho đồng bào Việt, nhứt là thế hệ trẻ thấy và thế giới thấy là chế độ CS tuyên truyển dối gạt và dùng khủng bố củng cố tuyên truyền. CS là đại sát thủ Internet, đại sát thủ tự do ngôn luận, tự do báo chí. Các nước văn minh viện trợ, cho vay ưu đãi, giao thương rộng rãi mà không đặt điều kiện nhân quyền VN với CSVN là giúp cho CS thêm phương tiện đàn áp người dân Việt.
Anh là một người tỵ nạn chánh trị như hầu hết người Việt tỵ nạn CS ờ Mỹ. Cùng thành tâm, thiện ý sống và làm việc ở hải ngoại như mọi người trong cộng đồng người Việt tỵ nạn chánh trị trong cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, thì “cảm nghĩ thuộc về nhau” sẽ đến một cách tự nhiên thôi./.(Vi Anh)
Nghịch lý nhân sự
Nguyễn-thị-từ-Huy Đánh giá về năng lực của đảng viên, đặc biệt là của các đảng viên đứng ở cương vị quản lý các cấp, hiện nay có hai luồng ý kiến khác nhau, khác đến mức đối lập nhau. Không cần phải so sánh các tin tức trên hai luồng báo chí đối lập (lề phải/lề trái) để có nhận xét này. Chỉ cần đọc báo chính thống cũng thấy được sự mâu thuẫn trong đánh giá về năng lực lãnh đạo và quản lý của hệ thống cán bộ.
Một mặt, bản thân các đảng viên tự coi mình là những người xuất sắc. Họ tự coi mình là « những người con ưu tú của dân tộc », đưa dân tộc « đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác » ; điều này được ghi trong hầu như các sách của nhà nước khi đánh giá về vai trò của đảng, và được ghi trên các khẩu hiệu chăng đầy các đường phố mỗi dịp lễ lạt, kể cả không lễ lạt.
Mặt khác, không ít người nhìn các đảng viên như là các tội phạm lịch sử đã đẩy dân tộc vào những thảm cảnh : nghèo đói, lạc hậu, giáo dục băng hoại, văn hóa suy đồi, tài nguyên kiệt quệ, đất nước lệ thuộc vào Trung Quốc. Nghĩa là xét về năng lực lãnh đạo và quản lý họ là những người rất kém cỏi. Kém cỏi thì mới để xảy ra tình trạng như vậy.
Tại sao cùng một đối tượng mà lại nhận được những đánh giá trái ngược đến như vậy ?
Ai trả lời được câu hỏi này ?
Khi bắt đầu viết blog này tôi đã tự nhủ mình rằng đây sẽ là không gian của các câu hỏi, rằng tôi sẽ đảm nhận cái vai trò của người đặt câu hỏi. Và hy vọng sẽ nhận được câu trả lời từ trí tuệ của mọi người, trong đó hy vọng lớn nhất đặt vào các bạn sinh viên, những người mà trong bối cảnh của nền giáo dục hiện nay chỉ được dạy cho cách học thuộc lòng, bị bắt phải học thuộc lòng, chứ không được dạy cho cách đặt câu hỏi, và cách tự tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi, tức là tự tìm kiếm cách giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực tế.
Trở lại với câu hỏi trên đây và hai luồng ý kiến đối nghịch trên đây, bản thân tôi dĩ nhiên chẳng thể nào có được câu trả lời đầy đủ.
Ở đây, xin nhắc lại, tôi chỉ tập trung vào một điểm : ý kiến đánh giá về năng lực quản lý và lãnh đạo của đảng, mà đảng thì không trừu tượng, trái lại đảng hiện thân trong các thành viên của đảng, nghĩa là nói đến đảng là nói đến các đảng viên.
Và tôi giới hạn vấn đề vào một điểm nhỏ hơn nữa : LỰA CHỌN người để kết nạp đảng viên và để đặt vào vị trí quản lý. Về thời gian, chỉ xét từ thời điểm Việt Nam bắt đầu xây dựng và phát triển đất nước một cách độc lập, tức là từ sau 1975 ; bởi vì chính từ thời kỳ này mới có thể đánh giá năng lực quản lý và lãnh đạo công cuộc tái thiết và phát triển quốc gia trong hòa bình, về mọi mặt : kinh tế, giáo dục, văn hóa, khoa học…, nghĩa là bài này không đề cập đến thời kỳ chiến tranh.
Đảng viên cho rằng những người được lựa chọn là những người xuất sắc, có nghĩa là bản thân họ là những người xuất sắc. Trái lại, nhận định của một bộ phận xã hội cho rằng những người được đảng lựa chọn là kém năng lực. Nhận định này dựa trên tình trạng bê bối và băng hoại toàn diện của xã hội Việt Nam hiện nay.
Ta thử xét từ góc độ nhìn nhận của những người đảng viên.
Để công bằng thì phải nói rằng, trước khi việc bổ nhiệm nhân sự được tiến hành theo cách thức mua bán như hiện nay, tiêu chí lựa chọn của đảng quả là từng dựa trên năng lực, đảng đã muốn chọn những người xuất sắc, dĩ nhiên là xuất sắc theo thang đánh giá của đảng, trong đó có điều kiện về lý lịch và nhân thân. Lấy ví dụ về trường hợp kết nạp sinh viên vào đảng : người ta không chọn sinh viên kém để cho vào đảng. Để được vào đảng sinh viên phải thuộc diện xuất sắc, và theo tiêu chí hiện hành thì đó là những sinh viên được điểm cao, có hạnh kiểm tốt. Tuy nhiên điểm của sinh viên lại tùy thuộc vào cách dạy, cách ra đề và cách đánh giá bài thi của giáo viên. Do vậy, trên thực tế, giữa một sinh viên đạt điểm cao và một sinh viên đạt điểm trung bình, khó biết được trên thực tế ai giỏi hơn ai. Với cách đánh giá kiểu bộ đề, bài văn mẫu, hiện nay, thì phẩm chất được đánh giá cao là trí nhớ tốt, khả năng học thuộc lòng, chứ không phải sự thông minh, sáng tạo và năng lực tư duy độc lập. Tuy vậy, không loại trừ việc những sinh viên đạt điểm cao là những sinh viên giỏi thực sự.
Và tiêu chí hạnh kiểm tốt ở trường học chúng ta đồng nghĩa với khả năng vâng lời, ở trình độ sinh viên thì đó là khả năng trung thành với lý tưởng của đảng. Các phẩm chất được dạy ở trường: yêu tổ quốc, yêu đồng bào, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm (tất cả mọi học sinh đều phải học thuộc lòng, vì năm điều này được dán trong mọi trường học), trên thực tế bị xếp ở dưới cái yêu cầu phải trung thành với đường lối và nghị quyết của đảng. Càng về sau, yêu cầu trung thành với đảng càng trở thành tiêu chí thiết yếu trong việc lựa chọn cán bộ cho bộ máy nhà nước.
