Đời Sống Quanh Ta
Người Tàu
Nguyễn Hưng Quốc Blog
Trước đây, trong bài viết về chuyến đi Hàn Quốc vào cuối tháng 9 năm 2011, tôi có nêu nhận xét về tính cách của người Hàn Quốc qua hiện tượng lặng lẽ xếp hàng cả tiếng đồng hồ trước giờ lên máy bay. Vừa rồi, trong chuyến bay từ Bangkok đến Bắc Kinh, tôi thấy một hiện tượng khác hẳn. Khi đến phòng đợi, tôi đã thấy rất đông người ngồi la liệt trên ghế hoặc dưới đất nói chuyện ồn ã hoặc ăn uống nhồm nhoàm. Hầu hết là người Trung Quốc. Nét nổi bật nhất là cường độ âm thanh trong giọng nói của họ. Hiếm khi tôi thấy cảnh nào ồn ào đến như vậy. Tôi muốn mở laptop ra để đọc hay viết một cái gì đó nhưng không có cách gì tập trung được.
Khi nhân viên báo tin đã đến giờ lên máy bay, tất cả mọi người đều đứng bật dậy và hối hả chạy ra giành chỗ vào cửa. Họ chen lấn nhau, xô đẩy nhau, thậm chí, la hét chửi bới nhau. Cuối cùng, mọi người cũng lên được máy bay. Trên máy bay lại diễn ra cảnh giành giật các chỗ để hành lý. Thường, máy bay nào cũng hạn chế số lượng và kích thước hành lý cầm tay. Thế nhưng không hiểu sao người ta lại có thể mang hành lý nhiều và cồng kềnh đến như vậy. Công việc cất hành lý đáng lẽ chỉ diễn ra trong vài phút, đằng này, nó kéo dài khá lâu, làm không khí trên máy bay nhốn nháo hẳn lên.
Khi đã ngồi vào ghế, người ta bắt đầu mở miệng hoặc để chuyện trò hoặc để cãi cọ. Như một cái chợ. Đến độ tôi hoàn toàn không nghe được lời chào hoặc thông báo gì đó của phi hành đoàn. Tuyệt đối không nghe. Mãi đến cả một, hai tiếng sau, có lẽ do thấm mệt, âm thanh trong máy bay mới bắt đầu giảm để đến lúc máy bay hạ cánh lại diễn ra cảnh giành nhau lấy hành lý. Lại cãi cọ. Lại ồn ào.
Trên máy bay, tôi mở laptop ra định viết bài cho blog. Đang viết, nhìn vào màn ảnh trên laptop, thấy thấp thoáng có mặt người. Tôi quay lại, bắt quả tang một anh Tàu ngồi hàng ghế sau đang nhoài đầu ra phía trước nhìn vào màn ảnh laptop của tôi. Anh bẽn lẽn ngả người ra sau. Tôi quay lại tiếp tục viết. Nhưng lại thấy khuôn mặt của anh phản chiếu trên màn ảnh. Tôi quay lại nhìn. Anh ta lại ngả người ra sau, ngó ra ngoài cửa, nhưng không còn lộ vẻ gì bẽn lẽn nữa. Cứ thế, mỗi lần tôi viết, anh ta lại nhoài người lên dòm. Tôi không nghĩ anh ta là công an. Làm công an, được huấn luyện để theo dõi người khác, không ai lại vụng về đến như vậy. Tôi chỉ nghĩ có lẽ anh ta là một người tò mò một cách thô bỉ vậy thôi. Nhưng không thể kiềm được sự khó chịu, tôi tắt laptop. Cả gần bốn giờ bay, do đó, chỉ ngồi thừ người nghĩ ngợi bâng quơ. Chả làm được gì cả.
Suốt 10 ngày ở Trung Quốc, ở đâu tôi cũng gặp hai nét tính cách ấy: chen lấn và sẵn sang xâm phạm vào sự riêng tư của người khác. Có thể nói ở Trung Quốc, ở chỗ nào có đông người chỗ ấy có chen lấn. Mà hình như ở Trung Quốc không nơi nào không đông người nên cảnh chen lấn dường như xuất hiện ở khắp nơi. Ngay ở các địa điểm du lịch, nơi đáng lẽ người ta cần sự thảnh thơi thoải mái và nhàn nhã, người Trung Quốc cũng chen lấn nhau. Đi dọc theo bờ Hồ Tây ở Hàng Châu, bên cạnh cảnh sông nước và cây cối tuyệt đẹp và đầy thơ mộng, mỗi vật đều gợi nhớ đến lịch sử và văn chương vốn được mọi người ngưỡng mộ cả hàng ngàn năm, họ cũng chen lấn. Ở khu phố cổ ở Thượng Hải (Miếu Thành Hoàng), nơi đáng lẽ cần sự yên tĩnh để ngắm nghía phong cách kiến trúc độc đáo truyền thống, người ta cũng chen lấn xô đẩy nhau kịch liệt. Tôi quan sát, thấy, khi đi bộ, người ta thường không bao giờ chú ý đến người khác. Họ cứ đi thẳng. Ai nhường đường, mặc, họ không một lời cám ơn. Không nhường đường thì bị họ dùng vai đẩy dạt ra. Dĩ nhiên cũng không một lời xin lỗi. Trên chiếc thuyền chở du khách chạy dọc sông Hoàng Phố (黄浦江) ở Thượng Hải, nhóm chúng tôi an phận ngồi trên một dãy ghế ở tầng hầm, nơi tầm nhìn bị hạn chế rất nhiều. Nhưng cũng không yên. Một lúc nào đó, hình như ở tầng trên quá lạnh, nhiều người lại ào ào chạy xuống tầng hầm và giành ghế của người khác. Chỉ cần đứng dậy là có người chĩa đít vào giành ngay ghế của mình. Bạn nói đó là ghế bạn đang ngồi ư? Họ mặc kệ, ngó đi chỗ khác và tiếp tục ngồi. Nhóm chúng tôi gồm 10 người bị cướp mất năm hay sáu ghế. Cuối cùng, mọi người đành đứng.
Ở Trung Quốc, sự riêng tư không bao giờ là một giá trị. Về chính trị, nhà cầm quyền trố mắt theo dõi mọi người ở mọi nơi và mọi lúc. Trong xã hội, ở đâu người ta cũng lom lom dòm vào người khác. Bạn đứng chụp hình ư? Rất có khả năng một người nào đó dí mắt nhìn vào màn ảnh của bạn. Không phải bạn chụp hình ở nơi nào trọng yếu hay có ý nghĩa quân sự gì đâu. Ngay cả khi bạn đứng trên chiếc du thuyền chạy dọc theo bờ sông và chỉ chụp cảnh phố xá hai bên, người ta cũng nhìn. Có lẽ chỉ vì tò mò thôi.
Đến Bắc Kinh, tôi tham gia vào một tour du lịch khá đông, khoảng 60 người. Hầu hết là người Hoa sinh sống ở nước ngoài, nhiều nhất là ở Mỹ, Canada và Úc. Có người đi từ Trung Quốc, từ Hong Kong và cũng có một số người đi từ Việt Nam, đặc biệt từ Móng Cái, vùng giáp biên giới Việt-Trung, trong những năm 1978-79. Điều đặc biệt nhất là tất cả, kể cả thanh niên sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, đều nói tiếng Quảng Đông rất giỏi. Suốt cuộc hành trình, nói chuyện với nhau, tất cả đều dùng tiếng Quảng Đông. Nhóm của tôi có mấy thanh niên khoảng 30 tuổi, sinh ở Móng Cái, đến Mỹ lúc mới 2 hay 3 tuổi, hoàn toàn quên tiếng Việt, nhưng lại nói tiếng Quảng Đông rất trôi chảy. Và có vẻ rất thích nói tiếng Quảng Đông với bạn bè trong nhóm. Dường như người ta có chút tự hào khi nói tiếng Tàu. Đó là điều tôi ít thấy trong cộng đồng người Việt. Trẻ em Việt Nam ở hải ngoại, ngay cả khi có thể nói tiếng Việt lưu loát, vẫn có khuynh hướng dùng tiếng Anh hơn tiếng Việt.
Tuy nhiên ngay cả người Hoa ở ngoại quốc về cũng bị kỳ thị. Khi đoàn du lịch đến ở khách sạn, hầu hết là khách sạn thật sang, thuộc loại 5 sao, tôi để ý thấy tất cả các tủ lạnh trong phòng đều bị khoá chặt. Hỏi, người ta đáp: Sợ bị ăn trộm. Buổi sáng, theo kế hoạch, đoàn thường lên đường vào lúc 7 giờ. Khách sạn đòi mọi người phải trả chìa khoá trễ nhất là lúc 6 giờ. Lý do: khách sạn cần khoảng một tiếng để kiểm tra phòng xem có bị mất trộm gì không. Nhiều người kể, ở khách sạn, hở cái gì là mất ngay cái ấy. Rượu bia để trong tủ lạnh: mất. Đồng hồ báo thức để trên đầu giường: mất. Có khi cả điện thoại cũng bị mất. Khách sạn đành áp dụng chiến thuật cẩn tắc vô áy náy: Khoá tủ lạnh và đuổi khách ra khỏi phòng một tiếng để kiểm tra trước khi để họ rời khỏi khách sạn.
Thú thực tôi không có số liệu về nạn trộm cắp ở Trung Quốc. Có điều, trong suốt chuyến du lịch, điều hướng dẫn viên dặn dò nhiều nhất, dặn đi dặn lại, là phải coi chừng bị mất trộm. Túi xách của phụ nữ phải đeo trước bụng, không được kè kè bên hông. Giấy tờ và ví tiền phải để chỗ kín đáo, không được để túi quần sau, rất dễ bị móc.
Trong các nhà vệ sinh công cộng, người ta không dám để giấy vì sợ trộm, đã đành. Trong hầu hết các nhà hàng, ngay cả những nhà hàng có vẻ rất sang trọng và nghe nói rất nổi tiếng, cũng không có khăn giấy trên bàn. Khi dọn thức ăn, người ta mới phát cho mỗi người một cái khăn giấy nhỏ xíu và mỏng lét. Có nơi còn đòi tiền: một miếng khăn giấy là một đồng nhân dân tệ.
Không phải tại khăn giấy khan hiếm. Chỉ tại người ta sợ ăn cắp: để ra bao nhiêu là mất bấy nhiêu.
Nói đến người Tàu, tự nhiên tôi sực nhớ một đồng nghiệp cũ. Chị có bằng tiến sĩ, dạy đại học, nghe nói dạy khá giỏi, nhưng tính nết thì rất quái gở: Lúc nào chị cũng nghi ngờ người khác. Chị thường xuyên khiếu nại hay than phiền là có ai đó lén vào phòng chị, lục lọi computer của chị. Có lần, tôi muốn vào phòng chị để bàn bạc một số công việc trong Khoa. Tôi gõ cửa. Có tiếng mở cửa lách tách, tôi biết là chị khoá bên trong. Tôi vừa bước vào, chưa kịp ngồi xuống ghế, đã thấy chị nhoài người ra ngoài, nhìn quanh, rồi khoá hẳn cửa lại. Tôi hơi giật mình. Thường, ở đại học, không ai khoá cửa kiểu như vậy. Ngay cả việc khép cửa cũng hoạ hoằn. Sau đó, tôi kể cho một số đồng nghiệp nghe. Mọi người cười ầm: Họ cũng từng có kinh nghiệm y như vậy. Và người ta cố tìm lời giải thích: có lẽ là do ảnh hưởng từ thời cách mạng văn hoá, lúc mọi người tìm cách hãm hại nhau. Và không ai tin ai cả.
Kể những điều trên, tôi không có hàm ý miệt thị người Tàu. Không. Tôi biết trong lịch sử có vô số người Tàu vĩ đại. Vĩ đại về trí tuệ. Vĩ đại về tài năng. Và vĩ đại về tính cách. Hiện nay, chắc chắn cũng có vô số người Tàu ưu tú và khả kính, tạo thành một tầng lớp tinh hoa không thua kém ở bất cứ đâu khác. Những nhận xét ở trên, thật ra, chỉ giới hạn trong tầng lớp những người bình thường mà ai cũg có thể gặp gỡ hang ngày. Ở mọi nơi.
Họ chỉ là đám bình dân. Có điều, bình dân bao giờ cũng đông đảo. Chính họ tạo nên diện mạo của một xã hội.
Để trở thành một siêu cường thực sự, điều Trung Quốc cần làm đầu tiên và cũng mất nhiều thời gian nhất chính là cải tạo cái khối bình dân đông đảo ấy. Có lẽ chính quyền Trung Quốc cũng ý thức được điều ấy. Ở đâu tôi cũng thấy bảng hiệu nhắc nhở người ta làm người văn minh và có văn hoá.
Nhưng nói là một chuyện. Làm được hay không lại là chuyện khác.
Cũng như ở Việt Nam vậy thôi.
Nguyễn Hưng Quốc Blog
Trước đây, trong bài viết về chuyến đi Hàn Quốc vào cuối tháng 9 năm 2011, tôi có nêu nhận xét về tính cách của người Hàn Quốc qua hiện tượng lặng lẽ xếp hàng cả tiếng đồng hồ trước giờ lên máy bay. Vừa rồi, trong chuyến bay từ Bangkok đến Bắc Kinh, tôi thấy một hiện tượng khác hẳn. Khi đến phòng đợi, tôi đã thấy rất đông người ngồi la liệt trên ghế hoặc dưới đất nói chuyện ồn ã hoặc ăn uống nhồm nhoàm. Hầu hết là người Trung Quốc. Nét nổi bật nhất là cường độ âm thanh trong giọng nói của họ. Hiếm khi tôi thấy cảnh nào ồn ào đến như vậy. Tôi muốn mở laptop ra để đọc hay viết một cái gì đó nhưng không có cách gì tập trung được.
Khi nhân viên báo tin đã đến giờ lên máy bay, tất cả mọi người đều đứng bật dậy và hối hả chạy ra giành chỗ vào cửa. Họ chen lấn nhau, xô đẩy nhau, thậm chí, la hét chửi bới nhau. Cuối cùng, mọi người cũng lên được máy bay. Trên máy bay lại diễn ra cảnh giành giật các chỗ để hành lý. Thường, máy bay nào cũng hạn chế số lượng và kích thước hành lý cầm tay. Thế nhưng không hiểu sao người ta lại có thể mang hành lý nhiều và cồng kềnh đến như vậy. Công việc cất hành lý đáng lẽ chỉ diễn ra trong vài phút, đằng này, nó kéo dài khá lâu, làm không khí trên máy bay nhốn nháo hẳn lên.
Khi đã ngồi vào ghế, người ta bắt đầu mở miệng hoặc để chuyện trò hoặc để cãi cọ. Như một cái chợ. Đến độ tôi hoàn toàn không nghe được lời chào hoặc thông báo gì đó của phi hành đoàn. Tuyệt đối không nghe. Mãi đến cả một, hai tiếng sau, có lẽ do thấm mệt, âm thanh trong máy bay mới bắt đầu giảm để đến lúc máy bay hạ cánh lại diễn ra cảnh giành nhau lấy hành lý. Lại cãi cọ. Lại ồn ào.
Trên máy bay, tôi mở laptop ra định viết bài cho blog. Đang viết, nhìn vào màn ảnh trên laptop, thấy thấp thoáng có mặt người. Tôi quay lại, bắt quả tang một anh Tàu ngồi hàng ghế sau đang nhoài đầu ra phía trước nhìn vào màn ảnh laptop của tôi. Anh bẽn lẽn ngả người ra sau. Tôi quay lại tiếp tục viết. Nhưng lại thấy khuôn mặt của anh phản chiếu trên màn ảnh. Tôi quay lại nhìn. Anh ta lại ngả người ra sau, ngó ra ngoài cửa, nhưng không còn lộ vẻ gì bẽn lẽn nữa. Cứ thế, mỗi lần tôi viết, anh ta lại nhoài người lên dòm. Tôi không nghĩ anh ta là công an. Làm công an, được huấn luyện để theo dõi người khác, không ai lại vụng về đến như vậy. Tôi chỉ nghĩ có lẽ anh ta là một người tò mò một cách thô bỉ vậy thôi. Nhưng không thể kiềm được sự khó chịu, tôi tắt laptop. Cả gần bốn giờ bay, do đó, chỉ ngồi thừ người nghĩ ngợi bâng quơ. Chả làm được gì cả.
Suốt 10 ngày ở Trung Quốc, ở đâu tôi cũng gặp hai nét tính cách ấy: chen lấn và sẵn sang xâm phạm vào sự riêng tư của người khác. Có thể nói ở Trung Quốc, ở chỗ nào có đông người chỗ ấy có chen lấn. Mà hình như ở Trung Quốc không nơi nào không đông người nên cảnh chen lấn dường như xuất hiện ở khắp nơi. Ngay ở các địa điểm du lịch, nơi đáng lẽ người ta cần sự thảnh thơi thoải mái và nhàn nhã, người Trung Quốc cũng chen lấn nhau. Đi dọc theo bờ Hồ Tây ở Hàng Châu, bên cạnh cảnh sông nước và cây cối tuyệt đẹp và đầy thơ mộng, mỗi vật đều gợi nhớ đến lịch sử và văn chương vốn được mọi người ngưỡng mộ cả hàng ngàn năm, họ cũng chen lấn. Ở khu phố cổ ở Thượng Hải (Miếu Thành Hoàng), nơi đáng lẽ cần sự yên tĩnh để ngắm nghía phong cách kiến trúc độc đáo truyền thống, người ta cũng chen lấn xô đẩy nhau kịch liệt. Tôi quan sát, thấy, khi đi bộ, người ta thường không bao giờ chú ý đến người khác. Họ cứ đi thẳng. Ai nhường đường, mặc, họ không một lời cám ơn. Không nhường đường thì bị họ dùng vai đẩy dạt ra. Dĩ nhiên cũng không một lời xin lỗi. Trên chiếc thuyền chở du khách chạy dọc sông Hoàng Phố (黄浦江) ở Thượng Hải, nhóm chúng tôi an phận ngồi trên một dãy ghế ở tầng hầm, nơi tầm nhìn bị hạn chế rất nhiều. Nhưng cũng không yên. Một lúc nào đó, hình như ở tầng trên quá lạnh, nhiều người lại ào ào chạy xuống tầng hầm và giành ghế của người khác. Chỉ cần đứng dậy là có người chĩa đít vào giành ngay ghế của mình. Bạn nói đó là ghế bạn đang ngồi ư? Họ mặc kệ, ngó đi chỗ khác và tiếp tục ngồi. Nhóm chúng tôi gồm 10 người bị cướp mất năm hay sáu ghế. Cuối cùng, mọi người đành đứng.
Ở Trung Quốc, sự riêng tư không bao giờ là một giá trị. Về chính trị, nhà cầm quyền trố mắt theo dõi mọi người ở mọi nơi và mọi lúc. Trong xã hội, ở đâu người ta cũng lom lom dòm vào người khác. Bạn đứng chụp hình ư? Rất có khả năng một người nào đó dí mắt nhìn vào màn ảnh của bạn. Không phải bạn chụp hình ở nơi nào trọng yếu hay có ý nghĩa quân sự gì đâu. Ngay cả khi bạn đứng trên chiếc du thuyền chạy dọc theo bờ sông và chỉ chụp cảnh phố xá hai bên, người ta cũng nhìn. Có lẽ chỉ vì tò mò thôi.
Đến Bắc Kinh, tôi tham gia vào một tour du lịch khá đông, khoảng 60 người. Hầu hết là người Hoa sinh sống ở nước ngoài, nhiều nhất là ở Mỹ, Canada và Úc. Có người đi từ Trung Quốc, từ Hong Kong và cũng có một số người đi từ Việt Nam, đặc biệt từ Móng Cái, vùng giáp biên giới Việt-Trung, trong những năm 1978-79. Điều đặc biệt nhất là tất cả, kể cả thanh niên sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, đều nói tiếng Quảng Đông rất giỏi. Suốt cuộc hành trình, nói chuyện với nhau, tất cả đều dùng tiếng Quảng Đông. Nhóm của tôi có mấy thanh niên khoảng 30 tuổi, sinh ở Móng Cái, đến Mỹ lúc mới 2 hay 3 tuổi, hoàn toàn quên tiếng Việt, nhưng lại nói tiếng Quảng Đông rất trôi chảy. Và có vẻ rất thích nói tiếng Quảng Đông với bạn bè trong nhóm. Dường như người ta có chút tự hào khi nói tiếng Tàu. Đó là điều tôi ít thấy trong cộng đồng người Việt. Trẻ em Việt Nam ở hải ngoại, ngay cả khi có thể nói tiếng Việt lưu loát, vẫn có khuynh hướng dùng tiếng Anh hơn tiếng Việt.
Tuy nhiên ngay cả người Hoa ở ngoại quốc về cũng bị kỳ thị. Khi đoàn du lịch đến ở khách sạn, hầu hết là khách sạn thật sang, thuộc loại 5 sao, tôi để ý thấy tất cả các tủ lạnh trong phòng đều bị khoá chặt. Hỏi, người ta đáp: Sợ bị ăn trộm. Buổi sáng, theo kế hoạch, đoàn thường lên đường vào lúc 7 giờ. Khách sạn đòi mọi người phải trả chìa khoá trễ nhất là lúc 6 giờ. Lý do: khách sạn cần khoảng một tiếng để kiểm tra phòng xem có bị mất trộm gì không. Nhiều người kể, ở khách sạn, hở cái gì là mất ngay cái ấy. Rượu bia để trong tủ lạnh: mất. Đồng hồ báo thức để trên đầu giường: mất. Có khi cả điện thoại cũng bị mất. Khách sạn đành áp dụng chiến thuật cẩn tắc vô áy náy: Khoá tủ lạnh và đuổi khách ra khỏi phòng một tiếng để kiểm tra trước khi để họ rời khỏi khách sạn.
Thú thực tôi không có số liệu về nạn trộm cắp ở Trung Quốc. Có điều, trong suốt chuyến du lịch, điều hướng dẫn viên dặn dò nhiều nhất, dặn đi dặn lại, là phải coi chừng bị mất trộm. Túi xách của phụ nữ phải đeo trước bụng, không được kè kè bên hông. Giấy tờ và ví tiền phải để chỗ kín đáo, không được để túi quần sau, rất dễ bị móc.
Trong các nhà vệ sinh công cộng, người ta không dám để giấy vì sợ trộm, đã đành. Trong hầu hết các nhà hàng, ngay cả những nhà hàng có vẻ rất sang trọng và nghe nói rất nổi tiếng, cũng không có khăn giấy trên bàn. Khi dọn thức ăn, người ta mới phát cho mỗi người một cái khăn giấy nhỏ xíu và mỏng lét. Có nơi còn đòi tiền: một miếng khăn giấy là một đồng nhân dân tệ.
Không phải tại khăn giấy khan hiếm. Chỉ tại người ta sợ ăn cắp: để ra bao nhiêu là mất bấy nhiêu.
Nói đến người Tàu, tự nhiên tôi sực nhớ một đồng nghiệp cũ. Chị có bằng tiến sĩ, dạy đại học, nghe nói dạy khá giỏi, nhưng tính nết thì rất quái gở: Lúc nào chị cũng nghi ngờ người khác. Chị thường xuyên khiếu nại hay than phiền là có ai đó lén vào phòng chị, lục lọi computer của chị. Có lần, tôi muốn vào phòng chị để bàn bạc một số công việc trong Khoa. Tôi gõ cửa. Có tiếng mở cửa lách tách, tôi biết là chị khoá bên trong. Tôi vừa bước vào, chưa kịp ngồi xuống ghế, đã thấy chị nhoài người ra ngoài, nhìn quanh, rồi khoá hẳn cửa lại. Tôi hơi giật mình. Thường, ở đại học, không ai khoá cửa kiểu như vậy. Ngay cả việc khép cửa cũng hoạ hoằn. Sau đó, tôi kể cho một số đồng nghiệp nghe. Mọi người cười ầm: Họ cũng từng có kinh nghiệm y như vậy. Và người ta cố tìm lời giải thích: có lẽ là do ảnh hưởng từ thời cách mạng văn hoá, lúc mọi người tìm cách hãm hại nhau. Và không ai tin ai cả.
Kể những điều trên, tôi không có hàm ý miệt thị người Tàu. Không. Tôi biết trong lịch sử có vô số người Tàu vĩ đại. Vĩ đại về trí tuệ. Vĩ đại về tài năng. Và vĩ đại về tính cách. Hiện nay, chắc chắn cũng có vô số người Tàu ưu tú và khả kính, tạo thành một tầng lớp tinh hoa không thua kém ở bất cứ đâu khác. Những nhận xét ở trên, thật ra, chỉ giới hạn trong tầng lớp những người bình thường mà ai cũg có thể gặp gỡ hang ngày. Ở mọi nơi.
Họ chỉ là đám bình dân. Có điều, bình dân bao giờ cũng đông đảo. Chính họ tạo nên diện mạo của một xã hội.
Để trở thành một siêu cường thực sự, điều Trung Quốc cần làm đầu tiên và cũng mất nhiều thời gian nhất chính là cải tạo cái khối bình dân đông đảo ấy. Có lẽ chính quyền Trung Quốc cũng ý thức được điều ấy. Ở đâu tôi cũng thấy bảng hiệu nhắc nhở người ta làm người văn minh và có văn hoá.
Nhưng nói là một chuyện. Làm được hay không lại là chuyện khác.
Cũng như ở Việt Nam vậy thôi.
Muôn vàn cách thưởng trà của người Việt
Không chỉ vui thú trà tươi, người Việt còn sáng tạo nhiều loại thức uống khác như trà chanh, pha sữa, bỏ đá,
ướp thảo dược hoặc làm mocktail, cocktail trà...
Du nhập vào phương Nam, thứ thức uống khoác lên cả một bề dày văn hóa phương Bắc lại trở nên rất đỗi bình dị và gần gũi.
Gọi tô phở, nhâm nhi ly cafe, ngồi hàn huyên câu chuyện hay nhậu ly rượu cũng “chữa lửa” bằng đủ loại trà.
Trà xanh, trà đen
Trà đạo ở Việt Nam không phổ biến, bởi người thưởng trà không coi uống trà là đạo, mà nhằm mục đích giải khát.
Thế nên, trà được đà cứ len lỏi, xâm nhập vào mọi ngóc ngách của đời sống.

Chén trà hoa nhài đượm mùi hương.
