Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

"Ý thức nữ quyền trong tác phẩm của các nhà văn nữ
từ 1954 đến 1975".



Trịnh Thanh Thủy


Image
Trịnh Thanh Thuỷ
Bài nói chuyện trong buổi “Hội Thảo 20 năm văn học Miền Nam Việt Nam”

Gần đây, có lẽ nhiều người trong chúng ta từng nghe nói đến giải Nobel Hoà Bình năm nay được trao cho hai người, một Ấn Độ và một Pakistan. Họ đều là các nhà hoạt động vì quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.

Người thứ nhất, Ông Kailash Satyarthi là một kỹ sư điện Ấn Độ, 60 tuổi, từng đấu tranh hỗ trợ cho các trẻ em và phụ nữ, những người làm việc tại các nhà máy Ấn Độ như những kẻ nô lê. Họ bị bóc lột sức lao động và là nạn nhân của bạo lực cũng như tấn công tình dục.

Người thứ hai, Malala Yousafzai là một cô gái người Pakistan, 17 tuổi, người trẻ nhất của lịch sử giải Nobel trong hơn một trăm năm vừa qua. Năm 16 tuổi, cô bị một nhóm người Taliban nả súng vào đầu cũng chỉ vì cô đấu tranh cho 31 triệu bé gái trên thế giới được đi học. Họ tưởng đã làm cô bặt tiếng nhưng họ đã lầm. Cô vẫn sống như một phép lạ. Và từ sự im lặng đó hàng nghìn tiếng nói khác đã cất lên, những sức sống mãnh liệt đầy dũng cảm được ra đời.

Tôi tự hỏi, động cơ nào đã khiến một cô bé gái từ năm 11 tuổi đã tranh đấu cho nữ quyền, đã không sợ bất cứ quyền lực nào, cái chết và sự trả thù. Tại vì người Taliban đã cấm không cho người nữ được cắp sách đến trường. Họ muốn bịt mắt, bịt miệng, che tai, mù loà đầu óc phụ nữ ngay khi họ còn là đứa bé. Chỉ khi bị bịt miệng người ta mới biết mình cần được nói. Bị bịt mắt người ta mới thấy ánh sáng là cần thiết. Bị mù loà tâm trí người ta mới cần cắp sách đến trường để khai thông trí tuệ, học hỏi điều hay lẽ phải. Sức mạnh của giáo dục rất cần thiết cho mọi con người.

Quý vị có bao giờ đặt câu hỏi tại sao Kailash là một người nam, lại đứng ra tranh đấu cho phụ nữ và trẻ em?. Tại họ bị bóc lột sức lao động, bị hãm hiếp không thương tiếc trong khi chính quyền đang tâm làm ngơ và coi thường rẻ rúng người phụ nữ. Phụ nữ là ai, họ là em, là chị, là mẹ, là bà của chúng ta, họ cũng là những bè bạn, người thân ruột thịt chúng ta hằng yêu mến. Tranh đấu và bênh vực cho họ chính là tranh đấu cho nhân quyền, tranh đấu cho quyền làm người của họ và cũng là tranh đấu cho chính chúng ta.

Qua câu chuyện trên chúng ta nhận ra được, ngày nay, ảnh hưởng của ý thức nữ quyền rất sâu rộng. Ở mọi lãnh vực, giới tính, mọi lứa tuổi, màu da, cũng như đẳng cấp xã hội.

Bây giờ, ngược dòng lịch sử, chúng ta thử nhìn xem ý thức nữ quyền ảnh hưởng trong tác phẩm của các nhà văn nữ từ 1954 đến 1975 ở Miền Nam VN như thế nào.

Nhắc đến các nhà văn nữ ở thời điểm đó, cá nhân tôi không khỏi tự hào về họ. Những người nữ đã bắt đầu biết sử dụng ngòi viết của mình để bày tỏ lập trường cá nhân. Họ viết và tư duy như một phụ nữ. Ý thức nữ quyền khiến họ nói lên được những quan điểm riêng, và xác định được vị thế cũng như cung cách sống của mình trong xã hội. Họ bắt đầu nhận thức về vai trò, giới tính cùng những khái niệm nhân bản của mình. Họ viết để giải toả sự lạc lõng và cô đơn. Họ tìm sự cảm thông và chia sẻ nơi độc giả. Họ vươn cao, tìm kiếm tự do, cố gắng thoát khỏi sự bao vây nhận chìm của cấu trúc quyền lực truyền thống có tính cách bộ tộc, và cả văn hoá Khổng-Nho.

Họ, không ít thì nhiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh. Đó là một quan niệm nghệ thuật về con người là sinh vật cô đơn trong một thế giới phi lý. Nhà văn Nguyễn thị Hoàng là một thí dụ điển hình. Những nhân vật nữ trong tác phẩm của bà lúc nào cũng ở trong một tình trạng mất định hướng và bối rối khi đứng trước một thế giới hình như là vô nghĩa. Họ lang thang bất định, xa rời với phận sự gia đình, luôn khao khát đi tìm một đời sống thật của mình, nghĩa là tìm kiếm chính mình. Những nhân vật như thế đều được tìm thấy trong các tác phẩm “Tuổi Sài Gòn, Vực Nước Mắt, Tiếng Chuông gọi người tình trở về”.

Vốn dĩ phải chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống, các nhà văn nữ đề cao quan niệm tự do luyến ái. Họ thừa hưởng ý thức nữ quyền do ảnh hưởng Simone de Beauvoir. Họ mon men đi vào những đề tài cấm kỵ như tình dục. Có người còn nổi loạn bằng cách đề cao tính dục, thân xác, vẻ đẹp của phụ nữ và coi trọng tự do cá nhân, cuộc sống riêng tư. Tác phẩm “Vòng tay học trò” của Nguyễn Thị Hoàng ra đời như một cuộc nổi loạn, đạp đổ hàng rào luân lý, đạo đức truyền thống. Câu chuyện xoay quanh những suy tư dằng xé giữa tình yêu, tình dục và đạo đức của một cô giáo và anh học trò. Tác phẩm trở thành một trong những tác phẩm gây tranh cãi nhất thời ấy.

Vào thập niên 54 tới 75, quyền làm người của phụ nữ vẫn chưa được đánh giá đúng đắn. Trong nhiều quốc gia và xã hội họ vẫn còn được xem như các tài vật được buôn bán và trao đổi. Riêng ở Việt Nam có những người còn bị ngược đãi, bạo hành, cưỡng dâm, vùi dập và chịu mọi phục tùng trước sức mạnh của quyền lực. Quan niêm phụ nữ là một vật dục để thoả mãn nhục dục vẫn được lưu giữ trong đầu óc một số người thời đó. Trong truyện ngắn “Bí mật của rừng già” của Trùng Dương viết năm 1971, bà đã mô tả một nhân vật nam có tiền bạc quyền lực thích chiếm đoạt và làm tình với gái trinh, chỉ một lần rồi bỏ đi và tìm cô gái khác. Ông ta thú nhận cái cảm giác thích thú khi nhìn những giọt máu rỉ ra từ các màng trinh bị rách của các cô gái đáng thương. Sau đó ông ta đã cưỡng dâm một nữ tu từ ái trong một lần cô ta quá giang xe tới Đà Lạt. Số phận hèn mọn của người nữ tu kết thúc bằng một cái chết và đứa con gái gù lưng.

Câu chuyện kể trên, có thể có thật hay đã được Trùng Dương dựng nên từ hư cấu. Tuy nhiên nó là một thí dụ điển hình của những chuyện tương tự như thế ở xã hội VN thời bấy giờ. Nó xảy ra công khai hay được che chắn bằng tiền bạc hoặc những thế lực quyền cao chức trọng.

Thân phận nhỏ bé và mềm yếu của người phụ nữ càng hiển lộ khi họ rơi vào cuộc chiến. Vậy mà sau cuộc chiến họ là người có công trong việc tái lập trật tự gia đình, xã hội. Bàn tay của họ dịu dàng, nhẫn nhục, xoa dịu và chữa lành những vết thương ghẻ lở tàn dư của cuộc chiến. Người phụ nữ viết không phải để kể công trạng của họ thời hậu chiến, mà họ viết để kể lể sự bất hạnh, để tìm sự cảm thông, để bày ra ánh sáng những giọt nước mắt âm thầm đã nhỏ trong góc tối, của một kiếp đàn bà chịu đoạ đày. Họ viết bằng mực máu nhỏ từ tim.

Dưới ngòi viết của Nhã Ca, chiến tranh là những kinh hoàng, khốn khổ, lửa đỏ, nước mắt ngược xuôi. Cuốn, Giải khăn sô cho Huế của bà đã ghi được cơn hấp hối của Huế trong trận thảm sát Mậu Thân với hàng chục ngàn hài cốt dân Huế dưới những mồ chôn tập thể. Đâu cũng có nét hoảng hốt, chỗ nào cũng là người chết, kẻ bị thương. Tiếng vật vã, mẹ khóc con, vợ khóc chồng thê thiết, bi ai trong tiếng đạn phá, đại bác réo tơi bời. Có thể nói khi viết về chiến tranh, ngòi viết nữ bỗng chảy thành thể lỏng rấm rứt, thê lương. Đặc biệt hơn, dưới vai trò nạn nhân, bản năng người mẹ của phụ nữ trỗi dậy, họ như gà mẹ xù lông đối đầu với nanh vuốt diều hâu. Họ sẵn sàng hy sinh, dìu dắt và liều chết để bảo vệ con trẻ trước sự bạo hành của bất cứ bàn tay hung ác, quyền lực nào.

Có một số người viết nữ có khuynh hướng bung thoát khỏi tầm ngắm. Họ muốn bứt phá bức tường thành kiến xã hội, tả và viết về tình dục như một biểu trưng của nữ quyền. Trùng Dương đã tỏ rõ thái độ nữ quyền của mình trong tác phẩm “Miền chân trời”. Bà đã cho Diệu, nhân vật nữ của mình hành động, tư duy như một người nữ và cái tôi của người phụ nữ trong tình dục được thể hiện qua hành động “đòi nằm trên” trong cuộc chăn gối.

Túy Hồng với lối tả chân các cảm nhận đích thực, bà đã soi rọi những bí mật chìm sâu trong thế giới nhạy cảm của người nữ. Ngòi bút của bà đã đi những bước dài trong hành trình đi vào địa ngục hay thiên đường xứ “sex”. Những cuồng nộ và khoái cảm được tả tỉ mỉ trong một cảnh quan ân ái trong tác phẩm “Những sợi sắc không” tỏ lộ được nét nữ tính đặc biệt của người nữ trong lối viết về sex. Chúng ta sẽ không thể tìm được những điều này trong các tác phẩm của những nhà văn nữ sống tại miền Bắc trong thời điểm 54-75.

Lệ Hằng lãng mạn hơn, thần thánh hoá vũ trụ đàn ông bằng những cháy bỏng, khát khao, lúc nào cũng sẵn sàng chảy sáp trong tình dục cũng như tình yêu. Sự trữ tình và nồng nàn trong văn phong của bà khi nhắc tới dục tính khiến người đọc nghĩ tới những nhân vật nữ bị ẩn ức tình dục lâu ngày dồn nén, chỉ chực nổ bung khi có dịp.Tác phẩm “chết cho tình yêu” của bà đã tỏ lộ điều này.

Nguyễn Thị Thụy Vũ, đào sâu hơn vào những phân chia đẳng cấp, những áp bức bất công và số phận bi thương của phụ nữ trong xã hội bùn lầy nước đọng. Bà nói lên tâm sự cô đơn của các cô gái già. Bà viết về xã hội các cô gái buôn hương bán phấn, sinh hoạt của các gia đình với nhiều biến cố có liên quan đến thời cuộc và khúc quanh của lịch sử.Những tác phẩm “Khung rêu, Mèo đêm, Lao vào lửa” là những ray rứt, thèm khát yêu thương, tình dục được tâm sự, kể lể bằng ngòi viết nữ mà không người viết nam nào có thể có được.

Sự có mặt của các nhà văn nữ miền Nam VN từ thập niên 54 tới 75 tựa như sự hiện diện của những bông hoa rực rỡ, toả ra một mùi hương rất nữ tính, trong khu vườn văn học. Ý thức nữ quyền khi tiềm tàng, lúc sáng chói đã khiến người phụ nữ phải cầm viết. Chính vì văn chương cũng là một vũ khí quan trọng trong công cuộc giải phóng chính mình và giải phóng cho nữ giới nói chung.

Trịnh Thanh Thủy

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »


DIỄN BIẾN TRONG ĐẠI HỘI
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI KỲ 10

Đại Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại lần này diễn ra vào các ngày mùng 5, 6, 7 tháng 12/2014. Đăc biệt vào thứ bảy 6/12 là ngày bầu cử chức vụ chủ tịch VBVNHN sau mỗi nhiệm kỳ ba năm. Lần này có liên danh Dấn Thân do văn hữu Yên Sơn thụ ủy và liên danh Khôi Phục do VH Vũ V Tùng là chủ tịch Ban Chấp Hành VBVNHN đương nhiệm, tái tranh cử.

Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại là diễn đàn của Việt Nam Cộng Hòa duy nhất được quốc tế công nhận sau ngày cộng sản hoàn toàn chiếm được miền Nam. Năm 1978, VBVNHN do các Thi Sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Trần Thanh Hiệp và Nguyên Sa thành lập tại Pháp. Đại hội lần thứ 43 (tháng 5/1978) tại Thụy Điển VBVNHN được hoạt động. Và Đại hội PEN lần thứ 44 tại Brazil đã công nhận Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại là thành viên chính thức của PEN INTERNATIONAL. Qua bao thăng trầm dâu bể, vưu vật quí giá duy nhất còn lại của Việt Nam Cộng Hòa được cẩn trọng giữ gìn, dù đã có đôi phen sóng gió bão giông gần như chìm đắm, nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh cùng phu quân phải chật vật khó khăn lắm mới xin phục hồi được tiếng nói người VN trên diễn đàn quốc tế đến hiện nay.

Với tư cách đại biểu vùng Nam Hoa Kỳ tôi hân hoan đến dự đại hội VBVNHN kỳ 10. Đại Hội diễn ra trong gian phòng nhỏ mượn được ở Ni sư Thiền Viện Sùng Nghiêm…Ngoài một cái bàn vòng cung trên sân khấu dành cho chủ tọa đoàn và góc đứng của người điều hợp chương trình, thì ở dưới chỉ có hai dãy bàn dọc, một dãy bàn ngang dành cho đại biểu các vùng với khoảng vài chục ghế, khiến tôi có cảm giác hụt hẫng!…Một đại hội có tầm vóc quan trọng diễn ra với khoảng không gian thu hẹp vậy sao??? Và đặc biệt, ban tổ chức còn lo xa “thủ” hai security đứng ngoài canh gác. Thật ngạc nhiên! Đây là đại hội văn học, các vị văn nhân thi sĩ phần đông đều đã cao niên, chân yếu tay mềm, chỉ biết cầm bút để viết chứ đâu biết cầm kiếm đánh nhau. Đây cũng không phải võ trường hay quán Bar, là những nơi dân giang hồ tứ chiếng qui tụ mà phải dùng đến biện pháp mạnh? Dùng security để xông vào áp giải những người ban tổ chức …không ưa ra chăng? Chỉ việc này cũng đủ làm mất thiện cảm với hội viên ngay phút đầu và chứng minh cách ứng xử phản văn hóa của ban tổ chức!

Chủ tịch đương kim cũng là thụ ủy L/D tái tranh cử Vũ V Tùng tuổi cao niên, với dáng người gầy gò khắc khổ. Cung cách ông nhìn giống một vị gia trưởng phong kiến, hoặc một thương lái kinh doanh hơn là cốt cách tao nhã một văn nhân. Ông chắp tay vái chào VH nữ và bắt tay VH nam với vẻ trân trọng hiếu khách.

Tưởng cũng nên nhắc lại một chút. Trước kỳ đại hội lần này vài tháng trên diễn đàn VB đã xảy ra lắm diều thị phi tai tiếng, gặp nhiều bất mãn chống đối của VH khắp nơi về cách chủ tịch VVT lạm dụng quyền hành, bao che gian lận, giúp cho liên danh “phe ta” của nhà văn Nguyễn T Mắt Nâu thắng cử vào chức vụ chủ tịch Ban Đại Diện vùng TNHK, (trong đó có phu nhân chủ tịch là bà Vũ Tuyết Yên UCV thủ quỹ) và sự tiếp tay của trưởng ban bầu cử Trần Đức Hân khi chấp nhận cho 17 hội viên mới toanh, mới được “thu gom” vội để bầu bán, việc này là bước đầu hợp thức hóa tư cách hội viên cho những người này để tham dự kỳ bầu cử chủ tịch VBVNHN hôm nay. Cũng thời gian này ông Tùng bổ nhiệm Lão Móc Nguyễn T Nhẫn làm Xỷ Lý Thường Vụ Chủ tịch UBDC. Việc lạm quyền bổ nhiệm là đạp lên Nội Quy Chương 4.g, do chính BCH của ông Vũ Văn Tùng làm Chủ tọa, tu chính trong Đại Hội Đồng Kỳ IX. Trong thông báo 179, ông Tùng với lời lẽ đe dọa … ai không tuân phục sự bổ nhiệm sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nếu có pháp luật can thiệp vào chuyện này thì chính ông chủ tịch mới là người bị xử trước nhất vì làm sai nguyên tắc!

Sở dĩ ông “lão” NTN bị nhiều vh phản đối vì “lão” này có bản chất hèn. Trong thời gian ở tù cộng sản “lão” làm thơ khóc lóc và ca tụng Hồ Chí Minh hệt văn nô cộng sản Tố Hữu khóc Stalin, để được “nhà nước khoan hồng” cho về “đoàn tụ gia đình” sớm. Hai bài thơ khóc và ca đó được NTN in trong sách, xuất bản năm 2007 và trân tráo đem khoe khắp nơi. Bấy nhiêu đó đủ để “lão” không có tư cách đứng trong hàng ngũ người cầm bút với tinh thần Quốc Gia chống cộng, chưa nói đến chức vụ quan trọng trong VB như chủ tịch BDD vùng TBHK, XLTV Ủy Ban Định Chế. Nhưng “lão” lại được luật sư Dương T Lợi binh vực là …Cái hèn trong hoàn cảnh tù tội thì dễ hiểu …

Và cũng thời điểm gay go này, ông VVT loại bỏ hẳn quyền đại biểu của hai vùng, TNHK và Canada, không thông qua ĐHĐ theo đúng Điều Lệ Nội Quy VB, nhằm triệt tiêu những lá phiếu ông biết chắc chắn mang lại thiệt hại cho L/D Khôi Phục.

Ông CT Vũ V Tùng tiếp tục sai trái bằng thông báo 179 ngày 2/12/2014 khai trừ vh Nguyễn Hữu Nghĩa Vùng Canada. Văn hữu Nguyễn H Nghĩa là người bị ông Vũ V Tùng “chiếu cố” nhiều nhất và cho đăng trên diễn đàn VB những bài lăng mạ phỉ báng, làm hại thanh danh VH Nguyễn Hữu Nghĩa và gia đình gồm cả vợ con lẫn cha mẹ đã quá vãng. Sở dĩ ông Tùng hành xử như vậy vì vh Nguyễn H Nghĩa lên tiếng mạnh mẽ vấn đề ông Vũ Văn Tùng lơ là trách nhiệm trong việc theo dõi tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, không lên tiếng hay nộp quyết nghị trên Nghị Hội VBQT tranh đấu cho các nhà văn bị cầm tù tại Việt Nam vào cuộc họp VBQT tại Bishkek vào cuối tháng 9 năm 2014 vừa qua. Và vh Nguyễn H Nghĩa cũng phản đối quyết liệt những sai phạm trầm trọng của ông VVT thời gian gần ngày bầu cử.

VH Nguyễn Hữu Nghĩa hiện là Thủ quỹ của VB Vùng Canada. VH cũng từng là chủ tịch vùng, là cố vấn qua nhiều nhiệm kỳ của VBVNHN. VH là một trong những hội viên năng động, thông suốt và luôn hỗ trợ những dự án và sinh hoạt của VBVNHN. Chính VH là người giúp Dr. Carlbom TTK VBQT trong nhiều công tác để phục hồi VBVNHN vào năm 2001.

Ngoài chuyện trù dập những tiếng nói góp ý xây dựng và phản đối, ông VVT còn làm ngơ (hay lịnh) cho trưởng ban tổ chức bầu cử Trần Đ Hân gởi phiếu bầu sai qui định? Theo luật, ông TĐH phải gởi phiếu bầu cho tất cả vh bằng vi thư, trừ trường hợp vh nào không xử dụng máy vi tính mới bất đắc dĩ gởi qua bưu điện, nhưng có 23 vh bị …quên dù có người lên tiếng bốn năm lần là không hề nhận được phiếu bầu qua bưu điện và không được hồi đáp. Điều này được ông TĐH phân bua rằng ông gởi qua bưu điện nhưng chắc bị thất lạc hoặc các vh đó có nhận nhưng … xé bỏ, làm mất hoặc không thèm bầu …vv…và ông không chịu trách nhiệm. Đặc biệt là sự ngẫu nhiên (?) tất cả những vh không nhận được phiếu bầu toàn là những người có tiếng nói đối kháng, điều này khiến thiên hạ vô cùng thắc mắc, đặt dấu hỏi to tướng!

Chính vì sự triệt tiêu đại biểu ba vùng của chủ tịch VVT khiến nhiều hội viên bất mãn không đến dự, chẳng trách một kỳ Đại Hội mang tính quan trọng như vậy diễn ra trong quang cảnh lèo tèo của phiên chợ chiều, nhưng “hứa hẹn” nhiều gay go giông bão.

Khai mạc Đại Hội, sau phần chào Quốc Kỳ Việt Mỹ, phút tưởng niệm, đại biểu được MC mời an tọa. Văn hữu MC là ông Nguyễn Hữu Của cựu chủ tịch vùng TNHK, ông cũng không tránh khỏi tai tiếng thị phi trong việc “ đóng góp” gian lận kỳ bầu cử vùng TNHK vừa qua, nên có nhiều tiếng xầm xì không hài lòng của nhiều hội viên dự thính.

Đại biểu vùng đưa ra những vấn đề gút mắc quan trọng cần giải quyết trước khi kiểm phiếu như, những hội viên không có phiếu bầu thì nay giải quyết thế nào, yêu cầu chủ tịch giải thích rõ việc hai vùng bị loại trước ngày bầu cử với lý do mù mờ khuất tất, hoàn toàn sai trái…vv…Nhưng tất cả đều không được BCH và BBC của ông VVT giải đáp thỏa đáng. Vì vậy ngay từ phút đầu đại hội không được thuận buồm xuôi gió với những bảng phản đối (Objection) liên tiếp giơ cao.

Đến phần chọn chủ tọa đoàn. Nhà văn Vinh Hồ, chủ tịch vùng ĐNHK vội vã đề cử vh luật sư Dương Thành Lợi, vh Lợi hấp tấp tiến lên ngồi bàn chủ tọa, lập tức nhiều tiếng phản đối vang dội, bởi chủ tọa đoàn phải là Đại Biểu. Dương T Lợi mới gia nhập VB chưa đủ tiêu chuẩn, lại được ô Vũ V Tùng bổ nhiệm vào ban cố vấn là người thứ 6, sáu tuần trước ngày bầu cử trong khi điều lệ nội qui chỉ được 5 cố vấn trong một BCH mà thôi, đến giờ chót Nguyễn Thiếu Nhẫn từ chức cố vấn để hợp thức hóa cho Dương Thành Lợi. Sở dĩ được chiếu cố đặc biệt là do Dương T Lợi có những vi thư tích cực binh vực ô VVT khi ông bị rất nhiều hội viên phản đối hành vi lạm quyền sai luật trắng trợn trước ngày bầu cử. Nhiều hội viên thắc mắc hỏi nhau, ông Tùng cần nhiều cố vấn như vậy làm gì? Nhất là “cố vấn” ngoài số lượng nội qui cho phép. Hay là, ông Tùng có thói quen mỗi lần ra thông báo đều thoòng một câu cuối… ai không tuân phục sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật…Thế nên ông cần một luật sư “cố vấn” là nhu cầu thiết yếu, để sẵn sàng bỏ tù những vh không tuân phục chăng? Đây là một sự sắp xếp dày công phu mà lộ liễu của BCH đương nhiệm.

Nhiều người quyết liệt phản đối, chất vấn tư cách đại biểu của DTL bởi vh này không có bảng tên. Khi bị chất vấn, DTL nói để quên bảng tên ngoài xe nhưng đi một lúc về cũng không trưng ra được, chuyện này có lẽ BTC cho là nhỏ nên để sơ sót trong chuỗi lập trình dày công sức. Dương T Lợi thấy không ổn bèn ra vẻ tự trọng từ chối đề cử, đi xuống. Tiếp theo, cũng một vh “phe ta” đề cử vh Huỳnh Kim lên ban chủ tọa, nhiều hội viên lại phản đối. Văn hữu Huỳnh Kim trong ban cố vấn của chủ tịch VVT bị nhà văn hội viên Phạm Trần Anh tố cáo ông này đã từng nhân danh hội trưởng Giáo Hội Hòa Hảo truyền thống, viết bài phủ nhận tư cách ban kiểm sát nhân quyền do giáo hội HH cử sang dự hội nghị nhân quyền tại Geneve, ông cố vấn này còn xác nhận việt cộng đã ngưng đàn áp giáo hội HH tới 95% (???). Khi làm việc này Huỳnh Kim đã tạo được thành tích to lớn đối với nhà cầm quyền trong nước, là “giúp đỡ” cộng sản điều họ không dám làm, không dám nói. Một hành động được cho là phá nát giáo hội HH, (giặc ẩn từ trong nhà). Văn hữu Trần Thy Vân, một thương binh của QLVNCH đến dự trên chiếc xe lăn, khẳng định Huỳnh Kim không có tư cách nhà văn, nhất là tư cách hội viên VB.

