Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Sự thay đổi trong cán cân quyền lực tại Việt Nam


Nguyễn Hưng Quốc

(Nguồn: VOA

Mới đây, trên tờ East Asia Forum ngày 5 tháng 3, Lê Hồng Hiệp, chuyên viên nghiên cứu tại Institute of Southeast Asia Studies,
có một bài viết khá hay về sự thay đổi trong cán cân quyền lực trong hệ thống chính trị tại Việt Nam.

Theo Lê Hồng Hiệp, trước đây, quyền lực chính trị tại Việt Nam chủ yếu nằm trong tay một cá nhân (Hồ Chí Minh và/hoặc Lê Duẩn), sau,
chuyển sang Bộ Chính Trị (dưới thời các tổng bí thư từ Trường Chinh đến Nông Ðức Mạnh), và gần đây, chuyển sang Ban Chấp Hành Trung Ương đảng.

Image
Nguyễn Tấn Dũng (trái) có vẻ đang nắm trong tay Ban Chấp Hành Trung Ương của đảng CSVN. (Hình: Getty Images)



Có mấy bằng chứng cho thấy sự thay đổi này: Một, vào tháng 10, 2012, khi Bộ Chính Trị định kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng vì những thất bại của ông trong lãnh vực kinh tế, Ban Chấp Hành Trung Ương đã bác bỏ, cuối cùng, Nguyễn Tấn Dũng được xem là vô tội. Hai, vào tháng 3, 2013, khi Nguyễn Phú Trọng đề cử Nguyễn Bá Thanh và Vương Ðình Huệ vào Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung Ương đã lại bác bỏ và, thay vào đó, bầu hai người khác, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân. Và ba, vào tháng 1, 2015, lần đầu tiên Ban Chấp Hành Trung Ương đã bỏ phiếu tín nhiệm các ủy viên trong Bộ Chính Trị. Kết quả cuộc bầu cử, cho đến nay, vẫn không được công bố chính thức, tuy nhiên, theo trang blog Chân Dung Quyền Lực, ở đó, Nguyễn Tấn Dũng được nhiều phiếu tín nhiệm cao nhất (152 phiếu), trên Trương Tấn Sang (149 phiếu), và cao hơn hẳn Nguyễn Phú Trọng, đứng hạng thứ 8, với 135 phiếu.

Với các sự kiện ấy, Lê Hồng Hiệp cho rằng, nếu xem cấu trúc quyền lực trong hệ thống chính trị tại Việt Nam như một hình tam giác thì ở trên cùng là Ban Chấp Hành Trung Ương, dưới một chút là Bộ Chính Trị, và dưới nữa là tổng bí thư. Cấu trúc này không thể hiện xu hướng dân chủ tại Việt Nam, bởi vì, thay đổi theo cách nào, mọi quyền lực cũng đều nằm trong tay đảng Cộng Sản. Tuy nhiên, nó thể hiện được cán cân quyền lực trong nội bộ đảng. Ðiều này đã có nhiều người nhận ra: trong lịch đảng Cộng Sản và chính quyền Việt Nam, chưa có tổng bí thư nào bất lực như Nguyễn Phú Trọng, đồng thời cũng chưa có một thủ tướng nào có nhiều quyền lực như Nguyễn Tấn Dũng.

Có thể nói, sự thay đổi đột biến trong cán cân quyền lực của Ban Chấp Hành Trung Ương gắn liền với sự lớn mạnh trong vai trò thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh hưởng của Nguyễn Tấn Dũng đối với Ban Chấp Hành Trung Ương lớn hơn hẳn các ảnh hưởng của Nguyễn Phú Trọng hoặc Trương Tấn Sang. Có hai lý do chính. Thứ nhất, hầu hết các thành viên trong Ban Chấp Hành Trung Ương là các cán bộ lãnh đạo địa phương hoặc trong guồng máy hành chính trung ương: ở cả hai nơi, quyền bổ nhiệm cũng như quyền phân phối ngân sách đều chủ yếu nằm trong tay Nguyễn Tấn Dũng. Thứ hai, Nguyễn Tấn Dũng cũng có quan hệ chặt chẽ với cả Bộ Quốc Phòng lẫn Bộ Công An, nơi trước đây ông từng lãnh đạo, mà hai bộ này chiếm đến 15 phần trăm tổng số ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương đảng.

Với ảnh hưởng to lớn trên Ban Chấp Hành Trung Ương như vậy, khả năng Nguyễn Tấn Dũng trở thành tổng bí thư trong kỳ đại hội đảng vào năm 2016 tới không phải là xa vời hay bất khả. Nếu Nguyễn Tấn Dũng trở thành tổng bí thư, một trong những phó thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng hiện nay sẽ lên làm thủ tướng. Lúc ấy, cán cân quyền lực, theo tôi, lại quay ngược lại thời trước: Tổng bí thư sẽ có quyền lực cao nhất. Tuy nhiên, dù cao đến mấy, quyền lực của tổng bí thư cũng sẽ không cao bằng Hồ Chí Minh hay Lê Duẩn thời trước vì họ phải lệ thuộc vào sự ủng hộ của mấy trăm người trong Ban Chấp Hành Trung Ương đảng. Nhưng dù sao lúc ấy tổng bí thư cũng sẽ có quyền lực hơn hẳn Nguyễn Phú Trọng hiện nay.

Vấn đề là: những sự thay đổi về cán cân quyền lực cũng như cấu trúc quyền lực như vậy có lợi hay có hại cho đất nước?

Câu trả lời, theo tôi, là vừa lợi vừa hại.

Hại, trước hết, vì quyền lực của đảng trên quyền lực của thủ tướng, tức trên bộ máy hành chánh, càng lớn, xu hướng độc tài càng có nguy cơ phát triển mạnh. Ðó là những gì đã xảy ra và đã kéo dài trong nhiều thập niên dưới quyền của Lê Duẩn, ở đó, các thủ tướng, kể cả Phạm Văn Ðồng, đều là những con rối trong tay tổng bí thư và Bộ Chính Trị, chứ không có một quyền lực gì cả.

Hại nữa vì nó tiếp tục duy trì thế đứng của đảng như một thứ siêu quyền lực, đứng trên và đứng ngoài luật pháp, ở đó, mọi ước mơ thay đổi và dân chủ hóa đều dễ dàng bị dập tắt.

Tuy nhiên, khi quyền lực nằm hẳn trong tay một người, và nếu người đó có óc cấp tiến, có ý muốn thay đổi theo hướng dân chủ hóa thì ý muốn ấy rất dễ biến thành hiện thực. Nó khác với tình trạng hiện nay khi quyền lực bị phân tán, người này chỉ đứng trên người kia một chút, làm bất cứ điều gì người ta cũng phải nhân nhượng và thỏa hiệp với nhau, cuối cùng, không có một chính sách tiến bộ hay mạnh mẽ nào có thể thực hiện được cả.

Theo tôi, ở Việt Nam hiện nay, có hai điều cần nhất: Một là dân chủ hóa; và hai là, một nhà lãnh đạo thực sự mạnh. Không có nhà lãnh đạo mạnh, sẽ không có gì thay đổi cả.

Tuy nhiên, như đã nói, đất nước chỉ thực sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, nếu, và chỉ nếu, nhà lãnh đạo mạnh ấy cũng đồng thời là một người sáng suốt, có quyết tâm xây dựng đất nước và theo đuổi làn sóng dân chủ hóa. Liệu Nguyễn Tấn Dũng có phải là một người như thế?

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Những hình ảnh Ngày Tưởng Niệm 14/3 tại Hà Nội và Sài Gòn

Image

Nhiều đồng bào đã đến Đài Liệt Sĩ Bắc Sơn để tưởng niệm những người con yêu của tổ quốc đã hy sinh trong cuộc chiến chống quân Trung Quốc
xâm lược để bảo vệ đất nước. Nghi thức tưởng niệm trang nghiêm đã diễn ra bất kể sự hăm he của đủ loại công an chìm, nổi.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đã đại diện quì trước anh linh và dâng lời khấn nguyện với những chiến sĩ đã hy sinh vì nước.


Image
(Hình từ trang FB Thảo Teresa)

Image

Trong khi đó, nhiều nhà hoạt động cho dân chủ - nhân quyền đã bị bao vây, ngăn chận không cho ra khỏi nhà từ đêm hôm trước.
Một trong những người bị ngăn chận phi pháp là chị Thúy Nga tại Hà Nam. Nhưng chị vẫn gởi lên mạng những dòng chữ và hình sau đây:


"Dù bị ngăn chặn không tham dự cùng mọi người được thì tôi tưởng niệm 64 chiến sỹ đã hy sinh tại đảo Gạc Ma tại nhà."


Buổi tưởng niệm trước tượng đài Lý Thái Tổ bị công an xông vào giằng co, phá hoại:


Image
Công an đủ loại bắt đầu phá hoại các buổi tưởng niệm


Image

Thay vì bày tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn những người đã hy sinh vì đất nước,
nhà cầm quyền cho người đến choán trước chỗ
tại tượng đài Lý Thái Tổ để không ai tổ chức gì được.

Thay vì những băng rôn phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc tại biển Đông, lãnh đạo đảng CSVN lại cho người dương cao cờ búa liềm để tỏ tình
"đoàn kết cộng sản" với lãnh đạo Bắc Kinh. Hầu hết những thanh niên bị giao công tác này đều giấu mặt vì xấu hổ.

Image
(Hình FB Phan Cẩm Hường)

Những người Việt yêu nước chỉ còn chỗ đứng bên kia đường:

(Hình FB Cường Hoàng Công)
Và chỉ có thể ôm hoa trong lòng:

Image
Tình trạng tại tượng đài Quyết Tử cũng tệ hại không kém:

Image

(Hình FB Nguyễn Văn Đề)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Vị khách cồng kềnh của Tòa Bạch Ốc

Bùi Tín

[img]http://www.danchimviet.info/wp-content/ ... ái-lan.jpg[/img]
Tiến sĩ giấy Trọng lú và ngòi nổ Ba đình ở Thái Lan
Trong và ngoài nước đang bàn tán về chuyến “Mỹ du” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có thể diễn ra trong năm 2015 này. Đã có lời mời chính thức của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry. Trong bài phát biểu của khi trình quốc thư trước Tổng thống Obama mới đây, Đại sứ Phạm Quang Vinh cũng nhắc đến chuyện này. Chuyến đi được hai bên đánh giá là quan trọng do năm nay có kỷ niệm 20 năm bình thường hoá quan hệ giữa 2 nước (1995-2015), cũng là năm có hy vọng sẽ đạt thỏa thuận về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa 12 nước.

Thế nhưng sự việc lại không đơn giản, vì ông Nguyễn Phú Trọng là một vị khách cồng kềnh, làm cho ông chủ Tòa Bạch Ốc lúng túng, khó xử. Đây là một vấn đề phức tạp và lý thú.

Từ trước đến nay, chưa có Tổng Bí thư nào của đảng CS Việt Nam đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Hồ Chí Minh sau khi nắm chính quyền, các Tổng Bí thư Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh rồi đến Nguyễn Phú Trọng đều chưa đặt chân lên đất Mỹ. Sắp đến ông Trọng sẽ là Tổng Bí thư đầu tiên của đảng CS Việt Nam sang thăm chính thức nước Mỹ.

Vậy thì nước Mỹ sẽ tiếp đón ông Trọng theo nghi thức nào, theo kiểu cách lễ tân nào?

Khi ông Trọng sang thăm chính thức Cuba, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc, ông được tiếp đón như người lãnh đạo cao nhất, còn hơn nguyên thủ quốc gia, chủ tịch nước, vì là cùng chung một chế độ CS. Tổng Bí thư ở nhà khách sang trọng nhất, ngồi xe sang nhất với hai hàng xe môtô hộ tống, được mời duyệt đội quân danh dự, có 21 phát đại bác chào mừng, được mời tiệc quốc yến. Với Tổng bí thư đảng CS Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước như Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình, những nghi thức như thế là bình thường.

Nhưng Nguyễn Phú Trọng thì lại khác: ông là Tổng Bí thư nhưng không kiêm Chủ tịch nước. Ông cũng không hề được ủy nhiệm bởi một cuộc bầu cử dân chủ nào mà chỉ do nội bộ đảng của ông ta bầu lên. Vì vậy, ông chủ Tòa Bạch Ốc có phần lúng túng, khó xử về nghi thức tiếp đón ông Trọng. Không phải nguyên thủ quốc gia, ngang vai với Tổng thống Hoa Kỳ thì sẽ không có lễ đón, không có duyệt binh, không có 21 phát đại bác, không có quốc yến, mọi thứ sẽ rất giản đơn. Sẽ không thể có chuyện mời ông khách cồng kềnh này đến thăm và nói chuyện với Quốc hội Mỹ; cũng rất khó có chuyện ông Trọng được mời nói chuyện trước các học giả, các nhà kinh doanh hay nhà báo quốc tế, như nhiều vị khách khác.

Theo ông Carl Thayer, nhà nghiên cứu ở Học viện Quân sự Úc, Tổng thống Barack Obama đã tỏ ý sẽ không tiếp ông Trọng trong Phòng Bầu dục, nghĩa là phòng làm việc chính, tiêu biểu cho quyền lực Nhà nước của Hoa Kỳ, nơi Tổng thống Mỹ làm việc với các trợ lý thân tín nhất và tiếp các các nhà lãnh đạo quốc tế thân thiết nhất.

Tuy chưa đến Hoa Kỷ, ông Trọng đã có những kỷ niệm khá u ám với Châu Mỹ. Tháng 4/2012, trong chuyến thăm chính thức Cuba, ông Trọng đã đến Trường đảng cao cấp phổ biến “kinh nghiệm chủ nghĩa xã hội kiểu Mác-Lênin ở Việt Nam”, một mưu toan tuyên truyền vụng về, lạc điệu, không phải lúc, ngay sau khi Fidel Castro công khai tuyên bố “Cái mô hình hiện nay của Cuba (tức mô hình CNXH kiểu Mác-Lênin) không còn thích hợp”. Báo chí Cuba hoàn toàn không nói tới nội dung của buổi đăng đàn vô duyên ấy trong khi báo Nhân Dân được lệnh đăng toàn văn - lại thêm một trò vụng về hớ hênh nữa.

Ngay sau đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự trù đi thăm chính thức Brazil từ 12 đến 15/4/2012, theo lời mời của Tổng thống Brazil Dilma Rousseff (thuộc đảng Công nhân cánh tả thân CS), nhưng ngay chiều 11/4, khi ông Trọng vừa kết thúc cuộc nói chuyện ở Cuba, phía Brazil ra thông cáo cho biết hoãn cuộc đi thăm của đoàn ông Trọng mà không cho biết lý do và cũng không nói hoãn đến bao giờ. Cán bộ trong Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết trong lịch sử quan hệ quốc tế, chưa bao giờ Hà Nội bị một vố bất ngờ và mất thể diện đến như vậy.