Trên thực tế, đảng cũng đã chọn được những người có năng lực, và có đạo đức. Bởi như đã nói, đảng không phải là cái gì trừu tượng, mà là từng đảng viên cụ thể, ở những vị trí cụ thể, và ở những địa phương cụ thể. Những con người cụ thể đó vẫn có thể có những cách làm việc, ứng xử riêng của mình, cho dù hiện nay bộ máy gần như muốn đồng hóa tất cả.
Hãy nhìn trường hợp Bí thư Hội An, ông Nguyễn Sự. Người đàn ông gầy gò đi một chiếc xe máy cũ tàng. Ông là người đã giữ linh hồn cho Hội An. Theo một cách khác, cũng có thể nói ông là người mang lại linh hồn cho Hội An, đã biến Hội An thành một thành phố được du khách yêu thích bậc nhất ở Việt Nam, vì đến Hội An họ nhìn thấy lịch sử, quá khứ, nhìn thấy các giá trị tinh thần. Lịch sử, quá khứ, bản sắc, các giá trị tinh thần là những thứ mà các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn đang mất dần. Sự biến dạng của chùa Trăm Gian là nỗi đau của người Hà Nội. Và Thương xá Tax đang là nỗi đau của người Sài Gòn. Phá hết, hủy hoại hết như vậy thì làm gì còn lịch sử !!! Một dân tộc sẽ như thế nào nếu không có ký ức lịch sử ? Ông Nguyễn Sự không chỉ làm cho Hội An trở thành điểm du lịch yêu thích, ông đã giữ lại ký ức lịch sử cho không chỉ người Việt Nam. Du khách Nhật, du khách Trung Quốc, du khách Pháp đến Hội An đều có thể tìm lại hình ảnh tiền nhân của mình qua các dấu tích để lại ở thành phố nhỏ bé này, nó nhỏ đến mức gây cảm giác luyến tiếc cho những người dạo phố. Đó là cảm giác mà tôi đã có khi đến Hội An. Tôi đã ước gì Hội An rộng hơn, lớn hơn, có nhiều phố xá hơn, để có thể bù đắp thêm phần nào cho sự xuống cấp về tinh thần và văn hóa của đa số các thành phố khác trên đất nước này.
Tuy nhiên, chính ở điểm này mà ta có thể đặt vấn đề ngược lại. Có thể vì Hội An nhỏ như thế nên ông Nguyễn Sự mới giữ được nó như thế. Ở một thành phố lớn, nơi có nhiều quyền lực kinh tế xâu xé lẫn nhau, ông Nguyễn Sự có làm được điều mà ông đã và đang làm cho Hội An ?
Trường hợp Bí thư Hội An cho thấy rằng không phải toàn bộ đảng viên hay toàn bộ những người đang làm việc cho bộ máy đảng đều là những người thiếu năng lực quản lý hay thiếu đạo đức. Trong bộ máy vẫn còn có những người làm việc cho các giá trị chung của cộng đồng, và có đủ khả năng để làm việc đó. Nhưng những người như thế rất hiếm hoi. [Mở ngoặc để nêu một câu hỏi : tại sao, điều gì trong thể chế này không tạo điều kiện để có nhiều người như thế, trái lại khiến cho họ rơi vào tình trạng hiếm hoi, đơn độc, và ngày càng hiếm hoi hơn ? Câu hỏi này sẽ dẫn tới câu hỏi khác (mà câu trả lời không phải là mục đích của bài này) : một thể chế chính trị như thế nào thì khuyến khích được những người như ông Sự phát triển và tạo điều kiện cho họ xuất hiện phổ biến trong xã hội ?]
Nói về trường hợp ông Nguyễn Sự để tự nhắc nhở rằng : cần phải chống lại cỗ máy phi nhân của cơ chế độc đảng hiện hành, nhưng sẽ sai lầm nếu chống lại con người. Nếu một số lãnh đạo trong các cơ chế độc tài có thể từ bỏ lợi ích của mình (trường hợp gần đây nhất là Then Sen, hiện là đương kim tổng thống Miến Điện) là bởi họ có khả năng nhận ra tính phi nhân của bộ máy đang mang lại lợi ích cho riêng cá nhân họ nhưng lại làm hại cho cộng đồng của họ. Và họ nhận ra được điều đó nhờ phần nhân tính ở trong họ, vì họ là con người, và cái phần con người đó khiến họ có đủ lý trí và sức mạnh để tách ra khỏi bộ máy.
Câu hỏi là : trường hợp ông Nguyễn Sự rất hiếm hoi, vậy có nghĩa là việc ông được lựa chọn không đại diện cho cách lựa chọn người để kết nạp đảng viên và bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo các cấp ?
Câu trả lời có thể gây ngạc nhiên : kể cả trong bối cảnh mua bán chức quyền hiện nay, đảng vẫn tìm đến những người có năng lực và đạo đức để mời họ vào đảng, với điều kiện là những người đó không biểu hiện các quan điểm khác với quan điểm của đảng. Dĩ nhiên, với đối tượng này đảng bị từ chối nhiều, nhưng cũng không ít người nhận lời.
Trên thực tế, không thể phủ nhận rằng, dù không phải là tất cả thì có một bộ phận đảng viên là những người có năng lực, có trình độ, được đào tạo, hoặc nói theo cách mà họ tự nhìn nhận về mình : họ là những người xuất sắc. Điều này có thể gây ngạc nhiên cho những ai đang nhìn thấy đảng viên như những người yếu kém về năng lực quản lý; nhưng những điều tiếp theo đây sẽ có tác dụng làm giảm sự ngạc nhiên. Những suy nghĩ trong bài này chỉ giới hạn ở bộ phận đảng viên có năng lực.
Vấn đề sẽ là : vì sao những người được lựa chọn vốn là những người xuất sắc mà kết quả công việc của họ lại có thể khiến cho họ bị đánh giá là kém cỏi trong việc điều hành, quản lý, và vì thế phải chịu trách nhiệm lịch sử trước sự suy thoái của dân tộc ? Tại sao họ lại cùng nhau đưa cả đất nước vào tình trạng chung thảm hại hiện tại ?
Dưới đây là một lý giải, dĩ nhiên chỉ mang tính phiến diện.
