Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Báo lá cải tại Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc
(Blog VOA)
Cách đây mấy năm, ở Việt Nam rộ lên một cuộc thảo luận khá ồn ào về hiện tượng báo lá cải.

Ðại khái, có hai luồng ý kiến chính: Một, cho ở Việt Nam có một số tờ báo lá cải chạy theo những thị hiếu tầm thường của quần chúng, đăng những tin tức bá vơ, rẻ tiền; hai, cho ở Việt Nam không hề có báo lá cải vì tất cả các tờ báo ấy đều do nhà nước quản lý, chỉ nhằm thông tin và tuyên truyền chứ không phải nhằm mục đích kiếm lợi nhuận.

Ý kiến thứ hai được xem là một phán quyết cuối cùng, do Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền Thông Nguyễn Bắc Son tuyên bố vào tháng 6 năm 2012. Tuy nhiên, khi khẳng định như vậy, ông Nguyễn Bắc Son cũng nói thêm: “Có một số báo, thỉnh thoảng, đi lệch sang khuynh hướng lá cải, cần phải phê phán và chỉnh sửa. Chỉ hơi nghiêng, lệch thôi, chứ chưa hẳn đã là lá cải thật.”

Theo tôi, ngược lại, phần lớn các tờ nhật báo ở Việt Nam hiện nay đều là báo lá cải.

Nhưng trước hết, xin xác minh khái niệm báo lá cải để bảo đảm là chúng ta cùng hiểu và cùng nhìn vấn đề từ một góc cạnh giống nhau.

Chữ báo lá cải có lẽ được dịch từ tiếng Pháp, feuille de chou, chỉ loại báo rẻ tiền. Trong tiếng Anh, người ta dùng từ tabloid (hoặc gutter press, hoặc có khi, rag, như một tiếng lóng), với một số đặc điểm chính: Một, về khổ báo (size): thường nhỏ, cầm gọn trên tay, có thể dễ dàng đọc ở những nơi đông người và chật chội (như trên xe lửa hoặc phòng đợi, đâu đó). Hai, về mục tiêu, chỉ nhắm đến việc giải trí, đọc xong rồi thì có thể vất đi. Ba, về tính chất, hoàn toàn thương mại, miễn sao bán cho thật chạy. Cuối cùng, về nội dung, phần lớn chỉ tập trung vào những tin tức giật gân, như các tội phạm, các giai thoại hoặc các tin đồn liên quan đến đời sống riêng tư của các sao điện ảnh, ca nhạc hay thể thao, từ chuyện ghiền ma túy đến chuyện tình ái, ly dị, đánh ghen, ăn chơi trác táng, v.v... Trong các đặc điểm trên, yếu tố hình thức (khổ báo) ít quan trọng nhất vì trên thế giới có khá nhiều tờ báo bị xem là lá cải nhưng có khổ báo hoặc lớn hoặc nhỏ hơn cái khổ bình thường; trong khi đó, yếu tố nổi bật và thiết yếu nhất là về nội dung và mục tiêu: giải trí bằng cách thỏa mãn những thị hiếu khá tầm thường của độc giả.

Nhìn trên bề mặt, qua các đặc điểm nêu trên, quả thực phần lớn báo chí tại Việt Nam không nằm khớp hẳn vào cái gọi là lá cải. Tất cả, nói theo Nguyễn Bắc Son, đều do nhà nước tài trợ và quản lý và nhắm đến mục tiêu chính là thông tin và tuyên truyền. Tuy nhiên, ngay ở đây cũng có nhiều vấn đề.
Ðồng ý báo chí ở Việt Nam đều thuộc về nhà nước, nhưng rõ ràng là tất cả các tờ báo, trừ tờ Nhân Dân, đều tham gia vào cuộc chạy đua quyết liệt trong việc câu khách. Lý do, những tờ báo ấy, nếu lỗ, nhà nước sẽ đền bù; nhưng nếu lời, người ta có thể chia nhau qua các hình thức khen thưởng hay nâng mức nhuận bút. Thành ra, ở Việt Nam vẫn có báo giàu và báo nghèo; và cùng với nó, những nhà báo giàu và những nhà báo nghèo.

Ðó là xét trên bề mặt, nhìn sâu vào bên trong, ở bản chất, đặc biệt, nội dung và mục tiêu thì dường như hầu hết các tờ báo ở Việt Nam đều có tính chất lá cải.

Cứ nhìn qua các tờ báo mạng ở Việt Nam thì thấy rõ. Nội dung quan trọng nhất là các vấn đề xã hội; trong các vấn đề ấy, điều khiến người ta tập trung khai thác nhất là các hiện tượng tiêu cực. Thì cũng đúng. Cái gọi là tin tức trên mọi tờ báo, ở Việt Nam cũng như ở khắp thế giới, bao giờ cũng có chút bất bình thường. Một quán cà phê chỉ bán cà phê: Không phải là tin tức. Một quán cà phê kiêm nhiệm việc chứa gái mại dâm mới là& tin tức. Một người làm giàu một cách lương thiện và tiệm tiến: Không phải là tin tức. Một người làm giàu một cách nhanh chóng hay đang giàu có bị phá sản một cách nhanh chóng mới là tin tức. Một nghiên cứu sinh viết luận án đàng hoàng nghiêm túc và được phát bằng tiến sĩ: Không phải là tin tức. Nhưng một giáo sư hay một tiến sĩ nổi tiếng bị phát hiện đạo văn hay sử dụng bằng cấp giả mới là... tin tức. Như vậy, đề tài tiêu cực, tự nó, không quyết định tính chất lá cải hay không. Vấn đề, quan trọng hơn, là cách khai thác các đề tài ấy.

Ví dụ, viết về các động mại dâm trá hình dưới các quán ăn hay quán cà phê dọc đường, một đề tài được rất nhiều người khai thác trên các tờ báo khác nhau, các ký giả thường mô tả những chi tiết rất ly kỳ hấp dẫn khi họ đóng vai khách hàng vào thăm. Ðọc, chúng ta dễ có cảm tưởng họ đang quảng cáo giùm cho các ổ mại dâm trá hình ấy hơn là phê phán chúng.

Một ví dụ khác, cũng liên quan đến loại đề tài phổ biến tại Việt Nam: đời sống của các đại gia, tức những người thuộc loại “siêu giàu.” Ở Tây phương, người ta cũng hay tò mò về cuộc sống và lối sống của những người ấy. Tuy nhiên, ở Việt Nam, người ta hiếm khi đề cập đến tài năng lãnh đạo, sáng kiến và chí tiến thủ của những người ấy. Nhiều nhất, họ tập trung vào những chiếc xe khủng, những người tình “chân dài,” số lần ly dị cũng như số lần cưới vợ của họ. Thậm chí, nhiều tờ báo đăng đi đăng lại những bài phỏng vấn một đại gia đã cao tuổi, có nhiều đời vợ, với lời tuyên bố: Chỉ thích lấy những cô “chân dài” còn trinh, thua mình cả ba, bốn chục tuổi!

Nhưng dễ thấy nhất là những bài viết về đề tài chính trị. Phải nói ngay, phần nhàm chán nhất là những tin tức liên quan đến chính trị đối nội: Tất cả đều viết giống nhau dựa trên những thông tin được cấp trên đưa xuống. Chúng chỉ nhằm mục đích tuyên truyền, được viết bằng một giọng văn khô cứng và lạt lẽo. Phần hấp dẫn hơn là phần chính trị quốc tế. Ở lãnh vực này, việc kiểm duyệt tương đối lỏng lẻo hơn. Tuy nhiên, hầu hết các tờ báo tại Việt Nam đều giống nhau ở hai điểm: Một, ít, cực kỳ ít, phân tích các vấn đề liên quan đến chính sách; và hai, hầu hết đều tập trung vào các giai thoại, những chuyện ở bên lề các cuộc gặp gỡ của các nhà lãnh đạo thế giới. Ví dụ, viết về chuyến đi của Tổng Thống Mỹ Barack Obama tại một quốc gia nào đó, hiếm khi tôi thấy có bài nào viết về các vấn đề chiến lược được bàn luận trong chuyến đi cũng như về các ảnh hưởng chính trị của chuyến đi trên bình diện toàn cầu. Ngược lại, người ta chỉ chú ý đến những chi tiết lắt nhắt như vợ chồng tổng thống Mỹ mặc quần áo gì, ăn gì, tóc tai như thế nào, v.v...

Ở Mỹ, bà Hillary Clinton có lần nói đùa: Chỉ cần bà thay đổi kiểu tóc là có thể nhảy lên trang đầu của các tờ nhật báo. Ðiều đó hoàn toàn đúng. Nhưng chỉ đúng với những tờ báo lá cải. Ở Việt Nam, ngược lại, những kiểu tin tức như vậy thường chiếm trang đầu của bất cứ tờ báo nào, có lẽ, trừ tờ Nhân Dân, một tờ báo hầu như không ai đọc.

Bởi vậy, tuy viết về các đề tài có vẻ nghiêm túc, nhưng cách khai thác các đề tài ấy, trên báo chí Việt Nam, thường thiên về các khía cạnh nhí nhách, lặt vặt, có khi nhảm nhí. Ðọc, người ta thấy vui vui; nhưng đọc xong, người ta chẳng học hỏi thêm bất cứ điều gì cả.

Loại báo như thế nếu không gọi là báo lá cải thì gọi nó bằng gì?

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Việt Nam và những điều kỳ lạ

Đầu năm Ất Mùi, xin kính chúc các độc giả một năm mới thành công và thắng lợi.
Vì là dịp đầu năm cho nên tôi cũng dành cho bài viết này những điều trăn trở nhất của mình về đất nước mà tôi sinh sống.
Thời đại này là thời đại mở cửa ra thế giới, nhìn ra xung quanh và ngẫm nghĩ lại chính mình để thay đổi những điều đang cần thay đổi,
điều chỉnh những cái chưa hay, bãi bỏ những cái trì trệ và phát huy những cái tốt đẹp.
Ở xứ này, có nhiều điều rất kì lạ, kì lạ đến mức khó mà tìm thấy ở nơi nào trên thế giới.
Vấn đề là những điều kì lạ này không phải tự nhiên mà có, mà tất cả đều xuất phát từ con người. Sau đây xin phép liệt kê những điều kỳ lạ đó.