Thấy tình hình bất lợi, chủ tịch VVT yêu cầu những hội viên không phải là đại biểu ra khỏi phòng họp, ông còn đích thân đến “mời” từng người. Vh Huỳnh Kim lớn tiếng “góp ý” …ai không ra gọi security làm việc… thế là xảy ra cảnh giằng co lộn xộn. Vh Trần Thy Vân được “ân cần” mời lăn xe ra ngoài trước nhất…Văn hữu Trần T Vân đã để lại một phần thân thể trên chiến trường miền Trung khốc liệt năm xưa, tuy thể lực yếu ớt nhưng tiếng nói phản đối của ông rắn rỏi mạnh mẽ. Ông chính là hội viên vùng TNHK. Cũng vì ở trong “chăn” biết rõ “chăn” quá nhiều “rận” nên ông phản đối nhiều nhất và bị loại khỏi “phe ta”, lăn xe sang “phe địch”. Nhiều hội viên ca thán…Các anh điều hành Đại Hội theo kiểu cộng sản. Áp bức. Bất công!

Các hội viên dự thính bị xô đuổi ra ngoài, tâm hồn cảm thấy tổn thương trầm trọng!

Một lần nữa vh Vinh Hồ lại “tranh thủ” tình hình lộn xộn đề cử Dương T Lợi làm chủ tọa đoàn. DTL không khách sáo nữa vội vã tiến lên, có thêm vh Đăng Nguyên và “lão móc” Nguyễn T Nhẫn, vậy là chủ tọa đoàn gồm toàn người ủng hộ VVT, coi như “phe ta” một mình một cõi chiếm “chính quyền”. Và DTL cầm mic điều khiển cuộc họp như một điều đương nhiên không cần chỉ định. Hai “bố già” Đăng Nguyên và Lão Móc bình tâm ngồi rung đùi ghi chép, không phải lo lắng gì nữa, bởi đã có luật sư tài giỏi đối phó với đám người “nhiều chuyện”. Cử tọa ngoài “phe” ngán ngẩm buông xuôi, có phản đối cũng vô ích vì chủ tọa đoàn cũng như BCH sẵn sàng dập tắt hoặc làm lơ mọi ý kiến!... Chẳng hạn vh Ninh Thuận khiếu tố vh thủ quỹ BCH đương nhiệm Vũ Thùy Nhân, đã dùng “dzăng chương” chợ cá phỉ báng lăng mạ đời tư Ninh Thuận và được chính ông Vũ V Tùng phát tán lên mạng nhằm “dằn mặt” kẻ “địch”. Và “bài văn” nhục mạ người vô văn hóa này bị cộng đồng hội viên nữ lên án với bản thỉnh nguyện nhiều chữ ký, đòi loại trừ tác giả “nhà dzăng” ra khỏi diễn đàn VB thì ông VVT chỉ nhẹ nhàng phán một câu, đại khái thế này…Ối, lúc giận thì nói vậy, có gì đâu. Ông coi danh dự hôi viên ngoài “phe” nhẹ như danh dự của ông!

Văn hữu Hoàng Xuyên Anh vùng TBHK khiếu tố một bài viết có tính báng bổ bôi nhọ tôn giáo, cũng do VTN phát tán. Văn hữu HXA là người bị nhiều thương tật, đi đứng khó khăn do một lần tai nạn, chị luôn phải có con gái đi theo dìu đỡ, chị lặn lội từ San Jose đến nam Cali với hy vọng đi tận nơi khiếu tố sẽ được lắng nghe chứ không “chìm xuồng” như những vi thư gởi qua máy, nhưng cuối cùng chị thất vọng!...

Văn hữu Yên Sơn, thụ ủy L/D Dấn Thân yêu cầu BBC giải thích lý do 23 văn hữu không có phiếu bầu. Dương T Lợi lập luận giống hệt trưởng ban bầu cử TĐH (như một bản coppy) là phiếu bầu có thể thất lạc, xé bỏ, không bầu…Mặc nhiên không truy cứu việc TĐH cẩu thả với trách nhiệm quan trọng, khiến nhiều hội viên có suy nghĩ, đây là một chuỗi lập trình kết hợp chặt chẽ từ trên xuống dưới!!!... Cuối cùng để giảm bớt độ “hot” lên tới đỉnh điểm trong hội trường, DTL “cho phép” 5 hội viên không có phiếu hôm nay có mặt được bầu tại chỗ. Còn 18 hôi viên vắng mặt mất quyền cử tri, có buồn thì…ráng chịu!

Trong những cuộc tranh luận trước khi kiểm phiếu, “phe ta” toàn thắng. Bởi ai có thể đối đáp lại miệng lưỡi luật sư trong chủ tọa đoàn??? Luật sư có thể cãi đen thành trắng. Cãi cho người trọng tội rành rành trở nên trắng án. Trong Đại Hội này DTL thể hiện rõ khí chất “thầy cãi” kiêm quan tòa khi không cho đối phương giải thích lý do việc làm, chỉ được trả lời câu hỏi do DTL đưa ra bằng một từ Có hoặc Không, hệt một phiên tòa! Và không biết do vô tình hay có dụng ý, BTC đặt cái bàn chủ tọa đoàn hình vòng cung, “vành móng ngựa” quay về phía cử tọa. Dương T Lợi hoàn thành xuất sắc trong vai trò được giao trong kỳ ĐH này, thật chẳng phụ lòng ông VVT tín nhiệm.

Đã đến giờ phút hồi hộp quan trọng nhất trong ĐH kỳ 10 là kiểm phiếu. Chủ tọa đoàn mời bốn người thụ ủy trong hai L/D lên bàn, cùng chủ tọa đoàn và ông trưởng BBC kiểm phiếu. Văn hữu trưởng BBC Trần Đ Hân bước ra với một bịch ny lông phiếu trên tay, đổ ra bàn. Cầm được chiếc mic ông Hân “tranh thủ” gởi vài câu “khách sáo” đến những người dám nói ông gian lận và yêu cầu mọi người nhìn xem những bao thơ có bị xé ra dán lại hay không. Văn hữu Yên Sơn nói…cái việc mở ra dán vào không khó, nên là chuyện nhỏ, còn chuyện số phiếu đến tay BBC có bị vứt bớt đi hay không, khi nhìn thấy tên hội viên trên bao thơ, mới là chuyện lớn…

Tuy vậy Dương T Lợi cũng nhân danh chủ tọa đoàn xác nhận “phiếu chưa bóc ra”, nhưng trưởng BBC Trần Đ Hân vẫn còn ấm ức lắm, lắp bắp đòi kiểm lại dấu dán trên phong bì, DTL vỗ về lập lại xác nhận ông mới thôi. Chợt ông đứng lên đi về phía sau nhặt cái bao ny long trở ra. Mọi người nôn nóng, người này lao xao gọi người kia lấy kéo cắt bao thơ để kiểm phiếu, một ông security nhanh nhẹn cầm kéo lại, ông Hân xua tay buông một tiếng “không” dứt khoát… Một ông trên bàn kiểm phiếu giơ cao bì thơ đọc to L/D Khôi Phục, ông Hân giật lại. DTL định gom bao phiếu vào cái giỏ vuông để sẵn trên bàn vì sợ rơi rớt mất phiếu, ông cũng ngăn, rồi khua tay nói …nếu không còn ai nghi ngờ phiếu mất “gin” nữa thì để tôi làm việc…

Ông trưởng BBC gom hết phiếu vào bao ny long cột chặt lại. Rồi trước sự ngỡ ngàng của mọi người, ông ung dung lên chiếc bàn nhỏ đặt góc trong sân khấu, ngồi mở một tờ giấy ra đọc …Bài “diễn văn” của ông TĐH đại khái thế này, ông loại bỏ L/D Dấn Thân ra khỏi “cuộc chơi” vì L/D này vi phạm luật tranh cử, vậy thì đương nhiên L/D Khôi Phục của ông chủ tich Vũ V Tùng thắng cử. Ông Trần Đ Hân viện lẽ vh Yên Sơn đã gởi email yêu cầu những ai bầu cho L/D Dấn Thân thì gởi cho vh YS bản coppy để khi cần thì đối chứng, như vậy là YS đã vi phạm điều nào (không thấy nói là luật nào, chương mấy, mục mấy. Và như thế bị buộc là đã đe dọa, trấn áp, để ép cử tri bỏ phiếu cho L/D mình (?)).Thế nên phạm luật và bị loại bỏ…

Văn hữu Yên Sơn và văn hữu Trần Long tiến lên giải trình nhưng không có kết quả. Chả là vh Yên Sơn biết chắc cuộc bầu cử sẽ có nhiều gian lận như kỳ bầu ba năm trước, kỳ này còn cao siêu hơn nhiều vì BTC có nhiều “kinh nghiệm” hơn. Văn hữu Yên Sơn từng góp ý trên điễn đàn những phương thức minh bạch cho cuộc bầu cử nhưng không hề nhận được bất cứ hồi đáp nào, nên lo xa cầm danh sách hội viên tình nguyện bỏ phiếu cho L/D mình, với ý nghĩ sẽ đối chứng coi những lá phiếu này có tồn tại trên bàn kiểm phiếu hay không, hay đã vô thùng rác rồi? Đâu ngờ bị đối phương dùng chiêu này xô vào thế việt vị!

Trong khi số đông hội viên bàng hoàng ngơ ngác thì ông chủ tịch VVT và BCH vùng TNHK cố dấu vẻ vui mừng hài lòng với chiêu thức quá ngoạn mục, đầy “trí tuệ” của phe ta. Ông VVT xăng xái tiến lên chỗ ông TĐH ngồi lấy những tờ giấy in nhiều bản bài “diễn văn” đó đem đi phân phát cho mọi người, coi đó là bằng chứng thuyết phục khỏi cần kiểm phiếu cũng tự thắng…Không thể diễn tả được không khí hội trường lúc này! Người thì ngồi lặng tái tê như bị điểm trúng huyệt, bất động. Người thì tuôn trào phẩn uất, nộ khí xung thiên. Thật là quá trắng trợn. Phô bày sự gian lận quá mức lộ liễu không cần mảy may che dấu. Coi thiên hạ như rác như rơm.

Chủ tọa luật sư vh Dương T Lợi có chút băn khoăn, lại động lòng trắc ẩn trước cú đòn hiểm ác quá sức bất ngờ của phe ta “tặng” cho đối phương, bèn trở lại bàn ngồi phát biểu rằng … Văn hữu Lợi thấy quyết định của trưởng ban BBC là thiếu chính xác, vh Lợi sẽ đưa ra một nghị quyết để trưng cầu ý kiến mọi người. Nếu số đông người đồng thuận kiểm phiếu thì sẽ quyết định kiểm nhưng với điều kiện, L/D nào thua thì phải thề hứa với ĐHĐ không được khiếu nại, gây rối, gây xáo trộn trong VB nữa. Khi vh YS chỉ chấp nhận một nửa điều kiện kiểm phiếu, chủ tọa Dương T Lợi lại hỏi vh Yên Sơn một số câu hỏi và cho trả lời chỉ một tiếng Có hoặc Không. Văn hữu Yên Sơn thắc mắc là tất cả số phiếu vh biết chắc đã gởi bầu có được bảo đảm “họp mặt” ở đây hay chăng? Nhưng không được giải đáp cụ thể rõ ràng. Dương T Lợi lý luận với phong cách luật sư, hỏi dồn dập, “gài thế” cho câu hỏi. Cũng với lập luận cũ, DTL nói rằng những thông tin vh YS nhận được là vô căn cứ, là không chính xác, là hoàn toàn không có giá trị…Dương T Lợi méo mó nghề nghiệp, nhập vai luật sư tranh cãi xuất sắc như dự một phiên tòa và đang chất vấn phạm nhân. Khiến vh Trần Thy Vân nóng nảy hét lên…Đây không phải là tòa án, đừng làm quan tòa…

Dương T Lợi tuyên bố đóng lại vấn đề những cử tri không có phiếu bầu, dù đây là vấn đề mấu chốt cho sự công bằng trong một cuộc bầu cử, nên còn nhiều vh không bằng lòng với những giải đáp loanh quanh của chủ tọa đoàn. Cuối cùng ngài luật sư nói đùa (?) một câu …lãng nhách vô duyên rằng …Tôi xin hỏi vh Vũ V Tùng, nếu L/D Khôi Phục thắng, ông có chịu làm chủ tịch hai năm? Chẳng lẽ không thể nhường cho vh YS một năm sao?...

Đây không còn là một câu nói đùa nữa, rõ ràng luật sư có ý khinh thị biếm nhẽ vh Yên Sơn! Nhưng hình như chủ tịch đương nhiệm không hiểu thâm ý luật sư “phe ta” mà sợ mất một năm chấp chưởng thật chăng? Hoặc là sợ mất cơ hội ăn chắc theo chiêu của trưởng BBC đưa ra triệt hạ đối phương để tránh một xác xuất nhỏ có thể thua, vội vã cầm mic phản đối. Chủ tịch cầm tờ giấy quyết định của vh Trần Đ Hân khua mạnh mẽ, tưởng như đó là bảo bối dùng để chế ngự kẻ thù, là bằng chứng vạch tội đối phương, ông đỏ mặt tía tai hung hăng qui tội cho L/D Dấn Thân là gian lận, là phạm luật bầu cử, là dùng võ lực ép buộc cử tri… Ông nói nếu không tuân theo luật lệ (luật theo cách suy diễn của trưởng BBC mới đặt ra) thì…Dẹp Văn Bút đi… (chẳng lẽ ông tưởng VB là tiệm thuốc tây của riêng nhà ông, không muốn bán nữa thì dẹp?). Ông quyết liệt không muốn cho kiểm phiếu, cộng với sự phụ họa của ông BBC. Nhìn cung cách ông chủ tịch bây giờ thật khác xa với buổi đầu ông cung tay chào hội viên. Có đụng độ mới nhìn ra chân tướng! (video thu hình chứng minh)

Thấy hội trường “nóng” quá, một ông security lên đứng gần sân khấu khoanh tay nhìn xuống, với tư thế sẵn sàng theo lịnh người thuê!?

Vẫn còn nhiều tranh cãi trong việc BBC làm sai qui định gởi phiếu bầu kỳ này, khiến dẫn đến kết quả sai lạc, nhưng chủ tọa đoàn bảo …để sau đại hội sẽ giải quyết (sau mới “giải quyết” thì có ích gì?). Lại có vh nói to…thôi, ai thắng ai thua chẳng kiểm phiếu cũng biết rồi, các ông làm đại đi còn về…

Chủ tọa đoàn làm theo “nghị quyết” của mình, hỏi …ai không muốn kiểm phiếu? Lập tức những cánh tay “phe ta” giơ lên, kể cả người trong BCH đương nhiệm, dù chủ tọa đoàn nói không nên vì đang có nhiều vấn đề trong cuộc, ông chủ tịch quyết liệt không đồng ý và, chủ tọa phải chịu cho BCH của ông giơ tay. Nhưng rốt cuộc hội viên muốn kiểm phiếu nhiều hơn, ông TĐH buộc lòng phải cầm bịch ny long phiếu ra giao cho chủ tọa đoàn, mặc dù còn dùng giằng lựng khựng.

Đang vào lúc thời điểm quan trọng vậy, phiếu đã được chủ tọa đoàn “quản lý” bỗng một vh đề nghị cuộc họp ngưng lại để đi…ăn cơm, vì lo mọi người đói. Hội viên phản đối ngay. Mớ phiếu đó đã được BBC “nâng niu” trong tay bao lâu trước ngày ĐH mà không có chứng nhân, nay chỉ còn công đoạn cuối không thể không bảo vệ. Được chút nào hay chút nấy!

Đến giờ phút này ông chủ tịch VVT vẫn cố tranh đấu cho “công bằng” của mình, bằng cách lên án L/D Dấn Thân “gian lận” để quyết liệt không đồng ý kiểm phiếu. Ông lên bàn chủ tọa đoàn hội ý vài phút, cuối cùng chủ tọa đoàn đề nghị vh YS phải nhận khuyết điểm “gian lận” vì “đã biết ai bỏ phiếu cho mình”, thì cuộc kiểm phiếu mới được thực hiện. Có lẽ áp lực nghị trường quá lớn và văn hữu YS cũng muốn êm chuyện nên đành lòng chấp nhận một lý lẽ ngược đời.

Theo ý kiến nhiều hội viên bất mãn, vh YS không cần phải “nuốt hận” như vậy, cứ xuôi theo ý của trưởng BBC và chủ tịch VVT, với lý do họ đưa quá vớ vẩn ngược ngạo để không kiểm phiếu, vì trước sau gì L/D Dấn Thân cũng không thể cân sức trong cuộc tranh cử với một L/D là BCH đương nhiệm có quá nhiều tai tiếng trong những cuộc bầu cử lớn nhỏ. Và sau đó để công luận phán xét. Kiểm phiếu xong nếu L/D ông chủ tịch thắng, là mọi người đã “rửa mặt” cho họ.

Quá trưa, mỗi hội viên xách một bịch cơm đã đóng tiền của mình vào bàn họp ngồi ăn. Chủ tọa đoàn ôm thùng phiếu định đi đến nơi khác kiểm, lập tức hội viên ngoài “phe ta” phản đối kịch liệt. Nguyên tắc kiểm phiếu là phải công khai, làm gì có qui định nào cho phép kiểm phiếu ở…chỗ kín? Chắc ông luật sư chỉ thông suốt luật tòa án chớ chưa rành luật kiểm phiếu, nhất là ở nơi có nhiều nghi vấn ngay từ buổi đầu. Cuối cùng ban chủ tọa phải trở lên bàn kiểm phiếu cùng hai đại biểu khác.

Trong khi chủ tọa đoàn làm công việc trọng đại, trưởng ban bầu cử Trần Đức Hân rảnh rỗi đi tà tà ngang bàn đại biểu Phạm T Như. Văn hữu Tương Như vớ được cơ hội bằng vàng, vì anh giơ tay nhiều lần xin nêu thắc mắc nhưng không được cho nói, vh Tương Như hỏi vh trưởng BBC …Tại sao có quá nhiều thành viên không có phiếu bầu, trong khi tôi nhận 2 phiếu qua PO BOX và địa chỉ nhà? Vh Trần Đức Hân trả lời … Ai cũng đổ lỗi cho tôi, Ban Chấp Hành (VBVNHN) đưa tôi stickers, tôi gỡ ra, dán vào phong bì và gửi đi…” . Vậy suy ra BCH chọn thành viên để gửi, chứ đâu phải BBC xem danh sách để gửi cho tất cả các thành viên??? Vậy BBC làm công việc gì trong trách nhiệm quan trọng của mình? Hay là chỉ có mỗi một việc là làm theo chỉ thị của BCH???

Tổng số phiếu bầu là 137, trong khi tổng số thành viên VBVNHN là 196, kể cả 17 thành viên mới do phu nhân Chủ tịch Vũ văn Tùng, là vh thủ quỹ Tuyết Yên mới ”tuyển dụng” được, đưa cho Trần Đức Hân ký nhận. Ban đầu TĐH thấy sai qui định không nhận, đến lần thứ ba thì ông trưởng ban BC “cũng liều nhắm mắt đưa chân ký đại” (theo lời ông trong vi thư giải trình). Áp lực nào đã buộc ngài trưởng BBC của chúng ta phải “liều nhắm mắt đưa chân ký đại”?

Kết quả cuộc bầu cử không ra ngoài tiên đoán của mọi người. Liên danh Khôi Phục thắng cử với 76 phiếu. Liên Danh Dấn Thân 60 phiếu. Hội viên VBVNHN tất cả có 196 người, phiếu bầu ghi nhận là 137 (gồm 1 phiếu trắng). Mười tám hội viên đủ điều kiện bị tước quyền bầu cử có danh sách rõ ràng. Trước mắt, nếu 18 hội viên này được bầu chắc chắn kết quả sẽ khác. Còn 41 người nữa lá phiếu của họ trôi dạt ở đâu???

Ông chủ tịch tái đắc cử Vũ V Tùng hân hoan giơ tay vẫy chào mọi người, như cung cách của các nguyên thủ quốc gia đi vi hành vẫy chào thần dân, khác hẳn khuôn mặt căng thẳng, lo lắng, giận dữ giờ phút trước. Ông đến tận nơi bắt tay đại biểu, nhưng có nhiều vị đã bỏ ra ngoài trước khi phải chạm tay ông. Lập trình diễn biến này của “Phe Thắng Cuộc” na ná giống “Bên Thắng Cuộc” khi xưa. Không biết ông chủ tịch có cảm nhận được chăng?

Sau ba năm cầm quyền “vương triều” VBVNHN ông Vũ V Tùng không thực hiện được điều gì đáng nói, ít nhất là căn bản tôn chỉ của VBQT mà trái lại, làm rất nhiều hành động sai điều lệ nội qui VB (xin mời tham khảo tài liệu ở cuối bài…) khiến nhiều vh vô cùng bất mãn, cực lực phản đối. Nếu chỉ một hai người phản đối thì ta có thể nói đó là do ganh ghét tỵ hiềm mà ra. Nếu quá nhiều người phản đối thì ta phải tự xét lại mình mà tự trọng từ chức. “May” quá, trong văn hóa người Việt chúng ta có “truyền thống” là kiên quyết …không từ chức. Đúng vậy, không bao giờ từ chức mà trái lại càng bất tài càng ham chức.

Ông Vũ V Tùng hiện nay đã rất cao niên (gần 80 tuổi), sức khỏe yếu kém (đúng như DTL thương cảm) thì đương nhiên tinh thần cũng không còn minh mẫn sáng suốt, có thể những việc làm sai của ông cũng do từ thể xác binh hoạn, tinh thần cùn nhụt mà ra… Tôi không tin ông nghĩ rằng vì ông còn nhiều tâm huyết đưa VBVNHN lên tầm cao chưa thực hiện được nên ông phải cố giữ chức để làm. Bởi nếu ông có đủ tài năng, uy tín, đức độ, thì diễn đàn VBVN không loạn cào bát nháo như ngày hôm nay. Bằng chứng là ông đã không hòa giải được những xích mích giữa hội viên nữ với nhau, ông lại châm ngòi cho “thế chiến” bùng nổ bằng cách quăng lên diễn đàn VB một đống cá ươn thối hoắc, nhằm khủng bố tinh thần bên đối lập. Mùi thối tha đó là bức “thư tình” của vh Vũ Thùy Nhân đương kim thủ quỹ BCH VBVNHN gởi cho “này con mụ Ninh Thuận kia”, bằng những lời thóa mạ lăng nhục đời tư cực kỳ đanh đá và vô văn hóa. Rồi cũng những bài vh VTN post lên báng bổ tôn giáo là vấn đề vô cùng tế nhị. Mà lạ…văn hữu VTN từng là bà sơ xuất, sao nay lại đến nỗi này!? Ông tự tay, hoặc tiếp tay cho “phe ta” sử dụng DĐ vô tội vạ ngay thời điểm diễn ra tranh cử những vi thư phản tác dụng, bị cực lực phản đối. Còn những bình luận, góp ý phê bình, kháng cáo thì ông ém nhẹm, nhưng lộ liễu để ai cũng biết! Có phải đầu óc ông có vấn đề chăng!? Nếu vậy ông còn tranh chức làm gì?

Tội nghiệp thay DĐVB!... Là nơi dành riêng cho hoa thơm cỏ lạ khoe sắc thắm tươi, là khuôn mặt của người QG chân chính, nay bị người quản nhiệm Vũ V Tùng bỏ phế, dung túng cho “phe ta” làm bậy trong vườn, bôi tro trát trấu lên mặt! Còn một chuyện xảy ra mới trong kỳ ĐH này tuy rất nhỏ, nhỏ như hạt cát, nhưng khốn thay hạt cát này lại nằm trong mắt người, gây xốn xang khó chịu vô cùng…Đó là tấm bảng tên của các ĐB. Chỉ có cái bảng tên nhỏ cho ĐB mà có tới ba lỗi. Lỗi quan trọng nhất là vi phạm điều lệ nội qui khi tự ý đổi Huy Hiệu của VBVNHN. Và bảng tên này vừa tiếng Việt vừa tiếng Anh vừa sai chính tả, chứng minh “designer” trong BCH VBVNHN của ông chủ tịch Vũ V Tùng thiếu ý thức, hoặc cẩu thả tắc trách, coi thường sĩ diện của tập thể…Đây là nguyên văn Bảng Tên - ĐẠI HỘI 10th. VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẢI - Vậy là VN ngắc ngoải sao? Biết rằng có thể do đánh máy sai dấu, nhưng không thể biện minh cho một sự cẩu thả tắc trách đối với phạm trù chữ nghĩa, lại xảy ra trong một ĐH Văn quan trọng. Bởi VBVN là biểu tượng chữ Việt mà chữ Việt thì phải cẩn trọng cách đánh dấu. Một nhà văn viết sai vài lỗi chính tả cũng có thể chấp nhận. Nhưng đây là bề mặt của ĐHVB, chỗ để mọi người nhìn vào!

Những điều nêu ở trên chỉ là vài “vết son” nhỏ mới nhất trong vô số “vết son” khác ở suốt nhiệm kỳ qua. Ông chủ tịch không thấy những phê phán nhắm vào ông trên mọi lãnh vực làm ông mỏi mệt sao?

Cũng có dư luận cho rằng ông và BCH của ông bị vc mua chuộc. Riêng tôi không nghĩ thế. Việt cộng lắm tiền của thật nhưng không thừa để “mua” những bố già lơ mơ ngơ ngác, “trí não trơ lỳ tứ chi cựa quậy” và mấy bà phụ nữ, trong đó có kẻ chanh chua ác khẩu mà vô tích sự. Chẳng qua chỉ là ông ham chút danh lợi cỏn con, chút sĩ diện hão, nên tự đày ải thân mình mà thôi. Tôi hy vọng suy nghĩ của mình đúng, để VBVNHN không rơi vào kiếp nạn như miền Nam ngày tháng tư đen 40 năm trước.

Dẫn lời của luật sư Dương T Lợi trong vi thư gởi vh Nguyễn H Nghĩa, nhắn gởi ông hai câu thơ DTL mượn của tiền bối Nguyễn C Trứ…Ra trường danh lợi vinh liền nhục. Vào cuộc trần ai khóc lộn cười…

Với tuổi này ông nên nghỉ ngơi an dưỡng để mỗi sáng mỗi chiều ung dung cảm nhận ly Café không đường mà ngọt ngào, thưởng ngoạn cuộc đời như vh luật sư Dương T Lợi từng cảm nhận. Bởi cuộc đời này ngắn ngủi.

