Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Niềm tin và đam mê

Cao-Đắc Tuấn

- Niềm tin và đam mê là hai ý tưởng liên hệ với nhau trong cuộc sống thực tế. Niềm tin cho ta một đường hướng và mục tiêu rõ rệt, và giúp ta tạo ra hành động cụ thể. Đam mê gia tăng cường độ của hành động này và giúp đạt được mục tiêu một cách hữu hiệu. Trong cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ, bạn nên tạo ra đam mê để nung nấu niềm tin bạn và để đạt mục tiêu nhanh chóng, thí dụ như trong việc ký thư ngỏ cho Chiến dịch Vận động Nhân quyền 2015.

*

Niềm tin và đam mê là đề tài nghiên cứu của nhiều triết gia tôn giáo. Soren Kierkegaard, một triết gia tôn giáo Đan Mạch nổi tiếng, cho rằng niềm tin là một hành động, và hành động này là bước nhảy của đam mê (Moran, 112). Sự liên hệ giữa niềm tin và đam mê cũng nhận được nhiều chú ý. Nhiều triết gia thần học nghiên cứu mối liên hệ này dưới ảnh hưởng của tôn giáo và khoa học (Xem, thí dụ như, Coakley 2012).

Với nhiều người, niềm tin và đam mê chỉ là hai khái niệm hoặc ý tưởng thực tế liên quan đến cuộc sống và không nhất thiết dính líu tới tôn giáo hoặc triết lý cao xa. Thí dụ, tác giả Phan Châu Thành (2015) viết một bài rất hay về niềm tin vay mượn trong ngành giáo dục. Trong bài này, tôi sẽ nói về niềm tin và đam mê trong bối cảnh cuộc sống thực tế, và lấy thí dụ về chiến dịch vận động nhân quyền 2015.

Ý nghĩa của niềm tin:

Niềm tin (faith) là sự tin tưởng không thắc mắc mà không cần chứng minh hoặc bằng chứng. Nên chú ý là niềm tin trong tôn giáo không có cùng định nghĩa như vậy (Reagan). Niềm tin phải có đối tượng. Bạn phải đặt niềm tin vào cái gì. Thông thường, ta kh̀ông cần phải nói ra khía cạnh của đối tượng mà chỉ nói đến đối tượng. Thí dụ, bạn nói, "Tôi có niềm tin vào Thượng Đế," và không cần phải nói chi tiế́t, "Tôi có niềm tin vào lòng bao dung/ sức mạnh vô bờ/ sự thông thái/.../ của Thượng Đế."

Niềm tin có thể đúng hoặc sai, sáng suốt hoặc mù quáng, thật sự hoặc giả tạo, vô vị lợi hoặc trục lợi. Giá trị của niềm tin có tính cách tương đối và tùy vào mỗi người. Thí dụ, đối với người tranh đấu cho tự do dân chủ, niềm tin vào đảng cộng sản Việt Nam là niềm tin mù quáng và sai lầm. Ngược lại, người trung thành với cộng sản thường kết tội niềm tin vào tự do dân chủ là niềm tin giả tạo và trục lợi.

Niềm tin không nhất thiết liên quan đến một khái niệm trừu tượng hoặc cái gì to tát cao cả. Nó có thể cỏn con, cụ thể, hạn hẹp, ích kỷ. Bạn có thể có niềm tin vào đấng Thượng Đế tối cao, vào tình thương yêu nhân loại, vào lòng can đảm của con người, vào công lý của một xã hội tự do dân chủ. Bạn cũng có thể có niềm tin vào sự bền bỉ của chiếc xe cũ kỹ của bạn, vào tài nấu ăn của bạn, vào tình yêu với người phối ngẫu, vào sự thanh bình của một buổi chiều tà.

Niềm tin không nhất thiết vĩnh cửu hoặc bất khả xâm phạm. Nó có thể bị tan vỡ, hao mòn, suy kém. Nó có thể gia tăng, mạnh mẽ dần dần.

Niềm tin có thể đến hoặc hiện hữu từ nhiều nguồn: tự nhiên hoặc sẵn có, hấp thụ qua giáo dục hoặc hướng dẫn, có được qua kinh nghiệm, và có được qua suy luận.

Trong cuộc sống, hầu như ai cũng có, hoặc từng có, niềm tin. Niềm tin có thể được coi là động lực giúp ta tranh đấu, vật lộn với đời. Nó cũng có thể được coi là mục tiêu, giúp ta tìm đường hướng thích đáng. Niềm tin thường liên kết với hành động thể hiện niềm tin đó. Thí dụ, bạn có niềm tin vào tình người, và do đó, bạn đối xử với mọi người với lòng chân thật, nhân ái, và bao dung.

Ý nghĩa của đam mê:

Đam mê (passion) là một cảm xúc, tình cảm, hoặc một sự kích động mãnh liệt với nhiệt tình và thích thú. Chữ "mê" hàm ý một sự "không kiểm soát," "không điều khiển," "không cưỡng lại," "không tự chủ," hoặc "không ý thức," tạo ra bởi một yếu tố nào đó. Thí dụ như: mê gái, mê cờ bạc, mê man bất tỉnh, mê mệt, mê muội, mê hoặc, v.v... Chữ "đam" hàm ý "mang vào," "bỏ bê," "lăn xả vào." "Đam" hàm ý một hành động cố tình. Đi với "mê," "đam" làm gỉảm hoặc làm mất đi ý nghĩa "không tự chủ," "không ý thức" của "mê" mà thay vào đó, hoặc biến nó thành, mức độ mãnh liệt của lòng nhiệt thành hoặc tình cảm.

Đam mê có thể dùng cho một hoạt động tốt như đam mê học hành hoặc cho một hoạt động xấu như đam mê cờ bạc. Ý nghĩa tốt hay xấu tùy vào các chữ dùng liên hệ, hoặc nội dung cả câu.

Đam mê có thể hiện hữu tự nhiên hoặc được tạo ra do yếu tố bên ngoải. Đam mê tự nhiên được tạo ra một cách tự nhiên và không do một ảnh hưởng nào, tuy nó có thể cần một kích động khởi đầu. Thí dụ, tôi mê làm thơ, viết văn, ca nhạc, vẽ, đọc sách từ nhỏ một cách tự nhiên, và không có ai ảnh hưởng hoặc xúi giục tôi. Đam mê tạo ra do một yếu tố bên ngoài đến từ một tiến trình có ý định, do ảnh hưởng bên ngoài thí dụ như ý chí, suy luận. Cũng như niềm tin do suy luận, đam mê có thể được tạo ra bằng cách dùng suy luận, lý trí. Khi một hành động đang diễn ra (thí dụ do bởi niềm tin), bạn có thể tạo đam mê cho hành động đó bằng cách gia tăng phẩm chất hoặc số lượng của hành động.

Tuy nhiên, vì đam mê liên quan đến tình cảm và tâm hồn, dùng suy luận hay lý trí để tạo ra đam mê không thể gượng ép. Một khi bạn ghét làm chuyện gì, cho dù bạn có niềm tin vào sự tốt đẹp của nó và bạn sẵn sàng làm chuyện đó, bạn không thể dối lòng mà thích làm chuyện đó. Thí dụ, bạn có niềm tin vào đi làm kiếm tiền (thay vì đầu tư, buôn bán kinh doanh) để có cuộc sống thoải mái, nhưng bạn rất ghét mỗi ngày phải dậy sớm, bị kẹt xe hàng ngày, vào văn phòng phải đối diện với công việc ngập mặt, đã thế còn phải đối phó với tên xếp lúc nào cũng hoạnh họe. Bảo rằng bạn dùng suy luận hoặc lý trí để tạo ra đam mê cho chuyện đi làm hàng ngày như vậy quả là có phần gượng ẹp và giả tạo. Đương nhiên bạn vẫn đi làm hàng ngày cho niềm tin đó, nhưng bạn không đi làm với đam mê.

Liên hệ giữa "niềm tin" và "đam mê":


Niềm tin ngụ ý mục tiêu, động lực, trong khi đam mê mô tả cường độ của một hành động, hoạt động, hoặc hành vi. Dưới khía cạnh thực tế trong cuộc sống, mọi niềm tin đều dính líu đến hành động vì bạn không thể có một niềm tin mà không có hành động thể hiện cái niềm tin đó. Do đó, niềm tin và đam mê được liên hệ với nhau qua hành động biểu hiện niềm tin. Tùy vào hành động đó, đam mê có thể quan trọng hay không cần thiết.

Dưới một khía cạnh khác, niềm tin có thể được coi là sản phẩm của lý trí và đam mê là kết quả của tâm hồn. Mối liên hệ lý trí-tâm hồn này có thể tương tự như ý của Kierkegaard về bước nhảy của đam mê (Moran, 112).

Không phải hành động nào cũng cần phải có cường độ mạnh mẽ mới đạt được mục tiêu. Đam mê có thể giúp cho hành động có hiệu quả hơn, nhanh hơn, ít tốn kém hơn, hoặc đạt được mục tiêu huy hoàng hơn. Bù lại đam mê có thể đòi hỏi thì giờ chuẩn bị, năng lực, và có thể gây ra tác dụng tiêu cực trên người khác.

Có sự khác nhau giữa hoàn thành một việc và hoàn thành việc đó với hứng khởi hoặc đam mê. Kết quả của hai việc có thể sẽ như nhau, nhưng ảnh hưởng của tiến trình làm việc đó trên chính bạn khác nhau.

Thí dụ, bạn có thể thức cả đêm cặm cụi học bài, và sau đó hiểu thấu đáo bài giảng của thầy. Nhưng bạn coi đó như là một gánh nặng phải đối phó. Ngược lại, nếu bạn có đam mê, bạn cũng có thể thức khuya cả đêm, nhưng không phải để ráng trút bỏ gánh nặng, mà để "thưởng thức" học bài.

Hai việc đó khác nhau ở chỗ nào? Trả lời: Chúng khác nhau một trời một vực.

Với ý tưởng trút bỏ gánh nặng, bạn có thể cảm thấy thoải mái là đã trả xong nợ, nhưng sau đó, bạn sẽ có những bài học kế tiếp và những bài học này tiếp tục là những gánh nặng. Bạn sẽ phải thu hết can đảm, và lập lại mọi cố gắng và nỗ lực để trút bỏ gánh nặng cho những việc sau. Trí tuệ và cơ thể bạn bị căng thẳng, và dễ bị ngã quỵ. Bạn có thể trút được gánh nặng bây giờ, nhưng chưa chắc bạn làm được chuyện đó cho những lần sau. Dần dà, bạn có thể mất nghị lực, và niềm tin của bạn suy giảm, để cuối cùng, bạn chịu không nổi và quyết định bỏ học.

Với ý tưởng "thưởng thức" học bài, bạn sẽ vui vẻ thức đêm học. Bạn có thể vừa huýt gió vừa giải một bài toán, nghe nhạc trong lúc cặm cụi vẽ một biểu đồ, hoặc nhấp nháp ly cà phê trong lúc đọc sách. Những hành động đó làm bạn quên đi sự mệt nhọc, đầu óc bạn được sáng suốt, vì bạn không phải lo lắng là có sẽ trút được gánh nặng hay không. Vì không bị căng thẩng bởi nỗi lo sợ trút bỏ gánh nặng, tinh thần và cơ thể bạn được thoải mái, và bạn có thể hoàn tất việc nhanh hơn.

Do đó, thực hiện một hành động phục vụ cho niềm tin với đam mê luôn luôn đem lại kết quả tốt đẹp hơn là không có đam mê.

Câu hỏi quan trọng là ta có thể tạo ra được đam mê không?

Như trình bày ở trên, nếu bạn đã ghét làm chuyện gì (cho dù bạn có niềm tin về chuyện đó), thì bạn không thể cố tạo ra một đam mê giả tạo để làm chuyện đó. Cái giả tạo chỉ càng làm bạn khó chịu bực bội, và còn tạo ra căng thẳng tinh thần và vật chất, còn tệ hơn là bạn không có đam mê. Bạn không thể nào tự dối lòng mà ca hát hoặc huýt gió trong lúc bị kẹt xe (nếu bạn thiệt là ghét bị kẹt xe), hoặc tươi cười chào đón, hỏi han tên xếp với mặt như con heo mà bạn rất ghét. Không phải lúc nào bạn cũng cần có đam mê để làm một chuyện mà bạn ghét (dù bạn có niềm tin mạnh mẽ). Bạn có thể cho nó một cơ hội để thử xem bạn có thay đổi được không, nhưng bạn không thể tiếp tục giả tạo mãi mãi.

Tuy nhiên, nếu bạn không ghét làm chuyện đó, và tuy bạn chưa thích làm chuyện đó, bạn có thể biến cái "không ghét và chưa thích" đó thành "đam mê," để tạo lửa cho hành động của niềm tin bạn. Tất cả chỉ tùy vào sức mạnh của lý trí và suy luận. Dưới khía cạnh này, niềm tin và đam mê có thể tương tác lẫn nhau để càng lúc càng lớn mạnh.

Nếu bạn có niềm tin, dù chỉ mới khởi đầu, và bạn "không ghét và chưa thích" hành động cho niềm tin đó, thì bạn nên tự cho mình một cơ hội để bạn phát huy nỗi đam mê cho niềm tin đó. Vì chỉ có cách đó, bạn mới có thể hiểu con người của bạn. Ngoài ra, bạn sẽ có dịp thử lại hoặc đánh giá niềm tin của bạn. Nếu bạn không thể tạo được đốm lửa đam mê, bạn vẫn có thể giữ niềm tin và tiếp tục theo đuổi con đường phục vụ cho niềm tin đó.

Thế nào là tự cho mình một cơ hội?

Đó là tự tạo cho mình sự đam mê trong hành động phục vụ niềm tin. Khác với giả tạo, bạn không đóng kịch để làm ngược lại ý thích (hoặc đúng hơn, ý ghét) của bạn, vì bạn "không ghét và chưa thích" hành động đó. Tự tạo cho mình một cơ hội là tạo ra nhiều hành động khác nhau hoặc gia tăng cường độ hành động mình phục vụ cho niềm tin.

Hãy tạo đam mê cho chính bạn trong chiến dịch Nhân quyền 2015:

Lấy một thí dụ điển hình trong chiến dịch Vận động Nhân quyền năm 2015. Bạn đọc những bài viết, nghe những lời kêu gọi, và xem những khúc phim vận động. Bạn có niềm tin vào chiến dịch đó, tuy niềm tin đó không mãnh liệt lắm, nhưng đủ để cho bạn quyết định ký lá thư ngỏ với niềm tin là sẽ có được 100.000 chữ ký vào khoảng tháng 5, 2015.

Hành động đó là một hành động bình thường như mọi người khác hưởng ứng lời kêu gọi hoặc ủng hộ phong trào dân chủ. Có thể chiến dịch sẽ đạt được 100.000 người ký. Có thể không. Việc đạt được 100.000 người ký thực ra không ảnh hưởng nhiều về các hoạt động dự trù như biểu tình, tọa kháng, thắp nến. Con số 100.000 đặt ra chỉ là một con số cho là lớn đủ để tạo "khí thế" cho chiến dịch hoạt động trên đường phố.

Chúng ta không thể tiên đoán được sẽ có bao nhiêu người ký. Chúng ta có niềm tin, nhưng niềm tin không bảo đảm thực tế. Chính vì tính chất không tiên đoán được tương lai mà chúng ta phải cố gắng tối đa trong hiện tại để không ân hận về sau.