Trà xanh (mới hái) và trà đen (sao khô) là hai dạng nguyên chất và phổ biến nhất. Dù có nhiều tác dụng, nhưng nhụm trà sau bữa ăn vẫn cốt để xua mùi thực phẩm và mau tiêu những món nhiều dầu mỡ. Dọc khắp Bắc - Trung - Nam, trà được trưng dụng từ trong nhà ra đến vỉa hè, ngày thường cũng như mọi dịp lễ hỏi hay buổi đàm đạo cấp cao.
Hãm chè vô cùng đơn giản, nhưng để ngon thì không phải ai cũng biết cách. Trà tươi chỉ việc rửa sạch, đun sôi nhưng đừng để quá lâu kẻo đắng. Trà đen phải tráng qua một lượt nước nóng để gạn bỏ bụi mốc, sau đó tưới nước sôi bên ngoài ấm tích trong khi hãm để cấp đủ nhiệt. Người sành sỏi còn sưu tầm nhiều thứ trà cụ, tuyển chọn những loại tuyệt hảo để thỏa mãn thú thưởng trà của mình. Còn với người lao động, chỉ cần ly trà ấm nóng mùa đông hoặc bỏ thêm vài ba viên đá (trà đá) giải khát mùa hè là đủ.
Trà chanh
Loại trà này phổ biến ở miền Bắc, sử dụng trà mộc kết hợp với hương nhài, vài lát chanh và khay đá mát lạnh. Trên những con đường Nguyễn Trãi, Trần Đại Nghĩa (Hà Nội)... vào mùa hè, cứ nườm nượp người ôm ly trà chanh lề phố. Tri kỷ của trà chanh thường là đĩa hướng dương mà nhiều dân tứ xứ còn gọi là "hạt giời".

Ly trà chanh giải khát.
Riêng ở phố Tạ Quang Bửu (Hà Nội), trà chanh còn được nâng lên tầm cao mới, sáng tạo thành "chanh tuyết, chanh lắc, chanh phê"... Người bán thêm vị cafe, muối tinh, hương nhài vào trà chanh, dùng chiếc lắc tay chuyên dụng của "bartender" để tạo bọt và trộn lẫn mọi phân tử cấu thành.
Trà sữa
Nếu trà chanh độc chiếm ở miền Bắc, thì trà sữa lại chiếm thế thượng phong ở miền Nam và khu vực từ Đà Nẵng trở vào. Phố người Hoa ở Sài Gòn là nơi tụ họp đông đủ nhất.
Đa số tín đồ của trà sữa là học sinh hay sinh viên. Để thực khách lai rai, chủ quán thường thêm thạch đen, thạch 6 màu, khúc bạch, trân châu, rau câu, củ năng... cho dư phần hương vị.
Trà ướp thảo dược
Lui vào những cửa hàng trà đạo, đặc biệt là vào mùa lạnh, bạn dễ dàng tìm thấy các loại trà thảo dược. Hầu hết chúng đều có tính ấm, vị cay như gừng, mật ong, quế chi, tiểu hồi, đại hồi, cam thảo, hoa hoè, lá trà tiên, lá dứa thơm, cố chỉ và hoa cúc nút.
Thảo dược có thể tán nhỏ, nghiền thành bột hoặc để cả miếng. Trà pha có thể là trà mộc, dạng túi lọc hoặc bột. Tuy nhiên, nước hãm phải thật sôi để giải phóng mọi thành phần tinh túy. Không chỉ giúp tinh thần thư thái, trà ướp còn có tác dụng chữa cảm mạo, phòng cao huyết áp, giảm đau hay nhuận tràng...
Mocktail và cocktail trà
Công việc bận rộn khiến nhiều người không có thời gian để đun nước, pha trà và đợi ngấm. Đây cũng là lý do ra đời trà túi lọc - một loại trà đen xay thành bột và đựng trong gói giấy thấm. Không chỉ lấp đầy cơn khát với ly trà thả túi lọc, bạn còn có thể chế biến chúng thành trà chanh, trà sữa và mật ong... hay thậm chí là đổi vị với mocktail và cocktail ngay tại nhà.

Để ly mocktail sánh và đủ vị, mỗi túi trà Dilmah Fun Tea 5g và các nguyên liệu chỉ nên pha chế thành 100-150ml chất lỏng.
Mocktail trà pha chế khá đơn giản. Người uống có thể thư giãn cuối tuần và thưởng trà với phong cách hiện đại bằng các loại túi lọc hoa quả. Chẳng hạn, với 60ml trà Dilmah hương táo lạnh, thêm 10ml mật ong, 10ml sirô chocolate và một thìa kem vani là bạn đã có ly mocktail hấp dẫn. Lắc mạnh các nguyên liệu trong 15 giây và rót vào một chiếc ly tròn được làm lạnh trước, trang trí vài lát táo, ly mocktail bắt mắt không kém ngoài cửa hàng.
Vẫn những nguyên liệu trên, nếu thay thế mật ong và kem vani bằng 10ml nước chanh tươi và 40ml rượu nhẹ, bạn sẽ có một ly cocktail trà màu sắc bắt mắt. Lá bạc hà thường khiến cocktail dậy mùi thơm. Bạn cũng có thể thay trà hương táo bằng các loại hương dâu, quế, bạc hà, việt quất hay caramen... tùy theo gu sở thích.
Ông Fernando, người sáng lập của trà Dilmah chia sẻ rằng, thưởng trà là một thú vui giúp ông thư thái hơn trong giây phút căng thẳng. Pha trà, chờ các lá trà bung và tiết ra những tinh túy, ngắm nhìn màu sắc của nước trà... là liệu pháp thư giãn mà không thứ đồ uống nào có thể làm được. Hơn thế nữa, trà còn giống như một người bạn cùng ông chiêm nghiệm cuộc sống.
An San
Tiên đoán thị trường nhà đất trong năm 2015
(US News) - Giữa lúc thị trường nhà đất hồi phục, giá nhà tại nhiều thị trường trên khắp nước Mỹ đã tăng vọt.
Thật vậy, RealtyTrac báo cáo rằng giá bán ở giữa (median sale price) của những căn nhà biệt lập và nhà condo tại Hoa Kỳ trong Tháng Mười đã đạt tới mức cao nhất kể từ Tháng Chín năm 2008.
Giá cả gia tăng và sự hấp dẫn của những căn nhà bị ngân hàng thu hồi đã tạo một cơn sốt cho những nhà đầu tư địa ốc
sẵn sàng trả tiền mặt và làm cho những người mua truyền thống khó cạnh tranh hơn.

(Hình minh họa: Justin Sullivan/Getty Images)
Nhưng các chuyên viên nói rằng năm 2015 sẽ nổi bật với các thị trường nhà đất trên toàn quốc trở lại bình thường và cân bằng. Ông Stan Humphries, kinh tế gia trưởng tại Zillow.com, tiên đoán rằng sự gia tăng trị giá nhà sẽ chậm lại còn khoảng 3% mỗi năm thay vì 6% như người ta thấy gần đây, và điều đó sẽ làm cho thị trường nhà đất ít hấp dẫn hơn đối với nhiều nhà đầu tư. Ông nói: “Ít lâu nay đó là một thị trường khó khăn cho những người mua. Tôi nghĩ tình hình sẽ trở nên dễ dàng hơn trong năm 2015. Sức mạnh thương lượng sẽ trở lại với người mua và tuột khỏi tay người bán. Ðó sẽ là một thị trường cân bằng hơn nhiều.”
Cũng cần nói thêm rằng tình trạng trái ngược, khi có quá nhiều người mua và quá ít nhà bán, tạo nên một thị trường mất cân đối.
Các nhà đầu tư thích đi vào những thị trường mà họ có thể mua rẻ và bán đắt. Sự gia tăng giá cả bắt đầu chậm lại đáng kể, họ không thể bán với giá cao hơn nhiều so với giá mà họ mua, do đó việc đầu tư vào bất động sản trong năm 2015 không còn hấp dẫn như trong năm 2014.
Có thêm nhà bán và bớt cạnh tranh từ những nhà đầu tư có nghĩa ngay cả những người mua truyền thống cũng đang trở nên “kén chọn” hơn, và họ sẽ sẵn sàng bỏ rơi căn nhà nếu họ không nghĩ căn nhà đó thích hợp với họ.
Theo bà Nela Richardson, kinh tế gia trưởng của Redfin.com, nhà cửa bây giờ cũng như xe buýt: nếu bạn lỡ chuyến này, bạn sẽ đi chuyến sau.
Các nhà đầu tư ngoại quốc có thể vẫn thấy thị trường nhà đắt tiền ở Mỹ hấp dẫn bởi vì sự hỗn loạn kinh tế tại nước họ. Vài nhà đầu tư ngoại quốc cũng lo ngại về những trồi sụt tiền tệ đang làm giảm giá trị đồng tiền mà họ nắm giữ tại đất nước họ. Khu vực thị trường đó vẫn được mua bán hoàn toàn bằng tiền mặt - họ vơ vét những cơ ngơi đồ sộ này bởi vì ở đây an toàn hơn so với tại chính nước họ.
Những người mua ở bên ngoài Hoa Kỳ có thể sử dụng bất động sản của họ như một nơi để cho thuê, một nơi để dừng chân (một cư sở phụ được sử dụng khi họ đi du lịch) hoặc một chỗ ở cho con cái đang theo học các trường đại học ở Mỹ. Nhưng đối với những người mua đang tìm kiếm những căn nhà có giá phải chăng hơn, năm 2015 có thể cung cấp một sự dễ thở sau những cuộc chiến giá cả và những đề nghị hoàn toàn bằng tiền mặt. Hiện giờ, những người có những nghề nghiệp bình thường và tiền cọc 20% cuối cùng có một cơ may để tham gia thị trường.
Từ nhiều năm nay, nhiều người thuộc thế hệ trẻ đã trì hoãn việc làm chủ một căn nhà và chọn giải pháp đi thuê, nhưng điều đó cũng có thể thay đổi vào năm tới, giữa lúc nhiều người trong số họ bắt đầu thành lập gia đình và tìm kiếm chỗ ở ổn định hơn. Theo ông Humphries, vào cuối năm 2015, những người mua thuộc thế hệ trẻ sẽ đại diện nhóm người mua nhà lớn nhất. Họ thích những căn nhà nhỏ hơn và gần trung tâm thành phố hơn.
Những người thuộc thế hệ sinh sau Thế Chiến II có thể cũng có hành động trong năm 2015. Nhiều người trong số họ sẽ chuyển sang những căn nhà nhỏ hơn và họ sẽ di chuyển để sống gần con cháu hơn. Trị giá nhà gia tăng cũng giúp họ cuối cùng ở vào địa vị có thể bán nhà, nhờ trị giá của căn nhà cao hơn số tiền thế chấp mà họ còn nợ.
Trong khi lãi suất có thể vẫn ở mức thấp lịch sử như được thấy gần đây, thêm nhiều người có thể đủ điều kiện để vay tiền mua nhà khi những vấn đề như xiết nhà hoặc bán dưới mức nợ biến mất dần khỏi các báo cáo tín dụng của họ, trong khi Freddy Mac và Fannie Mae bớt khó khăn trong các điều kiện vay tiền thế chấp. Freddy và Fannie mới đây lã loan báo một chương trình thế chấp mới cho những người mua với một số tiền đặt cọc chỉ lên tới 3%. Hai công ty trên đã luôn luôn dẫn đầu kỹ nghệ, và quyết định của họ có nghĩa khuyến khích việc cho vay đối với những người không có 5% tiền cọc, và người ta có thể mở rộng tín dụng một cách an toàn và hợp lý. (n.n.)
(US News) - Giữa lúc thị trường nhà đất hồi phục, giá nhà tại nhiều thị trường trên khắp nước Mỹ đã tăng vọt.
Thật vậy, RealtyTrac báo cáo rằng giá bán ở giữa (median sale price) của những căn nhà biệt lập và nhà condo tại Hoa Kỳ trong Tháng Mười đã đạt tới mức cao nhất kể từ Tháng Chín năm 2008.
Giá cả gia tăng và sự hấp dẫn của những căn nhà bị ngân hàng thu hồi đã tạo một cơn sốt cho những nhà đầu tư địa ốc
sẵn sàng trả tiền mặt và làm cho những người mua truyền thống khó cạnh tranh hơn.

(Hình minh họa: Justin Sullivan/Getty Images)
Nhưng các chuyên viên nói rằng năm 2015 sẽ nổi bật với các thị trường nhà đất trên toàn quốc trở lại bình thường và cân bằng. Ông Stan Humphries, kinh tế gia trưởng tại Zillow.com, tiên đoán rằng sự gia tăng trị giá nhà sẽ chậm lại còn khoảng 3% mỗi năm thay vì 6% như người ta thấy gần đây, và điều đó sẽ làm cho thị trường nhà đất ít hấp dẫn hơn đối với nhiều nhà đầu tư. Ông nói: “Ít lâu nay đó là một thị trường khó khăn cho những người mua. Tôi nghĩ tình hình sẽ trở nên dễ dàng hơn trong năm 2015. Sức mạnh thương lượng sẽ trở lại với người mua và tuột khỏi tay người bán. Ðó sẽ là một thị trường cân bằng hơn nhiều.”
Cũng cần nói thêm rằng tình trạng trái ngược, khi có quá nhiều người mua và quá ít nhà bán, tạo nên một thị trường mất cân đối.
Các nhà đầu tư thích đi vào những thị trường mà họ có thể mua rẻ và bán đắt. Sự gia tăng giá cả bắt đầu chậm lại đáng kể, họ không thể bán với giá cao hơn nhiều so với giá mà họ mua, do đó việc đầu tư vào bất động sản trong năm 2015 không còn hấp dẫn như trong năm 2014.
Có thêm nhà bán và bớt cạnh tranh từ những nhà đầu tư có nghĩa ngay cả những người mua truyền thống cũng đang trở nên “kén chọn” hơn, và họ sẽ sẵn sàng bỏ rơi căn nhà nếu họ không nghĩ căn nhà đó thích hợp với họ.
Theo bà Nela Richardson, kinh tế gia trưởng của Redfin.com, nhà cửa bây giờ cũng như xe buýt: nếu bạn lỡ chuyến này, bạn sẽ đi chuyến sau.
Các nhà đầu tư ngoại quốc có thể vẫn thấy thị trường nhà đắt tiền ở Mỹ hấp dẫn bởi vì sự hỗn loạn kinh tế tại nước họ. Vài nhà đầu tư ngoại quốc cũng lo ngại về những trồi sụt tiền tệ đang làm giảm giá trị đồng tiền mà họ nắm giữ tại đất nước họ. Khu vực thị trường đó vẫn được mua bán hoàn toàn bằng tiền mặt - họ vơ vét những cơ ngơi đồ sộ này bởi vì ở đây an toàn hơn so với tại chính nước họ.
Những người mua ở bên ngoài Hoa Kỳ có thể sử dụng bất động sản của họ như một nơi để cho thuê, một nơi để dừng chân (một cư sở phụ được sử dụng khi họ đi du lịch) hoặc một chỗ ở cho con cái đang theo học các trường đại học ở Mỹ. Nhưng đối với những người mua đang tìm kiếm những căn nhà có giá phải chăng hơn, năm 2015 có thể cung cấp một sự dễ thở sau những cuộc chiến giá cả và những đề nghị hoàn toàn bằng tiền mặt. Hiện giờ, những người có những nghề nghiệp bình thường và tiền cọc 20% cuối cùng có một cơ may để tham gia thị trường.
Từ nhiều năm nay, nhiều người thuộc thế hệ trẻ đã trì hoãn việc làm chủ một căn nhà và chọn giải pháp đi thuê, nhưng điều đó cũng có thể thay đổi vào năm tới, giữa lúc nhiều người trong số họ bắt đầu thành lập gia đình và tìm kiếm chỗ ở ổn định hơn. Theo ông Humphries, vào cuối năm 2015, những người mua thuộc thế hệ trẻ sẽ đại diện nhóm người mua nhà lớn nhất. Họ thích những căn nhà nhỏ hơn và gần trung tâm thành phố hơn.
Những người thuộc thế hệ sinh sau Thế Chiến II có thể cũng có hành động trong năm 2015. Nhiều người trong số họ sẽ chuyển sang những căn nhà nhỏ hơn và họ sẽ di chuyển để sống gần con cháu hơn. Trị giá nhà gia tăng cũng giúp họ cuối cùng ở vào địa vị có thể bán nhà, nhờ trị giá của căn nhà cao hơn số tiền thế chấp mà họ còn nợ.
Trong khi lãi suất có thể vẫn ở mức thấp lịch sử như được thấy gần đây, thêm nhiều người có thể đủ điều kiện để vay tiền mua nhà khi những vấn đề như xiết nhà hoặc bán dưới mức nợ biến mất dần khỏi các báo cáo tín dụng của họ, trong khi Freddy Mac và Fannie Mae bớt khó khăn trong các điều kiện vay tiền thế chấp. Freddy và Fannie mới đây lã loan báo một chương trình thế chấp mới cho những người mua với một số tiền đặt cọc chỉ lên tới 3%. Hai công ty trên đã luôn luôn dẫn đầu kỹ nghệ, và quyết định của họ có nghĩa khuyến khích việc cho vay đối với những người không có 5% tiền cọc, và người ta có thể mở rộng tín dụng một cách an toàn và hợp lý. (n.n.)
Con ở nhà cha mẹ là :HẠNH PHÚC, cha mẹ ở nhà con là : NHẪN NHỤC
Tôi đến Mỹ rất trễ, đến từ một quốc gia thứ ba, nên ba mươi năm sau ngày mất nước tôi mới đặt chân lên xứ cờ hoa. Văn hóa và hệ thống xã hội nơi đây có những khác biệt so với nơi tôi đã sống, và điều dễ thấy nhất là nếp sống của xã hội Mỹ như vội vàng, cạnh tranh, và tấp nập hơn, so vơi nơi tôi đã sống, êm đềm và lặng lẽ.
Người Việt ở đó ít hơn, nếp sống và sinh hoạt của gia đình còn mang nhiều nét truyền thống của nơi chôn nhau cắt rún. Người ta rất thân tình và chân tình khi bắt gặp nhau nơi công cộng, giáo đường hay chùa chiền. Và nhất là những lúc được thông báo có người Việt từ nước khác tới định cư, là những người già, những người có phương tiện, tình nguyện đưa đón, hướng dẫn các thủ tục nhập cư, những giấy tờ cần thiết cho một đời sống mới.
Có lẽ đất Mỹ, nơi tôi đang sống, có cái khung cảnh xa lạ hơn, vì những núi đồi trùng trùng điệp điệp, đôi lúc cho tôi cái cám giác như đang đi trên đèo Ngoạn Mục, quảng đường từ Phan Rang lên Đà Lạt một thủa nào.
Cảm giác êm ái đó làm tôi liên tưởng tới khu đồi mà dòng Donbosco tọa lạc, nơi có hoa Anh đào nở rộ mỗi bận Xuân về, màu hoa rực rỡ giữa núi đồi hùng vĩ đầy thơ mộng của cao nguyên.
Cũng đã mấy chục năm bỏ lại quê hương, bỏ cả những chiều lộng gió của núi rừng Đà Lạt và Di Linh, không hiểu những nơi chốn ấy bây giờ đã thay đổi ra sao, màu chè xanh của Bảo Lộc còn xanh như màu xanh ngày cũ, khu chợ Hoa Đà Lạt, hay bờ Hồ Xuân Huơng còn dương liễu rũ xuống ven bờ, mà những hồn thơ ngày đó đã ví von như mái tóc thề của mấy cô sơn nữ cao nguyên. Bao nhiêu đã mất, bao nhiêu còn giữ, bao nhiêu còn nhớ được trong tâm trí của trang lứa chúng tôi.
Cái mất mát hẳn nhiên đã làm chúng tôi đau đớn xót xa, nhưng chưa chắc đã bằng những chua chát, bẽ bàng, mà trang lứa chúng tôi phải gánh chịu trong cuộc sống tuổi già trên đất nước xứ người.
Tôi đến Mỹ như đã nói là rất muộn màng so với nhiều đồng đội, và những người bạn thân tình thủa nào cũng đã tản lạc mỗi đứa một nơi, và ở đây , trong vòng 50 dặm vuông hay vài trăm dặm dài, tôi cô đơn không bè bạn. Mỗi ngày, ngoài việc nhổ cỏ vườn sau, nhặt lá vườn trước, đưa đón bốn cô cháu đi học, tôi chỉ còn biết đi bộ, nhìn đồi núi nối tiếp nhau trên thành phố này để mơ mộng về núi rừng quê tôi, nơi mà hàng chục năm tôi và đồng đội chung sống, có khi gian nan, mà cũng có lúc thật thơ mộng. Và rồi trong một trường hợp ngẩu nhiên, tôi đã gặp được bác Thụy, một người Việt Nam cô độc, cũng lạc lỏng đến nơi này như tôi.
Cũng là một thói quen như nơi tôi đã từng sống, hễ gặp được người nào mà tôi đoán là dân nước tôi, thì tôi không ngại ngùng đến làm quen, và câu hỏi đầu tiên của tôi thường là " Ông nói được tiếng Việt nam không? "
Nếu người đó trả lời họ là người Việt thì tôi nhất định rất vui mà hỏi chuyện. Tôi quen bác Thụy cũng trong trường hợp tương tự.
Từ lần gặp đó, tôi hay tìm tới bác vào mỗi cuối tuần hoặc là những khi bác gọi tôi đến , và lúc nào bác cũng mở đầu bằng câu " chúng nó đi cả rồi ",ý của bác là các con đã đi làm hết . Tình thân của chúng tôi từ đó ngày càng thân thiết hơn, bác kể cho tôi 12 năm trong quân đội, phục vụ cho một đơn vị Quân báo, hoạt động trên lảnh thổ Quân Đoàn I, bị thương nhiều lần, nhưng lần nào cũng may mắn qua khỏi. Bác đến Mỹ không thuộc diện HO, vì thời gian bác được thả, Phòng công tác nước ngoài thuộc công an Thành phố Hồ Chí Minh ở 161 Nguyễn Du, Quận I, còn đóng cửa, nên bác vượt biên, bị bắt cho đến khi chương trình HO được thực hiện, bác vẫn còn ở trong tù, do vậy bác đến Mỹ theo chương trình Đoàn Tụ, con gái bảo lảnh hai vợ chồng nên không được hưởng một trợ cấp nào của Chính phủ Mỹ như diện HO, tất cả đều do thân nhân bao bọc.
Thời gian ở lại Việt Nam, bác đi dạy học, cũng như trước khi động viên bác là một Giáo sư dạy Vật Lý tên tuổi tại Sài Gòn, lương giáo viên tuy không khá, nhưng cũng đủ cho hai vợ chồng bác sống tạm qua ngày, nhất là bác được các trung tâm chuyên Lý mời cộng tác, nên dạy cả sáng, chiều và tối , Vã lại mỗi năm, các con bác gởi cho một vài trăm đô la vào dịp Tết, hai vợ chồng lại dành dụm mua một chỉ hay 5 phân vàng hầu dùng cho việc ma chay sau này, cho đến năm 2003, con gái bác viết thư báo tin cho biết là đã làm hồ sơ bảo lảnh cho ba má , bác cũng chẳng hy vọng gì, vì thời gian đợi chờ dường như đã quá mòn mỏi, vã chăng tuổi đã cao, đi đâu cũng chỉ kiếm hai bữa cơm mà thôi, nên gần như vợ chồng bác không nghĩ tới chuyện ra đi, cho đến năm 2006, bác được gọi bổ túc hồ sơ, rồi cuối năm đó, bác được phỏng vấn, theo bác kể thì có lẽ vì lợi tức của con gái bác cao, nên họ cho đi nhanh và rồi đầu tháng 4 năm 2007 bác được sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình, nhưng tính cho đến nay, bác vẫn chưa hội đủ điều kiện thi nhập Quốc tịch Hoa Kỳ .
*Thời gian đầu sống với con cái vui vẻ lắm, vì còn mới, tình cảm còn mới, mọi thứ còn mới và còn mới là còn vui vẻ,* rồi từ từ bác được một người quen giới thiệu đi làm assembler cho một hảng điện tử, lương $10/ giờ, hai vợ chồng già thật là hạnh phúc, cứ cuối tuần là hai ông bà rủ nhau đi WaltMart hay Target mua áo quần và đồ chơi cho các cháu, nhưng rồi kinh tế ngày càng suy thoái, sau gần hai năm làm assembler, bác mất việc làm, không có cách nào xin được việc khác, vã chăng, những người trẻ còn chưa xin ra việc làm thì ông già 63 tuổi như bác dễ gì tìm được việc, nên bác đành xin tiền thất nghiệp, và được hưởng thất nghiệp hai năm, khoảng thời gian này bác cho biết rất là buồn, suốt ngày vợ chồngcứ mong cho hai đứa cháu đi học về để chơi với cháu cho đỡ buồn, rồi thì cứ vườn sau sân trước, vợ chồng thi nhau nhặt cỏ, tưới cây, hay lên đồi lượm những viên đá hình dáng đẹp đem về lót quanh mấy bụi hồng cho hết thời gian.
Bác cũng năng nổ đi tham gia sinh hoạt các hội đoàn, như hội người già, Hội SQ/TBTD, nhưng rồi tiền trợ cấp thất nghiệp hết, và khó khăn đến với bác bây giờ là tiền đổ xăng, bác không biết xin ai hai chục bạc để mua xăng, bác nói, một đôi khi bổng dưng nghe thèm một tô phở, nhưng cũng không cách nào có được, "Ông ạ, có đêm tôi không ngủ được chỉ vì nghĩ tới mùi ngò gai và rau quế bỏ vào tô phở mà chảy nước miếng hoài không ngủ nổi, thèm như là thèm được ăn đường lúc ở trong trại tù ".
Tình cảm con người hình như rất mỏng manh, không phải bền chắc, và rất dễ gãy đổ, từ tình vợ chồng, cha con hay anh em, và nghèo đói là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với tình cảm. Cổ nhân cũng đã từng nói "phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc", cái gì người ta bảo "tiền tài như phấn thổ, nghĩa trọng như thiên kim" có chăng, chỉ là trong đạo đức kinh hay sách vở của Thánh hiền mà thôi. *Không có tiền, nguyên lý nào cũng bị bỏ quên, đạo đức nào cũng dư thừa, và tình cảm nào cũng mai một.* Đặc biệt là ở một xã hội mà mọi nền tảng đều lấy lợi nhuận làm chuẩn.
*Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc, cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục và hy sinh. Con cái ở chung với cha mẹ là tự nhiên, nhưng cha mẹ ở chung với con cái lại ưu phiền, vì lúc nào cũng phải nhìn mặt mủi con cái, phải xem chừng nó vui buồn bất chợt ra sao.* Muốn mở cái TV cũng phải lựa lúc nó vui vẻ, muốn mở cái CD nghe nhạc cũng tùy thời cơ nó buồn hay giận, lại còn phải coi sóc con cái cho chúng, nhỏ thì cho đi tiêu đi tiểu, rửa đít, cho ăn, tắm giặt. Lớn thì đưa đón tới trường, có khi còn bị chưởi mắng, đành chỉ biết cúi mặt dấu nước mắt đi. Họa hiếm lắm, chúng cho vài ba trăm bạc vào dịp lễ nào đó thì lại coi như phúc ấm chúng ban cho .
Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc, *cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục*, chính là chổ này. Một buổi sáng bác gọi tôi tới nhà, chỉ cho tôi một tờ giấy con gái bác viết để lại trên bàn cho bác, tôi cầm lên đọc :
"Theo luật bên nầy, chủ nhà có quyền gọi cảnh sát đến bắt buộc người thuê phải ra đi, nếu người chủ đã thông báo cho người thuê hai lần bằng thư. Ba không trả tiền nhà, nhưng con cũng coi ba như người thuê nhà, đây là lần thứ hai con yêu cầu ba dọn ra, ba đừng ép con phải gọi cảnh sát".
Tôi đọc đến đây, bổng nhiên nước mắt tôi trào ra, bác nhìn tôi và nấc lên thành tiếng, bác cũng bật khóc. Tôi ôm hai vai bác và nói "Hãy yên tâm, không có luật như vậy đâu, nếu cô ấy gọi cảnh sát, bác có thể nói cô ấy ngược đãi người già, con bác chỉ hù bác thôi". Và rồi bác bắt đầu kể cho tôi nghe hết tự sự.
Thoạt đầu là gạo, chúng nó than phiền, "nhà người ta một năm chỉ tốn hai bao gạo thôi, sao nhà mình mỗi tháng một bao", Tôi mở cassette ngồi ngoài garage nghe nhạc, ngoài garage thì nóng, tôi mở cửa bên hong ra cho bớt nóng, nó đóng lại, và bảo mở cửa chuột chạy vào nhà. Tôi hiểu ý là nó sợ tốn điện, tôi tắt cassette vào nhà.
Ông cũng biết, ở bên này, người già chỉ lấy cái TV làm bạn, nhưng nó mắng vào mặt tôi và bảo không biết xài thì đừng xài, TV cứ mở hoài chịu sao nổi, thế nào cũng có ngày TV bị cháy.
Mỗi ngày, chúng nó đi làm về trễ, có khi 7:30 hay 8:00 tối mới về đến nhà , và tôi đều cố gắng ăn trước để không chạm mặt chúng nó trong bữa ăn, ăn trước thì thú thật chỉ ăn sơ sài cho no bụng thôi, thức ăn của chúng tôi không dám đụng vào, vợ tôi thì chờ cho chúng ăn hết đã, cái gì còn lại bà ấy mới ăn, chúng tôi chỉ dám ăn những thức ăn thừa thải mà thôi. Công việc lặt vặt trong nhà như lau dọn, rửa chén bát, đưa đón các cháu, chúng tôi đều làm hết, nhưng nó bảo với tôi là tội nghiệp thằng chồng nó phải còng lưng gánh hai ông bà già. Những ngày nghỉ, hay cuối tuần, vợ chồng con cái chúng đi ăn tiệm, những năm đầu khi cháu út chưa thể gởi đến trường, thì chúng còn gọi vợ tôi đi ăn với chúng, những ngày lễ Tết cũng tặng quà cho vợ tôi, nhưng từ khi cháu út lớn rồi, chúng cũng lơ là với vợ tôi luôn, cho đến sau này, chúng lạnh lùng đến như bỏ mặc, vợ tôi buồn quá đành đi tìm chổ giữ trẻ ở một tiểu bang khác, nên ông tới nhà không thấy vợ tôi là vậy.
Bác lấy dưới gối ra một lá thư khác đưa cho tôi, bác bảo lá thư không có một chút tình người, thú thật tôi không dám đọc hết, nhưng trong trí tôi như vẫn in sâu những dòng này "ba người ta chết thì con cái khóc lóc tiếc thương, nhưng nếu ba chết con sẽ thở ra một cách nhẹ nhỏm. Con thật không muốn bảo lảnh ba sang Mỹ đâu, chỉ vì bắt buộc mà thôi, Ba hãy dọn ra đi để còn một chút gì gọi là tự trọng".
Tôi cũng tự hỏi mình, bác đi đâu bây giờ? Một đồng bạc cũng không có, bà con, bạn bè cũng không luôn, bác dọn đi đâu? trong khi bác lại chưa phải là công dân Hoa Kỳ, làm cách nào để có thể xin trợ cấp, tôi đành an ủi bác, thôi bác cứ yên tâm, điều quan trọng bây giờ là hãy nhịn, nhẫn nhục đó mà, cứ coi như ngày nào bác bị bắt tại mặt trận, Việt cộng hành hạ bác kiểu gì, nhục mạ bác ra sao, bác cũng ngậm bồ hòn, thì nay, với con gái, bác ngậm lại bồ hòn một lần nữa đi rồi từ từ hãy tính.
Một ông già tóc đã bạc hết rồi, nước da đã ngã màu đồi mồi, tay chân đã lọng cọng, dễ gì xin được một việc làm trên một đất nước đầy dẫy nhân lực và cạnh tranh.
Tôi biết có rất nhiều cơ quan, tổ chức thiện nguyện, sẵn lòng tiếp những người khó khăn, nhưng với hoàn cảnh của bác, thật không có tổ chức nào có thể giúp đỡ, vì có tổ chức nào có nhà cửa, cơm áo, để cung cấp cho bác trong lúc này, nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái, ngân sách các cơ quan, giáo dục, y tế hay xã hội ... đều bị cắt giảm. Và tôi chỉ còn một con đường để đi, đó là dẫn bác tới Sở Xã hội, để xin cấp thẻ EBT (Electronic Benifits Transfer), tức là mỗi tháng, Sở Xã Hội bỏ vào trong thẻ EBT $200 USD cho bác mua thực phẩm, gạo rau cá thịt, nước uống, trái cây...
Nhận được thẻ EBT bác liền hỏi nhân viên Xã Hội là có thể mua ngay thức ăn được không? và thực phẩm là những thứ gì? Người người Cán Sự Xã Hội nhìn tôi, tôi dịch lại lời bác và nói thêm rằng, bác không có gì ăn từ hôm qua cho đến nay. Người Broker xin phép đi ra một lúc, rồi quay trở lại đem theo phần ăn trưa của cô để tặng bác. Quả thật tôi cũng xúc động rơm rớm nước mắt khi nói câu đó với người broker. Đúng là một miếng khi đói, bằng một gói khi no, bác cúi đầu cám ơn người Cán Sự Xã Hôi mà như muốn khóc.
Tôi đem bác đi mua thực phẩm để hướng dẫn bác cách dùng thẻ EBT. Lần mua thử nghiệm đầu tiên của bác là 2 ổ bánh mì và 2 hộp cá Sardines rồi bác và tôi ra Parking chui vào xe ngồi ăn bánh mì cá hộp.
Tôi thật không hiểu rõ những tư tưởng nào đã đến với bác, nhưng mà nỗi xúc động của bác thì tôi biết là rất mãnh liệt, vì nước mắt bác đã chảy đến nỗi dùng hết một hộp khăn giấy của tôi để trong xe, tôi ngồi yên để bác khóc và suy nghĩ về mình, không hiểu có một lúc nào đó tôi lại như bác hôm nay. Trên đất nước tạm dung này, những người già đã trở thành gánh nặng cho con cái, những người già đã bị lãng quên hay bị xua đuổi của gia đình, mà xã hội dù có nhân đạo tới đâu cũng khó kham nỗi với số người cao niên ngày càng nhiều.
Một lần tôi đưa bác đi tái khám bệnh phổi, tôi ngồi chờ bác ở phòng đợi thật lâu, và khi bác trở ra cùng với một vị bác sĩ người Việt còn trẻ, vị bác sĩ này lấy ví ra 3 tờ bạc 20 đồng và nói "cháu chỉ còn bao nhiêu tiền mặt, nhưng cháu có một căn phòng trống trong Building này, có Microwave, khi nào bác cần thì gọi cho cháu, bác hãy nhớ là bác còn chúng cháu ở đây. Ông quay sang nhìn tôi và dặn chú làm ơn để ý tới bác này với, người già nào cũng có một nỗi khổ khi sang đây."
Suốt quãng đường về tôi cứ mãi suy nghĩ về người bác sĩ đầy lòng nhân ái ấy. Y thuật và y đạo, điều nào được người ta coi trọng hơn trên đất nước này. Tôi hỏi bác Thụy về vị bác sĩ ấy, được biết ông ta tên là DR. Albert H. Lee, chuyên khoa về phổi, là bác sĩ đang làm việc tại hai bệnh viện lớn ở thành phố này, và rất được bệnh nhân quý trọng cả về chuyên môn lẫn đạo đức.
Bác Thụy cho biết, thường ngày bác dậy rất sớm vì không ngủ được, có đêm bác chỉ ngủ 3 tiếng đồng hồ, rồi cứ suy nghĩ lung tung về chuyện đời, chuyện gia đình, về thời gian đi tù cải tạo, thời gian đi dạy dưới chế độ cộng sản.
Bác kể sau khi được thả ra tù, vì tốt nghiệp đại học trước 1975, nên bác không bị đuổi đi Kinh Tế Mới, mà được kêu đi dạy. Là một giáo sư dạy Lý Hóa nhiều năm, kinh nghiệm đặc biệt về phương pháp dạy Luyện thi, nên các Trung Tâm Luyện thi dạy ngoài giờ đều mời bác cộng tác, bác dạy cả sáng, chiều và tối, nhờ đó mà gia đình bác có được cuộc sống tương đối so với những anh em khác đi học tập về, và các con bác cũng từ đó mà học đến nơi đến chốn trước khi ra nước ngoài.
Trước ngày sang Mỹ, bác bán đi căn nhà, thu gom tài sản lại, cũng đựoc vài ba chục ngàn đô la, đều đem cho con hết, bây giờ nếu quay về, không còn nhà để ở, và biết lấy gì làm kế sinh nhai, vì tuổi đã cao rồi, làm sao xin được việc làm, đó là chưa nói tới những phiền toái khác từ xã hội, thật là tiến thoái lưỡng nan, bác tâm sự.
Có một buổi trưa tôi tìm tới bác, chứng kiến bữa cơm trưa gọn gàng của bác mà mủi lòng, một tách uống cà phê đong đầy Oat Meal, đổ vào một tô lớn, rót nước nóng từ bình thủy ra, khuấy đều chừng 2 phút, chờ nguội và ăn, không cần nước mắm hay xì dầu, hoặc một loại gia vị nào khác.
Bác bảo từ khi có thẻ EBT, tôi không còn lo thiếu xì dầu nữa, nhưng nhịn được cái gì hay cái đó, với lại bác sĩ bảo ăn mặn cũng không tốt .
- Bác ăn như thế này mỗi ngày sao ?
- Vâng, chỉ vậy thôi, tôi đâu có cần gì thêm, chỉ cần một căn phòng nhỏ, đủ đặt một cái giường là được rồi, thế nhưng đời tôi quả là cùng khổ, mà thực ra tôi đâu có cầu sống lâu, sống thọ, sống không có gì vui, thì chết đâu có gì buồn, sỡ dĩ tôi vẫn đi bác sĩ là vì tôi sợ đau đớn, cũng như tôi không đủ can đảm để tự tử, còn chết ư, tôi nghĩ tới rất thanh thản, trên đời tôi không còn gì mê luyến thì chết đi tôi đâu có gì tiếc nuối, chỉ cầu sao cho được chết thật nhanh, không đau đớn, đó là nguyện vọng duy nhất còn lại của tôi.
Thường thường bác hay kể cho tôi về những bữa cơm dã chiến của bác, như bữa ăn của những người lính ngoài mặt trận. Bác mua một cái bếp gas nhỏ bỏ trong túi vải mang theo bên mình mỗi khi đi bộ, một bình thủy nước sôi,
một tách cà phê Oat meal, một cái tô và muổng. Buổi trưa ngồi vào một góc nào đó trong Park, nơi người ta cho phép nướng BBQ, bác mở hộp cá ra, hâm nóng bằng bếp gas chừng 2 phút, rồi đổ nước sôi trong bình thủy vào tô và khuấy Oak meal lên ăn, bác chỉ về nhà vào xế chiều, làm thức ăn tối và nấu nước sôi đổ vào bình thủy, chuẩn bị thức ăn cho ngày hôm sau, và những việc này luôn luôn làm xong trước khi con gái bác về nhà, ăn chiều xong, bác lại chui vào căn phòng nhỏ dấu mình trong đó, để không phải gặp mặt con gái nghe nó nói nặng nói nhẹ và đuổi nhà.
Bác tâm sự rằng, đôi lúc muốn ôm mấy đứa cháu một chút, nhưng thật rất khó, vì chúng nó sợ má la, lâu lâu con cháu lớn lén vào phòng ông, đưa ngón tay lên môi làm dấu với ý bảo ông im lặng, ngồi chơi với ông một lúc rồi
chạy ra. Có những khi chúng nó vào phòng ông, má nó biết được là la mắng chúng liền. Ông cháu gặp nhau như đi thăm tù cải tao, thật là một hoàn cảnh đặc biệt hiếm hoi.
Nghe bác kể lại, tôi đành tìm cách an ủi bác, kể cho bác nghe về những đứa cháu phá phách của tôi, mọi thứ trong phòng tôi mỗi ngày được xếp theo một kiểu, computer của tôi được load đầy các games "comp của ông ngoại dễ xài
hơn, con thích games trong comp của ông ngoại hơn" thế là cái computer của tôi bận dài dài, chỉ trừ khi chúng đi học. Cho nên chơi với cháu chưa hẳn là hạnh phúc đâu bác ạ .
Bác kể cho tôi những bữa cơm chấm xì dầu thật cảm động. Mới đầu bác hỏi tôi :" Ông có bao giờ mút xì dầu chưa "? Tôi trả lời là tôi không hiểu ý bác.
Bác kể lại vào những tháng bác chưa có thẻ EBT, bác ăn cơm với xì dầu hiệu đậu nành, nhưng không dám chan vào chén cơm, chỉ hai miếng cơm mới nhúng đầu đủa vào chén xì dầu một lần và mút lấy đầu đũa, vì nếu chan vào
chén cơm hay mút nhiều lần thì sẽ hết mất, không có tiền mua nữa. Những ngày tháng ấy, anh Hồng, ngày xưa ở Biệt Động Quân, và một thời làm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Rừng Lá, trước ngày mất nước anh về Phủ Thủ Tướng, mỗi lần ghé thăm, anh thường mua xì dầu, rau muống, Broccoli cho tôi, tôi còn nhớ mãi, bây giờ anh move đi xa rồi, cách đây cũng vài ba tiếng lái xe nên anh không thường tới nữa, mà cũng tội nghiệp, anh ấy cũng chỉ sống với mấy trăm đồng tiền già mà thôi, nhưng khi nào tới cũng đưa tôi đi ăn phở, hay có khi anh mua sẵn 2 tô phở mang đến đây hai anh em cùng ăn. Nghĩ lại, chỉ có những người lính mới thương nhau và đùm bọc nhau trên đất nước tạm dung này.
Ông biết không, vào những ngày tháng đó, có khi tôi rất thèm bánh tráng có vừng đen, hay cơm trắng và xì dầu, mà phải là xì dầu đậu nành, đủ cho tôi ăn không sợ hết. Những đêm nằm không ngủ được, tôi lại ao ước có được một ổ bánh mì của chợ Vons để ăn, tôi thèm mùi thơm của bánh mì chưa kịp nguội, hoặc giã đã nguội đi, tôi lại thèm vị ngọt của bánh khi nhai còn thấm trên đầu lưỡi của mình, thèm đến chảy nước miếng.
Nghe bác kể, tôi thực sự không cầm được lòng mình, lại nghĩ tới thời gian đi tù cải tạo, tôi cũng đã từng thèm được ăn một bữa khoai mì cho thật no, và chỉ mơ ước ngày được thả về, tôi sẽ bảo vợ mua khoai mì cho tôi ăn một bữa cho đã thèm.
Khi thiếu thốn, con người sẽ thèm đủ thứ, cho nên nghe bác kể, tôi thực sự hiểu được cảnh ngộ ấy, và hiểu được sâu xa nỗi lòng của bác, chỉ có một điều mà không ai ngờ được, đó là sống trong một siêu cường bậc nhất, mà người dân chỉ thèm một ổ bánh mì khong cũng không có để ăn, cái ước mơ nhỏ nhoi ấy đã ở dưới mức tầm thường rồi, vì kể cả những người vô gai cư trên thành phố này, cũng không ai có một ước mơ như bác Thụy. Có ai quanh đây đang lâm vào tình cảnh của bác hay không tôi không rõ, cũng có thể có người bị gia đình hắt hủi, con cái bỏ rơi và xua đuổi, nhưng đến một đồng xu dính túi cũng không có thì tôi không tin.
Rồi một ngày bác nhờ tôi chở đi xin việc, bác đọc được một mẫu rao vặt đăng tin cần một người đứng tuổi, có sức khỏe, để săn sóc một ông già 83 tuổi, bị bệnh mất trí, bao ăn ở, tiền lương sẽ thương lượng.
Tôi chở bác tới địa chỉ tìm gặp chủ nhà, cô chủ nhà tiếp chúng tôi và hỏi :
- Chú xin hay chú này xin?
- Tôi, bác nhanh nhẩu trả lời.
Chủ nhà dẫn chúng tôi đến phòng ông cụ, cô cho biết ông cụ đã quên hết mọi thứ, cần giúp ông cụ ăn uống, đi tiêu, đi tiểu, thay quần áo, và tắm cho ông cụ. Mọi sinh hoạt của ông cụ đều cần được giúp đỡ, nhất là về đêm, ông cụ hay thức dậy đi quanh quẩn trong nhà một mình, những lúc như thế cần có người bên cạnh, đề phòng khi ông cụ bị té. Nhiều khi ông cụ đi tiêu, đi tiểu trong quần mà không biết. Và cô hỏi:
- Chú có thể giúp ba tôi được không ? Hay chú làm thử vài ngay , vì có người nhận làm nhưng một hay hai ngày sau lại bỏ vì không chịu được tính tình của ông cụ.
- Không đâu, tôi làm được, tôi rất thích người già và trẻ con, cô cứ để tôi làm.
- Vâng, vậy chú có bằng lái xe không cho cháu xem thử?
Bác lấy bằng lái xe đưa cho cô chủ, cô ta xem xong rồi trả lại bác, cô nói, ba cháu nặng 65 ký Không hiểu chú có thể đỡ nổi không, chú làm thử một vài ngày đi, nếu không được, cháu vẫn tính lương cho chú.
Lương tháng là $800, bao ăn ở, mỗi tuần nghỉ một ngày, tốt nhất là thứ 7, cái giường phía trong là của ba cháu, chú nằm giường ngoài. Thức ăn hàng ngày cháu nấu sẵn để trong tủ lạnh hay trên bếp, chú muốn ăn thứ gì cứ ăn tự nhiên.
Mỗi ngày ba cháu uống 12 loại thuốc, ăn cơm trưa, chiều, sáng. Ba cháu uống cà phê, khi chú pha cà phê, nên để nguội rồi mới đưa cho ba cháu, vì ba cháu thích khuấy cà phê bằng ngón tay rồi mút. Thuốc thì cháu sẽ viết tên, liều lượng, giờ uống để trên bàn, chú cho ba cháu uống đúng giờ là được rồi.
Sau khi chủ nhà và bác bàn bạc công việc xong, tôi chở bác ra về, hẹn thứ 2 tuần tới là bắt đầu đi làm. Thoạt đầu bác có vẻ rất vui vì tìm được công việc, nhưng một lúc sau, tôi thấy bác khóc, bác như bị hụt hơi cứ nấc lên từng tiếng, tôi lo sợ nên tìm cách đưa bác vào một shop bên đường, đậu xe lại và hỏi bác :
- Sao bác lại buồn?
- Con người ta thì thuê người săn sóc cho cha, còn tôi thì bị đuổi ra khỏi nhà đi chùi đít cho thiên hạ, ông nghĩ xem có tủi không?
Nói xong câu này bác lại khóc lên thành tiếng. Tôi ngồi im để bác khóc cho hết cơn xúc đông rồi mới bảo bác, mỗi người có một số phận, một đoạn trường, và một nỗi niềm phải gánh, không ai có thể có hạnh phúc hoàn toàn, chỉ có ông cụ 83 tuổi ấy mới thực sự hạnh phúc, vì ông đã quên hết mọi sự, đã không còn biết mọi sự.
Làm cha mẹ, được con cái yêu thương, gia đình hòa thuận dĩ nhiền là điều tốt, . Nỗi đau khổ bị con cái bỏ rơi hay xua đuổi chưa hẳn đã lớn hơn nỗi đau đớn khi phải nhìn thấy con mình dửng dưng với cha mẹ , Không hiểu bác có nghĩ như tôi không?
Bây giờ ở là mùa Hè, rải rác đó đây, trên những đồi hoang quanh nhà tôi đã trổ lên vài chùm hoa dại, màu vàng như hoa Cúc, càng làm tôi nhớ đến quê hương mình, như ngày Thu trên rừng núi cao nguyên, những khóm Quỳ hoang cũng nở vàng như vậy trên những triền đồi, và càng nhớ đến người sĩ quan thám báo bây giờ không phải đang nhật tu trận liệt, hay chăm sóc một đồng đội kém may mắn, mà là đang chăm sóc một cụ già mất trí...
Du Tử
Tôi đến Mỹ rất trễ, đến từ một quốc gia thứ ba, nên ba mươi năm sau ngày mất nước tôi mới đặt chân lên xứ cờ hoa. Văn hóa và hệ thống xã hội nơi đây có những khác biệt so với nơi tôi đã sống, và điều dễ thấy nhất là nếp sống của xã hội Mỹ như vội vàng, cạnh tranh, và tấp nập hơn, so vơi nơi tôi đã sống, êm đềm và lặng lẽ.
Người Việt ở đó ít hơn, nếp sống và sinh hoạt của gia đình còn mang nhiều nét truyền thống của nơi chôn nhau cắt rún. Người ta rất thân tình và chân tình khi bắt gặp nhau nơi công cộng, giáo đường hay chùa chiền. Và nhất là những lúc được thông báo có người Việt từ nước khác tới định cư, là những người già, những người có phương tiện, tình nguyện đưa đón, hướng dẫn các thủ tục nhập cư, những giấy tờ cần thiết cho một đời sống mới.
Có lẽ đất Mỹ, nơi tôi đang sống, có cái khung cảnh xa lạ hơn, vì những núi đồi trùng trùng điệp điệp, đôi lúc cho tôi cái cám giác như đang đi trên đèo Ngoạn Mục, quảng đường từ Phan Rang lên Đà Lạt một thủa nào.
Cảm giác êm ái đó làm tôi liên tưởng tới khu đồi mà dòng Donbosco tọa lạc, nơi có hoa Anh đào nở rộ mỗi bận Xuân về, màu hoa rực rỡ giữa núi đồi hùng vĩ đầy thơ mộng của cao nguyên.
Cũng đã mấy chục năm bỏ lại quê hương, bỏ cả những chiều lộng gió của núi rừng Đà Lạt và Di Linh, không hiểu những nơi chốn ấy bây giờ đã thay đổi ra sao, màu chè xanh của Bảo Lộc còn xanh như màu xanh ngày cũ, khu chợ Hoa Đà Lạt, hay bờ Hồ Xuân Huơng còn dương liễu rũ xuống ven bờ, mà những hồn thơ ngày đó đã ví von như mái tóc thề của mấy cô sơn nữ cao nguyên. Bao nhiêu đã mất, bao nhiêu còn giữ, bao nhiêu còn nhớ được trong tâm trí của trang lứa chúng tôi.
Cái mất mát hẳn nhiên đã làm chúng tôi đau đớn xót xa, nhưng chưa chắc đã bằng những chua chát, bẽ bàng, mà trang lứa chúng tôi phải gánh chịu trong cuộc sống tuổi già trên đất nước xứ người.
Tôi đến Mỹ như đã nói là rất muộn màng so với nhiều đồng đội, và những người bạn thân tình thủa nào cũng đã tản lạc mỗi đứa một nơi, và ở đây , trong vòng 50 dặm vuông hay vài trăm dặm dài, tôi cô đơn không bè bạn. Mỗi ngày, ngoài việc nhổ cỏ vườn sau, nhặt lá vườn trước, đưa đón bốn cô cháu đi học, tôi chỉ còn biết đi bộ, nhìn đồi núi nối tiếp nhau trên thành phố này để mơ mộng về núi rừng quê tôi, nơi mà hàng chục năm tôi và đồng đội chung sống, có khi gian nan, mà cũng có lúc thật thơ mộng. Và rồi trong một trường hợp ngẩu nhiên, tôi đã gặp được bác Thụy, một người Việt Nam cô độc, cũng lạc lỏng đến nơi này như tôi.
Cũng là một thói quen như nơi tôi đã từng sống, hễ gặp được người nào mà tôi đoán là dân nước tôi, thì tôi không ngại ngùng đến làm quen, và câu hỏi đầu tiên của tôi thường là " Ông nói được tiếng Việt nam không? "
Nếu người đó trả lời họ là người Việt thì tôi nhất định rất vui mà hỏi chuyện. Tôi quen bác Thụy cũng trong trường hợp tương tự.