Như vậy là đoàn cấp cao Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu với cả một bộ sậu gần một trăm người với 2 chuyên cơ Nhà nước, có các Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh, Trưởng Ban đối ngoại Trung ương Hoàng Bình Quân cùng nhân viên tùy tùng tiu nghỉu quay về nước, không rõ sự cố gì đã xảy ra.

Có ý kiến cho rằng Tổng thống Obama không muốn tiếp ông Trọng trong phòng làm việc chính thức. Đây là quyền của chủ nhà. Lại còn chuyện ông Trọng có sẽ đi thăm địa phương nào khác ở Hoa Kỳ hay không? Có sẽ gặp các nhà kinh doanh Mỹ hay không, khi ai nấy đều biết quan điểm của ông Trọng là đề cao vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước, dành ưu tiên cho kinh tế quốc doanh, trái ngược với nền kinh tế Hoa Kỳ?

Đây sẽ là cuộc gặp giữa hai con người của hai chế độ trái ngược nhau - một chế độ độc đảng toàn trị lẻ loi còn sót lại của lịch sử thế kỷ XX, và một chế độ dân chủ nhuần nhuyễn không ngừng phát triển qua hơn 2 thế kỷ. Một chế độ sinh ra từ đầu súng, từ “cướp chính quyền” rồi khư khư giữ chặt lấy không chia sẻ cho ai trong suốt 70 năm, và một chế độ cứ 4 năm lại để cho toàn dân sát hạch qua lá phiếu tự do của cử tri. Một chế độ có tự do báo chí, tự do ngôn luân, tụ do tôn giáo, tự do kinh doanh thuần thục, và mộ chế độ không có tự do báo chí, không có tự do tôn giáo, không có nhân quyền. Một chế độ có tam quyền phân lập, kiểm soát, kiềm chế nhau, mọi sự công khai, minh bạch trước nhân dân, công luận, và một chế độ độc đảng nắm giữ hết các quyền trong tay Bộ Chính trị, giải quyết mọi sự trong bóng tối, sau lưng nhân dân, với một Quốc hội bù nhìn, công cụ của đảng.

Hai con người trái ngược nhau như nước với lửa ấy có gì lý thú để trao đổi với nhau, khi mà Tổng thống Obama đã coi nhà báo Nguyễn Văn Hải Điếu Cày cùng bạn bè có chí hướng dân chủ là đáng khen, đáng phục, đáng tôn trọng, thì ông Trọng cho tất cả là tội phạm, là suy thoái, là phản động, nguy hiểm, cần loại bỏ.

Do đó, từ nay cho đến khi cuộc tiếp đón diễn ra, sẽ còn lắm chuyện phải bàn, nhất là để việc ký TPP hiện vẫn còn gay go nan giải, thiện chí của phía Việt Nam vẫn còn phải được thử thách trong thực tế.

Cũng không loại bỏ khả năng việc xảy ra ở Brazil 2 năm trước, khách mời Nhà nước chưa đến nhà, cổng đã bị đóng sầm lại, cuộc chào chia tay diễn ra trước khi tay chưa kịp bắt, do sự cách biệt hai bên còn quá xa vời. Khi trên báo Nhân Dân vẫn còn réo “đế quốc Mỹ” ra để xỉ vả, còn đầy các khái niệm “chống đế quốc Mỹ xâm lược” trên các sách dạy sử.

Còn biết bao nhiêu chuyện thiết thực phải làm để kỷ niệm thật sự có ý nghĩa 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ, để hội nhập quốc tế thuận lợi, sâu sắc, để còn có thể đón Tổng thống Mỹ sang thăm hữu nghị Việt Nam trong năm 2015 - một năm sẽ có nhiều chuyển động có ý nghĩa, như mọi người dân yêu nước, yêu dân chủ đang phấn đấu và mong đợi.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Xã hội dân sự và dân chủ

Nguyễn Hưng Quốc

(Nguồn: VOA)
Trong chuyến đi Mỹ vào cuối năm ngoái, trong một buổi nói chuyện gẫu với hai người bạn cùng hoạt động tích cực trong việc khuếch tán xã hội dân sự tại Việt Nam, tôi nghe một bạn than phiền: Từ khi hình thức sinh hoạt xã hội dân sự được cổ vũ, những người tích cực nhất trong phong trào tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam chỉ thích tiếp xúc và chụp ảnh với các tổ chức quốc tế nhưng lại lơ là với việc xuống đường biểu tình đòi tự do cũng như phản đối các hành động gây hấn của Trung Quốc.

Nhìn ở biểu hiện bên ngoài, lời than phiền ấy có vẻ như không sai. Quả thực từ hơn một năm nay, sau sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc vào thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam, trong cả nước, từ Sài Gòn đến Hà Nội, không có một cuộc biểu tình nào đáng kể cả. Ngược lại, các hoạt động thiên về xã hội dân sự vẫn tiếp tục phát triển qua các tổ chức giúp đỡ những người dân bị oan ức hoặc xây dựng những căn nhà tình nghĩa cho thân nhân những người bị hy sinh trong hai trận chiến tại Hoàng Sa (1974) và Trường Sa (1988).

Tôi không phủ nhận hai sự kiện trên, nhưng tôi không nghĩ hai sự kiện ấy có quan hệ nhân quả với nhau, nghĩa là, nói cách khác, tôi không tin sự lắng dịu của các cuộc xuống đường biểu tình là hậu quả của việc phát triển của các hoạt động xã hội dân sự. Nó có thể có những lý do khác, chẳng hạn, không có sự kiện nào gây khích động quần chúng như vụ giàn khoan Hải Dương 981 hoặc, sau các cuộc biểu tình dẫn đến bạo loạn tại Bình Dương và một số nơi khác, chính quyền có cớ để đàn áp mạnh tay hơn và điều đó khiến cho nhiều người ngần ngại. Cũng có thể, sau nhiều cuộc biểu tình, chính quyền tìm ra những biện pháp hữu hiệu hơn, ví dụ, cô lập những người có khả năng lãnh đạo để ngăn chận hoặc vô hiệu hóa các cuộc xuống đường. Vân vân. Còn có thể có những lý do khác nữa.

Nhưng ngay cả khi lý do giảm nhiệt của các cuộc tranh đấu là vì những người có thiện chí nhất chuyển hướng sang những hình thức liên quan đến xã hội dân sự nhẹ nhàng và ít thử thách hơn thì tôi nghĩ, nó cũng không phải là lý do để chúng ta chấm dứt hoặc giảm thiểu sự cổ vũ cho các hoạt động xã hội dân sự. Lý do chính là, về lâu dài, theo tôi, các hoạt động xã hội dân sự bao giờ cũng có ích, cực kỳ có ích, cho tiến trình dân chủ hóa đất nước.

Hầu như tất cả các nhà nghiên cứu đều khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa xã hội dân sự và tiến trình dân chủ hóa. Việc khẳng định ấy không phải chỉ có tính thuần túy lý thuyết mà còn dựa trên kinh nghiệm lịch sử. Trước, khi phân tích nền dân chủ tại Mỹ, Alexis de Tocqueville, đã nhận ra nền tảng của chế độ dân chủ tại nước này chính là các sinh hoạt xã hội dân sự phổ biến ở khắp nơi. Sau, hầu hết các học giả đều cho những nơi có sinh hoạt xã hội dân sự đa dạng và phong phú, ở đó, dân chủ được bén rễ sâu và vững mạnh, không thể đảo ngược được. Nhiều người cho rằng một trong những lý do chính khiến chế độ Cộng Sản tại Châu Âu sụp đổ vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 chính là nhờ các sinh hoạt xã hội dân sự: ở đâu xã hội dân sự phát triển sâu rộng, ở đó, chủ nghĩa cộng sản sụp đổ trước (như Ba Lan và Hungary); và ở đâu có truyền thống xã hội dân sự mạnh, ở đó dân chủ càng vững vàng. Ngược lại, ở phần lớn các quốc gia tách ra từ Liên Bang Xô Viết, vì không có truyền thống xã hội dân sự, nền dân chủ trở thành bấp bênh và có nguy cơ quay lại với độc tài.

Có thể tóm tắt mối quan hệ giữa xã hội dân sự và dân chủ vào mấy điểm chính:

Thứ nhất, các hoạt động xã hội dân sự là môi trường tốt nhất để giáo dục ý thức công dân, giải trừ nạn dửng dưng và vô cảm trong xã hội, làm cho mọi người biết tôn trọng những sự khác biệt về sắc tộc, ý thức hệ, tín ngưỡng và văn hóa.

Thứ hai, đó là cách tốt nhất để tập hợp những công dân khắc khoải trước thực trạng đất nước. Những người có lòng với tiền đồ dân tộc sẽ gặp gỡ nhau, trao đổi ý tưởng với nhau và cùng nhau hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau để xây dựng một xã hội dân chủ lành mạnh sau này.

Thứ ba, qua các hoạt động xã hội dân sự, người ta tập luyện được một số kỹ năng cần thiết cho một xã hội dân chủ, trong đó, quan trọng nhất là hai khả năng đối thoại và hợp tác để giải quyết các khác biệt hoặc mâu thuẫn.

Thứ tư, trong quá trình hoạt động vì những lý tưởng chung như vậy dần dần sẽ xuất hiện những người có khả năng lãnh đạo sau này sẽ đi đầu trong các cuộc tranh đấu vì dân chủ.

Một khi xã hội dân sự được hình thành và phát triển sâu rộng, nó sẽ tác động mạnh mẽ đến tiến trình dân chủ hóa. Theo Gordon White, trong bài “Civil Society, Democratization and Development: Clearing the Analytical Ground,” in trong cuốn Civil Society in Democratization (2004), có mấy tác động chính:

Thứ nhất, sự lớn mạnh của xã hội dân sự có thể làm thay đổi cán cân quyền lực giữa nhà nước và xã hội với thái độ thiên vị hẳn về phía xã hội; từ đó, góp phần hình thành nên một sự đối lập cân bằng (balanced opposition) vốn được xem là điều kiện của dân chủ. Dưới những chế độ toàn trị, kỳ vọng này thấp hơn: Nó dần dần nâng cao hiệu năng của các lực lượng xã hội đã được tổ chức nhằm làm suy yếu tham vọng khống chế toàn bộ đời sống xã hội của nhà nước.

Thứ hai, khi xã hội dân sự đủ mạnh, nó có thể củng cố các tiêu chuẩn đạo đức công cộng và nâng cao tính khả kiểm (accountability) của cả các chính trị gia lẫn bộ máy công quyền.

Thứ ba, xã hội dân sự có thể đóng vai trò quan trọng trong việc làm trung gian giữa xã hội và nhà nước, giữa các công dân và hệ thống chính trị. Trong trường hợp lạc quan, nó có thể chuyển tải các yêu sách của dân chúng hoặc một bộ phận dân chúng đến giới cầm quyền, từ đó, làm thay đổi một số chính sách của họ.

Thứ tư, nó có thể đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi các luật lệ trong trò chơi chính trị theo định hướng dân chủ.

Nói một cách tóm tắt, theo tôi, để tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam, một trong những điều chúng ta nên làm nhất là cổ vũ cho các hoạt động xã hội dân sự. Xã hội dân sự càng sâu rộng, tiến trình dân chủ hóa càng nhanh chóng và vững chắc.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

.....Những người Việt Nam của miền Nam đã sống qua giai đọan này và còn sống chắc phải bịt mũi trước luận điệu tuyên truyền gỉa dối này.....

40 năm chân tướng xâm lược bị lật ngửa


Phạm Trần
Ban Tuyên giáo Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động chiến dịch tô hồng điểm phấn cho “Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2015)”, nhưng lại không giấu được cái đuôi xâm lược miền Nam Việt Nam.

Bằng chứng này ghi trong Nghị quyết 15 xác định “mục tiêu, phương pháp cách mạng miền Nam “ tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (khoá II) lần thứ 15 (mở rộng) họp tại Hà Nội từ ngày 12 đến 22-1-1959.

Đề cương tuyên truyền ca ngợi Nghị quyết đã: “Xác định rõ mục tiêu, phương pháp cách mạng miền Nam, mối quan hệ chiến lược của cách mạng hai miền, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới; phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam; định hướng và động viên nhân dân miền Nam vùng lên đấu tranh, tạo ra phong trào Đồng khởi (1959 – 1960), xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam, làm tan rã hàng loạt bộ máy của ngụy quyền ở các thôn, xã.”

Nhưng đâu là lý do khiến miền Bắc Cộng sản (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) có quyết định phải thực hiện cuộc “cách mạng miền Nam”?

Nghị quyết 15 bịa chuyện: “Do lực lượng so sánh giữa ta và địch, nhân dân ta chỉ mới giải phóng được miền Bắc. Ở miền Nam chưa được giải phóng, đế quốc Mỹ đã lấn dần và hất cẳng thực dân Pháp, tập hợp các thế lực phản động, sử dụng chính quyền Ngô Đình Diệm làm công cụ để khôi phục và duy trì ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Nhân dân miền Nam ngày càng lâm vào cảnh cùng khốn và mất hết quyền tự do. Vì vậy, nhân dân miền Nam còn phải tiếp tục làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đánh đổ ách thống trị đế quốc và phong kiến, chủ yếu là đánh đổ chế độ Mỹ – Diệm.”

Những người Việt Nam của miền Nam đã sống qua giai đọan này và còn sống chắc phải bịt mũi trước luận điệu tuyên truyền gỉa dối này. Nhân dân miền Nam từ 1954 đến thời điểm ra đời của Nghị quyết 15 tháng 01 năm 1959, dù có bị hạn chế một số quyền do tình trạng an ninh, chưa bao giờ “lâm vào cảnh cùng khốn và mất hết quyền tự do” như đồng bào miền Bắc trong thời gian này.

Càng phỉ báng lịch sử hơn khi Nghị quyết viết rằng: “Do sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam, nước ta bị tạm thời chia làm hai miền: miền Bắc đã được giải phóng và độc lập hoàn toàn, còn miền Nam vẫn là một thuộc địa (kiểu mới) của đế quốc Mỹ….
Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai chẳng những xâm chiếm miền Nam, ngăn cản sự phát triển của xã hội miền Nam, mà còn ráo riết chuẩn bị chiến tranh hòng xâm chiếm cả nước ta, phá hoại toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.”

Ai xâm chiếm ai thì phương châm đề ra trong Nghị quyết 15 “củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam” đã lột mặt nạ ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ.

Để biện minh cho hành động hiếu chiến, đẩy dân tộc hai miền Bắc-Nam vào nội chiến nồi da xáo thịt, Nghị quyết đã hô hào: “Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà.”

