Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!
Vi Anh
Tin trong tuần buồn năm phút cho Việt Nam ở Mỹ cũng như ở Đông Nam Á. Nhơn chuyến Thủ Tương Nhựt Abe công du Mỹ, đọc diễn văn trước Quốc Hội, họp bàn với TT Obama, TT Obama tuyên bố, khẳng định liên minh giữa Washington với Tokyo «không gì lay chuyển» được, nhưng không nên được xem là «một sự khiêu khích» đối với Trung Quốc. Còn Hội nghị thượng đỉnh, lãnh đạo 10 nước Đông Nam Á, ASEAN ra thông cáo chung không dám đề cập thẳng đến vấn đề TC tranh chấp tại biển Đông. Dù chỉ nói mé mé, chung chung kêu gọi phát huy tinh thần ôn hòa và chống cực đoan trong khu vực; thế mà TC, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi họp báo nói và Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc truyền đi. Rằng các hoạt động xây dựng, bồi đắp ở quần đảo Nam Sa, tức quần đảo Trường Sa, là hoàn toàn thuộc chủ quyền của Trung Quốc và điều này không thể phản bác được.
Suy cho cùng, nghĩ cho tận tình hình Biển Đông của VN coi như mất trắng vào tay Trung Cộng rồi. Còn CSVN không hy vọng, trông mong gì giành lại chủ quyền trên vùng biển, vùng trời của VN được. Để một bên lịch sử ngàn năm thuộc VN, xét qua hiện tình thì thấy TC chiếm gần hết Biển Đông mà không cần nổ một tiếng súng. Mỹ và Nhựt có lợi gì để chống TC đề đòi lại cho VN. Biển đảo của VN mà Đảng Nhà Nước CSVN đang cầm quyền VN không đánh tái chiếm, không thưa kiện ra toà án quốc tế, thì hà cớ gì Mỹ, Nhựt, ASEAN các nước xen vào. Còn Đảng Nhà Nước VN thì thừa biết đánh TC là từ chết tới bị thương vì không có nội lực dân tộc, nên cắn răng chịu đựng, lâu lâu làm bộ tuyên bố chủ quyền để dân bớt nguyền rủa, để TC bớt xâm lăng để Đảng Nhà Nước CSVN còn có thể thống trị dân chúng VN để thu vén cuối đời.
Thực vậy, từ hình thức đền nội dung, Biển Đông của VN đã vào tay TC. Tổng Bí Thư Đảng CSVN bị TC triệu hồi sang Bắc Kinh về nói nhăn, nói cuội về Biển Đông thì một ngày sau Ngoại Trưởng Vương Nghị tuyên bố TQ bồ lắp, xây dựng trên đảo Trường sa và Biển Nam Trung Hoa (VN gọi là Biển Đông) là trên sân nhà, ở ao nhà của TQ, không nước nào có quyền xía vào.
Và trước đó, chính Ngoại Trưởng này của TC cũng “trước sau như một”, ngày 08/03/2015, Vương Nghị đã mở cuộc họp báo ở Bắc Kinh công khai và minh thị tuyên bố Biển Đông là nhà, là sân của Trung Quốc. Bộ Ngoại Giao TC còn kỹ lưỡng đưa những lời đanh thép này của Ngoại Trưởng TQ lên web tiếng Anh của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc. Ở đây Ông khẳng khái tuyên bố: «Chúng tôi không giống như một số quốc gia khác đã xây dựng trái phép trong nhà của người khác. Và chúng tôi không chấp nhận những lời chỉ trích từ người khác khi mà chúng tôi chỉ xây dựng các cơ sở trên sân riêng của chúng tôi.»
Chính hai vị tướng của Mỹ phụ trách lực lượng Mỹ ở Thái bình dương và Đệ Thất Hạm đội cũng tuyên bố TC đã quân sự hoá Biển Đông, biến Biển Đông và một số đào thành “vạn lý trường thành bắng cát.”
Nhựt, Phi luật tân có hiệp ước liên minh quân sự với Mỹ mới bị TC tranh chấp sơ sơ mà chông lại TC. Phi kiện TC ở toà án Liên Hiệp Quốc. Nhưt và Mỹ xuất kich hàng mấy trăm phi tuần bảo vệ đảo Senkaku không người ở. Còn VN mất 90% Biển Đông và gần hết hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa nhưng vẫn không có hành dộng bảo vệ nào coi cho được, trừ những lời tuyên bố chủ quyền sói mòn, lo sợ TC không dám nói tới tên TQ sợ phạm huý khi tàu TC tấn công tàu VN thì nói là “tàu lạ.”
Còn TC, kế hoạch xâm lăng Biển Đông và các quần đảo của VN rất có “bài bản”, ngon ăn nhứt trong dòng lịch sử 4000 năm của VN. Quân Tàu Cộng không cần nổ một tiếng súng, rút một cây gươm. TC dàn dựng dễ dàng cuộc xâm lăng, chiếm đóng, thôn tính. Tuyên bố chủ quyền, cho tàu ra chứng tỏ sự hiện VN đánh cá. Không làm rùm beng, súng nổ, bom rơi như thực dân Pháp chiếm thuộc địa. Mà làm bằng quyền lực mềm như Mao trạch Đông thôn tính, sáp nhập thành đất nước tỉnh, huyện của TQ như biến Cộng Hoà Hồi Giáo Turkestan thành tinh Tân Cương, Tây Tạng thành tỉnh Thanh Hải của TQ và Hoàng sa, Trường sa của VN thành Huyện Tam sa trực thuộc tỉnh Hải Nam một tỉnh trực thuộc của Trung Quốc vậy. Thôn tính là nghề của CS Trung Quốc. Trong thời đại Mao Trạch Đông, sử sách cho biết CS đã mở rộng được đất đai thêm một phần ba diện tích của TQ bây giờ.
TC làm công tác tuyên truyền dân, quân, địch vận, qui mô, liên tục, nhiều ngày, dưới mọi hình thức tuyên truyền đen, trắng, xám rất có phương pháp. TC thành lập chánh quyền quân dân, cán chính đủ mọi mặt. TC chứng tỏ sự có mặt của chánh quyền địa phương và của dân chúng Trung Quốc từ lục địa.
Theo thông tấn xã của AFP nhận định ngày 10/03/2013 chính TC chánh thức làm nhiệm vụ bảo quốc an dân như tại nước non nhà trên Biển Đông. Cho ngư dân TC ngang nhiên tràn ngập ra đánh cá trên Biển Đông như ao nhà của đất nước TQ. Quân dân TC thấm nhuần tuyên truyền của Bắc Kinh và được kích động tinh thần thượng tôn dân tộc Đại Hán. Tin của RFI, trích AFP, dẫn chứng Ông Wang, một chủ tàu cá ở Đàm Môn (Tanmen), nói như thuộc lòng: «Biển Đông là của chúng tôi, tổ tiên chúng tôi đã từng đánh cá ở đây». Ông nói đầy tin tưởng theo đề tài dân vận của Đảng Nhà Nước CS Bắc Kinh, rằng ngư dân Trung Quốc đã có mặt trên vùng biển này từ thời Hán, tức 200 năm trước Công nguyên.
Còn CS Bắc Kinh thì bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, cũng “trước sau như một” khẳng định Biển Đông là của TQ, là ao nhà, là sân nhà của TQ, nhứt quyết đó là điều không thể tranh cãi gì nữa cả. Bắc Kinh đã tự ý vạch ra, phổ biến bằng nhiều cách «Đường lưỡi bò» 9 đọan chạy dài thậm chí đến đảo Bornéo, cách vùng duyên hải Trung Quốc đến hơn 1.000 cây số. TC bất chấp mọi phản đối, cứ tiếp tục tung ra bản đồ này dưới nhiều hình thức, trong nhiều cơ hội.
TC còn mở rộng vành đai bảo vệ thêm với chiến lược chính Chủ Tịch TC Tập cận Bình tuyên bố, mở “Con đường tơ lụa trên biển” của TQ. Trước khi bàn giao chức vụ cho người kế nhiệm, trong cuộc họp khoáng đại Quốc hội ngày 05/03/2013, Thủ tướng mãn nhiệm Trung Quốc Ôn Gia Bảo còn đã nhấn mạnh, rằng Bắc Kinh quyết tâm «phát triển kinh tế biển (…) và bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển».
Còn Đảng Nhà Nước VNCS là nhà cầm quyền đang thống trị VN lại “định hướng dư luận” theo lịnh cũa CS Bắc Kinh, không để cho người dân Việt bày tỏ lòng yêu nước, chớ đừng nói là bảo vệ giang sơn gấm vóc. Hỏi như vậy, Biển Đông, Hoàng sa, Trường sa của VN làm sao còn, nếu CSVN chưa mất./.(Vi Anh)
Vi Anh
Tin trong tuần buồn năm phút cho Việt Nam ở Mỹ cũng như ở Đông Nam Á. Nhơn chuyến Thủ Tương Nhựt Abe công du Mỹ, đọc diễn văn trước Quốc Hội, họp bàn với TT Obama, TT Obama tuyên bố, khẳng định liên minh giữa Washington với Tokyo «không gì lay chuyển» được, nhưng không nên được xem là «một sự khiêu khích» đối với Trung Quốc. Còn Hội nghị thượng đỉnh, lãnh đạo 10 nước Đông Nam Á, ASEAN ra thông cáo chung không dám đề cập thẳng đến vấn đề TC tranh chấp tại biển Đông. Dù chỉ nói mé mé, chung chung kêu gọi phát huy tinh thần ôn hòa và chống cực đoan trong khu vực; thế mà TC, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi họp báo nói và Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc truyền đi. Rằng các hoạt động xây dựng, bồi đắp ở quần đảo Nam Sa, tức quần đảo Trường Sa, là hoàn toàn thuộc chủ quyền của Trung Quốc và điều này không thể phản bác được.
Suy cho cùng, nghĩ cho tận tình hình Biển Đông của VN coi như mất trắng vào tay Trung Cộng rồi. Còn CSVN không hy vọng, trông mong gì giành lại chủ quyền trên vùng biển, vùng trời của VN được. Để một bên lịch sử ngàn năm thuộc VN, xét qua hiện tình thì thấy TC chiếm gần hết Biển Đông mà không cần nổ một tiếng súng. Mỹ và Nhựt có lợi gì để chống TC đề đòi lại cho VN. Biển đảo của VN mà Đảng Nhà Nước CSVN đang cầm quyền VN không đánh tái chiếm, không thưa kiện ra toà án quốc tế, thì hà cớ gì Mỹ, Nhựt, ASEAN các nước xen vào. Còn Đảng Nhà Nước VN thì thừa biết đánh TC là từ chết tới bị thương vì không có nội lực dân tộc, nên cắn răng chịu đựng, lâu lâu làm bộ tuyên bố chủ quyền để dân bớt nguyền rủa, để TC bớt xâm lăng để Đảng Nhà Nước CSVN còn có thể thống trị dân chúng VN để thu vén cuối đời.
Thực vậy, từ hình thức đền nội dung, Biển Đông của VN đã vào tay TC. Tổng Bí Thư Đảng CSVN bị TC triệu hồi sang Bắc Kinh về nói nhăn, nói cuội về Biển Đông thì một ngày sau Ngoại Trưởng Vương Nghị tuyên bố TQ bồ lắp, xây dựng trên đảo Trường sa và Biển Nam Trung Hoa (VN gọi là Biển Đông) là trên sân nhà, ở ao nhà của TQ, không nước nào có quyền xía vào.
Và trước đó, chính Ngoại Trưởng này của TC cũng “trước sau như một”, ngày 08/03/2015, Vương Nghị đã mở cuộc họp báo ở Bắc Kinh công khai và minh thị tuyên bố Biển Đông là nhà, là sân của Trung Quốc. Bộ Ngoại Giao TC còn kỹ lưỡng đưa những lời đanh thép này của Ngoại Trưởng TQ lên web tiếng Anh của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc. Ở đây Ông khẳng khái tuyên bố: «Chúng tôi không giống như một số quốc gia khác đã xây dựng trái phép trong nhà của người khác. Và chúng tôi không chấp nhận những lời chỉ trích từ người khác khi mà chúng tôi chỉ xây dựng các cơ sở trên sân riêng của chúng tôi.»
Chính hai vị tướng của Mỹ phụ trách lực lượng Mỹ ở Thái bình dương và Đệ Thất Hạm đội cũng tuyên bố TC đã quân sự hoá Biển Đông, biến Biển Đông và một số đào thành “vạn lý trường thành bắng cát.”
Nhựt, Phi luật tân có hiệp ước liên minh quân sự với Mỹ mới bị TC tranh chấp sơ sơ mà chông lại TC. Phi kiện TC ở toà án Liên Hiệp Quốc. Nhưt và Mỹ xuất kich hàng mấy trăm phi tuần bảo vệ đảo Senkaku không người ở. Còn VN mất 90% Biển Đông và gần hết hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa nhưng vẫn không có hành dộng bảo vệ nào coi cho được, trừ những lời tuyên bố chủ quyền sói mòn, lo sợ TC không dám nói tới tên TQ sợ phạm huý khi tàu TC tấn công tàu VN thì nói là “tàu lạ.”
Còn TC, kế hoạch xâm lăng Biển Đông và các quần đảo của VN rất có “bài bản”, ngon ăn nhứt trong dòng lịch sử 4000 năm của VN. Quân Tàu Cộng không cần nổ một tiếng súng, rút một cây gươm. TC dàn dựng dễ dàng cuộc xâm lăng, chiếm đóng, thôn tính. Tuyên bố chủ quyền, cho tàu ra chứng tỏ sự hiện VN đánh cá. Không làm rùm beng, súng nổ, bom rơi như thực dân Pháp chiếm thuộc địa. Mà làm bằng quyền lực mềm như Mao trạch Đông thôn tính, sáp nhập thành đất nước tỉnh, huyện của TQ như biến Cộng Hoà Hồi Giáo Turkestan thành tinh Tân Cương, Tây Tạng thành tỉnh Thanh Hải của TQ và Hoàng sa, Trường sa của VN thành Huyện Tam sa trực thuộc tỉnh Hải Nam một tỉnh trực thuộc của Trung Quốc vậy. Thôn tính là nghề của CS Trung Quốc. Trong thời đại Mao Trạch Đông, sử sách cho biết CS đã mở rộng được đất đai thêm một phần ba diện tích của TQ bây giờ.
TC làm công tác tuyên truyền dân, quân, địch vận, qui mô, liên tục, nhiều ngày, dưới mọi hình thức tuyên truyền đen, trắng, xám rất có phương pháp. TC thành lập chánh quyền quân dân, cán chính đủ mọi mặt. TC chứng tỏ sự có mặt của chánh quyền địa phương và của dân chúng Trung Quốc từ lục địa.
Theo thông tấn xã của AFP nhận định ngày 10/03/2013 chính TC chánh thức làm nhiệm vụ bảo quốc an dân như tại nước non nhà trên Biển Đông. Cho ngư dân TC ngang nhiên tràn ngập ra đánh cá trên Biển Đông như ao nhà của đất nước TQ. Quân dân TC thấm nhuần tuyên truyền của Bắc Kinh và được kích động tinh thần thượng tôn dân tộc Đại Hán. Tin của RFI, trích AFP, dẫn chứng Ông Wang, một chủ tàu cá ở Đàm Môn (Tanmen), nói như thuộc lòng: «Biển Đông là của chúng tôi, tổ tiên chúng tôi đã từng đánh cá ở đây». Ông nói đầy tin tưởng theo đề tài dân vận của Đảng Nhà Nước CS Bắc Kinh, rằng ngư dân Trung Quốc đã có mặt trên vùng biển này từ thời Hán, tức 200 năm trước Công nguyên.
Còn CS Bắc Kinh thì bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, cũng “trước sau như một” khẳng định Biển Đông là của TQ, là ao nhà, là sân nhà của TQ, nhứt quyết đó là điều không thể tranh cãi gì nữa cả. Bắc Kinh đã tự ý vạch ra, phổ biến bằng nhiều cách «Đường lưỡi bò» 9 đọan chạy dài thậm chí đến đảo Bornéo, cách vùng duyên hải Trung Quốc đến hơn 1.000 cây số. TC bất chấp mọi phản đối, cứ tiếp tục tung ra bản đồ này dưới nhiều hình thức, trong nhiều cơ hội.
TC còn mở rộng vành đai bảo vệ thêm với chiến lược chính Chủ Tịch TC Tập cận Bình tuyên bố, mở “Con đường tơ lụa trên biển” của TQ. Trước khi bàn giao chức vụ cho người kế nhiệm, trong cuộc họp khoáng đại Quốc hội ngày 05/03/2013, Thủ tướng mãn nhiệm Trung Quốc Ôn Gia Bảo còn đã nhấn mạnh, rằng Bắc Kinh quyết tâm «phát triển kinh tế biển (…) và bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển».
Còn Đảng Nhà Nước VNCS là nhà cầm quyền đang thống trị VN lại “định hướng dư luận” theo lịnh cũa CS Bắc Kinh, không để cho người dân Việt bày tỏ lòng yêu nước, chớ đừng nói là bảo vệ giang sơn gấm vóc. Hỏi như vậy, Biển Đông, Hoàng sa, Trường sa của VN làm sao còn, nếu CSVN chưa mất./.(Vi Anh)
Obama ‘rất quan tâm’ nhân quyền VN BBC Quốc Phương
02-05-2015[/a
Tổng thống Barack Obama ‘rất quan tâm’ tới tình hình tự do ngôn luận, báo chí và nhân quyền ở Việt Nam, theo blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải,
cựu tù nhân lương tâm, người vừa được nhà lãnh đạo Hoa Kỳ mời tới Nhà Trắng để gặp gỡ và trao đổi nhân ngày Tự do Báo chí Quốc tế hôm 01/5/2015.
Có 30 nhà báo được đề nghị trong danh sách mời gặp Tổng thống Obama, nhưng chỉ có ba nhà báo trong đó
có blogger Điếu Cày được dự cuộc gặp hôm 1/5/2015.
Trao đổi với BBC từ Washington D.C. hôm thứ Bảy, nhà báo tự do Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải nói:
“Chuyến gặp lần này đã cho tôi một cảm xúc rất đặc biệt. Tổng thống Obama là một người rất bình dị. Khi chúng tôi ngồi ở bên cạnh nhau để thảo luận về các vấn đề tự do báo chí, tự do ngôn luận của các nước có các nền báo chí tồi tệ, tôi thấy rằng Tổng thống Obama rất quan tâm đến tình hình của các nước như là Ethiopia, Nga hay Việt Nam.