Từ lần gặp đó, tôi hay tìm tới bác vào mỗi cuối tuần hoặc là những khi bác gọi tôi đến , và lúc nào bác cũng mở đầu bằng câu " chúng nó đi cả rồi ",ý của bác là các con đã đi làm hết . Tình thân của chúng tôi từ đó ngày càng thân thiết hơn, bác kể cho tôi 12 năm trong quân đội, phục vụ cho một đơn vị Quân báo, hoạt động trên lảnh thổ Quân Đoàn I, bị thương nhiều lần, nhưng lần nào cũng may mắn qua khỏi. Bác đến Mỹ không thuộc diện HO, vì thời gian bác được thả, Phòng công tác nước ngoài thuộc công an Thành phố Hồ Chí Minh ở 161 Nguyễn Du, Quận I, còn đóng cửa, nên bác vượt biên, bị bắt cho đến khi chương trình HO được thực hiện, bác vẫn còn ở trong tù, do vậy bác đến Mỹ theo chương trình Đoàn Tụ, con gái bảo lảnh hai vợ chồng nên không được hưởng một trợ cấp nào của Chính phủ Mỹ như diện HO, tất cả đều do thân nhân bao bọc.
Thời gian ở lại Việt Nam, bác đi dạy học, cũng như trước khi động viên bác là một Giáo sư dạy Vật Lý tên tuổi tại Sài Gòn, lương giáo viên tuy không khá, nhưng cũng đủ cho hai vợ chồng bác sống tạm qua ngày, nhất là bác được các trung tâm chuyên Lý mời cộng tác, nên dạy cả sáng, chiều và tối , Vã lại mỗi năm, các con bác gởi cho một vài trăm đô la vào dịp Tết, hai vợ chồng lại dành dụm mua một chỉ hay 5 phân vàng hầu dùng cho việc ma chay sau này, cho đến năm 2003, con gái bác viết thư báo tin cho biết là đã làm hồ sơ bảo lảnh cho ba má , bác cũng chẳng hy vọng gì, vì thời gian đợi chờ dường như đã quá mòn mỏi, vã chăng tuổi đã cao, đi đâu cũng chỉ kiếm hai bữa cơm mà thôi, nên gần như vợ chồng bác không nghĩ tới chuyện ra đi, cho đến năm 2006, bác được gọi bổ túc hồ sơ, rồi cuối năm đó, bác được phỏng vấn, theo bác kể thì có lẽ vì lợi tức của con gái bác cao, nên họ cho đi nhanh và rồi đầu tháng 4 năm 2007 bác được sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình, nhưng tính cho đến nay, bác vẫn chưa hội đủ điều kiện thi nhập Quốc tịch Hoa Kỳ .
*Thời gian đầu sống với con cái vui vẻ lắm, vì còn mới, tình cảm còn mới, mọi thứ còn mới và còn mới là còn vui vẻ,* rồi từ từ bác được một người quen giới thiệu đi làm assembler cho một hảng điện tử, lương $10/ giờ, hai vợ chồng già thật là hạnh phúc, cứ cuối tuần là hai ông bà rủ nhau đi WaltMart hay Target mua áo quần và đồ chơi cho các cháu, nhưng rồi kinh tế ngày càng suy thoái, sau gần hai năm làm assembler, bác mất việc làm, không có cách nào xin được việc khác, vã chăng, những người trẻ còn chưa xin ra việc làm thì ông già 63 tuổi như bác dễ gì tìm được việc, nên bác đành xin tiền thất nghiệp, và được hưởng thất nghiệp hai năm, khoảng thời gian này bác cho biết rất là buồn, suốt ngày vợ chồngcứ mong cho hai đứa cháu đi học về để chơi với cháu cho đỡ buồn, rồi thì cứ vườn sau sân trước, vợ chồng thi nhau nhặt cỏ, tưới cây, hay lên đồi lượm những viên đá hình dáng đẹp đem về lót quanh mấy bụi hồng cho hết thời gian.
Bác cũng năng nổ đi tham gia sinh hoạt các hội đoàn, như hội người già, Hội SQ/TBTD, nhưng rồi tiền trợ cấp thất nghiệp hết, và khó khăn đến với bác bây giờ là tiền đổ xăng, bác không biết xin ai hai chục bạc để mua xăng, bác nói, một đôi khi bổng dưng nghe thèm một tô phở, nhưng cũng không cách nào có được, "Ông ạ, có đêm tôi không ngủ được chỉ vì nghĩ tới mùi ngò gai và rau quế bỏ vào tô phở mà chảy nước miếng hoài không ngủ nổi, thèm như là thèm được ăn đường lúc ở trong trại tù ".
Tình cảm con người hình như rất mỏng manh, không phải bền chắc, và rất dễ gãy đổ, từ tình vợ chồng, cha con hay anh em, và nghèo đói là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với tình cảm. Cổ nhân cũng đã từng nói "phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc", cái gì người ta bảo "tiền tài như phấn thổ, nghĩa trọng như thiên kim" có chăng, chỉ là trong đạo đức kinh hay sách vở của Thánh hiền mà thôi. *Không có tiền, nguyên lý nào cũng bị bỏ quên, đạo đức nào cũng dư thừa, và tình cảm nào cũng mai một.* Đặc biệt là ở một xã hội mà mọi nền tảng đều lấy lợi nhuận làm chuẩn.
*Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc, cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục và hy sinh. Con cái ở chung với cha mẹ là tự nhiên, nhưng cha mẹ ở chung với con cái lại ưu phiền, vì lúc nào cũng phải nhìn mặt mủi con cái, phải xem chừng nó vui buồn bất chợt ra sao.* Muốn mở cái TV cũng phải lựa lúc nó vui vẻ, muốn mở cái CD nghe nhạc cũng tùy thời cơ nó buồn hay giận, lại còn phải coi sóc con cái cho chúng, nhỏ thì cho đi tiêu đi tiểu, rửa đít, cho ăn, tắm giặt. Lớn thì đưa đón tới trường, có khi còn bị chưởi mắng, đành chỉ biết cúi mặt dấu nước mắt đi. Họa hiếm lắm, chúng cho vài ba trăm bạc vào dịp lễ nào đó thì lại coi như phúc ấm chúng ban cho .
Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc, *cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục*, chính là chổ này. Một buổi sáng bác gọi tôi tới nhà, chỉ cho tôi một tờ giấy con gái bác viết để lại trên bàn cho bác, tôi cầm lên đọc :
"Theo luật bên nầy, chủ nhà có quyền gọi cảnh sát đến bắt buộc người thuê phải ra đi, nếu người chủ đã thông báo cho người thuê hai lần bằng thư. Ba không trả tiền nhà, nhưng con cũng coi ba như người thuê nhà, đây là lần thứ hai con yêu cầu ba dọn ra, ba đừng ép con phải gọi cảnh sát".
Tôi đọc đến đây, bổng nhiên nước mắt tôi trào ra, bác nhìn tôi và nấc lên thành tiếng, bác cũng bật khóc. Tôi ôm hai vai bác và nói "Hãy yên tâm, không có luật như vậy đâu, nếu cô ấy gọi cảnh sát, bác có thể nói cô ấy ngược đãi người già, con bác chỉ hù bác thôi". Và rồi bác bắt đầu kể cho tôi nghe hết tự sự.
Thoạt đầu là gạo, chúng nó than phiền, "nhà người ta một năm chỉ tốn hai bao gạo thôi, sao nhà mình mỗi tháng một bao", Tôi mở cassette ngồi ngoài garage nghe nhạc, ngoài garage thì nóng, tôi mở cửa bên hong ra cho bớt nóng, nó đóng lại, và bảo mở cửa chuột chạy vào nhà. Tôi hiểu ý là nó sợ tốn điện, tôi tắt cassette vào nhà.
Ông cũng biết, ở bên này, người già chỉ lấy cái TV làm bạn, nhưng nó mắng vào mặt tôi và bảo không biết xài thì đừng xài, TV cứ mở hoài chịu sao nổi, thế nào cũng có ngày TV bị cháy.
Mỗi ngày, chúng nó đi làm về trễ, có khi 7:30 hay 8:00 tối mới về đến nhà , và tôi đều cố gắng ăn trước để không chạm mặt chúng nó trong bữa ăn, ăn trước thì thú thật chỉ ăn sơ sài cho no bụng thôi, thức ăn của chúng tôi không dám đụng vào, vợ tôi thì chờ cho chúng ăn hết đã, cái gì còn lại bà ấy mới ăn, chúng tôi chỉ dám ăn những thức ăn thừa thải mà thôi. Công việc lặt vặt trong nhà như lau dọn, rửa chén bát, đưa đón các cháu, chúng tôi đều làm hết, nhưng nó bảo với tôi là tội nghiệp thằng chồng nó phải còng lưng gánh hai ông bà già. Những ngày nghỉ, hay cuối tuần, vợ chồng con cái chúng đi ăn tiệm, những năm đầu khi cháu út chưa thể gởi đến trường, thì chúng còn gọi vợ tôi đi ăn với chúng, những ngày lễ Tết cũng tặng quà cho vợ tôi, nhưng từ khi cháu út lớn rồi, chúng cũng lơ là với vợ tôi luôn, cho đến sau này, chúng lạnh lùng đến như bỏ mặc, vợ tôi buồn quá đành đi tìm chổ giữ trẻ ở một tiểu bang khác, nên ông tới nhà không thấy vợ tôi là vậy.
Bác lấy dưới gối ra một lá thư khác đưa cho tôi, bác bảo lá thư không có một chút tình người, thú thật tôi không dám đọc hết, nhưng trong trí tôi như vẫn in sâu những dòng này "ba người ta chết thì con cái khóc lóc tiếc thương, nhưng nếu ba chết con sẽ thở ra một cách nhẹ nhỏm. Con thật không muốn bảo lảnh ba sang Mỹ đâu, chỉ vì bắt buộc mà thôi, Ba hãy dọn ra đi để còn một chút gì gọi là tự trọng".
Tôi cũng tự hỏi mình, bác đi đâu bây giờ? Một đồng bạc cũng không có, bà con, bạn bè cũng không luôn, bác dọn đi đâu? trong khi bác lại chưa phải là công dân Hoa Kỳ, làm cách nào để có thể xin trợ cấp, tôi đành an ủi bác, thôi bác cứ yên tâm, điều quan trọng bây giờ là hãy nhịn, nhẫn nhục đó mà, cứ coi như ngày nào bác bị bắt tại mặt trận, Việt cộng hành hạ bác kiểu gì, nhục mạ bác ra sao, bác cũng ngậm bồ hòn, thì nay, với con gái, bác ngậm lại bồ hòn một lần nữa đi rồi từ từ hãy tính.
Một ông già tóc đã bạc hết rồi, nước da đã ngã màu đồi mồi, tay chân đã lọng cọng, dễ gì xin được một việc làm trên một đất nước đầy dẫy nhân lực và cạnh tranh.
Tôi biết có rất nhiều cơ quan, tổ chức thiện nguyện, sẵn lòng tiếp những người khó khăn, nhưng với hoàn cảnh của bác, thật không có tổ chức nào có thể giúp đỡ, vì có tổ chức nào có nhà cửa, cơm áo, để cung cấp cho bác trong lúc này, nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái, ngân sách các cơ quan, giáo dục, y tế hay xã hội ... đều bị cắt giảm. Và tôi chỉ còn một con đường để đi, đó là dẫn bác tới Sở Xã hội, để xin cấp thẻ EBT (Electronic Benifits Transfer), tức là mỗi tháng, Sở Xã Hội bỏ vào trong thẻ EBT $200 USD cho bác mua thực phẩm, gạo rau cá thịt, nước uống, trái cây...
Nhận được thẻ EBT bác liền hỏi nhân viên Xã Hội là có thể mua ngay thức ăn được không? và thực phẩm là những thứ gì? Người người Cán Sự Xã Hội nhìn tôi, tôi dịch lại lời bác và nói thêm rằng, bác không có gì ăn từ hôm qua cho đến nay. Người Broker xin phép đi ra một lúc, rồi quay trở lại đem theo phần ăn trưa của cô để tặng bác. Quả thật tôi cũng xúc động rơm rớm nước mắt khi nói câu đó với người broker. Đúng là một miếng khi đói, bằng một gói khi no, bác cúi đầu cám ơn người Cán Sự Xã Hôi mà như muốn khóc.
Tôi đem bác đi mua thực phẩm để hướng dẫn bác cách dùng thẻ EBT. Lần mua thử nghiệm đầu tiên của bác là 2 ổ bánh mì và 2 hộp cá Sardines rồi bác và tôi ra Parking chui vào xe ngồi ăn bánh mì cá hộp.
Tôi thật không hiểu rõ những tư tưởng nào đã đến với bác, nhưng mà nỗi xúc động của bác thì tôi biết là rất mãnh liệt, vì nước mắt bác đã chảy đến nỗi dùng hết một hộp khăn giấy của tôi để trong xe, tôi ngồi yên để bác khóc và suy nghĩ về mình, không hiểu có một lúc nào đó tôi lại như bác hôm nay. Trên đất nước tạm dung này, những người già đã trở thành gánh nặng cho con cái, những người già đã bị lãng quên hay bị xua đuổi của gia đình, mà xã hội dù có nhân đạo tới đâu cũng khó kham nỗi với số người cao niên ngày càng nhiều.
Một lần tôi đưa bác đi tái khám bệnh phổi, tôi ngồi chờ bác ở phòng đợi thật lâu, và khi bác trở ra cùng với một vị bác sĩ người Việt còn trẻ, vị bác sĩ này lấy ví ra 3 tờ bạc 20 đồng và nói "cháu chỉ còn bao nhiêu tiền mặt, nhưng cháu có một căn phòng trống trong Building này, có Microwave, khi nào bác cần thì gọi cho cháu, bác hãy nhớ là bác còn chúng cháu ở đây. Ông quay sang nhìn tôi và dặn chú làm ơn để ý tới bác này với, người già nào cũng có một nỗi khổ khi sang đây."
Suốt quãng đường về tôi cứ mãi suy nghĩ về người bác sĩ đầy lòng nhân ái ấy. Y thuật và y đạo, điều nào được người ta coi trọng hơn trên đất nước này. Tôi hỏi bác Thụy về vị bác sĩ ấy, được biết ông ta tên là DR. Albert H. Lee, chuyên khoa về phổi, là bác sĩ đang làm việc tại hai bệnh viện lớn ở thành phố này, và rất được bệnh nhân quý trọng cả về chuyên môn lẫn đạo đức.
Bác Thụy cho biết, thường ngày bác dậy rất sớm vì không ngủ được, có đêm bác chỉ ngủ 3 tiếng đồng hồ, rồi cứ suy nghĩ lung tung về chuyện đời, chuyện gia đình, về thời gian đi tù cải tạo, thời gian đi dạy dưới chế độ cộng sản.
Bác kể sau khi được thả ra tù, vì tốt nghiệp đại học trước 1975, nên bác không bị đuổi đi Kinh Tế Mới, mà được kêu đi dạy. Là một giáo sư dạy Lý Hóa nhiều năm, kinh nghiệm đặc biệt về phương pháp dạy Luyện thi, nên các Trung Tâm Luyện thi dạy ngoài giờ đều mời bác cộng tác, bác dạy cả sáng, chiều và tối, nhờ đó mà gia đình bác có được cuộc sống tương đối so với những anh em khác đi học tập về, và các con bác cũng từ đó mà học đến nơi đến chốn trước khi ra nước ngoài.
Trước ngày sang Mỹ, bác bán đi căn nhà, thu gom tài sản lại, cũng đựoc vài ba chục ngàn đô la, đều đem cho con hết, bây giờ nếu quay về, không còn nhà để ở, và biết lấy gì làm kế sinh nhai, vì tuổi đã cao rồi, làm sao xin được việc làm, đó là chưa nói tới những phiền toái khác từ xã hội, thật là tiến thoái lưỡng nan, bác tâm sự.
Có một buổi trưa tôi tìm tới bác, chứng kiến bữa cơm trưa gọn gàng của bác mà mủi lòng, một tách uống cà phê đong đầy Oat Meal, đổ vào một tô lớn, rót nước nóng từ bình thủy ra, khuấy đều chừng 2 phút, chờ nguội và ăn, không cần nước mắm hay xì dầu, hoặc một loại gia vị nào khác.
Bác bảo từ khi có thẻ EBT, tôi không còn lo thiếu xì dầu nữa, nhưng nhịn được cái gì hay cái đó, với lại bác sĩ bảo ăn mặn cũng không tốt .
- Bác ăn như thế này mỗi ngày sao ?
- Vâng, chỉ vậy thôi, tôi đâu có cần gì thêm, chỉ cần một căn phòng nhỏ, đủ đặt một cái giường là được rồi, thế nhưng đời tôi quả là cùng khổ, mà thực ra tôi đâu có cầu sống lâu, sống thọ, sống không có gì vui, thì chết đâu có gì buồn, sỡ dĩ tôi vẫn đi bác sĩ là vì tôi sợ đau đớn, cũng như tôi không đủ can đảm để tự tử, còn chết ư, tôi nghĩ tới rất thanh thản, trên đời tôi không còn gì mê luyến thì chết đi tôi đâu có gì tiếc nuối, chỉ cầu sao cho được chết thật nhanh, không đau đớn, đó là nguyện vọng duy nhất còn lại của tôi.
Thường thường bác hay kể cho tôi về những bữa cơm dã chiến của bác, như bữa ăn của những người lính ngoài mặt trận. Bác mua một cái bếp gas nhỏ bỏ trong túi vải mang theo bên mình mỗi khi đi bộ, một bình thủy nước sôi,
một tách cà phê Oat meal, một cái tô và muổng. Buổi trưa ngồi vào một góc nào đó trong Park, nơi người ta cho phép nướng BBQ, bác mở hộp cá ra, hâm nóng bằng bếp gas chừng 2 phút, rồi đổ nước sôi trong bình thủy vào tô và khuấy Oak meal lên ăn, bác chỉ về nhà vào xế chiều, làm thức ăn tối và nấu nước sôi đổ vào bình thủy, chuẩn bị thức ăn cho ngày hôm sau, và những việc này luôn luôn làm xong trước khi con gái bác về nhà, ăn chiều xong, bác lại chui vào căn phòng nhỏ dấu mình trong đó, để không phải gặp mặt con gái nghe nó nói nặng nói nhẹ và đuổi nhà.
Bác tâm sự rằng, đôi lúc muốn ôm mấy đứa cháu một chút, nhưng thật rất khó, vì chúng nó sợ má la, lâu lâu con cháu lớn lén vào phòng ông, đưa ngón tay lên môi làm dấu với ý bảo ông im lặng, ngồi chơi với ông một lúc rồi
chạy ra. Có những khi chúng nó vào phòng ông, má nó biết được là la mắng chúng liền. Ông cháu gặp nhau như đi thăm tù cải tao, thật là một hoàn cảnh đặc biệt hiếm hoi.
Nghe bác kể lại, tôi đành tìm cách an ủi bác, kể cho bác nghe về những đứa cháu phá phách của tôi, mọi thứ trong phòng tôi mỗi ngày được xếp theo một kiểu, computer của tôi được load đầy các games "comp của ông ngoại dễ xài
hơn, con thích games trong comp của ông ngoại hơn" thế là cái computer của tôi bận dài dài, chỉ trừ khi chúng đi học. Cho nên chơi với cháu chưa hẳn là hạnh phúc đâu bác ạ .
Bác kể cho tôi những bữa cơm chấm xì dầu thật cảm động. Mới đầu bác hỏi tôi :" Ông có bao giờ mút xì dầu chưa "? Tôi trả lời là tôi không hiểu ý bác.
Bác kể lại vào những tháng bác chưa có thẻ EBT, bác ăn cơm với xì dầu hiệu đậu nành, nhưng không dám chan vào chén cơm, chỉ hai miếng cơm mới nhúng đầu đủa vào chén xì dầu một lần và mút lấy đầu đũa, vì nếu chan vào
chén cơm hay mút nhiều lần thì sẽ hết mất, không có tiền mua nữa. Những ngày tháng ấy, anh Hồng, ngày xưa ở Biệt Động Quân, và một thời làm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Rừng Lá, trước ngày mất nước anh về Phủ Thủ Tướng, mỗi lần ghé thăm, anh thường mua xì dầu, rau muống, Broccoli cho tôi, tôi còn nhớ mãi, bây giờ anh move đi xa rồi, cách đây cũng vài ba tiếng lái xe nên anh không thường tới nữa, mà cũng tội nghiệp, anh ấy cũng chỉ sống với mấy trăm đồng tiền già mà thôi, nhưng khi nào tới cũng đưa tôi đi ăn phở, hay có khi anh mua sẵn 2 tô phở mang đến đây hai anh em cùng ăn. Nghĩ lại, chỉ có những người lính mới thương nhau và đùm bọc nhau trên đất nước tạm dung này.
Ông biết không, vào những ngày tháng đó, có khi tôi rất thèm bánh tráng có vừng đen, hay cơm trắng và xì dầu, mà phải là xì dầu đậu nành, đủ cho tôi ăn không sợ hết. Những đêm nằm không ngủ được, tôi lại ao ước có được một ổ bánh mì của chợ Vons để ăn, tôi thèm mùi thơm của bánh mì chưa kịp nguội, hoặc giã đã nguội đi, tôi lại thèm vị ngọt của bánh khi nhai còn thấm trên đầu lưỡi của mình, thèm đến chảy nước miếng.
Nghe bác kể, tôi thực sự không cầm được lòng mình, lại nghĩ tới thời gian đi tù cải tạo, tôi cũng đã từng thèm được ăn một bữa khoai mì cho thật no, và chỉ mơ ước ngày được thả về, tôi sẽ bảo vợ mua khoai mì cho tôi ăn một bữa cho đã thèm.
Khi thiếu thốn, con người sẽ thèm đủ thứ, cho nên nghe bác kể, tôi thực sự hiểu được cảnh ngộ ấy, và hiểu được sâu xa nỗi lòng của bác, chỉ có một điều mà không ai ngờ được, đó là sống trong một siêu cường bậc nhất, mà người dân chỉ thèm một ổ bánh mì khong cũng không có để ăn, cái ước mơ nhỏ nhoi ấy đã ở dưới mức tầm thường rồi, vì kể cả những người vô gai cư trên thành phố này, cũng không ai có một ước mơ như bác Thụy. Có ai quanh đây đang lâm vào tình cảnh của bác hay không tôi không rõ, cũng có thể có người bị gia đình hắt hủi, con cái bỏ rơi và xua đuổi, nhưng đến một đồng xu dính túi cũng không có thì tôi không tin.
Rồi một ngày bác nhờ tôi chở đi xin việc, bác đọc được một mẫu rao vặt đăng tin cần một người đứng tuổi, có sức khỏe, để săn sóc một ông già 83 tuổi, bị bệnh mất trí, bao ăn ở, tiền lương sẽ thương lượng.
Tôi chở bác tới địa chỉ tìm gặp chủ nhà, cô chủ nhà tiếp chúng tôi và hỏi :
- Chú xin hay chú này xin?
- Tôi, bác nhanh nhẩu trả lời.
Chủ nhà dẫn chúng tôi đến phòng ông cụ, cô cho biết ông cụ đã quên hết mọi thứ, cần giúp ông cụ ăn uống, đi tiêu, đi tiểu, thay quần áo, và tắm cho ông cụ. Mọi sinh hoạt của ông cụ đều cần được giúp đỡ, nhất là về đêm, ông cụ hay thức dậy đi quanh quẩn trong nhà một mình, những lúc như thế cần có người bên cạnh, đề phòng khi ông cụ bị té. Nhiều khi ông cụ đi tiêu, đi tiểu trong quần mà không biết. Và cô hỏi:
- Chú có thể giúp ba tôi được không ? Hay chú làm thử vài ngay , vì có người nhận làm nhưng một hay hai ngày sau lại bỏ vì không chịu được tính tình của ông cụ.
- Không đâu, tôi làm được, tôi rất thích người già và trẻ con, cô cứ để tôi làm.
- Vâng, vậy chú có bằng lái xe không cho cháu xem thử?
Bác lấy bằng lái xe đưa cho cô chủ, cô ta xem xong rồi trả lại bác, cô nói, ba cháu nặng 65 ký Không hiểu chú có thể đỡ nổi không, chú làm thử một vài ngày đi, nếu không được, cháu vẫn tính lương cho chú.
Lương tháng là $800, bao ăn ở, mỗi tuần nghỉ một ngày, tốt nhất là thứ 7, cái giường phía trong là của ba cháu, chú nằm giường ngoài. Thức ăn hàng ngày cháu nấu sẵn để trong tủ lạnh hay trên bếp, chú muốn ăn thứ gì cứ ăn tự nhiên.
Mỗi ngày ba cháu uống 12 loại thuốc, ăn cơm trưa, chiều, sáng. Ba cháu uống cà phê, khi chú pha cà phê, nên để nguội rồi mới đưa cho ba cháu, vì ba cháu thích khuấy cà phê bằng ngón tay rồi mút. Thuốc thì cháu sẽ viết tên, liều lượng, giờ uống để trên bàn, chú cho ba cháu uống đúng giờ là được rồi.
Sau khi chủ nhà và bác bàn bạc công việc xong, tôi chở bác ra về, hẹn thứ 2 tuần tới là bắt đầu đi làm. Thoạt đầu bác có vẻ rất vui vì tìm được công việc, nhưng một lúc sau, tôi thấy bác khóc, bác như bị hụt hơi cứ nấc lên từng tiếng, tôi lo sợ nên tìm cách đưa bác vào một shop bên đường, đậu xe lại và hỏi bác :
- Sao bác lại buồn?
- Con người ta thì thuê người săn sóc cho cha, còn tôi thì bị đuổi ra khỏi nhà đi chùi đít cho thiên hạ, ông nghĩ xem có tủi không?
Nói xong câu này bác lại khóc lên thành tiếng. Tôi ngồi im để bác khóc cho hết cơn xúc đông rồi mới bảo bác, mỗi người có một số phận, một đoạn trường, và một nỗi niềm phải gánh, không ai có thể có hạnh phúc hoàn toàn, chỉ có ông cụ 83 tuổi ấy mới thực sự hạnh phúc, vì ông đã quên hết mọi sự, đã không còn biết mọi sự.
Làm cha mẹ, được con cái yêu thương, gia đình hòa thuận dĩ nhiền là điều tốt, . Nỗi đau khổ bị con cái bỏ rơi hay xua đuổi chưa hẳn đã lớn hơn nỗi đau đớn khi phải nhìn thấy con mình dửng dưng với cha mẹ , Không hiểu bác có nghĩ như tôi không?
Bây giờ ở là mùa Hè, rải rác đó đây, trên những đồi hoang quanh nhà tôi đã trổ lên vài chùm hoa dại, màu vàng như hoa Cúc, càng làm tôi nhớ đến quê hương mình, như ngày Thu trên rừng núi cao nguyên, những khóm Quỳ hoang cũng nở vàng như vậy trên những triền đồi, và càng nhớ đến người sĩ quan thám báo bây giờ không phải đang nhật tu trận liệt, hay chăm sóc một đồng đội kém may mắn, mà là đang chăm sóc một cụ già mất trí...
