Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Từ "con tự do" cho tới "con ốc vít"...
Người Cộng sản rất giỏi nói lời khuất tất. Họ giỏi vì lâu ngày không ai vạch ra điều mà họ cố tình giấu diếm một phần do hệ thống công an trị quá bạo liệt khiến ai có chút can đảm muốn phơi bày đều phải tự xét trước khi buông lời chỉ trích.
Đó là trước đây hơn hai mươi năm, khi những cơn gió từ thế giới hiu hiu thổi vào nền kinh tế bao cấp mang theo hơi hướm thông tin nhỏ giọt từ bên ngoài. Còn bây giờ, thông tin đã thành bão, giấc mơ bịt miệng nhân dân của lãnh đạo đã tan vỡ, những mảnh vỡ ấy đâm thấu tim gan xã hội và làm cho tiếng ta thán của cộng đồng ngày một lớn hơn.
Bất kể sự tràn ngập thông tin trong quần chúng. Bất kể sự thật là ngày nay mở miệng rất dễ mắc quai, các phát ngôn của lãnh đạo không hề sợ người dân phản ứng vì họ cùng mang chung một hội chứng rất khó trị: phơi nhiễm điếc.
Phơi nhiễm vì họ sinh hoạt chung với nhau trong một môi trường chỉ biết nói mà không cần nghe lâu ngày thành căn bệnh điếc khó phát hiện. Tác nhân gây điếc lại không có hình thù cụ thể nào và hơn nữa không ai buồn nghiên cứu nên sự lây lan âm thầm và rộng khắp. Tập thể điếc ấy tự sướng bằng các loại ngoa ngôn, cốt nói cho đã miệng.
Nói không cần ai nghe và do đó trách nhiệm của lời nói là một khái niệm hết sức cộng sản.
Trên thế giới không có một nước nào mà cán bộ các loại từ thấp đến cao lại vô tư phát ngôn những câu chữ không giống ai như nước Việt Nam, Việt Nam cộng sản. Từ một ông công an phường sáng tạo cụm từ rất ấn tượng: "con tự do" cho đến một ông bộ trưởng tuyên bố lẫy lừng về sự hình thành của một "con ốc vít". Hai "con" ấy nếu đặt dưới kính lúp để tìm hiểu không khéo lại cho thấy lắm điều hữu dụng.
Trước, "con tự do" nói lên điều gì?
Khi công an đàn áp người bất đồng chính kiến do bị hỏi: các ông có biết chúng tôi cũng có quyền tự do hội họp, tự do đi lại hay không? Một ông trưởng công an quay lại cho ra ngay một câu trả lời rất chợ búa: "tự do cái con ..c". Vậy là tự điển đương đại của Việt Nam có thêm từ mới.
"Con tự do" dù sao cũng chỉ là một tiếng chửi thề nhưng trong ngữ cảnh ấy nó nói lên được một sự thật: Cộng sản không chấp nhận hai tiếng tự do. Hai chữ tự do chỉ có giá trị tương đương với một bộ phận dùng để đi tiểu, chỉ đi tiểu thôi nhé, vì xét tới chức năng thứ hai nó có thể phản lại câu chửi thề hết sức thâm thúy này. Cái chức năng thứ hai ấy loài người đã biết rất lâu trước khi có khái niệm tự do.
"Con tự do" trở thành chiếc chìa khóa canh giữ ước vọng dân chủ của người dân vì khi nói tới dân chủ thì không thể nào thiếu vắng tự do. Khi tự do trở thành một "con" thì bản thân nó đã bị gô vào chiếc còng số 8.
Tính ưu việt của phát ngôn này nằm ở chỗ đó. Việc coi thường mọi giá trị nhân văn của người cộng sản đã để lại vết cháy xém trên cơ chế không thể nào tẩy rửa. Khi tự do đã thành "con" thì mọi ngoa ngôn sau này về hai chữ tự do sẽ là tấm gương soi cho hậu thế.
Và vì vậy, người ta vẫn kiên trì đòi tự do trở lại với khuôn mặt thật của nó bằng cách cố gắng giật phăng những phù điêu giả treo trước ngôi đền cách mạng.
Trong cái hội chứng điếc tập thể ấy người dân không hy vọng gì lãnh đạo của họ có cơ hội nói thật, nói vào đúng tâm điểm mà họ muốn biết, dù chỉ một lần.
Từ việc mất niềm tin của dân ấy lãnh đạo càng cao thì xem ra sự nói thật của họ trở thành mối nghi ngờ của người dân. Chẳng hạn ông Hà Nội vừa thành thật tự thú "nếu chim hòa bình không bay lên được vào ngày kỷ niệm giải phóng thủ đô thì cũng mong đồng bào thông cảm".
Hiền lành và "ngốc" như ông vẫn không thuyết phục được người dân Trường An, chẳng qua tập thể điếc đã được người Hà Nội thừa nhận như một sự thật hiển nhiên.
Một người khác nữa đang cố gắng nói thật nhưng vừa nói ra sự thật ấy ông ta lại càng chứng tỏ rằng chưa bước ra khỏi phạm vi của tập thể điếc, tính phơi nhiễm vẫn còn rất cao và lại không thể chích ngừa.
Ông điếc vì chưa bao giờ chịu nghe sự thật của nền công nghiệp nước nhà. Ông điếc vì những hợp đồng dịch vụ béo bở ngày ngày xuất hiện khắp đất nước Việt Nam qua những điều mà báo chí cảnh báo gọi là làm thuê cho nước ngoài. Ông điếc vì không bao giờ nghe tiếng máy chạy xình xịch hàng ngày chỉ để sản xuất ra một loạt con người như ông, chuyên chăm chăm vào tài nguyên thô và mồ hôi của người lao động.
Do điếc lâu, điếc lâm sàng nên khi ông thành thật nói ra điều ông nghĩ là hay là đúng thì người ta lại vỗ tay...mời ông xuống!
Ông nói: Việt Nam đã sản xuất ra được con ốc vít cho Samsung.
Câu nói xuất hiện vào năm 2014, sau hơn ba phần tư thế kỷ ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Gần 40 năm sau khi Sài gòn hoàn toàn giải phóng.
"Con ốc vít" ấy là một sự thật não nề xứng đáng đứng bên cạnh "con tự do" cũng ê chề không kém.
Cái mà cả hệ thống từng rêu rao là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nay đã trần truồng nằm phơi trên các trang báo đảng lẫn báo dân. "Con ốc vít" trở thành best seller trên một thị trường được xem là phát triển ngoạn mục nhất nhì Đông Nam á. "Con ốc vít" hiền lành, vô hại nay bỗng dưng bị lật lên lật xuống xem xét từng chi tiết. Mà lạ lắm, không thấy chi tiết nào đáng chú ý cả vì nó cũng như hàng tỷ con ốc trong guồng máy kinh tế này, nhưng khi một con trong cái đám hàng tỷ con ấy mang quốc tịch Việt Nam thì sự tự sướng lên tới mức ngất ngây như khuôn mặt ửng hồng của ông bộ trưởng.
Một con ốc vít không phải là tất cả nhưng cũng cho thấy cố gắng không ngừng của nhà nước, rất chú ý tới nền công nghiệp nước nhà.
Chỉ có điều, người dân lại tưởng ông Bộ trưởng đánh lừa họ vì không lẽ sau bao nhiêu năm mà chế độ chỉ làm được một con ốc vít?
canhco's blog
Đó là trước đây hơn hai mươi năm, khi những cơn gió từ thế giới hiu hiu thổi vào nền kinh tế bao cấp mang theo hơi hướm thông tin nhỏ giọt từ bên ngoài. Còn bây giờ, thông tin đã thành bão, giấc mơ bịt miệng nhân dân của lãnh đạo đã tan vỡ, những mảnh vỡ ấy đâm thấu tim gan xã hội và làm cho tiếng ta thán của cộng đồng ngày một lớn hơn.
Bất kể sự tràn ngập thông tin trong quần chúng. Bất kể sự thật là ngày nay mở miệng rất dễ mắc quai, các phát ngôn của lãnh đạo không hề sợ người dân phản ứng vì họ cùng mang chung một hội chứng rất khó trị: phơi nhiễm điếc.
Phơi nhiễm vì họ sinh hoạt chung với nhau trong một môi trường chỉ biết nói mà không cần nghe lâu ngày thành căn bệnh điếc khó phát hiện. Tác nhân gây điếc lại không có hình thù cụ thể nào và hơn nữa không ai buồn nghiên cứu nên sự lây lan âm thầm và rộng khắp. Tập thể điếc ấy tự sướng bằng các loại ngoa ngôn, cốt nói cho đã miệng.
Nói không cần ai nghe và do đó trách nhiệm của lời nói là một khái niệm hết sức cộng sản.
Trên thế giới không có một nước nào mà cán bộ các loại từ thấp đến cao lại vô tư phát ngôn những câu chữ không giống ai như nước Việt Nam, Việt Nam cộng sản. Từ một ông công an phường sáng tạo cụm từ rất ấn tượng: "con tự do" cho đến một ông bộ trưởng tuyên bố lẫy lừng về sự hình thành của một "con ốc vít". Hai "con" ấy nếu đặt dưới kính lúp để tìm hiểu không khéo lại cho thấy lắm điều hữu dụng.
Trước, "con tự do" nói lên điều gì?
Khi công an đàn áp người bất đồng chính kiến do bị hỏi: các ông có biết chúng tôi cũng có quyền tự do hội họp, tự do đi lại hay không? Một ông trưởng công an quay lại cho ra ngay một câu trả lời rất chợ búa: "tự do cái con ..c". Vậy là tự điển đương đại của Việt Nam có thêm từ mới.
"Con tự do" dù sao cũng chỉ là một tiếng chửi thề nhưng trong ngữ cảnh ấy nó nói lên được một sự thật: Cộng sản không chấp nhận hai tiếng tự do. Hai chữ tự do chỉ có giá trị tương đương với một bộ phận dùng để đi tiểu, chỉ đi tiểu thôi nhé, vì xét tới chức năng thứ hai nó có thể phản lại câu chửi thề hết sức thâm thúy này. Cái chức năng thứ hai ấy loài người đã biết rất lâu trước khi có khái niệm tự do.
"Con tự do" trở thành chiếc chìa khóa canh giữ ước vọng dân chủ của người dân vì khi nói tới dân chủ thì không thể nào thiếu vắng tự do. Khi tự do trở thành một "con" thì bản thân nó đã bị gô vào chiếc còng số 8.
Tính ưu việt của phát ngôn này nằm ở chỗ đó. Việc coi thường mọi giá trị nhân văn của người cộng sản đã để lại vết cháy xém trên cơ chế không thể nào tẩy rửa. Khi tự do đã thành "con" thì mọi ngoa ngôn sau này về hai chữ tự do sẽ là tấm gương soi cho hậu thế.
Và vì vậy, người ta vẫn kiên trì đòi tự do trở lại với khuôn mặt thật của nó bằng cách cố gắng giật phăng những phù điêu giả treo trước ngôi đền cách mạng.
Trong cái hội chứng điếc tập thể ấy người dân không hy vọng gì lãnh đạo của họ có cơ hội nói thật, nói vào đúng tâm điểm mà họ muốn biết, dù chỉ một lần.
Từ việc mất niềm tin của dân ấy lãnh đạo càng cao thì xem ra sự nói thật của họ trở thành mối nghi ngờ của người dân. Chẳng hạn ông Hà Nội vừa thành thật tự thú "nếu chim hòa bình không bay lên được vào ngày kỷ niệm giải phóng thủ đô thì cũng mong đồng bào thông cảm".
Hiền lành và "ngốc" như ông vẫn không thuyết phục được người dân Trường An, chẳng qua tập thể điếc đã được người Hà Nội thừa nhận như một sự thật hiển nhiên.
Một người khác nữa đang cố gắng nói thật nhưng vừa nói ra sự thật ấy ông ta lại càng chứng tỏ rằng chưa bước ra khỏi phạm vi của tập thể điếc, tính phơi nhiễm vẫn còn rất cao và lại không thể chích ngừa.
Ông điếc vì chưa bao giờ chịu nghe sự thật của nền công nghiệp nước nhà. Ông điếc vì những hợp đồng dịch vụ béo bở ngày ngày xuất hiện khắp đất nước Việt Nam qua những điều mà báo chí cảnh báo gọi là làm thuê cho nước ngoài. Ông điếc vì không bao giờ nghe tiếng máy chạy xình xịch hàng ngày chỉ để sản xuất ra một loạt con người như ông, chuyên chăm chăm vào tài nguyên thô và mồ hôi của người lao động.
Do điếc lâu, điếc lâm sàng nên khi ông thành thật nói ra điều ông nghĩ là hay là đúng thì người ta lại vỗ tay...mời ông xuống!
Ông nói: Việt Nam đã sản xuất ra được con ốc vít cho Samsung.
Câu nói xuất hiện vào năm 2014, sau hơn ba phần tư thế kỷ ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Gần 40 năm sau khi Sài gòn hoàn toàn giải phóng.
"Con ốc vít" ấy là một sự thật não nề xứng đáng đứng bên cạnh "con tự do" cũng ê chề không kém.
Cái mà cả hệ thống từng rêu rao là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nay đã trần truồng nằm phơi trên các trang báo đảng lẫn báo dân. "Con ốc vít" trở thành best seller trên một thị trường được xem là phát triển ngoạn mục nhất nhì Đông Nam á. "Con ốc vít" hiền lành, vô hại nay bỗng dưng bị lật lên lật xuống xem xét từng chi tiết. Mà lạ lắm, không thấy chi tiết nào đáng chú ý cả vì nó cũng như hàng tỷ con ốc trong guồng máy kinh tế này, nhưng khi một con trong cái đám hàng tỷ con ấy mang quốc tịch Việt Nam thì sự tự sướng lên tới mức ngất ngây như khuôn mặt ửng hồng của ông bộ trưởng.
Một con ốc vít không phải là tất cả nhưng cũng cho thấy cố gắng không ngừng của nhà nước, rất chú ý tới nền công nghiệp nước nhà.
Chỉ có điều, người dân lại tưởng ông Bộ trưởng đánh lừa họ vì không lẽ sau bao nhiêu năm mà chế độ chỉ làm được một con ốc vít?
canhco's blog
Rong rêu cuối đời
Phạm Văn Tiền Qua những lo toan tất bật, cuối cùng rồi gia đình chúng tôi vẫn đến Mỹ được bình an vào tháng 7 năm 1991. Hôm đi làm dịch vụ tại đường Nguyễn Trãi Sài Gòn, vì sơ ý tôi đã bị kẻ gian rọc cái xách tay đựng hồ sơ và tiền bạc, cũng may chỉ bị mất hết tiền ở dưới đáy, còn lại giấy tờ kẹt ở phần trên. Tôi tự an ủi lấy mình, biết đâu trong cái rủi lại có cái may, vật chất tiền bạc chỉ là cái tạm thời mất rồi sẽ có lại, còn chuyện làm sao đến được xứ người mới là điều quan trọng.
Chúng tôi muốn xa lánh một chế độ mà con người, những viên chức, dân sự, quân đội cũ bị gạt ra ngoài xã hội, không đất sống, chúng muốn bắt giam, muốn thả, muốn hành hạ đánh đập lúc nào tùy ý, chẳng một luật lệ nào cả. Con em chúng tôi bị kỳ thị, phân chia thành phần lý lịch ở học đường, tài sản bị cướp một cách công khai bằng chánh sách đổi tiền gian trá để rồi người tư bản đã biến thành kẻ “mại sản” sống lây lất qua ngày. Ðó là những điều thật quái dị chỉ xảy ra duy nhất ở nước Việt Nam Cộng Sản.
Thấm thoát mà đã hơn 14 năm rồi, 10 năm lính, 12 năm tù tội thế là gần hết một đời người, thời gian trôi qua quá nhanh, cuộc sống vẫn đều đặn tiến về phía trước mỗi ngày. Tuổi trẻ luôn hướng về tương lai còn người già thì thường hoài niệm quá khứ.
Rời phi trường Tân Sơn Nhất vào một buổi sáng hè đẹp trời, lần đầu tiên sau nhiều năm dài gian khổ, tôi được sống lại cái cảm giác lâng lâng của những ngày xuôi ngược hành quân giữa khoảng trời cao trong xanh, nhìn dòng sông uốn khúc quanh những cánh đồng mênh mông đầy nước; vẫn những làng mạc ẩn hiện đó đây, đàn trâu gặm cỏ ngoài đồng cùng đoàn người lam lũ xuôi ngược trên sông. Tôi cảm thấy lòng mình se lại, nước mắt lưng tròng vì rồi đây tôi sẽ đánh mất tất cả! Lần đầu tiên và cũng lần cuối cùng tôi xin “từ biệt quê hương.”
Người Cộng Sản đã chiến thắng trong một cuộc chiến tương tàn, còn chúng tôi những chiến sĩ của thế giới tự do là kẻ bại trận. Bằng những vũ khí tối tân được trang bị, viện trợ từ nước ngoài “chúng ta chém giết chúng ta.” Ðồng Minh đã bỏ Miền Nam Việt Nam cho tập đoàn Cộng Sản quốc tế, bằng chuyến đi mật nghị của Tổng Thống Richard Nixon 1972 tại Trung Quốc, để rồi sau đó quân và dân Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử một cách oan uổng trong cuộc chiến tự vệ không còn cân sức.
Người CS vinh danh kẻ chiến thắng bắt đầu làm một cuộc cách mạng triệt để sau cùng hầu đưa dân tộc đến “thế giới đại đồng,” nơi đó không còn cảnh người bóc lột người vì tất cả đều là vô sản, không còn có gì để mất. Họ đập phá hết, vơ vét hết cái gọi là “tàn dư chế độ cũ” để làm lại từ đầu, kể cả con người. Và việc để những người tù “cải tạo” ra đi theo diện HO cũng không ngoài quốc sách đó.
Xin cám ơn đời! Cám ơn người đã cho tôi cuộc sống hôm nay. Gia đình tôi gần 4 người đến thị trấn nhỏ bé Pineville miền cực Bắc của tiểu bang Louisiana vào một buổi tối mùa hè trời nóng nực. Ra đón tại phi trường có văn phòng tị nạn USCC, người em bảo trợ cùng 5-7 gia đình đồng hương đã định cư ở đây từ trước. Hội thiện nguyện USCC do bà Mỹ trắng Linda và cô Thìn người Việt Nam đã giúp đỡ tận tình hoàn tất mọi thủ tục cho chúng tôi và nhanh chóng ổn định đời sống. Chương trình trợ cấp xã hội cho người mới tới từ 12 tháng nay chỉ còn 8 tháng mà thôi. Với tiền và chi phiếu thực phẩm hằng tháng cũng thừa đủ để gia đình sinh sống tạm thời nếu không muốn nói là thừa dư chút đỉnh, nếu biết dè sẻn theo kiểu Việt Nam.
Người dân địa phương ở đây rất lịch sự và tử tế sẵn sàng giúp đỡ người mới đến như chúng tôi. Ðiều này có thể dễ hiểu, đa số dân chúng rất ngoan đạo vì ở trong vùng này có rất nhiều nhà thờ. Chưa đến đây ai cũng nghĩ rằng Pineville là một thành phố có nhiều người Pháp bên cạnh những cái tên rất Tây như: Alexandria, La Fayette, Baton Rouge, New Orleans... nhưng sự thật không phải vậy, họ đa số là những người già Mỹ đã đến tuổi về hưu, không thích ồn ào náo nhiệt, muốn sống trong sự yên tĩnh hiền hòa.
Alexandria thì ngược lại, nơi cách Pineville 4 dặm về hướng Bắc, chỉ cần qua một chiếc cầu bắc ngang dòng sông nhỏ bé xinh xinh. Những người Mỹ da đen thường hay tụ tập ở đây, đa số không có việc làm, sống nhờ tiền trợ cấp của chánh phủ. Người ta đồn rằng đây là ổ của các tổ chức mua bán cần sa ma túy. Vào những buổi chiều tà, tôi thường đạp xe một mình đi về giữa hai thành phố này qua những ánh đèn khi màn đêm bắt đầu buông xuống, dòng sông bỗng trở nên tuyệt đẹp vô cùng với nhiều đàn dơi lượn lờ tìm mồi trên sóng nước.
Chúng tôi được đưa đi khám sức khỏe, trị bịnh và học Anh văn mỗi tuần 2 ngày vào Thứ Ba và Thứ Sáu. Bà giáo Spencer là một người cao lớn, Mỹ đen vạm vỡ và tốt bụng vô cùng. Nhà chúng tôi mướn ở là một căn hộ phân nửa Duplex cũ kỹ giá hằng tháng phải trả là $175 đồng, người chủ “take care” đủ mọi thứ, từ cắt cỏ đến mọi chuyện lặt vặt linh tinh khác. Có vô số gián và rất nhiều chuột chạy quanh quẩn trong nhà. Có tiếng còi xe lửa inh ỏi vào buổi sáng cùng một vài tiếng gáy của các chú gà rừng văng vẳng xa xa. Bà chị tôi từ Florida đến thăm và nhất quyết bảo chúng tôi phải dọn về với chị, ở đấy có job sẵn đang chờ. Tôi đành theo kế hoãn binh là hãy đợi cho hết thời hạn trợ cấp đã rồi tính sau vì “ở xa mỏi mắt, ở gần mỏi miệng,” không gì bằng tự lực cánh sinh.
Những ngày đầu tiên đến Mỹ, nhiều đêm nằm mơ thấy mình vẫn còn ở đâu đó tại Việt Nam, tôi đã bị bắt và vào tù trở lại, hình ảnh gánh củi trĩu nặng trên vai và hàng chục anh em tù bụng cồn cào đói lả cố gắng khiêng khúc gỗ nặng nhọc uể oải hàng chục km mỗi ngày, những lúc chăn trâu dưới cơn mưa tầm tã trong cái lạnh vô cùng khắc nghiệt của mùa Ðông đất Bắc. Giật mình tỉnh giấc sau những tiếng ú ớ kinh hoàng, mồ hôi chảy ra như tắm, nhìn ra ánh đèn đường sáng choang, đứng dậy sờ soạng mọi vật chung quanh tôi mới yên tâm là mình và gia đình đang sống an toàn nơi xứ Mỹ. Thì ra tất cả những nỗi kinh hoàng ấy đều thuộc về quá khứ.
Mỗi sáng hằng ngày sau khi đã chuẩn bị cơm nước sẵn sàng, bọn tôi thường hay tụ tập tại nhà một anh bạn trên đường Lakeview để chờ đợi một vài người Mỹ nào đó đến từ các nông trại xa xôi bốc đi và trả về lúc chạng vạng tối. Thù lao mỗi ngày như vậy là 30 đô. Công việc làm thì đủ thứ như hái bắp, trồng cây, bón phân, làm cỏ sạch sẽ nông trại, chẳng có gì vất vả lắm so với những ngày tháng lao động tù đày. Sau một thời gian nhờ dành dụm và tiền cho mượn của bà chị bước đầu tạo được một chiếc xe, và rồi có thể tự túc đi làm. Hôm thi lấy bằng lái xe tôi chẳng gặp một trở ngại nào, nhờ bài “học tủ” của những người đi trước. Chỉ một vòng quanh đường phố vào parking là xong, không có de tới de lui vất vả như ở Texas này. Nhờ có một ít Anh văn từ những ngày du học, tôi lái xe để đi xin việc khắp nơi ở các Nursery (vườn ươm cây) rất dễ dàng, họ cần nhân công và chúng tôi sẵn sàng lao động. Có nơi trả lương giờ theo giá tối thiểu (minimum wage) có nơi giao khoán.
Dọc theo đường 10 từ Dake Young, Lakewood, Lakeview, Garden Creek, đến Battle Creek chẳng nơi nào chúng tôi từ chối. Tôi được coi như là trưởng nhóm làm khỏe, chẳng ngại khó khăn và giao dịch rõ ràng. Mỗi chiều Thứ Sáu hằng tuần là ngày vui nhất, nhận check ở nhà bank, chia tiền, lai rai một vài lon bia, hầu có những giây phút gọi là “đủ để yêu đời.” Bà vợ tôi dù không quen mưa nắng cũng cố gắng theo tôi, và các con thỉnh thoảng cuối tuần ngoài giờ học cũng gia nhập. Trong vòng 6 tháng tôi đã trả dứt nợ chiếc xe và còn dư chút đỉnh để gửi về Việt Nam cứu đói ở quê nhà.
Nursery Battle Creek nằm giữa khoảng rừng cây trên xa lộ. Nghe đâu đây là bãi chiến trường nơi xảy ra nhiều trận đánh đẫm máu của thời chiến tranh Nam Bắc Mỹ. Bà chủ Ann khoảng trên dưới 34-35 tuổi, người mập cao lớn vạm vỡ như một lực sĩ cử tạ, đầu chỉ lơ thơ một ít tóc, thường được che bằng khăn choàng mỏng màu vàng. Tiếng nói rổn rảng khàn khàn như một vị chỉ huy đầy uy quyền trước đám người làm công nhỏ bé vào mỗi sáng khi giao việc.
Mụ nói thao thao bất tuyệt với giọng Texas rất khó nghe bên cạnh anh chồng hờ Jessy đẹp trai, nhưng bị vợ bỏ, mà mụ đã mang về từ đâu đó trong chuyến đi biển vừa rồi. Jessy hay đùa giỡn với tôi và thường kể cho tôi nghe đủ mọi thứ trên đời về mụ, mụ đã qua 7 người đàn ông nhưng không có ai sống được với mụ hơn 6 tháng. Mụ ao ước một đứa con, nhưng chẳng anh nào có tài làm được việc đó. Tình thương của mụ dồn cả vào đàn chó, khoảng trên dưới 20 con đủ loại, to có nhỏ có. Chúng thường hay quấn quít tung tăng dưới chân mụ. Mỗi khi mụ đi đâu về mụ ôm đàn chó, vuốt ve mơn trớn một cách thật âu yếm, ai cũng nghĩ mụ là người đàn bà đầy từ tâm bác ái. Nhưng sự thật không phải vậy, mụ trả tiền cho bọn tôi rất keo kiệt và thường hay ăn gian cắt bớt giờ! Nhiều lúc trời gầm chuyển mưa nhưng mây đã tan hết, mụ ra lệnh cho chúng tôi phải đi về mặc dầu chỉ mới bắt đầu công việc một hai tiếng đồng hồ, mụ không cần biết là chúng tôi phải lái xe vất vả lắm mới đến đây từ sáng sớm.
Phụ trách công việc là một chàng trung niên Mỹ đen tên Duke, hắn được coi như Supervisor rất tốt, ít nói và thường hay lắc đầu, bất mãn tỏ thái độ khó chịu với mụ trước mặt bọn tôi. Hắn rất khỏe như một lực sĩ khoảng 40 tuổi; vợ hắn là Jane cũng Mỹ đen khoảng 28. Thỉnh thoảng hắn vắng mặt, tôi thường bắt gặp Jessy hay theo tán tỉnh, một vài lần bọn tôi thấy hai người từ trong rừng rậm chui ra. Có ông Trời mà biết họ đã làm gì? Duke rất ghen, hầu như chẳng bao giờ nói chuyện với Jessy dù chỉ nụ cười xã giao nửa miệng. Với con mắt tinh ranh của mụ dư sức biết được những gì đã xảy ra tại trang trại này, nhất là chuyện léng phéng của gã si tình Jessy. Duke vốn là người sinh ra và lớn lên từ các nông trại, vì vậy anh rất thông thạo đủ thứ. Với sức mạnh sẵn có, anh là người mẫu lý tưởng mà các chủ trang trại cần đến. Không biết anh đã làm công cho mụ bao lâu rồi nhưng trông nét mặt và thái độ của anh hằng ngày, ai cũng đoán anh là một người bất mãn. Một lần sau cơn cãi vã với mụ anh đã từ giã ra đi, sau này chúng tôi mới biết là anh sang làm ở Dake-Young, một nursery khác bên cạnh bề thế hơn.