Nhưng gây chiến với miền Nam để làm gì và cho ai thì Nghị quyết 15 đã để lộ chân tướng tay sai khi khẳng định rằng: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á.”

Nghị quyết viết: “Vấn đề thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta trước hết là vấn đề đấu tranh giữa dân tộc ta chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai, đồng thời cũng là vấn đề đấu tranh giữa phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốc chủ nghĩa. Phe xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, càng tranh thủ giữ vững hoà bình được lâu dài thì càng có điều kiện thuận lợi để tăng cường mau chóng lực lượng của mình về mọi mặt trên toàn thế giới, càng làm suy yếu mau chóng thế lực của chủ nghĩa đế quốc. Chủ trương của Đảng ta giữ vững hoà bình ở Việt Nam, thực hiện thống nhất nước nhà bằng con đường hoà bình, chủ trương ấy gắn liền với chủ trương chung nói trên của phe xã hội chủ nghĩa.”

Nhưng miền Bắc không “thực hiện thống nhất nước nhà bằng con đường hoà bình” mà đã nhận lệnh và vũ khí, lương thực của Liên Xô-Trung Cộng để xâm lăng miền Nam Việt Nam.

Thực tế này đã phản ảnh trong câu nói lịch sử ô nhục của Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta.” ? (theo Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 422, phần chú thích)

Như vậy đã rõ ràng Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN khóa II, đứng đầu bởi Hồ Chí Minh thời bấy giờ đã ngụy tạo ra đủ điều để xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.

Chẳng hạn như họ viết trong Nghị quyết 15 rằng: “Chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ, chế độ thực dân và nửa phong kiến ở miền Nam là một chế độ phản động, tàn bạo và đen tối….Chính quyền miền Nam hiện nay là một chính quyền phản bội lợi ích dân tộc; nó đại biểu cho lợi ích của đế quốc Mỹ, của bọn phong kiến và bọn tư sản mại bản thân Mỹ phản động nhất ở miền Nam….Thành phần cốt cán trong chính quyền đó gồm những phần tử phong kiến và tư sản mại bản phản động nhất và những phần tử lưu manh, côn đồ và phản bội, quyết tâm làm tay sai cho đế quốc Mỹ, do gia đình và phe cánh họ Ngô cầm đầu.”

Tưởng bằng đó lời bịa đặt chưa đủ, Nghị quyết 15 còn đặt điều vu khống thêm: “Chính quyền đó là một chính quyền độc tài hiếu chiến. Nó là công cụ xâm lược của đế quốc Mỹ, đế quốc cầm đầu các lực lượng hiếu chiến trên thế giới hiện nay; đồng thời, nó cũng mang nặng tính chất phục thù của giai cấp địa chủ đã bị đánh đổ ở miền Bắc nước ta. Do bản chất phi nghĩa, thế cô lập và chỗ yếu căn bản của nó, nó thực hiện một chế độ độc tài, hung bạo, dùng chính sách đàn áp bằng vũ lực, và dựa vào bộ máy cảnh sát mật thám để tồn tại.”

MẶT TRẬN TAY SAI

Đáng lẽ ra những chữ “độc tài, hung bạo, dùng chính sách đàn áp bằng vũ lực, và dựa vào bộ máy cảnh sát mật thám để tồn tại” phải dành cho đảng CSVN mới đúng với lịch sử.

Nhưng có bao giờ người Cộng sản Việt Nam dám nhìn thẳng vào mặt dân để thừa nhận họ đã nhân danh người dân miền Nam để giết hại đồng bào từ sau Hiệp định chia đôi đất nước 1954 ?

Bằng chứng là họ đã ghi vào Nghị quyết 15 việc thành lập một “Mặt trận riêng cho miền Nam” do họ chỉ huy để tiến hành cuộc chiến cho ngọai bang Nga-Tầu. Vì vậy mà cái gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã được thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1960 để sau đó bị bức tử không kèn không trống vào ngày 31 tháng 01 năm 1977, hai năm sau kết thúc chiến tranh ngày 30/04/1975.

Nghị quyết 15 biện bạch: “Củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước là nhiệm vụ chung của toàn Đảng và toàn dân ta. Nhưng vì nhiệm vụ cơ bản của mỗi miền khác nhau, cho nên nhiệm vụ, tính chất, thành phần Mặt trận ở mỗi miền có chỗ khác nhau. Vì vậy, cần có Mặt trận riêng cho miền Nam.

Cách mạng Việt Nam ở miền Nam hiện nay là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cho nên Mặt trận ở miền Nam hiện nay có tính chất dân tộc dân chủ, nhằm tập hợp tất cả các lực lượng chống đế quốc và phong kiến. Thành phần của nó bao gồm bốn giai cấp trong nhân dân miền Nam (giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc) và những nhân sĩ yêu nước, lấy liên minh công nông làm cơ sở, và do Đảng ta lãnh đạo.”

Bàn tay chủ động gây ra cuộc chiến dài gần 21 năm ở miền Nam Việt Nam của đảng CSVN còn được xác nhận trong phần kết luận của Báo cáo Chính trị tại Hội nghị Trung ương 15.

Báo cáo viết: “Hội nghị Trung ương lần này quyết định đường lối đấu tranh thống nhất và đường lối cách mạng miền Nam, sẽ soi sáng phương hướng cho phong trào cách mạng miền Nam, tăng thêm tin tưởng và ý chí phấn đấu anh dũng của các đảng bộ miền Nam tiến lên làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình.

Toàn Đảng ta sẽ vô cùng phấn khởi, vì Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 14 đã đề ra nhiệm vụ ba năm cho các đảng bộ miền Bắc, và Hội nghị Trung ương mở rộng lần này quyết định về đường lối đấu tranh thống nhất và đường lối cách mạng miền Nam.”

MÁU ĐỔ CHO AI?


Cuộc nội chiến Việt Nam mới do người Cộng sản Việt Nam gây ra cho nhân dân miền Nam bắt đầu từ đây.

Nhưng cho đến nay, sau 40 năm kết thúc chiến tranh, không có thống kê nào có thể xác nhận có bao nhiêu quân và dân người Việt của hai miền Nam-Bắc đã chết.

Tài liệu của Bách khoa tòan thư (mở) viết rằng: “Chiến tranh Việt Nam đã gây ra cái chết của từ 2 đến 5 triệu người Việt (tùy từng nguồn khác nhau). Trong số các nước đồng minh của Việt Nam Cộng hòa, người Mỹ có số thương vong cao nhất với hơn 58.000 người chết và hơn 305.000 người bị thương (trong đó 153.000 bị thương nặng hoặc tàn phế). Vào khoảng từ 4.400 đến 5.000 binh sĩ Hàn Quốc bị chết; Úc có khoảng 500 chết và hơn 3.000 bị thương; New Zealand 38 chết và 187 bị thương; Thái Lan 351 chết và bị thương; còn Philippines vẫn chưa có con số thống kê cụ thể.”

“Tổn thất trực tiếp và gián tiếp trong Chiến tranh Việt Nam được chia ra như sau:

Theo tài liệu của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (của CSVN) có:
1,1 triệu quân nhân chết; trong số đó có 300.000 quân nhân mất tích (chưa tìm được xác) ; 600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa:

* 250.000-316.000 tử trận hoặc mất tích
* 1.170.000 bị thương

Bấy nhiêu con người, nhưng đã có bao nhiêu ao máu để do lường cho tội ác của chiến tranh do đảng CSVN chủ động bắt nguồn từ Nghị quyết 15 năm 1959?

Tổn thất con người Việt Nam của cuộc nội chiến “ý thức hệ” Cộng sản cuồng tín và vô nghĩa này đã có bao giờ khuấy động được con tim chai đá và những khối óc mù lòa của lãnh đạo CSVN trước lịch sử ?

Đấy là chưa kể đến tổn thất của Quân đội CSVN và thường dân trong 4 cuộc chiến sau ngày 30/04/1975: biên giới phía bắc Việt-Trung 2 lần (1979-1987); Tây Nam Việt-Kampuchea (1975 đến 1978) và Cuộc xâm chiếm Kampuchea của quân Việt Nam (từ 7/1/1979 đến 1989).

Trên 40,000 quân và dân 6 tỉnh biên giới đã thiệt mạng trong các cuộc tấn công của quân Trung Cộng vào Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.

Riêng tổn thất xung đột với quân Khmer đỏ của Pol Pot từ 1975 đến 1989 được chia ra 2 giai đọan:

Giai đọan 1, từ các cuộc đột kích tấn công qua biên giới của quân Khmer đỏ vào các vùng lãnh thổ Tây nam (Tây Ninh-Châu Đốc-An Giang-Hà Tiên-Phú Quốc) sau 30/04/1975 đến các cuộc giao tranh cấp sư đòan trên lãnh thổ Việt Nam kết thúc tháng 12/1978.

Giai đọan 2, bắt đầu từ cuộc tấn công chiếm đóng Cao Miên của Việt Nam từ tháng 1/1979 đến năm 1989. Lý do Việt Nam phải rút quân theo đòi hỏi của Bắc Kinh để được tái lập quan hệ ngọai giao Việt-Trung sau 11 năm gián đọan vì cuộc tấn công qua biên giới Việt Nam năm 1979 của 600,000 quân Trung Cộng.

Tuy nhiên cái gía máu xương người Việt mà đảng Cộng sản Việt Nam phải trả cho cuộc chiến với người láng giềng Khmer đỏ, một thời là đồng minh trong chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng hòa, qúa cao.

Tài liệu trên Bách khoa tòan thư (mở) ghi lại như sau:

- Từ 1977 tới trước tháng 12-1978: Khoảng 3.000 chết, 5.500 bị thương.

- Từ tháng 12-1978 tới tháng 1-1979: 8.000 chết hoặc bị thương.

- Toàn cuộc chiến (tới năm 1988, bao gồm cả thời kỳ chiếm đóng Campuchia) : từ 10.000 tới 15.000 quân nhân chết và
30.000 bị thương.

Tính chung ước lượng có 55.300 người chết hoặc bị thương (kể cả dân thường) từ năm 1977 tới tháng 10-1989

Tài liệu cũng ghi lại: Từ năm 1975 cho tới năm 1978, có tới 30 ngàn người Việt Nam bị Khmer Đỏ sát hại trong các cuộc tấn công dọc biên giới.

Việt Nam đã gửi 180.000 quân để hỗ trợ khoảng 20.000 quân KNUFNS ( Kampuchean National United Front for National Salvation, Cộng hòa Nhân dân Kampuchia) để đánh tan quân Khmer đỏ của Pol Pot.

Nhưng thật oái oăm, Vương quốc Kampuchia ngày nay do nhà vua Norodom Sihamoni, con của cựu hoàng Norodom Sihanouk , trị vì nhưng quyền hành nằm trong tay Thủ tướng Hun Sen, một người không giấu diếm là “bạn thân thiết của Trung Quốc” và luôn luôn ủng hộ lập trường của Bắc Kinh trong tranh chấp biển đảo với Việt Nam!

MẮT MÙ LỊCH SỬ


Với bối cảnh lịch sử chiến tranh bắt nguồn từ Nghị quyết 15 của đảng CSVN, cả dân tộc Việt Nam ở hai miền đất nước Bắc-Nam đã chìm đắm trong máu lửa gần 21 năm.

Nhưng đau thương chồng hơn núi cao của dân tộc sau 40 năm vẫn chưa lành thì Đề Cương “kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2015)” của Ban Tuyên giáo Trung Ương lại chỉ muốn “bới đống tro tàn tìm máu đổ”!

Một trong những phô trương khơi dậy hận thù dân tộc của Đề cương viết rằng: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn mới.

Giai đoạn từ cuối năm 1973 đến ngày 30/4/1975: Tạo thế và lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.”

Ai cũng biết, nhất là nguyên Tổng Bí thư đảng Lê Khả Phiêu và các Tư lệnh chiến trường Trị-Thiên của Quân đội nhân dân, có trên 5,000 thường dân vô tội đã bị lính Cộng sản giết hay hành quyết, kể cả chôn sống trong các hố tập thể từ đêm Giao thừa Tết Mậu thân (ngày 31 tháng 1 năm 1968).

Trong 28 ngày giao tranh trong thành phố, quân Cộng sản địa phương đã được lực lượng chính quy của miền Bắc yểm trợ ra sao và ai đã nhúng ta vào máu dân lành Huế thì hàng ngàn nhân chứng và thân quyến các nạn nhân đã kể hết với lịch sử. Chỉ có những kẻ không dám đối diện với sự thật đã được phơi bầy mới tìm cách che đậy.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị Đinh Thế Huynh, khi xẩy ra trận Mậu Thân mới có 15 tuổi (Ông sinh ngày 15 tháng 5 năm 1953 tại xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) nên có lẽ ông không thấu được nỗi đau của dân xứ Huế khi bản Đề Cương ca ngợi “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968” là bước ngoặt mở đầu cho chiến thắng cuối cùng ngày 30/04/1975 của đảng CSVN.

Điều thứ hai Đề cương tuyên truyền nói không thật khi viết rằng: “khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; chính trị – xã hội ổn định; độc lập chủ quyền quốc gia được giữ vững…”

Trước hết khi nói về “đại đòan kết dân tộc” thì Ban Tuyên giáo Trung ương có biết nỗ lực “hòa hợp, hòa giải dân tộc” giữa người dân hai miền Nam-Bắc sau 40 năm vẫn chỉ bằng mặt mà chưa bằng lòng?

Trách nhiệm chưa hàn gắn được vết thương chiến tranh phải đến từ hai phiá, nhưng đảng CSVN hãy sờ lên gáy xem đã đòan kết nhân dân được đến đâu hay chỉ gây chia rẽ, hận thù thêm bằng những chủ trương, chính sách kỳ thị, phân biệt “kẻ thắng người thua”?

Đảng cũng cần bình tĩnh dò xét xem những hành động bắt bớ tùy tiện, vi phạm nghiêm trọng các quyền căn bản của người dân, kể cả tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do biểu tình, lập hội và tự do tôn giáo đã được thực thi đúng đắn như quy định trong Hiến pháp chưa?

Thứ hai, xã hội ổn định làm sao khi mỗi ngày Việt Nam có ít nhất 30 người chết vì tai nạn lưu thông và tình hình tội ác xã hội càng ngày càng nhiều, trẻ hoá và tinh vi, luân thường đạo lý bị đảo lộn?

