Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tổng thống Philippines lại so sánh Trung Quốc với Đức quốc xã

Image
Tổng thống Philippines Benigno Aquino phát biểu tại Thượng viện Nhật Bản ở Tokyo, ngày 03/06/2015.

Tổng thống Philippines Benigno Aquino hôm nay 03/06/2015 tại Tokyo lại so sánh Trung Quốc với Đức quốc xã, khi tố cáo tham vọng lãnh thổ của Bắc Kinh trong khu vực. Lập tức chính quyền Trung Quốc nổi trận lôi đình, gọi ông Aquino là « chính khách nghiệp dư, không biết gì về lịch sử và thực tế ».

« Nếu có một khoảng trống, nếu siêu cường Hoa Kỳ không quan tâm đến tình hình châu Á, thì có lẽ không còn lực cản nào cho tham vọng của các nước khác ». Ông Aquino cảnh báo như trên, ám chỉ Trung Quốc, trong một diễn đàn doanh nhân Nhật Bản.

Tự giới thiệu như « một sinh viên nghiệp dư về lịch sử », ông Aquino nói tiếp : « Nhưng nếu có ai đó bảo Hitler hoặc nước Đức nên ngưng lại, thì nhân loại đã tránh được Đệ nhị Thế chiến ».

Đây không phải là lần đầu tiên Tổng thống Philippines so sánh Trung Quốc với Đức quốc xã của Hitler. Trong bài trả lời phỏng vấn New York Times tháng 2/2014, ông đã so sánh chính sách nhân nhượng với Hitler của châu Âu trước năm 1939 và sự bất lực của cộng đồng quốc tế, theo ông, trong việc kiềm chế tham vọng lãnh thổ của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Lập tức chính quyền Trung Quốc nổi trận lôi đình, gọi ông Aquino là « chính khách nghiệp dư, không biết gì về lịch sử và thực tế ».

Tổng thống Aquino đến Tokyo từ hôm qua trong chuyến công du bốn ngày nhằm tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền Nhật Bản trước yêu sách trên biển của Trung Quốc, và thu hút đầu tư Nhật vào Philippines. Ngày mai Thủ tướng Nhật Shinzo Abe sẽ hội đàm với ông.

Hôm nay ông Benigno Aquino được Hoàng đế Akihito tiếp kiến, và sẽ đọc diễn văn trước Quốc hội Nhật Bản. Nhân dịp này Tổng thống Philippines sẽ bày tỏ quan ngại trước việc Bắc Kinh xây các đảo nhân tạo tại Biển Đông.

Trung Quốc ồ ạt bồi đắp, cải tạo các rạn san hô thành hải cảng và nhiều cơ sở hạ tầng khác nhau, thậm chí còn đưa pháo đến một trong các đảo – theo phát hiện của Mỹ. Lầu Năm Góc ước tính việc bồi đắp này đã đưa diện tích chiếm đóng lên gấp 400 lần, và 3/4 trong số 800 hecta Bắc Kinh lấn ra được là từ tháng 1/2015. Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói rằng người Mỹ đã « bóp méo sự kiện ».

Nhật Bản và Philippines gần đây đã tập trận chung tại Biển Đông. Cuộc tập trận hải quân lịch sử giữa hai quốc gia thù địch trong trận chiến Thái Bình Dương, diễn ra ở cách một đảo nhỏ – do Trung Quốc kiểm soát nhưng Philippines đòi chủ quyền – không đầy 300 km

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Image

Sương Mù Biển Đông
Trần Khải

Như dường Biển Đông đang bị vây khắp sương mù... Lối ra nào cho các nước nhỏ khi Trung Quốc ngày càng hung hăng?

Chính phủ Đài Loan tin rằng họ có thể đưa một giải pháp cho Biển Đông... Có phaỉ xứ Đài đang nằm mơ? Hay chỉ giả vờ nằm mơ để Biển Đông cho Tàu Hoa Lục ôm hết?

Bản tin từ thông tấn RTI của Đài Loan cho biết:

“Ngày 3/6 Tổng thống Mã Anh Cửu mở hội nghị trực tuyến với trường đại học Stanford về đề tài “ Dân chủ – Trung tâm pháp chế và phát triển”. Thomas Fungar - Cựu chủ nhiệm Ủy ban Tình báo quốc gia Mỹ đưa ra câu hỏi: “Trước kia Tổng thống Mã Anh Cửu đưa ra “Xướng nghị hòa bình Nam hải biển Đông”, trong tương lai làm như thế nào để thực hiện thiết thực đề xướng này?”.

Tổng thống Mã Anh Cửu cho biết, sau khi ông đưa ra “ Xướng nghị hòa bình Đông hải”, Đài Loan và Nhật đã ký kết Thỏa thuận Ngư nghiệp, dùng phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp, kiến lập phương pháp khả thi để giải quyết tranh chấp trong khu vực. Còn về Nam hải, do diện tích hải vực nơi đây rộng lớn nên vấn đề cũng phức tạp hơn, Tổng thống cho biết “Xướng nghị hoà bình Đông hải” là 1 thiết kế cho 3 bên hiệp thương, tiếp theo ông sẽ đưa ra “Bản lộ trình” của “Xướng nghị hòa bình Nam hải”. Tổng thống Mã Anh Cửu nói: “Xướng nghị hoà bình Nam hải ngoài khái niệm hòa bình, giảm căng thẳng và ngăn chặn hành vi khuyếch trương đơn phương của 1 nước nào đó ra, chúng tôi còn có “Bản lộ trình” mà sắp tới đây tôi sẽ đưa ra. Tôi thừa nhận, tình thế ở Nam hải càng phức tạp, hải vực càng rộng thì chúng ta càng phải có lòng nhẫn nại hơn.”

Tổng thống Mã Anh Cửu cho biết, hiện tại Đài Loan đang hiệp thương với Philippines, hai bên cũng đã đạt được điểm chung, ông hy vọng sắp tới có thể dùng phương thức như thế này để giải quyết tranh chấp tại Nam hải.

Tổng thống Mã Anh Cửu cho biết, chủ quyền không thể chia cắt, tài nguyên có thể cùng hưởng và đây là phương thức duy nhất để làm giảm sự căng thẳng trong khu vực...”(ngưng trích)

Hóa ra Đài Loan đòi chia tài nguyên Biển Đông... Có phải mưu kế này là do Bắc Kinh nhờ Đài Bắc đưa ra? Như thế mơ1ới thấy, không có cuộc chiến quốc-cộng giữa mấy anh Tàu... Họ vẫn giúp nhau thôn tính Biển Đông.

Trong khi đó, báo Giáo Dục VN có bản tin về "Nga-Trung sẽ tập trận ở Biển Đông, Moscow muốn có đi có lại"...

Bản tin GDVN nói:

“Đa Chiều ngày 3/6 bình luận, việc Nga và Trung Quốc có kế hoạch tập trận hải quân chung trên Biển Đông năm 2016 cho thấy Vladimir Putin muốn "có đi có lại" với Trung Nam Hải. Thứ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Antonov khi tham dự Đối thoại Shangri-la tại Singapore đã công bố năm tới Nga sẽ tập trận chung hải quân ở Biển Đông với các đối tác, tuy nhiên ngoài Trung Quốc ra không thấy ông Anatoly Antonov đề cập đến đối tác cụ thể nào khác...

...Truyền thông nhà nước Nga cho biết, cuộc tập trận chung trên Biển Đông sẽ diễn ra tháng 5 năm tới. Cục diện Biển Đông đang biến đổi nhanh chóng, đặc biệt kể từ khi Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở Trường Sa và Hoàng Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam).

Tập trận chung Trung - Nga ở Biển Đông có khả năng sẽ chứng minh rằng các cơ sở hạ tầng, trang thiết bị quân sự Trung Quốc cài đặt (bất hợp pháp) trên các đảo nhân tạo ở Trường Sa là "hữu dụng", bao gồm sân bay và các trạm radar.

Theo Đa Chiều, điều đáng nói là hiện tại Nga cũng đang duy trì quan hệ mật thiết với một số nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam. Nga là nhà cung cấp vũ khí quan trọng của Việt Nam, trong khi đó Trung Quốc lại đang tranh chấp lãnh thổ, hàng hải với Việt nam, Philippine, Malaysia và Brunei.”(ngưng trích)

Trong khi đó, báo Một Thế Giới dẫn báo Mỹ The Diplomat rằng Nga-Tàu tập trậnc hỉ là hình thức:

“...cuộc tập trận của Trung Quốc chỉ mang ý nghĩa hình thức. Nga và Trung Quốc không có quan hệ đồng minh, thậm chí cả một hiệp ước hỗ trợ chung khi có chiến sự cũng không có. Nga hoàn toàn không có lý do để hỗ trợ Trung Quốc trong các cuộc xung đột của nước này. Nói cách khác, khi có biến xảy ra Trung Quốc sẽ phải đứng một mình, bất kể Nga và Trung Quốc có tiến hành bao nhiêu cuộc tập trận chung chăng nữa.”(ngưng trích)

Trong khi đó, bản tin VOA ghi rằng Trung Quốc tức giận vì Nga bán tên lửa Klub cho Việt Nam...

Bản tin VOA kể:

“Một trang mạng chuyên về chiến lược quốc phòng có trụ sở ở Mỹ đăng một bài viết hôm 31 tháng 5, nói rằng Trung Quốc đã chính thức khiếu nại với Nga, Việt Nam và Hoa Kỳ, sau khi Moscow đồng ý bán 50 tên lửa Klub trang bị trên tàu ngầm cho Hà Nội, theo tường thuật của tờ Hoàn Cầu Thời báo của nhà nước Trung Quốc.

Phúc trình về chiến lược nói rằng mặc dù Nga và Việt Nam đã cố tình làm giảm nhẹ tầm quan trọng của vấn đề, nhưng tới nay 28 tên lửa Klub đã được giao cho Việt Nam.

Trung Quốc đặc biệt quan tâm bởi vì tên lửa Klub có thể được sử dụng để tấn công các mục tiêu trên bộ...”(ngưng trích)

Trong khi đó, bản tin RFA cho biết ngư dân bị TQ cấm biển làm thiệt hại lớn, và tự nhiên là hy vọng nước Mỹ sẽ giúp VN...

RFA viết:

“...khi quân đội Mỹ vào cuộc nhằm ổn định tình hình biển Đông, người dân Đà Nẵng, đặc biệt là ngư dân hết sức vui mừng vì tin này. Có vẻ như người Việt Nam tin vào nước Mỹ, tin vào những sách lược mang tính thực dụng nhưng rất sòng phẵng của họ hơn là một thứ lý tưởng ngoài miệng nhưng lại rút ruột, chơi xỏ của nhà nước Trung Quốc.

Chị Kim Kha, chủ một đoàn tàu đánh cá ở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, chia sẻ: “Ui chui cha, vô vận mà biết đường nào, biển rộng mênh mông đi quanh hết trơn thế làm sao biết đường. Như thường thì mình đi từ tháng giêng đến tháng chín, chủ yếu là đi cá ngừ, chuộng cá ngừ, nhưng năm ni không biết sao không có cá ngừ, mất mùa… Nghề tụi em chủ yếu là đánh cá ngừ nhưng giờ không đánh được nữa!”(hết trích)

Khó là như thế...Dân mong muốn Mỹ vào giúp VN. nhưng CSVN không muốn, Đảng CS chỉ muốn giấy đôla xanh thôi...