Đảng vẫn tìm đến những người có năng lực và đạo đức để mời họ vào đảng, NHƯNG với các điều kiện của đảng : phải tham gia một khóa học « cảm tình đảng », sau khi kết thúc khóa học này phải viết một bài thu hoạch và chính dựa trên bài thu hoạch này mà đảng sẽ quyết định có kết nạp hay không. Ngay từ bước đầu tiên của lớp « cảm tình đảng » này người đảng viên tương lai đã buộc phải lựa chọn giữ lại « năng lực » nào cho mình và phải đánh mất những năng lực nào của mình. Còn muốn làm lãnh đạo, phải học một khóa ở trường đảng Nguyễn Ái Quốc. Và từ lúc đó, mọi nguyên tắc đạo đức không còn quan trọng nữa trước sự trung thành đối với đảng. Trước sự đồng hóa của đảng, trước cám dỗ về lợi ích vật chất có được nhờ đảng, bao nhiêu đảng viên giữ được bản lĩnh của mình như ông Nguyễn Sự ? Đã có nhiều bài trên báo chính thống nói thẳng rằng ông Nguyễn Sự là trường hợp hiếm hoi trong hàng ngũ lãnh đạo hiện thời. Vả chăng, một mình ông Nguyễn Sự cũng không thể cải thiện guồng máy chung của đảng; tâm huyết của ông, bản lĩnh của ông, đạo đức của ông cũng không ngăn cản được các cán bộ ngay trong thành phố Hội An của ông tham nhũng, vi phạm pháp luật, nghĩa là tha hóa và làm hại người khác, làm hại lợi ích chung để củng cố lợi ích riêng : tại thời điểm này đang diễn ra vụ việc Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự TP.Hội An bị thụ án vì lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản (tham khảo thêm thông tin cụ thể : http://www.thanhnien.com.vn/pages/20141 ... uong-thi-h...).
Trở lại với thực tế của guồng máy đảng để thấy rằng : không ít người có năng lực nhận lời vào đảng. Họ có lý do để tự nhận rằng họ là những người xuất sắc, họ có lý do để nói rằng đảng cũng muốn tập hợp những người xuất sắc vào hàng ngũ của đảng. Nhưng điều mà có lẽ họ không nhận thấy, đó là sự xuất sắc của họ đã mất đi cùng với các lợi ích mà họ nhận được từ đảng.
Hoặc, cũng có thể nhìn theo cách khác : họ đã không dùng sự xuất sắc để phát triển các năng lực của chính họ, và phát triển cộng đồng chung. Trái lại sự xuất sắc của họ chỉ dùng vào việc phát triển lợi ích vật chất cho cá nhân họ và bảo vệ lợi ích của đảng và bảo vệ sự tồn tại vững chắc cho đảng, bởi lợi ích của đảng cũng là lợi ích của chính họ (cần xác định lại điều này : đảng chính là các đảng viên).
Đáng nói hơn, họ dùng sự xuất sắc của họ để làm lụn bại khả năng trí tuệ của những người khác, bằng cách tạo ra những môi trường trong đó năng lực trí tuệ không thể phát triển được, bởi đó là những môi trường nơi tự do bị bóp nghẹt, nơi các điều kiện sống và điều kiện làm việc bị bóp nghẹt. Không phải là họ không hiểu, trái lại họ hiểu rất rõ nhưng chủ động tạo ra môi trường như vậy nhằm hủy diệt các nguồn lực trí tuệ của quốc gia chỉ với mục đích duy nhất là bảo vệ lợi ích vật chất của họ, với cái giá là năng lực trí tuệ của chính họ cũng cùn mòn đi, tiêu biến đi. Cần hiểu rằng giờ đây, ý thức hệ thuở ban đầu hoàn toàn không còn nữa khi mà bản thân người lãnh đạo cao nhất của đảng thừa nhận rằng chủ nghĩa xã hội là một thứ ảo vọng mà đến « cuối thế kỷ » này cũng chưa thể thấy mặt mũi nó ra sao. Lý tưởng đã hoàn toàn biến mất, cái còn lại chỉ là sức mạnh quái đản của lợi ích vật chất trong một xã hội tiêu thụ.
Điều này góp phần lý giải vì sao Việt Nam càng ngày càng sa sút trên nhiều phương diện, nhưng sự tồn tại của đảng không hề bị đe dọa. Các đảng viên xuất sắc đã dùng sự xuất sắc của họ để làm cho đất nước suy vong, làm băng hoại môi trường học thuật, làm cho trí tuệ của người dân sa sút, và để củng cố sức mạnh của đảng.
Chúng ta thấy rằng các giải pháp được lựa chọn để giải quyết các vấn đề của đất nước này hầu như luôn là những giải pháp đảm bảo cho quyền lợi vật chất của người có quyền quyết định, và quyền lợi của họ lại đi ngược với quyền lợi chung. Do đó mới có chuyện hết công ty này đến công ty kia thua lỗ đến trăm nghìn tỷ này đến trăm nghìn tỉ khác, công ty thua lỗ nhưng các cá nhân lãnh đạo công ty thì được lợi. Do đó mới có chuyện hàng bao nhiêu đại học không đủ tiêu chuẩn vẫn cứ được thành lập, đại học sa sút nhưng những người ký quyết định lập trường thì có lợi. Rồi hàng bao nhiêu dự án thua lỗ trên đất nước này, dự án thì lỗ nhưng người ký quyết định dự án thì lãi. Logic là như vậy, ai cũng có thể tìm thấy vô vàn dẫn chứng cho cái logic này.
Hãy xem xét một lĩnh vực cụ thể là giáo dục. Giám đốc của các đại học quốc gia, hiệu trưởng của các trường đại học, họ có kém không ? Không, không thể nói rằng tất cả họ đều kém cỏi. Trái lại, đa số họ đều là những người có năng lực. Nhưng tại sao giáo dục lại thảm hại đến như vậy, đến mức chính họ là những người đầu tiên gửi con cái đi học nước ngoài ? Bởi lẽ họ đã không dùng trí tuệ của họ, sự xuất sắc của họ để xây dựng một nền giáo dục tiến bộ và hiệu quả, vì chính điều đó làm tổn hại đến đảng của họ, tức là làm tổn hại đến quyền lực và lợi ích vật chất của họ. Trường học càng thối nát, càng trì trệ, giáo viên càng lạc hậu, càng phục tùng, học sinh/ sinh viên càng kém hiệu biết, càng ngoan ngoãn thụ động, thì lợi nhuận của họ càng lớn, quyền lực của họ càng ổn định. Từ đó, phần nào có thể thấy động cơ làm việc của họ là gì, và ý nghĩa của đời sống đối với họ là gì...
Hoặc nhìn sang một lĩnh vực khác mà đại diện là Vinashin và Vinalines. Không thể nói các lãnh đạo của Vinashin và Vinalines là những người kém cỏi. Các công ty này thua lỗ không phải vì năng lực quản lý của người lãnh đạo kém, mà là vì « năng lực » quản lý được dùng cho việc phát triển túi tiền cá nhân nhờ vào sự thua lỗ của công ty.
Câu hỏi là : tại sao các đảng viên « xuất sắc » của Việt Nam không làm lợi cho mình dựa trên sự phát triển của đơn vị, dựa trên sự lớn mạnh của công ty, mà lại làm lợi cho mình dựa trên sự phá sản của công ty ? Tại sao mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung lại được họ xây dựng thành một mối quan hệ mâu thuẫn, lợi ích riêng hủy hoại lợi ích chung ? Tại sao họ không đặt hai loại lợi ích này trong một mối quan hệ tương hỗ, cả hai cùng phát triển ?