Để phát huy chiến dịch mạnh mẽ, bạn phải tạo đam mê cho hành động phục vụ niềm tin của bạn. Chỉ có chữ ký một mình bạn không đủ.

Làm cách nào?

Có rất nhiều cách, tùy vào khả năng và tình trạng bạn (thí dụ, trong nước hay hải ngoại). Điểm chính yếu là bạn phải kêu gọi tích cực mọi người tham gia vào việc ký tên. Bạn nên kêu gọi gia đình, họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp, thân hữu xa gần tham gia vào việc ký lá thư ngỏ. Robin Dunbar, một học gỉả người Anh nổi tiếng về nhân loại học, đưa ra con số 150 là số người trung bình mà một người có thể duy trì liên hệ xã giao ổn định (Wikipedia 2015). Con số này được đưa ra vào thập niên 1990 và hiện nay có thể cao hơn. Gallup cho biết mỗi người Mỹ có khoảng 9 người bạn thân, không kể họ hàng (Carroll 2004). Nếu mỗi người chúng ta tận dụng việc truyền bá kêu gọi tới tất cả những người ta quen biết vừa đủ, và ai cũng làm như vậy, tổng số người dần dà biết đến chiến dịch này sẽ lên thật cao. Với con số Dunbar, ta có thể đạt được hàng triệu, hàng chục triệu trong một thời gian ngắn của vài tuần. Cho dù với con số của Gallup, chúng ta có thể đạt được hàng trăm ngàn, hàng triệu trong vòng một hai tháng.

Bạn có thể nghĩ ra đủ mọi sáng kiến để tạo lửa cho đam mê của bạn. Đốm lửa đam mê đó sẽ kích động những người khác để họ tham gia và có thể tạo đam mê cho chính họ. Cho dù có người không ký, ít nhất bạn cũng khiến họ ý thức và biết về chiến dịch.

Bạn hãy chuyển e-mail bạn nhận được từ Change.org sau khi bạn ký tới mọi người trong danh sách địa chỉ e-mail của bạn. Nếu bạn nằm trong một nhóm nào đó, thí dụ như Yahoo group, Google group, nhóm cựu học sinh hoặc sinh viên, bạn nên chuyển thư với link của Change.org tới mọi người trong nhóm. Nếu bạn không muốn người ta biết bạn ký, vì bất cứ lý do nào đó, bạn vẫn có thể chuyển e-mail nói về chiến dịch và link dẫn tới Change.org tới mọi người, như bạn đã làm khi bạn chuyển e-mail về câu đùa giỡn, câu chuyện tiếu lâm, hình ảnh đẹp, tin tức hay, v.v.

Nếu bạn có facebook, bạn nên truyền bá trên facebook. Nếu bạn là sinh viên học sinh, bạn có thể kêu gọi sinh viên học sinh Việt Nam trong trường, tổ chức các cuộc họp mặt, thuyết trình. Nếu bạn là phụ huynh, bạn nên nói con em tích cực tham gia và kêu gọi bạn bè tham gia.

Với các bạn ở hải ngoại, bạn có nhiều cơ hội và phương tiện để hun đốt ngọn lửa đam mê mà không cần phải tham gia một hoạt động đoàn thể hoặc cộng đồng, nhất là những nơi có đông người gốc Việt. Bạn hoặc con cháu bạn có thể tổ chức kêu gọi tại các nơi đông người Việt Nam qua lại, như các địa điểm thương mại (nhà băng, chợ búa, v.v...). Bạn có thể in ra hàng trăm giấy kêu gọi, truyền đơn, và phân phát hoặc cài trên xe mọi người. Bạn có thể dùng dịp này để dậy dỗ con cháu bạn giá trị của tự do ngôn luận, dân chủ, đam mê, nguồn gốc Việt Nam, và "fighting for a cause." Có thể bạn sẽ phải bỏ ra một chút ít tiền, nhưng bạn nên coi đó là những đóng góp từ thiện.

Với niềm tin, ta có thể thành công.

Với niềm tin và đam mê, ta có thể đạt thành công to tát hơn, mau lẹ hơn, và có hiệu quả hơn.

Hãy để ngọn lửa đam mê bùng cháy trong niềm tin mạnh mẽ.

Cao-Đắc Tuấn
danlambaovn.blogspot.com

User avatar
tiendung
Posts: 348
Joined: Wed Dec 01, 2010 10:09 pm

Post by tiendung »

Một chính khách lớn và một người thầy xấu

Nguyễn Hưng Quốc

Mở đầu bài viết tưởng niệm Lý Quang Diệu đăng trên báo The Washington Post, Henry Kissinger, cựu ngoại trưởng Mỹ, người được xem là tổng công trình sư về chính sách đối ngoại của Mỹ thời chiến tranh lạnh, nhận định: “Lý Quang Diệu là một vĩ nhân” (Lee Kuan Yew is a great man). Cựu Thủ tướng Anh, Tony Blair, cho Lý Quang Diệu là lãnh tụ sắc sảo nhất mà ông từng được gặp (the smartest leader I ever met). Tổng thống Mỹ Barack Obama cho Lý Quang Diệu là một “người khổng lồ đích thực của lịch sử”, “một hình ảnh truyền thuyết của châu Á trong thế kỷ 20 và 21”.

Những lời khen ấy xuất phát từ ba sự kiện: Thứ nhất, từ góc độ cá nhân, Lý Quang Diệu bao giờ cũng chứng tỏ là một con người thông minh và sâu sắc đủ để chinh phục sự ngưỡng mộ của những người gặp ông và trao đổi với ông. Thứ hai, với tư cách một lãnh tụ, ông đã chứng tỏ tài năng của mình trong việc biến Singapore từ một hòn đảo nhỏ, nghèo nàn và lạc hậu, một cựu thuộc địa của Anh và là một trong những địa phương khiêm tốn trong Liên bang Malaysia, trở thành một quốc gia tiên tiến và giàu có, có thu nhập trên đầu người cao hơn hẳn Malaysia và cả nước Anh. Thứ ba, với tư cách một chính khách, Lý Quang Diệu đã có những ảnh hưởng sâu rộng trên phạm vi thế giới. Mặc dù người ta không gắn sau tên ông chữ “ism”, kiểu chủ nghĩa Lý Quang Diệu (Lee-ism) như người ta từng làm với Reaganism hay Thatcherism, nhưng giới nghiên cứu chính trị đều đồng ý Lý Quang Diệu có một quan niệm riêng, một chiến lược riêng trong việc xây dựng và phát triển đất nước khác hẳn các chính khách khác. Chiến lược ấy được rất nhiều nhà lãnh tụ rải rác trên thế giới ngưỡng mộ và bắt chước.

Với những ảnh hưởng ấy, Lý Quang Diệu được xem là một bậc thầy có tầm quốc tế trong nửa sau thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21. Tư cách bậc thầy ấy thể hiện qua hai khía cạnh chính: Một là những chính sách cụ thể mà Lý Quang Diệu sử dụng một cách hữu hiệu để xây dựng Singapore thành một cường quốc và hai là những chiến lược ông sử dụng để xây dựng bộ máy cai trị tại đất nước của ông. Ở khía cạnh thứ nhất, nói theo lời của Thủ tướng Anh David Cameron, Singapore là một trong những “câu chuyện thành công vĩ đại” (one of the great success stories) của thời hiện đại. Ở khía cạnh thứ hai, nói theo lời Tổng thống Obama, “không ít lãnh tụ thuộc thế hệ này cũng như các thế hệ trước xin những lời khuyên của ông” trong vấn đề cai trị.

Ở cả hai khía cạnh vừa nêu, bậc thầy Lý Quang Diệu để lại những di sản vừa tốt vừa xấu.

Tốt ở nhiều điểm: Ông mang lại niềm tự tin cho nhiều lãnh tụ về quá trình xây dựng đất nước của họ sau những thời gian dài chiến tranh hoặc lệ thuộc; ông khuyến khích mọi người quan tâm đến lãnh vực giáo dục cũng như chính sách chiêu hiền đãi sĩ trong quá trình hiện đại hoá đất nước; ông nêu bật lên tầm quan trọng không thể thay thế được của một nền quản trị minh bạch và hiệu quả; ông nhấn mạnh đến việc bài trừ tham nhũng; ông dạy người ta tinh thần thực tế và thực dụng, không bám víu một cách mù quáng và nô lệ vào các lý thuyết hay các thứ chủ nghĩa, đặc biệt chủ nghĩa cộng sản, v.v…

Nhưng di sản xấu của Lý Quang Diệu cũng không ít.

Thứ nhất, ông tạo nên một mô hình phát triển nguy hiểm.

Trước, hầu như mọi nhà nghiên cứu đều cho dân chủ là một trong những tiền đề tiên quyết của phát triển. Sự thành công của chủ nghĩa tư bản, ở lãnh vực kinh tế cũng như chính trị, cao hơn hẳn của chủ nghĩa xã hội vốn cuối cùng bị sụp đổ vào đầu thập niên 1990, là ở chỗ: chủ nghĩa tư bản có tự do hơn. Tính chất tự do và dân chủ của chủ nghĩa tư bản không phải chỉ xuất phát từ những nguyên tắc nhân quyền chung chung mà còn xuất phát từ một thực tế: chúng khuyến khích óc sáng tạo và tinh thần cạnh tranh lành mạnh của mọi người, một nhân tố quan trọng để đất nước càng ngày càng tân tiến và thịnh vượng.

Sau, với sự thành công của Singapore, người ta thấy có một khả năng lựa chọn khác: một đất nước có thể tiến bộ vượt bậc mà không cần phải dân chủ hoá. Người ta gọi đó là một nền “độc tài mềm” (soft dictatorship) hoặc “chủ nghĩa tư bản chuyên chế” (authoritarian capitalism) mà Singapore là một tấm gương tiêu biểu nhất.

Điều đó giải thích tại sao lãnh tụ của rất nhiều quốc gia độc tài tìm đến với Lý Quang Diệu, xem Lý Quang Diệu như một cố vấn đáng tin cậy. Một trong những người ấy là Đặng Tiểu Bình. Cuối thập niên 1970, sau cái chết của Mao Trạch Đông và sau khi đánh dẹp “bè lũ 4 tên”, Đặng Tiểu Bình xem Singapore như một mẫu mực ông noi theo để vừa có thể hiện đại hoá Trung Quốc vừa có thể giữ được tính chất độc tôn của đảng cộng sản như điều Lý Quang Diệu đã làm với đảng Hành Động Nhân Dân của ông. Để học bài học của Lý Quang Diệu, Đặng Tiểu Bình đã gửi hàng chục ngàn cán bộ các cấp sang Singapore học tập. Ông cũng mời Lý Quang Diệu sang thăm Trung Quốc cả hang chục lần. Ngày Lý Quang Diệu qua đời, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố khen ông là một “chính khách có ảnh hưởng độc nhất ở châu Á và là một nhà chiến lược kết tinh được những giá trị đông phương và một viễn kiến mang tính quốc tế”. Ảnh hưởng của Lý Quang Diệu trên Trung Quốc lớn đến độ có người cho ông chính là “cha đẻ của Trung Quốc hiện đại” (“Lee Kuan Yew: The Father of Modern China?”)

Ngoài Đặng Tiểu Bình và các lãnh tụ khác ở Trung Quốc, Lý Quang Diệu còn có một số người khác rất ngưỡng mộ ông và muốn noi theo gương của ông, trong số đó, đáng kể đầu tiên là Vladimir Putin, người đã tặng cho Lý Quang Diệu một huân chương danh dự để bày tỏ sự tôn kính đối với những đóng góp lớn lao của Lý Quang Diệu trên phạm vi thế giới. Ở Georgia, Mikhail Saakashvili cũng xem Lý Quang Diệu như một thần tượng, sách của Lý Quang Diệu được dịch, in, lưu hành và đọc như những cuốn kinh thánh. Ở Ukraine, Viktor Yanukovych cũng rất sùng bái Lý Quang Diệu và xem Singapore như một mô hình để xây dựng đất nước của ông.

Nói một cách vắn tắt, ở rất nhiều nơi trên thế giới, từ Trung Quốc đến Nga và một số quốc gia cựu cộng sản khác đều xem Singapore như một bài học lớn, ở đó, người ta, một mặt, có thể phát triển, mặt khác, vẫn tiếp tục duy trì một nền chính trị hà khắc, trên sự thống trị của một đảng duy nhất.

Di sản nguy hiểm thứ hai của Lý Quang Diệu là ông tạo cho người ta cái ảo tưởng là có những nền văn hoá thích hợp với dân chủ và có những nền văn hoá thì không. Nền tảng quan trọng nhất trong lý thuyết về chính trị của Lý Quang Diệu là quan niệm về các giá trị châu Á (Asian values) vốn, theo ông, khác hẳn với văn hoá Tây phương. Nếu ở Tây phương, người ta đề cao chủ nghĩa cá nhân thì ở châu Á, người ta đề cao tinh thần tập thể; ở Tây phương, người ta khuyến khích óc cạnh tranh; ở châu Á, người ta tìm kiếm sự đồng thuận. Với những khác biệt ấy, ở Tây phương người ta cần tự do và dân chủ, ở châu Á, người ta có thể hài lòng với một chế độ chính trị nhắm đến việc xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương và giàu có.

Quan niệm này của Lý Quang Diệu giúp các chế độc độc tài hoặc bán độc tài ở châu Á cũng như ở Đông Âu biện hộ cho các chính sách độc đoán của họ. Nhiều học giả cho quan niệm của Lý Quang Diệu và huyền thoại Singapore đã có ảnh hưởng tai hại đến rất nhiều quốc gia trên thế giới, ở đó, chế độ độc tài có thể tiếp tục độc tài hoặc chế độ vừa mới thoát khỏi độc tài cộng sản lại quay sang một chế độ độc tài kiểu mới.

Nói Lý Quang Diệu là một chính khách giỏi nhưng lại là một người thầy xấu là vậy.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

'Xu thế ghét Trung Quốc'

Nguyễn Hưng Quốc

(Nguồn VOA)

Phát biểu trong một hội nghị quốc gia vào đầu năm 2015, Ðại Tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam, tuyên bố:
“Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già [đều] có xu thế ghét Trung Quốc.
Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc.”

Image
Người dân Hà Nội trong một cuộc biểu tình chống Trung Quốc. (Hình: Getty Images)



Chuyện tại sao ông “lo lắng” và cho đó là một sự “nguy hiểm cho dân tộc” chúng ta sẽ bàn sau. Ở đây tôi chỉ chú ý đến một hiện tượng được chính Phùng Quang Thanh ghi nhận và thừa nhận: sự căm ghét Trung Quốc là một “xu thế” rất phổ biến, “từ trẻ con đến người già” tại Việt Nam.

