QUÁN BIÊN THUỲ

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Quân nhân, tù nhân và thuyền nhân

Nguyễn Đăng Đường
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Đời Tị Nạn)

Hàng năm cứ vào Tháng Tư lòng tôi buồn buồn có nhiều đêm khó ngủ, quá khứ đau thương miên man hiện về như cuốn phim chiếu chậm,
bao nhiêu năm rồi mà vẫn chưa quên những ngày tháng cũ.

Image
Thuyền nhân Việt Nam. (Hình: Văn Khố Thuyền Nhân)

Đời tôi có hai lần bị xúc động mạnh.

Lần đầu vào năm 1965 khi đơn vị tôi đóng ở Quận Dầu Tiếng, Tỉnh Bình Dương. Chiếc tàu đò Thần Phong xuôi ngược Bình Dương - Dầu Tiếng bị Việt Cộng đón đường treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Người phi công F5 của Mỹ lầm lẫn nên dội một quả bom thật chính xác. Người bạn gái đầu đời của tôi đi trên chuyến tàu đó.

Lần thứ hai, vào ngày 30 tháng 4, 1975 khi Dương Văn Minh kêu gọi quân đội và dân chúng giữ trật tự để bàn giao chánh quyền.

Hai biến cố đó làm tan nát lòng tôi. Riêng ngày 30 tháng 4, 1975 không chỉ làm nát lòng tôi mà còn làm thay đổi vận mạng của tôi nói riêng và của miền Nam Việt Nam nói chung.

Tôi giải ngũ khi đất nước chưa tàn cơn binh lửa và tạm cư tại Quận 8, Sài Gòn. Tuy trở về với đời sống dân sự nhưng tôi vẫn thường băn khoăn đến vận nước nên lòng không mấy lúc bình yên. Rồi việc gì đến phải đến - miền Nam mất!

Tôi bán đổ, bán tháo căn nhà ở Sài Gòn để làm vốn liếng hồi hương vì sợ bị đi vùng kinh tế mới. Đợt đổi tiền đầu tiên làm tôi thua nặng, năm trăm đồng tiền cũ đổi được một đồng tiền mới và chỉ giữ tối đa hai trăm tiền mới mà thôi. Số còn lại ký gửi, muốn lấy ra phải có lý do chánh đáng. Lý do gì đây?

Lao động địa phương, lao động huyện, lao động tỉnh, đào kênh, đắp đê, nghĩa trang liệt sĩ, đắp đường biên giới để đánh Miên đều có tôi. Những năm thất mùa ăn bo bo thay gạo, tôi tập làm “người quân tử ăn chẳng cần no.” Sau vài ba năm, tôi già trước tuổi. Tuy thân tàn nhưng ma chưa dại, lúc nào tôi cũng mang tâm sự của tác giả “Thăng Long Thành Hoài Cổ.”

Một hôm giữa năm 1979, anh tôi dẫn về mấy người khách lạ. Sau vài ba câu chuyện thời sự mở đầu, một người trông rất có vẻ là cấp chỉ huy nói với tôi rằng qua sự giới thiệu của anh tôi, anh ta biết rất nhiều về tôi. Hôm nay, anh đến để mời tôi vào tổ chức. Từ ngày đó tôi là thành viên của “Lực Lượng Phục Hưng Quốc Gia Việt Nam,” vùng hoạt động là tỉnh Long An. Tôi sống trong niềm tin, hy vọng và đợi chờ.

Đến năm 1983, vì một lý do rất tầm thường, tổ chức bị bại lộ. Tôi bị bắt ngày 21 tháng 7, 1983 cùng với nhiều người khác. Tôi bị nhốt tại khám lớn Long An 18 tháng rồi đi lao động tại trại cải tạo Mộc Hóa. Đến ngày 1 tháng 9, 1985, tôi được trả tự do nhưng phải bị quản chế tại địa phương 12 tháng. Nhưng hết 12 tháng lại bị quản chế tiếp vì lý do “tư tưởng chưa tốt.” Đến năm 1989, dân chúng địa phương xin giùm tôi mới được tha.

Thời điểm này tôi muốn bỏ nước ra đi nhưng làm sao đi được vì mình là một tên tù mạt vận. May thay có tin người cháu sắp làm một chuyến vượt biên, tôi tiếp xúc và được hứa giúp đỡ. Tôi phải đạp xe ba mươi hai cây số từ nhà lên Sài Gòn nhiều lần để giữ liên lạc vì ngày đi không được biết trước. Vợ con tôi hoàn toàn không biết tôi đang toan tính chuyện gì. Lần sau cùng vào một ngày đầu tháng 10 năm 1989, tôi lên Sài Gòn rồi không trở về nữa. Tôi đi vượt biên.

Tàu đậu tại cảng Bến Đình, Vũng Tàu, tôi được đưa ra tàu trước một ngày để kiểm tra tổng quát và thay thế một thủy thủ không đi. Sáng hôm sau, chủ tàu có mặt và cho tàu chạy ngược về hướng Sài Gòn với tốc độ chậm. Hơn một giờ sau, ghe “tắc xi” từ Sài Gòn ra tới. Cả hai chiếc cùng quẹo vào nhánh sông vắng cho người qua tàu lớn, chui xuống hầm kín rồi chia tay. Ghe nhỏ trở về, còn tàu lớn quay ra cửa biển Vũng Tàu rồi trực chỉ hải phận quốc tế.

Tàu dài chỉ mười bốn thước dự trù chứa bốn mươi người, nhưng vì chủ tàu cũng đi luôn nên dân “tắc xi” lợi dụng cơ hội đưa ra tới chín mươi hai người. Tính luôn thủy thủ đoàn tám người nữa là chẵn một trăm người. Sau này, chúng tôi có tên là “Tàu một trăm.”

Tàu nhỏ đông người, chỗ tốt dành cho đàn bà trẻ con, đàn ông ngủ ngồi hoặc nằm co theo kiểu tôm kho. Ngày đầu chưa quen sóng gió nên bà con thi nhau mửa. Thời gian còn tại ngũ, tôi đã làm quen với ghe tàu nên không bị say sóng. Tôi phải lấy nước cho những người đã mửa rồi lại đưa thau, đưa thùng, đưa tô, đưa chén cho những người sắp mửa. Tàu có hai tài công thì một người đã ở lại, tôi phải làm tài công phụ bất đắc dĩ dù chưa được huấn luyện ngày nào. Tôi cũng làm người canh giữ và phân phát nước uống vì sợ không khéo cả tàu chết khát. Ban đêm, tôi lại ngồi trò chuyện với tài công chánh vì sợ anh ta còn trẻ dễ ngủ gật. Tôi là người bận rộn nhất tàu.

Tôi không ngủ ngồi được khi tàu chạy lắc lư, nên cứ thức. Có lần thằng con của anh thuyền trưởng không kiềm chế được nên mửa vào lưng tôi, chiếc áo bộ đội mới mua được cởi ra tẩy vội rồi mặc tiếp.

Vì được hứa cho đi miễn phí nên tôi phải làm một cái gì đó cho chuyến đi. Sau này định cư rồi, lời hứa đó không được giữ tôi cũng đã trả xong món nợ nghĩa ơn.

Người đông nên tàu chạy chậm, thiếu dầu, thiếu nước uống, thiếu lương thực. Bốn ngày, ba đêm trên biển chúng tôi kêu cứu nhiều lần nhưng không tàu nào dừng lại cả. Đến giữa đêm thứ tư gặp giàn khoan Nam Dương, chúng tôi được cứu. Họ tốt quá! Họ cho dầu, cho nước uống, cho lương thực, giúp đánh điện tín về Việt Nam, rồi chỉ hướng vào Nam Dương.

Trưa hôm sau, tàu tới đất liền nhưng vì không có bản đồ nội địa nên chúng tôi không tìm được đảo KuKu, nơi có Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc. Thủy Quân Lục Chiến Nam Dương thay vì chỉ đường đi KuKu họ lại dẫn chúng tôi về đảo Tarempa, một căn cứ quân sự. Họ tịch thu tất cả tư trang, giấy tờ cá nhân của phái nam, còn phái nữ được ông trung tá trưởng đảo đưa vào phòng kín khám xét đặc biệt hơn nữa.

Cô thông ngôn không bị khám xét nên cất giữ được một số giấy tờ quan trọng của tôi. Hôm sau, ông trung tá bảo chúng tôi trở về Việt Nam. Đã đoán trước, nên chủ tàu phá máy, thợ của họ sửa hoài không được nên phải gọi tàu khác đưa chúng tôi tới đảo KuKu. Đến KuKu thuyền trưởng của tàu này chưa cho chúng tôi lên đảo, ông ta đòi tiền rồi dụ cô thông ngôn vào phòng hãm hiếp. Cô thông ngôn nhảy xuống biển, họ vớt lên và cho chúng tôi vào đảo. Từ tàu lớn sang ghe nhỏ để lên bờ, một thanh niên bị dập nát chân, vì vậy sáng hôm sau chúng tôi được vào đảo Galang thay vì phải ở lại đảo KuKu hai tuần nữa.

Chúng tôi đặt chân lên trại Galang I ngày 6 tháng 10, 1989. Tôi mặc áo bộ đội, đầu không nón, tay không xách, đi chân đất khập khễnh bước lên đảo. Đêm ngủ lại đảo Tarempa đôi dép và cái xách tay của tôi không cánh mà bay. Ông đại diện thuyền nhân trại Galang I đón chúng tôi và bảo ai mặc đồ bộ đội thì bỏ đi. Thế là tôi chỉ còn có quần tây, áo thun mà thôi, thật thảm thương.

Ở Galang I mấy hôm để làm lý lịch và các thủ tục khác, chúng tôi được chuyển vào trại Galang II. Đường dài khoảng năm cây số, hẹp và quanh co. Tài xế Nam Dương lái xe như bay làm chúng tôi ngất ngư. Chúng tôi lần lượt được vào khu Biệt Lập rồi Zone B. Một barrack mười phòng có tầng trên tầng dưới, vừa đủ cho một trăm người chúng tôi xây dựng cuộc đời mới - đời tị nạn.

Đời tôi gắn liền với ba chữ “nhân” đó là quân nhân, tù nhân và thuyền nhân.

Trước khi thuyền nhân Việt Nam đến, có lẽ Galang là một hoang đảo. Hôm nay, với trên dưới hai chục ngàn người cùng các cơ quan, trường học, bệnh viện, nhà thờ, chùa, hàng quán, rạp chiếu phim... Galang mang bộ mặt của một thị trấn vùng cao nguyên Nam Việt.

Thuyền nhân Việt Nam ở bất cứ trại tị nạn nào cùng có bốn nhóm. Thứ nhất, được thân nhân ở nước thứ ba gởi tiền đều đặn, thứ hai không được đều đặn, thứ ba chỉ được một lần thôi, thứ tư không được lần nào. Tôi thuộc nhóm thứ ba nên cũng khổ. Ba năm trời tôi chỉ nhận được ba trăm đô Úc, do ba người thân gởi cho từ ngày mới tới đảo. Tôi phải trồng vũng rau đắng để bữa cơm dễ nuốt, vì lương thực chánh của cao ủy cung cấp có gạo, mì gói, cá hộp cùng một ít nhu yếu phẩm mà thôi. Dù sao cũng vẫn hơn ba năm tù chính trị chỉ có cơm với muối.

Trước khi tới đảo, tôi nghĩ mình là cựu quân nhân và tù nhân chánh trị có giấy tờ chứng minh sẽ được định cư sớm. Tôi đâu biết rằng sau ngày 14 tháng 3, 1989 thuyền nhân phải bị thanh lọc, thời gian chờ đợi trên dưới ba năm. Từ đó mới có đậu thanh lọc, rớt thanh lọc, giấy tờ giả, hối lộ, cưỡng bức hồi hương, phản đối, đàn áp, tự sát...

Thanh lọc được chia ra làm nhiều đợt theo thứ tự thời gian đến. Tôi đậu thanh lọc đợt ba nhờ có đủ giấy tờ mà cô thông ngôn đã giữ hộ tôi. Cũng nhờ có giấy tờ bảo lãnh của thân nhân ở Úc nên tôi được phái đoàn Úc nhận trong cuộc phỏng vấn bổ túc.

Ở trại tị nạn, tôi học được từ ngữ mới đó là “đẩy xe” tức là đi với tình nhân. Từ này dùng cho phái nam. Ở Galang người ta “đẩy xe” nhiều lắm. Xa gia đình, thiếu tình thương, hai tâm hồn hai trái tim khác phái cần nhau rất dễ gần nhau. Tôi cũng không ngoại lệ nên đã vướng vào một chuyện tình buồn. Tàu tôi có tay đàn tây ban cầm thật tuyệt, tôi có giọng hát cũng dễ nghe. Ngày còn đi học, đi lính giọng hát này đã giúp tôi rất nhiều trong việc gây cảm tình với phái nữ. Barrack tôi nằm trên đồi nên đêm xuống thật buồn, chúng tôi thường đàn hát giải khuây. Tôi đâu ngờ từ căn phòng tầng trên của Barrack có một người đàn bà đêm đêm đứng bên cửa sổ nhìn xuống để nghe tôi hát. Mỗi lần gặp nhau, tôi đọc được những gì chất chứa trong đôi mắt của nàng và tôi cũng nghe nhịp tim mình bối rối. Thế rồi một hôm, tôi mời nàng lên quán nước trên đồi uống cà phê, nàng nói với tôi “mỗi lần nghe anh hát em muốn chạy xuống ngồi vào lòng anh.” Tôi đâu phải là Phật, làm sao tôi không yêu nàng. Gương mặt buồn cố hữu và giọng nói dịu dàng của nàng đã xâm chiếm hồn tôi. Tôi muốn nàng ở chung phòng và cùng ăn thứ rau đắng với tôi.

Rồi ngày tháng êm trôi nên tôi không biết được chữ ngờ. Được nửa năm đầm ấm thì chồng nàng từ Việt Nam vượt biên tìm vợ. Tôi bỏ đi nơi khác để vợ chồng nàng gặp nhau giàn xếp chuyện gia đình. Ý nàng không muốn tái hợp với chồng nhưng ông Cha Xứ Galang buộc nàng phải quay về để khỏi bất lợi cho việc thanh lọc. Nàng đi rồi, tôi trở về phòng cũ vắng tanh. Trước đây, tôi hạnh phúc bao nhiêu thì bây giờ tôi đau khổ bấy nhiêu. Tôi buồn, tôi uống, tôi say, tôi tập làm thi sĩ.

Ta đốt đời ta men đắng cay,
Say tình say rượu cũng là say.
Men cay giây phút còn tan biến,
Tình lỡ ngàn năm khó nhạt phai.
Nửa năm hương lửa vẫn còn đây,
Tình ta nhẹ tựa khói sương bay.
Em về bên ấy đời êm ấm,
Đâu biết rằng anh lạnh giá đầy.
Ai bảo rằng yêu chẳng khổ đau?
Một lần dang dở dễ quên sao?
Ái ân mộng mị tình hư ảo,
Không trọn kiếp này, hẹn kiếp sau.
T... ơi tình chết kể từ đây!
Chôn chặt tình ta xuống tuyền đài.
“Nhất phiến tình sầu thiên cổ lụy.”
T... ơi tình chết kể từ đây!

Galang, tháng 12, 1990


***

Đến Úc ngày 27 tháng 2, 1992, tôi vội lo thủ tục bảo lãnh gia đình. Ngày 28 tháng 3, 1993, vợ con tôi đặt chân xuống phi trường Sydney. Hồi còn ở Việt Nam vợ tôi có biết chuyện này, gặp lại nhau tôi vẫn kể cho nghe, vợ tôi chỉ cười thôi coi như chuyện cũ.

Còn T... nàng không được thanh lọc mà phải theo chồng, chồng rớt nàng rớt theo và đã hồi hương sau đó.

Cách đây mấy năm, nàng có gửi thư báo tin tôi là ông chồng đã chết trong một tai nạn. Tôi cũng có mấy đứa cháu rớt thanh lọc và hồi hương nên nàng có được địa chỉ của tôi. Nàng rất buồn và muốn được đi du lịch nước Úc để thăm tôi. Tôi giữ im lặng đến bây giờ và cũng chưa về Việt Nam lần nào.

Xin lỗi nghe T... không phải tôi bạc bẽo nhưng tôi làm được gì ngoài sự im lặng. Ba năm tôi ở tù, ba năm tôi bỏ nước ra đi, vợ tôi buồn và khổ nhiều hơn em nữa. So với hàng triệu người Việt Nam khác, ba chúng ta chẳng có nghĩa gì. Từ ngày 30 tháng 4, 1975 cuộc đời có thêm nhiều bi kịch, chúng ta vô tình đã thành diễn viên mà thôi.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Chiến hữu

Tưởng Năng Tiến


Image
Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.
Trung úy Đỗ Lệnh Dũng


Image
Tr. úy Đỗ Lệnh Dũng thời còn trẻ. Nguồn: Photobucket
Tưởng gì chứ sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cấp bực làng nhàng, như ông Dũng, tôi quen cả đống. Bạn cùng khoá cũng độ vài trăm, cùng đơn vị khoảng vài chục, và cùng trại (tù) thì chắc … vài ngàn!

Tôi đã nghe vô số thằng kể lại những giờ phút cuối cùng của đơn vị mình nhưng chưa thấy ai bị lâm vào hoàn cảnh bi đát, và giữa lúc thập tử nhất sinh, đã tuyên bố một câu (ngon lành) dữ vậy.

Cỡ Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu (vào giờ phút chót) cũng chỉ âm thầm … đào ngũ thôi, chứ chả hề có mở miệng nói năng gì ráo trọi – với bất cứ ai. Còn Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ thì ồn ào hơn chút đỉnh, rồi cũng chuồn êm – không lâu – sau đó.

Trường hợp của Đỗ Lệnh Dũng thì hơi khác. Cách hành xử của ông cũng khác. Bảnh hơn thấy rõ.

Đúng nửa đêm 24/11/1974, trái đạn 82 ly đầu tiên rót vào trong vòng đai Đồng Xoài. Với đại pháo và T-54 yểm trợ, hai trung đoàn của Sư Đoàn 7 của Bắc Quân – sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung – đã chiếm được chi khu này, vào rạng sáng 7/12/1974. Image
Tháng 6, 1965: Đồng Xoài, Vietnam. Nguồn: AP/Horst Faas
Buổi chiều cùng ngày, trong khi đang cùng những quân nhân còn sống sót tìm cách thoát khỏi vòng vây, trung úy Đỗ Lệnh Dũng (bỗng) thấy một đoàn người – toàn là đàn bà và trẻ con nhếch nhác, với tay nải hòm xiểng, lôi thôi, lếch thếch – nằng nặc đòi đi theo toán quân của ông, để trốn ra khỏi vùng đất (sắp) được … hoàn toàn giải phóng.

Trước nguy cơ dân chúng có thể bị thiệt mạng oan uổng trong lúc giao tranh, và để thuyết phục mọi người nên ở lại nhà cho được an toàn, trung úy Dũng đã dõng dạc tuyên bố với đám đông:

“Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.”

Và Đỗ Lệnh Dũng đã trở lại thực, chỉ vài ngày sau, như là một … tù binh! Rồi ông bị đấu tố trước Toà Án Nhân Dân Huyện Đôn Luân, một tên gọi khác (mỹ miều hơn) của Đồng Xoài, và đưa từ Nam ra Bắc – theo đường mòn Hồ Chí Minh – để đi cải tạo. Gần muời năm sau, năm 1982, trung úy Đổ Lệnh Dũng được chuyển trại từ Bắc vào Nam – và tiếp tục … ở tù!

Cuộc đời (rõ ràng và hoàn toàn ) không may của trung úy Đỗ Lệnh Dũng đã được nhà văn Lê Thiệp viết lại, bằng một cuốn sách – dầy đến bốn trăm trang – lấy tên của chính ông làm tựa. Nhà xuất bản Quê Hương đã cho phát hành phẩm này (1) vào cuối năm 2006, với lời giới thiệu – như sau:


“Đỗ Lệnh Dũng không chỉ là câu chuyện về chiến tranh, dù nhân vật chính là một chiến binh mất tích giữa chiến khu D sau một trận đánh dữ dội.” Đây là câu chuyện về những oan khiên khắc nghiệt mà người dân Việt Nam phải trải gần trọn thế kỷ qua cho đến ngày nay.

Nhân vật chính giã từ cha mẹ khi tròn 18 tuổi và lúc được gặp lại cha mẹ thì đã gần tới tuổi ngũ tuần. Thời gian xa cách là lửa đạn, là những ngày lê gót trên con đường mòn vượt rừng núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc, là những năm tháng đoạ đầy tại những trại tù …

Dù chỉ là một góc cạnh giữa muôn ngàn góc cạnh của một thời bão táp, câu chuyện vẫn là bằng cớ vô giá về thảm trạng con người bị tước đoạt trọn vẹn tuổi trẻ, tình yêu gia đình và mọi điều kiện an bình của cuộc sống.”

Image
Đỗ Lệnh Dũng – Lê Thiệp, nhà xuất bản Quê Hương
Cuốn Đỗ Lệnh Dũng được ra mắt vào ngày 21 tháng 1 năm 2007, ở thành phố San Jose, California. Hôm đó, tôi đã hân hạnh được nhìn thấy Trung Úy Dũng và Thiếu Tá Đặng Vũ Khoái – chỉ huy trưởng Chi Khu Đôn Luân – người mà không mấy ai tin là còn có thể sống sót, sau khi đơn vị này thất thủ.

Thiếu tá Khoái cho biết nhờ tác phẩm này mà trong mấy tuần qua, một số những người lính năm xưa – đang tản mát khắp năm Châu – đã tìm lại được nhau. Và ông nghẹn ngào khi giới thiệu với mọi người, vài quân nhân khác của đơn vị – hiện cũng đang có mặt tại hội trường.

Tôi ngồi ở xa, không nhìn rõ nét mặt của những nhân vật này nhưng có thể đoán được rằng mắt họ đều đang ngấn lệ. Tôi cũng là một cựu chiến binh, cũng có cái may mắn lớn lao là còn sống sót sau cuộc chiến vừa qua, và thoát thân đến được một quốc gia an bình phú túc nên cảm thông (thấm thía) sự xúc động của họ.

Trong giây phút đó (có lẽ) mọi người đều cảm thấy an ủi và ấm lòng, trước cảnh trùng phùng bất ngờ (và khó ngờ) đến thế. Cái cảm giác sung sướng vì sự may mắn (hiếm hoi) của mình đã theo tôi suốt cả buổi chiều hôm ấy, và đã cùng với tôi đi vào giấc ngủ.

Nửa khuya, tôi thức dậy. Đêm nào tôi cũng thức dậy vào giấc đó. Và đó cũng là lúc mà tôi thường lò mò trở về … chốn cũ. Như một công dân “part – time” của nước Hoa Kỳ, tôi chưa bao giờ sống hết mình và hết tình nơi quê hương mới. Gần ba mươi năm lưu lạc, tôi vẫn cứ sống (một cách mộng mị) đều đều – theo kiểu “ngày ở / đêm về” – như thế.

Tôi thường trở về Đà Lạt. Đây là nơi mà tôi đã lớn lên, và đã ướp đẫm tuổi thơ (cũng như tuổi trẻ của mình) bằng rất nhiều đặc sản của núi rừng: nuớc hồ Xuân Hương, sương mù, phấn thông vàng, mùi cỏ dại của Đồi Cù, và cả trăm loại hương hoa man dại.

Có dạo tôi hay trở về những đồi trà, đồi bắp, đồi khoai – bao quanh trại cải tạo Tân Rai – ở Blao. Tôi cùng lũ bạn tù cứ đi trong nắng sớm, trên những con đường mịn màng (thơm nồng mùi đất) sau một đêm mưa.

Cũng có khi tôi về lại Sài Gòn, ghé thăm một người bạn đồng đội mới, chỉ vừa biết sơ, qua một bài báo ngắn – của ký giả Bùi Bảo Trúc:

Image
Thương binh Nguyễn Văn Thìn. Nguồn: OntheNet
Sáng nay mở e-mail ra đọc, tôi nhận được từ một người không hề quen biết, không kèm theo một giòng chữ nào, bức hình một người đàn ông mà tôi cũng chưa gặp bao giờ. Hình chụp người đàn ông đang ngồi trên giường có trải chiếu, đằng sau là bức tường loang lổ, hoen ố những vết đen mốc. Ông có một bộ ria, tóc dầy và đen, một mắt to, một mắt nhỏ mà tôi nghĩ là bị hư, chỉ còn một con. Ông không còn chân tay. Hai chân bị cụt trên đầu gối. Và hai tay cụt ở trên khuỷu tay, gần nách.