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Trung Quốc và tương lai địa chính trị của châu Á

Mohan Malik

Giáo sư Mohan Malik cho rằng đây là thập kỷ của những chuyển giao quyền lực ở Châu Á, trong đó Trung Quốc đóng vai trò quan trọng quyết định cục diện ở khu vực.

Hội nghị Shangri-la gần đây ở Singapore đã chứng kiến những đối đáp có phần gay gắt giữa Trung Quốc và các bên tham dự khác. Việc Bắc Kinh triển khai giàn khoan cùng hơn 80 tàu bảo vệ ra Biển Đông, chỉ bốn ngày sau “chuyến thăm mang tính trấn an” của Tổng thống Mỹ Barack Obama tới các nước láng giềng Đông Á của Trung Quốc vào tháng 4 năm 2014, được xem là hành động khiêu khích có tính toán.

Tuy nhiên, động thái trên của Trung Quốc phản ánh đúng mô hình thúc đẩy yêu sách ở khu vực ngoại vi mà nước này đang áp dụng bằng hăm dọa, ép buộc, và đe dọa sử dụng vũ lực thông qua “các hoạt động bán quân sự chưa tới mức chiến tranh” (Paramilitary operations short of war – POSOW). Giàn khoan của Trung Quốc giống như một thông điệp chính trị thể hiện quyết tâm cũng như khả năng của nước này trong việc kiểm soát và khai thác Biển Đông đồng thời phủ nhận các bên yêu sách khác – và nó được gửi tới Washington cũng như Tokyo, Hà Nội, Manila, Jakarta, và New Delhi.

Cùng với việc thăm dò dầu khí ở vùng biển tranh chấp, giàn khoan trị giá 1 tỷ USD này cũng đã khoan một lỗ lớn vào “chiến lược xoay trục” của Washington bởi nó ảnh hưởng tới uy tín của Washington với vai trò điểm tựa an ninh của khu vực hay người bảo vệ an ninh. Về cơ bản, đây giống như một sự mỉa mai cam kết an ninh của Mỹ đối với khu vực trong bối cảnh Trung Quốc sử dụng chiến thuật cưỡng ép nhằm thay đổi hiện trạng. Bắc Kinh cho rằng các láng giềng nhỏ bé và nước Mỹ sẽ không sử dụng vũ lực để ngăn cản việc Trung Quốc nỗ lực biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình. Trung Quốc hiện đang lặng lẽ, kiên nhẫn triển khai từng bước và cuối cùng tập hợp tất cả lại “khi điều kiện chín muồi.”

Nguyên nhân chủ yếu cho việc Trung Quốc hành xử quyết đoán trên biển là sự dịch chuyển mang tính kiến tạo trong môi trường chiến lược của Bắc Kinh, diễn ra sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991. Lần đầu tiên trong suốt chiều dài lịch sử, Trung Quốc không phải đối mặt với bất kỳ mối đe dọa nào ở biên giới phía bắc và chính diễn biến địa chính trị quan trọng này lý giải cho động thái bành trướng quân sự của Trung Quốc ở bờ biển phía đông và vùng biên giới phía tây nam. Chúng ta cần nhớ lại rằng các triều đại nối tiếp nhau của Trung Quốc đã xây dựng Vạn Lý Trường Thành để ngăn cản sự quấy nhiễu của người Mông Cổ và các bộ tộc Mãn Châu ở phía bắc khi các bộ tộc này thường tràn vào cướp bóc thời nhà Hán.

Năm 1433, trước những cuộc tấn công ngày càng táo bạo của quân Mông Cổ cùng mối đe dọa từ các bộ tộc ở Trung Á đối với vùng biên cương tây bắc, các vị vua triều Minh của Trung Quốc đã tạm dừng những chuyến đi biển tốn kém của Đô đốc Trịnh Hòa để tập trung nguồn lực bảo vệ vùng biên cương của Vương quốc Trung Nguyên. Từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 20, một nước Nga Sa hoàng lớn mạnh và tiếp theo đó là Liên Xô luôn là mối quan tâm của các nhà hoạch định quân sự Trung Quốc. Ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn vào những năm 1950 khi hai bên có quan hệ nồng ấm, còn lại Bắc Kinh luôn canh cánh hiểm họa từ phía bắc trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh cho tới khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991.

Bất chấp những quan ngại địa chính trị như Trung Quốc xâm lấm vùng Viễn Đông và khu vực Trung Á có thể rơi vào vùng ảnh hưởng của nước này, Tổng thống Nga Vladimir Putin – trước thực tế bị Châu Âu và Mỹ cô lập sau khi Nga sáp nhập Crimea và tình trạng bất ổn đang tiếp diễn ở miền đông Ukraine – đã chấp thuận những điều khoản không hề dễ chịu từ Trung Quốc khi ký kết một thỏa thuận lớn về đường ống dẫn khí đốt nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu năng lượng của Nga ngoài Châu Âu, và biến Trung Quốc trở thành đồng minh quan trọng của Nga. Trong một loạt vấn đề, Nga và Trung Quốc đang thách thức trật tự quốc tế thời kỳ hậu chiến tranh lạnh. Mặc dù Trung Quốc đã không ủng hộ Nga trong vấn đề Georgia hay Crimea, nhưng ông Putin tin rằng mối quan hệ giữa Moscow và Bắc Kinh đang ở giai đoạn nồng ấm nhất.

Nếu “liên minh Trung-Nga” được hồi sinh, thì có một sự đảo ngược hoàn toàn về vai trò các bên kể từ đầu thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc – chứ không phải một nước Nga suy yếu về kinh tế và nhân khẩu học – đóng vai trò chủ đạo trong liên minh này. Giống như trong quá khứ, những rắc rối gặp phải ở phía Tây một lần nữa buộc Nga đưa ra những nhượng bộ ở phía Đông. Kế hoạch của Bắc Kinh là khiến Nga phụ thuộc kinh tế vào nước này như phương Tây bị chinh phục bởi hàng hóa giá rẻ do Trung Quốc sản xuất. Ấn Độ cần phải tái điều chỉnh quan hệ với một nước Nga đang đóng vai trò thứ yếu so với Trung Quốc và đang cùng chung tay với Bắc Kinh cung cấp vũ khí cho Pakistan.

Không có gì ngạc nhiên khi các phương tiện truyền thông tràn ngập thông tin về một “liên minh chiến lược Trung – Nga mới có khả năng thống trị vùng trung tâm [của lục địa Á Âu],” báo hiệu “cơn ác mộng về tương quan lực lượng theo thuyết Mackinder đối với Washington.” Một số người liên tưởng việc hình thành trục Bắc Kinh-Moscow-Teheran dựa trên các yếu tố năng lượng, thương mại và an ninh trên toàn lục địa Á-Âu. Dù nguyên nhân Nga xoay trục sang Châu Á bắt nguồn từ sự bất ổn ở phía Tây khi nước này ở một vị thế yếu, nhưng người ta có thể thấy Washington ngày càng bị thách thức bởi các nước đang tìm cách thay đổi cán cân quyền lực trong khu vực.

Vì vậy, quan niệm cho rằng Châu Á bị mất cân bằng đang trở nên khá phổ biến. Một nước Mỹ mệt mỏi sau các cuộc chiến cùng sự eo hẹp về ngân sách rõ ràng đã thúc đẩy các cường quốc xét ​​lại như Trung Quốc và Nga hành động. Những nỗ lực của chính quyền Obama nhằm “tái cân bằng” vai trò của Mỹ ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương bị ảnh hưởng bởi nhận thức chung về sự bất đối xứng chiến lược cùng cán cân địa chính trị đang thay đổi nhanh chóng. Cuộc tranh giành quyền kiểm soát “các tài sản chung” (như biển, không gian mạng và không gian vũ trụ) ngày càng quyết liệt. Những quan ngại chiến lược xuất hiện ngày càng nhiều khi tham vọng, sức mạnh và ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc đi ngược lại với lợi ích của các cường quốc hiện thời.

Biên tập viên Zackary Keck của tờ Diplomat và học giả Chen Dingding đã bắt đầu một cuộc tranh luận liệu Trung Quốc trở thành một bá chủ toàn cầu kiểu khác hay sẽ hành xử giống như Mỹ và các bá quyền trong quá khứ. Dĩ nhiên giới lãnh đạo Trung Quốc rất khó tránh tham vọng bá chủ hay cách hành xử của một siêu cường. Trái với những tuyên bố chính thức, Trung Quốc đang hành xử không khác gì các cường quốc trỗi dậy đã làm trong lịch sử: Thiết lập mốc giới mới, vẽ ra các biên giới mới trên đất liền, bầu trời, đại dương xung quanh khu vực ngoại vi, cố gắng mở rộng biên giới trên bộ và trên biển, hình thành và sửa đổi các thể chế đồng thời ép buộc các bên khác đi theo quỹ đạo của mình. Vẽ bản đồ có thể trở thành một ngành kinh doanh phát triển ở Trung Quốc. Cách hành xử quốc tế của Bắc Kinh (nghĩa là cách “thể hiện sức mạnh” của họ chắc hẳn sẽ không khác gì các siêu cường khác.

Do vậy, Châu Á-Thái Bình Dương hiện đứng trước ngưỡng của sự thay đổi – những điều đã biết và chưa biết; đầy rẫy các thách thức và bất ổn. Tôi cho rằng sẽ có 7 sự dịch chuyển chiến lược lớn quyết định hành vi chiến lược của Trung Quốc cũng như bối cảnh địa chính trị Châu Á trong nhiều năm cũng như nhiều thập kỷ tới.

Xung đột giữa Cường quốc Mới nổi và Cường quốc Hiện thời

Quyền lực trong hệ thống quốc tế mang tính tương đối và luôn luôn dịch chuyển. Trong ba thập kỷ qua, Trung Quốc đã chứng tỏ khả năng đáng kinh ngạc trong việc vạch kế hoạch và huy động nguồn lực quốc gia để thực hiện các chiến lược hành động với mục tiêu cụ thể trong các lĩnh vực như kinh tế, ngoại giao và quân sự. Tác động toàn cầu từ sự thành công của Trung Quốc sẽ là “khổng lồ kiểu Trung Quốc-Chigantic” (ghép hai từ “China” và “gigantic” của từ điển Oxford). Nếu Trung Quốc duy trì được đà tăng trưởng, tổng sản phẩm quốc nội của nước này (GDP), quân sự, và chi phí Nghiên cứu và Phát triển có thể cạnh tranh với các chỉ số tương tự của Mỹ, mặc dù không phải về chất lượng mà về số lượng. Trung Quốc đang nổi lên như một đối thủ ngang cơ mạnh hơn Liên Xô trước đây.

Không cường quốc trỗi dậy nào sẽ chấp nhận duy trì nguyên trạng. Về bản chất, các cường quốc có xu hướng bành trướng. Điều này thực sự có sức hút khó cưỡng. Năm 2009, một trong những cuốn sách bán chạy nhất ở Trung Quốc có nhan đề “Trung Quốc không hài lòng”. Người ta tự hỏi, Trung Quốc có thể nắm cả thế giới vậy tại sao họ lại không hài lòng.