Image
1. Trên thế giới này chỉ có ba quốc gia áp dụng hình thức sổ hộ khẩu là Trung Cộng, BắcTriều Tiên và Việt Nam . Chưa biết hình thức này có ích lợi gì không nhưng ba quốc gia này cũng là những quốc gia bị liệt vào hàng không có nhân quyền. Thử tưởng tượng, đem khẩu hiệu “nhà nước của dân, do dân và vì dân” ra so sánh với sổ hộ khẩu thì bỗng dưng cái khẩu hiệu đó mất hiệu lực từ khi nào. Mặc dù là công dân của nước Việt Nam nhưng lại không được phép tự do chuyển chỗ ở trong vòng lãnh thổ Việt Nam , đi đâu cũng phải trình phải báo, đăng ký tạm trú tạm vắng.

2. Thêm một vấn đề nữa cũng liên quan đến cái hộ khẩu. Đại loại là nếu như Hoa Kỳ cũng áp dụng hình thức hộ khẩu như Việt Nam thì khi một người đang sinh sống ở Hawaii nhưng có hộ khẩu ở Alaska, thì khi người đó mua một chiếc xe ở Hawaii, vẫn phải tìm cách đưa chiếc xe đó về Alaska mà đăng ký lưu hành. Thật là khó khăn, mất thời gian, công sức và lãng phí biết bao nhiêu thứ chỉ vì cái hình thức nhảm nhí này. Cũng chả biết mục đích của hình thức đăng ký lưu hành phương tiện giao thông này có ý nghĩa gì, chỉ biết là nó vô cùng phiền toái và vô nghĩa. Image 3. Chưa có quốc gia nào trong mỗi chương trình đại học hay cao đẳng đều phải có chứng chỉ về lý thuyết triết học Marx – Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Các quốc gia khác không tuyên truyền về những lý thuyết đó cho tầng lớp trí thức tương lai của mình. Với họ, làm người tốt và có ích cho xã hội là đủ rồi. Nếu hỏi thử các bạn sinh viên xem có thích học những lý thuyết đó không, chắc chắn đa số câu trả lời sẽ là không. Bản thân tôi cũng từng học qua, vấn đề là thời gian đi học những môn đó, tôi chỉ đến cho có mặt điểm danh rồi ngồi dưới làm việc riêng, những sinh viên khác cũng như vậy, chả ai muốn lắng nghe những lý thuyết suông như vậy.

Đến khi thi cử, thật xấu hổ, nhưng tôi phần học vẹt phần chuẩn bị tài liệu quay cóp chứ thật tình chẳng thể nào thấm nổi những lý thuyết đó vào đầu để mà trả lời câu hỏi. Mỗi sinh viên trung bình tốn 3 học kỳ cho các lý thuyết đó, và cuối cùng cái nhận được là con số không và sự mơ màng về giá trị nền thể chế.

4. Luật lao động quy định phải cung cấp sơ yếu lý lịch khi tham gia lao động thậm chí ở những doanh nghiệp nước ngoài. Trong sơ yếu lý lịch cần nêu rõ thông tin bản thân và gia đình trước và sau năm 1975 đã và đang làm gì. Thật sự cần thiết thông tin đó sao? Năng lực làm việc của một người thứ nhất không liên quan đến gia đình họ và thứ hai cũng chẳng liên quan gì đến cái năm 1975 đó. Và thực tế đã chứng minh, năng suất làm việc của dân Việt Nam được xếp hàng lè tè ở thế giới và khu vực. Chắc là có liên quan đến năm 1975.

5. Luật Việt Nam quy định không cho phép một người nam mang quốc tịch nước ngoài và một người nữ mang quốc tịch Việt Nam ở chung một phòng khách sạn khi hai người không có giấy chứng minh đã kết hôn với nhau. Tuy nhiên, nếu một người nam mang quốc tịch Việt Nam và một người nữ mang quốc tịch nước ngoài ở chung một phòng khách sạn thì không sao. Cũng chẳng có vi phạm gì nếu đó là hai người nam hoặc hai người nữ. Vậy cuối cùng, mục đích của cái luật đó là gì? Nếu luật đưa ra mà chẳng để có mục đích gì thì chẳng khác nào làm trò cười cho thiên hạ.

6. Mới đây Bộ Công thương ra nghị định mới về việc đóng thuế đối với hình thức kinh doanh qua mạng xã hội, mà phổ biến ở Việt Nam hiện là Facebook. Điều đáng nói là những quy định mới này rất mập mờ và khó áp dụng, ví như chuyện kinh doanh qua Facebook thì người bán hàng phải có nghĩa vụ đóng thuế thế nhưng khi được hỏi là hình thức quản lý và quy trình kiểm tra thuế như thế nào thì Bộ này lại đẩy trách nhiệm sang Bộ Tài chính. Sao các Bộ cứ thích làm khó nhau và làm khó người dân như vậy nhỉ?

Thực sự có những điều ở Việt Nam rất khó hiểu nhưng đến giờ vẫn còn áp dụng. Trên đây chỉ là một cơ số nhỏ mà tôi cảm thấy băn khoăn và e ngại nhất cho tình hình xã hội ở Việt Nam nhất. Chắc là còn nhiều điều kỳ lạ khác nữa nhưng trong vốn kiến thức nông cạn của tôi chưa khám phá ra hết.

Đầu năm Ất Mùi chỉ xin cầu cho những điều kỳ lạ ở Việt Nam sẽ dần thay đổi và biến thành những điều bình thường. Để cho quốc thái, dân an, và mùa xuân luôn ở lại với đất nước mà đáng lẽ ra đã là số một ở châu Á như phát biểu của cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu.

Cao Huy Huân

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

'Jihadi John,' từ một sinh viên trở thành kẻ giết người tàn bạo

Hà Tường Cát
Người Việt (tổng hợp)

Trong số hàng ngàn người bị tổ chức khủng bố Nhà Nước Hồi Giáo tàn sát trong vòng gần một năm vừa qua,
có khoảng 200 người bị hành quyết theo cách man rợ là chặt đầu. Hầu hết các nạn nhân này là dân Syria, Iraq, Afghanistan,...
không phải dân Âu Mỹ nên dư luận quốc tế ít biết đến vì hình ảnh nếu có được phổ biến chỉ bằng tiếng Á Rập.

Image
Sau khi Washington Post và BBC công bố tên của Jihadi John, kẻ cầm dao cắt đầu các con tin của IS, truyền hình Sky News ở Anh
đưa ra hình ảnh đầu tiên của Mohammed Emwazi lúc còn là sinh viên và khi làm một tên khủng bố tàn bạo. (Hình AP/Sky News)



“Đao phủ thủ” bịt mặt cầm dao trong các đoạn băng video rùng rợn do IS công bố, với cái tên “Jihadi John” do các con tin đặt ra, xuất hiện lần đầu tiên tháng 8 năm ngoái khi giết một con tin là nhà báo Mỹ James Foley. Sau đó người ta lại thấy đao phủ này trong những vụ hành hình nhà báo Mỹ Steven Sotloff, và các nhân viên cứu trợ Anh David Haines, Alan Henning - Mỹ Abdul-Rahman Kassig - Nhật Kenji Goto Jogo, Haruna Yakawa.

Hôm Thứ Năm, cả thế giới biết tên tuổi của Jihadi John là Mohammed Emwazi, công dân Anh gốc Kuwait, qua sự loan tin của báo Washington Post và kế đó là đài BBC. Các cơ quan an ninh Anh, Mỹ từ lâu đã tìm ra lý lịch của Jihadi John nhưng không công bố trong khi còn cần theo dõi điều tra. Theo đài truyền hình Channel 4 ở Anh, FBI đã biết Jihadi John là ai từ tháng 9 năm ngoái, và hiện nay không có người dân Mỹ nào bị IS bắt làm con tin, cho nên Hoa Kỳ cũng không cần thiết phải giấu kín tên Jihadi John.

Tổ chức nhân quyền CAGE, trụ sở ở London, nói rằng một phóng viên của Washington Post đã tiếp xúc với họ đầu tuần này và đã tìm ra Mohammed Emwazi. CAGE là tổ chức nhân quyền bênh vực cho những dân Hồi Giáo gặp khó khăn với các cơ quan chính quyền do vấn đề chống khủng bố.Theo Washington Post, bạn bè và những người quen biết xác định rằng tên khủng bố cầm dao cắt đầu các con tin “có những nét rất giống với Emwazi”, tuy nhiên họ không thể nào chắc chắn 100% vì đầu che kín chỉ thấy hai con mắt.

Asim Qureshi, giám đốc nghiên cứu của CAGE, xác nhận rằng Emwezi đã có những tiếp xúc với tổ chức trong một khoảng thời gian hai năm về vấn đề “quấy rầy” của MI5, cơ quan anh ninh và phản tình báo quốc nội Anh. MI6 là cơ quan mật vụ và tình báo phụ trách vấn đề ngoại quốc. Báo Washingon Post dẫn lời Qureshi nói có tiếp xúc trước khi Emwazi qua Syria. Hôm Thứ Năm CAGE đưa ra một thông cáo hạ thấp vai trò của Qureshi trong sự nhận diện Emwazi.

Mohammed Emwazi sinh năm 1988 ở Kuwait, tới 6 tuổi qua London, sống tại Queen's Park phía Tây Bắc thành phố, khu nhà của những gia đình khá giả chứ không phải dân nghèo khó. Emwazi lớn lên và được giáo dục ở Anh, tốt nghiệp đại học Westminster University năm 2009 ngành thảo chương trình điện toán. Trong cuốn băng video hành quyết nhà báo Mỹ, người ta đã nhận thấy Jihadi John nói tiếng Anh với giọng rất chuẩn.

Tháng 8 năm 2009, Emwazi tới Dar-es-Salaam, Tanzania, với mục đích nói là đi xem thú rừng Phi Châu cùng các bạn, nhưng bị chặn lại ở phi cảng và bị bắt đưa về Amsterdam, Hòa Lan. Tại đây một nhân viên MI5 thẩm vấn và tố giác Emwazi định đi Somalia gia nhập nhóm khủng bố al-Shabaab. Trở về Anh, Emwazi là đối tượng bị theo dõi và MI5 báo cho biết rằng anh có tên trong danh sách khủng bố không được phép đi tới bất cứ một quốc gia Hồi Giáo nào. Emwazi nạp đơn lên cơ quan Independent Police Complaints Commission khiếu nại về sự đối xử này và đây chính là thời gian anh bắt đầu tiếp xúc với CAGE nhờ can thiệp.

Cũng có nguồn tin nói rằng MI5 muốn tuyển dụng Emwazi nhưng anh từ chối và sau đó đã bị MI5 thẩm vấn hay tạm giữ hàng chục lần. Tiếp đó Emwazi chuyền sang Kuwait và xin được việc làm ở một hãng computer. Tháng 6 năm 2010 trở về thăm London, Emwazi lại bị các viên chức chống khủng bố bắt và không cho phép trở lại Kuwait nữa.

