Quán Hẹn Hò

Thơ non, thơ già, thơ ghẹo, thơ thẩn, thơ thơ. Xin đọc và ôm bụng cười, hay bứt tóc gãi tai tìm nàng ... thơ...

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Có Một Ngày


Có một ngày nắng nhuộm phố xưa
Em về điểm thắm những trang thơ
Hồn say từng tháp hương gửi lại
Tà áo xanh bay giữa đợi chờ

Ngón tay mở khép chương tình sử
Sương khói thời gian vẫn nỗi niềm
Em đến bên thềm đời mấy thuở
Nhân dáng kiêu sa động cõi tiên

Bút nghiên ngơ ngẩn vơi hàng chữ
Vời vợi bờ mong nhớ ngút ngàn
Giọt sương đọng mắt bên thềm cũ
Hay tiếng lòng riêng khóc gọi nàng

Đã lỡ nhau chưa một góc đời
Bốn mùa tiếc nuối vẫn đầy vơi
Em bao giờ nữa cùng tôi hẹn
Mộng thắp sao giăng một góc trời



Lê Hải

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Image


Sầu Đông


Bóng em buồn bên song cửa
Đợi chờ ngọn gió đông về
Qua bao lần sương tuyết rụng
Nhưng sao tình mãi u mê

Giữa đêm đông sầu quạnh vắng
Dấu yêu xưa đã xa rồi
Hồn em đau mùa hoa trắng
Giọt lệ thầm lặng lẽ trôi

Nỗi nhớ điên cuồng cấu xé
Vẫn tìm nhau trong những chiều
Chuông đổ từng hồi lạnh buốt
Rưng rưng vỡ lời kinh yêu

Thuyền ơi có xuôi về biển
Xin mang theo ước mơ tàn
Đời quay lưng chỉ còn lại
Cơn bão lòng dậy mùa sang



Tiểu Vũ Vi
Image

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

[center]Image


Đếm Nhịp Thời Gian


Ta ngồi đếm nhịp thời gian
Em lại đi giữa ngỡ ngàng chiều đông
Trong tận cùng nỗi mênh mông
Đời phù du bụi mưa hồng lãng quên

Gió tung mái tóc ưu phiền
Sương mùa điểm trắng chiều nghiêng ngại ngần
Dòng sông tình tự có lần
Trôi vào hư ảo , vọng ngân kinh chiều

Tim ta sau trước một điều
Từ trong tiền kiếp đã yêu em rồi
Mùa trăng trôi nổi bồi hồi
Lung linh em bước lên ngôi mê tình

Về thiên thu đó bóng hình
Trầm luân hồ mị , lời kinh úa vàng
Chiếu chăn còn dấu địa đàng
Sầu dâng khô cạn nỗi mê man đời


Khiếu Long


Image


Gọi Người Yêu Dấu


Trầm chuông đọng cõi nhân gian
Vô thường nhịp gõ theo làn gió đông
Giang tay đứng giữa trời không
Gọi người yêu dấu bên giòng nhớ quên

Tóc buông sợi nhớ bạc phiền
Tương tư chiếc nụ sầu nghiêng ánh ngần
Mộ lòng khép kín tự lần
Lời kinh khắc khoải vọng âm nẻo chiều

Trọn tim em chỉ một điều
Thiên thu tiền định lỡ yêu mất rồi
Thân trôi vạn kiếp luân hồi
Có nhau từ thuở ban sơ bén tình

Chúng mình như bóng với hình
Tình thơ nghĩa thắm trung trinh đá vàng
Trăm năm lạc lối thiên đàng
Hương nguyền giao phối chứa chan mộng đời...



PTMC

Tiểu Vũ Vi
07/12/14



[/center]
Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Dallas mưa … thêm


hôm nay mưa, hạt vỡ đôi
bên tràn giận dỗi
bên côi cút nằm

nửa hờn trôi rớt xa xăm
nửa buồn lạc lõng, im lìm tình nghe

tiếng mưa, hay bước chân về ?
rả rích từng nhịp, có chi mà chờ ?

mưa còn rơi, sũng cung thơ
nhặt từng con chữ, ghép nhờ trong tim


Thu Hằng

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Image

Tình Nhớ

Bên kia lạnh em nhớ gì không nhỉ
Tôi vẫn tìm đáp số khối tình câm
Rơi rụng chưa những lời xưa thủ thỉ
Một kiếp người ngắn quá chỉ trăm năm