Nhân đây tôi muốn nhắn với luật sư Dương T Lợi vài câu. Trong vi thư gởi VH Nguyễn H Nghĩa cậu cho rằng chúng tôi nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Nói vậy là sai. Không phải chúng tôi “nhìn đâu cũng thấy kẻ thù” mà là chúng tôi đang cảnh giác kẻ thù, vì kẻ thù lẩn khuất quanh ta khó lòng phân biệt và chúng còn hô hào chống cộng to mồm hơn chúng ta! Kẻ thù đã làm khốn khổ điêu linh dân tộc Việt nam gần trọn thế kỷ nay. Cậu may mắn sinh ra ở thế hệ trẻ, lại đi vượt biên tới nơi an lành khi “gần bắt tay với tử thần” sau ngày mất nước, nên chưa từng nếm trải một chút khổ đau nào của thời chinh chiến lẫn thời xã hội chủ nghĩa tiếm ngôi. Kẻ thù đối xử với người thua cuộc, nhưng cùng chung giòng máu quê hương chủng tộc cực kỳ man rợ trong những trại tù “cải tạo”. Kẻ thù đày dân lên rừng xuống biển, đói khát bịnh tật, ngu dân mê muội, lạc hậu đớn hèn, như thời bị đô hộ bởi Tàu. Kẻ thù bây giờ đang thực hiện âm mưu bán nước. Cậu không biết những điều đó nhưng chắc chắn thế hệ trước của gia đình cậu biết, dù các vị đó là Quân Cán Chính hay là dân thường thì cũng đã từng trải qua ít nhiều thống khổ do kẻ thù mang lại, bằng chứng là các người đã đánh cược phần sống nhỏ nhoi với sinh mệnh mình trên đường vượt biên để chạy trốn kẻ thù. Vậy mong cậu hãy dùng kiến thức tiếp nhận được ở thế giới tự do dân chủ này để bớt đa đoan “vọng ngữ”.

Cũng trong vi thư gởi vh Nguyễn H Nghĩa, cậu đã “bật cười và thực sự lo ngại…” khi vh Nghĩa cho rằng “ông VVT tranh giành chức CTVB là cốt để bóp nghẹt tiếng nói duy nhất người VNQG trên văn đàn QT”. Về điểm này thì tôi cũng công nhận là vh Nghĩa nói hơi quá… Văn hữu Nghĩa đánh giá ông Tùng quá cao. Bởi ông Vũ V Tùng có cái bản lãnh hay tài cán gì để “bóp nghẹt tiếng nói người VN trên DĐ QT…”, nhưng chính cái sự bất tài lãng đãng của ông Tùng sẽ vô tình tạo khe hở trong tường thành QG cho kẻ thù lọt vào…Chỉ thế thôi cũng đã trở thành tội đồ của người QG chân chính, chớ chưa cần là phải “bóp nghẹt tiếng nói…”. Vậy cậu hãy bình tâm suy nghĩ trước khi “bật cười”.

Cuối cùng tôi chúc mừng ông Vũ V Tùng đạt được kết quả như mong muốn, dù bằng mọi giá. Nhưng cũng vì tình người, tôi lại chúc ông được tâm an thần ổn trong nhiệm kỳ mới. Và hãy cố gắng làm sao để Đắc Nhân Tâm. Bởi Thiên Thời Địa Lợi cũng không bằng Nhân Hòa. Có đạt được Nhân Hòa thì chính tâm ông mới được vui vẻ hạnh phúc.

Nhân bài này, tôi xin tha thiết nhắn gởi văn hữu bốn phương. Các vị đừng nhắm mắt bưng tai để mặc những điều sai trái hoành hành nữa mà hãy lên tiếng nói. Dù con người trong xã hội ngày nay Ma Ma Phật Phật khó lường, nhưng tôi tin rằng với con mắt lương tâm các vị sẽ nhận ra được điều chân chính. Xin các vị đừng nản lòng khi thấy gian tà lên ngôi, bởi tà luôn thắng chính ở giai đoạn đầu vì những mưu mô quỉ kế mà mọi người chưa cảnh giác. Nhưng phần sau sẽ khác hơn nếu chúng tay kiên trì góp sức chung tay làm trong sạch hàng ngũ trí thức, làm thanh cao tâm hồn cho đúng chất vị văn nhân. Có như thế chúng ta mới giữ vững được thành trì Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng không lọt vào tay kẻ thù.

Hoàng T Thanh Nga


Hôi Viên Văn Bút Nam Hoa Kỳ
(đại biểu có mặt tại Đại Hội)
DEC / 2014

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Trần Trung Đạo, trái tim nồng nàn dành cho tổ quốc Việt.

Du Tử Lê
chinhluan(ngày 10 tháng 11-2014): Nhà xuất bản Cổ Loa mới ấn hành tác phẩm tựa đề “Chính Luận” của nhà thơ nổi tiếng Trần Trung Đạo, ở Boston, Mass.

Đây là tác phẩm thứ 10 của một tác giả có nhiều bài thơ được độc giả khắp nơi yêu thích.

Như tựa đề, “Chính Luận” là một tác phẩm tâm huyết, cũng có thể nói đó là một thứ “tâm huyết bút”, nằm trong loạt “tâm huyết bút” của họ Trần.

“Chính Luận” của Trần Trung Đạo, không chỉ đáng kể ở độ dầy 600 trang chữ nhỏ, khổ lớn mà, “Chính Luận” còn có chiều sâu của những bài viết, như những bản cáo trạng khẩn thiết báo động về những vấn đề trực tiếp liên quan tới sinh mệnh của dân tộc, tổ quốc Việt. Điển hình như những bài viết về “Hiểm họa Trung Cộng”, “Hiện trạng Việt Nam”, “Bàn về tẩy não”, ‘‘Cách mạng tại Việt Nam, khoảng cách và hy vọng”, hoặc “Hãy nói trước ngày chết” v.v…

Nói cách khác, với 600 trang “tâm huyết bút” của một người trẻ đang đứng ở tuyến đầu thao thức về vận mạng đất nước, “Chính Luận” của Trần Trung Đạo, không chỉ là những trang viết nóng bỏng, nồng nàn tâm cảm của một người yêu nước mà, nó còn là tấm lòng, trái tim của một Thi Sĩ cống hiến đời mình cho hy vọng một Việt Nam khác – – Với những câu hỏi được cất lên, gửi tới bất cứ một người Việt Nam yêu nước nào, như:

“Việt Nam tôi đâu? Câu hỏi vang lên theo từng đợt sóng dội vào bờ cát nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời. Một người đứng trên đất khách và một kẻ đang ở trong tù có cùng một câu hỏi. Thì ra, không chỉ người đi xa mới thấm thía nỗi đau của kẻ thiếu quê hương mà cả những người đang sống trên đất nước vẫn đi tìm kiếm quê hương. Và quê hương chúng tôi đang tìm kiếm, không chỉ là núi đồi, sông biển, ruộng vườn cây trái nhưng là một quê hương có khối óc tự do, có tâm hồn nhân bản, có trái tim dân chủ, có đôi chân tiến về phía trước và đôi tay kiến tạo một xã hội thanh bình, thịnh vượng cho mãi mãi Việt Nam” (“Chính Luận” trang 597).

Trong bài “Hãy nói trước ngày chết”, họ Trần viết:

“…Giết một vài đối thủ thì không sao nhưng để loại bỏ hàng triệu người thì lại là chuyện khác. Stalin không thể lên tận các trại lao động khổ sai ở Siberia để bỏ đói những người chống đối y. Mao Trạch Đông không thể xuống từng trường học để tra tấn các thầy cô trong Cách Mạng Văn Hóa, hay Hồ Chí Minh không thể đích thân xử bắn bà Nguyễn Thị Năm trong Cải Cách Ruộng Đất. Nhưng họ có khả năng huấn luyện, đầu độc một thế hệ đao phủ thủ trẻ tuổi hăng say và cuồng tín để làm thay. Quyền lực đặt vào tay đám đao thủ phủ trẻ này chẳng khác gì con dao bén để chúng thanh toán những mối thù riêng và lập công dâng Đảng.

“Tháng 10 năm 2002, nhà báo Mỹ Amanda Pike đến Campuchia để tìm hiểu nguyên nhân tội ác diệt chủng của Pol Pot đã không được làm sáng tỏ. Amanda Pike phỏng vấn bà Samrith Phum, người có chồng bị Khơ Me Đỏ giết. Theo lời kể của bà Samrith Phum, vào nửa đêm năm 1977 chồng bà bị một Khờ Me Đỏ địa phương bắt đi và giết chết vì bị cho là ‘gían điệp CIA’. Hung thủ chẳng ai xa lạ mà là người cùng làng với bà Samrith. Hiện nay kẻ giết người vẫn còn sống nhởn nhơ chung một làng với bà cách thủ đô Nam Vang vài dặm nhưng không một tòa án nào truy tố hay kết án (…)

“Tình trạng kẻ sát nhân và gia đình những người bị sát hại vẫn còn sống chung làng, chung xóm, chung thành phố không chỉ phổ biến tại Campuchia nhưng cũng rất phổ biến tại Huế sau vụ Thảm Sát Mậu Thân 1968.

“Số người bị giết trong vụ Thảm Sát Tết Mậu Thân khác nhau tùy theo nguồn điều tra nhưng phần lớn công nhận số người bị giết lên đến nhiều ngàn người và ‘kẻ thù nhân dân’ không chỉ là công chức chính quyền VNCH mà còn rất đông sinh viên, học sinh, phụ nữ, trẻ em và ngay cả một số giáo sư ngoại quốc. Ông Võ Văn Bằng, nghị viên tỉnh Thừa Thiên và cũng là Trưởng Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, kể lại: ‘Các hố cách khoảng nhau. Mỗi hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng’.

“Tài liệu liên quan đến Thảm sát Tết Mậu Thân rất nhiều, từ điều tra của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho đến các nhân chứng sống Việt Nam. Đến nay, thành phần được nghĩ đã gây ra biến cố đầy thảm thương cho dân tộc Việt Nam này là những người Huế ‘nhảy núi’. Họ là những người bỏ trường, bỏ làng xóm, bỏ cố đô lên rừng theo cộng sản và Tết Mậu Thân đã trở lại tàn sát chính đồng bào ruột thị của mình. Họ là những kẻ vừa được giải thoát khỏi nhà giam Thừa Phủ đưa lên núi huấn luyện vài ngày rồi trở lại giết chết những kẻ bị nghi ngờ đã bỏ tù họ.

“Không giống quân đội chính quy tấn công Huế, Những du kích nằm vùng, những thanh niên, sinh viên, học sinh là những người sinh ra và lớn lên ở Huế, thuộc từng tên phố tên đường, biết tên biết tuổi từng người. Họ lập danh sách và đến từng nhà lừa gạt người dân bằng cách ‘mời đi trình diện’ rồi sẽ trả về nhà ăn Tết. Những người nhẹ dạ đi theo. Mà cho dù không nhẹ dạ cũng chẳng ai nghĩ mình sắp bị chôn sống chỉ vì làm chức liên gia trưởng của năm bảy gia đình, ấp trưởng một ngôi làng nhỏ, xã trưởng của vài trăm dân. Kết quả, từng nhóm, từng đoàn người lần lượt bị đem ra ‘tòa án nhân dân’ và kết án tử hình (…)

“Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ suy vi và phân hóa nhưng sự kiện một số người dã tâm tàn sát nhiều ngàn người Việt khác trong chỉ vài tuần bằng các phương tiện phi nhân chưa từng có như ở Huế là lần đầu. Vết thương Mậu Thân sẽ không bao giờ lành một khi tội ác chưa được đưa ra ánh sáng. Nền tảng của hòa giải là công lý và sự thật chứ không phải che đậy và lãng quên (…)

“…Dụng ý của kẻ viết bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điều rằng, nhiều trong số những người ‘nhảy núi’ còn sống ở Huế hay trong và cả ngoài nước, nhưng chắc không sống bao lâu nữa. Tuổi tác của các ông các bà đều trên dưới bảy mươi. Thời gian còn lại như tiếng chuông ngân đã quá dài. Tất cả sẽ là không. Các ông các bà ra đi không mang theo gì cả nhưng sẽ để lại rất nhiều. Vẫn biết con người khó tự kết án chính mình nhưng các ông các bà vẫn còn nợ dân tộc Việt Nam, nhất là các thế hệ mai sau, câu trả lời cho cái chết của nhiều ngàn dân Huế vô tội.

“Ngọn nến trước khi tắt thường bật sáng, vì tương lại dân tộc, các ông các bà hãy sáng lên sự thật một lần trước ngày chết.” (Trích “Chính luận”, Tr. 586, 587, 588, 593, 594).

Được biết, nơi trang cuối “Chính Luận”, tiểu sử nhà thơ Trần Trung Đạo, người mang trái tim nồng nàn tình yêu dành cho tổ quốc Việt, ghi nhận như sau:

“Quê quán Duy Xuyên, Quảng Nam. cựu học sinh Trung Học Duy Xuyên, Trung Học Trần Quý Cáp, Hội An. Cựu sinh viên Luật Saigon và Kinh Tế, Vạn Hạnh. Vượt biên bằng đường biển năm 1981, tạm trú tại trại Palawan, Philippines, định cư tại Mỹ trong cùng năm. Học điện toán tại Wentworth Institute of Technology và Boston University. Tốt nghiệp kỹ sư điện toán và hiện đang làm việc cho một công ty đầu tư tài chánh tại Boston. Góp phần xây dựng mạng lưới Internet đầu tiên tại hải ngoại vào đầu thập niên 1990. Đóng góp tích cực vào nỗ lực xây dựng các phong trào trẻ tại hải ngoại. Thuyết trình về các chủ đề tuổi trẻ, nhân quyền, văn hóa tại các cộng đồng Việt Nam, hội nghị, đại học, tổng hội sinh viên, trại hè. Sáng tác thơ, văn, dịch, nghiên cứu, tiểu luận và chính luận…”

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »


Giáng sinh nghe 'Bài thánh ca buồn'


Giữa những giai điệu Giáng sinh rộn ràng mỗi khi mùa sang, có lẽ, bạn nghe tim mình xao xuyến khi bắt gặp đâu đó vang lên giai điệu
'Bài thánh ca đó còn nhớ không em...".


Mỗi dịp Giáng sinh về, khắp nơi đâu đâu cũng vang lên giai điệu của những bài hát quen thuộc như:
Jingle Bells, Last Christmas hay We Wish You a Merry Christmas. Và chen vào những giai điệu sôi động đó, từ góc nhỏ làng quê
cho đến thị thành giai điệu buồn da diết của ca khúc Bài thánh ca buồn của tác giả Nguyễn Vũ vẫn âm thầm réo rắt
ăn sâu vào tâm hồn của người nghe suốt 42 năm qua kể từ ngày ra đời.

Có rất nhiều câu chuyện thành giai thoại xung quanh Bài thánh ca buồn được đăng trên các phương tiện truyền thông.
Nhưng theo tác giả Nguyễn Vũ kể lại, ca khúc này gắn liền với kỷ niệm đẹp nhưng rất buồn từ thời thơ ấu của ông.

Image
Nhạc sĩ Nguyễn Vũ năm 1968. Ảnh tư liệu của nhạc sĩ


"Bài thánh ca buồn" của nhạc sĩ Nguyễn Vũ ra đời vào tháng 10/1972 từ lời đề nghị của một nhà sản xuất âm nhạc nhân mùa Noel năm ấy. Nhiều ngày liền, Nguyễn Vũ loay hoay tìm đề tài thì bất chợt giai điệu của bài hát bất hủ Silent Night (Đêm thánh vô cùng, lời: Josef Mohr, nhạc: Franz Xaver Gruber) vang lên tại nhà. Bài hát này gợi cho ông rất nhiều cảm xúc để hồi tưởng về thời thơ ấu. Thuở khi ông chỉ là cậu bé 14 tuổi. Lúc đó, nhà nhạc sĩ ở cạnh con dốc lên nhà thờ Con Gà (Đà Lạt). Mỗi lần chuông nhà thờ đổ, ông lại thấy bóng dáng một người con gái rất xinh đi lễ ngang nhà. Ông lặng lẽ theo sau cô ấy nhiều lần cho đến một hôm đúng ngày lễ Giáng sinh, trời mưa lất phất khiến cả hai không hẹn mà tình cờ cùng núp dưới mái hiên.

"Tôi bất ngờ xúc động khi nghe cô nhẩm hát theo bài Đêm thánh vô cùng với một chất giọng khá hay. Vì vậy, nghe lại bài hát này, trong tôi, kỷ niệm xưa chợt ùa về và những giai điệu cứ thế tuôn trào. Chỉ trong gần hai tiếng đồng hồ, tôi đã ký âm xong bài hát và khi cầm đàn guitar chơi lại, chính tôi cũng cảm thấy xúc động. Ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên hát bài hát này và ngay sau đó, nó trở thành ca khúc 'hot' nhất trong mùa Giáng sinh năm đó", Nguyễn Vũ hồi tưởng.

42 mùa Giáng sinh trôi qua, Bài thánh ca buồn của nhạc sĩ Nguyễn Vũ được nhiều thế hệ ca sĩ chọn hát. Nhưng nhiều khán giả nhận xét, chỉ có ca sĩ Elvis Phương là người "đóng đinh" dấu ấn lên tác phẩm này. Ông có chất giọng đầy chiều sâu và đầy nội lực để mê hoặc người nghe suốt nhiều thập kỷ qua.

Tuy vậy, có điều đáng nói ở đây là kể cả Elvis Phương, Thái Châu… và nhiều ca sĩ nữa hầu như đều hát sai ca từ so với nguyên bản Bài thánh ca buồn của Nguyễn Vũ. Trong một cuộc tiếp xúc với tác giả Nguyễn Vũ tại nhà riêng ở Cư xá Bắc Hải, quận 10, TP HCM, ông từng phàn nàn rằng: "Hầu như tất cả ca sĩ đều hát sai, hoặc vô tình đổi ca từ trong ca khúc của tôi".

Nguyên gốc lời ca từ: "Rồi một chiều áo trắng thay màu, em qua cầu xác pháo theo sau" bị các ca sĩ cũng như các bản in đổi thành: "Rồi một chiều áo trắng phai màu". Điều sai cơ bản ở đây là chữ "thay" của tác giả bị đổi thành chữ “phai” làm thay đổi rất nhiều về ý nghĩa của câu hát. Ông giải thích: "Áo trắng thay màu có nghĩa chiếc áo trắng thơ ngây của cô nữ sinh ngày nào giờ đã thay màu thành màu áo khác, chẳng hạn như là màu áo cưới". Ông nói vui: "Nếu áo trắng mà phai màu thì thành ra màu cháo lòng à?".

Image
Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tại nhà riêng.


Các ca sĩ cũng thường chỉ hát là: "Rồi những đêm thánh đường đón Noel". Nhưng ở nguyên bản, Nguyễn Vũ viết: "Rồi những đêm thế trần đón Noel". Tác giả lý giải, Noel từ lâu đã không còn là một lễ hội tôn giáo dành riêng người theo đạo nữa. Noel đã trở thành một lễ hội chung của mọi người. Tất đều hân hoan đón đợi lễ Giáng Sinh và đó là ngày hội lớn được đón nhận bởi mọi quốc gia, mọi sắc tộc, mọi tầng lớp xã hội. "Chính vì điều đó, tôi chọn câu: 'Thế trần đón Noel'. 'Thế trần' ở đây là đảo ngược hai từ 'trần thế' có nghĩa là 'thế gian' là dành cho tất cả mọi người, Tôi rất mong mọi người hát đúng nguyên ca từ của ông".

Theo nhận xét của người trong giới chuyên môn, Bài thánh ca buồn của Nguyễn Vũ được viết theo tiết tấu của giai điệu slow rock và giọng La trưởng (A). Tác giả dùng hình thức ba đoạn đơn (ABA’), một cấu trúc thường gặp trong nhiều bản tình ca trong âm nhạc thế giới cũng như tân nhạc Việt Nam. Hình thức ba đoạn đơn có một đặc điểm, trong đa số trường hợp, đoạn A’ tái hiện không hoàn toàn đoạn A. Sự tái hiện đó có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho tác phẩm đạt tới tính hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu trúc. Ca khúc Bài thánh ca buồn của nhạc sĩ Nguyễn Vũ mang đầy đủ những yêu tố cơ bản để làm nên một tác phẩm âm nhạc hoàn chỉnh. Đến nay, ca khúc này vẫn luôn là một trong những bài tình ca Việt Nam tinh tế trong giai điệu lẫn ca từ, thấm đẫm tâm hồn lãng mạn, nồng nàn của một nhạc sĩ tài năng.

Nhạc sĩ Nguyễn Vũ sáng tác không nhiều, nhưng không ít tác phẩm của ông đã đi vào lòng công chúng. Năm 12 tuổi (1956), ông đoạt giải nhất đơn ca thiếu nhi do Đài Phát thanh Đà Lạt tổ chức. Năm 23 tuổi, ông có bản nhạc đầu tay Huyền thoại một chiều mưa… Nhưng có lẽ, Bài thánh ca buồn do ông sáng tác năm 28 tuổi là nhạc phẩm ghi một dấu ấn đáng nhớ cho con đường âm nhạc của ông.

Mỗi mùa Giáng sinh về, bài hát lại vang lên như một hoài niệm chung của những ai từng có những tình yêu chớm nở trong đêm Giáng sinh lạnh giá. Chính tác giả cũng đôi lần tự nhận thấy: "Đến nay, Bài thánh ca buồn vẫn luôn được người nghe yêu thích. Đó là điều chính tôi cũng không ngờ. Thật ra, ai trong đời cũng trải qua một thời yêu thương mơ mộng mà thường những kỷ niệm buồn bao giờ cũng khắc sâu và dễ làm mềm lòng người mỗi khi được gợi lại. Có lẽ Bài thánh ca buồn của tôi phần nào đã làm được điều đó chăng?"

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

NGÀY RA MẮT SÁCH.
Nguyễn Thị Thanh Dương

Cuốn thơ với tựa đề rất thơ, rất bay bổng lãng mạn là “Hồn vía em bay theo gío” của chị Bông đã sẵn sàng để đem in, nhưng vẫn nằm chờ vì chị chưa rảnh, chưa thu xếp được ngày ra mắt sách sợ in trước sẽ không biết để sách vào đâu.

Vậy mà chị Bông đã lo lắng trước, chị cứ thấp thỏm sợ ngày ấy ế khách, chỉ lèo tèo vài người bạn thân và anh chị em cùng con cháu trong nhà của hai họ nội ngoại thì quê lắm, vì anh Bông đã khẳng định:

- Thời buổi này ai rảnh mà đi dự ra mắt sách, ai rảnh mà đọc thơ? bộ tiền dễ kiếm lắm sao mà họ phí phạm mua thơ của bà…

Rồi anh Bông phê phán:

- Chẳng biết “kho tàng” thơ của bà có bao nhiêu bài, chỉ biết là đọc vài bài thơ tôi thấy …chán lắm, thơ bà đã.giúp tôi đi vào giấc ngủ ngon lành.

- Anh không thích nhưng người khác thích, ai cũng như anh thì nguồn thơ của bao nhiêu thi sĩ đã chết yểu từ đời nào rồi. Ít ra thơ em đối với anh cũng ….gía trị như những viên thuốc ngủ là em mừng rồi.

Anh Bông vô cùng thắc mắc:

- Không hiểu sao bà có thể ôm cái computer làm thơ trong khi húp tô mì gói vì lười nấu cơm hả?

Chị Bông khoe:

- Câu thơ có khi là …sinh mạng của em nữa đấy, có lần em mải nghĩ một câu thơ cho tròn vần tròn ý khi đang lái xe trên đường tí nữa thì vượt đèn đỏ khi dòng xe cộ phía kia đang lao tới như một đàn hổ đói đuổi theo con mồi.

- Sau đó thì sao? Bà chừa luôn không làm thơ trên đường nữa phải không?

- Không chừa, qua đến đèn xanh em lại nghĩ thơ tiếp, về đến nhà là có một câu thơ vừa ý. Lúc ấy em mới yên tâm làm chuyện khác không để hồn vía em bay theo gío nữa.

- “Tập thơ “Hồn vía em bay theo gío” thật không sai, nên bà chẳng còn tâm hồn nào ở nhà để nhìn vào thực tế, cái món mà nhà Việt Nam nào cũng luôn có sẵn là chai nước mắm thế mà nó thường xuyên…vắng mặt ở nhà mình, cho đến khi nấu nướng cần đến bà mới phát giác ra và sai tôi phóng xe đi chợ mua gấp để cho bà kịp nấu, có hôm tôi gặp một xe cứu hoả đang phóng như bay trên đường, tôi chỉ ….chạy thua xe cứu hoả có một chút xíu mà thôi vì phải nhường đường cho nó.

Chị Bông cười trừ:

- Tiền trong băng em cũng không nhớ là bao nhiêu nữa đó, anh mà có …bồ nhí, anh rút tiền cho nó em cũng không hay.

Và chị đe dọa:

- Anh đừng vội mừng thầm đi tìm bồ nhí nhé, tuy hồn vía em luôn vắng nhà nhưng thỉnh thoảng như sở thuế em bất ngờ kiểm tra, em kiểm tra anh và tiền bạc, không qua mặt được em đâu.

- Tôi chẳng màng tới lời đe dọa của bà, vì thực tế trong băng nhà mình không bị lủng là may rồi, có dư thừa đồng nào đâu mà bà phải canh chừng, bà chỉ nói cho sướng miệng.

Thật ra chị Bông không hề có tư tưởng in thơ và ra mắt thơ, tất cả chỉ tại thằng con út của chị, nó sống ở xa. Một hôm thằng út gọi phone cho mẹ:

- Mẹ ơi, con sẽ có món qùa tặng mẹ nhân dịp sinh nhật này…

Chị Bông đã dãy nẩy lên:

- Thôi nhé, hết quần áo lại mỹ phẩm.

- Đấy, con biết ngay mà, tặng quần áo thì mẹ chê là không hợp không đúng ý mẹ, nào mình vải, nào màu sắc, nào kiểu cọ..v..v.. mỗi người một ý, không ai có thể tặng quần áo đúng ý người khác. Con tặng mỹ phẩm thì mẹ bảo mẹ có là diễn viên hát bội đâu mà bôi son trát phấn, mỗi năm mỗi tặng mẹ để mỹ phẩm cũ mốc theo thời gian, phí cả công mua sắm lẫn tiền bạc

- Đúng thế, còn cái áo khoác, cái khăn quàng và mỹ phẩm con tặng mẹ chưa hề đụng tới kìa…

- Bởi thế năm nay con tặng mẹ một món quà khác rất đặc biệt là con sẽ…in cho mẹ một tập thơ và làm một buổi ra mắt sách thật vui cho mẹ ngay tại thành phố con đang sinh sống...