“Cách Tổng thống diễn đạt những câu chuyện rất bình dị và ấm áp.”
Khi được hỏi vì sao Tổng thống Mỹ chọn gặp ba nhà báo từ Việt Nam, Nga và Ethiopia trong cuộc gặp này, blogger Điếu Cày đáp:
“Đấy cũng là một chỉ dấu cho thấy là ba quốc gia này có nền báo chí tồi tệ nhất.
“Theo tôi được biết có một danh sách trên 30 nhà báo được lựa chọn, nhưng chỉ có 3 người được vào gặp Tổng thống, và như vậy cũng cho thấy rằng những người mà đã bị đàn áp ở những quốc gia có nền báo chí tồi tệ, thì Tổng thống lựa chọn để gặp mặt.”
‘Giữ kín cuộc gặp’
Blogger Điếu Cày cho hay ông đã được biết trước về cuộc gặp cách đó không lâu:
“Tôi đã biết trước được khoảng một tuần trước, nhưng vì lý do an ninh nên cái này phải giữ kín…
“Bên Bộ Ngoại giao và sau đó là bên phía Nhà Trắng (đặt vấn đề mời).”
Điếu Cày cũng chia sẻ thêm về một danh sách các tù nhân lương tâm, trong đó có nhiều nhà báo, blogger đang bị giam giữ ở Việt Nam, mà ông đã gửi Tổng thống Obama nhân dịp này.
Blogger, chủ nhiệm Câu lạc Bộ Nhà báo Tự do mới tái lập ở Hoa Kỳ nói:
“Có Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần, anh Vinh Ba Sàm (blogger Ba Sàm – Nguyễn Hữu Vinh), chị Bùi Hằng, Trần Vũ Anh Bình, Việt Khang và một số tù nhân nữa, chúng tôi có đưa một danh sách.”
Khi được hỏi về phản ứng của Tổng thống Hoa Kỳ, blogger Điếu Cày cho hay:
“Tổng thống đã rất quan tâm tới câu chuyện này,” nhà tranh đấu cho tự do báo chí, ngôn luận và nhân quyền ở Việt Nam nói với BBC hôm 02/5/2015.
‘Hoàn toàn ngẫu nhiên’
Bình luận về việc Tổng thống Hoa Kỳ tiếp đón nhà báo tự do, blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải tại Nhà Trắng, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, một nhà quan sát chính trị, xã hội Việt Nam, nói với BBC:
“Nhân ngày tự do báo chí quốc tế, Tổng thống Obama đã gặp ba nhà báo như vậy, trong đó có anh Điếu Cày.
“Tôi nghĩ đây thể hiện một sự quan tâm của nước Mỹ cũng như là của Tổng thống Obama rất nhiều đến vấn đề tự do ngôn luận ở Việt Nam
“Mà anh Điếu Cày là một người tiêu biểu bị đàn áp trong vấn đề không có tự do ngôn luận ở nước ta (Việt Nam).”
Nhà quan sát cho rằng phía Mỹ đã có sự chuẩn bị từ trước cho sự kiện này.
Theo ông, cuộc gặp đã diễn ra ‘ngẫu nhiên’ sau khi chính quyền Việt Nam long trọng kỷ niệm 40 năm ngày 30/4 với một bài diễn văn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được cho là có một số lời lẽ ‘không mới’ và khá ‘rắn’ khi nói về nước Mỹ.
Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói:
“Tôi nghĩ rằng đây là một sự ngẫu nhiên hoàn toàn, bởi vì một cuộc tiếp các nhà báo của các nước khác bị đàn áp, thì Nhà Trắng đã phải chuẩn bị từ lâu rồi.
“Chứ không phải là vì cái chuyện lời phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng hôm trước đó mà họ có phản ứng như thế này,” ông nói với BBC hôm thứ Bảy từ Hà Nội.
‘Hy vọng tiến bộ’
Còn từ Sài Gòn, thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung, cựu tù nhân lương tâm, nhà tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ hóa của Việt Nam chia sẻ cảm tưởng của mình về cuộc gặp giữa ông Obama với blogger Điếu Cày cùng các nhà báo quốc tế.
Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung, người từng được Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush mời gặp mặt vào tháng 8/2006 trước khi về lại Việt Nam sau thời gian du học ở nước ngoài, nói:
“Đầu tiên, tôi thấy rất vui bởi vì tôi còn có một người bạn nữa thân thiết là chị Tạ Phong Tần vẫn đang ở trong tù, thì qua sự kiện này, cộng với sự kiện trước đó nữa là Bộ Ngoại giao Mỹ đã liên tiếng yêu cầu Việt Nam cần phải trả tự do ngay lập tức cho chị Tạ Phong Tần, tôi thấy chứng tỏ chính phủ Hoa Kỳ rất quan tâm đến tình trạng các bloggers Việt Nam bị giam giữ nói riêng và tình trạng nhân quyền của Việt Nam nói chung, cho nên tôi hy vọng là thời gian tới sẽ có những tiến bộ hơn nữa về nhân quyền Việt Nam…
“Vừa qua ngày 1/5 là ngày Tự do Báo chí Quốc tế cho nên Tổng thống Mỹ gặp gỡ những nhà báo, bloggers đã bị đàn áp, và tôi nghĩ anh Điếu Cày cũng hạn chế trong việc đưa ra danh sách những người, chủ yếu là những bloggers, nhà báo ở Việt Nam bị giam giữ.
“Còn những người bị bắt giữ vì lý do khác, như là ‘gây rối trật tự công cộng’, hay là kết các tội khác ngoài vấn đề ‘tuyên truyền, chống phá’ này nọ, thực ra những anh em, đồng đội của tôi ở Mỹ, ở châu Âu, kể cả ở Việt Nam nữa thì đều có sự vận động đối với quốc tế.
“Để mà thả tất cả những tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm và tù nhân tôn giáo Việt Nam ra, thì điển hình như sắp tới Đối thoại Nhân quyền Việt – Mỹ, phía Mỹ cũng có nói chuyện với tôi để biết quan điểm của phía tôi như thế nào để mà có thể đối thoại với phía Việt Nam.
“Và tôi nghĩ phía Mỹ cũng san sẻ với rất nhiều người đấu tranh dân chủ khác để họ nắm được bức tranh toàn diện về vấn đề nhân quyền Việt Nam để mà có thể đối thoại với Việt Nam, cũng như nắm được thông tin về các tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm và tù nhân tôn giáo, để có biện pháp thuyết phục chính quyền Việt Nam cần phải thả họ ra,” thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung nói với BBC hôm 02/5.
Cạm Bẫy Cho Biển Đông Trần Khải
Trung Quốc đang xài đủ thứ võ để tranh chủ quyền Biển Đông. Từ hung hăng như đưa giàn khoan Hải dương 981 vào, cho tới đưa tàu hải giám đụng chìm ghe cá ngư dân Việt... cho tới giả vờ đưa bàn tay sắt bọc nhung ra mời Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh, và bây giờ đưa nguyên cả một viện nghiên cứu Biển Đông vào vùng Hoa Thịnh Đốn để sẽ mai phục, dẫn dụ và có thể sẽ gài bẫy các dân cử lẳng lơ của Mỹ.
Nghĩa là, cứng có, mềm có, phi đạn cũng có, tiền hối lộ cũng có, bản đồ vẽ tầm bậy cũng có, và đưa nữ học giả TQ xinh đẹp vào thủ đô Mỹ mai phục cũng có.
Nguyễn Phú Trọng đã sụp bẫy nào ở Bắc Kinh chưa, cũng là một nghi vấn khi chúng ta nhớ tới Lê Khả Phiêu đã sập bẫy mỹ nhân kế khi sang TQ và rơi vào lưới tình của cô Trương Mỹ Vân... Đó là truyền thuyết từ nội bộ Đảng CSVN. Thường thường, truyền thuyết đi trước xác minh có thể cả nửa thế kỷ: cũng như truyền thuyết về các mối tình của ông Hô Chí Minh, rồi nửa thế kỷ sau mới xác minh là có thật.
Bản tin VOA hôm Thứ Hai kể về một trận mai phục mới ở ngay đất Mỹ: TQ tăng cường quyền lực mềm bằng cách thành lập think tank mới...
Chữ “think tank” có nghĩa là viện nghiên cứu, viện này có khi được hiểu như một ổ gián điệp, vì rất nhiều viện nghiên cứu thưc ra là tên gọi khác của tình báo.
Bản tin VOA cho biết:
“Trong khuôn khổ nỗ lực của Bắc Kinh nhằm xoay chiều công luận Mỹ, Trung Quốc đã thành lập một viện nghiên cứu đặc biệt tập trung vào cuộc tranh chấp ở Biển Đông. Những người sáng lập tổ chức này mô tả đây là think tank đầu tiên của Trung Quốc ngay giữa lòng thủ đô nước Mỹ.
Theo bản tin của tờ The Wall St. Journal, Viện nghiên cứu các vấn đề Trung-Mỹ gồm có 3 nhân viên, làm việc từ một văn phòng nhỏ ở gần Phi trường Ronald Reagan ở Washington. Sứ mạng của viện nghiên cứu này là nghiên cứu và trao đổi về các vấn đề hàng hải và các quan hệ Mỹ-Trung, chứ không đại diện chính quyền Trung Quốc, theo lời của Giám đốc Điều hành của viện, bà Hồng Nông.
Theo lời bà Hồng thì viện muốn xây dựng một diễn đàn để phổ biến một thông điệp đúng đắn từ cả hai phía. Bà Hồng bảo vệ bằng tiến sĩ tại Đại học Alberta ở Canada, với chủ đề xoay quanh việc xem xét các vấn đề pháp lý và chính trị tại Biển Đông.
Viện nghiên cứu các vấn đề Trung-Mỹ ra đời tiếp theo sau lời hô hào của Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình hồi năm ngoái, kêu gọi thành lập những think tank mới để cải thiện đường lối quản trị đất nước và tăng cường quyền lực mềm của Trung Quốc, đặc biệt là khả năng thăng tiến các lợi ích của Bắc Kinh thông qua các phương tiện văn hoá, truyền thông và giới học thuật.
Các think tank thường có chức năng nghiên cứu, đề xuất và cố vấn chính sách, và viện nghiên cứu chính sách mới của Trung Quốc theo chân một số nước láng giềng của Trung Quốc kể cả đối thủ lâu năm của Trung Quốc trong khu vực, là Nhật Bản và Đài Loan. Hai nước này từ lâu đã tài trợ cho các viện nghiên cứu chính sách của Mỹ, cũng như bảo trợ cho một số viện đại học và chức vụ quan trọng tại các viện đại học này, trong một cố gắng nhằm tạo ảnh hưởng đối với tiến trình làm chính sách của Hoa Kỳ.
Bài viết trên tờ WSJ nói rằng viện nghiên cứu chính sách mới sẽ cho phép các nhà nghiên cứu và các giới chức Trung Quốc có một diễn đàn để tạo ảnh hưởng trong cuộc tranh luận ở Mỹ, và tiến trình làm chính sách tại Hoa Kỳ, đặc biệt là liên quan tới các vụ tranh chấp lãnh hải ở Á Châu, mà tờ báo nói là hiện đang tiếp tục leo thang tới mức có nguy cơ xảy ra xung đột quân sự.”(ngưng trích)
Không biết bà Hồng Nông này học có thực lực hay không, nhan sắc đẹp cỡ nào, có đã từng trải qua trường huấn luyện ninja ở Thượng Hải chưa, hay đã từng trải qua trường huấn luyện nữ gián điệp Moscow của tình báo Nga...
Chưa nghe nói viện nghiên cứu nào cuả Việt Nam đưa sang Mỹ. Hay là có nhưng đang mai phục ở Quận Cam, thủ đô tỵ nạn... vì có thể Hà Nội nghĩ rằng cần đôi phó với Việt kiều hơn là đối phó với Tàu Cộng?
Hay là Nguyễn Phú Trọng suy nghĩ kiểu Lê Duẩn, để trán dẹp Sài Gòn trước, rồi đối phó Bắc Kinh sau?
Nguy hiểm là, bà Hồng Nông lại móc nối với Kissinger, người mới đây kêu gọi Mỹ phải êm dịu với Tàu Cộng (một mưu kế để đem quân lực Mỹ tập trung về bảo vệ cho quê mẹ Israel của Kissinger).
VOA kể:
“Dù mới thành lập, nhưng Viện Nghiên cứu các vấn đề Trung-Mỹ đã mời được cựu Ngoại Trưởng và Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger, lên tiếng tại diễn đàn mới này.
Phát biểu trong một video được thu hình trước, ông Kissinger đề cập tới tầm quan trọng của các quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington. Tham gia một hội thảo tại diễn đàn này, Đại sứ Trung Quốc tại Hoa Kỳ, ông Thôi Thiên Khải nói nước ông sẽ hành động một cách tự chế trong Biển Đông, mặc dù cùng lúc, ông khẳng định Bắc Kinh sẽ mạnh mẽ bảo vệ các lợi ích của mình trong vùng biển này.”
Cực kỳ hung hiểm... Không chỉ đấu trí, đấu văn, đấu chữ với bà Hồng Nông, chúng ta lại phải đấu trí với Kissinger -- người sẵn sàng bán cả Biển Đông để Obama kéo lính Mỹ từ Châu Á về để vây Hồi Giáo Trung Đông.
Nhân ngày 30 tháng 4: Cuộc chiến 'cả nước là diễn viên' Bùi Tín
(Blog VOA)
Bài viết trước - “Cuộc chiến biệt vô tăm tích” - đã đề cập đến một nét đặc thù của cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Bài này lại nói đến một nét đặc thù nữa, chỉ người trong cuộc mới có thể nhận rõ, Đây là một nét không thể bỏ qua khi nghiên cứu, tổng kết về cuộc chiến tranh này.
Trước hết là những màn kịch của đảng. Rất điêu luyện, cao tay, tinh vi. Xin kể vài thí dụ.
Năm 1940, Phát Xít Nhật bắt đầu tiến công xuống phía Nam Châu Á, đe dọa Việt Nam. Đảng Cộng Sản Đông Dương liền tổ chức ra Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh là tổ chức quần chúng của Đảng Cộng Sản, bao gồm các tổ chức Hội Thanh Niên Cứu Quốc, Hội Phụ Nữ Cứu Quốc, Hội Công Nhân Cứu Quốc...để che giấu kỹ bản chất Cộng Sản của mình, thực hiện sứ mạng của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản là nhuốm đỏ ba nước Đông Dương thuộc Pháp.
Đây là màn kịch đầu tiên giấu kỹ tung tích Cộng Sản, đề cao lòng yêu nước dành độc lập để mở rộng thanh thế của Đảng Cộng Sản dưới chiêu bài chống Pháp đuổi Nhật. Lãnh đạo Cộng Sản hiểu rất rõ là nếu trưng ra chiêu bài Cộng Sản thì sẽ thất bại to vì nhân dân Việt Nam vẫn còn dị ứng với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, một phong trào tả khuynh nguy hiểm đề cao khẩu hiệu “chống trí-phụ-địa-hào, đào tận gốc, trốc tận rễ.” Chính do màn kịch này mà phong trào Việt Minh lên cao, lên nhanh để Đảng Cộng Sản cướp được chính quyền tháng 8, 1945, lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân.
Khi thảo ra bản Tuyên Ngôn Độc Lập 2 tháng 9, 1945, Hồ Chí Minh đã hoàn toàn có ý thức giấu kỹ tung tích Cộng Sản và lập trường Cộng Sản của mình, chỉ trưng ra tinh thần của cuộc cách mạng dân chủ tư sản, chỉ dẫn ra các tuyên ngôn cách mạng tư sản của Hoa Kỳ và Pháp, giấu kỹ Tuyên Ngôn Cộng Sản mà ông ta luôn coi là kim chỉ Nam cho mọi hành động của mình.
Đây là màn kịch cao thủ thứ 2, khi ông ta đóng kịch với nhà báo Pháp: “Tôi không phải Cộng Sản, đảng tôi là Việt Nam.” Trong 3 bức thư gửi Tổng Thống Hoa Kỳ Truman để mong tranh thủ sự ủng hộ của nước Mỹ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đóng kịch như không dính dáng gì đến Cộng Sản. Thế nhưng phía Mỹ đã hiểu rõ Hồ Chí Minh là nhân viên kỳ cựu và trung thành của Cộng Sản Quốc tế, không thể tin là người quốc gia, đó là nhân vật nguy hiểm cho cộng đồng quốc tế, cần xếp ở bên kia của trận tuyến “chiến lược be bờ chặn đứng chủ nghĩa Cộng Sản” (Containment of Communist Strategy).
Ngày 11 tháng 11, 1945 khi bị lộ tẩy đích danh là Cộng Sản rồi, ông Hồ và lãnh đạo Đảng Cộng Sản lại dựng lên màn kịch “tự giải thể Đảng Cộng Sản Đông Dương,” sự thật là chỉ rút vào bí mật và còn phát triển Đảng Cộng Sản mạnh hơn trước.
Mặt trận Liên Việt, Mặt Trận Tổ Quốc, Đảng Lao Động Việt Nam cũng là các màn kịch làm bình phong che giấu bản chất Cộng Sản. Học thuyết Mác-Lê đề cao Đảng Cộng Sản, giai cấp vô sản thế giới, tinh thần quốc tế vô sản, trong khi hạ thấp, coi nhẹ và phủ định các khái niệm quốc gia, đồng bào, tổ quốc, xã hội, gia đình, tôn giáo. Cho đến khi toàn thắng rồi họ mới hạ màn kịch, lại công khai tự nhận là Đảng Cộng Sản. Mặt Trận Tổ Quốc bị phơi bày cái mặt nạ bằng mo không còn chút giá trị trước nhân dân, do một ủy viên Bộ Chính Trị Đảng CSVN chăn dắt một cách thô thiển vụng về sau khi kịch đã hạ màn.