Du Tử
Tình Nghĩa, Nghĩa Tình
Tác giả: Khôi An Tác giả đến Hoa Kỳ năm 1984, hiện là cư dân cuả Bắc California. Nghề nghiệp: kỹ sư điện tử tại Intel Cooperation. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của cô là “Vui Buồn Thuở Ấy”. Bài mới viết cho biết thêm cô là thuyền nhân và kể lại câu chuyện xúc động: Một chuyến tầu vượt biển bị hải tặc săn đuổi và vào lúc tả tơi cùng quẫn hết chạy nổi thì thấy lá cờ Mỹ...
***
Lần đầu tiên tôi có ý định viết chuyện này là năm 1989. Năm đó, cả nước Mỹ xôn xao tranh cãi về việc một người đàn ông đã đốt lá cờ Mỹ ngay trên thềm toà nhà Quốc Hội trong buổi họp thường niên cuả đảng Cộng Hoà. Lúc đó tôi đã nghe nhiều bàn tán về sự kiện này từ phía chống đối cũng như phe ủng hộ. Ngày đó tôi vưà mới tốt nghiệp đại học, chưa để ý nhiều đến những sinh hoạt chính trị xã hội ở chung quanh, nhưng trong lòng tôi đột nhiên dâng lên một cảm xúc gần như là tiếc cho ngươì đàn ông đã làm hành động đó. Nếu ông ta từng nhìn lá cờ Mỹ qua đôi mắt của tôi và của hơn một trăm ngươì bạn đồng thuyền vaò buổi sáng muà hè năm ấy, không biết ông ta có hành động khác đi chăng"
. . .
Đêm trung tuần tháng 7 năm 1983 bắt đầu khá êm ả. Con thuyền nhỏ đầy kín ngươì đã ra hải phận quốc tế được gần 24 tiếng. Tôi đã hơi quen với mùi hôi tanh lợm giọng trong thuyền nên cảm thấy hơi tỉnh táo, ngồi bó gối nhìn cô em gái nằm bên cạnh đang mê man vì say sóng. Ngước mắt nhìn lên bầu trời đang chuyển dần từ màu xám sang màu đen thẫm, tôi thầm cầu nguyện cho được bình an. Cám ơn trời, biển khá êm, con tàu không vật vã mà chỉ chồm lên hụp xuống theo từng đợt sóng. Tiếng khóc cuả con nít, tiếng càu nhàu than thở, tiếng chửi thề cũng lắng dần khi mọi ngươì chìm vào giấc ngủ mệt mỏi...
Hình như tôi có thiếp đi một lúc vì khi tôi giật mình choàng dậy thì sự hoảng sợ đã chụp xuống chung quanh. Bác tài công đang hối hả kêu mấy ngươì lái phụ và các thanh niên khác dùng bạt bịt kín khoang thuyền nơi mọi người đang nằm chen chúc. Chiếc đèn măng xông duy nhất trong phòng máy bị thổi tắt phụt sau khi bác tài công ra lệnh:
- Tắt đèn! Tắt hết đèn đi!!!
Lắng nghe những lời thì thào trao đổi một lúc tôi mới hiểu ra rằng tàu chúng tôi đang bị tàu cuớp Thái Lan đuổi bắt. Chúng tôi phải tắt hết đèn chạy xuyên vào biển đen trong khi tàu Thái ra sức rượt theo. Cả tàu đuợc lệnh tuyệt đối im lặng, những đứa bé vưà lên tiếng khóc phải bị bịt miệng ngay. Không biết lúc đó tôi còn trẻ quá, dại dột quá, có nhiều tin tưởng quá, hay vì cảm xúc cuả tôi đã tê dại đi, nên tôi không thấy sợ hãi lắm. Tôi gần như không cảm được sự hãi hùng của hơn một trăm sinh mạng đang loi ngoi trong khoang thuyền bịt kín. Tôi chỉ thấy khó thở vô cùng; tôi chỉ thấy nhẹ gánh cho em tôi đang mê man, chắc nó không phải cảm thấy sự ngộp thở tưởng chừng như không kham nổi mà tôi đang chịu; tôi chỉ biết tự nhủ ráng lên, ráng lên; và tôi không ngừng cầu xin Thượng Đế, Chúa, Phật, và tất cả những đấng thiêng liêng cứu vớt chúng tôi...
Chúng tôi chạy vòng vèo ngay truớc mũi tử thần trong suốt một đêm, và bình minh tới dù không ai mong đợị. Những tia sáng đã quét đi màn đêm đang che chở chúng tôi. Bác tài công buông những câu chửi thề uất hận khi khoảng cách giữa bọn cướp và chúng tôi thu ngắn trong khoảnh khắc... Rồi tôi lại nghe bác lại chửi, nhưng lần này đuợm vẻ ngạc nhiên pha chút vui mừng:
- ĐM, hình như tụi nó bỏ đi hả bây"
Tấm bạt bịt khoang được hé ra cho chúng tôi khỏi chết ngộp, và qua cái khe hở nhỏ đó, một con cá nhỏ xíu bằng ngón tay cái đã phóng vào thuyền, rơi xuống ngay cạnh tôi. Tôi ngước mắt cố nhìn nhưng vì đang ngồi bẹp trong khoang thuyền nên tôi chẳng thấy được gì ngoài một mảng trời đang sáng dần.
Bỗng bác tài công và những nguơì trong phòng máy trên cao vụt la lớn:
- Có tàu! Có tàu lớn ở đàng xa kià!
- Tàu gì vậy" Vái trời cho không phải tàu Liên Xô!
Chúng tôi như đuợc hồi sinh, ai cũng nhỏm lên nhìn nhưng vì lúc đó chiếc tàu kia chỉ là một đốm nhỏ ở xa nên tôi chưa thấy gì cả. Vài phút sau, có tiếng máy rồi một chiếc máy bay trực thăng nhỏ bay qua. Người trong thuyền la hét như điên cuồng, nhiều người đàn ông cởi áo phất lia lịa nhưng máy bay chỉ lượn vài vòng rồi... mất hút. Dù sao chúng tôi cũng có một tia hy vọng ở chân trời, chúng tôi vội nhắm cái chấm ở tít đằng xa mà chạy tới. Và chiếc tàu kia hình như cũng đang chạy về phía chúng tôi vì nó càng ngày càng lớn dần.
Và, suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên giây phút đó, giây phút ngươì đàn ông ngồi trên cao la lạc giọng:
- Thấy rồi! Thấy cờ Mỹ rồi!!!
Nước mắt ông ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ lấm lem dầu máy. Mọi người đứng bật lên làm thuyền chao mạnh. Chúng tôi đã thật sự được sống!
Chiếc tàu vớt chúng tôi là một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Nó to như một toà nhà mười mấy tầng, những ngươì lính đầu tiên phải leo thang dây xuống để đem con nít và những ngươì yếu sức lên trước. Em tôi đã tỉnh dậy như một phép lạ và chúng tôi bám vào thang dây, dò từng bước leo lên boong tàu. Vưà lên tới nơi, mỗi ngươì được trao một ly sữa và một trái táo trước khi tụ tập trong một góc boong. Và ngạc nhiên thay, trên tàu đã có cả trăm ngươì Việt Nam chạy ra mừng chúng tôi. Thì ra chiếc tàu Mỹ này vừa mới vớt một thuyền vượt biên khác ngày hôm trước. Sau khi mọi ngươì đã lên tàu lớn, những nguơì lính Mỹ tưới xăng lên chiếc thuyền mà chúng tôi vưà rời khỏi rồi châm lưả đốt. Đứng trên boong tàu nhìn vói theo chiếc thuyền nhỏ xíu đang bốc cháy và trôi dần ra xa, biết rằng mình vô cùng may mắn, nhưng lòng tôi vẫn thoáng chút ngậm ngùi...
Tổng cộng thuyền nhân đuợc cứu từ hai chiếc ghe vuợt biên lên tới gần hai trăm năm mươi người. Hồi đó, tiếng Anh cuả tôi kém và tính tình nhút nhát nên không dám hỏi han những người lính ở trên tàu. Tôi chỉ nghe nói lại là chiếc hàng không mẫu hạm này đang trên đuờng đi công tác ở Phi Luật Tân. Họ đã nhìn thấy tàu chúng tôi từ rất xa và quyêt định đi chếch qua để cứu chúng tôi. Chiếc trực thăng bay qua trước khi tàu đến cũng là do vị thuyền trưởng đã gởi tới để xem xét tình trạng của chúng tôi.
Không hiểu vì sao mà trên tàu có sẵn một số quần áo cũ. Chúng tôi đuợc phép lựa những thứ tạm mặc đuợc để thay đổi hàng ngàỵ. Khổ nỗi đống quần áo đã qua sự lựa chọn cuả những người lên trước nên chỉ còn toàn những thứ khó mặc. Tôi nhặt đại hai cái áo to bằng bốn lần khổ người tôi, và một bộ áo liền quần màu xanh bó sát. Chẳng hề gì, tôi vẫn vô cùng sung sướng vì ước mơ gần như hoang đường nay đã thành sự thật: tôi đã trốn thoát khỏi Việt Nam và đang ở trên tàu Mỹ.
Ngày đó tôi vưà học xong trung học. Sau 8 năm đói khổ sau bức màn sắt cuả Cộng Sản, thế hệ chúng tôi hầu như quên mất có một thế giới bên ngoài. Trong những ngày trên tàu Mỹ tôi đã gặp lại những hành động lịch sự, những cử chỉ nhân ái gần như đã biến mất trong xã hội nơi tôi vừa ra đi. Những ân nhân của chúng tôi ân cần đến từng chi tiết nhỏ, một trong những việc đầu tiên họ làm là phát phong bì, giấy bút cho chúng tôi viết thư báo tin cho người thân. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ chiếc phong bì màu xanh nhạt có hình chiếc hàng không mẫu hạm và tên tàu ở góc, tôi vẫn còn nhớ ánh mắt thương cảm của những người trên tàu nhìn chúng tôi nhếch nhác, bơ phờ dò từng bước lên tàu.
Suốt thời gian trên tàu tôi vô cùng ái ngại cho những ngưòi lính và những sĩ quan đã tốn không biết bao nhiêu công sức để lo cho hơn hai trăm ngươì chúng tôi. Vì hàng không mẫu hạm là đơn vị quân sự nên chúng tôi không được phép ra khỏi phần cuối boong tàu. Mỗi người được phát một tấm chăn dạ màu xám, loại chăn nhà binh Mỹ mà tôi đã thấy trước năm 1975. Chăn rất tốt và khí hậu Thái Bình Dương vào muà hè khá ấm nhưng chúng tôi phải nằm ngay trên boong và gió thổi lồng lộng khi tàu chạy nhanh nên ban đêm vẫn lạnh. Tôi ngủ đuợc rất ít nhưng chính vì thế tôi càng có cơ hội chứng kiến sự tận tâm cuả những người trên tàu. Sáng sớm tôi vưà thức dậy đã thấy ngươì ta đang lăng xăng dọn thức ăn sáng cho chúng tôi. Mất mấy tiếng mới phục vụ hết đám ngươì đông đúc nên chỉ vài tiếng sau là họ lại lục tục lo bữa ăn trưa, rồi ăn tối. Thức ăn quá lạ miệng nên tôi không thấy ngon, ngay cả trái chuối cũng khác ở Việt Nam, nhưng tôi nhớ nhất là ly cà phê đầu tiên trên tàu. Đã từng nếm những ly cà phê đen sánh quậy với sữa đặc ở Việt Nam, tôi ngạc nhiên lắm khi ngậm ngụm cà phê Mỹ pha sẵn. Thật tình, cà phê sao chua lè và trong veo, y như là nước giảo của cà phê Việt Nam!
Vấn đề vệ sinh cho hơn hai trăm người chen chúc trong khoảng không gian nhỏ mới thật là kinh khủng. Thuỷ thủ đòan phải dùng nylon đen che thành mấy phòng tắm quay mặt ra biển, nhà vệ sinh cũng là nylon đen quây quanh mấy thùng sắt to. Mỗi sáng nhân viên trên tàu cùng chúng tôi dọn dẹp, và tôi không thấy người nào tỏ thái độ khó chịu cho dù trong khi làm những việc cực nhọc nhất.
Mấy ngày ngắn ngủi trên tàu mãi mãi là một trong những kỷ niệm khó quên nhất trong đời tôi. Trên chiếc hàng không mẫu hạm hùng vĩ đó, tôi đã đuợc xem cảnh tàu chở xăng xáp vào tiếp nhiên liệu cho tàu lớn ngay trên biển, đã được chứng kiến những sinh hoạt hàng ngày quy củ răm rắp như một trong guồng máy nhưng đuợc thực hiện bởi hải đoàn đầy ắp tình người. Tôi nhớ nhân viên trên tàu ngoài nhiệm vụ riêng họ còn phải chăm sóc đủ thứ cho chúng tôi, và phải lo rất nhiều giấy tờ cho thủ tục gởi chúng tôi vào trại tị nạn Thái Lan. Bận rộn vậy nhưng không khí trên tàu luôn ấm cúng và thân tình. Tôi vẫn nhớ lễ chào cờ mỗi sáng, đám người tị nạn đứng sát bên thuỷ thủ đoàn cùng lắng nghe quốc ca Hoa Kỳ vang vọng. Tôi vẫn mường tượng đuợc cảm giác bàng hoàng khi nhìn lá cờ Hoa Kỳ bay lồng lộng trên bầu trời xanh biếc cuả Thái Bình Dương mà tự nhủ không biết mình sẽ ra sao nếu chiếc tàu này đến trễ chỉ một vài tiếng trong buổi bình minh hôm trước...
Mỗi buổi chiều khi công việc đã xong, người trên tàu túa ra trò chuyện với chúng tôi. Từ vị sĩ quan trong đồng phục trắng toát tới anh thuỷ thủ trong đồng phục xanh, ai cũng ân cần, vui vẻ. Họ đuà giỡn với con nít, trò chuyện với mọi nguời, cố lắng nghe những câu tiếng Anh vụng về cuả chúng tôi để tìm hiểu xem chúng tôi có cần thêm gì hay không. Để chúng tôi giải khuây, họ còn căng màn chiếu phim. Tôi nhớ mãi cuốn phim đó là phim Điệp viên 007 James Bond với tựa đề "For Your Eyes Only". Giữa trời đêm lồng lộng ngàn ánh sao, trên con thuyền băng băng xuyên vào biển đen, những hình ảnh rực rỡ chớp tắt trên màn ảnh vĩ đại làm tôi mơ màng tưỏng như mình đang trôi trong đêm hoa đăng thần thoại của một giấc mơ kỳ diệu.
. . .
Như thế đó, tôi đã may mắn gặp đuợc cái đẹp đẽ nhất cuả nước Mỹ trước khi đặt chân tới đất nước này. Tôi đến Mỹ với vài đô la và mấy bộ quần áo tồi tàn nhưng gia tài cuả tôi là lòng cảm mến sâu xa với một miền đất giàu tình ngươì, cùng với hoài bão sẽ cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh cuả gia đình, với sự may mắn mà Thượng Đế đã nhờ những "sứ giả" trên tàu Mỹ đem đến cho chúng tôi.
Những bối rối vì ngôn ngữ, những trở ngại khi hội nhập đôi khi có làm tôi buồn nản, nhưng tôi thấy quay quắt nhất là những khi nhớ về Việt Nam. Những chuyện nhỏ nhặt như khi đi chợ Việt Nam, nhìn người ta xăm soi tìm cho được những trái tuyệt hảo nhất trong đám nhãn mọng tươi nhập cảng từ Á châu cũng làm tôi bùi ngùi. Tôi nghĩ đến những trái hơi có tì vết mà không ai thèm mua kia cũng có thể là hàng xuất khẩu từ Việt Nam, là tinh hoa chắt ra từ quê hương nghèo nàn của tôi, là loại hàng "xuất khẩu" mà người đi làm bình thường như cha mẹ tôi không bao giờ mua nổi.
Tuy thế, vấn đề lớn nhất tôi gặp phải trên đất Mỹ là một chuyện tôi chưa hề nghĩ tới: đó là tình cảm của tôi với nước Mỹ đã làm tôi hoang mang. Ngay từ nhỏ, những câu tục ngữ như "Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo" đã thấm sâu vào lòng tôi. Cho dù tôi biết chắc rằng tôi không liều mạng vượt biển vì miếng cơm manh áo, tôi ra đi không phải vì tôi chê mẹ Việt Nam nghèo khó, nhưng trong trí óc cuả một thiếu nữ đang trưởng thành một mình trên miền đất mới, tôi cảm thấy gần như... có lỗi khi thấy mình càng ngày càng quen với đời sống mới và thật sự yêu mến quê hương thứ hai này. Có lẽ cảm giác đó giống như đưá con nuôi cuả một gia đình giàu có, một ngày kia trở về quê cũ và cảm thấy băn khoăn khi bắt gặp mình ngập ngừng, xa lạ trước cha mẹ ruột nghèo nàn xấu xí.
Không hiểu may mắn hay không may cho tôi là khi chiến tranh Việt Nam đang diễn ra thì tôi còn nhỏ. Vì thế, trong lòng tôi không có cảm giác hụt hẫng và đau đớn của nhiều người lớn khi bị "đồng minh Mỹ bỏ rơi". Khi tôi nghe vài ngưòi nói rằng nước Mỹ cưu mang chúng ta không phải vì họ tốt mà vì họ có trách nhiệm với người Việt, tôi hiểu tại sao họ nghĩ thế nhưng tôi không cảm được. Tôi kính trọng suy tư riêng cuả mỗi ngươì, nhưng riêng tôi, tôi thấy cái tinh tuý cuả hiệp chủng quốc vượt khỏi những nhiệm kỳ tổng thống hay đảng phái. Tinh tuý đó đến từ những nguơì dân Mỹ. Có lẽ tình cảm cuả tôi với nước Mỹ đã thành hình từ lúc nhìn con tàu mang lá cờ Mỹ lớn dần từ phía chân trời trên Thái Bình Dưong, từ khoảnh khắc thấy người lính Mỹ ôm chặt em bé nhớp nhúa ói mửa vào lòng để đem lên tàu, từ khi anh thủy thủ ân cần dùng con dao nhỏ cắt bớt chiếc dép cao su cho vừa chân tôi, từ hình ảnh người sĩ quan trong bộ đồng phục trắng toát đang xắn quần, gò lưng kéo dây ghìm cho thuyền nhỏ đứng yên để chúng tôi bước lên bờ biển Thái Lan, từ hình ảnh những ngươì Mỹ đứng một hàng dài lưu luyến dõi theo đám thuyền nhân chúng tôi đang lục tục đi vào trại mà còn cố ngoái lại nhìn qua làn nước mắt.
Tôi tin rằng không phải vị thuyền trưởng nghĩ rằng người Mỹ có trách nhiệm với chúng tôi, hay vì sự may mắn khi con cá nhỏ nhảy vào tàu mà chúng tôi được vớt. Nước Mỹ có quyền không cho phép chiếc hàng không mẫu hạm đi chệch hải đồ để cứu người, giống như bao con tàu khác đã làm ngơ với những chuyến vượt biên kém may mắn. Hơn nữa, những gì không thật sẽ không tồn tại lâu bền, cho nên tình cảm ban đầu cuả tôi với nước Mỹ sẽ mất đi nếu tôi không càng ngày càng thấy Hoa Kỳ là một đất nước bao dung. Tôi không ngây thơ nghĩ rằng - hay mong rằng - nước Mỹ là hoàn hảo; nhưng với tôi nuớc Mỹ là một dòng sông mênh mông, đôi khi cũng đem theo rác dơ, đôi khi cũng dậy sóng nguy hiểm, nhưng dòng sông đó đã rộng lòng đem nước và phù sa đến cho những giống cây đến từ khắp nơi có cơ hội đơm trái ngọt.
Người sống lâu ngày trong bình an, sung sướng thường quên rằng mình may mắn. Người đàn ông đốt lá cờ Mỹ trên thềm nhà Quốc Hội chắc chỉ nhớ đến những rác rưởi trong dòng sông, chắc ông ta không hiểu rằng chỉ ở Hoa Kỳ ông ta mới dám chà đạp quốc kỳ ngay trước toà nhà lập pháp mà không sợ rằng mình sẽ "ra đi không có ngày về". Ông ta chắc chắn không biết rằng lá cờ đó đã khiến hải tặc Thái Lan buông chúng tôi, đã quyết định giữa cuộc sống bình an ở Hoa Kỳ và cái chết - hay một cuộc sống nô lệ trên xứ Thái đau khổ hơn cả cái chết - cuả hơn một trăm người trên chiếc thuyền vượt biên vào một ngày hè năm 1983.
. . .
Thời gian trôi qua. Tôi đã lớn lên và đã hiểu ra rằng tôi không hề phải chọn lựa giữa quê hương thứ nhất Việt Nam và quê hưong thứ hai Hoa Kỳ. Tôi yêu mến đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã cưu mang tôi, cho cây tôi lớn lên thành một cây quýt ngọt, và đất nước này không hề phiền hà khi tôi đem chia xẻ trái ngọt đó với nơi tôi sinh ra. Tôi đâu phải là cá hồi mà phải chọn lựa giưã sông và biển" Tinh thần cuả nước Mỹ luôn khuyến khích mọi người góp sức làm thế giới tốt đẹp hơn và tôi sẽ làm như thế. Tôi sẽ cố gắng để bằng cách này hay cách khác, trao lại những may mắn và cơ hội mà tôi đã được trao. Hy vọng là tôi sẽ góp phần để một ngày nào đó người dân Việt Nam không còn phải tìm cách ra đi cho dù phải trả giá bằng tính mạng hay nhân phẩm.
Tôi yêu Việt Nam đã sinh thành ra tôi và tôi yêu Hoa Kỳ đã duỡng dục tôi. Đôi khi tôi tẩn mẩn phân tích tình cảm cuả mình: với Việt Nam là tình, với Hoa Kỳ là nghiã... Rồi tôi lại loay hoay tự hỏi có phải như vậy không, hay là ngược lại" Cuối cùng tôi bật cười, nghĩ mình thật là lẩn thẩn, bởi vì tình cảm đâu cần gì phân loại và đặt tên.
Khôi An.
Muà Giáng Sinh 2008
Tác giả: Khôi An Tác giả đến Hoa Kỳ năm 1984, hiện là cư dân cuả Bắc California. Nghề nghiệp: kỹ sư điện tử tại Intel Cooperation. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của cô là “Vui Buồn Thuở Ấy”. Bài mới viết cho biết thêm cô là thuyền nhân và kể lại câu chuyện xúc động: Một chuyến tầu vượt biển bị hải tặc săn đuổi và vào lúc tả tơi cùng quẫn hết chạy nổi thì thấy lá cờ Mỹ...
***
Lần đầu tiên tôi có ý định viết chuyện này là năm 1989. Năm đó, cả nước Mỹ xôn xao tranh cãi về việc một người đàn ông đã đốt lá cờ Mỹ ngay trên thềm toà nhà Quốc Hội trong buổi họp thường niên cuả đảng Cộng Hoà. Lúc đó tôi đã nghe nhiều bàn tán về sự kiện này từ phía chống đối cũng như phe ủng hộ. Ngày đó tôi vưà mới tốt nghiệp đại học, chưa để ý nhiều đến những sinh hoạt chính trị xã hội ở chung quanh, nhưng trong lòng tôi đột nhiên dâng lên một cảm xúc gần như là tiếc cho ngươì đàn ông đã làm hành động đó. Nếu ông ta từng nhìn lá cờ Mỹ qua đôi mắt của tôi và của hơn một trăm ngươì bạn đồng thuyền vaò buổi sáng muà hè năm ấy, không biết ông ta có hành động khác đi chăng"
. . .
Đêm trung tuần tháng 7 năm 1983 bắt đầu khá êm ả. Con thuyền nhỏ đầy kín ngươì đã ra hải phận quốc tế được gần 24 tiếng. Tôi đã hơi quen với mùi hôi tanh lợm giọng trong thuyền nên cảm thấy hơi tỉnh táo, ngồi bó gối nhìn cô em gái nằm bên cạnh đang mê man vì say sóng. Ngước mắt nhìn lên bầu trời đang chuyển dần từ màu xám sang màu đen thẫm, tôi thầm cầu nguyện cho được bình an. Cám ơn trời, biển khá êm, con tàu không vật vã mà chỉ chồm lên hụp xuống theo từng đợt sóng. Tiếng khóc cuả con nít, tiếng càu nhàu than thở, tiếng chửi thề cũng lắng dần khi mọi ngươì chìm vào giấc ngủ mệt mỏi...
Hình như tôi có thiếp đi một lúc vì khi tôi giật mình choàng dậy thì sự hoảng sợ đã chụp xuống chung quanh. Bác tài công đang hối hả kêu mấy ngươì lái phụ và các thanh niên khác dùng bạt bịt kín khoang thuyền nơi mọi người đang nằm chen chúc. Chiếc đèn măng xông duy nhất trong phòng máy bị thổi tắt phụt sau khi bác tài công ra lệnh:
- Tắt đèn! Tắt hết đèn đi!!!
Lắng nghe những lời thì thào trao đổi một lúc tôi mới hiểu ra rằng tàu chúng tôi đang bị tàu cuớp Thái Lan đuổi bắt. Chúng tôi phải tắt hết đèn chạy xuyên vào biển đen trong khi tàu Thái ra sức rượt theo. Cả tàu đuợc lệnh tuyệt đối im lặng, những đứa bé vưà lên tiếng khóc phải bị bịt miệng ngay. Không biết lúc đó tôi còn trẻ quá, dại dột quá, có nhiều tin tưởng quá, hay vì cảm xúc cuả tôi đã tê dại đi, nên tôi không thấy sợ hãi lắm. Tôi gần như không cảm được sự hãi hùng của hơn một trăm sinh mạng đang loi ngoi trong khoang thuyền bịt kín. Tôi chỉ thấy khó thở vô cùng; tôi chỉ thấy nhẹ gánh cho em tôi đang mê man, chắc nó không phải cảm thấy sự ngộp thở tưởng chừng như không kham nổi mà tôi đang chịu; tôi chỉ biết tự nhủ ráng lên, ráng lên; và tôi không ngừng cầu xin Thượng Đế, Chúa, Phật, và tất cả những đấng thiêng liêng cứu vớt chúng tôi...