Chị Bông lại dãy nẩy lên phản đối với nhiều lý do:

- Đừng, đừng con ơi, thơ bán ai mua, và mẹ không dám ra mắt sách đâu, mẹ vừa gìa vừa xấu, nhìn mẹ người đọc thơ mẹ sẽ mất hứng thú, với lại mẹ sợ đám đông lắm.

Con út cương quyết:

- Con đã thu thập được một số bài thơ của mẹ rồi, mẹ mà không gởi thêm thì có bao nhiêu con in bấy nhiêu, tập thơ vừa mỏng vừa xấu…mẹ ráng chịu.

Chị Bông đành thua:

- Khoan…khoan… mẹ đồng ý.

- Vậy mẹ chọn thêm những bài thơ và đặt tựa đề cho cuốn thơ nhé. Tựa đề hay sẽ làm người ta thích thú…

Thế là chị Bông phải “hợp tác” với con, gởi những bài thơ cho nó đủ in một tập thơ như người ta, và sau mấy đêm mất ngủ chị đã chọn được tên cho tập thơ, vừa lạ vừa lãng mạn đúng với giòng thơ tình của chị “Hồn vía em bay theo gío” . Tập thơ mà mỏng qúa lại “Hồn vía em bay theo gío” nữa thì tập thơ cũng bay theo hồn vía về tận phương nào.

Thấy chị Bông lo lắng ngày ra mắt sásh vắng khách, vợ chồng con trai lớn ở tiểu bang khác đã gọi về, con trai trấn an mẹ:

- Mom ra mắt sách cho vui chứ có đi buôn đâu mà sợ ế hàng, có chúng con luôn ủng hộ mom…

Con trai ra kế hoạch rõ ràng::

- Mom ơi, vợ chồng con sẽ dẫn 3 đứa con về California dự ngày mom ra mắt sách, để hỗ trợ tinh thần và nhân lực cho mom. Bảo đảm ngày ra mắt sách sẽ đông vui vì đàn cháu nội sôi nổi ầm ĩ của mom.

Chị Bông hết hồn:

- Con ơi, nghe mẹ dặn này, lúc mẹ đang đứng nghiêm chỉnh trên sân khấu nghe người ta giới thiệu mẹ với những bài thơ tình lãng mạn, vợ chồng con đừng lùa đàn cháu nội lên sân khấu nhé.

Con dâu lên tiếng thay cho chồng nó:

- Vì sao hả mom?

- Mẹ đã hình dung ra ngay những hình ảnh lũ cháu kêu réo mẹ như những lần mẹ đến thăm và ở với cháu nội. Trước tiên thằng cháu đích tôn Holden sẽ chạy ra túm váy mẹ vừa nũng nịu vừa năn nỉ:: “ Bà ơi, nướng cho cháu miếng bánh pizza nhưng bà đừng ăn ké bánh của cháu nhé”, con Betsy thì vùng vằng:” Bà ơi, sao hôm nay bà hiền lành thế, trong khi ở nhà bà quát mắng cháu inh ỏi” và con Tabi thì sẽ sinh sự: “ Bà ơi, bà đừng nấu canh mặn và bắt cháu ăn nữa nhé, cháu chán ăn cơm khô canh mặn bà nấu lắm”.

Con dâu thắc mắc:

- Thế sao mom từng nói mom thích nghe những câu nói ngây thơ chân thật có sao nói vậy của mấy cháu nội?

- Nhưng không phải lúc mẹ đang vi vu trong ngày ra mắt cuốn thơ, con dâu hiểu chưa!

- Vâng, bây giờ thì con hiểu rồi, gia đình con 5 người sẽ ngồi làm khách để chụp hình, để mom khoe thành tích đông đảo khách đã tham dự ngày ra mắt sách của mom..

Chị Bông trách khéo:

Còn một lý do nữa con dâu ơi, mẹ chuyên về giòng thơ tình cảm lãng mạn trẻ trung nên không muốn độc gỉa biết mình qúa gìa với đàn cháu nội là chứng minh cụ thể, mà sao con sinh đẻ sớm thế? nhiều thế? người ta đếm tuổi cháu nội là hình dung ra ngay bà nội gìa của chúng.

- Ô kìa mom, ngày mới cưới con về chính mom khuyên con nên sinh đẻ sớm khi tuổi còn trẻ để baby được thông minh khỏe mạnh. Vợ chồng con muốn vài ba năm nữa mới có con và chỉ có một đứa cho rảnh rang nhưng mom đã bảo phải đẻ nhiều, con cháu càng đông càng vui, trời sinh trời dưỡng.

Chị Bông giật mình thì ra là con dâu nói đúng, hồn vía chị lúc nào cũng bay theo gío theo thơ chẳng còn nhớ gì cả.

Con dâu tỉ tê than thở:

- Mỗi lần mom về Utah, mom lãng mạn làm thơ tình cảm ca ngợi phố núi nhưng ba đứa cháu nội của mom sinh ra và lớn lên ở phố núi đã trải qua những buổi sáng sớm mùa Đông gió lạnh cắt da, tuyết rơi lả chả khi con mang chúng đến day care và chiều con mới đến đón về.. Trời sinh trời dưỡng đâu không thấy, chỉ thấy hai vợ chồng con làm việc đầu tắt mặt tối mom ơi…

- Ừ, mẹ biết rồi, tiếc rằng mẹ ở xa, nếu ở gần thì mẹ sẽ làm baby sit chúng nó..

Thằng út cũng có kế hoạch ủng hộ ngày ra mắt sách của mẹ. Hôm nay nó vừa gọi phone và giục gĩa chị :

- Mẹ ơi, mẹ đã có thời gian cho ngày ra mắt sách chưa? Mẹ bận gì mà lâu thế?

Chị Bông phân bua:

- Những tháng vừa rồi mẹ bận đủ thứ công chuyện không tên, còn bây giờ mẹ bận…diet, vì mẹ overweight nhiều qúa, chẳng quần áo nào mặc vừa cả, con đợi mẹ… xuống cân 5 pounds rồi sẽ tính.

- Mẹ nhớ báo trước cả tháng nhé để con sẽ xem xét thời tiết chọn ngày đẹp trời ra mắt sách và nhất là xem có “đụng hàng” ra mắt sách của các nhà văn nhà thơ danh tiếng nào không kẻo mẹ lép vế, còn khách mời là tất cả bè bạn của con và…

Chị Bông ngắt lời con:

- Nghĩa là…

Con tranh dành nói tiếp:

- Mẹ để con nói hết ý, chúng ta ra mắt sách ở khu Bolsa California nơi có đông người Việt sinh sống, ngoài bạn bè của con, có mấy ông bà nội ngoại của bạn bè con ở hội người gìa, con sẽ nhờ họ rủ tất cả hội người gìa đi tham dự cho đông, cuối tuần con thấy các ông bà gìa thơ thẩn ở khu Phước Lộc Thọ nhiều lắm vì các ông bà không có việc gì làm, được một buổi để mua vui, để tiêu xài thời gian của họ mà còn được thêm tiếng có tâm hồn văn chương nghệ.thuật chắc ai cũng thích...

- Nghĩa là… mình cần số lượng không cần chất lượng hả con?.vì các bác tuổi gìa sức yếu mấy ai tinh thần còn tỉnh táo để thích đọc thơ văn.. Thế thì sách mẹ ai mua? ở Mỹ đâu có người mua “ve chai” để sau đó mình bán sách cân ký hả con?

Con út phải dỗ dành mẹ:

- Mẹ đừng vội bi thảm, mẹ không thấy thiên hạ ra mắt sách dài dài sao? Cho dù người ta nói vì lòng yêu mến văn học nghệ thuật nhưng có ai cứ in và biếu tặng miễn phí mãi đâu. Ngày ra mắt sách sẽ có một số bạn thân mua ủng hộ, của đáng một họ trả tiền gấp đôi gấp ba cũng gỡ được phần nào tiền in ấn rồi, còn lại bao nhiêu mẹ cứ gởi tặng lung tung cho mọi người, từ người thương đến kẻ ghét, từ người quen đến kẻ lạ, thể nào trong đám họ cũng có vài kẻ …mủi lòng gởi check cho mẹ cho dù họ vừa gởi vừa lẩm bẩm than thở vì tiếc tiền. Kinh nghiệm mấy người in sách kể cho con nghe thế đấy..

Chị Bông ngạc nhiên:

- Ủa, có chuyện ấy hả con? Bây giờ mẹ mới biết.và rút tiả kinh nghiệm.

Chị Bông rên rỉ:

- Nhưng mẹ không thích làm thế, nếu mẹ tặng sách cho ai là đúng nghĩa biếu tặng với tấm lòng .

Buổi tối chị Bông lên giường mà trằn trọc mãi không ngủ được làm anh Bông bực mình gắt gỏng:

- Bà có thao thức vì thơ thì bước ra ngoài nhà bếp im vắng thoải mái cho bà làm thơ tới sáng, đừng nằm đây lục đục làm tôi mất ngủ lây.

Chị Bông ngạc nhiên:

- Sao anh biết em làm thơ trong bếp?

- Thì mấy lần bà làm khét nồi khét chảo không vì mải để “Hồn vía em bay theo gió” ngoài khung cửa là gì?

Chị Bông thành thật thú nhận:

- Vâng, em từng làm cháy nồi cháy chảo khi vừa nấu cơm vừa làm thơ, cái smoke detector từng kêu lên báo động ầm ĩ, may mà xe cứu hoả chưa tới.. Không ngờ anh “nhỏ nhặt” ghê, chuyện gì anh cũng để ý, cũng biết. Nhưng tối nay em không trằn trọc vì thơ, hồn vía em đang nằm cạnh anh đây, em muốn nhắc nhở anh ngày mai trở đi…mua vé số giùm em, mua đủ loại vé số lớn nhỏ ở Texas như Mega, Powerball, Lotto Texas, Cash five v..v…và cả vé số cạo luôn, không trúng nhiều thì trúng ít. Tướng anh cao ráo trông có số giàu sang thì có ngày anh sẽ trúng số, còn tướng tá em lù khù như một người suốt đời túng quẩn, không giàu nổi đâu anh, không trúng số đâu anh.…

Anh Bông chì chiết:…

- Bà là người từng khuyên tôi không nên quẳng tiền vào hư vô mà, mua vé số là mũi tên phóng đi không bao giờ trở lại mà, cả đời cũng không dễ gì trúng số mà..

- Anh đừng mỉa mai em “ mà, mà..” lắm thế, bây giờ em thay đổi tư tưởng rồi. Đêm hôm qua em nằm mơ thấy mình trúng số bạc triệu, ngày ra mắt sách em mời cả ngàn người đến tham dự tại một nhà hàng lớn, khách ăn xong lại còn được em biếu tặng cuốn thơ mang về. Thế là cả khách và em đều vui vẻ tưng bừng.…

Anh Bông chán nản trùm chăn lên tới đầu và kết thúc câu chuyện:

- Trời ơi, không phải là “Hồn vía em bay theo gió nữa”, mà là cuốn theo bão, theo cơn lốc xoáy tornado rồi, một năm nữa hay mười năm nữa bà mới ra mắt sách thì cũng chẳng có vận may trúng số nào đến với bà đâu. Thôi, bà ngủ đi, chúc bà ….gặp lại giấc mơ trúng số đêm qua

****************

Buổi sáng chị Bông thức dậy muộn vì đêm qua ngủ trễ, anh Bông đang uống cà phê nơi bàn ăn mặt tươi cười hớn hở:

- Tôi thông báo bà một tin vui, bà vừa …trúng số. Có phải bà mơ ước trúng số thì hôm ra mắt sách sẽ là ngày vui nhất đời bà không?

Chị Bông không tin:

- Nhưng làm gì mà có chuyện trúng số sớm thế hả anh?

- Tôi vừa ra ngoài sân thấy nhà hàng xóm bên cạnh nhà mình đang moving với cái xe U-Haul to tướng , tôi không tin vào mắt mình thì đúng lúc chị chủ nhà bước ra chị ta giơ tay vẫy chào tôi và nói lời tạm biệt cảm động lắm...

- Ôi, chuyện bình thường, liên quan gì đến trúng số? ở xứ Mỹ người ta dọn nhà thường xuyên. Em đọc thống kê thì trung bình người Mỹ dọn nhà 7 lần trong một đời người, họ cũng thống kê tuổi thọ trung bình của hôn nhân là 7 năm ( hai vụ tình cờ đều là con số 7) tin này em đọc cách đây gần 10 năm.mà vẫn chưa quên.

- Bà nhiều chuyện ghê, chuyện nhà không nhớ đi nhớ chuyện thống kê của 10 năm về trước.…

Chị Bông vẫn hào hứng tiếp:

- Em thích báo Mỹ, chỉ để…đọc trang Obituary xem tiểu sử người chết để biết họ đã từng kết hôn mấy lần và có con chung hay con riêng trong mục cáo phó ấy.. Thấy ai chết trẻ hay chết cô độc em thương. Còn đọc báo Việt Nam thì em thích nhất mục rao vặt, mục truyện cười và tìm bạn bốn phương. .

Anh Bông rên rỉ:

- Trời, bà chỉ thích đọc những tin tào lao vô ích và thương vay khóc mướn giùm thiên hạ hèn gì mỗi khi bà coi băng của các trung tâm ca nhạc Việt Nam, bà nghe nhạc thì ít mà quan tâm tới dung nhan ca sĩ thì nhiều, ca sĩ nào sửa mắt, sửa mũi, căng da mặt, bơm botox, đội tóc giả hay mập thêm một tí bà biết ngay..

- Anh à, em có đọc những tin gía trị đấy chứ, thí dụ như những thông tin về kinh tế tài chính nhưng chẳng có ích gì, chẳng học hỏi thu thập được gì, một chuyên viên tài chính nổi tiếng của Mỹ đưa ra mấy điều khuyên dân chúng Mỹ cách chi tiêu để tiết kiệm 10% lợi tức họ kiếm được trong khi điều này em dám chắc với anh là các bà nội trợ Việt Nam chẳng cần học hành bằng cấp về kinh tế cũng đã làm từ bấy lâu nay.rồi và còn tiết kiệm được nhiều hơn lời khuyên kia nữa. Thế mới tài tình phụ nữ Việt Nam mình...

- Thôi không dài dòng nữa kẻo bà lại đi xa như con thuyền không bến, ý tôi muốn nói bà để “Hồn vía em bay theo gió” nên không nhớ có lần chị hàng xóm người Mỹ này đã sang tận nhà khiếu nại bà vì mùi cá mắm bà kho từ vườn sau bay sang patio nhà chị ta, nơi chị ta hay ra ngồi hóng gío mỗi chiều, gió đã mang mùi cá mắm nhà mình sang với chị ấy. Thế là từ đó bà không có dịp kho đồ bốc mùi ngoài vườn nữa và bà từng cầu mong chị hàng xóm Mỹ này dọn nhà đi cho khuất mắt, bà sẽ ăn mừng như trúng số độc đắc. Hôm nay bà đã toại nguyện, bà đã trúng số độc đắc rồi đó.

Chị Bông tỉnh bơ:

- Nhưng bây giờ em thay đổi tư tưởng rồi, chuyện gì của em anh cũng biết sao chuyện này anh chưa biết nhỉ? Suốt tuần qua anh có nghe tiếng con chó con sủa suốt đêm sau vườn nhà chị hàng xóm Mỹ không?

- Có..có.., nó sủa làm tôi mất ngủ.

- Em cũng thế, trong đêm khuya em sợ nhất hai thứ âm thanh là tiếng chó con sửa dai dẳng ai oán vì lạ nhà và tiếng mèo gào não nùng trên mái hiên nghe như tiếng trẻ con khóc ngoài bãi tha ma hoang lạnh, rợn cả người..

- Nghe bà diễn tả tôi cũng…rợn cả người.

Chị Bông kể:

- Chị hàng xóm đã tự động biết điều sang nhà gặp em và xin lỗi tiếng chó sủa, chị yêu thích chó lắm, mới xin được con chó con từ người bạn, chó con lạ nhà và nhớ mẹ sủa suốt mấy đêm liền. Em đã nhận ra người hàng xóm này rất trung thực, chị biết phê bình em nhưng chị cũng biết nhận lỗi khi làm phiền người khác, công bằng và thẳng thắn.

Anh Bông được dịp phê bình:

- Bà cũng đã nhận ra là bà…nhỏ nhặt rồi phải không? Làm phiền nhà hàng xóm người ta sang nhắc nhở thì bà…giận dỗi và trù ẻo cho họ dọn nhà đi nơi khác, thử hỏi hàng xóm nào ở nổi với bà?

Anh Bông chợt nhớ ra

- Người bạn cùng hãng tôi tên Bái, hàng xóm nhà anh Bái cũng là người Mỹ, Bái biết tin ông hàng xóm vừa qua đời cách đây vài tuần, Bái đã nói lời chia buồn với bà qủa phụ hàng xóm, nhưng bà mẹ của Bái thì cho là lời chia buồn suông chưa đủ tình làng nghĩa xóm, bà cứ nằng nặc đòi con trai đưa sang nhà bà Mỹ để …thắp một nén nhang.cho vong linh người qúa cố..Bái phải giải thích “Má ơi, người Mỹ không có lập bàn thờ, không thắp nhang, má sang nhà người ta nhang đèn đâu cho má thắp” thì mẹ Bái mới chịu thôi. Bà thấy chưa, người ta ăn ở có tình cảm hàng xóm láng giềng thế đấy.

Chị Bông xuống nước:

- Em thật tình không muốn chị hàng xóm này dọn nhà đi nữa, và sau một giấc ngủ em cũng đã.thay đổi tư tưởng cho ngày ra mắt sách của em rồi, dù có vắng tanh như chùa Bà Đanh, dù thế nào em cũng sẽ vui thế ấy với ân tình của người thân và bạn bè.

Chị quay ra tò mò hỏi chồng:

- Nhưng chùa bà Đanh là chùa gì mà vắng vẻ thế anh?

- Tôi không biết, bà lên net mà tìm. Gớm tư tưởng của bà thay đổi nhanh như tia chớp, bà ở bên cạnh tôi còn không hiểu nổi bà, nói chi… bà Đanh nào đó ở tận đâu đâu.

Chị Bông ngọt ngào:

- Bây giờ em ra ngoài để hỏi thăm chị hàng xóm và chúc gia đình chị đến nơi khác bình yên vui vẻ…

- Nhớ…hẹn ngày tái ngộ bà nhé, người ta biết điều và lịch sự như thế.…

Và anh Bông vừa nhắp ngụm cà phê vừa lẩm bẩm::

- May qúa, bà suốt ngày để hồn vía bay theo gío, hôm nay hồn vía bà vẫn ở nhà.. Thôi bà sang mà nói những lời thân mến tiễn người đi để chuộc tội đã ngấm ngầm ghét bỏ người ta.

Chị Bông mỉm cười:

- Em làm thơ hồn vía có thường xuyên đi vắng nhưng chưa đi luôn, em cũng biết thực tế xã giao ở đời chứ không phải lúc nào cũng như người đi trên mây trên gió như anh nghĩ đâu nhé…..

Nguyễn Thị Thanh Dương.

( May 18, 2014)

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Tiết lộ sự thật về người duy nhất từ chối giải Nobel Văn học


Dân trí Mọi thông tin liên quan tới người được nhận giải Nobel sẽ chỉ được Viện hàn lâm Thụy Điển tiết lộ sau 50 năm.
Giờ đây, sự thật về nhà văn duy nhất từng từ chối giải thưởng văn học danh giá nhất hành tinh đã được công bố.

Image
Nhà văn Jean-Paul Sartre (1905-1980)


Một lá thư được gửi tới Ủy ban Nobel Thụy Điển hồi năm 1964, do chính nhà văn, nhà triết học nổi tiếng người Pháp Jean-Paul Sartre viết, mới đây đã được công bố, trong thư, ông khẳng định rằng mình sẽ từ chối nhận giải Nobel Văn học nếu giải được trao cho ông.

Lá thư này đã đến quá muộn để có thể thay đổi một sự việc hy hữu trong lịch sử trao giải Nobel Văn học. Tin này vừa được truyền thông Thụy Điển chính thức đăng tải.

Lúc lá thư của nhà văn Sartre tới nơi, tên người thắng giải Nobel Văn học năm 1964 đã được ủy ban xét giải đưa ra từ cách đó gần một tháng. Lá thư này chỉ được công bố trước công chúng sau 50 năm diễn ra lễ trao giải, theo đúng quy định của giải Nobel.

Lá thư đã giúp hậu thế hiểu rõ lý do tại sao Sartre quyết định từ chối nhận giải thưởng văn học danh giá nhất thế giới. Cho tới nay, ông là nhà văn duy nhất từ chối nhận giải Nobel Văn học.

Sartre sau này đã giải thích đơn giản rằng ông “luôn từ chối mọi sự tôn vinh”, thực tế, ông cũng đã từng từ chối nhận Huân chương Bắc đẩu bội tinh do Nhà nước Pháp trao tặng hồi năm 1945. Nguyên nhân sâu xa là bởi Sartre luôn sợ rằng những danh xưng, những sự tôn vinh sẽ làm hạn chế tư duy độc lập và khiến ông trở nên gò bó trong những sáng tác và nghiên cứu của mình.

Image Giờ đây, lá thư của Sartre đã được công bố để đông đảo công chúng được biết sau 50 năm giữ kín theo quy định của giải Nobel. Trong thư, Sartre đã đề nghị ủy ban xét giải đưa ông ra ngoài danh sách những nhà văn được cân nhắc nhận giải.

Trong suốt nhiều năm, nhà văn Sartre đã được công chúng và những người trong giới văn chương coi như một ứng viên tiềm năng của giải Nobel Văn học. Vì vậy, ông đã gửi thư tới Quỹ Nobel vào ngày 14/10/1964, để nói rằng ông sẽ không nhận giải “dù là năm 1964 hay là trong tương lai”.

Tuy vậy, Ủy ban xét giải Nobel Văn học đã thống nhất lựa chọn Sartre là người nhận giải từ ngày 17/9 trước đó. Vì vậy, khi Viện hàn lâm Thụy Điển họp mặt vào ngày 22/10/1964, 18 thành viên hội đồng đã thống nhất sẽ vẫn trao giải cho nhà văn Sartre. Đúng theo những gì đã được đề cập trong thư, Sartre không thay đổi quyết định và đã từ chối nhận giải.

Nếu lá thư của nhà văn Sartre đến trước khi hội đồng họp mặt hồi giữa tháng 9/1964, có thể giải đã được trao cho một nhà văn khác.

Tại thời điểm đó, một số thành viên trong hội đồng trao giải còn khá tranh cãi về tài năng văn chương của Sartre, vì vậy, việc ông từ chối nhận giải Nobel càng làm dấy lên những tranh luận về sau.

Trước đây chỉ từng có một trường hợp tác gia từ chối nhận giải Nobel Văn học, đó là nhà thơ người Thụy Điển Erik Axel Karlfeldt. Nhưng ông đã thành công trong việc thuyết phục các thành viên trong hội đồng không trao giải cho mình hồi năm 1919 bởi khi đó, ông là một thành viên trong hội đồng xét giải.

Về sau, ông lại một lần được trao giải sau khi đã qua đời hồi năm 1931, ở thời điểm này, quy định về việc giải chỉ được trao cho những tác giả còn đang sống vẫn chưa được đưa ra.

Năm 1958, nhà văn người Xô Viết Boris Pasternak cũng từ chối nhận giải Nobel Văn học, nhưng theo nhiều nguồn tin, nhà văn Pasternak đã từ chối nhận giải thưởng này một cách không tự nguyện, vì vậy, trường hợp của Pasternak không giống như nhà văn Pháp Sartre.


Theo AFP

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Bạn tôi, Trần Trung Đạo

Nhân hai nhà thơ Nguyễn Thanh Huy và Nguyễn Tiến Quỳnh Giao cho tôi biết Trần Trung Đạo sẽ sang Nam California để ra mắt tác phẩm mới, "Chính Luận Trần Trung Đạo". Tôi ngẫm nghĩ về tựa đề này, 3 chữ sau vốn quen thuộc với nhiều người rồi, thế thì hai chữ đầu mang ý nghĩa gì nhỉ; Với thiển ý thì "Chính Luận", có thể Đạo suy tư về những nan đề về những chiến thuật cấp bách hay những chiến lược quan yếu dài hạn mà những người quốc gia chúng ta có thể tìm được những đề nghị hay những phân tích về chủ đề do Đạo trình bày. Chính luận có vai trò đặc biệt trong dòng lịch sử đấu tranh chính trị, văn hóa và xã hội và vì ngày hôm nay chuýng ta không đấu tranh chống người Cộng sản bằg võ khí quy ước nữa, nhưng bằng phương tiện hình ảnh, chữ nghĩa, mang khía cạnh chiến tranh tâm lý chiến. Thế nên "Chính Luận Trần Trung Đạo" trong cái nhìn của người viết bài là một trong những phong cách sáng tác tiêu biểu nhất biểu tượng những nan đề hay chủ điểm mà tác giả Trần Trung Đạo đã khai triển gởi đến người đọc và cũng là những chủ điểm ý thức hệ của người cầm bút. Ba nan đề chính được khai triển và phân tích cặn kẽ gồm Hiểm họa Trung Cộng, Thực trạng Việt Nam và Chính sách tẩy não của Cộng Sản Việt Nam.


Chính luận Trần Trung Đạo là một tuyển tập gồm các bài tham luận chính trị dày 600 trang gồm 42 bài chọn lọc của nhà văn Trần Trung Đạo trong nhiều năm qua. Nay được đúc kết theo tuần tự đề mục ăn khớp với nhau, để khi độc giả đọc sẽ theo luồng tư tưởng mạch lạc. Tác phẩm trình bày chủ đề Hiểm họa Trung Cộng qua 14 bài,tác giả trình bày các kinh nghiệm lịch sử của thế giới qua chính sách của các chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ, Tiệp Khắc, Nam Phi, kinh nghiệm Thổ Nhĩ Kỳ chủ trương cứng rắn chống Liên Xô, đứng hẳn về phía Tây phương. Kinh nghiệm "Phần Lan hóa" bởi Liên Xô vì chịu ảnh hưởng chính trị Nga q ua1 nặng. So sánh chính sách của Hitler trong thế chiến thứ hai và chính sách của Trung Cộng hiện nay, phân tích chủ nghĩa thực dân Trung Cộng tại các quốc gia Phi Châu như Congo, Angola, Zimbabwe, Sudan cũng như chủ trương bành trướng của Trung Cộng tại vùng Đông Nam Á. Trung Cộng muốn Việt Nam những gì Liên Xô muốn Phần Lan khi xưa và tham vọng xâm lăng Hán hóa nhiều hơn. Sự kiện sai lầm của đảng Cộng Sản Việt Nam qua Công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng năm 1958 và sự kiện đau lòng chúng ta khi suy tư về hậu quả mất nước do Hội Nghị Thành Đô đầu thập niên 1990.