Trong hình có ghi tên ông. Ông tên là Thìn, Nguyễn Văn Thìn. Năm sinh được ghi là 1952. Hàng chữ phía dưới cho biết ông là thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Ðơn vị cuối của ông là Trung Ðoàn 49, Sư Ðoàn 25 Bộ Binh. Cấp bậc của của ông là Trung Sĩ Nhất. Ông sinh năm 1952, tuổi Thìn nên tên cũng là Thìn. Ông không còn chân tay. Từ 30 năm nay, ông không có chân, cũng không có tay.

Ông làm sao sống nổi qua bằng ấy năm không có hai chân mà cũng không có cả hai tay. Tôi tưởng tượng, không khó khăn lắm, cũng vẫn thấy ra được những khó khăn của ông. Trong một chế độ thân thiện với ông, ông cũng đã vô cùng bất hạnh vì thiếu con mắt, thiếu hai tay, lại thiếu luôn cả hai chân. Huống chi trong một khung cảnh không thân thiện nếu không muốn nói là thù nghịch, thì ông còn khổ biết là bao nhiêu nữa. Tôi không dám tưởng tượng thêm ra những chuyện khác trong đời sống hàng ngày của ông, nếu đó có thể gọi được là một đời sống.

Ông Thìn luôn luôn nhìn tôi với đôi mắt u buồn và lắc đầu ra dấu, như có ý nói là đừng đến thăm nhau nữa: “muộn mất rồi.” Mãi sau này tôi mới biết là … muộn thật! Trong những trang sổ tay cũ, khi viết về trung sĩ Nguyễn Văn Thìn, cách đây vài năm, tôi đã có dịp phổ biến địa chỉ của ông: nhà số 9/8 đường Bông Sao, phường 5, quận 8, Sài Gòn.

Chừng một tháng sau, vài người báo cho tôi biết là họ đã gửi quà về biếu ông Thìn nhưng không còn … kịp nữa. Ông bạn đồng đội của tôi đã qua đời, vài tuần, trước đó!

Đêm nay thì tôi về miền Trung, phần quê hương khốn khó mà tôi chưa bao giờ có dịp ghé qua, để thăm một đồng đội khác:

Image
TPB Dương Quang Thương và tác giả Nguyễn Cảnh Tân. Nguồn: Báo Việt Luận
Sự hy sinh của anh quá lớn, hai mắt, hai tay và hai chân cho tổ quốc còn cá nhân chị đã hy sinh cả cuộc đời cho những người mà cả tổ quốc phải tri ân. đã rưng rưng khóc lần nữa và cảm ơn nhiều lắm đến bà con ở Úc và Hội.

Tôi phải vượt đường xa tít tăp từ Huế tìm đến nơi 1 anh Thương Binh mù hai mắt, cụt 2 tay lẫn 2 chân gần Lăng Cô … Tôi nhìn thấy anh Dương Quang Thương nằm xấp ngay ngạch cửa. Tôi lên tiếng chào, anh bật ngồi dậy hỏi tôi là ai?”

Qua những phút giây trao đổi, tôi thấy anh khóc, những dòng nước mắt lăn ra từ hai hố mắt sâu thẳm ấy làm tôi phải khóc theo. Nghe tiếng người lạ, vợ anh từ sau hè chạy lên trên tay còn cầm nắm rau dền hoang vừa mới ngắt về để lo bữa ăn chiều, chị chào hỏi tôi rồi rót nước mời tôi uống …

Thoạt đầu tôi chỉ nói tôi là người mang tiền và thuốc tây đến cho anh do bà con từ bên Úc đóng góp gửi về. Tôi gởi anh 100 đô Úc và 5 hộp thuốc tây. Anh đã rưng rưng khóc lần nữa và cảm ơn nhiều lắm đến bà con ở Úc và Hội.”

Sau một hồi tâm sự anh nhắn gửi lời cảm ơn đến người điều hành Hội mà gia đình anh thường thư từ qua lại nhiều năm nay. Tôi xúc động quá và cho biết là: Thưa anh chị chính tôi đây… Nghe đến đó anh quờ quạng hai cái cùi tay còn lại lết thật nhanh về hướng tôi và ôm lấytôi mà khóc.

Vợ anh cũng khóc, tôi cũng khóc, người chạy xe ôm cũng khóc theo… Sự hy sinh của anh quá lớn, hai mắt, hai tay và hai chân cho tổ quốc còn cá nhân chị đã hy sinh cả cuộc đời cho những người mà cả tổ quốc phải tri ân.

Chị đã khóc nhiều lắm vì những khó khăn đè nặng thân phận của người phụ nữ ốm o gầy còm cố vươn vai suốt hơn ¼ thế kỷ gánh gồng, ẵm bồng tắm rửa, đút ăn và những cơn lũ lụt khủng khiếp phải cõng chồng chạy tìm sinh lộ… Ra tới đầu ngõ, tôi và anh xe ôm vẫn còn khóc…

(Nguyễn Cảnh Tân (2), “Nỗi Sầu Riêng Hay Cái Đau Chung,” Việt Luận, 27 Oct. 2006).

Ở VN, bây giờ, mà khóc nhiều như vậy e hơi (bị) lố. Làm người Việt thì dù ở vào hoàn cảnh tệ bạc đến đâu chăng nữa vẫn (có thể) được khối kẻ khát khao. Tôi liên tưởng đến số phận te tua, bầm dập của Đỗ Lệnh Dũng và không khỏi trạnh lòng nghĩ thêm rằng: đó là cảnh đời mà phế binh Dương Quang Thương có nằm mơ cũng không thấy được.

Và hiện tại ở quê tôi còn bao nhiêu chục ngàn cựu chiến binh khác nữa (cũng tàn phế đến độ không thể đi xin ăn được) đang nằm chờ chết ở một xó xỉnh nào đó, ước mơ đến ngày có người đồng đội cũ (chợt) nhớ đến mình và ghé thăm chơi – như chiến hữu Nguyễn Cảnh Tân đã ghé thăm bạn Dương Quang Thương, vào một buổi chiều cuối năm 2006.

© Tưởng Năng Tiến

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

MẮT ĐÊM

Truyện thởi chiến của Trần Hoài Thư
(trích Văn số 121 ngày 1-1-1969)
Chiến tranh Việt Nam khốc liệt qua những bức ảnh khói lửa

Khi tổ tiền sát viên chạy đến gần chiếc cầu gỗ, ẩn dưới bờ mương, tôi bắt đầu cho tổ của trung sĩ Y Bok tiếp tục tiến chiếm gò mả để yểm trợ cho tổ đi sau. Bên kia chiếc cầu gỗ, xóm nhà xác xơ. Vài ngôi nhà ngói bị đổ nát, còn lại những đống gạch vụn, dưới ánh nắng chói chang. Đại-bàng ra lệnh trong máy C.25, hãy dặn các con anh coi chừng, có mãng cầu nhiều lắm đó. Tôi ngoắc tay, ra hiệu người trung đội phó, làm một thủ lệnh sẵn sàng qua cầu. Đằng sau, trung đội 1 cũng bắt đầu tiến lên trên đám ruộng phía trái. Một chiếc L.19 đang bay đảo vòng trong bầu trời xanh lơ. Một trái khói trắng bốc lên cách gần tôi một trăm thước. Đó là quả đạn hiệu chỉnh của pháo binh. Tiếp đến là những quả dạn nổ long trời. Bụi cát bốc lên mù mịt. Đó là những quả đạn bắn hiệu quả. Tôi áp người vào bờ mương, nghe thân thể rung động. Toán lính nằm dọc theo bờ, súng chĩa về ngôi làng. Tôi bặm môi, ra hiệu thằng mang máy đến gần , và báo cáo: Phú Sơn, đây Phú Sơn ba nghe không trả lời. Tôi báo cáo cho anh trình lại thẩm quyền, các con tôi sắp vượt qua cầu. Trình Đại bàng cho yểm trở. Nghe rõ trả lời. Bàn tay buông lỏng. Tiếng rè rè từ ống liên hợp cất lên: Tôi nghe năm trên năm. Bây giờ những quả đạn pháo binh nổ dồn dập. Những cột khói đen cuồn cuộn, quyện với hơi nóng rát mặt tỏa lên. Tôi được Đại-bàng bảo hãy chờ. Cho pháo binh cầy nát mục tiêu đã. Rồi mình qua. Tôi đáp, nghe năm trên măng, rồi nằm ngửa, súng đặt trên đùi. Tay lấy chiếc khăn, chiếc khăn màu lam mà Quỳnh đã gởi cho tôi trong lần chia ly cuối cùng, đẫm nước mắt, lau vội mặt kính nhem nhuốc nước bùn, tôi nghe nỗi kích thích lạ kỳ, tràn ngập trong từng tế bào, trong huyết quản. Thân thể bị lay động dưới sức nổ của đạn trái phá. Tôi xoay người lại, đặt đầu ống liên hợp vào tai lắng nghe những mẩu âm thoại dồn dập trong máy. Nắng đã bắt đầu lên, và cánh đồng trải dài nhảy múa trước mắt.

Bây giờ, Đại-bàng ra lệnh: Hãy qua cầu. Đứa con 2, yểm trở cho anh. Tôi đứng, hét: Tổ tiền sát viên, qua ngôi làng, chiếm ngôi nhà trước mặt. Tiến. Hạ sĩ I Ký cầm cây M.16, qua cầu, chạy như bay đến sau đống gạch vụn. Những người lính còn lại tiếp tục chạy qua cầu, yên ổn. Tôi thở dài nhẹ nhõm. Tôi không ngờ tình hình lại yên ổn như thế. Khi nãy, trung đội tôi còn ở trong ngôi vườn cách ngôi làng một cánh đồng đất bùn, chúng tôi đã phải nổ súng dữ dội khi thấy những người bà ba đen chạy vụt qua. Binh I Mễ hét lên: Bọn nó chạy đó, thiếu úy. Tiếp sau, những tràng nổ liên thanh chát chúa vang lên, kèm với những quả đạn M.79. Tôi hét lên: Ai cho lệnh bọn mày bắn, hả? Tiếng Đại-bang từ trong ống liên hợp ra lệnh thôi bắn, thôi bắn. Tôi bực dọc đá một thằng lính ngồi bên cạnh, say sưa nhả đạn. Ai cho mày bắn, hả? Mày lỡ bắn vào dân thì sao? Nó phân trần, bực dọc: Em thấy bọn nó mặc bà ba đen, chạy vụt qua mà. Tôi hét: Ai cho mày bắn? Đại-bàng la tùm lum, mày vác tai mà nghe! Binh Nay nói: Ở đây là V.C. hết. Thiếu úy không thấy ca-nông nhả, sao. Tôi không trả lời, rảo về phía tổ trung sĩ Y Đao, bố trí phía trái. Những nhánh hoa giấy đỏ thắm bò qua những sườn nhà trơ nóc, lung lay trong gió. Bầu trời thật xanh. Tôi ngồi xuống, và cảm thấy ngứa ở các ngón chân. Các ngón chân cọ quậy trong đôi tất ướt nước bùn. Tôi nghĩ đến câu nói của binh Nay. Có lý, có lý.

Làm sao lại có những người dân vô tội, ở tại cái vùng nơi trong bản đồ được đánh chữ thập bằng bút chì mỡ màu đỏ, xác định mục tiêu nặng nhất.

“Tin tình báo xác nhận vào khoảng một đại đội có vũ khí cộng đồng xuất hiện vào đêm… tại ấp V.Q. Chúng sẽ dưỡng quân tại đấy, đồng thời sửa soạn cho một cuộc tấn công mới vào các vùng của ta.

Lệnh hành quân vắn tắt như vậy. Tôi nói thầm: Có lý, có lý.

Chúng tôi vào đầu làng yên ổn. Tôi cảm thấy một nỗi sợ hãi bao vây, như những cánh tay vô hình cầm con dao sẵn sàng vuốt ve da thịt. Những bước chân giẫm trên đống gạch vụn, âm vang khô và nặng nề. Có tiếng xầm xì của một người lính Thượng, khi hắn đưa chiếc mũi trong không khí, đón nhận một hương vị nào đó. Thiếu úy, có cứt còn mới. Nhiều lắm. Tôi nói đâu đâu. Hắn chỉ tay vào cuối nền nhà, cạnh bờ sông , Tôi nói với người trung đội phó. Ở đây còn nhiều người lắm, trung sĩ. Bảo anh em nằm xung quanh, tìm vị trí ẩn núp. Đợi lệnh tôi. Tay phải với ống liên hợp, tôi quì xuống bằng đầu gối phải: Phú sơn đây. Phú-sơn 3, nghe không trả lời. Ở đây có người nhiều lắm. các con tôi vừa tìm ra một hầm cứt mới. Nghe không trả lời. Đại-bàng bảo cứ nằm yên, các con của Hai, sẽ qua cầu bây giờ. Tôi đưa thủ hiệu nằm xuống. Một tiếng động thật nhanh và khô kèm theo một âm thanh đổ. Tôi chụp khẩu súng, đặt hướng vào nơi khả nghi. Một con heo nái, những chiếc vú dài lê trên mặt đất, xuất hiện từ một bụi lau. Hạ sĩ Y Wang vừa chỉ tay vừa xầm xì. Tôi mỉm cười.

Binh Hà vừa tìm ra một thùng đạn K.50 giấu trong sàn bếp. Tôi bắt đầu cho các tổ lục soát và bố trí ra hướng bờ sông. Đằng là bãi cát trắng, những khóm lau đen nổi lên trên mặt nước yên tĩnh. Xa hơn nữa, dãy núi Bà Đen, hình dáng nặng nề, đen thẫm. Tôi mở bi-đông lấy một tí nước vỗ vào trán và quệt trên hai con mắt. Cái kính đã bị bụi làm cho nhem nhuốc. Nước mát lạnh. Tôi cởi hàng cúc áo, để hứng những làn gió từ bên bờ sông. Những người lính đang tiếp tục lục soát. Nắng làm những chiếc cổ màu đen của những người lính Thượng ri rỉ mồ hôi. Trung đội Hai đã vào và lục soát những khóm nhà dọc theo con đường làng. Trung đội Một, chận đường ở cầu, nằm bên bờ mương. Đại-bàng dặn trong máy dặn các đứa con coi chừng lựu đạn gài. Đứa con Hai đã tìm ra một trái ở cửa hông. Tôi nói, nghe năm trên năm. Phút chốc, tôi thấy những cuộn khói bốc lên và đám lửa hừng hực đỏ từ một căn nhà tranh ven đường. Các con của trung Hai đã đốt vì không dám gỡ lựu đạn. Có tiếng nổ long lở tiếp theo. Tôi mệt nhọc dựa lưng vào bờ vách, khẽ nhắm mắt. Nỗi mệt nhọc rã rời chạy dài trên khắp thân thể. Đôi chân duỗi ra, cố gắng ngồi một dáng thoải mái; tôi lấy bi-đông uống một hớp nước. Thằng mang máy ngồi bên cạnh, tiếp tục nghe và trả lời. Tiếng rè rè từ ống liên hợp đều đều. Vô sự. Phú-sơn đây Phú-sơn Ba trả lời. Gia đình tôi vô sự. Hả. Anh bắt được một đứa hả? Nó trốn trong dịp bọn nó tổng công kích vào dịp Tết, hả? Tôi nghe từng lời đối thoại. Chẳng có gì để nói nữa. Đằng sau nhà, có tiếng hét của người lính: Lên không. Đầu hàng đi. Tao ném lựu đạn xuống bây giờ. Tôi đứng dậy, tiến về tiếng hét. Thằng Trung cầm trái M.26, sắp bỏ vào miệng rút chốt. Tôi gọi giựt: Khoan đã. Muốn chết hả? Trung nói: Thiếu úy, em nghe tiếng động trong hầm, bọn nó núp trong hầm, thiếu úy. Tôi nạt: Mày tưởng bắt bọn nó dễ dàng như vậy sao? Trung cầm trái lựu đạn, phân bua: Thì ở đây là bọn nó rồi còn gì. Tôi nói: Lỡ dưới hầm toàn dân không thì sao? Tôi chỉ tay vào trái lựu đạn cay, sao mày không dùng thứ này? Ai dạy mày, hả.

Tôi nằm trên miệng hầm, sát tai vào lớp đất. Có tiếng rục rịch khe khẽ. Tôi bảo Trung và cả tổ nằm chĩa súng xung quanh miệng. Tôi hét. Đồng bào ở dưới thì lên, bọn tôi tới giải phóng đồng bào. Đồng bào không lên, chết chịu. Tôi đếm từ một đến mười…

Tôi đếm một, hai, ba, bốn, năm. Đồng bào lên không. Trái lựu đạn cay của Trung được đưa ra, và miệng nó sắp rút chốt, thì người đàn bà hiện lên trong khoảng tranh mờ tối của cửa hầm. Mụ ta có bầu, trạc độ 39, 40 tuổi. Mụ vừa trồi đầu lên vừa chắp tay lạy: Lạy các ông, chúng con vô tội. Binh Hai hét: Còn bao nhiêu người ở dưới đó? Mụ rên rỉ: Dạ còn chừng bảy, tám người. Gia đình con cả. Tiếp đến một lũ người trồi đầu lên. Đi đầu là hai ông già, mấy người đàn bà, một đứa con gái còn nhỏ và mấy đứa con nít. Họ mang theo những chiếc va-li thiếc, những thúng đồ hoặc những túi vải bố. Tôi bảo lính dồn đám người về một góc. Nắng chói lòa trên nền nhà đổ vụn và những mảnh chai phản chiếu một màu nhức nhối. Tôi cảm thấy khó chịu, khi những giọt mồ hôi bắt đầu ri rỉ xuống cổ. Mụ đàn bà cứ réo: Lạy các ông, các ông tha con. Binh nhất Hai lên đạn rắc rắc. Mụ nói các quan ơi tôi vô tội. Binh Hai vội đá cái va-li thiếc bay đi một khoảng và nói: Sao mụ có bầu. Chồng mụ ở đâu rồi. Mụ đàn bà vội nói: Chồng tôi, ảnh làm lính Quân-cụ ở Qui-nhơn. Tôi cười. Bao giờ cũng vậy, mỗi lần hành quân qua mỗi ngôi làng mất an ninh, chỉ thấy đàn bà, trẻ con và ông già bà lão. Đàn bà phần nhiều có chửa. Và một điều lạ, hỏi chồng bà ở đâu, chúng tôi chỉ nghe ảnh đi lính Quân-cụ, Quân-nhu, hay nằm bệnh viện. Lần này mụ đàn bà cũng nói như vậy. Tôi bảo lính lấy dao găm cạy va-li thiếc, lục soát. Nắp va li được mở tung. Có một bộ ka-ki vàng. Binh Hai hét: Chồng mụ đi lính Quân-cụ hay đi giải phóng. Nói mau. Hắn sắp bạt tai, thì tôi vội ngăn lại. Tôi không thể chịu nổi những gương mặt thảm thê, những đôi mắt ngơ ngác sợ sệt đó. Mụ đàn bà nhìn tôi van lơn. Hai ông già tiếp tục nhìn ra cánh đồng chói nắng. Những người khác nhìn xuống đất. Tôi quay mặt lại. Binh Hai vẫn tiếp tục điều tra, dọa dẫm. Nắng đã làm nhức mắt. Tôi muốn nhắm mắt lại, ngủ một giấc, một giấc thôi. Mẹ tôi ở đó, những đêm ôm chặt tôi trốn dưới gầm giường. Đạn réo ngoài sân, ngoài ngõ, ngoài hiên. Đạn réo trên đầu, trên mùng, Mẹ tôi ở đó, trên sân nắng, hai tay để lên đầu, khóc lóc nhìn bọn lính Tây tra hỏi. Vẫn những giọt nước mắt, vẫn những tiếng khóc lóc, như một âm vang từ xa xôi vọng lại, từ một quê hương, một xóm làng đìu hiu. Tôi chống hai tay vào đầu gối, mệt nhọc đứng dậy. Tôi nói: Thôi, để yên đó. Mùi thối từ ngôi nhà gạch bên cạnh bốc lên, đến buồn nôn. Có lẽ là một xác sinh vật nào đó. Những quả cà-nông vẫn tiếp tục dội về, như một cung đàn buồn thảm. Chiếc L.19 vẫn rà rà trên đầu. Tôi đi về phía nhà sau. Toán lính đang lục soát trong nhà bếp. Một hũ ruốc. Cả bọn la lên. Một người lính Thượng, đút tay vào hũ, và bỏ vào miệng, la: Ngon. Ngon. Những thùng lúa bị đổ, thóc rơi xuống nền, ngập tràn. Trên chiếc bếp, những lư nhang bị đổ gãy, nằm ngổn ngang. Tôi dặn tổ trưởng hãy cẩn thận, coi chừng tụi nó cài lựu đạn. Trung sĩ tổ trưởng đáp dạ, rồi hỏi chừng nào rút, thiếu úy. Tôi nói: Chắc chiều. Tôi trở ra hàng hiên. Binh Hai vẫn tiếp tục hét. Mặt hắn đỏ gay. Hắn đã bất lực trước đám người khốn nạn. Một cô bé trạc mười ba, mười bốn tuổi đang ngồi mặt cúi xuống. Binh Hai nói với tôi: xem chừng con nhỏ đi, mình dọa được, thiếu úy. Tôi ngước nhìn. Dáng dấp gầy yếu, màu da đen ngăm, đôi mắt mở lớn ráo hoảnh, ẩn bên trong nỗi sợ hãi tột cùng. Binh Hai cầm con dao, đưa lưỡi vào cổ con bé, hét: Mày chỉ mấy người đàn ông vừa chạy, ở đâu? Không nói tao giết. Con bé run run. Dạ con không biết. Binh Hai vội đá một đá vào mông con bé. Tôi tự thấy đắng ở cổ. Hai tay buông thõng, tôi nhìn những con kiến đang bò bên bờ thành. Một hàng li ti, chấm chấm đen. Bọn này bò, biết bao giờ thấy mỏi. Gió ngoài sông mang theo mùi thối từ căn nhà bên cạnh. Mặt trời chói lòa giữa bầu trời xanh lơ. Tôi đứng dậy, khổ sở, hét: Tại sao đồng bào lại ở đây, hả? Đồng bào không biết đêm ngày cà-nông, máy bay thả bom. Đồng bào lại chịu khổ cực như vậy hả?

Ông già được dịp phân trần: Dạ, tại vì nghèo quá. Bọn tôi nhờ chút lúa, chút gạo. Đi rồi lấy gì mà sống.
Tôi nói: Đồng bào phải quí trọng tính mạng của dồng bào.

* * *

Đến bốn giờ chiều, chúng tôi được lệnh mang số dân cư ngụ tại đây về vùng có an ninh. Trung đội tôi bọc chót. Tôi phải khổ tâm mới bảo họ lên đường. Những thúng gạo, nồi niêu, những bát chén, kèm theo những tiếng khóc nức nở. Tôi nghĩ đến một quê hương đã mất. Tôi phải bảo tính thúc từng người. Hình như không có người nào muốn đi. Cuối cùng đoàn người lục tục lên đường. Viên cố vấn Mỹ đi theo đại đội, đếm từng đầu người, rồi ghi trên sổ tay. Đồng ruộng trải dài, thỉnh thoảng vài hố bom cày, loang loáng nước. Đoàn người chậm chạp đi qua những con ruộng đất bùn. Hai bà già chống gậy run run mò mẫm, đi được một đoạn, vội nằm lăn trên đất, khóc lóc: Bọn mày đi đi, tao ở lại. Tao chết cũng còn thấy nhà tao, thấy cha mẹ tao, ông bà tao. Tao không sợ chết. Tao già rồi. Người đàn bà mặc áo màu nâu xanh, đến bên cạnh, ôm chân bà lão, khóc lóc. Má không đi, con cũng không đi. Tôi phải bảo lính dừng lại. Làm sao tôi khuyên họ. Chiếc L.19 vẫn bay rà rà trên đầu. Đại-bàng cứ gọi trong máy C.25, bảo: Hãy đưa họ về mau. Trời sắp tối rồi. Viên trung đội phó càu nhàu: Kệ họ, thiếu úy. Mình đi về muộn bọn nó phục kích thì chết. Tôi nói trong ống liên hợp: Xin Đại-bàng chờ. Tôi nói mãi, họ cũng không chịu đi. Nhứt là mấy bà lão. Tôi bỏ máy, đến bên người đàn bà, nói: Cổ nói với bả, rán đi. Bọn tôi giúp giùm cho. Nhưng bà già vẫn nằm lăn trên đất, tiếp tục gào: Tao không đi, tao không sợ chết. Tôi thẫn thờ nhìn về đằng trước, những người lính của trung đội 2 đã mờ khuất sau đám tre của ngôi làng T.H. Trời đã về chiều. Nắng đang hấp hối trên những hố bom loang loáng nước. Đại-bàng bảo trong máy: Hãy tìm tất cả mọi phương tiện, đưa họ về. Tôi lắc đầu: Tôi chịu, đại úy.