Chúng tôi chạy vòng vèo ngay truớc mũi tử thần trong suốt một đêm, và bình minh tới dù không ai mong đợị. Những tia sáng đã quét đi màn đêm đang che chở chúng tôi. Bác tài công buông những câu chửi thề uất hận khi khoảng cách giữa bọn cướp và chúng tôi thu ngắn trong khoảnh khắc... Rồi tôi lại nghe bác lại chửi, nhưng lần này đuợm vẻ ngạc nhiên pha chút vui mừng:
- ĐM, hình như tụi nó bỏ đi hả bây"
Tấm bạt bịt khoang được hé ra cho chúng tôi khỏi chết ngộp, và qua cái khe hở nhỏ đó, một con cá nhỏ xíu bằng ngón tay cái đã phóng vào thuyền, rơi xuống ngay cạnh tôi. Tôi ngước mắt cố nhìn nhưng vì đang ngồi bẹp trong khoang thuyền nên tôi chẳng thấy được gì ngoài một mảng trời đang sáng dần.
Bỗng bác tài công và những nguơì trong phòng máy trên cao vụt la lớn:
- Có tàu! Có tàu lớn ở đàng xa kià!
- Tàu gì vậy" Vái trời cho không phải tàu Liên Xô!
Chúng tôi như đuợc hồi sinh, ai cũng nhỏm lên nhìn nhưng vì lúc đó chiếc tàu kia chỉ là một đốm nhỏ ở xa nên tôi chưa thấy gì cả. Vài phút sau, có tiếng máy rồi một chiếc máy bay trực thăng nhỏ bay qua. Người trong thuyền la hét như điên cuồng, nhiều người đàn ông cởi áo phất lia lịa nhưng máy bay chỉ lượn vài vòng rồi... mất hút. Dù sao chúng tôi cũng có một tia hy vọng ở chân trời, chúng tôi vội nhắm cái chấm ở tít đằng xa mà chạy tới. Và chiếc tàu kia hình như cũng đang chạy về phía chúng tôi vì nó càng ngày càng lớn dần.
Và, suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên giây phút đó, giây phút ngươì đàn ông ngồi trên cao la lạc giọng:
- Thấy rồi! Thấy cờ Mỹ rồi!!!
Nước mắt ông ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ lấm lem dầu máy. Mọi người đứng bật lên làm thuyền chao mạnh. Chúng tôi đã thật sự được sống!
Chiếc tàu vớt chúng tôi là một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Nó to như một toà nhà mười mấy tầng, những ngươì lính đầu tiên phải leo thang dây xuống để đem con nít và những ngươì yếu sức lên trước. Em tôi đã tỉnh dậy như một phép lạ và chúng tôi bám vào thang dây, dò từng bước leo lên boong tàu. Vưà lên tới nơi, mỗi ngươì được trao một ly sữa và một trái táo trước khi tụ tập trong một góc boong. Và ngạc nhiên thay, trên tàu đã có cả trăm ngươì Việt Nam chạy ra mừng chúng tôi. Thì ra chiếc tàu Mỹ này vừa mới vớt một thuyền vượt biên khác ngày hôm trước. Sau khi mọi ngươì đã lên tàu lớn, những nguơì lính Mỹ tưới xăng lên chiếc thuyền mà chúng tôi vưà rời khỏi rồi châm lưả đốt. Đứng trên boong tàu nhìn vói theo chiếc thuyền nhỏ xíu đang bốc cháy và trôi dần ra xa, biết rằng mình vô cùng may mắn, nhưng lòng tôi vẫn thoáng chút ngậm ngùi...
Tổng cộng thuyền nhân đuợc cứu từ hai chiếc ghe vuợt biên lên tới gần hai trăm năm mươi người. Hồi đó, tiếng Anh cuả tôi kém và tính tình nhút nhát nên không dám hỏi han những người lính ở trên tàu. Tôi chỉ nghe nói lại là chiếc hàng không mẫu hạm này đang trên đuờng đi công tác ở Phi Luật Tân. Họ đã nhìn thấy tàu chúng tôi từ rất xa và quyêt định đi chếch qua để cứu chúng tôi. Chiếc trực thăng bay qua trước khi tàu đến cũng là do vị thuyền trưởng đã gởi tới để xem xét tình trạng của chúng tôi.
Không hiểu vì sao mà trên tàu có sẵn một số quần áo cũ. Chúng tôi đuợc phép lựa những thứ tạm mặc đuợc để thay đổi hàng ngàỵ. Khổ nỗi đống quần áo đã qua sự lựa chọn cuả những người lên trước nên chỉ còn toàn những thứ khó mặc. Tôi nhặt đại hai cái áo to bằng bốn lần khổ người tôi, và một bộ áo liền quần màu xanh bó sát. Chẳng hề gì, tôi vẫn vô cùng sung sướng vì ước mơ gần như hoang đường nay đã thành sự thật: tôi đã trốn thoát khỏi Việt Nam và đang ở trên tàu Mỹ.
Ngày đó tôi vưà học xong trung học. Sau 8 năm đói khổ sau bức màn sắt cuả Cộng Sản, thế hệ chúng tôi hầu như quên mất có một thế giới bên ngoài. Trong những ngày trên tàu Mỹ tôi đã gặp lại những hành động lịch sự, những cử chỉ nhân ái gần như đã biến mất trong xã hội nơi tôi vừa ra đi. Những ân nhân của chúng tôi ân cần đến từng chi tiết nhỏ, một trong những việc đầu tiên họ làm là phát phong bì, giấy bút cho chúng tôi viết thư báo tin cho người thân. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ chiếc phong bì màu xanh nhạt có hình chiếc hàng không mẫu hạm và tên tàu ở góc, tôi vẫn còn nhớ ánh mắt thương cảm của những người trên tàu nhìn chúng tôi nhếch nhác, bơ phờ dò từng bước lên tàu.
Suốt thời gian trên tàu tôi vô cùng ái ngại cho những ngưòi lính và những sĩ quan đã tốn không biết bao nhiêu công sức để lo cho hơn hai trăm ngươì chúng tôi. Vì hàng không mẫu hạm là đơn vị quân sự nên chúng tôi không được phép ra khỏi phần cuối boong tàu. Mỗi người được phát một tấm chăn dạ màu xám, loại chăn nhà binh Mỹ mà tôi đã thấy trước năm 1975. Chăn rất tốt và khí hậu Thái Bình Dương vào muà hè khá ấm nhưng chúng tôi phải nằm ngay trên boong và gió thổi lồng lộng khi tàu chạy nhanh nên ban đêm vẫn lạnh. Tôi ngủ đuợc rất ít nhưng chính vì thế tôi càng có cơ hội chứng kiến sự tận tâm cuả những người trên tàu. Sáng sớm tôi vưà thức dậy đã thấy ngươì ta đang lăng xăng dọn thức ăn sáng cho chúng tôi. Mất mấy tiếng mới phục vụ hết đám ngươì đông đúc nên chỉ vài tiếng sau là họ lại lục tục lo bữa ăn trưa, rồi ăn tối. Thức ăn quá lạ miệng nên tôi không thấy ngon, ngay cả trái chuối cũng khác ở Việt Nam, nhưng tôi nhớ nhất là ly cà phê đầu tiên trên tàu. Đã từng nếm những ly cà phê đen sánh quậy với sữa đặc ở Việt Nam, tôi ngạc nhiên lắm khi ngậm ngụm cà phê Mỹ pha sẵn. Thật tình, cà phê sao chua lè và trong veo, y như là nước giảo của cà phê Việt Nam!
Vấn đề vệ sinh cho hơn hai trăm người chen chúc trong khoảng không gian nhỏ mới thật là kinh khủng. Thuỷ thủ đòan phải dùng nylon đen che thành mấy phòng tắm quay mặt ra biển, nhà vệ sinh cũng là nylon đen quây quanh mấy thùng sắt to. Mỗi sáng nhân viên trên tàu cùng chúng tôi dọn dẹp, và tôi không thấy người nào tỏ thái độ khó chịu cho dù trong khi làm những việc cực nhọc nhất.
Mấy ngày ngắn ngủi trên tàu mãi mãi là một trong những kỷ niệm khó quên nhất trong đời tôi. Trên chiếc hàng không mẫu hạm hùng vĩ đó, tôi đã đuợc xem cảnh tàu chở xăng xáp vào tiếp nhiên liệu cho tàu lớn ngay trên biển, đã được chứng kiến những sinh hoạt hàng ngày quy củ răm rắp như một trong guồng máy nhưng đuợc thực hiện bởi hải đoàn đầy ắp tình người. Tôi nhớ nhân viên trên tàu ngoài nhiệm vụ riêng họ còn phải chăm sóc đủ thứ cho chúng tôi, và phải lo rất nhiều giấy tờ cho thủ tục gởi chúng tôi vào trại tị nạn Thái Lan. Bận rộn vậy nhưng không khí trên tàu luôn ấm cúng và thân tình. Tôi vẫn nhớ lễ chào cờ mỗi sáng, đám người tị nạn đứng sát bên thuỷ thủ đoàn cùng lắng nghe quốc ca Hoa Kỳ vang vọng. Tôi vẫn mường tượng đuợc cảm giác bàng hoàng khi nhìn lá cờ Hoa Kỳ bay lồng lộng trên bầu trời xanh biếc cuả Thái Bình Dương mà tự nhủ không biết mình sẽ ra sao nếu chiếc tàu này đến trễ chỉ một vài tiếng trong buổi bình minh hôm trước...
Mỗi buổi chiều khi công việc đã xong, người trên tàu túa ra trò chuyện với chúng tôi. Từ vị sĩ quan trong đồng phục trắng toát tới anh thuỷ thủ trong đồng phục xanh, ai cũng ân cần, vui vẻ. Họ đuà giỡn với con nít, trò chuyện với mọi nguời, cố lắng nghe những câu tiếng Anh vụng về cuả chúng tôi để tìm hiểu xem chúng tôi có cần thêm gì hay không. Để chúng tôi giải khuây, họ còn căng màn chiếu phim. Tôi nhớ mãi cuốn phim đó là phim Điệp viên 007 James Bond với tựa đề "For Your Eyes Only". Giữa trời đêm lồng lộng ngàn ánh sao, trên con thuyền băng băng xuyên vào biển đen, những hình ảnh rực rỡ chớp tắt trên màn ảnh vĩ đại làm tôi mơ màng tưỏng như mình đang trôi trong đêm hoa đăng thần thoại của một giấc mơ kỳ diệu.
. . .
Như thế đó, tôi đã may mắn gặp đuợc cái đẹp đẽ nhất cuả nước Mỹ trước khi đặt chân tới đất nước này. Tôi đến Mỹ với vài đô la và mấy bộ quần áo tồi tàn nhưng gia tài cuả tôi là lòng cảm mến sâu xa với một miền đất giàu tình ngươì, cùng với hoài bão sẽ cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh cuả gia đình, với sự may mắn mà Thượng Đế đã nhờ những "sứ giả" trên tàu Mỹ đem đến cho chúng tôi.
Những bối rối vì ngôn ngữ, những trở ngại khi hội nhập đôi khi có làm tôi buồn nản, nhưng tôi thấy quay quắt nhất là những khi nhớ về Việt Nam. Những chuyện nhỏ nhặt như khi đi chợ Việt Nam, nhìn người ta xăm soi tìm cho được những trái tuyệt hảo nhất trong đám nhãn mọng tươi nhập cảng từ Á châu cũng làm tôi bùi ngùi. Tôi nghĩ đến những trái hơi có tì vết mà không ai thèm mua kia cũng có thể là hàng xuất khẩu từ Việt Nam, là tinh hoa chắt ra từ quê hương nghèo nàn của tôi, là loại hàng "xuất khẩu" mà người đi làm bình thường như cha mẹ tôi không bao giờ mua nổi.
Tuy thế, vấn đề lớn nhất tôi gặp phải trên đất Mỹ là một chuyện tôi chưa hề nghĩ tới: đó là tình cảm của tôi với nước Mỹ đã làm tôi hoang mang. Ngay từ nhỏ, những câu tục ngữ như "Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo" đã thấm sâu vào lòng tôi. Cho dù tôi biết chắc rằng tôi không liều mạng vượt biển vì miếng cơm manh áo, tôi ra đi không phải vì tôi chê mẹ Việt Nam nghèo khó, nhưng trong trí óc cuả một thiếu nữ đang trưởng thành một mình trên miền đất mới, tôi cảm thấy gần như... có lỗi khi thấy mình càng ngày càng quen với đời sống mới và thật sự yêu mến quê hương thứ hai này. Có lẽ cảm giác đó giống như đưá con nuôi cuả một gia đình giàu có, một ngày kia trở về quê cũ và cảm thấy băn khoăn khi bắt gặp mình ngập ngừng, xa lạ trước cha mẹ ruột nghèo nàn xấu xí.
Không hiểu may mắn hay không may cho tôi là khi chiến tranh Việt Nam đang diễn ra thì tôi còn nhỏ. Vì thế, trong lòng tôi không có cảm giác hụt hẫng và đau đớn của nhiều người lớn khi bị "đồng minh Mỹ bỏ rơi". Khi tôi nghe vài ngưòi nói rằng nước Mỹ cưu mang chúng ta không phải vì họ tốt mà vì họ có trách nhiệm với người Việt, tôi hiểu tại sao họ nghĩ thế nhưng tôi không cảm được. Tôi kính trọng suy tư riêng cuả mỗi ngươì, nhưng riêng tôi, tôi thấy cái tinh tuý cuả hiệp chủng quốc vượt khỏi những nhiệm kỳ tổng thống hay đảng phái. Tinh tuý đó đến từ những nguơì dân Mỹ. Có lẽ tình cảm cuả tôi với nước Mỹ đã thành hình từ lúc nhìn con tàu mang lá cờ Mỹ lớn dần từ phía chân trời trên Thái Bình Dưong, từ khoảnh khắc thấy người lính Mỹ ôm chặt em bé nhớp nhúa ói mửa vào lòng để đem lên tàu, từ khi anh thủy thủ ân cần dùng con dao nhỏ cắt bớt chiếc dép cao su cho vừa chân tôi, từ hình ảnh người sĩ quan trong bộ đồng phục trắng toát đang xắn quần, gò lưng kéo dây ghìm cho thuyền nhỏ đứng yên để chúng tôi bước lên bờ biển Thái Lan, từ hình ảnh những ngươì Mỹ đứng một hàng dài lưu luyến dõi theo đám thuyền nhân chúng tôi đang lục tục đi vào trại mà còn cố ngoái lại nhìn qua làn nước mắt.
Tôi tin rằng không phải vị thuyền trưởng nghĩ rằng người Mỹ có trách nhiệm với chúng tôi, hay vì sự may mắn khi con cá nhỏ nhảy vào tàu mà chúng tôi được vớt. Nước Mỹ có quyền không cho phép chiếc hàng không mẫu hạm đi chệch hải đồ để cứu người, giống như bao con tàu khác đã làm ngơ với những chuyến vượt biên kém may mắn. Hơn nữa, những gì không thật sẽ không tồn tại lâu bền, cho nên tình cảm ban đầu cuả tôi với nước Mỹ sẽ mất đi nếu tôi không càng ngày càng thấy Hoa Kỳ là một đất nước bao dung. Tôi không ngây thơ nghĩ rằng - hay mong rằng - nước Mỹ là hoàn hảo; nhưng với tôi nuớc Mỹ là một dòng sông mênh mông, đôi khi cũng đem theo rác dơ, đôi khi cũng dậy sóng nguy hiểm, nhưng dòng sông đó đã rộng lòng đem nước và phù sa đến cho những giống cây đến từ khắp nơi có cơ hội đơm trái ngọt.
Người sống lâu ngày trong bình an, sung sướng thường quên rằng mình may mắn. Người đàn ông đốt lá cờ Mỹ trên thềm nhà Quốc Hội chắc chỉ nhớ đến những rác rưởi trong dòng sông, chắc ông ta không hiểu rằng chỉ ở Hoa Kỳ ông ta mới dám chà đạp quốc kỳ ngay trước toà nhà lập pháp mà không sợ rằng mình sẽ "ra đi không có ngày về". Ông ta chắc chắn không biết rằng lá cờ đó đã khiến hải tặc Thái Lan buông chúng tôi, đã quyết định giữa cuộc sống bình an ở Hoa Kỳ và cái chết - hay một cuộc sống nô lệ trên xứ Thái đau khổ hơn cả cái chết - cuả hơn một trăm người trên chiếc thuyền vượt biên vào một ngày hè năm 1983.
. . .
Thời gian trôi qua. Tôi đã lớn lên và đã hiểu ra rằng tôi không hề phải chọn lựa giữa quê hương thứ nhất Việt Nam và quê hưong thứ hai Hoa Kỳ. Tôi yêu mến đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã cưu mang tôi, cho cây tôi lớn lên thành một cây quýt ngọt, và đất nước này không hề phiền hà khi tôi đem chia xẻ trái ngọt đó với nơi tôi sinh ra. Tôi đâu phải là cá hồi mà phải chọn lựa giưã sông và biển" Tinh thần cuả nước Mỹ luôn khuyến khích mọi người góp sức làm thế giới tốt đẹp hơn và tôi sẽ làm như thế. Tôi sẽ cố gắng để bằng cách này hay cách khác, trao lại những may mắn và cơ hội mà tôi đã được trao. Hy vọng là tôi sẽ góp phần để một ngày nào đó người dân Việt Nam không còn phải tìm cách ra đi cho dù phải trả giá bằng tính mạng hay nhân phẩm.
Tôi yêu Việt Nam đã sinh thành ra tôi và tôi yêu Hoa Kỳ đã duỡng dục tôi. Đôi khi tôi tẩn mẩn phân tích tình cảm cuả mình: với Việt Nam là tình, với Hoa Kỳ là nghiã... Rồi tôi lại loay hoay tự hỏi có phải như vậy không, hay là ngược lại" Cuối cùng tôi bật cười, nghĩ mình thật là lẩn thẩn, bởi vì tình cảm đâu cần gì phân loại và đặt tên.
Khôi An.
Muà Giáng Sinh 2008
Trà hay cà phê?
BS. Hồ Ngọc Minh LTS: Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh được biết trong cộng đồng người Việt nhiều năm qua với chuyên khoa về hiếm muộn, vô sinh, và lựa chọn trai gái theo ý muốn. Ông đã từng làm nghiên cứu về bệnh hiếm muộn, và các bệnh ung thư của phụ nữ tại National Cancer Institute trực thuộc National Institutes of Health. Bác Sĩ Minh là Board Certified về Obstertrics, Gynecology và Reproductive Endocrinology Infertility. Phòng mạch tọa lạc trong khuôn viên bệnh viện Fountain Valley, tại 11180 Warner Ave., Suite 465, Fountain Valley, CA 92708. Số phone liên lạc: (714) 429-5848, trang nhà: www.bacsihongocminh.com
“Coffee, tea, or me?” ; “Cà phê, trà, hay là tôi?” là một câu nói có tính cách lẳng lơ, tựa đề của một cuốn hồi ký xuất bản vào năm 1967, kể chuyện vui về “đời hoạt động” của hai cô tiếp viên hàng không ở Mỹ. Ở đây ta tạm bỏ qua chữ “tôi”, để so sánh ưu điểm cũng như khuyết điểm của hai thứ thức uống, trà hay cà phê?
Đối với một số người, cà phê được xem dường như là một loại thuốc giúp đỡ chống lại sự mệt mỏi, nhức đầu, lười biếng, tình trạng thiếu linh hoạt hay minh mẫn của cơ thể. Trong những thập niên đầu của thế kỷ trước, cà phê mang tiếng xấu vì nó đi kèm theo với thuốc lá, phòng trà, quán bar, quán rượu, tiệm bi-da, sòng bạc v.v…
Trên phương diện đời sống xã hội, so với cà phê thì trà có vẻ thanh tao, ít “bệnh hoạn” hơn. Nhưng thời xưa ở nước ta, các quán trà cũng mang tiếng xấu không kém gì các “quán bia ôm” ngày nay. Bên tám lạng, bên nửa cân.
Thế thì, trà có thực sự tốt hơn cà phê hay không?
Nguồn gốc:
Trà là thức uống thông dụng trên toàn thế giới chỉ đứng sau nước lạnh mà thôi. Trong khi đó cà phê từ đầu thế kỷ 21 ngày càng trở nên thông dụng, nhất là từ khi Starbuck ra đời, cà phê không thể thiếu trong đời sống hằng ngày.
Theo truyền thuyết, vua Thần Nông, năm 2737 trước công nguyên, đang đun nước uống…ngoài đồng (khổ, thời ấy làm vua mà phải tự đi đun nước!) thì có lá trà cháy rớt vào nồi, tiếc của, ông nếm thử và đâm ra “khoái” cái mùi vị của…nước trà. Khởi thuỷ trà chỉ được dùng làm thuốc, và mãi tới thời nhà Tần, nhà Hán, 200 năm trước công nguyên, chỉ có vua chúa hay hoàng gia mới được nếm tới..trà. Tới đời nhà Đường, trà lan qua Nhật và người Nhật đã đẩy việc uống trà lên đến đỉnh cao của nghệ thuật. Trà cũng tràn sang Việt Nam rất sớm có thể qua ngã Vân Nam như miêu tả trong tiểu thuyết của Kim Dung, Thiên Long Bát Bộ. Cuối cùng mãi tới thế kỷ thứ 16, trà mới tới Âu Châu và cũng chỉ có “đại gia” thời đó mới có khả năng, tiền bạc để thưởng thức trà.
Trong khi đó cà phê, được khám phá trễ hơn. Chuyện kể có một người chăn dê tên Kaldi của xứ Ethiopia, để ý thấy mấy cô chú dê nhà mình có vẻ “phê”, đi dứng lạng quạng sau khi ăn hột của một loại cây…sau này gọi là cà phê. Thời gian đầu chỉ có các vị tu sĩ và mục đồng uống cà phê để tỉnh táo mà chăn cừu, hay để…đọc kinh cầu nguyện. Sau đó cà phê lan rộng qua bán đảo Ả Rập và đi khắp nơi.
Ưu điểm:
Cả hai thứ cà phê và trà đều có “yêu điểm”. Một số nghiên cứu cho thấy cà phê có khả năng làm giảm bệnh mất trí nhớ, bệnh Alzheimer, và giảm khả năng bị tiểu đường loại 2. Cà phê cũng giúp làm nở các khi quản giúp đỡ cho người bị hen suyễn kinh niên. Chất caffeine có trong cà phê lẫn trà giúp chống bệnh nhức đầu kinh niên và giảm bớt cơn say. Người uống cà phê thường xuyên ít bị đột quỵ tim hơn. Một số nghiên cứu cũng cho thấy cà phê cũng làm giảm bớt khả năng bị bệnh sạn túi mật, giảm bệnh xơ gan và ung thư gan. Cà phê cũng được biết giảm khả năng bị bệnh thống phong gout cho đàn ông trên 40.
Một cách chung chung, nghiên cứu từ trường Đại Học Harvard cho thấy, cà phê cũng không có hại gì cho sức khoẻ, không làm cho người uống cà phê chết sớm, nhưng cũng không kéo dài tuổi thọ bao nhiêu.
Trong khi đó, trà, theo viện nghiên cứu về ung thư National Cancer Institute, có nhiều chất polyphenols, có khả tính chống oxide hoá (antioxidant), giúp phòng ngừa các bệnh ung thư như ung thư phổi, chống hư hại cho DNA. Chất polyphenols có nhiều trong trà xanh hơn là các loại trà khác. Một nghiên cứu cho thấy uống trà xanh làm giảm khả năng bị ung thư thực quản đến 60%, nhưng uống nước trà quá nóng lại tăng khả năng bị ung thư thực quản. Trà xanh cũng được biết làm cho mỡ trong người biến thành nhiệt giữ ấm cho cơ thể, một đặc tính riêng biệt không liên hệ đến chất caffeine.
Khuyết điểm:
Trong cả hai thức uống, nhiều chất caffeine cũng có thể làm cho tim đập mạnh, hồi hộp, khó ngủ, buồn nôn. Các loại cà phê phin, hay cà phê nấu chín, chứa nhiều caffeine hơn những loại cà phê lọc bằng giấy, có thể làm tăng lượng cholesterol xấu LDL. Phụ nữ mang thai nếu uống trên 8 ly cà phê Mỹ mỗi ngày, (phải trừ hao nếu uống ly cà phê đen hay sữa đá “nhà mềnh” nhé!) có thể dễ bị hư thai hay sẩy thai, hay sanh sớm. Trà còn có chứa chất fluoride, một chút thì tốt cho răng…cỏ, nhưng nhiều quá có thể làm loãng xương. Một số trà Tàu hay trà Ấn Độ có chứa chất nhôm và chất chì có thể gây ra nhiễm độc cho hệ thần kinh.
Tóm lại cả hai thức uống đều có các “yêu điểm” và “yếu điểm”. Nhìn chung, cả hai đều an toàn vì nhân loại đã dùng cả hai loại thức uống từ nhiều trăm năm qua. “Dùng” ở đây hàm ý điều độ, vừa phải. Xin lưu ý, kẻ xấu trong ly cà phê sữa đá hay ly trà thái, bạn đã biết, không phải là cà phê hay là trà.
“Cà phê, trà, hay là tôi?”; cuốn hồi ký của hai nàng tiếp viên hàng không thật ra chỉ là một tiểu thuyết hài hước, thuộc loại “những thoáng mơ hoang” của một tay viết mướn tên Donald Bain. Cuốn sách được đóngthanh phim và cái tựa đề của nó đã trở thành một thành ngữ Mỹ dí dõm, từ trong chỗ “trà dư tữu hậu” cho đến chốn phòng the riêng tư ở mọi nhà.
Tuỳ ý bạn chọn thứ nào tuỳ theo trường hợp nhé.
BS. Hồ Ngọc Minh LTS: Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh được biết trong cộng đồng người Việt nhiều năm qua với chuyên khoa về hiếm muộn, vô sinh, và lựa chọn trai gái theo ý muốn. Ông đã từng làm nghiên cứu về bệnh hiếm muộn, và các bệnh ung thư của phụ nữ tại National Cancer Institute trực thuộc National Institutes of Health. Bác Sĩ Minh là Board Certified về Obstertrics, Gynecology và Reproductive Endocrinology Infertility. Phòng mạch tọa lạc trong khuôn viên bệnh viện Fountain Valley, tại 11180 Warner Ave., Suite 465, Fountain Valley, CA 92708. Số phone liên lạc: (714) 429-5848, trang nhà: www.bacsihongocminh.com
“Coffee, tea, or me?” ; “Cà phê, trà, hay là tôi?” là một câu nói có tính cách lẳng lơ, tựa đề của một cuốn hồi ký xuất bản vào năm 1967, kể chuyện vui về “đời hoạt động” của hai cô tiếp viên hàng không ở Mỹ. Ở đây ta tạm bỏ qua chữ “tôi”, để so sánh ưu điểm cũng như khuyết điểm của hai thứ thức uống, trà hay cà phê?