Mong muốn các đảng viên (đặc biệt là các đảng viên cao cấp) biết đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích của đảng và lợi ích cá nhân phải chăng chỉ là một mong muốn huyễn tưởng ? Nó tạo ra một viễn cảnh cũng mang tính chất ảo như cái viễn cảnh chủ nghĩa xã hội mà thôi. Không cần đảng đặt quyền lợi của dân tộc cao hơn quyền lợi riêng của đảng, chỉ cần các đảng viên đặt quyền lợi dân tộc ngang bằng quyền lợi riêng của mình, thì có lẽ Việt Nam đã có một hình ảnh khá hơn rất nhiều hình ảnh mà ngày nay chúng ta đang có.
Liệu các đảng viên, nhất là các đảng viên ở cương vị lãnh đạo cao cấp (cũng như mọi người nói chung trong xã hội hiện thời) có thể xoay chuyển tí ti não bộ của mình để điều chỉnh tí ti chiều hướng suy nghĩ : gắn lợi ích của mình với lợi ích của dân tộc, và không để cho hai loại lợi ích này trở thành đối nghịch, không để cho lợi ích cá nhân đi ngược lại với lợi ích dân tộc. Chỉ cần một tí ti xoay chuyển đó thôi, vận mệnh của xứ sở này sẽ khác nhiều lắm.
Xin nhắc lại, câu hỏi của tôi là : giữa hai giải pháp, 1) vừa làm lợi cho bản thân vừa làm lợi cho đất nước và dân tộc, 2) làm lợi cho bản thân và làm hại đất nước và cộng đồng, tại sao các đảng viên xuất sắc của Việt Nam lại chọn giải pháp 2, nên khiến cho Việt Nam rơi vào tình trạng bi đát hiện nay ? Nghịch lý là các đảng viên càng « xuất sắc » thì đất nước càng thê thảm.
Một câu hỏi khác, không phải là không liên quan đến câu hỏi trên đây : tại sao cùng một mô hình chế độ chính trị độc tài cộng sản, nhưng đảng cộng sản Trung Quốc, với những vấn nạn mà nó tạo ra vẫn có thể đưa Trung Quốc trở thành một sức mạnh kinh tế, quân sự và khoa học ; trong khi đó đảng cộng sản Việt Nam cùng các đảng viên của mình lại đẩy Việt Nam vào tình trạng lạc hậu, nghèo đói, chậm tiến, suy thoái gần như toàn diện, không có một thành tựu nào đáng kể, và đang lệ thuộc càng ngày càng sâu sắc vào Trung Quốc ???
Paris, 30/10/2014
Nguyễn Thị Từ Huy
Có phải Trung Quốc đủ thực lực làm bá chủ thế giới?
WASHINGTON DC (NV) .- Trung Quốc không chỉ muốn cướp toàn bộ Biển Đông mà còn cao hơn nữa.
Họ muốn thay thế Mỹ làm trùm thế giới, theo nhận định của một nhà phân tích chính trị ở Hoa Thịnh Đốn.

Tàu chiến Trung Quốc tập trận bắn đạn thật trên Biển Đông đầu năm 2014. (Hình:Navy.81.cn)
Cuộc va chạm với Việt Nam ở phía nam quần đảo Hoàng Sa hồi Tháng 5-2014 đã qua đi. Tuy Bắc Kinh rút giàn khoan HD981, nhưng không mấy ai tin là mọi nguy cơ xung đột quân sự giữa Việt Nam với Trung Quốc, nói chung là giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, sẽ chấm dứt từ đây.
Hành động ngang nhiên đưa giàn khoan khổng lồ tới dò tìm dầu khí ở vùng biển tranh chấp chỉ là hành động mà Bắc Kinh muốn chứng tỏ cho mọi người thấy họ sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự để kiểm soát, đúng hơn là chiếm đoạt, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên rộng tới 3.5 triệu km2.
Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ khu vực Biển Đông, cả về quyền khai thác hải sản cũng như khai thác dầu khí, đã kéo dài suốt nhiều thế kỷ hoặc ở khu này hoặc ở khu khác, nhưng câu hỏi đặt ra là tại sao lại bùng phát mạnh vào năm nay?
“Nhìn trên bình diện toàn cầu, hiện đang có vấn đề an ninh năng lượng mà tất cả các quốc gia Đông Nam Á, chứ không riêng gì Trung Quốc, cần có thêm năng lượng để phát triển.”
Ông Lê Hoài Trung, đại diện thường trực của Việt Nam tại LHQ, nói với đài truyền hình CBS trong cuộc phỏng vấn. “Đối với Trung Quốc, vấn đề này với họ còn là vấn đề lớn hơn nữa như quý vị có thể đã biết. Từ năm 2009, Trung Quốc trở thành nước tiêu thụ năng lượng nhiều nhất trên thế giới.”
Ông Trung nói thêm “Tôi không nghĩ rằng họ có quyền dò tìm dầu khí ở vùng đó.”
Ông Lê Hoài Trung, theo CBS, cũng cho hay Trung Quốc xâm lấn lợi ích chiến lược, địa chính trị và quân sự bằng cách tuyên bố chủ quyền vùng nước chung quanh quần đảo Hoàng Sa (cách bờ biển Việt Nam 200 dặm cũng như cách đảo Hải Nam 200 dặm).
“Khoảng 70% hàng hóa thương mại toàn cầu vận chuyển bằng đường biển mà hai phần ba của tất cả hàng hóa thương mại vận chuyển qua Biển Đông.” Ông Trung nói.
Đó là lý do tại sao Hoa Kỳ tuyên bố có lợi ích quốc gia (trên Biển Đông) và tại sao cả việc sản xuất cũng như vận chuyển dầu lại là trung tâm điểm của tranh chấp, ông Trung nói.
“Trung Quốc ngày càng mạnh hơn.” Ông Trung nói. “Nền kinh tế của họ tăng trưởng theo nhịp độ cao và cùng một lúc, ngân sách quân sự của họ tăng nhanh nhất từ năm 1988 đến nay, ít nhất 10% một năm. Vì thế mà Trung Quốc ở cái thế mạnh hơn.”
Quân đội Trung Quốc phát triển đã trở thành dấu hiệu chớp sáng như đèn neon (báo động) cho Hoa Kỳ và các cường quốc khác.
“Nếu quân đội được sử dụng cho mục đích phòng vệ, khi đó tôi nghĩ tất cả các láng giềng sẽ bớt lo ngại.” Ông Trung nói với CBS. “Nhưng nếu các láng giềng thấy quân đội được dùng cho các mục đích khác không phải theo bản chất tự vệ, khi đó trở thành quan ngại cho bất cứ nước nào, không riêng gì Việt Nam”.