Trong lịch sử, các cường quốc trỗi dậy thường có những nỗi lo sợ hoang tưởng và chứa đầy nghi kỵ: họ cho rằng các nước khác quyết tâm đánh bại và ngăn chặn họ trên con đường tiến tới quyền lực. Kỳ vọng quá nhiều và quá sớm, các cường quốc này thường phản ứng thái quá. Điều này đôi khi khiến họ sụp đổ. Chúng ta hãy nhớ lại trường hợp của Nhật Bản và Đức. Cường quốc đang lên cũng có xu hướng mạo hiểm, thiếu kiên nhẫn. Họ phô trương sức mạnh và thử thách quyết tâm của các cường quốc già cỗi. Cường quốc trỗi dậy khai thác điểm yếu trong quyết tâm – chứ không phải năng lực – của các cường quốc hiện thời bằng cách sử dụng chiến thuật bất đối xứng để dần loại bỏ vị thế bá chủ của những cường quốc này.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Trung Quốc đã chuyển chính sách từ “ẩn mình chờ thời” sang “nắm bắt cơ hội”, vươn lên dẫn đầu và phô trương sức mạnh nhằm định hình lựa chọn của các bên khác theo hướng có lợi cho mình.” Trật tự quốc tế sau chiến tranh phụ thuộc vào ba yếu tố: Các liên minh của Mỹ, vị thế thống trị trên biển không thể thách thức của Mỹ, và cán cân quyền lực tương đối ổn định. Tất cả những yếu tố trên đang bị thách thức bởi mục tiêu và sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc. Trung Quốc – nước hưởng lợi nhiều nhất từ trật tự thế giới sau chiến tranh – giờ đây nhận thấy sự thống trị của Mỹ không còn đem lại lợi ích cho nước này.

Một sĩ quan quân đội Trung Quốc đã nhận xét: “Sự hiện diện của Mỹ và các đồng minh sẽ kìm hãm tương lai phát triển cũng như mục tiêu trong khu vực của Trung Quốc.” Bắc Kinh coi các liên minh của Mỹ là “tàn dư của Chiến tranh Lạnh”, cần phải được loại bỏ để khôi phục cái mà nước này gọi là “sự cân bằng quyền lực tự nhiên trong khu vực“ (nghĩa là: một Trật tự Thứ bậc trong đó Trung Quốc chiếm vị trí trung tâm của Châu Á như trong thời cận đại). Chấp nhận đóng vai trò thứ yếu so với các cường quốc khác không nằm trong gen của người Trung Quốc. Moscow đã đúc kết điều này một cách đầy cay đắng trong những năm 1950. Và giờ đến lượt người Mỹ với giấc mơ ấp ủ kết nạp Trung Quốc làm thành viên đàn em. Nhiều người cho rằng các chế độ không chia sẻ quyền lực hay tuân thủ nguyên tắc pháp luật cai trị trong chính trị nội địa thì cũng sẽ không tuân thủ luật lệ trong chính trị quốc tế hoặc chia sẻ quyền lực ở chính trường thế giới.

Mục tiêu chiến lược Châu Á của Trung Quốc là làm xói mòn uy tín của Mỹ với vai trò người bảo đảm an ninh khu vực. Bất kể các tuyên bố ngoại giao của Bắc Kinh như thế nào, “Quan hệ Cường quốc Kiểu mới” thực chất hướng tới việc Mỹ công nhận quyền bá chủ của Trung Quốc ở Châu Á trong một thỏa thuận địa chính trị nhằm hạn chế vai trò và sự hiện diện của Washington tại khu vực, và gạt bỏ các đồng minh truyền thống của Mỹ (đặc biệt là Nhật Bản) ra bên lề. Sự thúc ép này sẽ tiếp tục trong nhiều thập kỷ tới bởi Trung Quốc coi Mỹ đang “tụt dốc không phanh và ngày càng suy yếu trong khi Bắc Kinh ngày càng mạnh hơn.”

Theo quan điểm của Bắc Kinh, vấn đề chính là làm sao để tận dụng và hưởng lợi từ việc Mỹ suy yếu. Về phía Washington, thách thức là làm thế nào quản lý sự trỗi dậy của Trung Quốc bên trong trật tự do Mỹ dẫn dắt mà không giảm bớt vai trò và sự hiện diện của nước này. Bên nào chiếm thế thượng phong trong cuộc đấu này sẽ quyết định tương lai trật tự thế giới. Chính vì điều này mà các quan chức chính quyền Obama đã tới thăm các nước Châu Á để trấn an bạn bè và đồng minh về những cam kết an ninh của Mỹ, đồng thời tái khẳng định quyết tâm của Washington trong việc tái cân bằng Châu Á.

Điều quan trọng là sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng gặp phải những thách thức. Dưới sự lãnh đạo của ông Shinzo Abe, Nhật Bản đang trở thành một “quốc gia bình thường” với việc dỡ bỏ rào cản về tự vệ tập thể và chuyển giao vũ khí. Còn Ấn Độ đã tái cân bằng trên phương diện kinh tế và chiến lược đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương trong gần hai thập kỷ thực hiện chính sách “Hướng Đông”. Với chiến thắng của đảng BJP dưới sự lãnh đạo của ông Narendra Modi trong cuộc bầu cử tháng 5 năm 2014, Ấn Độ có thể sẽ trở lại đầy mạnh mẽ. Do Bắc Kinh không từ bỏ chính sách vừa can dự kinh tế đối với Ấn Độ vừa tìm cách bóp nghẹt nước này về phương diện địa chính trị, một Ấn Độ hồi sinh sẽ trở thành người bảo vệ cán cân quyền lực Châu Á ở phía nam và chặn đứng nỗ lực thiết lập vị thế bá chủ của Trung Quốc.

Các nước nhỏ và tầm trung (như Singapore, Hàn Quốc, Indonesia, Việt Nam, Philippines, và Australia) cũng đang tích cực hành động vì mục tiêu cân bằng và giành lợi thế. Đặc biệt là Indonesia và Việt Nam đã cải thiện đang kể sức mạnh hải quân của mình trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông leo thang.

Về phần mình, nước Nga đang sử dụng nguồn năng lượng khổng lồ làm công cụ quay trở lại vũ đài chính trị thế giới. Dù cho cuộc khủng hoảng Ukraina đã giảm bớt sức nóng, chính sách xoay trục Châu Á của Nga vẫn sẽ được thúc đẩy do sự cô lập từ phương Tây với các lệnh trừng phạt; thỏa thuận cung cấp khí đốt thời hạn 30 năm của Gazprom cho Trung Quốc trị giá 400 tỷ USD; và nhu cầu ngày càng tăng từ các nước láng giềng của Bắc Kinh đối với các khí tài và nguồn năng lượng của Nga. Nhưng ít khả năng Nga sẽ trở thành một “Canada của Trung Quốc” mà không có bất kỳ phản kháng nào. Tất cả những điều này đã tạo nên một môi trường địa chính trị vô cùng rối rắm, phức tạp ở Châu Á.

Những cường quốc hiện nay ở Châu Á-Thái Bình Dương cũng giống như Đức, Pháp, Anh và Ý ở đầu thế kỷ 20. Họ vươn ra thế giới để tìm kiếm thị trường, nguồn tài nguyên và các căn cứ; cạnh tranh quyền lực và tầm ảnh hưởng; chèn ép và tranh giành ở các khu vực khác nhau trên thế giới, qua đó hình thành những quan hệ đối tác tự nhiên vốn là đặc trưng của chiến lược phòng ngừa.

Cuộc cạnh tranh quyền lực chủ yếu diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc, nhưng trên đại dương và đất liền thì là cuộc cạnh tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản; giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Hải quân Ấn Độ và Trung Quốc đang hiện diện ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương với tần suất ngày càng nhiều hơn. Logic của địa chính trị – đó là Nhật Bản và Ấn Độ quan ngại về vị thế của mình ở một Châu Á mà Trung Quốc ở vị trí trung tâm – sẽ gắn kết hơn nữa mối quan hệ Nhật-Ấn dưới sự lãnh đạo của ông Abe và ông Modi. Điều này làm tăng thêm những cạnh tranh chiến lược giữa Bắc Kinh với Tokyo và New Delhi.

Giống Châu Âu vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, Châu Á-Thái Bình Dương đầu thế kỷ 21 xuất hiện một số cường quốc trỗi dậy, đầy tính ganh đua bên cạnh một số quốc gia suy yếu hoặc dễ bị tổn thương. Các cường quốc trỗi dậy này hình thành cán cân chiến lược mới do quan hệ đối tác và liên minh giữa các quốc gia thay đổi. Châu Á-Thái Bình Dương đầu thế kỷ 21 có nhiều điểm tương đồng với Châu Âu cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chứ không phải Châu Âu với các cường quốc già cỗi, đang suy yếu của thế kỷ 21. Động thái của Nga đối với Ukraina có thể khiến các cường quốc Châu Âu không hài lòng nhưng các nước châu Âu không đưa ra phản ứng chiến lược quan trọng chống lại Moscow. Điều này chắc chắn không xảy ra ở Châu Á. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, Châu Á đang chi tiêu cho quốc phòng nhiều hơn Châu Âu. Sự nổi lên của các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc ở Nhật Bản, Philippines và Ấn Độ một phần bởi thất bại rõ ràng từ những người tiền nhiệm của họ trong việc đối phó với sự xâm lấn của người Trung Quốc.

Mối quan ngại về Địa Chính trị

Đây là thập kỷ của chuyển giao quyền lực ở Châu Á. Đối với các nước láng giềng nhỏ bé của Trung Quốc, đây là một thập kỷ đầy nguy hiểm. Với các nước trong khu vực, Trung Quốc gợi lên một cảm giác bất an vì sự rộng lớn, mức độ liền kề, lịch sử cũng như sức mạnh của nước này, và quan trọng hơn, chính bởi ký ức về “hội chứng Vương quốc Trung Nguyên” hoặc hệ thống các nước chư hầu vẫn chưa phai mờ. Trong lịch sử, Trung Quốc chưa từng chấp nhận chung sống bình đẳng với cường quốc khác có sức mạnh tương đương hoặc yếu hơn.

Trong quá khứ, một Trung Quốc thịnh vượng và hùng mạnh đòi hỏi các nước khác phải quy thuận và kính nể. Điều đã thay đổi đó là tham vọng về ý thức hệ trong quá khứ hiện được thế chỗ bởi các lợi ích kinh tế. Hầu như không có nước Châu Á nào tin vào luận điệu “Trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc” (hãy thử hỏi Mông Cổ, Nhật Bản, Việt Nam, Philippines hay Ấn Độ) hoặc tuyên bố “Không can thiệp vào công việc nội bộ” (hãy thử hỏi Bắc Triều Tiên, Campuchia, Lào, Malaysia, Indonesia, Myanmar, Nepal hay Sri Lanka).