Người viết bài còn nhớ những câu nói ngô nghê của viên Tổng Bí Thư Lê Duẩn: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Lên Xô, Trung Quốc". Hay của viên Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết: "Có người ví von Việt Nam, Cuba như là trời đất sinh ra, một anh ở phía đông, một anh ở phía tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hoà bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ”. Những ý tưởng nô lệ người.

Nan đề kế là Hiện trạng Việt Nam gồm 16 bài, trình bày các phong trào thanh niên sinh viên học sinh trước 1975, các phong trào xã hội tại Việt Nam, xã hội dân sự, cuộc đấu tranh dân chủ của thế hệ trẻ, các khó khăn và triển vọng của cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam hiện nay.

Phần này tác giả gửi tâm bút như nỗi lòng xây dựng đặt niềm tin vào tuổi trẻ Việt Nam đem lại dân chủ để đưa dân tộc Việt Nam đến tương lai tươi sáng, tác giả trân trọng khi ghi ngay nơi trang đầu của sách Chính Luận là "Tặng tuổi trẻ Việt Nam

Đề cập về yếu tố dân tộc độc lập và con đường cứu nước phải là tự do dân chủ theo tác giả Trần Trung Ðạo, dân chủ là giải pháp duy nhất cho Việt Nam. Vì chỉ có dân chủ thì mới đẩy lùi hiểm họa bắc thuộc, cho phép người dân nhập cuộc giải quyết các vấn nạn xã hội, tạo môi trường cho đất nước hoà nhập vào thế giới tự do và phát triển. Tác giả nhắc nhở rằng "con đường đến dân chủ rộng thênh thang, đủ rộng cho mọi người cùng tham gia". Thật vậy, mỗi cá nhân chúng ta có thể chọn lựa phương thức riêng tư của mình trên con đường mà cứu cánh đảng Cộng Sảnn Việt Nam phải bị triệt tiêu. Hãy mở các mũi về nhọn cho dân chủ nhân quyền. Nhân quyền là giá trị toàn cầu mà các quốc gia văn minh tiến bộ tôn trọng và công chúng ở các nơi đó quan tâm và chia xẻ. Dân chủ chỉ có khi người dân biết kết hợp thành sức mạnh vượt lên trên sức mạnh của chế độ.

Và Bài học tẩy não sau hết là chủ đề thứ ba gồm 12 bài, phân tích chính sách tẩy não như cột xương sống đang chống đở chế độ Cộng Sản hiện nay, các phương pháp giải tẩy não, tiêm nhiễm, đầu độc qua các chính sách tẩy não tại Liên Xô trước đây và của Bắc Hàn, Trung Cộng, Việt Nam hiện nay. Trang 519 của sách Chính Luận ghi nhận sự kiện Tẩy não là chủ đề chính thứ ba trong sách Chính Luận. Tác giải bàn luận về vai trò của chính sách tẩy não trong chế độ Cộng Sản, tác giả viết rằng: "Khái niệm tẩy não được biết đến từ lâu qua các phương cách gian tà, chiến tranh, tình báo, tuy nhiên chỉ dưới các chế độ Cộng Sản kỹ thuật này mới được nâng lên thành quốc sách và được thực hiện một cách triệt để, được hệ thống hóa, bao trùm mọi lãnh vực xã hội và trong mọi tầng lớp nhân dân."

Phần sau đây là những điểm mà người viết xin trình bày những tài liệu do tác giả Trần Trung Đạo viết và phổ biến.

Tôi đọc bài viết về sự tẩy não mà hai chế độ Cộng Sản áp dụng, nên trong bài Đảng 50 Xu tại Trung Cộng, Trần Trung Đạo viết:

"Như người viết đã có dịp phân tích về Chính sách tẩy não của CS, ngày nào các chính sách tuyên truyền CS không còn hiệu quả, đó cũng là ngày trái tim của chế độ ngừng đập, đúng như Anne-Marie Brady viết trong trang đầu của tác phẩm Marketing Dictatorship: Propaganda and Thought Work in Contemporary China: “Tuyên truyền thật là máu sống của đảng và nhà nước CS”.

Tuyên truyền dưới chế CS là cả một hệ thống tinh vi, phức tạp, đa diện, bài viết này chỉ bàn đến bộ phận có chức năng kiểm soát và lèo lái dư luận trên các trang mạng internet, đó là bộ phận Dư Luận Viên. CSVN rập khuôn các chính sách tuyên truyền của Trung Cộng, do đó từ các nghiên cứu về Trung Cộng, sẽ dễ dàng suy ra các chính sách vận dụng dư luận của CSVN.

Tại Trung Cộng, dư luận viên không chỉ chịu sự kiểm soát của Ban Tuyên Truyền Trung Ương (Việt Nam gọi là Ban Tuyên Giáo Trung ương) về các chính sách chung của đảng CS nhưng mỗi bộ trong chính phủ Trung Cộng cũng có các dư luận viên riêng để phục vụ cho chính sách riêng của bộ và có trách nhiệm trả lương cho dư luận viên này. Lực lượng dư luận viên giấu mặt này được gọi chung là Đảng 50 Xu (五毛党 wǔmáo dǎng) vì khi bắt đầu năm 2004 họ được trả 50 Xu cho mỗi lời bình. Mười năm sau, vật giá leo thang, mức lương cũng gia tăng theo, nhưng thành phần dư luận viên vẫn còn được gọi là những đảng viên của Đảng 50 Xu. Các lãnh đạo bộ máy tuyên truyền Trung Cộng cho rằng danh từ Đảng 50 Xu là sản phẩm tuyên truyền của Mỹ, Nhật dùng để chế giễu các cơ quan thông tin Trung Cộng."
Trở lại hiện trạng Việt, Nam trong bài tiểu luận "Tuổi trẻ Việt Nam, học lịch sử để làm lịch sử", Đạo viết:

"Ba mươi ba năm sau. Cũng những ngày cuối năm, ngồi xem hình ảnh các cuộc biểu tình ở Hà Nội, đọc bản tin được viết vội vàng trên đường phố Sài Gòn, đọc danh sách của những người ký tên, trong đó đa số là tuổi trẻ, để phản đối Trung Quốc vi phạm lãnh thổ Việt Nam trên Internet, tôi vui mừng và cảm động. Trung Quốc không phải vì các cuộc biểu tình của các em mà trao trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách bá quyền của họ trên biển Đông. Để duy trì mức phát triển kinh tế hiện nay và chạy đua với các cường quốc kinh tế, Trung Quốc đang cần sự ổn định chính trị và kinh tế hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng. Nhìn các em tôi lại nhớ đến chính mình. Đường phố Sài Gòn, nơi các em đang đứng hôm nay cũng là nơi tôi đã đứng đọc từng tên của những người đã ở lại trong lòng biển cả. Khẩu hiệu “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng là khẩu hiệu mà sinh viên chúng tôi đã hô ba mươi ba năm trước. Chúng ta có thể còn vài điểm khác nhau nhưng có chung một tổ quốc. Đó là điều hệ trọng. Lòng yêu nước đã thúc giục các em vượt qua bức tường sợ hãi, bất chấp sự ngăn cản của Đảng, của nhà nước, của ban lãnh đạo trường để cùng xuống đường nói tiếng của một người Việt Nam khi tổ quốc lâm nguy. Lịch sử bao giờ cũng mang tính thời đại, và trang sử Việt Nam hôm nay đang được viết bởi các em, những người Việt Nam đang đứng trước toà đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội, trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn. Và cũng qua những biến cố lịch sử này, các em sẽ có cơ hội thấy những sự thật đắng cay, những bài học bẽ bàng mà từ trước đến nay đã bị che lấp bởi hệ thống tuyên truyền lừa dối của Đảng. Các em đang học lịch sử và đang làm lịch sử...


Lãnh đạo Đảng đã, đang và chắc sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm để ngăn cản các cuộc biểu tình dù ôn hoà và bất bạo động của tuổi trẻ Việt Nam. Tuần trước họ ra chỉ thị cấm biểu tình, tuần này họ chụp mũ các em chống phá trật tự xã hội, tuần sau họ sẽ đem xe chữa lửa đến đàn áp và tuần sau nữa có thể trục xuất khỏi trường, bắt giam, kết án, tù đày. Tuy nhiên, lịch sử đã nhiều lần chứng minh, khi một chế độ chỉ còn trông cậy vào các phương tiện bạo lực trấn áp để tồn tại, chỉ còn biết sử dụng bộ máy công an kềm kệp để duy trì quyền cai trị, ngày tàn của chế độ đó chỉ là vấn đề thời gian. Hành động tuyệt vọng của Nicolae Ceausescu khi ra lệnh công an bắn vào cuộc biểu tình của nhân dân Rumania sáng ngày 17 tháng 12 năm 1989 chỉ để dẫn đến bản án tử hình dành cho vợ chồng ông ta một tuần sau đó. Lãnh tụ cộng sản Slobodan Milosevic một thời là tổng thống Serbia đầy quyền lực nắm trọn quyền sinh sát trong tay, cuối cùng cũng phải chết trong tù. Erich Honecker hung thần Đông Đức, Idi Amin đao thủ phủ của Uganda hay Mobuto bạo chúa của Congo đều đã gởi tấm thân tàn trên đất khách, để lại tiếng xấu muôn đời. Nếu giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam còn nghĩ đến tương lai của chính họ và còn biết lo cho tương lai của đất nước, họ phải chọn đứng về phía dân tộc.

Con đường duy nhất để đạt đến một tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng là con đường dân tộc và cũng chỉ có một Việt Nam tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng thì các thế hệ Việt Nam mai sau mới có cơ may giành lại được Hoàng Sa và Trường Sa."

Trần Trung Đạo luôn trân trọng với tuổi trẻ Việt Nam, tương lai của dân tộc, Đạo viết bài "Đừng khóc cho Phương Uyên mà hãy sống cùng mơ ước của em.", hãy xem:

"Cô bé đứng trên bục cao, đôi kính cận có cọng dày, tóc vén cao, áo trắng học trò, thân hình mảnh mai trông giống như một cô bé học sinh 15 tuổi đang đứng bảng đen trong lớp học chứ không phải đứng trước tòa án Cộng Sản. Em không sợ hãi, không van xin, trầm tĩnh và tinh khôi như một thiên thần: "Tôi là sinh viên yêu nước, nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì những người trẻ khác sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước. Nếu một sinh viên, tuổi trẻ như tôi mà bị kết án tù vì yêu nước thì thật sự tôi không cam tâm".

Cạnh em, Đinh Nguyên Kha, áo sơ mi trắng, tóc cắt cao của một thanh niên Việt Nam kiểu mẫu. Nguyên Kha cũng dõng dạc: "Tôi trước sau vẫn là một người yêu nước, yêu dân tộc tôi. Tôi không hề chống dân tộc tôi, tôi chỉ chống đảng cộng sản. Mà chống đảng thì không phải là tội".

Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha không khuất phục. Chuyện “thú tội”, “xin khoan hồng” chỉ mới vài năm trước đây nhưng như đã thuộc vào quá khứ xa xôi, một thời kỳ còn chập chững đấu tranh, một phương pháp nay đã lỗi thời. Tranh đấu cho quyền lợi của dân tộc là một tự nguyện phát xuất từ trái tim và lòng yêu nước. Không ai bắt các em phải làm những việc các em không chọn lựa. Nhịp đập chân thành của con tim và tiếng gọi thiêng liêng của lòng yêu nước không cho phép một người gập đầu “xin khoan hồng”, “thú tội” dù chỉ là một hình thức trá hàng. Bảo vệ tổ quốc là một niềm vui, niềm hãnh diện. Nếu đã chọn hy sinh phải hy sinh cho trọn vẹn với lý tưởng của đời mình.


Tình yêu nước trong lòng Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha vô cùng trong sáng. Không giống Nguyễn Thị Minh Khai trước giờ bị xử tử hô lớn “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!” để thể hiện tinh thần bất khuất, kiên trung của bà ta đối với đảng, hay Lê Hồng Phong, trong lời trăn trối cuối cùng ngoài Côn Đảo chỉ nguyện trung thành với đảng, Phương Uyên và Nguyên Kha chỉ nghĩ đến những bà mẹ Việt Nam đang buôn tảo bán tần, nghĩ đến các em thơ đang lây lất trên đường phố, nghĩ đến máu các chú bác đã đổ xuống ở Hoàng Sa, nghĩ đến nắm xương của các chú bác đã thành cọc cắm lên hải đảo Trường Sa..."

Trong bài tiểu luận khác: "Trách nhiệm của các thế hệ Việt Nam", xin trích đoạn:

"Đảng Cộng sản thắng trong chiến tranh không phải vì họ có chính nghĩa, mà bởi vì họ đã kiên trì với mục đích nhuộm đỏ Việt Nam, được tổ chức một cách tinh vi từ trung ương Đảng cho đến tận tổ ba người và khai thác triệt để lòng yêu nước sâu đậm của người dân Việt Nam. Tôi cũng có một niềm tin rằng dân tộc Việt Nam với mật độ dân số trung bình không quá đông hay quá ít, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, với lực lượng chuyên viên đông đảo trong các ngành khoa học đang có mặt trên khắp thế giới, với truyền thống yêu nước Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa vẫn chảy đầy trong huyết quản, nếu được chắp đôi cánh tự do, dân chủ, nhân bản, Việt Nam sẽ bay lên cao, sẽ thật sự trở thành một cường quốc kinh tế, cường quốc quân sự, sẽ đủ khả năng bảo vệ sự toàn vẹn vùng trời, vùng biển của tổ quốc thiêng liêng. Nếu không có tự do dân chủ, “khát vọng cất cánh” mà anh Tô Nhuận Vỹ nêu ra trong phần đầu tiểu luận chỉ là một giấc mơ tiên.

Có người cho rằng Đảng Cộng sản đã có một thời đồng hành với dân tộc, cùng hướng đến một mục tiêu như dân tộc Việt Nam, do đó vai trò lãnh đạo của Đảng ngày nay là hệ quả tất yếu của lịch sử. Tôi không đồng ý. Đó là lý luận của kẻ cướp. Với tôi, rất nhiều đảng viên Đảng Cộng sản tham gia chống Pháp phát xuất từ lòng yêu nước và đã chết cho đất nước như tôi đã nhiều lần viết trên diễn đàn này, nhưng bản thân Đảng Cộng sản như một tổ chức chính trị chưa bao giờ đồng hành với dân tộc. Việc giành lại nền độc lập và chủ quyền đất nước từ tay thực dân là mục tiêu, là bến bờ của dân tộc Việt Nam, trong khi đó đối với Đảng Cộng sản, độc lập dân tộc chỉ là phương tiện, một chiếc cầu, một chiếc ghe họ cần có để đi qua trên đường tiến tới cách mạng vô sản. Mục tiêu đó đã được khẳng định ngay trong “Luận cương chính trị” Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú chủ trì năm 1930 và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương phê chuẩn vào tháng 4 cùng năm:”Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cuộc cách mạng; hai giai đoạn cách mạng từ cách mạng tư sản dân quyền chống đế quốc và phong kiến nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng và sau đó chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.”


Trần Trung Đạo là ngòi bút đấu tranh cho những giá trị đích thực dân chủ tự do, nét bút uyên thâm sâu sắc, ôn hòa, không sắt máu"

"Sau 1975, một số người từng xếp bút nghiên vào rừng “Chống Mỹ cứu nước” đã phẫn nộ, kết án giới lãnh đạo Đảng đi ngược lại quyền lợi dân tộc, phản bội lý tưởng, phản bội máu xương của đồng chí họ, đưa đất nước đi vào con đường nghèo đói, độc tài, đảng trị. Nghĩ cho đúng, đó là những lời kết án thiếu cơ sở lý luận lẫn thực tế. Thật là oan cho Đảng. Nếu họ chịu khó đọc các đề cương chính trị đại hội Đảng từ ngày thành lập 78 năm trước cho đến đại hội lần thứ X cách đây hai năm, sẽ thấy Đảng Cộng sản chưa bao giờ phản bội mục tiêu của mình. Mục tiêu cộng sản hóa toàn cõi Việt Nam và đặt dân tộc Việt Nam dưới quyền cai trị tuyệt đối của Đảng chưa bao giờ thay đổi. Vì một số điều kiện cách mạng và biến chuyển chính trị thế giới xảy ra ngoài tiên liệu, các chính sách của Đảng cũng phải theo đó mà áp dụng một cách thích nghi hơn, mềm dẻo hơn qua những chính sách gọi là “đổi mới”, “hội nhập” v.v…, nhưng mục đích của Đảng từ trước đến sau luôn nhất quán..."
Image
Trần Việt Hải và Trần Trung Đạo
Trong tình bạn với Trần Trung Đạo, tôi mến anh như người bạn hòa nhã, dung dị, cởi mở, nhất là bản tính cùng tư tưởng yêu nước, tôi hàm ý nước Việt Nam Cộng Hòa, và chúng tôi chia chung cùng một tôn giáo. Ngày được tin Linh mục Trần Cao Tường đã từ trần vào Chúa Nhật 21.11.2010. Cha André Dũng Lạc Trần Cao Tường (Ngài là nhà văn quán xuyến website văn học Dũng Lạc) cả hai chúng tôi viết bài về Cha André Tường khi Ngài ra đi bất chợt. Trần Trung Đạo viết bài tiễn đưa: "Linh mục Trần Cao Tường, từ đồi Massada đến bờ sông Hát", bài viết cảm động. Xin trích đoạn:

"Một ngày nọ của gần mười năm trước, tôi nhận một email của một vị linh mục nhận xét về thơ văn của tôi mà ngài đọc được trên internet. Email của linh mục nhắc đến một bài thơ và một tâm bút của tôi. Bài thơ viết về ngôi chùa Viên Giác, nơi tôi sống trong những ngày còn nhỏ ở Hội An và bài tâm bút viết về một nhà thờ Công Giáo ở quê tôi, nhà thờ Trà Kiệu. Phía dưới của email có một nội dung rất đậm đà tình cảm là một tên rất đẹp kèm theo số điện thoại: Trần Cao Tường.

Tôi gọi lại ngay nhưng không có tiếng trả lời nên chỉ biết để lại lời cám ơn các nhận xét của Cha. Buổi chiều, Cha gọi lại.

Chúng tôi nói chuyện với nhau lần đầu nhưng tự nhiên dường như đã quen thân nhau từ lâu lắm. Tôi “Thưa Cha” và xưng con theo đúng lễ nghi tôn giáo như tôi vẫn thường “Bạch Thầy” và xưng con với các thầy bên Phật Giáo. Cha Trần Cao Tường bảo “gọi nhau là anh em đi vì chúng ta cùng họ Trần cả”. Tôi không chịu và đề nghị Cha đừng để ý đến chuyện “Cha con” mà hãy xem đó như một phần của đạo đức Việt Nam. Cha không nói thêm gì nữa. Cả tôi và Cha đều thuộc mẫu người nói rất thoải mái. Chúng tôi nói chuyện suốt giờ về mọi vấn đề trong đời sống, từ chính trị đến tôn giáo, từ thơ văn đến nhiếp ảnh và cũng nói khá lâu về internet. Ngoại trừ môn internet tôi giỏi hơn Cha, bộ môn nào Cha cũng rất uyên bác và sở hữu một hiểu biết bao la, vượt xa những kiến thức còn rất giới hạn của tôi.

Thời gian ngắn sau đó Cha Trần Cao Tường gởi tặng tôi các tác phẩm đã in của ngài. Ngoài các tác phẩm thần học, Cha viết nhiều tác phẩm có tựa đề rất nhẹ nhàng nhưng chuyên chở những nội dung giáo dục và đạo đức rất sâu sắc không chỉ dành riêng cho độc giả Công Giáo mà cho mọi người như Suối Nguồn Tình Yêu, Đi Tìm Nét Văn Hóa Việt, Vũ Khúc Thăng Ca, Nhịp Múa Sông Thanh, Khúc Sáo Ân Tình v.v.. Mỗi khi có dịp thưa chuyện với Cha cũng là lúc tôi học được thêm nhiều điều mới lạ. Tôi giới thiệu Cha với nhiều văn nghệ sĩ thân hữu ở California, Texas v.v.. và ai cũng quý mến Cha."

Linh mục Trần Cao Tường mà tôi vẫn nghe tiếng lòng của Ngài đã một thời chia sẻ rằng Ngài quý mến Trần Trung Đạo và tôi, ngài biết cả hai chúng tôi đều là phật tử, nhưng ngài không thấy sự cách biệt tôn giáo với hai chúng tôi. Tôi cảm mến và cám ơn Ngài cho chúng tôi những cảm nghĩ tốt đẹp như vậy. Tôi xin gửi tư tưởng của Cha Tường nhân dịp này đến Đạo vậy.



Nói đến Trần Trung Đạo, không thể bỏ qua lãnh vực thi ca, tôi như nhiều người vốn thích bài thơ bất hủ "Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười", thơ được nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ thành nhạc. Một bài ca nhạc về người mẹ tiêu biểu ngợi ca bóng hình người mẹ bao la. Đạo viết về mẹ anh trong trân quý, trong cảm động tràn dâng:

"Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyết đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc."

Bạn bè của Đạo biết bà mẹ Hòa Hưng là mẹ nuôi, nhưng trong cái tâm đạo của người con, Đạo rất quý bà như mẹ ruột.

"Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ. Thơ gửi mẹ:


Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, TT. Đạo:



Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, Bạch Hạc:



Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, Bảo Yến:




“Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Ðổi cả thiên thu tiếng mẹ cười...”

Tôi kính yêu mẹ. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này."

Đạo là người con hiếu thảo, vẹn tròn đạo đức. Đạo đức vốn dĩ là sức mạnh của tâm hồn. Anh kể về mẹ ruột của mình, bóng người mẹ mà anh không thể hình dung ra được, bởi vì:

"Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần

như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên."

Tôi có viết bài về Đạo, chia sẻ nỗi cảm thông với anh:

"Đại thi hào Nga Aleksandr Sergeyevich Pushkin là người có những đóng góp to lớn trong việc phát triển ngôn ngữ văn học Nga hiện đại và toàn châu Âu. Ông mất khi mới 37 tuổi nhưng đã để lại nhiều kiệt tác như "Evgeny Onegin", "Con gái viên đại úy", "Con đầm pích", "Boris Godunov",... Ông được coi là biểu tượng của dòng văn học lãng mạn và tả chân của nước Nga và châu Âu thế kỷ 19. Pushkin làm thơ gửi mẹ nuôi mà ông thương, kính trọng như nhũ mẫu của mình:

Mẹ thân thiết trong những ngày cơ cực
Nguồn mến thương nâng bước đời con!
Rừng thông thăm thẳm cô đơn
Ngóng con ngày tháng mỏi mòn mẹ trông
Trong phòng khách bên song cửa sổ
Như người canh, thương nhớ mênh mang
Tay già lần mũi kim đan,
Như đang đếm bước thời gian chậm buồn
Mẹ thẫn thờ nhìn đường thăm thẳm
Lối cổng vào bỏ vắng từ lâu
Buồn thương, linh cảm, lo âu
Lại càng chất nặng thắt đau ngực già...

(Gửi mẹ nuôi - Thúy Toàn dịch từ Nga ngữ)

Aleksandr Sergeyevich Pushkin và Trần Trung Đạo

Tôi nghĩ từ Aleksandr Sergeyevich Pushkin đến Trần Trung Đạo đều có mẫu số chung, dù dưỡng mẫu hay nhũ mẫu, hai nhà thơ đã dành những tâm tư trang trọng nhất cho 2 mẫu người mẹ trong văn học, thực vậy từ Âu sang Á, sự xúc cảm về mẹ cho văn chương mẹ mãi mãi thăng hoa."

Ngày được tin bà mẹ Hòa Hưng của Trần Trung Ðạo đã ra đi khỏi cuộc đời này. Nhiều bạn bè chia sẻ cùng Đạo dip bà mẹ Hòa Hưng đã mệnh chung trong thanh thản, nhẹ nhàng. Tên thật của bà là Phan Thị Diên, Pháp danh Diệu Hồng, sinh năm 1924 và qua đời ngày 21 tháng 12 năm 2014 tại Hòa Hưng, Sài Gòn, hưởng thượng thọ 91 tuổi.

Bài thơ bi ai cảm động khác Đạo sáng tác tôi thích là Người Lính Già Vừa Chết Đêm Qua.

Người lính già Việt Nam
Vừa mới chết đêm qua
Trên đường phố San Jose bụi bặm
Anh đã đi bao nhiêu nghìn dặm

Ðến nơi đây chỉ để chết âm thầm
Không một phát súng chào
Không cả một người thân
Không ai nói với anh một lời tiễn biệt...


Tôi gởi anh đôi dòng thơ
Từ trái tim của một thằng em nhỏ
Cũng lạc loài lưu lạc như anh
Chúng ta, hai chiếc lá chung cành

Bay phơ phất trước từng cơn bão tố
Ngủ đi anh bình yên nơi chín suối
Ðau thương nầy em sẽ viết thay anh..."


Trần Trung Ðạo còn có bài thơ về tình bạn, Những Người Bạn Tôi Chưa Hề Quen:

Cũng như anh, tôi ngàn đêm thao thức
Hãi hùng mơ chung một giấc chiêm bao
Có tiếng quân reo, ngựa hí, kêu gào
Tiếng xích khua vang, tiếng người rên siết

Cũng như anh, tôi đôi lần ra biển
Hướng về Nam mây trắng một màu tang
Có ai về xoay ngược bánh thời gian
Cho tôi nhặt những mảnh đời đã mất...