Mưu tính nằm ở đằng sau các hành vi ngang ngược ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở khu vực có thể phức tạp, và liên quan đến những tranh chấp nội bộ và lợi ích của một số lãnh tụ ở Bắc Kinh nhằm thay đổi quan điểm của thế giới về cái nước khổng lồ, theo bà Elizabeth Economy, một phân tích gia kỳ cựu và là Giám đốc Nghiên cứu Á Châu của tổ chức nghiên cứu chính trị 'Hội đồng Quan Hệ Đối Ngoại' ở Hoa Thịnh Đốn.
Bà Economy chỉ ra rằng chuyện lộn xộn hồi Tháng 5 vừa qua “không phải là lần đầu mà người ta thấy hành vi ngang ngược của một số tay 'diễn viên' hải quân Trung Quốc khác nhau. Họ đã từng đâm tàu Nhật, tàu Philippines. Chuyện này (đâm tàu cảnh sát biển và tàu cá Việt Nam) chỉ là loại hành vi ngang ngược mới nhất của Trung Quốc”.
Cái nguy hiểm nhất, theo bà Economy, là cái thứ hành vi đó có thể dẫn đến “một thứ tính toán sai lầm, một thứ rủi ro và khi chúng phối hợp với tinh thần dân tộc mà chúng ta thấy ở các nước này, người ta sẽ thấy một thứ xung đột tầm mức nhỏ trở thành một cuộc xung đột quân sự toàn diện.”
Ý muốn của Trung Quốc, theo bà Economy nói, là không muốn bị đẩy vào phân giải xuyên qua tập thể khu vực như ASEAN, mà muốn khẳng định sức mạnh để rồi đàm phán trực tiếp với các láng giềng nhỏ hơn của họ.
“Khi họ cắm giàn khoan, lúc đó họ đang ở giữa các vụ thương thuyết với Việt Nam về hợp tác phát triển tài nguyên. Cho nên, tôi nghĩ họ chỉ muốn nối lại các cuộc đàm phán, và họ cảm thấy họ ở thế thượng phong cho cái loại đàm phán như vậy.” Bà Economy nói.
Cho dù Trung Quốc ở thế thượng phong, Việt Nam vẫn có thể có quân bài chủ.
“Tháng 5 năm tới, họ (TQ) dự tính đem giàn khoan trở lại. Nên tôi nghĩ Trung Quốc sẽ thuyết phục Việt Nam đừng đem vụ việc ra tòa án quốc tế vì đó là cái thế mạnh đáng kể mà Việt Nam có.” Bà Economy giải thích.
“Đây là một phần của chiến lược rộng lớn hơn của Trung Quốc.” Bà Economy nói thêm. “Nó liên quan đến giấc mộng Trung quốc của chủ tịch Tập Cận Bình, với một kiểu 'chúng ta đang làm sống lại một nước Trung quốc vĩ đại'.Trung Quốc nghĩa là vương triều ở trung tâm (thế giới), và đó là một phần của kế hoạch rộng lớn hơn hòa nhập Á châu cả về kinh tế và chiến lược mà tất cả mọi con đường đều dẫn tới Bắc Kinh.”
Cơ quan Thông Tin Năng Lượng Mỹ (EIA) ước lượng Biển Đông có trữ lượng khoảng 11 tỉ thùng dầu và 190 triệu tỉ mét khối khí đốt. Nhưng bà Economy cho rằng không phải chỉ vì dầu khí.
“(Dầu khí) không phải là trọng tâm của tranh chấp.” Bà Economy nói. “Thật ra, ở giữa cái này, là tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc dựa trên lịch sử, cái họ tin là một phần của lãnh thổ quốc gia, trở ngược lại nhiều thế kỷ trước. Trung Quốc bây giờ có khả năng kinh tế và quân sự để thể hiện những tuyên bố chủ quyền đó, và quý vị thấy một lãnh tụ Trung Quốc có tinh thần quốc gia cao ở thời điểm này, và là người hoàn toàn quyết đoán và sẵn sàng cố thực thi tuyên bố chủ quyền, cho nên điều này, trong nhãn quan của họ, đây là thời điểm của Trung Quốc”.
“Khi chủ tịch Tập Cận Bình vừa lên nắm quyền, ông ta ngay lập tức thăm viếng tất cả các tư lệnh quân đội. Ông ta nói về một yếu tố của giấc mơ Trung Quốc là một quân đội hùng mạnh, có khả năng không những bảo vệ Trung Quốc mà còn theo đuổi các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ. Đây là một phần của viễn ảnh lớn hơn mà theo tôi sẽ thấy Trung Quốc tiếp tục đầu tư rất mạnh mẽ cho quân đội.” Bà Economy nói.
Bà Economy cho rằng các nhóm khác nhau ở Trung Quốc hiểu khác nhau về mối quan hệ Trung Quốc-Hoa Kỳ. Có những người muốn hợp tác với Mỹ, tức những người muốn thấy tương lai của hai quốc gia liên quan chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên cũng có nhóm đáng kể trong thượng tầng cai trị ở Trung Quốc nhìn thấy “mặt trời đang lặn đối với vị thế chúa trùm của Mỹ”.
Cái nhóm lãnh tụ Trung Quốc này, theo bà biện luận, “muốn lật nước Mỹ”.
Các biến cố ở khu vực vào mùa xuân và mùa hè vừa qua ở khu vực không được nhiều nước ở khu vực bầy tỏ quan tâm lắm khi nghĩ đến thách thức sức mạnh ngày càng tăng cao của Trung Quốc.
“Chúng tôi coi trọng tình bằng hữu với Trung Quốc.” Đại sứ CSVN Lê Hoài Trung nói. “Trung Quốc là nước láng giềng và chúng tôi có nhiều điểm chung và chúng tôi tin rằng chúng tôi có thể hưởng lợi từ sự phát triển của Trung Quốc”.
Lượm nhặt được một miếng từ sự tăng trưởng của Trung Quốc có thể là điểm then chốt. Đông Nam Á, ông Trung chỉ ra, từng có chiến tranh trong các thập niên 50, 60 và 70 và chẳng có ai muốn quay trở lại xung đột.
Bà Economy cho rằng khung cảnh đang thay đổi. “Lần đầu tiên, chắc chắn là trong 150 năm qua, Trung Quốc cảm thấy họ có khả năng quân sự để thực thi các tuyên bố chủ quyền.” Bà nói. (TN)
WASHINGTON DC (NV) .- Trung Quốc không chỉ muốn cướp toàn bộ Biển Đông mà còn cao hơn nữa.
Họ muốn thay thế Mỹ làm trùm thế giới, theo nhận định của một nhà phân tích chính trị ở Hoa Thịnh Đốn.