Hãy đọc: “Theo nhiều nghiên cứu và thống kê của cơ quan chức năng, trong hơn 5 năm trở lại đây, mỗi năm nước ta có khoảng 10.000 vụ án, với hơn 15.000 đối tượng phạm tội ở lứa tuổi vị thành niên. Đây thật sự là con số đáng báo động về tình hình trẻ hóa tội phạm. Số vụ vi phạm pháp luật do tội phạm vị thành niên gây ra cũng ngày càng đa dạng, phức tạp và tinh vi, cũng như bộc lộ sự manh động và liều lĩnh. Không chỉ là những vụ trộm cắp, cướp giật, hành hung mà còn rất nhiều vụ án giết người cướp của, hoặc do thù hằn mâu thuẫn cá nhân. Thậm chí còn có cả những vụ án mà những “cậu nhóc” sử dụng công nghệ cao, mạng Internet, điện thoại di động để lừa đảo, tống tiền nhiều người.” (Trích báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 30/01/2015)

Về chuyện Mại dâm ở Thanh phố Hồ Chí Minh thì Ban Tuyên giáo nên đọc báo Việt Nam Express viết ngày 15/9/2014: “Kết quả điều tra thống kê cho biết ở thành phố lớn nhất nước có khoảng 5.500 tiếp viên nữ bị nghi bán dâm tại cơ sở kinh doanh và 200 người bán dâm nơi công cộng.

Theo báo cáo tổng kết 10 năm thi hành pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003 của UBND TP HCM, trong những năm qua, tình hình tệ nạn mại dâm tại địa bàn có nhiều diễn biến phức tạp, biểu hiện dưới nhiều hình thức kinh doanh trá hình, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, gây nhiều bức xúc trong cộng đồng dân cư.
Thành phố cho biết, hoạt động mại dâm diễn ra không chỉ bằng hành vi giao cấu giữa kẻ mua và người bán tại khách sạn hoặc một số nhà hàng, vũ trường, karaoke mà phổ biến là các hành vi khiêu dâm, kích dục tại các điểm kinh doanh cà phê, tiệm hớt tóc, gội đầu, xông hơi, cạo gió, giác hơi, spa…”

Gần đây, thành phố tiếp tục xuất hiện một số đường dây mại dâm “gái gọi hạng sang” với những người xưng danh là diễn viên, người mẫu tham gia bán dâm với giá hàng nghìn USD, đồng thời hoạt động mại dâm nam, mại dâm đồng tính nam, mại dâm có yếu tố nước ngoài và xuất cảnh ra nước ngoài bán dâm ngày càng gia tăng. Cá biệt, tại một số cơ sở spa có biểu hiện hoạt động mại dâm đồng tính của giới “gay”.

Ngày 04-03-2013, mạng báo Zing.VN viết về tệ nạn này ở Hà Nội: “Tại Hà Nội, thời gian gần đây, thành phố đã rất mạnh tay xử lý các tụ điểm “nóng” về hoạt động mại dâm. Tuy nhiên, qua khảo sát ở nhiều tuyến đường, tình trạng gái đứng đường mời gọi khách làng chơi vẫn không giảm. Đoạn đường Phạm Văn Đồng qua xã Cổ Nhuế và xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm chỉ dài khoảng 1km nhưng có hàng chục tụ điểm mại dâm. Các cô gái công khai đứng xếp hàng trước cửa quán, tràn cả ra đường mời gọi, chèo kéo khách làng chơi. Cũng trên đường Phạm Văn Đồng, đoạn gần công viên Hòa Bình, cứ tối đến, gái mại dâm lại tụ tập ở bãi đất trống để chờ khách. Ở khu vực trung tâm thành phố Hà Nội, hoạt động mại dâm tại ngõ 107 Nguyễn Chí Thanh (quận Đống Đa) diễn ra rất tấp nập. Chỉ cần có khách gọi, tài xế xe ôm kiêm bảo kê sẽ kẹp 3 – 4 gái mại dâm, phóng với tốc độ kinh hoàng để đưa “hàng” đến các quán bar, karaoke, vũ trường, nhà nghỉ. Nhiều “phố vẫy” khác ở Hà Nội cũng hoạt động nhộn nhịp, công khai, gây nhức nhối dư luận những năm gần đây, như: đường Nguyễn Trãi gần chợ Phùng Khoang (huyện Từ Liêm), đường Giải Phóng gần bến xe Giáp Bát, khu vực Cố Thổ (xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai), xã Tây Mỗ (Từ Liêm)”

Về tình trạng nghiện ngập, một tài liệu phổ biến ngày 5/11/2014 viết: “Theo đánh giá của Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm tình hình sản xuất, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy ở Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, số vụ, số lượng, số loại ma túy bị cơ quan chức năng bắt giữ ngày càng tăng. Việc buôn bán ma túy ngày càng tăng kéo theo tình trạng gia tăng số lượng người sử dụng loại chất cấm này.

Đến cuối tháng 9/2014, cả nước có 204.377 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý (trên thực tế số người sử dụng ma túy còn lớn hơn rất nhiều). Kết quả thống kê cho thấy số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng gần 4 lần trong 20 năm kể từ năm 1994 đến nay (năm 1994 là 55.445 người, trung bình mỗi năm tăng khoảng 7.000 người). Những năm gần đây số người nghiện ma túy của Việt Nam luôn gia tăng, mức tăng trung bình mỗi năm khoảng 6% (Năm 2000, có khoảng 60.000 người nghiện thì năm 2014 có trên 200.000 người nghiện).

Người nghiện ma túy đã có ở 100% các tỉnh, thành phố, gần 90% quận, huyện và khoảng 70% số xã, phường, thị trấn. Người nghiện cũng đã xuất hiện ở mọi thành phần trong xã hội: học sinh, sinh viên, cán bộ công chức, viên chức, người lao động…
Trong số người nghiện ma túy: 96% là nam giới, 4% là nữ giới, 74% ở độ tuổi 18-35, có 1% dưới 18 tuổi. Người nghiện sử dụng heroin là 72% và có xu hướng giảm dần, tỷ lệ người sử dụng ma túy tổng hợp nhóm kích thích dạng Amphetamin (ATS) ngày càng gia tăng (2,5% năm 2005, 14,5 % đến tháng 9/2014). Tại một số địa phương, tỷ lệ học viên trong Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội (Trung tâm) đã từng sử dụng ma túy tổng hợp cao như: Đà Nẵng 74%, Tây Ninh 61%, Trà Vinh 49%.”

Với một xã hội đen tối như thế thì làm sao mà “ổn định” được? Đấy là chưa kể đến tình trạng suy đồi đạo đức trong giới trẻ và lãnh đạo đang ngày một lên cao trong nhiều lĩnh vực.

Quốc nạn tham nhũng, nặng nhất là tình trạng tham nhũng vặt thì đông hơn dịch cào cào châu chấu từ thành phố về nông thôn. Đảng đã thất bại. Chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói ông cũng rất khó chịu khi thấy tham nhũng vặt lộng hành.

Ông nói với cử tri Hà Nội: “Cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi , như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chịu.” (ViệtnamNet, 27/09/2013)

Cuối cùng là câu tuyên truyền “độc lập chủ quyền quốc gia được giữ vững” của Ban Tuyên giáo trong Đề cương kỷ niệm 40 năm ngày “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.

Độc lập thì có những “chủ quyền quốc gia” ở Biển Đông bây giờ đang do Việt Nam hay Trung Quốc “qủan lý giúp” ở Quần đảo Hòang Sa?

Một vùng biển lớn khác bao quanh 8 bãi đá, quan trọng nhất là Gạc Ma,của quần đảo Trường Sa bị Trung Cộng đánh chiếm ngày 14/03/1988, đã được Bắc Kinh tân tạo thành các căn cứ quân sự ở Trường Sa thì ai đang làm chủ ở đó?

Vậy ông Đinh Thế Huynh và cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có thể nói rõ hơn cho dân biết, thay vì chỉ biết tuyên truyền nhảm như viết trong Đề cương mà mang tội với lịch sử.

Nếu không thì dù có tô son điểm phấn bao nhiêu, ý nghĩa của “Kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” cũng vô nghĩa.

Phạm Trần

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Biển Đông 'sân nhà' của Bắc Kinh, việc gì sẽ xảy ra?
Sunday, March 22, 2015 6:06:00 PM

Võ Long Triều
Trong cuộc hợp báo ngày 8 tháng 3, 2015 tại Bắc Kinh, trả lời những sự chỉ trích về việc Trung Quốc xây lấp các bãi đá và lập căn cứ quân sự trên quần đảo Trường Sa, Ngoại Trưởng Vương Nghị tuyên bố, “Trung Quốc có quyền hợp pháp làm bất cứ điều gì trên lãnh thổ và sân sau của mình.”

Ông Vương Nghị còn mỉa mai, chúng tôi không giống như một số quốc gia khác đã xây dựng bất hợp pháp trong nhà của kẻ khác, chúng tôi không chấp nhận những lời chỉ trích từ các quốc gia đó. Phải chăng lời ám chỉ trên đây cố tình nhắn gởi Mỹ quốc. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã từng công khai chỉ trích, “Hoạt động cải tạo rộng lớn của Trung Quốc ở Biển Đông khiến các nước láng giềng lo ngại Bắc Kinh đang củng cố vị thế để thống trị khu vực đang tranh chấp.”

Báo chí thế giới loan tin Biển Đông là “nhà” và “sân sau” của Trung Quốc. Lập tức Giáo Sư Carl Thayer, chuyên gia về Biển Đông tại Học Viện Quốc Phòng Australia, sửng sốt nói rằng, “Lời phát biểu của Vương Nghị vừa thô bạo, vừa ngạo mạn, vừa phản lịch sử,” ông Carl Thayer cho rằng chính Trung Quốc là nước chiếm đóng nhà của người khác.

Điều đáng ngạc nhiên là nhà cầm quyền Hà Nội còn im hơi lặng tiếng trước sự khẳng định ngang ngược của Vương Nghị!

Nhìn lại quá khứ, Trung Quốc nuôi dã tâm chiếm trọn Biển Đông khi biết được dưới lòng đại dương này chứa một kho tàng vô giá. Do đó Ngày 19 tháng 1, 1974 Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 25 tháng 10, 1978 Đặng Tiểu Bình đề nghị với Thủ Tướng Nhật Bản Takeo Fukuda cùng chung khai thác vùng đảo Senkaku thuộc tranh chấp chủ quyền Trung-Nhật. Tháng 6, 1986 Đặng Tiểu Bình đề nghị với Phó Tổng Thống Philippines Salvador Laurel nên gác tranh chấp Trường Sa để tiếp cận và khai thác chung.

Từng bước Trung Quốc vừa đe dọa, dụ dỗ, đánh chiếm, đàm phán với mục đích sẽ chiếm trọn Biển Đông...Trong thời kỳ tranh chấp, ngày 14 tháng 3, 1988 Bắc Kinh chiếm các bãi đá Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma của Việt Nam. Tháng 11 năm 2007 Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa, cấm đánh bắt cá, đâm chìm ngư thuyền Việt Nam, bắt ngư phủ, cướp đoạt tài sản. Báo chí Trung Quốc còn tung tin để hù dọa sẽ đánh chiếm Việt Nam trong vòng một tuần lễ. Trong khi đó Bắc Kinh luôn mồm nhai đi nhai lại 16 chữ vàng và 4 cái tốt nhưng vẫn cắt dây cáp tàu khảo sát dầu khí Việt Nam. Năm 2014 Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough của Philippine. Chính sách dụ dỗ “cùng khai thác đôi bên đều có lợi” là bài hát Trung Quốc ca không ngừng với đề nghị đàm phán song phương.

Phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, Vương Quán Trung nói tại diễn đàn đối thoại Sangrila năm 2014, ông cho rằng chiếu theo lịch sử, các quần đảo nằm trong vùng 9 đoạn còn gọi là chữ U hay lưỡi bò, thuộc chủ quyền của Trung Quốc từ 2000 năm, trước khi có Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển. Thứ nhất, lời phát biểu phi lý, bởi vì Công Ước Liên Hiệp Quốc có giá trị cho tất cả các quốc gia hội viên kể từ khi ký ban hành. Thứ hai, bản đồ nguyên gốc do thủ tướng Đức tặng cho chủ tịch Trung Quốc, là của nhà khoa học người Pháp Jean-Baptiste Bourguigon d'Anville vẽ thời vua Càn Long năm 1735 không bao gồm đường chữ U. Về sau, đời nhà Thanh, bản đồ do Hoàng triều trực tỉnh toàn đồ in năm 1904 chỉ ghi cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Sở dĩ Trung Quốc chần chờ, khi dùng khi thẳng, khi đàm phán, khi lấn áp, là để mua thời gian với mục đích quan sát, nghiên cứu thái độ và lực lượng đối trọng của Mỹ và đồng minh, Bắc Kinh cân nhắc khả năng “xoay trục” của Hoa Kỳ. nghiên cứu những sự kiện xảy ra tại Iraq, Afganistan, hoạt động của nhà nước Hồi Giáo cực đoan, sự kiện Nga lấn áp Ukraine, sát nhập Crimea, các vấn đề đó làm cho Mỹ bị kiềm chân, trói tay. Đồng thời cho phép Trung Quốc nhận định, dù chưa phải là cường quốc hùng mạnh nhất thế giới nhưng hiện tại chắc chắn không có một quốc gia nào đủ khả năng đối chọi với Bắc Kinh. Và càng chắc chắn hơn nữa sẽ không có một nước nào chấp nhận hy sinh để bảo vệ quyền lợi của một đệ tam quốc gia khác vì lý tưởng, không vì quyền lợi của chính mình. Tình hình chính trị thế giới cho phép Trung Quốc thấy rõ đã đến lúc, đúng thời cơ để khẳng định chủ quyền trên toàn diện Biển Đông, là nhà và sân sau của chính mình.

Như vậy phải kết luận theo quan điểm của đại văn hào người Pháp De la Fontaine, “Lý lẽ của kẻ mạnh lúc nào cũng thắng.”

Việc gì sẽ xảy ra?

Từ nay các quy tắc ứng xử DOC không còn giá trị gì nữa, các cuộc đàm phán để đạt quy tắc ứng xử COC với điều kiện ràng buộc, càng trở thành vô nghĩa. Trừ khi các cuộc đàm phán và kết quả COC phải theo đúng ý kiến do Bắc Kinh quyết định.

Hội nghị lần thứ 9 cấp bộ trưởng Quốc phòng của 10 nước thành viên Hiệp Hội ASEAN đã công bố một thông cáo chung ngày 17 tháng 3, 2015, nhấn mạnh hai điều thách thức mà ASEAN quyết tâm đương đầu là tham vọng biển đảo của Bắc Kinh và Thánh Chiến Hồi Giáo đang tuyển mộ thanh niên của cá nước trong vùng. Xét về tham vọng của Trung Quốc khó mà thay đổi bằng thương lượng ngoại giao, càng không thể thay đổi bằng chiến tranh vì không nước nào sẵn sàng khai chiến với Trung Quốc kể cả Hoa Kỳ. Vậy sự quyết tâm đương đầu của ASEAN chỉ là hoa lá cành làm cho bản văn công bố không quá khô khan trống rỗng. Còn vấn đề thánh chiến thuộc phạm trù tâm linh của mỗi cá nhân không quan hệ nhiều với chính trị. Vậy bản công bố chung chỉ là hành động chiếu lệ mà thôi.