Chuyện Duke ra đi tôi cũng đoán biết từ lâu, vì lý do mụ chủ Ann là một người nóng nảy, thiếu tế nhị, vô cùng keo kiệt, và chính đáng hơn là hắn không muốn mất cô vợ trẻ đa tình Jane. Không có hắn, tôi là người duy nhất được mụ chủ để ý thay thế. Việc đầu tiên là mụ giao cho tôi một chiếc motocycle để chạy kiểm soát vòng quanh trong trại, một xe ủi đất để mang đất đi đổ từ nơi này sang nơi khác cùng vô số các công việc khác như thay thế các ống nước tưới bị bể, lắp ráp và sửa chữa các nơi rò chảy, giao công việc cho công nhân, những việc làm hoàn toàn mới lạ đối với tôi. Tự biết mình chẳng có khả năng gì, nhưng cứ nhắm mắt nhận đại tới đâu hay tới đó, lỗi chẳng phải tại nơi mình. Khoản tiền mụ trả cho tôi cũng được đề cập tới là hơn mỗi công nhân ngày 10 đô la. Chừng nào thạo việc mụ sẽ tăng lương.
Thỉnh thoảng thì tôi cũng có tháp tùng cùng Jessy chở cây đi bán theo đơn đặt hàng, khi thì về Texas, có lúc đến Tennessee. Những lúc bán được khấm khá thì mụ vô cùng niềm nở, miệng cười toe toét. Còn khi ế ẩm thì mặt mụ hầm hầm như bị ai cướp của, tiền bạc chẳng muốn trả cho công nhân. Nhiều lúc rảnh việc mụ thường gọi tôi vào văn phòng riêng để tâm sự, mụ kể cho tôi nghe chuyện mụ đã bị cú sét ái tình với Jessy như thế nào, chuyện Jessy tán tỉnh nàng Jane, chuyện của những người tình cũ đã bị mụ cho đi chỗ khác chơi. Mụ dặn tôi rất kỹ, hãy cảnh giác Jessy vì hắn đang để ý đến con gái của tôi.
Mụ hỏi tôi về chiến tranh Việt Nam, về những người lính Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến đó, về cha mụ đã chết không toàn thây ở Khe Sanh khi mụ còn rất bé chưa biết gì... Mỗi lần như vậy tôi thấy nét mặt mụ buồn, nước mắt rưng rưng chảy. Mụ bảo rằng, có một ngày thuận tiện thế nào mụ cũng sẽ đến Việt Nam. Mẹ mụ thường hay chào tôi với một thái độ thật thiện cảm, bà ta thường bảo tôi là một người siêng năng thật thà rất đáng tin cậy. Uy tín tôi càng lúc càng lên và vì vậy khi nào mụ cần bao nhiêu nhân công là nhờ tôi tìm giùm. Việc làm ở đây, chỉ nhiều vào mùa Hè, còn mùa Ðông các cây kiểng đều phải dời vào nhà kiếng (Green house) nên bị ế ẩm phải chờ vào mùa Xuân tới.
Vào một buổi sáng đẹp trời, sau khi giao công việc cho mọi người xong thì mụ chủ Ann kêu tôi vào nhà, chỉ vào đàn chó Berger mới đẻ của mụ. Mụ bảo vì tôi là người thân, biết thương yêu súc vật nên mụ có nhã ý tặng cho tôi một con chó đực, giống Berger của Pháp. Mụ bảo đây là giống chó khôn ngoan quý hiếm rất mắc tiền. Vì đã lỡ nhiều lần để làm vừa ý mụ trong các câu chuyện làm quà, tôi cũng thường bảo là ở Việt Nam chúng tôi cũng rất hay quý mến thú vật. Chúng tôi cũng có nhiều sở thú và giống chó là giống rất khôn ngoan luôn trung thành với chủ nên không thể không nhận lời. Tin này làm cho vợ tôi buồn năm phút, còn bạn bè thì bảo tôi đang rước “của nợ” về nhà.
Bấy giờ vào khoảng cuối tháng 12 trời rất lạnh, tôi cột con Berger ở sau nhà hằng ngày, bao nhiêu cơm thừa canh cặn tôi đều đổ dồn cho nó theo kiểu Việt Nam. Nhờ vậy mà nó lớn trông thấy. Chỉ sau một tháng trời người bạn láng giềng của tôi là một bà già Mỹ trắng, bà thường phàn nàn là không nên đối xử với súc vật như vậy, phải mua thực phẩm đàng hoàng, phải có chuồng cho nó ở thật ấm, phải mang nó đi chích ngừa, phải làm thẻ bài cho nó đeo cùng bao nhiêu thứ phiền toái khác. Tôi bèn đi màn năn nỉ với bà ta, vì tôi mới đến cuộc sống khó khăn phải đi làm vất vả hằng ngày nên chẳng có điều kiện săn sóc nó, tôi xin biếu tặng bà nhờ nuôi hộ. Bà ta nói là bà cũng gặp khó khăn vì sức khỏe già yếu với ông chồng hay bệnh tật liên miên, thôi thì hãy để bả giúp đỡ trông coi giùm mỗi ngày trong lúc tôi đi làm và trả lại tôi lúc chiều tối theo kiểu “babysit,” với điều kiện là tôi phải mua thực phẩm cho đàng hoàng ở Petmart giao cho bà.
Chẳng có chọn lựa nào khác hơn, tôi đành nghe theo lời bả, nhưng trong lòng tôi rối như tơ vò vì bị bà vợ cằn nhằn suốt ngày đêm, thân mình còn không xong có đâu lo tới chó. Một vài người còn hù dọa thêm, nếu nó cắn ai thì kể như tôi bị sạt nghiệp, chẳng có tiền đâu mà lo thang thuốc cho họ. Ở Mỹ chớ chẳng phải Việt Nam, léng phéng coi như ở tù như chơi về tội ngược đãi súc vật. Chẳng lẽ đem trả lại cho mụ ta thì mặt mũi nào còn gì, thôi thì đành ráng chịu trận vậy. Khi Berger của tôi khoảng 2 tháng rưỡi thì nó trông vềnh vàng và coi bộ dữ tợn lắm, tôi đi chợ Walmart tìm mua được sợi dây xích thật chắc và một vòng cổ bằng da trên dưới 20 đô la thay cho chiếc dây thừng cũ kỹ sẽ bị đứt không biết lúc nào.
Ăn Tết xong thời tiết bắt đầu ấm áp, chúng tôi lại tiếp tục công việc làm; mỗi lần nói chuyện mụ chủ thường hay hỏi thăm sức khỏe về chú Berger của tôi. Tôi bảo rằng hiện nó rất ngoan và mau lớn, lông nó màu vàng óng ánh, mắt nó to, tai nó vảnh trông rất oai hùng. Mụ bảo thế nào mụ cũng ghé thăm vào những dịp cuối tuần. Mụ còn khen tôi là người có tay nuôi chó. Mỗi lần như vậy tôi cảm thấy bủn rủn tay chân.
Vì lao động quá sức, liên miên ngay cả khi thời tiết rất lạnh nên sức khỏe suy sụp dần dần, và uống nước bừa bãi ở các vòi tưới cây được rút lên từ các hồ dơ bẩn, tôi đã bị chứng tiêu chảy kinh niên... cần phải nghỉ ở nhà để đi khám bệnh.
Hôm khám ở bệnh viện Hueylong Hospital, vị bác sĩ nói rằng nghi ngờ tôi bị ung thư ruột, cần phải có thời gian xét nghiệm lâu dài. Tôi được đi soi ruột, chụp hình hằng chục tấm đủ mọi thế ngang dọc, cuối cùng họ bảo tôi chẳng có bệnh gì cả, nhưng phải ráng gìn giữ sức khỏe đừng làm những việc nặng nề. Bà vợ tôi thì cứ nằng nặc không chịu để cho tôi tiếp tục làm ở nursery nữa, bà muốn đi sang tiểu bang khác, nơi này âm u không có tương lai cho con cái. Vả lại mang tiếng đi Mỹ lại còn cực khổ hơn ở Việt Nam thì đi Mỹ làm gì? Tay bà xã tôi cũng bị nổi đầy mụt phồng lên và dị ứng vì phân bón hóa học. Người bạn tôi cùng quê đến Mỹ theo diện HO đã gọi tôi hằng đêm và hứa sẽ giúp đỡ nếu tôi sang Arlington, Texas.
Dạo ấy ở đây nghề may rất thịnh hành, cứ chịu khó lãnh đồ về nhà mà đạp thì bao nhiêu tiền cũng có, không cần tiếng Mỹ gì cả vì đa số các chủ shop may là người Việt Nam. Rất hấp dẫn nên tôi đã làm một chuyến thăm dò trước từ Pineville theo con lộ 49 về hướng 20 West Fort Worth không đầy 6 tiếng đồng hồ.
Hôm chuẩn bị đi cũng là lúc bà chủ Ann gọi điện thoại và hứa cuối tuần sẽ đến thăm tôi, luôn tiện mụ ta sẽ chiếu cố đến con Berger xem nó to lớn cỡ nào. Bấy giờ là ngày Thứ Ba và gia đình tôi sẽ lên đường vào ngày Thứ Bảy, mọi đồ đạc đã sẵn sàng trên chiếc Pontiac 87 bốn máy, nhưng tôi rất lúng túng không biết giải quyết về con Berger như thế nào, mang nó đi sao tiện khi mà thân mình còn chưa biết ra sao... khi đến chỗ ở mới. Cuối cùng rồi mọi việc cũng xong, tôi năn nỉ gởi nhờ nhà một ông bạn và hứa sẽ trở về nhận lại khi ổn định nơi ăn chốn ở. Nhưng chỉ 2 tuần sau đó khi gọi điện thoại, ông bạn tôi nói khỏi cần lo nghĩ về con chó nữa vì anh ta đã mang thả ngay giữa chợ chỗ đông người rồi. “Mình không có khả năng nuôi thì để người khác nuôi, nó không chết đâu.” Luôn tiện anh ta cũng cho tôi biết là Jessy cũng đã bị mụ chủ tống cổ đi rồi.
Ðó là những mẩu chuyện về chú “Tuất” nơi xứ người để đón mừng năm Bính Tuất sắp tới, tôi xin được phép gởi đến tất cả quý vị về “nàng Tuất” của tôi trong những ngày tháng tù đày. Một kỷ niệm mà tôi không thể nào quên được, mỗi lần nhắc đến là một lần xúc động thật sự, bởi tôi thấy mình đã không làm tròn bổn phận đối với một con vật đầy tình nghĩa, rất trung thành và hết mình với chủ. Tôi đã thấy hối hận khi tôi phải bỏ nó lại cho một người quen, vì không thể mang theo trên chuyến tàu thống nhất xuôi Nam năm 1987 bằng hành trang của một người tù. Dù sao thì tôi cũng xin được phép bắt đầu.
Cuối năm 1985 đa số tù nhân chính trị được thả về gần hết, phân trại 4 Bình Ðiền chỉ còn vỏn vẹn khoảng 30 người để phụ trách phần nông nghiệp, công việc chính là sản xuất lúa gạo cho toàn vùng trên khoảng 20 hecta ruộng khô vừa mới được khai hoang. Ðể điền vào chỗ khiếm khuyết lao động đó, tổng trại tù Bình Ðiền đã bổ sung thêm một đội hình sự 6 người thuộc đủ thành phần xã hội như vượt biên, bán bãi, cướp giật, nhảy tàu, tham ô, hiếp dâm, xì ke ma túy... Họ đa số còn rất trẻ, có sức khỏe, ngang tàng bướng bỉnh không chấp hành nội quy nghiêm chỉnh như các anh em tù chính trị bọn tôi. Lúc cao hứng thì họ làm việc hết mình, cày bừa đốn cây đốn củi... tất cả đều được việc năng suất, còn khi bất mãn thì khai bệnh, phá phách bướng bỉnh, nhà kỷ luật không ăn thua gì đối với họ. Nhờ vậy mà anh em tù chính trị bọn tôi ít bị chiếu cố hơn, biết mình lớn tuổi có trình độ văn hóa, lại là cán bộ sĩ quan của một chế độ bị xóa tên và đang bị trả thù, nên phải sống đàng hoàng. Tôi được chỉ định phụ trách chăn nuôi cho cơ quan ở một cái chòi tranh nằm ở phía bên ngoài trại, thay thế Ðại Úy Cảnh Sát Nguyễn Hoa vừa mới được thả về sau hơn 10 năm tù. Công việc hằng ngày là trông coi bầy gà trên dưới 60 và đàn thỏ khoảng 30 con. Ðây là thời gian may mắn nhất trong cuộc đời tù tội của tôi, tôi không còn sợ đói khát nữa vì có số lúa lép của đàn gà. Mỗi đêm chịu khó ngủ trễ hay thức sớm vài tiếng đồng hồ là tôi có thể kiếm 2 lon gạo bằng cách bỏ vào cối dùng chày giả nát số lúa lép này.
Rau cỏ được “cải thiện” dễ dàng hơn vì tôi được tự do đi vào rẫy để tìm kiếm thức ăn về nuôi thỏ. Tôi cũng tự mình tạo ra được 5-7 cần câu cắm... để rải rác khắp các suối, thường thì ngày nào cũng được một vài con cá phụ thêm vào phần thức ăn thiếu thốn của mình. Tôi có thể tự do quyết định về số trứng gà do hơn 20 con gà mái đẻ cứ giành ổ liên tục. Nói chung cuộc đời tù tội của tôi gặp vận hên nên được bay lên như diều gặp gió. Các tên cán bộ vệ binh tỏ ra thân thiện với tôi hơn vì thỉnh thoảng họ cũng cần vài trứng gà luộc để bồi dưỡng.
Một buổi chiều cuối năm, sau khi nhận được phần ăn đặc biệt của trại dành cho 3 ngày Tết, trong cái lạnh lẽo giá buốt của mùa Ðông, tôi đang ngồi nhen bếp lửa để chuẩn bị bữa cơm chiều thì tên vệ binh “Thọ” mang đến cho tôi một con chó. Hắn bảo đây là giống chó rất khôn, quí hiếm mà hắn vừa xin được ngoài xóm dân, nhờ tôi nuôi hộ. Nó có đôi mắt tinh ranh và 12 đeo, nơi hai bàn chân trước, thuộc loại chó săn nòi, có thể giúp cho tôi bảo vệ đàn gà, hầu tránh lũ chồn cáo thường hay rình rập chờ mồi ở các bụi rậm quanh các chuồng gà. Việc đầu tiên là tôi từ chối vì một mình còn đói lên đói xuống thì làm sao săn sóc nó cho được. Nêu lý do là nhà tôi quá xa, bà vợ thì đang gặp khó khăn về kinh tế, nhiều khi cả năm mà chẳng có thăm nuôi một lần nào, chỉ thỉnh thoảng nhận ít quà nhờ qua trung gian thân nhân của bạn tù cùng trại. Ngày xưa ở nhà tôi cũng rất thích và thương chó lắm nhưng trong hoàn cảnh này đành chịu. Hắn cứ nài nỉ bảo rằng cứ nuôi tạm cho hắn một vài tháng chờ khi nào có phép hắn sẽ mang về nhà. Thức ăn cứ để cho hắn lo, cứ yên tâm!
Ðang mùa thu hoạch, lúa đem về phơi khô đầy kho, hắn đã dành riêng phần lúa “chắc” cho tôi trong số lúa “lép,” tôi cứ thế mà gánh về. Nếu sự việc bị đổ bể ra không phải lỗi tại tôi, hắn là người chịu trách nhiệm. Vả lại cũng chẳng có gì nhiều, tôi kiếm vừa đủ phần gạo hằng ngày mà không cần gia đình phải tiếp tế.
Trong tuần lễ đầu để làm quen, con Misa được buộc chặt ngay chân giường dưới chân tôi ngủ. Nó ăn sạch các thức ăn cặn bã của tôi từ vỏ khoai lang, củ sắn đến các xương xẩu được tiếp tế từ cơ quan do tên Thọ mang đến. Chẳng mấy chốc trông nó lớn nhanh và rất khôn ngoan sau vài ba tháng. Vì ở giữa đồng không mông quạnh nên việc vệ sinh cá nhân của tôi rất thoải mái “nhất quận công, nhì ị đồng”; mỗi lần giải quyết vấn đề tôi cứ đào lên một nhát cuốc rồi thẩy vào đó lấp lại là xong. Cho đến một ngày kia, tôi phát giác ra rằng các hố phân tôi lấp đều bị cào xới lên và... biến đâu mất hết. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính Misa là thủ phạm chứ chẳng ai. Ngay ngày hôm sau vào buổi sáng sớm tôi cũng lập lại việc vệ sinh như mỗi lần trước và ngồi chờ xem Misa xuất hiện, nó đến nơi hố xí và xơi một cách ngon lành sạch sẽ. Thủ sẵn roi mây cầm ở tay, tôi kêu lại đè đầu nó xuống thật sát, quất mạnh và bảo rằng “Mầy không được ăn cứt nghe chưa!” Misa bị té đái kêu lên ăng ẳng, vừa chạy vừa cụp đuôi trông có vẻ sợ sệt dễ thương lắm. Ấy vậy mà chỉ một lần duy nhất này, từ đó về sau, nó không còn dám nữa dù tôi kêu và dụ nó, nó cũng chẳng dám làm.
Ngày qua ngày tình cảm của tôi và nó càng khắng khít hơn, tôi cảm thấy thiếu vắng nếu có đêm nào nó đi chơi đâu đó về trễ sau tiếng kẻng báo ngủ. Cứ mỗi lần tôi xách đòn gánh lên vai thì hầu như Misa đã có mặt sẵn sàng theo tôi đi bất cứ đâu. Một lần tôi đang chui vào bụi rậm để cắt dây bìm bìm về cho thỏ, thì nghe tiếng kêu oẳng oẳng của nó từ bờ đê kế bên, tôi biết là có “vấn đề” nên cầm rựa chạy tới, thì quả thật một con “trăn” to tổ bố hơn cườm tay đang khoanh trên một cành cây. Mừng quá mất bình tĩnh, sẵn cái “rựa” trên tay tôi chặt một phát, rồi 2 phát nhưng chẳng thấm vào đâu, con trăn chuyển mình từ từ bò đi nơi khác mất dạng trước sự bất lực của tôi.
Con Misa nhất định chẳng chịu thua, cứ chạy khè lỗ mũi ra ngửi, kêu xịt xịt, nó chạy vòng quanh đánh hơi và sau 15 phút nó tìm lại được chỗ mới của con trăn nằm. Sẵn một tên vệ binh có súng đi gần ngoài đường, tôi nhờ anh ta bắn cho một phát, con trăn oằn oại trên vũng máu tươi. Buồn ngủ gặp chiếu manh, tên vệ binh này mang về nhà bếp cơ quan trại để rồi cuối cùng tôi và Misa cũng được chia một phần ăn ngon lành.
Vào một buổi trưa hè trời rất nóng vì những cơn gió từ miền Hạ Lào thổi vào, tôi đang thiu thiu ngủ, bỗng có tiếng đàn gà cục tác thật to. Giật mình tỉnh dậy tôi phát hiện một con rắn hổ mang to bằng cán cuốc, thật dài, bò vào ổ gà đang ấp trứng. Phản ứng cấp thời, tôi chụp lấy chiếc đòn gánh kế bên đập thật mạnh vào nó nhưng chẳng thấm vào đâu. Bất lực, tôi gọi to “Misa, Misa,” nó từ đồi sau phóng về vồ lấy con rắn bằng 2 chân trước, dùng miệng vừa cắn vừa sủa dữ dội. Trong vòng ít phút là con rắn chết tươi.
Cuối năm 1986, trùng hợp với tin đồn từ nhiều thân nhân đến thăm tù, trại bắt đầu gọi từng anh em chúng tôi để trích ngang lý lịch lại. Các thầy tướng số đoán mò rằng thế nào anh em chúng tôi cũng sẽ được người Mỹ đến rước, đêm nào trước khi ngủ mọi người đều ở thế sẵn sàng. Một sáng đẹp trời nào đó những đoàn trực thăng sẽ lù lù xuất hiện từ biển Ðông bốc chúng tôi như đã từng bốc trong các cuộc hành quân. Ngày nào càng gian khổ, càng khó khăn chúng tôi càng hy vọng. Bọn tôi chỉ lao động cầm chừng, năng suất cũng không mà sản lượng cũng chẳng có. Tên cán bộ “Phố” từ đoàn đến xỉ vả anh em chúng tôi không hết lời “Mỹ mà rước các anh à! Ðừng tưởng bở. Các anh còn cái ‘xác phàm’ không thì nó rước các anh làm gì? Ðể phơi khô làm mắm à! Hãy an tâm cải tạo để sớm được cách mạng khoan hồng, không ai cứu các anh bằng chính các anh.” Chúng tôi đang bay bổng như chiếc diều gặp gió, chẳng bao giờ tin những gì hắn nói “đừng tin những gì CS nói mà hãy trông vào những gì CS làm.” Người bạn tù tên Giảng của chúng tôi mà anh em thường gọi là “Thầy,” nhờ biết chút ít bói toán tử vi mà các tên vệ binh cũng như cán bộ trại thường có những ưu đãi đặc biệt. Thầy bảo rằng cứ vững tin ngày mai trời lại sáng.
Tôi càng thấy sung sướng và tin tưởng thêm khi tên cán bộ Thọ đến mang Misa đi gửi nuôi một chỗ khác. Việc vắng mặt Misa đã làm tôi thấy mình như thiếu một cái gì, nhất là hằng đêm sau tiếng kẻng báo ngủ không còn nghe tiếng lí nhí của nó khi chui xuống gầm giường.
Khoảng một tháng sau cũng trong sự chờ đợi hy vọng hằng ngày, vào một buổi sáng rất đẹp trời, trong lúc tôi đang hì hục cuốc đất trồng khoai, từ bên kia bờ suối Misa hối hả tức tốc trở về với chiếc xích còn nguyên trên cổ, mình ướt sũng, mừng rỡ la hét chạy tới nhảy chồm vào tôi nhiều lần như đứa trẻ thơ vừa gặp lại mẹ sau nhiều năm trời xa cách. Quá xúc động, tôi thấy nước mắt mình ứa ra tự lúc nào và nghẹn ngào ôm nó vào lòng, an ủi vỗ về: “Thôi nhé, Misa từ đây hãy ở đây, đừng đi đâu hết nhé, tôi cũng nhớ Misa lắm mà.” Tên trưởng trại hay tin nó về cũng có đến thăm và ông ra lệnh cho tên cán bộ Thọ hãy để Misa cho tôi giữ. Từ đó về sau Misa chẳng rời tôi nửa bước, thỉnh thoảng cũng có đi chơi đâu đó, nhưng lúc nào cũng về vào đúng giờ kẻng ngủ. Cho đến một ngày kia tên trại trưởng đến báo cho tôi biết là Misa phá lắm, nó cắn chết những con dê con vừa mới đẻ tại chuồng, ông bảo tôi là phải “xích nó” lại, nếu không sẽ làm thịt nó. Tôi hơi ngạc nhiên về vấn đề này, vì từ lâu nay, gà thỏ con chung quanh chuồng trại chẳng khi nào dám ăn một con mà ngược lại Misa còn canh giữ bảo vệ mỗi khi nghe đàn gà cục tác đâu đó.
Sau thời gian bị kỷ luật, Misa lại được thả ra và vẫn đi về đúng giờ. Trời mùa Ðông rất lạnh, tôi thường ngồi nhen bếp lửa trong nhà mỗi đêm vừa tránh muỗi vừa sưởi ấm trước khi chui vào mùng tìm cho mình giấc ngủ. Misa lại xuất hiện với cái miệng đầy máu tươi cùng một miếng thịt tha về thả ngay bếp lửa. Lần này thì tôi thật sự nghi ngờ chính Misa là thủ phạm giết chết các chú dê con. Tôi giữ lại miếng thịt, mặc dầu rất thèm cho vào bếp lửa để nướng. Sáng hôm sau tôi dẫn Misa lại hiện trường, xác chú dê con còn nằm lăn lóc trong góc chuồng. Cũng như lần trước tôi đè đầu nó xuống, đánh cho một trận khủng khiếp đến nỗi nó phải té đái, tiếp tục bị giam kỷ luật.
Thời gian cứ mãi trôi qua, tôi và Misa vẫn là đôi bạn hằng ngày, Misa đã cho tôi niềm an ủi trong kiếp sống đày đọa thiếu vắng lạnh lùng. Một tên vệ binh trại, sau 7 năm vắng mặt nay trở về, hắn đã phải thốt lên lời ai oán, “Tại sao lại giam các anh lâu thế nhỉ? Tôi tưởng các anh đã về hết rồi chứ!” Dù sao đây cũng là lời nói thật của một con người còn chút ít lương tâm, mọi vấn đề khác ngoài tầm tay và khả năng của hắn.
Từ lâu tôi chẳng có tin tức gì của gia đình. Lần cuối, năm 1986, bà xã tôi có ra thăm nhưng nửa đường phải quay về vì bị mất hết tiền bạc giấy tờ do cướp giật trên tàu. Trong một lá thư viết cho tôi, vợ tôi cho biết là đang ốm rất nặng và rất tuyệt vọng trong sự mỏi mòn chờ đợi ngày tôi về. Còn tôi thì chẳng làm gì khác hơn, ngoài chuyện viết thư an ủi hứa hẹn một ngày mai, mà tự tôi cũng chẳng biết đến bao giờ. Tôi tự an ủi lấy mình, trong tất cả sự đau khổ tôi là kẻ may mắn nhất, nhờ vào đức tin và sự cầu nguyện mỗi ngày. Tôi vẫn tiếp tục sống, ăn và vẫn thở bên cạnh Misa, người bạn tù chung thủy của tôi.
Cuối cùng rồi việc gì tới cũng phải tới, tôi được báo tin là đã có giấy ra trại vào những ngày cuối cùng của năm 1987. Ðó là một buổi chiều đầy kỷ niệm khi nắng hoàng hôn vừa tắt lịm dưới chân đồi, tên quản giáo cùng vệ binh Thọ đến ra lệnh cho tôi sắp xếp hành trang, mọi việc hãy bàn giao người khác, sang Bộ Chỉ Huy Ðoàn để làm thủ tục xuất trại. Thay thế tôi là anh Lang, trung úy cảnh sát, đang giữ đàn bò cho trại, anh nhỏ người nhưng đầu anh thì quá to, chẳng bao giờ chịu khuất phục dưới bất cứ hoàn cảnh nào. Việc anh không được thả về cùng bọn tôi trong đợt này cũng không ngoài lý do đó, mặc dù cấp bậc và chức vụ thấp hơn tôi.
Tên Thọ ra lệnh cho tôi gọi Misa về vì hắn sợ tôi sẽ dẫn Misa theo. Nghe tiếng tôi, Misa từ đâu đó hớt hãi phóng về mừng rỡ quấn quít dưới chân. Ôm lấy nó mà giao lại cho tên Thọ, tôi chẳng đành lòng nhưng trong hoàn cảnh này đành phải chịu, không biết Misa có hiểu giùm tôi trong thân phận của một người tù!