Theo tờ USA Today, Emwazi đã trở thành một phần tử quá khích và đi theo con đường của các nhóm chiến binh tàn bạo vì liên tục bị làm rầy trong cuộc sống bởi các cơ quan an ninh, mà theo anh chỉ vì một lý do là dân Hồi Giáo. Các bạn của Emwazi tin rằng anh có tư tưởng cực đoan là do vụ Tanzania. Nhưng Channel News 4 nói các giới chức an ninh biết anh đã được tiêm nhiễm tư tưởng quá khích từ khi còn ở trường đại học.

Khi về London và bị cấm trở lại Kuwait, trong các e-mail gởi cho CAGE, Emwazi than phiền rằng cảm thấy sống như tù nhân, mất việc làm ở Kuwait và người bạn gái ở đây hủy bỏ cuộc đính hôn.

Trong buổi họp báo hôm Thứ Năm, Qureshi của CAGE cho rằng: “Khi chúng ta coi một cá nhân như người ngoài thì đương sự sẽ cảm thấy xa lạ với xã hội ấy và tìm tới một hướng khác”. Nhưng Sir John Sawers, giám đốc MI6 từ 2009 đến 2014 bác bỏ lập luận cho rằng các cơ quan an ninh đóng một vai trò trong việc đẩy những người như Emwazi từ một sinh viên bình thường trở thành phần tử quá khích.

Năm 2013, Emwazi đổi tên thành Mohammed al-Ayan tìm cách trốn sang Kuwait một lần nữa nhưng không thành công. Ba tuần lễ sau cơ quan an ninh Anh ghi nhận Emwazi biến mất và 4 tháng sau cảnh sát báo cho gia đình biết Emwazi đang ở Syria. Có lẽ Emwazi đã đi qua đường Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng không rõ Emwazi gia nhập IS từ khi nào và mau chóng trở thành một phần tử quan trọng trong các chiến binh Jihad của tổ chức quá khích này ra sao. Người ta cũng không biết nhiều về gia đình Emwazi vì họ từ chối yêu cầu phỏng vấn của Washington Post, viện lý do khuyến cáo về mặt pháp lý của các luật sư.

Emwazi thuộc một nhóm thanh niên ở West London đã bí mật sang Syria trong thời gian 2012. Các cơ quan an ninh Anh chó biết khoảng 600 công dân Anh đi theo các nhóm chiến binh quá khích ở Trung Đông và nhiều người đến nay đã chết. Channel 4 News hôm Thứ Sáu thực hiện một phóng sự về sự liên hệ của khu vực Tây-Bắc London với những phần tử khủng bố.

Phát ngôn viên tòa Bạch Ốc từ chối không xác nhận và cũng không phủ nhận người bịt mặt trong cuốn băng hành quyết con tin của IS có những điểm giống với một người ở London. Bộ Trưởng Tư Pháp Eric Holder trong cuộc phòng vấn của ABC News tuyên bố Hoa Kỳ “vẫn đang tìm cách bắt sống hay hạ sát Jihadi John, kẻ phải chịu trách nhiệm về những tội ác man rợ”.

Tờ Telegraph tại Anh dẫn lời một nữ phát ngôn viên của Thủ Tướng David Cameron: “Chúng tôi không thể xác nhận hay phủ nhận bất cứ điều gì liên quan đến tình báo. Nhưng như Thủ Tướng đã khẳng định, chúng tôi quyết tâm đưa kẻ phạm tội ác ra trước pháp luật”. Được hỏi thêm rằng Downing Street, phủ thủ tướng Anh, có quan tâm gì về việc tên của Jihadi John bị tiết lộ, bà nói: “Tôi không thể đi vào chi tiết cuộc điều tra của cảnh sát và cơ quan an ninh. Chúng tôi để họ làm việc bằng bất cứ cách nào bắt được tội phạm và bảo vệ an ninh cho dân chúng”.

Theo Telegraph, dù MI5 và FBI đã biết rõ lý lịch Jihadi John từ tháng 9 nhưng không tiết lộ vì sự an toàn của các con tin và vì ngại gia đình Emwazi có thể bị trả thù.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Từ Sợ Hãi Tới Hành Động

Nguyễn Trung Tôn


Sợ hãi là một đặc tính của muôn loài. Chính sự sợ hãi góp phần giúp cho mọi loài sinh tồn và phát triển. Riêng trong thế giới con người, sợ hãi khiến cho kẻ yếu hơn phải chọn giữa phục tùng kẻ mạnh hoặc phải kiếm giải pháp. Cùng lúc sợ hãi thường làm cho con người trở nên tàn nhẫn và/hoặc hèn nhát hơn; ích kỷ và vô cảm hơn. Nhưng trong một số trường hợp, sợ hãi lại cũng có thể làm người ta bật lên can đảm, mạnh mẽ.

Trong phạm vi bài viết ngắn này tôi chỉ xin đưa ra một vài nhận định về tình hình xã hội Việt Nam trong những năm gần đây liên quan tới “sự sợ hãi”.

Có thể nói đại đa số người dân ngày nay đều rất sợ Đảng Cộng sản và các phương tiện bạo hành của họ, kể cả bọn đầu gấu xã hội đen mà họ đang sử dụng ngày một thường hơn. Ngoài các trò bạo hành, dân còn sợ Đảng vì sợ bị trù dập, bị mất công ăn việc làm, bị mất nhà mất đất. Nhiều khi dân sợ chỉ vì họ chứng kiến cảnh Đảng đã xuống tay với những người xung quanh họ.

Bởi nỗi sợ đó đa số người dân đã dần dần tự biến mình thành nô lệ cho Đảng Cộng sản một cách vô điều kiện. Từng lời nói, cử chỉ tới hành động đều phải giữ chừng, tự kiểm duyệt, tránh “phạm thượng” … Nói chung, ai nấy đều chỉ mong cuộc sống của bản thân mình và con cháu mình được “yên hàn”. Gia đình “không có vấn đề”, tức không đang bị Đảng trừng phạt, là thấy hạnh phúc rồi. Không trông đợi gì thêm từ Đảng.

Để đạt được mong muốn đó nhiều người đã chọn thái độ tung hô ca ngợi Đảng để được yên thân, bất kể trong lòng có bất mãn hay không. Một số khác thì còn cố gắng đề trở thành Đảng viên Cộng sản để có được cơ hội đổi đời. Và giữa 2 loại trên là những người chấp nhận làm tay sai cho Đảng với danh xưng “quần chúng tự phát” để nhận được chút tiền. Cả ba lối chọn lựa này đều làm cho con người đã “hèn” lại thêm “hạ”.

Nhưng ngược lại, trong những năm tháng gần đây, không ít người đã vượt qua được nỗi sợ. Có người vượt được chỉ vì đã bị ép tới đường cùng, nôm na là tới mức “tức nước vỡ bờ”. Rất nhiều trong số này là các bà con dân oan. Họ bị cướp đến tận cùng mọi phương tiện mưu sinh, phải sống lê lết trước những cửa quan để kêu oan, và bị xua đuổi từ văn phòng này sang cơ quan khác.

Cũng có nhiều người vượt được sợ hãi nhờ tiếng gọi của lương tâm. Nỗi sợ mất nước còn lớn hơn nỗi sợ bị Đảng Cộng sản trả thù. Họ sợ rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam sẽ hoàn toàn trở thành thuộc địa của Trung Quốc, đời con đời cháu của họ sẽ trở thành nô lệ hoàn toàn cho người Phương Bắc. Kế đến, sự khinh bỉ trước thái độ Hèn với giặc – Ác với dân của thành phần lãnh đạo Đảng cũng làm nỗi sợ Đảng bớt đi nhiều. Và thế là họ công khai thể hiện lòng yêu nước của mình bằng cách xuống đường phản đối Trung Quốc xâm lược bất kể Đảng có cho phép hay không. Rồi khi bị cấm quyền yêu nước, họ dạn dĩ tham gia các buổi phổ biến Quyền con người. Và cứ thế mà tiến tới.

Sau hết, nhiều người không chỉ vượt qua sợ hãi mà còn nhìn ra một thực tế khác. Chính lãnh đạo Đảng mới là những kẻ đang mang nhiều nỗi lo sợ hơn ai hết. Họ sợ sự phát triển của công nghệ thông tin dẫn đến sự gia tăng nhận thức của người dân. Từ đó họ sợ những tội ác khủng khiếp của các chế độ cộng sản trên khắp thế giới và tại Việt Nam sẽ không còn có thể che đậy được nữa. Họ sợ toàn dân biết rõ con đường xây dựng CNXH là con đường hoang tưởng mà cả thế giới đã vất bỏ, đặc biệt ngay tại nơi sản sinh ra nó. Họ sợ từng hành động đánh, giết, khủng bố dân để bảo vệ chế độ từ nay sẽ bị chính người dân thu hình, thu âm, thu bằng chứng và lưu trữ để chờ ngày đưa họ ra tòa án nhân dân như tại các nước vừa đổi đời. Họ sợ các núi của cải vừa đào khoét được từ tài nguyên đất nước và cướp trắng của dân sẽ không giữ được. Và còn nhiều nỗi sợ khác nữa nhưng căn bản vẫn là: ĐẢNG SỢ CÁI NGÀY DÂN HẾT SỢ.

Điều dại dột của lãnh đạo Đảng, dù đã có thấy nhiều tấm gương từ Bungari đến Libya, là càng sợ thì lại càng cố che đậy bằng thái độ hùng hổ và nâng cấp bạo hành, thí dụ như từ chính sách làm ngơ cho công an đánh người nay đã nâng cấp đến mức chính thức cho công an bắn dân tại chỗ. Nhưng như đã thấy trên khắp thế giới, đến mức này thì dân càng bị dồn vào đường cùng sẽ càng tức nước vỡ bờ nhiều hơn và nhanh hơn mà thôi, cũng như hồ sơ tội ác của từng cán bộ ác ôn sẽ càng dày hơn thôi.

Tóm lại ở xã hội Việt Nam hiện nay có 3 loại sợ khác nhau:

1. Nỗi sợ của những kẻ đáng khinh. Họ chỉ lo mất ghế cai trị và khả năng tiếp tục nạo khoét đất nước. Nhưng càng sợ họ càng ác và càng sẵn sàng bán luôn đất nước; nghĩa là càng thu ngắn tuổi thọ của chế độ.

2. Nỗi sợ của những người đáng thương. Đây chính là đại khối đồng bào của tôi, những người đã phải sống cả đời trong đói khổ và bị bao trùm bởi trấn áp, đe dọa liên tục. Nhưng trong tay họ là sức mạnh toàn năng của dân tộc và là chìa khóa tương lai của đất nước.