Mặc khác tạp chí The Diplomat của Nhật Bản nhấn mạnh hai điểm tự do lưu thông trên biển và trên không của bản công bố, bởi vì hàng hóa và năng lượng xuất nhập của Nhật Bản rất quan trọng. Vấn đề lưu thông thủy lộ Trung Quốc đã từng công bố sẽ không cản trở. Dĩ nhiên với hậu ý khi nào “Giấc mơ Trung Quốc” trở thành hiện thực nghĩa là trở thành cường quốc hùng mạnh nhất thế giới, chừng đó sẽ có trật tự thế giới mới do Trung Bắc Kinh áp đặt. Biết đâu chừng đó tàu bè qua lại sân sau của Trung Quốc phải nộp thuế? Còn việc nhận dạng phòng không hiện thời chỉ là hành động thử lửa, nôm na là thử phổi Hoa Kỳ và đồng minh thôi. Sau thông báo về điều kiện nhận diện, lập tức hai chiếc B52 của Mỹ bay qua mà không cần thông báo, Trung Quốc vẫn im tiếng cười thầm không bình luận.

Tác giả Gregg Easterbrook viết trên tở New York Times ngày 9 tháng 3, 2015, cho rằng hải quân Mỹ mạnh hơn tất cả hải quân các quốc gia trên thế giới cộng lại. Và các chuyên gia quân sự Mỹ không cần lo sợ về hải quân của Trung Quốc. Đáp trả bài viết của Easterbrook tờ Thời Báo Hoàn Cầu của Trung Quốc viết: Trung Quốc Không cần phải xây dựng lực lượng hải quân lớn mạnh. Chỉ cần 1 trong số 1,000 tên lửa chống hạm bắn trúng tàu sân bay của Mỹ đủ gây tổn hại nhuệ khí và trang thiết bị của hải quân Mỹ. Tờ báo khẳng định hải quân Trung Quốc có khả năng làm tê liệt sự tự do hàng hải của Mỹ trên Biển Đông. Phải chăng Thời Báo Hoàn Cầu cho rằng các bãi đá và đảo do Trung Quốc chiếm đống và xây dựng cơ sở quân sự vũng chắc, là những hàng không mẫu hạm không thể bị bắn chìm, là lực lương hùng mạnh đối đầu với hải quân Mỹ?

Riêng Nhật Bản lo ngại trước sự công khai bành trướng của Bắc Kinh trên Biển Đông, nên Tokyo âm thầm củng cố quan hệ với hai nước Philippine và Việt Nam. Nhật tuyên bố ủng hộ các nước Đông Nam Á duy trì tự do hàng hải và hàng không trong khu vực. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc lên tiếng rằng, “Nhật Bản nên hành động và phát biểu cẩn trọng về vấn đề Biển Đông.” Chuyên gia Ian Storey của viện nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore nói: Nhật sẽ bất chấp quan ngại của Bắc Kinh và sẽ đẩy mạnh hợp tác quân sự với Việt Nam và Philippines nhằm tăng cường sự hiện diện của mình trong khu vực.

Tóm lại nói riêng về Việt Nam, thái độ của Hà Nội đối với Trung Quốc, hèn nhát từ những năm tháng khởi đầu bị lấn áp. Hành động cấm đoán và đàn áp dã mang dân mình phản kháng giặc Tàu xâm lăng. Lãnh đạo cấp cao không cho phép hải quân nổ súng khi giặc tàu bắn giết 64 quân nhân và chiếm Gạc Ma năm 1988. Quân đội nhân dân và công an chỉ bảo vệ chế độ và cướp đất của nhân dân, không bảo vệ lãnh thổ quốc gia và dân chúng, đặc biệt ngư dân. Tổ quốc và nhân dân ghi nhận Đảng Cộng Sản đã dâng toàn vẹn lãnh hải quốc gia cho giặc Tàu. Lịch sử lưu truyền muôn đời Đảng Cộng Sản bán nước cho Tàu cộng.

Ngoài ra trên đất liền Hà Nội còn dâng Cao Nguyên cho Trung Quốc khai thác Bauxite bất chấp phản đối của chuyên gia và tướng lãnh về tai hại kinh tế và chiến lược. Hà Nội cho mướn rừng 50 năm ở biên giới phía Bắc. Cho mướn đất và biển ở Vũng Áng, Hà Tỉnh 70 năm. Và còn bao nhiêu công dân Trung Quốc xâm nhập hợp pháp không cần giấy tờ, chúng lập làng xã riêng biệt trên đất Việt như tại bản xứ Trung Quốc. Nhà cầm quyền Hà Nội đang âm mưu bán đúng dân tộc mình cho Trung Quốc. Tại sao nhân dân “muốn biết” nội dung thỏa hiệp Thành Đô mà nhà cầm quyền không dám công bố? Tôi đã viết bài hỏi, “Chừng nào Việt Nam trở thành khu tự trị của mẫu quốc Bắc Kinh? Hình như sắp có giải đáp trong tương lai gần.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »


Bốn Mươi Năm Trôi Qua….


Hướng Dương txđ
Tháng Tư Đen lại sắp đến làm cho chúng ta lại hồi tưởng những sự kiện khốn nạn của lịch sử cận đại của đất nước:


1. Tìm hiểu nguyên nhân Miền Nam xụp đổ.


Ai cũng biết lý do tại sao Miền Nam xụp đổ, lý do tại sao bọn côn đồ Hà Nội lại “chiến thắng vẻ vang”.

Có phải tại bọn Cộng Sản Hà Nội biết tổ chức giỏi quân đội của chúng, như Dương Thu Hương huyênh hoang với phái viên đài Á Châu Tự do hay không (xin đọc bài phỏng vấn “40 Năm: Nhìn lại về Ngôn Từ” của phóng viên Tường An)? Có phải Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa không đủ tài năng, lòng can đảm và kinh nghiệm chiến đấu nên đã “thua trận” hay không?

Theo tôi hiểu thì “Không.” Trăm lần “Không”. Ngàn lần “Không”.

Lý do giản dị là bởi vì “Đế quốc Mỹ” bỏ rơi “bọn Ngụy”: chúng hèn hạ rút quân đi nhanh chóng, chúng “Việt Nam Hóa” chiến tranh bằng miệng, chúng rút lui mà dã tâm cắt viện trợ quân sự làm cho quân đội Miền Nam không còn đạn để bắn, bom để thả, săng để bay hay để chạy tàu chiến. Nói thẳng ra thì Mỹ cũng đểu, cũng khốn nạn không thua gì Cộng Sản. Vì quyền lợi của Mỹ, chúng đã đơn phương thoả hiệp với Bắc Kinh, chấp nhận những điều kiện mà bọn Tầu Phù đòi hỏi là rút quân và bỏ rơi Miền Nam Việt Nam để cho Miền Nam Việt Nam chết một cách điêu đứng.

Bởi vì trong khi Trung Cộng và Liên Số tiếp tục gia tăng khủng khiếp viện trợ quân sự cho Miền Bắc, đổ vào Miền Bắc đủ loại đạn dược súng ống và vũ khí tân kỳ (xe tăng, máy bay, hoả tiễn, và bom đạn) thì Mỹ chơi “Ngụy” bằng cách không tân tiến hoá quân đội VNCH, không cho thêm bom đạn để tiếp tục chiến đấu bảo vệ cái “cựu” “tiền đồn của Thế giới Tự Do.” Thậm chí tên đầu xỏ ma giáo Kissinger ký đại trên cái Hiệp Định Ngừng Chiến Paris trong đó có cái khoản qui định rằng quân hai bên Bắc Nam Việt Nam phải ở đâu ở đó, nếu quân Bắc Việt đánh quân Miền Nam thì quân đội Mỹ sẽ trở lại can thiệp, máy bay Mỹ lại trở lại đánh bom quân phỉ Cộng. Hắn dư biết rằng khoản này chỉ nhằm lừa bịp phe Việt Nam Cộng Hòa để cho phe Việt Nam Cộng Hòa đặt bút ký vào cái hiệp định khốn nạn đó, để rồi ở đó mà chờ chết, trong khi phe Cộng sản tha hồ mà hả hê, vì chúng đã biết trước rằng đó chỉ là một sự hù dọa chơi. Quan thầy Trung Cộng đã cho bọn Việt Cộng biết rằng “đế quốc Mỹ” “một đi là không trở lại”, sau cái hiệp định Paris “định mệnh” đó chúng mày cứ tha hồ đánh chém, tha hồ tấn công, tha hồ giết cả dân lẫn quân để trả thù, bọn “ngụy” bị bó tay bó chân rồi, chỉ còn con đường là chém vè, rồi sẽ tới lúc chúng phải đầu hàng….

Ghi Nhận của Vương Hồng Anh Tác Giả “Những Ngày Cuối VNCH”:

...Tình hình chính trị quân sự Việt Nam Cộng Hòa 1975 rất là bi đát. Năm 1967 quân phí tại Việt Nam là 20 tỷ Mỹ Kim, năm 1968 lên 26 tỷ, năm 1969 lên 29 tỷ, hai năm 1970, 71 rút xuống còn 12 tỷ mỗi năm. Khi Mỹ đã rút gần hết chỉ còn 24,200 người trong năm 1972 thì Việt Nam phải một mình gánh vác chiến trường với tiền viện trợ ngày một bị cắt giảm. Năm 1973 viện trợ quân sự là 2,1 tỷ, năm 1974 chỉ còn 1,4 tỷ, năm 1975 tụt xuống còn 700 triệu trong đó 300 triệu để trả lương cho nhân viên Phòng Tùy Viên Quân Sự (DAO) của Mỹ.


Theo bài “Trận Ban Mê Thuột Tháng 3-75” của tác giả Trọng Đạt:

Tình hình chính trị quân sự VNCH năm 1975 rất là bi đát. Năm 1967 quân phí tại Việt Nam là 20 tỷ Mỹ Kim, năm 1968 lên 26 tỷ, năm 1969 lên 29 tỷ, hai năm 1970, 1971 rút xuống còn 12 tỷ mỗi năm vì Mỹ đang rút quân. Khi nửa triệu quân đồng minh đã rút đi, VNCH phải một mình gánh vác tất cả chiến trường với tiền viện trợ bị cắt giảm từ cuối 1973 mỗi năm 50%.

Việc cắt giảm đưa tới tình trạng thê thảm, theo tiết lộ của cựu Đại tướng Cao Văn Viên, trong cuốn Những Ngày Cuối Của VNCH (NNCCVNCH) trang 86, 87. Hậu quả là năm 1974 không quân đã phải cho hơn 200 phi cơ ngưng bay vì thiếu nhiên liệu, giảm số giờ bay yểm trợ, huấn luyện 50%, thám thính giảm 58%, phi vụ trực thăng giảm 70%. Hải quân cũng cắt giảm hoạt động 50%, 600 giang thuyền các loại nằm ụ.

Đạn dược chỉ còn đủ đánh tới tháng 4 /1975, năm 1972 ta xử dụng trên 69 ngàn tấn đạn một tháng, từ tháng 7/1974 đến tháng 3/1975 ta chỉ còn xử dụng khoảng 19 ngàn tấn một tháng hoả lực giảm 70%. Tháng 2/1975 chỉ còn đủ đạn tất cả các loại súng cho 30 ngày, tháng 4/1975 chỉ còn đủ đạn đánh trong khoảng hai tuần (Sách đã dẫn trang 92)

Theo sử gia Bill Laurie, cấp số đạn súng lớn như đại bác 105 ly, 155 ly, 175 ly.. năm 1975 đã bị cắt giảm trên 90% . Theo Tướng Cao Văn Viên vì thiếu cơ phận thay thế, xe tăng, giang thuyền, máy bay …nằm ụ chờ rỉ sét. Thiếu thuốc men, số tử vong tăng cao, tinh thần xuống thấp.

Suốt 18 năm (1955-1973) cái “quân đội tự hào bách chiến bách thắng” (lời nói khoe khoang của ls Lê Công Định trong bài “Trận Đánh Ban Mê Thuật 40 Năm trước”) không làm được nên cơm cháo gì, đánh đâu thua đấy, nướng hai ba triệu thanh niên Miền Bắc vào lò lửa Chiến Tranh “Dải Phóng”, tại sao bỗng nhiên chúng lại “đaị thắng” cái trận mà Lê Công Định huyênh hoang là “trận đánh đẹp và hiểm hóc bậc nhất của lịch sử thế giới hiện đại”. Thử hỏi nếu Quân đội Miền Nam vẫn tiếp tục được Mỹ hỗ trợ trong cuộc chiến, viện trợ về mặt quân sự tương xứng với viện trợ mà bọn Bắc Việt được từ Liên Xô và Trung Cộng, nếu quân đội Miền Nam vẫn còn đầy đủ khả năng vũ khí đạn được thì dù cho Việt Cộng có đánh chiếm được BMT thì chúng có giữ được không? Tại sao chỉ từ sau khi Mỹ cắt viện trợ quân sự cho Miền Nam thì bọn Bắc quân mới hung hăng con bọ xít? Có phải tại quan thầy Tầu phù và Liên Sô của chúng một mặt vội vã đổ súng ống đạn dược, xe tăng, dầu hỏa, máy bay, hỏa tiễn vào cho chúng lên tinh thần, mặt khác xúi chúng “cứ đánh đi” vì địch nay đã bị bó tay? Chẳng khác gì hình ảnh một tên lưu manh côn đồ đánh nhau với một thư sinh hai tay đã bị chói chặt!

Chính bọn bộ đội ngơ ngác đi vào Saigòn cũng ngạc nhiên không hiểu tại sao chúng lại có thể đặt chân lên được lãnh thổ “địch”, chúng đâu ngờ được chúng đã “chiến thắng”, chẳng qua chỉ vì Dương Văn Minh đã bỗng nhiên ra lệnh cho quân lính buông xúng, “ai đâu ở đó” trong khi lòng người chiến sĩ anh hùng VNCH vẫn còn muốn chiến đấu đến cùng. Cho đến bây giờ vẫn chưa ai hiểu được chuyện này, vì vào cái thời điểm đó người ta đã nói tới chuyện di chuyển tất cả binh đội về Vùng 4 để cố thủ, chờ thời phản công. Chắc chắn nếu Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn cao Kỳ và các tướng lãnh, các sĩ quan cao cấp hàng đại tá không hèn hạ trốn đi thì tính thế đã có thể đổi khác. Nếu toàn thể mọi người đồng lòng, đồng tâm kiên quyết chiến đấu đến cùng, dù có phải hy sinh, thì lịch sử đã có thể không bi đát như thế. Đàng này các người lãnh đạo, các tướng lãnh đã đào ngũ thì thử hỏi quân lính còn lòng đâu mà chiến đấu?