Lần ra trại này cũng được khoảng trên chục người, toàn là tù chính trị, họ bảo rằng chúng tôi được ân xá vào dịp Tết sắp tới. Nhận lại số tiền đã được ký gửi từ nhiều năm trước, thời ấy tương đương với 2 chỉ vàng mà bây giờ sau bao lần đổi tiền chỉ còn tương đương vài lon gạo. Ðây là cuộc cách mạng vĩ đại nhất mà chế độ Cộng Sản đã đem đến cho toàn dân miền Nam! “Xin cám ơn bác Hồ, xin cám ơn cách mạng.”
Cầm tờ giấy ra trại trong tay, tôi cứ ngỡ mình đang sống trong một giấc mơ. Bao nhiêu năm đợi chờ mỏi mòn, bao nhiêu năm bị đày đọa khổ ải, bao nhiêu nhung nhớ phân ly giờ là lúc tôi đang lần mò tìm về hạnh phúc, một thứ hạnh phúc vô cùng quý giá mà biết bao bạn tù tôi đã từng mơ ước, nhưng không may họ đã ngã quỵ dọc đường, họ đã không bao giờ có được dù một tí hy vọng mong manh trước khi nhắm mắt lìa đời. Lúc đi ngang qua con đường dẫn về trại để đến xóm dân tá túc qua đêm, tôi không sao cầm được những giọt nước mắt xót thương cho những người bạn đồng tù đang nằm yên bên phần mộ: của Kế, của Giỏ, của Nhơn, của Cát.... của những chiến hữu anh hùng đã sống và chết thật hiên ngang bất khuất. Tự nhủ lòng mình, một ngày nào đó nếu may mắn sống còn, chúng tôi có bổn phận phải vinh danh tưởng nhớ các anh.
Ðã hơn 12 giờ đêm, tôi vẫn không sao ngủ được nơi nhà một chiến hữu BÐQ đang định cư tại vùng kinh tế mới. Tôi trở lại trại để lấy lại một số thư gia đình mà lúc chiều vội vã tôi đã quên đi. Lang, người thay thế tôi vẫn còn thức và có lẽ chính anh cũng không thể nào chợp mắt được trước sự ra về của anh em chúng tôi. Tôi lại dặn dò anh một số công việc và nhất là phần lúa “chắc” tôi đã để riêng có thể giúp anh làm ra một số gạo đủ tạm sống qua ngày. Lúc ra khỏi chòi trại, vì nhớ quá tôi khẽ gọi “Misa, Misa!” Trong bóng đêm sâu thẳm, Misa nhảy tới chồm vào người tôi, có lẽ nó cũng cảm nhận rằng có một điều gì đó thật lớn đang thay đổi cuộc sống chúng tôi. Misa theo sát lấy tôi, chẳng rời nửa bước, nó ngủ ngay dưới chân giường nơi tôi nằm suốt đêm ấy.
Chuyến xe khách Bình Ðiền, Huế vào sáng ngày hôm sau có một người tù lặng lẽ trở về, bên tay còn dẫn theo một con chó. Mọi cố gắng để mang nó vào Nam cùng tôi đành bất lực, vì chẳng có phương tiện nào khác hơn ngoài chuyến tàu thống nhất Bắc Nam đông nghẹt cả người. Misa được gửi nhờ ở nhà một người quen, và tôi tự nhủ lòng mình sẽ trở ra để rước nó về. Buổi sáng lúc từ giã để ra bến tàu, tôi vẫn còn thấy Misa luẩn quẩn gặm xương nơi quán ăn trước cửa nhà trông thật tội nghiệp.
Hai tháng sau trong một thư nhận được từ Huế báo tin rằng Misa mải miết tìm tôi và cuối cùng thì mất dạng không thấy nó về. Ðiều này đã làm tôi thật buồn và ân hận là nếu tôi không mang nó về thành phố, thì nó vẫn sống bình an ở vùng núi đồi yên tĩnh đầy kỷ niệm, nơi nó được nuôi nấng và lớn lên. Nó có thể buồn đôi chút vì vắng bóng tôi, nhưng vì mọi việc sẽ phôi pha như trong cuộc sống bình thường một ngày như mọi ngày. Còn tôi, niềm đau này vẫn mãi ám ảnh trong suốt đời mình cho dù tôi ở bất cứ đâu và hoàn cảnh nào. Tôi đã không bảo vệ được một con vật biết sống hết nghĩa tình với chủ. Hình ảnh Misa sẽ giữ mãi trong tận đáy lòng tôi như là một vết thương nhức nhối. Ðời sống con người như những dòng sông rồi sẽ chảy ra biển cả, những lỗi lầm mắc phải sẽ là những rong rêu mãi còn đọng lại dưới chân cầu.
Bài viết này như một lời “tạ tội” với Misa.
Phạm Văn Tiền Qua những lo toan tất bật, cuối cùng rồi gia đình chúng tôi vẫn đến Mỹ được bình an vào tháng 7 năm 1991. Hôm đi làm dịch vụ tại đường Nguyễn Trãi Sài Gòn, vì sơ ý tôi đã bị kẻ gian rọc cái xách tay đựng hồ sơ và tiền bạc, cũng may chỉ bị mất hết tiền ở dưới đáy, còn lại giấy tờ kẹt ở phần trên. Tôi tự an ủi lấy mình, biết đâu trong cái rủi lại có cái may, vật chất tiền bạc chỉ là cái tạm thời mất rồi sẽ có lại, còn chuyện làm sao đến được xứ người mới là điều quan trọng.
Chúng tôi muốn xa lánh một chế độ mà con người, những viên chức, dân sự, quân đội cũ bị gạt ra ngoài xã hội, không đất sống, chúng muốn bắt giam, muốn thả, muốn hành hạ đánh đập lúc nào tùy ý, chẳng một luật lệ nào cả. Con em chúng tôi bị kỳ thị, phân chia thành phần lý lịch ở học đường, tài sản bị cướp một cách công khai bằng chánh sách đổi tiền gian trá để rồi người tư bản đã biến thành kẻ “mại sản” sống lây lất qua ngày. Ðó là những điều thật quái dị chỉ xảy ra duy nhất ở nước Việt Nam Cộng Sản.
Thấm thoát mà đã hơn 14 năm rồi, 10 năm lính, 12 năm tù tội thế là gần hết một đời người, thời gian trôi qua quá nhanh, cuộc sống vẫn đều đặn tiến về phía trước mỗi ngày. Tuổi trẻ luôn hướng về tương lai còn người già thì thường hoài niệm quá khứ.
Rời phi trường Tân Sơn Nhất vào một buổi sáng hè đẹp trời, lần đầu tiên sau nhiều năm dài gian khổ, tôi được sống lại cái cảm giác lâng lâng của những ngày xuôi ngược hành quân giữa khoảng trời cao trong xanh, nhìn dòng sông uốn khúc quanh những cánh đồng mênh mông đầy nước; vẫn những làng mạc ẩn hiện đó đây, đàn trâu gặm cỏ ngoài đồng cùng đoàn người lam lũ xuôi ngược trên sông. Tôi cảm thấy lòng mình se lại, nước mắt lưng tròng vì rồi đây tôi sẽ đánh mất tất cả! Lần đầu tiên và cũng lần cuối cùng tôi xin “từ biệt quê hương.”
Người Cộng Sản đã chiến thắng trong một cuộc chiến tương tàn, còn chúng tôi những chiến sĩ của thế giới tự do là kẻ bại trận. Bằng những vũ khí tối tân được trang bị, viện trợ từ nước ngoài “chúng ta chém giết chúng ta.” Ðồng Minh đã bỏ Miền Nam Việt Nam cho tập đoàn Cộng Sản quốc tế, bằng chuyến đi mật nghị của Tổng Thống Richard Nixon 1972 tại Trung Quốc, để rồi sau đó quân và dân Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử một cách oan uổng trong cuộc chiến tự vệ không còn cân sức.
Người CS vinh danh kẻ chiến thắng bắt đầu làm một cuộc cách mạng triệt để sau cùng hầu đưa dân tộc đến “thế giới đại đồng,” nơi đó không còn cảnh người bóc lột người vì tất cả đều là vô sản, không còn có gì để mất. Họ đập phá hết, vơ vét hết cái gọi là “tàn dư chế độ cũ” để làm lại từ đầu, kể cả con người. Và việc để những người tù “cải tạo” ra đi theo diện HO cũng không ngoài quốc sách đó.
Xin cám ơn đời! Cám ơn người đã cho tôi cuộc sống hôm nay. Gia đình tôi gần 4 người đến thị trấn nhỏ bé Pineville miền cực Bắc của tiểu bang Louisiana vào một buổi tối mùa hè trời nóng nực. Ra đón tại phi trường có văn phòng tị nạn USCC, người em bảo trợ cùng 5-7 gia đình đồng hương đã định cư ở đây từ trước. Hội thiện nguyện USCC do bà Mỹ trắng Linda và cô Thìn người Việt Nam đã giúp đỡ tận tình hoàn tất mọi thủ tục cho chúng tôi và nhanh chóng ổn định đời sống. Chương trình trợ cấp xã hội cho người mới tới từ 12 tháng nay chỉ còn 8 tháng mà thôi. Với tiền và chi phiếu thực phẩm hằng tháng cũng thừa đủ để gia đình sinh sống tạm thời nếu không muốn nói là thừa dư chút đỉnh, nếu biết dè sẻn theo kiểu Việt Nam.
Người dân địa phương ở đây rất lịch sự và tử tế sẵn sàng giúp đỡ người mới đến như chúng tôi. Ðiều này có thể dễ hiểu, đa số dân chúng rất ngoan đạo vì ở trong vùng này có rất nhiều nhà thờ. Chưa đến đây ai cũng nghĩ rằng Pineville là một thành phố có nhiều người Pháp bên cạnh những cái tên rất Tây như: Alexandria, La Fayette, Baton Rouge, New Orleans... nhưng sự thật không phải vậy, họ đa số là những người già Mỹ đã đến tuổi về hưu, không thích ồn ào náo nhiệt, muốn sống trong sự yên tĩnh hiền hòa.
Alexandria thì ngược lại, nơi cách Pineville 4 dặm về hướng Bắc, chỉ cần qua một chiếc cầu bắc ngang dòng sông nhỏ bé xinh xinh. Những người Mỹ da đen thường hay tụ tập ở đây, đa số không có việc làm, sống nhờ tiền trợ cấp của chánh phủ. Người ta đồn rằng đây là ổ của các tổ chức mua bán cần sa ma túy. Vào những buổi chiều tà, tôi thường đạp xe một mình đi về giữa hai thành phố này qua những ánh đèn khi màn đêm bắt đầu buông xuống, dòng sông bỗng trở nên tuyệt đẹp vô cùng với nhiều đàn dơi lượn lờ tìm mồi trên sóng nước.
Chúng tôi được đưa đi khám sức khỏe, trị bịnh và học Anh văn mỗi tuần 2 ngày vào Thứ Ba và Thứ Sáu. Bà giáo Spencer là một người cao lớn, Mỹ đen vạm vỡ và tốt bụng vô cùng. Nhà chúng tôi mướn ở là một căn hộ phân nửa Duplex cũ kỹ giá hằng tháng phải trả là $175 đồng, người chủ “take care” đủ mọi thứ, từ cắt cỏ đến mọi chuyện lặt vặt linh tinh khác. Có vô số gián và rất nhiều chuột chạy quanh quẩn trong nhà. Có tiếng còi xe lửa inh ỏi vào buổi sáng cùng một vài tiếng gáy của các chú gà rừng văng vẳng xa xa. Bà chị tôi từ Florida đến thăm và nhất quyết bảo chúng tôi phải dọn về với chị, ở đấy có job sẵn đang chờ. Tôi đành theo kế hoãn binh là hãy đợi cho hết thời hạn trợ cấp đã rồi tính sau vì “ở xa mỏi mắt, ở gần mỏi miệng,” không gì bằng tự lực cánh sinh.
Những ngày đầu tiên đến Mỹ, nhiều đêm nằm mơ thấy mình vẫn còn ở đâu đó tại Việt Nam, tôi đã bị bắt và vào tù trở lại, hình ảnh gánh củi trĩu nặng trên vai và hàng chục anh em tù bụng cồn cào đói lả cố gắng khiêng khúc gỗ nặng nhọc uể oải hàng chục km mỗi ngày, những lúc chăn trâu dưới cơn mưa tầm tã trong cái lạnh vô cùng khắc nghiệt của mùa Ðông đất Bắc. Giật mình tỉnh giấc sau những tiếng ú ớ kinh hoàng, mồ hôi chảy ra như tắm, nhìn ra ánh đèn đường sáng choang, đứng dậy sờ soạng mọi vật chung quanh tôi mới yên tâm là mình và gia đình đang sống an toàn nơi xứ Mỹ. Thì ra tất cả những nỗi kinh hoàng ấy đều thuộc về quá khứ.
Mỗi sáng hằng ngày sau khi đã chuẩn bị cơm nước sẵn sàng, bọn tôi thường hay tụ tập tại nhà một anh bạn trên đường Lakeview để chờ đợi một vài người Mỹ nào đó đến từ các nông trại xa xôi bốc đi và trả về lúc chạng vạng tối. Thù lao mỗi ngày như vậy là 30 đô. Công việc làm thì đủ thứ như hái bắp, trồng cây, bón phân, làm cỏ sạch sẽ nông trại, chẳng có gì vất vả lắm so với những ngày tháng lao động tù đày. Sau một thời gian nhờ dành dụm và tiền cho mượn của bà chị bước đầu tạo được một chiếc xe, và rồi có thể tự túc đi làm. Hôm thi lấy bằng lái xe tôi chẳng gặp một trở ngại nào, nhờ bài “học tủ” của những người đi trước. Chỉ một vòng quanh đường phố vào parking là xong, không có de tới de lui vất vả như ở Texas này. Nhờ có một ít Anh văn từ những ngày du học, tôi lái xe để đi xin việc khắp nơi ở các Nursery (vườn ươm cây) rất dễ dàng, họ cần nhân công và chúng tôi sẵn sàng lao động. Có nơi trả lương giờ theo giá tối thiểu (minimum wage) có nơi giao khoán.
Dọc theo đường 10 từ Dake Young, Lakewood, Lakeview, Garden Creek, đến Battle Creek chẳng nơi nào chúng tôi từ chối. Tôi được coi như là trưởng nhóm làm khỏe, chẳng ngại khó khăn và giao dịch rõ ràng. Mỗi chiều Thứ Sáu hằng tuần là ngày vui nhất, nhận check ở nhà bank, chia tiền, lai rai một vài lon bia, hầu có những giây phút gọi là “đủ để yêu đời.” Bà vợ tôi dù không quen mưa nắng cũng cố gắng theo tôi, và các con thỉnh thoảng cuối tuần ngoài giờ học cũng gia nhập. Trong vòng 6 tháng tôi đã trả dứt nợ chiếc xe và còn dư chút đỉnh để gửi về Việt Nam cứu đói ở quê nhà.
Nursery Battle Creek nằm giữa khoảng rừng cây trên xa lộ. Nghe đâu đây là bãi chiến trường nơi xảy ra nhiều trận đánh đẫm máu của thời chiến tranh Nam Bắc Mỹ. Bà chủ Ann khoảng trên dưới 34-35 tuổi, người mập cao lớn vạm vỡ như một lực sĩ cử tạ, đầu chỉ lơ thơ một ít tóc, thường được che bằng khăn choàng mỏng màu vàng. Tiếng nói rổn rảng khàn khàn như một vị chỉ huy đầy uy quyền trước đám người làm công nhỏ bé vào mỗi sáng khi giao việc.
Mụ nói thao thao bất tuyệt với giọng Texas rất khó nghe bên cạnh anh chồng hờ Jessy đẹp trai, nhưng bị vợ bỏ, mà mụ đã mang về từ đâu đó trong chuyến đi biển vừa rồi. Jessy hay đùa giỡn với tôi và thường kể cho tôi nghe đủ mọi thứ trên đời về mụ, mụ đã qua 7 người đàn ông nhưng không có ai sống được với mụ hơn 6 tháng. Mụ ao ước một đứa con, nhưng chẳng anh nào có tài làm được việc đó. Tình thương của mụ dồn cả vào đàn chó, khoảng trên dưới 20 con đủ loại, to có nhỏ có. Chúng thường hay quấn quít tung tăng dưới chân mụ. Mỗi khi mụ đi đâu về mụ ôm đàn chó, vuốt ve mơn trớn một cách thật âu yếm, ai cũng nghĩ mụ là người đàn bà đầy từ tâm bác ái. Nhưng sự thật không phải vậy, mụ trả tiền cho bọn tôi rất keo kiệt và thường hay ăn gian cắt bớt giờ! Nhiều lúc trời gầm chuyển mưa nhưng mây đã tan hết, mụ ra lệnh cho chúng tôi phải đi về mặc dầu chỉ mới bắt đầu công việc một hai tiếng đồng hồ, mụ không cần biết là chúng tôi phải lái xe vất vả lắm mới đến đây từ sáng sớm.
Phụ trách công việc là một chàng trung niên Mỹ đen tên Duke, hắn được coi như Supervisor rất tốt, ít nói và thường hay lắc đầu, bất mãn tỏ thái độ khó chịu với mụ trước mặt bọn tôi. Hắn rất khỏe như một lực sĩ khoảng 40 tuổi; vợ hắn là Jane cũng Mỹ đen khoảng 28. Thỉnh thoảng hắn vắng mặt, tôi thường bắt gặp Jessy hay theo tán tỉnh, một vài lần bọn tôi thấy hai người từ trong rừng rậm chui ra. Có ông Trời mà biết họ đã làm gì? Duke rất ghen, hầu như chẳng bao giờ nói chuyện với Jessy dù chỉ nụ cười xã giao nửa miệng. Với con mắt tinh ranh của mụ dư sức biết được những gì đã xảy ra tại trang trại này, nhất là chuyện léng phéng của gã si tình Jessy. Duke vốn là người sinh ra và lớn lên từ các nông trại, vì vậy anh rất thông thạo đủ thứ. Với sức mạnh sẵn có, anh là người mẫu lý tưởng mà các chủ trang trại cần đến. Không biết anh đã làm công cho mụ bao lâu rồi nhưng trông nét mặt và thái độ của anh hằng ngày, ai cũng đoán anh là một người bất mãn. Một lần sau cơn cãi vã với mụ anh đã từ giã ra đi, sau này chúng tôi mới biết là anh sang làm ở Dake-Young, một nursery khác bên cạnh bề thế hơn.
Chuyện Duke ra đi tôi cũng đoán biết từ lâu, vì lý do mụ chủ Ann là một người nóng nảy, thiếu tế nhị, vô cùng keo kiệt, và chính đáng hơn là hắn không muốn mất cô vợ trẻ đa tình Jane. Không có hắn, tôi là người duy nhất được mụ chủ để ý thay thế. Việc đầu tiên là mụ giao cho tôi một chiếc motocycle để chạy kiểm soát vòng quanh trong trại, một xe ủi đất để mang đất đi đổ từ nơi này sang nơi khác cùng vô số các công việc khác như thay thế các ống nước tưới bị bể, lắp ráp và sửa chữa các nơi rò chảy, giao công việc cho công nhân, những việc làm hoàn toàn mới lạ đối với tôi. Tự biết mình chẳng có khả năng gì, nhưng cứ nhắm mắt nhận đại tới đâu hay tới đó, lỗi chẳng phải tại nơi mình. Khoản tiền mụ trả cho tôi cũng được đề cập tới là hơn mỗi công nhân ngày 10 đô la. Chừng nào thạo việc mụ sẽ tăng lương.
Thỉnh thoảng thì tôi cũng có tháp tùng cùng Jessy chở cây đi bán theo đơn đặt hàng, khi thì về Texas, có lúc đến Tennessee. Những lúc bán được khấm khá thì mụ vô cùng niềm nở, miệng cười toe toét. Còn khi ế ẩm thì mặt mụ hầm hầm như bị ai cướp của, tiền bạc chẳng muốn trả cho công nhân. Nhiều lúc rảnh việc mụ thường gọi tôi vào văn phòng riêng để tâm sự, mụ kể cho tôi nghe chuyện mụ đã bị cú sét ái tình với Jessy như thế nào, chuyện Jessy tán tỉnh nàng Jane, chuyện của những người tình cũ đã bị mụ cho đi chỗ khác chơi. Mụ dặn tôi rất kỹ, hãy cảnh giác Jessy vì hắn đang để ý đến con gái của tôi.
Mụ hỏi tôi về chiến tranh Việt Nam, về những người lính Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến đó, về cha mụ đã chết không toàn thây ở Khe Sanh khi mụ còn rất bé chưa biết gì... Mỗi lần như vậy tôi thấy nét mặt mụ buồn, nước mắt rưng rưng chảy. Mụ bảo rằng, có một ngày thuận tiện thế nào mụ cũng sẽ đến Việt Nam. Mẹ mụ thường hay chào tôi với một thái độ thật thiện cảm, bà ta thường bảo tôi là một người siêng năng thật thà rất đáng tin cậy. Uy tín tôi càng lúc càng lên và vì vậy khi nào mụ cần bao nhiêu nhân công là nhờ tôi tìm giùm. Việc làm ở đây, chỉ nhiều vào mùa Hè, còn mùa Ðông các cây kiểng đều phải dời vào nhà kiếng (Green house) nên bị ế ẩm phải chờ vào mùa Xuân tới.
Vào một buổi sáng đẹp trời, sau khi giao công việc cho mọi người xong thì mụ chủ Ann kêu tôi vào nhà, chỉ vào đàn chó Berger mới đẻ của mụ. Mụ bảo vì tôi là người thân, biết thương yêu súc vật nên mụ có nhã ý tặng cho tôi một con chó đực, giống Berger của Pháp. Mụ bảo đây là giống chó khôn ngoan quý hiếm rất mắc tiền. Vì đã lỡ nhiều lần để làm vừa ý mụ trong các câu chuyện làm quà, tôi cũng thường bảo là ở Việt Nam chúng tôi cũng rất hay quý mến thú vật. Chúng tôi cũng có nhiều sở thú và giống chó là giống rất khôn ngoan luôn trung thành với chủ nên không thể không nhận lời. Tin này làm cho vợ tôi buồn năm phút, còn bạn bè thì bảo tôi đang rước “của nợ” về nhà.
Bấy giờ vào khoảng cuối tháng 12 trời rất lạnh, tôi cột con Berger ở sau nhà hằng ngày, bao nhiêu cơm thừa canh cặn tôi đều đổ dồn cho nó theo kiểu Việt Nam. Nhờ vậy mà nó lớn trông thấy. Chỉ sau một tháng trời người bạn láng giềng của tôi là một bà già Mỹ trắng, bà thường phàn nàn là không nên đối xử với súc vật như vậy, phải mua thực phẩm đàng hoàng, phải có chuồng cho nó ở thật ấm, phải mang nó đi chích ngừa, phải làm thẻ bài cho nó đeo cùng bao nhiêu thứ phiền toái khác. Tôi bèn đi màn năn nỉ với bà ta, vì tôi mới đến cuộc sống khó khăn phải đi làm vất vả hằng ngày nên chẳng có điều kiện săn sóc nó, tôi xin biếu tặng bà nhờ nuôi hộ. Bà ta nói là bà cũng gặp khó khăn vì sức khỏe già yếu với ông chồng hay bệnh tật liên miên, thôi thì hãy để bả giúp đỡ trông coi giùm mỗi ngày trong lúc tôi đi làm và trả lại tôi lúc chiều tối theo kiểu “babysit,” với điều kiện là tôi phải mua thực phẩm cho đàng hoàng ở Petmart giao cho bà.
Chẳng có chọn lựa nào khác hơn, tôi đành nghe theo lời bả, nhưng trong lòng tôi rối như tơ vò vì bị bà vợ cằn nhằn suốt ngày đêm, thân mình còn không xong có đâu lo tới chó. Một vài người còn hù dọa thêm, nếu nó cắn ai thì kể như tôi bị sạt nghiệp, chẳng có tiền đâu mà lo thang thuốc cho họ. Ở Mỹ chớ chẳng phải Việt Nam, léng phéng coi như ở tù như chơi về tội ngược đãi súc vật. Chẳng lẽ đem trả lại cho mụ ta thì mặt mũi nào còn gì, thôi thì đành ráng chịu trận vậy. Khi Berger của tôi khoảng 2 tháng rưỡi thì nó trông vềnh vàng và coi bộ dữ tợn lắm, tôi đi chợ Walmart tìm mua được sợi dây xích thật chắc và một vòng cổ bằng da trên dưới 20 đô la thay cho chiếc dây thừng cũ kỹ sẽ bị đứt không biết lúc nào.
Ăn Tết xong thời tiết bắt đầu ấm áp, chúng tôi lại tiếp tục công việc làm; mỗi lần nói chuyện mụ chủ thường hay hỏi thăm sức khỏe về chú Berger của tôi. Tôi bảo rằng hiện nó rất ngoan và mau lớn, lông nó màu vàng óng ánh, mắt nó to, tai nó vảnh trông rất oai hùng. Mụ bảo thế nào mụ cũng ghé thăm vào những dịp cuối tuần. Mụ còn khen tôi là người có tay nuôi chó. Mỗi lần như vậy tôi cảm thấy bủn rủn tay chân.
Vì lao động quá sức, liên miên ngay cả khi thời tiết rất lạnh nên sức khỏe suy sụp dần dần, và uống nước bừa bãi ở các vòi tưới cây được rút lên từ các hồ dơ bẩn, tôi đã bị chứng tiêu chảy kinh niên... cần phải nghỉ ở nhà để đi khám bệnh.
Hôm khám ở bệnh viện Hueylong Hospital, vị bác sĩ nói rằng nghi ngờ tôi bị ung thư ruột, cần phải có thời gian xét nghiệm lâu dài. Tôi được đi soi ruột, chụp hình hằng chục tấm đủ mọi thế ngang dọc, cuối cùng họ bảo tôi chẳng có bệnh gì cả, nhưng phải ráng gìn giữ sức khỏe đừng làm những việc nặng nề. Bà vợ tôi thì cứ nằng nặc không chịu để cho tôi tiếp tục làm ở nursery nữa, bà muốn đi sang tiểu bang khác, nơi này âm u không có tương lai cho con cái. Vả lại mang tiếng đi Mỹ lại còn cực khổ hơn ở Việt Nam thì đi Mỹ làm gì? Tay bà xã tôi cũng bị nổi đầy mụt phồng lên và dị ứng vì phân bón hóa học. Người bạn tôi cùng quê đến Mỹ theo diện HO đã gọi tôi hằng đêm và hứa sẽ giúp đỡ nếu tôi sang Arlington, Texas.
Dạo ấy ở đây nghề may rất thịnh hành, cứ chịu khó lãnh đồ về nhà mà đạp thì bao nhiêu tiền cũng có, không cần tiếng Mỹ gì cả vì đa số các chủ shop may là người Việt Nam. Rất hấp dẫn nên tôi đã làm một chuyến thăm dò trước từ Pineville theo con lộ 49 về hướng 20 West Fort Worth không đầy 6 tiếng đồng hồ.