Cho đến nay, vào ngày 30 tháng 4 lãnh đạo Đảng Cộng Sản vẫn còn đóng kịch. Họ vẫn viết trên báo chí đây là “Ngày toàn thắng chống đế quốc Mỹ xâm lược,” “Ngày kết thúc vẻ vang sự nghiệp chống Mỹ cứu nước,” “Ngày đánh bại ngụy quân ngụy quyền tay sai Mỹ.” Họ không nhầm lẫn đâu. Họ biết rõ Hoa Kỳ không xâm lược. Chính họ là kẻ rắp tâm thôn tính, xâm lược bằng vũ lực, chà đạp “quyền tự quyết của nhân dân miền Nam” do các Hiệp Định Geneve và Paris đều long trọng khẳng định, mà chính họ đã ký tên cam kết. Họ phải bịa ra kẻ xâm lược để tự nhận là người chống xâm lược, phủi trách nhiệm, tự nhận là chính nghĩa, trong khi quân đội Mỹ chỉ hành động để bảo vệ thế giới dân chủ, trong đó có VNCH, theo chiến lược “be bờ chặn đứng thảm họa quốc tế Cộng Sản.” Chính Cộng Sản Việt Nam mới là một kiểu ngụy quân ngụy quyền do Cộng Sản Moscow và Cộng Sản Bắc Kinh nuôi dưỡng thành một tiền đồn của Quốc Tế Cộng Sản, một quân tốt thí. Lẽ ra lúc này họ phải bỏ đi cái trò đóng kịch nhầm vai, lộn vai như thế, nói lên đúng sự thật, khi chính họ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ 20 năm chẵn và đang cần sự đầu tư và hỗ trợ của Hoa Kỳ và phương Tây.
Do Cộng Sản chuyên nghề lừa dối và bịp bợm như thế nên cả xã hội Việt Nam một thời gian dài cũng nhiễm phải thói đóng kịch một cách trầm trọng và rộng khắp. Đây là một hiện tượng chưa được phát hiện, nêu lên thành hệ thống để nhận rõ thêm bộ mặt xấu xa của chủ nghĩa Cộng Sản hiện thực. Nhà thơ Chế Lan Viên, người được coi là nhà thơ xuất sắc bậc nhất ở miền Bắc, khi chết đã để lại di cảo nói rõ rằng ông ta đã lừa dối, đóng kịch ra sao. Trong bài “Trừ Đi” Chế Lan Viên viết, “Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ, Có phải tôi viết đâu, Một nửa cái cần viết vào thơ, Tôi đã giết đi rồi!” Trong bài “Ai ? Tôi!” Chế Lan Viên viết, “Mậu Thân, 2000 xuống đồng bằng, Chỉ một đêm còn sống sót có 30, Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2,000 người đó? - Tôi !- người viết những câu thơ cổ võ ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi lúc xung phong...“ Đó là sự kiện ở Bình Định, Tết Mậu Thân đảng tung 2,000 quân lính và cán bộ từ căn cứ xuống đồng bằng kêu gọi dân tổng khởi nghĩa và tổng nổi dậy, nhưng thất bại thê thảm, chết gần hết.
Chế Lan Viên viết di cảo để lại, khi sống ông không dám nói ra. Ông có dũng khí nhận tội ác về mình, thật ra tội ác thuộc về lãnh đạo Đảng Cộng Sản đã coi sinh mạng thanh niên quân lính cán bộ như cỏ rác, ném vào cuộc chiến một cách mù quáng. Cả một lớp văn nghệ sĩ cũng như nhà báo của đảng đều đóng kịch như thế để có kế sinh nhai, về hùa với tội ác mà cứ ngỡ mình là chính nghĩa. Chính tôi cũng đã phải đóng kịch trơ trẽn như thế.
Người dân thường hồi ấy cũng đóng kịch. Tôi xin dẫn chứng sống về 2 bà chị tôi. Bà chị ruột tôi ở Hải Phòng có con trai cả là Hưng, sau khi học xong trung học, cháu 17 tuổi được gọi đi nghĩa vụ quân sự. Ở lớp cháu trước khi hết học kỳ cuối cả lớp hơn 30 nam sinh là đoàn viên Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh đều làm đơn tình nguyện 100% đi nghĩa vụ quân sự. Trong đơn gọi là “tình nguyện” còn nêu rõ sẵn sàng đi đâu khi Tổ quốc cần, ngụ ý là sẵn sàng vào Nam chiến đấu. Thư tình nguyện còn được ghi thêm ý kiến cùng chữ ký của bố hoặc mẹ rất đồng tình với ý tự nguyện của con mình. Bà chị con ông bác ruột tôi cũng có con trai là Hiệp học rất giỏi, chuyên là lớp trưởng. Cháu cũng đến tuổi làm nghĩa vụ quân sự. Cháu cũng được quận đội Hoàn Kiếm tuyển mộ, lớp cháu hầu hết đều tình nguyện nhập ngũ, chỉ trừ các bạn quá nhẹ cân, có cố tật. Hai bà chị tôi đều lo âu, buồn khổ, nhưng tuyệt nhiên không dám lộ ra ngoài. Với láng giềng, với chính quyền khu phố cứ phải tươi cười đóng kịch trong khi nước mắt tràn ra khi đêm xuống. Các chị dò hỏi tôi có cách nào xin cho các cháu được miễn đi quân dịch để vào học tiếp đại học, và nhất là làm sao nếu vẫn phải đi lính thì không phải đi Nam, vì câu chuyện “sinh Bắc tử Nam” là một cơn ác mộng khủng khiếp dai dẳng cho các bà mẹ đó. Có thể nói các bạn trẻ 10 đi chỉ chừng 2, 3 phần trở về lành lặn. Vậy mà các bà chị tôi vẫn thản nhiên đóng kịch dự lễ tuyển quân, rồi sau vài tháng lại dự lễ tiễn đưa đoàn quân có con mình lên đường vào Nam, với những vòng hoa vàng đỏ choàng quanh cổ. Đó là thời kỳ chiến sự miền Nam sôi động 1965-1970. Các bà chị tôi đau khổ biệt tin con mình hằng 3,4 năm trời, có khi được tin láng máng là cháu Hưng vào khu 5, Quảng Nam hay Quảng Ngãi, cháu Hiệp vào Tây Nguyên, Kontum hay Pleiku, để rồi cuối cùng 2 bà đều thót tim nhận giấy báo tử, chậm đến hơn một năm. Cháu Hưng hy sinh ở huyện Đức Phổ còn cháu Hiệp hy sinh ở chiến trường Tây Nguyên, cả hai đều mất xác, không biết chôn ở đâu. Sau này các bà đều đi vào Nam, lặn lội nhiều nơi, dùng cả những người có ngoại cảm đi tìm mộ, nhưng đành chịu. Các tấm bảng tuyên dương liệt sĩ, tuyên dương mẹ liệt sĩ, gia đình vẻ vang, được vỗ tay chào đón trong các cuộc họp khu phố không hề an ủi được các bà chị tôi. Nỗi xót xa đau buồn khôn nguôi kéo dài hàng chục năm, vẫn không thể biết 2 cháu hy sinh như thế nào, ở đâu, lúc nào, cũng không có một di vật dù nhỏ làm kỷ niệm. Hàng triệu gia đình, hàng triệu bà mẹ đau khổ dằn vặt khôn nguôi.
Có thể nói hàng triệu gia đình có con vào Nam chiến đấu đều bị cưỡng bách một cách tinh vi như thế, đều buộc phải cùng đảng và theo đảng đóng kịch như thế. Các thanh niên đều 100% bị “cưỡng bách tự nguyện” như thế để bị cho vào lò sát sinh, vào bộ máy nghiến thịt khổng lồ mang tên “cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm” phục vụ cho tham vọng quyền lực vô biên của Đảng Cộng Sản tuân theo lệnh của Quốc tế Cộng Sản do ông Hồ Chí Minh dắt dẫn suốt 85 năm từ khi thành lập Đảng Cộng Sản năm 1930.
Cuộc đóng kịch dai dẳng về mọi mặt, cuộc lừa bịp chết người, hủy diệt oan uổng vô vàn sinh mạng trai tráng của dân tộc giữa tuổi thanh xuân cần kết thúc lúc này đã là quá muộn. Tất cả các “từ ngữ” liên quan đến màn kịch hủy diệt con người này cần xem xét và vĩnh viễn từ bỏ để thay vào những “từ ngữ” chính xác. Ai xâm lược, ai là ngụy quân ngụy quyền? Ai cứu nước hay gây tai họa cho nước? Ai chính nghĩa ai phi nghĩa? Toàn thắng cái gì? Giải phóng cái gì? Công lao nỗi gì? Vẻ vang, vĩ đại gì?
Sao tiếng nói riêng của Đảng Cộng Sản lại vẫn cứ mang cái lốt giả là báo “Nhân Dân,” sao Tòa Án Nhân Dân lại kết tội những người dân yêu nước chống bành trướng, sao Ủy Ban Nhân Dân quận Hoàn Kiếm lại có quyền cấm nhân dân thủ đô biểu tình bảo vệ cây xanh, sao Công An Nhân Dân lại ngang nhiên buôn sinh mạng người dân để kiếm cơ man nào là vàng khi bán bãi, bán tàu, thuyền, bán chỗ trên các tàu thuyền ọp ẹp trong thảm kịch “thuyền nhân” 40 năm về trước. Tất cả đã đến lúc phải sáng tỏ rõ ràng, minh bạch.
Cái tội cực lớn của Đảng Cộng Sản là đã lấy dối trá làm lẽ sống của mình, rồi làm gương dối trá cho toàn xã hội - nhà nhà dối trá, người người dối trá, nhà trường dạy đối trá, học trò học dối trá - phá hoại nếp lương thiện, cương trực, chất phác của xã hội, phá hoại nền đạo đức và văn hóa thuần khiết của dân tộc, đến bao giờ mới hồi phục được.
Đảng Cộng Sản phải hạ ngay các màn kịch đã kéo dài và nhân dân cũng không còn ai muốn cùng đảng đóng kịch trơ trẽn hay bi thảm ở mọi nơi mọi lúc như xưa nữa.
Việt Nam sắp bị Bắc thuộc lần thứ hai? Phạm Trần
- “Thảm họa Bắc thuộc” là tựa đề cuốn phim tài liệu của nhóm Film Club ở Thủ đô Hoa Thịnh Đốn sẽ phát hành vào hạ tuần tháng 6 (2015), đánh dấu 25 năm ngày hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc nối lại quan hệ ngoại giao (1990-2015).
Bối cảnh lịch sử
Việt Nam và Trung Quốc đã gián đoạn ngoại giao trong 10 năm từ 1979 đến 1989, sau khi quân đội Trung Quốc mở các đợt tấn công vào Việt Nam để gọi là “dạy cho Việt Nam một bài học”, theo lệnh của Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình.
Cuộc chiến do Trung Quốc chủ động chia làm 2 đợt:
Lần thứ nhất, bắt đầu từ ngày 17/02/1979, kết thúc ngày 5/03/1979. Có trên 600,000 quân Trung Quốc được xe tăng và đại pháo yểm trợ đã tràn qua biên giới tấn công vào 6 tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Chiếu dài của chiến trường là 1.200 cây số từ tây sang đông.
Lý do thầm kín của Bắc Kinh trong lần tấn công này là để cứu đàn em Pol Pot, lãnh tụ Khmer đỏ khi ấy cai trị Kampuchea, không bị 200,000 quân Việt Nam tiêu diệt nhanh chóng.
Trong khi đó thì Việt Nam đã nêu lý do đem quân vào Cao Miên để “phản công lại các hoạt động quân sự của quân Khmer Đỏ tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, giết chóc người dân và đốt phá làng mạc Việt Nam trong những năm 1975-1978” .
Ngoài lý do bề mặt “trả đũa”, Việt Nam xua quân sang Cao Miên còn nhằm yểm trợ cho phe Cộng hòa Nhân dân Campuchia của Mặt trận Dân tộc thống nhất Cứu quốc Campuchia (KNUFNS, Kampuchean National United Front for National Salvation) do hai lãnh tụ Heng Samrin và Hun Sen lãnh đạo. Ông Heng Samrin từng là tư lệnh cấp Sư đoàn toan tính đảo chính Pol Pot và Hun Sen, Tiểu đoàn Trưởng quân đội Khmer đỏ đã bỏ hàng ngũ chạy quan Việt Nam lánh nạn trước năm 1978.
Tại mặt trận biên giới Việt-Trung sau 2 tháng giao tranh, quân Trung Quốc bị bộ đội Việt Nam cầm chân và thiệt hại nặng khiến Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình cho lệnh ngưng chiến và rút quân từ ngày 05/3/1979. Bắc Kinh tuyên ngưng chiền vì đã “hoàn thành mục tiêu chiến tranh”.
Không đâu có số chính thức về thương vong đôi bên. Phía Việt Nam nói đã giết 26.000 lính Trung Quốc và gây cho khoảng 37,000 người bị thương. Tây phương ước lượng số quân tử thương của Trung Quốc là ngót 7,000 người và bị thương trên 14,000.
Trung Quốc nói tổn thất của Việt Nam là 30,000 quân chết. Tây phương ước tính Việt Nam đã thiệt mạng khoảng 8,000 binh sĩ. Phía Việt Nam chỉ nói có lối 10,000 thường dân bị thiệt mạng.
Số quân và dân của Việt Nam bị tử thương sau 2 tháng giao tranh đẫm máu được nói nhiều trong khoảng từ 40,000 đến 45,000 người. Thiệt hại tài sản của nhân dân 6 tỉnh do quân Trung Quốc gây ra là vô giá.
Tội ác của lính Trung Quốc được phía Việt Nam ghi lại: “Mặc dù Trung Quốc tuyên bố rút quân, chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi. Dân thường Việt Nam vẫn tiếp tục bị giết, chẳng hạn như vụ thảm sát ngày 9 tháng 3 tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, khi quân Trung Quốc đã dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện.” (Trích Duyên Dáng Việt Nam ngày 17/02/2014)
Cuộc chiến thứ 2
Tuy nhiên quân Trung Quốc không trở về căn cứ mà duy trì ở biện giới và trong lãnh thổ Việt Nam. Sau đó, từ ngày 02/04/1984 đến năm 1987, trên 800,000 quân Trung Quốc đã mở mặt trận thứ 2 pháo kích và tấn công bộ binh 3 đợt có xe tăng yểm trợ vào Lạng Sơn và huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Tuyên (Hà Giang-Tuyên Quang, sau này đổi lại là Hà Giang)
Cuộc chiến Việt-Trung lần thứ 2 chỉ lắng đọng từ cuối năm 1989, sau khi quân CSVN rút khỏi chiến trường Kampuchia sau 10 năm tham chiến. Việt Nam đã phải hứng chịu tổn thất nặng nề với số tử vong được ước tính trên 100,000 người, theo lời ông Đặng Xương Hùng, cựu Phó Vụ trưởng Bộ Ngoại giao và Lãnh sự Việt Nam tại Thụy Sỹ trong cuộc phỏng vấn của BBC tiếng Việt ngày 26/09/2014. Ông Hùng hiện đang sống tị nạn chính trị tại Thụy Sỹ.
Trong cuộc chiến Việt-Trung lần 2, theo số thống kê của Bộ Quốc phòng Việt Nam thì mỗi ngày quân Trung Quốc đã bắn quan Việt Nam từ 10,000 đến 40,000, thậm chí có ngày lên đến 65,000 (như ngày 7/01/1987) quả đạn cối.
Theo ViệtnamExpress ngày 25/07/2014 thì trong hơn 5 năm (1984-1989), số lượng pháo Trung Quốc bắn vào Hà Tuyên là trên 2 triệu quả, trong đó 60% là đạn cối. Phạm vi địch bắn phá tập trung vào hai xã Thanh Đức, Thanh Thuỷ trong khoảng diện tích 20 km2.
Việt Nam mất 2 núi chiến lược
Nếu Trung Quốc không chiến thắng trong trận đánh vào 6 tỉnh Việt Nam lần thứ nhất thì Việt Nam đã thất bại trong cuộc chiến với quân Trung Quốc lần 2.
Bộ đội Việt Nam, dù đã tăng viện các sư đoàn thiện chiến có kinh nghiệm chiến trường vẫn không giữ được hai ngọn núi chiến lược là Lão Sơn (còn gọi là Núi Đất hay điểm cao 1509) và Giả Âm Sơn (điểm cao 1250). Theo tài liệu của Việt Nam, quân Trung Quốc đã sự dụng hỏa lực mạnh và chiến thuật tấn công biển người để mở 3 đợt tấn công chiếm 2 ngọn núi từ ngày 02/04/1984. Đến ngày 14/07/1984 thì đỉnh Lão Sơn đã hoàn toàn thuộc về Trung Quốc sau nhiều giờ giao chiến “sáp lá cà” đẫm máu.
Để mất 2 vị trí chiến lược cao điểm Lão Sơn và Giả Âm Sơn, quân đội Việt Nam đang phải đối phó với hiện tượng bị các dàn radar và hệ thống nhiễu sóng thông tin của Trung Quốc đặt ở đây làm rối loạn thông tin toàn khu cực bắc lãnh thổ.
Các chuyên gia Quốc phòng Nhật Bản ở quần đảo Okinawa cũng đã phát giác ra các tín hiệu nhiễu sóng của Trung Quốc phát đi từ 2 đỉnh núi này. Vì vậy, có nhiều khả năng hệ thống phòng không và quốc phòng của Việt Nam sẽ bị tệ liệt nếu xảy ra cuộc chiến mới với Trung Quốc.
Hậu quả nghiêm trọng của cuộc chiến Việt-Trung lần 2 tại Lão Sơn và Giả Âm Sơn được ghi lại trong Bách Khoa toàn thư (mở) về “Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990” như sau:
“Kết quả, quân Trung Quốc chiếm được một số ngọn đồi thuộc dải đồi này, gồm 29 điểm trong lãnh thổ Việt Nam. Trong số các vị trí mà quân Trung Quốc chiếm được có các cao điểm 1509, 772 ở phía tây sông Lô và các cao điểm 1250 (Núi Bạc), 1030 và đỉnh Si Cà Lá ở phía đông sông Lô. Chiến sự diễn ra dọc tuyến biên giới dài khoảng 11 km, và nơi quân Trung Quốc chiếm được sâu nhất trong lãnh thổ Việt Nam là Cao điểm 685 và Cao điểm 468, nằm cách biên giới khoảng 2 km….Việt Nam không thành công trong nỗ lực tái chiếm 8 mỏm núi, và Trung Quốc đã cho quân đóng giữ ở các mỏm núi này.”