Sự gắn kết trong quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Châu Á tạo cảm giác về một sự lệ thuộc cùng tâm trạng thất vọng. Trong khi các quốc gia này không phản đối sức mạnh cũng như sự thịnh vượng của Trung Quốc, thì họ cũng không sẵn lòng để mất quyền tự quyết trong việc hoạch định chính sách. Ngoại trừ một số ít (nhất là Pakistan), còn lại hầu hết các nước Châu Á (gồm cả Bắc Triều Tiên) không hề mặn mà với việc chung sống trong một Châu Á do Trung Quốc dẫn dắt hoặc chi phối.

Thay vào đó, những nước này duy trì các liên kết an ninh hiện có, thực hiện chính sách ngoại giao khôn khéo cùng chiến thuật phòng ngừa giúp họ tự chủ hành động. Bởi Trung Quốc có vai trò trung tâm trong bối cảnh địa chính trị Châu Á, “phòng ngừa” hoặc “cân bằng” kiểu cũ đang trở thành lựa chọn ưa thích nhất của các bên trong khi vẫn duy trì các lợi ích từ việc quan hệ với Bắc Kinh. Các cường quốc hiện đang tìm cách tái cân bằng vị thế và chiến lược của mình. Chính sách “tái cân bằng” của Mỹ, Chính sách “Hướng Đông” của Ấn Độ, Chính sách “Hướng Tây” của ASEAN, Chính sách “Hướng Bắc” của Úc và hợp tác quốc phòng giữa Nhật Bản với Úc, Philippines, Việt Nam và Ấn Độ cho thấy xu hướng này.

Toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích cốt yếu của tất cả các quốc gia: Dù yếu hay mạnh, lớn hay nhỏ. Căng thẳng leo thang giữa Trung Quốc và các nước láng giềng từ Ấn Độ đến Nhật Bản trong các tranh chấp trên lục địa và đại dương đều có ý nghĩa địa chính trị. Các tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết cùng “hội chứng Vương quốc Trung Nguyên” dường như bất lợi cho Bắc Kinh và có lợi cho Washington. Đề cập về căng thẳng trong tranh chấp lãnh thổ tại cuộc gặp tháng 4 năm 2014, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Tướng Thường Vạn Toàn đã nói với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel rằng Bắc Kinh sẽ “không thỏa hiệp, không nhân nhượng, [và] không đánh đổi” trong cuộc chiến bảo vệ cái ông Thường gọi là “chủ quyền lãnh thổ.” Ông Thường cảnh báo rằng: “Quân đội Trung Quốc sẽ nhanh chóng tập hợp, sẵn sàng chiến đấu và giành chiến thắng.”

Người Trung Quốc có lẽ đang kinh ngạc bởi các nước láng giềng nhỏ bé đã thể hiện quan điểm cứng rắn, đầy thách thức. Bắc Kinh hy vọng các nước láng giềng tôn trọng lợi ích cốt lõi của mình bằng cách đặt nó lên trên trên lợi ích quốc gia của chính các nước này – một kiểu quan hệ chư hầu mà các nước công nhận Trung Quốc là bá chủ của Châu Á. Trong bối cảnh đó, sự hỗ trợ về quân sự của Mỹ được xem là chốt chặn lớn nhất ngăn cản Trung Quốc ép buộc Châu Á chấp nhận và quy thuận quyền lực của nước này.

Từ năm 2007, cách hành xử quyết đoán của Trung Quốc trong các tranh chấp trên biển, đất liền ở khu vực ngoại vi của nước này đã đẩy các nước láng giềng xích lại gần hơn với Washington. Vì vậy, tôi cho rằng giống như mọi sản phẩm khác thời nay, chính sách “xoay trục” hay “tái cân bằng” của Washington cũng là “Made-in-China”. Các tranh chấp chưa được giải quyết của Trung Quốc với các nước láng giềng đang tạo ra những liên kết chưa từng có trước đây. Ví dụ như liên minh Canberra-Tokyo, Manila-Hà Nội, Manila-Tokyo, Tokyo-Hà Nội, Hà Nội-New Delhi, và Tokyo-New Delhi. Mục tiêu chung của các liên kết này là tạo đối trọng với Trung Quốc, chứ không phải Nga hay Mỹ. Trên thực tế, các bên tham gia trò chơi cân bằng này với Trung Quốc (như Ấn Độ, Việt Nam, Philippines, và Indonesia) đang được Nga và Mỹ trang bị vũ khí.

Trong lịch sử, sự nổi lên của một cường quốc lục địa dẫn đến việc hình thành liên minh các cường quốc biển để cân bằng lại. Điều này đặc biệt đúng khi cường quốc lục địa đó có một thể chế chuyên quyền nuôi dưỡng nhưng nỗi oán hận lịch sử bằng các tranh chấp lãnh thổ, hoặc là một cường quốc có tính phân cực. Trung Quốc cũng không nằm ngoài quy luật này. Phần lớn các nước ở khu vực ngoại vi của Trung Quốc coi Mỹ, một siêu cường ở bên ngoài, là đối trọng thực sự của Bắc Kinh. Các nước đều muốn hưởng lợi từ quan hệ kinh tế với Trung Quốc, nhưng không bên nào muốn Trung Quốc thống trị khu vực hay các lựa chọn chính sách của họ bị nước này chi phối. Nói một cách đơn giản, không bên nào muốn Trung Quốc thay thế ngôi vị bá chủ đang bị suy yếu của Mỹ.

Mặc dù Bắc Kinh muốn khôi phục lại vị thế thống trị ở Châu Á thời kỳ cận đại, nhưng hoạt động mở rộng lãnh thổ của nước này và những thay đổi cấu trúc bên trong môi trường địa chính trị Châu Á hơn 300 năm qua không cho phép hồi sinh hệ thống các nước chư hầu với Trung Quốc ở vị trí trung tâm. Địa lý là yếu tố quyết định vai trò và sức mạnh của một quốc gia, một yếu tố không thể nào thay đổi. Lý do quan trọng khiến Mỹ trở thành siêu cường toàn cầu đó là nhờ vào vị trí địa lý độc nhất của nước này. Các nước láng giềng của Trung Quốc không phải Canada hay Mexico, mà là các cường quốc – như Nga, Nhật Bản, Việt Nam, Indonesia, Úc và Ấn Độ – những nước sẽ làm tất cả để chống lại sức mạnh của Trung Quốc bởi nguyên nhân về lịch sử, nền văn minh, địa chính trị và địa kinh tế. Sự cách biệt giữa tham vọng ở Châu Á của Trung Quốc và bối cảnh địa chính trị đang thay đổi đã ngăn cản nước này khôi phục vị thế thống trị trong quá khứ, điều này đã khiến cho người Trung Quốc cảm thán gọi là “sự bao vây Trung Quốc.”

Khách quan mà nói, đây đúng hơn là “sự quan ngại địa chính trị” chứ không phải “sự bao vây”. Sự bao vây, trong khái niệm đa chiều kinh điển của George Kennan (về kinh tế, ngoại giao, quân sự và chính trị), chủ yếu phản tác dụng trong nền kinh tế toàn cầu hóa. Quản lý sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đến cách hành xử của nước này là thách thức ngoại giao lớn nhất đặt ra cho khu vực và thế giới trong những năm tới.

Cuộc Cạnh tranh Mới mà Cũ

Sự phát triển kinh tế sẽ tạo ra những lợi ích ngoài nước, thúc đẩy những tham vọng lớn về địa chính trị, và gần như chắc chắn sẽ dẫn đến việc tăng cường quân sự. Các bên sẽ tìm kiếm nguồn tài nguyên phục vụ mục tiêu tăng trưởng công nghiệp; thị trường mới để tiêu thụ hàng hóa; và các căn cứ để bảo vệ tài nguyên và thị trường giống như cách thức các cường quốc công nghiệp của Châu Âu tiến hành thuộc địa hóa Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La tinh vào thế kỷ 18 và 19 trước đây.

Ba yếu tố tài nguyên, thị trường và căn cứ bảo vệ thường đi cùng với nhau. Trao đổi thương mại, các thị trường, khai thác tài nguyên, hải cảng và phát triển cơ sở hạ tầng là những thành phần quan trọng trong chính sách đối ngoại hiện nay của Trung Quốc. Trung Quốc đang xoay trục về phía Tây (Châu Phi, Trung Đông, Nga, Tây Nam Á và Trung Á) tìm kiếm nguồn tài nguyên, thị trường, và môi trường ngoại giao. Giống như trong quá khứ, cuộc cạnh tranh “mới” về cơ bản là cuộc tìm kiếm các thể chế ôn hòa và thân cận làm nguồn cung tài nguyên và quyền tiếp cận các hải cảng. Trò chơi chính trị thế giới không thay đổi nhiều, chỉ có người chơi là thay đổi.

Thống trị Thế giới là Câu chuyện của Quá khứ

Không một cường quốc đơn lẻ nào có thể thống trị thế giới trong tương lai, bất kể nước này sở hữu bao nhiêu sức mạnh cứng và mềm. Kể cả liên minh G-2 cũng vậy. Mạnh cỡ nào thực sự không quan trọng bằng việc bạn sở hữu sức mạnh kiểu gì. Trung Quốc dường như tin rằng nếu nước này đạt được “sức mạnh tổng thể quốc gia” mọi thứ sẽ đi vào trật tự và các nước sẽ đi theo quỹ đạo của mình. Tuy nhiên, việc chỉ có “sức mạnh tổng thể quốc gia” sẽ không giúp Trung Quốc trở thành một siêu cường toàn cầu. Cường quốc trở thành siêu cường phải có sự ủng hộ của các nước vừa và nhỏ. Với số lượng đồng minh là 58 nước và đối tác tiềm năng là 41 nước trên toàn thế giới, Mỹ vẫn là một siêu cường không có đối thủ. Sự ủng hộ của các cường quốc vừa và nhỏ, hoặc không có điều này, sẽ là sự khác biệt lớn quyết định thành công hay thất bại của việc trở thành siêu cường. Bạn không thể trở thành một nhà lãnh đạo nếu không có những người ủng hộ.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc và Ai Cập là hai quốc gia bậc trung kiểu “gió chiều nào xoay chiều ấy.” Khi Trung Quốc và Ai Cập chuyển từ ủng hộ Liên Xô sang ủng hộ Mỹ, hai nước này đã trở thành những nhân tố quan trọng trong cán cân quyền lực ở Châu Á và Trung Đông. Cán cân lực lượng đã thay đổi không có lợi cho Liên Xô và phần còn lại là lịch sử. Tái hiện nước cờ địa chính trị này, Washington đang tìm cách lôi kéo các “quốc gia đảo cánh” mới như Ấn Độ, Indonesia để tạo thế đối trọng với Trung Quốc.

Luận điểm của Mackinder hay Mahan đều giá trị như nhau

Trọng tâm địa chính trị Châu Á đang dịch chuyển vào lục địa đã tác động đến các cường quốc biển. Luận điểm của Mahan hay của Mackinder, Spykman, Kautilya và Sun Zi đều quan trọng. Mặc dù tập trung vào cạnh tranh trên biển, nhưng các trung tâm kinh tế, các thể chế mới, hành lang giao thông, đường sắt cao tốc, đường cao tốc và hệ thống các đường ống đang thay đổi môi trường địa chính trị của lục địa Á-Âu. Trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, phần lớn sự tăng trưởng kinh tế diễn ra bên trong hệ thống liên minh “trục và nan hoa” của Mỹ ở các vùng biển Châu Á. Thời kỳ Hậu Chiến tranh Lạnh, tăng trưởng kinh tế đã diễn ra ở Trung Quốc, Ấn Độ và lục địa Đông Nam Á, bên ngoài mạng lưới liên minh Mỹ-Thái Bình Dương.