Hôm chuẩn bị đi cũng là lúc bà chủ Ann gọi điện thoại và hứa cuối tuần sẽ đến thăm tôi, luôn tiện mụ ta sẽ chiếu cố đến con Berger xem nó to lớn cỡ nào. Bấy giờ là ngày Thứ Ba và gia đình tôi sẽ lên đường vào ngày Thứ Bảy, mọi đồ đạc đã sẵn sàng trên chiếc Pontiac 87 bốn máy, nhưng tôi rất lúng túng không biết giải quyết về con Berger như thế nào, mang nó đi sao tiện khi mà thân mình còn chưa biết ra sao... khi đến chỗ ở mới. Cuối cùng rồi mọi việc cũng xong, tôi năn nỉ gởi nhờ nhà một ông bạn và hứa sẽ trở về nhận lại khi ổn định nơi ăn chốn ở. Nhưng chỉ 2 tuần sau đó khi gọi điện thoại, ông bạn tôi nói khỏi cần lo nghĩ về con chó nữa vì anh ta đã mang thả ngay giữa chợ chỗ đông người rồi. “Mình không có khả năng nuôi thì để người khác nuôi, nó không chết đâu.” Luôn tiện anh ta cũng cho tôi biết là Jessy cũng đã bị mụ chủ tống cổ đi rồi.
Ðó là những mẩu chuyện về chú “Tuất” nơi xứ người để đón mừng năm Bính Tuất sắp tới, tôi xin được phép gởi đến tất cả quý vị về “nàng Tuất” của tôi trong những ngày tháng tù đày. Một kỷ niệm mà tôi không thể nào quên được, mỗi lần nhắc đến là một lần xúc động thật sự, bởi tôi thấy mình đã không làm tròn bổn phận đối với một con vật đầy tình nghĩa, rất trung thành và hết mình với chủ. Tôi đã thấy hối hận khi tôi phải bỏ nó lại cho một người quen, vì không thể mang theo trên chuyến tàu thống nhất xuôi Nam năm 1987 bằng hành trang của một người tù. Dù sao thì tôi cũng xin được phép bắt đầu.
Cuối năm 1985 đa số tù nhân chính trị được thả về gần hết, phân trại 4 Bình Ðiền chỉ còn vỏn vẹn khoảng 30 người để phụ trách phần nông nghiệp, công việc chính là sản xuất lúa gạo cho toàn vùng trên khoảng 20 hecta ruộng khô vừa mới được khai hoang. Ðể điền vào chỗ khiếm khuyết lao động đó, tổng trại tù Bình Ðiền đã bổ sung thêm một đội hình sự 6 người thuộc đủ thành phần xã hội như vượt biên, bán bãi, cướp giật, nhảy tàu, tham ô, hiếp dâm, xì ke ma túy... Họ đa số còn rất trẻ, có sức khỏe, ngang tàng bướng bỉnh không chấp hành nội quy nghiêm chỉnh như các anh em tù chính trị bọn tôi. Lúc cao hứng thì họ làm việc hết mình, cày bừa đốn cây đốn củi... tất cả đều được việc năng suất, còn khi bất mãn thì khai bệnh, phá phách bướng bỉnh, nhà kỷ luật không ăn thua gì đối với họ. Nhờ vậy mà anh em tù chính trị bọn tôi ít bị chiếu cố hơn, biết mình lớn tuổi có trình độ văn hóa, lại là cán bộ sĩ quan của một chế độ bị xóa tên và đang bị trả thù, nên phải sống đàng hoàng. Tôi được chỉ định phụ trách chăn nuôi cho cơ quan ở một cái chòi tranh nằm ở phía bên ngoài trại, thay thế Ðại Úy Cảnh Sát Nguyễn Hoa vừa mới được thả về sau hơn 10 năm tù. Công việc hằng ngày là trông coi bầy gà trên dưới 60 và đàn thỏ khoảng 30 con. Ðây là thời gian may mắn nhất trong cuộc đời tù tội của tôi, tôi không còn sợ đói khát nữa vì có số lúa lép của đàn gà. Mỗi đêm chịu khó ngủ trễ hay thức sớm vài tiếng đồng hồ là tôi có thể kiếm 2 lon gạo bằng cách bỏ vào cối dùng chày giả nát số lúa lép này.
Rau cỏ được “cải thiện” dễ dàng hơn vì tôi được tự do đi vào rẫy để tìm kiếm thức ăn về nuôi thỏ. Tôi cũng tự mình tạo ra được 5-7 cần câu cắm... để rải rác khắp các suối, thường thì ngày nào cũng được một vài con cá phụ thêm vào phần thức ăn thiếu thốn của mình. Tôi có thể tự do quyết định về số trứng gà do hơn 20 con gà mái đẻ cứ giành ổ liên tục. Nói chung cuộc đời tù tội của tôi gặp vận hên nên được bay lên như diều gặp gió. Các tên cán bộ vệ binh tỏ ra thân thiện với tôi hơn vì thỉnh thoảng họ cũng cần vài trứng gà luộc để bồi dưỡng.
Một buổi chiều cuối năm, sau khi nhận được phần ăn đặc biệt của trại dành cho 3 ngày Tết, trong cái lạnh lẽo giá buốt của mùa Ðông, tôi đang ngồi nhen bếp lửa để chuẩn bị bữa cơm chiều thì tên vệ binh “Thọ” mang đến cho tôi một con chó. Hắn bảo đây là giống chó rất khôn, quí hiếm mà hắn vừa xin được ngoài xóm dân, nhờ tôi nuôi hộ. Nó có đôi mắt tinh ranh và 12 đeo, nơi hai bàn chân trước, thuộc loại chó săn nòi, có thể giúp cho tôi bảo vệ đàn gà, hầu tránh lũ chồn cáo thường hay rình rập chờ mồi ở các bụi rậm quanh các chuồng gà. Việc đầu tiên là tôi từ chối vì một mình còn đói lên đói xuống thì làm sao săn sóc nó cho được. Nêu lý do là nhà tôi quá xa, bà vợ thì đang gặp khó khăn về kinh tế, nhiều khi cả năm mà chẳng có thăm nuôi một lần nào, chỉ thỉnh thoảng nhận ít quà nhờ qua trung gian thân nhân của bạn tù cùng trại. Ngày xưa ở nhà tôi cũng rất thích và thương chó lắm nhưng trong hoàn cảnh này đành chịu. Hắn cứ nài nỉ bảo rằng cứ nuôi tạm cho hắn một vài tháng chờ khi nào có phép hắn sẽ mang về nhà. Thức ăn cứ để cho hắn lo, cứ yên tâm!
Ðang mùa thu hoạch, lúa đem về phơi khô đầy kho, hắn đã dành riêng phần lúa “chắc” cho tôi trong số lúa “lép,” tôi cứ thế mà gánh về. Nếu sự việc bị đổ bể ra không phải lỗi tại tôi, hắn là người chịu trách nhiệm. Vả lại cũng chẳng có gì nhiều, tôi kiếm vừa đủ phần gạo hằng ngày mà không cần gia đình phải tiếp tế.
Trong tuần lễ đầu để làm quen, con Misa được buộc chặt ngay chân giường dưới chân tôi ngủ. Nó ăn sạch các thức ăn cặn bã của tôi từ vỏ khoai lang, củ sắn đến các xương xẩu được tiếp tế từ cơ quan do tên Thọ mang đến. Chẳng mấy chốc trông nó lớn nhanh và rất khôn ngoan sau vài ba tháng. Vì ở giữa đồng không mông quạnh nên việc vệ sinh cá nhân của tôi rất thoải mái “nhất quận công, nhì ị đồng”; mỗi lần giải quyết vấn đề tôi cứ đào lên một nhát cuốc rồi thẩy vào đó lấp lại là xong. Cho đến một ngày kia, tôi phát giác ra rằng các hố phân tôi lấp đều bị cào xới lên và... biến đâu mất hết. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính Misa là thủ phạm chứ chẳng ai. Ngay ngày hôm sau vào buổi sáng sớm tôi cũng lập lại việc vệ sinh như mỗi lần trước và ngồi chờ xem Misa xuất hiện, nó đến nơi hố xí và xơi một cách ngon lành sạch sẽ. Thủ sẵn roi mây cầm ở tay, tôi kêu lại đè đầu nó xuống thật sát, quất mạnh và bảo rằng “Mầy không được ăn cứt nghe chưa!” Misa bị té đái kêu lên ăng ẳng, vừa chạy vừa cụp đuôi trông có vẻ sợ sệt dễ thương lắm. Ấy vậy mà chỉ một lần duy nhất này, từ đó về sau, nó không còn dám nữa dù tôi kêu và dụ nó, nó cũng chẳng dám làm.
Ngày qua ngày tình cảm của tôi và nó càng khắng khít hơn, tôi cảm thấy thiếu vắng nếu có đêm nào nó đi chơi đâu đó về trễ sau tiếng kẻng báo ngủ. Cứ mỗi lần tôi xách đòn gánh lên vai thì hầu như Misa đã có mặt sẵn sàng theo tôi đi bất cứ đâu. Một lần tôi đang chui vào bụi rậm để cắt dây bìm bìm về cho thỏ, thì nghe tiếng kêu oẳng oẳng của nó từ bờ đê kế bên, tôi biết là có “vấn đề” nên cầm rựa chạy tới, thì quả thật một con “trăn” to tổ bố hơn cườm tay đang khoanh trên một cành cây. Mừng quá mất bình tĩnh, sẵn cái “rựa” trên tay tôi chặt một phát, rồi 2 phát nhưng chẳng thấm vào đâu, con trăn chuyển mình từ từ bò đi nơi khác mất dạng trước sự bất lực của tôi.
Con Misa nhất định chẳng chịu thua, cứ chạy khè lỗ mũi ra ngửi, kêu xịt xịt, nó chạy vòng quanh đánh hơi và sau 15 phút nó tìm lại được chỗ mới của con trăn nằm. Sẵn một tên vệ binh có súng đi gần ngoài đường, tôi nhờ anh ta bắn cho một phát, con trăn oằn oại trên vũng máu tươi. Buồn ngủ gặp chiếu manh, tên vệ binh này mang về nhà bếp cơ quan trại để rồi cuối cùng tôi và Misa cũng được chia một phần ăn ngon lành.
Vào một buổi trưa hè trời rất nóng vì những cơn gió từ miền Hạ Lào thổi vào, tôi đang thiu thiu ngủ, bỗng có tiếng đàn gà cục tác thật to. Giật mình tỉnh dậy tôi phát hiện một con rắn hổ mang to bằng cán cuốc, thật dài, bò vào ổ gà đang ấp trứng. Phản ứng cấp thời, tôi chụp lấy chiếc đòn gánh kế bên đập thật mạnh vào nó nhưng chẳng thấm vào đâu. Bất lực, tôi gọi to “Misa, Misa,” nó từ đồi sau phóng về vồ lấy con rắn bằng 2 chân trước, dùng miệng vừa cắn vừa sủa dữ dội. Trong vòng ít phút là con rắn chết tươi.
Cuối năm 1986, trùng hợp với tin đồn từ nhiều thân nhân đến thăm tù, trại bắt đầu gọi từng anh em chúng tôi để trích ngang lý lịch lại. Các thầy tướng số đoán mò rằng thế nào anh em chúng tôi cũng sẽ được người Mỹ đến rước, đêm nào trước khi ngủ mọi người đều ở thế sẵn sàng. Một sáng đẹp trời nào đó những đoàn trực thăng sẽ lù lù xuất hiện từ biển Ðông bốc chúng tôi như đã từng bốc trong các cuộc hành quân. Ngày nào càng gian khổ, càng khó khăn chúng tôi càng hy vọng. Bọn tôi chỉ lao động cầm chừng, năng suất cũng không mà sản lượng cũng chẳng có. Tên cán bộ “Phố” từ đoàn đến xỉ vả anh em chúng tôi không hết lời “Mỹ mà rước các anh à! Ðừng tưởng bở. Các anh còn cái ‘xác phàm’ không thì nó rước các anh làm gì? Ðể phơi khô làm mắm à! Hãy an tâm cải tạo để sớm được cách mạng khoan hồng, không ai cứu các anh bằng chính các anh.” Chúng tôi đang bay bổng như chiếc diều gặp gió, chẳng bao giờ tin những gì hắn nói “đừng tin những gì CS nói mà hãy trông vào những gì CS làm.” Người bạn tù tên Giảng của chúng tôi mà anh em thường gọi là “Thầy,” nhờ biết chút ít bói toán tử vi mà các tên vệ binh cũng như cán bộ trại thường có những ưu đãi đặc biệt. Thầy bảo rằng cứ vững tin ngày mai trời lại sáng.
Tôi càng thấy sung sướng và tin tưởng thêm khi tên cán bộ Thọ đến mang Misa đi gửi nuôi một chỗ khác. Việc vắng mặt Misa đã làm tôi thấy mình như thiếu một cái gì, nhất là hằng đêm sau tiếng kẻng báo ngủ không còn nghe tiếng lí nhí của nó khi chui xuống gầm giường.
Khoảng một tháng sau cũng trong sự chờ đợi hy vọng hằng ngày, vào một buổi sáng rất đẹp trời, trong lúc tôi đang hì hục cuốc đất trồng khoai, từ bên kia bờ suối Misa hối hả tức tốc trở về với chiếc xích còn nguyên trên cổ, mình ướt sũng, mừng rỡ la hét chạy tới nhảy chồm vào tôi nhiều lần như đứa trẻ thơ vừa gặp lại mẹ sau nhiều năm trời xa cách. Quá xúc động, tôi thấy nước mắt mình ứa ra tự lúc nào và nghẹn ngào ôm nó vào lòng, an ủi vỗ về: “Thôi nhé, Misa từ đây hãy ở đây, đừng đi đâu hết nhé, tôi cũng nhớ Misa lắm mà.” Tên trưởng trại hay tin nó về cũng có đến thăm và ông ra lệnh cho tên cán bộ Thọ hãy để Misa cho tôi giữ. Từ đó về sau Misa chẳng rời tôi nửa bước, thỉnh thoảng cũng có đi chơi đâu đó, nhưng lúc nào cũng về vào đúng giờ kẻng ngủ. Cho đến một ngày kia tên trại trưởng đến báo cho tôi biết là Misa phá lắm, nó cắn chết những con dê con vừa mới đẻ tại chuồng, ông bảo tôi là phải “xích nó” lại, nếu không sẽ làm thịt nó. Tôi hơi ngạc nhiên về vấn đề này, vì từ lâu nay, gà thỏ con chung quanh chuồng trại chẳng khi nào dám ăn một con mà ngược lại Misa còn canh giữ bảo vệ mỗi khi nghe đàn gà cục tác đâu đó.
Sau thời gian bị kỷ luật, Misa lại được thả ra và vẫn đi về đúng giờ. Trời mùa Ðông rất lạnh, tôi thường ngồi nhen bếp lửa trong nhà mỗi đêm vừa tránh muỗi vừa sưởi ấm trước khi chui vào mùng tìm cho mình giấc ngủ. Misa lại xuất hiện với cái miệng đầy máu tươi cùng một miếng thịt tha về thả ngay bếp lửa. Lần này thì tôi thật sự nghi ngờ chính Misa là thủ phạm giết chết các chú dê con. Tôi giữ lại miếng thịt, mặc dầu rất thèm cho vào bếp lửa để nướng. Sáng hôm sau tôi dẫn Misa lại hiện trường, xác chú dê con còn nằm lăn lóc trong góc chuồng. Cũng như lần trước tôi đè đầu nó xuống, đánh cho một trận khủng khiếp đến nỗi nó phải té đái, tiếp tục bị giam kỷ luật.
Thời gian cứ mãi trôi qua, tôi và Misa vẫn là đôi bạn hằng ngày, Misa đã cho tôi niềm an ủi trong kiếp sống đày đọa thiếu vắng lạnh lùng. Một tên vệ binh trại, sau 7 năm vắng mặt nay trở về, hắn đã phải thốt lên lời ai oán, “Tại sao lại giam các anh lâu thế nhỉ? Tôi tưởng các anh đã về hết rồi chứ!” Dù sao đây cũng là lời nói thật của một con người còn chút ít lương tâm, mọi vấn đề khác ngoài tầm tay và khả năng của hắn.
Từ lâu tôi chẳng có tin tức gì của gia đình. Lần cuối, năm 1986, bà xã tôi có ra thăm nhưng nửa đường phải quay về vì bị mất hết tiền bạc giấy tờ do cướp giật trên tàu. Trong một lá thư viết cho tôi, vợ tôi cho biết là đang ốm rất nặng và rất tuyệt vọng trong sự mỏi mòn chờ đợi ngày tôi về. Còn tôi thì chẳng làm gì khác hơn, ngoài chuyện viết thư an ủi hứa hẹn một ngày mai, mà tự tôi cũng chẳng biết đến bao giờ. Tôi tự an ủi lấy mình, trong tất cả sự đau khổ tôi là kẻ may mắn nhất, nhờ vào đức tin và sự cầu nguyện mỗi ngày. Tôi vẫn tiếp tục sống, ăn và vẫn thở bên cạnh Misa, người bạn tù chung thủy của tôi.
Cuối cùng rồi việc gì tới cũng phải tới, tôi được báo tin là đã có giấy ra trại vào những ngày cuối cùng của năm 1987. Ðó là một buổi chiều đầy kỷ niệm khi nắng hoàng hôn vừa tắt lịm dưới chân đồi, tên quản giáo cùng vệ binh Thọ đến ra lệnh cho tôi sắp xếp hành trang, mọi việc hãy bàn giao người khác, sang Bộ Chỉ Huy Ðoàn để làm thủ tục xuất trại. Thay thế tôi là anh Lang, trung úy cảnh sát, đang giữ đàn bò cho trại, anh nhỏ người nhưng đầu anh thì quá to, chẳng bao giờ chịu khuất phục dưới bất cứ hoàn cảnh nào. Việc anh không được thả về cùng bọn tôi trong đợt này cũng không ngoài lý do đó, mặc dù cấp bậc và chức vụ thấp hơn tôi.
Tên Thọ ra lệnh cho tôi gọi Misa về vì hắn sợ tôi sẽ dẫn Misa theo. Nghe tiếng tôi, Misa từ đâu đó hớt hãi phóng về mừng rỡ quấn quít dưới chân. Ôm lấy nó mà giao lại cho tên Thọ, tôi chẳng đành lòng nhưng trong hoàn cảnh này đành phải chịu, không biết Misa có hiểu giùm tôi trong thân phận của một người tù!
Lần ra trại này cũng được khoảng trên chục người, toàn là tù chính trị, họ bảo rằng chúng tôi được ân xá vào dịp Tết sắp tới. Nhận lại số tiền đã được ký gửi từ nhiều năm trước, thời ấy tương đương với 2 chỉ vàng mà bây giờ sau bao lần đổi tiền chỉ còn tương đương vài lon gạo. Ðây là cuộc cách mạng vĩ đại nhất mà chế độ Cộng Sản đã đem đến cho toàn dân miền Nam! “Xin cám ơn bác Hồ, xin cám ơn cách mạng.”
Cầm tờ giấy ra trại trong tay, tôi cứ ngỡ mình đang sống trong một giấc mơ. Bao nhiêu năm đợi chờ mỏi mòn, bao nhiêu năm bị đày đọa khổ ải, bao nhiêu nhung nhớ phân ly giờ là lúc tôi đang lần mò tìm về hạnh phúc, một thứ hạnh phúc vô cùng quý giá mà biết bao bạn tù tôi đã từng mơ ước, nhưng không may họ đã ngã quỵ dọc đường, họ đã không bao giờ có được dù một tí hy vọng mong manh trước khi nhắm mắt lìa đời. Lúc đi ngang qua con đường dẫn về trại để đến xóm dân tá túc qua đêm, tôi không sao cầm được những giọt nước mắt xót thương cho những người bạn đồng tù đang nằm yên bên phần mộ: của Kế, của Giỏ, của Nhơn, của Cát.... của những chiến hữu anh hùng đã sống và chết thật hiên ngang bất khuất. Tự nhủ lòng mình, một ngày nào đó nếu may mắn sống còn, chúng tôi có bổn phận phải vinh danh tưởng nhớ các anh.
Ðã hơn 12 giờ đêm, tôi vẫn không sao ngủ được nơi nhà một chiến hữu BÐQ đang định cư tại vùng kinh tế mới. Tôi trở lại trại để lấy lại một số thư gia đình mà lúc chiều vội vã tôi đã quên đi. Lang, người thay thế tôi vẫn còn thức và có lẽ chính anh cũng không thể nào chợp mắt được trước sự ra về của anh em chúng tôi. Tôi lại dặn dò anh một số công việc và nhất là phần lúa “chắc” tôi đã để riêng có thể giúp anh làm ra một số gạo đủ tạm sống qua ngày. Lúc ra khỏi chòi trại, vì nhớ quá tôi khẽ gọi “Misa, Misa!” Trong bóng đêm sâu thẳm, Misa nhảy tới chồm vào người tôi, có lẽ nó cũng cảm nhận rằng có một điều gì đó thật lớn đang thay đổi cuộc sống chúng tôi. Misa theo sát lấy tôi, chẳng rời nửa bước, nó ngủ ngay dưới chân giường nơi tôi nằm suốt đêm ấy.
Chuyến xe khách Bình Ðiền, Huế vào sáng ngày hôm sau có một người tù lặng lẽ trở về, bên tay còn dẫn theo một con chó. Mọi cố gắng để mang nó vào Nam cùng tôi đành bất lực, vì chẳng có phương tiện nào khác hơn ngoài chuyến tàu thống nhất Bắc Nam đông nghẹt cả người. Misa được gửi nhờ ở nhà một người quen, và tôi tự nhủ lòng mình sẽ trở ra để rước nó về. Buổi sáng lúc từ giã để ra bến tàu, tôi vẫn còn thấy Misa luẩn quẩn gặm xương nơi quán ăn trước cửa nhà trông thật tội nghiệp.
Hai tháng sau trong một thư nhận được từ Huế báo tin rằng Misa mải miết tìm tôi và cuối cùng thì mất dạng không thấy nó về. Ðiều này đã làm tôi thật buồn và ân hận là nếu tôi không mang nó về thành phố, thì nó vẫn sống bình an ở vùng núi đồi yên tĩnh đầy kỷ niệm, nơi nó được nuôi nấng và lớn lên. Nó có thể buồn đôi chút vì vắng bóng tôi, nhưng vì mọi việc sẽ phôi pha như trong cuộc sống bình thường một ngày như mọi ngày. Còn tôi, niềm đau này vẫn mãi ám ảnh trong suốt đời mình cho dù tôi ở bất cứ đâu và hoàn cảnh nào. Tôi đã không bảo vệ được một con vật biết sống hết nghĩa tình với chủ. Hình ảnh Misa sẽ giữ mãi trong tận đáy lòng tôi như là một vết thương nhức nhối. Ðời sống con người như những dòng sông rồi sẽ chảy ra biển cả, những lỗi lầm mắc phải sẽ là những rong rêu mãi còn đọng lại dưới chân cầu.
Bài viết này như một lời “tạ tội” với Misa.

“Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không “làm” một cái?“
Đăng Bởi MỘT THẾ GIỚI - Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm
"PGS-TS-BS” - đó là viết tắt của “Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ”. Nó là biểu hiện của căn bệnh mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh, đang làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy hiểm cho người bệnh. Một Thế Giới xin trích đăng bài viết của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.
Ngày nay, cái bằng tiến sĩ như là một cái bùa hộ mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức. Nó là cái boarding pass để leo lên vị tri trưởng khoa, làm hiệu trưởng trường y.
Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn trên bàn cà phê. “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không làm một cái”? Anh bạn tôi hỏi.
Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền. Ảnh: nguồn internet Tôi ngạc nhiên về chuyện “làm một cái”. Tiến sĩ là một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu. “Mình đã già. Mình không có khả năng làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu”.
Anh bạn tôi cười lớn nói: “Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi”.
Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.
TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có bằng tiến sĩ.
Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng. Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai. Với đà này, một ngày không xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.
Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới. Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm. Không ai biết được, nhưng xã hội biết. Xã hội đã từ lâu phong danh tước “tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ “Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu chuyện thường ngày. Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.
“Dỏm” có nghĩa là những bằng cấp được mua bán, tiền trao cháo múcAnh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD, 10.000 USD, 20.000 USD đã được đề cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi 500 triệu.
Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả tiền? Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ.
Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta. Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu tư. Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền.
Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này. Đừng trách tại sao dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã nghèo thì thường chịu phận hèn.
BS. Đỗ Hồng Ngọc
Tại Sao Quảng Nam Hay Cãi?
Trần Gia Phụng
(Trình bày tại Đại hội Quảng Nam Toronto ngày 6-11-2014.)
Kính thưa quý Bà Con Cô Bác,
Câu ca dao “Quảng Nam hay cãi…” là sự thật hiển nhiên không bàn cãi. Bài nói chuyện hôm nay là tìm hiểu tại sao người QN chúng ta hay cãi? Những lý do đưa ra sau đây có thể chủ quan và thiếu sót, hy vọng được bổ túc thêm thì sẽ đầy đủ hơn.
Quảng Nam hay cãi có thể có năm lý do: 1) Nguồn gốc di dân. 2) Tranh đấu nghịch cảnh. 3) Tính ham học của người QN. 4) Giọng nói người QN. 5) Môi trường hay cãi tại QN.
1) Về nguồn gốc di dân: Người QN chúng ta là con cháu của những di dân từ Bắc vào QN lập nghiệp. Có bốn hạng di dân khác nhau đến QN: Những di dân đầu tiên là những chiến binh theo các đoàn quân viễn chinh đi mở nước về phương nam. Không có những đoàn quân viễn chinh thì không có QN. Những chiến binh viễn chinh thường can đảm, liều lĩnh, sẵn sàng chiến đấu, tranh cãi.
Hạng di dân thứ hai đến QN là những người tù tội. Dưới thời Lê Thái Tổ (trị vì 1428-1433), nhà Lê chia tội phạm thành năm loại: xuy, trượng, đồ, lưu, tử. Xuy là đánh roi. Trượng là đánh trượng (gậy). Đồ là làm dịch đinh. Lưu là lưu đày. Tử là tử hình. Mỗi tội chia thành nhiều hạng. Riêng tội lưu có ba hạng: Lưu cận châu (châu gần). Lưu viễn châu (châu xa). Lưu ngoại châu (châu biên giới.) Từ thời Lê Thái Tổ cho đến khi Nguyễn Hoàng vào nam, trong khoảng trên 200 năm, QN thuộc loại viễn châu, miền biên giới xa xôi, giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Những người phạm tội lưu nặng nhất bị đày đến QN.
Hạng di dân thứ ba đến QN là những người đào tẩu, trốn tránh vì nhiều lý do, mà trong đó quan trọng nhất là lý do chính trị, vì sự thay đổi và trả thù của các triều đại. Ví dụ khi nhà Trần sụp đổ, nhà Lê lên cầm quyền, con cháu nhà Trần trốn chạy, có gia đình chạy vào tận QN. Khi nhà Mạc sụp đổ, con cháu nhà Mạc đổi thành nhiều họ, ly tán khắp bốn phương. Có nhiều nhánh họ Mạc chạy vào tận QN.
Hạng di dân thứ tư, đông đảo nhất là những di dân vì lý do kinh tế. Vì quá nghèo khổ ở vùng đất cũ, nên đông đảo dân chúng theo những đợt di dân do chính quyền tổ chức. Sau mỗi lần mở nước, các triều đại đều tổ chức đưa người tới định cư vùng đất mới, nhất là từ thời Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp.