3. Nỗi sợ của những vị đáng kính. Họ là những người không sợ gì cho chính mình nhưng lo nhiều cho các thế hệ tương lai và sinh mạng của đất nước. Lo đến nỗi họ sẵn sàng gạt sang một bên mọi thủ đoạn xách nhiễu, đe dọa, và trả thù hạ cấp của chế độ để bước ra tranh đấu công khai.

Xin cho tôi cùng với đại khối đồng bào tiến bước theo những ngọn đuốc lương tâm, những nhà trí thức đang chấp nhận đi đầu trên con đường gian nan để xóa sạch mọi nỗi sợ trên đất nước chúng ta.


Nguyễn Trung Tôn

Điện Thoại 01628387716

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »



Putin cùng trường với Hồ Chí Minh


Ngô Nhân Dụng


Ðảng cộng sản không còn cai trị nước Nga cho nên ông Vladimir Putin không còn là đảng viên cộng sản nữa. Nhưng ông trưởng thành trong chế độ cộng sản, được đảng tin cậy, được đào tạo làm sĩ quan công an mật vụ KGB. Putin sống trong môi trường đó bao nhiêu năm khiến ông ta suy nghĩ và hành động theo đúng lối người cộng sản. Hai đặc tính của họ là tàn nhẫn và gian manh. Ông sẵn sàng giết những người không theo mình, và vẫn thuộc lòng những thủ đoạn đánh lừa dân Nga mà đảng cộng sản huấn luyện cho mình. Vụ ám sát Boris Nemtsov là một trường hợp điển hình.

Ðêm Thứ Sáu trước Nemtsov bị ám sát khi đang đi bộ về nhà, ngay trên trên đường bên cạnh điện Kremlin. Ai đã giết Nemtsov? Chính quyền Putin, đưa ra nhiều giả thuyết để đánh lừa dư luận Nga và thế giới về cái chết của Nemtsov.

Boris Nemtsov giống như nhà báo Anna Politkovskaya, cả hai đều đã lên tiếng chỉ trích Vladimir Putin liên tiếp nhiều năm. Politkovskaya đang điều tra để phơi bày sự thật về cuộc chiến diệt chủng ở Chechnya do Putin chủ trương. Cô bị hạ sát ngay trong thang máy khi trở về căn hộ của mình, năm 2006. Mật vụ giết cô đúng vào ngày sinh của Putin, như một món quà sinh nhật của cho ông tổng thống! Nemtsov thì bị giết trong lúc đang chuẩn bị đưa ra hồ sơ chứng minh có quân lính Nga đang chiến đấu ở Ukraine mặc dù Putin luôn luôn chối bỏ. Nhiều bà mẹ Nga đã tố cáo tình trạng con trai của họ, thanh niên Nga đi quân dịch, đã bị bắt buộc phải ký giấy đồng ý kéo dài thời gian tại ngũ rồi được đưa qua Ukraine. Nhiều bà đã nói với các nhà báo quốc tế về tình trạng này; chắc chắn Nemtsov có thể thu thập nhiều bằng cớ. Nemtsov và Politkovskaya đều bị giết trước khi đưa được các hồ sơ ra trước công luận. Giết người diệt khẩu là một thủ đoạn quen thuộc của cộng sản. Ở nước ta, Việt Cộng đã từng giết những nhà báo như Từ Chung, tổng thư ký nhật báo Chính Luận, cũng như ngay khi mới bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp họ đã giết các nhà văn uy tín như Khái Hưng, Nhượng Tống, Phan Văn Hùm, vân vân, để củng cố độc quyền chính trị cho đảng cộng sản.

Khái Hưng, Nhượng Tống, Phan Văn Hùm đều bị thủ tiêu trong bóng tối. Ðảng cộng sản còn ám sát, thủ tiêu hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn người Việt khác không nổi tiếng, trong từng xã, từng thôn, khắp nước Việt Nam bắt đầu ngay từ năm 1946-47!

Nhưng Nemtsov rất nổi tiếng và được nhiều người Nga kính trọng. Ông từng là một phó thủ tướng, đã có lúc với triển vọng được Tổng Thống Yeltsin chọn làm thủ tướng vào năm 1999. Nhưng sau cùng Yeltsin đã chọn Putin kế vị.

Trong nhiều năm qua Nemtsov là một lãnh tụ đối lập có khả năng và hoạt động nhất. Ông phản đối chính sách đem quân Nga can thiệp vào nội bộ Ukraine, trong lúc kinh tế Nga đang trên đà suy sụp, lạm phát tăng lên và đồng tiền Nga mất giá gần một nửa. Sau khi ông bị giết, hàng chục ngàn người đã biểu tình tại Moskba, St. Petersburg và nhiều thành phố, họ đòi chính quyền phải điều tra thủ phạm.

Chính quyền Putin đã tung ra nhiều giả thuyết để đánh lừa dư luận. Họ cho tổ chức cả những cuộc thảo luận trên truyền hình, đặt câu hỏi: Ai được lợi khi Boris Nemtsov chết? (Cui Bono?) Guồng máy tuyên truyền của ông Putin đã tìm cách đổ tội nước ngoài. Họ nêu ra chính phủ Ukraine và các nước Âu Mỹ. Vì tất cả đều muốn nước Nga bất ổn, giết một lãnh tụ đối lập sẽ gây xáo trộn! Dân Nga có thể bị tuyên truyền để tin như vậy. Họ không biết rằng nước Ukraine là nạn nhân của ông Putin, và các nước Âu Mỹ bị đặt vào thế phải giúp Ukraine; bảo vệ một quốc gia độc lập và ngăn cản tham vọng tái lập uy quyền đế quốc Xô Viết cũ của Putin!

Putin còn luận điệu trâng tráo nhất, là đổ tội cho các lực lượng đối lập với ông ta đã âm mưu ám sát một lãnh tụ cùng hàng ngũ với mình! Năm ngoái, chính Putin đã gợi ý này ra. Ông “cảnh cáo” rằng các nhóm đối lập có thể ám sát một nhà chính trị uy tín để đổ tội cho chính phủ! Câu nói đó đã “mớm” cho đám mật vụ của Putin nghe, là phát súng lệnh cho thủ hạ chuẩn bị hành động ám sát Nemtsov!

Nhưng các giả thuyết của Putin không ai tin được. Phe đối lập đã nhấn mạnh rằng Boris Nemtsov bị công an theo dõi 24 giờ mỗi ngày, làm sao có gián điệp nào của chính phủ Ukraine hay một nước Châu Âu có thể hành động? Họ còn vạch rõ là con đường nơi ông Nemtsov bị giết được canh phòng cẩn mật nhất thủ đô Moskba; lúc nào cũng có cảnh sát và công an chìm nổi, với những máy camera quay phim suốt 24 giờ! Nếu có một nhóm nào âm mưu giết Nemtsov thì họ cũng không dại dột chọn địa điểm này mà ra tay!

Ngược lại, dân biểu đối lập Ilya Ponomaryov nghi ngờ rằng các hung thủ chọn con đường này làm nơi hạ thủ một lãnh tụ đối lập nổi tiếng với mục đích chứng tỏ chúng có khả năng giết người bất cứ ở đâu, lúc nào, không sợ hãi. Giết Nemtsov ở địa điểm khó thi hành như vậy là một cách đe dọa tất cả các người đối nghịch với Putin.

Những ai đã sống dưới chế độ cộng sản đều biết rằng các lãnh tụ của họ sẵn sàng giết ngay cả các đồng chí của mình để giành lấy quyền lực. Tất nhiên họ sẵn sàng phải hạ sát các đối thủ. Stalin đã giết gần hết các ủy viên trung ương Ðảng cùng thời. Stalin gửi nhiều nhóm gián điệp đi tìm giết Trostky, người thành lập “Ðệ Tứ Quốc Tế” chống lại phe Ðệ Tam.

Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn luôn bày tỏ lòng trung thành với Stalin, đã nộp đạo luật Cải Cách Ruộng Ðất cho ông trùm điện Kremlin duyệt xét, xin thỉnh ý trước khi thi hành. Hồ thường nhắc đi nhắc lại: “Bác cháu chúng ta có thể nhầm chứ đồng chí Stalin không thể nhầm được!”

Vì thế, ngay sau khi cướp chính quyền Hồ Chí Minh đã tiêu diệt các đảng phái quốc gia, những người giống như ông Boris Nemtsov đối lập với Putin bây giờ. Tàn nhẫn nhất là giết cả những người đã ngưng hoạt động chính trị, coi như đã chịu thua, chỉ muốn làm công dân nước Việt Nam cùng kháng chiến chống Pháp. Khái Hưng từng viết trên báo Việt Nam những bài trên báo Việt Nam của Quốc Dân Ðảng, chỉ trích Hồ Chí Minh thỏa hiệp cho Pháp đem quân vào Hà Nội. Ông bị giết dù đã bỏ thành phố Hà Nội về quê để tham gia kháng chiến chống Pháp. Ông đã bị bắt đem đi thủ tiêu, hoàn toàn biệt tích!

Trong miền Nam, lãnh tụ Ðệ Tứ Quốc tế Tạ Thu Thâu, sau khi mới ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, bị giết trên đường về, khi đi ngang Quảng Ngãi. Ðồng chí của ông là Phan Văn Hùm cũng bị giết, sau khi đã rời Sài Gòn về Thủ Ðức vì không chấp nhận sống dưới chính quyền thân Pháp. Hồ Chí Minh tiêu diệt hết các người cộng sản Ðệ Tứ để bày tỏ lòng trung thành với Stalin. Cố Bác Sĩ Trần Nguơn Phiêu đã thuật lại lời những nhân chứng cho biết thủ phạm giết Phan Văn Hùm là Kiều Ðắc Thắng, giám đốc công an Miền Ðông của Việt Cộng. Trong cuốn sách Phan Văn Hùm, Thân thế và Sự nghiệp (trang 134 đến 138), Bác Sĩ Trần Nguơn Phiêu kể rằng Kiều Ðắc Thắng sau đó được đưa ra Bắc gặp Hồ Chí Minh để “thưởng công.” Nhưng trên đường trở về miền Nam thì biến mất một cách bí hiểm. Ðây cũng là một hành động thủ tiêu tên sát nhân để kẻ đứng đằng sau ra lệnh không bị lộ hình tích.