Chiều Ca-Li bước chân em thác đổ
Nghiêng đất trời mà đón áo thơ bay
Đường nhẩy múa, hoa lá ngưng nhịp thở
Gửi nụ cười mà đời ngất ngây say

Chiều cuối tuần tiễn em về xứ tuyết
Rưng rưng buồn quán vắng một mình tôi
Bài thơ ngắn gom từng dòng tha thiết
Về đâu em bỏ lại nỗi đơn côi

Cứ im lìm theo em dòng thầm lặng
Bút nghiên chờ heo hắt những hoài mong
Tôi lặng lẽ trải dài niềm hoang vắng
Thời gian trôi tình mãi vẫn long đong


Lê Hải

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Huyền thoại về cái đẹp trong thơ

Nguyễn Hưng Quốc

Văn học Việt Nam có nhiều huyền thoại. Một trong những huyền thoại đó là huyền thoại về một vẻ đẹp đặc biệt nào đó của thơ, tức là thay vì nhìn nhận và chấp nhận tính chất đa dạng của thơ, quy luật vận động của thơ, người ta khăng khăng đòi hỏi thơ phải có một phẩm chất nhất định. Ở phương diện này, có hai quan niệm có ảnh hưởng sâu rộng.

Thứ nhất là đồng nhất cái đẹp và cái cao cả. Tại Việt Nam, người phát ngôn quan điểm này rõ ràng nhất có lẽ là Nguyễn Đình Thi. Ông viết: “Nói nghệ thuật tức là nói đến sự cao cả của tâm hồn. Đẹp tức là một cái gì cao cả. Đã nói đẹp là nói cao cả.” (1) Nguyễn Đình Thi không nói điều gì mới. Ở Trung Hoa và Việt Nam trước đây, khi chủ trương “văn dĩ tải đạo”, người ta đã ít nhiều đồng nhất cái đẹp và cái cao cả rồi. Ở Tây phương, sự đồng nhất này cũng xuất hiện rất sớm: ngay từ đầu công nguyên, Longinus đã có hẳn một chuyên luận về cái cao cả (2), các nhà thơ cổ điển và Tân cổ điển cũng từng tôn sùng cái cao cả, coi cái cao cả như một phạm trù thẩm mỹ chủ đạo. Các nhà văn Mác-xít chỉ có “công”, một mặt, làm cho huyền thoại này phổ biến hơn, mặt khác, làm cho nội dung của nó hẹp hòi hơn và giáo điều hơn.

Hoàng Ngọc Hiến phân tích quan niệm này một cách sắc sảo: “Trong lãnh vực mỹ học, dấu ấn của cái cao cả tương xứng với sự lấn át của bình diện cái phải tồn tại đối với bình diện cái đang tồn tại. Trong phương thức mô tả nghệ thuật là sự lấn át của cấp lý tính đối với cảm tính trong sự nhận thức của chủ thể mỹ học, sự lấn át của nội dung đối với hình thức trong cấu trúc của hình tượng và tác phẩm nghệ thuật, sự lấn át của lý trí đối với xúc cảm trong hình ảnh con người mới, sự lấn át của bản chất đối với hiện tượng trong hình ảnh được phản ánh vào tác phẩm.” (3)

Hậu quả, về phương diện sáng tác, nói như Hoàng Ngọc Hiến, nó dẫn đến “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”, về phương diện thưởng thức văn học, theo tôi, nó dẫn đến một thứ có thể gọi là chủ nghĩa đề tài: người ta đánh giá một tác phẩm hoặc một nền văn học căn cứ vào tầm vóc của các vấn đề được đặt ra, được mô tả. Theo cách nhìn đó, một tác phẩm mô tả số phận của một dân tộc sẽ lớn hơn tác phẩm mô tả số phận của một địa phương, của một gia đình, và dĩ nhiên, lớn hơn hẳn tác phẩm mô tả số phận của một cá nhân; một vấn đề chính trị cao hơn một vấn đề xã hội, một vấn đề xã hội lại cao hơn một vấn đề tâm lý; hình ảnh người lính đang lao mình trên trận địa, giữa đạn bom ầm ầm, khói lửa mù mịt đẹp hơn hình ảnh một người lính đang đứng gác; và hình ảnh người lính gác ấy dù sao cũng đẹp hơn hình ảnh một người thiếu nữ nằm trằn trọc trên giường vì những xao xuyến của một mối tình đầu. Đó là lý do tại sao Chế Lan Viên có lần chê trách Nguyễn Du chỉ tả cuộc đời lênh đênh của Thuý Kiều mà không tả cuộc đại phá quân Thanh hào hùng dữ dội của Quang Trung, hoặc lần khác, chê trách cha ông ngày xưa nói chung:

Chỉ có Cô Tô! Chỉ có Tầm Dương! Chỉ nghe Xích Bích!