Chưa kể đến những người dân ở Miền Bắc, những kẻ đã trông mong một ngày nào đó quân Miền Nam sẽ Bắc tiến để giải phóng họ khỏi vòng nô lệ, khỏi cuộc sống cơ cực cả về vật chất và tinh thần, cho đến ngày 30-4-75 họ vẫn ngơ ngác, thẫn thờ, không hiểu tại sao Miền Nam lại xụp đổ chứ không phải là Miền Bắc, không hiểu tại sao bọn Bắc Cộng lại dành được “Cuộc Đại Thắng Mùa Xuân.” Chính họ, khi gặp lại bà con ở Miền Nam, đã hỏi tại sao lại có cái chuyện ngược đời như thế? Và họ suýt soa, “nếu Mỹ chỉ đánh bom thêm vài ngày nữa thôi thì có thể đỡ khổ cho họ không?” Khi được hỏi tại sao thì họ nói cho biết rằng “Bắc Việt đã sẳn sàng đầu hàng.” Lý do đơn giản là vì họ làm sao biết được rằng đế quốc Mỹ đã đi đêm với Bắc Kinh và đã tán tận lương tâm quyết định bỏ rơi Miền Nam. Trong khi đó thì dân Miền Nam đã nhìn thấy mối nguy ngay từ ngày tên Kissinger – hay tay tổng thống Mỹ nào đó tôi không còn nhớ tên, hình như là Nixon? - mở miệng chửi những nhà lãnh đạo Miền Nam là “sons of the bitch.”

Giờ đây định mệnh của Miền Nam đã an bài từ lâu. Nhưng khi nghe những tên “Cộng Sản lưu vong” hay “Cộng Sản bất đồng chính kiến với Cộng Sản” mở miệng bầy tỏ cảm tưởng về sự xụp đổ của Miền Nam, chúng ta vẫn còn thấy “tức anh ách.” Chẳng hạn như lời của Dương Thu Hương khi được hỏi về “Quốc Hận” thì lại móc méo: “Về phiá những người miền Nam mà gọi là «Quốc Hận» thì họ cũng phải nhìn lại. Tại sao? Tại sao lại là «Quốc hận?» Trước khi hận những người khác họ phải hận chính họ. Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ cho cả 2 nơi: Miền Nam Việt Nam và Miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại? Tại sao cùng một cơ hội lịch sử như thế, người Nam Triều Tiên họ đã chớp lấy cơ hội để biến đất nước của họ thành một xứ sở văn minh phồn thịnh, còn miền Nam thì không? Cái đó phải xét lại.” (xem bài phỏng vấn của Tường An ghi nhận trên đây)

Để trả lời cái “théch méc” tại sao này thì cần phải viết nguyên một bài dài nói về lịch sử cận đại của hai nước, nêu bao nhiêu là lý do để so sánh tình thế của hai nước, những yếu tố chiến lược về mặt chính trị và đia dư, những mưu đồ của phe Cộng Sản, đặc biệt là của Liên sô và nhất là Trung Quốc, v…v…Tạm thời tôi chỉ nói tới một nguyên do: Đó là vì Việt Nam có Hồ chí Minh, một tên gian ác mưu mô quỉ quyệt hơn tất cả những tên mưu mô quỉ quyệt khác trên thế giới - kể cả Machiavelli, Hitler, Mussolini, Stalin, Lenin, Mao Trạch Đông… Chính vì tham vọng cướp chính quyền của Hồ Chí Minh và bè lũ tay sai mà nước Ta mới khốn khổ điêu linh. Sau khi nuốt được một nửa nước, đầy đọa một nửa số người dân ở Miền Bắc, Hồ Chí Minh còn muốn nuốt luôn cả Miền Nam, đầy đọa luôn cả dân tộc Việt Nam. Hồ chí Minh chủ trương xâm lược Miền Nam từ trước Hiệp Định Genève nên cài sẵn người ở Miền Nam, chỉ chờ cơ hội ra tay.

Dưới thời Ngô Đình Diệm, Hồ Chí Minh không ngo ngoe gì được vì chính quyền Ngô Đình Diệm mạnh, cứ tên Cộng Sản nào lòi mặt ra là bị chém đầu hay bị đầy ra Côn Đảo. Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng suốt về mặt chính trị nên ông biết rằng nếu để quân đội Mỹ vào Việt nam thì Hồ Chí Minh có cớ để kêu gọi, động viên lòng yêu nước của dân chúng khích động họ tham gia một cuộc chiến tranh chống ngoại bang, chống “Đế Quốc Mỹ” - như trước đó có cuộc chiến chống thực dân Pháp vậy. Khốn nỗi Mỹ giết ông Diệm rồi ồ ạt đổ quân vào Miền Nam gây tai họa cho Miền Nam từ đó.

Nếu như Mỹ chỉ viện trợ quân sự và cố vấn cuộc chiến – như Trung Cộng và Liên Sô đã làm ở Miền Bắc - cứ để quân dân Miền nam tự lo công cuộc bảo vệ lãnh thổ thì tất yếu đã khác, đã không có cái ngày 30-4-75 và không có cái “ngôn từ” “Quốc Hận” để cho Dương Thu Hương lộng bàn, cho ý kiến vớ va vớ vẩn...

2. Tìm Hiểu Hậu Quả Hiện Tại

A. Về phương diện kinh tế, 40 năm sau khi bọn Cộng Sản cướp được Miền Nam, nền kinh tế cả nước vẫn chỉ là “phồn vinh giả tạo”- danh từ mà bọn chúng ngày xưa dùng để nói về Miền Nam Tự Do. Nhìn bề ngoài thì coi bộ đồ xộ, nhà cửa cao ốc, thương xá, khách sạn, casinos, đường xá cầu cống mới xây, coi bộ xôm trò nhưng chẳng qua đó là công trình của những quốc gia đổ tiền vào nước ta để làm ăn buôn bán kiếm lời – tôi gọi là bọn tư bản lỏi như Đài Loan, Đại Hàn, Tân Gia Ba, Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan… - Chẳng qua bọn tư bản này giờ đây có thể đổ tiền vào Việt Nam để hút máu người dân lao động Việt nam là vì bọn Cộng Sản Hà Nội là một lũ ăn hại đái nát, trong 40 năm qua chúng chẳng làm được một cái gì nên hồn, chỉ biết ăn của đút, ăn chơi xả láng, bịp bợm, lừa gạt nhân dân và làm đầy tớ cho quan thầy Trung Cộng của chúng. Thử hỏi những nước tư bản lỏi đó vào những năm đầu của thập niên 70 có hơn được Miền Nam Việt Nam hay không? Nếu bọn Hà Nội không xâm lăng được Việt Nam Công Hòa - tức là nếu Đế Quốc Mỹ không cúp Viện trợ quân sự cái rụp – thì Việt Nam Cộng Hòa ngày nay có thua gì Nam Hàn hay không?

Sau 40 năm tức là gần một nửa thế kỷ, cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã làm được cái gì nên trò hay chưa? Đã có tiềm năng kinh tế vững mạnh hay chưa? Kỹ nghệ nặng có những gì? Đã làm ra được xe tăng tàu bò, phi cơ, tầu chiến lớn, đã chế được bom đạn súng ống hay chưa? Đã sản xuất được xe hơi, bình bịch, máy bay, trực thăng, du thuyền, đã tự làm được một con đường, một chiếc cầu, những máy móc dùng trong kỹ nghệ nhẹ hay chưa? Hay vẫn phải nhập cảng hết mọi thứ từ nước ngoài? Thậm chí đã tự chế ra được một chiếc tủ lạnh, một chiếc máy giặt, một chiếc computer, một chiếc máy cầy, một chiếc xe gắn máy chưa? hay chỉ biết lắp ráp những bộ phận mang từ nước ngoài vào? Hàng xuất cảng của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bao gồm những gì? Toàn là sản phẩm nông nghiệp và sản phảm gia cộng như quần áo vải vóc, giầy dép, máy vi tính…và dầu thô (thậm chí không lọc được đủ dầu xài - có một nhà máy Dung Quất (?) nhưng không biết có làm được trò chống gì hay không, một nhà máy thứ là tên Nghi Sơn bắt đầu xây năm 2013, không biết đã xong chưa? - nên vẫn phải nhập cảng bạc tỷ Mỹ Kim xăng dầu. Nghe nói tiền thu vào từ việc bán đầu thô không đủ để nuôi cái guồng máy công an nhân dân khổng lồ hạng nhất thế giới, không biết đúng sai thế nào?

Sau 40 năm thống nhất đất nước, tự nhận là đỉnh cao trí tuệ của loài người, mà CHXHCNVN vẫn phải ngửa tay đi xin tiền (đi ăn mày) viện trợ để cho mới đây Thủ tướng Úc chửi cho vào mặt tên thủ tướng Dũng, nói rằng xin tiền là để cố gắng một ngày nào đó tự túc tự cường chứ không phãi để cứ đi ăn máy truyền kiếp! Nghe thế mà tên Dũng nhe răng ra cười, thật không biết nhục là gì!

Theo thống kế tìm được trên Internet thì CHXHCN Việt Nam nhận được từ 1988 tới hết năm 2004 46 tỷ Mỹ kim tiền Đầu Tư Trực Tiếp từ Nước Ngoài (FDI), Riêng cho năm 2007 FDI là 21.3 tỷ Mỹ kim và chỉ nửa năm 2008 FDI cũng đã là 31.6 tỷ Mỹ Kim! Những số tiền FDI này dùng những làm gì, bố ai biết, nhưng chắc chắn một phần không nhỏ chui vào túi các tên Đại Hạm tai to mắt lớn trong “Đảng ta” - Chứ nêu không sao chúng lắm tiền đến thế - chúng có tài sản từ trăm triệu đến bạc tỷ!

Số tiền nợ nước ngoài của CHXHCN Việt Nam tính cho tới năm 2004 là trên 16 tỷ Mỹ Kim – bi giờ đã gấp 2 chưa không biết và biết trả tới đời nào đây?

Tiền trợ giúp (cho không) có tên là tiền Trợ Giúp Phát triền Chính Thứ (ODA: Official Development Assistance) từ 1999 cho tới năm 2004 là 26 tỷ Mỹ Kim, và từ 2006 tới 2010 ODA theo dự trù là từ 14 cho tới 15 tỷ Mỹ Kim (chu choa, tha hồ mà chấm mút!)

Thôi nói sơ sơ thế thôi chứ nói hết phải vài chục hay vài trăm trang!

B. Về phương diện Xã Hội, 40 năm sau ngày “Đại Chiến Thắng Mùa Xuân” (eo ơi ghê quá!), xã hội ta ngày càng suy đồi, số người bất lương ngày càng nhiều (xem bài phiếm “Con Đường Xưa Em Đi - Phạm Hoài Vũ”) sự xa đọa cùa xã hội lên tới mức cùng cực, hút sách, ăn chơi đàng điếm, chỗ nào cũng làm tiền, nếu cần cả bằng thân thể người phụ nữ (để hở hang, thậm chí lõa lồ), tham nhũng thối nát lan tràn từ chóp bu trở xuống, gian tham lộng hành công khai không sợ sệt, xã hội vô pháp luật, giết người như ngóe, trộm cắp cướp bóc đầy rẫy, làm ăn lường gạt gian lận miễn sao kiếm được càng nhiều tiền càng hay, dùng đủ mưu mô quỷ quyệt để bóc lột lường gạt mọi người, lòng người gian dối, không còn biết thành thật là gì, vô học thức, chửi bậy chửi xéo không ngượng miệng, bán hàng thì vô tâm sẵn sàng đầu độc người tiêu thụ cho chết cũng tỉnh bơ miễn sao tiền vào được trong túi…..

Về phương diện Văn Hóa, con người ngày càng trở nên vô văn hóa, mặt cứ trơ trơ ra không còn biết tự hổ thẹn, không còn lương tâm, sĩ diện, lý trí, không còn biết văn minh hay lẽ phải, không còn tinh thần dân tộc. Văn Hóa lai căng, du nhập tả pín lù từ khắp thế giới, không còn gì là thuần túy Việt Nam, từ chiếc áo dài cải biến thành đủ mọi thứ áo, thành cái váy Âu Tây, thành cái xường xám của ba tầu cái, cho đến những món ăn thức uống, bài hát phim xi nê thì bắt chước ba tầu hay đại hàn, nhật bản. Văn chương thì không ra văn chương, viết thì dùng những tiếng mọi rợ - mà không biết là mọi rợ - nói thì nói rặt một thứ giọng the thé mà dám cả gan nói là giọng Hà Nội. Ngu muội dốt nát mà không biết là ngu dốt, mặt cứ câng câng ra vẻ ta đây! Tất cả những thứ này là tàn tích của cái văn hóa rừng rú cùa giống “cán ngố” vô học mở miệng ra là chỉ biết Bác và Đảng. 40 năm trôi qua mà nhìn mặt là biết ngay cán ngố, mở miệng ra là biết ngay giống khỉ trong rừng mới chui ra, mặc dù giờ có đô la hàng xấp, ăn bận theo thói văn mình, ăn xài hàng “xỉn”, đồ ngoại Pháp Nhật Mỹ…. hành động cử chỉ vẫn vô văn hoá, ăn nói vô văn hóa, thậm chí tiếng cười cũng vô văn hóa. Chẳng thế mà đi ra xứ ngoài không dám ngửng mặt lên, ai hỏi không dám nhận là người Việt Nam. Bước chân ra tới xứ người vẫn tưởng mình còn ở Việt Nam, vẫn giữ những thói xấu, vẫn ăn cắp, vẫn không biết mắc cở, vẫn chen lấn, giant ham để cho người ngoại quốc phải canh chừng, phỉ nhổ chửi cho vào mặt. Đi tới xứ nào cũng khoái buôn lậu để dễ kiếm tiền lời, khoái trồng cần xa ma túy để kiếm tiền cho nhanh, khoái lập bang lập đẳng để dễ lộng hành…


C. Về phương diện Giáo Dục: Nhà nước CHXHCN Việt Nam không coi trọng giáo dục lý do chính là vì những người lãnh đạo cái “đảng và nhà nước” CS đó đều thất học, không có ai là có giáo dục. Ấy thế mà những “giống khỉ từ trong rừng ra” giờ đây “trưởng giả học làm sang” đứa nào cũng ra vẻ ta đây là ông này bà nọ nên đứa nào cũng trưng bằng TS, nhưng đó chỉ là cái thứ bằng giả, cái miếng giấy để tự lòe chính mình và lòe thiên hạ - khốn nỗi thiên hạ đâu có đứa nào ngu, thiên hạ ở cái CHXHCNVN này đếu lưu manh như nhau nên biết tẩy của nhau, có đứa nào lại đi tin “thủ trưởng” vô học mà có bằng thật được? Mời đọc: Uả! Ông Chưa Tiến Sĩ Hả? Sao Không Làm Một Cái? - BS Đỗ Hồng Ngọc

Với tiền các nước ngoài cho thì CHXHCN Việt Nam cũng xây cất nhiều trường mới trông vẻ ra trò lắm, nói theo từ Việt Cộng thì “ra vẻ hoành tráng lắm”. Nhưng vấn đề là các thầy cô các trường đó có ra trò không, chương trỉnh giáo dục có ra trò không, sách vở có ra trò không? Khi mà mọi thứ trong cái ngôi trường với bề ngoài đẹp đẽ lại không hay không đẹp không tốt thì học sinh đương nhiên cũng đâu có vững tâm, đâu có hứng thú để mà học tập cho đến nơi đến chốn? Khi mà Bác và Đảng vẫn còn muốn tạo ra những con người “hồng hơn chuyên” thì làm sao đất nước tiến lên cho được? Chẳng trách gì giới trẻ chỉ muốn học cho lẹ, cố lấy cái bằng, cho dù có phải gian lận khi đi thi hay mua nó khi cha mẹ có tiền, để rồi lăn xả vào đời với cái ý muốn, sự thúc dục trong đầu là kiếm tiền, kiến tiền càng nhiều, càng mau càng tốt, để hưởng đời. Làm sao mà có được những công dân tốt, có lòng yêu nước, yêu dân tộc được khi mà giáo dục không có nhằm mục đích dậy dỗ con người trở thành công dân tốt? Trong cái xã hội bất lương, trong một nền giáo dục không cần biết tới, không giảng dạy luân lý đạo đức - trừ “đạo đức Bác Hồ, tên dâm dục khoái hôn lưỡi con nít” -, thì làm sao có được những con người tốt, lương thiện?