Về thương vong đôi bên công bố năm 1984, Tài liệu cho biết: “Theo công bố chính thức của Việt Nam, họ đã tiêu diệt một trung đoàn và 8 tiểu đoàn quân Trung Quốc, "loại khỏi vòng chiến đấu" 5.500 quân Trung Quốc. Tới tháng 8, Việt Nam tuyên bố nâng tổng số quân Trung Quốc bị loại ra khỏi vòng chiến đấu lên đến 7.500 quân trong vòng 4 tháng. Trung Quốc tuyên bố loại khỏi vòng chiến khoảng 2.000-4.000 quân Việt Nam, còn về phía mình Trung Quốc có 939 lính và 64 dân công chết. Phía Việt Nam xác nhận trong trận đánh ngày 12 tháng 7, chỉ riêng Sư đoàn 356 của họ đã có gần 600 binh sĩ thiệt mạng.”
5 đời quy hàng
Với bối cảnh phá hoại hoang tàn, dã man và bị Trung Quốc chiếm lãnh thổ như thế mà các Lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam từ 5 đời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1986-1991), Đỗ Mười (1991-1997), Lê Khả Phiêu (1997-2001), Nông Đức Mạnh (2001-2011) và Nguyễn Phú Trọng (từ 2011- ) đa lần lượt cúi đầu trước áp lực của quân xâm lược phương Bắc để mang họa về cho dân tộc.
- Bắt đầu từ Hội nghị bí mật Thành Đô (Tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) năm 1990 của phái đoàn đảng gồm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thù tướng) Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng.
Thông tin bề mặt từ phía Việt Nam thì nói là mục đích chuyến đi nhằm bàn với lãnh đạo Trung Quốc gồm Giang Trạch Dân, Chủ tịch Nhà nước, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Hoa và Lý Bằng, Thủ tướng về kế hoạch bảo vệ và củng cố Xã hội Chủ nghĩa dựa trên Chủ nghĩa Mác-Lênin, sau khi Thế giới Cộng sản bị tan rã ở Đông Âu và khi ấy đảng và nhà nước Liên Xô cũng đang lung lay.
Nhưng thật sự thì phái đoàn Nguyễn Văn Linh muốn nối lại bang giao với Trung Quốc theo những điều kiện của Bắc Kinh buộc Việt Nam phải tuân thủ:
- Việt Nam phải rút quân khỏi Cao Miên vô điều kiện; phải chấp nhận một giải pháp chính trị cho Cao Miên với bảo đảm phải có sự tham dự của phe Khmer đỏ.
- Việt Nam không được nhắc đến chuyện Quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm năm 1974; không nhắc đến cuộc chiến Trường Sa năm 1988 có 64 người lính Việt Nam bị quân Trung Quốc giết chết khi có lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng Đại tướng Lê Đức Anh ra lệnh “không được nổ súng chống lại” dù bị mất 8 mỏm đá, quan trọng nhất là đá Gạc Ma, nằm ở vị trí chiến lược phía nam của dãy Trường Sa.
Phía Việt Nam còn không được nhắc đến cuộc chiến biên giới đẫm máu giữa 2 nước từ 2979 đến 1989 do phía Trung Quốc chủ động xâm lược.
- Đến đời ông Đỗ Mười thì tiếp tục tuân thủ với Trung Quốc những gì do ông Nguyễn Văn Linh để lại và đặc biệt đã khẳng định tại Đại hội đảng VII, theo đúng như ý muốn của Trung Quốc là đưa ra Cương lĩnh “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.”
Trong thực tế điều được gọi là “tư tưởng dân tộc” của ông Hồ Chí Minh trong chủ trương này chỉ là tấm bình phong che mặt Chủ nghĩa Cộng sản mà đảng CSVN vẫn rỉ rả tuyên truyền là “quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”.
Phía Trung Quốc thì lại bảo họ đang theo đuổi chủ trương gọi là “chủ nghĩa xã hội có đặc sắc Trung Quốc” được chấp thuận tại Đại hội đại biểu đảng toàn quốc lần thứ XV tháng 9 năm 1997.
Cả hai nước đã đồng thuận một điểm quan trọng là chỉ mở cửa kinh tế mà không mở cửa chính trị; không chấp nhận đa nguyên đa đảng, không cho tư nhân ra báo và giữ độc quyền thông tin, báo chí.
- Sang thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thì ông này, thi hành tiếp những điều ông Đỗ Mười đã đồng ý với Trung Quốc, đã cắt đất, nhượng biển và chia quyền đánh bắt cá cho Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ xuyên qua 3 Thỏa hiệp:
- Ngày 30 tháng 12 năm 1999, Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt - Trung đã được hai Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và Đường Gia Triền, thay mặt Chính phủ hai nước ký kết chính thức tại Hà Nội.
Việt Nam mất ải Nam Quan (còn có tên là Hữu Nghị Quan, Mục Nam Quan), mất 2/3 phần đẹp nhất của thác Bản Giốc, mất ½ sông Bắc Luân tại khu vực biên giới giữa thành phố Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam) và huyện cấp thị Đông Hưng (địa cấp thị Phòng Thành Cảng, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc).
Việt Nam cũng bị mất những phấn đất cả ngàn cây số vuông dọc biên giới sau 2 cuộc chiến tranh biên giới từ 1979 đến 1989, quan trọng nhất là vùng núi Lão Sơn và Giả Âm Sơn.
Qua năm 2000, ông Phiêu đã ký với Trung Quốc thêm 2 Hiệp định:
- Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25 tháng 12 năm 2000 nhằm xác định biên giới lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong Vịnh Bắc Bộ.
Qũy nghiên cứu Biển Đông của các chuyên viên biển đảo Việt Nam ở trong nước và nước ngoài cho biết: “Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc có diện tích 123.700 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 km (176 hải lý) và nơi hẹp nhất khoảng 220 km (119 hải lý). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km, còn phía Trung Quốc khoảng 695 km. Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km. Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng". (Trích bài viết “Đàm phán Việt - Trung về khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ” ngày 24/02/2014)
Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho biết: “Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích Vịnh và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích Vịnh”.
Như vậy, phía Việt Nam hơn Trung Quốc 6,46%, hay khoảng 8,205 cây số vuông, theo ước tính của Qũy Biển Đông.
Ông Lê Công Phụng, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ đã có lần phủ nhận Việt Nam để mất 10,000 cây số vuông ở Vịnh Bắc Bộ. Ngược lại ông còn nói Việt Nam được lợi đến 8,000 cây số vuông như Qũy Biển Đông đã viết.
Tuy nhiên, các chuyên viên biển đảo và địa dư không đồng ý và cho rằng, ít nhất Việt Nam cũng đã bị thiệt từ 3,000 đến 4,000 cây số vuông.
- Cùng thời gian này, Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc tại Bắc Kinh ngày 25 tháng 12 năm 2000.
Tài liệu chính thức cho biết người đại diện ký kết của Việt Nam là Bộ trưởng Thủy sản Tạ Quang Ngọc, người đại diện ký kết của Trung Quốc là Bộ trưởng Nông nghiệp Trần Diệu Bang.
- Khi ông Nông Đức Mạnh thay Lê Khả Phiêu cầm quyền trong 10 năm (2001-2011) thì đã mở cửa cho Trung Quốc vào khai thác Bauxite trên Tây Nguyên, một hành động đã bị cả ngàn Cựu quan chức, đảng viên cao cấp và Trí thức trong và ngoài nước ngăn cản nhưng không thành.
Trong số những người ký tên vào kiến nghị gửi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương đảng có cả Bà nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình; nguyên Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Đức cha Nguyễn Thái Hợp, Trưởng ban Công lý và Hòa bình của Giáo hội Công giáo và Nhà văn nổi tiếng Nguyên Ngọc, người rất thông thạo về phong tục, tập quan của các Dân tộc ở Tây Nguyên.
Trong số các chuyên viên cảnh giác sẽ mắc bẫy Trung Quốc, gây thiệt hại kinh tế, môi trường và làm xáo trộn đời sống của hàng trăm nghìn dân là Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, nguyên Giám đốc Ban quản lý Dự án than Đồng bằng sông Hồng – Vinacomin.
Ông đã nhiều lần ông lên tiếng với những chứng liệu khoa học cụ thể về lời và lỗ nhưng Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam vẫn chũi đầu xuống cát cãi lý, nhưng lại được sự đồng thuận của các viên chức Bộ Công Thương.
Tiến sĩ Sơn nói thằng: “Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) đã sập bẫy giá rẻ của Trung Quốc. Ước tính tổng số lỗ của dự án bauxite Tân Rai (Lâm Đồng) Nhân Cơ (Đăk Nông) trong năm 2015 sẽ khoảng 37,4 triệu USD.” (báo Dân Trí)
Chuyên gia này đã công bố ước tính của ông tại cuộc tọa đàm về dự án Bauxite do Trung tâm Thiên nhiên và Con người (Pan Nature) tổ chức ngày 28-3-2015 ở Hà Nội.
Nhưng không phải chỉ lỗ bấy nhiêu mà còn lỗ dài hạn, tiếp tục rút tiền mồ hôi nước mắt của dân mà chưa biết đến bao giờ mới thoát khỏi cái bẫy “thầu giá rẻ” của Nhà thầu Chalieco (Trung Quốc).
Báo Dân Trí viết tiếp: “Nguyên nhân được ông Sơn chỉ ra là vì theo phụ lục trong Hợp đồng EPC giữa Vinacomin và nhà thầu Chalieco (Trung Quốc) ngày 14-7-2008 của dự án Tân Rai, nhà thầu cam kết 630.000 tấn/năm, giảm 20.000 tấn/năm (giá trị tương đương 20 triệu USD) so với công bố của chủ đầu tư. Kéo theo doanh thu giảm khoảng 5 triệu USD/năm.
Còn ông Nguyễn Văn Ban, nguyên Trưởng ban Nhôm – Titan, Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam, cho rằng khi Trung Quốc chào thầu, giá rất thấp. Thế nhưng khi kí hợp đồng thì giá lại tăng lên. Phía họ lấy lý do đội giá là do mức giá chào thầu chưa tính đến thiết bị dự phòng. Đây chính là bẫy của họ.”
Vẫn theo Dân Trí và các báo khác thì Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn cho biết: “Năm 2014 tổng số alumina tiêu thụ của Nhà máy Tân Rai là 492.000 tấn với giá bán bình quân 326,5 USD/tấn. Tuy nhiên trên thực tế nếu tính cả chi phí khấu hao, chi phí vận tải về cảng Gò Dầu thì giá thành đầy đủ tương đương 413,5 USD/tấn. Như vậy, trong năm 2014, mỗi tấn alumina bị lỗ ít nhất là 87 US$/tấn. Tổng số lỗ của năm 2014 là 42,8 triệu USD và trong năm 2015 tình hình sẽ tiếp tục như thế.”
Các báo ở Việt Nam cũng loan tin: “Theo dự toán của Vinacomin, mức lỗ của năm 2015 cho cả hai sự án Tân Rai và Nhân Cơ (Đăk Nông), bất kể là sản xuất đến đâu, tiêu thụ đến đó, cũng xấp xỉ 37,42 triệu USD.”
Như vậy thì Trung Quốc hay Việt Nam có lợi trong dự án khai thác Bauxite ở Lâm Đồng và Dak Nông? Ngoài ra còn phải xét đến yếu tố ông Nông Đức Mạnh đã “mở cửa nóc nhà Đông Dương” để cho người Trung Quốc vào vùng đất chiến lược Tây Nguyên mà Đại tướng Võ nguyên Giáp đã cảnh giác.
Ngoài Dự án Bauxite, trong 10 năm đứng đầu đảng, ông Mạnh đã để cho hàng chục ngàn lao động Trung Quốc “không giấy phép làm việc” và “chỉ biết làm những việc” bình thường tự do vào Việt Nam làm cho các công ty Trung Quốc từ Nam ra Bắc.
Quan trọng sau Dự án Bauxite là ông Mạnh đã đồng ý để cho người Trung Hoa (Đài Loan và Trung Quốc) xây dựng nhà máy luyện kim ở khu kinh tế Vũng Áng tại huyện Kỳ Anh, phía Nam tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh 70 km về phía Nam.
Theo Bách khoa toàn thư (mở) thì Vũng Áng “Được thành lập vào tháng 4 năm 2006 trên cơ sở khu công nghiệp - cảng biển Vũng Áng đã được thành lập từ năm 1997… có vị trí địa lý tự nhiên (gần cảng nước sâu Vũng Áng và Sơn Dương, gần quốc lộ 1A, trên quốc lộ 12A nối với Lào và Thái Lan, gần mỏ sắt Thạch Khê) để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Hà Tĩnh, tạo điểm bứt phá về kinh tế – xã hội trong khu vực Bắc Trung Bộ, tạo sự liên kết phát triển giữa các tỉnh Bắc Trung Bộ, thu hẹp khoảng cách trong phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập với cả nước và quốc tế.”
Đã có những quan ngại Việt Nam sẽ bị cắt làm hai khi xảy ra chiến tranh với Trung Quốc vì ngoài lợi ích kinh tế, theo Bách khoa toàn thư mở thì: “Khu kinh tế Vũng Áng bao gồm: dịch vụ cảng biển, công nghiệp luyện kim gắn với lợi thế về tài nguyên và nguồn nguyên liệu (mỏ sắt Thạch Khê, mỏ titan,...); các ngành công nghiệp gắn với việc khai thác cảng biển; các ngành công nghiệp khai thác nguồn nguyên liệu trong vùng cũng như nhập khẩu, đặc biệt là từ Lào và Thái Lan; các ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu.”
Ông Mạnh cũng để cho thương lái Trung Quốc ra vào Việt Nam như đi chợ để mua nông phẩm và súc vật của Việt Nam nhằm làm hại nền kinh tế Việt Nam.
Ngoài ra ông Nông Đức Mạnh và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người đã ký giấy khai thác Bauxite, còn có trách nhiệm trong việc để cho các cấp Chính quyền địa phương, đặc biệt tại các Tỉnh chiến lược dọc biên giới cho các Công ty Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan thuê đất dài hạn đến 50 năm để trồng rừng.
Tại các khu vực này, người Việt Nam không được phép vào và cả chính quyền cũng không biết các Công ty gốc Trung Hoa đã và đang làm gì trong vùng đất “cấm địa” này ngay trên lãnh thổ Việt Nam?
Nhiều phố xá, xóm làng của người Trung Hoa làm chủ, quan lý, tiêu biểu như Đông Đô Đại Phố ở Bình Dương cũng đã được thành lập dưới thời ông Mạnh và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.
- Đến thời ông Nguyễn Phú Trọng thì từ khi ông lên cầm quyền năm 2011, Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc gia tăng đến mức chóng mặt va rất đáng lo ngại.
Ông cũng là người đã thi hành nghiêm chỉnh phương châm 16 chữ: "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt: “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” , mặc dù hại nhiều hơn lợi đã nghiêng về phía Việt Nam.
Ông Trọng đã thăm Trung Quốc rất vội vã trong cả hai chuyến đi đầu tiên tháng 10/2011 và lần thứ hai từ ngày 7 đến 10/04/2015.
Lần thứ nhất, ông đã cùng với Chủ tịch nhà nước, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Hoa Hồ Cẩm Đào chứng kiến lễ ký 6 Điểm “Nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung”, ngay sau khi đến Bắc Kinh chiều ngày 11/10/2011. Điều này chứng tỏ Văn kiện 6 điểm đã được các bên đồng ý từ trước, nhưng có thảo luận nay không thì chưa rõ.
Hai bên tuyên bố: “Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác.”
Điều này có nghĩa ông Trọng đã tán thành lập trường của Trung Quốc chỉ thảo luận song phương giữa 2 nước có tranh chấp với nhau mà không chấp thuận đa phương hay quốc tế hóa xung đột ở Biển Đông như nhiều nước trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á và Hoa Kỳ mong muốn.
Tiếp theo, ông Nguyễn Phú Trọng cũng đồng ý: “Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này….”
Điều đồng ý này của phía Việt Nam, lần đầu tiên cho thấy ông Trọng đã bằng lòng hợp tác với Trung Quốc để “hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này….”, đúng như đòi hỏi từ năm 1979 của Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình, khi ấy ông ta nói: "Biển của ta, hãy gác tranh chấp đề cùng khai thác"!
Từ sau chuyến đi này, ông Trọng đã để mặc cho Công an Việt Nam tự do đàn áp người dân tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng ở Biển Đông và tấn công các thuyền đánh cá của Việt Nam đến đánh bắt ở Hoàng Sa và Trường Sa.
Các hành động thuần phục Trung Cộng khác của ông Trọng còn được đánh dấu ở cả Sài Gòn và Hà Nội khi người dân, vào mỗi tháng Hai, không được phép tổ chức tưởng nhớ các chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh trong cuộc chiến biên giới chống quân Trung Quốc xâm lược (17/02/1979).
Các cuộc tuần hành kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (1974-2014) cũng bị chống phá và ngăn cản thô bạo ở Hà Nội.
Ngay đến ngày kỷ niệm 14 tháng 3 hàng năm tưởng niệm 64 chiến sĩ của Quân đội nhân dân chống xâm lược Trung Quốc hy sinh ở Trường Sa năm 1988 cũng không được phép tổ chức cấp quốc gia, không được biểu tình chống bành trướng và bá quyền Bắc Kinh.
Ngược lại, các buổi ca nhạc, nhảy nhót thô bỉ như để ăn mừng chiến công của quân đội Trung Quốc đã được Chính quyền Thành phố Hà Nội tổ chức trước mắt người dân và báo chí nước ngoài.
Khi Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào bên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đề thăm dò dầu khí từ ngày 2/5 đến 15/7/2014 thì cũng chính ông Trọng đã không tán thành ý kiến của nhiều Đại biểu Quốc hội và người dân muốn Quốc Hội ra nghị quyết lên án hành động của Bắc Kinh.
Chuyến đi lần hai
Cuối cùng, trong chuyến đi Bắc Kinh vội vã lần 2 từ ngày 07 đến 10/04/2015 để gặp Chủ tịch nhà nước, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Hoa Tập Cận Bình, ông Trọng đã “hợp thức hóa” tất cả những cam kết của Việt Nam từ trước.