Ngòi bút xưa không hề viết: Hồng Gay!

(Cành phong lan bể)

Quan niệm thứ hai là đồng nhất cái đẹp của thơ với... Thơ Mới. Quan niệm này, chưa bao giờ được phát ngôn chính thức nên không ai đặt ra vấn đề nó đúng hay sai, song, tai hại thay, nó lại có ảnh hưởng rất lớn, ở rất đông người, từ giới làm thơ đến giới đọc thơ. Chỉ cần đọc lại các bài viết đả kích các cuộc vận động đổi mới thơ lâu nay, đặc biệt là gần đây, tại Việt Nam, chung quanh các tập thơ của Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều... chúng ta thấy ngay là người ta đều, một cách có lẽ là vô ý thức, lấy Thơ Mới làm chỗ dựa cho các luận cứ của họ. Lý do hình thành quan niệm này, thật ra, không khó hiểu. Quá say mê thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính..., người ta dần dần, một cách tự phát, coi đó là những mẫu mực của thơ nói chung. Người ta đòi hỏi thơ, về ngôn ngữ, phải trong sáng và phải có... vần; về nhạc điệu, phải ngân nga, phải trầm bổng, phải nhịp nhàng; về hình tượng, phải có trăng, có sao, có hoa, có cỏ, có chim hót, có suối reo; về cảm xúc, phải làm cho họ, đọc xong, thấy nao nao, thấy bâng khuâng, thấy ngậm ngùi; và, quan trọng nhất, về tư tưởng, phải làm sao cho họ... hiểu. Để tăng cường sức thuyết phục, người ta thường coi những đặc điểm nêu trên là... “tính dân tộc”.

Không ai có thể phủ nhận Thơ Mới là một giai đoạn huy hoàng, thậm chí có thể nói, huy hoàng nhất trong lịch sử thơ ca Việt Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn, cực ngắn, chưa tới mười lăm năm, nó đã đưa ra bao nhiêu thử nghiệm, bao nhiêu khám phá, và bao nhiêu là thành tựu rực rỡ trong sáng tác. Thơ Mới đáng được yêu, đáng được say. Đã mấy thế hệ yêu và say nó. Cả cái yêu lẫn cái say ấy chỉ là điều bình thường. Điều bất bình thường là ở đây người ta lại không dừng lại ở chỗ yêu và say ấy mà còn muốn người khác phải chấp nhận cái mình yêu, say như là định nghĩa độc nhất về thơ: đã là thơ thì nó phải thế, không được khác. Thái độ như thế vừa thô bạo lại vừa khờ dại: người ta quên mất quy luật vận động của thơ. Trước năm 1930: Thơ Mới chưa có. Sau năm 1945: không có gì bảo đảm là Thơ Mới sẽ tiếp tục. Mà nó không nên tiếp tục. Giá trị lớn nhất trong lãnh vực văn học nghệ thuật là sự sáng tạo. Sự tồn tại dai dẳng của một trào lưu, bất kể là trào lưu gì, không bao giờ là một sự kiện đáng mừng: nó chỉ là dấu hiệu của sự nghèo nàn và bế tắc.

Cũng vậy, cái chiêu bài “tính dân tộc” mà những người bảo thủ thường giương ra chả nói lên được điều gì cả. Chỉ có một tiêu chuẩn duy nhất xác định cái gọi là tính dân tộc: đó là thời gian. Nếu thế, hệ luận đương nhiên phải rút ra là: bất cứ cái gì, dù ngoại lai đến mấy, dù mới lạ đến mấy, nhưng đã trải qua được sự thử thách của thời gian, tồn tại trong xã hội đủ lâu thì tự nhiên nó lại mang “tính dân tộc”. Thơ Đường luật, lúc mới du nhập vào Việt Nam, hẳn người ta cũng thấy có chút bỡ ngỡ, sau, quen dần, lại thấy nó đầy “dân tộc tính”. Thơ Mới, lúc mới xuất hiện, bị chê là “Tây”, sau, chúng ta cứ đọc, đọc hoài, riết nó nhuốm màu “dân tộc”.