Đáng buồn hơn nữa là những người làm công việc giáo dục (dạy dỗ con em, cai quản trường học, viết sách dạy con nít… ) trong cái CHXHCN Việt nam lại tỏ ra vô giáo dục. Mời xem cho biết;

· Sách Nhi Đồng CHXHVN nhảm nhí:

· Cô giáo rượt đánh và dọa chém nữ sinh trong lớp

· Giáo dục Việt Nam xếp hạng sau cả Campuchia

· Hiệu trưởng bị bắt vì chứa gái mại dâm


D. Về phương diện Chính trị: Ngày xưa, tôi đã ngây thơ tưởng rằng bọn Cộng Sản chúng nó muốn làm cách mạng thực sự nên mặc dù không ưa cái lý thuyết Mác xít vì thấy nó vô lý trăm điều, chúng nó nói tới cái thế giới đại đồng nơi đó tất cả của cải vật chất là của chung, ai cũng như ai cũng được hưởng đồng đều, ai cũng sung sướng, cũng no bụng, cũng có đầy đủ trong cuộc sống, không còn giai cấp, không còn bóc lột, chỉ còn là những con người sinh sống hòa đồng với nhau, thương yêu nhau… Mặc dù nghĩ thấy những điều thuyết Mác xít kể ra đó chỉ là hoang tưởng (chimérique), chỉ là những lời bịp bợm để lừa những con người “cùng khổ với nhau” (paria) tức là giai cấp vô sản công nông đã bị thực dân (Pháp) bóc lột lao động và đầy đọa, nhưng vì còn trẻ, không ưa bọn thực dân – bây giờ già đầu cũng vẫn không ưa bọn thực dân đế quốc -, nên tôi cũng hơi cả tin. Tôi cứ nghĩ rằng bọn Cộng Sản, mặc dù chúng nó tàn bạo ác độc, giết người như ngóe, nhưng chúng nó yêu nước yêu dân, chúng muốn “đấu tranh chống ngoại xâm”, muốn hành xử theo cái châm ngôn của bọn chúng “không gì quí hơn độc lập tự do”, muốn đem hòa bình cơm no áo mặc cho toàn dân, v…v…

Đến khi chúng cướp được Miền Nam, coi tất cả người dân Miền Nam là “ngụy”, là kẻ thù của chúng, đưa hàng ba bốn trăm ngàn người đi vào nhà tù: chúng bịp nói rằng đi “cải tạo” 10 ngày rồi cho về với gia đình để rồi tất cả đề phải ở tù bao nhiêu năm dài, có người tới 13, 14 năm trời dòng dã, tựa như những nhà tù Gulag thời trước của Liên xô. Những người không bị đi tù thì chúng cướp của cải vàng bạc châu báu, nhà cửa… - thậm chí chúng cướp cả những bà vợ của những người bị đi tù - rồi đuổi đi ra khỏi thành phố - đi “kinh tế mới” … Thời đó nhìn ngoại hình của bọn chúng, quả thật chúng là một lũ đười ươi mới ở rừng chui ra, thấy chúng mọi rợ vô học, ăn nói như một lũ vẹt, ngu dốt mà không biết là ngu dốt… Từ đó tôi mới nhận thứ được rằng chúng chỉ là một lũ đi ăn cướp, chẳng cách mạng cách moi gì hết. Mục đích chính của bọn Cộng Sản là cướp chính quyền để hưởng thụ cá nhân, để vinh thân phì gia. Cái xã hội không giai cấp mà chúng nó nói luôn miệng hóa ra chỉ là một xã hội lưỡng giai cấp, một giai cấp gồm bọn cầm quyền và một giai cấp gồm toàn thể những người dân bị trị. Hóa ra chúng đã trở thành một bọn thực dân mới, dùng sức mạnh để cai trị toàn dân, dùng bạo lực để nô lệ hóa con người và kiểm soát cả nước. Chúng dùng tuyên truyền để ngu muội hóa con người… hầu dễ cai trị, chúng dùng mọi thủ đọan để nắm giữ quyền bính, sẵn sàng bắt cầm tù bất cứ ai đối kháng với chúng.

40 năm qua trôi qua, bọn Cộng sản ngày càng lộng hành, ngày càng kiêu căng, ngày càng ngoan cố. Chúng coi thường sức mạnh của toàn dân, tha hồ cưỡi đầu cưỡi cố người dân, chúng cứ quan liêu, cứ ăn cắp, cứ ăn cướp, cứ thối nát, cứ khoe của, cứ huyênh hoang tự phụ ra vẻ ta đây. Nhưng lịch sử phải xoay vần, thời thế phải biến chuyển, không gì tồn tại mãi mãi, sớm muộn gì thì chúng cũng phải chết, chết thảm thương, chết cả lò nhà chúng nó, chết như thể bị chu di tam tộc… Bằng cách này hay cách kia, chúng sẽ phải đền tội, chúng sẽ bị luật pháp trừng trị về những tội tầy trời mà chúng đã gây ra. Chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

Kết Luận:

Bốn mươi năm qua dân tôi đã ấp ủ trong lòng một niềm hy vọng, hy vọng được thấy một ngày vui trở lại trên quê hương, ngày thấy lá cờ vàng thân thương phất phới trên nền trời đất Việt từ Bắc chí Nam, nghe lại bài quốc ca yêu mến trổi lên khắp nơi, thấy trăm ngàn tram vạn, triệu triệu nụ cười tươi, hớn hở nở trên khuôn mặt đồng bào tôi.

Bốn mươi năm qua dân tôi đã sống với sự cay đắng, uất hận, căm thù, buồn khổ.

· Cay đắng vì Miền Nam chúng tôi đã oan ức bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn bởi một “đồng minh” phe “Thế Giới Tự Do”

· Uất hận vì thấy kẻ tự nhận là Đồng Minh phản bội lại lời hứa, để rồi thấy bọn CS ngu dốt huyênh hoang tuyên bố chiến thắng trong khi Miền Nam không có được cái khả năng đánh những trận quyết liệt và đành phải chấp nhận số phận khốn nạn, uất hận vì thấy bao nhiêu tên phản bội, bao nhiêu tên hèn trong hàng ngũ những chiến sĩ VNCH, những chiến sĩ oai hùng đã từng vinh quang bảo vệ quê hương, bảo vệ dân tộc và nền tự do của Miền Nam Tự Do trong gần 20 năm trời

· Căm thù bọn Cộng Sản gian manh đã lừa dối dân ta, chúng độc ác giết hại cả mấy triệu người dân, một bọn ăn hại đái nát, chỉ biết vinh thân phì gia, không đếm xỉa gì đến quyền lợi của đất nước… Chúng đã bán đất bán biển cho kẻ thù của dân tộc ta, chúng phản bội đất nước, phản bội đồng bào ta, chúng đã gây những tội tầy trời, chúng sẽ bị lịch sử phán xét.

· Buồn khổ vì chỉ thấy thất vọng và thất vọng, vì thấy tương lai của quê hương và đồng bào yêu dấu mịt mờ lại càng mịt mờ hơn. Bọn Việt Cộng giờ đây đã bám rễ sâu chắc, chúng ngày càng củng cố quyền lực bằng mưu lược, bằng tuyên truyền, bằng bạo lực. Càng ngày chúng càng nhiều tiền nhiều của, càng ngày chúng càng ăn cắp và giầu có hơn. Giờ chúng có mãnh lực của đồng tiền nên càng ngày càng nhiều ngưới theo chân chúng, chống lại những người có lòng yêu nước chân chính. Thật buồn khi thấy vận đen vẫn còn, đất nước thân yêu vẫn chìm trong bóng tối, người dân Việt Nam vẫn khốn khổ, còn khốn khổ hơn cả khi xưa khi mức chênh lệch giầu nghèo không quá lớn như ngày nay.

Tuy nhiên dân tôi vẫn cố giữ niềm tin, vẫn cố nuôi niềm hy vọng. Một ngày vinh quang sẽ phải tới, cuộc giải phóng khỏi vòng áp bức sẽ phải xẩy ra, Tự Do Dân Chủ, quyền sống hạnh phúc của con người không thể không đến. Nhất định là như thế….

Hướng Dương txđ

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Qua trùm công an Trần Đại Quang:
CSVN chuyển động mạnh, vừa lòng Mỹ!


TRÙM CÔNG AN VNCS THĂM MỸ VÀ LHQ
Trùm công an VNCS đã kết thúc chuyến công du 6 ngày, 4 ngày ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn và 2 ngày ở New York. Nguồn tin Mỹ ở thủ đô HTĐ cho bản báo biết: Trần Đại Quang thành công! Đại thành công. Chưa một cấp bộ trưởng nào được đón tiếp nồng hậu, đậm đà như tay trùm công an này. Trần Đại Quang là một Đại tướng công an chuyên nghiệp, đi từ cấp cơ sở, Thiếu úy leo lên đến 4 sao, Thân cận của Thủ Dũng, đàn em ruột của Lê Hồng Anh, Đại tướng Công an, hiện là Ủy viên thường trực Ban Bí thư, Bộ Chính Trị Cộng Đảng VN. Năm nay, Quang 60 tuổi, người tỉnh Ninh Bình. Tôi xem tivi, Quang vào loại đẹp trai, có duyên, tướng diện, cốt cách rất tốt, vượt xa các lãnh tụ CS từ thời Lê Duẫn đến nay. Quang nói tiếng Anh lưu loát, vượt xa “trí thức bần cố nông” Nguyễn Sinh Hùng.

Image
Trùm CA Trần Đại Quang và Giám đốc FBI James Comey

Image
Với Bộ trưởng bộ Nội an Hoa Kỳ, ông Jeh Charles Johnson

Vẫn theo tin HTĐ, Trần Đại Quang đã được “cơ cấu” thay Trương Tấn Sang làm chủ tịch nước vào Đại hội Đảng thứ XII-2016. Chắc không phải. Chuyến công du HTĐ và New York của Quang đã được ủy nhiệm rộng quyền của một thủ tướng. Theo một nguồn tin khác từ Hà Nội cho biết, Nguyễn Tấn Dũng sẽ là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước trong trường hợp Dũng vẫn được lưu dụng ở Đại hội thứ XII. Và chắc là được.

Hiện nay, Thủ Dũng là nhân vật mạnh nhất VNCS. Trần Đại Quang có triển vọng làm Thủ tướng. Cứ theo tướng diện và phong cách, Quang còn vượt lên nữa. Vừa đến thủ đô Mỹ, sau bữa ăn trưa, Quang đến bộ ngoại giao hội đàm với Phó Bộ trưởng, vẫn quanh quẩn vấn đề nhân quyền VN. Mỹ đã gõ đúng cửa!
Image
Hội đàm với Bộ Nội an Hoa Kỳ


Image
Hội kiến với TNS John McCain
Đàn áp nhân quyền là nghề của công an mà Quang đã có kinh nghiệm gần 40 năm. Hôm sau, Quang thăm viếng và hội đàm với hàng loạt viên chức thẩm quyền cao cấp bậc nhất của Mỹ: Giám đốc FBI, bà Cố vấn HĐANQG, Bộ trưởng Bộ Nội An Hoa Kỳ và TNS John McCain, Chủ tịch UB Quốc phòng Thượng viện cùng 2 nhà lập pháp khác. Trong 4 ngày ở HTĐ, báo chí mô tả ông Trùm hội họp liên miên “tối tăm mặt mũi” nhưng rất phớn phở như đi thăm một nước đồng minh “tối huệ quốc”! Không gặp trục trặc nào. Đâu đâu cũng bật đèn xanh “về phía Mỹ”! Hai ngày ở New York, dù là Bộ trưởng, Quang đã được quyền Chủ tịch ĐHĐ LHQ tiếp đón. Sau đó đi thăm phụ tá Tổng thư ký LHQ, vẫn là những vấn đề như ở HTĐ. VNCS đã chuyển hướng tuy từ từ “nhưng bạo dạn và mạnh”. Tin được bao nhiêu? Xin “wait and see”.

HÀ NHÂN VĂN

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Việt Nam là quốc gia 'thiếu minh bạch'


HÀ NỘI (NV) - Kết quả một cuộc khảo sát do tổ chức World Justice Project (WJP) thực hiện cho thấy,
Việt Nam đứng hạng 86/102 quốc gia về mức độ minh bạch.

Image
Trước nay, quản lý-phân bổ-sử dụng ngân sách ở Việt Nam vẫn không được
công khai, thiếu minh bạch nên vừa lãng phí, vừa thiếu hiệu quả.
(Hình: Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn)

WJP công bố kết quả cuộc khảo sát vừa kể sau khi thăm dò ý kiến dân chúng của 102 quốc gia. Tại Việt Nam, WJP đã thăm dò ý kiến của 1,000 người, cư trú ở Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn.