Ðảng Cộng Sản Việt Nam đến giờ vẫn che giấu các vụ ám sát Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Khái Hưng. Nếu có ai nhắc tới thì đổ tội cho các cán bộ địa phương - giống lối giải thích các vụ sát hại học giả Phạm Quỳnh và cha con ông Ngô Ðình Khôi. Hồ Chí Minh còn giả nhân giả nghĩa, tuyên bố rất tiếc khi nghe tin Tạ Thu Thâu bị giết! Vladimir Putin cũng theo cùng một “cẩm nang” như thế. Sau khi Nemtsov bị ám sát, Putin còn gửi thư chia buồn với bà mẹ già 86 tuổi của nạn nhân và hứa sẽ truy tầm thủ phạm! Hồ Chí Minh đổ lỗi cho cán bộ địa phương mà không hề nói tới việc điều tra tìm những kẻ phạm lỗi.

Nhưng trong những ngày đầu cuộc kháng chiến, cán bộ địa phương nào ở trong một làng tại Nam Ðịnh biết cần thủ tiêu Khái Hưng ngay? Ai biết Khái Hưng là người có thể chống cho độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản? Cán bộ làng xã nào dám quyết định giết một nhà văn nổi tiếng? Cán bộ địa phương nào ở Quảng Ngãi biết Tạ Thu Thâu sẽ đi qua vùng này trên đường trở về Sài Gòn? Lại còn biết rõ ông là một lãnh tụ Cộng Sản Ðệ Tứ, và biết phải thủ tiêu tất cả những người Ðệ Tứ theo đúng chủ trương Stalin và Ðệ Tam Quốc Tế trung ương?

Vladimir Putin cũng bày trò dối trá sau khi giết người không khác gì Hồ Chí Minh. Cả hai được đào tạo trong cùng một lò! Nhưng ngày nay dân Nga được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin, không dễ tuyên truyền bằng thủ đoạn bưng bít mại, như Hồ Chí Minh đã che đậy trong thời 1946-47. Putin còn đang phải đối phó với một nền kinh tế trên đường suy sụp, không những vì bị các nước Tây phương trừng phạt về các hành động can thiệp vào Ukraine mà còn vì giá dầu lửa xuống giá, vào khoảng 60 đô la một thùng, trong khi ngân sách nước Nga chỉ cân bằng nếu giá dầu cao hơn 100 đô la. Dân chúng Nga đang chịu nạn lạm phát cao nhất từ sau thời cộng sản, đồng rúp mất giá gần một nửa kể từ khi Crimea bị sát nhập vào Nga.

Chỉ khi nào chế độ Putin sụp đổ thì người ta mới biết ai chịu trách nhiệm về vụ ám sát Nemtsov. Cũng như phải chờ ngày chế độ cộng sản sụp đổ ở Việt Nam thì mới có thể điều tra về những vụ thủ tiêu Khái Hưng, Nhượng Tống, Ðức Thầy Huỳnh Giáo Chủ, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, và những vụ ám sát khác trong bao nhiêu làng xã ở Việt Nam từ khi đảng cộng sản ra đời.

__._,_.___

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Văn hóa bạo động

Nguyễn Hưng Quốc

(Blog VOA)
Tôi có một sinh viên người Úc rất mê Việt Nam. Cứ hễ có chút tiền là anh ấy bay đi Việt Nam. Mỗi năm đi Việt Nam ít nhất một lần. Tôi hỏi: Anh mê nhất ở Việt Nam điều gì? Anh đáp: Tình người.

Anh khen người Việt Nam thân thiện và hiếu khách, lúc nào cũng cười, và khi cần, sẵn sàng giúp đỡ anh, một người ngoại quốc chỉ bập bẹ được đôi ba câu tiếng Việt hết sức đơn giản. Khi tôi hỏi tiếp: Có gì anh không thích ở Việt Nam? Anh đáp: tính bạo động. Anh thường xuyên thấy cảnh người Việt gấu ó và đánh lộn với nhau. Trên đường, quẹt xe nhau một tí: dừng lại chửi bới nhau, thậm chí, thượng cẳng chân hạ cẳng tay với nhau. Trong quán nhậu, giữa những lúc ồn ào hò la dzô dzô, bỗng dưng nỗi quạu, nhào tới vung tay thọi nhau chí chóe làm náo động cả quán. Anh cho đó là một nghịch lý mà anh không hiểu tại sao. Anh băn khoăn hỏi tôi: Tại sao như vậy?

Đó cũng là câu hỏi thỉnh thoảng tôi tự đặt ra với chính mình. Về tính thân thiện của người Việt, chúng ta khỏi cần bàn: Nó khá hiển nhiên. Nhưng còn sự hung hãn? Cứ mở bất cứ tờ báo nào ra, chúng ta cũng thấy những bản tin về chuyện người Việt Nam đánh lộn với nhau, có khi gây tử vong, chỉ vì những duyên cớ hết sức nhỏ nhặt. Trong lễ hội đền Gióng tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội vừa rồi, cả hàng trăm người nhào tới cướp hoa tre để lấy may mắn; từ giành giật dẫn đến xô xát; và khi xô xát, người ta dùng cả gậy gộc để phang thẳng vào đầu nhau khiến lễ hội đáng lẽ rất linh thiêng trở thành một cuộc hỗn chiến nhếch nhác, người thì u đầu người thì sứt trán. Cũng theo báo chí trong nước, từ ngày 27 Tháng Chạp đến mồng bốn tết Ất Mùi vừa qua, trong cả nước có 6,200 người phải đưa vào bệnh viện cấp cứu chỉ vì đánh nhau. Những người đánh nhau ấy có khi là bạn bè của nhau. Cứ rượu vào thì lời ra; lời, đến mức nào đó, nghe chói tai, thế là người ta nhào đến vung tay vung chân hạ gục nhau. Có khi tay chân không đủ, người ta sử dụng cả vũ khí nữa.

Trong phạm vi gia đình, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những hành vi bạo động như vậy. Nặng thì đánh đập nhau: một hình thức bạo động bằng vũ lực; nhẹ thì dùng lời nói để làm nhục nhau: một hình thức bạo động bằng ngôn ngữ. Cả hai hình thức bạo động ấy không chỉ xảy ra giữa vợ chồng, anh em, mà còn xảy ra giữa bố mẹ và con cái.

Vấn đề là: tại sao người Việt Nam lại hung hãn đến như vậy? Tôi ngờ là đằng sau những sự hung hãn ấy là một thứ văn hóa, tạm gọi là văn hóa bạo động.

Có thể định nghĩa văn hóa bạo động là niềm tin hay nếp nghĩ cho rằng các xung đột chỉ có thể được giải quyết thông qua bạo lực. Trong xã hội loài người, ở đâu và thời nào cũng có các xung đột hoặc về lợi ích hoặc về tư tưởng và tính tình. Để giải quyết các xung đột ấy, người ta có nhiều biện pháp khác nhau. Trong văn hóa bạo động, các biện pháp ưu tiên hàng đầu là thượng cẳng chân hạ cẳng tay.

Đặc điểm đầu tiên của văn hóa bạo động là người ta không có thói quen giải quyết xung đột và mâu thuẫn bằng các biện pháp thương thảo. Tôi sống ở Tây phương khá lâu, tôi nhận thấy điều này: khi có điều gì bất hòa hoặc bất đồng, người ta thường ngồi lại với nhau để phân tích ai đúng ai sai. Giữa vợ chồng hay giữa bố mẹ và con cái hay giữa bạn bè với nhau, người ta đều làm vậy. Sau khi phân tích, người có lỗi nhận lỗi và người kia thì cũng bỏ qua, mâu thuẫn và xung đột coi như được giải quyết. Ngoài xã hội cũng vậy. Thỉnh thoảng tôi thấy các cảnh cãi cọ nhưng hiếm khi nào thấy cảnh người ta ẩu đả với nhau. Có. Đâu đó vẫn có cảnh đánh lộn. Nhưng mức độ chắc chắn là rất ít. Trong các dịp lễ hội tại Úc, ví dụ, trong các đêm giao thừa, có khi cả triệu người đổ xô xuống đường, nhưng hiện tượng ẩu đả nhau khiến cảnh sát phải can thiệp rất hiếm, có khi hoàn toàn không có.

Đặc điểm thứ hai của văn hóa bạo động là sự thiếu vắng niềm tin vào lý lẽ và vào luật pháp. Lấy ví dụ về những chuyện đụng xe với nhau. Ở Úc, tôi từng chứng kiến cảnh xe cộ đụng nhau khá nhiều lần. Chưa bao giờ tôi thấy cảnh người ta đánh nhau hay cãi cọ với nhau. Thường, người ta chỉ ghi bằng lái và số xe của nhau. Tất cả các phần còn lại đều do các hãng bảo hiểm hoặc, trong những trường hợp trầm trọng, do tòa án giải quyết. Người ta không cần sử dụng bạo động trong ứng xử hoặc trong ngôn ngữ vì người ta tin vào luật pháp, tin vào lý lẽ. Ở Việt Nam thì khác. Trong các vụ đụng xe, hầu như không ai tin vào những thứ ấy. Người ta giành quyền giải quyết chuyện thắng thua ngay tại chỗ. Và bằng sức mạnh của nắm đấm.

Với hai đặc điểm nêu trên, văn hóa bạo động có gốc rễ từ bản năng của con người, đặc biệt, khi bản năng ấy chưa được thuần hóa bằng giáo dục và bằng nếp sống văn minh đặt trên nền tảng của lý trí và luật pháp. Có lẽ ngày xưa, ở đâu người ta cũng có thứ văn hóa bạo động như vậy. Tuy nhiên, ở những nơi lý trí và luật pháp được coi trọng, thói quen tranh luận và thương thảo đã thành nếp, văn hóa bạo động dần dần nhạt đi, những cảnh ẩu đả vì những lý do vu vơ dần dần giảm xuống.

Ở Việt Nam, văn hóa bạo động không những không giảm thiểu mà còn bộc phát mạnh mẽ. Theo tôi, điều này có thể được giải thích bằng hai nguyên nhân: Thứ nhất, đó là di sản của chiến tranh, một biến dạng của văn hóa chiến tranh trong thời bình. Trước, suốt bao nhiêu năm chiến tranh, ở bất cứ phe nào, người ta cũng khuyến khích văn hóa bạo động, sử dụng bạo động để giành chiến thắng. Riết, thành thói quen trong nếp nghĩ và trong cách hành sử. Thứ hai, quan trọng hơn, người ta không tin vào pháp luật. Nguyên nhân của việc không tin vào pháp luật là chính chính quyền cũng không tin và không hành xử theo pháp luật. Bởi vậy, để giảm thiểu văn hóa bạo động, mọi người, bắt đầu từ giới có quyền lực, phải sống theo luật pháp.