Thật ra, “xu thế” ấy không phải chỉ có ở Việt Nam. Chỉ cần đọc qua các bản tin trên báo chí khắp nơi, chúng ta thấy ngay một hiện tượng: dân chúng ở Tây phương cũng khá khinh ghét người Trung Quốc. Nhóm từ “người Trung Quốc xấu xí,” trước, chỉ do những người Trung Quốc tự nói về chính họ qua những cái nhìn mang tính chất tự phê phán (tiêu biểu và nổi tiếng nhất là Bá Dương, 1920-2008, người Ðài Loan, với cuốn sách mang nhan đề “Người Trung Quốc xấu xí” được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt). Gần đây, cách gọi “người Trung Quốc xấu xí” ấy tràn lan trên báo chí. Ở đây không phải là chuyện kỳ thị. Ðó chỉ là cảm tưởng chung khi người ta nhìn thấy cách hành xử của người Trung Quốc du lịch ở nước họ. Trên báo chí đầy dẫy những hiện tượng trái tai gai mắt của người Trung Quốc, từ trên máy bay đến trên đường phố. Trên máy bay, có người tạt cả ly nước nóng lên mặt tiếp viên chỉ vì một sự bất bình nho nhỏ nào đó; có người đòi mở cửa cấp cứu trên chiếc máy bay đang bay trên không để cho “có không khí”; có người cho con ỉa ngay trên lối đi; có người dọa cho nổ máy bay vì không đổi được chỗ ngồi, v.v... Trên đường phố cũng vậy. Ở đâu có người Trung Quốc, ở đó có cảnh chen lấn, xô đẩy; cảnh khạc nhổ và vất rác bừa bãi; cảnh gây gổ, tranh giành, ầm ĩ; cảnh trố mắt nhìn vào sự riêng tư của người khác. Nhiều người cho người Trung Quốc là những du khách tệ hại nhất thế giới (the world's worst travellers).

Ở Việt Nam, “xu thế” ghét người Trung Quốc cũng không mới mẻ gì. Ngày xưa, cha ông chúng ta cũng rất ghét người Trung Quốc. Trong Bình Ngô Ðại Cáo viết thay cho Lê Lợi, Nguyễn Trãi xem Trung Quốc như một “thế thù,” tức kẻ thù truyền kiếp, từ đời này sang đời khác. Gần đây, sau cuộc xâm lược của Trung Quốc qua biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979, giới lãnh đạo Việt Nam cũng tuyên bố Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp và lâu dài của Việt Nam. Hiện nay, sự căm ghét người Trung Quốc còn phổ biến và sâu rộng hơn hẳn các thế hệ hay các thế kỷ trước. Người Việt trong nước ghét; người Việt ở hải ngoại cũng ghét. Ngày xưa, cha ông chúng ta có thể vừa ghét người Trung Quốc nhưng lại vừa ngưỡng mộ văn hóa Trung Quốc; bây giờ, phần lớn vừa ghét âm mưu xâm lấn của Trung Quốc vừa coi thường cả văn hóa Trung Quốc. Nhìn vào Trung Quốc, ở bất cứ khía cạnh nào, người ta cũng đều thấy những sự xấu xa và đầy đe dọa.

Những sự ghét bỏ ấy khiến tham vọng trở thành siêu cường quốc của Trung Quốc gặp khó khăn và thử thách. Nói chung, để trở thành một siêu cường quốc, người ta cần hai điều kiện chính: quyền lực cứng và quyền lực mềm. Quyền lực cứng thể hiện chủ yếu trên hai lãnh vực: kinh tế và quân sự. Quyền lực mềm thể hiện chủ yếu ở lãnh vực văn hóa và xã hội. Trung Quốc, với tham vọng trở thành một siêu cường quốc ít nhất ở Châu Á, tập trung phát triển trên tất cả các lãnh vực ấy. Riêng về văn hóa và xã hội, họ muốn tạo sự thông cảm và ngưỡng mộ của thế giới với nền văn hóa lâu đời và đẹp đẽ của họ qua việc phát triển các Viện Khổng Tử ở khắp nơi trên thế giới. Không biết các hoạt động của các Viện Khổng Tử ấy có hiệu quả gì hay không nhưng chỉ thấy ở đâu người ta cũng căm ghét Trung Quốc.

Riêng ở Việt Nam, cho đến nay, có vô số bằng chứng cho thấy các chiến dịch vận động cho quyền lực mềm của Trung Quốc đã thất bại thảm hại. Ở đâu dân chúng cũng ghét Trung Quốc. Làm ăn với Trung Quốc, ừ, vẫn làm; mua hàng Trung Quốc, ừ, thì vẫn mua, nhưng ghét Trung Quốc thì vẫn cứ ghét. Sự căm ghét ấy lớn đến nổi bao nhiêu chiến dịch tuyên truyền cho cái gọi là “4 tốt” và “16 chữ vàng” của chính quyền Việt Nam đều thất bại, theo lời thừa nhận của Phùng Quang Thanh dẫn ở trên.

Tuy nhiên, sự căm ghét ấy có đủ để bảo vệ độc lập và chủ quyền Việt Nam trên Biển Ðông hay không?

Tôi sợ là không.

Lý do thứ nhất là chính phủ hoàn toàn không biết tận dụng sự căm ghét ấy để biến nó thành một vũ khí trong trận tuyến chống lại Trung Quốc. Ở đây, chúng ta lại thấy một nghịch lý: chính phủ và đảng Cộng Sản Việt Nam lúc nào cũng cho họ là đại diện của nhân dân, tôn trọng ý nguyện của nhân dân, nhưng trong trường hợp này, mặc dù họ biết nhân dân rất căm ghét Trung Quốc, họ lại xem đó là điều đáng lo lắng và tìm mọi cách để ngăn chận và trấn áp những biểu hiện của những sự căm ghét ấy.

Thứ hai, bản thân người dân vừa căm ghét nhưng vừa bất lực và bế tắc. Ai cũng ghét Trung Quốc và ai cũng biết Trung Quốc đang mưu toan xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam. Nhưng rồi, tất cả đều thở dài, than: “Nhưng biết làm sao bây giờ?” Người ta cho Trung Quốc quá mạnh và Việt Nam quá yếu: tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía Trung Quốc. Biết thế, nhưng thay vì tiếp tục tranh đấu, người ta lại chọn biện pháp buông xuôi, để mặc chính phủ và đảng Cộng Sản lo liệu.

Sự kết hợp giữa căm ghét và bất lực ấy khiến người ta hài lòng với những lời than thở hay chửi bới vu vơ.

Không có một tên lính Trung Quốc nào chết vì những lời than thở hay chửi bới vu vơ như thế cả.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »



NHÌN LẠI 40 NĂM QUỐC HẬN


Ý Dân
Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu 40 năm Quốc Hận không những của nhân dân miền Nam VN mà là của toàn dân Việt.

Nhìn lại những diễn tiến kể từ khi Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm được miền Nam VN vào ngày 30-4-1975 thì toàn dân phải sống dưới một chế độ độc tài đảng trị, mọi quyền tự do căn bản bị bóp nghẹt, đời sống của hàng triệu người dân lâm vào cảnh đói nghèo, sinh mạng thì luôn bị công an đe dọa. Trong khi ấy thì lãnh thổ và lãnh hải của đất nước lần lượt bị rơi vào tay của Trung Cộng.

Sau khi chiếm được miền Nam do lệnh của quan thầy Trung Cộng và Liên Xô, bọn lãnh đạo đảng CSVN thay vì nghĩ đến tình đồng bào, vì tương lai của đất nước nên hợp tác cùng nhân dân miền Nam kiến thiết đất nước sau 20 năm chiến tranh điêu tàn thì bọn chúng lại ra tay trả thù và đầy đọa hàng triệu quân dân cán chính của miền Nam VN. Chúng lùa quân dân cán chính miền Nam vào các trại tù khổ sai từ Nam đến Bắc từ vài tháng cho đến hàng chục năm lao tù.Đồng thời cày nát bao ngôi mộ của các tử sĩ của QLVNCH. Hậu quả làm tan nát bao gia đình, giết hại bao nhân tài và tạo sự hận thù giữa người dân và bọn lảnh đạo ngày càng thêm sâu đậm.

Quá chán ngán chệ độ vô nhân CSVN, hàng triệu người Việt cả miền Nam và miền Bắc liều mình vượt biên, vượt biển đi tìm sự tự do tại nhiều quốc gia trên thế giới. Hành trình đi tìm sự tự do nầy đầy đau thương và nước mắt. Hàng trăm ngàn người phải bỏ xác trên biển Đông. Người sống sót thì phải chịu đói khát,bị cướp bóc và nhiều phụ nữ Việt bị bọn hải tặc hãm hiếp đến chết.

Càng ngày toàn dân Việt ở trong nước và hải ngoại thấy rõ bộ mặt thật của bọn lãnh đạo đảng CSVN. Họ chỉ là một bọn cướp, một bọn tay sai của Trung Cộng. Chúng cướp đất của dân oan, thi hành chế độ công an trị, tuyên truyền dối trá, tước đoạt mọi quyền tự do chính trị, quyền tự do tín ngưỡng ,quyền tự do phát biểu của người dân .

Trái với lời tuyên truyền của chủ thuyết Cộng Sản , lớp công nhân, thợ thuyền, nông dân được xem là lực lượng nồng cốt của chế độ Cộng Sản thì ngày càng bị bọn lãnh đạo bóc lột và lâm cảnh nghèo túng. Sự kiện nầy gây nên cảnh thương tâm cho bao thiếu nữ Việt phải bị đưa đi làm lao nô các nơi và chịu sự nhục nhã làm nô lệ tình dục cho các ngoại kiều.

Trong khi ấy,các cấp lãnh đạo CSVN từ trung ương đến cấp địa phương do tham nhũng mà tài sản của bọn chúng lên đến hàng trăm triệu hay hàng tỷ mỹ kim tạo thành một tầng lớp tư bản đỏ sống xa hoa .

Quê hương VNì không may bị một bọn học vấn dốt nát lãnh đạo,vì theo đuổi một chủ thuyết Cộng Sàn không tưởng, lỗi thời và nhất là làm tay sai cho Trung Cộng mà đất nước càng ngày càng bị thụt lùi, lâm vào cảnh chậm tiến và có cơ bị mất nước.

Ngày nay, hàng triệu người dân Việt đã thấy rõ bộ mặt thật bán nước của tập đoàn lành đạo CSVN. Từ Công Hàm bán nước do Phạm Văn Đồng ký vào năm 1958 nhìn nhận chủ quyền của Trung Cộng trên quần đào Hoàng Sa. Các hiệp ước do cấp lãnh đạo CSVN ký vào các năm 1999 , 2000 đã dâng cho Trung Cộng hàng trăm dặm lảnh hãi và lảnh thổ của đất nước. Ngày nay Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc đã thuộc về Trung Cộng. Đặc biệt , đảng CSVN lại đê hèn đàn áp những cuộc biểu tình của người dân đòi Trung Cộng phải hoàn trả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho VN thì lại im lặng trước những sự đánh đập các ngư dân VN cùng sự xâm lấn của Trung Cộng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Vua Napoleon của Pháp đã nói: "Một quốc gia cần có một dĩ vãng tự hào, một hiện tại kiêu hãnh và một tương lai hy vọng " . Dân tộc Việt Nam với một quá khứ oai hùng do công lao dựng nước và giữ nước của tổ tiên. Thế nhưng kể từ khi Hồ Chí Minh cùng bọn lãnh đạo đãng CSVN lên cầm quyền tại Bắc Việt vào năm 1945 và sau ngày 30-4-1975 đã đem đất nước vào cảnh nộ lệ ngoại bang, nhân dân lâm vào cảnh bần cùng và mất hết quyền tự do. Chính vì thế mà hiện tại ,VN phải lâm vào cảnh đen tối và tương lai của đất nước thì vô vọng.

Thật là chí lý và thắm thiết khi người dân đã đặt hai câu vè khi bọn CSVN thay đổi hai con đường Công Lý bằng đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Tự Do của Sàigòn thành đường Đồng Khởi như sau:

Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

Một đất nước không còn nền Công Lý và mọi người dân bị tước đoạt mọi quyền Tự Do thì quả thật là một tai họa. Ngày 30-4-1975 không là một ngày Giải Phóng như bọn CSVN tuyên truyền mà chính là Ngày Quốc Hận của toàn dân Việt vậy./

Ý DÂN

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Biết cười, cũng cần biết nhục
Ngô Nhân Dụng
Dân Hà Nội đang truyền miệng một bài đồng dao (bài hát của trẻ em) mở đầu bằng mấy câu:

“Hay nói ầm ĩ là con vịt bầu
Hay hỏi đâu đâu là con chó vện
Nhanh hơn cả điện là chặt cây xanh
Giải thích loanh quanh: Ủy Ban Thành Phố
Họp báo nhí nhố là lão Quốc Hùng
Ăn nói như khùng là anh Tuyên Giáo

Bài này không ghi tên tác giả (Khuyết Danh), xuất hiện trên Facebook của Nguyễn Lân Thắng. Hai câu đầu là thơ Trần Ðăng Khoa, dân Hà Nội theo truyền thống Ba Giai (Nguyễn Văn Giai) đã đặt thêm, thành một bài dài, vừa đọc cho nhau nghe vừa sửa chữa thành nhiều bản. Xin trích dẫn mấy đoạn sau để đồng bào khắp bốn biển năm châu được nghe tiếng cười của người Hà Nội:

Hứa rồi bội ước: Tấn Dũng mồm to
Nhắm mắt gật gù: Mấy quan nghị gật
Như con lật đật là mấy thằng dân
Mặt méo mày nhăn là người lao động

Mồm to, miệng rộng: Ðám dư luận viên
Thay đổi triền miên: Luật và quần lót
Làm xấu nói tốt: Báo cáo hàng năm
Nói như thằng hâm là anh Hùng hói

Sợ Tàu hỏi tội, là Phùng Quang Thanh
Lạy giặc làm anh, là lão Trọng Lú
Chén anh chén chú, là đám quan tham
Ngớ ngẩn quanh năm là Ban Tư Tưởng

Ăn nằm vất vưởng là cụ dân oan
Suốt ngày khóc than là bà mất đất
Ngai vàng ngây ngất, Tổng Mạnh về hưu
Vẽ vượn, bày hươu “Hội đồng lú lẫn”

Dân nghèo mạt kiếp, nhờ đảng tiên phong
Suốt ngày long nhong, làm thuê các nước...
Chỉ một mơ ước, đủ ăn hàng ngày
Cho hết kiếp này, cuộc đời ông chủ.

Tuy bài đồng dao trên xuất hiện ở Hà Nội nhưng phong cách lại giống mấy bài “hát lô tô” rất quen thuộc với người miền Nam. Trong Nam vẫn có lối đặt vè, như:

Nghe vẻ nghe ve - Nghe vè Quản Rớt,
Mặt tuồng ăn ớt - Làm bộ hơi lanh,
Nghe hơi tiêu hành - Lò mò đi tới.
Làm tuồng khách quới - Mà chẳng ai ưa,
Uống rượu say sưa - Tiền không nhứt điếu.
Bây giờ mới hiểu - Là đứa bãi buôi,
Làm chức lôi thôi - Là Hương Quản Rớt.

Những câu vè này để lại cái tên “Quản Rớt” cho đời sau biết đến, cũng như bài “đồng dao” mới ở Hà Nội sẽ lưu truyền những tên tuổi “bãi buôi” mới như (Nguyễn) Tấn Dũng, Trọng Lú (Nguyễn Phú Trọng), “Như người khác cõi, là lão Tấn Sang,” rồi tới Tổng Mạnh (Nông Ðức Mạnh), Hùng hói (Nguyễn Sinh Hùng) Phùng Quang Thanh, phó chủ tịch thành phố Nguyễn Quốc Hùng, cùng toàn thể cái Hội đồng lú lẫn (Hội đồng lý luận) chuyên nói hươu nói vượn!