Trong số này, có những cam kết và thỏa thuận đã ký kết được ghi trong 9 điểm của “Thông cáo chung Việt Nam - Trung Quốc”, công bố ngày 08/04/2015, trước cả ngày về nước của phái đoàn Việt Nam.
Những điểm quan trọng gồm: “Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng quan trọng của nhau, nhất trí cho rằng hai nước có chế độ chính trị tương đồng, có con đường phát triển gần gũi, có tiền đồ vận mệnh tương quan, sự phát triển của nước này là cơ hội quan trọng cho nước kia.”
Hai bên cũng đồng ý: “Tăng cường giao lưu, hợp tác trong các lĩnh vực ngoại giao, quốc phòng, thực thi pháp luật và an ninh. Tiếp tục tổ chức tốt tham vấn ngoại giao thường niên, mở rộng giao lưu hợp tác giữa Bộ Ngoại giao hai nước. Duy trì tiếp xúc cấp cao giữa quân đội hai nước và đối thoại quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh giao lưu hữu nghị giữa hai lực lượng biên phòng, quản lý thỏa đáng bất đồng, đi sâu trao đổi kinh nghiệm về công tác Đảng và công tác chính trị trong quân đội; tăng cường hợp tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ; tiếp tục tổ chức tuần tra chung trong vịnh Bắc Bộ và tàu hải quân hai bên thăm nhau. Đi sâu hợp tác trong lĩnh vực an ninh và thực thi pháp luật, tăng cường đối thoại an ninh…”
Tông báo còn viết: “Trong thời gian chuyến thăm, hai bên đã ký kết “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2016-2020”; “Hiệp định về hợp tác dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”; “Thỏa thuận về các vấn đề về thuế đối với Dự án thăm dò chung tài nguyên dầu khí tại vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc” giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tài chính nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; “Bản ghi nhớ giữa Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hợp tác trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc”; “Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng trên bộ” (MOU) giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam và Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc; “Điều khoản Tham chiếu Nhóm công tác hợp tác tài chính tiền tệ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc”; và “Bản ghi nhớ về hợp tác làm phim truyền hình chuyên đề giữa Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc”.
Quan trọng hơn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn đồng ý: “Tích cực nghiên cứu việc đàm phán, ký kết Hiệp định sửa đổi về thương mại biên giới Việt - Trung. Sớm bàn bạc và xác định phương án tổng thể chung về xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới; thiết thực thúc đẩy các dự án kết nối cơ sở hạ tầng…. Hai bên tuyên bố chính thức thành lập Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng và Nhóm Công tác về hợp tác tiền tệ.”
Như vậy thì Việt Nam đã biến thành một quận huyện của Trung Quốc chưa? Và bao giờ thì người dân Việt sẽ chi tiêu với nhau bằng đồng Nhân Tệ của Trung Hoa trên đất nước của mình ?
Phát triển trên biển Đông
Riêng trong lĩnh vực Biển Đông, Thông báo viết rất rõ về sự nhượng bộ của ông Trọng: “Hai bên trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhấn mạnh tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”; sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt - Trung, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. Cùng kiểm soát tốt bất đồng trên biển
Hai bên nhất trí thúc đẩy hoạt động của Nhóm bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ trong năm nay.”
Như vậy thì có còn gì để nghi ngờ về lòng dạ phù Trung của ông Nguyễn Phú Trọng nữa không?
Thảm họa bắc thuộc
Phải chăng những “thành tích sáng chói” của 5 đời Tổng Bí thư đảng CSVN trên đây là lý do khiến nhóm Film Club ở vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã hoàn thành phim tài liệu “Thảm Họa Bắc Thuộc”?
Họ nói mục đích của cuốn phim dài ngót 2 tiếng sau hơn 2 năm chuẩn bị là để: “Nhận diện một Cộng sản Trung Hoa đầy tham vọng bành trướng, và nhận diện một Cộng sản Việt Nam thần phục Bắc Kinh để tồn tại, bất chấp quyền lợi tối thượng của đất nước.”
Để có những bằng chứng về hiểm họa Bắc Thuộc lần thứ hai đang rình rập trên đầu người dân Việt, nhóm chủ trương cho biết họ đã thực hiện “21 cuộc phỏng vấn các nhân vật trong và ngoài nước, người Việt Nam và ngoại quốc” nhằm “đánh lên tiếng chuông cảnh báo Thảm Họa Bắc Thuộc, đánh lên hồi trống thúc dục người Việt Nam khắp nơi đứng lên đánh đổ bạo quyền Cộng sản Việt Nam.”
Trong số người ngoại quốc, có Đạo diễn điện ảnh David Satter, người đã thực hiện phim The Age of Delirium; Giáo sư Stephen Young, Đại học Hamline, Minnesota, một người nói tiếng Việt rất sõi và hiểu tường tận lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
Một nhân chứng khác của cuốn phim tài liệu “Thảm Họa Bắc Thuộc” là Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia có uy tín quốc tế về thời cuộc Đông Nam Á. Ông Thayer, 70 tuổi, mang song tịch Mỹ-Út cũng là người nói rành 3 thứ tiếng Lào, Thái và Việt. Ông đã cảnh giác về mối đe dọa của Trung Quốc đối với các nước trong vùng Biển Đông, trong đó có Việt Nam và Phi Luật Tân.
Về phía người Việt Nam, sự xuất hiện của Nhà báo Bùi Tín, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Nhân dân trước khi ông tị nạn chình trị tại Pháp năm 1990, đã nổi bật với tiết lộ tại sao các cấp lãnh đạo cao cấp của đảng CSVN đã tỏ ra “hồ hời thỏa mãn” với việc quân đội Trung Quốc tấn công và chiếm Quần đảo Hoàng Sa từ tay Hải quân Việt Nam Cộng hòa năm 1974.
Cuốn phim có giá trị lịch sử này được nhóm chủ trương quảng bá khắp nơi trên thế giới còn mang lời cảnh giác rằng: “Bằng những tài liệu dẫn chứng, những nhận định của các nhà nghiên cứu, và xác nhận của các nhân chứng lịch sử, cuốn phim gởi đi lời cảnh báo khẩn cấp: Cộng sản Trung Hoa và Cộng sản Việt Nam đang biến Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới của Bắc Kinh.”
Vậy người Việt Nam ở trong và ngoài lãnh thổ có thấy cái bóng đen Bắc Kinh khổng lồ đang sừng sững trước mắt mình như nhóm Film Club đã thấy?
Hay nhiều người vẫn nghĩ mơ hồ rằng tình trạng bất động của đảng và nhà nước CSVN trước cường độ biến bãi đá thành đảo của Trung Quốc ở Trường Sa cũng chỉ để thể hiện thiện chí “vừa là đồng chí vừa là anh em” với người hàng xóm láng giềng phương Bắc.
Hoặc thông minh hơn, có người còn nghĩ hành động của Trung Quốc tiềm ẩn một thiện chí sâu sắc hơn vì họ đang “bảo vệ biển đảo và tài nguyên giúp Việt Nam” ở Trường Sa, như lãnh đạo Việt Nam đã từng quáng gà khi Bắc Kinh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974?
Sau Diễn Văn 30/4 Của Ô. Dũng Vi Anh
Đằng sau bài diễn văn của TT Nguyễn tấn Dũng dài 25 phút, lớn tiếng lên án Mỹ là đế quốc dã man và cám ơn Liên xô và TC đã giúp VNCS trong Chiến Tranh VN trong lễ duyệt binh lớn nhứt trong nhiều năm qua, tại Saigon có hai đương và cựu Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng và Nông đức Mạnh chứng giám – là một bằng chứng rõ rệt Trung Cộng đã “định hướng” ngoại giao và nội chính cho VNCS rồi. Định hướng đó đã đang ngự trị trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng Nhà Nuớc CSVN sau chuyến đi triều kiến Thiên Triều Bắc Kinh của Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng.
CSVN chọn chỗ duyệt binh và đánh võ mồm rất kỹ, tại công trường lớn nhứt của Saigon, trước Phủ Tổng Thống VNCH ngày xưa, gần cuối đường có Toà Đại sứ Mỹ, một building lớn nhứt hiện giờ Mỹ dùng làm toà tổng lãnh sự Mỹ. Và người nói chuyện là một người CS gốc gác Miền Nam, ruột để ngoài da là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng. Nguyễn tấn Dũng lâu nay là người nói mạnh, lập trường cứng trước hành động xâm lược của TC. Nhưng trong cuộc duyệt binh CSVN gọi là “giải phóng”, TT Dũng là diễn giả chánh. Sáng ngày 30/4/2015, TT Dũng đọc một bài diễn văn nẩy lửa còn hơn thời chiến tranh VN nữa. Chửi Mỹ là “dã man', là 'đế quốc ' và “chân thành cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa nhất là Liên Xô, Trung Quốc” đã giúp chính quyền Hà Nội trong Chiến tranh Việt Nam.
Việc làm này của Đảng Nhà Nước CSVN và lời tuyên bố tố cáo tội ác của Mỹ qua cửa miệng của Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng nắm Nhà Nước hay chánh phủ VNCS cho thấy Đảng Nhà Nước đã bị Trung Cộng định hướng ngoại giao, định hướng nội chính, hết thuốc chữa rồi.
Một TC đã định hướng ngoại giao cho Đảng Nhà Nước VNCS qua chuyến đi của Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng với một phái đoàn coi như Đảng, Nhà Nước thu gọn. Cùng đi với Ông có 1/3 thành viên của Bộ Chánh trị kiêm luôn nhiều chức vụ nội an, ngoại vụ, kinh tế chánh trị của CSVN. Như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân; Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh; Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang; Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Trần Quốc Vượng; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh; Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Hoàng Bình Quân. Như kéo cả dàn lãnh đạo nhà nước CSVN qua nhận chiếu chỉ của Vua TC Tập cận Bình
Và Đảng Nhà Nước không có cách gì để thoát Trung được, phải xá sâu, xá cạn TC vì đã hoàn toàn bị lệ thuộc kinh tế chánh trị đối với TC. Kim ngạch thương mại Việt-Trung tăng 17% hồi năm ngoái, lên tới 58,77 tỉ đôla,. Nhưng mức thâm hụt mậu dịch của Việt Nam với Trung Quốc cũng gia tăng lên tới gần 29 tỉ trong năm 2014, so với năm trước đó chỉ có 23,7 tỉ đôla.
Đảng CSVN đi chệch hướng 1 chút thì sẽ như thời Lê Duẩn hướng về Liên xô, thì Đặng tiểu Bình cho CSVN một bài học máu đổ, thịt rơi.
Và về chánh trị và tinh báo không ai biết có bao nhiêu đảng viên cao cấp, cán bộ trong guồng máy VNCS bị TC cấy sinh tử phù làm tình báo, làm gián điệp cho TC.
Đầu tư nhân sự của TC là trăm năm trồng người. Khi TC giúp VNCS, TC cho nam cán bộ lấy phụ nữ VN làm “hộ lý”, có con cho lấy họ mẹ là VN, và đào tạo nâng đỡ thành cán bộ đảng CSVN loại lãnh đạo thượng tầng.
Do vậy không mong gì Đảng CSVN có thể thoát Trung được. Và chuyện dễ xảy ra như ăn cháo bào ngư là cán bộ đảng viên lãnh đạo CSVN dễ thành thái thú của TC.
Trong tình thế hiện tại, TC định hướng ngoại giao cho CSVN, là không đi với Mỹ, mọi thắc mắc về biển đảo Hà nội và Bắc Kinh giải quyết song phương, không cho Mỹ hay nước thứ ba nào xen vào. Đó là nguyên tắc của TC đưa ra từ \đầu khi TC tranh giành biển đảo của các nước Á châu. Đó cũng là thái độ của CSVN từ đầu đối với TC, Đảng Nhà Nước chỉ lập đi lập lại như con két về chủ quyền mà không có một hành động bảo vệ nào coi cho được.
Hai, TC đã dàn xếp kẻ lên người xuống trong guồng máy Đảng Nhà Nước VNCS trong đại hội đảng CSVN đầu năm 2016. Theo thông lệ gần đại hội Đảng CSVN, thế nào TC cũng đưa một đại cán qua “chi viện chánh trị” cho CSVN. Kỳ này vì phe nắm Đảng và phe nắm Nhà Nước có mâu thuẫn nhau, đá giò lái nhau vì vấn đề Biển Đông bị TC xâm chiếm, nên đích thân Tập cận Bình phải hành động trước, nhứt là trước khi TBT Trọng được mời công du Mỹ.
Nên bài diễn văn của TT Nguyễn tấn Dũng một người nắm nhà nước, chủ trương xích lại gần Mỹ để có lá chắn cho vấn đề biển đảo, lại trở cờ, thay đổi phương hướng 180 Độ. Dù không đi Bắc Kinh, nhưng là người gần như đối lập nên TC phải mua chuộc giá cao hơn những gia nô của Thiên Triều, theo qui luật thông thường đổi chác chánh tri là vậy. Có lẽ được quan thầy TC Tập cận Bình mật ước cho quyền lợi gì đó không nhỏ hơn chức thủ tướng nên TT Dũng mới thay đổi lập trường như vậy, mới lớn tiếng tố Mỹ dã man, thực dân mới, với sự hiện diện của hai tổng bí thư, một cựu là Nông đức Mạnh, một đương là Nguyễn phú Trong ngồi chứng giám.
Ba, Đảng Nhà Nước CSVN vẫn lợi dụng tình tự quê hương, dân tộc tiếp tục tuyên truyền mị dân để chiêu hồi và chiêu hàng người Việt hải ngoại nay đã lên gần 4 triệu người đã thành công dân các quốc gia dân chủ, tự do giàu mạnh ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc Châu và là một thế lực quốc tế vận cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, tức chống CSVN rất mạnh.
Nhưng câu trả lời rõ nhứt, mạnh nhứt là đạo luật S 215 của Canada do một Thượng nghị sĩ Canada gốc Việt là TNS Ngô thanh Hải là tác giả và vận động được lưỡng viện Quốc Hội biểu quyết thông qua và chánh quyền Canada ban hành nói lên chứng tích giết hại ngươi Việt sau 30/4/75. CSVN giận tối mặt mời đại sứ Canada đến Bộ Ngoại Giao phản đối.
Và tại Mỹ, nhiểu cơ quan đoàn thể và cộng đồng làm lễ 30/4 là Quốc Hận, Tháng Tư Đen và vận động chánh quyền Mỹ chống CSVN.
Bốn và sau cùng, đừng tưởng Mỹ không biết trao đổi quyển lợi này của Hà nội và Bắc Kinh. Rất biết. Chắc chắn bài diễn văn này có qua Bộ Chánh Trị, mà người cầm đầu Bộ Chánh trị có mặt để giám sát hành động quay 180 độ cuả Nguyễn tấn Dũng.
Và chắc nếu không có lời hứa của TC và của Bộ Chánh trị CSVN dành cho ông một chức quyền quan trọng hơn trong guồng máy Đảng Nhà Nước, thì TT Dũng cũng không trở cờ chống Mỹ như vậy đâu. Con gái cưng của ông có tin đã nhập quốc tịch Mỹ, con rể quí của ông là một người xuất thân gia đình công dân Mỹ gốc Việt, và là người đưa tập đoàn bán thức ăn nhanh McDonald của Mỹ vào VN, và số tiền 19 tỷ của ông và hai con trai đều học ở Mỹ, TT Dũng nếu không có lợi hơn, thì không đi với TC đâu.
Mỹ không nói ra mà làm để chứng tỏ Mỹ biết trước và phản ứng bàng hành động. Không một đại diện Toà Đại sứ Mỹ, Toà Tổng Lãnh sự Mỹ nào dự lễ 30.4 tại Saigon. Trái lại hai cơ sở ngoại giao đó tại VN tổ chức ngày chấm dứt chiến tranh VN cho cựu quân nhân Mỹ trong khuông viên hai cơ quan ngoại giao Mỹ.
Và tại Mỹ, nhơn ngày Tự do báo chí, TT Obama mời Điếu Cày một bộ đội CS phản tỉnh chống và bị CS bỏ tù vì những bài viết của ông và hai nhà báo hai nước khác vào hàn huyên ngay trong phủ tổng thống Mỹ. Một số dân biểu Mỹ đệ trình dự luật Nhân Quyền VN. Uỷ Hội Quốc tê về Tự do Tôn giáo của Quốc Hội đề nghị đưa CSVN trở lại qui chế CPC, chế độ đàn áp tôn giáo cần quan tâm đặc biệt. Nhiều tổ chức chánh trị và chuyên môn của Mỹ lên tiếng yêu cầu chánh quyền Mỹ không chấp nhận cho VNCS tham gia TPP, nhứt là tổ chức nghiệp đoàn rất gần gũi với Đảng Dân Chủ. Và ở Hạ Viện, một số dân biểu lưỡng đảng trình dự luật Nhân Quyền VN.
Với tình hình như thế tại Mỹ, người ta tin chánh quyên, báo chí, dân chúng Mỹ nói chung khó có thể có cảm tình với chuyến công du của TT Mỹ sang VN và Tổng bí Thư Nguyễn phú Trọng công du Mỹ. Có thể dời hay huỷ cũng không chừng./. (Vi Anh)
Ngô Nhân Dụng
Phải mất sáu tiếng đồng hồ một đoàn cấp cứu người Pháp và người Nepal cưa gỗ, đục tường và sàn nhà, mới kéo được anh Rishi Kanal, 28 tuổi, ra khỏi đống gạch ngói đổ nát, sau trận động đất, đưa nước uống và bơm dưỡng khí cho anh. Một cụ già 101 tuổi ở quận Nuwakot, phía Tây Bắc thủ đô Kathmandu được cứu; cụ nhịn đói, nhịn khát suốt bảy ngày sau khi động đất; cả làng bị xóa sạch. Nhân viên một công ty Mỹ mang hai cái máy tìm kiếm bằng radar sóng ngắn qua, cứu được bốn người ở làng Chautara, họ bị vùi dưới hai lớp cao ốc sụp đổ chồng lên nhau. Cái máy Finder của NASA lần đầu tiên đem dùng trên trái đất, có thể dò biết hơi thở và nhịp tim đập của con người dưới sâu hàng chục thước. Ðoàn cấp cứu này gồm nhiều người quốc tịch Bỉ, Hòa Lan và Trung Quốc.