Trong ý nghĩa này, khái niệm tính dân tộc và tính truyền thống đồng nghĩa với nhau. Nhưng trên thực tế, cách sử dụng hai khái niệm này lại không giống hẳn nhau: trong vô số truyền thống, chỉ có một ít được chọn lọc và khuếch đại lên thành “dân tộc tính”. Cơ sở để tiến hành việc chọn lọc ấy là nhu cầu chính trị. Chẳng hạn, khi đang vận động mọi người tranh đấu giành quyền lực, Đảng cộng sản vẫn coi truyền thống kiên cường, bất khuất là dân tộc tính; nhưng khi đã giành được chính quyền rồi thì họ lại nêu cao khẩu hiệu “trung với đảng, hiếu với dân”, nghĩa là truyền thống phục tùng; thời gian gần đây, trong thời gọi là mở cửa, phải chung chạ và phải tiếp xúc với Tây phương nhiều, người ta lại hay nói đến truyền thống “hội nhập nhưng không bị đồng hoá của người Việt Nam”.

Như thế, tính dân tộc không phải chỉ là một truyền thống mà còn là một dự phóng, một dự phóng chính trị. Trong ý nghĩa này, dân tộc tính có thể là tất cả, mà cũng có thể không là gì cả. Nó giống như con cắc kè thay màu từng lúc. Trước đây, nhắm đến việc kích động quần chúng, Đảng cộng sản đề cao tuyệt đối loại văn học có “chất thép”, trong đó, nhà thơ là kẻ “biết xung phong” (Hồ Chí Minh), “đứng ngang tầm chiến luỹ” (Chế Lan Viên), ngược lại, văn học lãng mạn như sương như khói của thời 1932-45 lại bị coi là có hại, cần tiêu trừ triệt để; sau này, đứng trước nguy cơ bị lật đổ, họ lại đề cao loại văn chương lãng mạn: sách thời “tiền chiến” được tái bản ào ạt, nhưng ghét bỏ thậm tệ loại văn chương “chiến đấu”, văn chương “dự báo” vốn được ân sủng một thời. Thời nào họ cũng nhân danh việc bảo vệ “dân tộc tính” cả.

Do đó, khái niệm dân tộc tính thực chất cũng chỉ là một huyền thoại. Dân tộc tính không phải là cái vốn có của một dân tộc mà chỉ là cái mà dân tộc ấy cần có, muốn có khi đối diện với một tình huống đặc biệt nào đó. Nhân danh dân tộc tính để đánh giá thơ thực chất là nhân danh một tiêu chuẩn chính trị để đánh giá thơ: sai; hơn nữa, còn là nhân danh một huyền thoại để đánh giá một thực tại: càng sai. Ngay cả khi người ta không muốn tin vào tính chất huyền thoại của “tính dân tộc” thì việc nhìn từ cái nhìn quá khứ để đánh giá một cái gì trong hiện tại: đứng về phương pháp luận, nó cũng sai nốt.

Mỗi thời đại có một số đặc điểm riêng. Những đặc điểm ấy quy định diện mạo văn hoá - trong đó có thơ - của thời đại ấy. Trước đây, ngay những tài năng kiệt xuất như Phan Bội Châu và Tản Đà cũng không hiểu được Thơ Mới. Không phải tại họ thiếu nhạy cảm đối với thơ. Chủ yếu là tại họ thiếu nhạy cảm trước một hoàn cảnh mới, một khí hậu văn hoá mới, một xu hướng thẩm mỹ mới. Chính những yếu tố ấy có ảnh hưởng sâu đậm đến các trào lưu thơ. Người ta khó mà cưỡng lại được.

***

CHÚ THÍCH:

1. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (1985), Các nhà văn nói về văn, tập 1, Tác Phẩm Mới, Hà Nội, tr. 64.

2. Longinus, On the Sublime, in trong tập Classical Literary Criticism, T.S. Dorsch dịch và giới thiệu, Penguin Books, London, 1965, tr. 97-158.

3. Hoàng Ngọc Hiến (1979), “Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua”, Văn Nghệ (Hà Nội) số 23 ra ngày 9.6.1979.