Dầu vì lý do gì, di dân có một số đặc tính chung như mạo hiểm, can đảm, liều lĩnh, quyết liệt, bất khuất, cấp tiến, khẳng khái, bộc trực, thích tự do, công bằng, dân chủ... Không phải tất cả những đặc tính trên đây đều tác động cùng một lần đến con cháu QN, nhưng ảnh hưởng một cách khác nhau tùy mỗi gia đình, tùy mỗi cá nhân, một vài đặc tính trên, đưa đến những kết quả riêng biệt, nhưng vẫn có một vài điểm căn bản giống nhau, như là hay tranh đấu và hay cãi để bảo vệ những điều mình đạt được trên đường di dân.
Có câu hỏi đặt ra là di dân từ Bắc vào Nam, đến định cư rải rác từ QN đến Bình Định, nhưng tại sao chỉ có dân QN là hay cãi? Xin chú ý, trước khi tiến xuống Quảng Ngãi hay Bình Định ngày nay, người di dân từ Bắc vào Nam, tập trung đầu tiên tại QN, có thể cả một thời gian dài, trên 200 năm, từ thời Huyền Trân đến thời Nguyễn Hoàng, mới dần dần tỏa xuống phía nam. Càng xuống phía nam, bình nguyên càng rộng, thời tiết càng dễ chịu, con người càng thoải mái hơn. Ngoài ra, còn nhiều lý do khác nữa.
2) Tranh đấu trước nghịch cảnh: Lý do thứ hai về việc người QN hay cãi là di dân luôn luôn va chạm và đối phó nghịch cảnh, phải tranh đấu đề sinh tồn. Tranh đấu với cư dân địa phương trước đây là người Chiêm Thành (Chàm). Tranh đấu để mưu sinh ở vùng đất lạ, thiên nhiên khắc nghiệt, rừng thiêng nước độc. Tranh đấu để được tự do, bình đẳng và dân chủ trên vùng đất mới. Tranh đấu trở thành thói quen của người QN và từ đó cũng trở thành hay cãi. Hay cãi là cách tranh đấu bất bạo động để bảo vệ quyền lợi, bảo vệ điều mình nghĩ là lẽ phải, tránh sai lầm, tìm ra sự thật.
3) Tính ham học: Lý do thứ ba là di dân vốn thích phiêu lưu, thích khám phá điều mới lạ, thích tìm tòi học hỏi, có cái nhìn mới. Thêm nữa, người QN nghèo khổ nên ham học để tiến thân bằng thi cử. Tính ham học, cầu tiến, ưa học hỏi, tìm hiểu thêm, khiến cho người QN hay cãi để tiến bộ, tìm ra chân lý.
4) Giọng nói lớn: Lý do thứ tư là không hiểu vì sao người QN có giọng nói lớn, mạnh, sắc, chói tai. Chính chất giọng lớn mạnh tạo điều kiện và hỗ trợ cho người QN hay cãi. Vào một phòng họp, nghe một giọng QN phát biểu là nhận ra ngay. Nhờ chất giọng mạnh nên người QN dễ cãi, thích cãi và trở thành hay cãi. Xin chú ý điểm nầy: ngay cả những người QN nói giọng thấp, nhỏ thì cũng ít cãi.
5) Môi trường hay cãi: Lúc đầu, người QN hay cãi với nhau. Anh em, vợ chồng, bạn bè cãi với nhau, tạo thành môi trường hay cãi, không gian hay cãi. Môi trường hay cãi càng ngày càng mở rộng, trở thành thói quen, hay nếp sống hoặc truyền thống hay cãi. Điều nầy dễ thấy ở những người QN lấy vợ hay chồng tỉnh khác. Sống với nhau một thời gian, và sống trong môi trường hay cãi, người vợ hay chồng đó tuy không phải là người QN, cũng trở thành hay cãi, có khi còn cãi hăng hơn cả vợ hay chồng người QN. Vì vậy có câu: "QN lai bằng hai QN thiệt.” Đây là kết quả của môi trường hay cãi. Nếu không có môi trường để cãi, thì người QN cãi với ai?
Thưa quý vị,
Năm lý do trên đây đưa đến thói quen người “QN hay cãi”. Câu “Quảng Nam hay cãi” có khi được xem là lời mỉa mai người QN chúng ta. Tuy nhiên, xin chú ý rằng hay cãi không phải là tính xấu. Hay cãi chỉ xấu khi cãi bướng, cãi ngang xương, cãi đâm hơi, cãi lấy được. Ngay cả uống thuốc bổ mà quá liều lượng thì cũng có hại, huống gì là hay cãi ẩu? Vì cãi quá đà nên mới bị mỉa mai là “QN hay cãi”. Trong khi thật sự không cãi thì không tiến bộ được. Xin thử tưởng tượng một nhóm người, một tổ chức hay một xã hội mà không một tiếng cãi thì chẳng những không có sinh khí mà bị đóng băng hay là chết
Xin chú ý thêm là cho đến 1802, khi Gia Long lên ngôi, QN mới chính thức ổn định. Do hay cãi để tiến bộ, hay cãi để tranh đấu chống bạo quyền, tranh đấu để bảo vệ cho mình và cho dân tộc mình nên chỉ trong thời gian ngắn, QN đã sản sinh ra một loạt anh hùng, tranh đấu chống Pháp xâm lược, từ Hoàng Diệu, đến Nguyễn Duy Hiệu, qua Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Lê Đình Dương…
Đặc biệt, Phan Khôi là tay cãi cự phách của QN. Ông cãi hay đến nỗi có thời người ta ca tụng “lý luận Phan Khôi”. Sống dưới chế độ CS, ông chẳng sợ hãi khi hay cãi, vì theo ông: “Làm sao cũng chẳng làm sao,/ Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi./ Làm chi cũng chẳng làm chi,/ Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao.” Phan Khôi là người tiêu biểu cho khí phách QN. Ngay giữa lòng Hà Nội năm 1957, Phan Khôi ví chủ nghĩa CS là một thứ cỏ bù xít vì hôi như con bọ xít, hay CS là cây cứt lợn, cây chó đẻ. (Phan Khôi, Nắng chiều, Hà Nội 1957, Hoàng Văn Chí trích dẫn, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Sài Gòn: 1989, tt. 89-96.) Cách đây 47 năm mà Phan Khôi gọi CS là cây chó đẻ, thật là vừa can đảm, vừa sáng suốt.
Thưa quý vị,
Chuyện QN hay cãi là chuyện dài, nhất là người QN có tính tự trào, tức tự giễu về mình, nên có rất nhiều chuyện tiếu lâm QN hay cãi, nhưng thời lượng phải giới hạn, nên câu chuyện của chúng tôi ngang đây xin tạm dừng. Những lý giải trên đây có thể còn thiếu sót, xin quý vị bổ túc thêm để làm rõ vì sao Quảng Nam hay cãi. Chúng tôi xin cảm ơn quý vị đã lắng nghe, trân trọng kính chào quý vị và chúc quý vị một buổi tối gặp gỡ “Quảng Nam hay cãi” thật vui vẻ.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 6-11-2014)
Trần Gia Phụng
(Trình bày tại Đại hội Quảng Nam Toronto ngày 6-11-2014.)
Kính thưa quý Bà Con Cô Bác,
Câu ca dao “Quảng Nam hay cãi…” là sự thật hiển nhiên không bàn cãi. Bài nói chuyện hôm nay là tìm hiểu tại sao người QN chúng ta hay cãi? Những lý do đưa ra sau đây có thể chủ quan và thiếu sót, hy vọng được bổ túc thêm thì sẽ đầy đủ hơn.
Quảng Nam hay cãi có thể có năm lý do: 1) Nguồn gốc di dân. 2) Tranh đấu nghịch cảnh. 3) Tính ham học của người QN. 4) Giọng nói người QN. 5) Môi trường hay cãi tại QN.
1) Về nguồn gốc di dân: Người QN chúng ta là con cháu của những di dân từ Bắc vào QN lập nghiệp. Có bốn hạng di dân khác nhau đến QN: Những di dân đầu tiên là những chiến binh theo các đoàn quân viễn chinh đi mở nước về phương nam. Không có những đoàn quân viễn chinh thì không có QN. Những chiến binh viễn chinh thường can đảm, liều lĩnh, sẵn sàng chiến đấu, tranh cãi.
Hạng di dân thứ hai đến QN là những người tù tội. Dưới thời Lê Thái Tổ (trị vì 1428-1433), nhà Lê chia tội phạm thành năm loại: xuy, trượng, đồ, lưu, tử. Xuy là đánh roi. Trượng là đánh trượng (gậy). Đồ là làm dịch đinh. Lưu là lưu đày. Tử là tử hình. Mỗi tội chia thành nhiều hạng. Riêng tội lưu có ba hạng: Lưu cận châu (châu gần). Lưu viễn châu (châu xa). Lưu ngoại châu (châu biên giới.) Từ thời Lê Thái Tổ cho đến khi Nguyễn Hoàng vào nam, trong khoảng trên 200 năm, QN thuộc loại viễn châu, miền biên giới xa xôi, giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Những người phạm tội lưu nặng nhất bị đày đến QN.
Hạng di dân thứ ba đến QN là những người đào tẩu, trốn tránh vì nhiều lý do, mà trong đó quan trọng nhất là lý do chính trị, vì sự thay đổi và trả thù của các triều đại. Ví dụ khi nhà Trần sụp đổ, nhà Lê lên cầm quyền, con cháu nhà Trần trốn chạy, có gia đình chạy vào tận QN. Khi nhà Mạc sụp đổ, con cháu nhà Mạc đổi thành nhiều họ, ly tán khắp bốn phương. Có nhiều nhánh họ Mạc chạy vào tận QN.
Hạng di dân thứ tư, đông đảo nhất là những di dân vì lý do kinh tế. Vì quá nghèo khổ ở vùng đất cũ, nên đông đảo dân chúng theo những đợt di dân do chính quyền tổ chức. Sau mỗi lần mở nước, các triều đại đều tổ chức đưa người tới định cư vùng đất mới, nhất là từ thời Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp.
Dầu vì lý do gì, di dân có một số đặc tính chung như mạo hiểm, can đảm, liều lĩnh, quyết liệt, bất khuất, cấp tiến, khẳng khái, bộc trực, thích tự do, công bằng, dân chủ... Không phải tất cả những đặc tính trên đây đều tác động cùng một lần đến con cháu QN, nhưng ảnh hưởng một cách khác nhau tùy mỗi gia đình, tùy mỗi cá nhân, một vài đặc tính trên, đưa đến những kết quả riêng biệt, nhưng vẫn có một vài điểm căn bản giống nhau, như là hay tranh đấu và hay cãi để bảo vệ những điều mình đạt được trên đường di dân.
Có câu hỏi đặt ra là di dân từ Bắc vào Nam, đến định cư rải rác từ QN đến Bình Định, nhưng tại sao chỉ có dân QN là hay cãi? Xin chú ý, trước khi tiến xuống Quảng Ngãi hay Bình Định ngày nay, người di dân từ Bắc vào Nam, tập trung đầu tiên tại QN, có thể cả một thời gian dài, trên 200 năm, từ thời Huyền Trân đến thời Nguyễn Hoàng, mới dần dần tỏa xuống phía nam. Càng xuống phía nam, bình nguyên càng rộng, thời tiết càng dễ chịu, con người càng thoải mái hơn. Ngoài ra, còn nhiều lý do khác nữa.
2) Tranh đấu trước nghịch cảnh: Lý do thứ hai về việc người QN hay cãi là di dân luôn luôn va chạm và đối phó nghịch cảnh, phải tranh đấu đề sinh tồn. Tranh đấu với cư dân địa phương trước đây là người Chiêm Thành (Chàm). Tranh đấu để mưu sinh ở vùng đất lạ, thiên nhiên khắc nghiệt, rừng thiêng nước độc. Tranh đấu để được tự do, bình đẳng và dân chủ trên vùng đất mới. Tranh đấu trở thành thói quen của người QN và từ đó cũng trở thành hay cãi. Hay cãi là cách tranh đấu bất bạo động để bảo vệ quyền lợi, bảo vệ điều mình nghĩ là lẽ phải, tránh sai lầm, tìm ra sự thật.
3) Tính ham học: Lý do thứ ba là di dân vốn thích phiêu lưu, thích khám phá điều mới lạ, thích tìm tòi học hỏi, có cái nhìn mới. Thêm nữa, người QN nghèo khổ nên ham học để tiến thân bằng thi cử. Tính ham học, cầu tiến, ưa học hỏi, tìm hiểu thêm, khiến cho người QN hay cãi để tiến bộ, tìm ra chân lý.
4) Giọng nói lớn: Lý do thứ tư là không hiểu vì sao người QN có giọng nói lớn, mạnh, sắc, chói tai. Chính chất giọng lớn mạnh tạo điều kiện và hỗ trợ cho người QN hay cãi. Vào một phòng họp, nghe một giọng QN phát biểu là nhận ra ngay. Nhờ chất giọng mạnh nên người QN dễ cãi, thích cãi và trở thành hay cãi. Xin chú ý điểm nầy: ngay cả những người QN nói giọng thấp, nhỏ thì cũng ít cãi.
5) Môi trường hay cãi: Lúc đầu, người QN hay cãi với nhau. Anh em, vợ chồng, bạn bè cãi với nhau, tạo thành môi trường hay cãi, không gian hay cãi. Môi trường hay cãi càng ngày càng mở rộng, trở thành thói quen, hay nếp sống hoặc truyền thống hay cãi. Điều nầy dễ thấy ở những người QN lấy vợ hay chồng tỉnh khác. Sống với nhau một thời gian, và sống trong môi trường hay cãi, người vợ hay chồng đó tuy không phải là người QN, cũng trở thành hay cãi, có khi còn cãi hăng hơn cả vợ hay chồng người QN. Vì vậy có câu: "QN lai bằng hai QN thiệt.” Đây là kết quả của môi trường hay cãi. Nếu không có môi trường để cãi, thì người QN cãi với ai?
Thưa quý vị,
Năm lý do trên đây đưa đến thói quen người “QN hay cãi”. Câu “Quảng Nam hay cãi” có khi được xem là lời mỉa mai người QN chúng ta. Tuy nhiên, xin chú ý rằng hay cãi không phải là tính xấu. Hay cãi chỉ xấu khi cãi bướng, cãi ngang xương, cãi đâm hơi, cãi lấy được. Ngay cả uống thuốc bổ mà quá liều lượng thì cũng có hại, huống gì là hay cãi ẩu? Vì cãi quá đà nên mới bị mỉa mai là “QN hay cãi”. Trong khi thật sự không cãi thì không tiến bộ được. Xin thử tưởng tượng một nhóm người, một tổ chức hay một xã hội mà không một tiếng cãi thì chẳng những không có sinh khí mà bị đóng băng hay là chết
Xin chú ý thêm là cho đến 1802, khi Gia Long lên ngôi, QN mới chính thức ổn định. Do hay cãi để tiến bộ, hay cãi để tranh đấu chống bạo quyền, tranh đấu để bảo vệ cho mình và cho dân tộc mình nên chỉ trong thời gian ngắn, QN đã sản sinh ra một loạt anh hùng, tranh đấu chống Pháp xâm lược, từ Hoàng Diệu, đến Nguyễn Duy Hiệu, qua Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Lê Đình Dương…
Đặc biệt, Phan Khôi là tay cãi cự phách của QN. Ông cãi hay đến nỗi có thời người ta ca tụng “lý luận Phan Khôi”. Sống dưới chế độ CS, ông chẳng sợ hãi khi hay cãi, vì theo ông: “Làm sao cũng chẳng làm sao,/ Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi./ Làm chi cũng chẳng làm chi,/ Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao.” Phan Khôi là người tiêu biểu cho khí phách QN. Ngay giữa lòng Hà Nội năm 1957, Phan Khôi ví chủ nghĩa CS là một thứ cỏ bù xít vì hôi như con bọ xít, hay CS là cây cứt lợn, cây chó đẻ. (Phan Khôi, Nắng chiều, Hà Nội 1957, Hoàng Văn Chí trích dẫn, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Sài Gòn: 1989, tt. 89-96.) Cách đây 47 năm mà Phan Khôi gọi CS là cây chó đẻ, thật là vừa can đảm, vừa sáng suốt.
Thưa quý vị,
Chuyện QN hay cãi là chuyện dài, nhất là người QN có tính tự trào, tức tự giễu về mình, nên có rất nhiều chuyện tiếu lâm QN hay cãi, nhưng thời lượng phải giới hạn, nên câu chuyện của chúng tôi ngang đây xin tạm dừng. Những lý giải trên đây có thể còn thiếu sót, xin quý vị bổ túc thêm để làm rõ vì sao Quảng Nam hay cãi. Chúng tôi xin cảm ơn quý vị đã lắng nghe, trân trọng kính chào quý vị và chúc quý vị một buổi tối gặp gỡ “Quảng Nam hay cãi” thật vui vẻ.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 6-11-2014)
Chén thuốc đắng!
Thói đời ai cũng thích khen để thỏa mãn lòng tự ái, không ai thích chê, mặc dù ông Tuân Tử đã nói, “Người ta chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta…”Nhưng một khi mình đã không thích lời chê thì lý trí lu mờ, đâu còn cho đó là lời chê phải nữa, người tự mãn cho cái gì của mình cũng nhất, cũng phải, ai đó đừng có đụng vào, không khéo người chê mình chỉ vì lòng ganh tị, có khi là thù nghịch.
Mới đây thôi vào, vào ngày 20 Tháng Mười, đài VOA loan tin trang mạng “The Guide to Sleeping in Airports” đã xếp hạng hai phi trường quốc tế lớn nhất của Việt Nam là Tân Sơn Nhất và Nội Bài là hai phi trường tệ nhất Châu Á trong bảng khảo sát 2014, Nội Bài ở Hà Nội xếp thứ 5 và phi trường Tân Sơn Nhất ở Sai Gòn cũ giữ hạng 8 vì các điều kiện cơ sở hạ tầng và phục vụ yếu kém.
Cuộc khảo sát được thực hiện qua ý kiến bầu chọn của những người du khách, dựa vào các yếu tố chính như vệ sinh tại phi trường, thái độ phục vụ của nhân viên hàng không, và điều kiện về cơ sở vật chất tại phi trường. Hai phi trường này quá chật hẹp với số lượng du khách, bẩn thỉu, ồn ào, thiếu máy điều hòa không khí, hành lý ra dây chuyền chậm, bị thất lạc và hay bị mất cắp, nhân viên phi trường hống hách, thiếu thiện cảm.
Lập tức các viên chức của hàng không Việt Nam giẫy nẩy lên, bác bỏ, cho rằng đây là một cuộc đánh giá không phải của một cơ quan chuyên môn, thiếu khách quan, không đúng với thực tế. Đúng là đứa nào chê ta chắc chắn là chê sai và đúng là kẻ thù của ta.
Viên chức, cán bộ hàng không Việt Nam mỗi năm bỏ ra bao nhiêu tiền để xuất ngoại nghiên cứu học hỏi lối tổ chức làm ăn của nước khác, nhưng chẳng đem lại ích lợi gì cho đất nước.
Một “kẻ thù” khác là ông Joel Brinkley, cựu phóng viên New York Times, người từng đoạt giải Pulitzer, sau một chuyến đi Việt Nam 10 ngày, ông đã nhận xét rằng người Việt thích ăn sóc, chim chóc và chuột bọ. “Nói chung bạn không thấy bất kỳ loại động vật nào, cả hoang dã lẫn thú nuôi. Chúng biến đi đâu hết cả? Bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi biết, chúng bị ăn thịt cả rồi.”
Lập tức ông bị các cây bút Việt Nam chỉ trích Brinkley là “hồ đồ, trịch thượng và phân biệt chủng tộc.” Người ta đòi đuổi việc Brinkley, đòi ông phải xin lỗi công khai. Những phản ứng giận dữ đã khiến công ty xuất bản Tribune Media Services phải ra thông cáo thừa nhận rằng bài viết của ông Joel Brinkley không đạt yêu cầu về báo chí.
Một cuộc đánh giá khác chắc chắn là thiếu khách quan, là tạp chí Economist đánh giá chỉ số dân chủ năm 2012, xếp hạng Việt Nam đứng thứ 144 trên tổng số 167 quốc gia được xếp hạng. Theo danh sách của tạp chí này, Việt Nam nằm trong nhóm chính phủ độc tài thiếu dân chủ. Lập tức, bà Nguyễn Thị Doan, phó chủ tịch nước, tuyên bố, “Dân chủ của Việt Nam ‘cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản!’” Cái đứa xếp hạng Việt Nam vào hạng dân chủ tồi tệ hẳn là đứa ngu dốt, không bằng chính trị gia Nguyễn Thị Doan, cũng là chủ tịch danh dự Hội Nữ Trí Thức Việt Nam, người có cái “lưỡi gỗ” và phải đại trí thức mới có sự so sánh lẫy lừng như thế. Bà này còn nói thêm, “Người dân chưa hiểu đúng về dân chủ đi liền với kỷ cương nên một số người đã cố tình lợi dụng dân chủ để gây rối, chia rẽ làm tác động xấu đến trật tự, an toàn xã hội.”
Trong khi tờ Guardian loan tin mỗi năm, 5 triệu con chó bị làm thịt ở Việt Nam, và Tây phương lên án chuyện ăn thịt chó là mọi rợ, thì có lập luận cho rằng, “…Sự cấm đoán quốc tế về vấn đề thịt chó sẽ bị xem như một quyết định của khối tư bản trong mưu đồ ồn ào muốn áp đặt nét văn hóa Tây phương vào các quốc gia Á Châu!” Thật hết chỗ nói. Ở đâu cũng có bàn tay tư bản thò vào!
Khách du lịch Tây phương đến Việt Nam thường than phiền và không muốn trở lại thăm viếng một lần nữa. Ông Matt Kepnes trên www.twitter.com/nomadicmatt đã than phiền: “Không ai muốn trở lại một nơi mà họ cảm thấy bị bạc đãi. Khi tôi ở Việt Nam, tôi đã bị liên tục làm phiền, bán quá đắt, bị lường gạt và bị ngược đãi. Tôi đã gặp người bán hàng trên đường phố liên tục nâng giá. Có người phụ nữ bán bánh mì không trả tiền lẻ cho tôi; người bán thức ăn bắt tôi trả gấp ba trong khi tôi thấy những người khác trước mặt tôi chỉ trả một phần; người tài xế taxi gian lận đồng hồ đếm km trên đường đến trạm xe buýt. Trong khi mua áo thun ở Hội An, ba phụ nữ đã cố gắng giữ cho tôi trong cửa hàng của họ cho đến khi tôi mua một cái gì đó, thậm chí họ còn níu áo sơ mi của tôi.”
“Trên một chuyến đi Vịnh Hạ Long, các nhà điều hành tour du lịch đã không cung cấp nước trên tàu và họ đã lấy khách quá tải, khiến cho người trả tiền cho phòng một người đột nhiên thấy mình với người lạ cùng phòng … đôi khi trong cùng một giường!”
Một nhân viên thuộc ngành du lịch Nhật có dịp viếng Sài Gòn, ông Shimata, phẫn nộ, “…nói tới Việt Nam thì đấy là quốc gia xấu xa tồi tệ nhất và nỗi bất mãn trong tôi sẽ tăng lên tới mức 150%. Tôi ghét Việt Nam. Mà nói đúng ra thì tôi ghét người Việt Nam hơn là ghét Việt Nam. Tôi căm ghét thứ văn hóa ‘móc được cái gì thì móc’ của người Việt.”
Nếu ngành du lịch ở Việt Nam yếu kém, thì đó không phải là lỗi con người mà lỗi vì tiền.
“Tổng Cục Du Lịch thiếu kinh phí, thiếu tiền để làm những clip quảng cáo cho du lịch Việt Nam” như ông Nguyễn Mạnh Cường, phó tổng cục trưởng Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, nhiều lần khẳng định.
Quỹ Kinh Tế Mới (NEF) đánh giá Việt Nam là một dân tộc hạnh phúc thứ nhì của nhân loại, trong bảng xếp hạng chỉ số Hành Tinh Hạnh Phúc (HPI) của năm 2012. Nhưng thông thường để đánh giá một quốc gia hạnh phúc hay không, có phát triển về chất lượng sống hay không, thì cần căn cứ vào cách xếp hạng và chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc. Đó là chỉ số HDI (Human Development Index). HDI bao gồm mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của một quốc gia. Ngay cả GDP (tổng sản phẩm quốc nội) cũng chỉ là một chỉ tiêu để đánh giá HDI quốc gia đó. Theo chỉ số phát triển con người, thì quốc gia có HDI cao nhất là Na Uy (2009), còn Việt Nam đứng thứ 116. Đó mới có thể coi là chỉ số hạnh phúc!
Việt Nam chỉ thích loại đánh giá “giá trị” như NEF, nhưng bất mãn về sự đánh giá của Liên Hiệp Quốc xếp Việt Nam vào hạng 116.
Trái với Nam Hàn, sau 40 năm bị chia cắt, Việt Nam với 40 năm thống nhất đất nước vẫn là một quốc gia trì trệ, lạc hậu và bị mọi người khinh ghét, tự mãn với “đỉnh cao trí tuệ,” “rừng vàng biển bạc,” “đã đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ,” không muốn học hỏi và mở mắt. Bị chia cắt từ năm 1945, chỉ trong vòng 40 năm, Nam Hàn đã tiến những bước tiến dài. Từ một quốc gia lạc hậu nghèo đói, Seoul dã hãnh diện đăng cai tổ chức Olympic 1988. Kỹ nghệ xe hơi, gắn máy, hóa chất, kỹ nghệ đóng tàu, phim ảnh, mỹ phẩm, hàng tiêu dùng của Nam Hàn đã nổi danh thế giới. Ngày nay, Nam Hàn có những ông chủ thuê chuyên viên, công nhân của thế giới làm việc cho mình, chứ không phải cậy cục đi xin việc làm thuê, ở đợ cho các nước khác trên khắp thế giới như Việt Nam. Học hỏi nền giáo dục và tinh thần dân tộc từ Nhật, kỹ nghệ điện ảnh từ Hollywood, khoa học, kỹ thuật của Tây phương, ngày nay các thương hiệu Hyndai, KIA, GM Daewoo, Samsung… có thể cạnh tranh với xe cộ, máy móc hàng hóa Nhật, vốn được cả thế giới yêu chuộng.
Truyền hình Nam Hàn có trường “dạy làm người” và “dạy làm ăn” thì Việt Nam chỉ có truyền thống rỉ tai “dạy ăn” cho nên cán bộ đảng, viên chức cao cấp, người nào cũng giàu có, sống xa xỉ, vương giả mà nhân cách càng ngày càng sa sút.
Trong khi người Nam Hàn yêu nước, ủng hộ và tiêu dùng hàng nội hóa để phát triển kinh tế, thì Việt Nam đua đòi tiêu dùng hàng hóa cao cấp, đắt tiền của ngoại quốc để khoe mẽ sự giàu sang của dòng họ hay cá nhân mình như xe hơi cao cấp, điện thoại đời mới, mỹ phẩm đắt tiền. Nếu có ai phê bình đến đất nước và con người Việt Nam thì sĩ diện hão, đem tự ái dân tộc ra để tránh né, chúi đầu vào cát, chê trách hay miệt thị người khác.
Không uống được chén thuốc đắng, làm sao hết được bệnh tật.