Trào phúng là cách người yếu thế tấn công bọn cường quyền. Vì ngôn ngữ là vũ khí duy nhất trong tay dân đen, đứng trước dùi cui và còng số 8. Trong câu nói hàng ngày, người dân đặt ra bao nhiều từ ngữ mới, cách nói mới, tất cả đều là phản ứng chống lại những lời lẽ văn hoa, đao to búa lớn, trịnh trọng, hùng hồn tràn ngập các bài diễn văn, nghị quyết, cương lĩnh của bọn cầm quyền. Những cách nói năng dùng “ngôn ngữ bất hợp pháp,” đặc biệt khi giới trẻ nói với nhau, chủ ý phá phách cả những quy tắc văn phạm, “xé rào” các tiêu chuẩn từ vựng, cho thấy thái độ đối nghịch và phản kháng của người dân trước “ngôn ngữ quan quyền.”

Chúng ta có thể làm bảng “từ vựng phản kháng” của những tù nhân cải tạo trong Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, của giới giang hồ trong tiểu thuyết Xe Lên Xe Xuống của Nguyễn Bình Phương, để nghiên cứu “ngôn ngữ phản kháng” trong thời đại họ viết. Dân chúng chán ngấy thứ “văn đóng hộp” trên các tờ “báo đảng” vẫn mô phỏng “văn báo cáo” của công an hoặc các “văn chỉ đạo” của Ban Văn Hóa Tư Tưởng. Chế độ độc tài nào cũng có cái vẻ mặt “nghiêm nghị của các con thú.” Người Ðức dùng thành ngữ “tierischer Ernst” bởi vì họ thấy các loài vật đều có vẻ mặt nghiêm trọng, lúc nào chúng “nghiêm và buồn,” không cười bao giờ cả!

Những bài vè chế nhạo băng đảng cầm quyền cho thấy dân khí đã lên cao, người ta không còn sợ hãi nữa. Nhưng đây mới chỉ là bước đầu. Mấy chữ “Lạy giặc làm anh” gợi lại tên bài phú “Lạy đá làm anh” của Phan Bội Châu (Bái thạch vi huynh). Ðầu thế kỷ 20, cụ Phan đã nhận xét trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư: “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ.” Cụ nêu lên các triệu chứng của tình trạng dân khí thấp: “Quen thói sợ hãi; thiếu hiểu biết.” Hai triệu chứng này, hiện giờ đã “thuyên giảm.” Khi thấy cả ngàn gốc cây bị “tàn sát man rợ,” người Hà Nội biết môi trường sống bị phá hoại, một trình độ hiểu biết cao hơn trước. Chấn Dân Khí tức là làm sao con người Việt Nam không hèn nhát, không ỷ lại, không ích kỷ, không sợ cường quyền. Người ta dám đi biểu tình, dám lên tiếng phản đối, tức là bệnh sợ hãi đã nhẹ bớt. Cho nên bài đồng dao còn tố cáo:

Tàn sát man rợ: chủ trương cấp trên
Kiểm điểm liên miên là thằng cấp dưới
Tiền bỏ đầy túi là các quan to
Chịu trận ốm o, mấy anh tẹp nhẹp

Phan Bội Châu cũng mô tả dân khí thấp kém vào 100 năm trước: “...người dưới làm điều đê tiện mà không biết hổ, chịu sự ô nhục mà không biết thẹn; người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân.” Một cách cụ thể hơn: “Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét; thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như Thục khuyển phệ Nhật, Việt khuyển phệ tuyết.” (Chó nước Thục sủa mặt trời, chó nước Việt sủa tuyết).
Làm sao để chấn hưng dân khí? Cụ Phan nêu lên hai việc phải làm. Một: “Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Hai: “(Quan lại) Phải bớt lệnh áp bức để cổ võ chí khí cương cường.” Phan Bội Châu coi chống tham nhũng, hối lộ là phương tiện. Liêm sỉ mới là cứu cánh. Phải chấm dứt nạn tham nhũng hối lộ, thì mới tập cho người dân Việt biết thế nào là liêm sỉ.

“Tuyệt đường hối lộ,” và “Bớt lệnh áp bức” là hai phương thuốc để phục hồi khí phách dân Việt! Việc thứ nhất là phần người dân. Việc thứ hai là phần quan lại. Việc thứ hai khó hơn. Một chế độ do súng đẻ ra, tồn tại nhờ còng số 8, rất khó “bớt lệnh áp bức!” Người Việt đã biết đây là một chế độ “Hèn với giặc, ác với dân,” cho nên không thể ngồi đó chờ họ “bớt lệnh áp bức!”

Nhưng dân Việt Nam có thể “phản kháng bất bạo động” bằng cách từ chối mọi đòi hỏi hối lộ, bắt đầu bằng dưới lên. Từ chối không hối lộ trong cuộc sống hàng ngày, thà mất thời giờ cái lý, cãi luật chứ không chịu nhục nhã! Muốn cổ động được một phong trào như vậy, trước hết người ta phải nhìn ra rằng hối lộ không phải chỉ là một “chi phí” được tính bằng tiền. Hối lộ là một mối nhục. Chấp nhận phải hối lộ là một thái độ hèn hạ, nhục nhã. Ðưa tiền hối lộ là một hành động hèn hạ, nhục nhã. Không hối lộ mới là người có liêm sỉ.

Hai cụ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đều coi việc chấn dân khí là quan trọng nhất trong công cuộc phục hồi phẩm giá và danh dự cho dân tộc Việt Nam. Một trăm năm sau, điều này vẫn đúng.

Phan Bội Châu viết Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư ở Huế, mượn tên đảo Lưu Cầu, Riu Kiu, vì số phận dân họ cũng giống dân Việt Nam thời đó. Lưu Cầu vốn là một vương quốc độc lập, không giống dân Nhật. Quốc gia này bị Nhật Bản chiếm nhiều lần và bị nhập vào từ năm 1879, đổi tên thành quần đảo Xung Thằng (Okinawa), họ mất nước từ đó tới nay. Người Việt Nam rất xấu hổ trước mối nhục mất nước, nhưng bây giờ còn phải biết cảm thấy nhục nhã khi phải cúi đầu dưới một chế độ tham nhũng khinh dân, nước vẫn còn mà như đã mất rồi!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Cuộc chiến ‘biệt vô tăm tích’

Bùi Tín (VOA)
Cuộc nội chiến Nam-Bắc ở Việt Nam đã chấm dứt được mấy mươi năm, biết bao tài liệu sách báo, hồi ký đã được viết ra, biết bao tư liệu tuyệt mật của các bên đã được công bố, nhiều cánh cửa đã được mở ra để nhìn rõ bản chất, nguyên nhân, diễn biến, các góc cạnh của cuộc chiến.

Trong suốt hơn 20 năm qua, tôi đã được đọc không biết bao nhiêu là sách báo, tài liệu của Ngũ Giác Ðài, của Bộ Quốc Phòng Liên Xô, Pháp, Anh, của Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, các hồi ký của các tướng tá cả của Quân Ðội Nhân Dân (QÐND) và của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH), hồi ký về nhà tù Cộng Sản, hồi ký về thuyền nhân, rồi những tài liệu tù mù thật giả lẫn lộn, phóng ra từ ổ đen tình báo Hoa Nam Trung Quốc. Vậy mà theo tôi vẫn còn nhiều “góc khuất” của cuộc chiến tranh rất nên làm rõ, để cuộc chiến được tái hiện đúng như nó từng diễn ra trên mọi khía cạnh.

Có những sự kiện nhỏ bé ít người nói đến nhưng lại đóng vai trò rất lớn, có khi có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cuộc chiến.

Xin nêu lên một vấn đề làm thí dụ. Tôi tạm gọi vấn đề này là “cuộc chiến biệt vô tăm tích.” Ðó là tình trạng quân nhân trong QÐND ở miền Bắc khi đã lên đường vào Nam chiến đấu là cắt đứt mọi quan hệ với gia đình, bạn bè thân thuộc trong một thời gian dài, cho đến khi sống sót được trở ra miền Bắc.

Có thể nói có hàng mấy triệu lượt quân nhân QÐND vượt tuyến như thế, và hàng triệu người đều ở trong hoàn cảnh như thế. Họ lên đường, rồi “biệt vô tăm tích,” vì bưu điện Bắc-Nam bị cắt đứt hoàn toàn. Nhưng không hề có một văn bản nào ghi nhận thành chính sách “biệt vô tăm tích” như thế.

Có lẽ rất hiếm quân đội nào trong thời chiến cùng gia đình họ chịu cảnh chia ly triệt để, kéo dài, chịu một cuộc tra tấn đày đọa tinh thần thâm hiểm đau xót triền miên như thế.

Trong thời chiến tôi có dịp hỏi chuyện một số sỹ quan phi công Hoa Kỳ bị bắt, họ còn mang theo cả thư, ảnh vợ con, bố mẹ nhận được trước đó vài hôm từ Mỹ gửi sang Thái Lan hay Hạm Ðội 7. Họ chiến đấu ở xa hàng ngàn dặm mà mối quan hệ tình cảm được đều đặn. Quân nhân của chế độ Cộng Sản miền Bắc nước ta chiến đấu trên đất nước mình mà cứ như bị tha hương, đến một tinh cầu nào xa lạ, không một lá thư nào, một hình ảnh nào.

Bao nhiêu bà mẹ, ông bố, người vợ đêm nằm thương nhớ khôn nguôi người con, người chồng yêu quý của mình, thế rồi chỉ còn có cách nuốt nước mắt vào lòng, cầu Trời khấn Phật cho người thân “biệt vô tăm tích” của mình sống sót trở về.

Các ông cha bà mẹ, người vợ ấy càng chua xót, đau đớn vì cái tỷ lệ sống sót trở về ngày càng hiếm hoi, “sinh Bắc tử Nam” đã thành số phận gần như thiên định, do cuộc chiến ở miền Nam hết sức ác liệt, do bộ phận lãnh đạo cộng sản sùng bái bạo lực, sắt máu, có dã tâm quyết hy sinh không hạn độ sinh mạng công dân cả nước mình cho tham vọng nhuộm đỏ toàn thế giới của Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Chiến tranh để giành độc lập, rồi “chống Mỹ cứu nước” chỉ là nhãn hiệu bề ngoài che đậy dã tâm trên đây.

Nếu như đảng Cộng Sản Việt Nam để cho quân nhân mình được phép liên lạc với gia đình, tổ chức ngành bưu điện quân sự tỏa rộng vào các chiến trường, theo tôi nghĩ, bộ mặt cuộc chiến đã khác hẳn. Chỉ riêng cảnh rùng rợn của chiến trường, số chết và bị thương phía Cộng Sản miền Bắc quá lớn, do quân đội miền Nam và lực lượng Hoa Kỳ có hỏa lực quá mạnh (từ trước năm 1964 chiến trường miền Nam, quân đội miền Bắc nói chung chưa đưa chiến xa vào miền Nam, pháo binh còn thưa thớt, không quân miền Bắc chưa hoạt động được) nên thường thương vong các trận đánh là 3/1, 5/1, có khi 10/1. Theo một số báo cáo tuyệt mật tôi được biết khi đi trong các đoàn quân sự cao cấp do Tướng Võ Nguyên Giáp và Tướng Văn Tiến Dũng dẫn đầu, với nhiệm vụ là bí thư báo chí của bộ trưởng Quốc Phòng, sau các đợt “Tổng tiến công và tổng nổi dậy” năm 1968, lực lượng QÐND bị tổn thất nặng hơn bao giờ hết, cơ sở nhân dân bị lộ, nhiều nơi bị mất trắng, có nơi phải đưa bộ đội chính quy miền Bắc vào làm bộ đội địa phương quận huyện. Nhiều đại đội, tiểu đoàn, cho đến cả trung đoàn phải giải thể, sáp nhập vào nhau, có khi đến 2 hay 3 lấn, phải lấy phiên hiệu A, B, C, như trung đoàn 275 A, 275B, 275C. Ở Khu 5 hồi ấy sĩ quan tử trận nhiều phải đôn gấp tiểu đội trưởng lên đại đội trưởng, tiểu đoàn phó lên trung đoàn trưởng do miền Bắc cử vào không kịp.

Nếu như thư từ thông suốt, các trận đánh thua tơi bời, chết và bị thương như ngả rạ, người bị thương không được cứu chữa, người chết chôn vội rồi đơn vị di chuyển, giải thể không còn biết ở đâu, nếu như cả xã hội được thông tin từ chiến trận, biết rõ những thất bại chồng chất khi ấy thì hậu phương sẽ không cho phép đảng đem con em mình vào lò thiêu sống như thế. Ở Hoa Kỳ khi các trận đánh qua màn ảnh truyền hình đi vào phòng ngủ người dân, số tử vong lính Mỹ lên đến 50 ngàn trong 5 năm là toàn xã hội lên tiếng đòi chấm dứt chiến tranh.

Tôi từng tham dự nhiều buổi tiễn đưa một số đơn vị vào Nam, khi qua binh trạm cuối “làng HO” thuộc đất Vĩnh Linh là anh em vĩnh biệt miền Bắc trong cảnh tượng xé lòng mà vẫn phải làm ra vẻ bình thản. Ai nấy đều giống nhau, hiểu nhau, cùng nhau đóng kịch. Lúc ấy không còn đường rút lui. Cứ như qua cầu bắc ngang sông là cầu bị cắt. Ðã có một số anh em mất tinh thần, liều mạng, muốn quay lui, vào tù cũng được, nhưng không sao lọt. Vì trách nhiệm của các chính ủy đoàn, các chính trị viên, của các chi bộ là ngăn chặn hiện tượng “B tụt,” “B tạt,” “B quay,” nghĩa là tìm cách lẩn vào rừng, tụt lại sau, tạt ra các bản người dân tộc, rồi tìm cách quay về nhà. Rất ít ai thoát được.

Những anh em ấy bị truy lùng ráo riết, bị giải về hậu phương, bị tù đày không xét xử, cuối cùng ra tù còn phải chịu cuộc sống bị chính quyền Cộng Sản phường xóm giám sát, khinh thị, cả họ hàng không sao ngẩng đầu lên được.

Thời gian “biệt vô tăm tích” người thân của mỗi gia đình một khác, có khi 2, 3 năm, có khi 5, 6 năm, nhiều khi trên 10 năm, tùy chiến trường Trị Thiên, Tây Nguyên, Nam Bộ, hay chiến trường Lào, Miên. Không ai biết rõ con em mình ở nơi nào. Rất hiếm khi có những tin tức của bạn bè, đồng hương bị thương trở ra, được biết là người thân ở Khu 5 hay Nam Bộ, hay Tây Nguyên, còn sống, vắn tắt, sơ sài thế thôi. Những quân nhân tử trận được báo tử rất chậm, chậm 1 năm được coi là bình thường, có khi chậm đến 2, 3 năm, do các đơn vị di chuyển sâu, sổ sách luộm thuộm mất mát, các đơn vị chia ra, nhập vào, thay phiên hiệu, cán bộ tử thương. Vì lẽ ấy mà đến nay QÐND miền Bắc có đến 300 ngàn trường hợp quân nhân mất tích, không biết bị tử trận ngày nào, ở đâu.

Ðây là món nợ xã hội của đảng Cộng Sản đối với nhân dân cho đến nay vẫn không sao trả được. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, con số chính thức của phía Pháp cho biết số tù binh bị phía Việt Nam bắt giam là 5,782 người, đã trao trả nhiều đợt là 3,290, số còn lại là 2,492 phía Việt Nam không giải thích được là sống chết ra sao, vì sao, ở đâu. Ðối với tù binh là người Mỹ cũng vậy, số bị bắt giam là gần 2,000, được trao trả là 591 người, số còn lại là 1,350 hay là 1,469 người, (tùy theo tài liệu của Ngũ Giác Ðài hay của Quốc Hội Mỹ), phía Việt Nam vẫn không giải thích được.