Tàu chiến Trung Quốc tập trận bắn đạn thật trên Biển Đông đầu năm 2014. (Hình:Navy.81.cn)
Cuộc va chạm với Việt Nam ở phía nam quần đảo Hoàng Sa hồi Tháng 5-2014 đã qua đi. Tuy Bắc Kinh rút giàn khoan HD981, nhưng không mấy ai tin là mọi nguy cơ xung đột quân sự giữa Việt Nam với Trung Quốc, nói chung là giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, sẽ chấm dứt từ đây.
Hành động ngang nhiên đưa giàn khoan khổng lồ tới dò tìm dầu khí ở vùng biển tranh chấp chỉ là hành động mà Bắc Kinh muốn chứng tỏ cho mọi người thấy họ sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự để kiểm soát, đúng hơn là chiếm đoạt, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên rộng tới 3.5 triệu km2.
Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ khu vực Biển Đông, cả về quyền khai thác hải sản cũng như khai thác dầu khí, đã kéo dài suốt nhiều thế kỷ hoặc ở khu này hoặc ở khu khác, nhưng câu hỏi đặt ra là tại sao lại bùng phát mạnh vào năm nay?
“Nhìn trên bình diện toàn cầu, hiện đang có vấn đề an ninh năng lượng mà tất cả các quốc gia Đông Nam Á, chứ không riêng gì Trung Quốc, cần có thêm năng lượng để phát triển.”
Ông Lê Hoài Trung, đại diện thường trực của Việt Nam tại LHQ, nói với đài truyền hình CBS trong cuộc phỏng vấn. “Đối với Trung Quốc, vấn đề này với họ còn là vấn đề lớn hơn nữa như quý vị có thể đã biết. Từ năm 2009, Trung Quốc trở thành nước tiêu thụ năng lượng nhiều nhất trên thế giới.”
Ông Trung nói thêm “Tôi không nghĩ rằng họ có quyền dò tìm dầu khí ở vùng đó.”
Ông Lê Hoài Trung, theo CBS, cũng cho hay Trung Quốc xâm lấn lợi ích chiến lược, địa chính trị và quân sự bằng cách tuyên bố chủ quyền vùng nước chung quanh quần đảo Hoàng Sa (cách bờ biển Việt Nam 200 dặm cũng như cách đảo Hải Nam 200 dặm).
“Khoảng 70% hàng hóa thương mại toàn cầu vận chuyển bằng đường biển mà hai phần ba của tất cả hàng hóa thương mại vận chuyển qua Biển Đông.” Ông Trung nói.
Đó là lý do tại sao Hoa Kỳ tuyên bố có lợi ích quốc gia (trên Biển Đông) và tại sao cả việc sản xuất cũng như vận chuyển dầu lại là trung tâm điểm của tranh chấp, ông Trung nói.
“Trung Quốc ngày càng mạnh hơn.” Ông Trung nói. “Nền kinh tế của họ tăng trưởng theo nhịp độ cao và cùng một lúc, ngân sách quân sự của họ tăng nhanh nhất từ năm 1988 đến nay, ít nhất 10% một năm. Vì thế mà Trung Quốc ở cái thế mạnh hơn.”
Quân đội Trung Quốc phát triển đã trở thành dấu hiệu chớp sáng như đèn neon (báo động) cho Hoa Kỳ và các cường quốc khác.
“Nếu quân đội được sử dụng cho mục đích phòng vệ, khi đó tôi nghĩ tất cả các láng giềng sẽ bớt lo ngại.” Ông Trung nói với CBS. “Nhưng nếu các láng giềng thấy quân đội được dùng cho các mục đích khác không phải theo bản chất tự vệ, khi đó trở thành quan ngại cho bất cứ nước nào, không riêng gì Việt Nam”.
Mưu tính nằm ở đằng sau các hành vi ngang ngược ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở khu vực có thể phức tạp, và liên quan đến những tranh chấp nội bộ và lợi ích của một số lãnh tụ ở Bắc Kinh nhằm thay đổi quan điểm của thế giới về cái nước khổng lồ, theo bà Elizabeth Economy, một phân tích gia kỳ cựu và là Giám đốc Nghiên cứu Á Châu của tổ chức nghiên cứu chính trị 'Hội đồng Quan Hệ Đối Ngoại' ở Hoa Thịnh Đốn.
Bà Economy chỉ ra rằng chuyện lộn xộn hồi Tháng 5 vừa qua “không phải là lần đầu mà người ta thấy hành vi ngang ngược của một số tay 'diễn viên' hải quân Trung Quốc khác nhau. Họ đã từng đâm tàu Nhật, tàu Philippines. Chuyện này (đâm tàu cảnh sát biển và tàu cá Việt Nam) chỉ là loại hành vi ngang ngược mới nhất của Trung Quốc”.
Cái nguy hiểm nhất, theo bà Economy, là cái thứ hành vi đó có thể dẫn đến “một thứ tính toán sai lầm, một thứ rủi ro và khi chúng phối hợp với tinh thần dân tộc mà chúng ta thấy ở các nước này, người ta sẽ thấy một thứ xung đột tầm mức nhỏ trở thành một cuộc xung đột quân sự toàn diện.”
Ý muốn của Trung Quốc, theo bà Economy nói, là không muốn bị đẩy vào phân giải xuyên qua tập thể khu vực như ASEAN, mà muốn khẳng định sức mạnh để rồi đàm phán trực tiếp với các láng giềng nhỏ hơn của họ.
“Khi họ cắm giàn khoan, lúc đó họ đang ở giữa các vụ thương thuyết với Việt Nam về hợp tác phát triển tài nguyên. Cho nên, tôi nghĩ họ chỉ muốn nối lại các cuộc đàm phán, và họ cảm thấy họ ở thế thượng phong cho cái loại đàm phán như vậy.” Bà Economy nói.
Cho dù Trung Quốc ở thế thượng phong, Việt Nam vẫn có thể có quân bài chủ.
“Tháng 5 năm tới, họ (TQ) dự tính đem giàn khoan trở lại. Nên tôi nghĩ Trung Quốc sẽ thuyết phục Việt Nam đừng đem vụ việc ra tòa án quốc tế vì đó là cái thế mạnh đáng kể mà Việt Nam có.” Bà Economy giải thích.
“Đây là một phần của chiến lược rộng lớn hơn của Trung Quốc.” Bà Economy nói thêm. “Nó liên quan đến giấc mộng Trung quốc của chủ tịch Tập Cận Bình, với một kiểu 'chúng ta đang làm sống lại một nước Trung quốc vĩ đại'.Trung Quốc nghĩa là vương triều ở trung tâm (thế giới), và đó là một phần của kế hoạch rộng lớn hơn hòa nhập Á châu cả về kinh tế và chiến lược mà tất cả mọi con đường đều dẫn tới Bắc Kinh.”
Cơ quan Thông Tin Năng Lượng Mỹ (EIA) ước lượng Biển Đông có trữ lượng khoảng 11 tỉ thùng dầu và 190 triệu tỉ mét khối khí đốt. Nhưng bà Economy cho rằng không phải chỉ vì dầu khí.