Huy Phương
Thói đời ai cũng thích khen để thỏa mãn lòng tự ái, không ai thích chê, mặc dù ông Tuân Tử đã nói, “Người ta chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta…”Nhưng một khi mình đã không thích lời chê thì lý trí lu mờ, đâu còn cho đó là lời chê phải nữa, người tự mãn cho cái gì của mình cũng nhất, cũng phải, ai đó đừng có đụng vào, không khéo người chê mình chỉ vì lòng ganh tị, có khi là thù nghịch.
Mới đây thôi vào, vào ngày 20 Tháng Mười, đài VOA loan tin trang mạng “The Guide to Sleeping in Airports” đã xếp hạng hai phi trường quốc tế lớn nhất của Việt Nam là Tân Sơn Nhất và Nội Bài là hai phi trường tệ nhất Châu Á trong bảng khảo sát 2014, Nội Bài ở Hà Nội xếp thứ 5 và phi trường Tân Sơn Nhất ở Sai Gòn cũ giữ hạng 8 vì các điều kiện cơ sở hạ tầng và phục vụ yếu kém.
Cuộc khảo sát được thực hiện qua ý kiến bầu chọn của những người du khách, dựa vào các yếu tố chính như vệ sinh tại phi trường, thái độ phục vụ của nhân viên hàng không, và điều kiện về cơ sở vật chất tại phi trường. Hai phi trường này quá chật hẹp với số lượng du khách, bẩn thỉu, ồn ào, thiếu máy điều hòa không khí, hành lý ra dây chuyền chậm, bị thất lạc và hay bị mất cắp, nhân viên phi trường hống hách, thiếu thiện cảm.
Lập tức các viên chức của hàng không Việt Nam giẫy nẩy lên, bác bỏ, cho rằng đây là một cuộc đánh giá không phải của một cơ quan chuyên môn, thiếu khách quan, không đúng với thực tế. Đúng là đứa nào chê ta chắc chắn là chê sai và đúng là kẻ thù của ta.
Viên chức, cán bộ hàng không Việt Nam mỗi năm bỏ ra bao nhiêu tiền để xuất ngoại nghiên cứu học hỏi lối tổ chức làm ăn của nước khác, nhưng chẳng đem lại ích lợi gì cho đất nước.
Một “kẻ thù” khác là ông Joel Brinkley, cựu phóng viên New York Times, người từng đoạt giải Pulitzer, sau một chuyến đi Việt Nam 10 ngày, ông đã nhận xét rằng người Việt thích ăn sóc, chim chóc và chuột bọ. “Nói chung bạn không thấy bất kỳ loại động vật nào, cả hoang dã lẫn thú nuôi. Chúng biến đi đâu hết cả? Bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi biết, chúng bị ăn thịt cả rồi.”
Lập tức ông bị các cây bút Việt Nam chỉ trích Brinkley là “hồ đồ, trịch thượng và phân biệt chủng tộc.” Người ta đòi đuổi việc Brinkley, đòi ông phải xin lỗi công khai. Những phản ứng giận dữ đã khiến công ty xuất bản Tribune Media Services phải ra thông cáo thừa nhận rằng bài viết của ông Joel Brinkley không đạt yêu cầu về báo chí.
Một cuộc đánh giá khác chắc chắn là thiếu khách quan, là tạp chí Economist đánh giá chỉ số dân chủ năm 2012, xếp hạng Việt Nam đứng thứ 144 trên tổng số 167 quốc gia được xếp hạng. Theo danh sách của tạp chí này, Việt Nam nằm trong nhóm chính phủ độc tài thiếu dân chủ. Lập tức, bà Nguyễn Thị Doan, phó chủ tịch nước, tuyên bố, “Dân chủ của Việt Nam ‘cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản!’” Cái đứa xếp hạng Việt Nam vào hạng dân chủ tồi tệ hẳn là đứa ngu dốt, không bằng chính trị gia Nguyễn Thị Doan, cũng là chủ tịch danh dự Hội Nữ Trí Thức Việt Nam, người có cái “lưỡi gỗ” và phải đại trí thức mới có sự so sánh lẫy lừng như thế. Bà này còn nói thêm, “Người dân chưa hiểu đúng về dân chủ đi liền với kỷ cương nên một số người đã cố tình lợi dụng dân chủ để gây rối, chia rẽ làm tác động xấu đến trật tự, an toàn xã hội.”
Trong khi tờ Guardian loan tin mỗi năm, 5 triệu con chó bị làm thịt ở Việt Nam, và Tây phương lên án chuyện ăn thịt chó là mọi rợ, thì có lập luận cho rằng, “…Sự cấm đoán quốc tế về vấn đề thịt chó sẽ bị xem như một quyết định của khối tư bản trong mưu đồ ồn ào muốn áp đặt nét văn hóa Tây phương vào các quốc gia Á Châu!” Thật hết chỗ nói. Ở đâu cũng có bàn tay tư bản thò vào!
Khách du lịch Tây phương đến Việt Nam thường than phiền và không muốn trở lại thăm viếng một lần nữa. Ông Matt Kepnes trên www.twitter.com/nomadicmatt đã than phiền: “Không ai muốn trở lại một nơi mà họ cảm thấy bị bạc đãi. Khi tôi ở Việt Nam, tôi đã bị liên tục làm phiền, bán quá đắt, bị lường gạt và bị ngược đãi. Tôi đã gặp người bán hàng trên đường phố liên tục nâng giá. Có người phụ nữ bán bánh mì không trả tiền lẻ cho tôi; người bán thức ăn bắt tôi trả gấp ba trong khi tôi thấy những người khác trước mặt tôi chỉ trả một phần; người tài xế taxi gian lận đồng hồ đếm km trên đường đến trạm xe buýt. Trong khi mua áo thun ở Hội An, ba phụ nữ đã cố gắng giữ cho tôi trong cửa hàng của họ cho đến khi tôi mua một cái gì đó, thậm chí họ còn níu áo sơ mi của tôi.”
“Trên một chuyến đi Vịnh Hạ Long, các nhà điều hành tour du lịch đã không cung cấp nước trên tàu và họ đã lấy khách quá tải, khiến cho người trả tiền cho phòng một người đột nhiên thấy mình với người lạ cùng phòng … đôi khi trong cùng một giường!”
Một nhân viên thuộc ngành du lịch Nhật có dịp viếng Sài Gòn, ông Shimata, phẫn nộ, “…nói tới Việt Nam thì đấy là quốc gia xấu xa tồi tệ nhất và nỗi bất mãn trong tôi sẽ tăng lên tới mức 150%. Tôi ghét Việt Nam. Mà nói đúng ra thì tôi ghét người Việt Nam hơn là ghét Việt Nam. Tôi căm ghét thứ văn hóa ‘móc được cái gì thì móc’ của người Việt.”
Nếu ngành du lịch ở Việt Nam yếu kém, thì đó không phải là lỗi con người mà lỗi vì tiền.
“Tổng Cục Du Lịch thiếu kinh phí, thiếu tiền để làm những clip quảng cáo cho du lịch Việt Nam” như ông Nguyễn Mạnh Cường, phó tổng cục trưởng Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, nhiều lần khẳng định.
Quỹ Kinh Tế Mới (NEF) đánh giá Việt Nam là một dân tộc hạnh phúc thứ nhì của nhân loại, trong bảng xếp hạng chỉ số Hành Tinh Hạnh Phúc (HPI) của năm 2012. Nhưng thông thường để đánh giá một quốc gia hạnh phúc hay không, có phát triển về chất lượng sống hay không, thì cần căn cứ vào cách xếp hạng và chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc. Đó là chỉ số HDI (Human Development Index). HDI bao gồm mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của một quốc gia. Ngay cả GDP (tổng sản phẩm quốc nội) cũng chỉ là một chỉ tiêu để đánh giá HDI quốc gia đó. Theo chỉ số phát triển con người, thì quốc gia có HDI cao nhất là Na Uy (2009), còn Việt Nam đứng thứ 116. Đó mới có thể coi là chỉ số hạnh phúc!
Việt Nam chỉ thích loại đánh giá “giá trị” như NEF, nhưng bất mãn về sự đánh giá của Liên Hiệp Quốc xếp Việt Nam vào hạng 116.
Trái với Nam Hàn, sau 40 năm bị chia cắt, Việt Nam với 40 năm thống nhất đất nước vẫn là một quốc gia trì trệ, lạc hậu và bị mọi người khinh ghét, tự mãn với “đỉnh cao trí tuệ,” “rừng vàng biển bạc,” “đã đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ,” không muốn học hỏi và mở mắt. Bị chia cắt từ năm 1945, chỉ trong vòng 40 năm, Nam Hàn đã tiến những bước tiến dài. Từ một quốc gia lạc hậu nghèo đói, Seoul dã hãnh diện đăng cai tổ chức Olympic 1988. Kỹ nghệ xe hơi, gắn máy, hóa chất, kỹ nghệ đóng tàu, phim ảnh, mỹ phẩm, hàng tiêu dùng của Nam Hàn đã nổi danh thế giới. Ngày nay, Nam Hàn có những ông chủ thuê chuyên viên, công nhân của thế giới làm việc cho mình, chứ không phải cậy cục đi xin việc làm thuê, ở đợ cho các nước khác trên khắp thế giới như Việt Nam. Học hỏi nền giáo dục và tinh thần dân tộc từ Nhật, kỹ nghệ điện ảnh từ Hollywood, khoa học, kỹ thuật của Tây phương, ngày nay các thương hiệu Hyndai, KIA, GM Daewoo, Samsung… có thể cạnh tranh với xe cộ, máy móc hàng hóa Nhật, vốn được cả thế giới yêu chuộng.
Truyền hình Nam Hàn có trường “dạy làm người” và “dạy làm ăn” thì Việt Nam chỉ có truyền thống rỉ tai “dạy ăn” cho nên cán bộ đảng, viên chức cao cấp, người nào cũng giàu có, sống xa xỉ, vương giả mà nhân cách càng ngày càng sa sút.
Trong khi người Nam Hàn yêu nước, ủng hộ và tiêu dùng hàng nội hóa để phát triển kinh tế, thì Việt Nam đua đòi tiêu dùng hàng hóa cao cấp, đắt tiền của ngoại quốc để khoe mẽ sự giàu sang của dòng họ hay cá nhân mình như xe hơi cao cấp, điện thoại đời mới, mỹ phẩm đắt tiền. Nếu có ai phê bình đến đất nước và con người Việt Nam thì sĩ diện hão, đem tự ái dân tộc ra để tránh né, chúi đầu vào cát, chê trách hay miệt thị người khác.
Không uống được chén thuốc đắng, làm sao hết được bệnh tật.
Huy Phương
Văn hóa không từ chức ‘lên tầm cao mới’
Ngọc Thanh Gửi cho BBC từ Hải Phòng
•14 tháng 10 một 2014 Tác giả cho rằng Thủ tướng Dũng là người mở đầu thứ 'văn hóa không từ chức'.
Cái ngày 14/11/2012, ngày mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nổ phát súng hiệu lệnh “không từ chức” tới nay đã được hai năm.
“Văn hóa từ chức” mà Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc nêu ra cuối cùng lại phản tác dụng, sau ngày 14/11/2012 ấy, có một văn hóa mới hình thành, đó là “Văn hóa không từ chức”.
Trước đây dù các quan từ chức là một việc hiếm, nhưng ít nhất là cũng có xảy ra, đó là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lê Huy Ngọ trong vụ việc cách đây tròn 10 năm (2004).
Cái ngày ấy giờ đây đã xa lắm rồi. Chỉ có dân nhớ chứ quan chức thì không, các Bộ trưởng thích nhớ về “tuyên ngôn” của người trực tiếp lãnh đạo họ - Thủ tướng chính phủ hơn, đó là “Đảng còn tín nhiệm thì còn làm”.
Và thế là sản sinh là một thế hệ chai lỳ hơn nữa, tiêu biểu là Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến – người mà có lẽ không cần nhắc đến tên thì độc giả cũng biết là ai rồi.
Ngoài việc vô tư phát ngôn những câu không khác gì con trẻ như: “Lỗi của Vắc xin thì xử Vắc xin” (chắc là trừng phạt Vắc xin bằng cách không cho để trong chai lọ mà đem đun sôi hoặc đổ xuống cống?) hay “nên có tem cá sạch” (đóng dấu lên cá đang bơi?), thì việc tiền hậu bất nhất cũng làm người ta liên tưởng bà với vị thủ trưởng của mình.
Một mặt Bộ trưởng Tiến nói: "Cấm cán bộ y tế nhận phong bì, quà cáp trước và trong quá trình điều trị nhưng không cấm bác sĩ nhận quà sau điều trị, vì đó là tấm lòng của người bệnh...". Nhưng khi đại biểu Quốc hội chất vấn, bà trả lời: “"Tôi đâu có cho phép nhận phong bì sau điều trị"!
'Trơ trẽn'
Nếu mình làm hết sức, với đam mê và trách nhiệm mà đến lúc nào đó cấp trên hay theo quy trình cán bộ không cho phép mình làm nữa thì tôi sẽ quay về công việc nào đó, miễn vẫn có ích cho đời
Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến
Một điểm không lẫn đi đâu được nếu so sánh với Thủ tướng Dũng là cách trả lời về việc từ chức.
Khi bị chất vấn, Bộ trưởng Tiến nói bà trở thành Bộ Trưởng vì “qua quá trình quy hoạch và công tác của Đảng, Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và được Quốc hội phê chuẩn” và “nếu mình làm hết sức, với đam mê và trách nhiệm mà đến lúc nào đó cấp trên hay theo quy trình cán bộ không cho phép mình làm nữa thì tôi sẽ quay về công việc nào đó, miễn vẫn có ích cho đời".
Rõ ràng vẫn là bài “Đảng phân công” và “chừng nào còn tín nhiệm thì còn làm”.
Nhưng Bộ trưởng Tiến có hơn Thủ tướng Dũng ở mức độ trơ trẽn. Sau khi dịch sởi cướp đi mạng sống của hơn 120 em nhỏ, bà Tiến nói:
“Tôi không thể từ chức vào lúc này” vì “giờ là lúc ngành y tế tập trung cao nhất để giành giật sự sống cho các bé.”
Nghe như thế người ta sẽ hiểu rằng khi dịch kết thúc, bà mới có thể từ chức. Nhưng mọi người chờ dài cổ mà không thấy bà Bộ trưởng nhắc lại chuyện này.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thể tự hào vì đã có một học trò xuất sắc. Nói đúng hơn, giờ đây các Bộ trưởng có thể vững tâm phát ngôn tùy ý và thản nhiên không từ chức vì đã có tiền lệ của thủ trưởng.
“Văn hóa không từ chức” có thể nói đã được nâng lên một tầm cao mới.
Chưa hoàn vốn?
Đương kim Bộ trưởng Y tế của Việt Nam được cho là chịu khá nhiều áp lực gần đây.
Thật ra cũng phải thông cảm cho các quan chức. “Quan trường như chiến trường”, nơi đây không dành cho những người tự trọng.
Tự trọng thì có lẽ nên đi làm những “nghề cao quý” như nhà giáo hay thầy thuốc theo đúng nghĩa. Chính trị gia thì phải trơ lỳ, mưu mô thủ đoạn.
Đặc biệt trong môi trường Chính trị Việt Nam, người ta phải bỏ một số tiền lớn để “chạy chức”.
Đặc biệt trong môi trường Chính trị Việt Nam, người ta phải bỏ một số tiền lớn để “chạy chức”
Nếu từ chức sớm thì sẽ không thu hồi lại được “vốn”, đấy cũng là cái khó của họ.
Nhưng có những vị đã lãi rồi mà vẫn cố bám trụ, vì tiền thì chẳng bao giờ là đủ cả.
Tại sao phải từ chức khi chẳng có cơ chế nào ép mình phải như thế?
“Kính thưa các vị chưa bị phát hiện”, các vị cũng như tôi mà thôi, nên các vị đừng tỏ ra ngạc nhiên khi tôi vẫn tại vị - đó là suy nghĩ của các quan bây giờ.
Nói tóm lại, không thấy một lý do nào để có thể kéo các lãnh đạo ra khỏi vị trí béo bở đang nắm giữ. Nhưng người dân đừng lo, họ không ôm ghế cả đời được đâu, giỏi lắm là đến ngày kết thúc nhiệm kỳ là cùng.
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả.
Ngọc Thanh Gửi cho BBC từ Hải Phòng
•14 tháng 10 một 2014 Tác giả cho rằng Thủ tướng Dũng là người mở đầu thứ 'văn hóa không từ chức'.
Cái ngày 14/11/2012, ngày mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nổ phát súng hiệu lệnh “không từ chức” tới nay đã được hai năm.
“Văn hóa từ chức” mà Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc nêu ra cuối cùng lại phản tác dụng, sau ngày 14/11/2012 ấy, có một văn hóa mới hình thành, đó là “Văn hóa không từ chức”.
Trước đây dù các quan từ chức là một việc hiếm, nhưng ít nhất là cũng có xảy ra, đó là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lê Huy Ngọ trong vụ việc cách đây tròn 10 năm (2004).
Cái ngày ấy giờ đây đã xa lắm rồi. Chỉ có dân nhớ chứ quan chức thì không, các Bộ trưởng thích nhớ về “tuyên ngôn” của người trực tiếp lãnh đạo họ - Thủ tướng chính phủ hơn, đó là “Đảng còn tín nhiệm thì còn làm”.
Và thế là sản sinh là một thế hệ chai lỳ hơn nữa, tiêu biểu là Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến – người mà có lẽ không cần nhắc đến tên thì độc giả cũng biết là ai rồi.
Ngoài việc vô tư phát ngôn những câu không khác gì con trẻ như: “Lỗi của Vắc xin thì xử Vắc xin” (chắc là trừng phạt Vắc xin bằng cách không cho để trong chai lọ mà đem đun sôi hoặc đổ xuống cống?) hay “nên có tem cá sạch” (đóng dấu lên cá đang bơi?), thì việc tiền hậu bất nhất cũng làm người ta liên tưởng bà với vị thủ trưởng của mình.
Một mặt Bộ trưởng Tiến nói: "Cấm cán bộ y tế nhận phong bì, quà cáp trước và trong quá trình điều trị nhưng không cấm bác sĩ nhận quà sau điều trị, vì đó là tấm lòng của người bệnh...". Nhưng khi đại biểu Quốc hội chất vấn, bà trả lời: “"Tôi đâu có cho phép nhận phong bì sau điều trị"!
'Trơ trẽn'
Nếu mình làm hết sức, với đam mê và trách nhiệm mà đến lúc nào đó cấp trên hay theo quy trình cán bộ không cho phép mình làm nữa thì tôi sẽ quay về công việc nào đó, miễn vẫn có ích cho đời
Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến
Một điểm không lẫn đi đâu được nếu so sánh với Thủ tướng Dũng là cách trả lời về việc từ chức.
Khi bị chất vấn, Bộ trưởng Tiến nói bà trở thành Bộ Trưởng vì “qua quá trình quy hoạch và công tác của Đảng, Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và được Quốc hội phê chuẩn” và “nếu mình làm hết sức, với đam mê và trách nhiệm mà đến lúc nào đó cấp trên hay theo quy trình cán bộ không cho phép mình làm nữa thì tôi sẽ quay về công việc nào đó, miễn vẫn có ích cho đời".
Rõ ràng vẫn là bài “Đảng phân công” và “chừng nào còn tín nhiệm thì còn làm”.
Nhưng Bộ trưởng Tiến có hơn Thủ tướng Dũng ở mức độ trơ trẽn. Sau khi dịch sởi cướp đi mạng sống của hơn 120 em nhỏ, bà Tiến nói:
“Tôi không thể từ chức vào lúc này” vì “giờ là lúc ngành y tế tập trung cao nhất để giành giật sự sống cho các bé.”
Nghe như thế người ta sẽ hiểu rằng khi dịch kết thúc, bà mới có thể từ chức. Nhưng mọi người chờ dài cổ mà không thấy bà Bộ trưởng nhắc lại chuyện này.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thể tự hào vì đã có một học trò xuất sắc. Nói đúng hơn, giờ đây các Bộ trưởng có thể vững tâm phát ngôn tùy ý và thản nhiên không từ chức vì đã có tiền lệ của thủ trưởng.
“Văn hóa không từ chức” có thể nói đã được nâng lên một tầm cao mới.
Chưa hoàn vốn?
Đương kim Bộ trưởng Y tế của Việt Nam được cho là chịu khá nhiều áp lực gần đây.
Thật ra cũng phải thông cảm cho các quan chức. “Quan trường như chiến trường”, nơi đây không dành cho những người tự trọng.
Tự trọng thì có lẽ nên đi làm những “nghề cao quý” như nhà giáo hay thầy thuốc theo đúng nghĩa. Chính trị gia thì phải trơ lỳ, mưu mô thủ đoạn.
Đặc biệt trong môi trường Chính trị Việt Nam, người ta phải bỏ một số tiền lớn để “chạy chức”.
Đặc biệt trong môi trường Chính trị Việt Nam, người ta phải bỏ một số tiền lớn để “chạy chức”
Nếu từ chức sớm thì sẽ không thu hồi lại được “vốn”, đấy cũng là cái khó của họ.
Nhưng có những vị đã lãi rồi mà vẫn cố bám trụ, vì tiền thì chẳng bao giờ là đủ cả.
Tại sao phải từ chức khi chẳng có cơ chế nào ép mình phải như thế?
“Kính thưa các vị chưa bị phát hiện”, các vị cũng như tôi mà thôi, nên các vị đừng tỏ ra ngạc nhiên khi tôi vẫn tại vị - đó là suy nghĩ của các quan bây giờ.
Nói tóm lại, không thấy một lý do nào để có thể kéo các lãnh đạo ra khỏi vị trí béo bở đang nắm giữ. Nhưng người dân đừng lo, họ không ôm ghế cả đời được đâu, giỏi lắm là đến ngày kết thúc nhiệm kỳ là cùng.
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả.

Ngược Lại Với Yêu Là Gì? Một giáo sư đang giảng về “tiểu thuyết” ở một lớp học của các nhà văn trẻ, giáo sư bỗng dừng lại hỏi các học viên:
- Ngược lại với yêu là gì?
- Ghét ạ!
Giáo sư đi đi, lại lại, trầm ngâm, ông bỏ giáo trình xuống bàn và nói:
- Thế này nhé: Ví như anh đang yêu, sau đó chia tay! 50 năm sau anh 70 tuổi, tình cờ gặp lại người cũ trong một chiều đi dạo. Lúc đó bà nọ chằm chằm nhìn anh và nói: “Ông A ơi tôi ghét ông!”. Nếu tình tiết xảy ra đúng như vậy, anh phải mừng cho bản thân mình!
- Vì sao?
- Vì anh là người may mắn mới có người ghét anh hàng nửa thế kỷ.
- May mắn quái gì, phi lý!
- Bình tĩnh, bình tĩnh, anh nghĩ kỹ xem, ghét cũng cuốn hút tình cảm như yêu như thương, tức là tình cảm của ai đó vẫn nghĩ về anh. Có người ghét anh 50 năm, tức là vẫn nghĩ về anh 50 năm, thật là hiếm có đấy! Anh may mắn không nào?
Điều đáng sợ là khi anh gặp lại người cũ, anh hỏi:
“Bà B ơi có nhớ tôi không?”.
Người nọ đứng đực ra nhìn anh và nói:
“Thưa ông, tôi nom ông hơi quen quen, ông là ai?”.
Cả lớp cười ồ lên, câu chuyện tưởng tượng này quả là thú vị pha thêm chút ngượng ngùng…
Giáo sư khẳng định:
“Ngược lại với yêu đâu phải là ghét!”.
Cả lớp đồng ý với giáo sư:
“Ngược lại với yêu là lãng quên!”
Sưu tầm
Chén thuốc đắng
Huy Phương – Thói đời ai cũng thích khen để thỏa mãn lòng tự ái, không ai thích chê, mặc dù ông Tuân Tử đã nói, “Người ta chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta…”
Nhưng một khi mình đã không thích lời chê thì lý trí lu mờ, đâu còn cho đó là lời chê phải nữa, người tự mãn cho cái gì của mình cũng nhất, cũng phải, ai đó đừng có đụng vào, không khéo người chê mình chỉ vì lòng ganh tị, có khi là thù nghịch.
Mới đây thôi vào, vào ngày 20 Tháng Mười, đài VOA loan tin trang mạng
“The Guide to Sleeping in Airports” đã xếp hạng hai phi trường quốc tế lớn nhất của Việt Nam là Tân Sơn Nhất và Nội Bài là hai phi trường tệ nhất Châu Á trong bảng khảo sát 2014,
Nội Bài ở Hà Nội xếp thứ 5 và phi trường Tân Sơn Nhất ở Sai Gòn cũ giữ hạng 8 vì các điều kiện cơ sở hạ tầng và phục vụ yếu kém.
Cuộc khảo sát được thực hiện qua ý kiến bầu chọn của những người du khách, dựa vào các yếu tố chính như vệ sinh tại phi trường, thái độ phục vụ của nhân viên hàng không, và điều kiện về cơ sở vật chất tại phi trường.
Hai phi trường này quá chật hẹp với số lượng du khách, bẩn thỉu, ồn ào, thiếu máy điều hòa không khí, hành lý ra dây chuyền chậm, bị thất lạc và hay bị mất cắp, nhân viên phi trường hống hách, thiếu thiện cảm.
Lập tức các viên chức của hàng không Việt Nam giẫy nẩy lên, bác bỏ, cho rằng đây là một cuộc đánh giá không phải của một cơ quan chuyên môn, thiếu khách quan, không đúng với thực tế. Đúng là đứa nào chê ta chắc chắn là chê sai và đúng là kẻ thù của ta.
Viên chức, cán bộ hàng không Việt Nam mỗi năm bỏ ra bao nhiêu tiền để xuất ngoại nghiên cứu học hỏi lối tổ chức làm ăn của nước khác, nhưng chẳng đem lại ích lợi gì cho đất nước.
Một “kẻ thù” khác là ông Joel Brinkley, cựu phóng viên New York Times, người từng đoạt giải Pulitzer, sau một chuyến đi Việt Nam 10 ngày, ông đã nhận xét rằng người Việt thích ăn sóc, chim chóc và chuột bọ.
“Nói chung bạn không thấy bất kỳ loại động vật nào, cả hoang dã lẫn thú nuôi. Chúng biến đi đâu hết cả? Bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi biết, chúng bị ăn thịt cả rồi.”
Lập tức ông bị các cây bút Việt Nam chỉ trích Brinkley là “hồ đồ, trịch thượng và phân biệt chủng tộc.”
Người ta đòi đuổi việc Brinkley, đòi ông phải xin lỗi công khai. Những phản ứng giận dữ đã khiến công ty xuất bản Tribune Media Services phải ra thông cáo thừa nhận rằng bài viết của ông Joel Brinkley không đạt yêu cầu về báo chí.
Một cuộc đánh giá khác chắc chắn là thiếu khách quan, là tạp chí Economist đánh giá chỉ số dân chủ năm 2012, xếp hạng Việt Nam đứng thứ 144 trên tổng số 167 quốc gia được xếp hạng. Theo danh sách của tạp chí này, Việt Nam nằm trong nhóm chính phủ độc tài thiếu dân chủ.
Lập tức, bà Nguyễn Thị Doan, phó chủ tịch nước, tuyên bố, “Dân chủ của Việt Nam ‘cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản!’”