Cuối cùng, đoàn người được đưa về làng ven lộ yên ổn. Có ba, bốn người ở lại. Tôi khổ sở nhìn đám người chậm chạp, cử động trong màu sắc nhá nhem. Đại-bàng bảo nhiệm vụ của mình đến đây đã hết. Sơn-tây cho mấy đứa con sẵn sàng ra lộ, chờ lên con cua. Tôi đứng trên thềm một ngôi nhà gạch, nói lớn: Bây giờ đồng bào có thể yên tâm ở lại. Đây là vùng an ninh, có lính quận bảo vệ. Đồng bào được tự quyền đi lại. Đồng bào có thể về thành phố. Chúng tôi cám ơn đồng bào.

Một ông già chợt giơ tay, nói:

- Bẩm quan, quan đưa chúng tôi về rồi quan bỏ chúng tôi lại đây, chết đói. Chúng tôi ra đi không mang theo một đồng bạc. Chính phủ không lo cho chúng tôi. Làm sao chúng tôi có cơm gạo mà ăn.

Tôi nói:

- Đồng bào cứ yên tâm. Chánh phủ sẽ lo lắng sẽ cho nhà đồng bào ở, sẽ cung cấp gạo cơm cho đồng bào sinh sống.

Tôi nghe tiếng xầm xì trong đám đông. Trong máy, Đại-bàng giục sửa soạn xulu, cứ để cho tiểu khu lo sao thì lo. Tôi thấy những con mắt ngơ ngác nhìn quanh. Một đôi vợ chồng già đang tìm một góc thềm của căn nhà hoang, trải tàu dừa khô xuống. Đứa bé gái đang đứng, ủ rũ bên cây đa. Chẳng biết, mấy quan lớn có lo lắng để đưa đám dân khốn khổ này về trại lánh cư không. Tôi mệt nhọc, gọi trung đội phó, dặn bắt đầu kiểm soát rồi xulu. Trời đã chạng vạng. Một đàn cò bay ngang. Người Mỹ cố vấn đại đội cười nói với tôi: Sao họ can đảm vậy. Họ ở những nơi mà tôi không ngờ đến. Tôi buồn buồn nói: Ở Việt-nam, dân tôi sống khốn khổ như vậy. Nhưng họ cần cù, nhẫn nại. Họ quí mảnh đất ao vườn hơn chính bản thân của họ…

Trái với lệnh hành quân, các con cua sẽ đón chúng tôi trở về đại đội vào buổi chiều, nhưng đến giờ phút chót, chúng tôi được lệnh đóng quân đêm tại làng T.H. Đại-bàng chọn trụ sở ấp làm bộ chỉ huy. Đến 7 gay go, các toán kích bắt đầu đến mục tiêu. Tôi dặn trung sĩ Hoàng, nếu đụng, cứ bắn ba phát súng báo hiệu rồi chạy về. Tổ kích được chỉ định gồm những cậu lính tân binh. Tôi hơi e ngại, nhưng nghĩ rằng đã là lính, thì phải biết mùi. Tôi dắt trung đội lởn vởn khu vực kích, định đến đêm rút về để tổ trung sĩ Hoàng nằm lại. Trên đường di chuyển, chúng tôi gặp một ông già, mặc bà ba đen, chân đi đất, đi xe đạp. Tôi bảo lính bắt dừng lại để hỏi vài điều cần thiết. Nhưng lão già vẫn đạp xe. Thằng Hà vội lên đạn rắp rắp, quát: Ông đi, tôi bắn. Lão già ngừng xe. Tôi bảo binh Lợi hỏi giấy tờ, và lục soát thật kỹ. Dáng dấp lão thật khả nghi. Binh Lợi hỏi giấy tờ, lão đưa đủ giấy tờ. Nhưng khi đòi lục cả bóp, lão nằng nặc không chịu. Tôi nói, tiền bạc ông có bao nhiêu hãy cất, còn bóp đưa tôi ( tôi sợ bên trong, lão còn cất giấy tờ liên quan đến bên kia). Cuối cùng chúng tôi tìm được một tờ giấy khai sinh đề V.N.D.C.C.H. Tôi cười, vỗ vai lão thân mật:

-Chúng cháu ở trên núi mới về. Chúng cháu về đây để giải phóng đồng bào. Bác xem khăn đỏ, biểu thị cho màu cờ giải phóng.

Lão ngần ngừ, rồi nói:

- Tôi không biết.. Tôi là dân vô tội.

Tôi tiếp tục thuyết phục:

- Bác hãy chỉ những anh em đồng chí, ra gặp chúng tôi. Nếu không bác theo đế quốc, bác phản bội đồng bào, nhân dân.
- Không, không.
- Anh em tôi khổ cực từ trên núi rừng xuống, giải phóng đồng bào, bác tin không.
- Tin ( Có tiếng cười của vài thằng lính).
- Tốt. Bây giờ, bác hãy đem xe đạp gửi ở nhà bên cạnh, rồi đi với chúng tôi.
Một chốc, lão đi bộ ra. Chúng tôi cười. Binh Hà nói. Lại gặp một tên nằm vùng. Nhưng vừa ra, lão rên rỉ ( hình như lão đã biết những lời nói dối của chúng tôi). Tôi vô tội. Tôi theo chánh phủ. Tôi là phó ấp. Anh em lường gạt chúng tôi.
- Không. Chúng tôi là quân đội giải phóng. Tôi hỏi bác lần chót, Bác ở bên chúng tôi hay theo Ngụy.
- Tôi ở Ngụy!

Cả đám lính cười rộn rã. Tôi nói với thằng lính cận vệ. Thôi bảo lão đi kẻo tối.
Lão nhìn bọn tôi, kể lể:

- Tối rồi, sao đi được.. Tôi là ấp phó, các ông hại tôi. Đêm nay, tôi phải ở lại. Bọn nó về, có nước chết

Tôi sững sờ. Màu tối hắt hiu trên những gò mả, những kênh đào. Dù sao, đêm nay tôi cũng phải ân hận. Lỡ có chuyện gì xảy đến cho ông già khốn khổ này không? Lỡ đêm nay, bọn nó về, bắt ông già ra một bãi đất nào đó, cột hai tay lại, rồi đọc một bản cáo trạng, để sáng mai, người dân có thể thấy thi thể của một lão già gục chết. Tôi nhớ lại gương mặt của ông ấp trưởng ấp Đại-tín vào một buổi sáng mùa xuân, khi người bên kia hạ sát trong đêm tối. Đôi mắt mở trừng, dòng máu chảy ở cửa miệng, đầu ngoẻo xuống. Làm sao tôi quên được những buổi chiều, ông mời tôi một tách nước trà nóng, ngồi nhìn mặt trời lặn, tâm sự về những nỗi chịu đựng của những người sống trong bóng tối. Tôi nói nhiều về những nỗi khổ tâm của kẻ cầm súng, và những ước vọng về một ngày mai, khi đất nước thanh bình. Ông ấp trưởng rưng rưng thuật lại những cảnh cực khổ, dằng dặc từ ngày này qua ngày khác. Những đêm nằm bờ mương, trốn chạy từ nhà này sang nhà khác.

Bây giờ, tôi lại gặp một người, đang đứng bên cạnh, đang nhìn trời đêm, lo sợ. Tôi an ủi: bác tìm nhà nào quen, ngủ. Rồi rút toán lính về đóng cạnh bộ chỉ huy. Trước khi rút đi, tôi được biết ông già ấy mắc bệnh lãng tai. Tôi cúi đầu đếm những bước mỏi mệt. Toán lính trở về dưới ánh trăng mập mờ. tiếng côn trùng vọng về âm u. Những khóm tre xõa tóc như những bóng ma quái. Tôi cảm thấy lạnh. Trong máy C.25, các đứa con của trung đội 2, báo cáo bắt được một người đàn ông vừa trốn từ chân núi trở về và sắp sửa bắn một người đàn bà, trong đêm lại mò lên núi. Các đứa con báo cáo vị trí đã bị tiết lộ, bây giờ di chuyển toán lính về một địa điểm khác. Tôi lặng mình trong âm thanh quen thuộc từ ống liên hợp. Tiếng gọi và trả lời của người lính mang máy tiếp tục trồi lên, khe khẽ. Vô sự, các đứa con tôi đang zulu, đừng nổ súng ẩu, nghe bồ.

Đại bàng chia vị trí đóng quân đêm từ ống liên hợp. Chúng tôi đóng quân ở hướng Bắc, cây đèn bấm bật lên rồi tắt. Chiếc bản đồ trải ra. Tôi làm những động tác quen thuộc, như ăn, như uống, như làm vệ sinh, như giải quyết sinh lý. Dưới ánh trăng, khóm lá loang loáng những giọt sương đêm. Tôi nằm trên poncho. Người lính giúp việc mở bi-đông rượu, nói: Thiếu úy, uống một tí cho ấm. Tôi nói ừ đưa tao uống một tí. Sao mày lại kỳ vậy. Mỗi lần hành quân, lại mang cả bi-đông rượu theo. Uống say làm sao gác được. Hắn cười uống để đánh giặc cho hăng, thiếu úy.

Hắn mở nắp bi-đông, mời tôi. Rượu đế chánh hiệu. Em mua ngay tại ổ, thiếu úy. Tôi khẽ uống, nhắm mắt và nghe cả thân thể bừng nóng. Đêm thật buồn. Tôi chợt nhớ đến những gương mặt ngơ ngác của đám dân bị đưa về hồi chiều. Gương mặt con bé bị tát tai, với mái tóc rũ dài, và đôi mắt ráo hoảnh. Những bước chân lún sâu dưới bùn. Ba người đàn bà bị bỏ lại, những bà già nằm lăn trên đất, khóc lóc. Tiếng ông già vang lên dưới đám đông. Trong không gian hiu quạnh, có tiếng rì rầm của một chiếc trực thăng. Tôi nghe lòng như một sa mạc nhớ nhung. Đến bây giờ, tôi vẫn có mặt, yên ổn nằm đợi. Đến bây giờ tôi còn thấy được quãng đường đã qua, và quãng đường trước mặt. Một trái sáng được bắn lên từ một ngôi làng nào đó. Yên ổn đi nhé. Yên ổn để làm gì, nhỉ. Tôi muốn khóc. Đã một năm trôi qua, đêm nay tôi phải cám ơn ai để tôi còn hơi thở. Tay tôi mò mẫm trên ngực. Vết sẹo mỏng, nhức nhối. Tay tôi rờ trên đùi. Những mảnh lựu đạn còn sót lại trong thịt cứng trơ, nổi lên. Tôi phải cám ơn ai đây. Có tiếng ho húng hắng của một thằng lính từ một góc tối. Binh Nha trở dậy, nói với một thằng bạn. Con nhỏ hấp dẫn, đếch chịu được. Em ngồi bếp, thổi lửa. Tao vào, giả đò xin châm thuốc. Em vẫn ngồi, tao khẽ đụng bàn tay. Em cũng chả rút ra. Tức cha chả là tức. Sắp sửa nhảy vào, lại được lệnh rút đi. Có tiếng đáp: Đ.M, có ngày nó thiến mày đó, con ơi. Mày xem ở Bình-dương, cha thiếu úy T.Q.L.C. bị một con nhỏ cho về chầu trời. Những tiếng xì xầm bỗng yên lặng, khi những phát đạn ở ven chân núi dồn dập bắn lên. Tôi thét: Bố trí và nhào xuống thềm cầm cây M.16 chạy ra sân tìm chỗ núp. Những viên đạn lửa xẹt lên. Tôi cầm ống liên hợp, lắng nghe. Phú-sơn, đây Phú-sơn 2, nghe không trả lời. Các con tôi đụng. Chưa biết kết quả. Trả lời sau. Nghe không trả lời. Tôi nghe năm trên năm. Đại -bàng bảo hãy lục soát, rồi chuyển về gấp. Nghe không trả lời. Tiếng rè rè từ đầu ống liên hợp: Tôi nghe năm trên năm. Tôi báo anh một tên bị chết. Bắt được một gói tài liệu. Hiện chúng tôi sắp Zulu, nghe rõ không trả lời

Tôi hồi hộp đón nhận những mẩu âm thoại dồn dập. Chúng tôi đứng, ngồi bất động sau hàng giậu. Trước mặt, cánh đồng trải dài im lặng dưới chân núi. Những trái sáng bắn lên từ chỗ nổ súng. Tôi nói với người trung đội phó: Chờ Đại-bàng cho lệnh, rồi mình nghỉ.

Sáng hôm sau, tôi dắt trung đội đi lục soát khu vực toán kích nổ súng hồi đêm. Hy vọng sẽ tìm thêm một kẻ bị thương nằm lại đâu đó. Thằng Ngọc dắt tôi đến chỗ người bị bắn hồi đêm. Hắn kể lại những phút trước khi hắn nổ súng. Con đàn bà đó gan thật, cứ lầm lũi tiến. Nó mặc quần, xắn lên tới háng, đội mũ rừng, em tưởng là đàn ông. Em để nó cách ba thước mới bóp cò. Bọn đi sau chạy tán loạn. Tôi không còn nhận rõ mặt của người đàn bà nằm trên bờ ruộng. Đạn M.16 có sức công phá kinh khủng. Mặt bị loét lở. Nhưng tôi bỗng để ý đến chiếc áo màu nâu xám. Chiếc áo của người đàn bà trẻ ôm lấy chân bà già, khóc lóc. Má không đi, con cũng không đi. Tôi bảo thằng Hai kéo chân cho ngay ngắn, lấy tờ báo nhật trình trùm trên đầu và thân thể, đồng thời loan báo với dân làng, ai là thân nhân, hãy đến nhận về chôn liệm.

Đến chiều, một bà già chống gậy, mò mẫm trên con đường làng, vừa khóc vừa kêu: Hai ơi, Hai ơi, mày bỏ tao đi… Con ơi… Bà đến bên xác người đàn bà trẻ, khóc rống. Cánh đồng mùa hè mang vẻ bình lặng ngàn đời.

Một tháng sau, tôi cùng một thằng bạn lái xe jeep trở về thành phố. Chúng tôi ngồi trước hàng hiên của một tiệm giải khát. Tôi bỗng thấy đứa con gái nhỏ đứng trên lan can của một nhà tắm hơi. Tôi nhớ mang máng con bé bị tát tai trong chuyến hành quân trước. Con bé có mái tóc dài, dáng gầy, và đôi mắt ngơ ngắc. Con bé gánh đôi thúng gạo nặng, hai chân lún sâu dưới bùn, lảo đảo bước đi. Con bé đứng dưới gốc đa. Bây giờ con bé đang đứng trên lan can một tiệm Tắm Hơi. Tôi đứng dậy, đá cái lon sữa, đá một cái thật mạnh.

TRẦN HOÀI THƯ

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Nguyễn Ngọc Hạnh, lá cờ vàng và sự kiên cường của người lính

Đỗ Dzũng/Người Việt

SAN JOSE, California (NV) - “Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh là người sử dụng ống kính để diễn tả hết những hình ảnh hào hùng,
ý chí sự kiên cường của người lính VNCH quyết tâm chiến đấu để bảo vệ miền Nam Việt Nam,” ông Vũ Quang Đăng,
trưởng ban tổ chức lễ vinh danh và triển lãm ảnh nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, nói.

Image
Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh ngồi trên xe lăn được Giám Sát Viên
Dave Cortese (trái) trao bằng tưởng lục vinh danh ông.
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Buổi lễ này do toàn thể môn sinh của nhiếp ảnh gia và Hội Nhiếp Ảnh Bắc California (VNPS) tổ chức tại Santa Clara County Hall, San Jose, hôm Thứ Bảy, 9 Tháng Năm.

Ông Đăng nói tiếp, “Ông đã thu lại được đầy đủ hình ảnh can trường của các chiến sĩ , quyết dựng lại ngọn cờ chính nghĩa trên cổ thành Quảng Trị.”

“Qua những tác phẩm này, chúng ta thấy thấp thoáng đâu đó hình ảnh lá cờ vàng thân yêu của tổ quốc, với cả một nghệ thuật độc đáo, tất cả đã tạo nên con người Nguyễn Ngọc Hạnh,” ông Đăng nói tiếp.

Trong sự nghiệp nhiếp ảnh, ông Hạnh nhận được rất nhiều huy chương quốc tế, gồm 92 huy chương vàng, 110 huy chương bạc, và nhiều giải thưởng khác, và là hội viên của hơn một chục hội nhiếp ảnh khắp thế giới.

Sau nghi thức khai mạc và phần phát biểu của ông Đăng, nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch, hội trưởng VNPS kiêm phó ban tổ chức, cho chiếu một slideshow nói về cuộc đời nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, kèm theo các tấm hình ông chụp tại các mặt trận ở chiến trường Việt Nam, từ Khe Sanh đến Quảng Trị, và các nơi khác.
Image
Hai trong những tấm hình về cờ vàng rất nổi tiếng của nhiếp ảnh gia
Nguyễn Ngọc Hạnh. (Hình: Đỗ Dzũng/Người Việt)

Các tấm hình nổi tiếng ở chiến trường của nhiếp ảnh gia này bao gồm một khẩu đại bác vừa “nhả” đạn, một binh sĩ VNCH ném lựu đạn, hai chiếc phản lực cơ hạ xuống sau đó một chiếc bị rớt và phi công tử nạn, một trái bom rơi ngay gần chỗ ông, người lính bị cắt làm đôi tử nạn, còn ông bị thương...

“Nhìn những tấm hình này của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, chúng ta sẽ thương những người lính này hơn, những người lính trẻ, chiến đấu quên mình, luôn đối diện với cái chết,” nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch nói.

Không chỉ chụp hình, theo nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh còn cộng tác với một số báo, có đăng hình và bài viết.

“Không chỉ cảnh chiến tranh, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh cũng chụp hoa nữa, một điều ít ai biết,” ông Lịch nói.

Về lá cờ vàng trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Hạnh, nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch cho biết, “Hình của ông lúc nào cũng có cờ vàng. Triển lãm mà không có cờ vàng thì không phải là triển lãm của Nguyễn Ngọc Hạnh. Học trò nhiếp ảnh mà không chụp hình cờ vàng thì không phải là học trò của Nguyễn Ngọc Hạnh.”

Nói đến hình cờ vàng nổi tiếng của Nguyễn Ngọc Hạnh thì phải là tấm hình “Vá Cờ” và một tấm hình lá cờ vàng bị thủng vì những lỗ đạn.
Image
Một số tác phẩm của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh trưng bày
trong ngày vinh danh ông. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch giải thích, “Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh giải thích rằng, những lỗ đạn trên lá cờ cho thấy, mặc dù trải qua cuộc chiến, cờ vàng vẫn bay.”

Trong một tấm khác, Nguyễn Ngọc Hạnh ghi lại hình ảnh chị Đỗ Huỳnh Thị Minh Ngọc, cư dân San Jose, thêu trên 2,000 khăn choàng màu lá cờ vàng để tặng các hội đoàn.

Kế đến là các vị dân cử như Dân Biểu Liên Bang Zoe Lofgren, Giám Sát Viên Santa Clara County Dave Cortese, Thị Trưởng Milpitas Jose Esteves, và hai nghị viên San Jose, Ash Katra và Johnny Khamis lên vinh danh và chúc mừng nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh.

“Tôi chưa bao giờ thấy căn phòng này trang hoàng đẹp như hôm nay. Nói về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Hạnh, các tấm hình do ông chụp luôn tạo cảm giác mạnh cho người xem,” Giám Sát Viên Dave Cortese nói.

Trên sân khấu là 29 tác phẩm nổi tiếng của ông Hạnh, dưới mỗi tấm là một mẫu tự với hàng chữ “Nguyen Ngoc Hanh Grand Master VNPS.”

Dọc theo các bức tường là những tác phẩm khác của ông và các học trò.

Với hơn nửa thế kỷ chụp hình, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh được rất nhiều người ngưỡng mộ, nhất là tính cách của ông.

Ông Vũ Công Hiển, hội trưởng Hội Nhiếp Ảnh Trúc Viên, chia sẻ, “Tôi học được ở ông năm điều. Thứ nhất là khiêm tốn; thứ nhì là một tấm hình phải nói lên điều gì đó, không cần tựa đề, tất cả hình của ông đều do người ta đặt tên; thứ ba, tất cả chi tiết trong hình không được thừa hoặc thiếu; thứ tư, chỉ trong vòng 3 giây mà người xem biết mình muốn gì thì lúc đó mình là 'master;' và cuối cùng là phải hướng thượng, tức là khi khen một tấm hình không khen xã giao như 'ờ, hình đẹp quá.'”
Image
Một người ký tên kỷ niệm khi đến dự lễ vinh danh nhiếp ảnh gia
Nguyễn Ngọc Hạnh. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Chị Nguyễn Thúy Loan, cư dân San Jose, không thể nào quên những tấm hình về lính của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh.

“Tôi còn nhớ ngày xưa, bà chị tôi để tấm hình có tấm thẻ bài ở chỗ làm. Lúc đó, tôi chỉ biết đó là hình do ông chụp, và rất ngưỡng mộ ông. Theo tôi, ông bỏ công rất nhiều để chụp hình. Một tấm hình ông chụp là mất rất nhiều thời gian, chứ không dễ dàng gì,” chị Loan nói.

Và dù đa số hình của ông đều được chụp tại chiến trường, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh không phải là người “cổ vũ hay phản đối chiến tranh.”

Ông Vũ Quang Đăng nhận xét, “Đa số những tác phẩm của ông có chủ đề là chiến tranh, vì chính ông đã chứng kiến tận mắt và ghi lại qua ống kính, để tạo nên những tác phẩm để đời. Thế nhưng, Nguyễn Ngọc Hạnh không phải là một nhiếp ảnh gia phản chiến, ông cũng không ca ngợi, cổ vũ cho chiến tranh.”

“Ông chỉ sử dụng ống kính để diễn tả hết những hình ảnh hào hùng và ý chí kiên cường của người lính,” ông Đăng kết luận.

Theo tài liệu của ban tổ chức, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh sinh năm 1927 tại Hà Đông, phục vụ trong quân đội Pháp cho đến năm 1950 thì chuyển qua quân đội Việt Nam khi mới thành lập, và phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù cho tới ngày 30 Tháng Tư, 1975, với cấp bậc cuối cùng là trung tá.

Ông Hạnh tốt nghiệp trường Nhiếp Ảnh Pháp ở Toulouse năm 1956 và trở thành một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.

Năm 1957, ông sáng lập Hội Nhiếp Ảnh KBC Việt Nam. Năm 1961, ông trở thành nhiếp ảnh gia chiến trường của QLVNCH.

Năm 1969, ông xuất bản sách “Việt Nam Khói Lửa” (Vietnam in Flames) bằng tiếng Anh trong đó có nhiều hình ảnh của ông ghi lại những trận đánh lớn ở Huế, Quảng Trị, và đặc biệt là Khe Sanh (Tháng Ba, 1968) khi ông đã bị trọng thương.

Năm 1971, ông được chọn là đại diện danh dự của Hội Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật Quốc Tế Pháp tại Việt Nam.

Sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc năm 1975, ông bị giam trong trại tù tập trung của Cộng Sản.

Đến năm 1983, ông được thả qua sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế.

Năm 1989, ông vượt biên, đến Hoa Kỳ, và định cư tại San Jose, California.

Một năm sau, ông thành lập “Vietnam Photographic Association of Northern California” (Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California-VNPA) sau đổi thành “Vietnam Photographic Society of Northern California” (VNPS) vào năm 2000.

Sau hơn hơn 25 năm định cư tại San Jose, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh đã đào tạo và huấn luyện hơn 500 học viên nhiếp ảnh tại miền Bắc California và tổ chức nhiều triển lãm, trong đó có hơn 20 năm triển lãm liên tục tại hội chợ Tết để quảng bá văn hóa Việt Nam và vẻ đẹp của nước Mỹ.

Ngoài ra, ông cũng hợp tác với nhiều hội ảnh bạn khắp nước Mỹ qua các triển lãm, in sách, diễn thuyết, để đề cao văn hóa Việt và lòng yêu nước qua nghệ thuật nhiếp ảnh.

Ông cũng tham gia nhiều phong trào gây quỹ từ thiện, đặc biệt là Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh hàng năm để giúp đỡ các thương phế binh VNCH còn ở tại quê nhà. Tại các đại nhạc hội này, những tấm hình của ông ủng hộ đã giúp ban tổ chức thu được hàng ngàn đô la.

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Image

Chúc Mừng Đại Hội Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang Kỳ II


Image

Mỗi sáng mai thức đậy ta cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương, theo như câu nói của thi sĩ Kahlil Gibran. Thật vậy, đời vốn đáng yêu khi ta có bạn bè chung quanh. Tuần rồi vợ chồng tôi được tham dự Đại Hội Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang Kỳ II gồm 2 buổi, buổi Tiền Đại Hội diễn ra tại nhà hàng Paracel Seafood, quan khách tham dự chật ních nơi đây vào ngày thứ Sáu 22/05/2015. Ngày chính thức vào thứ Bảy ngày 23/05/2015 được tổ chức tại Hội Trường Khách sạn Hilton tại thành phố Costa Mesa, thuộc quận Orange County miền Nam California. Con số tham dự viên nghe đâu hơn 800 vị từ khắp các nơi đổ về.