“(Dầu khí) không phải là trọng tâm của tranh chấp.” Bà Economy nói. “Thật ra, ở giữa cái này, là tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc dựa trên lịch sử, cái họ tin là một phần của lãnh thổ quốc gia, trở ngược lại nhiều thế kỷ trước. Trung Quốc bây giờ có khả năng kinh tế và quân sự để thể hiện những tuyên bố chủ quyền đó, và quý vị thấy một lãnh tụ Trung Quốc có tinh thần quốc gia cao ở thời điểm này, và là người hoàn toàn quyết đoán và sẵn sàng cố thực thi tuyên bố chủ quyền, cho nên điều này, trong nhãn quan của họ, đây là thời điểm của Trung Quốc”.
“Khi chủ tịch Tập Cận Bình vừa lên nắm quyền, ông ta ngay lập tức thăm viếng tất cả các tư lệnh quân đội. Ông ta nói về một yếu tố của giấc mơ Trung Quốc là một quân đội hùng mạnh, có khả năng không những bảo vệ Trung Quốc mà còn theo đuổi các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ. Đây là một phần của viễn ảnh lớn hơn mà theo tôi sẽ thấy Trung Quốc tiếp tục đầu tư rất mạnh mẽ cho quân đội.” Bà Economy nói.
Bà Economy cho rằng các nhóm khác nhau ở Trung Quốc hiểu khác nhau về mối quan hệ Trung Quốc-Hoa Kỳ. Có những người muốn hợp tác với Mỹ, tức những người muốn thấy tương lai của hai quốc gia liên quan chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên cũng có nhóm đáng kể trong thượng tầng cai trị ở Trung Quốc nhìn thấy “mặt trời đang lặn đối với vị thế chúa trùm của Mỹ”.
Cái nhóm lãnh tụ Trung Quốc này, theo bà biện luận, “muốn lật nước Mỹ”.
Các biến cố ở khu vực vào mùa xuân và mùa hè vừa qua ở khu vực không được nhiều nước ở khu vực bầy tỏ quan tâm lắm khi nghĩ đến thách thức sức mạnh ngày càng tăng cao của Trung Quốc.
“Chúng tôi coi trọng tình bằng hữu với Trung Quốc.” Đại sứ CSVN Lê Hoài Trung nói. “Trung Quốc là nước láng giềng và chúng tôi có nhiều điểm chung và chúng tôi tin rằng chúng tôi có thể hưởng lợi từ sự phát triển của Trung Quốc”.
Lượm nhặt được một miếng từ sự tăng trưởng của Trung Quốc có thể là điểm then chốt. Đông Nam Á, ông Trung chỉ ra, từng có chiến tranh trong các thập niên 50, 60 và 70 và chẳng có ai muốn quay trở lại xung đột.
Bà Economy cho rằng khung cảnh đang thay đổi. “Lần đầu tiên, chắc chắn là trong 150 năm qua, Trung Quốc cảm thấy họ có khả năng quân sự để thực thi các tuyên bố chủ quyền.” Bà nói. (TN)
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Cộng Hòa Dân Chủ sống chung
Nguyễn-Xuân Nghĩa .
Như thông lệ, cánh tả của đảng Dân Chủ đã báo trước, rằng nếu đảng Cộng Hòa mà chiếm đa số sau kỳ bầu cử này là tài phiệt Wall Street có thể ăn no ngủ kỹ vì sẽ có tay ở trong chính trường.
Như thông lệ, họ vẫn lại sai - và nghĩ rằng dân Mỹ chẳng hiểu gì cả.
Ðể độc giả mê đảng Dân Chủ khỏi bực mình mà chịu khó đọc tiếp, người viết xin nói ngay rằng mỗi khi Dân Chủ cầm quyền thì thị trường cổ phiếu Wall Street lẫn các chỉ số kinh tế khác, kể cả Tổng Sản Lượng Nội Ðịa GDP, đều hân hoan tăng trưởng. Ðấy là một nghịch lý vì thiên hạ cứ tưởng đảng Dân Chủ ưu lo cho dân nghèo, từ tiềm thức thì nghi ngờ doanh giới nên chỉ tìm cách kiểm soát thị trường để chú trọng tới công bằng xã hội hơn là phát triển kinh tế.
Sự thật thì phe Dân Chủ có khuynh hướng can thiệp vào kinh tế với biện pháp tăng chi, bơm tiền và hạ lãi suất nên có dẫn tới tăng trưởng, và làm giàu cho tài phiệt Wall Street, nhưng về dài thì dễ gây ra lạm phát. Còn Cộng Hòa thì đòi nhà nước thu hẹp vai trò, giữ kỷ cương ngân sách, giảm thuế và tăng lãi suất để ngăn lạm phát. Trước mắt thì chủ trương đó gây đình trệ và chỉ giúp kinh tế và tiểu doanh phát triển trong lâu dài. Nhưng “về dài thì ai cũng chết” mà đảng Cộng Hòa lại kém khả năng biện giải. Ðó là bài học nhập môn về “kinh tế cũng là chính trị” tại Hoa Kỳ.
Ngoài ra, nước Mỹ là một xứ chẳng giống ai cho nên “Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài” mới là chủ điểm của cột mục định kỳ này.
Ai ham các chức vụ dân cử tại Hoa Kỳ, cao nhất là chức vụ tổng thống, đều phải có khả năng nói phét cao độ. Khi đắc cử thì họ tưởng đã mở ra vận hội mới cho một quản hạt con con, hay một siêu cường giàu mạnh nhất thế giới, rồi bẽ bàng thấy là bị bó tay. Họ không có toàn quyền, mà cứ được dư luận phe ta khen là làm giảm thất nghiệp rồi bị phe địch chê là làm tăng lãi suất khiến đời sống người dân thêm chật vật. Oan cả!
Qua bản Hiến Pháp, bậc quốc phụ của Mỹ tận dụng nguyên tắc phân quyền. Dù một tổng thống đầy vẻ uy nghi thì vẫn phải chia quyền với Quốc Hội, Tối Cao Pháp Viện, các thống đốc tiểu bang và cái định chế bán công mà có tư thế độc lập là Ngân Hàng Trung Ương, gọi tắt là Fed. Ở bên trong, tổng thống có ít quyền hạn hơn Quốc Hội, chẳng gây ra suy trầm, tạo ra việc làm, và chỉ có thể thi thố tài năng về đối ngoại - nếu lãnh đạo các nước khác đồng ý.
Khi cánh tả nói tài phiệt Wall Street sẽ giàu to nếu đảng Cộng Hòa chiếm đa số tại Lập pháp, họ quên bản Hiến Pháp tai quái đó. Và quên hệ thống Fed với loại quyết định về lãi suất có thể làm một tổng thống thất cử, như trường hợp của George H. Bush (41) vào năm 1992 vì Chủ Tịch Alan Grenspan, một kinh tế gia Cộng Hòa. Sau vụ Tổng suy trầm 2008-2009, hệ thống Fed đã bơm tiền, cắt lãi suất tới sàn và làm cổ phiếu Mỹ tăng vọt, một niềm hoan hỉ cho các tài phiệt.