Ðây là thêm chứng minh về lãnh đạo đảng Cộng Sản cực kỳ vô trách nhiệm đối với sinh mạng con người trong chiến tranh, mặc dầu đã có những quy định quốc tế về trách nhiệm các bên đối với tù binh, về cấm tra tấn, về nuôi dưỡng, chữa bệnh, cho nhận thư từ gia đình, trao trả tù binh đầy đủ sau chiến tranh. Không thể để “biệt vô tăm tích” hàng ngàn trường hợp như thế.

Có thể nói chính sách “biệt vô tăm tích” là quốc sách rất thâm và cực kỳ độc ác, phi nhân có tính toán của đảng cộng sản trong thời chiến.

Nó được thực hiện cùng với chính sách cắt đứt triệt để quan hệ Bắc-Nam trong suốt gần 30 năm chiến tranh, nhằm triệt hạ mọi tình cảm ruột thịt, gia đình, bạn bè ở 2 miền, đặc biệt là giữa hàng triệu bà con di cư từ Bắc vào Nam với người thân ngoài Bắc, buộc phải coi nhau là thù địch, cũng là để bóp nghẹt tinh thần phản chiến âm thầm của bà con ta ở cả 2 miền.

Ðây phải chăng cũng là một tội ác, trời không dung đất không tha, của đảng Cộng Sản để làm nên cái gọi là toàn thắng giả tạo và tạm thời cách đây 40 năm?

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »


Nguyễn Phú Trọng đã đầu hàng Tập Cận Bình


Phạm Trần

- Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã thất bại ngay trong ngày đầu trong chuyến thăm Trung Quốc từ 7 đến 10 tháng 4 khi ông phải chấp nhận mọi đòi hỏi ở Biển Đông của Chủ tịch Nhà nước- Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình.

Đây là lần đầu tiên ông Trọng sang Bắc Kinh kể từ sau ngày Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 do họ đặt vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam để tìm kiếm dầu từ 2/5 đến 15/7/2014.

Trái với chuyến sang Bắc Kinh lần thứ nhất từ 11 đến 15/10/2011, lần này ông Trọng còn đem theo 4 Ủy viên Bộ Chính trị và Phó Thủ tướng- Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh là những người có triển vọng được lên cấp trong Ban Chấp hành Trung ương đảng khóa XII, dự trù được bầu vào tháng 1/2016.

4 Ủy viên Bộ Chính trị gồm Đinh Thế Huynh, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Chủ tịch Quốc hội; Phùng Quang Thanh, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trần Đại Quang, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an.

Có tin đồn đoán ông Trọng đem họ theo để giới thiệu với ông Tập Cận Bình như là nhóm lãnh đạo mới đồng thời cũng thông báo về quyết định của riêng ông tại Đại hội đảng XII. Có tin nói ông Trọng, 72 tuổi vào năm 2016 sẽ rút lui để nhường chỗ cho một Tổng Bí thư trẻ hơn.

Ông Trọng có làm như thế hay chỉ biết lắng nghe ông Tập Cận Bình thuyết giảng về hợp tác toàn diện, kể cả vấn đề Biển Đông, giữa hai đảng và hai nhà nước trong 2 giờ đồng hồ thì các bài tường thuật của báo chí đôi bên đã chứng minh như thế.

Trong thời gian có cuộc khủng hoảng giàn khoan HD 981, Bộ Chính trị 16 người do ông Trọng đứng đầu đã không ủng hộ ý kiến đòi Quốc Hội ra một Nghị quyết lên án hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của Trung Quốc.

Điều này dễ hiểu vì ông Trọng là người thân Trung Quốc, theo lời Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ CSVN tại Bắc Kinh.

Việc này cũng giải thích tại sao mà ông Tập Cận Bình và nhà nước Trung Quốc đã đón tiếp ông Nguyễn Phú Trọng như một Quốc trưởng tại Đại lễ đường Nhân dân ở thủ đô Bắc Kinh chiều 7/4 (2015).

Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) viết: “Đoàn môtô long trọng hộ tống xe của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiến vào khuôn viên Đại lễ đường. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình cùng nhiều lãnh đạo Trung Quốc đã nồng nhiệt chào đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bước lên bục danh dự; quân nhạc cử quốc thiều Việt Nam và Trung Quốc. Lễ đón diễn ra trang trọng với 21 phát đại bác chào mừng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng duyệt đội danh dự và chứng kiến Đội danh dự diễu hành.”

Liệu cuộc đón tiếp linh đình này có làm cho ông Nguyễn Phú Trọng bị choáng ngợp để quên rằng khi Trung Quốc thi hành chỉ thị “bảo vệ chủ quyền biển” là quyền lợi cốt lõi của ông Tập Cận Bình thì Bắc Kinh đã khởi công biến các đá ngầm chiếm của Việt Nam ở Trường Sa tháng 3 năm 1988 thành các đảo nhân tạo trong khi Thế giới tập trung theo dõi diễn biến vụ Giàn khoan HD 981.

Hình ảnh của báo chí Đài Loan (Want China Times, 02/09/2014) và Tây phương (Google Earth, DigitalGlobe, IHS Jane's Defense ngày 20 tháng 11 năm 2014) cho thấy quân đội và công nhân Trung Quốc đã làm việc ngày đêm để biến ít nhất 6 bãi đá ngầm Gạc Ma (Johnson South), Ga Ven (Gaven), Châu Viên (Cuarteron), Chữ Thập (Fiery Cross), Tư Nghĩa (Hughes), và Én Đất (Eldad) thành các đảo. Ngoài Én Đất, tất cả bãi đá trên đều được giới chức Trung Quốc ấn định "ngày sinh" cụ thể vào tháng 7. Duy nhất còn lại đá Xu Bi chưa bị biến thành đảo.

Trung Quốc cũng đang bồi đắp nhiều khu vực trong vùng tranh chấp với Phi Luật Tân ở hai bãi Macclesfield (Macclesfield Bank) và bãi cạn Scarborough hay đảo Hoàng Nham Scaborough mà Bắc Kinh gọi chung là Trung Sa quần đảo​.

Theo tài liệu của Bách khoa toàn thư (mở) thì: “Macclesfield là một bãi ngầm dạng rạn vòng hoàn toàn chìm dưới mặt nước biển Đông. Bãi ngầm này nằm cách quần đảo Hoàng Sa 75 hải lí (139 km) về phía đông, ở vào khoảng giữa của đường hàng hải từ bờ biển miền Trung Việt Nam đến phía bắc đảo Luzon của Philippines.

Tên gọi của bãi ngầm xuất phát từ sự kiện tàu Macclesfield của Anh khám phá ra bãi này vào năm 1701.

Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều tuyên bố chủ quyền đối với bãi Macclesfield.”

Trong khi đó, bãi Scarborough (đảo Hoàng Nham) nằm cách bờ tây đảo lớn của Philippines 230 km và cách Trung Quốc hơn 800 km về phía bắc.

Trung Quốc đã kiến thiết đường bay, bến cảng và đồn binh trên các đảo nhân tạo mới ở Trường Sa. Trong số này có Gạc Ma nằm trên đường tiếp vận từ Việt Nam ra Trường Sa trong khi Chữ Thập chỉ cách cảng Cam Ranh và sân bay Đà Nẵng khoảng 400 cây số. Các máy bay Trung Quốc có thể uy hiếp hay tấn công quân Việt Nam ở Trường Sa dễ dàng hoặc đánh thẳng vào Việt Nam trong vài giờ vì đã dự trữ sẵn nhiên liệu tiếp tế trên các đảo nhân tạo này.

Thảo luận gì?

Như vậy đe dọa quân sự của Bắc Kinh đối với Việt Nam đã rõ ràng nhưng không thấy phóng viên của Thông tấn xã Việt Nam hay Đài Tiếng nói Việt Nam (Voice of Vietnam, VOV) tháp tùng ông Trọng nhắc đến khi tường thuật về nội dung cuộc thảo luận giữa hai Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt-Trung.

Báo chí Trung Quốc, tiêu biểu như Tân Hoa Xã (Xinhua) và Đài Phát thanh Quốc tế Trung Hoa (China International Radio, CRI) cũng không nói gì đến vấn đề đang gây chú ý không những cho Việt Nam hay các nước trong khu vực Đông Nam Á mà cho cả Thế giới.

Ông Tập Cận Bình không nói đến chuyện Trung Quốc tái tạo các bãi đá thành đảo để dành chủ quyền ở Biển Đông là điều tất nhiên, nhưng khi Tổng Bí thư đảng CSVN né tránh thì không thiếu gì người Việt Nam muốn biết mục đích ông sang Bắc Kinh để làm gì cho tốn tiền của dân?

Nếu ông Trọng đi Bắc Kinh chỉ để chứng kiến cấp thừa hành ký 7 văn bản thỏa thuận hợp tác giữa hai Đảng, Chính phủ và các bộ, ngành, cơ quan hai nước thì thật lãng phí.

Trong số các văn kiện đã ký đáng chú ý gồm:

- “Hiệp định về hợp tác dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;”

- “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2016-2020;”

- “Điều khoản Tham chiếu Nhóm công tác hợp tác tài chính tiền tệ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc;”

- “Thỏa thuận về các vấn đề về thuế đối với Dự án thăm dò chung tài nguyên dầu khí tại vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc” giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tài chính nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.”

Bản tin tiếng Việt của Đài Phát thanh Quốc tế Trung Hoa (CRI) viết về vấn đề xung đột ở Biển Đông: "Hai bên nhấn mạnh cần phải quý trọng và gìn giữ tình hữu nghị truyền thống Trung-Việt, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam phát triển bền vững. Hai bên còn đồng ý cùng nhau nỗ lực, kiểm soát tốt các bất đồng trên biển, cùng giữ gìn hòa bình và ổn định trên Nam Hải…"

"…Tổng Bí thư Tập Cận Bình chỉ rõ, hai bên cần tuân thủ những nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo hai Đảng và hai nước, cùng nhau kiểm soát tốt các bất đồng trên biển, giữ gìn đại cục của quan hệ Trung-Việt và hòa bình, ổn định trên Nam Hải.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ tán thành và cho biết, hiện nay hai nước Việt Nam-Trung Quốc đều đang dốc sức cho sự nghiệp vĩ đại xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đều kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đều đang thúc đẩy cải cách và đổi mới toàn diện, hơn lúc nào hết đều cần phải tăng cường hợp tác hữu nghị cùng có lợi, giải quyết thỏa đáng các bất đồng, cùng nhau tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định và phát triển. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, Việt Nam coi trọng cao độ phát triển quan hệ hữu nghị bền vững và ổn định với Trung Quốc, đây là chính sách ưu tiên và lâu dài của Việt Nam, là sự lựa chọn chiến lược.”

Rõ ràng hai bên không nói gì đến những chuyện đã và đang xẩy ra tại vùng biển Trường Sa.

Theo tin của Việt Nam (TTXVN và VOV) thì: “Đối với vấn đề trên biển, (hai bên) nhấn mạnh tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc;” sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. Cùng kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả "Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông" (DOC) và sớm đạt được "Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên Biển Đông" (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời, thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt-Trung và hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Hai bên nhấn mạnh xây dựng COC là một phần quan trọng để giải quyết vấn đề trên biển. Trung Quốc đang cùng ASEAN bàn bạc nhiều lần để xây dựng COC.

Hai bên nhất trí thúc đẩy hoạt động của Nhóm bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ trong năm 2015.”

Những chuyện này không có gì mới mà chỉ lập lại những điều hai bên Việt-Trung đã viết trong các văn bản họp giữa hai Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Lý Khắc Cường của Trung Quốc tại cuộc họp tại Milan, Italy ngày 16/10/2014, bên lề Hội nghị cấp cao ASEM-10 (The Asia–Europe Meeting, ASEM).

Và tại các cuộc họp giữa Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì với Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại Hà Nội tháng 10/2014.

Cũng như trong chuyến đi làm việc hai ngày tại Trung Cộng từ 26 đến 27/08 (2014) của đặc phái viên Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã không đem chút thắng lợi nào về cho Việt Nam.

Cũng nên biết, chính Trung Quốc là nước đã gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay ở Biển Đông khi họ tự vi phạm "Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông" (DOC) ký tại Nam Vang (Kampuchia) ngày 04 tháng 11 năm 2002 giữa Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Hoa.

Và cũng chính Trung Quốc đã tìm mọi cách trì hoãn thương thuyết "Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên Biển Đông" (COC), trong đó có lý do chính là chỉ đồng ý đối thoại trực tiếp với các nước có tranh chấp biển đảo với Bắc Kinh, thay vì Quốc tế hóa hay nói chuyện Biển Đông với ASEAN như một khối.

Do đó, việc lập lại những chuyện “ai cũng biết rồi khổ lắm nói mãi” về hứa hẹn của Bắc Kinh đối với DOC và COC trong cuộc họp Nguyễn Phú Trọng-Tập Cận Bình chiều ngày 7/4/2015 chẳng qua chỉ nhằm kéo dài sự từ chối nói chuyện nghiêm chỉnh để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông của phía Trung Hoa mà thôi.

Cam kết của ông Nguyễn Phú Trọng với ông Tập Cận Bình đồng ý “thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ trong năm 2015” cũng toàn là chuyện hai nước đã thảo luận nhưng chưa dứt điểm trong suốt 2 năm qua.

Lý do vì Trung Quốc luôn luôn muốn phần hơn về mình và ép Việt Nam phải “vì đại cuộc quan hệ vừa là đồng chí vừa là anh em” và vì “phương châm 16 chữ vàng, tinh thần 4 tốt” (“láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt" mà chấp nhận yêu cầu “gác tranh chấp để cùng khai thác” của Trung Quốc.

Lập trường “gác tranh chấp cùng khai thác”, đúng ra, theo lời của Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đưa ra năm 1979 là “biển của ta, hãy gác tranh chấp để cùng khai thác”.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Hoa, Chủ tịch nhà nước Tập Cận Bình cũng đã lập lại chủ trương này tại phiên họp ngày 30/11/2013 với Bộ Chính trị.

Ông ta nói: “Trung Quốc phải kiên trì phương châm "chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác" để thúc đẩy các hoạt động hợp tác hữu nghị cùng có lợi.” ( Báo Giáo dục Việt Nam, 01/08/2013)

Họ Tập đưa ra lập trường này sau khi ông và Thủ tướng Lý Khắc Cường (Li Keqiang) hoàn tất chuyến công du ngoại giao cổ võ thân thiện với một số nước quan trọng trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) gồm Nam Dương, Mã Lai Á, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam.

Chủ trương “hợp tác cùng phát triển” giữa Trung Cộng và Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế biên giới; giao thông đường bộ giữa hai nước; các dự án kinh tế có lợi cho Trung Cộng trong nội địa hai miền Nam và Bắc Việt Nam và hợp tác trên biển đã được hoàn tất trong chuyến thăm “vắn tắt” Việt Nam 2 ngày từ 13 đến 15/10/2013 của Thủ tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường (Li Keqiang).

Ở giữa hay ra bên ngoài?

Như vậy, những gì được lập lại giữa ông Trọng và Tập Cận Bình về việc khai thác chung ở “vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ” là ở đâu nếu không phải là ở Biển Đông?

Vậy có gì khác với thỏa hiệp ký kết giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 20/06/2013 tại Bắc Kinh?