Người viết xin gửi lời tri ân và ngưỡng mộ công tác mà Ban Tổ Chức (BTC) đã quán xuyến thật hoàn bị cả năm trời hoạch định trong tinh thần hăng say, tận tụy, và khéo léo phục vụ tập thể. Ý nghĩa của cuộc họp mặt hội ngộ rất khó lảm vì tốn kém, cần thời gian chuẩn bị vất vả, và điều hợp khắp các nơi tham gia, một cơ hội thật hiếm có này đã quy tụ được nhiều đồng môn cùng thân hữu vốn là những sĩ quan Hải Quân và gia đình từ khoá 1 đến khoá 26 xuất thân từ trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang từ các nơi trên thế giới tề tựu về góp mặt tham dự dịp hội ngộ 2015 này.


Cả năm trước đó nhà văn HQ Tam Giang Hoàng Ðình Báu gửi tôi bài viết "Hãy Về Với Nhau" để phổ biến trên internet, nội dung kêu gọi những đồng môn "cá hồi" từ khắp các nẽo đường ly hương hãy quay về với nhau như banner ghi rõ theme "Trùng Dương Hội Ngộ, Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, Niềm Hãnh Diện & Nỗi Nhớ", tôi cứ mãi nhìn banner thu hút thị giác tôi, và rằng không quên bài thơ "Trùng Dương Hội Ngộ" với những 16 câu thơ Đường như do ráp nối 2 bài thơ dạng 8 câu 7 chữ, do thi sĩ Đồng Văn sáng tác, mà 2 câu kết là "Bao năm xa cách về đây nhé, Nhắc nhở nhau nghe những đoạn trường".

Image
Bài của HQ Tam Giang Hoàng Ðình Báu dẫn nhập:

"Ngày 22 và 23 tháng 5, 2015 là ngày các khóa cựu sinh viên sĩ quan Hải Quân Nha Trang gặp mặt kỳ 2 tại Orange County, Nam California.
Nhớ lại ngày 15 tháng 8 năm 1951, chính quyền Pháp ở Ðông Dương đồng ý cho tuyển mộ một khóa sinh viên sĩ quan Hải Quân gồm 9 sinh viên, 6 theo ngành chỉ huy và 3 theo ngành cơ khí. Cho đến ngày 1 tháng 11 năm 1952, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang xây xong và khai giảng khóa 2 sinh viên sĩ quan Hải Quân.


Từ đó liên tục 24 năm, mỗi năm một khóa và mỗi khóa học 2 năm cho đến khóa sinh viên sĩ quan cuối cùng là khóa 26 thì biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Qua bao thăng trầm theo vận nước, chúng ta mỗi người mỗi ngả sống khắp năm châu bốn biển.
Người sinh viên lớn tuổi nhất nay cũng đã trên 90 và người sinh viên nhỏ tuổi nhất cũng đã trên 60. Chúng ta tuy khác khóa nhưng cùng chí... đó là những thứ còn ghi lại trong đầu, trong tim để còn nhớ đến nhau. Do đó ai cũng mong được đến với nhau vì quãng đường còn lại trong đời không còn bao nhiêu. Ngoài ra trong dịp hội ngộ nầy chúng ta cũng chia sẻ bao nỗi niềm đau thương vì tổ quốc thân yêu của chúng ta bên kia bờ đại dương đang dần dà bị xích hóa bởi kẻ thù phương Bắc..."

Image

Kỳ đài trước Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam tại bến Bạch Đằng, Sài Gòn

Tác giả Tam Giang ghi nhận tiếp trong một bài viết khá dài, tôi xin được trích đoạn như sau:

"Nha Trang thành phố biển tuyệt đẹp đã để lại trong lòng người sinh viên sĩ quan bao kỷ niệm về bãi cát trắng chạy dài từ làng Chụt cho đến Xóm Bóng, Hòn Chồng. Ðêm nào người sinh viên sĩ quan cũng nghe biển rì rào như lời ru, tiếng hát mời gọi của biển. Nhưng chớ có dại bước xuống tàu gặp lúc biển động để rồi ói ra mật xanh, mật vàng. Thời gian hai năm qua mau. Ngày ra khơi chẳng mấy chốc mà đến, bỏ lại người tình Nha Trang nhạt nhòa theo cát trắng và biển xanh. Rồi khóa sinh viên sĩ quan tiếp theo, nối tiếp truyền thống Hải Quân, đường phố và bờ biển Nha Trang lại vui trở lại vì có những người tình bên những người tình áo trắng mới.

Chúng ta lại chia tay nhau. Người đi hạm đội, xuống chiến hạm để được lắc lư con tàu đi từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mâu, Phú Quốc. Người đi Vùng Duyên Hải, xuống các duyên đoàn cùng các ghe chủ lực, ghe Yabuta tuần tiễu các đảo và các cửa sông. Người đi Vùng Sông Ngòi thì xuống các giang đoàn tuần tiễu trong các sông rạch từ Cửa Việt cho đến tận Cà Mau, Năm Căn. Riêng Vùng 4 Sông Ngòi với sông rạch chằng chịt, vùng kinh tế sầm uất của cả Việt Nam thì được nhiều giang đoàn hùng hậu bảo vệ, canh giữ.

Thời gian 24 năm trong quân chủng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta rất hãnh diện đã góp phần cùng các quân binh chủng bạn bảo vệ vùng biển và các Vùng Sông Ngòi. Về mặt Biển Ðông, Hải Quân chúng ta đã chống kế hoạch xâm nhập của địch từ Bắc vô Nam qua các chiến tích từ Cửa Việt cho đến Vũng Rô, Ba Ðộng, Cổ Chiên, Hàm Luông và kể cả chiến hạm chúng ta đã bắn chìm một tàu VC ở vịnh Thái Lan năm 1971, v.v... Trong sông, nhất là Vùng Ðồng Bằng Sông Cửu Long. Hải Quân chúng ta đã giáng cho địch những đòn chí tử như trận Ba Lài, trận Tuyên Nhơn, trận U Minh Thượng, U Minh Hạ v.v... Ðặc biệt, Hải Quân VNCH đã thật sự chống quân Tàu xâm lược bằng trận Hải Chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974. Dù không giữ được Hoàng Sa, Hải Quân VNCH đã gây cho địch thiệt hại nặng nề và được toàn dân Việt Nam thương mến ngưỡng mộ và thế giới kính nể bởi sự can trường và lòng dũng cảm quyết bảo vệ từng tấc đất, tấc biển của cha ông để lại. Hải Quân VNCH còn bảo vệ ngư dân đánh bắt hải sản trên Biển Ðông không để ghe, tàu các nước láng giềng phương Bắc cũng như láng giềng phương Nam uy hiếp. Ngược lại chính quyền Việt Nam ngày nay đã hèn với giặc, ác với dân nên các ngư dân miền Trung và miền Bắc luôn luôn bị giặc Tàu bắt bớ, đánh đập, tịch thu các dụng cụ đánh bắt cá. Vì thế người dân đánh bắt cá ở đảo Lý Sơn mà ngày xưa chúng ta gọi là Cù Lao Ré thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay không còn có biển để hành nghề...

Trong bất cứ quân bỉnh chủng nào cũng có những vị chỉ huy tài ba, những vị chỉ huy đáng kính. Riêng Hải Quân chúng ta cũng vậy, không một người sĩ quan nào trong đời mình mà không có một vài người đi trước mình đã làm cho mình mến phục bởi tư cách cá nhân, khả năng chỉ huy và tình đồng đội. Bây giờ những niên trưởng đó không còn phong độ như xưa, nhưng tư cách những người đó vẫn không thay đổi. Tất cả đều muốn gặp lại nhau, ăn một bữa cơm, nhìn nhau, trao nhau nụ cười, nhắc lại vài kỷ niệm ở một nơi nào đó trên quê hương. Có người gặp lại nhau sau bao năm xa cách chỉ biết ôm nhau thật lâu, gọi tên nhau, xưng hô mầy tao, có người òa khóc. Những nhánh sông quen những vùng biển lạ năm xưa là những ký ức không bao giờ xóa nhòa, nó đi theo chúng ta cho đến hết cuộc đời nầy..."

Image
Những hy sinh của các đồng môn của tác giả được đề cập, những chàng trai thế hệ đã giữ vẹn lời thề lấy Đại Dương làm Tổ Quốc, mà sử xanh lưu danh qua biến cố "Hải Chiến Hoàng Sa" trong thế trận không cân xứng "châu chấu đá voi" là chống chọi can trường lại giặc xâm lăng Bắc Hán, để rồi họ như những anh hùng Ngụy Văn Thà (Khóa 12 Nha Trang), hạm trưởng hộ tống hạm HQ-10 Nhật Tảo và HQ Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí (Khóa 17Nha Trang), hạm phó cùng với 74 thủy thủ đoàn bị thủy táng, hay an bài nơi thủy mộ Hoàng Sa, bài viết tiếp:

"Một số sĩ quan Hải Quân không may mắn ở lại sau năm 1975 phải đi tù hoặc bị lưu đày trong các trại “tập trung cải tạo.” Có người chết trong tù vì đói hay bệnh tật không có thuốc men hay bị tai nạn lúc lao động. Nhưng phần đông muốn sống để được trở về với gia đình phải có sức chịu đựng và lòng dũng cảm phi thường. Ngoài ra các bạn tù cũng phải có sự tương thân tương ái để giúp đỡ nhau vượt bao gian nguy dưới sự trả thù tàn bạo của Cộng Sản.

Trước và sau 30 tháng 4 năm 1975. Một số sĩ quan Hải Quân đã để lại tên tuổi trong lòng dân tộc như:
-HQ Trung Tá Ngụy Văn Thà (K 12), hạm trưởng hộ tống hạm Nhật Tảo và HQ Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí (K17), hạm phó cùng với 74 thủy thủ đoàn đã chìm theo chiếm hạm xuống đại dương cạnh đảo Hoàng Sa.
-Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh (K5) đã hy sinh tại biên giới Việt-Lào.
-HQ Thiếu Tá Lê Anh Tuấn (K 14) hy sinh giờ phút chót tại kinh Thủ Thừa, tỉnh Long An.
-HQ Thiếu Tá Ðặng Hữu Thân (K12), sau 30 tháng 4, 1975 là người tổ chức Phục Quốc tại Khánh Hòa, bị VC bắt và xử bắn.
-HQ Thiếu Úy Trần Thiện Khải (K24), hy sinh tại Nam Lào.
Trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam, biết bao chiến sĩ Hải Quân các cấp đã hy sinh trong bốn vùng chiến thuật và sau năm 1975 biết bao chiến sĩ Hải Quân các cấp cũng đã chết trong các trại tù Cộng Sản từ Bắc cho đến Nam. Và đây cũng là dịp chúng ta tưởng nhớ và tri ân các linh hồn tử sĩ đó. Qua bao đau thương mất mát của gia đình và của đất nước, chúng ta cũng có một vài hãnh diện là các sinh viên sĩ quan Hải Quân Nha Trang trẻ qua các nước khắp thế giới sau năm 1975 đã có những người học hành thành tài và đã thành công trên đất nước định cư. Riêng thế hệ thứ hai của chúng ta thì đã thành công hơn chúng ta nhiều. Họ đã di sâu vào dòng chính, nhất là tại Hoa Kỳ, họ đã thành công trong mọi lãnh vực như văn hóa, xã hội, khoa học, kinh tế, chính trị v.v... Riêng về quân sự, các em đã theo gót cha ông và có mặt trong mọi quân binh chủng Hải, Lục, Không Quân làm rạng danh người Việt trên xứ người..."

HQ Hoàng Ðình Báu của khóa 11 HQ Nha Trang kêu gọi trong phần kết:

"Kính thưa các cựu sinh viên sĩ quan Hải Quân Nha Trang các khóa.
Chúng ta cũng ước ao, một ngày nào đó sẽ có Ðại Hội Hải Quân với sự tham dự của các trường sinh viên sĩ quan Hải Quân Nha Trang, trường Brest (Pháp), trường OCS (Mỹ), các khóa sĩ quan Hải Quân đặc biệt, các trường hạ sĩ quan, các trường sơ đẳng, trung đẳng chuyên nghiệp đều tham dự.
Xin hãy về với nhau.

(California, ngày 4 tháng 9, 2014), HQ Tam Giang Hoàng Ðình Báu."


Tôi nhớ khi tôi post bài bài này ra internet, có anh bạn hỏi tôi các địa danh như trường Brest (Pháp), trường OCS (Mỹ) nghĩa ra sao, Brest và OCS ở đâu. Nhân bài viết này tôi xin phép được sơ lược qua tí ti với các thân hữu chưa quen 2 đặc ngữ này.

1/ Trường (Sĩ Quan) Hải Quân Hoa-Kỳ (Officer Candidate School– OCS) tại Newport, Rhode Island.

Đây là trường đào tạo Hải quân Hoa Kỳ (tên tắt là OCS), tọa lạc tại Căn cứ Hải quân Newport, thuộc tiểu bang Rhode Island, cung cấp nhân tài hay đào tạo chuyên viên về ngành hải quân như các sĩ quan phục vụ trong ngành Hải quân Hoa Kỳ. Cùng với Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (USNA) và Naval Officer Training Corps Reserve (NROTC), OCS là một trong ba cách chính đăng vào sĩ quan hải quân Mỹ có lương bổng.

Nguyên thủy Hải quân Mỹ mở ra hai chương trình học về lái tàu và ngành cơ khí tại trường Officer Candidate School (OCS) tọa lạc ở Căn cứ Hải quân Newport, Rhode Island, và trường bay Officer Candidate Aviation School (AOCS) tại NAS Pensacola, Florida. AOCS đào tạo sĩ quan phi hành cho hải quân, sĩ quan cơ khí về máy bay (Officers Aviation Maintenance Duty), và các chuyên viên (sĩ quan) tình báo không gian, trong khi trường OCS phụ trách đào tạo tất cả các ngành của Hải quân khác như chuyên viên (sĩ quan) lo về vũ khí tác chiến Surface Warfare, chuyên viên (sĩ quan) phục vụ Submarine Warfare, đặc biệt sĩ quan ngành tác chiến hải kích (SEAL), cũng như sĩ quan tham mưu.

Image
Do đó tương ứng với bên Không Quân Hoa Kỳ có trường The United States Air Force Academy (USAFA hay Air Force Academy), tọa lạc ở hướng bắc Colorado Springs trong hạt El Paso, tiểu bang Colorado. Về Bộ Binh thì là The United States Military Academy tại West Point (USMA), thường được gọi tắt ngằn ngủn như "West Point", "Trường Bộ Binh" (the Army), hay Học Viện (The Academy), tắt hơn nữa là "The Point", trường tọa lạc tại vùng mang tên là West Point, thuộc hạt Orange (Orange county), của tiểu bang New York. Nên OCS là Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ hay trường Hải Quân Hoa Kỳ, cũng tương ứng với Học Viện Hải Quân Nha Trang hay trường Hải Quân Nha Trang của Việt Nam Cộng Hòa.

2/ Trường (Sĩ Quan) Hải Quân Pháp, École Navale de Brest:

École Navale là Học viện Hải quân Pháp phụ trách đào tạo sĩ quan cho Hải quân Pháp. Vai trò của họ là mang trách nhiệm trên tàu, tàu ngầm, hàng không hải quân, những công tác tác chiến hay điều hành trong phạm vi hải quân nói chung. École Navale và viện nghiên cứu hài quân (AIRNAV) tại vùng Lanvéoc-Poulmic, phía nam của thành phố Brest.

Image
Học viện được thành lập vào năm 1830 theo lệnh của vua Louis-Philippe. Thuở ban sơ viện được đặt trên các tàu, neo tại bến cảng Brest. Đến năm 1914, École Navale được di chuyển vào bờ tại Brest. Trong Thế chiến II, nhà trường đã bị phá hủy bởi chiến tranh do bom đạn và sau đó đã được chuyển đến gần làng Lanvéoc-Poulmic, tọa lạc đối diện của vịnh Brest (Rade de Brest). Tuy học viện vẫn ở vị trí cũ này, và đã chính thức được khánh thành bởi Tổng thống Charles de Gaulle vào năm 1965.
Với nước Pháp thì Học Viện Không Quân Pháp được gọi là École de l'Air, thuộc hạng trường lớn (grande école) tọa lạc tại vùng Salon-de-Provence, có căn cư Không Quân Salon-de-Provence, tọa lạc ở phía nam Pháp gần vùng biển Địa Trung Hải, có các địa danh Aix-en-Provence, Toulon và cảng Marseille. Pháp có trường đào tạo sĩ quan bộ binh là École Spéciale Militaire de Saint-Cyr (viết tắt là ESM, hay là "trường Bộ Binh Đặc Biệt Saint-Cyr"), các sĩ quan tốt nghiệp ở đây hãnh diện được gọi là "saint-cyriens", hay là "cyrards". Trường Bộ Binh Saint-Cyr tọa lạc tại trại binh Coëtquidan ở miệt Guer, thuộc vùng Brittany, hướng góc tây bắc nước Pháp, và ở hướng tây nam của tỉnh Rennes. Vùng Brittany cũng là nơi có thành phố biển Brest. Nếu OCS là Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ hay trường Hải Quân Hoa Kỳ, tương tự như Học Viện Hải Quân Nha Trang hay trường Hải Quân Nha Trang của Việt Nam Cộng Hòa, thì Học viện Brest của Hải quân Pháp, École Navale de Brest (một grande école) là nơi hãnh diện kinh qua cho các sĩ quan Hải Quân Pháp.

Các vị sĩ quan Hải Quân tốt nghiệp ở Pháp và Mỹ về như Lê Triệu Đẩu (Khóa 4 Brest), Nguyễn Đức Vân (Khóa 1 Brest) và Nguyễn Tiến Ích (Khóa 4 Brest). Tôi nhớ khi theo học tại Đại học Kính Tế Thương Mại Minh Đức tại Sài Gòn, tức trường Đại học Kinh Thương (School of Economics and Business Administration), chương trình học theo mô thức các đại học tân tiến tại Bắc Mỹ và Tây Âu, tôi may mắn được thọ giáo 3 vị thầy gốc Hải quân VNCH chính hiệu nai vàng đạp lên lá vàng khô. Đó là các thầy Lê Triệu Đẩu (dạy môn Nghiên Cứu Tác Vụ), thầy Nguyễn Đức Vân (dạy môn Toán Kinh Tế) và thầy Nguyễn Tiến Ích (dạy môn Toán Thống Kê). Ở thế hệ của các thầy mộng ước xuất dương học kỹ thuật xứ người chẳng hạn tại các trường lớn Pháp Quốc như Hải Quân École Navale de Brest, Lục Quân Saint Cyr, hay Không Quân École de l’Air Salon de Provence,... có lẽ là ước muốn chung của những người trai thế hệ khi trở về xây dựng quê hương. Khi Hoa Kỳ vào Việt Nam, 3 vị thầy này lại xuất dương khăn gói quả mướp sang Hoa Kỳ tu nghiệp hoặc theo học bậc cao hơn. Tại Minh Đức, chúng tôi cố gắng nuốt môn học Nghiên Cứu Tác Vụ, tức Operations Research trong tên trong Anh ngữ, tên khác của nó là môn "Vận Trù Học", là ngành học liên quan về lãnh vực toán học ứng dụng và khoa học hình thức (mô hình học), sử dụng các phương pháp toán giải tích và gồm phạm trù mô hình toán học, giải tích thống kê, và tối ưu hóa để tìm ra được lời giải đáp tối ưu hoặc gần tối ưu của những vấn đề ra quyết định phức tạp. Bài toán thường đề cập đến xác định kết quả cực đại (ví dụ như về lợi nhuận, hoạt động, hoặc sản lượng) hay cực tiểu (hầu đo lường sự lãng phí, rủi ro, hoặc chi phí) của một số vấn đề trong thực tế mà ngành kinh tế ứng dụng toán và thống kê cần thiết cho kỹ nghệ. Ngoài ra môn Operations Research hay Vận Trù Học còn nghiên cứu phân tích các cấu trúc những tình huống phức tạp, tiên đoán được hành vi của hệ quả cho quyết định trong việc quản trị xí nghiệp, nhờ đó có thể nâng cao khả năng hoạt động của tổ chức hay công ty. Vận Trù Học có nguồn gốc từ các nghiên cứu trong quân sự trước chiến tranh thế giới lần hai, và các kỹ thuật của nó đã được phát triển để có thể áp dụng trong nhiều ngành kỹ nghệ. Phải nói ba vị thầy này diễn giảng đề tài rành mạch, GS. Lê Triệu Đẩu đứng lớp trong phong thái nghiêm nghị, thuyết giảng thao thao về đề tài. GS. Nguyễn Đức Vân thì với bản tính xuề xòa, vui tươi, học trò mến ông vì... ông cho điểm rộng rãi, vì học trò nam thường bị ám ảnh bởi Nha Động Viên của thầy Đạm. Tôi được biết có lúc người ta muốn đôn Thầy Nguyễn Đức Vân (HQ Khóa 1) lên nắm chức Tư lệnh Hải quân, nhưng ông từ chối. Có lẽ GS. Vân là người của phạm vi hàn lâm chữ nghĩa chăng ? Còn GS. Nguyễn Tiến Ích diễn giảng bài vở say mê, dù phong thái chậm rãi trong uyên bác, cho bài tập homework khiến học trò học đại học chúng tôi học mệt nghỉ. Thầy Ích với cá tính hiền hòa, đượm nét thân thiện, thường nán lại sau giờ học giảng bài thêm. Nhắc lại những kỷ niệm này xin cám ơn dĩ vãng có quý thầy HQ, không biết ngày nay ra sao, ai còn, ai khuất như luật thiên nhiên của vũ trụ. Mong mọi sự an bình.

GS. Nguyễn Tiến Ích còn theo học và tốt nghiệp tại trường Naval Postgraduate School (NPS) ở vùng Monterey, miệt bắc California. Những thành phố biển Monterey, Pacific Grove, Pebble Beach và Carmel nằm ven biển san sát nhau, thắng cảnh nơi đây mang nét thơ mộng, hữu tình. NPS có những khóa học về Điện tử (Electronic), Cơ khí (Mechanical) và Truyền tin (Communications) kéo dài ba năm; riêng khóa học về môn Operations Research khoảng hai năm rưỡi; và khóa học về môn Operations Management kéo dài độ 18 tháng. Sĩ quan bộ binh thường được cử đến theo học tại NPS khóa Operations Research. Vì NPS nổi tiếng về bộ môn này. NPS là trường đại học về văn hóa cao cấp nhất của quân đội Mỹ, được công nhận bởi hệ thống đại học Miền Tây Hoa Kỳ và trường có quyền cấp phát văn bằng tiến sĩ. Sau bậc cao học tại NPS, GS. Nguyễn Tiến Ích sang học bên đại học MIT tốt nghiệp tiến sĩ.

Image Được biết số tham dự của 3 trong 26 khóa về tham dự đông người về tham dự nhất là Hải Quân các khóa 19 (Đệ Nhị Thiên Xứng), 21 (Đệ Nhị Nhân Mã) và 26 (Đệ Tam Kim Ngưu). Khóa 1 chỉ có Đề Đốc Trần Văn Chơn (Cựu Tư Lệnh HQVNCH). Khóa 2 không có đại diện tham dự, các khóa khác đều có đại diện.

Trong buổi lễ Ban Tổ Chức yêu cầu mỗi khóa có người đại diện phát biểu cảm tưởng. Khóa 1 thì BTC hỏi người đại diện là vị niên trưởng cao cấp nhất có mặt tại buổi lễ là Cựu Đề-Đốc Trần Văn Chơn, Nguyên Tư-Lệnh Hải-Quân Việt Nam Cộng Hòa. Ông là vị Tư lệnh HQVNCH thứ 2 và thứ 7, và đã trải qua 12 tù dưới chế độ CSVN sau tháng 4 năm 1975.

Image

Đô Đốc Trần Văn Chơn, Cựu Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam

Một vị sĩ quan trong BTC hỏi vị Cựu Tư Lệnh có cảm tưởng hay tâm sự gì hôm nay không. Ông nay đã 95 tuổi, sức khỏe trông phương phi tráng kiện, có mái tóc bạc phơ, như tiên lão ông mở nụ cười vui vẻ đại để: "Mấy anh em muốn nghe chuyện gì ?", vị đại diện hỏi rõ hơn nếu ông có kỷ niệm học ở quân trường, và nếu có chuyện huấn nhục. Vị niên trưởng cao cấp cười: "Hà hà hà... kỷ niệm với Hải quân thì có nhiều, nhưng trên khóa tôi không có ai, dưới khóa tôi cũng ít người, việc huấn nhục chưa phổ thông". Tôi nghe thoáng từ xa đoán ra nét vui tươi dí dỏm và bình dị của ông. Thật vậy, các khóa sĩ quan hải quân như khóa 1 chỉ có 9 khóa sinh, khóa 2 được 16, từ khóa 1 đến khóa 6 sĩ số mỗi khóa không hơn 25 khóa sinh thời Pháp thuộc, thực dân không cho ta vươn lên nhiều. Cho đến khi sang thời VNCH và vì nhu cầu thời chiến, sĩ số các khóa tăng vọt như khóa 19 có 272 khóa sinh, khóa 23 có 282 khóa sinh và khóa 24 có 279 khóa sinh,...