Sau những vụ thiên tai, cảnh con người đi cứu lẫn nhau khiến chúng ta xúc động; cảm thấy tình nhân loại thật ấm áp.
Nhưng chúng ta cũng rất buồn khi thấy những người hoàn toàn vô cảm trước nỗi thống khổ của đồng loại. Người Việt Nam thì không những buồn mà còn thấy xấu hổ, khi thấy trên mạng Internet quốc tế cảnh một đồng bào của mình hoàn toàn vô cảm. Trên website 9gag có hình nhiều du khách ngoại quốc đang đi cấp cứu các nạn nhân động đất, kèm theo bức hình một phụ nữ Việt Nam đang đứng chụp hình kỷ niệm giữa cảnh đổ nát. Cô có khuôn mặt rất xinh, miệng nở nụ cười hớn hở, tay đưa lên như chỉ cho mọi người thấy ngôi nhà bị sập cao như thế nào. Ðúng là một thái độ vô cảm. Ðiều đáng xấu hổ hơn, là cô này ở trong một phái đoàn hội Chữ Thập Ðỏ, sang Nepal trước đó mấy ngày để “nghiên cứu về động đất.”
Chữ Thập Ðỏ, người miền Nam trước đây gọi là Hồng Thập Tự là một tổ chức cấp cứu. Tinh thần của các hội Hồng Thập Tự là cứu người, giúp người. Phải có tấm lòng mẫn cảm, thương xót mới làm việc cho những tổ chức như thế. Thái độ vô cảm càng không chấp nhận được. Trên website 9gag có hai tấm hình, lần lượt được chú thích cho dân mạng so sánh: A member of Redcross Vietnam” (Một thành viên Hội Chữ Thập Ðỏ Việt Nam) và “Other tourists” (Những du khách khác đang cùng dân địa phương tìm bới các đống gạch đổ nát).
Nhưng không phải chỉ một mình cô gái này vô cảm. Cả đoàn cùng đi với cô cũng vậy. Ði học hỏi về việc phòng bị động đất, đối phó với động đất, đáng lẽ ra khi gặp cảnh động đất thật thì phải coi đây là một cơ hội học hỏi trên thực địa. Nhưng không. Gặp động đất, cả đoàn tìm cách kéo nhau về sớm. Về tới nhà, được dịp khoe khoang tài thành tích ăn mì gói và tài chạy chọt của mình, làm thế nào tìm được máy bay đi Quảng Châu rồi về Hà Nội!
Chuyến đi Nepal được hội Hội Chữ Thập Ðỏ Na Uy tài trợ, tiền ăn ở hàng ngày đã lãnh rồi. Không biết họ có đem trả tiền cho người ta, hay mang về Hà Nội ăn tiêu cho sướng?
Họ thanh minh rằng không có khả năng cấp cứu, không biết phong tục và ngôn ngữ địa phương nên đành về. Nhưng có hai người Việt Nam khác, nhân viên một hãng viễn thông đang ở Kathmandu lúc đó, họ không bỏ chạy. Họ tình nguyện vào bệnh viện giúp các công tác cứu thương, và đi hiến máu. Có ai cần biết nói tiếng địa phương đâu?
Dân Việt Nam không vô cảm như mấy người Chữ Thập Ðỏ. Câu chuyện và hình ảnh này lên mạng, các công dân mạng ào lên “ném đá!”
Dân mạng lại “ném đá” một lần nữa khi thấy cảnh người ta đưa xác một phi công tử nạn về nhà trong một cái túi xách tay! Ðó là di hài một thiếu tá phi công thiệt mạng trong chuyến bay huấn luyện tháng trước, được đưa về cho gia đình tại Hải Phòng. Trên thế giới, người ta rất kính trọng các thi hài, dù đó là thường dân. Thi hài các quân nhân tử nạn khi đang làm nhiệm vụ đều được đặt trong quan tài phủ Quốc kỳ, đưa đón với lễ nghi trang trọng và uy nghiêm. Nhưng ở Việt Nam thì di hài một sĩ quan không quân bị nhét trong một cái túi hành lý loại xách tay, mầu xanh trơn, cho hai người khiêng, một người đi trước bước theo kiểu diễn hành. Gia đình người chết không được mời tới nhận và đưa thi hài về nhà. Ðơn vị không quân của anh có cử đại diện đưa anh về với gia đình hay không? Tại sao người ta không đặt cái túi lên một miếng gỗ lớn hơn một chút, bốn người khiêng trông nó đỡ bệ rạc? Chẳng người nào thắp cho người chết một nén hương. Cũng chẳng thấy một đóa hoa, một băng tang màu đen hoặc mầu trắng, hay một tấm khăn sô phủ cho kín đáo! Cả đám tang là cái túi hành lý xách tay bằng plastic, nếu mở coi bên trong chắc thấy chữ Made in China! Tại sao không bỏ tiền ra mua một cái “hòm” gỗ cho nó phải phép? Tiền để đem xây biệt thự cho các quan bí thư tỉnh, bí thư xã không bớt đi một phần trăm ngàn làm việc từ thiện này được hay sao?
Nhiều công dân mạng trong nước đã ném đá. Những chữ diễn tả đúng nhất là “nhếch nhác, cẩu thả, vô cảm, phi văn hóa!” “Thà đừng làm gì cả. Làm kiểu nửa vời vậy rất lố bịch!” Một người còn thấy nhục quốc thể: “...rồi báo chí nước ngoài họ nhìn vào và họ đánh giá như thế nào đây? Thật quá đau lòng!” Trong bức hình được phổ biến trên mạng, có thấy hình một phụ nữ Tây phương tay không đi sau chừng dăm bước, mắt nhìn theo cái túi hành lý đang được hai người khiêng đi trước. Dáng điệu bà ta có vẻ chậm chạp, buồn rầu, bà phải cái biết túi hành lý xách tay đó chứa gì, vì các hành khách máy bay chắc đã được yêu cầu chờ cho “đám tang” rời máy bay trước tiên.
Ai đã gây ra cái cảnh nhếch nhác, lố bịch, đau lòng này? Quân đội? Bộ Quốc Phòng? Không quân? Thủ phạm là tất cả cái nhà nước phi nghĩa, vô luân, bệ rạc, nhếch nhác? Tất cả cái đảng đã tạo nên một xã hội lãnh đạm, vô cảm, không còn một giá trị nào được kính trọng nữa!
Câu chuyện đám tang một sĩ quan và câu chuyện hội Chữ Thập Ðỏ đều cho thấy những người không còn biết xúc cảm nữa. Không xúc động trước cái chết của hơn bảy ngàn người Nepal, cũng không xúc động trước xác chết của một đồng đội. Cái gì đã đốt cháy tim óc những người đang ăn trên ngồi trốc trong xã hội Việt Nam; khiến cho họ không còn biết thương xót, không còn biết rung động trước nỗi khổ, trước cái chết của đồng loại?
Nguồn gốc thái độ vô cảm là do một nếp suy nghĩ, nếp sống mà đảng Cộng Sản vẫn dạy dỗ đảng viên, tuyên truyền với mọi người hàng trăm năm nay. Mục tiêu của phong trào Cộng Sản là chiếm chính quyền để thay đổi loài người theo lối sống mới mà họ tưởng tượng ra tuy chưa biết nó sẽ thế nào. Họ bất chấp đạo nghĩa, nhất là thứ đạo nghĩa của “loài người cũ.” Họ cổ động một nền văn hóa đề cao “bạo lực cách mạng,” dập tắt những ngọn lửa lương tâm le lói trong lòng mỗi con người.
Một biểu hiện của thứ văn hóa vô cảm đó mới được đưa lên mạng, là bức hình một cái búa. Cái búa này được đặt lên bệ một cách long trọng trong tủ kính, cái tủ lót khăn đỏ trưng bày trong một viện bảo tàng ở Việt Nam. Trước cái hộp kính là những hàng chữ lớn: BÚA, viết hoa, xuống dòng. Hai hàng dưới viết: “Ðồng chí Nguyễn Văn Thắng, huyện đội phó huyện Mỏ Cày (Bến Tre) dùng bổ chết 10 tên ác ôn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.”
Dưới mấy hàng trên còn những dòng chữ dịch sang tiếng Mỹ: “HAMMER. WITH THIS, CAMARADE NGUYEN VAN THANG, DEPUTY CHIEF OF MO CAY MILITARY DISTRIS, BEN TRE PROVINCE, KILLED TO DEATTS A TOTAL OF 10 LOCAL TYRANTS” (dẫn nguyên văn, cả văn phạm và chính ta). Bản tiếng Anh nói rõ “local tyrants,” tức là “ác ôn địa phương;” nhưng không thấy những chữ “chống Mỹ cứu nước.”
Một người dùng búa giết mười mạng, chắc không giết cùng một lúc, như trong một trận đánh, hai bên bắn giết nhau. Anh ta phải giết lần lượt từng người một, chứ giết hai người một lần đã khó rồi. Chỉ có cái búa mà giết mười người, chắc anh ta phải tính toán hành động bằng cách đánh lén, đánh ban đêm, giết người xong còn chạy thoát. Cần nhất, không ai nhìn thấy, không ai biết; vì nếu bị lộ sẽ khó trở lại giết những người khác. Mà lại toàn là người “địa phương,” tức là những người cùng làng, cùng xã với mình. Những nạn nhân của anh ta là ai? Là những người hàng xóm, những người chắc anh ta vẫn gặp gỡ hàng ngày.
Giết người bằng cách tính toán lạnh lùng như vậy, phải được huấn luyện tinh thần tuyệt đối vô cảm. Anh huyện đội phó này đáng được gọi là Mười Búa, cao hơn tên Sáu Búa của Lê Ðức Thọ. Anh Mười Búa đã giết người chỉ bằng cái búa. Còn Sáu Búa có thể giết người bằng lời nói. Sau khi chiếm được miền Nam, Lê Ðức Thọ họp các đồng chí cộng sản của mình, những người đã từng bị bên Việt Nam Cộng Hòa bắt giam trong thời gian chiến tranh; có người đã vượt ngục nhiều lần, bị bắt, rồi lại vượt ngục. Sáu Búa gặp đám quân của mình, những cựu tù nhân đang chờ nghe lãnh tụ khen ngợi lòng cam đảm và tài chịu đòn trong hàng chục năm bị bắt giữ. Nhưng Sáu Búa chỉ tuyên bố: “Các đồng chí đều có vấn đề!” Có vấn đề, trong ngôn ngữ cộng sản, nghĩa là bị nghi ngờ, không đáng tin cậy nữa! Một câu nói đổ thùng nước lạnh lên những niềm hy vọng của các cựu tù nhân. Một thái độ tuyệt đối vô cảm.
Chiến tranh là một điều bất đắc dĩ. Trong thời chiến tranh con người thành méo mó, tàn nhẫn, có thể biến thành vô cảm. Nhưng 40 năm sau khi chiến tranh chấm dứt mà còn đem trưng bày “Ðức Vô Cảm” trong hành động dùng búa đập chết mười đồng bào của mình, thì điều này mới thật ghê rợn! Thử nghĩ đến những em nhỏ sinh ra không biết chiến tranh thế nào, khi vào cái viện bảo tàng này, nhìn thấy cái búa dính máu đó. Các em sẽ cảm nghĩ những gì? Con cháu của cái anh huyện đội phó này có muốn nhìn thành tích của cha, ông họ hay không? Trưng bày một khí cụ giết người không ghê tay, thái độ vô cảm đã ăn sâu vào cốt tủy!
Nhưng những người vô cảm thường không quan tâm đến chuyện giáo dục trẻ em. Ðối với đám trẻ con đó, cứ cho chúng leo dây qua sông đi học, cứ để bố con chúng chui bao ni lông mà lội qua sông cũng được. Chúng đói hay no, quần áo lành hay rách, đến trường có học được cái gì không, “lãnh đạo” còn lo toan những “vấn đề vĩ mô” không có thời giờ biết tới.
Cho nên mới có cái cảnh những trường tiểu học không có nhà vệ sinh. Trường Lộc Bảo, với hơn 200 học sinh là một thí dụ. Suốt bảy năm qua học sinh và các thầy cô trường Lộc Bảo phải tự lo lấy (xem tin báo Người Việt số này). “Tới giờ ra chơi nữ sinh phải chạy ra gần suối, nam sinh thì ra phía đồi cỏ, còn thầy cô phải xách xe chạy về nhà, cách trường ba cây số. Vì nhà dân chúng chung quanh cũng không ai có nhà vệ sinh để nhờ.”
Phải nói, nước ta do một đám người hoàn toàn vô cảm cai trị từ trên xuống dưới. Mắt vô cảm, tai vô cảm, cái mũi cũng vô cảm. Tấm lòng thì đã hoàn toàn vô cảm từ lâu rồi! Những ông bà lãnh đạo Chữ Thập Ðỏ, những người phụ trách tang lễ, cho tới các ông bà hiệu trưởng cũng chỉ là nạn nhân của một nền văn hóa vô cảm do đảng Cộng Sản gieo rắc hơn nửa thế kỷ nay.
Thanh trừng của Tập Cận Bình Chu Chi Nam và Vũ Văn Lâm
(Danlambao) - Từ ngày lên ngôi tới nay, chưa đầy 2 năm, Tập Cận Bình đã làm nhiều đợt thanh trừng, từ nhỏ tới lớn, mà người Trung cộng cho rằng từ việc đập ruồi cho đến giết hổ, dưới danh nghĩa chống tham nhũng, nhưng thực tế là củng cố quyền lực, tiêu diệt tất cả những người chống đối mình, chống đối trước đây cũng như chống đối hiện nay. Việc thanh trừng này đang nhằm vào một con hổ lớn, Chu Vĩnh Khang, đã từng là nhân vật đầy quyền thế của Trung cộng.
Liệu cuộc thanh trừng này có dám động đến Giang Trạch Dân, cựu Chủ tịch nước, cựu Tổng bí thư đảng, con hổ lớn nhất. Đây là câu hỏi mà nhiều nhà báo Trung cộng và ngoại quốc đang đặt ra.
Chúng ta hãy xem xét từ diễn tiến sự việc cho tới nguyên nhân rồi đưa ra một vài tiên đoán khiêm nhượng cho vấn đề.
I) Tập cận Bình, ông là ai
Tập Cận Bình sinh vào ngày 01/6/1953, tại Bắc Kinh, nhưng quê quán thật của ông là ở Thiểm Tây, con của ông Tập Trọng Huấn (1913-2002). Ông vào đảng Cộng sản lúc 16 tuổi, có học trường Thanh Hoa, trường đào tạo cán bộ cao cấp của đảng. Nhiều báo chí ngoại quốc và ngay cả báo chí Hồng Kông, Trung cộng cho rằng ông Tập Trọng Huân là một trong 8 đại gia của đảng, được lập ra bởi Đặng Tiểu Bình, để tránh việc chuyển quyền một cách bạo động, đẫm máu. Thực ra không phải vậy, Tập Trọng Huân là một trong những phó Thủ tướng thời họ Đặng nắm quyền, nhưng không nằm trong 8 đại gia. Đó là: 1) Đặng Tiểu Bình (1905-1997), 2) Dương Thượng Côn (1907-1998), 3) Văn Chấn (1908-1993), 4) Trần Vân (1905-1995), 5) Lý tiên Niệm (1909-1992), 6) Bành Chân (1902-1997), 7) Tống Nhiệm Cùng (1909-2005), 8 ) Bạc Nhất Ba (1908-2007), cha của Bạc Hy Lai.
Nhiều nhà báo, nhất là ở Trung cộng và Việt cộng, khen ông là người có nhiều bằng cấp, nào là cử nhân chính trị học, kỹ sư hóa chất, thạc sĩ và tiến sĩ luật. Họ còn khen ông là người thận trọng, kín đáo. Tuy nhiên điều đó cũng nói nên mặt trái của nó: Đó là nhiều bằng cấp, chứng tỏ là ham danh, nhất là hiện nay ở Trung cộng và Việt Nam, bằng cấp giả đầy đường, mua bằng lợi hay dùng quyền thế để có bằng, nhưng thực tài học chẳng có gì. Một con người thận trọng, kín đáo thường là một con người ít cởi mở, thâm độc, hay đá giò lái, hay đâm sau lưng. Có người cho rằng ông là tay em của Giang Trạch Dân. Quả đúng như vậy. Họ Giang đã cài họ Tập vào làm nhân vật thứ nhì của nhóm lãnh đạo Trung cộng trong suốt thời gian Hồ Cẩm Đào làm Tổng bí Thư và Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân Ủy hội, với ý đồ là kiểm soát họ Hồ và trong tương lai, khi họ Hồ không còn tại chức, họ Tập lên ngôi, thì họ Giang dễ dàng khống chế, sai khiến họ Tập.
Nhưng có lẽ tình hình hoàn toàn đi ngược lại những dự đoán của Giang Trạch Dân. Từ ngày Tập Cận Bình lên ngôi tới nay, chưa đầy 2 năm, từ cuối năm 2012, ông lên chức Tổng bí thư vào tháng 11/2012, sự kiện đã diễn ra không có lợi cho chính Giang Trạch Dân.
Có người cho rằng Tập Cận Bình là tay em của Giang Trạch Dân, làm sao có sự kiện này. Quả thực họ Tập là tay em của họ Giang, nhưng trong lịch sử Tàu, chuyện học trò phản thầy, gia nô phản chủ là chuyện cơm bữa.
Trở lại sơ qua về lịch sử Tàu hiện đại, theo một số chuyên gia thì sau Biến cố Thiên An Môn 1989, trong một buổi họp Ban Thường vụ Bộ chính trị, Đặng Tiểu Bình đề cử Hồ Cẩm Đào lên thế Triệu Tử Dương trong chức vụ Tổng bí thư, vì ông này bị tố cáo là đã nhân nhượng với sinh viên học sinh và những người biểu tình. Dương Thượng Côn không đồng ý và đã phản ứng lại bằng cách đề cử Giang Trạch Dân, lúc đó đang nắm quyền ở Thượng hải. Ông nói: "Đồng chí Đặng, ở đời không tái tam ba bận, trong quá khứ Đồng chí đã đề nghị 2 người Tổng bí thư là Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương. Nhưng không xong. Lần này không nên có lần thứ ba." Chính vì vậy mà có sự dàn xếp để họ Giang lên chức Tổng bí thư, họ Hồ làm phó. Sự bất đồng giữa Dương Thượng Côn và Đặng tiểu Bình bắt đầu từ đây.