Cái đứa xếp hạng Việt Nam vào hạng dân chủ tồi tệ hẳn là đứa ngu dốt, không bằng chính trị gia Nguyễn Thị Doan, cũng là chủ tịch danh dự Hội Nữ Trí Thức Việt Nam, người có cái “lưỡi gỗ” và phải đại trí thức mới có sự so sánh lẫy lừng như thế. Bà này còn nói thêm, “Người dân chưa hiểu đúng về dân chủ đi liền với kỷ cương nên một số người đã cố tình lợi dụng dân chủ để gây rối, chia rẽ làm tác động xấu đến trật tự, an toàn xã hội.”
Trong khi tờ Guardian loan tin mỗi năm, 5 triệu con chó bị làm thịt ở Việt Nam, và Tây phương lên án chuyện ăn thịt chó là mọi rợ, thì có lập luận cho rằng,
“…Sự cấm đoán quốc tế về vấn đề thịt chó sẽ bị xem như một quyết định của khối tư bản trong mưu đồ ồn ào muốn áp đặt nét văn hóa Tây phương vào các quốc gia Á Châu!”
Thật hết chỗ nói. Ở đâu cũng có bàn tay tư bản thò vào! Vậy thì chúng ta là Cộng Sản Á Châu, chúng ta tiếp tục ăn thịt chó!
Khách du lịch Tây phương đến Việt Nam thường than phiền và không muốn trở lại thăm viếng một lần nữa.
Ông Matt Kepnes trên www.twitter.com/nomadicmatt đã than phiền:
“Không ai muốn trở lại một nơi mà họ cảm thấy bị bạc đãi. Khi tôi ở Việt Nam, tôi đã bị liên tục làm phiền, bán quá đắt, bị lường gạt và bị ngược đãi. Tôi đã gặp người bán hàng trên đường phố liên tục nâng giá. Có người phụ nữ bán bánh mì không trả tiền lẻ cho tôi; người bán thức ăn bắt tôi trả gấp ba trong khi tôi thấy những người khác trước mặt tôi chỉ trả một phần; người tài xế taxi gian lận đồng hồ đếm km trên đường đến trạm xe buýt. Trong khi mua áo thun ở Hội An, ba phụ nữ đã cố gắng giữ cho tôi trong cửa hàng của họ cho đến khi tôi mua một cái gì đó, thậm chí họ còn níu áo sơ mi của tôi.”
“Trên một chuyến đi Vịnh Hạ Long, các nhà điều hành tour du lịch đã không cung cấp nước trên tàu và họ đã lấy khách quá tải, khiến cho người trả tiền cho phòng một người đột nhiên thấy mình với người lạ cùng phòng … đôi khi trong cùng một giường!”
Một nhân viên thuộc ngành du lịch Nhật có dịp viếng Sài Gòn, ông Shimata, phẫn nộ, “…nói tới Việt Nam thì đấy là quốc gia xấu xa tồi tệ nhất và nỗi bất mãn trong tôi sẽ tăng lên tới mức 150%. Tôi ghét Việt Nam. Mà nói đúng ra thì tôi ghét người Việt Nam hơn là ghét Việt Nam. Tôi căm ghét thứ văn hóa ‘móc được cái gì thì móc’ của người Việt.”
Nếu ngành du lịch ở Việt Nam yếu kém, thì đó không phải là lỗi con người mà lỗi vì tiền.
“Tổng Cục Du Lịch thiếu kinh phí, thiếu tiền để làm những clip quảng cáo cho du lịch Việt Nam” như ông Nguyễn Mạnh Cường, phó tổng cục trưởng Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, nhiều lần khẳng định.
Quỹ Kinh Tế Mới (NEF) đánh giá Việt Nam là một dân tộc hạnh phúc thứ nhì của nhân loại, trong bảng xếp hạng chỉ số Hành Tinh Hạnh Phúc (HPI) của năm 2012.
Nhưng thông thường để đánh giá một quốc gia hạnh phúc hay không, có phát triển về chất lượng sống hay không, thì cần căn cứ vào cách xếp hạng và chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc. Đó là chỉ số HDI (Human Development Index). HDI bao gồm mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của một quốc gia. Ngay cả GDP (tổng sản phẩm quốc nội) cũng chỉ là một chỉ tiêu để đánh giá HDI quốc gia đó.
Theo chỉ số phát triển con người, thì quốc gia có HDI cao nhất là Na Uy (2009), còn Việt Nam đứng thứ 116. Đó mới có thể coi là chỉ số hạnh phúc!
Việt Nam chỉ thích loại đánh giá “giá trị” như NEF, nhưng bất mãn về sự đánh giá của Liên Hiệp Quốc xếp Việt Nam vào hạng 116.
Trái với Nam Hàn, sau 40 năm bị chia cắt, Việt Nam với 40 năm thống nhất đất nước vẫn là một quốc gia trì trệ, lạc hậu và bị mọi người khinh ghét, tự mãn với “đỉnh cao trí tuệ,” “rừng vàng biển bạc,” “đã đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ,” không muốn học hỏi và mở mắt.
Bị chia cắt từ năm 1945, chỉ trong vòng 40 năm, Nam Hàn đã tiến những bước tiến dài.
Từ một quốc gia lạc hậu nghèo đói, Seoul dã hãnh diện đăng cai tổ chức Olympic 1988.
Kỹ nghệ xe hơi, gắn máy, hóa chất, kỹ nghệ đóng tàu, phim ảnh, mỹ phẩm, hàng tiêu dùng của Nam Hàn đã nổi danh thế giới.
Ngày nay, Nam Hàn có những ông chủ thuê chuyên viên, công nhân của thế giới làm việc cho mình, chứ không phải cậy cục đi xin việc làm thuê, ở đợ cho các nước khác trên khắp thế giới như Việt Nam.
Học hỏi nền giáo dục và tinh thần dân tộc từ Nhật, kỹ nghệ điện ảnh từ Hollywood, khoa học, kỹ thuật của Tây phương, ngày nay các thương hiệu Hyndai, KIA, GM Daewoo, Samsung… có thể cạnh tranh với xe cộ, máy móc hàng hóa Nhật, vốn được cả thế giới yêu chuộng.
Truyền hình Nam Hàn có trường “dạy làm người” và “dạy làm ăn” thì Việt Nam chỉ có truyền thống rỉ tai “dạy ăn” cho nên cán bộ đảng, viên chức cao cấp, người nào cũng giàu có, sống xa xỉ, vương giả mà nhân cách càng ngày càng sa sút.
Trong khi người Nam Hàn yêu nước, ủng hộ và tiêu dùng hàng nội hóa để phát triển kinh tế, thì Việt Nam đua đòi tiêu dùng hàng hóa cao cấp, đắt tiền của ngoại quốc để khoe mẽ sự giàu sang của dòng họ hay cá nhân mình như xe hơi cao cấp, điện thoại đời mới, mỹ phẩm đắt tiền.
Nếu có ai phê bình đến đất nước và con người Việt Nam thì sĩ diện hão, đem tự ái dân tộc ra để tránh né, chúi đầu vào cát, chê trách hay miệt thị người khác.
Không uống được chén thuốc đắng, làm sao hết được bệnh tật.
Huy Phương – Thói đời ai cũng thích khen để thỏa mãn lòng tự ái, không ai thích chê, mặc dù ông Tuân Tử đã nói, “Người ta chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta…”
Nhưng một khi mình đã không thích lời chê thì lý trí lu mờ, đâu còn cho đó là lời chê phải nữa, người tự mãn cho cái gì của mình cũng nhất, cũng phải, ai đó đừng có đụng vào, không khéo người chê mình chỉ vì lòng ganh tị, có khi là thù nghịch.
Mới đây thôi vào, vào ngày 20 Tháng Mười, đài VOA loan tin trang mạng
“The Guide to Sleeping in Airports” đã xếp hạng hai phi trường quốc tế lớn nhất của Việt Nam là Tân Sơn Nhất và Nội Bài là hai phi trường tệ nhất Châu Á trong bảng khảo sát 2014,
Nội Bài ở Hà Nội xếp thứ 5 và phi trường Tân Sơn Nhất ở Sai Gòn cũ giữ hạng 8 vì các điều kiện cơ sở hạ tầng và phục vụ yếu kém.
Cuộc khảo sát được thực hiện qua ý kiến bầu chọn của những người du khách, dựa vào các yếu tố chính như vệ sinh tại phi trường, thái độ phục vụ của nhân viên hàng không, và điều kiện về cơ sở vật chất tại phi trường.
Hai phi trường này quá chật hẹp với số lượng du khách, bẩn thỉu, ồn ào, thiếu máy điều hòa không khí, hành lý ra dây chuyền chậm, bị thất lạc và hay bị mất cắp, nhân viên phi trường hống hách, thiếu thiện cảm.
Lập tức các viên chức của hàng không Việt Nam giẫy nẩy lên, bác bỏ, cho rằng đây là một cuộc đánh giá không phải của một cơ quan chuyên môn, thiếu khách quan, không đúng với thực tế. Đúng là đứa nào chê ta chắc chắn là chê sai và đúng là kẻ thù của ta.
Viên chức, cán bộ hàng không Việt Nam mỗi năm bỏ ra bao nhiêu tiền để xuất ngoại nghiên cứu học hỏi lối tổ chức làm ăn của nước khác, nhưng chẳng đem lại ích lợi gì cho đất nước.
Một “kẻ thù” khác là ông Joel Brinkley, cựu phóng viên New York Times, người từng đoạt giải Pulitzer, sau một chuyến đi Việt Nam 10 ngày, ông đã nhận xét rằng người Việt thích ăn sóc, chim chóc và chuột bọ.
“Nói chung bạn không thấy bất kỳ loại động vật nào, cả hoang dã lẫn thú nuôi. Chúng biến đi đâu hết cả? Bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi biết, chúng bị ăn thịt cả rồi.”
Lập tức ông bị các cây bút Việt Nam chỉ trích Brinkley là “hồ đồ, trịch thượng và phân biệt chủng tộc.”
Người ta đòi đuổi việc Brinkley, đòi ông phải xin lỗi công khai. Những phản ứng giận dữ đã khiến công ty xuất bản Tribune Media Services phải ra thông cáo thừa nhận rằng bài viết của ông Joel Brinkley không đạt yêu cầu về báo chí.
Một cuộc đánh giá khác chắc chắn là thiếu khách quan, là tạp chí Economist đánh giá chỉ số dân chủ năm 2012, xếp hạng Việt Nam đứng thứ 144 trên tổng số 167 quốc gia được xếp hạng. Theo danh sách của tạp chí này, Việt Nam nằm trong nhóm chính phủ độc tài thiếu dân chủ.
Lập tức, bà Nguyễn Thị Doan, phó chủ tịch nước, tuyên bố, “Dân chủ của Việt Nam ‘cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản!’”
Cái đứa xếp hạng Việt Nam vào hạng dân chủ tồi tệ hẳn là đứa ngu dốt, không bằng chính trị gia Nguyễn Thị Doan, cũng là chủ tịch danh dự Hội Nữ Trí Thức Việt Nam, người có cái “lưỡi gỗ” và phải đại trí thức mới có sự so sánh lẫy lừng như thế. Bà này còn nói thêm, “Người dân chưa hiểu đúng về dân chủ đi liền với kỷ cương nên một số người đã cố tình lợi dụng dân chủ để gây rối, chia rẽ làm tác động xấu đến trật tự, an toàn xã hội.”
Trong khi tờ Guardian loan tin mỗi năm, 5 triệu con chó bị làm thịt ở Việt Nam, và Tây phương lên án chuyện ăn thịt chó là mọi rợ, thì có lập luận cho rằng,
“…Sự cấm đoán quốc tế về vấn đề thịt chó sẽ bị xem như một quyết định của khối tư bản trong mưu đồ ồn ào muốn áp đặt nét văn hóa Tây phương vào các quốc gia Á Châu!”
Thật hết chỗ nói. Ở đâu cũng có bàn tay tư bản thò vào! Vậy thì chúng ta là Cộng Sản Á Châu, chúng ta tiếp tục ăn thịt chó!
Khách du lịch Tây phương đến Việt Nam thường than phiền và không muốn trở lại thăm viếng một lần nữa.
Ông Matt Kepnes trên www.twitter.com/nomadicmatt đã than phiền:
“Không ai muốn trở lại một nơi mà họ cảm thấy bị bạc đãi. Khi tôi ở Việt Nam, tôi đã bị liên tục làm phiền, bán quá đắt, bị lường gạt và bị ngược đãi. Tôi đã gặp người bán hàng trên đường phố liên tục nâng giá. Có người phụ nữ bán bánh mì không trả tiền lẻ cho tôi; người bán thức ăn bắt tôi trả gấp ba trong khi tôi thấy những người khác trước mặt tôi chỉ trả một phần; người tài xế taxi gian lận đồng hồ đếm km trên đường đến trạm xe buýt. Trong khi mua áo thun ở Hội An, ba phụ nữ đã cố gắng giữ cho tôi trong cửa hàng của họ cho đến khi tôi mua một cái gì đó, thậm chí họ còn níu áo sơ mi của tôi.”
“Trên một chuyến đi Vịnh Hạ Long, các nhà điều hành tour du lịch đã không cung cấp nước trên tàu và họ đã lấy khách quá tải, khiến cho người trả tiền cho phòng một người đột nhiên thấy mình với người lạ cùng phòng … đôi khi trong cùng một giường!”
Một nhân viên thuộc ngành du lịch Nhật có dịp viếng Sài Gòn, ông Shimata, phẫn nộ, “…nói tới Việt Nam thì đấy là quốc gia xấu xa tồi tệ nhất và nỗi bất mãn trong tôi sẽ tăng lên tới mức 150%. Tôi ghét Việt Nam. Mà nói đúng ra thì tôi ghét người Việt Nam hơn là ghét Việt Nam. Tôi căm ghét thứ văn hóa ‘móc được cái gì thì móc’ của người Việt.”
Nếu ngành du lịch ở Việt Nam yếu kém, thì đó không phải là lỗi con người mà lỗi vì tiền.
“Tổng Cục Du Lịch thiếu kinh phí, thiếu tiền để làm những clip quảng cáo cho du lịch Việt Nam” như ông Nguyễn Mạnh Cường, phó tổng cục trưởng Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, nhiều lần khẳng định.
Quỹ Kinh Tế Mới (NEF) đánh giá Việt Nam là một dân tộc hạnh phúc thứ nhì của nhân loại, trong bảng xếp hạng chỉ số Hành Tinh Hạnh Phúc (HPI) của năm 2012.
Nhưng thông thường để đánh giá một quốc gia hạnh phúc hay không, có phát triển về chất lượng sống hay không, thì cần căn cứ vào cách xếp hạng và chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc. Đó là chỉ số HDI (Human Development Index). HDI bao gồm mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của một quốc gia. Ngay cả GDP (tổng sản phẩm quốc nội) cũng chỉ là một chỉ tiêu để đánh giá HDI quốc gia đó.
Theo chỉ số phát triển con người, thì quốc gia có HDI cao nhất là Na Uy (2009), còn Việt Nam đứng thứ 116. Đó mới có thể coi là chỉ số hạnh phúc!
Việt Nam chỉ thích loại đánh giá “giá trị” như NEF, nhưng bất mãn về sự đánh giá của Liên Hiệp Quốc xếp Việt Nam vào hạng 116.
Trái với Nam Hàn, sau 40 năm bị chia cắt, Việt Nam với 40 năm thống nhất đất nước vẫn là một quốc gia trì trệ, lạc hậu và bị mọi người khinh ghét, tự mãn với “đỉnh cao trí tuệ,” “rừng vàng biển bạc,” “đã đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ,” không muốn học hỏi và mở mắt.
Bị chia cắt từ năm 1945, chỉ trong vòng 40 năm, Nam Hàn đã tiến những bước tiến dài.
Từ một quốc gia lạc hậu nghèo đói, Seoul dã hãnh diện đăng cai tổ chức Olympic 1988.
Kỹ nghệ xe hơi, gắn máy, hóa chất, kỹ nghệ đóng tàu, phim ảnh, mỹ phẩm, hàng tiêu dùng của Nam Hàn đã nổi danh thế giới.
Ngày nay, Nam Hàn có những ông chủ thuê chuyên viên, công nhân của thế giới làm việc cho mình, chứ không phải cậy cục đi xin việc làm thuê, ở đợ cho các nước khác trên khắp thế giới như Việt Nam.
Học hỏi nền giáo dục và tinh thần dân tộc từ Nhật, kỹ nghệ điện ảnh từ Hollywood, khoa học, kỹ thuật của Tây phương, ngày nay các thương hiệu Hyndai, KIA, GM Daewoo, Samsung… có thể cạnh tranh với xe cộ, máy móc hàng hóa Nhật, vốn được cả thế giới yêu chuộng.
Truyền hình Nam Hàn có trường “dạy làm người” và “dạy làm ăn” thì Việt Nam chỉ có truyền thống rỉ tai “dạy ăn” cho nên cán bộ đảng, viên chức cao cấp, người nào cũng giàu có, sống xa xỉ, vương giả mà nhân cách càng ngày càng sa sút.
Trong khi người Nam Hàn yêu nước, ủng hộ và tiêu dùng hàng nội hóa để phát triển kinh tế, thì Việt Nam đua đòi tiêu dùng hàng hóa cao cấp, đắt tiền của ngoại quốc để khoe mẽ sự giàu sang của dòng họ hay cá nhân mình như xe hơi cao cấp, điện thoại đời mới, mỹ phẩm đắt tiền.
Nếu có ai phê bình đến đất nước và con người Việt Nam thì sĩ diện hão, đem tự ái dân tộc ra để tránh né, chúi đầu vào cát, chê trách hay miệt thị người khác.
Không uống được chén thuốc đắng, làm sao hết được bệnh tật.
Một lời xin lỗi chân thành
Bùi Bảo Trúc
Nói theo một lối nói của người Mỹ mà nay nhiều người chúng ta đã rất quen, là tôi nợ những bản nhạc mà chúng ta thường gọi là "nhạc lính" một lời xin lỗi. Một lời xin lỗi thật lớn, thật chân tình nhất và thành thật nhất.
Xin lỗi những bản nhạc lính, những người trình diễn chúng, những người yêu chúng, không chỉ một, mà một ngàn lời xin lỗi. Một vạn lời xin lỗi. Mà vẫn thấy chưa đủ.
Một buổi tối tuần trước, ngồi với Phan Nhật Nam, chúng tôi nhận ra một điều là cuộc chiến Việt Nam bi thảm và vô cùng tàn bạo nhưng đã để lại cho chúng ta, những người ở miền Nam, một kho tàng hết sức quí báu, đó là những bản nhạc viết về những người lính trong chiến tranh, và tuy ngày nay, cuộc chiến đã kết thúc, những bài hát ấy vẫn còn ở lại với chúng ta và chúng vẫn còn tạo ra biết bao nhiêu là cảm động, biết bao nhiêu xao xuyến, và vẫn còn được hát lên để nhớ lại nguyên một thời binh đao tưởng như cung kiếm đã xếp lại, bụi dầy đã phủ kín. Bức tượng người lính dáng điệu mệt mỏi ở lối vào Nghĩa trang quân đội Biên Hòa bị kéo sập không biết nay ở đâu nhưng những bài hát viết cho những người lính này vẫn còn ở mãi với chúng ta.
Những bài hát đầu tiên về những người lính ấy mơ hồ tôi nghe từ chiếc radio trên căn gác ở Hà Nội của người chú... Bài Chiến sĩ của lòng em với những câu "... khi nước nhà phút ngã nghiêng em mơ người trai anh dũng mang thân thế hiến giang sơn chí quật cường hiên ngang... chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ ở chiến trường xa dãi nắng dầm mưa nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em trong khi vang ca say theo chiến thắng..."
Vài tháng sau chú tôi tử trận.
Vào Sài Gòn, khoảng năm 1957, tôi nghe bài Em gắng chờ của Huỳnh Anh và yêu ngay những câu này: "... vai súng hiên ngang hẹn cùng người cũ... trong bóng vinh quang rộn ràng anh bước hiên ngang về làng trời Nam hân hoan reo vang thanh bình ca..." Tôi yêu bài hát ấy vì một cô bạn hàng xóm, tưởng tượng cô là người đứng trên bến sông...
Nhưng đó mới chỉ là những bài hát về lính còn quá hiền lành, khi cuộc chiến chỉ mới bắt đầu... Anh về qua xóm nhỏ, em chờ dưới gốc dừa nắng chiều lên mái tóc, tình quê hương đơn sơ... anh chiến binh tiền tuyến ơi về giải phóng quê hương...
Một thời gian sau, vài ba người bạn trong lớp bỏ học lên đường nhập ngũ... bạn ơi, mai này ai hỏi đến tên tôi, thì xin hãy đáp khoác chiến y rồi... người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền... Lời ca lãng mạn, hơi bầy đặt, rẻ tiền nhưng tội nghiệp vô cùng. Tôi nhớ một tối lén đi uống bia với người bạn tiễn chàng đi lính. Bài hát ấy được hát lên bởi một người bạn bên những chai bia đầu tiên. Nội trong năm ấy, cả hai đều chết trận.
Hai năm sau, tôi đi học xa, mấy năm sau mới về. Tôi không nghe những bài hát ấy nữa. Tôi nghe Beatles, rock, nhạc cổ điển Tây phương, nhạc đồng quê, nhạc dân ca Mỹ, nhạc phản chiến... Ở Việt Nam, cuộc chiến đang trở nên khốc liệt hơn. Những bản nhạc tôi nghe trong những năm xa nhà là thứ nhạc hoàn toàn khác. Bob Dylan, Joan Baez, Peter Paul & Mary, Pete Seeger... cũng nói về chiến tranh đấy, nhưng trở lại Sài Gòn tôi mới lại được nghe những bản nhạc lính mà tôi đã bỏ quên đi trong suốt những năm xa nhà. Thư nhà cho biết dăm ba người bạn cùng lớp đã truy thăng thiếu úy...
Sáng nay vừa thức dậy, nghe tin em gục ngã nơi chiến trường... trong vườn tôi vô tình hoa tường vi vẫn nở thêm một đóa... Nếu em không là người yêu của lính... tên thật là em các bin, họ hàng em có trăm nghìn... từ ngày tôi lên cai việc làm tôi rất nhiều, binh ngoan cho nốt tốt, lười cho coóc vê... đi quân dịch là thương nòi giống... hãy nhớ tới anh luôn luôn, yêu em vì lòng chờ mong... anh đi chiến dịch... lòng súng nhân đạo cứu người lầm than... anh là lính đa tình... phi đạo chạy dài anh cất cánh bay lên...
Trở lại Sài Gòn, những buổi chiều trong quán nước mở trang báo ra đọc thấy tên bạn bè mấy người trên trang cáo phó chết trận cao nguyên.
... viết tên người yêu lên ba lô nặng trĩu... đừng trước ngõ cũ nghe giặc tràn qua thôn xóm... thăm em dăm ba ngày rồi anh đi... xuyên lá cành trăng lên lều vải... chiều mưa biên giới anh đi về đâu... anh không chết đâu anh, người anh hùng Mũ Đỏ tên Đương... quỳ hôn đất thân yêu, Quảng Trị ơi mừng quê hương giải phóng...
Nhạc Việt đã đổi khác... em ngại ngùng dạo phố... bên người yêu tật nguyền... anh trở về trên đôi nạng gỗ... bại tướng cụt chân...
Những bài hát như thế phải có cả trăm bài cho đến nay vẫn còn được hát lên. Hát để nhớ lại những bất hạnh của một thời tuổi trẻ. Những chuyện đáng lẽ phải quên đi. Nhưng những chuyện đó cũng lại là một phần của đời sống chúng ta.
Chúng ta phải cám ơn những bài hát ấy mặc dù chúng bi thảm, đau đớn. Chúng vẫn nhắc chúng ta về những thương tích không bao giờ lành trên cơ thể của mỗi người.
Trong khi những người lính miền Bắc không có được những bài ca như thế. Chỉ là những bài ca đặt hàng, ngợi ca lãnh tụ hay những tiếng chầy trên sóc Bom Bo cum cụp cum... tìm diệt Mỹ giải phòng cho dân mình... bóng cây kơ nia, tiếng đàn ta lư...
Họ không có được những ca khúc nên hồn để còn hát lên được cho mãi tận này hôm nay. Trong khi những mất mát của họ không hề nhỏ. Nhưng ngày nay, còn đươc mấy người hát những bài hát ấy. Và nếu hát chúng lên thì có được bao nhiêu người xúc động?
Cám ơn những bài nhạc lính. Xin lỗi những bài nhạc lính, những bài nhạc có một thời mà không ít người trong chúng ta đã coi thường nó, cũng có thể đã khinh bỉ nó, coi nó là quê mùa, sến... trong khi chúng hay biết là chừng nào. Nửa trên vĩ tuyến 17 không có được một nền nhạc như thế.
Tôi thành thật xin lỗi những bài nhạc lính, xin lỗi các tác gỉả, những người hát chúng, một trăm ngàn lần.
Mà vẫn thấy chưa đủ.
Bùi Bảo Trúc
Nói theo một lối nói của người Mỹ mà nay nhiều người chúng ta đã rất quen, là tôi nợ những bản nhạc mà chúng ta thường gọi là "nhạc lính" một lời xin lỗi. Một lời xin lỗi thật lớn, thật chân tình nhất và thành thật nhất.
Xin lỗi những bản nhạc lính, những người trình diễn chúng, những người yêu chúng, không chỉ một, mà một ngàn lời xin lỗi. Một vạn lời xin lỗi. Mà vẫn thấy chưa đủ.
Một buổi tối tuần trước, ngồi với Phan Nhật Nam, chúng tôi nhận ra một điều là cuộc chiến Việt Nam bi thảm và vô cùng tàn bạo nhưng đã để lại cho chúng ta, những người ở miền Nam, một kho tàng hết sức quí báu, đó là những bản nhạc viết về những người lính trong chiến tranh, và tuy ngày nay, cuộc chiến đã kết thúc, những bài hát ấy vẫn còn ở lại với chúng ta và chúng vẫn còn tạo ra biết bao nhiêu là cảm động, biết bao nhiêu xao xuyến, và vẫn còn được hát lên để nhớ lại nguyên một thời binh đao tưởng như cung kiếm đã xếp lại, bụi dầy đã phủ kín. Bức tượng người lính dáng điệu mệt mỏi ở lối vào Nghĩa trang quân đội Biên Hòa bị kéo sập không biết nay ở đâu nhưng những bài hát viết cho những người lính này vẫn còn ở mãi với chúng ta.
Những bài hát đầu tiên về những người lính ấy mơ hồ tôi nghe từ chiếc radio trên căn gác ở Hà Nội của người chú... Bài Chiến sĩ của lòng em với những câu "... khi nước nhà phút ngã nghiêng em mơ người trai anh dũng mang thân thế hiến giang sơn chí quật cường hiên ngang... chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ ở chiến trường xa dãi nắng dầm mưa nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em trong khi vang ca say theo chiến thắng..."
Vài tháng sau chú tôi tử trận.
Vào Sài Gòn, khoảng năm 1957, tôi nghe bài Em gắng chờ của Huỳnh Anh và yêu ngay những câu này: "... vai súng hiên ngang hẹn cùng người cũ... trong bóng vinh quang rộn ràng anh bước hiên ngang về làng trời Nam hân hoan reo vang thanh bình ca..." Tôi yêu bài hát ấy vì một cô bạn hàng xóm, tưởng tượng cô là người đứng trên bến sông...
Nhưng đó mới chỉ là những bài hát về lính còn quá hiền lành, khi cuộc chiến chỉ mới bắt đầu... Anh về qua xóm nhỏ, em chờ dưới gốc dừa nắng chiều lên mái tóc, tình quê hương đơn sơ... anh chiến binh tiền tuyến ơi về giải phóng quê hương...