Trung Quốc, giống nước Anh và nước Nga trong quá khứ, hiện đang sử dụng phương tiện giao thông hiện đại, đường sắt cao tốc, đường cao tốc, mạng lưới đường ống để vẽ lại bản đồ địa chính trị của lục địa Á-Âu. Là một phần trong chiến lược “Hướng Tây”, Bắc Kinh đã đầu tư hàng trăm tỷ để tạo “hệ thống trục và nan hoa kinh tế” ở lục địa Châu Á bằng các đường ống, đường cao tốc, mạng lưới đường sắt liên kết Trung Quốc với các khu vực Trung Á, Tây Nam Á và Đông Nam Á. Các nan hoa hoặc hành lang huyết mạch này sẽ vận chuyển nguyên liệu thô và nguồn năng lượng, đồng thời xuất khẩu các hàng hóa của Trung Quốc tới những khu vực trên và xa hơn nữa. Tuy nhiên, lục địa Á-Âu chưa được quan tâm thích đáng bởi ba thế kỷ thống trị đại dương của người Mỹ gốc Anh dường như khiến các nhà hoạch định chính sách mắc hội chứng “mù đất liền”.

Công nghệ: Một Đòn bẩy Thực sự

Công nghệ chính là nhân tố thay đổi cuộc chơi. Trong thời chiến hay thời bình, công nghệ định hình mối quan hệ giữa các quốc gia. Công nghệ quyết định thứ bậc trong quan hệ quốc tế. Rất ít nhà kinh tế dự đoán Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc kinh tế. Tại sao lại như vậy? Bởi họ đã không thể thấy trước được tác động của công nghệ trong tương lai. Cũng như không ai vào năm 1990 có thể đoán biết cách thức Internet sẽ thay đổi mọi thứ, sự phổ biến nhanh chóng của những công nghệ đột phá như in ấn 3D/4D, thành tựu của công nghệ sinh học, người máy, và điện toán lượng tử là những nhân tố quyết định cuộc chơi. Một cuộc cách mạng trong sản xuất dựa trên công nghệ in ấn 3D/4D có ý nghĩa gì nếu được sản xuất -tại-Trung Quốc? Những đột phá công nghệ trong tương lai chắc chắn sẽ tạo ra người chiến thắng và kẻ chiến bại mới, đồng thời cũng đem lại các cơ hội và thách thức mới.

Địa chính trị và địa chất học có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Khi Trung Quốc và các nước khác cho rằng Mỹ đang suy yếu, thì nước này thấy mình ở đỉnh đạt với khả năng tự cung cấp năng lượng, nhờ thành tựu đột phá trong “công nghệ phân tách bằng thủy lực” (fracking technology). Cuộc cách mạng về khai thác đá phiến có thể giúp Mỹ hồi sinh và kéo dài sự thống trị đối với trật tự quốc tế. Sự bùng nổ năng lượng tại Mỹ và Canada – nếu tận dụng triệt để – có khả năng thay đổi động lực sức mạnh giữa các cường quốc và vực dậy những liên minh của Mỹ. Điều này có thể khiến người chiến thắng hôm qua trở thành kẻ thua cuộc ngày mai. Giống như một Trung Đông “già cỗi” đang “hướng Đông” để thúc đẩy quan hệ năng lượng với Trung Quốc và Ấn Độ, một “Trung Đông mới” (bao gồm Canada và Mỹ) có thể đang “hướng Tây” để bán dầu – khí trong đá rắn cho Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, và các nước Đông Nam Á. Dầu – khí trong đá phiến sẽ không chỉ tăng cường đòn bẩy ngoại giao của Mỹ, mà còn làm thị trường dầu mỏ thế giới đa dạng, giúp bình ổn giá dầu, đồng thời các nước tiêu thụ sẽ giảm bớt sự phụ thuộc quá mức vào một Trung Đông biến động, các cacten OPEC, và nước Nga của ông Putin.

Tương lai Địa chính trị Châu Á

Những xu hướng chiến lược này sẽ định hình tương lai địa chính trị Châu Á, đặc biệt là tác động qua lại giữa Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và Ấn Độ. Sự bất cân bằng sức mạnh giữa các cường quốc dẫn đến việc mỗi bên sẽ thiết lập các liên kết linh hoạt, tạm thời với những bên khác khi lợi ích của họ có điểm đồng; tận dụng sự ủng hộ của một bên để chống lại bên khác khi có xung đột quyền lợi; ngăn chặn hai bên khác hình thành liên minh chống lại mình bởi các nước có xu hướng cạnh tranh, liên minh và liên kết lại khi mục tiêu song trùng.

Dĩ nhiên, Trung Quốc là mảnh ghép quan trọng nhất trong bức tranh địa chính trị này. Không quốc gia nào có thể đe dọa Trung Quốc khi nước này hiện nay đã lớn mạnh. Là quốc gia lớn nhất (về mặt lãnh thổ) và hùng mạnh nhất (về mặt kinh tế và quân sự) ở Châu Á, chỉ khi Bắc Kinh dừng lại và chấp nhận duy trì nguyên trạng lãnh thổ trên bộ và cũng như trên biển thì nước này mới có thể hóa giải được các liên minh của Mỹ thời kỳ Chiến tranh Lạnh và giảm bớt lý do nước này hiện diện tại khu vực. Nhưng chúng ta không nên tin vào khả năng này: Một chiến lược gia Trung Quốc (cơ bản nhắc lại lời Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc) từng nói: “Từ bỏ yêu sách đối với ‘các vùng đất bị mất vào tay nước khác’…là điều khó tin và không thể xảy ra.”

Do quân đội nhân dân Trung Quốc sẽ không chấp nhận duy trì nguyên trạng lãnh thổ hiện nay, câu hỏi đặt ra cho Mỹ và các đồng minh là cách thức duy trì cán cân quyền lực đủ mạnh nhằm ngăn chặn bất kỳ hành động hăm dọa và xâm lấn, đồng thời trấn an bạn bè và đồng minh đang phải đối mặt với một Trung Quốc đầy tự tin với quyết tâm thiết lập vị thế thống trị trên lục địa Châu Á và các vùng biển liền kề. Hòa bình và ổn định sẽ được duy trì nếu các cường quốc hướng tới xây dựng một Châu Á đa cực với các tổ chức đa phương toàn diện cùng các cơ chế giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, sự ganh đua, cạnh tranh và thậm chí là xung đột có thể dẫn đến trật tự lưỡng cực hoặc việc Bắc Kinh tìm cách thiết lập lại trật tự đơn cực mà nước này ở vị trí trung tâm, theo đó Trung Quốc sẽ hành xử như một bá quyền và đòi hỏi sự quy thuận, triều cống từ các nước láng giềng.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, không điều gì là chắc chắn trong cuộc sống cũng như vũ đài chính trị – trong nước hay quốc tế. Tương lai không phải là một đường thẳng. Nó đầy rẫy những bước ngoặt, vấp ngã, thất bại, điều bất ngờ và sự trái ngược, không liên tục và phi tuyến tính. Liên Xô và Nhật Bản chính là những ví dụ cho thấy việc Trung Quốc trỗi dậy không có gì là chắc chắn.

Trong lịch sử, các cường quốc trỗi dậy, kỳ vọng quá nhiều quá sớm, thường bộc lộ sức mạnh một cách khác thường, và đây là kẻ thù nguy hiểm nhất của chính những nước này. Khác những gì sách giáo khoa Quan hệ Quốc tế dạy chúng ta, chính sách đối ngoại của một quốc gia không chỉ là những tính toán về sự được mất hoặc câu chuyện thiệt hơn. Đó là tổng hòa của năm yếu tố: Khát vọng, sức mạnh, lợi ích, kiêu hãnh và định kiến. Điều này khiến việc dự đoán tương lai của Trung Quốc hay tương lai chính trị thế giới trở nên hết sức khó khăn.

Nguy cơ của những tính toán sai lầm nằm ở chỗ: Quân đội Trung Quốc đánh giá quá cao sức mạnh của mình, trong khi phần còn lại của thế giới đánh giá quá thấp tham vọng, sức mạnh cũng như mục đích của Bắc Kinh.

Mohan Malik là Giáo sư chuyên về An ninh Châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương ở Honolulu. Ông là chủ biên của cuốn An ninh Biển ở Ấn Độ-Thái Bình Dương (Rowman & Littlefield, sẽ xuất bản tháng 10 năm 2014) và tác giả cuốn sách Trung Quốc và Ấn Độ: Cuộc đối đầu của Hai Cường quốc (Nhà xuất bản Lynne Rienner, 2011). Bài viết đăng trên trang “The Diplomat“.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Hãy 'cám ơn' Trung Quốc

Nguyễn Hưng Quốc


Image
Tàu nạo vét của Trung Quốc trong vùng biển quanh đảo Đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Các chuyến bay trinh sát của Mỹ gần những bãi cạn mà Trung Quốc đang cải tạo cho thấy mấy mươi chiếc tàu đang ráo riết tiến hành hoạt động lấy đất lấp biển.
Từ đầu năm 2014 đến nay, Trung Quốc ra sức bồi đắp và tái tạo các bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa mà họ chiếm của Việt Nam vào năm 1988 thành những hòn đảo nhân tạo đủ lớn để làm căn cứ quân sự với hải cảng và phi trường cho các loại máy bay, kể cả máy bay phản lực. Báo chí Tây phương xem những hòn đảo nhân tạo này như một vạn lý trường thành bằng cát Trung Quốc sẽ sử dụng như những căn cứ quân sự nhằm chiếm cứ các hòn đảo còn lại ở Trường Sa và khống chế toàn bộ Biển Đông. Hầu như ai cũng nhận định giống nhau: đó là những việc làm nguy hiểm có thể đẩy các tranh chấp trong khu vực thành những xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và các quốc gia liên hệ gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei cũng như, sau các quốc gia ấy, là Mỹ và các đồng minh của Mỹ.

Những nguy hiểm ấy dĩ nhiên là có thật. Tuy nhiên, một mặt, tôi không mong chiến tranh sẽ bùng nổ, mặt khác, tôi lại cho những việc xây dựng ấy là điều may mắn cho Việt Nam.

May mắn thứ nhất là chúng thu hút sự quan tâm của quốc tế trước các âm mưu bành trướng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước, ai cũng biết Trung Quốc có tham vọng chiếm gần trọn Biển Đông. Họ không hề giấu giếm tham vọng ấy. Nó được công khai hoá qua con đường 9 đoạn hoặc con đường lưỡi bò mà họ công bố trước thế giới. Tuy nhiên, người ta vẫn xem lời tuyên bố ấy như những dự định và với dự định, cuộc chiến chỉ dừng lại phạm vi ngôn ngữ, hay nói cách khác, những cuộc khẩu chiến. Bây giờ, với việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo, người ta nhận ra dự định ấy không phải chỉ là một ước mơ. Nó đang được Trung Quốc biến thành hiện thực và hiện thực ấy khiến cho thế giới không khỏi lo lắng. Hệ quả đầu tiên là phần lớn các quốc gia thuộc khối ASEAN (trừ Lào và Campuchia) cảm nhận rõ hơn nguy cơ xâm lấn của Trung Quốc và từ đó, đoàn kết hơn trong nỗ lực chống lại dã tâm xâm lấn ấy.