Trở lại câu chuyện của vị niên trưởng khóa 1 góp mặt góp ý có phần vui cho buổi lễ thì những năm 1951-1952 của niên kỷ trước, việc huấn luyện thuở phôi thai, có lẽ thủ tục hay học trình chưa tinh vi, chưa bài bản như các khóa sau theo thời gian trôi qua. Khi Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang được cãi tiến theo nhu cầu tình thế. Huấn nhục trong các quân trường là giai đoạn tập sự chịu đựng những khổ hình, bullying and harassing at boot camp (period of a military training camp for new recruits with a strict discipline). Thời gian huấn nhục hay là đi là giai đoạn "hành xác" đã diễn tả đúng những gì mà một tân binh bước chân vào một quân trường phải chịu đựng về thể chất lẫn tâm lý. Tại các quân trường Hoa kỳ đây là thời gian CBT (Combat Basic Training) áp dụng cho tất cả binh sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan. Ảnh hưởng hệ thống đào tạo của các boot camp trong các quân trường Hoa Kỳ, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang đã áp dụng theo chương trình huấn luyện như các quân trường đào tạo sĩ quan để những khóa sinh khắc phục được giai đoạn thử thách gian khổ về tinh thần cũng như thể xác, phải giữ kỷ luật nghiêm minh trong quân đội, khóa sinh bị khóa đàn anh đi trước quay trong những tuần lễ dáo đầu huấn luyện. Huấn nhục là một giai đọan cần thiết để các thanh niên chuyển đổi từ đời sống dân sự sang đời sống quân ngũ mà kỷ luât là điều quan trọng vì “Kỷ luật là sức mạnh của quân đội". Các khóa sinh West Point hay Fort Benning phải trải qua sự huấn nhục. Ý niệm cần thiết. (Brimade, une période de formation de base de la survie, appliqué à l'école militaire pour les nouvelles recrues avec une discipline stricte.)

Hôm thứ Sáu Tiền Đại hội tại Paracel, vợ chồng chúng tôi được tham dự cùng với Commandant Bùi Cửu Viên và madame nhà văn Bùi Hồng Thủy từ DC bay sang, khu vực chúng tôi ngồi còn có Commandant Phạm Mạnh Khuê cùng phu nhân, HQ khóa 20 Đoàn Hữu Lương cùng phu nhân, HQ khóa 9 Nguyễn Minh Thơ và phu nhân Phan Thị Nhàn từ Florida bay sang, HQ khóa 21 Phan Chí Thiện và phu nhân Lê Thị Ái Hiếu, nhà báo Nguyễn Thị Thanh Bình (chủ nhân tờ Phụ Nữ Việt, phu nhân của cố họa sĩ Long Ân), những vị HQ thân hữu như thi sĩ Đồng Văn, nhà văn Tam Giang Hoàng Đình Báu. Nghe nói có nhạc sĩ Trường Sa HQ Nguyễn Thìn từ Montreal, nhà báo HQ Phạm Kim Seattle và nhà thơ Cát Biển HQ Nguyễn Sáng từ DC có về tham dự đại hội, rất tiếc không được gặp.

Buổi lễ của Hải Quân nên nhiều nhạc phẩm kinh điển, đặc trưng cho truyền thống của Hải Quân được trình bày như Hải Quân Hành Khúc, Tiếng Sóng Vân Đồn, Hoa Biển,... đến những bản tình ca như Sao Rơi Trên Biển, Một Lần Xa Bến, Thủy Thủ và Biển Cả, Lính Mà Em, Tình Ca Người Đi Biển,... đã được ca vang khi ta mường tượng lại dĩ vãng màu áo trắng tinh của lính thủy ngày nào tô điểm đậm những kỷ niệm trên đại lộ Duy Tân (Avenue De La Plage) của Nha Trang, hay trên Bến Bạch Đằng Sài Gòn (Quai Le Myre de Vilers có Hotel Restaurant Majestic) của thuở cũ xưa, và đêm nay đây màu áo trắng Hải Quân ấy hiện ra đầy tại Paracel.

Image
Tiếng ca hát liên hoan ngày vui hội ngộ của những cựu quân nhân thuộc binh chủng lấy phương châm "Tổ Quốc Đại Dương", người lính biển bước lên tàu ra khơi, bỗng thoáng thấy mắt người yêu nhuốm nét buồn, Xa xôi vạn hải lý con tàu trong đêm sương và anh ngước nhìn vì sao đêm hẹn rằng tình đôi ta không hề phai...

Image
"Chiều nay ra khơi
Thoáng thấy mắt em nhuốm buồn
Đời anh là gió sương
Anh đi khắp muôn phương...
Chờ một người đi xa
Áo trắng bay trong nắng tà
Nhìn theo lệ ướt nhòa
Khóc một người đi xa"

"Một lần xa bến bao nhiêu là buồn
Xa xôi hải lý con tàu hoen sương
Anh ngước nhìn vì sao đêm hẹn rằng:
"Dù cho sông dài ngăn lối,
Tình đôi ta không chóng phai..."

Một bài hát bằng Anh ngữ ngân lên khi màn đêm buông xuống, không gian mịt mờ, người lính ra đi không sờn lòng chỉ mong người yêu nơi xa kia hãy chờ anh về, con tàu sẽ về bến...

"When the night has come
And the land is dark
And the moon is the only light we'll see
No I won't be afraid
Oh, I won't be afraid
Just as long as you stand, stand by me"

Trên đài cao chiến hạm anh nhìn vì sao rơi và nhắc nhớ tên em. Em ơi, đêm đêm tàu băng vượt trùng dương anh mong tìm gặp hoa trắng mang về tặng em, cho anh thì thầm tình mình trắng như hoa sóng đại dương...

"Lênh đênh đài cao chiến hạm
Anh nhìn vì sao rơi
Nhắc nhớ tên em
Ngày xưa anh thường ngắm sao trời
Lạc đáy mắt mỹ nhân..."

"Tại em khi xưa yêu hoa màu trắng
Tại em suy tư bên bờ vắng
Nên đêm vượt trùng
Anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em
Cho anh thì thầm
Em ơi tình mình trắng như hoa đại dương..."

Người lính thủy của sự thủy chung, dù bao ngư nhân xao xuyến quyến rũ, bao mỹ nữ công chúa dưới thâm cung lôi cuốn, ngàn đời người lính thủy sẽ không thay dạ đổi lòng. Hãy tin như vậy nhé...

"Càng đi xa anh càng nhớ em
Trước đại dương ngát xanh muôn trùng
Kìa ngư nhân in hình trên sóng
Bao nàng công chúa dưới thâm cung
Em ơi! ảo hình kia lôi cuốn,
Nhưng anh đã nói anh yêu em
Thì ngàn kiếp vẫn không thay lòng..."


Khi nào tàu về bến anh hẹn mình dạo phố, tay đan tay khi người tình chợt hỏi: "Gớm, sao anh đi gì mau vậy?". Người lính thủy vững tin trả lời: "Lính Hải Quân Nha Trang mà em!".

“Tàu về bến anh hẹn mình dạo phố
Tay chinh nhân đan năm ngón tay mềm
Thường dỗi anh "Kìa đi gì mau vậy?"
Anh mỉm cười khẽ nói: "Lính mà em!"."

Người viết bài xin kết thúc với bài ca dễ thương "Lính mà em!", vì tình yêu vẫn đúng muôn thuở cho các khóa SVSQ Hải Quân VNCH dù thụ huấn từ TTHLSQHQ Nha Trang, hay École Navale de Brest hoặc OCS Newport, Rhode Island, sẽ mãi mãi là lính thủy thủy chung với quê hương đất nước, với tổ quốc đại dương, và với gia đình của chính họ.

Image (Người viết bài xin cám ơn quý nhiếp ảnh gia, quý nhạc sĩ, quý thi văn sĩ, quý chủ nhân của các trang mạng cho sử dụng hình ảnh hay trích đoạn tài liệu cho bài này. Đa tạ.)


Trần Việt Hải, Los Angeles.
Image

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Ghi tạc ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Nguyễn Lộc Yên
(Danlambao) - Ngày 5-6-1948, cựu hoàng Bảo Đại gặp Cao ủy Pháp là Bollaert ở vịnh Hạ Long, trên chiến hạm Duguay Trouin, bản tuyên ngôn Việt-Pháp được công bố là nước Pháp thừa nhận nền độc lập và thống nhất Việt Nam. Nhưng đến ngày 20-7-1954, cộng sản Bắc Việt ký kết với Pháp Hiệp định Genève, đem nước Việt chia đôi, lấy vĩ tuyến thứ 17 tại sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự. Sau đấy, quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam ra đời trong một hoàn cảnh quốc gia rối ren.

Ngày 1-7-1955, Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam chính thức hình thành, quân đội còn non trẻ lại nhận lãnh trách nhiệm chiến đấu chống lại cả một khối cộng sản quốc tế hung hãn từ phương Bắc tràn xuống phương Nam, nhân dân thế giới đã thán phục: “Miền Nam Việt Nam là ‘Quốc gia tiền đồn’ chống cộng”. Dù vậy, người Quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vẫn vững tâm kiên cường chiến đấu vì sứ mạng thiêng liêng bảo vệ tổ quốc và dân tộc.


Bối cảnh lịch sử thời cận đại tại miền Nam Việt Nam


Sau khi các tướng lãnh trong quân đội VNCH đảo chánh, lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963, đã thành lập Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNCM) do trung tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch và nắm chính quyền. HĐQNCM cử Nguyễn Ngọc Thơ lập chính phủ lâm thời.

Đến ngày 30-1-1964, trung tướng Nguyễn Khánh gây áp lực tướng Minh, bắt giam 5 vị Tướng thân cận của tướng Minh, vẫn để tướng Minh làm quốc trưởng, tướng Khánh tự đứng ra lãnh đạo gọi là chỉnh lý và lập chính phủ ngày 8-2-1964. Ngày 16-8-1964, tướng Khánh mở cuộc họp Hội đồng tướng lãnh tại Vũng Tàu, cuộc họp này đã thông qua một hiến chương mới, thường gọi là Hiến chương Vũng Tàu, tướng Khánh lên làm chủ tịch VNCH, trung tướng Dương Văn Minh làm cố vấn.

Hiến chương Vũng Tàu đã bị chống đối từ nhiều phía, trong đấy có đông đảo tín đồ Phật giáo và sinh viên học sinh. Trước tình trạng này, tướng Khánh phải tuyên bố hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu và từ chức.

Ngày 25-8-1964, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng họp tại bộ Tổng tham mưu đồng thuận sẽ bầu vị nguyên thủ quốc gia, nguyên thủ quốc gia phải thực hiện cơ cấu dân chủ; các tướng lãnh sẽ trở về với quân đội. Đến ngày 27-8-1964, thành lập Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia: Dương Văn Minh làm quốc trưởng, Nguyễn Khánh làm thủ tướng, tướng Trần Thiện Khiêm giữ chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Ngày 13-9-1964, trung tướng Dương Văn Đức tạo cuộc binh biến nhằm cảnh cáo tướng Khánh độc tài, nhưng thất bại, tướng Đức bị bắt và giải ngũ sau đó.

Ngày 7-10-1964, đại tướng Trần Thiện Khiêm bị trung tướng Khánh buộc lưu vong. Ngày 24-10-1964, Thượng Hội Đồng Quốc Gia bầu Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng VNCH, đến ngày 31-10-1964, quốc trưởng Phan Khắc Sửu ban hành sắc lệnh SL.005/QT/SL, bổ nhiệm ông Trần Văn Hương thành lập nội các, đến ngày 4-11-1964, Trần Văn Hương thành lập chính phủ dân sự. Tuy nhiên, sự thật các tướng lãnh vẫn còn nắm quyền lực.

Cuối tháng 11-1964, tướng Minh và tướng Khánh lên cấp đại tướng.

Đến tháng 12-1964, đại tướng Dương Văn Minh lại bị đại tướng Khánh đưa đi làm đại sứ Thái Lan.

Đến ngày 16-2-1965, thì bổ nhiệm bác sĩ Phan Huy Quát làm thủ tướng. Ngày 25-2-1965, bổ nhiệm đại tướng Nguyễn Khánh làm đại sứ lưu động và rời Việt Nam.

Sự bất ổn chính trị tại miền Nam Việt Nam là cơ hội cho Bắc Việt đưa quân xâm nhập vào miền Nam, gây cho Quân lực VNCH phải đối đầu với Cộng quân càng ngày càng đông đảo hơn.

Song song với khó khăn về tình trạng thay đổi nhân vật lãnh đạo, thì chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng (TTMT), kể từ tháng 11 năm 1963 đến tháng 7 năm 1965, đã lần lượt thay đổi đến năm (5) lần:

1- Trung tướng Trần Văn Đôn, nhận chức TTMT ngày 2-11-1963, sau khi lật đổ tổng thống Diệm.

2- Trung tướng Trần Thiện Khiêm, nhận chức TTMT ngày 31-1-1964, sau khi tướng Đôn bị bắt.

3- Trung tướng Nguyễn Khánh, nhận chức TTMT ngày 8-10-1964, sau một ngày đại tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong.

4- Trung tướng Trần Văn Minh (không phải là trung tướng Trần Văn Minh mà sau này là Tư lệnh Không quân), nhận chức TTMT ngày 26-2-1965, sau một ngày tướng Khánh lưu vong.

5- Trung tướng Minh bàn giao chức vụ TTMT cho thiếu tướng Nguyễn Hữu Có ngày 15-7-1965.

6- Lần thứ sáu: Thiếu tướng Có bàn giao chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng cho thiếu tướng Cao Văn Viên ngày 15-10-1965.

Như vậy, chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng từ tháng 11-1963 đến tháng 7-1965, chưa tròn hai năm đã thay đổi 5 lần; trung bình mỗi vị Tổng Tham Mưu Trưởng giữ chức vụ này khoảng bốn (4) tháng, thử hỏi với thời gian ngắn ngủi ấy, làm sao tổ chức được một hệ thống quân đội vững vàng, hùng mạnh?! Trong khi đấy tình hình quân sự tại chiến trường càng ngày càng ác liệt?!

Vì sao ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là ngày 19 tháng 6.

Đến ngày 25-5-1965, thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ, bổ nhiệm một số tổng trưởng mới, nhưng quốc trưởng Phan Khắc Sửu không đồng ý, đã gây nên cuộc khủng hoảng nội các.

Ngày 9-6-1965, thủ tướng Phan Huy Quát họp báo, tường trình về cuộc khủng hoảng chính trị và đề nghị các tướng lãnh đứng ra làm trung gian để ổn định cho đến khi có một chính phủ dân cử. Các tướng lãnh áp lực quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát giao lại cho quân đội trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia mà trước đấy đã ủy thác cho chính phủ dân sự.

Do yêu cầu mạnh mẽ của các tướng lãnh, quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát và chủ tịch Hội đồng Quốc gia Lập pháp Phạm Xuân Chiểu đồng ký bản tuyên cáo vào ngày 11-6-1965. Nội dung chính của bản tuyên cáo là: Chúng tôi, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, đồng quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Đồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi chiếu theo Quyết định số 4 ngày 16-2-1965, Quyết định số 6 ngày 17-2-1965 và Quyết định số 8 ngày 5-5-1965, Tuyên cáo số 7 ngày 5-5-1965. Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt thành phần xã hội, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng ngày 1-11-1963.

Ngày 14-6-1965, Hội Đồng Quân Lực họp tại Sài Gòn, đồng thuận đứng ra lãnh trọng trách điều khiển quốc gia một lần nữa. Liền sau đó thành lập Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, sau khi thảo luận đã đồng ý đưa đến quyết định:

Thành phần của Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia gồm có: Một Chủ Tịch, một Tổng Thơ Ký, một Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp, Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu Trưởng, các Tư Lệnh Vùng Chiến Thuật, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Các vị được tín nhiệm gồm có:

1- Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia: Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu.
2- Tổng Thư Ký: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu.
3- Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp: Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.
- Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có.
- Tư Lệnh Quân Đoàn I: Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi.
- Tư Lệnh Quân Đoàn II: Thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh.
- Tư Lệnh Quân Đoàn III: Thiếu tướng Cao Văn Viên.
- Tư Lệnh Quân Đoàn IV: Thiếu tướng Đặng Văn Quang.

Ngày 19-6-1965, Hội Đồng Quân Lực ra quyết định số 4/ QLVNCH, giải tán Hội đồng Quốc gia Lập pháp và thiết lập các tổ chức: Đại hội đồng Quân lực, Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Hội đồng An ninh Quốc gia, Hội đồng Kinh tế và Xã hội. Ngoài ra, Chủ tịch Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia Nguyễn Văn Thiệu, đã ký sắc lệnh 001/a/CT/LĐQG thành lập nội các chiến tranh, gọi là Ủy ban Hành pháp Trung ương và quyết định số 5/QLVNCH thành lập Thượng Hội đồng thẩm phán. Từ đấy, “Ngày 19 tháng 6 là ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”, còn gọi là “Ngày Quân Lực” và Ngày Quân Lực 19-6 đầu tiên được tổ chức trọng thể vào ngày 19-6-1966.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa can trường, danh bất tử.

Sau khi ký hiệp định Genève ở Thụy Sĩ vào ngày 20-7-1954, quân Pháp lần lượt rút về nước Pháp, còn số người theo Việt Minh từ miền Nam tập kết ra Bắc không có thống kê đầy đủ. Nhưng theo Hội nghị tại Liễu Châu (Quảng Tây, Tàu) ngày 3-7-1954, trước khi ký hiệp định Genève, thì Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai dự tính rút khoảng 60.000 người cả bộ đội và chính trị viên về Bắc và sẽ lén gài người ở lại miền Nam Việt Nam khoảng 10.000 người với vũ khí chôn giấu để chờ thời cơ.

Đến ngày 20-12-1960, Bắc Việt thành lập “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” tại xã Tân Lập (nay là Tân Biên, nơi núi rừng tỉnh Tây Ninh) và lén lút đưa quân vào Nam. Cũng từ đấy, quân đội Bắc Việt xâm lược miền Nam từ du kích chiến sang vận động chiến, mở những trận đánh lớn, như: Trận ấp Bắc thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay, đã đụng độ lớn vào ngày 2-1-1963. Trận Bình Giã đụng độ dữ dội vào cuối tháng 12 năm 1964 tại làng Bình Giã, tỉnh Phước Tuy.... Như vậy, quân Bắc Việt tấn công miền Nam Việt Nam từ khi chưa có quân Mỹ tham chiến.

Đến ngày 8-3-1965, đơn vị Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (United States Marine Corps) đổ bộ lên bãi biển Nam Ô, Đà Nẵng (mật hiệu của bãi đổ bộ: Red Beach Two). Đơn vị đổ bộ đầu tiên thuộc Tiểu đoàn 3/9 (Battalion Landing Team 3/9), vào bờ lúc 9 giờ 18 phút (giờ địa phương). Từ đấy bắt đầu một trang sử mới về sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Hiệp định Paris (Ba Lê) ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, đến tháng 11 năm đó, Quốc hội Mỹ thông qua luật buộc Tổng thống báo cho Quốc hội trong vòng 48 tiếng về quyết định điều quân Hoa Kỳ trong chiến tranh, và triệt thoái quân đội trong vòng 60 ngày. Hai biện pháp này đã khiến tổng thống Nixon không thể can thiệp ở Đông Dương.

Như vậy, quân Mỹ bắt đầu đến Việt Nam từ năm 1965 và rút quân về nước vào năm 1973, thời gian kể từ trước năm 1965 và sau năm 1973, chỉ có Quân đội VNCH chống chọi với Cộng quân mà thôi. Và Mỹ không hề chiếm một (01) tấc đất nào của VN, ngược lại nước VN rõ ràng bị Tàu cộng xâm lược:

- Ngày 19-1-1974, Hải quân Tàu cộng đánh cướp đảo Hoàng Sa của VNCH.
- Ngày 14-3-1988, quân Tàu cộng đánh cướp đảo Gạc Ma của Việt Nam.
- Ngày 30-12-1999, Tàu cộng lấn chiếm khoảng 700 km vuông lãnh thổ VN.
- Ngày 25-12-2000, Tàu cộng lấn chiếm khoảng 11.000 km vuông vịnh Bắc Việt.

- Vào đầu tháng 5-2014, Giàn khoan HD-981 của Tàu cộng xâm phạm vào vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam...

Vậy ai nói rằng Mỹ xâm lược là kẻ đổi trắng thay đen, có những quốc gia “cần quân xâm lược Mỹ” để vẹn toàn lãnh thổ, tiêu biểu như:

- Nhật, Nhật-Mỹ đã lần lượt ký kết nhiều thỏa thuận, xác lập “dự toán quan tâm” bằng hình thức lập pháp đặc biệt và ngân sách Nhật sẽ cung cấp cho quân đội Mỹ đóng tại Nhật tăng dần theo từng năm. Năm 1999, dự toán quan tâm với ngân khoản là 275,6 tỉ Yên (khoảng 2,7 tỉ US Dollard).

- Nam Hàn, thỏa thuận Hoa Kỳ-Hàn Quốc có thời hạn trong 5 năm, đã được thông qua hồi tháng 7 năm 2013, theo thỏa thuận này, Hàn Quốc sẽ đóng góp khoảng 930 tỷ won (khoảng 875 triệu USD) trong năm 2014, cho chi phí đóng quân của binh sĩ Mỹ ở đất nước này.

Từ đấy theo thiển kiến của người viết đừng có kẻ nào ra rả loạn ngôn “chống Mỹ xâm lược cứu nước”, vì định nghĩa xâm lược là: “cướp lãnh thổ và chủ quyền của nước khác bằng vũ lực hoặc bằng các thủ đoạn chính trị”.

Lý do nào, miền Nam Việt Nam bị thất bại vào năm 1975?!

Có nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chính là thiếu quân dụng, đạn dược để chiến đấu, để minh chứng điều này xin trích bài “Những sự thật về Chiến Tranh Việt Nam” của Giáo sư Robert F. Turner ở Đại Học Luật Khoa Virginia và Học Viện Hải Quân thuộc Trung tâm an ninh Luật Pháp Quốc Gia, đã thẳng thắn nói rằng: “Có một bài viết trong báo Foreign Affairs năm 2004, do Giáo sư John Lewis Gaddis là Khoa trưởng American Diplomatic Historians đã nhận định đúng đắn: Các sử gia hiện tại công nhận rằng miền Nam Việt Nam và đồng minh đã thắng cuộc chiến quân sự. Nhưng lại thua cuộc chiến tâm lý tại Mỹ. Tôi xin nhắc lại cho quý vị trẻ biết sau khi bị bỏ bom tơi bời Hà Nội vội vã trở lại đàm phán tại Paris. Và mọi chuyện êm xuôi nếu chúng ta dùng máy bay B52 để trấn giữ hiệp định. Nhưng quốc hội với áp lực của ‘Phong trào Hòa Bình’ đã thông qua dự luật vào năm 1973. Sẽ là bất hợp pháp nếu Tổng thống sử dụng bất cứ đồng nào trong công quỹ cho cuộc chiến tại Việt Nam, Lào và Cambodia. Làm như vậy, Quốc hội đã chuyển thắng thành bại. Quốc hội phản bội lời cam kết lịch sử của Hoa Kỳ là bảo vệ các nước không Cộng sản tại Đông Dương. Lúc ấy tôi làm việc tại Thượng nghị viện, nghị sĩ Ted Kennedy tuyên bố rằng ‘Việt Nam không cần giúp đỡ, họ đã có lượng vũ khí trị giá vô số triệu đô la’. Đó là sự thật, Việt Nam có phi cơ trực thăng, xe tăng Hoa Kỳ. Nhưng cái mà họ không biết là Việt Nam không có đạn, không có xăng, không có phụ tùng. Đống đồ đó trở nên vô dụng. Đây là câu chuyện tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe”.

Dù người Quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, nhưng danh bất tử. Vì sao, là vì trong suốt 20 năm chiến tranh, những nơi xảy ra chiến trận ác liệt, người Quân nhân của VNCH đã can trường biến những địa danh: Bình Long An Lộc (1972). Cổ thành Quảng Trị (1972). Đồi Charlie, Đắk Tô, Tân Cảnh (1972). Hải chiến Hoàng Sa (1974). Phòng tuyến Xuân Lộc (1975)... thành những địa danh nổi tiếng trong lịch sử thời cận đại và khi nhắc nhở đến những địa danh này đã làm sống lại tinh thần chiến đấu can trường của Quân lực VNCH.