Một thời gian sau, vài ba người bạn trong lớp bỏ học lên đường nhập ngũ... bạn ơi, mai này ai hỏi đến tên tôi, thì xin hãy đáp khoác chiến y rồi... người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền... Lời ca lãng mạn, hơi bầy đặt, rẻ tiền nhưng tội nghiệp vô cùng. Tôi nhớ một tối lén đi uống bia với người bạn tiễn chàng đi lính. Bài hát ấy được hát lên bởi một người bạn bên những chai bia đầu tiên. Nội trong năm ấy, cả hai đều chết trận.
Hai năm sau, tôi đi học xa, mấy năm sau mới về. Tôi không nghe những bài hát ấy nữa. Tôi nghe Beatles, rock, nhạc cổ điển Tây phương, nhạc đồng quê, nhạc dân ca Mỹ, nhạc phản chiến... Ở Việt Nam, cuộc chiến đang trở nên khốc liệt hơn. Những bản nhạc tôi nghe trong những năm xa nhà là thứ nhạc hoàn toàn khác. Bob Dylan, Joan Baez, Peter Paul & Mary, Pete Seeger... cũng nói về chiến tranh đấy, nhưng trở lại Sài Gòn tôi mới lại được nghe những bản nhạc lính mà tôi đã bỏ quên đi trong suốt những năm xa nhà. Thư nhà cho biết dăm ba người bạn cùng lớp đã truy thăng thiếu úy...
Sáng nay vừa thức dậy, nghe tin em gục ngã nơi chiến trường... trong vườn tôi vô tình hoa tường vi vẫn nở thêm một đóa... Nếu em không là người yêu của lính... tên thật là em các bin, họ hàng em có trăm nghìn... từ ngày tôi lên cai việc làm tôi rất nhiều, binh ngoan cho nốt tốt, lười cho coóc vê... đi quân dịch là thương nòi giống... hãy nhớ tới anh luôn luôn, yêu em vì lòng chờ mong... anh đi chiến dịch... lòng súng nhân đạo cứu người lầm than... anh là lính đa tình... phi đạo chạy dài anh cất cánh bay lên...
Trở lại Sài Gòn, những buổi chiều trong quán nước mở trang báo ra đọc thấy tên bạn bè mấy người trên trang cáo phó chết trận cao nguyên.
... viết tên người yêu lên ba lô nặng trĩu... đừng trước ngõ cũ nghe giặc tràn qua thôn xóm... thăm em dăm ba ngày rồi anh đi... xuyên lá cành trăng lên lều vải... chiều mưa biên giới anh đi về đâu... anh không chết đâu anh, người anh hùng Mũ Đỏ tên Đương... quỳ hôn đất thân yêu, Quảng Trị ơi mừng quê hương giải phóng...
Nhạc Việt đã đổi khác... em ngại ngùng dạo phố... bên người yêu tật nguyền... anh trở về trên đôi nạng gỗ... bại tướng cụt chân...
Những bài hát như thế phải có cả trăm bài cho đến nay vẫn còn được hát lên. Hát để nhớ lại những bất hạnh của một thời tuổi trẻ. Những chuyện đáng lẽ phải quên đi. Nhưng những chuyện đó cũng lại là một phần của đời sống chúng ta.
Chúng ta phải cám ơn những bài hát ấy mặc dù chúng bi thảm, đau đớn. Chúng vẫn nhắc chúng ta về những thương tích không bao giờ lành trên cơ thể của mỗi người.
Trong khi những người lính miền Bắc không có được những bài ca như thế. Chỉ là những bài ca đặt hàng, ngợi ca lãnh tụ hay những tiếng chầy trên sóc Bom Bo cum cụp cum... tìm diệt Mỹ giải phòng cho dân mình... bóng cây kơ nia, tiếng đàn ta lư...
Họ không có được những ca khúc nên hồn để còn hát lên được cho mãi tận này hôm nay. Trong khi những mất mát của họ không hề nhỏ. Nhưng ngày nay, còn đươc mấy người hát những bài hát ấy. Và nếu hát chúng lên thì có được bao nhiêu người xúc động?
Cám ơn những bài nhạc lính. Xin lỗi những bài nhạc lính, những bài nhạc có một thời mà không ít người trong chúng ta đã coi thường nó, cũng có thể đã khinh bỉ nó, coi nó là quê mùa, sến... trong khi chúng hay biết là chừng nào. Nửa trên vĩ tuyến 17 không có được một nền nhạc như thế.
Tôi thành thật xin lỗi những bài nhạc lính, xin lỗi các tác gỉả, những người hát chúng, một trăm ngàn lần.
Mà vẫn thấy chưa đủ.
Văn Hóa CHỬI của người Việt
Long Vi
Thiết nghĩ, cái lối chửi có văn hóa của nhiều người Việt Nam hiện nay đã bị lạm dụng quá mức. Dù biết rằng chửi là một sự bất lực của trí tuệ, nhưng mà trí tuệ thì ai cũng có, vậy nên hãy dùng trí tuệ của mình để chửi như thế nào mà người nghe, người đọc cảm nhận được rằng mình chửi có văn minh, có văn hóa dưới cái nhìn của một người biết dùng chính trí tuệ của mình để suy nghĩ thì hãy làm, còn không thì thôi, xin đừng đem Chửi ra làm một lối sống văn hóa mới cho người Việt, kỳ lắm.
- Cách đây mấy hôm tôi gặp lại người bạn sau nhiều năm không liên lạc, tôi với hắn cứ huyên thuyên đủ chuyện qua điện thoại. Thời đại ngày nay, cũng nhờ có smart phone với nhiều ứng dụng mà con người ta cũng dễ dàng nói chuyện với nhau thoải mái mà chẳng tốn tiền là bao. Hắn với tôi cùng tuổi, hai đứa cùng sinh ra và lớn lên ở một thành phố, nhưng sau ngày ra trường cấp 3, thì mỗi đứa một nơi. Hắn đi lưu lạc tận bên trời Âu, còn tôi thì lang thang ở đất Mỹ. Hắn hơn tôi được cái tuy là đàn ông con trai nhưng miệng mồm xã giao chẳng khác gì đàn bà con gái, ai gặp mặt nói chuyện với hắn một vài lần đầu đều có cảm tình, cảm tình không phải chỉ bởi lối nói chuyện có duyên, nghe dễ lọt tai của hắn mà cũng bởi cái lối chửi có văn hóa của hắn. Bạn bè tôi ngày trước ai cũng nể cái cách chửi của hắn, mở miệng ra buông một cau khen gợi cũng phải chửi trước rồi khen sau, nói chuyện xã giao dăm ba câu cũng cố mang vài câu chửi để kết thân. Nghe hắn kể chuyện phiêu bạc của hắn gần 3 năm ở bên trời Tây rồi cũng trở về Việt Nam kiếm đường làm ăn buôn bán. Tôi chợt nghĩ có lẽ môi trường sống phương Tây không phù hợp với những người có lối ăn nói phóng khoáng, dễ dàng buông miệng chửi để kết giao, kết thân như hắn nên hắn trở về lại việt Nam cũng phải. Rồi tôi bất chợt nghe hắn than thở xã hội Việt Nam ngày nay làm ăn ngày càng khó khăn, nhiều vấn đề bất cập khiến mọi người căng thẳng và sẵn sàng nói những lời thô lỗ cho nhau, sẵn sàng buông những tiếng chửi té tát vào mặt nhau. Người như hắn, ăn nói được xem là có duyên với lối chửi có văn hóa mà còn thấy ngán ngẩm với lối chửi của người Việt Nam hiện nay thì tôi đây cũng thấy buồn cười. Tôi hỏi hắn: mày hay tự nói mày là người chửi có văn hóa, vậy theo mày những người kia họ chửi như thế nào? có văn hóa hay không?
Tôi nhớ cách đây chỉ mới vài tuần, trên một bài báo mạng tôi đọc, ở Hà Nội vừa ra quy định cấm công chức, viên chức nhà nước nói tục, chửi thề. Nghĩ đến chuyện đó là tôi lại thấy thật nực cười, nhưng biết sao được khi cái thói chửi thề không biết từ bao giờ đã được xem là một nét văn hóa mới trong xã hội Việt Nam thời nay: văn hóa chửi. Nếu có dịp đến Hà Nội, chắc hẳn du khách gần xa sẽ rất tò mò muốn tìm đến tiệm Cháo Chửi, Phở Chửi và mặc nhiên từ lúc nào đó, món Cháo Chửi, Phở Chửi đã trở thành đặc sản của đất Hà Thành với nhiều du khách, không phải vì món cháo, tô phở ở đây ngon hay đặc biệt gì mà là vì mỗi khi đến đây ăn, bất kỳ thực khách nào cũng như bất kỳ du khách gần xa nào cũng đều được nghe bà chủ quán cho đến nhân viên trong quán buông miệng chửi không tiếc lời, Khách đến đông nghẹt quán không có chỗ đi lại cũng nghe chửi, quán vắng khách ế hàng cũng nghe chửi, trời nóng, trời rét, cúp điện, mưa gió cứ vừa dừng xe đặt chân đến cửa quán thì khách hàng nào cũng được nghe chửi. Chính vì vậy mà quán cháo chửi, phở chửi dường như lúc nào cũng tấp nập người đi qua kẻ đi lại, người ta tìm đến quán ăn này không phải để ăn, để thưởng thức ẩm thực, mà là chỉ để nghe chửi, thỏa mãn trí tò mò rồi cười mua vui.
Trong suy nghĩ của nhiều người Chửi chính là một sự bất lực của trí tuệ. Dân trí càng thấp thì chửi càng được đem ra nói nhiều hơn. Nhưng ở Việt Nam ngày nay, có lẽ Chửi còn được gọi là một lối văn hóa mới. Những năm gần đây, tôi được đi nhiều nơi, đến nhiều nước nhưng tôi chưa bao giờ được thấy 2 người phương Tây hay 2 người Nhật đứng chống nạnh chửi nhau bao giờ. Ngay cả những lần du lịch ở các nước Đông Á như ở Thailand, Malaysia, tôi cũng không thấy cảnh này. Họ chỉ to tiếng tranh luận đúng sai rồi thôi. Còn chửi tay đôi, chửi đổng, chửi móc méo, chửi oan oan, chửi bằng ngôn từ xấu xí mày là con vật này, mày là cái đồ thế này thế kia, cha mẹ mày là thằng này con kia.... thì có lẽ tôi chỉ thấy ở Việt Nam quê hương tôi.
Tiếng Mỹ chữ "chửi" rất ít ai dùng, mà tôi nghĩ bây giờ tôi có hỏi nhiều người sống ở Mỹ lâu năm, tôi cũng dám chắc rằng đa số họ cũng không biết chữ "chửi" trong tiếng Mỹ là gì, đọc như thế nào, viết ra làm sao. Nhưng trong tiếng Việt thì rất nhiều câu có chữ này. Điều đơn giản là đem hai cuốn từ điển tiếng Anh và tiếng Việt, thì sẽ thấy chữ "chửi" trong tiếng việt tràn ngập nhiều trang giấy với ý nghĩa phong phú, cách dùng đa dạng, nhiều chữ ghép, nhiều từ ghép. Có lẽ tiếng việt mình phong phú hơn tiếng Mỹ cũng bởi có nhiều từ ngữ đặc biệt như "chửi". Tụi tây tụi Mỹ có bực mình, họ có chửi thề để hạ hoả, mà những từ họ dùng để chửi cũng không xấu xí, nặng nề hay thô thiển như người Việt mình. Họ chửi một vài câu để qua cơn giận, nỗi bực tức rồi thôi. Chứ cái kiểu đứng chửi nhau giữa chốn đông người bất phân thắng bại, rồi lên mạng chửi nhau qua mạng xã hội Facebook thì có lẽ chỉ có dân Việt mình mới xây dựng được lối văn hóa đó.
Dạo quanh trang mạng xã hội cá nhân của nhiều diễn viên, ca sĩ nổi tiếng ở Việt Nam cho đến bọn trẻ vị thành niên mới lớn, đâu đâu cũng đọc thấy những câu chửi. Tôi nhớ cách đây không lâu, trên trang mạng xã hội cá nhân Facebook của mình, tỷ phú Bill Gates đã đăng tải một tấm hình dây điện chằng chịt như màn nhện trên đường phố Việt Nam mà ông thấy được với lời bình luận miêu tả chân thật pha chút phê phán, ái ngại về mức độ nguy hiểm cũng như cảnh quan thẩm mỹ ở đường phố Việt Nam. Vậy mà chỉ trong vòng chưa đến một tuần, tấm hình trên trang mạng xã hội cá nhân của ông đã có hơn 10,000 lời bình luận từ những bạn trẻ Việt Nam không ngừng buông những lời lẽ chửi rủa vô văn hóa bằng cả hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh. họ đã dùng cách gõ bàn phím và chửi trên trang mạng xã hội cá nhân của ông tỷ phú nổi tiếng thế giới dưới sự chứng kiến của hàng triệu người sử dụng mạng xã hội Facebook trên thế giới. Nhiều người nước ngoài cũng thấy sợ với kiểu chửi của các Facebooker Việt Nam, nên đành ngậm ngùi gõ vài lời bình luận đề nghị họ dừng lại, nhiều bạn trẻ Việt Nam trong nước và ở nước ngoài thì chỉ biết gõ vài dòng tiếng Anh thay mặt dân Việt xin lỗi ông Bill Gates và bạn bè nước ngoài trước những lời lẽ xấu xí kia. Chỉ qua việc đó thôi cũng đủ biết người nước ngoài đã nhận thấy trình độ dân trí cũng như văn hóa chửi của dân Việt mình ngày nay như thế nào.
Khi còn học phổ thông trung học ở quê nhà, tôi hay tìm đọc nhiều sách văn học trong nước hồi đầu thế kỷ trước, mấy ông già văn cũ thời thập niên 30 - 50 hay chửi lắm, chửi thẳng vào cách viết, vào từng con chữ họ viết nhưng họ viết và chửi theo cái văn phong riêng, giọng điệu riêng của họ dưới cái nhìn vấn đề tiêu cực trong xã hội để ghi dấu ấn riêng trong lòng người đọc. Tôi nghĩ bất kỳ ai đã từng đọc những tác phẩm văn học Việt Nam của thế kỷ trước thì có lẽ khó mà quên được cái cách viết và chửi của nhà văn Nam Cao hay Vũ Trọng Phụng... Ngày nay khi lướt qua các trang báo mạng trong nước, hay những trang mạng xã hội cá nhân, tôi vẫn thường thấy hàng ngày những bài viết chửi bới của các bạn trẻ. Họ chửi như một thói quen hàng ngày trong cuộc sống thực tế, trong thế giới ảo internet và cả trên mạng xã hội. Mấy đứa trẻ mới tập viết cũng bắt chước chửi, cái gì cũng đem ra chửi. Thêm nữa là tập tành cách viết lách với cái nhìn tiêu cực, suy nghĩ cực đoan trong cuộc sống rồi chửi, để được nổi tiếng. Giận cha mẹ, giận ông bà, giận bạn bè, thầy cô, cứ tha hồ mà đem lên Facebook cá nhân để chửi. Người mẫu ganh ghét với đồng nghiệp, ca sĩ tức giận vì bị hủy show, nhạc sĩ bày tỏ vẻ oan ức vì bị tố đạo nhạc, đều lần lượt lên trang mang xã hội Facebook để chửi nhau.
Thiết nghĩ, cái lối chửi có văn hóa của nhiều người Việt Nam hiện nay đã bị lạm dụng quá mức. Dù biết rằng chửi là một sự bất lực của trí tuệ, nhưng mà trí tuệ thì ai cũng có, vậy nên hãy dùng trí tuệ của mình để chửi như thế nào mà người nghe, người đọc cảm nhận được rằng mình chửi có văn minh, có văn hóa dưới cái nhìn của một người biết dùng chính trí tuệ của mình để suy nghĩ thì hãy làm, còn không thì thôi, xin đừng đem Chửi ra làm một lối sống văn hóa mới cho người Việt, kỳ lắm.
Long Vi
Long Vi
Thiết nghĩ, cái lối chửi có văn hóa của nhiều người Việt Nam hiện nay đã bị lạm dụng quá mức. Dù biết rằng chửi là một sự bất lực của trí tuệ, nhưng mà trí tuệ thì ai cũng có, vậy nên hãy dùng trí tuệ của mình để chửi như thế nào mà người nghe, người đọc cảm nhận được rằng mình chửi có văn minh, có văn hóa dưới cái nhìn của một người biết dùng chính trí tuệ của mình để suy nghĩ thì hãy làm, còn không thì thôi, xin đừng đem Chửi ra làm một lối sống văn hóa mới cho người Việt, kỳ lắm.
- Cách đây mấy hôm tôi gặp lại người bạn sau nhiều năm không liên lạc, tôi với hắn cứ huyên thuyên đủ chuyện qua điện thoại. Thời đại ngày nay, cũng nhờ có smart phone với nhiều ứng dụng mà con người ta cũng dễ dàng nói chuyện với nhau thoải mái mà chẳng tốn tiền là bao. Hắn với tôi cùng tuổi, hai đứa cùng sinh ra và lớn lên ở một thành phố, nhưng sau ngày ra trường cấp 3, thì mỗi đứa một nơi. Hắn đi lưu lạc tận bên trời Âu, còn tôi thì lang thang ở đất Mỹ. Hắn hơn tôi được cái tuy là đàn ông con trai nhưng miệng mồm xã giao chẳng khác gì đàn bà con gái, ai gặp mặt nói chuyện với hắn một vài lần đầu đều có cảm tình, cảm tình không phải chỉ bởi lối nói chuyện có duyên, nghe dễ lọt tai của hắn mà cũng bởi cái lối chửi có văn hóa của hắn. Bạn bè tôi ngày trước ai cũng nể cái cách chửi của hắn, mở miệng ra buông một cau khen gợi cũng phải chửi trước rồi khen sau, nói chuyện xã giao dăm ba câu cũng cố mang vài câu chửi để kết thân. Nghe hắn kể chuyện phiêu bạc của hắn gần 3 năm ở bên trời Tây rồi cũng trở về Việt Nam kiếm đường làm ăn buôn bán. Tôi chợt nghĩ có lẽ môi trường sống phương Tây không phù hợp với những người có lối ăn nói phóng khoáng, dễ dàng buông miệng chửi để kết giao, kết thân như hắn nên hắn trở về lại việt Nam cũng phải. Rồi tôi bất chợt nghe hắn than thở xã hội Việt Nam ngày nay làm ăn ngày càng khó khăn, nhiều vấn đề bất cập khiến mọi người căng thẳng và sẵn sàng nói những lời thô lỗ cho nhau, sẵn sàng buông những tiếng chửi té tát vào mặt nhau. Người như hắn, ăn nói được xem là có duyên với lối chửi có văn hóa mà còn thấy ngán ngẩm với lối chửi của người Việt Nam hiện nay thì tôi đây cũng thấy buồn cười. Tôi hỏi hắn: mày hay tự nói mày là người chửi có văn hóa, vậy theo mày những người kia họ chửi như thế nào? có văn hóa hay không?
Tôi nhớ cách đây chỉ mới vài tuần, trên một bài báo mạng tôi đọc, ở Hà Nội vừa ra quy định cấm công chức, viên chức nhà nước nói tục, chửi thề. Nghĩ đến chuyện đó là tôi lại thấy thật nực cười, nhưng biết sao được khi cái thói chửi thề không biết từ bao giờ đã được xem là một nét văn hóa mới trong xã hội Việt Nam thời nay: văn hóa chửi. Nếu có dịp đến Hà Nội, chắc hẳn du khách gần xa sẽ rất tò mò muốn tìm đến tiệm Cháo Chửi, Phở Chửi và mặc nhiên từ lúc nào đó, món Cháo Chửi, Phở Chửi đã trở thành đặc sản của đất Hà Thành với nhiều du khách, không phải vì món cháo, tô phở ở đây ngon hay đặc biệt gì mà là vì mỗi khi đến đây ăn, bất kỳ thực khách nào cũng như bất kỳ du khách gần xa nào cũng đều được nghe bà chủ quán cho đến nhân viên trong quán buông miệng chửi không tiếc lời, Khách đến đông nghẹt quán không có chỗ đi lại cũng nghe chửi, quán vắng khách ế hàng cũng nghe chửi, trời nóng, trời rét, cúp điện, mưa gió cứ vừa dừng xe đặt chân đến cửa quán thì khách hàng nào cũng được nghe chửi. Chính vì vậy mà quán cháo chửi, phở chửi dường như lúc nào cũng tấp nập người đi qua kẻ đi lại, người ta tìm đến quán ăn này không phải để ăn, để thưởng thức ẩm thực, mà là chỉ để nghe chửi, thỏa mãn trí tò mò rồi cười mua vui.
Trong suy nghĩ của nhiều người Chửi chính là một sự bất lực của trí tuệ. Dân trí càng thấp thì chửi càng được đem ra nói nhiều hơn. Nhưng ở Việt Nam ngày nay, có lẽ Chửi còn được gọi là một lối văn hóa mới. Những năm gần đây, tôi được đi nhiều nơi, đến nhiều nước nhưng tôi chưa bao giờ được thấy 2 người phương Tây hay 2 người Nhật đứng chống nạnh chửi nhau bao giờ. Ngay cả những lần du lịch ở các nước Đông Á như ở Thailand, Malaysia, tôi cũng không thấy cảnh này. Họ chỉ to tiếng tranh luận đúng sai rồi thôi. Còn chửi tay đôi, chửi đổng, chửi móc méo, chửi oan oan, chửi bằng ngôn từ xấu xí mày là con vật này, mày là cái đồ thế này thế kia, cha mẹ mày là thằng này con kia.... thì có lẽ tôi chỉ thấy ở Việt Nam quê hương tôi.
Tiếng Mỹ chữ "chửi" rất ít ai dùng, mà tôi nghĩ bây giờ tôi có hỏi nhiều người sống ở Mỹ lâu năm, tôi cũng dám chắc rằng đa số họ cũng không biết chữ "chửi" trong tiếng Mỹ là gì, đọc như thế nào, viết ra làm sao. Nhưng trong tiếng Việt thì rất nhiều câu có chữ này. Điều đơn giản là đem hai cuốn từ điển tiếng Anh và tiếng Việt, thì sẽ thấy chữ "chửi" trong tiếng việt tràn ngập nhiều trang giấy với ý nghĩa phong phú, cách dùng đa dạng, nhiều chữ ghép, nhiều từ ghép. Có lẽ tiếng việt mình phong phú hơn tiếng Mỹ cũng bởi có nhiều từ ngữ đặc biệt như "chửi". Tụi tây tụi Mỹ có bực mình, họ có chửi thề để hạ hoả, mà những từ họ dùng để chửi cũng không xấu xí, nặng nề hay thô thiển như người Việt mình. Họ chửi một vài câu để qua cơn giận, nỗi bực tức rồi thôi. Chứ cái kiểu đứng chửi nhau giữa chốn đông người bất phân thắng bại, rồi lên mạng chửi nhau qua mạng xã hội Facebook thì có lẽ chỉ có dân Việt mình mới xây dựng được lối văn hóa đó.
Dạo quanh trang mạng xã hội cá nhân của nhiều diễn viên, ca sĩ nổi tiếng ở Việt Nam cho đến bọn trẻ vị thành niên mới lớn, đâu đâu cũng đọc thấy những câu chửi. Tôi nhớ cách đây không lâu, trên trang mạng xã hội cá nhân Facebook của mình, tỷ phú Bill Gates đã đăng tải một tấm hình dây điện chằng chịt như màn nhện trên đường phố Việt Nam mà ông thấy được với lời bình luận miêu tả chân thật pha chút phê phán, ái ngại về mức độ nguy hiểm cũng như cảnh quan thẩm mỹ ở đường phố Việt Nam. Vậy mà chỉ trong vòng chưa đến một tuần, tấm hình trên trang mạng xã hội cá nhân của ông đã có hơn 10,000 lời bình luận từ những bạn trẻ Việt Nam không ngừng buông những lời lẽ chửi rủa vô văn hóa bằng cả hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh. họ đã dùng cách gõ bàn phím và chửi trên trang mạng xã hội cá nhân của ông tỷ phú nổi tiếng thế giới dưới sự chứng kiến của hàng triệu người sử dụng mạng xã hội Facebook trên thế giới. Nhiều người nước ngoài cũng thấy sợ với kiểu chửi của các Facebooker Việt Nam, nên đành ngậm ngùi gõ vài lời bình luận đề nghị họ dừng lại, nhiều bạn trẻ Việt Nam trong nước và ở nước ngoài thì chỉ biết gõ vài dòng tiếng Anh thay mặt dân Việt xin lỗi ông Bill Gates và bạn bè nước ngoài trước những lời lẽ xấu xí kia. Chỉ qua việc đó thôi cũng đủ biết người nước ngoài đã nhận thấy trình độ dân trí cũng như văn hóa chửi của dân Việt mình ngày nay như thế nào.
Khi còn học phổ thông trung học ở quê nhà, tôi hay tìm đọc nhiều sách văn học trong nước hồi đầu thế kỷ trước, mấy ông già văn cũ thời thập niên 30 - 50 hay chửi lắm, chửi thẳng vào cách viết, vào từng con chữ họ viết nhưng họ viết và chửi theo cái văn phong riêng, giọng điệu riêng của họ dưới cái nhìn vấn đề tiêu cực trong xã hội để ghi dấu ấn riêng trong lòng người đọc. Tôi nghĩ bất kỳ ai đã từng đọc những tác phẩm văn học Việt Nam của thế kỷ trước thì có lẽ khó mà quên được cái cách viết và chửi của nhà văn Nam Cao hay Vũ Trọng Phụng... Ngày nay khi lướt qua các trang báo mạng trong nước, hay những trang mạng xã hội cá nhân, tôi vẫn thường thấy hàng ngày những bài viết chửi bới của các bạn trẻ. Họ chửi như một thói quen hàng ngày trong cuộc sống thực tế, trong thế giới ảo internet và cả trên mạng xã hội. Mấy đứa trẻ mới tập viết cũng bắt chước chửi, cái gì cũng đem ra chửi. Thêm nữa là tập tành cách viết lách với cái nhìn tiêu cực, suy nghĩ cực đoan trong cuộc sống rồi chửi, để được nổi tiếng. Giận cha mẹ, giận ông bà, giận bạn bè, thầy cô, cứ tha hồ mà đem lên Facebook cá nhân để chửi. Người mẫu ganh ghét với đồng nghiệp, ca sĩ tức giận vì bị hủy show, nhạc sĩ bày tỏ vẻ oan ức vì bị tố đạo nhạc, đều lần lượt lên trang mang xã hội Facebook để chửi nhau.
Thiết nghĩ, cái lối chửi có văn hóa của nhiều người Việt Nam hiện nay đã bị lạm dụng quá mức. Dù biết rằng chửi là một sự bất lực của trí tuệ, nhưng mà trí tuệ thì ai cũng có, vậy nên hãy dùng trí tuệ của mình để chửi như thế nào mà người nghe, người đọc cảm nhận được rằng mình chửi có văn minh, có văn hóa dưới cái nhìn của một người biết dùng chính trí tuệ của mình để suy nghĩ thì hãy làm, còn không thì thôi, xin đừng đem Chửi ra làm một lối sống văn hóa mới cho người Việt, kỳ lắm.
Long Vi