Dựa trên ý kiến của dân chúng về: Mức độ công khai những thông tin liên quan đến chính quyền và luật pháp, sự đáp ứng quyền được cung cấp thông tin, sự tham gia của các tổ chức dân sự, cơ chế đáp ứng các khiếu nại của dân chúng, WJP tiến hành xếp hạng.

Theo đó, ba quốc gia dẫn đầu về sự minh bạch của chính quyền là: Thụy Điển, New Zealand và Na Uy. Ba quốc gia mà sự minh bạch của chính quyền bị xếp hạng chót là Myanmar, Uzbekistan và Zimbabwe.

Trong bảng xếp hạng vừa kể, Việt Nam xếp thứ 86/102 trên bình diện toàn cầu. Ở bình diện châu Á, sự minh bạch của chính quyền Việt Nam được xếp hạng 11/15. chỉ hơn Trung Quốc, Mã Lai, Campuchia và Myanmar. Trước nay, chính quyền tại Việt Nam phải minh bạch hơn đã là yêu cầu của nhiều người, nhiều giới tại Việt Nam.

Hồi tháng 11 năm ngoái, sáu tổ chức tại Việt Nam từng gửi kiến nghị, yêu cầu minh bạch về ngân sách, đúng vào thời điểm Quốc Hội Việt Nam đang thảo luận, chuẩn bị cho việc thông qua Luật Ngân Sách mới.

Đứng đầu các tổ chức đồng ký tên trong kiến nghị vừa kể là OXFAM Vietnam (chi nhánh của OXFAM - một liên minh của 15 tổ chức quốc tế có chi nhánh tại 98 quốc gia, hoạt động nhằm tìm giải pháp khắc phục nghèo đói, bất công. Những tổ chức còn lại bao gồm: Trung Tâm Hành Động Phát Triển Vì Cộng Đồng (ACDC), Trung Tâm Nâng Cao Năng Lực Cộng Đồng (CECEM), Trung Tâm Phát Triển Và Hội Nhập (CDI), Trung Tâm Hỗ Trợ Giáo Dục Và Nâng Cao Năng Lực Cho Phụ Nữ (CEPEW), Nhóm Hợp Tác Thúc Đẩy Quản Trị Và Cải Cách Hành Chính Công (GPAR).

Kiến nghị vừa kể được cho là có sự hỗ trợ của Ủy Ban Tài Chính-Ngân Sách thuộc Quốc Hội Việt Nam, hoàn tất sau khi đã tham vấn ý kiến của hơn một ngàn người dân và 500 viên chức ở các tỉnh: Bắc Giang, Hòa Bình, Nam Định, Quảng Trị và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Ngoài việc yêu cầu minh bạch về ngân sách, kiến nghị nhấn mạnh rằng, chính quyền Việt Nam cần thực hiện nghĩa vụ giải trình và các biện pháp để dân chúng có thể tham gia vào tiến trình quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách.

Kiến nghị cho rằng, Luật Ngân Sách mới phải minh định về việc công khai ngân sách. Nội dung và cách thức công khai phải giúp dân chúng có thể hiểu để tham gia vào tiến trình quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách. Đặc biệt là phải bảo đảm sự thuận tiện trong việc tiếp cận thông tin.

Sáu tổ chức gửi kiến nghị, đề nghị Luật Ngân Sách mới phải có các quy định cụ thể về quyền tham gia trực tiếp và gián tiếp của dân chúng trong vấn đề phân bổ ngân sách.

Luật Ngân Sách mới cũng cần minh định quyền tham gia giám sát của dân chúng trong việc quản lý, sử dụng ngân sách. Đồng thời phải xác định các hình thức xử lý đối với việc vi phạm nghĩa vụ công khai ngân sách và trách nhiệm giải trình về ngân sách.

Dựa trên kết quả tham vấn ý kiến dân chúng và viên chức, sáu tổ chức soạn - gửi kiến nghị cho rằng, thời gian vừa qua, việc quản lý, sử dụng ngân sách của chính quyền Việt Nam chưa hiệu quả, chưa phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của dân chúng, chưa tạo điều kiện cho dân chúng tham gia vào các hoạt động liên quan đến quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách.

Thông tin về quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách của tất cả các cấp chính quyền còn thiếu minh bạch, chỉ mang tính hình thức. Cách cung cấp thông tin, nội dung thông tin về ngân sách vừa thiếu, vừa khó hiểu.

Qua một cuộc khảo sát mà sáu tổ chức vừa kể thực hiện trong năm ngày trên hai tờ báo điện tử là VietNamNet và VnExpress thì có 95% cho rằng phải công khai dự thảo chi ngân sách ở tất cả các cấp. 96% yêu cầu công khai tất cả các khoản chi thường xuyên. 96% yêu cầu danh mục nợ công.

Bởi thiếu minh bạch, lãng phí trong sử dụng ngân sách vượt ngoài sự tưởng tượng của nhiều người.

Cuối năm 2013, chế độ Hà Nội công bố một thống kê về việc sử dụng ngân sách để đầu tư vào các “dự án trọng điểm.” Theo đó, chỉ trong vòng mười năm, Việt Nam đổ tiền xây 20 cảng biển quốc tế, 22 phi trường (có 8 là phi trường quốc tế), 267 khu công nghiệp (trung bình một tỉnh có 4 khu công nghiệp), 18 khu kinh tế ven biển, 28 khu kinh tế cửa khẩu, 1,757 dự án trong các lãnh vực giao thông, thủy lợi và di dân.

Tổng vốn đầu tư cho tất cả các “dự án trọng điểm” ấy ngốn hết khoảng 444 ngàn tỷ đồng và gần như toàn bộ các “dự án trọng điểm” đều bỏ hoang sau khi hoàn tất. (G.Đ)

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Miền Nam và miền Bắc

TS. Nguyễn Hưng Quốc
Mới đây, đọc trên blog của nhà phê bình Vương Trí Nhàn ở trong nước, tôi bắt gặp một đoạn nhan đề “Gợi ý từ một nhà kinh tế” với một số nhận xét bất ngờ và thú vị.

Đoạn viết khá ngắn, tôi xin phép được chép nguyên văn: “Ông Đặng Phong, một nhà lịch sử kinh tế qua đời. Tôi biết ông nhân một lần đọc cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 do ông chủ biên, thấy có nhắc thoáng qua một điều gần như ai cũng nghĩ nhưng ít ai viết: trước 1975, kinh tế miền Nam đã ở trình độ cao hơn kinh tế miền Bắc. Tự ngẫm nghĩ, thì thấy đúng thế, không thể khác được, không thể nói ngược như chúng tôi vẫn nói, hoặc lảng tránh cho là cấm kỵ, và lấy những chuyện khác nói át đi.

Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn. Như vậy dễ dàng công nhận là trình độ sống của bà con trong ấy cao, nhất là dân thành phố. Dấn thêm một bước, trong đầu tôi thấy vụt lên cái ý, liệu có thể nói rằng, xét trên phương diện hiện đại hóa, là con đường tất yếu mà xã hội phải trải qua, nhân dân miền Nam đã đi xa hơn, đạt tới tầm mức văn hóa cao hơn? Như vậy bản thân khái niệm văn hóa mà lâu nay tôi vẫn hiểu cũng phải được xem xét lại chăng?

Tôi sẽ tự phản bác lại nhiều lần trước khi đi đến kết luận … Nhưng càng đọc Đặng Phong ý tưởng trên càng không rời khỏi tôi.”

Đúng như Vương Trí Nhàn nói, điều Đặng Phong và ông nhận xét “gần như ai cũng nghĩ nhưng ít ai viết”. Bản thân tôi đã nghe một nhận xét như thế từ một bậc tài hoa nhưng nổi tiếng bảo thủ ở miền Bắc: nhà phê bình Hoài Thanh. Sau năm 1975,Hoài Thanh và bà vợ dọn vào Sài Gòn ở. Có hai hay ba lần gì đó, đâu khoảng 1980, một người thầy cũ thường rủ tôi đến thăm ông. Câu chuyện thường lan man từ văn học đến xã hội.

Một lần, Hoài Thanh chép miệng nói, đại khái: “Bản chất của chế độ nguỵ là xấu vậy mà không hiểu sao nó lại đào tạo con người giỏi thế. Ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi rối rít. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào.”

Đặng Phong so sánh về kinh tế, Hoài Thanh nói về văn hóa ứng xử, còn Vương Trí Nhàn bàn về văn hóa nói chung. Người ta có thể thắc mắc: Vậy, ở những lãnh vực khác thì sao? Như văn học, mỹ thuật hay âm nhạc, chẳng hạn? Có gì khác giữa miền Nam và miền Bắc cũng như giữa miền Nam trước đây và cả nước bây giờ?

Trong một bài phỏng vấn do Thụy Khuê thực hiện, in trên tạp chí Hợp Lưu số 103 ra vào tháng 1 và 2, 2009, sau, đăng lại trên trang Viet-studies của Trần Hữu Dũng, cũng chính Vương Trí Nhàn đã nêu lên một nhận xét sơ khởi. Theo ông, so với văn học miền Bắc, văn học miền Nam thể hiện “rõ hơn” và “đầy đủ hơn” những “đau khổ của con người” và những “tình thế bi thương, đau đớn, cả sự bơ vơ, bất lực, trong đời sống”. Khác với văn học miền Bắc, văn học miền Nam, một mặt, tiếp nối được truyền thống cách tân trong văn học tiền chiến; mặt khác, tiếp cận được với văn học thế giới, “sử dụng các quan niệm các phương thức của văn hóa phương Tây để diễn tả đời sống con người hiện đại”. Văn học miền Nam cũng có những yếu tố hiện thực và nhân đạo mà văn học miền Bắc không có.

Tất cả những nhận xét nêu trên, về kinh tế, văn hóa hay văn học đều khá sơ lược. Một sự so sánh công bằng và chính xác cần nhiều nỗ lực hơn nữa. Vần cần xuất phát từ một tầm nhìn cao hơn nữa. Tiếc, những nỗ lực và tầm nhìn ấy, cho đến nay, vẫn còn tiềm ẩn đâu đó. Trên sách vở cũng như trong học đường, văn học và văn hóa miền Nam vẫn còn để trống, không ai nhắc đến, hoặc nếu nhắc, cũng nhắc với sự xuyên tạc và mạ lị như trong thời kỳ còn chiến tranh.

Cũng xin nói luôn, trích lại đoạn văn của Vương Trí Nhàn cũng như kể lại lời nhận xét của Hoài Thanh, tôi không hề muốn khoét sâu vào óc kỳ thị địa phương vốn đầu độc mối quan hệ giữa những người cùng một nước.

Thứ nhất, sự kỳ thị và chia rẽ vùng miền ở Việt Nam đã quá trầm trọng; chúng ta không cần và cũng không nên làm trầm trọng thêm nữa. Nó không có ích gì cả. Ở một thời đại toàn cầu hoá như hiện nay, khi mọi người đang tìm cách xoá mờ dần ranh giới và những khoảng cách giữa các quốc gia cũng như giữa các nền văn hoá, luôn luôn đề cao sự khoan dung và cởi mở, cổ xuý cho cách nhìn liên văn hoá (intercultural) và xuyên văn hoá (cross-cultural) mà người Việt mình cứ lại nhấp nhổm với chuyện Nam/Trung/Bắc thì không những vô duyên mà còn nguy hiểm, không những lạc hậu mà còn phản tiến hoá.

Thứ hai, không nên quên, liên quan đến con người, bất cứ sự khái quát hoá vội vã nào cũng đều bất cập và rất dễ sai lầm: ở miền Nam, không hiếm người thô bạo, thậm chí, thô bỉ, ngược lại, ở miền Bắc, không hiếm người cực kỳ nhã nhặn và lịch sự, rất “hiện đại” và ở tầm văn hoá cao.

Thứ ba, cũng không nên quên, trước đây, ít nhất là trước năm 1954, ở miền Bắc, đặc biệt, ở Hà Nội, người dân nổi tiếng là thanh lịch. Sau này, gặp lại một số người Hà Nội thuộc thế hệ cũ, tôi vẫn bắt gặp cái dáng vẻ thanh lịch truyền thống ấy. Ngôn ngữ họ thanh lịch. Tác phong họ thanh lịch. Cách hành xử của họ cũng thanh lịch. Nét thanh lịch ấy không còn thấy ở các thế hệ trẻ hơn.

Cho nên, những khác biệt giữa hai miền, Nam và Bắc, không nằm ở con người. Cũng không nằm ở truyền thống, nơi ưu thế rõ ràng là nghiêng hẳn về phía miền Bắc. Sự khác biệt chủ yếu nằm ở chế độ. Liên quan đến chế độ, ở khía cạnh chúng ta đang bàn, yếu tố quan trọng nhất là văn hoá, trong đó nổi bật nhất là văn hóa chính trị, tức những cách diễn dịch cũng như những quy phạm và quy ước mà mọi người cùng chia sẻ về quyền lực và trách nhiệm. Những quy ước và những quy phạm ấy không phải tự nhiên mà có. Chúng là những gì người ta thụ đắc trong môi trường giáo dục, từ gia đình đến học đường và xã hội. Trong việc thụ đắc ấy, vai trò của chế độ đóng vai chủ đạo: Chính chế độ, cụ thể là nhà nước, quyết định về chương trình giáo dục cũng như nội dung của truyền thông đại chúng, qua đó, hình thành những mẫu người mà họ cần và muốn. Trong suốt hơn nửa thế kỷ, lúc nào nhà cầm quyền cũng tuyên dương hình tượng con người mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhìn lại, chúng ta chỉ thấy có một điểm trong mẫu hình con người mới ấy thành hiện thực và được phổ biến: tính thiếu thật thà.

Nghiên cứu về văn học cũng như văn hóa miền Nam trong tương quan so sánh với miền Bắc hay cả nước hiện nay không phải nhằm phục hồi chế độ miền Nam vốn đã thuộc về quá khứ xa lắc và cũng không nhằm gây chia rẽ vùng miền. Mà, theo tôi, chỉ nhằm hai mục đích chính: thứ nhất, công bằng với lịch sử; và thứ hai, để nhận diện đầy đủ hơn những thất bại trong chính sách văn học và văn hóa hiện nay, từ đó, tìm cách khắc phục.

Cứ quay lưng lại với thực tế và cứ ra rả với những khẩu hiệu láo khoét rỗng tuếch về những thành tựu đầy ảo tưởng, chúng ta chỉ kéo dài sự thất bại mà thôi. Chả hay ho gì!

TS Nguyễn Hưng Quốc

Post Reply