Trong thơ tôi mùa Xuân chim không hót
Thu không vàng, Hạ chẳng để yêu đương
Thơ của tôi là máu rỉ trăm đường
Là u uất đã chìm sâu trong đất

Cũng như anh, tôi mười năm đất khách
Có gì vui đời một kẻ lưu vong
Khi tôi chết nấm mồ hoang cỏ mọc
Đã làm gì để lại với non sông ?"

Trần Trung Đạo suy tư trăn trở về quê hương, cách xa Sài Gòn khoảng mười hai ngàn dặm, anh làm bài thơ Ở Một Nơi Không Có Mùa Xuân:

“Ở một nơi không có mùa xuân
Chim chóc cũng chẳng buồn về đậu
Ngày hai buổi em về qua xóm lạ
Buồn vương trên tóc nhớ theo chân

Nắng Sài Gòn từng giọt rưng rưng
Thời con gái tan theo từng giọt nắng
Anh ra đi phố phường xưa hoang vắng
Tháng năm buồn kỷ niệm ngủ không yên...

Vầng trăng ước trong lòng em vẫn sáng
Mười năm chờ nghe một tiếng thương yêu
Em nối tình mình theo mũi chỉ đường kim
Ðan chiếc áo cho ngày anh trở lại

Nhưng bóng hạc vẫn nghìn trùng bay mãi
Ðể giang hà mòn mỏi tiếng thông reo.


Ði đi anh đừng trở lại đây
Em sẽ khóc nhưng không hề nuối tiếc
Chỉ tội nghiệp cho anh một đời thua thiệt
Gian khổ tù đày để được thế thôi sao?"

Trần Trung Đạo vượt biên bằng đường biển, bỏ phiếu cho chế độ Cộng Sản bằng chân, văn thơ của anh ngậm ngùi cho quê hương Việt Nam, nhưng rất cứng rắn với người Cộng Sản. Tập sách 600 trang, Chính Luận trình bày những ý tưởng gắn bó với dân tộc Việt Nam, vạch trần những sai trái, những tội ác của ác đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng như quân Tàu Cộng Bắc phương, quan điểm anh trình bày bằng văn phong ôn hòa, có những bài viết tâm bút hay những bài thơ mang nỗi xót xa của người dân Việt bị cầm tù quê hương. Tôi tham dự buổi ca nhạc của nhạc sĩ Phạn Văn Hưng tại Little Sài Gòn ngy 12/10/2008, Phạn Văn Hưng hát cho dân tộc Việt Nam trong khát vọng tự do dân chủ, cho người dân hiền hòa bị chế độ Cộng Sản ngược đãi, chà đạp nhân quyền. Buổi ca nhạc đó có bài ca bi ai lắm, bài Đứa Bé Việt Nam Và Viên Sỏi, phổ thơ của Trần Trung Đạo, kể chuyện bất hạnh của cháu bé trong chuyến vượt biên buồn thảm, cha mẹ mất, cháu bơ vơ. Lời thơ ai oán của chuyến vượt biến vượt biển trốn chạy chế độ Cộng Sản, trích dẫn:


Bên bờ biển Palawan

Có một em bé gái
Tuổi mới chừng lên sáu lên năm
Ðang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ
Và nói chuyện một mình
Như nói với xa xăm.

- Em đến từ Việt Nam
Câu trả lời thường xuyên và duy nhất
Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất
Chỉ hai tiếng nầy thôi
Em nhớ kỹ trong lòng
Em chỉ ra ngoài Ðông Hải mênh mông
Cho tất cả những câu hỏi khác

Mẹ em đâu?
- Ngủ ngoài biển cả.
Em của em đâu?
- Sóng cuốn đi rồi.
Chị của em đâu?
- Nghe chị thét trên mui.

Ba em đâu?
Em lắc đầu không nói.

- Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa
Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa
Trên ghe sót lại chỉ dăm người
Lạ lùng thay một em bé mồ côi
Ðã sống sót sau sáu tuần trên biển...

Đôi dòng tiểu sử về Trần Trung Ðạo, quê quán ở làng Nghi Hạ, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Anh theo học phổ thông tại các trường trung học Duy Xuyên, trung học Trần Quý Cáp tại Hội An. Cựu sinh viên Kinh tế và Luật tại Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn.

Trần Trung Đạo vượt biên bằng đường biển năm 1981, tạm trú tại trại Palawan rồi sang định cư tại Hoa Kỳ. Anh theo học ngành điện toán tại các trường Wentworth Institute of Technology và Boston University rồi làm kỹ sư điện toán cho một công ty đầu tư tài chính tại Boston.

Trần Trung Đạo làm thơ từ thời còn ở Việt Nam. Tại Hoa Kỳ ông bắt đầu tham gia các sinh hoạt văn hóa, tuổi trẻ trong mạng lưới Internet từ cuối thập niên 80.

Đạo có nhiều đóng góp vào nỗ lực xây dựng các phong trào trẻ tại hải ngoại từ đầu thập niên 90 đến nay và thường xuyên tham gia thuyết trình về các chủ đề tuổi trẻ tại các cộng đồng Việt Nam, các hội nghị nhân quyền, tại các đại học, tổng hội sinh viên, trại hè sinh viên.

Tác phẩm anh xuất bản:

Giấc mơ Việt Nam (văn)
Ðổi cả thiên thu tiếng mẹ cười (tập thơ)
Thao thức (tập thơ)
Thơ Trần Trung Đạo (tập thơ)
Tâm bút Trần Trung Đạo (văn)
Mao Trạch Đông, cuộc đời chính trị và tình dục (lược dịch)
Chính luận Trần Trung Đạo (văn, Nhà xuất bản Cổ Loa, 2014)

Trong tiểu luận của Trần Trung Đạo về Giấc Mơ Việt Nam, trích dẫn tiêu biểu:

"Câu chuyện thành công của nước Mỹ, đúng như Roger Rosenblatt viết, đã bắt đầu từ một giấc mơ chung: Giấc Mơ Người Mỹ hay American Dream như chúng ta thường nghe gọi bằng tiếng Anh. American Dream được định nghĩa trong tự điển Wordsmyth như là “một lý tưởng của người Mỹ, nhờ đó, con người nhận được sự giàu có vật chất, bình đẳng, tự do, và các giá trị tương tự (the American ideal that any man or woman may obtain material wealth, equality, freedom, and the like)”.

American Dream đã giúp nhân dân Mỹ chiến thắng đạo quân tinh nhuệ của Anh Hoàng George III trong cuộc chiến tranh giành độc lập (1775-1783), đã giúp nhân dân Mỹ vượt qua những bất đồng kinh tế chính trị sâu sắc trong thời kỳ chiến tranh nội chiến (1860-1865), đã giúp đưa nước Mỹ trở nên quốc gia có lợi nhất sau cả hai cuộc chiến tranh thế giới.

American Dream là giấc mơ mà những người cha sáng lập của quốc gia Hoa Kỳ từng ôm ấp và theo đuổi: Tự Do, Dân Chủ và Cường Thịnh. Tổng Thống đầu tiên George Washington đã từng dặn dò: “Tôi mong được thấy Hoa Kỳ mãi mãi là đất nước của tự do và công lý”. Tượng đài kỷ niệm Tổng Thống George Washington được kiến trúc dựa theo tinh thần độc lập, tự chủ và vươn lên đó.

American Dream là giấc mơ bình đẳng mà Mục Sư Martin Luther King đã đọc trên thềm đài kỷ niệm Lincoln ngày 28 tháng 8 năm 1963: “Tôi mơ một ngày, trên đồi Georgia, con cháu của những người nô lệ cũ, và con cháu của những chủ nô cũ, ngồi lại với chung một bàn trong tình huynh đệ...Tôi mơ một ngày, bốn người con của tôi sẽ được sống trong một đất nước, nơi đó, chúng sẽ không bị phán xét do màu da mà chính bằng tư cách riêng của chúng”.

American Dream, qua nhiều thời đại, từ những người trên chiếc tàu Mayflower cho đến hôm nay, đã được làm phong phú thêm để trở thành một bản sắc văn hóa, một truyền thống đặc biệt của quốc gia này.


Trở về với lịch sử Việt Nam, tổ tiên chúng ta, ông bà chúng ta đã bao giờ mơ và theo đuổi Giấc Mơ Việt Nam chưa?...

Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của những bàn tay khối óc xây dựng nên nền văn hóa Đông Sơn, bắt đầu từ hàng ngàn năm trước, trải dài đến thời điểm cực thịnh vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên. Những chiếc trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lữ được chạm trổ tinh vi đánh dấu một thời đại vàng son trong tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Những cổ vật quý giá đó, không phải chỉ là những biểu tượng cho văn minh dân tộc chúng ta mà còn đại diện cho cả nền văn minh vùng Nam Á đương thời. Chính tinh thần văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn đã hun đúc thành sức mạnh dân tộc, để các thế kỷ sau đó, đủ sức đối kháng với sự xâm lăng thô bạo của các nguồn văn hóa mang ý đồ đồng hóa phát xuất từ phương Bắc.

Thật vậy, mặc dù hơn một ngàn năm trong bóng đêm nô lệ nhà Hán, nhà Ngô, nhà Đường với bao nhiêu cực hình đày đọa, sáng xuống bể tìm ngọc châu, chiều lên non săn ngà voi, trầm hương, châu báu, dân tộc Việt vẫn bảo vệ được tính độc lập, vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt trong sáng và thuần nhất. Đất nước chúng ta đã hơn một lần bị mất đi và giành lại được nhưng chúng ta hãnh diện nói lớn rằng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ bị mất gốc. Hiếm có trên một đất nước nào, ở đó, tên của một con sông, một ngọn núi, một thôn làng, cũng có thể làm cho người dân khi nhắc đến phải rơi nước mắt. Những Phong Hóa, Nam Quan, Mê Linh, Bạch Đằng, Vạn Kiếp, Thiên Trường, Diên Hồng, Chi Lăng, Lam Sơn, Đống Đa, v.v... không phải chỉ đơn giản là những địa danh lịch sử, mà hơn thế nữa, còn là là nơi giữ gìn anh linh hùng khí của dân tộc chúng ta. Hình ảnh những chiếc búa, những chiếc rìu, những mũi thương, mũi đao, mũi tên bằng đồng đào được ở vùng Trung Châu, Bắc Việt, ở Sông Bạch Đằng, dọc Ải Nam Quan không chỉ là những cổ vật mà còn là chứng tích của bao nhiêu trận mạc, bao nhiêu cuộc chiến đấu, bao nhiêu máu xương và nước mắt của tổ tiên Lạc Việt đã đổ xuống trước áp lực của các triều đại Bắc phương xâm lấn khác.

Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của hai người phụ nữ Việt đất Mê Linh uy danh lừng lẫy, đã can đảm thắp lên ngọn lửa tự do cho dân tộc. Một ngàn năm trăm năm trước Jeanne d'Arc, người phụ nữ Pháp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống ách cai trị của người Anh, tại vùng Đông Á đã có hai người phụ nữ Lạc Việt, Trưng Trắc và Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa chống nhà Hán và lập nên một triều đại huy hoàng. Dù chỉ trị vì được 3 năm, tinh thần “giặc đến nhà đàn bà phải đánh” của hai bà đã trở thành truyền thống yêu nước tồn tại đến ngày nay.

Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của các bô lão được Vua Trần Thánh Tông triệu đến Điện Diên Hồng để hỏi ý trước cuộc xâm lăng của đại quân Mông Cổ vào tháng Chạp năm 1284. Lần đầu tiên trong lịch sử, sức mạnh dân tộc Việt thể hiện không chỉ bằng lòng yêu nước nhưng còn bằng tinh thần dân chủ. Chính sức mạnh tổng hợp vô địch của lòng yêu nước và tinh thần dân chủ đã đẩy lui bao nhiêu vạn hùng binh Mông Cổ trong ba cuộc chiến chống quân Nguyên lừng lẫy. Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đã cảm khái sau cuộc kháng Nguyên lần thứ hai:

Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông muôn thưở vững âu vàng

Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của Bình Định Vương Lê Lợi sau ba lần tổn thất phải lui về tử thủ Chí Linh. Quân kháng chiến đã phải đào củ chuối, giết ngựa chiến mà ăn. Suốt mười năm nằm gai nếm mật đầy hy sinh gian khổ, khi hòa khi chiến, lúc cương lúc nhu, tổ tiên chúng ta trong thời đại nhà Lê cuối cùng đã giữ được Giấc Mơ Việt Nam còn sống. Nguyễn Trãi đã kết luận trong Bình Ngô Đại Cáo: “Xã tắc từ đây vững bền, giang sơn từ đây đổi mới, càn khôn bĩ rồi lại thái, nhật nguyệt hối rồi lại minh, ngàn năm vết nhục nhã sạch làu, muôn thuở nền thái bình vững chắc, âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ”. Sử gia Phạm Văn Sơn trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã nhận xét về Giấc Mơ Việt Nam: “Và cũng có thể nói rằng những cuộc hưng vong thê thảm này đã hun đúc cho dân tộc chúng ta một tinh thần tranh đấu bền bỉ, để tồn tại đến ngày nay, oanh liệt dưới vòm trời Đông Nam Á”...."

Giấc Mơ Việt Nam - Mê Linh- Chí Linh

Bài viết này xin kết thúc bằng “Giấc Mơ Việt Nam” của Trần Trung Đạo đã đưa ra hình ảnh tiêu biểu của được giấc mơ Việt Nam:

Nếu nước Hoa Kỳ được thành lập từ những giấc mơ của người dân các nơi đến đây đóng góp và xây dựng, và những giấc mơ đó đã được thực hiện hoàn mỹ tạo đất nước này thành công để là một quốc gia vĩ đại, thật sự hùng mạnh và phú cường.

Nếu giấc mơ của Tổng thống đầu tiên Hoa Kỳ Geogre Washington mơ rằng: ”Tôi mong được thấy Hoa Kỳ mãi mãi là đất nước của tự do và công lý”, để rồi nước này thành công vĩ đại vì bởi những giá trị của sự tự do, công bình, dân chủ và nhân quyền.

Nếu giấc mơ về công bình xã hội của Mục sư Martin Luther King rằng: “Tôi mơ một ngày, trên đồi Georgia, con cháu của những người nô lệ cũ, ngồi lại chung một bàn trong tình huynh đệ... Tôi mơ một ngày, bốn người con của tôi sẽ được sống trong một đất nước, nơi đó, chúng sẽ không bị phán xét do màu da mà chính bằng tư cách riêng tư của chúng”.

Xin Đấng tạo hóa trên cao phù trợ cho giấc mơ Việt Nam của Trần Trung Đạo được như giấc mơ Hoa Kỳ để Việt Nam ta sớm có được tự do, dân chủ và nhân quyền, để Việt Nam ta sớm có được hùng mạnh và phú cường, và

để Việt Nam ta sớm có được sự bình đẳng, không bị kỳ thị "hồng hơn chuyên", bị kỳ thị chênh lệch xã hội do quyền thế lãnh đạo, do tham quyền nhũng lạm.

Sau cùng, lời riêng xin chúc mừng Trần Trung Đạo mang tác phẩm "Chính Luận" về Nam Cali được đón nhận nồng nhiệt.


Trần Việt Hải

Los Angeles, 15/01/2015
Last edited by khieulong on Wed Jan 21, 2015 8:56 am, edited 1 time in total.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ðỉnh Gió Hú với Emily Brontë,
cùng Nhất Linh và Nguyễn Tường Thiết
Tác phẩm duy nhất và nổi tiếng của nữ nhà văn người Anh, Emily Brontë, là quyển Wuthering Heights, có tên Việt ngữ là Ðỉnh Gió Hú. Trong bài viết này tôi xin đề cập hai nhà văn cũng là hai dịch giả Nhất Linh và Nguyễn Tường Thiết liên quan đến những bản dịch trước và sau năm 1975.

"Đỉnh Gió Hú" là một truyện tình lãng mạn, bi ai vì yêu nhau mà không thành, rồi sinh lòng thù hận, cốt truyện xẩy ra nơi miền đồng hoang Haworth, vùng West Yorkshire, bên Anh quốc, tác phẩm đưa tâm hồn độc giả qua những cảm giác bi thảm vì sự buồn bã, ảm đạm nhất trong loại chuyện hư cấu. Vào cuối thế kỷ 18, phong trào lãng mạn (romanticism) đã tràn vào nước Anh và nền văn học Anh có bộ môn văn chương đáng lưu ý nhất là thi ca, thi phú (poetry). Đề cập đến phong trào lãng mạn này của nước Anh, chắc hẳn phải nói đến những tài danh như Lord Byron, Samuel Taylor Coleridge, Robert Burns, Percy Bysshe Shelley, William Wordsworth, John Keats, William Blake,... Hãy kể thêm nhà văn nữ Jane Austen, người được xem như thuộc trường phái lãng mạn cổ điển, nổi bật qua các tác phẩm Sense and Sensibility (1811), Pride and Prejudice (1813), Mansfield Park (1814) và Emma (1815). Và đến cuối giai đoạn của phong trào lãng mạn này bỗng xuất hiện là những ngòi bút gây sóng gió cho văn chương Anh là những chị em nhà Brontë với các danh tác như Jane Eyre (Kiều Giang), Villette và Wuthering Heights (Đỉnh Gió Hú).
Image
Tác phẩm Ðỉnh Gió Hú

Đọc lời giới thiệu sách của nhà văn Nguyễn Tường Thiết khi giới thiệu tác phẩm Wuthering Heights, ông viết:

"Đỉnh Gió Hú là tác phẩm dịch thuật duy nhất của văn hào Nhất Linh. Ông đã dành những giờ rảnh hiếm hoi trong cuộc đời rất bận rộn của ông để dịch cuốn Wuthering Heights này từ nguyên tác Anh ngữ phối hợp với bản Pháp ngữ Les Hauts de Hurle-Vent của dịch giả Frédéric Delebecque. Đầu tiên ông dịch nhan truyện là Mỏm Gió Hú, về sau được sửa thành Đỉnh Gió Hú trước khi đăng một phần trên Nguyệt san Tân Phong(Sài Gòn, Việt Nam) vào năm 1960.", kể tiếp về bản dịch của thân phụ Nhất Linh, ông viết:

"Trong bản thảo viết tay mà chúng tôi hiện giữ có ghi những mốc thời gian từ lúc khởi dịch cho đến khi kết thúc: 19-12-1952, 21-8-1953, 27-6-1960 và 18-1-1962. Như vậy, sau khi viết xong cuốn tiểu thuyết sau cùng Giòng Sông Thanh Thủy vào năm 1961, Nhất Linh đã cố gắng mà không dịch xong Đỉnh Gió Hú trước khi ông qua đời vào ngày 7-7-1963... Năm 1974 chúng tôi phụ trách nhà xuất bản Phượng Giang có nhờ nhà văn Bảo Sơn dịch tiếp và Đỉnh Gió Hú được xuất bản lần đầu tiên năm 1974 tại Sài Gòn, Việt Nam... Hiện nay vì không có trong tay ấn bản của nhà Phượng Giang để in lại, nên chúng tôi quyết định đánh máy từ bản thảo của Nhất Linh và tự dịch tiếp một số chương cuối để hoàn tất và tái bản cuốn truyện giá trị này. Chúng tôi cố gắng theo sát tinh thần dịch thuật của văn hào Nhất Linh để giữ cho hơi văn toàn tác phẩm được thuần nhất."

Nhà văn W. Somerset Maugham đã chấm tác phẩm Đỉnh Gió Hú là một trong mười cuốn tiểu thuyết mà ông cho là hay nhất của mọi thời đại, (selected by W. Somerset Maugham as one of the 10 greatest novels of all time). Dịch giả Nguyễn Tường Thiết viết tiếp: "Dịch giả Nhất Linh đã ca tụng Đỉnh Gió Hú như là một trong những cuốn truyện hay nhất thế giới. Trong cuốn biên khảo của ông Viết và đọc tiểu thuyết Nhất Linh đã xếp Đỉnh Gió hú vào "những sách hay của nhân loại, đời đời công nhận, có giá trị bền mãi với thời gian, như những cuốn Chiến tranh và Hòa bình, Anna Karenina, Tình nghĩa vợ chồng, Một bản đàn của Tolstoĩ, cuốn Những linh hồn chết của Gogol, cuốn Mấy anh em Karamazov,Những người bị ám ảnh của Dostoievsky...". Cũng theo cuốn biên khảo đó, Nhất Linh còn viết: “Trong cuốn sách lạ lùng của nữ văn hào Anh quốc Emily Brontë, cuốn Đỉnh Gió Hú, xuất bản năm 1847, tác giả đã để một người vú già kể chuyện lại. Một vú già kể chuyện thì còn làm gì có những chỗ giảng giải về tâm hồn, ý nghĩ nhân vật nữa, tuyệt nhiên không có, tuyệt nhiên vú già chỉ là người đứng ngoài thôi. Thế mà chỉ bằng một giọng kể chuyện rất thường, bằng những chi tiết, vú già đó đã cho người ta thấy tất cả cái sâu xa của tâm hồn người trong truyện."

Image

Image

Nhà văn Nhất Linh + Nv. Nguyễn Tường Thiết
Nhà văn Nguyễn Tường Thiết định cư tại Seattle, Washington, trong cuộc sống hưu trí, ông bỏ thời gian đọc lại, và hiệu đính khi đánh máy lại bản thảo của thân phụ, và dịch phần cuối dở dang của bản thảo về tác phẩm Wuthering Heights: "Tôi tìm được một nơi có thể thực hiện cả hai thứ một lúc. Hồ Green Lake và quán cà phê Starbucks. Buổi sáng tôi thức dậy sớm lái xe đến hồ, đậu xe ở parking, chạy bộ một vòng quanh hồ chu vi 5 cây số, rồi tay xách cặp laptop, tôi đi ngang vườn hoa băng qua đường vào quán cà phê. Nơi đó nếu phía trong quán khách không ngồi đông lắm như hôm nay, tôi có một chỗ ngồi lý tưởng có thể vừa đánh máy vừa nhìn được cảnh bên ngoài."

Green Lake tọa lạc ở phía bắc của trung tâm thành phố Seattle, Washington, bên cạnh hồ là cái công viên trùng tên đẹp đẽ và thơ mộng. Nhà văn làm công tác hiệu đính và dịch thuật trong khung cảnh thiên nhiên thật lý tưởng, có món café Starbucks đi kèm. Thật nhất dương chỉ rồi chứ nhỉ. Tôi đọc tiếp:

"Đó là tập bản thảo dịch Đỉnh Gió Hú của Nhất Linh tôi đang đánh máy 50 năm sau tại một quán cà phê Starbucks thành phố Seattle ngày 23 tháng 8 năm 2006. Nơi một chiếc bàn tròn nhỏ sát cửa kính nhìn ra hồ Green Lake...

Nguyễn Tường Thiết."
ImageImage
Green Lake/Green Park, Seattle, Washington.


ImageImage
Bút tự của nhà văn Nhất Linh


Phần kế người viết xin lược sơ về nội dung của danh tác Wuthering Heights, mà địa danh này mang tên vùng đất hoang vắng ở hướng tây của vùng Yorshire, nơi câu chuyện xảy ra. Về phiên bản được Holywood quay thành phim vào năm 1939, do đạo diễn William Wyler thực hiện. Các diễn viên gồm:

1/ Vai chánh nữ do Merle Oberon Cathy [Catherine Earnshaw]
2/ Vai chánh nam do Laurence Olivier [Heathcliff]
3/ David Niven Edgar [Linton]
4/ Flora Robson Ellen [Dean]
5/ Geraldine Fitzgerald [Isabella Linton]
6/ Hugh Williams [Hindley Earnshaw]
7/ Leo G. Carroll [Joseph]
8/ Miles Mander [Lockwood]
9/ Cecil Kellaway [Earnshaw].


Hãng phim phân phối là Samuel Goldwyn, Inc.

Wuthering Heights đã nhiều lần được chuyển thể thành phim. Ngoài phiên bản trên được quay tại Mỹ trước Đệ Nhị Thế Chiến. Phiên bản điện ảnh đầu tiên của tiểu thuyết Wuthering Heights được quay tại Anh và đạo diễn bởi Albert Victor Bramble (1887–1963) vào năm 1920 và các phiên bản kế tiếp sau đó. Phiên bản gần nhất được sản xuất năm 2011 của Andrea Arnold, nữ đạo diễn từng đạt giải Oscar hạng mục phim ngắn năm 2005. Bộ phim từng được đề cử giải Sư tử vàng liên hoan phim Venice. Đây cũng là bản được Hội đồng Anh quốc chọn giới thiệu.

Tác phẩm Đỉnh gió hú được nhà văn Emily Brontë cho xuất bản lần đầu năm 1847 dưới bút hiệu Ellis Bell, lần xuất bản thứ hai của tác phẩm là sau khi Emily đã qua đời và lần xuất bản này được biên soạn bởi chính chị gái của bà là Charlotte Brontë. Tên của tiểu thuyết bắt nguồn từ một câu chuyện tình yêu không thành giữa đôi tình nhân Heathcliff và Catherine Earnshaw, như hgai vai chính của cốt chuyện.

Đỉnh Gió Hú là một chuyện tình buồn, có yêu nhau và rồi có thù hận. Sự hận thù dai dẳng. Ngòi bút của Emily Brontë xoay quanh chủ đề Tình yêu và Thù hận, cốt truyện khai thác quan điểm chênh lệch về giai cấp xã hội. Người con nuôi Heathcliff không được dùng tên họ của dòng dõi Earnshaw đã cho thấy sự phân biệt ngay từ đầu. Heathcliff là nhân vật chính trong suốt cả tiểu thuyết. Anh là một đứa trẻ mồ côi được gia đình Earnshaw đem về nuôi nấng. Lọt vào gia đình Earnshaw Heathcliff dần dà đem lòng yêu thương con gái của cha mẹ nuôi là Catherine Earnshaw và trở thành cái gai trong mắt của anh trai của Catherine là Hindley. Rốt cuộc Catherine Earnshaw cũng đáp ứng yêu lại Heathcliff. Nhưng Catherine có tính cách phóng khoáng, thích bay nhảy và đôi khi quá bay bướm đùa giỡn với tình yêu, cô nàng yêu Heathcliff nhưng lại coi việc cưới anh này là không thể được vì hố sâu ngăn cách nề nếp xã hội, chênh lệch về địa vị của hai người. Để rồi người mà Catherine chọn làm chồng là Edgar, và chính sự lựa chọn này đã gây nên sự đau khổ cho cuộc đời Catherine, cùng cả hai người đàn ông Edgar và Heathcliff. Sự phiêu lưu tình cảm đưa đến sự trả thù nghiệt ngã của Heathcliff mà hậu quả là cái chết của chính Catherine vì bệnh tật và đau buồn ngay sau khi sinh con gái Cathy.