Dương Thượng Côn là tay em của họ Đặng từ lâu, từ thời Chiến tranh với Nhật, họ Đặng làm tư lệnh Quân đoàn V I I I, họ Dương làm phó, cả hai người đều học ở Liên sô về. Họ Dương là người thứ 28 học trường Đông phương mà những người cộng sản cho rằng đó là một trường đại học do Lénine mở ra, nhưng thực sự thì trình độ rất kém, để được vào học, chỉ cần có 2 chứng chỉ làm việc 2 năm ở các công xưởng. Ở Tàu, chúng ta thấy có Chu Ân Lai, Trần Vân, Đặng Tiểu Bình, Dương Thượng Côn v.v... Ở Việt Nam chúng ta thấy có Hồ Chí Minh, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai v.v...
Họ Đặng và họ Dương thân nhau từ thời đi học, sau đó làm chung với nhau suốt một thời gian dài. Sau năm 1978, họ Đặng trở lại chính quyền, đã nâng đỡ họ Dương, cho làm đến chức Quân Ủy toàn quân, rồi Chủ tịch Nhà nước. Trong thời gian biến cố Thiên An Môn 1989, người ra phi trường đón Gorbatchev, lúc đó còn là Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên sô, là Dương Thượng Côn.
Ở Tàu, ngay cho đến nay, tinh thần phong kiến, gia tộc, bang trưởng, cha truyền con nối còn rất nặng. Dương Thượng Côn sau khi làm Chủ tịch nước, thì truyền lại cho con mình làm Quân Ủy toàn Quân. Đấy là chưa nói đến việc họ Dương còn có người con rể làm Tham mưu trưởng quân đội. Để đàn áp biểu tình Thiên An Môn chính là quân đội của con cháu Dương Thượng Côn. Trong tám Đại gia vào thời bấy giờ, đứng đầu là họ Đặng, đứng thứ nhì là họ Dương. Đứng thứ ba là Văn Chấn, một người tướng vô học, nhưng đánh hơi theo chiều rất giỏi, đã đi theo Đặng Tiểu Bình, và được ông này đặt cho biệt hiệu: "Cây đại bác đáng yêu của tôi."
Trở về việc thanh trừng: Ngày 29/7 vừa qua, Tập Cận Bình ra thông cáo điều tra Chu Vĩnh Khang. Nhiều người nói rằng họ Tập đã phạm vào những cấm kỵ, luật truyền miệng, bất thành văn, đặt ra bởi Đặng Tiểu Bình, đó là không được điều tra những người đương kim hay những người cựu Ủy viên trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị.
Thực ra thì chính Đặng Tiểu Bình đã vi phạm đầu tiên luật bất thành văn, cấm kỵ này. Vì sau khi Giang Trạch Dân lên ngôi, chưa đầy 3 năm, thì họ Đặng đã cùng họ Giang ép Dương Thượng Côn từ chức Chủ tịch nước vào năm 1992, ông này còn sống đến năm 1998.
Nhưng "Gậy ông lại đập lưng ông", đó là họ Đặng chết năm 1997, chỉ 2 năm sau thì Giang Trạch Dân ra lệnh điều tra tài sản của con cháu, gia đình họ Đặng; và mặc dầu không nói ra, nhưng Giang Trạch Dân đã ra lệnh ruồng bắt, thủ tiêu những người theo Pháp luân công, một giáo phái, theo tinh thần tổng hợp tôn giáo, triết lý, Phật, Khổng, Lão, Nho, theo châm ngôn Chân, Thiện, Nhẫn (Trọng Sự thật, Làm điều Thiện và Cố Kiên nhẫn). Ngoài việc luyện tập thân thể cân bằng, cường tráng, còn có việc luyện tập tinh thần trong sạch, trọng sự thật, làm điều thiện, kiên nhẫn, không nói dối, không làm điều ác, như vừa nói. Một tâm hồn trong sạch trong một thân thể khỏe mạnh. Đó là mục đích của Pháp luân công. Pháp luân công được phép hoạt động chính thức ở Tàu bởi Đặng Tiểu Bình, sau biến cố Thiên An Môn. Phải chăng cho phép Pháp luân công hoạt động chính thức ở Tàu, là Đặng tiểu Bình đã nghĩ đến việc thay thế triết học Mác Lê Mao, trở về nền triết học cổ truyền. Đây là một câu hỏi lớn nhưng chưa có câu trả lời dứt khoát.
Điều người ta biết là từ sau khi họ Đặng chết, Giang Trạch Dân đã đàn áp thẳng tay giáo phái này, nạn nhân lên tới cả triệu người, vừa bị vào tù, vừa bị thủ tiêu, hành quyết, lấy những bộ phận con người bán ra nước ngoài để làm giàu, và người làm việc này là Chu Bân, con trai Chu Vĩnh Khang.
Họ Tập lên chức Tổng bí thư Đảng vào cuối năm 2012. Từ đó đến nay, chưa đầy 2 năm, nhưng đã thi hành một cuộc thanh trừng nội bộ rộng lớn, vi phạm tất cả những cấm kỵ theo luật bất thành văn được Đặng Tiểu Bình thiết lập lên. Cuộc thanh trừng này lấy nhãn hiệu là chống tham nhũng, nhưng thực chất bên trong là đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực giữa những phe phái với nhau: Phe Tập Cận Bình, đương kim Tổng bí thư, phe Giang Trạch Dân, cựu Tổng bí thư, phe Hồ Cẩm Đào, Tổng bí thư vừa hết nhiệm kỳ. Nhưng tranh chấp có vẻ gay cấn nhất chính là giữa phe Giang Trạch Dân và Tập Cận Bình.
Có người nói họ Tập là tay em của họ Giang, sao lại thế?
Quả thật họ Tập là tay em của họ Giang, được họ Giang cài vào nhóm lãnh đạo dưới thời Hồ Cẩm Đào, nghĩ rằng họ Tập là người "kín đáo, ít biểu lộ lập trường, không có lập trường rõ rệt", vừa để kiểm soát Hồ Cẩm Đào, vừa nghĩ sau khi ông này không còn tại vị, Tập Cẩm Bình lên thế ngôi, thì Giang Trạch Dân dễ khuynh loát hơn.
Việc hai cuộc họp toàn bộ Trung Ương đảng vào giữa năm 2012, với sự có mặt của Giang Trạch Dân, mang ý nghĩa là họ Giang muốn chứng tỏ họ Tập là tay em của minh trước công chúng.
II) Diễn tiến cuộc thanh trừng từ ngày Tập Cận Bình lên ngôi
Nhiều người cho rằng cuộc thanh trừng của Tập Cận Bình bắt đầu từ sự kiện Bạc Hy Lai bị rớt đài và bị đưa ra tòa vào ngày 19/3/2012. Người ta còn nhớ Vương Lập Quân, nhân vật thứ 2 của Trùng Khánh, đặc trách công an, mật vụ, tay em đắc lực của vợ chồng Bạc Hy Lai, làm bất cứ việc gì do vợ chồng này sai bảo. Bỗng một hôm ông ta chạy vào tòa Tổng Lãnh sự Hoa kỳ ở Trùng Khánh xin tỵ nạn chính trị, nói rằng vợ chồng họ Bạc muốn giết ông.
Tất nhiên tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ chấp nhận bảo vệ ông, trong đó có những cuộc thẩm vấn, lấy tin tức hay không thì không rõ. Một thời gian sau thì Vương Lập Quân được người của Trung ương từ Bắc Kinh xuống hộ tống đưa về Bắc Kinh, và sự việc Bạc Hy Lai nổ ra. Sự việc Bạc Lai Hy không phải chỉ là tham nhũng và chuyển tiền ra nước ngoài của vợ Bạc mà còn liên quan đến án mạng, một tài phiệt Anh quốc, bị bà này giết chết, mà đằng sau, theo nhiều nhà báo, là sự việc chính trị, đảo chính cướp quyền.
Giang Trạch Dân, sau khi thấy không thể khống chế được Tập Cận Bình, đã đứng đằng sau Chu Vĩnh Khang, người nắm quyền công an, cảnh sát, pháp luật, dầu khí, nhân vật thứ 4, Bạc Hy Lai, Tỉnh trưởng Trùng Khánh, nhân vật đang lên lúc bấy giờ và Từ Tài Hậu, Phó Quân Ủy Trung Ương, nhân vật thứ nhì trong quân đội. Cả 3 nhân vật này cùng nhiều người khác phát động chính biến, bị Hồ Cẩm Đào, đương kim Tổng bí thư khám phá và trấn áp, theo nguồn tin bán chính thức nhưng đáng tin cậy. Trước và sau cuộc họp Bắc Đới Hà, Chu Vĩnh Khang đã 2 lần tìm cách bí mật ám sát Tập Cận Bình nhưng không thành.
Như trên đã nói, từ ngày họ Tập lên ngôi đến giờ chưa đầy 2 năm, thế mà cuộc thanh trừng tham nhũng, nhãn hiệu bề ngoài, thực chất là cuộc đấu đá nội bộ, đã kỷ luật 182 000 viên chức, trong đó có 36 thứ trưởng, và 3 con hổ lớn là Chu Vĩnh Khang, Từ Tài Hậu và Bạc Hy Lai.
Tóm lược một vài sự kiện quan trọng dựa theo ngày tháng năm:
Giang Trạch Dân làm Tổng bí thư từ năm 1989 tới 2001, Hồ Cẩm Đào từ năm 2001 tới gần cuối 2012, Tập Cận Bình lên chức Tổng bí thư vào tháng 11/2012. Tháng 2/2012, Vương Lập Quân, tay em của Bạc Hy Lai, đặc trách về Công An, mật vụ, tình báo tại Trùng Khánh chạy trốn vào tòa Tổng lãnh sự Hoa Kỳ ở Trùng Khánh, sau đó được bảo vệ đưa lên Bắc Kinh, lúc này Hồ Cẩm Đào vẫn là Tổng bí thư.
Tập Cận Bình, sắp lên Tổng bí thư, Hồ Cẩm Đào đương kim Tổng bí thư, Ôn Gia Bảo, đương kim Thủ tướng, lập thành liên minh, truy tố Bạc Hy Lai.
Ngày 19/3/2012, Bạc Hy Lai bị đưa ra tòa. Sau khi Bạc Hy Lai rớt đài, Chu Vĩnh Khang, tay chân của Giang Trạch Dân, đặc trách về an ninh, tình báo và dầu khí, phát động cuộc chính biến, nhưng bị Hồ Cẩm Đào điều quân trấn áp.
Tháng 9/2012, Tập Cận Bình biến mất trong 2 tuần, theo nhiều nguồn tin thì trong một cuộc họp Ban Thường vụ Bộ Chính trị họ Tập bị một đồng nghiệp dùng ghế ném vào ông làm ông bị trật xương sống.
Sau cuộc họp Đới Hà đầu năm 2013, hai lần Chu Vĩnh Khang tìm cách bí mật ám sát Tập Cận Bình, nhưng không thành.
Ngày 30/6/2014, Tập Cận Bình mở Hội nghị Cục Chính trị, tuyên bố khai trừ Từ Tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong quân đội, ra khỏi Đảng cộng sản Trung cộng. Ngày 29/7/2014, Đảng Cộng sản Trung cộng tuyên bố án điều tra Chu Vĩnh Khang.
Gần đây nhất, ở Bắc Kinh, có nhiều tin đồn về đảo chánh, do Phạm Trường Long, Phó Quân Ủy thứ nhất, cùng Phòng Phong Huy, Tham mưu trưởng, nhưng nhiều người nói đứng đằng sau là Quách Bá Hùng, nguyên Phó Quân Ủy. Có người còn nói thêm là có dính dáng với Trường Vạn Toàn, đương kim Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ngày 1/8/2014 có một cuộc họp mặt quân đội, cũng đồng thời là lễ sinh nhật của Quách Bá Hùng, được 87 tuổi, Tập Cận Bình, đương kim Tổng bí thư, và Lý Khắc Cường, đương kim Thủ tướng, có tới tham dự, nhưng ra về rất sớm. Theo như nhiều nguồn tin từ cuộc họp mặt đưa ra thì một số cựu Ủy viên, cũng như một số tân Ủy viên trong quân Ủy hội đã họp và bàn bạc rất lâu, sau đó còn rời đi họp chỗ khác. Từ đó có người cho rằng họp để bàn tính việc đảo chính. Việc này không thể tiên đoán cưỡng ép được. Vì dù sao cũng chỉ là tin đồn. Việc chắc chắn là đang có một cuộc tranh quyền khốc liệt ở Trung cộng, một cuộc đấu tranh quyền lực sống còn, kiểu: "Anh sống thì tôi chết. Tôi sống thì Anh chết" giữa họ Giang và họ Tập.
III) Nguyên nhân:
- Nguyên nhân sâu xa từ chế độ quân chủ phong kiến Tàu mà chế độ cộng sản hiện nay chỉ là sự kéo dài, là mặt trái của chế độ này.
Một nhà tư tưởng kiêm sử gia đã viết: "Lịch sử Tàu là một chuỗi dài đấu tranh quyền lực, chiếm đất và thôn tính các quốc gia khác. "
Thật vậy nhìn vào lịch sử dòng dài của Tàu, lấy một vài thời đại tiêu biểu, trong hạn hẹp của bài này:
Thời Xuân thu - Chiến quốc (722-256, trước Tây Lịch), đây là một thời huy hoàng về tư tưởng, văn hóa, triết lý của Tàu với Lão tử, Khổng tử, Tôn tử, Bách gia chư tử, nhưng đây cũng là một thời đại của sự tranh quyền, cướp nước, thôn tính lẫn nhau lên đến cao độ.
Thời nhà Đường (618-907), một triều đại to lớn của lịch sử Tàu. Người lập ra nhà Đường là Lý Uyên, nhưng trong đó phải kể đến Lý thế Dân, người được coi là một đại Hoàng đế của Tàu. Cũng vì tranh quyền, cướp nước, ông đã phải giết 2 người anh em của ông là Lý kiến Thành và Lý nguyên Các, ép bố ông là Lý Uyên thoái vị, lên làm Thái thượng hoàng. Sau đó chính các con ông đã cũng vì tranh giành quyền lực, làm cuộc đảo chính ông, nhưng không thành. Cũng dưới thời nhà Đường với nhân vật nổi tiếng mà người Tàu ai cũng biết là Võ tắc Thiên (625-705), người đàn bà đầu tiên và duy nhất lên làm vua nước Tàu. Bà được Lý thế Dân tuyển vào làm tài nhân lúc mới 14 tuổi. Trước khi Lý thế Dân chết, bà đã tằng tịu với con trai út của Lý thế Dân là Lý Trị. Sau khi Lý thế Dân chết, bà phải đi vào tu ở chùa Cảm Nghiệp và Lý Trị lên ngôi. Chỉ một thời gian ngắn bà được Lý Trị đưa về làm cung phi, sau lên quí phi. Vì muốn giành ngôi hoàng hậu, bà đã không ngần ngại giết chết con gái sơ sinh của mình và đổ tội cho hoàng hậu, sau đó bà này bị Lý Trị truất phế, đưa bà lên ngôi hoàng hậu. Từ khi Lý Trị bị bệnh thong manh (không nhìn rõ), bà lên ngôi nhiếp chính bán chính thức, rồi nhiếp chính chính thức sau khi ông chết. Trong thời gian nhiếp chính, bà đã nhiều lần đưa con của mình lên ngôi vua, rồi lại truất phế, đến nỗi bà ép một người con của bà là Lý Hiền phải treo cổ tự tử chết. Sau đó bà chính thức lên làm vua.
Trở về thời đại gần chúng ta hơn là triều đại nhà Thanh (1644-1911) trước thời Dân quốc và Cộng sản hiện nay. Đây cũng là một triều đại lớn của Tàu, với những ông vua giỏi và cầm quyền lâu như Khang Hi, cầm quyền từ năm 1662 đến 1722, Càn Long từ năm 1735 đến 1795.
Chỉ lấy thời Khang Hi, ông có 9 con trai. Chín người này, mặc dầu là anh em, nhưng đã tranh giành ngôi Thái tử, đến nỗi đầu độc lẫn nhau, rồi giết chết nhau. Ngày xưa người ta gọi 9 người con của Khang Hi là 9 con rồng tranh ngôi (Cửu long tranh ngôi); ngày hôm nay, người ta gọi những người trong Bộ Chính trị là những con hổ tranh quyền thì cũng vậy.
Cuộc tranh giành quyền lực giữa những con hổ đang diễn ra ở Trung cộng, không những nó mang tất cả tính chất khốc liệt của thời quân chủ phong kiến Tàu, mà nó còn mang tính man dại của cộng sản, vì chủ nghĩa cộng sản, bắt đầu từ Marx, cho rằng con người sinh ra là từ con vật, thêm vào đó lại chủ trương phá hủy mọi hàng rào đạo đức, không còn cái gì là liêm sỉ. Chúng ta cứ lấy cuộc thanh trừng của Tập cận Bình hiện nay thì rõ. Hô hào chống tham nhũng, nhưng bắt đầu từ Tập cận Bình cho tới một anh cộng sản nhỏ, ai mà không tham nhũng. Điều này, dân Tàu biết rất rõ. Khổng Tử ngày xưa có nói: "Nhân vô liêm sỉ hà như vật dã." (Người không có liêm sỉ chỉ là con vật).
Miệng hô hào chống tham nhũng, nhưng chính mình tham nhũng. Thử hỏi liêm sỉ để ở đâu?
- Nguyên nhân từ chủ nghĩa cộng sản đã biến người cộng sản, nhất là giới lãnh đạo thành "Quỷ nhập tràng."