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

Thơ Em
Ta Đọc Buồn Hơn Trước


Thơ em ta đọc buồn hơn trước
Như chút lệ sầu vương ý thơ
Phải chăng kỷ niệm còn quanh quẩn
Dáng cũ tình xưa khó nhạt mờ

Ta thấy chừng như hoa chẳng nở
Nên lời thơ mãi giọt sương rơi
Lãng đãng hồn em từng nỗi nhớ
Rớt xuống dòng thơ những ngậm ngùi

Con sông nước đã theo dòng chảy
Khó thể quay về một bến xưa
Em đừng đứng đợi đừng hoài vọng
Cho hồn thêm lạnh những cơn mưa

Em ơi! Năm tháng thay mùa đổi
Thu hết , đông tàn lại đến xuân
Thì thôi dĩ vãng ...quên em nhé!
Để nở hồn nhiên một nụ cười



Vĩnh Trinh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Đêm Giáng Sinh Xưa

Năm xưa ấy anh là người ngoại đạo
Em chiên lành như bóng dáng thiên thần
Tuổi mười tám cô nữ sinh duyên dáng
Anh người lính chiến gìn giữ không gian

Bàn tay em chưa một lần dám nắm
Mái tóc huyền chỉ nhờ gió vuốt ve
Saigon Giáng Sinh tuy không tuyết trắng
Mắt em buồn như từng giọt pha lê

Lễ nửa đêm rủ nhau mừng Chúa đến
Vương Cung Thánh Đường hai đứa kề nhau
Anh vụng về kính xin ơn Chúa Mẹ
Xin Chúa Hài Đồng cho tình sẽ dài lâu

Nửa thế kỷ như hai vì sao lạc
Phố núi nào em phải bước chân qua
Định mệnh đẩy anh thành người bội bạc
Đời thăng trầm nửa thế kỷ chia xa

Giáng Sinh về xin ơn Chúa trên cao
Ban bình an dù nàng tận phương nào
Cho chúng con được gặp nhau lần nữa
Giáng phước lành cầu xin Ngài ban trao



ln

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

[center]Image


Tình Khúc Mùa Đông IX
Bài Tuyết Như 19
Giữa Mùa Sao Sáng



Phố thị dập dìu giăng kết đèn hoa
Giáo đường lộng lẫy khoác muôn ánh màu
Rộn rã đón chào Ngôi Hai nhập thế
Hồi chuông vọng đổ giục người về mau

Thánh thót vào đêm rộn tiếng nhạc ngân
Nghe chăng N hỡi thiết tha vỹ cầm
Rót chạm từng không nốt trầm lưu luyến
Tim sao bồi hồi lệ ứa trào dâng

Cao cung lên khúc hát mừng véo von
Bài thánh ca đó hương xưa vẫn còn
Quỳ bên hang đá chấp tay khấn nguyện
Mộng ước duyên mình vẹn mãi sắt son

Tan lễ em về lất phất mưa bay
Gió đông buốt lạnh se thắt vai gầy
Phone ấm bên tai giọng người thủ thỉ
Nô-en xa cách vẫn nồng tình say

Chín năm sẻ chia mầu nhiệm Giáng Sinh
Mật ngọt yêu thương hạnh phúc yên bình
Ngước nhìn trời cao giữa mùa sao sáng
Gửi đến tình quân trọn lời cầu kinh



PTMC

Tiểu Vũ Vi
24/12/14


[/center]
Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Không Đề GởI Tháng Mười Hai

Em có một dòng sông để nhớ
tôi như bóng mây lãng đãng bên trời
xuân đất lạ lòng bồi hồi trăn trở
gặp một lần , cũng sớm phải chia phôi …

mai người về nỗi nhớ có xôn xao ?
tôi ngắm mưa rơi trên lá úa màu
hạt mưa mỏng như tình mình cũng mỏng
bóng hạnh phúc nào che đủ đời nhau ...?

xin tiễn người sau một cuộc đổi thay
đời vẫn ung dung trải dài trước mặt
ở phía em đi , vùng trời cao ngất
từ chổ tôi về nghe đất cựa mình đau ......

( nỗi buồn bây giờ cũng đã già nua
tôi loanh quanh trong ký ức đời hạn hẹp
trang kỷ niệm mai này em sẽ khép
một mình tôi ghi chép cũng dư thừa .....)

..............................................

tháng mười hai đã trôi qua
trời đông sương khói nhạt nhòa cõi mơ
ta về nhìn phố bơ vơ
chạnh lòng viết một bài thơ tiễn người ...



Ctl

Dec/31/2014

Post Reply