Hareton Earnshaw là con trai duy nhất của Hindley Earnshaw. Hareton được Heathcliff nuôi dưỡng với mục đích biến cậu thành một gã ngang tàng, du côn hầu trả thù những gì Heathcliff đã phải trải qua ở nhà của họ Earnshaw. Chuyện tình đời sau tiếp diễn khi Hareton vẫn nảy sinh ra tình cảm yêu Cathy và hai người cũng lấy suôn sẻ tránh lặp lại bi kịch như mối tình của Heathcliff và Catherine.

Catherine "Cathy" Linton là con gái của Catherine Earnshaw và Edgar Linton. Cô được thừa hưởng tính tình phóng khoáng và mạnh mẽ của mẹ cũng như tình thương người của cha. Chính vì tình thương này mà cô đã bị Heathcliff bắt ép phải làm đám cưới với Linton để rồi nhanh chóng trở thành người đàn bà góa chồng. Sau một thời gian bị giam lỏng trong căn nhà ở Đỉnh gió hú, cô có cảm tình với con trai của Hindley là Hareton và cưới anh tình nhân sau cái chết của Heathcliff.

Đỉnh Gió Hú (Wuthering Heights) là tên nơi ở của ông dữ dằn Heathcliff, nhân vật chính trong tác phẩm văn chương lừng danh của Emily Brontë, xuất bản vào năm 1847, vài tháng sau khi xuất hiện tác phẩm danh tiếng Jane Eyre của người chị ruột là Charlotte Brontë.
Image
Film Wuthering Heights

Sau cùng người viết xin duyệt qua về gia đình Brontë của những nhân tài văn học nhưng yểu mệnh. Văn học thế giới đã và sẽ còn nhiều bàn bạc để nói về trường hợp đặc biệt của ba chị em nhà Brontë: Charlotte Brontë, Emily Brontë và Anne Bronte. Mặc dù tuổi sinh mệnh của mỗi người không dài lắm, hay khá ngắn ngủi (người thọ nhất đã không vượt quá nổi số tuổi 40), song vậy họ đã làm được những thành tích phi thường là để lại cho đời những kiệt tác văn chương. Tuy nhiên, xét cho cùng gia đình Emily Brontë là một gia đình bất hạnh.

Emily sinh năm 1818 là em gái của Charlotte Brontë và là người con thứ 5 trong gia đình có 6 anh chị em. Ngay từ khi còn nhỏ, Emily đã phải sống trong bầu không khí u ám xám xịt từ những cái chết của người thân xung quanh bà. Lên 3 tuổi, Emily đã chịu tang mẹ. Hai chị gái của bà cũng chết khi ở độ tuổi lên 10. Anh cả Branwell đầy tài năng cũng không sống được qua tuổi thanh xuân. Một năm sau khi Emily mất ở tuổi 30 thì Anne, em gái bà cũng ra đi. Trong các anh chị em, đặc biệt như Charlotte, người được xem là sống lâu nhất trong gia đình cũng không qua được tuổi 40. Người cha đau khổ sống để chôn cất tất cả các con của mình thì một năm sau ông cũng qua đời. Có thể do ảnh hưởng bởi những cái chết trẻ của những người xung quanh ngoài đời rồi sự chết chóc đó đi vào văn chương bi kịch tính như những nhân vật trong truyện tiểu thuyết này, tựa sách được chọn phản ảnh sự bi ai của câu truyện, cũng như địa thế và thiên nhiên xung quanh của tên "Đỉnh Gió Hú" tại vùng Haworth, Yorkshire, nơi mà người cha Brontë của bà làm mục sư. Ngôi nhà của gia đình trông ra nghĩa trang xứ đạo yên tĩnh và sau lưng nhà là một ngọn đồi cô quạnh trên địa thế cao lộng gió. Là một người sống vói cái riêng tư của chính mình, Emily thường ra đứng trên ngọn đồi này để nhìn thiên nhiên bao la quanh mình là những dải đồng hoang hoang vu của miền Bắc nước Anh. Lấy bối cảnh cho cốt truyện như vậy để Emily dựng cấu trúc cho tiểu thuyết độc đáo độc nhất của tác giả.

Chịu tang Mẹ mất sớm, cha là người tu hành sống cô độc lặng lẽ, như trên đã nói nhà nằm ở một con đồi vắng vẻ, quạnh hiu nên chị em nhà Brontë thường lẩn trốn vào thế giới văn chương chữ nghĩa, họ làm bạn với những tên tuổi trong sách vở William Shakespeare, John Milton, hay Kinh thánh, tâm hồn họ được gần gủi với những câu chuyện hư cấu tưởng tượng về một thế giới hoang đường để sáng tác tác phẩm của họ. Emily là mẫu phụ nữ thích ẩn mình khép kín, sống về nội tâm, bà có những đam mê riêng tư như về sách vở văn học, thậm chí Emily không muốn ai can thiệp vào những cái thuộc về đời tư. Bà buồn lòng người chị cả, khi Charlotte xen vào bài viết muốn sửa đổi cốt truyện của bà.

Truyện Đỉnh Giói Hú của Emily Brontë như đã đề cập được các nhà văn W. Somerset Maugham và Nhất Linh ca tụng giá trị của danh tác này. Trong một cuộc bầu chọn những câu chuyện tình đẹp nhất mọi thời đại ở Anh quốc năm 2007, chuyện tình của Catherine và Heathcliff được chọn đứng đầu bảng chọn lựa, vượt trên cả chuyện tình bi thương Romeo và Juliet của Shakespeare (hạng thứ 2), chuyện tình giữa Elizabeth và Darcy trong tiểu thuyết Pride and Prejudice (Kiêu hãnh và Định kiến), được in 1813 của Jane Austen (hạng thứ 3). Chủ đề chính của cuốn truyện Đỉnh Gió Hú là sự trả thù, dù rằng ở phần sau của cốt truyện Heathcliff đã bỏ ý định trả thù.

Duyệt qua cuốn truyện đầy bi kịch này ta nhận thấy nó đã mô tả những tội lỗi của mọi nhân vật và tất cả đều bị trừng phạt, ngoại trừ đôi tình nhân hậu sinh Catherine và Hareton thật sự thương nhau và vì nhau trong cuộc sống, hai người trẻ này đã vượt qua những khó khăn của quá khứ để làm điều lành lánh điều dữ. Do đó sự nhận xét của người viết bài Đỉnh Gió Hú trình bày sự tương phản giữa điều tốt và điều xấu, như tình yêu và sự thù hận. Tác giả Emily Brontë cho sự kết thúc của truyện của bà viết có hậu. Câu châm ngôn xưa cho rằng "Lòng thù hận chỉ dấy lên sự xung đột, nhưng tình yêu thương sẽ tránh được tất cả những tội phạm", hay như nhà văn Josh Billings quan niệm: "Không có sự trả thù nào hoàn chỉnh bằng sự tha thứ". Xin cho tôi chấm dứt bài viết trong những ý nghĩ này.
Image
Emily Brontë
(Xin đặc biệt gửi bài viết đến nhà văn Nguyễn Tường Thiết nhân đọc bài viết của ông cho tôi ngẫu hứng khi đọc lại danh tác này mà nhà văn Nhất Linh đã chọn dịch thuật, bởi những giá trị cao quý của tác phẩm).

Trần Việt Hải
Los Angeles, 15/01/2015.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

[img]http://www.vietthuc.org/wp-content/uplo ... lá-dừa.jpg[/img]
Những Con Cào Cào Xanh

Dương Thịnh

Tác giả, 63 tuổi, là cư dân Westminster, thành phố Little Saigon . Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của ông là chuyện một cựu tù nhân chính trị đến Mỹ theo diện HO-8 đi tìm gặp vợ con sau nhiều cuộc đổi đời.


Đứng trong hàng rào kẽm gai của khu thăm nuôi. Bé Mai cố nhướng mắt để tìm người cha thân yêu của mình trong số những đoàn người gầy guộc, xanh xao, vàng vọt đang lếch thếch cất bước trên đường về trại tù. Với ánh nắng trưa hè gay gắt, mọi nguời đi thăm nuôi đều đứng trong mái hiên ngẩng cổ nhìn ra. Riêng bé Mai bất chấp những tia sáng nóng đang rọi trên đôi má ửng đỏ, những giọt mồ hồ đang rịn trên trán. Cô bé cố giơ cao những con cào cào xanh hướng về phía đoàn người đang lần lượt đi qua, hầu mong cha của mình sẽ mau chóng nhận ra. Ông Sinh đã nhận ra con gái , ông giơ cao lon gô vẫy vẫy. Bé Mai sung sướng reo lên :

- Má ơi. Con thấy ba rồi! Con thấy ba rồi !

Đoàn tù vẫn bình thản bước lên đồi. Ông Sinh vừa đi vừa ngoảnh cổ lại đằng sau nhìn con..Khi không còn thấy hình bong cha nữa, bé Mai mới chịu chạy lại bên mẹ thút thít khóc

Thiếu phụ rút khăn tay lau mồ hôi trên trán con, vuốt mái tóc bé an ủi :

- Nín đi con, tí nữa mẹ con mình gặp cha rồi.

Thời gian thăm nuôi thật ngắn ngủi, chỉ mười lăm phút. Ông Sinh chỉ kịp ôm con vào lòng, hôn lên má con. Hỏi han vợ năm ba câu, chẳng nói được gì nhiều, đã gần hết giờ.

Mọi người trong phòng thăm nuôi chỉ biết nhìn nhau khóc và khóc. Đến giờ, tên cán-bộ oắt con quơ quơ khẩu súng AK về phía mọi người:

- Đã hết giờ, yêu cầu mọi người đứng lên ra về.

Ông Sinh vôi vàng nắm chặt hai bàn tay vợ và ôm hôn con lần cuối, sách bị gói lương khô cùng mấy con cào cào theo chân mọi người ra cửa.

Ngồi trên chuyến xe lô trở về thành phố, hầu hết là những bà vợ đi thăm nuôi chồng, họ đều mệt mỏi trong cuộc hành trình dài. Phần vì đường xa, phần vì phải thức khuya dậy sớm để nấu thức ăn, giờ đây tất cả đều cố nhắm mắt thiu thiu ngủ dưỡng sức. Riêng bé Mai không tài nào ngủ được, dù rất muốn ngủ và mệt mỏi. Hình dáng của người cha luôn luôn lởn vởn trong trí óc bé, thân hình gầy gò, đen đủi cùa ông khác xa với hình dáng trắng trẻo, hồng hào, mập mạp trước kia rất nhiều. Bé là người được cha thương yêu nhất. Đêm nào ông cũng ru bé ngủ, kể truyện cho bé nghe, trước khi rời khỏi phòng ông không quên hôn lên nút ruồi son trên cổ bé, mà ông thường gọi đùa là : "Nốt ruồi mang đến nhiều sự may mắn.

Ông có đôi bàn tay rất khéo léo và nghệ thuật. Chính ông đã dậy cho bé xếp hình những con thú, đồ vật bằng giấy, nhất là thắt hình những con cào cào bằng lá dừa non thật là tuyệt, trông chúng đẹp, hung dũng, oai phong biết bao! Bé rất thích và thường thắt để tặng bạn bè, vì thế chúng thường chọc và gọi bé lá con cào cào xanh. Biệt hiệu này bé rất thích và thường hay kể lại với cha. Ông nói con cào cào xanh với đôi chân cứng cáp, nhẩy xa, biểu hiện cho sự tương lai vững chắc. Cha muốn con gái của cha sau này cũng giống như những con cào cào này.

Riêng ông Sinh, ông không thể không cầm được nước mắt khi nhìn giỏ quà của vợ con. Sau gần hai năm tù cải tạo, đây là lần đầu tiên ông được thăm nuôi. Giỏ quà dù ít nhưng nó đã gói ghém biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, tình thương của gia đình, dù ít nhưng ông rất ấm lòng. Nhất là mấy con cào cào xanh, nhìn chúng ông cảm thấy vui vui và xao xuyến trong lòng. Cô bé không biết đã bỏ biết bao nhiêu công sức, tình thương yêu gói trọn vào đó để dành cho cha. Nghĩ tới đó tim ông như thắt lại.

Đây là lần đầu và cũng là lần cuối ông gặp mặt vợ con. Kể từ ngày thăm nuôi cho tới mấy năm sau này, ông không hề nhận được bất cứ tin tức gì về gia đình. Lòng ông như rối bời, tâm tính như mất trí, thân xác kiệt quệ. Mấy lần ông đã ngã qụy, tưởng không thể sống nổi, may nhờ bạn bè an ủi, giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần, ông đã qua khỏi.

Cuộc sống tù đầy cứ như thế: Chịu đựng, đau khổ, đói khát. Cho tới cuối năm 1981 ông được thả về.

Ra khỏi tù , ông không còn nơi nương tựa. Theo chòm xóm cho biết : Vợ con ông đã vượt biên năm 1976. Gia đình bên vợ thì đã bán nhà dọn đi nơi khác, không biết biệt tích nơi đâu. Còn bên ông thì không có ai cả, vì ông vô Nam chỉ có một mình khi ông mới mười hai tuổi. Thế là hết ! không biết đâu mà mò. Điều làm ông lo âu nhất, là vợ con ông có thật sự đi vượt biên không, hay là tin đồn nhảm?! Nếu đúng như vậy, liệu có thoát không? Hay là đã bị ... ông không dám nghĩ tiếp. Nếu thoát, tại sao không gửi thư về để cho ông biết tin. Những câu hỏi tại sao ?.... tại sao?... làm cho ông điên đầu. Hiện giờ ông mù tịt, và cũng không hiểu vì sao?!

Ra khỏi nhà tù nhỏ, ông lại vô nhà tù lớn. Cũng lao động thân xác để kiếm miếng ăn, cũng phải học tập, trình diện hàng tháng. Người ông càng ngày càng tiều tụy, nhưng ông phải ráng sống để có ngày gặp lại mặt vợ con.

May mắn nhờ một người bạn tù cùng chung một tổ trong trại tù, đưa ông về nhà cho tá túc qua ngày, cùng chỉ ông cách thức vá giầy, dép cũ. Cuộc sống của ông nhờ đó cũng tạm đủ.

Dạo này trời Sài-Gòn hay đổ những cơn mưa bất tử, làm ông Sinh dọn hàng ra, vô muốn bở hơi tai. Hai năm sau này công việc làm ăn của ông đâm khá ra. Giầy dép cũ mới, chôm chĩa gì ông cũng mua tuốt luốt, đem sửa chút ít, đánh bóng lại bán được gía cao.

Một người khách đi đến gian hàng ông. Ngắm nghía lựa một đôi, sỏ vừa chân rồi cầm lên hỏi :

- Bác, đôi này bao nhiêu?

Đang cúi lau giầy, ông vội vàng ngửng đầu lên định trả lời. Nhưng thấy người khách ông bỡ ngỡ, cảm thấy rất quen nên chưa kịp đáp. Người thanh niên thấy mặt ông cũng giật mình lùi lại, trơn mắt như gặp phải ma. Cậu ta định thần nhìn kỹ. Vội hỏi :

- Xin lỗi, xin lỗi. Bác có phải…..phải tên Sinh không?.

Cũng vừa kịp lúc ông Sinh nhận ra người khách lạ, chẳng ai khác hơn chính là cậu em vợ của mình. Như bắt được vàng. Ông Sinh rối rít dọn hàng không bán nữa. Hai anh em kiếm một quán cà phê ngồi tâm sự.

Thì ra vợ con ông đi vượt biên thực sự, hiện định cư ở Mỹ. Vợ ông đã có chồng khác và đã có hai con, một trai, một gái. Cha mẹ vợ đã bán nhà ở thành phố, dọn về quê ở. Mấy năm nay ông bà vẫn đều đặn nhận được tiền bạc do con gái chu cấp hàng tháng, và hiện cậu em trai vẫn còn ở với cha mẹ. Không hiểu vì lý do gì, cố ý hay có uẩn khúc gì khác, ông bà lại báo với con gái là ông đã chết trong trại tù.

Ngay ngày hôm sau. Ông Sinh cùng cậu em vợ vội đáp xe đò về thăm gia đình vợ. Chuyến thăm này đã khiến ông Sinh nhận nhiều sự đắng cay tủi nhục. Sự ơ hờ, tiếp đón tẻ nhạt đã làm ông thất vọng. Ông không có địa chỉ cũng như không có tin tức gì về vợ con. Ông chỉ biết đạì khái là : Vợ ông không muốn cho ông biết nơi ở của nàng. Chuyện ông bị chết là do công an tới nhà báo tin.

Nhưng nhờ vào lòng tốt của cậu em vợ, cuối cùng ông cũng có được địa chỉ của vợ con trong tay. Nhưng làm được gì với địa chỉ này ? Đối với vợ, ông có lỗi với nàng chứ không phải nàng có lỗi với ông. Ở vậy chờ chồng nuôi con là việc tốt, nếu không thì đành phải chấp nhận, không thể oán trách. Nhưng với con, ông phải có bổn phận và trách nhiệm. Ông nhớ cô bé vô cùng không kể xiết.

Ông đã viết thơ nhiều lần, nhưng chẳng bao giờ được hồi âm. Lại mu tin, mù tịt. Đầu óc ông rối rắm tơ vò. Con ông ra sao rồi?

Sau đó chương trình HO được cứu xét, đưa các sĩ quan tù nhân cải-tạo qua Mỹ. Ông sung sướng bán tín, bán nghi. Nhưng sự thật đã đến. Giờ đây ông đã ngồi trên máy bay đến Mỹ theo diện HO.8. Việc đầu tiên của ông dự định là sau khi lo thủ tục giấy tờ xong, ông sẽ đi tìm vợ con.

Đứng trước cánh cổng sắt của căn nhà sang trọng, trong một thành phố thuộc tiểu bang Illinois . Ông Sinh lưỡng lự không dám bấm chuông, lòng ông hồi hộp, tim đập loạn xạ.. Ông đang tưởng tượng hình dáng vợ mình bây giờ thế nào? Con mình đã lớn khôn ra sao? Cô bé giờ đã hai mươi mốt tuổi rồi còn gì, không biết ông có còn nhận ra không?

Rồi ông tự hỏi có nên vào hay không ? Gia đình người ta đang hạnh phúc, mình vào có đúng lúc không?! Đang lúc suy nghĩ miên man. Chợt ông thấy một thiếu phụ từ trong nhà đi ra, tay cầm bình tưới cây nhỏ, tưới vào những chậu hoa trước cửa. Ông không thể nhầm được, đó chính là vợ mình dù thời gian có thay đổi. Ông tính rướn người lên gọi nhưng kịp ngừng lại. Một người đàn ông tóc vàng từ bên hông nhà đi tới, đến sau lưng người thiếu phụ ôm choàng lấy nàng, hai người hôn nhau thắm thiết. Ông lặng người tê tái, quay gót bỏ đi.

Về quán trọ, ông viết vội vài chữ gửi cho vợ, hẹn nàng cho ông gặp mặt dù chỉ một vài phút. Ngồi trước mặt vợ, ông nhận thấy nàng rất đẹp, đẹp hơn trước nhiều, nhưng cũng không dấu được nhiều nếp nhăn trên trán khóe mắt, vành môi.

Để phá tan bầu không khí ngỡ ngàng. Ông Sinh khen vợ:

- Em. Trông em đẹp lắm !.

- Cám ơn anh. Anh qua đây từ bao giờ? Trông anh già và ốm yếu quá ! Anh có cần sự giúp đỡ gì không? Chồng em quen biết rất nhiều.

Ông Sinh thấy nàng tự nhiên quá, không có nét xúc cảm nào lộ trên khuôn mặt. Ông cũng bình thản.

- Cám ơn em. Anh, chữ nghĩa tiếng Anh, tiếng u còn kém lắm, vả lại mới qua chưa cần gấp. Anh muốn gặp con, nó dạo này thế nào rồi ?.

Không trả lời vội. Nàng đẩy ly cà phê sữa tới trước mặt ông:

- Cà phê Starbuck này ở Mỹ có tiếng lắm. Em còn nhớ anh thích uống cà phê nên em kêu. Còn con hả, em cũng muốn mong gặp nó đây. Mấy năm nay nó chẳng hề ghé thăm mẹ. Lâu lâu gọi phôn lấy lệ.

Ông Sinh nhỏm dậy:

- Em đã làm gì nó? Bây giờ nó ở đâu? Cho anh xin số phôn và địa chỉ của nó!

- Nào em biết. Nó không muốn cho em biết bất cứ điều gì.

Ông Sinh như chết điếng :

- Em nói thật đó chứ?.

- Em không dối gạt anh. Dù chúng ta không còn là vợ chồng. Nhưng đối với con, em rất mực thương yêu. Có anh đây em rất mừng, anh sẽ lo cho nó. Nó là đứa con rất có hiếu. Sự việc không hay xẩy ra, hoàn toàn do lỗi tại em. Anh đi tìm con dùm em. Cho anh biết thêm là hiện nay nó đang học ngành y khoa, sắp ra trường. Anh cứ đi hỏi mấy trường đại học xem sao! Em đã dò hỏi khắp mọi nơi rồi, nhưng vẫn biệt vô âm tín. Anh mới qua chắc cần tiền bạc, em giúp.

Vừa nói, nàng vừa mở bóp lấy cuốn chi phiếu.

Ông Sinh nghe vợ nói một hồi như lùng bùng lỗ tai. Không cần nghe thêm, ông xô ghế đứng dậy.

Nhờ những người quen biết chỉ dẫn. Ông Sinh đăng tin tìm người trên báo chí cả Mỹ lẫn Việt, cùng phôn tới tất cả các trường đại học xa gần, vẫn không có kết quả. Ở nước Mỹ to lớn này gồm năm mươi tiểu bang, có biết bao nhiêu trường đại học mà kể, tìm người như tìm kim đáy biển, biết đâu mà mò. Rồi ông lại suy nghĩ vớ vẩn, nhỡ con bé tự tử. Nghĩ tới, nghĩ lui làm ông rối trí thêm. Cuối cùng ông đành buông xuôi số phận theo thời gian.

Để mưu sinh và cũng để tạo cơ hội tìm kiếm, ông ghi danh đi học khóa đào tạo y công, phụ giúp trong các bệnh viện, hầu hy vọng có một ngày nào đó gặp được con mình.

Thời gian cứ thế trôi qua. Ông đã phục vụ rất nhiều bệnh viện trong tiểu bang California này mấy năm rối, cũng thăm hỏi nhiều rồi, sự hy vọng của ông càng ngày càng giảm, hầu như tuyệt vọng.

Niềm vui thú duy nhất của ông hiện thời là mấy con cào cào xanh, mà ông cất rất kỹ từ khi thăm nuôi tới giờ, dù chúng đã khô héo quắt queo. Mỗi khi nhớ con ông lại mang ra ngắm nghía, tâm hồn ông lúc đó hoàn toàn chìm đắm trên khuôn mặt của bé Mai.

Jennifer Trần là một bác sĩ trẻ, đẹp, làm việc rất siêng năng, cần mẫn, hay giúp đỡ mọi người. Ai cần việc gì, khó khăn gì, hay trong nhà cần chuyện gì, cần người thay thế, bác sĩ vui lòng giúp đở, dù đó là ngày nghỉ của mình. Bác sĩ đã có vị hôn phu cùng phục vụ trong cùng một bệnh viện. Hai người tính làm đám cưới lâu rồi, nhưng không hiểu vì sao cứ lần này rồi lại lần khác, không thể thực hiện được. Bạn bè thúc giục, khuyên nhủ, nàng chỉ cười...

Tuy là người vui tính thích bông đùa, nhưng bác sĩ Trần vẫn không dấu được nét buồn của mình. Nét buồn đó càng làm tăng thêm vẻ đẹp dịu hiền, mà ai cũng gọi đùa là nữ hoàng sầu muộn. Dù còn trẻ, nàng vẫn không thích nơi hội hè đình đám, những chỗ đông người, mà chỉ muốn sống cho riêng mình, nhưng đối với bạn hữu, nàng cũng quậy ra trò.

Hôm nay ông Sinh nghỉ không đi làm. Ông rảnh rỗi cùng người bạn gìa đi thăm cháu gái của ông ta bị bệnh nằm trong bệnh viện. Tiện thể ông mang mấy con cào mà ông mới thắt đêm qua, cho cháu gái làm quà.

Ngày chủ nhật, bệnh viện sao có quá nhiều ca mổ! Bác sĩ Trần đã thấm mệt, mồ hôi rịn đầy trán. Nàng lấy khăn mui xoa chấm chấm mồ hôi, bây giờ nàng mới thực sự được rảnh tay.

Bác sĩ Trần đi qua dẫy phòng khoa nhi để đến phòng ăn, vì từ sáng đến giờ nàng chưa có cái gì vào bụng. Những tiếng cười khanh khách của một bé gái nào đó vang lên từ phòng khoa nhi. Cảm thấy vui vui nàng ghé lại nhìn thử. Một bé gái, nằm quay mặt vào phía trong, hình như đang giỡn với vật gì đó, làm cho cô bé khoái chí cười nắc nẻ. Tính tò mò thúc đẩy, nàng rón rén lại gần, nhìn vào phía trong. Bất gíác nàng run người lên, mắt mở trợn trừng. Cô bé đang cho hai con cào cào xanh đá nhau, hai con cào cào được thắt bằng lá dừa xanh , trông thật là đẹp. Nàng run run cầm lên mân mê rồi hỏi :

- Ở đâu bé có hai con cào cào này?.

Như sợ bị la mắng, chơi đồ chơi trong phòng bệnh. Cô bé phân bua :

- Không phải của con mua, mà của ông già lúc nẫy cho con.

Bác sĩ Trần không kềm được xúc động, hỏi dồn:

- Bao lâu rồi ? Ông đi đâu ?.

Cô bé hốt hoảng :

- Dạ…dạ, con cũng hổng biết. Đi đã lâu rồi.