Ngày nay, có nhiều người Quân nhân QLVNCH đã đến các nước tự do, dù không còn trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu nhưng đa số trái tim vẫn yêu nước nồng nàn, có những Quân nhân ngày nay không còn cầm vũ khí thì cầm bút chống Cộng rất mạnh mẽ và hiệu quả. Người Quân nhân QLVNCH luôn tâm niệm “Huynh đệ chi binh”, thế nên trong khi chiến đấu thì thân thương dìu dắt lẫn nhau, nay kẻ hải ngoại người quốc nội, tâm tư vẫn lo lắng cho nhau, nên chẳng những có nhiều người Quân nhân cùng Đồng bào luôn lo lắng giúp đỡ Thương binh VNCH trong nước đã, đang bị chế độ phân biệt đối xử?!

Thương binh tàn tật, sống gian nan
Xã hội đổi thay, quá phũ phàng!
Kẻ thắng hung hăn, cười ngạo nghễ
Người thua lận đận, tủi miên man!

Nhớ người thương tật, bởi quê hương
Đời sống khó khăn, cảnh đoạn trường!
Mong mỏi đồng bào, hoan hỷ giúp
Nhắn nhe chiến hữu, tận tình thương?!!!

Trong suốt 20 năm (1954-1975) chiến tranh tàn khốc đã gây ra số tử thương: Quân đội của VNCH bị tử thương khoảng: 250.000 người. Quân độ CSVN bị tử vong khoảng: 1.100.000 người, trong số này bao gồm chết vì chiến trận, chết vì bị máy bay trên đường xâm nhập vào Nam và chết vì bệnh tật. Thường dân Việt Nam bị chết khoảng: 3.000.000 người. Và hai nước láng giềng là: Cao Miên bị chết khoảng 70.000 người, Lào bị chết khoảng 50.000 người. Tổng kết quân đội các bên, kể cả quân Mỹ, Nam Hàn... giúp miền Nam; quân Tàu... giúp miền Bắc và thường dân Việt Nam, Miên và Lào, đã bị chết ước tính khoảng 4.480.000 người.

Quân lực VNCH, trên hai mươi năm gìn giữ miền Nam Việt Nam tự do, với những chiến tích lẫy lừng, chẳng những bảo vệ miền Nam Việt Nam tự do, phồn thịnh, mà còn chận đứng làn sóng xâm lăng ào ạt của Cộng sản suốt 20 năm dài đằng đẵng, đã làm cho cả thế giới phải tôn vinh và thán phục. Người Quân nhân VNCH đã để lại những tấm gương hào hùng lẫm liệt, tô điểm trang Sử Việt rực rỡ và giống nòi sẽ muôn đời lưu luyến biết ơn.

Trong suốt 20 năm chiến tranh, người Chiến sĩ của VNCH đã gian nan bền bỉ chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc và bảo bọc Đồng bào, biết bao người đã dũng cảm lẫm liệt hy sinh, lòng son sắt ấy mãi mãi thắm đượm núi sông. Người viết kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ anh linh của 250.000 người Chiến sĩ VNCH bị tử thương và lực lược đồng minh, với 58.000 người Chiến sĩ Hòa Kỳ đã hy sinh vì bảo vệ tự do tại miền Nam Việt Nam:

Xưa Chiến sĩ núi non lặn lội
Giữ tự do, vượt suối, băng rừng
Nhớ người son sắt kiên trung
Nhớ ơn báo quốc, hào hùng chiến công!

Nhìn thăm thẳm lên không lồng lộng!
Thấp thoáng xa những bóng anh linh!
Nhớ ra người đã hy sinh
Sao còn lẫm liệt, rập rình tiếng quân?!!!

Ngày nào mất, mộ phần không biết?!
Ngưỡng mộ người, thương tiếc, tiếc thương!
Nguyện cầu Tử sĩ muôn phương
Thảnh thơi cực lạc, thiên đường an vui!(*)

Ngày 9 tháng 6 năm 2014

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

50 Năm Ngày Quân Lực 19 Tháng 6

Giao Chỉ San Jose
Nửa thế kỷ đã trôi qua, cựu quân nhân VNCH vẫn còn nhớ mãi ngày quân lực. Khắp mọi nơi đều tổ chức họp mặt... bởi vì.. "Hồn lính còn vương trên tóc bạc, anh nhớ sa trường, em có hay..."

Ý nghĩa và lịch sử

Lịch sử miền Nam Việt Nam của chúng ta ngoài bất hạnh to lớn là ngày mất nước tan hàng 30 tháng 4-1975 còn có những bất hạnh nhỏ cũng khá đau thương.

Nếu chúng ta có những ngày ghi dấu rõ ràng như giỗ Tổ Hùng Vương, Hai bà Trưng, rồi trải qua các triều đại anh hùng chiến đấu chống Bắc phương của thời xưa thì ngày tháng lịch sử của một trăm năm qua có nhiều điều phiền muộn.

Không thể kể đến các ngày tháng mà phe cộng sản ồn ào tưởng niệm, riêng miền Nam chúng ta vẫn còn nhớ ngày 20 tháng 7-1954 chia đôi đất nước. Rồi đến 30 tháng 4-1975 mất nốt miền Nam. Đó là hai ngày quốc hận. Chúng ta có đến 2 ngày Quốc Khánh nhưng chẳng ngày nào được coi là toàn quân toàn dân đồng thuận. Ngày 26 tháng 10 của nền đệ nhất Cộng Hòa với tổng thống Ngô Đình Diệm cũng phải trả giá mở đầu bằng cuộc truất phế ông vua cuối cùng của triều Nguyễn trong chức vụ quốc trưởng và chấm dứt bằng cái chết của chính vị tổng thống đầu tiên. Qua nền đệ nhị Cộng Hòa của trung tướng Nguyễn Văn Thiệu đã ra đời bắt đầu bằng một ngày Quốc Khánh mới 1 tháng 11. Ở giữa 2 nền Cộng Hòa có ngày 19-6-1965. Ngày mà ông thủ tướng Kỳ gọi là ngày quân đội lên cầm quyền. Đó là ngày được chọn là ngày Quân Lực, chúng ta vẫn tưởng nhớ và kỷ niệm cho đến nay. Tại hải ngoại đây là ngày quân lực lần thứ 50.

Mặc dù không thích cái ý nghĩa nguồn gồc lịch sử của ngày Quân Lực, nhưng không phải vì vậy mà chúng tôi không tôn trọng nó. Đây chính là điều hẹn ước, đây chính là một sự thỏa hiệp. Đây là cái cây của tình chiến hữu, phải chăm sóc mới tồn tại và phải tưới nước bón phân mới sống được. Sau cùng, khi nói chuyện cũ vẫn có anh em trẻ hỏi rằng tại sao ngày xưa không lựa chọn một ngày nào khác có ý nghĩa và không hệ lụy với biến chuyển thời sự cuả các triều đại. Bèn kể lại chuyện lịch sử ngày Quân lực như sau:

Image
Ngày Quân lực 50 năm.
50 lần Quân Lực, viết cho đời lính.

Tôi đã từng đọc biết bao lần về lịch sử Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi lần đọc là một lần khắc khoải, nhưng rồi bụng lại bảo dạ, thôi không than thở nữa. Lần này vào dịp Quân Lực 19 tháng 6 năm 2015, lại xin gửi đến các chiến hữu một chút tâm sự.

Cũng như quý vị, chúng tôi không thích cái ý nghĩa nguyên thủy của Ngày Quân Lực mà ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đã khoe rằng, ông là cha đẻ. Chẳng phải bây giờ mới nói ra cái chuyện cũ kỹ đó, chúng tôi đã từng viết ra cảm nghĩ ray rứt ngay từ 50 năm về trước. Ngay từ ngày đó Giao Chỉ cũng đã vất vả về cây bút. Số là ngay sau khi đảo chính ông Diệm, tôi là sĩ quan đại diện Quân Khu I từ miền Đông lên họp Tổng Tham Mưu về đề tài đi tìm một ngày ghi dấu cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Anh em trong ủy ban các cấp ngồi bàn thảo. Lấy biết bao nhiêu ngày tháng lịch sử từ Bắc vào Nam, từ 1950 đến 1965 để đưa ra lựa chọn. Suốt cả chiều dài của lịch sử đều là những ngày tháng có liên quan đến việc hình thành quân đội quốc gia, nhưng chẳng chọn được ngày nào cho trọn vẹn ý nghĩa. Cái đắng cay của vấn đề là giai đoạn trước di cư 54, nghị định văn thư và hồ sơ thành lập đơn vị Việt Nam đều bằng tiếng Pháp và từ bộ tư lệnh quân đội Viễn Chinh đưa xuống. Lệnh cho thành lập BVN gọi là các tiểu đoàn Việt Nam cũng bằng Pháp văn. Lệnh cho tiểu đoàn 5 nhảy dù Việt Nam vào Điện Biên Phủ cũng do tướng Pháp ký. Tiểu đoàn trưởng cũng là người Pháp. Đọc lịch sử quân đội quốc gia trước thời 1954, bộ tổng tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Sài Gòn chưa tìm được một ngày cho đủ ý nghĩa của Quân Lực. Sau 1954 thì cũng có một số ngày tháng được trình lên để duyệt xét. Bản phúc trình có ghi lại một số dữ kiện mà ký ức mòn mỏi của tôi còn hình dung được một vài chi tiết như sau: Thời kỳ 46 – 47, quân đội Liên Hiệp Pháp bắt đầu tuyển mộ tân binh Việt Nam, các đơn vị bổ túc ra đời, các đại đội nhảy dù lính Việt do sĩ quan Pháp chỉ huy. Hiệp ước Hạ Long ngày 6 tháng 6-1948, vua Bảo Đại nhân danh Quốc Trưởng ký với Pháp có điều khoản thành lập Quân Đội Quốc Gia. Ngày 1 tháng 6-1949, khóa sĩ quan Việt Nam đầu tiên mở ra tại Huế. Bốn tiểu đoàn Việt Nam thành lập. Trong Nam là tiểu đoàn 1 Bạc Liêu và tiểu đoàn 3 Rạch Giá. Ngoài Bắc, tiểu đoàn 2 Thái Bình và tiểu đoàn 4 Hưng Yên. Tiểu khu Hưng Yên ngày đó là thời kỳ các sĩ quan trẻ gặp nhau. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, trung úy Cao Văn Viên và đại úy Trần Thiện Khiêm. Cao cấp nhất là đại úy Nguyễn Khánh sau thăng cấp thiếu tá. Sau này các sĩ quan ngày xưa trở thành quốc trưởng, tổng thống, thủ tướng và đại tướng tổng tham mưu trưởng. Đến khi tập hợp vào miền Nam. Quân Đội Quốc Gia gia tăng dần lên 60,000 quân nhưng chưa có được một ngày quân lực mang ý nghĩa rõ ràng. Phía chính phủ trước đó thì đã có ngày Quốc Khánh 26 tháng 10 tổ chức duyệt binh hàng năm ghi dấu Đệ Nhất Cộng Hòa của tổng thống Ngô Đình Diệm. Sau đó là đến thời kỳ đảo chính và những năm xáo trộn giữa các tướng lãnh với cả chục lần binh biến. Tuy nhiên, sau cùng miền Nam đã gượng gạo nhận ngày cách mạng 1 tháng 11 làm ngày Quốc Khánh mới.

Image
Ngày Quân lực 50 năm.
Tiếp theo, với sức ép của Hoa Kỳ và đòi hỏi của dân chúng, các vị tướng lãnh của thời kỳ hỗn loạn chính trị ở miền Nam đã miễn cưỡng lập ra một chính phủ dân sự tạm thời với cụ Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng và ông Phan Huy Quát làm thủ tướng. Tuy nhiên, các vị chính khách dân sự này không đủ bản lãnh để lãnh đạo đất nước trong một hoàn cảnh rất đen tối và phức tạp. Biết bao nhiêu tranh chấp giữa các đảng phái, các tôn giáo và rất nhiều khó khăn trong hoàn cảnh chiến tranh ngày một gia tăng và Mỹ ào ạt đổ quân vào Việt Nam để chặn đứng làn sóng đỏ. Thêm vào đó, quốc trưởng và thủ tướng lại bất đồng ý kiến nên nội các dân sự bèn tuyên bố bỏ cuộc, trao quyền lại cho các tướng lãnh. Các tướng lãnh niên trưởng của chúng tôi rất vui mừng họp bàn để nhảy ra chính trường gọi là nhận trách nhiệm lịch sử. Một cách hết sức khách sáo, các xếp vẫn nói là muốn rửa tay chính trị, không ham quyền lực nhưng tình thế bắt buộc phải ra nhận lãnh. Nhân danh quân đội, các đàn anh chúng tôi vẫn đeo sao trên cổ áo, họp hội nghị tranh cãi suốt ba ngày, đưa ông Thiệu, ông Kỳ ra cai trị đất nước gọi là ngày quân đội đứng lên làm lịch sử 19 tháng 6-1965. Không bao giờ tôi quên được ngày 19 tháng 6 đó. Tình cảm chân thành với quân đội thì luôn luôn gắn bó, nhưng bảo cái ngày đó là ngày toàn quân đứng lên làm lịch sử thì việc này chỉ có các xếp làm với nhau chứ đâu có ăn nhập gì đến toàn quân. Với bút hiệu Lính Chiến, tôi viết báo Chính Luận cho tổng thư ký Từ Chung qua mục “Một tuần vòng chân trời quân sự”. Tôi đã đưa ra quan điểm như trên. An Ninh Quân Đội của Quân Khu I ở Thủ Đức đã mời lên hỏi thăm sức khỏe. Gặp anh bạn quen nói rằng, “Thôi ông ơi, ông làm ơn nghỉ viết lách cho chúng tôi nhờ. Thời ông Diệm lên thì có 26 tháng 10. Đến thời ông Minh thì 1 tháng 11. Bây giờ ông Kỳ thì chọn 19 tháng 6.

Tuy nhiên, ngày đó các xếp đã chọn thì cứ coi như một hẹn ước giữa anh em mình. Bàn làm gì chuyện xa xôi cho thêm phiền. Viết lách làm gì cho rắc rối.” Đó là anh bạn đại úy an ninh quân đội đã nói chuyện với tôi đầu năm 1966. Năm đầu tiên có Ngày Quân Lực. Cho đến năm nay là 50 năm. Đúng như vậy, anh bạn cũ nhân danh An Ninh Quân Đội ngày xưa tra vấn tôi, nay đã qua đời. Đó là đại tá Trần Duy Bính. Nhưng lời chiến hữu nói ra vẫn còn ở lại. Quả thật, 19 tháng 6 hàng năm đối với chúng tôi chỉ là một ngày hẹn ước để gặp nhau. Người tự nhận là khai sinh cho 19 tháng 6 là ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ nay đã ra đi. Vị chủ tịch ký giấy ban hành nghị định 19 tháng 6 là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, cũng trở thành người thiên cổ. Vậy thì, nếu đã nhìn thấy những cay đắng của lịch sử như thế thì cái ý nghĩa của ngày 19 tháng 6 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nằm ở chỗ nào. Nghĩ như thế mà sao mỗi năm đến 19 tháng 6 vẫn thấy lòng rung động. Kỷ niệm 19 tháng 6 lần thứ nhất vào năm 1966 làm trong Bộ Tổng Tham Mưu. Năm sau 1967, duyệt binh lớn ở đường Trần Hưng Đạo. Rồi từ đó mỗi năm là có Ngày Quân Lực. Lúc làm quy mô, lúc thì thu hẹp. Cho đến năm 1973, sau khi vừa ký hiệp định Paris thì Tổng Tham Mưu tổ chức một cuộc duyệt binh vĩ đại đã được ghi vào bộ phim lịch sử ngày nay vẫn còn có dịp coi lại trên DVD. Năm đó chúng tôi tham dự trong ủy ban tổ chức tại Bộ Tổng Tham Mưu. Xin nhắc lại một vài kỷ niệm đáng ghi nhớ. Trước đó một tuần, anh hùng quân đội từ các đơn vị được chào đón tại thủ đô, dẫn đi thăm các danh lam thắng cảnh, các công xưởng quân đội, sau cùng còn du ngoạn Đài Loan. Ngày nay, tại San Jose chúng ta vẫn còn các bạn anh hùng quân đội đại diện không quân trung tá Nguyễn quan Vĩnh và đại tá Ngô Văn Định của TQLC. Thời đó các đoàn thể và thương gia khoản đãi đại tiệc suốt tuần. Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và phái đoàn chính phủ lên làm lễ tại Nghĩa Trang Biên Hòa. Khu Nghĩa Trang Quân Đội vào đầu tháng 6-1973 đã là nơi yên nghỉ gần 15 ngàn chiến sĩ, chiếm một nửa toàn thể khu vực dự trù cho 30 ngàn phần mộ. Các trận đánh khốc liệt từ 1968 Mậu Thân đến 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa đều có đại diện Hải Lục Không Quân về nằm dưới lòng đất lạnh. Tiếp theo ngày 19 tháng 6-1973, các đơn vị Hải Lục, Không Quân, các quân đoàn, các binh chủng, địa phương quân, nhân dân tự vệ, xây dựng nông thôn, thiếu sinh quân và nữ quân nhân đều có mặt tham dự một cuộc diễn hành lịch sử được coi là xuất sắc nhất. Và cũng thật đau thương, đây là cuộc diễn hành cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Image
Ngày Quân lực 50 năm.
Đoạn phim được dân Hà Nội coi lén sau 1975 hết sức trầm trồ là đoàn diễn hành nữ quân nhân. Nhịp bước quân hành của các thiếu nữ trong quân phục đã làm cho rung động cô sinh viên văn khoa Nông Thị Thanh Nga. Sau khi xem diễn hành ở đường Trần Hưng Đạo, cô ghi tên vào học niên khóa 1973-1974 để về sau ra trường trở thành thiếu úy huấn luyện viên cho đến lúc tan hàng tháng 4-1975. Ngày nay cô thiếu úy của quân đội Sài Gòn trở thành quả phụ bán hàng rong ở vỉa hè chợ Tân Định. Hàng năm đem vàng hương lên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nhớ về ngày 19 tháng 6. Nhưng bây giờ chúng ta hãy trở lại với Ngày Quân Lực năm 1973. Sau buổi diễn hành, tổng thống đãi tiệc buổi trưa các anh hùng quân đội tại Dinh Độc Lập. Buổi chiều thủ tướng khánh thành khu triển lãm của Hải Lục Không Quân và các công xưởng tiếp vận. Buổi tối là cuộc rước đuốc và xe hoa. Hàng ngàn ngọn đuốc sáng rực đô thành Sài Gòn hoa lệ tưởng chừng như hòn ngọc viễn đông sẽ vĩnh viễn sống mãi với Việt Nam Cộng Hòa. Cùng buổi tối, đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng tiếp tân tại Bộ Tổng Tham Mưu. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, phó tổng thống Trần Văn Hương, thủ tướng Trần Thiện Khiêm, toàn thể nội các, ngoại giao đoàn, phái đoàn quốc hội và các anh hùng quân đội tham dự đêm văn nghệ của biệt đoàn trung ương. Ngày vui quân lực của cả một thời xưa xa cách 50 năm tưởng chừng như mới hôm qua. Bây giờ năm 2015 đã trải qua 50 năm quân lực. Nếu ngày 19 tháng 6-1975, đất nước mà còn giữ được thì Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sẽ có lễ khánh thành đợt sau cùng với Nghĩa Dũng Đài hoàn tất cao ngất từng không, rực rỡ hàng đèn hai bên lối đi. Khu mộ chí tướng lãnh nằm ở vòng trong, rồi đến sĩ quan các cấp và hàng binh sĩ. Nhưng rồi ngày 30 tháng tư 2015 chợt đến, ai là người còn nhớ về thắp hương tại nghĩa trang Biên Hòa.

Khu nghĩa trang xưa trên 120 mẫu năm 1975 tính đến năm 2015 diện tích nghĩa trang thu hẹp lại chỉ còn trên 50 mẫu. Các gia đình đă cải táng di chuyển 5,000 và vẫn còn 11000 ngôi mộ với cỏ gai lấp đầy lối vào. Cho đến ngày 30 tháng 4 năm 2015 vừa qua, phong trào hải ngoại về trùng tu nghĩa trang đã hoàn tất được tổng cộng gần 2000 ngôi mộ, Khu Nghĩa dũng đài đã được dọn sạch. Cây cối được chính đốn lại và các con đường đuợc tu sửa. Các tổ chức hoàn toàn tự nguyện và hoạt động riêng biệt nhưng rất hữu hiệu. Không phối hợp nhưng cùng chung mục đích. Anh em đã về từ Úc ch âu, từ Pháp quốc và từ Hoa Kỳ. Hồ sơ nghĩa trang quân đội Biên Hòa đã có mặt tại bộ ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam. Có mặt tại tòa đại sứ Mỹ ở Hà Nói và Sài Gòn. Tại văn phòng huyện ủy Bình Đường và thủ tướng Hà Nội. Đặc biệt hơn nữa hồ sơ cũng luôn luôn trong tay vị đại tá Hoa Kỳ gốc Việt tùy viên quân sự Mỹ tại Hà Nội. Trong khi đó các Việt Kiều về thăm quê hương cũng đã có chương trình thăm nghia trạng Biên Hòa.Như vậy,trên phương diện chính thức, dù hoang phế điêu tàn nhưng Nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa vẫn còn tồn tại như một chứng tích của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Với những biến chuyển thời sự hiện nay, tuy muộn màng nhưng chắc chắn nghĩa trang sẽ trở thành vĩnh cửu cũng như lịch sử của Việt Nam Cộng Hòa. Các di vật của Liên Đội Chung Sự và của quân lực đã thu về Viện Bảo Tàng tại San Jose. Ngày quân lực năm nay, Việt Museum sẽ đón chào các cựu chiến sĩ ghé lại thăm. Đặc biệt các vị từ nơi xa về thăm sẽ có dịp ghi dấu hình ảnh ý nghĩa tại San Jose với tượng đài anh hùng và hàng ngàn di tích lịch sử. Các hội đoàn quân đội họp mặt xin liên lạc với chúng tôi để thu xếp thăm viếng chung và có thể tổ chức Picnic cho từng khóa anh em trong tinh thần thực sự huynh đệ chi binh.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image


Tiếng Nói Việt Nam Cộng Hòa


Vi Anh

Sự kiện lịch sử là chân lý, chân lý Ông Trời cũng không đổi được. Niềm tin này có thể thấy rõ trong chánh nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa, trong Chiến Tranh Việt Nam mà Mỹ đã tham dự nhưng bị những thành phần thiên tả, phản chiến Mỹ nắm truyền thông phủ lên một lớp bụi mờ làm cho công luận Mỹ chia rẽ, xã hội Mỹ phân hóa, và quần chúng Mỹ hiểu lầm, khiến Mỹ thua CS Bắc Việt ngay trên đồi Capitol tại thủ Đô của Mỹ. Nhưng không bao lâu sau những người Mỹ, những người Việt chánh trực, trung thực, công minh bằng cách này hay cách khác phủi lớp bụi mờ phản chiến, thiên tả, trả lại chánh nghĩa, chân lý cho Việt Nam Cộng Hoà và cho Quân Lực Mỹ tham chiến ở VN để bảo vệ lý tưởng tự do, dân chủ của Mỹ.

Một thời sự chánh trị mới nhứt chứng minh chánh nghĩa của Chiến tranh VN. Lần đầu tiên Mỹ tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm cuộc chiến Việt Nam tại Quốc hội Mỹ ngày 8/7/2015, sau Lễ Độc Lập của Mỹ mấy ngày. Có mặt đương kiêm Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner (Cộng Hoà) và Cựu Chủ Tich Hạ Viện Pelosi (Dân Chủ) nay là Trưởng Khối của Dân Chủ, đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Carter và Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hagel cựu chiến binh từng tham chiến VN và nhiều nghị sĩ, dân biểu thế lực của hai đảng có mặt, dự từ đầu tới cuối.

Nhưng quan trọng nhứt là những cựu quân nhân, thân nhân của những quân nhân Mỹ đã hy sinh mạng sống, những thương phế binh đã bỏ một phần thân thể trong chiến tranh VN, có mặt. Quốc Hội và Bộ Quốc Phòng nhân danh chánh quyền Mỹ của dân, vì dân, do dân long trọng và chánh thức rửa cho họ niềm đau, nỗi khổ, cái tủi, cái nhục mà Phản Chiến và Thiên tả đã oan sai gán cho họ là những người đã tham chiến Chiến tranh VN, một cuộc chiến không chánh đáng. Trong Chiến tranh VN ở Mỹ, Phản Chiến, Thiên tả đã dùng truyền thông, dùng biểu tình, dùng bầu cử bó tay quốc hội, hành pháp. Buộc quân đội Mỹ rút khỏi VN như quân thất trận ra khỏi chiến trường. Quân nhân Mỹ tham chiến ở VN về nước Mỹ không được thừa nhận là cựu quân nhân, không được quyền lợi cựu quân nhân. Còn chánh quyền Mỹ thì phản bội đồng minh, cúp viện trợ Việt Nam Cộng hoà, gián tiếp bức tử VNCH cho CS Bắc Việt cưỡng chiếm.