Hồi đó một “thỏa hiệp mới được phía Việt Nam gọi là “gia hạn” và “sửa đổi” lần thứ 4 hợp tác giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tổng Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (China National Offshore Oil Corporation, CNOOC), thì diện tích tìm kiếm chung sẽ mở rộng từ 1541 cây số vuông lên thành 4076 cây số vuông. Và hiệu lực của Thỏa thuận Thăm dò Chung có hiệu lực đến hết năm 2016.”

Khi đó ông Đỗ Văn Hậu- Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã giải thích về nguồn gốc của thỏa thuận giữa hai nước như thế này: “Theo Quy định tại Điều 7 của Hiệp định Việt Nam- Trung Quốc về Phân định Lãnh hải, Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ (ký ngày 25/12/2000 và có hiệu lực từ ngày 20/6/2004), nếu có các mỏ dầu khí vắt ngang qua Đường Phân định, hai nước sẽ cùng nhau hợp tác khai thác chung.

Từ năm 2005, Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Việt Nam, nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Tổng Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã ký kết và thực hiện Thỏa thuận Khung về hợp tác dầu khí trong Khu vực Thỏa thuận Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ. Trên cơ sở kết quả thực hiện Thỏa thuận Khung, Thỏa thuận Thăm dò chung Việt Nam- Trung Quốc trong Khu vực xác định Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa Petrovietnam và CNOOC ngày 6/11/2006 và có hiệu lực từ ngày 2/1/2007, sau khi được Chính phủ hai nước phê chuẩn.”

Khi nói về “hợp tác cùng phát triển” ở vịnh Bắc Bộ dựa theo Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ hai nước ký ngày 25/11/2000 thì cũng có sự “khác biệt rất quan trọng” giữa Tuyên bố chung Hà Nội ngày 15/10/2013 và lời tuyên bố sau đó của Thủ tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường.

Tuyên bố chung viết: “Hai bên nhất trí tăng cường chỉ đạo đối với các cơ chế đàm phán và tham vấn hiện có, gia tăng cường độ làm việc của Nhóm công tác vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và Nhóm công tác cấp chuyên viên về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển. Trên nguyên tắc dễ trước khó sau, tuần tự tiệm tiến, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này và trong năm nay khởi động khảo sát chung ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ để thực hiện nhiệm vụ đàm phán của Nhóm công tác về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Nhanh chóng thực hiện các Dự án hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển như Hợp tác nghiên cứu quản lý môi trường biển và hải đảo vùng Vịnh Bắc Bộ…”

Tuy nhiên sau đó ông Lý Khắc Cường được Tân Hoa Xã (Xinhua News Agency) của Bắc Kinh tường thuật trong bản tin tiếng Anh ngày 16/10/2013 viết rằng: “The cooperation of maritime exploration will be primarily focused on the Beibu Gulf, and later extended to further areas, Li said, adding that the bilateral drive is to tell the region and the world that the South China Sea has to be a peaceful and tranquil area.

Both China and Vietnam have the wisdom to properly handle their differences and prevent the South China Sea issue from disrupting the overall cooperation, Li said.”

(Tạm dịch: “Hợp tác trên biển sẽ tiên khởi tập trung vào khu vịnh Bắc Bộ, và SAU ĐÓ MỞ RỘNG QUA CÁC KHU VỰC KHÁC, theo lời ông Lý thì sự hợp tác song phương này nhằm chứng minh với các nước trong khu vực và thế giới thấy rằng vùng biển Nam Trung Quốc sẽ là khu vực hòa bình và an toàn. Trung Quốc và Việt Nam cùng có thiện chí giải quyết những khác biệt và ngăn chặn vấn đề biển Nam Trung Quốc làm phương hại đến sự hợp tác toàn diện của hai nước.”).

“Khu vực khác” mà Trung Cộng nhắm tới không phải là vùng biển Trường Sa của Việt Nam thì ở đâu?

Phải chăng đó là lý do các bản tin của báo chí Việt Nam đã xác nhận vấn đề Biển Đông vẫn còn gai góc cho cả hai nước Việt-Trung trong cuộc họp Nguyễn Phú Trọng-Tập Cận Bình?

TTXVN tường thuật từ Bắc Kinh chiếu 7/4 (2015): “Bên cạnh đó, hai Tổng Bí thư cũng cho rằng quan hệ hai nước cũng có giai đoạn khó khăn, hiện nay một số lĩnh vực hợp tác giữa hai nước chưa đi vào thực chất, hiệu quả chưa cao; trở ngại lớn nhất chính là sự tin cậy chính trị chưa cao, chủ yếu là do bất đồng trong cách ứng xử, giải quyết vấn đề trên Biển Đông, tác động tiêu cực đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực diễn biến phức tạp, cả hai nước đều đang đứng trước nhiều cơ hội to lớn nhưng thách thức cũng không nhỏ. Để tranh thủ được thời cơ, đối phó hiệu quả với thách thức, hơn bao giờ hết hai Đảng, hai nước cần tăng cường hợp tác hữu nghị, xử lý thỏa đáng bất đồng, cùng tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để tập trung hợp tác, phát triển đất nước vì lợi ích của nhân dân hai nước, của cộng đồng khu vực và quốc tế.”

Nhưng “tin cậy chính trị chưa cao” và "bất đồng trong cách ứng xử, giải quyết vấn đề trên Biển Đông" giữa hai nước Việt-Trung là ở chỗ nào mà hai ông Trọng và Tập Cận Bình không muốn cho dân hai nước biết, hay đó là cách nói có ngụ ý trách móc, đỗ lỗi thất bại cho Việt Nam của riêng Tập Cận Bình?

Vì vậy mà bài viết tiếng Anh của Tân Hoa Xã (Xinhua) từ Bắc Kinh ngày 7/4 (2015) đã trích lời họ Tập nói rằng: “Xi said China and Vietnam are facing both new opportunities and challenges as the international situation is undergoing complex and profound changes He suggested the two parties, as well as the two countries, boost high-level interactions to find out new solutions to their problems and new ideas to advance the bilateral relationship in a sustained way.”

(Tạm dịch: "Chủ tịch Tập nói Trung Quốc và Việt Nam đang phải đồi phó với cơ hội cũng như thử thách trong khi tình hình quốc tế càng ngày càng phức tạp và thay đổi không ngừng. Do đó, ông đề nghị hai đảng cũng như hai nước phải tăng cường hợp tác để tìm ra giải pháp mới cho những vấn đề quan hệ hai nước, cũng như những sáng kiến mới để phát triển quan hệ song phương bền vững.”)

Nhưng đằng sau lời lẽ ngoại giao mềm mỏng này của họ Tập đã khiến ông Trọng có phản ứng ra sao?

TTXVN viết: “Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định phát triển ổn định, bền vững quan hệ hợp tác hữu nghị với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, lâu dài và là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.”

Nhưng làm sao mà nhân dân Việt Nam có thể “phát triển ổn định, bền vững quan hệ hợp tác hữu nghị với Trung Quốc” khi Bắc Kinh không ngừng lấn chiếm biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông và khống chế Việt Nam về mặt kinh tế, chính trị và ngoại giao?

Ấy thế mà ông Trọng vẫn có thể hồ hởi hợp ca với Tập Cận Bình: “Mối quan hệ láng giềng hữu nghị “vừa là đồng chí, vừa là anh em” do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng nhiều thế hệ lãnh đạo tiền bối hai nước dày công vun đắp là nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của mỗi nước; là tài sản chung quý báu của hai Đảng và nhân dân hai nước, cần luôn được trân trọng, giữ gìn và không ngừng kế thừa, phát huy.”

Nếu là đồng chí, là anh em thì tại sao Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của Trung Quốc đã ngang ngược tuyên bố ngày 8/3 rằng: “Trung Quốc đang tiến hành xây dựng đảo nhân tạo cần thiết trong khu vực chủ quyền và điều này không gây ảnh hưởng đến ai. Chúng tôi không giống như một số quốc gia khác tiến hành xây dựng trái phép trong khu vực của người khác. Chúng tôi chỉ xây dựng đảo ngay trên sân nhà của chúng tôi”.

Vương Nghị đã nói như thế bên lề kỳ họp thường niên của Quốc hội ở Bắc Kinh để trả lời câu hỏi về việc Trung Hoa đang tái tạo 6 đá ngầm chiếm được của Việt Nam ở Trường Sa thành các đảo.

Thông cáo chung nói gì?

Lập luận nhuộm máu thực dân và bá quyền của Vương Nghị có khác với những lời nói mềm mỏng nhưng đầy ẩn ý của Tập Cận Bình với ông Nguyễn Phú Trọng không, hay phía Việt Nam, nạn nhân của người phương Bắc hàng nghìn năm, vẫn còn mơ hồ như đã viết trong Thông cáo chung Việt Nam-Trung Quốc, phổ biến ngày 8/4/2015, 2 ngày trước khi ông Nguyễn Phú Trọng kết thúc chuyến thăm?

Trong số 9 điểm có nội dung phấn khởi và tin tưởng như hai nước chưa hề có chuyện gì xẩy ra, những điểm sau đây đáng chú ý:

“Hai bên nhất trí cho rằng chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt - Trung phát triển ổn định, lành mạnh vì lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, đồng thời góp phần thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới."

Có thành công “tốt đẹp” không khi mà ông Trọng phải đồng ý với những đỏi hỏi của Tập Cận Bình, bằng chứng như:

“Hai bên bày tỏ vui mừng trước những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của mỗi nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhấn mạnh kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường phát triển xã hội chủ nghĩa đặc trưng của mỗi nước là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước. Hai bên sẽ tiếp tục nỗ lực, học hỏi lẫn nhau, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của Việt Nam và sự nghiệp cải cách, mở cửa của Trung Quốc phát triển về phía trước, không ngừng tạo sức sống mới cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.”

Đây là một kết luận sai lầm và nguy hiểm cho quyền làm chủ đất nước của người dân Việt Nam, bởi vì lợi ích của Trung Hoa chưa hẳn sẽ đem lại phúc lợi cho nhân dân Việt Nam. Và khi đảng CSVN không dám để cho dân tự quyết về tương lai chính trị của mình vì ngày nào Trung Quốc còn duy trì Chủ nghĩa Xã hội Cộng sản thì Việt Nam vẫn còn phải kiên định với Mác-Lênin thì chậm tiến và tụt hậu sẽ tiếp tục chận đường tiến về phía trước của dân tộc.

Điểm sai lầm khác là khi Thông cáo chung đã đồng hóa quan niệm về láng giềng khi viết rằng: “Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng quan trọng của nhau, nhất trí cho rằng hai nước có chế độ chính trị tương đồng, có con đường phát triển gần gũi, có tiền đồ vận mệnh tương quan, sự phát triển của nước này là cơ hội quan trọng cho nước kia… Hai bên nhấn mạnh, Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục kiên trì nỗ lực thực hiện tốt phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, luôn nắm vững phương hướng phát triển của quan hệ Việt - Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt - Trung không ngừng phát triển lên phía trước…”

Để rồi ông Nguyễn Phú Trọng phải hứa: “Sớm ký "Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên du lịch khu vực Thác Bản Giốc" và "Hiệp định về quy chế tàu thuyền tự do đi lại tại khu vực cửa sông Bắc Luân"; cùng duy trì bảo vệ sự ổn định và phát triển của khu vực biên giới. Phát huy tốt vai trò của Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới đất liền Việt - Trung; tăng cường xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng cửa khẩu biên giới hai bên, nâng cao mức độ mở cửa hợp tác của các cửa khẩu biên giới hai nước. Tăng cường hợp tác giữa các tỉnh/khu biên giới hai bên, thúc đẩy cùng phát triển khu vực biên giới hai nước."

Những thỏa hiệp này được khai thác từ Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt - Trung ngày 30 tháng 12 năm 1999, cơ bản đã gây bất lợi mất đất, mất 2/3 thác Bản Giốc và Mục Nam Quan đã có trong sách sử Việt Nam hàng ngàn năm.

Những cam kết của ông Trọng chỉ xác nhận một lần nữa sự nhượng bộ không cưỡng lại được của Việt Nam Cộng sản trước áp lực của Tập Cận Bình.

Sau cùng nhưng quan trọng là vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Bản Thông cáo chung không nói lên được điều gì để ông Nguyễn Phú Trọng có thể bảo đảm rằng chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông đã được vẹn tòan và buộc Trung Quốc phải ngưng ngay việc lấn chiếm ở Trường Sa.

Nội dung phần này không có gì mới hơn những điều Tác giả bài này (Phạm Trần) đã trình bầy ở phần trên, ngoại trừ hai bên tiếp tục lập lại nhất trí làm những việc chỉ có lợi cho Trung Hoa: “Thúc đẩy hoạt động của Nhóm bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ trong năm nay.”

Như vậy, nếu bảo chuyến đi Trung Hoa 10 ngày của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã “thành công tốt đẹp, góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt - Trung phát triển ổn định, lành mạnh vì lợi ích căn bản của nhân dân hai nước” là hoàn toàn nói ngoa. -/-

(04/2015)









Phạm Trần

__._,_.___

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image


NỖI ĐAU CỦA CẢ DÂN TỘC: CUỘC CHIẾN NAM – BẮC PHÂN TRANH


Phạm Đình Nhiên
Tại hội nghị Genève Thụy Sĩ ngày 20-7-1954 nước Việt Nam bị phe tư bản và cộng sản chia đôi lấy sông Bến Hải làm gianh giới . Miền Bắc thuộc khối Nga Tàu, miền Nam là Mỹ Pháp . Cuộc chiến tranh lạnh giữa Tư Bản và Cộng Sản kéo dài gay gắt từ ngay sau thế chiến thứ II và ba nước nằm trong lằn ranh tranh chấp ấy bị chia đôi là Đức , Triều Tiên năm 1945 và Việt Nam năm 1954 . Trên bàn cờ quốc tế bấy giờ, Đông – Tây Đức, Nam – Bắc Triều Tiên, Nam – Bắc Việt Nam nằm trên tuyến đối đầu và rất dễ biến thành những con tốt thí cho cuộc chiến tranh lạnh nếu những người lãnh đạo không có bản lãnh, khôn ngoan, không biết nhìn xa, trông rộng, nhất là không có lòng yêu nước sẽ dễ dàng bị ngoại bang lung lạc, sai khiến .

Tuy trong cùng hoàn cảnh phân chia nhưng dân tộc Đức và Triều Tiên không bị thảm cảnh nồi da xáo thịt như Việt Nam . Miền Bắc Triều Tiên trải qua ba đời cai trị tàn bạo của triều đại cộng sản nhà họ Kim (Kim nhật Thành, Kim jong Il, Kim jong Un) cũng không gây ra cuộc chiến giữa 2 miền Nam – Bắc sau khi cuộc chiến Trung Cộng và Mỹ chấm dứt năm 1953 . Hiện nay Nam Triều Tiên là nền kinh tế đứng hàng 11 thế giới .

Hai miền Đông – Tây Đức thay vì gây ra cảnh nồi da xáo thịt thì cả hai đều lo kiến thiết đất nước bị tàn phá tan hoang trong thế chiến thứ 2 thành 2 nền kinh tế vững vàng . Đông Đức Cộng Sản có đời sống cao nhất trong khối Cộng Sản , vượt trên cả Liên Xô . Sau 44 năm bị phân chia, dân tộc Đức thống nhất hoàn toàn chi trong 1 buổi tối, không tốn 1 viên đạn, không một người chết, không một ngôi nhà, một mảnh vườn bị tàn phá . Đó là tối 9/11/1989 khi bức tường Berlin, biểu tượng của sự chia cắt, sụp đổ .