Bác sĩ Trần hốt hoảng bước ra khỏi phòng, dáo dác nhìn quanh. Mặc kệ cho bụng đói, nàng chạy từ phòng nọ qua phòng kia, từ dẫy nọ qua dẫy kia để tìm kiếm. Trước sự lạ lùng đó, mọi nhân viên trong bệnh viện đều vây lại hỏi thăm,

Nàng hỏi bâng quơ :

- Có ai thấy ông già nào đó trong bệnh viện không?

Trước câu hỏi ngây ngô đó, mọi người đều không nín được cười, nhưng không ai dám cười trước vẻ nghiêm trọng của bác sĩ Trần.

Trong bệnh viện này, biết bao nhiêu ông già, bà cả đi thăm con cháu, người thân. Cảm thấy câu hỏi của mình qúa ngớ ngẩn, nàng cười gượng :

- Thôi. Không có gì, cám ơn các bạn.

Tuy nói vậy nhưng trong lòng nàng vẫn không yên, tự nghĩ: Chỉ có cha mình mới thắt kiểu đó, nhưng ông đã chết rồi mà! Chẳng lẽ vì quá nhớ cha mà đâm ra mê sảng? Thôi đi ăn cơm.

Bác sĩ Trần, chính là bé Mai. Từ khi theo mẹ đi thăm nuôi cha, trở về nhà, không ngày nào bé không nghĩ đến cha của mình. Ngày vượt biển ra đi, bé nhất định không chịu, đợi ngày cha trở về đi cùng. Vì sự hăm dọa của ông bà ngoại cùng những lời khuyên giải của mẹ, bé đành chịu phép. Sang đến Mỹ bé nhất định phải học giỏi để có tiền gửi cho bà ngoại đi thăm nuôi cha đều đều. Bé sẽ nhẩy cao, sẽ cứng cáp như những con cào cào xanh mà cha đã từng nói.

Cuộc vượt biên êm xuôi. Sau hơn một năm ở trên đảo, bé cùng mẹ được định cư tại Hoa-Kỳ. Dòng đời đưa đẩy, mẹ lấy chồng khác, một ông Mỹ giầu có. Cô bé có thêm hai đứa em gái.

Giờ đây, bé Mai đã mười chín tuổi, cái tuổi bước vô ngưỡng cửa đại học. Càng lớn nàng càng giống cha. Đã nhiều lần nàng biên thư và gửi tiền cho ngoại để hỏi thăm tin tức, cùng sức khỏe của cha trong trại tù, nhưng không ai trả lời. Có hỏi mẹ, chỉ được biết :

- Cha con đã chuyển đi ra ngoài Bắc rồi. Bà ngoại đã già không thể đi được.

Nói sao nàng tin vậy. Mỗi lần nhớ ông, nàng lại mang hình hai cha con ra ngắm. Tấm hình nàng đã mang theo khi đi vượt biên.

Sống chung đụng trong cùng một mái nhà. Điều làm cho nàng ghê tởm, xấu xa, bỉ ổi nhất là cái ông Mỹ kia cứ nhởn nhơ mặc quần lót đi trong phòng khách. Có lần ông ta đã dám xàm xỡ ôm nàng xờ xoạng khi không có mẹ ở nhà. Từ đó nàng đã bỏ nhà đi sang tiểu bang khác, chỉ biết học và làm việc tự lo cho bản thân, lâu lâu hỏi thăm mẹ qua điện thoại công cộng.

Vào một ngày, khi điện thoại về thăm mẹ, được bà báo cho biết : "Cha đã chết trong tù!" . Mọi vật như xụp đổ. Nguồn hy vọng bám víu cuối cùng cũng không còn. Thế là hết!

Nàng đã khóc đến khô cả nước mắt, cuộc sống như tẻ nhạt, chán chường không còn tha thiết gì nữa! Nàng chỉ biết vùi đầu vào sách vở cho quên nỗi buồn, và phải chiến đấu, chiến đấu, cứng cáp như những con cào cào xanh mà cha nàng khi còn sống hằng mong mỏi. Cuối cùng nàng cũng lấy được mảnh bằng chuyên khoa giải phẫu.

Qua tin tức báo chí. Bác sĩ Trần được biết các sĩ quan tù cải tạo được chính phủ Mỹ cứu xét cho định cư tại Hoa kỳ theo chương tình HO. Không hiểu sao nàng hồi hộp lạ thường. Rồi quyết định bỏ miền đông tuyết phủ, trở về với nắng ấm Cali.

Hôm nay là ngày lễ Thanksgiving, nàng muốn đi ra biển. Không phải để tắm hay hóng gió, mà nàng muốn làm một công việc, công việc này nàng đã dự tính từ lâu nhưng vì quá bận rộn nên không thể thực hiện được. Nhân ngày lễ tạ ơn, nàng phải làm điều gì để nhớ ơn cha. Nàng sẽ thắt thật nhiều, thật nhiều con cào cào thả xuống biển, để chúng mang lời cầu nguyện của nàng đến người cha thân yêu. Nàng tin tưởng rằng ở nơi xa xăm vĩnh cửu nào đó, cha nàng sẽ nhận được lời khấn nguyện này.

Nàng rủ bác sĩ Hải (vị hôn phu) cùng đi chơi biển. Chàng rất thích thú lẫn ngạc nhiên về lời yêu cầu này, khác với bản tính trầm lặng không thích nơi ồn ào của nàng từ trưóc đén giờ, bèn okay chấp nhận liền.

Trong khi chờ đợi vị hôn phu đi mua thức ăn. Nàng đã kiếm đựợc khá nhiều lá dừa xanh, cẩn thận chau chuốt tước từng lá và bắt đầu thắt những con cào cào. Nàng để hết tâm trí vào công việc, chìm đắm trong niềm thương nhớ cha.

Ngoài kia, sau khi đã mua thức ăn, trên đường trở về chỗ cũ nơi bãi biển, chàng thấy một đám con nít đang vây chung quanh một cụ già Việt-Nam, trên tay đứa nào cũng cầm một con cào cào, thấy hay hay chàng cũng xin một con.

Vừa đi vừa ngắm con cào cào, chàng cảm thấy nó rất đẹp và còn có vẻ oai phong nữa. Chàng sẽ cho vị hôn thê, chắc nàng sẽ thích thú lắm! Về đến nơi. Thật, chàng không thể tin vào mắt mình, nàng cũng đang thắt… con cào cào.

- Em đang làm gì vậy.

- Thắt con cào cào.

Chàng cầm con cào cào mới xin được, vẫy vẫy trước mặt nàng.

- Anh cũng có một con.

Nhìn con cào cào, mặt nàng tái mét, hỏi dồn:

- Ở đâu anh có nó?

Chàng chỉ về hướng đám trẻ:

- Một cụ già Việt Nam cho anh.

Chẳng nói chẳng rằng, nàng nắm tay chàng chạy như bay về hướng chỉ. Một ông già, tóc bạc quá nửa, đeo cặp kiếng lão, hai tay đang thoăn thoắt thắt những con cào cào. Dù thời gian, tuổi tác có thay đổi, nhưng với hình dáng kia, nét mặt kia đã in sâu vào tâm khảm, nàng không thể nhầm được, chính là cha nàng. Quá xúc động, nàng ngất xỉu.

Sự việc xẩy ra quá đột ngột, bác sĩ Hải hoảng hốt la cầu cứu. Ông Sinh (vâng, chính ông Sinh) ở vị trí gần nhất nghe tiếng hét vội vàng nhào tới. Ông vội thọc tay vào túi quần lấy lọ dầu xanh thoa lên hai thái dương cô gái, giựt tóc mai, giựt gân cổ. Bỗng người ông run lẩy bẩy, tim như muốn ngừng đập, khi ông thấy nốt ruồi son trên cổ cô gái, trên tay cô còn nắm chặt con cào cào. Như có linh tính, ông định thần nhìn kỹ khuôn mặt thiếu nữ. Ông gào lên trong tiếng nức nở, nghẹn ngào:

- Trời ơi! Mai….Mai, con tôi.

Cũng vừa lúc xe cứu thương tới nơi, đưa bệnh nhân lên xe. Ông Sinh, bác sĩ Hải cũng vội vàng leo lên theo. Cầm tay con gái, lòng ông Sinh bồi hồi xúc động, ông không ngờ gặp con trong hoàn cảnh này. Hai hàng nước mắt ngắn, dài chẩy trên hai gò má nhăn nheo. Nhưng ông cảm thấy sung sướng và ấm áp vô cùng.

- Tin bác sĩ Trần thị Mai gặp lại được cha già sau hai mươi năm xa cách đã loan truyền khắp trong bệnh viện, một vụ trùng phùng đầy đau thương, thích thú, khiến ai cũng mủi lòng.

- Hôm nay nhà bác sĩ Mai thật đông đảo khách tới thăm, bạn bè, thân hữu nghe tin mang hoa tới chúc mừng. Trong mấy năm qua , bây giờ mọi người mới thấy được nét tươi vui, rạng rỡ thực sự trên khuôn mặt u sầu của vị bác sĩ mà họ mến yêu. Nhưng, người sung sướng nhất vẫn là bác sĩ Hải...

Dương Thịnh

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Tiểu Tử, những giọt nước mắt, những tiếng thở dài
Từ Thức
André Gide nói “C'est avec les beaux sentiments qu'on fait de la mauvaise littérature” (Với những tình cảm tốt, người ta làm văn chương dở) (1). Tiểu Tử là một nhà văn đã chứng minh ngược lại, có thể viết hay với những tình cảm tốt. Trong tác phẩm của ông, hầu như chỉ có những tình cảm tốt, chỉ có tình người. Một nhân vật nói về một nhân vật khác trong truyện ngắn “Made in Vietnam”: người chi mà tình nghĩa quá héng?” Ðộc giả nghĩ tới câu đó mỗi lần lại gần những nhân vật của Tiểu Tử. Người chi mà tình nghĩa quá héng. Ðộc giả chai đá tới đâu, đọc Tiểu Tử cũng không cầm được nước mắt. Người ta khóc, nhưng sau đó thấy ấm lòng, vì thấy trong một xã hội đảo lộn, vẫn còn đầy tình người, vẫn còn đầy thương yêu, vẫn còn nghĩa đồng bào vẫn còn những người tử tế . Và thấy đời còn đáng sống. Một nhà văn Pháp nói văn chương, trước hết là xúc động. Trong truyện ngắn của Tiểu Tử, sự xúc động hầu như thường trực.

Miệt Vườn

Tiểu Tử là một nhà văn miền Nam điển hình, con đường nối dài của những Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam. Văn của ông là lối kể chuyện của người miền Nam, bình dị nhưng duyên dáng, duyên dáng bởi vì bình dị, tự nhiên. Tiểu Tử không “làm văn.” Ông kể chuyện; không có chữ thật kêu, không có những câu chải chuốt. Với cách viết, với ngôn ngữ chỉ có những tác giả miền Nam mới viết được. Không hề có cường điệu, không hề có làm dáng. Người đọc đôi khi có cảm tưởng tác giả không mấy ưu tư về kỹ thuật viết lách. Ông viết với tấm lòng.

Ngay cả tên những nhân vật cũng đặc miền Nam, không có Lan, Cúc, Hồ Ðiệp, Giáng Hương như trong tiểu thuyết miền Bắc, không có Nga My, Diễm My, Công Tằng Tôn Nữ như Huế, chỉ có những con Huê, con Nhàn, con Lúa, thằng Rớt, thầy Năm Chén, thằng Lượm , bà Năm Chiên, bà Năm Cháo lòng. Các địa danh cũng đặc Nam kỳ, không có Cổ Ngư, Vỹ Dạ, Thăng Long, chỉ có những Nhơn Hòa, Cồn Cỏ, Bò Keo, Bình Quới, những tên, những địa danh rất “miệt vườn,” chỉ đọc cũng đã thấy dễ thương, lạ tai, ngồ ngộ. Âm thanh như một câu vọng cổ ai ca bên bờ rạch.
Tiểu Tử, 88 tuổi, kỹ sư dầu khí, tác giả nhiều tập truyện ngắn (Những Mảnh Vụn, Bài Ca Vọng Cổ, Chuyện Thuở Giao Thời) học ở Marseilles, hiện sống ở ngoại ô Paris, nhưng văn của ông không lai Tây một chút nào. Rất Việt Nam, đúng ra rất Nam Việt, với lối viết như người ta kể chuyện bên ly la de, bên tô hủ tíu, với những chữ nghen, chữ héng, chữ nghe... “Cần gì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà...”

Dưới ngòi bút của một tác giả người Bắc, người Trung, gọi người đàn bà là con Huê, con Nhàn có vẻ hỗn, ở Tiểu Tử, nó chỉ có sự thân ái.

Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Tiểu Tử đã chứng tỏ ngôn ngữ địa phương, cách diễn tả địa phương làm giầu cho văn hóa dân tộc. Cố gắng bắt chước lối diễn tả Hà Nội là một lầm lỗi, nó chỉ làm cái vốn văn hóa của ta nghèo đi. (Sự thực Hà Nội ngày nay không còn gì là nơi văn vật, cái gì cũng “đéo.” Còn báo Nhân Dân không? Ðéo còn, chỉ còn Người Hà Lội.)

Những giọt nước mắt

Văn chương là hư cấu, nhưng đọc Tiểu tử, người ta thấy cái chân thực, có cảm tưởng không có chi tiết nào là kết quả của tưởng tượng. Tất cả đều là những chuyện tác giả đã sống, hay đã nghe kể lại. Vả lại, ở Việt Nam, thực tế vượt xa tưởng tượng. Cái đau đớn, cái thảm kịch mỗi người Việt Nam đã, đang sống, không có người viết văn nào, giầu óc tưởng tượng tới đâu, có thể bịa ra. Trong “Thầy Năm Chén,” ông thầy thuốc, suốt đời làm việc nghĩa, bị cách mạng hành hạ, chuẩn bị cho con vượt biên. Khi giã từ con, ông đưa cho con, thằng Kiệt, “một cái gói mầu đỏ đã phai màu, cột làm nhiều gút”, nói: “Cho con cái ni (ông già người gốc Huế). Con giữ trong người để hộ thân.” “Kiệt đến Cannada an toàn, một ngày dở cái gói của cha cho ngày vượt biển. Trong đó có... ba cái răng vàng. Thầy Năm Chén, nhờ ơn cách mạng, trở thành vô sản đã cạy ba cái răng vàng cho con làm của hộ thân đi tìm đường sống ở xứ người. Ðộc giả hiểu tại sao từ ngày con đi, ông Năm Chén chỉ húp cháo. “Chiếc Khăn Mùi Xoa” có thể coi là điển hình cho truyện ngắn Tiểu Tử , trong đó có sự xúc động cao độ, đẫm nước mắt, với những nhân vật nhân hậu, giầu tình nghiã, những chi tiết éo le như một cuốn phim tình lãng mạn, nhưng đơn giản, chân thực.
Một người Việt tị nạn ở Pháp về thăm nhà, gặp những người bạn học cũ, trong đó có nhân vật chính, “con Huê,” sự thực là một người đàn bà đã đứng tuổi. Ông ta kể lại: “Con Huê tiễn tao ra cổng, đứng ngập ngừng một lát rồi bỗng nói một mạch, là lạ, như tụi mình trả bài thuộc lòng thuở nhỏ: Anh qua bên Tây, gặp anh Cương nói em gởi lời thăm ảnh. Nó nói rồi bỏ chạy vội vào trong, tao thấy nó đưa tay quệt nước mắt mấy lần. Tao đứng chết trân, nhớ lại lời con Nhàn, em con Huê, nói với tao: “Anh biết không, chị Huê thương anh Cương từ hồi còn nhỏ lận. Người con gái ở quê mình nó thật thà, trung hậu đến mức độ mà khi trót thương ai thì thương cho đến chết. Họ coi đó là tự nhiên, phải có nước lớn nước ròng.”

Tiểu Tử viết truyện tình âm thầm của người đàn bà từ ngày còn đi học, tới ngày nay đã bạc đầu, với người bạn trai ngày xưa tên là Cương, nhưng sóng gió 75 đã khiến người đàn ông bỏ nước đi lánh nạn. Người con gái của ông Cương, đang sống ở Bruxelles, đọc truyện, cho tác giả hay bố mẹ đều đã qua đời. Trước khi chết, Cương dặn con gái: “Cái này” là một bao thư, trong đó có chiếc khăn mùi soa cô Huê đã tặng Cương thời trẻ. Người con gái thấy thương bố, thương cô Hai Huê khôn cùng. Cô gái đi Việt Nam, một xứ xa lạ, tìm về Nhơn Hòa, Cầu Cỏ, tìm người đàn bà tên Huê để trao lại kỷ vật của người đã qua đời. Cô Hai Huê xỉu đi khi nghe tin người bạn xưa đã chết. Hai người đàn bà, một già, một trẻ ôm nhau khóc. Cô gái mang cô Hai Huê sang Bỉ, sống với nhau như mẹ con. Người chi mà... Nếu bạn là người tưởng mình có tâm hồn sỏi đá vì đã sống, đã chứng kiến đủ mọi thảm kịch của đời sống, nhất là đời sống của một người Việt Nam, bạn sẽ ngạc nhiên thấy mình đang lau nước mắt.

Không Ðiên Cũng Khùng

Thế giới truyện ngắn của Tiểu Tử xoay quanh hai đề tài chính: những kỷ niệm về một miền Nam hiền hòa, chất phác, nhân hậu ngày xưa, với những trò vui đùa, nghịch ngợm của đám bạn bè trẻ, những mối tình mộc mạc của những người dân quê và, sau đó, những đảo lộn sau 75, khi tai họa trên trời giáng xuống. “Tất cả đều bị xáo trộn, bị nghịch lý đến nỗi tao sống trong đó mà lắm khi phải tự hỏi: làm sao có thể như vậy được.” Một xã hội vô tư, kể cả vùng quê, trở thành địa ngục. Chỉ còn hận thù, phản trắc, gian xảo, cướp đoạt, dối trá.
Những nhân vật của Tiểu Tử không còn cười đùa, vui chơi, dễ dãi nữa. Ðó là những nhân vật đầy ưu phiền như ông Tư, như bà Hai, như thầy Năm Chén, như anh Bẩy, như bà Năm Cháo Lòng. Một xã hội đổ nát, rách bươm. Những người “cách mạng’’ xông vào nhà, ngang nhiên hùng hổ, như một bọn cướp. Họ “bươi” từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ sau ra trước... giống như gà bươi đống rác. Gặp gì kiểm tra nấy. Vậy rồi... hốt hết.”
Sau 75, người ta truyền nhau một câu ca dao mới: Thằng khôn thì đã vượt biên. Những thằng ở lại không điên cũng khùng. Các nhân vật của Tiểu Tử, vốn là những người miền Nam hiền lành, dễ tin, yêu đời, nhiều người đã hết lòng với “kháng chiến,” sau “cách mạng,” đều bị đàn áp, gia sản bị cướp đoạt trắng trợn trong những chiến dịch“đánh tư sản mại bản” trở thành không điên cũng khùng.

Ông Tư (trong Im Lặng) là người có gia sản ở Saigon, đã bí mật đóng góp tài chánh cho “Giải Phóng.” Khi Cộng Sản chiếm miền Nam, không những không được trả ơn, mà bị hành hạ, gia sản bị cướp sạch. “Bỗng nhiên ông Tư nhận thức rằng tất cả những gì thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ của ông đang chờ đợi ông ở nhà.” Nhưng bà vợ tiếc của, uất hận vì bị cách mạng lừa gạt, suốt ngày đay nghiến, trách móc chồng. Rốt cuộc hai vợ chồng tìm được cách chạy sang Pháp, nơi con trai ông đã được bố mẹ gởi đi du học, đã thành đạt, có nhà cửa sang trọng. Ông con hỏi bố ở chơi bao nhiêu ngày. Ông Tư nói ở lại luôn. Ông con nói, giọng đặc “Việt kiều yêu nước”: “Ủa, sao lại ở luôn. Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên cổ mình hết; vậy mà ba má bỏ qua đây luôn. Thiệt là vô lý.” Ông Tư trở thành một người câm, không nói gì với ai nữa. Cho đến một hôm ông lầm lũi lội xuống biển cho nước cuốn đi. Ông Tư là một “thằng khôn” đã vượt biên, nhưng cái đau đớn bám ông già cho dù có trốn ở cuối chân trời, cuối cùng chỉ có nước biển mới rửa sạch.
Bà Hai (trong Thằng Ði Mất Biệt), con cái chết, gia tình tan nát, suốt ngày ngồi chờ đứa con trai còn lại bị đưa đi cải tạo. “Khi trời nắng ráo, bà đi tuốt ra ngoài vàm rạch, lên ngồi trên môi đất có thể nhìn thẳng qua bên kia sông. Như vậy, khi nào thằng nhỏ nó về, mình thấy nó từ đằng xa, nó có đi đò, trong đám đông, mình cũng nhìn ra đươc nó liền hà.”

Thầy Năm Chén, phòng mạch bị chiếm, con trai phải bỏ đi vượt biển. “Chia tay nhau mà hai cha con không dám ôm nhau. Sợ người ta để ý. Thầy không đưa con ra cổng nghĩa trang. Sợ người ta để ý. Thầy không dám để rơi một giọt nước mắt. Sợ người ta để ý. Thầy chỉ thở dài. Thời buổi bây giờ chỉ thở dài là không ai để ý. Bởi vì ai cũng thở dài hết.” Ông già bới rác (truyện cùng tên) là một ông già có công với “cách mạng,” bị cách mạng cướp hết không còn manh giáp, trở thành khùng, suốt ngày lang thang ngoài đường bới rác, “tao bới rác để kiếm mấy thằng Việt Cộng tao đã nuôi trong nhà.”

Trong Những Mảnh Vụn, người yêu “đi chui bán chánh thức,” nghĩa là đi vượt biển do cán bộ tổ chức, biệt tăm, chắc mất xác vì tầu quá cũ bị chìm, anh Bẩy suốt ngày, như một người mất hồn, đi qua lại tất cả những nơi ngày xưa hai người vẫn hẹn hò. “Bẩy không biết mình đang đi lượm những những mảnh vụn của cuộc tình. Nếu không có cái ‘ngày cách mạng thành công’ đã thật sự thành công trong nhiệm vụ đập nát tất cả những gì của miền Nam, kể cả những gì nhỏ bé nhứt, tầm thường nhứt như tình yêu của chàng trai và cô gái đó.”
Bà Năm Cháo Lòng “vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con mà giống như bà chửi cả nước.”
Ðọc Tiểu Tử, người ta không thể không xúc động. Nhưng văn Tiểu Tử cũng đầy nét khôi hài, những nhận xét ngộ nghĩnh. Phòng mạch của Thầy Năm Chén “bịnh nhơn cũng vắng. Làm như người ta sợ quá rồi... quên bịnh. Trái lại, bên phía chùa thì lại đông người lui tới và ngày nào cũng có người. Làm như người ta chỉ còn biết... dựa vào Phật.” Qua vài nét chấm phá, ông ghi lại những cảnh trái tai gai mắt, những cảnh lố bịch của những người thắng trận. Những cảnh không biết nên cười hay nên khóc diễn ra trước mắt, mỗi ngày, chỉ cần ghi lại, không cần thêm thắt, bình luận. André Gide: Plus un humouriste est intelligent, moins il a besoin de déformer la réalité pour le rendre significative (Một nhà khôi hài càng thông minh, càng không cần bóp méo sự thực để làm cho nó có ý nghĩa). Tiểu Tử không cần bóp méo sự thực, chỉ việc cúi xuống lượm, ghi lại những cái lố lăng, đảo lộn luân thường diễn ra mỗi ngày, trước mắt.

Muốn hiểu lịch sử, hay xã hội trong một giai đoạn lịch sử, không gì hơn là đọc các nhà văn. Hơn là những sử gia, những nhà biên khảo, nhà văn, trong vài chữ, vài nét, cho thấy mặt thực của xã hội. Văn chương đi vào trái tim, trong khi biên khảo chỉ đi vào trí óc. Không có xúc động, rất khó có cảm thông, không có cảm thông, không sống với người trong cuộc, làm sao hiểu được? Một câu danh ngôn: “Một người chết là một bi kịch, một triệu người chết chỉ là một con số thống kê.” Nhà văn không làm thống kê, chỉ ghi lại bi kịch của mỗi nhân vật, của tôi, của anh, của mỗi người. Mỗi câu chuyện là một bi kịch; hay bi hài kịch - farces tragiques - của một thời đảo điên.
Truyện ngắn Tiểu Tử, với lối hành văn bình dị, linh động là một cuốn tự điển sống của ngôn ngữ miền Nam thời chưa loạn. Ðó là kho tàng quý; trong khi ở hải ngoại, chữ Việt càng ngày càng lai Tây, lai Mỹ; trong nước càng ngày càng lai Tầu, với những chữ, những lối nói ngớ ngẩn, đôi khi kỳ quái, khiến tiếng Việt không còn là tiếng Việt, báo hiệu một ngày người Việt không còn là người Việt. Và, từ đó, nước Việt không còn là nước Việt. Nguyễn Văn Vĩnh: tiếng Việt còn, nước Việt còn...

Truyện ngắn Tiểu Tử là những giọt nước mắt, những tiếng thở dài, nụ cười đùa cợt trong những ngày bình an và ngay cả, nhất là, trong cơn đớn đau cùng cực. Ông là một nhân chứng quý báu của một giai đoạn bi thảm của một thuở giao thời. “Chuyện Thuở Giao Thời” là tựa tập truyện sau cùng của tác giả. Nhưng chữ thuở giao thời còn nhẹ quá. Phải nói là một cuộc đổi đời ghê rợn nhất trong lịch sử dân tộc Việt, một dân tộc vốn đã quen ăn nằm với máu và nước mắt ( 2).

(Paris, Tháng Giêng 2015)



Chú thích


1. A. Gide nói muốn viết văn, phải đi vào tận cùng tâm khảm của con người. Và nếu đi tới cùng, sẽ thấy nhiều cái xấu, cái lở lói. Bản chất con người phức tạp, đời sống phức tạp, cái xấu cái tốt lẫn lộn. Văn chương phải lột trần được cái sự thực đó.

2. Trên đây là bài nói chuyện nhân dịp ra mắt sách của Tiểu Tử ở Paris, ngày 3 tháng 1, 2015. Những đoạn văn được trích dẫn từ ba tuyển tập truyện ngắn: Những Mảnh Vụn, Bài Ca Vọng Cổ, Chuyện Thuở Giao Thời. E-mail liên lạc: vanvovan9@gmail.com

Post Reply