Trong buổi lễ do Quốc Hội tổ chức, RFI ghi nhận, “mở đầu buổi lễ, chủ tịch Hạ viện DB John Boehner mời tất cả những cựu chiến binh hiện diện trong khán phòng đứng dậy. Trong tiếng vỗ tay vang dội của gần một ngàn người tham dự, ông John Boehner ngỏ lời tri ân những chiến sĩ mà nay tuổi đã xế chiều. Ông nhấn mạnh, đất nước và nhân dân Mỹ phải nhớ ơn một thế hệ trẻ đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình cho lý tưởng tự do mà giá trị của nó luôn được ghi nhận. Ông nói “Họ đã đi, đã vào sinh ra tử, đã nằm xuống trên miền đất xa xôi mà rất nhiều người Mỹ thời đó không biết tới. Và nếu không chết, không bị tù tội mà còn sống trở về thì họ đã phải chịu đựng những lời chê trách nặng nề hay là bị quên lãng đi. Những chuyện như thế ngày hôm nay không còn nữa, những chuyện không hay ho như thế phải chấm dứt, phải trả lại sự xứng đáng và công lý cho những cựu chiến binh Việt Nam”, dân biểu John Boehner kết luận.

Cảm nghĩ của “Cựu chiến binh Ben Petrone ngồi trên xe lăn do vợ đẩy, chừng như không dấu được nỗi xúc động: “Thật tuyệt vời, cảm ơn rất nhiều, không gì có thể so sánh được. Sau một thời gian dài thì bây giờ tôi chỉ có thể nói được rằng trước kia nhiều người Mỹ đã hiểu sai về cuộc chiến Việt Nam mà chúng tôi là những người từng tham chiến. Đáng tiếc những người phản chiến đó đã bị hướng dẫn thông tin một cách sai lạc.”

Và người Việt ở Mỹ trong 40 năm qua cũng làm tất cả những gì có thể làm được để nói lên tiếng nói chánh nghĩa, tinh thần xây dựng tự do dân chủ của chánh quyền và quyết tâm vì dân chiến đấu vì nước hy sinh của quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà. Nhiều, nhiều những việc làm ấy lắm.

Quân thì cùng các tướng lãnh Mỹ tham chiến ở VN và các nhà phân tích chiến lược, sưu khảo, nghiên cứu, đối chiếu nhận thấy nếu Quân lực Mỹ bị cúp quân viện như Quân Lực VNCH thì chỉ có thể chịu đựng ba tháng chớ không phải gần ba năm như VNCH.

Dân thì nhận thấy suốt trong hai thời kỳ đệ nhứt và đệ nhị VNCH, hễ nói chạy giặc là chạy ra vùng người Việt Quốc gia, có đồn bót treo cờ nền vàng ba sọc dỏ, chớ không chạy vào vùng CS. Qua Mỹ người gốc Việt tiếp tục một cuộc “chiến tranh khác”, chiến tranh chánh trị, đấu tranh cho tự do, dân chủ nhân quyền VN, đưa nhân quyền VN vào Quốc Hội Mỹ, biến thành “trở ngại trung tâm” trong bang giao giữa Mỹ và CSVN. Giương cao ngọn cờ chánh nghĩa nền vàng ba sọc đỏ di sản của VNCH, được cả chục tiểu bang hàng trăm thành phố thừa nhân

Chánh quyền thì mới đây Đại Hoc Cornell (Cornell University) ở New York vốn là căn cứ địa của một số trí thức thiên tả, phản chiến chống Chiến Tranh VN. Nay gió đã đổi chiều. Đặc biệt là khoa truyền thông, xuất bản của Đại Học này gần đây được một một số trí thức, khoa bản công minh, chánh trực nắm. Nên có những hoạt động hội luận, nghiên cứu, sưu khảo trả lại chân lý, chánh nghĩa cho Chiến tranh VN, cho VNCH. Trong đó có nhưng người chánh trực như Chủ Nhiệm K.W. Taylor, thuộc bộ phận Cornell Southeast Asia Program Publications.

Mới đây đích thân vị này tự tay viết và gởi tặng cho toà soạn Việt Báo. Và hai tác giả quen biết với người viết bài này là Bác sĩ Mã Xái có gởi biếu, và Đốc sự Phan công Tâm có gọi điện thoại giới thiệu quyển “Voices from the Second Republic of South Việt Nam (1967- 1975)”.

Hình thức bên ngoài của cuốn sách lịch sử chánh trị này rất bắt mắt. Bìa màu xanh lá cây êm dịu, với hình quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà nền vàng ba sọc đỏ chiếm gần 1/3 trang. Toàn tiếng Anh rất thích hợp với lớp trẻ Mỹ gốc Việt bây giờ đã đông hơn lớp cao niên. Nhưng chữ in hơi nhỏ so với người lớn tuổi, có lẽ vì nội dung nhiều bài và nhiều sự kiện không thể rút ngắn, tóm gọn được

Nội dung bên trong. Lời cảm tạ của nhà xuất bản đối với Ô. Phan công Tâm đã đưa ý kiến tiên khỏi và giúp hoàn thành tác phẩm này và cám ơn những vị đóng góp bài vở và in ấn, phát hành.

Phần nhập đề “Voices From the South” (Tiếng Nói từ Miền Nam) do chủ biên K. W. Taylor viết. Đây có thể nói là một lượt sử của hai thời đệ nhứt và đệ nhị VNCH trong bối cảnh chánh trị liên quan đến Pháp, Mỹ, CS Liên xô và TQ. Sự hình thành, trưởng thành của VNCH. Đặc biệt VNCH vừa chiến đấu tự vệ chánh đáng, bảo vệ chánh nghĩa quốc gia kiên trì, và bờ cõi chống CS Bắc Việt xâm lăng, và vừa xây dựng chánh tri tự do, dân chủ, và kinh tế phát triển kỹ nghệ, nông nghiệp. Hình thành quốc hội lập hiến, làm ra hiến pháp, bầu quốc hội lập pháp. Xây dựng chánh quyền tam lập, cải cách ruộng đất, thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội. Phát huy giáo dục phổ thông tối đa, mở đại học tổng hợp, chuyên môn như đại học bách khoa, quốc gia hành chánh, võ bị, học viện cảnh sát. Phát triển quân đội, lực lượng bán quân sự, an ninh tình báo. Càng biết càng tiếc VNCH.

Ít có một quyển sách về Việt Nam nào cô động, đi sâu chỉ vào Đệ Nhị VNCH từ 1967-75 như cuốn “Voices from the Second Republic of South Viet Nam (1967- 1975). Và cũng ít có quyển sách nào dưa ra những lời của những nhân chứng trong cuộc, của thời ấy như vậy. “Voices from the Second Republic of South Viet Nam (1967- 1975) có 171 trang bên trong, chứa 10 bài của 10 nhân chứng sống, làm việc trong thời Đệ Nhị VNCH. Có tiểu sử của những nhân vật này ở phần sau cùng của tác phẩm.

Thiết nghĩ không có ai, không có bài điểm sách nào đúng đắn và đầy đủ như suy nghĩ và câu viết, lời nói của tác giả. Nhứt là nội dung của nhưng bài viết này liên quan đến lịch sử, kinh tế, chánh trị, hành chánh, quân sự của một đất nước, trong một thời đại khó khăn mà chánh quyền VNCH đệ nhị làm tất cả những gì có thể làm được cho quốc gia dân tộc mình. Nên người viết bài này xin phép chỉ ghi ra đây tựa bài và tên tác giả hầu giới thiệu cho bà con cô bác đọc và nhận định, nhứt là lớp trẻ sanh sau Chiến Tranh VN có dịp ôn cố tri tân.

Dẫn nhập là K.W Talor. Đây là những bài luận thuyết đọc trong dịp Đaị Học Cornell tổ chức hội luận. Tiêu sử của tác giả ở trang 169. Bài “Cái Nhìn của người Việt về Việc Tham Gia của Mỹ, do Bùi Diễm [thường được biết là Đại sứ VNCH viết]. “Chứng lý của Viên Chức Trung Ương Tình Báo Nam VN,” Phan công Tâm [là một trong những thành phần lãnh đạo chỉ huy cao cấp và thâm niên trong cơ quan Trung Ương Tình Báo/ VNCH]. “Từ việc Chống biểu tình Phản Chiến Đến việc Xây dựng Quốc gia”, Nguyễn ngọc Bích [Nhân sĩ hoạt động truyền thông và chánh trị]. “Một Thập Niên Công vụ: Xây dựng Quốc gia Trong Thời kỳ chuyển tiếp và Đệ Nhị Cộng Hoà, Trần quang Minh [Tiền sĩ Canh Nông]. “Xây dựng Kinh tế Thị Trường Trong Thời Chiến, Nguyễn đức Cương [Cựu Thứ Trưởng Thương Mại, Kỹ Nghệ]. “Từ Đệ nhứt đến Đệ Nhị Cộng Hoà: Từ Scylla đến Charybdis,” Phan quang Tuệ [Thẩm Phán Di Trú Mỹ]. “Lời chứng của một Cựu Dân Biểu của Quốc Hội Nam VN (1971-75),” Trần văn Sơn. “Đảng Tân Dại Việt và Sự Đóng Góp vài Công trình Xây Dựng Dân Chủ Đệ Nhị Cộng Hoà,” Mã Xái [Bác sĩ ở VN và MD ở Mỹ]. “Hải Chiến Hoàng sa,” Hồ văn Kỳ Thoại [Tướng Hải Quân VNCH]. “Quân sự và An Ninh,” Lữ Lan [Tưóng Lục Quân VNCH].

Xin trân trọng giới thiệu cùng bà con cô bác, nhứt là lớp trẻ gốc Việt của Việt Nam hải ngoại./. (Vi Anh)

__._,_.___

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Cuộc trùng phùng bi thảm

Phạm Tín An Ninh
Theo đoàn quân tiếp thu Sài gòn mà lòng ông Hai Chi rối như tơ vò. Ông và hầu hết các đồng chí của ông ngơ ngác tưởng như chuyện mộng mị không thể nào xảy ra. Chính đơn vị của ông bị đánh tan tác gần như phải xóa sổ trong mùa hè 1972, đến nay vẫn chưa bổ sung xong, và đám bộ đội còn sống sót cũng chưa kịp hoàn hồn. Vậy mà Ban Mê Thuột mất, Tây Nguyên, Vùng 2, đến Vùng 1 có lệnh bỏ, để rồi cả miền Nam thất thủ chỉ trong vòng bốn mươi lăm ngày. Có lẽ những người ngồi trong Bộ Chính Trị ngoài Hà Nội cũng còn bất ngờ, huống hồ Hai Chi, chỉ mang quân hàm thiếu tá, làm sĩ quan hậu cần của một sư đoàn nằm tận vùng rừng núi Tây Nguyên heo hút..

Từ ngày vào bộ đội, ông Hai Chi luôn bị điều về những đơn vị chiến đấu. Nhờ phước đức mấy đời nên còn sống cho đến ngày tàn cuộc chiến. Không chết, nhưng trên người, và có thể cả trong lòng ông còn mang nhiều thương tích. Vết thương nặng nhất khi đơn vị ông bị B.52 dội bom trong trận Hạ Lào. Tiểu đoàn do ông làm thủ trưởng chỉ còn lại dưới 50 người. Nhờ thương tích ấy ông được điều về Sư Đoàn 320 làm cán bộ hậu cần. Mùa hè năm 1972, cả sư đoàn từng mang danh là Sư Đoàn Điện Biên hay Sư Đoàn Thép này gần như bị xóa sổ, khi tướng Hoàng Minh Thảo tung vào trận địa Kontum với ý đồ chiếm lấy Tây Nguyên, làm bàn đạp tiến xuống đồng bằng. Nhờ làm việc ở hậu cần nên ông Hai Chi sống sót để cuối tháng 4/75 có mặt trong đoàn quân ngơ ngác về tiếp thu Sài gòn.

Hai Chi chỉ là bí danh. Tên thật của ông là Nguyễn Công Chính, con cả của một gia đình gốc tiểu tư sản. Quê ở Hải Phòng. Trước 54 gia đình làm chủ một tiệm bán xe đạp và sản xuất găm bánh xe. Bố mẹ sinh được năm người con, nhưng cả ba cô con gái mất sớm, chỉ còn hai cậu con trai, Hai Chi và người em út, nhỏ hơn đến mười một tuổi. Khi ông đang học Y khoa ở Đại Học Hà Nội, thì trận chiến Điện Biên Phủ kết thúc với sự thắng lợi của phe Việt Minh để Pháp phải ký Hiệp Định Genève, chia đôi đất nước. Từ vỉ tuyến 17 trở ra cả miền Bắc thuộc về Cộng Sản. Làn sóng di cư đổ xô về Hải Phòng, quê ông, nơi có những chiếc tàu há mồm chở họ vào Nam. Bị lực lượng Việt Minh tìm mọi cách ngăn chặn, nên khi ông về đến được Hải Phòng, thì nhà cửa đã bị tich thu, không tìm được bố mẹ và người em trai của mình. Ông phải bỏ Hải Phòng, bỏ cả con đường trở thành bác sĩ, lên sống với một bà dì trên Ý Yên, Nam Định.

Nhờ có trình độ học vấn và phấn đấu liên tục để giấu đi gốc gác con nhà tiểu tư sản, ông được cho theo học khóa sĩ quan. Nhưng sau này, khi hầu hết bạn bè cùng khóa lên đến cấp đại tá, thiếu tướng, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội hay công an, có người còn lọt vào Bộ Chính Trị, thì ông Hai Chi cứ vẫn là thiếu tá tiểu đoàn trưởng và cuối cùng, sau khi bị thương, được điều về làm cán bộ hậu cần của một đơn vị bại trận, cần thời gian để “biên chế”, bổ sung.

Giữa tháng 3/75 Ban Mê Thuột mất, rồi Quân Đoàn II và Quân Đoàn I gần như xóa sổ, sau những kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sữ chiến tranh, để cuối cùng ngày 30/4/75 cả miền Nam rơi vào tay Cộng sản.

Sư Đoàn 320 từ Tây Nguyên cũng được tăng cường cho đoàn quân tiến về Sài gòn, khi Cộng quân bị các đơn vị VNCH chặn đánh tại tuyến Long Khánh gần hai tuần lễ gây tổn thất khá nặng nề. Chiến tranh kết thúc, ông Hai Chi được chỉ định bổ sung cho đoàn cán bộ tiếp thu Tổng Kho Long Bình của QLVNCH bỏ lại. Sau thời gian quân quản, ông là một trong số những cán bộ may mắn được “biên chế” ở lại miền Nam. Nhiệm vụ của ông là kiểm kê và tổ chức chuyển hàng trong các kho về miền Bắc. Từng đoàn xe liên tục từ Nam ra Bắc suốt ngày đêm, chở theo các loại chiến lợi phẩm, không những đã tịch thu được của Quân Đội hay Chính Phủ mà của cả dân chúng miền Nam, nhất là sau kế hoạch “Đánh Tư Sản”. Lúc này trong dân gian truyền miệng một câu nói khá đau lòng mà lý thú: Đất nước thống nhất để miền Nam thì nhận họ, còn miền Bắc thì nhận “hàng”. Như con chuột gầy sa hủ nếp, ông Hai Chi trở nên giàu có. Ngôi biệt thự tại thành phố Biên Hòa tịch thu từ gia đình một tư sản gốc Hoa được cấp cho ông, cũng là nơi để ông cất giấu hàng ngàn cây vàng kiếm được. Một năm sau, vợ và đứa con trai của ông cũng từ ngoài Bắc được chuyển vào ở với ông. Học đòi một chút vương giả, bà vợ muốn có người ở, phụ bà lau nhà rửa bát và để cho bà có người sai vặt. Nhưng ngại nếu thuê mướn một người lớn, chuyện “làm ăn” và cả sinh hoạt trong nhà dễ bị “tai vách mạch rừng” lọt ra ngoài, nên sau khi bàn tán kỹ lưỡng, vợ chồng Hai Chi quyết định đi xin một đứa con nuôi. Vừa có một đứa đầy tớ không mất tiền thuê, vừa được tiếng nhân từ, giữ “truyền thống đạo đức cách mạng”.

Vợ chồng ông Hai Chi tìm đến các viện cô nhi để tuyển lựa “đối tượng”. Ông bà muốn có một đứa con gái khoảng 7-8 tuổi, khỏe mạnh và mặt mày sáng sủa. Cuối cùng vợ chồng cũng được như ước muốn. Khi bà sœur “quản nhiệm” Cô nhi viện Biên Hòa dắt con bé ra giao, bà chỉ cho biết con bé tên Phượng, 8 tuổi. Bố mẹ đã chết trong trận đánh Long Khánh. Có người thấy nó ngồi khóc trên vỉa hè nên mang về nhà nuôi. Một thời gian sau “giải phóng” gia đình này trở nên túng quẩn, không có đủ cơm ăn, đúng lúc con bé lại bệnh hoạn không sai bảo gì được, nên đã mang cháu đến giao cho cô nhi viện. Lúc ấy cô nhi viện cũng lâm vào cảnh khốn khó, nhưng các sœur không nở chối từ, chia bớt phần ăn của mình, lo chữa trị và nuôi dưỡng cháu lành bệnh, ngày một khỏe mạnh, xinh xắn.

Thực ra, thì sœur quản nhiệm biết bố của Phượng là lính Cộng Hòa, qua lời kể dù không rõ ràng lắm của cháu, nhưng trong thời buổi nhá nhem còn đầy không khí hận thù lúc ấy, sœur luôn dặn dò Phượng phải giấu kín điều này không cho ai biết. Ông Hai Chi làm khai sanh cho con bé, đặt tên Nguyễn Thị Hồng Phượng, để nhớ tới thành phố “Hoa Phượng Đỏ” Hải Phòng, quê hương ông.

Những năm 1978 – 1979, bọn cầm quyền cộng sản muốn đuổi những người Viêt gốc Hoa ra khỏi nước nhằm cướp hết tài sản của họ, bày ra chiến dịch quái đản, được người ta đặt tên là “Ra đi bán chính thức”. Nhờ biết tiếng Hoa và có nhiều kinh nghiệm trong các đường giây mua bán, ông Hai Chi lại được “đồng chí” Mười Vân ( tên trên giấy tờ là Nguyễn Hữu Giộc) , Giám đốc công an tỉnh Đồng Nai móc nối vào tổ chức “đen”, vừa đi tìm những người Việt gốc Hoa giàu có (và cả những người không phải gốc Hoa nhưng chịu chi nhiều vàng để nhận hồ sơ Hoa kiều giả), vừa cho đám đàn em lập ra những toán “lâm tặc” chiếm cứ, làm chủ các khu rừng, chặt hết gỗ quý đóng tàu bán với giá rất cao cho các nhóm người Hoa “ra đi bán chính thức”. Bọn họ mở nhiều xưởng cưa, nhiều cơ sở đóng tàu. Chỉ sau một thời gian ngắn, Hai Chi đã trở thành đại gia, một nhà tư bản đỏ đầy quyền lực.

Bé Hồng Phượng lớn lên theo nhịp độ phát đạt của gia đình ông Hai Chi cùng nỗi cơ cực của một ô-sin. Điều may mắn duy nhất, cũng có thể do ông bà Hai Chi muốn tránh tiếng xấu, Phượng được cho đi học lớp đêm, và nhờ vào tính thông minh cần mẫn, Phượng học rất giỏi.

Điều may mắn khác, nhưng lại trở thành tai họa cho Phượng, là càng lớn Phượng càng xinh đẹp. Năm lên 16, nhan sắc của Phượng đã làm si mê bao cậu học trò. Và người say mê nhất lại là Diệp, thằng con trai duy nhất của ông bà Hai Chi. Diệp lớn hơn Hồng Phượng 3 tuổi và khi ấy đang là sinh viên của Trường Đại Học Bách Khoa. Mỗi lần Phượng ra ngoài, Diệp tìm mọi cách đi theo, ngăn chặn bất cứ gã con trai nào muốn tán tỉnh Phượng, lấy cớ là anh trai của Phượng. Ở nhà, Diệp thường bênh vực Phượng, trách cứ mẹ đã bắt cô em nuôi phải làm quá nhiều công việc.

Chưa bao giờ Diệp tỏ ra mình là một ông anh nhân từ tốt bụng như lúc này. Hơn nữa cậu ta cũng nể nang, tôn trọng nết na hiền thục cùng sự khôn ngoan của Phượng. Bà Hai Chi vốn nuông chiều cậu quí tử nên không dám làm Diệp buồn lòng. Điều này làm bà khó chịu, nhưng đó không phải là điều mà bà quan ngại. Điều lo âu nhất của bà chính là ông Hai Chi, mỗi lần bà bất ngờ bắt gặp đôi mắt của ông chồng say đắm nhìn cô con gái nuôi trong tuổi dậy thì xinh đẹp, cũng là con bé ô-sin của nhà bà.

Ngày xưa, sau khi kết thúc chiến tranh, ông cũng nể nang cái tình bao năm chờ đợi và thương cảm cảnh khổ của bà, nhưng kể từ ngày kiếm ra nhiều tiền, ông tỏ ra uy quyền và lơ là chăn gối với bà. Bà tìm mọi cách để giữ chồng. Nhờ người giới thiệu một số bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ tiếng tăm ở Sài gòn, chịu bỏ ra một số tiền khá lớn, bà là một trong những người Hà Nội 75 sửa sắc đẹp sớm nhất. Nhờ tài năng của mấy ông bác sĩ miền Nam còn sót lại, nhan sắc của bà có khá hơn nhiều lắm, nhưng so với những cô gái miền Nam, thì bà vẫn chỉ thuộc loại hàng phế thải được “tân trang” phần bên ngoài. Không đủ hấp dẫn ông chồng đang trên đà “đổi mới tư duy”

Vốn là con gái của một gia đình cộng sản, và sống bao nhiêu năm dưới chế độ tàn ác man rợ này, bà đã học được biết bao mưu chước và thủ đoạn để hại người. Trước mắt chồng con, bà luôn tỏ ra thương yêu nhỏ nhẹ với Phượng, nhưng trong đầu đang bày mưu tính kế để hãm hại cô bé mồ côi tội nghiệp này.

Ban đầu bà tính tạo cơ hội cho Diệp, thằng con trai duy nhất của bà cướp đi đời con gái của Phượng, để cho ông chồng già chứng kiến, bỏ cuộc, rồi lấy cớ đuổi Phượng đi, nhưng ngẫm nghĩ thấy mưu kế này có thể là con dao hai lưởi, không chừng thằng quý tử của bà mê luôn Phượng và quyết lấy Phượng làm vợ thì quả là tai họa, gậy bà lại đập đúng lưng bà! Không thể nào để con trai một của cán bô đại gia đi lấy con ô-sin. Cuối cùng bà nghĩ tới tay đàn em thân tín của ông. Bà để ý mỗi lần đến nhà, thấy Phượng là anh chàng này như kẻ mất hồn, nhìn chăm chăm vào Phượng rồi bất ngờ giật mình, sượng sùng quay đi chỗ khác. Hắn e ngại vì dù gì Phượng cũng là con gái nuôi của ông Hai Chi. Hắn tên Đạt, thượng úy công an, tay chân đắc lực của gã Mười Vân, giám đốc công an tỉnh, được “đặc phái” tới làm việc bên cạnh ông Hai Chi trong tổ chức “đen”, móc nối đưa người Hoa ra đi và phá rừng lấy gỗ.

Đạt có vợ, một con mang từ miền Bắc vào. Nghe nói cô vợ, trước kia là một “bộ đội gái”, từng mấy năm ở trạm giao liên trên miệt Trường Sơn trong thời “chống Mỹ”, phục viên khi chiến tranh kết thúc, nhưng con vi trùng bệnh sốt rét rừng vẫn còn mai phục trong máu, nên trông khá xanh xao vàng vọt.