May mắn thứ hai là chúng thúc đẩy Mỹ phải chính thức nhảy vào cuộc tranh chấp trên Biển Đông. Trong mấy tháng vừa qua Mỹ thường xuyên theo dõi sát sao mọi chuyển biến trong quá trình xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Trường Sa. Trong cuộc hội nghị thượng đỉnh về an ninh châu Á – Thái Bình Dương ở Shangri-la, Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter phê phán một cách thẳng thắn và gay gắt các hành động khiêu khích của Trung Quốc trên Biển Đông. Sự phê phán của Mỹ nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của hai quốc gia đồng minh là Nhật và Úc. Trong chuyến đi thăm Việt Nam ngay sau đó, Bộ trưởng Ashton Carter và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Phùng Quang Thanh đã ký bản “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng” nhằm định hướng cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước trong tình hình mới. Liên quan đến quốc phòng, có hai sự kiện mới đáng chú ý trong quan hệ song phương ấy: Một là Mỹ sẽ viện trợ cho Việt Nam 18 triệu Mỹ kim để mua tàu tuần tra cao tốc của Mỹ; và hai là, cả Bộ trưởng Carter lẫn thượng nghị sĩ John McCain đều hứa hẹn Mỹ có thể sẽ nới lỏng hơn nữa việc bán vũ khí cho Việt Nam để Việt Nam có thể tự vệ trong các cuộc tranh chấp trên Biển Đông.

May mắn thứ ba là việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo tại Trường Sa sẽ làm thức tỉnh giới lãnh đạo Việt Nam. Lâu nay, bất chấp các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam vẫn khăng khăng lặp đi lặp lại mấy khẩu hiệu dối trá và cũ rích về “4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) và 16 chữ vàng (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Năm ngoái, khi Trung Quốc cho giàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa Việt Nam, có lẽ chính quyền Việt Nam phần nào đã thức tỉnh. Từ đó, việc lặp lại các khẩu hiệu trên có chiều hướng giảm dần. Nhưng dù sao việc mang giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam cũng ít nguy hiểm hơn việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo và quân sự hoá chúng: từ các căn cứ ấy, việc đánh chiếm các hòn đảo khác ở Trường Sa do Việt Nam làm chủ sẽ trở thành dễ dàng hơn rất nhiều. Đó là chưa kể đến việc, trên cơ sở sự hiện hữu của các hòn đảo nhân tạo ấy, Trung Quốc sẽ tuyên bố thành lập vùng nhận diện hàng không trên toàn bộ Biển Đông.

Khi cho việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Trường Sa sẽ “thức tỉnh” giới lãnh đạo Việt Nam, tôi có hai hàm ý: Một, trước đó, họ chưa biết; và hai, họ quan tâm và tha thiết đến việc bảo vệ chủ quyền cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Với hàm ý thứ hai, có thể sẽ có một số người cho là tôi nhẹ dạ: theo họ, trên thực tế, giới cầm quyền Việt Nam đã đầu hàng hoặc thậm chí, bán đứng Biển Đông cho Trung Quốc. Tôi cố không tin như vậy. Một số người thì có thể, nhưng rất khó tin cả một tập thể đông đảo đến gần 200 người trong Ban chấp hành Trung ương đảng đều đang tâm làm việc đó. Tôi nghĩ, sẽ thuyết phục hơn, nếu chúng ta cho: Một, họ biết nhưng mức độ biết còn hạn chế, chưa thấy hết toàn cảnh những hiểm hoạ đến từ phương Bắc; hai, họ biết nhưng có ảo tưởng là cùng chia sẻ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc sẽ nhẹ tay, không đẩy họ vào thế đường cùng; ba, họ biết nhưng họ theo đuổi sách lược kềm chế và nhân nhượng với hy vọng có đủ thời gian để tìm liên minh cũng như trang bị thêm khí giới chuẩn bị cho những chiến tranh mà theo một số quan sát viên quốc tế, “không thể tránh khỏi”. Thôi thì, rộng lượng, chúng ta thiên về khả năng thứ ba.

Tuy nhiên, sách lược kềm chế và nhân nhượng cũng phải có giới hạn của chúng: kềm chế và nhân nhượng đến mức nào? Trước, vào năm 2011, tôi đã đặt ra vấn đề ấy trong bài “Nhịn đến chừng nào?”.

Gần đây, trong bài “Phải ấn định một lằn ranh cho Trung Cộng”, nhà báo Ngô Nhân Dụng cũng đặt ra vấn đề tương tự. Ông viết: “người Việt Nam phải xác định một lằn ranh, nếu Trung Cộng bước qua thì sẽ phản ứng quyết liệt. Một chính phủ Việt Nam biết bảo vệ danh dự và chủ quyền dân tộc không thể để cho Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục lấn lướt. Phải xác định trước cả thế giới “lằn ranh” của lòng kiên nhẫn. Nêu rõ những hành động nào của Trung Cộng sẽ được coi là bước qua lằn ranh đó, công bố cho cả vùng Ðông Nam Á và các cường quốc có quyền lợi trong vùng biết rõ. Lằn ranh này được xác định là “bước đường cùng,” tới đó thì nước Việt Nam không thể chịu đựng với lòng nhẫn nhục. Phải báo trước nếu Bắc Kinh bước qua lằn ranh đó thì sẽ sinh chuyện lớn.”

Lâu nay, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn lần khân trong việc công bố những giới hạn của sự kềm chế và nhân nhượng của họ. Sự kiện Trung Quốc xây dựng các hòn đảo nhân tạo buộc họ phải suy nghĩ đến những điều đó. Hoặc, nếu họ vẫn có ảo tưởng về lòng tốt của người bạn láng giềng cùng theo chủ nghĩa xã hội thì họ sẽ thức tỉnh và quay lại lo toan cho chủ quyền và tương lai của đất nước.

Tôi cho những sự kiện vừa xảy ra là một điều “may mắn” và chúng ta cần “cám ơn” Trung Quốc là vì thế.

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

CSVN Muốn Ngả Theo Mỹ?

Vi Anh
Một số hiện tượng bên ngoài mới đây cho thấy Cộng sản Việt Nam [CSVN] bị Trung Cộng [TC] xâm lấn tới nên muốn ngả theo Mỹ. Nhưng coi vậy, chớ không phải vậy, mà có thể trái lại, CSVN bản chất không đi với TC được.

Nếu CSVN ngả theo Mỹ trước những hành động xâm lấn Biển Đông và biến quần đảo Trường sa của VN thành khu quân sự, thế là chuyện bình thường. Phàm nước nhỏ nào bị nước lớn ăn hiếp, bị xâm lấn, xăm lăng thì kiếm chỗ dựa, như VNCS muốn ngả theo Mỹ để nhờ giúp đỡ trong việc giữ gin bờ cõi, chủ quyền quốc gia là chuyện bình thường, hợp tình, hợp lý không có gì lạ. Nhưng ở đây CSVN là một chế độ CS, liệu Mỹ có thể viện trợ quân sự, có thể đưa quân qua giúp được hay không. Và CSVN kinh tế lệ thuộc, chánh trị lệ thuộc TC càng ngày càng nặng, rất khó gở. Còn ngoại giao và quân sự, VNCS luôn chủ trương ba không, “không tham gia các liên minh quân sự và không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào; không cho nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước nào để chống nước khác“. Riêng dối với TC, CSVN trước sau như một luôn ca ngợi tình hữu nghị, tình đồng chí với TC là 16 chữ vàng, 4 tốt. Thế thì VNCS làm sao “thoát Trung” được, làm sao đi sát với Mỹ như Phi luật tân được.

Nếu Mỹ chỉ hứa bằng miệng, giúp bằng lời, ầu ơ ví dầu với CSVN thì không sao. Chớ nếu Mỹ cho cố vấn quân sự, viện trợ vũ khí, máy bay, tàu chiến không hoàn lại, cho sĩ quan, tướng lãnh VN sang Mỹ huấn luện chiến thuật, chiến lược, tham mưu, ắt TC sẽ nổi trân lôi đình. TC sẽ trừng trị kẻ CSVN đã phản bội, vô ơn đối với những cái cam kết và những viện trợ lớn lao thâm căn cố đế qua nhiều đời tổng bí thư của Đảng CSVN. TC sẽ cho CSVN một bài học nữa, bài học đáng giá hơn bài học của Đặng tiểu Bình cho CSVN thời Lê Duẫn đã nắm đuôi theo Liên xô. CSVN nhứt định sợ một bài học như thế, vì Đảng Nhà Nước sẽ sa vào cái thế lưỡng đầu thọ địch. Ngoài thì TC đánh, chỉ 2 tiếng đồng hồ thì mất Saigon, thủ dô kinh tế. Trong thì bị dân chúng VN nổi lên làm một cuộc cách mạng như các nước CS Đông Âu, Nga sô viết hay các dân tộc bị áp bức ở Bắc Phi và Ai cập, thì CSVN sẽ bi mất chánh quyền khó bảo toàn tánh mạng và tài sản.

Nên, là những người chuyên nghiệp cướp chánh quyền, CSVN sẽ nghiêng về khuynh hướng thà đi với TC mất đất mà còn được làm tự thực dân áp bức bóc lột đồng bào người dân Việt để “thu vén cuối đời”, còn hưởng được tiền hàng chục tỷ Đô la Mỹ đã tẩu tán ra gởi ở ngoại quốc. Còn hơn đi với Mỹ là mất đảng mà mất Đảng là mất tất cả.

Nhưng CSVN là những người chuyên tráo bài ba lá trong chánh trị, ngoại giao. CSVN lấy hình thức ngoại giao, tiếp đón long trọng, “lễ tân” rầm rộ và tuyên bố phát triển họp tác toàn diện với Mỹ để chánh khách Mỹ nghe rất êm tai, vui lòng. Và CSVN lấy những trò sân khấu ngoại giao ấy, dùng Mỹ như con ngáo ộp để hù doạ những nhà đấu tranh cho tự do dân chủ, nhân quyền trong nước, mặc thị nói “này nhé Mỹ đã thân với Đảng Nhà Nước chúng ông rồi, chúng bây đừng có “đấu tranh” gì nữa, không còn chỗ “tránh đâu”.

Nên CSVN mà con mắt Mỹ bằng những sự tiếp đón long trọng hơn mức cần thiết ngoại giao. Như đích thân Tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang vai vế lớn hơn, đich thân ra đón tiếp khách chỉ là Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ thôi. Tổng Trọng khẳng định chủ trương của Việt Nam coi trọng thúc đẩy bang giao với Hoa Kỳ, vì lợi ích lâu dài của người dân hai nước. Chủ tịch Sang nói “hai bên đã khép lại quá khứ và hướng tới tương lai thể hiện bằng việc thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, đặc biệt quan trọng là trao đổi cấp cao diễn ra thường xuyên hơn”.