Ông Lê Xuân Tá, cựu Phó Trưởng Ban Khoa học và Kỹ thuật đảng Cộng sản Việt Nam, từ bỏ đảng, có viết: "Sự ngu dốt và sự thấp hèn tự nó không đáng trách. Nhưng sự ngu dốt và thấp hèn mà được trao quyền lực, và được cấy vào vi trùng ghen tị, thì nó trở thành quỷ nhập tràng. Và con quỉ này nó ý thức rất sớm và rất rõ rằng cái đe dọa quyền và lợi của nó chính là sự hiểu biết, văn hóa và văn minh; nên nó đã đánh những thứ này một cách tàn bạo, vô nhân đạo và không thương tiếc. Cách mạnh Hồng vệ binh ở bên Tàu là thế; vụ Nhân văn giai phẩm ở Việt Nam là vậy. Nhưng vì nó là ngu dốt và thấp hèn, nên những thứ này lâu ngày đã trở nên sỏi thận, sỏi mật, sơ gan, cổ chướng trong lục phủ, ngũ tạng của chế độ, làm cho chế độ này (ý nghĩa chỉ chế độ cộng sản - Lời chú thích của tác giả bài này) không ai đánh mà tự chết. "
Còn ông Yakolek, cựu Ủy vên Bộ Chính trị, cựu Cố vấn của Gorbatchev, cũng có viết: "Giới lãnh đạo cộng sản là một loài sâu bọ, con mới đẻ nằm lên xác con già, con già đè lên xác con trẻ. Nhưng trong đó có một con khỏe nhất, leo lên chỗ cao nhất. Tuy nhiên để được địa vị này, thì nó phải giẵm lên xác không biết bao con khác."
Thật vậy bắt đầu ngay từ Lénine, mặc dầu xuất thân trong một gia đình trung lưu khá giả, có học đến cử nhân luật, nhưng đây là con người mang nhiều ý nghĩ, tư tưởng hận thù, không độ lượng, nhất là sau khi cái chết của người anh vì chống lại chính quyền Nga hoàng đương thời. Ông hoạt động chính trị, đi theo phong trào cộng sản, bị trục xuất khỏi Nga, sống lang thang ở Âu châu, hoạt động trong Đệ Nhị quốc tế cộng sản. Tuy nhiên ông không phải là người sáng chói trong tổ chức này, trước ông còn có Kautski, Rosa Luxemboug v.v... Ngay ở trong nước, những người hoạt động trong Đệ Nhị Quốc tế Cộng sản, lập ra đảng Xã hội, Dân chủ, Thợ thuyền Nga giỏi hơn ông nhiều, chẳng hạn như Plékhanov, Axelrod và ngay cả Trotski. Tuy nhiên thời cơ lúc đó là gần chấm dứt Đại Chiến Thứ Nhất (1914 -1918), nước Đức đang phải đương đầu với 2 mặt trận: Đông bắc với chính quyền Nga Hoàng Nicolas 2, Tây nam với Pháp. Bộ tham mưu Đức muốn dồn nỗ lực vào mặt trận phía Tây nam. Lợi dụng thời cơ, lúc đó đang ở Thụy sĩ, Lénine tuyên bố « Hòa bình bằng bất cứ giá nào. Trả đất cho dân và ngay cả nhượng đất để có quyền. » Chính vì vậy mà Bộ Tham mưu Đức đã đưa ông về trong một toa xe lửa bọc sắt, bên trong có cả những người công an, tình báo Đức, nói tiếng Nga rất giỏi. Với sự giúp đỡ của Đức ông đã cướp được chính quyền. Cướp được quyền, mang sẵn trong đầu lý thuyết của Marx, chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, đây là "Vi trùng ghen tị" mà ông Lê xuân Tá nói, Lénine đã áp dụng lý thuyết của Marx và đã "Trở thành quỷ nhập tràng" là vậy. Một con quỉ khác con người ở chỗ là đối với nó trên không có Trời, dưới không có đất, không xem đạo đức, lễ nghĩa ra gì cả, làm bất cứ việc gì để thành công, trong đó có việc nói dối, lừa đảo và giết người.
Những người lãnh đạo cộng sản sau này, từ Mao, Đặng, Hồ, Lê Duẫn và con cháu cũng chỉ là quỉ nhập tràng, vì được Lénine, Staline lượm về trao quyền lực, lợi dụng tình thế sau Đệ Nhị Thế Chiến, rồi cấy vào vi trùng ghen tị là lý thuyết Mác Lê. Thế rồi cha dạy con, con dạy cháu cho tới ngày hôm nay.
Vấn đề nói dối, thông tin tuyên truyền sai sự thật, lừa đảo dân đã trở thành quốc sách của chính quyền từ thời Lénine, được tăng cường bởi Staline và được tiếp nối bởi những giới lãnh đạo cộng sản sau này.
Theo như nhà kinh tế Nga, ông Girsh Itsykovich Khanin, kinh tế Nga từ năm 1928 tới năm 1985, tổng sản lượng quốc gia không tăng trưởng 84 lần như những con số chính thức của chính quyền, mà chỉ tăng trưởng gấp 6,6 lần. Như từ năm 1928 tới năm 1940, theo con số của nhà nước thì tăng trưởng là 13,9%, thực tế chỉ là 3,2% ; từ năm 1980 tới 1985, theo con số nhà nước thì tăng trưởng 3,5%, thực tế chỉ là 0,6%. (Theo báo Capital - Hors série - Juin, Juillet 2014).
Theo như Abraham Lincoln: "Người ta có thể nói dối một hai lần, nhưng người ta không thể nói dối mãi. Người ta có thể lừa đảo một hai người, nhưng người ta không thể lừa đảo cả một dân tộc."
Sự thật sớm muộn sẽ được phơi bày.
Sự thật nước Tàu của Tập Cận Bình hiện nay là kinh tế càng ngày càng trở nên khó khăn, mức tăng trưởng không phải ở 2 con số nữa, trong khi đó nạn tham nhũng, hối lộ không dẹp nổi như nhiều chính quyền vừa qua hứa, mà càng ngày càng tăng. Hối lộ tham nhũng nặng nề nhất là trong đảng cộng sản, vì là độc đảng và lại nắm chính quyền.
Chính vì vậy mà ngay Tập Cận Bình có lúc đã tuyên bố: "Đảng cộng sản Trung cộng là nơi chứa những thành phần thối tha nhất của xã hội."
IV) Tiên đoán hậu quả sự việc
Phải chăng Tập Cận Bình đang mắc vào một cái sai lầm to lớn như Gorbatchev trước đây, đó là cố cải cách một chế độ không thể cải cách được, rồi đi đến hậu quả là làm chế độ sụp đổ?
Có thể như vậy, đầu năm 2014, qua chỉ thị của họ Tập, Ban Tư tưởng, Ý thức hệ của Đảng đã ra lệnh cho các đảng viên, nhất là những người cao cấp, phải đọc và học hỏi Tocqueville (1805-1859), vào thời sau Cách mạng Pháp 1789, với hai quyển sách nổi tiếng, quyển đầu là "De la Démocratie en Amérique" (Về Vấn đề Dân chủ ở châu Mỹ), được giới trí thức Mỹ ngay cho tới ngày hôm nay, vẫn cho rằng đây là một trong những quyển sách quan trọng nhất nói về dân chủ, văn hóa và văn minh Hoa kỳ; quyển sách thứ nhì mang tên "L’Ancien Régime et la Révolution" (Chế độ cũ và Cách mạng). Đây là quyển sách mà Đảng Cộng sản Tàu yêu cầu đảng viên nghiên cứu học tập vì trong đó có câu: "Thời gian nguy hiểm nhất cho một chế độ, đó là lúc mà chế độ này bắt đầu cải cách." Theo như Tocqueville thì Chế độ cũ của Pháp, thời vua Louïs XVI (L’Ancien Régime) đã sụp đổ vì chế độ này bắt đầu cải cách.
Tập cận Bình, Đảng Cộng sản Tàu, muốn học hỏi thời Cách mạng Pháp và nhất là thời cải cách của Gorbatchev, để rút tỉa kinh nghiệm.
Tuy nhiên ý thức được, nhìn được sự nguy hiểm, nhưng tránh được hay không lại là một chuyện khác. Chẳng khác nào như ai cũng muốn thành công, ai cũng muốn trở nên giàu có, nhưng giàu có hay thành công được hay không, lại là một việc.
Trong lịch sử, từ cổ chí kim, biết bao chế độ, triều đại, đế quốc đã sụp đổ!
Những chế độ, những triều đại, đế quốc này sụp đổ, không có nghĩa là họ không nhìn thấy những nguy cơ đe dọa mình nhưng nhiều khi vì quá trễ, hay mắc vào những "Tất yếu lịch sử" không thể đi ngược lại, càng đi ngược lại, càng đâm đầu vào chỗ chết, đó là những chế độ dựa trên một nền tảng triết lý, đạo đức sai lầm, đi ngược lại lòng dân, đi trái chiều tiến bộ của lịch sử nhân loại. Chẳng khác nào như một căn nhà, khi nền móng đã ọp ẹp, những cột chính đã mục nát, thì càng sửa đổi càng làm cho căn nhà chóng sụp đổ.
Căn nhà Trung cộng, dựa trên nền tảng triết lý sai lầm, đó là lý thuyết Mác Lê, đã được thử nghiệm 70 năm nay, nhưng đã thất bại; những cột trụ chính là những cựu hay đương kim Ủy viên Bộ Chính trị, ai cũng tham nhũng, hối lộ. Chống tham nhũng hối lộ nhiều khi lại là chống lại chính mình, đó là cái bình phong bên ngoài để che giấu sự đấm đá, tranh quyền nội bộ.
Đây là một trong những viễn tượng hậu quả của cuộc thanh trừng đang tiến hành của Tập Cận Bình. Đấy là chưa nói đến trường hợp tồi tệ: 19 con hổ già, cựu Ủy viên Bộ Chính trị, liên kết với một vài con hổ mới, đương kim Ủy viên, bao vây con hổ Tập cận Bình, bị coi là con hổ lạc đàn, nhưng lại tìm cách khống chế chúng, bằng cách ám sát một lần nữa, đảo chính một lần nữa; vì có những tin đồn, nhưng không phải là không đáng tin cậy, theo đó, Giang Trạch Dân đứng sau Chu Vĩnh Khang và Bạc Hy Lai, đã làm đảo chính hụt cũng như nhiều lần ám sát hụt họ Tập.
Nhưng nếu họ Tập thành công, thắng trong cuộc thanh trừng chống tham nhũng, hối lộ, làm cho chế độ trở nên trong sạch, lấy lại được niềm tin của dân, chế độ trở nên tự do, dân chủ, đi đúng chiều hướng của văn minh nhân loại, hội nhập được vào cộng đồng thế giới, thì dù muốn hay không muốn, Tập Cận Bình sẽ trở thành một vĩ nhân của lịch sử Trung quốc cận đại.
Suy đi tính lại, khả thế thành công của Tập Cận Bình rất là mong manh. Có thể đến một lúc nào họ Tập phải ngừng cuộc thanh trừng, thỏa hiệp với những con hổ già, để được tại vị; mặc dầu họ Tập tuyên bố rất cứng rắn trong cuộc họp Ban Thường trực Bộ Chính trị, ngày 26/6 vừa qua, theo tiết lộ của một số nguồn tin bán chính thức, nhưng đáng tin cậy: "Tôi không màng đến sự sống chết, không màng đến việc tiếng tăm của tôi còn hay mất, tôi nhất quyết chống tham nhũng, lấy lại lòng tin của dân. " (1)
Paris ngày 30/08/2014 Chu Chi Nam và Vũ Văn Lâm
danlambaovn.blogspot.com
Nhà nước khủng bố
Nguyễn Hưng Quốc
Ở Việt Nam, từ mấy năm nay, dư luận thường xôn xao trước hiện tượng công an bắt người trái phép, mang vào đồn và đánh đập đến chết. Thi thể được mang vào bệnh viện xét nghiệm, người ta thấy người thì giập phổi, người thì toàn bộ nội tạng đều bị nát nhừ. Có trường hợp công an thừa nhận dùng nhục hình để tra tấn; có trường hợp chúng chối phăng, cho là nạn nhân hoặc tự tử hoặc bị bệnh từ trước hoặc lén lút dùng ma tuý quá liều.
Tổ chức Human Rights Watch ghi nhận được 31 trường hợp bị đánh chết trong các trại tạm giam của công an trong bốn năm (2011-2014). Con số này chắc chắn không đầy đủ. Theo một báo cáo của Bộ Công an mới đây, trong khoảng bốn năm, từ ngày 1/10/2011 đến 30/9/2014, tổng cộng có 226 người bị chết trong các nhà tạm giam vì nhiều lý do khác nhau, trong đó, có lý do là nhục hình. Điều cần lưu ý là công an chỉ thừa nhận việc dùng nhục hình khi không thể chối cãi được nữa nên những lý do vớ vẩn họ đưa ra như tự tử hay bị bệnh đều có thể không đúng sự thật.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý không phải chỉ việc công an tra tấn nhiều người đến chết mà còn một khía cạnh khác không kém quan trọng: khi việc tra tấn bị phanh phui, không thể giấu nhẹm được nữa, phải mang ra toà xét xử, các bản án dành cho công an phạm tội tra tấn dẫn đến cái chết của những người dân vô tội đều rất nhẹ, người thì được tha bổng, người thì bị tù treo, chỉ hoạ hoằn mới có một số công an bị tù giam, nhưng ngay trong trường hợp ấy, án tù cũng chỉ vài ba năm, nói theo luật sư Võ An Đôn, hoàn toàn không có tác dụng răn đe để công an đừng tái phạm.
Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Tại sao công an lại càng ngày lại càng tra tấn người dân một cách dã man như vậy? và tại sao các bản án dành cho các công an tra tấn dân chúng đến chết lại nhẹ nhàng đến như vậy? Trả lời câu hỏi trên, chúng ta tiếp cận một sự thật: chính phủ không hề đưa ra chủ trương và hình thức kỷ luật nào để hạn chế các hành động tra tấn đến chết. Trả lời câu hỏi dưới, chúng ta tiếp cận một sự thật: chính phủ cũng không hề muốn trừng phạt những công an phạm tội dùng nhục hình để bức cung. Hai câu trả lời ấy lại dẫn đến một sự thật khác: Chính phủ muốn dùng sự khủng bố để đe doạ mọi người.
Khủng bố là hành vi bạo động nhằm gây hoang mang, lo lắng và sợ hãi trong dân chúng. Về phạm vi, có hai hình thức khủng bố chính: Khủng bố thuộc tổ chức (organization terrorism) và khủng bố thuộc nhà nước (state terrorism).
Tiêu biểu nhất cho loại khủng bố thuộc tổ chức gần đây là sự khủng bố của các nhóm Hồi giáo cực đoan: Họ sống rải rác trên nhiều quốc gia khác nhau nhưng có chung một nỗi hận thù đối với văn hoá và văn minh Tây phương, chung một tham vọng muốn phát triển nhà nước Hồi giáo khắp nơi trên thế giới và chung một biện pháp: sử dụng bạo lực để giết càng nhiều người càng tốt, gây tiếng vang càng lớn càng tốt và càng làm cho càng nhiều người khiếp hãi càng tốt.
Khủng bố thuộc nhà nước thì có hai mức độ: Một, ủng hộ và tài trợ cho các tổ chức khủng bố để chúng gieo rắc tội ác ở những nơi khác và hai, bản thân nhà nước đóng vai trò khủng bố đối với dân chúng trong chính nước của họ. Thuộc loại trên, Tổng thống Mỹ George W. Bush, vào năm 2002, cho có ba quốc gia chính được gọi là “trục ma quỷ” (Axis of evil), bao gồm Iraq, Iran và Bắc Triều Tiên. Thuộc loại dưới, tất cả các quốc gia độc tài, với những mức độ khác nhau, đều là những nhà nước khủng bố: Họ sử dụng bạo lực để làm dân chúng sợ hãi, từ đó, triệt tiêu mọi ý định phản kháng, hoặc thậm chí, phản biện.
Trong ý nghĩa đó, không còn hoài nghi gì nữa, nhà nước Việt Nam hiện nay là một nhà nước khủng bố.
Thật ra, tính chất khủng bố ấy đã xuất hiện ngay từ khi nhà nước Việt Nam (cộng sản) vừa mới ra đời. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, họ đã có chính sách tiêu diệt những người đối lập và đối kháng, qua đó, gây khiếp hãi trong quần chúng để không ai dám chống lại họ nữa. Chính sách này càng trở thành phổ biến trong cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1954-75. Chính sách gọi là “trừ gian diệt bạo” thực chất là một sự khủng bố. Theo Anthony James Joes, trong cuốn “The War for South Vietnam 1954-75” (New York: Fraeger, 1989, tr. 46), trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, Việt Cộng đã giết khoảng 20% các cán bộ làng xã ở miền Nam. Chỉ trong năm 1960, họ giết khoảng 1.400 công chức và thường dân; năm 1965, con số bị họ giết lên đến 25.000 người. Theo Walter Laqueur, trong cuốn “Guerrilla, a Historical and Critical Study” (London: Weidenfeld and Nicolson, 1977, tr, 262-271), những sự khủng bố của chính quyền miền Bắc có quy mô và mức độ tàn độc hơn cả Trung cộng trong cuộc chiến chống lại Tưởng Giới Thạch trong thập niên 1940.
Đó là thời chiến tranh. Tại sao bây giờ, thời bình, chính quyền lại tiếp tục sử dụng các biện pháp khủng bố như vậy đối với dân chúng?
Câu trả lời, theo tôi, là vì họ sợ.
Chính quyền Việt Nam hiện nay thừa biết dân chúng không còn tin họ, không còn phục họ, và sẵn sàng đứng dậy chống lại họ khi quyền lợi của người dân bị xâm phạm. Bởi vậy, chính quyền quay mặt làm ngơ, nếu không muốn nói là âm thầm khuyến khích, việc công an dùng nhục hình đối với dân chúng. Chính quyền không hề có ý định răn đe công an. Chính quyền chỉ muốn răn đe dân chúng: Chống lại chính quyền thì chỉ có chết!
Bất cứ chế độc tài nào cũng xây dựng quyền lực trên hai nền tảng: tuyên truyền và khủng bố. Công việc tuyên truyền của chính quyền Việt Nam gần đây rõ ràng là đã thất bại: Họ không còn thuyết phục được dân chúng về tính chính nghĩa của họ, đặc biệt trước hai vấn nạn: dân chủ và chủ quyền (đặc biệt ở Biển Đông). Thất bại về tuyên truyền, họ chỉ còn cách duy nhất là gia tăng mức độ khủng bố.
Mục tiêu của khủng bố là làm cho dân chúng sợ. Nhưng động cơ thực sự của sự khủng bố là sợ dân chúng nổi dậy chống lại chính quyền.