Đối với một số người, cà phê được xem dường như là một loại thuốc giúp đỡ chống lại sự mệt mỏi, nhức đầu, lười biếng, tình trạng thiếu linh hoạt hay minh mẫn của cơ thể. Trong những thập niên đầu của thế kỷ trước, cà phê mang tiếng xấu vì nó đi kèm theo với thuốc lá, phòng trà, quán bar, quán rượu, tiệm bi-da, sòng bạc v.v…
Trên phương diện đời sống xã hội, so với cà phê thì trà có vẻ thanh tao, ít “bệnh hoạn” hơn. Nhưng thời xưa ở nước ta, các quán trà cũng mang tiếng xấu không kém gì các “quán bia ôm” ngày nay. Bên tám lạng, bên nửa cân.
Thế thì, trà có thực sự tốt hơn cà phê hay không?
Nguồn gốc:
Trà là thức uống thông dụng trên toàn thế giới chỉ đứng sau nước lạnh mà thôi. Trong khi đó cà phê từ đầu thế kỷ 21 ngày càng trở nên thông dụng, nhất là từ khi Starbuck ra đời, cà phê không thể thiếu trong đời sống hằng ngày.
Theo truyền thuyết, vua Thần Nông, năm 2737 trước công nguyên, đang đun nước uống…ngoài đồng (khổ, thời ấy làm vua mà phải tự đi đun nước!) thì có lá trà cháy rớt vào nồi, tiếc của, ông nếm thử và đâm ra “khoái” cái mùi vị của…nước trà. Khởi thuỷ trà chỉ được dùng làm thuốc, và mãi tới thời nhà Tần, nhà Hán, 200 năm trước công nguyên, chỉ có vua chúa hay hoàng gia mới được nếm tới..trà. Tới đời nhà Đường, trà lan qua Nhật và người Nhật đã đẩy việc uống trà lên đến đỉnh cao của nghệ thuật. Trà cũng tràn sang Việt Nam rất sớm có thể qua ngã Vân Nam như miêu tả trong tiểu thuyết của Kim Dung, Thiên Long Bát Bộ. Cuối cùng mãi tới thế kỷ thứ 16, trà mới tới Âu Châu và cũng chỉ có “đại gia” thời đó mới có khả năng, tiền bạc để thưởng thức trà.
Trong khi đó cà phê, được khám phá trễ hơn. Chuyện kể có một người chăn dê tên Kaldi của xứ Ethiopia, để ý thấy mấy cô chú dê nhà mình có vẻ “phê”, đi dứng lạng quạng sau khi ăn hột của một loại cây…sau này gọi là cà phê. Thời gian đầu chỉ có các vị tu sĩ và mục đồng uống cà phê để tỉnh táo mà chăn cừu, hay để…đọc kinh cầu nguyện. Sau đó cà phê lan rộng qua bán đảo Ả Rập và đi khắp nơi.
Ưu điểm:
Cả hai thứ cà phê và trà đều có “yêu điểm”. Một số nghiên cứu cho thấy cà phê có khả năng làm giảm bệnh mất trí nhớ, bệnh Alzheimer, và giảm khả năng bị tiểu đường loại 2. Cà phê cũng giúp làm nở các khi quản giúp đỡ cho người bị hen suyễn kinh niên. Chất caffeine có trong cà phê lẫn trà giúp chống bệnh nhức đầu kinh niên và giảm bớt cơn say. Người uống cà phê thường xuyên ít bị đột quỵ tim hơn. Một số nghiên cứu cũng cho thấy cà phê cũng làm giảm bớt khả năng bị bệnh sạn túi mật, giảm bệnh xơ gan và ung thư gan. Cà phê cũng được biết giảm khả năng bị bệnh thống phong gout cho đàn ông trên 40.
Một cách chung chung, nghiên cứu từ trường Đại Học Harvard cho thấy, cà phê cũng không có hại gì cho sức khoẻ, không làm cho người uống cà phê chết sớm, nhưng cũng không kéo dài tuổi thọ bao nhiêu.
Trong khi đó, trà, theo viện nghiên cứu về ung thư National Cancer Institute, có nhiều chất polyphenols, có khả tính chống oxide hoá (antioxidant), giúp phòng ngừa các bệnh ung thư như ung thư phổi, chống hư hại cho DNA. Chất polyphenols có nhiều trong trà xanh hơn là các loại trà khác. Một nghiên cứu cho thấy uống trà xanh làm giảm khả năng bị ung thư thực quản đến 60%, nhưng uống nước trà quá nóng lại tăng khả năng bị ung thư thực quản. Trà xanh cũng được biết làm cho mỡ trong người biến thành nhiệt giữ ấm cho cơ thể, một đặc tính riêng biệt không liên hệ đến chất caffeine.
Khuyết điểm:
Trong cả hai thức uống, nhiều chất caffeine cũng có thể làm cho tim đập mạnh, hồi hộp, khó ngủ, buồn nôn. Các loại cà phê phin, hay cà phê nấu chín, chứa nhiều caffeine hơn những loại cà phê lọc bằng giấy, có thể làm tăng lượng cholesterol xấu LDL. Phụ nữ mang thai nếu uống trên 8 ly cà phê Mỹ mỗi ngày, (phải trừ hao nếu uống ly cà phê đen hay sữa đá “nhà mềnh” nhé!) có thể dễ bị hư thai hay sẩy thai, hay sanh sớm. Trà còn có chứa chất fluoride, một chút thì tốt cho răng…cỏ, nhưng nhiều quá có thể làm loãng xương. Một số trà Tàu hay trà Ấn Độ có chứa chất nhôm và chất chì có thể gây ra nhiễm độc cho hệ thần kinh.
Tóm lại cả hai thức uống đều có các “yêu điểm” và “yếu điểm”. Nhìn chung, cả hai đều an toàn vì nhân loại đã dùng cả hai loại thức uống từ nhiều trăm năm qua. “Dùng” ở đây hàm ý điều độ, vừa phải. Xin lưu ý, kẻ xấu trong ly cà phê sữa đá hay ly trà thái, bạn đã biết, không phải là cà phê hay là trà.
“Cà phê, trà, hay là tôi?”; cuốn hồi ký của hai nàng tiếp viên hàng không thật ra chỉ là một tiểu thuyết hài hước, thuộc loại “những thoáng mơ hoang” của một tay viết mướn tên Donald Bain. Cuốn sách được đóngthanh phim và cái tựa đề của nó đã trở thành một thành ngữ Mỹ dí dõm, từ trong chỗ “trà dư tữu hậu” cho đến chốn phòng the riêng tư ở mọi nhà.
Tuỳ ý bạn chọn thứ nào tuỳ theo trường hợp nhé.
3 món canh dinh dưỡng với tôm
Tôm khi kết hợp với các loại rau giàu chất xơ và vitamin như mướp đắng (khổ qua), rau ngót, khế tạo món canh nhiều dinh dưỡng.
Canh mướp đắng nấu tôm
Đầu tiên, mướp đắng rửa sạch, bổ đôi, bỏ hết hạt và ruột, thái thành lát mỏng. Tôm bóc vỏ bỏ đầu, chẻ đôi con tôm thành hai nửa,
rút bỏ sợi ở lưng và bụng. Ướp tôm với mắm, tiêu, dầu hào.
Rau mùi rửa sạch, thái nhỏ để cho vào khi canh chín. Canh mướp đắng nhưng thực tế nếu muốn hạn chế vị đắng ấy
thì nên ngâm mướp với muối khoảng nửa tiếng trước khi nấu.
Cho tôm vào nồi dầu nóng, đảo vài phút cho tôm vừa chín thì gắp ra. Thêm nước vừa đủ ăn, khoảng hơn nửa lít nước, sau đó đun sôi.
Cho mướp đắng vào nấu đến khi mướp gần chín thì bỏ tôm vào, nấu sôi lại.

Canh mướp đắng giúp giải nhiệt hiệu quả. Ảnh: Hội An
Canh khế nấu tôm
Nguyên liệu giản đơn chỉ vài con tôm tươi, vài quả khế hàng xóm vừa cho hay dễ dàng tìm thấy trong bất cứ khu chợ nào, thêm rau thơm, gia vị…Tôm cắt bỏ phần chân và đầu, giữ nguyên vỏ, rửa sạch, để ráo nước, có thể cho thêm ít hạt nêm. Khế gọt phần rìa quả, cắt lát hình ngôi sao vừa phải.
Khử dầu chín, cho ít hành tím băm nhỏ cho thơm, xào tôm cho lên màu cam đẹp mắt. Tiếp theo cho khế xào qua khoảng 2 phút, cho nước vừa đủ rồi đun sôi. Nếm gia vị, hạt nêm, chút ớt cho vị đậm đà. Nước sôi lại thì tắt bếp và cho các loại rau thơm là đã hoàn thành món canh.
Nước canh đậm đà vị ngọt của tôm quyện vị khế chua dịu, thanh mát, thật là món canh nên thử.

Canh khế nấu tôm chua cay nên thử. Ảnh: Hội An.
Canh rau ngót nấu tôm Chỉ đơn giản với tôm, rau ngót và vài búp nấm rơm tươi nhưng bát canh với vị ngọt mát tự nhiên sẽ tăng thêm hương vị thơm ngon cho bữa cơm gia đình.
Rau ngót nhặt lá, rửa sạch, để ráo nước, thái hơi nhỏ hoặc vò dập lá để bát canh càng đậm đà mùi rau. Tôm bóc vỏ, rửa với nước sạch rồi băm nhỏ, ướp gia vị cho thấm. Nấm rơm rửa sạch, cạo đi lớp vỏ đen trên đỉnh đầu, thái lát vừa ăn. Phi thơm hành, cho tôm vào xào chín, sau đó cho nấm vào đảo đều cho ngọt nước canh. Cho nước với lượng vừa ăn, đun sôi, hớt bọt và nêm gia vị lại vừa miệng. Nước sôi lại thì cho rau ngót vào, tắt bếp và múc canh, dùng nóng.
Không giống như những loại rau thông thường, lá rau ngót già thì hàm lượng chất xơ và beta caroten càng dồi dào giúp hệ tiêu hóa hoạt động trơn tru. Do vậy đừng bỏ đi những lá già có màu hơi sẫm và nấu rau ngót với dầu thực vật để có thể hấp thụ beta caroten hiệu quả hơn.

Món canh dinh dưỡng, ấm áp cho ngày cuối đông. Ảnh: Hội An.
Hội An
Tôm khi kết hợp với các loại rau giàu chất xơ và vitamin như mướp đắng (khổ qua), rau ngót, khế tạo món canh nhiều dinh dưỡng.
Canh mướp đắng nấu tôm
Đầu tiên, mướp đắng rửa sạch, bổ đôi, bỏ hết hạt và ruột, thái thành lát mỏng. Tôm bóc vỏ bỏ đầu, chẻ đôi con tôm thành hai nửa,
rút bỏ sợi ở lưng và bụng. Ướp tôm với mắm, tiêu, dầu hào.
Rau mùi rửa sạch, thái nhỏ để cho vào khi canh chín. Canh mướp đắng nhưng thực tế nếu muốn hạn chế vị đắng ấy
thì nên ngâm mướp với muối khoảng nửa tiếng trước khi nấu.
Cho tôm vào nồi dầu nóng, đảo vài phút cho tôm vừa chín thì gắp ra. Thêm nước vừa đủ ăn, khoảng hơn nửa lít nước, sau đó đun sôi.
Cho mướp đắng vào nấu đến khi mướp gần chín thì bỏ tôm vào, nấu sôi lại.

Canh mướp đắng giúp giải nhiệt hiệu quả. Ảnh: Hội An
Canh khế nấu tôm
Nguyên liệu giản đơn chỉ vài con tôm tươi, vài quả khế hàng xóm vừa cho hay dễ dàng tìm thấy trong bất cứ khu chợ nào, thêm rau thơm, gia vị…Tôm cắt bỏ phần chân và đầu, giữ nguyên vỏ, rửa sạch, để ráo nước, có thể cho thêm ít hạt nêm. Khế gọt phần rìa quả, cắt lát hình ngôi sao vừa phải.
Khử dầu chín, cho ít hành tím băm nhỏ cho thơm, xào tôm cho lên màu cam đẹp mắt. Tiếp theo cho khế xào qua khoảng 2 phút, cho nước vừa đủ rồi đun sôi. Nếm gia vị, hạt nêm, chút ớt cho vị đậm đà. Nước sôi lại thì tắt bếp và cho các loại rau thơm là đã hoàn thành món canh.
Nước canh đậm đà vị ngọt của tôm quyện vị khế chua dịu, thanh mát, thật là món canh nên thử.

Canh khế nấu tôm chua cay nên thử. Ảnh: Hội An.
Canh rau ngót nấu tôm Chỉ đơn giản với tôm, rau ngót và vài búp nấm rơm tươi nhưng bát canh với vị ngọt mát tự nhiên sẽ tăng thêm hương vị thơm ngon cho bữa cơm gia đình.
Rau ngót nhặt lá, rửa sạch, để ráo nước, thái hơi nhỏ hoặc vò dập lá để bát canh càng đậm đà mùi rau. Tôm bóc vỏ, rửa với nước sạch rồi băm nhỏ, ướp gia vị cho thấm. Nấm rơm rửa sạch, cạo đi lớp vỏ đen trên đỉnh đầu, thái lát vừa ăn. Phi thơm hành, cho tôm vào xào chín, sau đó cho nấm vào đảo đều cho ngọt nước canh. Cho nước với lượng vừa ăn, đun sôi, hớt bọt và nêm gia vị lại vừa miệng. Nước sôi lại thì cho rau ngót vào, tắt bếp và múc canh, dùng nóng.
Không giống như những loại rau thông thường, lá rau ngót già thì hàm lượng chất xơ và beta caroten càng dồi dào giúp hệ tiêu hóa hoạt động trơn tru. Do vậy đừng bỏ đi những lá già có màu hơi sẫm và nấu rau ngót với dầu thực vật để có thể hấp thụ beta caroten hiệu quả hơn.

Món canh dinh dưỡng, ấm áp cho ngày cuối đông. Ảnh: Hội An.
Hội An
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
25 bài học đáng giá từ cụ ông sống gần một thế kỷ
Cụ Andy Anderson là kho báu chứa đầy lời khuyên quý giá sau 99 năm trải nghiệm cuộc đời.
Chưa một lần bước chân vào đại học, cụ vẫn quản lý thành công một chuỗi cửa hàng thực phẩm.
Trải nghiệm mùa lễ hội một mình mà ý nghĩa / 11 bài học cuộc sống trường đại học không dạy bạn
Sắp bước sang tuổi 100 vào tháng 5 tới, cụ ông người Mỹ không tỏ vẻ bận tâm về việc già đi.
Ông cụ bảo mình thấy “vẫn ổn” và hào hứng học hỏi trải nghiệm mỗi ngày.
“Hiện tôi đã 99 tuổi nhưng vẫn tiếp tục học được nhiều điều mới mẻ mỗi ngày. Tuổi tác không chỉ là một con số khô khan,
nó còn giống như một huân chương ghi dấu cho tất cả kỷ niệm tôi có trong đời”, cụ Andy chia sẻ.

99 năm nếm trải tất cả mọi cung bậc từ tình yêu, sự thành công cho tới mất mát và thất bại,
cụ Andy vẫn một lòng tin vào “tình yêu sét đánh” và hào hứng cho việc học thêm điều mới mỗi ngày. Ảnh: PopSugar
99 năm nếm trải tất cả mọi cung bậc từ tình yêu, sự thành công cho tới mất mát và thất bại, ở vào tuổi xưa nay hiếm, cụ Andy vẫn một lòng tin vào “tình yêu sét đánh”. Bởi đó cũng là khởi đầu cho cuộc hôn nhân kéo dài gần 70 năm của cụ. Cụ ông gặp người phụ nữ đặc biệt ấy vào một ngày thứ bảy và rồi đám cưới diễn ra chóng vánh chỉ một tuần sau đó. Họ có với nhau 2 người con, nhận nuôi thêm một bé trai, gắn bó bên nhau cho tới khi cụ bà trút hơi thở từ biệt cuộc đời ở tuổi 67.
Đi suốt chặng dài cuộc đời, bài học quan trọng nhất cụ rút ra được là sự thiêng liêng của gia đình. “Gia đình vô cùng quý giá. Gia đình là điều có ảnh hưởng nhiều nhất đến bạn kể từ giây phút chào đời cho tới khi chết đi. Chính gia đình sẽ làm nên con người bạn”, ông cụ chiêm nghiệm.
Dưới đây là 25 bài học mà cụ ông 99 tuổi rút ra từ sự từng trải của mình. Những bài học tuyệt vời này đã truyền cảm hứng cho nhiều người về ý nghĩa của cuộc sống mỗi người được trao tặng.
1. Luôn giữ sự hài hước.
2. Đừng bao giờ nghĩ mình quá tốt nên không thể bắt đầu từ con số 0.
3. Hãy luyện tập thể thao mỗi ngày, dù bạn có thích hay không.
4. Không tiêu pha nhiều hơn số tiền kiếm được.
5. Uống nước cam mỗi ngày.
6. Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên không phải chỉ có trong truyện ngụ ngôn.
7. Có một công việc tồi còn hơn không có gì để làm.
8. Ăn hết phần ăn, đừng lãng phí thức ăn.
9. Gia đình là điều quý giá nhất bạn có trong đời.
10. Ăn xúc xích mỗi ngày - điều này có lợi cho bản thân.
11. Cuộc sống rất mong manh, và nếu không quan tâm tới bản thân mình, bạn sẽ dần bị phá hủy.
12. Đừng bao giờ sợ phải là chính mình.
13. Mọi người có quá nhiều quần áo. Mặc những gì mình có và đừng mua nhiều hơn.
14. Bạn phải biết cách tha thứ, dù lắm khi đây sẽ là thử thách rất khó khăn.
15. Tiết kiệm tiền bây giờ để dùng về sau.
16. Tình yêu không bao giờ là dễ dàng, đôi khi bạn phải dành rất nhiều tâm sức cho nó.
17. Luôn tìm kiếm niềm vui trong mọi tình huống.
18. Nếu phải đối diện với một khó khăn, đừng trì hoãn việc giải quyết. Nhưng nếu cuối cùng vẫn không có cách gì khả dĩ, tốt nhất là quên đi.
19. Chắc rằng bạn đang làm điều mình yêu thích, đừng sợ hãi theo đuổi ước mơ của riêng mình.
20. Giáo dục là rất quan trọng nhưng không phải bao giờ cũng cần thiết. Cuộc đời chính nó cũng đã là một trường học quý giá.
21. Khám phá thế giới của bạn và luôn tò mò.
22. Cố gắng không quan trọng hóa mọi việc.
23. Tên đầy đủ của tôi là William Bradford James Anderson, và chữ cái đầu (W) luôn nhắc nhớ tôi câu hỏi “Sao chỉ là một ai đó?”
24. Hãy hành động có suy xét và luôn cố gắng nghĩ ra câu trả lời hợp lý nhất cho mọi tình huống.
25. Cuộc sống là một món quà mà bạn phải là người mở. Những thứ bên trong sẽ dẫn đến hạnh phúc hay đau buồn? Tất cả đều phụ thuộc vào cảm nhận của chính bạn. Bạn là người có quyền năng ra quyết định cho chính mình.
Khánh Hà
(Theo Huffingtonpost, PopSugar)

Chứng nghiện điện thoại di động trong giới trẻ
Cao Huy Huân
Chiều nay khi bước vào một quán ăn bên lề đường ở Sài Gòn, tôi cảm thấy lạc lõng khi giữa một dãy bàn khoảng hơn chục cái, hơn hai mươi con người đang ngồi, ăn và bấm điện thoại. Tất cả đều là điện thoại smartphone cảm ứng. Khi phát minh ra điện thoại, con người muốn thế giới mà họ đang sinh sống xóa bỏ khoảng cách địa lý để xích lại gần nhau hơn bằng phương tiện và công nghệ. Thế nhưng ít ai ngờ rằng, giờ đây điện thoại đang làm tốt chức năng của mình, đó là giúp mọi người cách ly với xã hội nhiều hơn. Ở nơi tôi làm việc, cứ mỗi buổi trưa, các nhóm người đứng chờ thang máy và bấm điện thoại, một khung cảnh lạnh lùng. Vào khu nhà ăn, cũng từng ấy con người, vừa ăn vừa bấm điện thoại, miệng vẫn trò chuyện nhưng mắt không dứt ra khỏi màn hình. Và có một câu chuyện vui nho nhỏ là vừa rồi khi phòng Nhân sự có làm một khảo sát nhỏ cho buổi tiệc tất niên, hơn 70% nhân viên đã trả lời rằng họ mong muốn món quà tặng dịp tất niên là điện thoại iPhone 6/iPhone 6 Plus.
Khi tôi hỏi một đồng nghiệp, rằng tại sao anh ấy lại thích bấm điện thoại như vậy, thì câu trả lời của anh là: thế giới với cái điện thoại thú vị và dễ dàng hơn là cái thế giới thật bên ngoài. Phương, tên của anh đồng nghiệp hằng ngày vẫn trầm lặng và ít nói, cho rằng anh thấy mình khó hòa hợp với những đồng nghiệp khác. Phương không thích bia rượu như thói quen của đàn ông Việt, cũng chẳng thích bài bạc cá độ, sở thích duy nhất của anh là game. Phương gần như dành trọn thời gian cho máy tính và game vì công việc của anh cũng là một nhân viên IT. Phương nói rằng, thế giới giữa người và người là mới là một thế giới ảo, các giá trị đều ảo. Những người hằng ngày vẫn cười cười nói nói, vẫn anh em thân thiết chẳng mấy chốc cũng đâm sau lưng nhau vì danh lợi. Chính vì vậy mà Phương thấy tin tưởng hơn khi lúc nào cũng ôm khư khư máy tính hay điện thoại.
Một người bạn khác của tôi là nữ giới, cô cho rằng sở dĩ thích bấm điện thoại là vì cô thích cập nhật Facebook. Khi smartphone ra đời, đồng thời thế hệ mạng di động cũng tiến xa thêm nhiều bậc để gần như lúc nào con người ta cũng có thể kết nối với toàn thế giới thông qua cái thiết bị nho nhỏ là điện thoại di động. Yến, tên của cô bạn, thích kết bạn qua Facebook và mua hàng online. Yến nói: “Nhiều lúc có những khoảnh khắc khó xử như vào thang máy cùng với những người biết mặt nhưng chẳng biết tên, chả biết chào hỏi thế nào thì cứ mang điện thoại ra bấm bấm là ổn.”
Vấn đề nghiện smartphone không phải chỉ diễn ra ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, vấn đề này còn là vấn nạn của người khổng lồ châu Á – Nhật Bản. Là một quốc gia tiên tiến về công nghệ, Nhật Bản hàng năm đưa ra vô số sản phẩm phục vụ cho đời sống con người, nhưng trớ trêu là ngày càng có nhiều công dân Nhật, nhất là giới trẻ, đang lệ thuộc quá nhiều vào công nghệ. Giờ cao điểm buổi tối ở phố Shibuya, Tokyo, một người đàn ông phải hét lớn lên vì một thanh niên vừa đi vừa mải mê bấm điện thoại nên đâm sầm vào ông. Đèn tín hiệu giao thông ở Shibuya chuyển xanh, hàng trăm con người bước ầm ầm qua phố, mắt không hề rời khỏi màn hình điện thoại. Họ mải mê với trò game mới, hay đọc tin tức, hoặc đơn thuần chỉ là đang xem một video clip ca nhạc mới của Ayumi Hamasaki. Hãng AFP cho rằng, số người nghiện điện thoại di động gia tăng không chỉ ở Tokyo, mà còn ở cả các đại đô thị khác trên toàn thế giới, trong đó có New York, London và Hong Kong. Mê sử dụng điện thoại chiếm đến 41% trong các nguyên nhân của những vụ tai nạn liên quan đến người đi bộ hoặc đạp xe. Nếu mọi người cứ xuống đường và dán mắt vào điện thoại thì ngày càng nhiều tai nạn xảy ra.
Chứng nghiện smartphone đã có tên gọi quốc tế
Một bài báo gần đây đang cảnh báo xu hướng nghiện điện thoại smartphone đang ngày càng gia tăng trong giới trẻ châu Á. Theo kết quả nghiên cứu mới đây, người dân châu Á có xu hướng "nghiện" sử dụng điện thoại thông minh cao gấp ba lần so với các nước phương Tây. Singapore và Hong Kong hiện dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương khi có tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh cao nhất thế giới. Khoảng 87% người dân Singapore sở hữu điện thoại thông minh, cao hơn cả Mỹ (65%). Người Singapore cũng bỏ ra trung bình 38 phút mỗi lần lên Facebook, gần gấp đôi thời gian của người Mỹ. Các quốc gia Đông Nam Á khác cũng nằm trong nhóm những nước đứng đầu thế giới về thời gian dành cho các thiết bị công nghệ như: TV, máy tính bảng, điện thoại di động… Trong đó, đứng đầu là người Indonesia, tốn 540 phút mỗi ngày cho các thiết bị công nghệ. Con số này tại Việt Nam là gần 400 phút, trong đó phần lớn thời gian người Việt Nam dành cho điện thoại thông minh.
Các nhà khoa học trên thế giới cũng đã phát hiện ra hội chứng mới, đó là hội chứng nghiện điện thoại di động. Hội chứng này được gọi là nomophobia (viết tắt của no-mobile-phone phobia, tạm dịch là nỗi ám ảnh vì không có điện thoại di động). Các nhà tâm lý học cho rằng, hội chứng này đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến người trẻ tuổi. Triệu chứng của nomophobia bao gồm cảm giác lo sợ hoặc tuyệt vọng khi bạn tách rời chiếc điện thoại, không thể tập trung vào các cuộc hội thoại hoặc công việc mà liên tục kiểm tra thông báo mới trên điện thoại.