Bộ trưởng Quốc phòng VNCS Phùng Quang Thanh cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter ký bản Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng Việt - Mỹ. Nhưng xét kỹ đây là cái nhìn lui, chớ không phải nhìn tới. Bản Tuyên bố được ký trên căn bản của bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương ký hồi năm 2011. Từ bản ghi nhớ cách 4 năm trước mãi đến 2015 mới thành bản tuyên bố thì quá trễ. Quá trễ vì hai bên đều lơ là, ầu ơ ví dầu cho qua chuyện thôi, chớ thực tâm không thiết tha gì lắm.

Xem nội dung thì chẳng có gì mới, toàn chuyện cũ, không có gì đáp ứng cho nhu cầu cấp bách của tình hình hiện tại. Tuyên bố bao gồm 5 nội dung: tăng cường tham vấn chính sách; hợp tác giải quyết hậu quả chiến tranh như rà phá bom mìn và tẩy độc dioxin; hợp tác gìn giữ hòa bình của LHQ; giải quyết hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu trợ; và hợp tác trong lĩnh vực an ninh biển trên cơ sở luật pháp quốc tế và luật pháp mỗi bên.

Bộ Trưởng QP Mỹ cho biết Mỹ sẽ cung cấp cho VN một gói 18 triệu Mỹ kim cho lực lượng tuần duyên Việt Nam để mua sắm một số tàu tuần tra. Số tiền này cũng không mới, Ngoại Trưởng Mỹ trong chuyến công du Á châu đấu tiên sang Á châu hồi năm 2013 đã công bố giúp cho VN rồi, bây giờ hai năm sau Bộ Trưởng Quốc Phòng nhắc lại. Thời gian Mỹ giải ngân và VN bó buộc phải chọn mua tàu Mỹ nhanh nhứt cuối năm 2015 cũng chưa xong. Thừa thì giờ cho TC mọc râu tới rún, bám rễ tới đáy biển ngoài khu quân sự TC đã lập trên đảo Trường sa rồi.

Đảng Nhà Nước CSVN còn sợ “Ngài” Bộ Trưởng QP Mỹ bực bội, nên dấu không cho Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng là một trong bộ tam sên của CSVN có mặt trong suốt chuyến viếng thăm VNCS của Bộ trưởng QP Mỹ. Vì TT Dũng là người đươc Đảng CSVN giao nhiệm vụ đọc bài diễn văn trong lễ duyệt binh 30/4 tại Saigon nặng lời chưởi mắng Mỹ nào là đế quốc nào là dã man và hết lời cám ơn CS Liên xô và Trung Quốc giúp CSVN đánh cho “Mỹ cút Nguỵ nhào”. Một bài diễn văn chứng tỏ Đảng Nhà Nước CSVN theo sát đuôi TC vi TT Dũng là người bạo mồm, bạo miệng, có nhiều lời bất bình chống hành đông xâm lấn VN của TC và có khuynh hướng thiên về Mỹ để phát huy kinh tế cứu vãn tinh hình VN bị TC xâm lấn. Thế mà sau chuyến đi sang Tàu triều kiến Chủ Tịch Tập cận Bình của Tổng Bí Thư CSVN trước khi công du Mỹ, Chủ Tịch TC đã định hướng ngoại giao, khiến TT Dũng phải trở cờ, đổi giọng, thì biết CSVN làm sao dám ngả theo Mỹ./.(Vi Anh)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Tàu Cộng Quậy Tây Tạng

Trần Khải
Tại sao có một số Phật tử cứ theo mãi, tụ tập biểu tình phản đối Đức Đạt Lai Lạt Ma?

Có bàn tay thô nhám của Tàu Cộng giựt dây hay không?

Phóng viên Bill Birtles của hãng thông tấn Úc Châu ABC News đã nghiên cứu hiện tượng này, và phỏng vấn một số nhà nghiên cứu về vấn đề này.

Bản tin nêu câu hỏi rằng ai là những Phật tử Shugden chỉ trích Đức Đạt Lai Lạt Ma?

Bản tin nói, đó là một nhóm ít Phật tử, nhưng ồn ào, cứ theo biểu tình ở tất cả những nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma ngừng chân, kể từ khi ngài tới Sydney (Úc Châu) hồi tuần trước.

Các Phật tử Shugden thờ phượng Dorje Shugden, một vị hộ pháp nơi cõi thiên trong tông phái lớn nhất Phật giáo Tây Tạng – tông phaí này có tên là Gelugpas. Thói quen người Việt còn gọi là phaí Mũ Vàng, hay Hoàng Mạo Phái.

Các Phật tử biểu tình là theo chỉ thị của hội có tên là International Shudgen Community (ISC), một số trong nhóm này “quy chụp” Đức Đạt Lai Lạt Ma là đã dạy cho Phật tử phải gạt qua bên lề những người thờ phượng vị thần Shugden trong khối cộng đồng Tây Tạng lưu vong.

Thế rồi hôm Thứ Năm 11-6-2015, một nhóm nhỏ lại tới biểu tình ở thành phố Brisbane, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma tới thăm, một phần trong chuyến thăm nhiều thành phố Úc Châu. Họ mang biểu ngữ, và hô khẩu hiệu, vì có nội dung xúc phạm Đức Đạt Lai Lạt Ma, nên chúng ta không ghi ra đây làm chi.

Vị thần Dorje Shugden trong lịch sử được thờ từ thế kỷ 17, vừa là hộ pháp bảo vệ, vừa là “tinh linh hung dữ,” tùy theo cách diễn dịch.

Những người tông phái Gelugpas, bao gồm cả Đức Đạt Lai Lạt Ma, đã thờ vị Shugden cùng mộts ố vị thần khác, nhưng theo giáó sư về lịch sử Tây Tạng John Powers từ đaị học Australian National University, việc thờ vị Shugden từ lâu đã gây chia rẽ.

GS Powers nói: "Dorje Shugden gây sợ hãi cho các tong phái khác, và liên hệ tới việc phân phái chia rẽ, đặc biệt với người hệ thống Gelugpas. Do vậy, vì cần tạo ra một cộng đồng hòa hài giữa người Tây Tạng lưu vong, Đức Đạt Lai Lạt Ma muốn dẹp bỏ việc thờ vị thần Shugden.”

Đó là lý do Đức Đạt Laì Lạt Ma trong thập niên 1970s đã bác bỏ việc thờ vị thần Shugden, nói rằng việc đó là “gây tranh cãi và chia rẽ.”

Trong thập niên 1990s, Đức Đạt Lai Lạt Ma yêu cầu các Phật tử thờ vị Shugden chớ có tham dự các buổi thuyết giảng giaó lý của ngài.

David Templeman, một học giả về lịch sử Tây Tạng ở Viện Châu Á của đaị học Monash University, nói rằng lời yêu cầu đó gây khó khăn cho nhiều tín đồ Shugden.

Giaó sư này nói: “Họ có một loạt những tin tưởng vào một vị thần nào đó, mà họ được yêu cầu phải bác bỏ, và đối với họ lại là điều bất khả, vì lời họ đã nguyện khi bắt đầu thờ phượng.”

Chính phủ Trung Quốc dĩ nhiên là thừa cơ thọc gậy bánh xe: cho dựng nhiều tượng vị thần tại các tu viện thuộc khuynh hướng không-thờ-Shugden, và ép buộc các tu viện khuynh hướng không-thờ-Shugden phải chấp nhận các tượng này ngoài ý muốn.

GS David Templeman nói, thực ra đã có tiền lệ trong Phật Giáo Tây Tạng từng gỡ bỏ lời nguyện đối với một số vị thần trong một thời gian nào đó, và không có gì thực sự ngăn cản được, trừ phi cố chấp.

Tiến sĩ Templeman nói nhóm biểu tình là thuộc khuynh hướng thờ Shugden theo nhà sư có tên Kelsang Gyatso, định cư ở Anh từ 1970s và truyền dạy Phật Giáo dưới danh xưng là New Kadampa Tradition.

Hội ISC nói là có 2 triệu tín đồ Shugden ở Tây Tạng.

Giáo sư Templemen nói rằng con số thực thấp hơn nhiều, ước tính chỉ khoảng 100,000 người thôi.

Giáo sư Powers cũng tin là con số thực thấp hơn con số ISC ước tính, nhưng nói rằng hiện tượng các tín đồ Shugden bị tẩy chay trong Tây Tạng là đúng.

Ông nói, “Chính phủ Trung Quốc đang dựng tượng Shugden tại các tu viện thuộc truyền thống không-thờ - Shugden và buộc các tu viện này phaỉ chấp nhận tượng thờ ngoài ý munố. Do vậy, có hiện tượng phản ứng tất nhiên bởi hầu hết dân Tây Tạng là tẩy chay kiểu thờ phượng này.”

Nói theo kiểu Việt Nam là, chính phủ Bắc Kinh đang chơi trò thọc gậy bánh xe: dựng tượng Shugden để gây chia rẽ dân tộc Tây Tạng… Và ngoài lãnh thổ, TQ đang ám trợ cho những chiến dịch bao vây, chống đối Đức Đạt Lai Lạt Ma.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Muốn chống lại Trung Quốc, Việt Nam cần phải làm gì?

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài “Ba kịch bản trên Biển Đông”, tôi nêu lên ba tình huống chính có thể xảy ra trong những năm sắp tới: Một, chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ; hai, chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam; và ba, Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành, nghĩa là, họ cứ tiếp tục theo đuổi chính sách tằm ăn dâu trên Biển Đông và Việt Nam cứ tiếp tục nhịn nhục, cho đến một lúc nào đó, họ có được tất cả những gì họ muốn mà không cần gây chiến tranh với ai cả.

Cả ba tình huống ấy đều là những bi kịch, đặc biệt đối với phận một nước nhỏ và yếu như Việt Nam.

Vậy, có cách gì Việt Nam thoát khỏi những bi kịch ấy?

Theo tôi, có. Có nhiều biện pháp. Nhưng biện pháp đầu tiên sẽ phải là: dân chủ hoá.

Chính quyền Việt Nam lúc nào cũng cố tìm cách trì hoãn quá trình dân chủ hoá với ba lý do chính: Một là do dân trí còn thấp, dân chúng không biết cách hành xử thích hợp khi được tự do; hai là cần giữ sự ổn định về chính trị để kinh tế được phát triển; và ba, chính trị trong nước cần ổn định và mạnh mẽ để đối phó với hiểm hoạ xâm lược từ Trung Quốc.

Ở đây, tôi chỉ tập trung vào lý do thứ ba vừa kể. Theo tôi, đó chỉ là một nguỵ biện. Sự thật không phải độc tài mà chính dân chủ mới bảo đảm độc lập và chủ quyền của Việt Nam trong thế trận đối đầu với Trung Quốc.