Người xưa thường nói: thượng bất chính, hạ tắc loạn. Văn hóa bạo động tại Việt Nam hiện nay, do đó, xuất phát từ sự bất chính của giới lãnh đạo. Không thể thay đổi điều gì được nếu không bắt đầu thay đổi từ gốc: chính quyền.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Việt Nam: độc tài chuyên chế hay độc tài toàn trị?

Nguyễn Hưng Quốc
Ai cũng biết Việt Nam sống dưới một chế độ độc tài. Nhưng vấn đề là: bản chất của chế độ độc tài ấy là gì?

Lý do để đặt câu hỏi ấy là vì độc tài có nhiều loại và nhiều mức độ khác nhau. Chiến lược và chiến thuật để chống lại các loại và các mức độ độc tài ấy cũng khác nhau. Do đó, việc nhận diện bản chất độc tài của chế độ Cộng sản tại Việt Nam hiện nay trở thành vô cùng cần thiết.

Nói một cách tóm tắt, độc tài là việc nắm giữ toàn bộ quyền quyết định cũng như thực hành quyền lực vào tay một người hoặc một nhóm người. Người hoặc một nhóm người ấy có thể là một ông vua được kế nhiệm dựa trên quan hệ huyết thống (độc tài quân chủ), có thể là một viên tướng lên nắm quyền bằng bạo lực (độc tài quân phiệt), một lãnh tụ thoán đoạt quyền lực bằng các cuộc cách mạng (độc tài cá nhân). Cũng có thể đó là một nhóm người nhân danh thần quyền (oligarchy – như ở Iran lâu nay) hoặc một đảng chính trị nào đó (độc tài đảng trị).

Dựa trên mức độ, giới nghiên cứu chia độc tài thành hai cấp chính: độc tài chuyên chế (authoritarianism) và độc tài toàn trị (totalitarianism).

Dưới chế độ chuyên chế, người cầm quyền nắm toàn bộ quyền lực trong các lãnh vực lớn từ hành pháp đến lập pháp và tư pháp, từ chính trị đến quân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội; dưới chế độ toàn trị, ngoài các lãnh vực trên, nhà cầm quyền còn quản lý cả tâm hồn và trí tuệ của dân chúng. Trong quan hệ giữa cá nhân và nhà nước, dưới chế độ chuyên chế, cá nhân có một phạm vi tương đối độc lập; dưới chế độ toàn trị, ngay cả trong đời sống riêng, họ cũng không được tự do, hay nói theo Lê Đạt, thời Nhân Văn Giai Phẩm, chính quyền “đem bục công an đặt giữa trái tim người / bắt tình cảm ngược xuôi / theo luật lệ đi đường nhà nước”. Về biện pháp, chế độ chuyên chế sử dụng bạo lực và sau đó, tuyên truyền; chế độ toàn trị sử dụng cả hai, bạo lực và tuyên truyền cùng lúc và với mức độ ngang nhau. Chế độ chuyên chế gắn liền với bộ máy hành chính; chế độ toàn trị, ngoài bộ máy hành chính, còn gắn liền với một kiểu ý thức hệ nào đó. Chế độ chuyên chế đòi hỏi dân chúng phải vâng lời; chế độ toàn trị đòi hỏi dân chúng vừa vâng lời vừa tin tưởng. Chế độ chuyên chế mua chuộc sự trung thành bằng quyền lợi; chế độ toàn trị bằng những lời hứa hẹn đến một tương lai không tưởng nào đó. Dưới các chế độ chuyên chế, có thể có đối lập và phản biện; dưới các chế độ toàn trị thì tuyệt đối không. Để duy trì quyền lực, các chế độ chuyên chế sử dụng bộ máy đàn áp và ngăn cấm mọi hình thức tham gia của quần chúng; các chế độ toàn trị, một mặt, sử dụng các biện pháp đàn áp, mặt khác, cho phép dân chúng tham gia vào các sinh hoạt chính trị nhưng với điều kiện: việc tham gia ấy nằm trong khuôn khổ, sự định hướng và kiểm soát của nhà cầm quyền.

Trong lịch sử, toàn bộ các chế độ độc tài đều là chuyên chế; chỉ có ba chế độ độc tài được ghi nhận là toàn trị: chủ nghĩa phát xít tại Ý, chủ nghĩa Nazi tại Đức và chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu trước đây cũng như ở một số quốc gia khác, trong đó, có Trung Quốc và Việt Nam hiện nay.

Trên nguyên tắc, chế độ toàn trị cộng sản (communist totalitarianism) có mấy đặc điểm chính: Một, về ý thức hệ, chỉ thừa nhận một ý thức hệ duy nhất là chủ nghĩa Mác với một số kết hợp, chẳng hạn, ở Liên Xô là chủ nghĩa Stalin, ở Trung Quốc là chủ nghĩa Mao, và ở Việt Nam, gần đây, “tư tưởng” Hồ Chí Minh. Hai, về cơ cấu quyền lực, chỉ có một đảng duy nhất, đó là đảng cộng sản, được lãnh đạo bởi một nhóm nhỏ được gọi là Bộ chính trị, hoặc rộng hơn một chút, Ban chấp hành trung ương. Ba, có cả một bộ máy công an, an ninh và mật vụ khổng hồ để kiểm soát và trấn áp những người bất phục tùng. Bốn, nắm chặt các sinh hoạt kinh tế trong nước. Và năm, nắm toàn bộ các phương tiện truyền thông đại chúng, cộng với hệ thống kiểm duyệt chặt chẽ để không những ngăn chận mọi tiếng nói phản biện hoặc khác biệt mà còn nhồi sọ dân chúng để mọi người đều suy nghĩ giống nhau theo định hướng của nhà cầm quyền.

Đó là trên nguyên tắc, còn trên thực tế, sau khi các chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chế độ cộng sản tại Trung Quốc và Việt Nam có còn là một chế độ toàn trị hay không? Nhiều học giả đáp: Còn. Với họ, chế độ độc tài ở Trung Quốc hiện nay vẫn là một chế độ toàn trị, ở đó, sự khắc nghiệt trong bộ máy cai trị tuy giảm một chút so với thời Mao Trạch Đông nhưng tự bản chất, đó vẫn là một chế độ toàn trị chứ không phải là chuyên chế. Còn ở Việt Nam thì sao?

Theo tôi, chế độ cộng sản tại Việt Nam hiện nay đang trong quá trình biến thái từ toàn trị sang chuyên chế. Họ vẫn chủ trương độc đảng, vẫn sử dụng bộ máy công an khổng lồ để đàn áp dân chúng, vẫn khăng khăng từ chối việc tư nhân hoá truyền thông, vẫn đề cao chủ nghĩa cộng sản và “tư tưởng” Hồ Chí Minh, vẫn cố gắng dập tắt mọi tiếng nói phản kháng và phản biện trong nước. Tuy nhiên, trong rất nhiều lãnh vực, guồng máy cai trị của họ, dường như đang rã ra. Về kinh tế, họ buộc phải chấp nhận kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản. Về truyền thông, họ vẫn không kiểm soát được hết các mạng lưới xã hội trên internet. Họ nắm trong tay tất cả các nhà xuất bản cũng như các tờ báo trong nước, nhưng họ vẫn không kiểm soát nổi các hiện tượng luồn lách để một số tác phẩm đi ngược lại quan điểm và chủ trương của họ vẫn được ra mắt.

Nhưng quan trọng nhất là về phương diện ý thức hệ. Yếu tố then chốt để phân biệt độc tài chuyên chế và độc tài toàn trị nằm ở ý thức hệ. Cả ba chế độ độc tài toàn trị trên thế giới vào thế kỷ 20 vừa qua (phát xít, Nazism và cộng sản) đều được đặt trên một nền tảng ý thức hệ riêng. Ở Việt Nam, trong các diễn văn chính thức, người ta vẫn lải nhải nhắc đến chủ nghĩa Mác và “tư tưởng” Hồ Chí Minh, nhưng trong suốt mấy chục năm vừa qua, kể từ phong trào đổi mới và đặc biệt, sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa bị tan rã ở Liên Xô và Đông Âu, người ta vẫn không thể cụ thể hoá cái gọi là “tư tưởng” Hồ Chí Minh cũng như không chứng minh được một cách thuyết phục cái gọi là chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản có chút giá trị khoa học cần được thực hiện hay ứng dụng.

Không có ý thức hệ, sự tồn tại của chế độ cộng sản Việt Nam chỉ còn nằm trên hai yếu tố: mua chuộc và đàn áp. Họ là những bạo chúa không có niềm tin. Họ chỉ có thể quản lý dân chúng trên phương diện kinh tế và xã hội và hoàn toàn bỏ ngỏ trên mặt trận tư tưởng.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Bụng dạ ‘ông già lẩm cẩm, ngây thơ’
Bùi Tín
Việt Nam hôm nay
- Mồng Một Tết Ất Mùi vừa qua, tôi có bài viết ‘Chân Dung Quyền lực và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng’, trong đó có bức thư ngỏ gửi thủ tướng. Nhiều mạng tự do đăng lại bài ấy. Tôi không ngờ ngay ngày Tết lại có nhiều bạn đọc có ý kiến nhận xét, bình luận về lá thư ngỏ ấy. Có đến hơn 70 bài.

Những ý kiến đồng tình, tán thưởng, ‘xoa đầu’ không hiếm, dù đầu tôi đã bạc trắng, vẫn có tật phổng mũi gật gù khi được khen. Nhưng tôi thường chú ý hơn đến những ý kiến phản biện, gai góc. Tôi đã lường trước chuyện này.

Quả nhiên những lời ‘mắng mỏ’ không thiếu. Xin kể:

- B.T. từng ở lâu trong đảng CS mà chẳng hiểu gì về người CS cả! Làm gì còn người CS tốt, yêu nước, thương dân khi họ còn nắm quyền lực trong tay; nhà báo B.T. ngây thơ, lẩm cẩm rồi! không biết Ba Dũng là trùm ‘tư bản đỏ’ ư? chỉ ‘hứa hươu hứa vượn’, nói thì hay mà ‘làm như mèo mửa’; tay tổ lừa bịp đó!;

- Chán cho cái ông già nhà báo này quá! chỉ gây rối thêm! ông không biết Ba Dũng là tay xạo tổ bố, giả ca ngợi dân chủ nhân quyền, giả ca ngợi chế độ pháp quyền của thời đại, ba hoa rằng ‘người dân được làm mọi việc mà luật pháp không cấm '...nhưng chính Ba Dũng bỏ tù Ls Hà Vũ, bỏ tù cô Hằng, bỏ tù nhà báo Trương Duy Nhất, Ba Dũng cũng giả vờ thân phương Tây, nhưng thật ra là đi đêm với bành trướng Bắc Kinh đó, cùng một duộc với 15 ủy viên bộ chính trị khác mà thôi! Họ phân công nhau làm trò con khỉ!; đừng có van xin hão huyền, làm sao Ba Dũng từ bỏ được gia tài kếch sù do ổng và gia đình vơ vét được từ khi làm Thống đốc ngân hàng, làm sao tướng cướp CS có thể buông dao hoàn lương thành người lương thiện, huống gì là thành anh hùng cứu nước!