Nếu Cộng Hòa chiếm Hành pháp vào năm 2017 thì bà Janet Yellen, kinh tế gia thiên tả thuộc phe Dân Chủ, khó làm chủ tịch hệ thống Fed thêm một kỳ sau năm 2018. Và thành phần Hội Ðồng Thống Ðốc thay đổi dần có thể sẽ điều chỉnh chánh sách tiền tệ từ năm 2019 trở đi. Tức là các chính khách, dù Cộng Hòa hay Dân Chủ, đều có khả năng tác động rất giới hạn và chậm rãi vào một định chế then chốt về kinh tế. Ðặc tính ấy của nền dân chủ Hoa Kỳ là một sự lạ.
Bây giờ, sau làn sóng Cộng Hòa tràn vào Thượng Viện và nâng đa số tại Hạ Viện, Hoa Kỳ sẽ có Hành Pháp Dân Chủ và Lập Pháp Cộng Hòa sống chung trong hai năm tới. Bị phe Cộng Hòa chặn cửa về nội trị, trong từng dự án hay đề luật về kinh tế xã hội, Tổng Thống Barack Obama có thể tận dụng ưu thế ghi trong Hiến Pháp là đi tìm thành quả về đối ngoại, trong giai đoạn mà dân Mỹ gọi là “vịt què.”
Khi đó, Obama sẽ có mấy món ăn thuộc loại chua ngọt.
“Ngọt” là về ngoại thương. Do xu hướng bảo hộ mậu dịch và thế lực các nghiệp đoàn giàu có và rất mạnh trong đảng Dân Chủ, tổng thống không có toàn quyền thương thảo mậu dịch theo thủ tục “nhanh gọn” gọi là Fast Track - là đại sứ của tổng thống cứ thương thuyết với các nước cho xong rồi đệ nạp trọn gói cho Thượng Viện phê chuẩn. Vì vậy, Obama bị đảng Dân Chủ của mình cột tay.
Với phe Cộng Hòa kiểm soát Thượng Viện, tinh thần tự do mậu dịch được phát huy. Hoa Kỳ có thể khai thông nhiều trở ngại về buôn bán với các nước, từ kế hoạch TPP xây dựng đối tác chiến lược Xuyên Thái bình dương (gai góc nhất là với Nhật Bản) qua hiệp ước TTIP nhằm phát triển tự do mậu dịch và đầu tư xuyên Ðại Tây dương với Âu Châu.
Khi nói khai thông với Nhật là ta nghĩ tới thế lực Trung Quốc. Và cải thiện quan hệ kinh tế với Liên Âu cũng là xây dựng trận tuyến thống nhất trước sức ép của Liên bang Nga. Tổng Thống Obama sẽ có thế mạnh hơn, hoặc ít ra khó nhượng bộ các nước chống Mỹ, vì có Thượng Viện Cộng Hòa ở sau lưng.
Phần “vừa chua vừa ngọt” là đối sách với tổ chức khủng bố xưng danh nhà nước Hồi Giáo ISIL. Thượng Viện Cộng Hòa sẽ giúp Tổng Thống Obama hợp thức hóa quyết định lâm chiến - và chia sẻ trách nhiệm thắng bại - mà cũng đòi hỏi một chiến lược mạch lạc và hợp lý thay vì phản ứng mơ hồ lụp chụp rất Obama.
Phần chua lè là dự án hòa giải hòa hợp với Iran do chính quyền Obama thúc đẩy từ nhiều năm qua với một bước khai thông vào ngày 24 tới đây. Nhiều nhân vật Cộng Hòa không tin thiện chí của các giáo chủ tại Tehran, hoài nghi sự sáng suốt của ban tham mưu Obama, và cũng có người sợ nếu việc hòa giải đó có vẻ thành hình - có vẻ thôi - thì đấy là một thắng lợi chính trị của phe Dân Chủ. Vì vậy, Quốc Hội Cộng Hòa sẽ đưa ra nhiều điều kiện thử thách hơn, trước khi Hành pháp có thể giải tỏa dần lệnh cấm vận.
Sau bao thất bại chồng chất tại Trung Ðông, Obama chỉ có một hy vọng lập thành tích đối ngoại là từng bước bình thường hóa quan hệ với Iran. Nhưng Cộng Hòa sẽ gây khó với hậu quả là làm phe bảo thủ tại Tehran không cho Tổng Thống Hasan Roubani nhượng bộ hơn.
Ðây không là giả thuyết: Tháng Mười, Tổng Thống Obama đã gửi thẳng mật thư cho lãnh tụ tối cao là Giáo Chủ Ali Khamenei để đạt vài thắng lợi trong kỳ đàm phán hôm Chủ Nhật mùng 9 vừa qua. Nhưng đề nghị của ông lại bị Tehran cự tuyệt. Với thế lực mới của đảng Cộng Hòa trong Quốc Hội, hồ sơ Iran sẽ chua thành giấm.
Tổng kết thì Hoa Kỳ là siêu cường số một thế giới và có ảnh hưởng toàn cầu. Nhưng tổng thống Mỹ không có toàn quyền. Và trong lãnh vực dễ tạo ra ấn tượng lãnh đạo, ông vẫn bị người dân chi phối khi họ đi bầu và đưa phe đối lập vào vị trí kiểm soát, như chuyện đã xảy ra sau cuộc bầu cử tuần qua.
Chuyện chỉ xảy ra tại nước Mỹ
Trong mọi xã hội, chỉ cảnh sát nhà nước là được bắt dân, với những điều kiện co giãn hay khó dễ của nền dân chủ. Riêng tại Hoa Kỳ, người dân lại có quyền... bắt cảnh sát, một cách hợp pháp!
Chuyện xảy ra tháng trước tại tiểu bang Washington, khi Gavin Stem chặn xe một viên cảnh sát, đòi xem thẻ căn cước và công vụ rồi và yêu cầu ông ta không được kiểm soát lưu thông. Nếu không là vào tù! Lý do hợp pháp là vì viên cảnh sát đi xe mang số ẩn tế của dân sự, không của viên chức công quyền. Mà luật lệ tiểu bang chỉ cho phép cảnh sát dùng xe ẩn tế để kín đáo tiến hành điều tra chứ không để kiểm soát công lộ. Nhân vật Gavin đáng nể này là kẻ đáng ghét vì thuộc đảng Cộng Hòa và đề cao quyền tự do dân sự tới độ bắt cảnh sát phải tôn trọng luật lệ. Nếu ai cũng giả dạng thường dân và chặn xe bắt người thì ai sẽ bảo vệ dân?