Dân tộc Đức thực hiện cuộc thống nhất kỳ diệu: không có kẻ chiến thắng, không có kẻ chiến bại : chỉ có một dân tộc Đức hợp làm một, một dân tộc Đức thống nhất !
Trong khi đó dân tộc Việt Nam chịu nỗi bất hạnh của hơn 10 triệu tấn bom đạn đổ lên đầu, không biết bao nhiêu xe tăng, thiết giáp, máy bay, hoả tiễn, đại bác từ phía cộng sản và tư bản quần thảo, bắn phá gần 20 năm trời gây biết bao tàn phá , chết chóc ở cả Miền Nam lẫn Miền Bắc .
Trước hết nói về số người chết, dù là miền Bắc hay Miền Nam, thì tất cả đều là người Việt, con dân nước Việt . Máu , thịt đổ ra ở miền nào thì cũng là máu thịt Việt Nam ! Có bao nhiêu triệu người Việt Nam chết trong cuộc chiến tương tàn này ?

Kẻ thắng là chính quyền Cộng Sản từ khi chấm dứt chiến tranh đến nay chưa bao giờ dám công bố tổng số người chết trong cuộc chiến vì 2 lý do: thứ nhất, nếu công bố tổng số con số người chết rõ ràng thì cuộc chiến thắng của họ trả bằng cái giá xương máu quá đắt của dân tộc Việt Nam; thứ hai, họ không dám đứng ra nhận trách nhiệm về cuộc tiến quân vào miền Nam mà nếu biết nhìn xa, trông rộng, nếu có tấm lòng thương đến giống nòi, đất nước thì phải giữ yên 2 bờ chiến tuyến bị bắt buộc phân chia, rồi chờ cơ hội thuận tiện xum họp Nam Bắc một nhà .

Dân tộc Đức đã làm như thế và dân tộc Triều Tiên rồi cũng sẽ làm như thế !
Cố Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đại Lão Hoà Thương Thích huyền Quang từng nói đảng Cộng Sản Việt Nam giết chết 10 triệu người từ năm 1945 đến sau khi tàn cuộc chiến 1975, trong đó có gần 1 triệu chết trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất .

Ông Nguyễn minh Cần, cựu phó Chủ Tịch Hànội hiện đang sống ở Nga, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 25.2.2015 ước lượng cuộc chiến tranh tương tàn Bắc – Nam vừa qua “gây chết chóc 6 triệu người hay thậm chí còn lớn hơn .”

Từ điển Bách Khoa Wikipedia viết số người thiệt mạng trong chiến tranh Việt Nam từ 3 tới 5 triệu người, hàng triệu người bị tàn tật . Về thường dân có từ 900 ngàn tới 4 triệu người, trong đó 2 triệu ở miền Bắc và 2 triệu ở miền Nam . Tài liệu của Wikipedia không đáng tin cậy : Thứ nhất, con số ước lượng từ 900 ngàn tới 4 triệu có khoảng cách quá xa . Thứ hai, đã nói từ 900 ngàn tới 4 triệu mà lại nói 2 triệu ở miền Bắc và 2 triệu ỏ miền Nam là không hợp lý .

Căn cứ vào số bom đạn, số vũ khí tối tân có khả năng tàn sát lớn, trận địa mở rộng khắp miền Nam từ miền núi tới đồng bằng, từ thành thị tới nông thôn kéo dài tới gần 20 năm và sự tàn sát không nương tay thì con số do cố Đại Lão Hoà Thượng Thích Huyền Quang và ông Nguyễn minh Cần đưa ra hợp lý hơn .

Những người bị buộc phải trực tiếp cầm súng giết hại lẫn nhau ở hai miền là bao nhiêu ?
Miền Bắc theo sách lược chiến tranh toàn diện, tức động viên toàn bộ nhân vật lực, ở thôn làng vắng bóng thanh niên . Phụ nữ bị động viên vào dân quân, thanh niên xung phong hay lao động các nông trường . Thiếu niên 16, 17 chưa đủ tuổi Đảng cho vay để bắt đi bộ đội vào miền Nam .
Ở miền Nam thanh niên lớn lên 18, 19 tuổi là bị bắt lính, trừ những người còn đi học . Nhưng sổ lính chờ sẵn nếu thi rớt là bị gọi ngay :

Rớt Tú Tài anh đi trung sĩ,
Em ở nhà làm đĩ nuôi con .
Khi nào con lớn con khôn,
Nhắc con làm lễ chiêu hồn cho anh ! (Ca dao)

Sao lại làm lễ chiêu hồn ? – Lễ chiêu hồn ngày xưa dành cho những người chết không lấy được xác như đắm đò, té xuống sông bị dòng nước cuốn đi, lên rừng bị cọp tha xác mầt, linh hồn vơ vẩn không biết đường về nên người ta lập đàn chiêu hồn trên bờ sống, nơi mé rừng (để gọi hồn) .

Ở đây người “chinh phu”nghĩ rằng trong tình trạng chiến tranh khốc liệt như thế mong gì ngày trở về :” Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi “( Vương Hàn) . Xác phơi nắng, phơi sương ngoài đồng hoang, rừng sâu, núi thẳm lấy “ ai mạc (vẽ hình để thờ), lấy ai gọi hồn”CPM .
Không biết ở miền Bắc có những câu ca dao tương tự không ?
Từ Nam chí Bắc không nhà nào, không thôn xóm nào không có người chết trận .
Con số những thanh niên ở cả 2 miền Nam – Bắc bị bắt buộc cầm súng giết nhau là bao nhiêu ?

Sau năm 1975, người ta tổng kê được 3.608.863 khẩu súng bộ binh của miền Bắc và 1.900.000 khẩu súng bộ binh của miền Nam do Liên Xô, Trung quốc, các nước Đông Âu và Mỹ, Pháp chế tạo, cung cấp , chưa kể đại bác, hoả tiễn, máy bay, xe tăng, thiết giáp . . . . Như vậy ở miền Bắc ít nhất có 5 triệu người cầm súng và miền Nam ít nhất là trên 3 triệu vì những người bị chết, bị thương, quá tuổi được giải ngũ súng lại trao cho người khác . Tất cả có khoảng 8 hay 9 triệu người Việt Nam cầm súng bắn giết nhau !
Số tổn thất của miền Bắc : Theo tài liệu “Lịch Sử Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước (1954-1975) của nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia đã xuất bản thì tống số bộ đội chết trận là 1.100.000, kể cả 300ngàn không lấy được xác và 600 ngàn bị thương hay bị bệnh . Theo tài liệu mới nhất của Bộ Lao Động-Thương Binh Xã Hội thì:

-Cho đến năm 2012 cả nước qui tập được: 937.000 hài cốt liệt sĩ (*)
-Trong 2 năm 2013 và 2014 tìm thêm được: 90.000 hài cốt nữa .
-Số hài cốt liệt sĩ chưa kiếm được là : 214.000
——————————
Tổng cộng : 1.241.000 người chết .

Con số này không đáng tin cậy vì từ xưa đến nay chính quyền Cộng sản không bao giờ thành thật, người ta không dại gì đưa ra con số tổn thất lớn lao có hại về chính trị, dư luận bất lợi và nhất là trách nhiệm trước lịch sử .
Phần quân đội Mỹ, họ ước đoán giết khoảng 500.000 bộ đội (10 đổi 1), quân đội miền Nam giết khoảng 400.000 . Con số này có lẽ là con số bộ đội bị giết trong thời gian quân Mỹ tham chiến (1965-1974), còn thời gian trước đó từ 1957,1958 đến 1965 là bao nhiêu ? – Ít nhất cũng từ 500.000 đến 700.000 nữa chưa kể con số chết khi vượt núi rừng Trường sơn vào Nam : “ cứ 10 người lính thì chỉ 5 – 6 người tới Miền Nam còn lại bị chết vì bệnh sốt rét, rắn cắn, kiệt sức hay tai nạn” .(Vi Wikipedia) . Như vậy số binh sĩ Miền Bắc chết trong trận chiến khoảng 2 triệu người hay hơn nữa .

Số tổn thất của Miền Nam : Lewy dẫn tài liệu lưu trữ của Bộ Quốc Phòng Mỹ là 220.357 binh lính tử trận từ 1965 đến 1974, nhà sử học R.J. Rummel ước tính cao nhất là 316.000 tử trận . Số liệu của Bộ QP Mỹ chỉ ghi từ khi quân đội Mỹ có mặt ở Việt Nam 9 năm, non nửa thời gian cuộc chiến và có lẽ chỉ ghi sự tổn thất của lực lượng chính qui, không ghi các lực lượng bán quân sư như Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát và lực lương dân sự như cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, các viên chức Xã, Ấp . Chỉ riêng con số các viên chức Xã, Ấp ở miền Nam bị ám sát, bắt cóc thủ tiêu, theo Giáo Sư Sử Học Phạm cao Dương, đã lên tới khoảng 150.000 người bị giết hại do chính sách khủng bố của chính quyền Cộng Sản suốt cuộc chiến gần 20 năm trời .

Trong 1 cuộc khảo sát tại kho Lưu Trữ Hồ Sơ của Nha Hưu Bổng Cấp Dưỡng Bộ Cựu Chiến Binh ở Saigòn cuối năm 1973, chúng tôi ghi nhận có khoảng 1.050.000 hồ sơ cả cấp dưỡng và hưu bổng, trong đó hồ sơ Hưu Bổng (cho lính về hưu) chiếm 150.000, còn lại 900.000 là hồ sơ Cấp Dưỡng cho vợ con tử sĩ (quân chủ lực, bán quân sự, dân sự) . Như vậy số người chết vì chiến trận hay liên quan xin cấp dưỡng là 900.000 người . Nhưng chúng ta nhớ là ở Miền Nam phần lớn gọi thanh niên từ 18 đến 25 tuổi vào quân đội, hầu hết những người này lúc bị bắt đi lính chưa lập gia đình nên khi tử trận không có hồ sơ cấp dưỡng . Con số đó là bao nhiêu ?

Theo tôi nghĩ ít nhất là 400.000, 500.000 người .
Số dân chúng chết vì chiến tranh : Người dân là nạn nhân trực tiếp của chiến tranh theo hai nghĩa : Nghĩa thứ nhất, chết do kẹt giữa 2 lằn đạn hoặc bị oanh kích, pháo kích, bị trúng mìn,bị truy đuổi trên Đại Lộ Kinh Hoàng, Quốc lộ 14 ; chết vì bị nghi ngờ theo Việt Cộng, bị tra tấn, đánh đập cho đến chết, chết trong tù; chết vì bị nghi ngờ làm do thám, làm anten cho Quốc Gia là bị giết, bị thủ tiêu . Vào những năm 1960-1970 người dân Saigòn tới Bình Chánh, Nhà Bè câu cá bị nghi là do thám nhiều người bị bắt mất tích ( mang đi thủ tiêu ), một phóng viên của báo Tự Do phụ trách mục phóng sự “Thăm Dân Cho Biết Sự Tình” bị bắt mất tích ở vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long … . Giết lầm hơn thả lầm . Nghĩa thứ hai là đói khát khổ sở, không có ăn (bộ đội còn không đủ ăn -Vi Wikipedia), không có thuốc men, vì sưu cao thuế nặng cho chiến tranh nên nghèo đói, nghĩa vụ lao động nặng nhọc phát bệnh mà chết (miền Bắc); nhà cửa, ruộng vườn bị tàn phá, lang thang đói khổ phát bịnh mà chết (Miền Nam) . Tất cả dân chúng chết trong cuộc chiến Nam – Bắc phân tranh là bao nhiêu ?

Không có con số thống kê . Từ Điển Vi Wikipedia ước lượng cả 2 miền là 4 triệu .
Ôi những con số ! Những con số !
8,9 triệu người Việt Nam cầm súng bắn giết nhau trong gần 20 năm trời !
2 triệu lính Miền Bắc bị giết .
1 triệu rưỡi lính Miền Nam bị giết .
4 triệu người dân bị giết !
Núi xương sông máu !
Bao nhiêu tấm khăn tang?
Bao nhiêu dòng nước mắt ?
Bao nhiêu cô, quả ?
Bao nhiêu nhà cửa, ruộng vườn bị đốt cháy, bị tàn phá ?
Bao nhiêu con đường bị đào bới, bị đặt mìn và bao nhiêu chiếc xe bị nổ tung ?
Bao nhiêu cây cầu bị ném bom, bị đặt mìn giựt sập ?

Ai phát động hay bị bắt buộc phát động cuộc chiến ?
Ai đưa 430.000 quân Trung quốc tới Việt Nam ?
Ai đưa 500.000 quân Mỹ tới Việt Nam ?
Ai trao tay xe tăng T 54 – M48, máy bay T28, F5 – Mig19, Mig21, Sơn pháo 130 ly, hoả tiễn 122 ly – đại pháo 155 ly,175 ly , AK47 – AR15 – dao găm, lưỡi lê, mìm bẫy cho người Việt Nam giết hại lẫn nhau ?

Lịch sử đang và sẽ chỉ ra những người phải chịu trách nhiệm trong cuộc tàn sát vừa qua . Sự kết tội hay nêu tên người này, người khác không phải là mục đich của chúng tôi, chúng tôi chỉ nêu lên cái thảm họa tang tóc, bi đát mà dân tộcViệt Nam phải gánh chịu .

Tội ác của họ, tên tuổi của họ sẽ bị lịch sử ghi lại muôn đời; con cháu họ – cũng giống như con cháu Trấn ích Tắc, Mạc đăng Dung, Lê chiêu Thống . . . – ngàn đời phải mang tiếng xấu của cha ông họ để lại .
Cuộc chiến Nam – Bắc phân tranh đẫm máu này, sau cuộc chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh, là những trang sử đen tối nhất, đáng ghê tởm, đáng trách nhất của lịch sử Việt Nam .

Ước mong rằng con cháu chúng ta mai sau nhìn vào những tấm gương đáng nguyền, đáng trách của người xưa để tránh những thảm cảnh đau đớn cho dân tộc .

Phạm đình Nhiên
Cước Chú : (*) Báo Quân Đội Nhân Dân Online thứ 6, ngày 03/01/2001 cho biết 900.000 hài cốt liệt sĩ đã được qui tập .

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Hillary Clinton với đường hướng mới trong cuộc tranh cử

HÀ TƯỜNG CÁT

Hãy còn quá sớm để dự đoán về cuộc tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2016. Nói rằng một ứng cử viên – đã hay chưa chính thức công bố
tranh cử – đang lên hay đang xuống theo thăm dò dư luận lúc này, sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với kết quả vào tháng 11 năm 2016.
Nhưng các nhân vật có triển vọng kế vị Tổng Thống Obama không thể chậm trễ, họ phải khởi đầu cuộc vận động ngay từ bây giờ.


Image
Dân Biểu Liên Bang Carolyn Maloney, DC-NY, nói chuyện với những người ủng hộ bà Hillary Clinton trong một cuộc mít tinh tại Manhattan
hôm Thứ Bảy 11 tháng 4, trước khi bà chính thức công bố tranh cử Tổng Thống. (Hình: Spencer Platt/Getty Images)



Bà Hillary Rodham Clinton vừa công bố quyết định tranh cử hôm Chủ Nhật. Trên thực tế, bà được coi như dễ dàng thắng ở vòng bầu cử sơ bộ trong đảng Dân Chủ, có nghĩa là khác với các ứng cử viên Cộng Hòa còn cần phải tranh đấu gay go để được đảng mình tấn phong làm ứng cử viên vào giữa năm tới. Như vậy cần chi bà phải loan báo ngay như vậy?