Bà Hai Chi biết Đạt mê mệt cả nhan sắc lẫn thân hình của cô con gái nuôi đang độ dậy thì, nên đã dễ dàng dụ chàng ta vào kế hoạch. Hắn ta bất ngờ như trúng số độc đắc cặp mười, đưa tay thề xin hứa sau này sẵn sàng làm bất cứ mệnh lệnh nào của bà. Bà đích thân ra chợ trời tìm mua mấy gói thuốc ngủ. Tổ chức buổi cơm cuối tuần, gọi Đạt đến nhậu nhẹt cùng chồng như mọi khi. Trong bữa ăn, ông Hai Chi, Đạt và cả thằng Diệp thi nhau uống rượu ngoại. Chỉ có bà và Phượng uống nước cam vắt do chính tay bà làm. Trong bếp, bà đã lén bỏ vào ly nước của Phượng mấy gói thuốc ngủ mà bà đã tán nhỏ ra bột. Khuya hôm đó sau khi thấy Phượng thắm thuốc, ngủ say, bà mở cửa gọi Đạt vào để hiếp Phượng. Bà giả vờ vào phòng nằm với chồng, chờ tiếng ho, như là một ám hiệu của Đạt, sau khi đã thỏa mãn cơn dục tình thèm khát bấy lâu nay. Bà chuẩn bị lấy giọng để la lên cho cả ông Hai Chi và thằng Diệp chứng kiến cảnh Phượng đang lõa lồ sau khi ân ái với thằng đàn em thân tín của ông. Bỗng dưng bà nghe nhiều tiếng động và sau đó là một tiếng súng nổ chát chúa từ phòng của Phượng. Không cần gọi, tất cả ông Hai Chi, thằng Diệp và bà vội vàng chạy ùa vào. Một cảnh tượng kinh hoàng. Đạt nằm trần truồng trên vũng máu, còn Phượng nép vào góc phòng hai tay còn cầm chặt khẩu súng K54 sẵn sàng nhả đạn tiếp.

Ông Hai Chi năn nỉ dụ dỗ mãi, Phượng mới đưa khẩu súng cho ông. Nhưng thằng Diệp vội vàng giật lấy khẩu súng từ tay cha với ý định xử tội Đạt. Trong lúc giằng co, một phát đạn nổ, may mắn không gây thêm thương tích. Tay thượng úy Đạt bị thương rất nặng ở vùng bụng, được xe cứu thương chở vào bệnh viện Biên Hòa cứu chữa, sau khi ông bà Hai Chị vội vã mặc áo quần vào cho hắn. Thằng Diệp hò hét chạy theo đòi giết hắn ta. Bà Hai Chi thì rất đỗi ngạc nhiên, cứ nghĩ rằng mấy gói thuốc như vậy, nhất định sẽ làm Phượng say ngủ mê man tới sáng, tại sao lại có thể giật súng bắn thằng Đạt. Sau này, bà nhờ bác sĩ thử nghiệm, kết quả: bình thường. Hóa ra thuốc bán ngoài chợ trời chỉ là thuốc giả.

Tay Đạt thoát chết nhưng bị cắt đi một khúc ruột và mất khá nhiều máu. Phượng bị bắt giam. Thằng Diệp đòi ra công an làm chứng, tố cáo Đạt chủ động hiếp dâm và Phượng chỉ tự vệ. Nhưng ông bà Hai Chi vừa quyết liệt ngăn cản vừa năn nỉ. sợ mang thêm tai họa. Bà Hai Chi lo lắng bị lộ ra cái quỷ kế ác độc của bà. Còn ông Hai Chi thì nghĩ Đạt là đàn em thân tín của tay Mười Vân, giám đốc công an tỉnh, quyền uy như ông vua một cõi. Đến các “đồng chí” phó bí thư, ủy viên thành ủy còn bị hắn ta lập kế bắt giam năm ngoái. Vả lại tay Đạt cũng chưa làm gì được thì đã ăn đạn rồi. Hắn ta chủ quan, cứ tưởng là Phượng đã say thuốc ngủ. Trút bỏ hết áo quần và cả khẩu “súng ngắn” để trên giường, trước khi đưa hai bàn tay sàm sở lên người Phượng. Chưa kịp bàng hoàng khi bất ngờ bị Phượng đạp mạnh xuống giường thì một phát súng đã nổ vào bụng. Cuối cùng Phượng bị tạm giam để đưa ra tòa án nhân dân, với cái tội “phản động”đã định sẵn. Các báo Sài Gòn Giải Phóng, Thanh Niên cho đăng tải tin tức này theo chỉ thị: “tàn dư Mỹ Ngụy dùng mỹ nhân kế ám sát cán bộ cách mạng”

****

Trận chiến Long Khánh, dưới tài chỉ huy của Tướng Lê Minh Đảo, đại quân CS bị các đơn vị VNCH chặn đánh tan tác. Đặc biệt hai quả bom CBU được thả xuống địa điểm “tập kết” của địch, giết cả hai trung đoàn “sinh Bắc tử Nam”. Mang hận thù này, nên sau khi chiếm được Long Khánh, bọn chúng đã bắn giết dã man bao người dân vô tội, trong đó có mẹ của Phượng. Khi xông vào nhà, thấy tấm ảnh của bố Phượng treo trên vách, mang quân phục và cấp bậc VNCH, chúng đã bắt trói mẹ Phượng dẫn đi. Phượng chạy theo khóc kể, rồi lạc vào một nơi xa lạ đầy những xác người, sợ hãi, không còn biết đường về. Bố của Phượng là sĩ quan thuộc một Liên Đoàn Biệt Động Quân từ Vùng 3 tăng phái cho Vùng 2, bị bắt lúc bị thương trên đường di tản theo Tỉnh Lộ 7B từ Pleiku vào giữa tháng 3.75. Ông bị cầm tù qua rất nhiều trại. Nhiều năm sau không hề biết được tin tức vợ con, ông nghĩ là tất cả đã chết vì biết có những trận đánh lớn tại Long Khánh trước ngày mất nước.

Ngày 2/ 9 năm 1984, ông được thả. Ra tù, ông vội vã tìm về Long Khánh. Ngôi nhà của cha mẹ để lại, nơi vợ con ông đã sống từ ngày sinh ra Phượng, đã bị “cách mạng” tịch thu. Người chủ mới là một gã công an. Khi nghe ông hỏi thăm vợ con mình, những người chủ đích thực của căn nhà này, gã công an trợn mắt nhìn chằm chặp vào ông rồi thốt ra mấy tiếng cộc lốc, lạnh lùng: “tôi không biết, hỏi làm gì?”, bằng giọng đặc sệt Nghệ Tĩnh rất khó nghe. Khi đến trình diện công an xã, ông bị chỉ định về trình diện chính quyền trong một Khu Kinh Tế Mới nằm sâu trong núi để được tạm trú và quản chế. Một nơi ông hoàn toàn xa lạ, không có bất cứ một người thân quen nào.

Ông đón xe đi Biên Hòa, nơi có trại gia binh nằm bên cạnh doanh trại của đơn vị ngày xưa. Chắc chắn là trại gia binh đã bị tịch thu, nhưng hy vọng tìm được người tài xế và vài người lính cũ có thể còn ở lại gần đâu đó. Họ là những người thân thiết cuối cùng còn lại trong đời ông. Ông muốn đến thăm và tìm hiểu tình hình hầu tìm một con đường sống.

May mắn, anh tài xế vẫn còn ở căn nhà cũ phía ngoài trại gia binh. Căn nhà tôn mà trước kia vợ chồng anh đã hốt hai đầu hụi và mượn thêm cả một tháng lương của ông để mua với giá rẻ, mở cái quán nước nhỏ, bán cho anh em lính. Bây giờ cái quán không còn, nhưng anh hành nghề xe ôm với chiếc Honda từ đời 70 còn lại, nên cuộc sống cũng đáp đổi qua ngày. Thầy trò gặp nhau bất ngờ như từ cõi chết trở về, vừa vui mừng vừa cảm động. Anh tài xế ôm chầm lấy ông, bảo hết mình lo lắng cho ông Thầy. Anh bảo vợ và thằng con trai lớn chạy đi báo tin, gọi thêm hai anh em cùng đơn vị cũ còn ở lại trong vùng. Mỗi người góp một tay, làm mấy món nhậu uống mừng được gặp lại ông Thầy.

Men rượu ngà ngà, nước mắt ông cũng đầm đìa vì cảm kích cái tình huynh đệ, và nhớ tới những anh em đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại trên con đường 7 B oan nghiệt, tất cả đều chết trong tức tưởi. Bỗng tất cả im lặng hướng về chiếc máy truyền hình nhỏ để trên tủ thờ trước mặt, khi nghe giọng nói sắc máu của người nữ xướng ngôn viên thông báo trực tiếp phát sóng: Tòa Án Nhân Dân tỉnh Đồng Nai xét xử một cô gái mang tội “phản động, âm mưu ám sát cán bộ cách mạng”. Ông há hốc miệng, đôi mắt ráo hoảnh, khi nhìn thấy cô con gái đứng trước vành móng ngựa, hai tay bị còng, phía sau là một đám công an cả nam lẫn nữ mặt mày đằng đằng sát khí. Cô bé giống vợ ông như đúc. Khuôn mặt hiền lành xinh đẹp này ông đã gặp bao nhiêu lần trong giấc mộng, suốt hơn chín năm tù. Không kịp giải thích, ông bảo anh tài xế tìm mọi cách giúp chở ông thật nhanh đến tòa án Biên Hòa, nơi phiên xử mới bắt đầu.

Chỉ hơn 10 phút sau anh tài xế và ông đã có mặt. Phiên tòa đang tiếp tục phần “buộc tội” của một bà được gọi là đại diên Viện Kiểm Sát Nhân Dân. Ông giật mình khi nghe tên cô con gái “thủ phạm” là Nguyễn Thị Hồng Phượng. Đứa con gái duy nhất của ông có tên Nguyễn Lê Tuyết Phượng. Chưa kịp hình dung trọn vẹn hình ảnh người vợ và đứa con gái năm tuổi, khi ông được ba ngày phép về nhà đưa cháu vào bệnh viện mỗ tim rồi vội vàng chia tay lần cuối cùng để ra đơn vị, thì một điều bất ngờ khác làm ông bàng hoàng hơn: Người nhân chứng được gọi lên cung khai có tên là Nguyễn Công Chính, trùng tên với ông anh cả, đã thất lạc trên ba mươi năm, sau ngày ông cùng bố mẹ di cư vào Nam. Khi nhìn kỹ Nguyễn Công Chính bước lên vị trí nhân chứng, ông sững sờ nhận ra ngay, đó đúng là người anh ruột của mình. Dù dung mạo có đổi thay, nhưng ông không thể nào nhầm lẫn được. Với con mắt hơi lồi và hàm răng vễnh của bao năm trước. Lúc còn bé, ông anh còn có tên gọi trong nhà là cu Tun. Ông đứng bật dậy, định gọi lớn tên anh mình, nhưng kịp nhớ ra đang ở trong phiên tòa, và bản thân mình cũng là người tù chưa trình diện nơi quản chế. Lòng dạ rối bời, ông chưa kịp trấn tỉnh để nghe nhân chứng vừa nói điều gì, thì bỗng có tiếng la từ hàng ghế phía trước. Một cậu thanh niên đứng bật dậy, hét to:

-Tôi là Nguyễn Công Diệp đã đủ tuổi để xin làm nhân chứng. Tôi chứng kiến tận mắt, ông thượng úy Đạt định hiếp Phượng, cô em nuôi của tôi. Em tôi chỉ phải tự vệ bằng chính khẩu súng của ông Đạt.

Bất chấp tiếng búa gõ và phản đối ra lệnh ngồi xuống của chủ tọa phiên tòa, cậu thanh niên vẫn tiếp tục:

-Khi bị bắn, ông Đạt nằm trần truồng ngay dưới giường ngủ của em tôi, chứ không phải mặc nguyên áo quần công an như bố tôi vừa nói. Tôi phản đối.

Tất cả nhốn nháo. Có lệnh tạm ngưng phiên tòa, buổi chiều sẽ nghị án. Ông Trực vội vàng chạy tới Phượng, nhưng chưa kịp nói điều gì thì mấy gã công an đã đẩy Phượng đi. Ông chạy ra hành lang tìm gặp Hai Chi. Ông ta bỏ đi trước một mình khi vợ và đứa con trai đang còn lớn tiếng cãi nhau

Khi thấy có người đập mạnh trên vai, ông Hai Chi quay lại, nhưng chưa kịp nhận ra ai. Nước mắt ràn rụa, giọng nói dường như nghẽn lại, ông Trực cố gắng lắm mới thốt ra lời:

-Anh Cu Tun ơi! Em là Trực, Nguyễn Công Trực, em út của anh đây. Cháu Phượng là con gái của em!

Ông Hai Chi khựng lại, sững sờ, trố mắt nhìn. Trời đất như quay cuồng trước mặt khi ông vừa nhận ra đứa em thất lạc đã gọi đúng cái tên cúng cơm của mình mà cả vợ con ông cũng chưa hề biết. Ông kéo tay ông Trực ra xa, đến dưới một bóng cây bên kia đường vắng. Trời đang vần vũ một cơn mưa. Cả hai đều chưa biết tung tích của nhau, nhưng riêng ông Trực thì đã đoán ông anh của mình phải là một cán bộ cộng sản cao cấp, với cái vẽ bệ vệ của ông cùng sự sang trọng của bà vợ và đứa con trai. Một cảm giác rờn rợn lẫn một chút xót xa thoáng qua trong đầu ông Trực. Ông Hai Chi căn dặn Trực tạm thời đừng tiết lộ điều gì với vợ và con trai ông. Bởi vợ ông là một người cộng sản thực thụ, có thể gây bất lợi cho em mình. Ông sẽ bảo vợ, Trực là một đàn em thân tín nhưng hoạt động trong bí mật.
Đưa Trực về nhà. Cả một buổi trưa, ông Hai Chi tưởng mình như đang rơi xuống chín tầng địa ngục. Ngoài trời mưa tầm tã, nhưng trong lòng ông nóng còn hơn lửa đốt. Ông nhắm mắt ngữa mặt lên trần nhà khi nghe người em của mình cho biết:

-Bố mẹ đã chết trong Tết Mậu Thân do pháo kích của các anh. Em bị các anh bắt giam cầm hành hạ hơn 9 năm trời, tưởng đã bỏ xác trong tù, vợ em có lẽ cũng bị các anh giết tập thể ở Long Khánh, và cháu Phượng là đứa con duy nhất của em, mới mấy tuổi đầu mà phải bị ức hiếp tù đày.

Là một người Cộng sản “theo thời thế”, ông Chính vẫn còn ít nhiều cái gốc tiểu tư sản. Một chút lương tâm còn sót lại bỗng làm ông bật khóc. Thực ra thì ông cũng đã từng bao lần khóc thầm, khi suýt bỏ mạng ở các chiến trường Hạ Lào, Tây Nguyên, chứng kiến những cái chết kinh hoàng và vô nghĩa của hàng vạn thanh niên nam nữ từ miền Bắc bị cưỡng bách đi B. Vài lần thoáng hiện trong đầu ông hai chữ “hồi chánh”, nhưng phân vân vì khi ấy vợ con ông ở ngoài Bắc, chắc chắn sẽ phải khốn khổ với đám cường quyền. Ý tưởng chưa ngã ngũ thì chiến cuộc kết thúc nhanh chóng đến bất ngờ. Ông tiếp tục “nín thở qua sông”, cố đóng cho thật khéo vai trò “đảng viên trung kiên”, để hưởng cho tròn cái lợi danh của người “bên thắng cuộc”.

Buổi chiều, phiên tòa tái nhóm. Ông Hai Chi xin được phản cung, thay đổi lời khai nhân chứng. Là một đảng viên có chức quyền, lại là bạn thân của “đồng chí” Mười Vân giám đốc ông an tỉnh, ông cũng được mấy ông bà “quan tòa” vị nễ. Nhưng tất cả đều ngỡ ngàng khi nghe ông tuyên bố:

-Lời nói của cậu con trai tôi sáng nay là đúng. Chính đồng chí thượng úy Đỗ Hữu Đạt đang thực hiện ý đồ hiếp dâm cháu Nguyễn Thị Hồng Phượng, là con gái nuôi của chúng tôi, còn đang tuổi vị thành niên. Với tư cách là một đảng viên và cán bộ nhà nước, tôi cam kết những lời xác nhận này là hoàn toàn chính xác. Sáng nay, vì muốn giữ danh dự cho chiến sĩ ngành công an, tôi có ý che giấu cho anh Đạt, nhưng rồi tôi đã kịp nghĩ ra, làm như vậy trước tòa là phạm pháp, có tội với đảng, với nhân dân.

Bà Hai Chi tròn mắt ngạc nhiên, tức giận, trước thái độ thay đổi bất ngờ của ông chồng.Tay thượng úy Đạt được tòa gọi đứng lên đối chất. Hắn ta không phản biện, vì biết tội đã quá rõ ràng, nhưng lại trút tội lên đầu bà Hai Chi. Hắn ta khai ra tất cả kế hoạch bỉ ổi của bà. Nội vụ lại chuyển sang một hướng khác, hoàn toàn ngoài dự trù của Viện Kiểm Sát. Phiên tòa tạm ngưng để tiếp tục điều tra.

Không khí trong nhà ông Hai Chi trở nên ngột ngạt, nhưng ông Trực cố nán lại đây để mong được sớm gặp con gái của mình và cũng tránh bị xét hỏi giấy tờ. Ông Hai Chi đích thân làm đơn bảo lãnh Phượng được tại ngoại. Cha con gặp nhau trong ngỡ ngàng. Phượng không nhận ra cha mình. Nhưng huyết thống phụ tử rất nhiệm màu, hơn nữa khi nghe ông Trực bảo “phía dưới ngực bên trái của con có một vết sẹo dài khi con mỗ tim”, Phượng òa khóc và ôm chặt lấy cha. Trong lòng Phượng như vừa mới nở ra một đóa hoa tươi thắm nhất.

Giữa tháng 10/ 1984, khi phiên tòa chưa tái nhóm thì tại tỉnh Đồng Nai xảy ra một biến cố lớn, làm xôn xao cả nước, đặc biệt đối với dân chúng miền Nam, sau hơn chín năm vẫn chưa kịp nhận ra hết bộ mặt thật của những người cộng sản:

Mười Vân Nguyễn Hữu Giộc, đảng viên cao cấp, con hùm xám Nam Bộ một thời, đang là Giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai bị bắt. Đích thân “đồng chí” bộ trưởng công an, âm thầm đưa cả một lực lượng công an chuyên nghiệp và tin cẩn từ Hà nội vào Sài gòn lập kế bắt Mười Vân ngay trong phòng họp. Lục soát tư dinh và nhiều nơi khác, công an tịch thu hơn hai ngàn cây vàng và cả trên 500 kg vàng cùng hột xoàn các loại.

Ngày 1.11.1984, một phiên tòa đặc biệt được khẩn cấp triệu tập tại thành phố Biên Hòa, dưới sự “chủ trì” và xét xử của Viện Kiểm Sát Nhân Dân và Tòa Án Nhân Dân Tối Cao. Phiên tòa đặt dưới sự chỉ đạo nghiệp vụ của “đồng chí” Trần Quyết, Bí Thư Trung Ương Đảng, Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao.

Mười Vân bị xử tử hình. Bản án sơ thẩm cũng là chung thẩm, được thi hành cấp kỳ sau một tuần tại trường bắn Long Bình.

Lần đầu tiên báo chí tại Sài gòn được đăng tải tin tức phiên tòa mà thủ phạm là một ông lớn, đảng viên cao cấp. Người ta cũng biết được có những chiếc tàu chở người Hoa đã bị bỏ đói, nhận chìm, ngoài bờ biển Cát Lái, Rạch Giá ,Phú Quốc và vài nơi khác ở miền Trung, làm chết rất nhiều người. Và khắp cả nước bàn tán về chuyện cướp bóc, tham nhũng, ăn chia không đều giữa những người cộng sản!

Sau đó nhiều phiên tòa đặc biệt khác được tiếp tục, xử những người đồng lõa, trong đó có cả mấy ông bà trong Tòa án nhân dân Đồng Nai. Nhờ đó, vụ án của Phượng bị bỏ quên, không còn ai nhắc tới. Nhưng ông Hai Chi và cả tay thượng úy công an Đỗ Hữu Đạt lại dính vào vụ án lớn. Bởi cả hai đều là cánh tay đắc lực của gã Mười Vân.

Biết không thể nào vượt qua số phận, ông Hai Chi tự động đến trình diện trưởng ban điều tra của “ban chuyên án”, và xin giao nộp 800 cây vàng, ông khai là Mười Vân nhờ giữ hộ. Và cũng nhờ ông khai thêm những đường giây làm ăn của Mười Vân, nên ủy ban bắt thêm một số đàn em, trong đó có thượng úy công an Đỗ Hữu Đạt, tịch thu thêm cả ba ngàn cây vàng, gồm cả 800 cây được giấu kỹ dưới hồ nước sau nhà một đàn em thân tín của Mười Vân, phải điều xe cần trục câu lên.

Tất nhiên với dạn dày kinh nghiệm, ông Hai Chi kịp thời tẩu tán một số vàng. Ông vội vàng móc nối một đường giây quen biết cũ, tung vàng ra để gởi cha con ông Trực, dắt theo Diệp, thằng con trai duy nhất của ông vượt biển khẩn cấp ra khỏi nước.

Nhờ tàu Cap Anamur cứu vớt trên biển, bố con ông Trực và Diệp được đến định cư tại Tây Đức.

****

Mùa Hè năm 1990, trong một dịp sang thăm người bạn thân cùng tù Hoàng Liên Sơn lúc trước, tôi được gặp anh Nguyễn Công Trực, một cựu sĩ quan Biệt Động Quân, là bạn láng giềng thân thiết với người bạn tù của tôi. Anh đã kể cho tôi nghe về những ngày cuối cùng của đơn vị anh trên Tỉnh Lộ 7B – từ Pleiku di tản xuống Tuy Hòa, và cả câu chuyện trùng phùng bi thảm này. Tôi cũng được nói chuyện với cháu Phượng, cô con gái hiền thục xinh xắn của anh, vừa mói tốt nghiệp dược sĩ. Chúng tôi cũng đến thăm cậu Diệp, con trai của ông bà Hai Chi, cũng là cháu ruột của anh. Diệp đang sống chung với cô vợ người Đức và đứa con trai hai tuổi.

Tôi cũng được biết ông Hai Chi, nhờ “thành khẩn khai báo”, nên được hưởng khoan hồng với hai mươi năm tù. Vợ ông, bà Hai Chi bị án sáu năm tù về tội đồng lõa và tàng trữ vũ khí, vàng bạc phi pháp. Bà chết trong tù sau hai năm thụ án, do chính tay công an Đỗ Hữu Đạt, người bị giam cùng trại, đánh lén bằng cuốc trong giờ lao động, để trả mối thù xưa. Hắn ta nghĩ rằng chính bà đã lập mưu để hại hắn, chứ Phượng không hề bị bà cho uống thuốc ngủ. Hắn ta cũng nghi ngờ ông Hai Chi đã khai hắn là tay chân đắc lực của Mười Vân, đã từng giết người bịt miệng, nên nhà cửa bị tịch thu cùng với bản án bốn mươi chín năm tù.

Và sở dĩ có phiên tòa và vụ án làm xôn xao cả nước thời ấy, hoàn toàn không phải chống tham nhũng mà chỉ vì bọn chúng không ăn chia đồng đều. Tay Mười Vân đã dành riêng cho mình một số vàng quá lớn, và từng làm mưa làm gió, qua mặt đám đàn anh, không còn xem trung ương ra thể thống gì.

Về sau tôi còn biết thêm: Sau khi ông Hai Chi giảm án ra tù, được con trai bảo lãnh sang Đức. Nhưng ông đã quẫn trí, thường ngồi thẫn thờ nhìn lên trời cao, lúc khóc lúc cười. Ông qua đời năm 2006.


Phạm Tín An Ninh

User avatar
CarteNoire
Posts: 374
Joined: Mon Sep 21, 2009 11:58 pm

Post by CarteNoire »

Image


https://app.box.com/s/7kseecl0acuzdmvaaw0h9hudkekze7tb


THƯƠNG TIẾC (TIỄN ANH)
thơ Tường Vi | nhạc & trình bày Dzuy Lynh / Version 2
album Nỗi Hờn Chiến Mã
( tặng Niên Trưởng Trần Đức Tường & Sư Đoàn Dù /QLVNCH )



Anh xuống cùng tôi trên trận này
Hờn lên khóe mắt, súng cầm tay
Ai ngờ trong đợt xung phong ấy
Anh gục khi nào, anh chẳng hay.

Các bạn đưa anh đến chỗ tôi
Mày còn dựng ngược, vuốt cho xuôi
Súng anh tôi gỡ mang về cất
Sửa lại nhung y đẫm máu rồi.

Anh bị vết thương bên trái đầu
Chắc rằng anh chết chẳng nghe đau
Lau đi trên mặt bao đất, máu
Băng lại đầu anh, băng trắng phau.

Đưa xác anh không sẵn lá cờ
Tôi đành tẩm liệm với poncho
Vải dầu che nắng mưa khi trước
Nay bó thân anh đã cứng đờ.

Tôi tiễn anh về một chuyến bay
Mang theo tang tóc chất vơi đầy
Hồn anh theo chuyến tàu bay ấy
Hay vẫn dật dờ, phảng phất đây...

Cõi ấy xin anh cứ ngậm cười
Trên này anh hãy để chúng tôi
Cha già, vợ góa con côi cút
Đơn vị chúng mình sẽ chăm nuôi!

Post Reply