Để kết thúc bài blog này, xin mượn một bài viết thú vị của một tác giả online để thấy smartphone ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào:
Trí tưởng tượng của một gã trai tơ đang yêu luôn bị triệt tiêu bởi sẽ được giải đáp sau cái SMS quan tâm giả tạo “Em yêu đang làm gì thế?” Những sự quan tâm lớn lao đến người mình yêu trong đó còn có cả mật khẩu mở điện thoại của họ. Những món quà tự tay làm được thay thế bằng pin sạc dự phòng, vỏ iPhone, chiếc điện thoại đời mới… Và vật kỷ niệm đó sẽ bị vứt bỏ khi có điện thoại mới. Các gã đàn ông nhác việc nhà nhưng đều cực kỳ chăm chỉ việc dọn dẹp tin nhắn, lịch sử cuộc gọi trước khi về tổ ấm.
Họ có thể lãng quên nhiều thứ đáng quan tâm quanh cuộc sống, nhưng hiếm khi quên sạc điện thoại trước khi ngủ. Trong đêm tối, các cặp vợ chồng đều chú tâm vào việc xoạc xoạc vuốt vuốt điểm tin, like dạo cho đến khi ngủ gật hơn là xoa lưng nắm lấy tay người nằm bên cạnh. Lúc trẻ nhỏ cần vui chơi với cha mẹ lại thường được bàn giao ngay cho bà “bảo mẫu điện thoại” có cài đặt hàng trăm game. Điện thoại càng thông minh thì đời tư lại càng dễ bị phơi bày. Họ có thể dễ dàng trao thân nhưng đều lưỡng lự đổi điện thoại cho nhau dù chỉ vài phút. Hãy thử cất điện thoại di động một ngày, bạn sẽ còn biết thêm nó đã từng lặng lẽ lấy đi của bạn những gì.
Bãi bỏ án tử hình, nên hay không?
Lê Thăng Long Hiện nay có tới 135 nước đã bãi bỏ án tử hình, 62 nước vẫn còn duy trì án tử hình, thường là để trừng trị những kẻ sát nhân. Tuy nhiên, không thể tìm ra bất kỳ tiêu chí nào về địa lý, văn hóa, chính trị, kinh tế, tôn giáo... để phân biệt 135 nước bãi bỏ và 62 nước duy trì án tử hình. Hầu hết các nước đang áp dụng án tử hình đều biện minh là phải áp dụng bản án nặng nề nhất này để bảo đảm an ninh, an toàn cho cộng đồng. Còn các nước không duy trì án tử hình thì lại cho rằng tử hình là vi phạm vào quyền sống của con người.
Nguyên nhân tranh cãi của các nước này xuất phát từ hai tư duy khác nhau về tư pháp hình sự. Các nước duy trì án tử hình thì cho rằng hệ thống tư pháp hình sự là để trừng trị những người phạm tội; trong khi đó, các nước bãi bỏ án tử hình thì cho rằng hệ thống tư pháp hình sự là để bảo vệ quyền con người. Tuy nhiên, dù đứng trên tư duy nào thì án tử hình cũng là một thiết chế pháp lý do cộng đồng đặt ra để bảo vệ tính ổn định của cộng đồng, do đó phải thỏa mãn ba đặc điểm của bất cứ thiết chế pháp lý nào, đó là: tính đúng đắn, tính cần thiết và tính hiệu quả. Sau khi xem xét và phân tích các đặc điểm này, nếu án tử hình hội tụ đầy đủ ba đặc điểm trên thì chúng ta mới có căn cứ để duy trì nó; nếu thiếu bất cứ đặc điểm nào thì chúng ta không thể duy trì nó.
1-Tính đúng đắn
Tử hình là tước bỏ sự sống của một cá nhân. Và chỉ có người nào tạo ra sự sống của cá nhân hoặc duy trì sự sống của cá nhân mới có quyền tước bỏ sự sống đó. Ở đây chúng ta phải giải quyết hai vấn đề: Ai tạo ra sự sống của cá nhân? và ai duy trì sự sống đó? Nếu xã hội là người hoặc là tạo ra sự sống của cá nhân hoặc là duy trì sự sống của cá nhân thì xã hội mới có quyền tước bỏ sự sống đó.
Ai tạo ra sự sống của cá nhân? Ai cũng biết rằng nhờ sự kết hợp ngẫu nhiên giữa tinh trùng trong cơ thể người cha và trứng trong cơ thể người mẹ mà sự sống được ra đời. Và để có được sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng thì người cha và người mẹ cần thực hiện một hành vi gọi là giao hợp. Khoa học đã chứng minh rằng hành vi giao hợp là hành vi mang tính bản năng tự nhiên của loài người. Quá trình hình thành sự sống của cá nhân từ thời điểm giao hợp đến thời điểm cá nhân ra đời hoàn toàn là một quá trình phát triển tự nhiên. Như vậy, chỉ có tự nhiên tạo ra sự sống của cá nhân.
Ai duy trì sự sống của cá nhân? Có ý kiến cho rằng: sau khi cá nhân sinh ra phải được cha mẹ và cộng đồng chăm sóc thì sự sống của cá nhân mới được duy trì. Ðiều này là sai lầm vì hai lý do. Thứ nhất, chính các yếu tố vật chất có nguồn gốc tự nhiên như thức ăn, nước uống, không khí... mới là thứ duy trì sự sống. Thứ hai, hành vi chăm sóc của cha mẹ và cộng đồng đối với cá nhân đơn giản chỉ là lấy những dinh dưỡng có sẵn trong tự nhiên hoặc cải tạo những dinh dưỡng đó để duy trì sự sống cho cá nhân và do đó chỉ là phương tiện để tự nhiên duy trì sự sống cho cá nhân. Việc chăm sóc và quan tâm đến con của cha mẹ là một bản năng tự nhiên của tất cả các loài động vật, kể cả con người nhằm duy trì nguồn gien của loài. Về sự chăm sóc của cộng đồng đối với cá nhân cũng chỉ là một nghĩa vụ theo hợp đồng được ký kết giữa hai bên, theo đó, cộng đồng sẽ chăm sóc và bảo vệ cho cá nhân, đổi lại cá nhân phải đóng góp công sức và tài chính, thậm chí còn phải từ bỏ một số quyền tự do để duy trì sự ổn định của cộng đồng.
Kết luận: Chỉ có tự nhiên tạo ra sự sống và duy trì sự sống của cá nhân nên chỉ có tự nhiên mới có quyền tước bỏ nó. Do đó, trong con mắt của cộng đồng, sự sống của cá nhân phải là tối cao và bất khả xâm phạm. Do đó, sự tồn tại của án tử hình là không đúng đắn.
2-Tính cần thiết
Khi xem xét tính cần thiết, chúng ta phải xem xét ba vấn đề sau:
Hành vi nguy hiểm của cá nhân có thể cải tạo được hay không? Khi một cá nhân sinh ra, cá nhân đó chỉ có các hành vi bản năng tự nhiên không nguy hại. Chỉ khi cá nhân tham gia vào cộng đồng, cá nhân đó mới từng bước hình thành các hành vi có ý thức. Hành vi phạm tội của cá nhân cũng là một trong những hành vi có ý thức. Mà tất cả hành vi có ý thức đều có thể cải tạo được vì hành vi đó chỉ hình thành khi cá nhân tham gia vào một số mối quan hệ trong cộng đồng khi cá nhân sống. Do đó, bất cứ hành vi phạm tội nào của cá nhân cũng đều có thể cải tạo được.
Xã hội có đủ khả năng cách ly những cá nhân nguy hiểm khỏi đời sống của nó hay không? Ngày nay, bất cứ cộng đồng nào trên thế giới cũng có đủ điều kiện và khả năng để cách ly một cá nhân nguy hiểm khỏi đời sống của nó mà vẫn đảm bảo được các quyền con người tối thiểu. Hệ thống pháp lý có đủ khả năng phân biệt rõ hành vi nào là hành vi nguy hiểm. Hệ thống an ninh có đủ khả năng theo dõi và bắt giữ các cá nhân nguy hiểm. Hệ thống trại giam có đủ khả năng kiểm soát các cá nhân nguy hiểm trong một phạm vi địa lý nhỏ để họ không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Các hệ thống này đều tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới.
Có chế tài khác thay thế án tử hình không? Mục đích của án tử hình là loại bỏ hành vi nguy hiểm cho xã hội bằng cách tước bỏ sự sống của chủ thể hành vi nguy hiểm. Tuy nhiên, để loại bỏ hành vi nguy hiểm không nhất thiết phải loại bỏ chủ thể của nó bởi vì hành vi nguy hiểm có thể được loại bỏ bằng nhiều cách khác như thay đổi ý thức của chủ thể, loại bỏ điều kiện thực hiện hành vi nguy hiểm, cách ly hoàn toàn chủ thể nguy hiểm khỏi khỏi cộng đồng. Nếu cộng đồng nhận thấy hành vi nguy hiểm cần phải loại bỏ hoàn toàn khỏi cộng đồng thì có thể cách ly chủ thể nguy hiểm cho đến khi người đó chết. Như vậy, việc thay thế án tử hình bằng một chế tài khác là có thể thực hiện được. Ví dụ nhiều nước ngày nay đã thay thế án tử hình bằng án chung thân không được khoan hồng. Thời phong kiến pháp luật quy định hình phạt lưu đày biệt xứ cũng là một kiểu cách ly hoàn toàn chủ thể nguy hiểm khỏi cộng đồng.
3-Tính hiệu quả
Khi nói đến tính hiệu quả, chúng ta phải trả lời cho các câu hỏi sau:
Có phải người phạm tội sợ án tử hình nên không dám phạm tội hay không? Những tội phạm nghiêm trọng xảy ra ở khắp mọi nơi trên thế giới và không phụ thuộc vào việc quốc gia đó có duy trì án tử hình hay không. Nhiều kẻ tội phạm biết chắc là cái gì sẽ chờ mình nếu bị bắt và kết án, nhưng không vì thế mà chùn tay khi hành động. Ở cả quốc gia duy trì án tử hình, tỷ lệ tội phạm về án tử hình ngày càng tăng mạnh và không có chiều hướng giảm. Trung Quốc vào năm 2007 đã thi hành án tử hình ít nhất 470 tử tội, nhiều hơn bất cứ nước nào khác trên thế giới. Ðó là con số do tổ chức Nhân Quyền Ân Xá Quốc Tế (AI) vừa công bố trong bản báo cáo thường niên về án tử hình. Nằm trong Top 5 nước có số tử tội bị hành quyết trong năm 2007, ngoài Trung Quốc còn có Iran (317), Saudi Arabia(143), Pakistan (135) và Mỹ (42). Chỉ 5 nước này đã chiếm tới 88% tổng số vụ hành quyết tử tội được công bố trên toàn thế giới. Tuy nhiên, Mỹ đã hoãn thi hành án tử hình trên toàn quốc vào năm 1965. Một dẫn chứng nữa cho thấy, không phải cứ có án tử hình thì tội phạm nghiêm trọng giảm, không có án tử hình thì tội phạm nghiêm trọng tăng. Ở Canada, nước bãi bỏ án tử hình từ năm 1976, kể từ đó đến nay, tỷ lệ tội giết người đã giảm 40%.
Ở các nước duy trì án tử hình an ninh có hơn các nước bãi bỏ án tử hình không? Tình hình an ninh ở các nước duy trì án tử hình không tốt hơn các nước bãi bỏ án tử hình, vì việc có an ninh tốt không phụ thuộc vào việc nước đó có án tử hình hay không. Trên thực tế thì các nước bãi bỏ án tử hình có số tội phạm giết người thấp hơn rất nhiều so với các nước duy trì án tử hình. An ninh của một quốc gia phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, mà điều quan trọng chủ yếu chính là việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh. Chính việc thực thi pháp luật không nghiêm minh mới làm cho an ninh xấu đi. Pháp luật không được thực thi nghiêm minh tất yếu sẽ dẫn đến dung dưỡng cho những hành vi sai trái. Thực tế trên thế giới cho thấy, ở đâu pháp luật được thực thi nghiêm minh thì ở đó an ninh ổn định. Các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ và Tây Âu là dẫn chứng điển hình cho trường hợp trên.
Tuyên án tử hình sai thì còn cơ hội để sửa hay không? Khi đã tuyên án tử hình và thi hành án đó thì có giải oan được cho người đã chết thì việc giải oan cũng trở nên vô nghĩa. Vấn đề đặt ra ở đây nếu nhà nước xử tội oan cho người ta, thì trách nhiệm của nhà nước đến đâu? Nhà nước có trở thành phải là tội phạm hay không và bị lên án như thế nào? Câu chuyện đâu chỉ có bồi thường vật chất và xin lỗi công khai. Mà việc xin lỗi công khai phải do người đứng đầu nhà nước xin lỗi chứ không phải là một vị nào đó đại diện cho cơ quan xét xử.
Rõ ràng, nhà nước có đủ khả năng để duy trì sự ổn định của xã hội mà không cần đến án tử hình và hoàn toàn có thể thay thế án tử hình bằng một hình phạt khác có ý nghĩa tương tự. Nhưng Nhà nước đã không làm điều đó. Do đó, nếu nhà nước tuyên nhầm án tử hình thì nhà nước phải bị coi là một tội phạm và phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Còn các cơ quan nhà nước quy trách nhiệm cho ai và quy trách nhiệm đến đâu là công việc nội bộ của chính quyền. Tòa án nhân danh nhà nước xử tử oan người ta nhưng nhà nước không chịu trách nhiệm mà Tòa án lại là người chịu trách nhiệm. Ðiều đó trái với lẽ công bằng.
Từ đây, ta có thể đi đến kết luận rằng, việc tồn tại án tử hình là không hiệu quả. Bãi bỏ án tử hình là một quy luật tất yếu vì án tử hình không đảm bảo được ba tính chất của một quy định pháp lý. Ðó là: tính đúng đắn, tính cần thiết và tính hiệu quả. Việc quy định pháp lý thiếu một trong ba tính chất trên đã phải bãi bỏ hoặc thay thế. Án tử hình trong thời đại ngày nay đều không đáp ứng được bất cứ tính chất nào trong ba tính chất trên, cho nên việc bãi bỏ nó là tất yếu.
Lê Thăng Long Hiện nay có tới 135 nước đã bãi bỏ án tử hình, 62 nước vẫn còn duy trì án tử hình, thường là để trừng trị những kẻ sát nhân. Tuy nhiên, không thể tìm ra bất kỳ tiêu chí nào về địa lý, văn hóa, chính trị, kinh tế, tôn giáo... để phân biệt 135 nước bãi bỏ và 62 nước duy trì án tử hình. Hầu hết các nước đang áp dụng án tử hình đều biện minh là phải áp dụng bản án nặng nề nhất này để bảo đảm an ninh, an toàn cho cộng đồng. Còn các nước không duy trì án tử hình thì lại cho rằng tử hình là vi phạm vào quyền sống của con người.
Nguyên nhân tranh cãi của các nước này xuất phát từ hai tư duy khác nhau về tư pháp hình sự. Các nước duy trì án tử hình thì cho rằng hệ thống tư pháp hình sự là để trừng trị những người phạm tội; trong khi đó, các nước bãi bỏ án tử hình thì cho rằng hệ thống tư pháp hình sự là để bảo vệ quyền con người. Tuy nhiên, dù đứng trên tư duy nào thì án tử hình cũng là một thiết chế pháp lý do cộng đồng đặt ra để bảo vệ tính ổn định của cộng đồng, do đó phải thỏa mãn ba đặc điểm của bất cứ thiết chế pháp lý nào, đó là: tính đúng đắn, tính cần thiết và tính hiệu quả. Sau khi xem xét và phân tích các đặc điểm này, nếu án tử hình hội tụ đầy đủ ba đặc điểm trên thì chúng ta mới có căn cứ để duy trì nó; nếu thiếu bất cứ đặc điểm nào thì chúng ta không thể duy trì nó.
1-Tính đúng đắn
Tử hình là tước bỏ sự sống của một cá nhân. Và chỉ có người nào tạo ra sự sống của cá nhân hoặc duy trì sự sống của cá nhân mới có quyền tước bỏ sự sống đó. Ở đây chúng ta phải giải quyết hai vấn đề: Ai tạo ra sự sống của cá nhân? và ai duy trì sự sống đó? Nếu xã hội là người hoặc là tạo ra sự sống của cá nhân hoặc là duy trì sự sống của cá nhân thì xã hội mới có quyền tước bỏ sự sống đó.
Ai tạo ra sự sống của cá nhân? Ai cũng biết rằng nhờ sự kết hợp ngẫu nhiên giữa tinh trùng trong cơ thể người cha và trứng trong cơ thể người mẹ mà sự sống được ra đời. Và để có được sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng thì người cha và người mẹ cần thực hiện một hành vi gọi là giao hợp. Khoa học đã chứng minh rằng hành vi giao hợp là hành vi mang tính bản năng tự nhiên của loài người. Quá trình hình thành sự sống của cá nhân từ thời điểm giao hợp đến thời điểm cá nhân ra đời hoàn toàn là một quá trình phát triển tự nhiên. Như vậy, chỉ có tự nhiên tạo ra sự sống của cá nhân.
Ai duy trì sự sống của cá nhân? Có ý kiến cho rằng: sau khi cá nhân sinh ra phải được cha mẹ và cộng đồng chăm sóc thì sự sống của cá nhân mới được duy trì. Ðiều này là sai lầm vì hai lý do. Thứ nhất, chính các yếu tố vật chất có nguồn gốc tự nhiên như thức ăn, nước uống, không khí... mới là thứ duy trì sự sống. Thứ hai, hành vi chăm sóc của cha mẹ và cộng đồng đối với cá nhân đơn giản chỉ là lấy những dinh dưỡng có sẵn trong tự nhiên hoặc cải tạo những dinh dưỡng đó để duy trì sự sống cho cá nhân và do đó chỉ là phương tiện để tự nhiên duy trì sự sống cho cá nhân. Việc chăm sóc và quan tâm đến con của cha mẹ là một bản năng tự nhiên của tất cả các loài động vật, kể cả con người nhằm duy trì nguồn gien của loài. Về sự chăm sóc của cộng đồng đối với cá nhân cũng chỉ là một nghĩa vụ theo hợp đồng được ký kết giữa hai bên, theo đó, cộng đồng sẽ chăm sóc và bảo vệ cho cá nhân, đổi lại cá nhân phải đóng góp công sức và tài chính, thậm chí còn phải từ bỏ một số quyền tự do để duy trì sự ổn định của cộng đồng.
Kết luận: Chỉ có tự nhiên tạo ra sự sống và duy trì sự sống của cá nhân nên chỉ có tự nhiên mới có quyền tước bỏ nó. Do đó, trong con mắt của cộng đồng, sự sống của cá nhân phải là tối cao và bất khả xâm phạm. Do đó, sự tồn tại của án tử hình là không đúng đắn.
2-Tính cần thiết
Khi xem xét tính cần thiết, chúng ta phải xem xét ba vấn đề sau:
Hành vi nguy hiểm của cá nhân có thể cải tạo được hay không? Khi một cá nhân sinh ra, cá nhân đó chỉ có các hành vi bản năng tự nhiên không nguy hại. Chỉ khi cá nhân tham gia vào cộng đồng, cá nhân đó mới từng bước hình thành các hành vi có ý thức. Hành vi phạm tội của cá nhân cũng là một trong những hành vi có ý thức. Mà tất cả hành vi có ý thức đều có thể cải tạo được vì hành vi đó chỉ hình thành khi cá nhân tham gia vào một số mối quan hệ trong cộng đồng khi cá nhân sống. Do đó, bất cứ hành vi phạm tội nào của cá nhân cũng đều có thể cải tạo được.
Xã hội có đủ khả năng cách ly những cá nhân nguy hiểm khỏi đời sống của nó hay không? Ngày nay, bất cứ cộng đồng nào trên thế giới cũng có đủ điều kiện và khả năng để cách ly một cá nhân nguy hiểm khỏi đời sống của nó mà vẫn đảm bảo được các quyền con người tối thiểu. Hệ thống pháp lý có đủ khả năng phân biệt rõ hành vi nào là hành vi nguy hiểm. Hệ thống an ninh có đủ khả năng theo dõi và bắt giữ các cá nhân nguy hiểm. Hệ thống trại giam có đủ khả năng kiểm soát các cá nhân nguy hiểm trong một phạm vi địa lý nhỏ để họ không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Các hệ thống này đều tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới.
Có chế tài khác thay thế án tử hình không? Mục đích của án tử hình là loại bỏ hành vi nguy hiểm cho xã hội bằng cách tước bỏ sự sống của chủ thể hành vi nguy hiểm. Tuy nhiên, để loại bỏ hành vi nguy hiểm không nhất thiết phải loại bỏ chủ thể của nó bởi vì hành vi nguy hiểm có thể được loại bỏ bằng nhiều cách khác như thay đổi ý thức của chủ thể, loại bỏ điều kiện thực hiện hành vi nguy hiểm, cách ly hoàn toàn chủ thể nguy hiểm khỏi khỏi cộng đồng. Nếu cộng đồng nhận thấy hành vi nguy hiểm cần phải loại bỏ hoàn toàn khỏi cộng đồng thì có thể cách ly chủ thể nguy hiểm cho đến khi người đó chết. Như vậy, việc thay thế án tử hình bằng một chế tài khác là có thể thực hiện được. Ví dụ nhiều nước ngày nay đã thay thế án tử hình bằng án chung thân không được khoan hồng. Thời phong kiến pháp luật quy định hình phạt lưu đày biệt xứ cũng là một kiểu cách ly hoàn toàn chủ thể nguy hiểm khỏi cộng đồng.
3-Tính hiệu quả
Khi nói đến tính hiệu quả, chúng ta phải trả lời cho các câu hỏi sau:
Có phải người phạm tội sợ án tử hình nên không dám phạm tội hay không? Những tội phạm nghiêm trọng xảy ra ở khắp mọi nơi trên thế giới và không phụ thuộc vào việc quốc gia đó có duy trì án tử hình hay không. Nhiều kẻ tội phạm biết chắc là cái gì sẽ chờ mình nếu bị bắt và kết án, nhưng không vì thế mà chùn tay khi hành động. Ở cả quốc gia duy trì án tử hình, tỷ lệ tội phạm về án tử hình ngày càng tăng mạnh và không có chiều hướng giảm. Trung Quốc vào năm 2007 đã thi hành án tử hình ít nhất 470 tử tội, nhiều hơn bất cứ nước nào khác trên thế giới. Ðó là con số do tổ chức Nhân Quyền Ân Xá Quốc Tế (AI) vừa công bố trong bản báo cáo thường niên về án tử hình. Nằm trong Top 5 nước có số tử tội bị hành quyết trong năm 2007, ngoài Trung Quốc còn có Iran (317), Saudi Arabia(143), Pakistan (135) và Mỹ (42). Chỉ 5 nước này đã chiếm tới 88% tổng số vụ hành quyết tử tội được công bố trên toàn thế giới. Tuy nhiên, Mỹ đã hoãn thi hành án tử hình trên toàn quốc vào năm 1965. Một dẫn chứng nữa cho thấy, không phải cứ có án tử hình thì tội phạm nghiêm trọng giảm, không có án tử hình thì tội phạm nghiêm trọng tăng. Ở Canada, nước bãi bỏ án tử hình từ năm 1976, kể từ đó đến nay, tỷ lệ tội giết người đã giảm 40%.
Ở các nước duy trì án tử hình an ninh có hơn các nước bãi bỏ án tử hình không? Tình hình an ninh ở các nước duy trì án tử hình không tốt hơn các nước bãi bỏ án tử hình, vì việc có an ninh tốt không phụ thuộc vào việc nước đó có án tử hình hay không. Trên thực tế thì các nước bãi bỏ án tử hình có số tội phạm giết người thấp hơn rất nhiều so với các nước duy trì án tử hình. An ninh của một quốc gia phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, mà điều quan trọng chủ yếu chính là việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh. Chính việc thực thi pháp luật không nghiêm minh mới làm cho an ninh xấu đi. Pháp luật không được thực thi nghiêm minh tất yếu sẽ dẫn đến dung dưỡng cho những hành vi sai trái. Thực tế trên thế giới cho thấy, ở đâu pháp luật được thực thi nghiêm minh thì ở đó an ninh ổn định. Các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ và Tây Âu là dẫn chứng điển hình cho trường hợp trên.
Tuyên án tử hình sai thì còn cơ hội để sửa hay không? Khi đã tuyên án tử hình và thi hành án đó thì có giải oan được cho người đã chết thì việc giải oan cũng trở nên vô nghĩa. Vấn đề đặt ra ở đây nếu nhà nước xử tội oan cho người ta, thì trách nhiệm của nhà nước đến đâu? Nhà nước có trở thành phải là tội phạm hay không và bị lên án như thế nào? Câu chuyện đâu chỉ có bồi thường vật chất và xin lỗi công khai. Mà việc xin lỗi công khai phải do người đứng đầu nhà nước xin lỗi chứ không phải là một vị nào đó đại diện cho cơ quan xét xử.
Rõ ràng, nhà nước có đủ khả năng để duy trì sự ổn định của xã hội mà không cần đến án tử hình và hoàn toàn có thể thay thế án tử hình bằng một hình phạt khác có ý nghĩa tương tự. Nhưng Nhà nước đã không làm điều đó. Do đó, nếu nhà nước tuyên nhầm án tử hình thì nhà nước phải bị coi là một tội phạm và phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Còn các cơ quan nhà nước quy trách nhiệm cho ai và quy trách nhiệm đến đâu là công việc nội bộ của chính quyền. Tòa án nhân danh nhà nước xử tử oan người ta nhưng nhà nước không chịu trách nhiệm mà Tòa án lại là người chịu trách nhiệm. Ðiều đó trái với lẽ công bằng.
Từ đây, ta có thể đi đến kết luận rằng, việc tồn tại án tử hình là không hiệu quả. Bãi bỏ án tử hình là một quy luật tất yếu vì án tử hình không đảm bảo được ba tính chất của một quy định pháp lý. Ðó là: tính đúng đắn, tính cần thiết và tính hiệu quả. Việc quy định pháp lý thiếu một trong ba tính chất trên đã phải bãi bỏ hoặc thay thế. Án tử hình trong thời đại ngày nay đều không đáp ứng được bất cứ tính chất nào trong ba tính chất trên, cho nên việc bãi bỏ nó là tất yếu.