Theo nhận định của tờ báo chính trị Politico, có ba nguyên nhân.

Thứ nhất về luật pháp. Bà đã ký hợp đồng mướn một văn phòng rộng lớn ở Brooklyn làm trụ sở tranh cử trung ương. Theo quy định của Ủy Ban Bầu Cử Liên Bang (FEC), trong vòng 15 ngày khi bắt đầu hoạt động tranh cử, phải làm giấy tờ hồ sơ tuyên bố sự ứng cử.

Thứ hai về khía cạnh chính trị. Khi bà Clinton bị phát hiện và chịu nhiều chỉ trích về vấn đề sử dụng tài khoản emails cá nhân trong thời gian làm ngoại trưởng, bà cố ý trả lời một cách chung chung các lời chất vấn, không giải đáp thỏa mãn các thắc mắc. Việc này làm những người ủng hộ bà lo ngại rằng nếu chưa có một bộ máy tranh cử bà sẽ không nhanh chóng đối đầu được với sự đánh phá của đối phương.

Nguyên nhân thứ ba có tính cách tâm lý. Mọi người đều biết là bà sẽ ứng cử Tổng Thống, vậy tại sao không xác định dứt khoát cho rồi?

Nữ ký giả kỳ cựu có tên tuổi Maureen Dowd trong một bài viết trên tờ New York Times hôm Thứ Bảy, mang tựa đề “Bà ngoại Tổng Tư Lệnh”, phân tích những ưu điểm và nhược điểm của bà Hillary Clinton để dự đoán về cách thức bà sẽ thực hiện trong cuộc tranh cử.

Dowd so sánh John F. Kennedy người có sức thu hút tự nhiên đối với quần chúng, với Richard Nixon người không có khả năng ấy và phải cố gắng tiếp cận từng người để thu phục. Bà Hillary cũng không có sức hấp dẫn như ông chồng, cựu Tổng Thống Bill Clinton, và bà đã có lần thổ lộ với cố vấn Harold Ickes: “Tôi chưa bao giờ nhận ra ưu điểm ấy của Bill, cho đến khi hiểu và cố gắng để được như thế”.

Pat Buchanan, một cựu cố vấn cho Nixon, gần đây nói với tờ tạp chí New York Magazine: “Bà Clinton gợi tôi nhớ lại Nixon”. Theo ông ta, tâm lý hoang tưởng, tính cách bí ẩn và những chuyện tai tiếng – như vụ emails – có thể làm bà rớt đài như vị cựu Tổng Thống Cộng Hòa đã phải từ chức. Ông cho rằng hai người là những chính trị gia thích hợp với những hoạt động hậu trường hơn là trước quần chúng.

Từ đó ký giả Dowd dự đoán bà Clinton sẽ theo phương cách của Nixon chinh phục quần chúng từng người, ở giai đoạn đầu và còn sớm của cuộc tranh cử. Bởi vì bà không thể nào có được cái tác phong cảm hóa cử tri như Bill Clinton hay Barack Obama. Do đó ban tranh cử đã hoạch định cho bà một loạt những sinh hoạt khiêm nhượng, trong phạm vi nhỏ để cảm hóa cử tri. Các chiến lược gia Dân Chủ nói với hai ký giả Anne Gearan và Dan Balz của tờ Washington Post rằng “đường lối chậm rãi và nhỏ bé” sẽ tạo sức mạnh cho bà Clinton.

Bà Clinton không khởi đầu sự ra mắt cử tri giống như Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Ted Cruz với bài diễn từ đọc trước một cử tọa đông đảo tại Liberty University hay những buổi hội kéo dài của Thượng Nghị Sĩ Rand Paul ở Louisville. Bà chỉ công bố quyết định qua một đoạn băng video dài 2 phút. Theo dự trù, bà sẽ xuất hiện trước cử tri trong chuyến đi 4 tiểu bang trong tháng 5 khởi đầu từ Iowa và New Hampshire, hai tiểu bang sẽ tổ chức bầu cử sơ bộ sớm nhất vào đầu năm 2016.

Bà Clinton cũng có thể rút nhiều bài học từ Rahm Emanuel trong cuộc tái tranh cử thị trưởng Chicago rất khó khăn vừa qua. Rahm là giám đốc ủy ban tài chính cho ủy ban tranh cử của Bill Clinton năm 1992, cựu Đổng Lý Văn Phòng tòa Bạch Ốc cho Tổng Thống Obama trong hai năm đầu, sau đó từ nhiệm và đắc cử trở thành thị trưởng dân Do Thái đầu tiên của thành phố Chicago năm 2011. Rahm không dễ dàng tái đắc cử năm 2015 như dư luận chờ đợi mà phải vất vả qua vòng thứ nhì mới thắng cử, do nhiều vấn đề phức tạp của Chicago và đồng thời cũng do cá tính không dễ cảm mến của ông.

Tổng Thống Obama ca ngợi Hillary Clinton có sự phi thường của chính bà và tin rằng nếu thể hiện được tính cách ấy và có những sửa đồi khôn ngoan, bà sẽ trở thành người tuyệt diệu.

Năm 1992, các chiến lược gia của Tổng Thống Bill Clinton đã tìm cách mô tả đệ nhất phu nhân Hillary là một người mẹ nồng nàn, khả ái. Một phần tư thế kỷ sau trên sân khấu chính trị quốc gia, bây giờ bà ngoại 76 tuổi vẫn còn cần phải điều chỉnh lại hình ảnh về mình.

Người ta muốn hiểu lập trường của bà về những vấn đề dân sinh, kinh tế, quốc nội và đối ngoại như thế nào. Nhưng hãy còn quá sớm để bà biểu lộ quan điểm rõ ràng. Bà còn cần phải cân nhắc, nhận định về những thành quả và vấp váp của Tổng Thống Obama không phải ngay bây giờ mà ít nhất một năm nữa. Mặt khác, bà chưa thể biết đối thủ của mình sẽ là nhân vật Cộng Hòa nào nên không thể vội vàng ra đòn trước.

Những người Cộng Hòa sẽ phải tránh vấn đề tế nhị về giới tính khi tấn công người phụ nữ đầu tiên muốn trở thành Tổng Thống Hiệp Chúng Quốc. Nhưng họ đã chuẩn bị sẵn rất nhiều đề mục và ngay khi bà công bố ứng cử, những người Cộng Hòa lên tiếng chỉ trích, phê phán về một loạt nội dung khác nhau. Lập luận rằng tính cách tiếp nối gia đình trong chính trị từ Bill tới Hillary là không tốt đối với chế độ dân chủ Mỹ có thể là võ khí hiệu quả nếu như không có Jeb Bush và Rand Paul trong hàng ngũ Cộng Hòa. Do đó có lẽ trọng tâm công kích sẽ nhắm vào việc bà là một phần trong đường lối ngoại giao của chính quyền Obama và chính sách ấy không được sự tán thành của đa số quần chúng cử tri. Tính cách khả tín của cá nhân bà sẽ bị đả kích qua vụ emails.

Cựu Tổng Thống Bill Clinton có thể là một tài nguyên tốt cho việc vận động, tuy nhiên cũng có những điểm bất lợi. Kinh nghiệm thất bại của bà trước Obama trong giai đoạn bầu cử sơ bộ năm 2008 là kinh nghiệm đáng phải cân nhắc. Tờ New York Times trong tháng 3 đã dự đoán Bill sẽ không xuất hiện nhiều, trong khi Politico số báo mới đây cho rằng hai người đã tìm ra phương cách phối hợp hiệu quả hơn.

Mối quan hệ với truyền thông rất quan trọng và bà Clinton chưa phải là người sẵn sàng đáp ứng tất cả những cái mà các phóng viên muốn tìm hiểu. Cựu Tổng Thống Bill Clinton có lẽ có vai trò trong việc này. Ngoài ra gần đây một loạt những nhân sự mới được tuyển vào ban vận động cho thấy dường như bà Clinton muốn tăng cường các người có liên hệ tốt với báo giới. Các phóng viên thường chú trọng đến những sự kiện lớn và những cuộc vận động trong phạm vi nhỏ thường không phải là mục tiêu nhắm tới, do đó cần phải có phương cách thỏa đáng để bà không có lúc bị gạt qua trong những tin tức hàng đầu của cuộc tranh cử.

Tài chính luôn luôn là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc bầu cử và càng ngày tiền vận động của các ứng cử viên càng lên cao tới những con số kỷ lục. Tin tức từ nội bộ ban tranh cử tiết lộ rằng bà Clinton dự tính vận động gây quỹ được từ $1.5 đến $2 tỷ, vượt số $1.1 tỷ của Obama năm 2012.

Bà Clinton có thể là ứng cử viên thu được nhiều tiền nhất từ trước đến nay nhưng chắc chắn ứng cử viên đối thủ, một người Cộng Hòa nào đó, cũng không thua kém. Cộng thêm với tiền chi ra của các “siêu ủy ban chính trị” và những nhóm ngoại vi khác, cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2016 của hai đảng dự đoán sẽ tốn kém không dưới $5 tỷ.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Sóng Gió Biển Đông

Trần Khải
Căng thẳng Biển Đông có thể dẫn tới chiến tranh hay không? Và nếu chiến tranh, sẽ ở mức độ nào? Đó là những suy nghĩ của các chiến lược gia về một viễn ảnh đáng ngại.

Trong khi đó, bản tin Indo-Asian News Service cho biết rằng Ngoại Trưởng Úc Châu Julie Bishop hôm Thứ Hai 13-4-2015 tuyên bố rằng Úc muốn là “một đối tác chọn lựa cho an ninh về năng lượng của Ấn Độ” và với hai nước cùng chia sẻ “quan điểm tương tự” về tham vọng lãnh thô của Trung Quốc và về quyền lãnh hải không bị ngăn trở, họ có thể làm việc chung nhau để đưa ra Bộ Luật Ứng Xử ở Biển Đông.

Ngoại Trưởng Bishop sẽ thương thuyết với Ngoại Trưởng Ấn Độ Sushma Swaraj vào Thứ Ba.

Nghĩa là, Úc nói thẳng, rằng TQ tham vọng Biển Đông, rằng Úc và Ấn Độ nên hợp tác để bảo đảm quyền lưu thông hàng hải và buộc các nước tuân theo Luật Ứng Xử Biển Đông.

Trong khi đó, bản tin VOA ghi lời một phát ngôn viên của hải quân Indonesia hôm thứ Hai nói nước này muốn tập trận quân sự thường xuyên với Mỹ gần nhóm đảo Natuna dân cư thưa thớt, một khu vực ở Biển Đông gần nơi mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Phát ngôn viên Hải quân Indonesia Manahan Simorangkir cho biết đây là cuộc tập trận chung thứ hai mà Indonesia thực hiện với Mỹ trong khu vực và có kế hoạch tổ chức cuộc tập trận này vào năm sau, cũng như mong muốn cuộc tập trận trở thành sự kiện thường niên.

Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia tuần trước nói với hãng tin Reuters rằng ông sẽ tới nhóm đảo Natuna ở ngoài khơi bờ biển tây bắc của Borneo để hoàn tất kế hoạch nâng cấp những cơ sở quân sự nhỏ bé.

Bản tin VOA viết:

“Các quan chức Indonesia cho biết cuộc tập trận chung với Mỹ và kế hoạch tăng cường quân lực ở Natuna không đáp lại bất kỳ mối đe dọa cụ thể nào.

Tổng thống Indonesia tháng trước nói rằng những tuyên bố chủ quyền chính của Trung Quốc đối với đa số vùng biển tranh chấp là không có cơ sở pháp lý theo luật quốc tế, nhưng Jakarta muốn giữ vị thế là "nước điều giải công tâm" trong một trong những tranh chấp lãnh thổ gai góc nhất của châu Á.

Dù Indonesia không phải là một nước đòi chủ quyền ở Biển Đông, quân đội Indonesia đã cáo buộc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền một số phần của Natuna trong "Đường Chín Đoạn," là ranh giới mơ hồ được sử dụng trên bản đồ của Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tới khoảng 90 phần trăm Biển Đông.” (ngưng trích)

Một bản tin khác cuả VOA có tựa đề “Chuyên gia Nga: Moscova muốn VN trở thành cửa ngõ của Nga vào ASEAN” trong đó ghi nhận:

“Nga đang tìm cách củng cố hơn nữa các quan hệ sẵn có với Việt Nam, và coi Hà Nội là một trong các đối tác chiến lược chủ yếu của Moscova tại Đông Nam Á.

Đó là tựa đề một bài viết đăng trên tờ báo Nga Russia Beyond the Headlines, số ra hôm nay. Tác giả bài báo cho rằng trong bối cảnh các cường quốc thế giới đang tranh giành ảnh hưởng trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, Moscova cũng tìm cách củng cố chỗ đứng đã có tại Việt Nam để mở ra một cánh cửa vào các nước ASEAN. Muốn thực hiện kế hoạch của mình, Nga đang đẩy mạnh các quan hệ thương mại với Hà nội, lên tới 10 tỉ đôla trong 5 năm tới, chủ yếu qua các dự án phát triển hợp tác trong các lĩnh vực: hạt nhân, năng lượng và công nghệ quân sự.

Tác giả bài báo là Giáo sư Vladimir Kolotov, Giám đốc Ban Lịch sử Viễn Đông thuộc Đại Học St. Petersburg. Ông nói một cuộc cạnh tranh ráo riết đã bùng nổ mới đây để tranh giành ảnh hưởng tại Việt Nam, trong bối cảnh các cuộc tranh chấp lãnh thổ trong Biển Nam Trung Hoa, tức Biển Đông, trở nên gay gắt hơn giữa Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, và Philippines...”(ngưng trích)

Mặt khác, một bản tin của RFI có tựa đề “Philippines: Trung Quốc phá hoại rạn san hô ở Biển Đông” cho thấy súng chưa nổ, thiệt hại đã thấy rõ rồi.

RFI viết:

“Philippines hôm nay 13/04/2015 tố cáo, Trung Quốc đã gây thiệt hại lớn lao cho môi trường tại Biển Đông qua việc xây dựng các đảo nhân tạo trên các đảo đá ngầm đang tranh chấp, tiêu hủy các rạn san hô có diện tích rộng gấp ba lần Vatican.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines, ông Charles Jose tuyên bố: «Việc xây dựng của Bắc Kinh đã phá hủy các đảo san hô có diện tích khoảng 300 mẫu Anh, gần gấp ba Thành Vatican, gây thiệt hại kinh tế hàng năm đối với các quốc gia ven biển ước tính khoảng 100 triệu đô la. Các hoạt động quy mô của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền đã gây ra các thiệt hại to lớn không thể phục hồi được cho đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái tại Biển Đông».

Ông Charles Jose còn tố cáo Bắc Kinh dung dưỡng các hành động xâm hại môi trường của các ngư dân Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough, vùng biển phong phú hải sản mà Trung Quốc giành được quyền kiểm soát từ tay Manila từ năm 2012....”

Khó là vậy. Chưa nổ súng, đã thấy mất 100 triệu đôla.

Tới khi nổ súng, chưa biết bản đồ mới sẽ bị vẽ ra sao.

Post Reply