Cám ơn các bạn đã góp ý xác đáng. Những ý kiến ấy tôi dã biết, đã hiểu rõ khi cân nhắc để viết bức thư nói trên. Tôi xin trình bày rõ thêm như sau:

Tôi có ý định viết bài báo này sau khi đọc bài viết của ông Đào Như trên mạng Dân Luận (8/2/2015), có tít là: 'Vai trò lịch sử của mạng Chân dung quyền lực’. Trong bài, ông Đào Như nhận định CDQL đã ‘hoàn thành sứ mạng lịch sử, mở trận đánh lớn khốc liệt không khoan nhượng chống lại đảng CS Việt Nam, có ý chí loại trừ tận gốc rễ ảnh hưởng của đảng CS trong xã hội VN’. Theo ông Đào Như, mạng CDQL đã có công vạch mặt hàng loạt lãnh đạo bảo thủ giáo điều là nguy cơ tệ hại nhất: Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Phạm Quang Nghị, cũng như có công lớn biểu dương, nêu gương các nhà đổi mới Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Kiệt, và nay là Nguyễn Tấn Dũng. Ông kết luận đây là vai trò lịch sử của CDQL. Tôi cho rằng ông Đào Như đã quá ư lạc quan do chủ quan, lấy mong muốn của mình thành hiện thực, nhưng hiện thực ấy còn xa vời lắm lắm, vì ông thủ tướng nói rất hay, rất nhiều, rất chuẩn (về nhân quyền, về dân chủ, về chống bành trướng, về chống tham nhũng), nhưng không hề làm, lại toàn làm điều trái ngược.

Nhưng suy đi còn nghĩ lại, tôi không đồng tình với ông Đào Như nhưng rất quý trọng mong muốn chân chính của ông là chuyển hóa toàn bộ hệ thống cai trị kiểu chuyên chính độc đảng sang chế độ pháp quyền đa đảng trong hòa bình không bạo lực. Sẽ tránh được đổ máu, hỗn loạn, tang thương, đau khổ. Tôi càng hiểu mong muốn chính đáng ấy khi ông so sánh vai trò ông Nguyễn Tấn Dũng hiện nay với ông Gorbachev ở Liên Xô năm 1991, rồi so sánh ban chấp hành TW đảng khóa XI như quốc hội Douma của nước Nga hồi ấy, đã tuyên bố giải thể Liên bang Xô viết, giải tán đảng CS Liên Xô.

Tôi không đồng tình với ông Đào Như ở điểm này, vì tôi từng nghe, đọc khá nhiều về Gorbachev, một nhà chính trị cực kỳ nhân bản, suy nghĩ, nói và làm thống nhất, sáng suốt và quả đoán, tôi cũng từng 2 lần nói chuyện khá lâu với ông Dũng, trực tiếp ‘bắt mạch’ ông khi ông còn ở Kiên Giang và khi ông ra Hà Nội, thấy ở ông một cán bộ tầm thường lắm, được ông Võ Văn Kiệt cất nhắc, nhưng vẫn là con người tầm thường về hiểu biết, nắm vấn đề, giải quyết vấn đề; đó là con người luống tuổi, rất ít học, trưởng thành từ một người y tá được huấn luyện 3 tháng trong rừng, học thêm quá ít. Tôi không có định kiến với ông, nhưng tôi nghĩ từ Gorbachev đến Nguyễn Tấn Dũng là cả một khoảng cách rộng về nhân cách, hàng chục bậc thang về nhân thức hiểu biết rõ nền chính trị quốc tế khu vực và thế giới, càng lớn rộng hơn về nhân sinh quan, về lẽ sống ở trên đời. Ta sống vì ai? vì dân, vì đồng bào ta, vì nhân dân ta, vì dân tộc ta hay vì danh tiếng hão, vì chức tước, hưởng thụ, vì vợ con, tài sản riêng, nhà thờ họ riêng, tất cả chỉ là ảo ảnh, hão huyền khi xuôi tay chui vào 6 tấm. Tôi vẫn nghĩ ông Dũng có bộ mặt sáng sủa, dáng người cao ráo, nhưng vẫn cứ là ‘con người lùn tịt’ về nhiều mặt.

Chính vì lẽ ấy mà nhân cái ảo tưởng quá lớn của ông Đào Như, một trí thức sống xa quê hương, ở bang Illinois/Hoa Kỳ, tôi muốn nhắn gửi ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lá thư ngỏ nói trên để làm một cuộc thăm dò, một cú 'test' sinh động từ xa, biết rằng 99% nó là vô ích, tôi đã đoán trước thất bại. Tôi muốn qua đây cảnh tỉnh ông bạn Đào Như là chớ nên gửi niềm tin quý báu của mình ở nơi chưa đáng tin cậy, sẽ bị vỡ mộng.

Tôi vẫn cố thử một lần cuối còn có lý do là Đức Phật Thích Ca từng nói: trong con người nào cũng có ‘Phật tánh’. Một tên cướp cũng có thể ngộ ra lẽ phải, chôn dao, làm điều thiện cứu dân độ thế, thành Phật. May ra ông Dũng ngộ ra lẽ phải trong một đêm xét mình đến tận cùng, tự mình lột xác, ‘thành Gorbachev VN’, một cuộc đổi đời kỳ diệu.

Hy vọng quả thật mong manh, nhưng còn nước, còn tát.

Tôi cũng muốn qua bức thư được phổ biến rộng, toàn xã hội quan tâm và sẽ có nhiều ý kiến phong phú về thời cuộc. Tôi mong rằng cả 16 ủy viên bộ chính trị, cả 199 ủy viên TW phần lớn sẽ đọc bức thư này và suy nghĩ, cũng như đông đảo đảng viên CS và bà con ta ngoài đảng cũng cùng suy nghĩ về thời cuộc. Để những người lãnh đạo đảng CS nhận ra rằng tình thế đang cần đến một nhân vật xuất chúng - không phải Nguyễn Tấn Dũng thì có thể là ai đây? - nhân vật ấy sẽ tập trung quanh mình những người đồng tâm nhất trí, kén chọn một số trợ lý, cố vấn ưu tú, dựa hẳn vào các tổ chức xã hội dân sự đang dấn thân cho Tự do của dân tộc. Nhân vật ấy, nhóm tiên phong ấy sẽ đặt sang một bên cả hệ thống những học thuyết, chủ nghĩa, chế độ chính trị - kinh tế - văn hóa - đối ngoại đã cũ kỹ không còn sức sống, thay thế nó bằng hệ thống pháp quyền, nhân quyền, dân chủ đa nguyên về chính trị - kinh tế - văn hóa và đối ngoại. Dân chủ bầu cử, Tự do ngôn luận là 2 nét nổi bật trong hệ thống cai tri mới lấy dân làm gốc. Cả một trào lưu dân chủ quốc tế mạnh mẽ sẽ lập tức ủng hộ và tiếp sức cho ta, từ Philippin, Inđônếsia, Malaisia, Ấn Độ, Miến Điện, đến Liên Âu, Úc, Canada, Hoa Kỳ, trong khi ta duy trì quan hệ bình đẳng hòa bình với Trung Quốc.

Đất nước ta đang cần tiếp túc đổi mới cả hệ thống. Toàn dân ta đang mong chờ một sự lãnh đạo sáng suốt, minh bạch, quả đoán theo hướng tiến bộ và hiện đại. Tất cả những học thuyết, chủ nghĩa, chế độ cai trị, tên đảng, tên nước… không có gì là cố định, thiêng liêng, tồn tại dai dẳng, tất cả chỉ là phương tiện do con người tạo ra, là công cụ của nhận thức, khi không còn thích hợp thì đật nhẹ nhàng nhưng dứt khoát sang một bên - hay có thể đưa vào bảo tàng lưu niệm để làm răn - và tạo ra công cụ mới sắc bén, hiện đại có công suất cao hơn để kiến tạo phát triển và chia thành quả thật hợp lý cho toàn dân cùng hưởng... Trên dưới ôn tồn thuyết phục nhau, nghe theo lẽ phải, khi cần vẫy gọi nhau xuống đường có trật tự, có tổ chức để tỏ rõ ý chí xã hội là đông đảo, đồng nhất.

Cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh đến tác dụng và vai trò lịch sử của các tổ chức và cá nhân đang giương cao ngọn cờ Nhân quyền, đòi Tự do, Dân chủ cho toàn dân, của Mạng Lưới các blogger tự do, của các tổ chức của Xã Hội Dân Sự đã vượt qua con số 30, trong đó có các mạng thông tin lề dân như mạng bô-xít, Dân Làm Báo, Việt Nam Thời Báo, Văn đoàn Độc lập, Phụ nữ Nhân quyền, đội bóng No-U, phong trào ‘Tôi không thích đảng Cộng sản!’, các tổ chức tín đồ đòi tự do tôn giáo,… Bất kỳ nhà hoạt động chính trị nào muốn làm nên lịch sử ắt phải dựa vào nhân dân và dân tộc, dựa hẳn vào các tổ chức Dân chủ và Nhân quyền trên đây, do đó là những tổ chức mang bản chất dân tộc và nhân dân sâu đậm nhất, đang là động lực chân chính, lành mạnh, lương thiện của toàn dân, đang lớn mạnh dần và sẽ được nhân lên gấp ngàn vạn lần khi thời cơ cách mạng bùng nổ.

Sự bùng nổ cách mạng sẽ tuyệt vời nếu như được diễn ra trong hòa bình không bạo lực, như ở Ba Lan, Tiệp Khắc, Liên bang Nga, Tunisia, Miến Điện…, tránh để đổ máu như ở Romania dù ở đây là những xung đột không đáng kể.

Cần khắc phục tâm lý bi quan, thủ đoạn dọa dẫm là thay đổi cả hệ thống sẽ tất yếu dẫn đến hỗn loạn. Không nhất thiết là thế. Đó không phải là định mệnh. Đổi mới cả hệ thống không bạo lực là nét trội của thời đại. Ấn Độ, Miến Điện dân chủ hóa cũng là láng giềng vói Trung Quốc minh chứng cho điều đó. Điều kiện phải là tự do liên minh toàn diện với các nước dân chủ như Nhật bản, Ấn Độ, Philippin, Inđônếsia, Úc, Liên Âu, Hoa Kỳ… trong khi giữ quan hệ hòa bình, bình đẳng, hợp tác có đi có lại với Trung Quốc.

Chân thành xin lỗi các bạn nếu như tôi vẫn còn ‘lẩm cẩm, ngây thơ’ trong bài viết này.

Bùi Tín

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Sự thay đổi trong cán cân quyền lực tại Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc
Mới đây, trên tờ East Asia Forum ngày 5 tháng 3, Lê Hồng Hiệp, chuyên viên nghiên cứu tại Institute of Southeast Asia Studies, có một bài viết khá hay về sự thay đổi trong cán cân quyền lực trong hệ thống chính trị tại Việt Nam.

Theo Lê Hồng Hiệp, trước đây, quyền lực chính trị tại Việt Nam chủ yếu nằm trong tay một cá nhân (Hồ Chí Minh và/hoặc Lê Duẩn), sau, chuyển sang Bộ Chính trị (dưới thời các Tổng Bí thư từ Trường Chinh đến Nông Đức Mạnh), và gần đây, chuyển sang Ban Chấp hành Trung ương đảng.

Có mấy bằng chứng cho thấy sự thay đổi này: Một, vào tháng 10, 2012, khi Bộ Chính trị định kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng vì những thất bại của ông trong lãnh vực kinh tế, Ban Chấp hành Trung ương đã bác bỏ, cuối cùng, Nguyễn Tấn Dũng được xem là vô tội. Hai, vào tháng 3, 2013, khi Nguyễn Phú Trọng đề cử Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã lại bác bỏ và, thay vào đó, bầu hai người khác, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân. Và ba, vào tháng 1, 2015, lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương đã bỏ phiếu tín nhiệm các uỷ viên trong Bộ Chính trị. Kết quả cuộc bầu cử, cho đến nay, vẫn không được công bố chính thức, tuy nhiên, theo trang blog Chân dung Quyền lực, ở đó, Nguyễn Tấn Dũng được nhiều phiếu tín nhiệm cao nhất (152 phiếu), trên Trương Tấn Sang (149 phiếu), và cao hơn hẳn Nguyễn Phú Trọng, đứng hạng thứ 8, với 135 phiếu.

Với các sự kiện ấy, Lê Hồng Hiệp cho rằng, nếu xem cấu trúc quyền lực trong hệ thống chính trị tại Việt Nam như một hình tam giác thì ở trên cùng là Ban Chấp hành Trung ương, dưới một chút là Bộ Chính trị, và dưới nữa là Tổng Bí thư. Cấu trúc này không thể hiện xu hướng dân chủ tại Việt Nam, bởi vì, thay đổi theo cách nào, mọi quyền lực cũng đều nằm trong tay đảng Cộng sản. Tuy nhiên, nó thể hiện được cán cân quyền lực trong nội bộ đảng. Điều này đã có nhiều người nhận ra: trong lịch đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam, chưa có Tổng Bí thư nào bất lực như Nguyễn Phú Trọng, đồng thời cũng chưa có một Thủ tướng nào có nhiều quyền lực như Nguyễn Tấn Dũng.

Có thể nói, sự thay đổi đột biến trong cán cân quyền lực của Ban Chấp hành Trung ương gắn liền với sự lớn mạnh trong vai trò Thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh hưởng của Nguyễn Tấn Dũng đối với Ban Chấp hành Trung ương lớn hơn hẳn các ảnh hưởng của Nguyễn Phú Trọng hoặc Trương Tấn Sang. Có hai lý do chính. Thứ nhất, hầu hết các thành viên trong Ban Chấp hành Trung ương là các cán bộ lãnh đạo địa phương hoặc trong guồng máy hành chính trung ương: ở cả hai nơi, quyền bổ nhiệm cũng như quyền phân phối ngân sách đều chủ yếu nằm trong tay Nguyễn Tấn Dũng. Thứ hai, Nguyễn Tấn Dũng cũng có quan hệ chặt chẽ với cả Bộ Quốc phòng lẫn Bộ Công an, nơi trước đây ông từng lãnh đạo, mà hai bộ này chiếm đến 15 phần trăm tổng số uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương đảng.

Với ảnh hưởng to lớn trên Ban chấp hành Trung ương như vậy, khả năng Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng Bí thư trong kỳ đại hội đảng vào năm 2016 tới không phải là xa vời hay bất khả. Nếu Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng Bí thư, một trong những phó Thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng hiện nay sẽ lên làm Thủ tướng. Lúc ấy, cán cân quyền lực, theo tôi, lại quay ngược lại thời trước: Tổng Bí thư sẽ có quyền lực cao nhất. Tuy nhiên, dù cao đến mấy, quyền lực của Tổng Bí thư cũng sẽ không cao bằng Hồ Chí Minh hay Lê Duẫn thời trước vì họ phải lệ thuộc vào sự ủng hộ của mấy trăm người trong Ban Chấp hành Trung ương đảng. Nhưng dù sao lúc ấy Tổng Bí thư cũng sẽ có quyền lực hơn hẳn Nguyễn Phú Trọng hiện nay.

Vấn đề là: những sự thay đổi về cán cân quyền lực cũng như cấu trúc quyền lực như vậy có lợi hay có hại cho đất nước?

Câu trả lời, theo tôi, là vừa lợi vừa hại.

Hại, trước hết, vì quyền lực của đảng trên quyền lực của Thủ tướng, tức trên bộ máy hành chánh, càng lớn, xu hướng độc tài càng có nguy cơ phát triển mạnh. Đó là những gì đã xảy ra và đã kéo dài trong nhiều thập niên dưới quyền của Lê Duẩn, ở đó, các thủ tướng, kể cả Phạm Văn Đồng, đều là những con rối trong tay Tổng Bí thư và Bộ Chính trị, chứ không có một quyền lực gì cả.

Hại nữa vì nó tiếp tục duy trì thế đứng của đảng như một thứ siêu quyền lực, đứng trên và đứng ngoài luật pháp, ở đó, mọi ước mơ thay đổi và dân chủ hoá đều dễ dàng bị dập tắt.

Tuy nhiên, khi quyền lực nằm hẳn trong tay một người, và nếu người đó có óc cấp tiến, có ý muốn thay đổi theo hướng dân chủ hoá thì ý muốn ấy rất dễ biến thành hiện thực. Nó khác với tình trạng hiện nay khi quyền lực bị phân tán, người này chỉ đứng trên người kia một chút, làm bất cứ điều gì người ta cũng phải nhân nhượng và thoả hiệp với nhau, cuối cùng, không có một chính sách tiến bộ hay mạnh mẽ nào có thể thực hiện được cả.

Theo tôi, ở Việt Nam hiện nay, có hai điều cần nhất: Một là dân chủ hoá; và hai là, một nhà lãnh đạo thực sự mạnh. Không có nhà lãnh đạo mạnh, sẽ không có gì thay đổi cả.

Tuy nhiên, như đã nói, đất nước chỉ thực sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, nếu, và chỉ nếu, nhà lãnh đạo mạnh ấy cũng đồng thời là một người sáng suốt, có quyết tâm xây dựng đất nước và theo đuổi làn sóng dân chủ hoá. Liệu Nguyễn Tấn Dũng có phải là một người như thế?

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Con gái Nemtsov: 'Putin phải chịu trách nhiệm'

Image
Con gái của lãnh đạo đối lập Nga, Boris Nemtsov nói ông Vladimir Putin phải chịu trách nhiệm về vụ sát hại ông Nemtsov.
Bà Zhanna Nemtsova nói với BBC rằng bà tin là Tổng thống Nga phải chịu trách nhiệm về mặt "chính trị".

Ông Nemtsov, cựu phó thủ tướng và là một chính trị gia kỳ cựu, đã bị bắn chết hôm 27 tháng Hai khi đang đi bộ với bạn gái ở khu vực gần Điện Kremlin.

Tổng thống Putin đã lên án vụ sát hại và nói quyết tìm ra thủ phạm.

Hiện một trong những người bị cáo buộc về vụ giết người nói rằng ông đã bị buộc phải nhận tội.

Zaur Dadayev nói với khách tới thăm nhà tù rằng ông đã bị trói trong hai ngày, đầu phải đeo một cái túi và chỉ nhận tội để nhằm đổi lấy tự do cho một người bạn của mình.

'Ai cũng sợ'

Nói với phóng viên Gabriel Gatehouse của BBC, bà Nemtsov đồng tình với những nhận xét của các đồng minh của cha mình, theo đó nói vụ sát hại ông là có động cơ chính trị.

"Ông ấy là người chỉ trích ông Putin quyết liệt nhất. Ông ấy là lãnh đạo đối lập quyền lực nhất ở Nga," bà nói.
Image"Sau cái chết của ông, phe đối lập đã bị chặt đầu và ai cũng sợ hãi," bà nói thêm.

"Nay chúng ta không có bất kỳ một gương mặt nào quyền lực đến vậy... với dày dạn kinh nghiệm và kỹ năng đối đầu với giới chức đến vậy."

Năm nay 30 tuổi, bà Nemtsov là chuyên viên phân tích thị trường chứng khoán và là người dẫn chương trình truyền hình cho một kênh tài chính tại Moscow. Bà nói bà vẫn chưa được các điều tra viên Nga liên hệ bởi họ "không quan tâm tới một cuộc điều tra độc lập".

Giới chức vẫn chưa nêu ra động cơ của vụ giết hại ông Nemtsov.

Hồi năm ngoái, ông đã liên hệ với giới chức Nga sau khi nhận được những lời dọa giết trên trang Facebook cá nhân, điều mà ông cho là có liên quan tới quan điểm của mình về cuộc xung đột Ukraine.

Ông đã dự thảo một bản phúc trình, được cho là nhằm công bố sự can dự của quân đội Nga trong cuộc xung đột này.

Cảnh sát đã bác yêu cầu điều tra của ông hồi tháng Chín.

Bà Nemtsov nói bà đã không được cho tiếp cận căn hộ của cha mình, nơi ông lưu giữ các tài liệu.

Nói về thời điểm được tin báo về cái chết của cha, bà nói: "Tôi không thể tin được, đến giờ tôi vẫn không tin được chuyện đó. Họ đã giết cha tôi, tôi không thể cứ im lặng."

Người đứng đầu quan hệ đối ngoại của EU, Federica Mogherini đã kêu gọi hãy tiến hành điều tra "đầy đủ và minh bạch" về vụ giết người này.

Nghị viện Âu châu được trông đợi sẽ ra nghị quyết lên án vụ sát hại và tình hình dân chủ tại Nga vào cuối ngày thứ Năm.

Post Reply