Khẳng định như thế, tôi có bốn lý do chính:

Thứ nhất, chỉ có dân chủ và cùng với nó, sự minh bạch của chính phủ cũng như sự tự do, trước hết là tự do ngôn luận, của dân chúng, mới bảo đảm tránh được những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền. Chúng ta dễ dàng thấy rõ điều này trong các chính sách kinh tế, xã hội, môi trường và giáo dục tại Việt Nam: Nhà nước cứ lẳng lặng làm, đến khi dân chúng phản đối, mới thú nhận là…sai sót. Trong lãnh vực quốc phòng cũng vậy. Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng như các cam kết khác của Việt Nam và Trung Quốc mà biểu hiện cụ thể nhất là các phương châm “4 tốt” và “16 chữ vàng” là những sai lầm tai hại, nhầm thù là bạn và gây nên sự mất cảnh giác không những của dân chúng mà còn của cán bộ các cấp trước những âm mưu xâm lấn hiểm độc của Trung Quốc. Ngay chính sách “ba không” (không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự; không tham gia liên minh; không liên minh với nước này để chống lại hay phá hoại nước khác) cũng là một chính sách dại dột bởi vì trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay không có nước nào thực sự cô lập, một nước nhỏ và yếu đang bị uy hiếp bởi một quốc gia giàu, lớn và mạnh hơn mình cả mấy chục lần lại càng không thể nào chọn thái độ tự cô lập, không liên minh với các quốc gia khác. Tuyên bố như thế chả khác gì đầu hàng hay tự trói tay mình trước trận đấu. Nếu Việt Nam có dân chủ và dân chúng có quyền góp ý, những sai lầm dại dột và tai hại ấy sẽ dễ dàng tránh khỏi.

Thứ hai, có dân chủ mới thực sự có sự thống nhất thực sự giữa chính quyền và nhân dân. Những sự thống nhất dưới một chế độ độc tài khi mọi người dân đều bị bịt miệng chỉ là một sự thống nhất giả. Cách đây mấy tháng, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thấy dân chúng ai cũng ghét Trung Quốc, ông “lo quá”. Cái “lo” ấy rõ ràng phản ánh sự khác biệt to lớn giữa lãnh đạo và quần chúng. Sự khác biệt ấy cho thấy hai điều: Một, về phía giới lãnh đạo, họ không hiểu dân hoặc hiểu, nhưng làm ngơ và tiếp tục hô những khẩu hiệu hoang đường về mối quan hệ môi hở răng lạnh với Trung Quốc; và hai, về phía dân chúng, họ nhìn giới lãnh đạo như những kẻ nhu nhược, bất lực, thậm chí, bán nước, và hậu quả là, người ta đồng loạt quay lưng lại chính quyền. Đến lúc chiến tranh bùng nổ thật, sự quay lưng ấy là một tai hoạ. Ngày xưa, đối diện với nguy cơ xâm lược của nhà Minh, Hồ Quý Ly hỏi ý kiến con trai về phương sách đánh giặc. Con trai ông, Hồ Nguyên Trừng, đáp: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Khi dân không theo chính quyền, cái gọi là thống nhất trong những vấn đề liên quan đến Trung Quốc chỉ là một ảo tưởng. Mà không chỉ có tình cảm của dân chúng đối với Trung Quốc. Trong vô số các vấn đề khác, kể cả vấn để then chốt nhất là sự lãnh đạo mặc nhiên và độc tôn của đảng Cộng sản, dân chúng cũng bất đồng với giới lãnh đạo. Chỉ có dân chủ mới cho phép dân chúng nói lên sự thật và cũng buộc giới lãnh đạo nói sự thật: Trên căn bản của những sự thật như thế, người ta mới có thể nói đến sự đồng tâm và thống nhất.

Thứ ba, chỉ có dân chủ mới giúp Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ của thế giới. Ai cũng biết một sự thật đơn giản: trong trận đối đầu với một nước lớn và mạnh như Trung Quốc, Việt Nam cần phải nhận được sự hỗ trợ của càng nhiều quốc gia trên thế giới bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhưng trong thời đại ngày nay, không có một quốc gia dân chủ nào lại muốn hỗ trợ một chế độ độc tài. Không ai có thể phủ nhận được thực tế là hình ảnh của Việt Nam trên thế giới rất xấu với những vụ đàn áp nhân quyền thường xuyên xuất hiện trên các cơ quan truyền thông quốc tế.

Thứ tư, còn độc tài, Việt Nam càng không thể tạo thành liên minh với các quốc gia Tây phương, đứng đầu là Mỹ. Muốn liên minh, người ta phải có những điểm chung. Cái chung về các quyền lợi trên Biển Đông chỉ là một. Người ta cần một điểm chung sâu sắc và căn bản hơn: điểm chung của các bảng giá trị. Đó chính là quyền làm người. Trước đây, Lý Quang Diệu từng biện minh cho các chính sách độc tài của ông tại Singapore bằng cách đề cao những bảng “giá trị Á châu” vốn được xem là khác biệt hẳn với các bảng giá trị ở Tây phương. Càng ngày người ta càng thấy đó chỉ là một sự nguỵ biện. Hiện nay, người ta xem nhân quyền và việc tôn trọng nhân quyền là những giá trị phổ quát của nhân loại. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi trong các cuộc đối thoại với Việt Nam, Mỹ cũng như các quốc gia Tây phương luôn luôn đề cập đến vấn đề nhân quyền. Họ xem việc tôn trọng nhân quyền là một điều kiện để ký kết các hiệp định thương mại. Đối với việc liên minh về quốc phòng, điều kiện ấy lại càng cần thiết hơn.

Có thể khẳng định: Sẽ không có nước nào sẵn sàng chung vai sát cánh với Việt Nam để đương đầu với Trung Quốc nếu Việt Nam cứ độc tài mãi.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nỗi bẽ bàng của ông vua không ngai họ Tập
Bùi Tín
(Blog VOA)

Ðầu Tháng Sáu vừa qua, mối quan hệ Mỹ-Trung bỗng nổi cơn sóng gió, gây xôn xao dư luận quốc tế.

Nhân vật nổi bật trong sự kiện thời sự chấn động này là ông Vương Kỳ Sơn, đương kim ủy viên thường vụ Bộ Chính Trị Ðảng CS Trung Quốc gồm 7 người, trên chóp bu của Bộ Chính Trị có 25 người, là cơ quan lãnh đạo cao nhất, nhóm vua tập thể của Ðảng CSTQ.

Vương Kỳ Sơn là ai? Theo giới báo chí Hồng Kông, tuy ông Vương đứng hàng thứ 6 trong số 7 ủy viên thường vụ Bộ Chính Trị, nhưng trên thực tế ông là nhân vật số 2, chỉ đứng sau Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước Tập Cận Bình.

Hiện ông là bí thư Ban Kiểm Tra Kỷ Luật của Trung ương Ðảng CSTQ, là cánh tay phải của ông Tập trong chiến dịch “diệt hổ đập ruồi” truy lùng tham nhũng ở Trung Quốc.

Ðã hơn 2 năm nay ông Vương lãnh đạo cơ quan có quyền lực không hạn chế nói trên. Cơ quan này có thể xông vào mọi nơi, bắt giam mọi công dân, xem xét mọi hồ sơ, điều tra và truy tố mọi nghi can, bất kể người đó là ai, “không có một ngoại lệ nào,” ngụ ý là kể cả ông Giang Trạch Dân, từng là nhân vật số 1 của Ðảng CS và được coi là bất khả xâm phạm trong hơn 10 năm trước đây.

Báo Hồng Kông kể rằng ông Vương đã sờ gáy hơn 20 vạn đảng viên quan chức, tất cả đều điêu đứng, đến độ có người kêu lên rằng “thà gặp con quỷ còn hơn là phải gặp lão Vương!” Ông Chu Vĩnh Khang, một cựu ủy viên Thường Vụ Bộ Chính Trị, trùm sỏ ngành dầu khí, rồi trùm sỏ ngành an ninh, hét ra lửa một thời, vừa bị kết án tù chung thân trong một phiên xử kín ở Thiên Tân.

Từ Tháng Năm, theo lệnh của ông Tập, Ðại Sứ Quán TQ ở Washington đặt vấn đề để ông Vương sẽ đến làm việc chính thức tại Hoa Kỳ với danh nghĩa là “phái viên đặc biệt của chủ tịch nước” trong tháng 7 tới, để giải quyết một loạt vấn đề quan trọng trong quan hệ 2 nước, cũng là chuẩn bị tốt cho chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của ông Tập đã được ấn định vào Tháng Chín năm nay.

Phía TQ dự trù những gì cho chuyến làm việc của ông Vương với phía Hoa Kỳ?

Có nhiều vấn đề cực kỳ hệ trọng. Theo dự đoán của giới báo chí Anh và Pháp, ông Vương sẽ yêu cầu phía Mỹ hỗ trợ đắc lực cho chiến dịch “diệt hổ, đập ruồi và săn cáo” đang được mở rộng để truy lùng số viên chức đảng viên CSTQ hiện đang trốn tránh với tài sản cực lớn trên đất Hoa Kỳ. Về chuyện này phía TQ đã trao cho phía Hoa Kỳ danh sách đen có 1,000 ngàn tên. Phía TQ hy vọng các cơ quan an ninh tình báo CIA, FBI, các cơ quan tư pháp, các ngân hàng Hoa Kỳ sẽ hợp tác với Ban Kiểm Tra Kỷ Luật của Trung Ương Ðảng CSTQ của ông Vương để truy lùng tội phạm, bổ sung hồ sơ, cung cấp và trao đổi tài liệu, thu hồi đến mức cao nhất tài sản bị thất thoát bởi các quan chức tham nhũng và thân nhân, bộ hạ của họ. Ðược biết số nghi phạm trốn chạy khỏi TQ đông đảo nhất là sang Hoa Kỳ, rồi đến Canada và Úc, tiếp nữa mới đến Tây Âu, Thụy Sĩ và Nga. Phía Trung Quốc hy vọng chuyến đi của ông Vương sẽ dẫn đến việc ký kết thỏa thuận hợp tác dẫn độ các nghi phạm hình sự giữa 2 nước, thỏa thuận mà Trung Quốc đã ký với 21 nước chủ yếu là các nước Châu Á, nhưng chưa ký với Hoa Kỳ, Canada, Úc và các nước Châu Âu. Trong chiến dịch “săn cáo” 6 tháng qua, đã có 500 nghi phạm bị giải về Trung Quốc với tài sản trên 3 tỷ đô la - đây chỉ là một con số nhỏ so với thực tế.

Phía Trung Quốc còn hy vọng rằng qua chuyến đi của ông Vương và qua chuyến đi của ông Tập sau đó, mối quan hệ giữa các cơ quan tình báo, an ninh, tòa án của 2 nước sẽ được cải tiến rõ rệt, giúp Trung Quốc nâng cao vị thế quốc tế của mình và có được nhiều nguồn thông tin quý hiếm và chuẩn xác mà Trung Quốc đang cần và Hoa Kỳ có thể đang biết rõ.

Mọi người đều biết Tháng Hai năm 2912, trùm công an Trùng Khánh là Vương Lập Quân đã chạy vào Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ xin cư trú chính trị, mang theo vô số tài liệu tuyệt mật và khai báo không biết bao nhiêu điều cơ mật cho phía Hoa Kỳ, đặc biệt là những tin tức về thâm cung bí sử Bắc Kinh trong 20 năm qua, liên qua đến các phe nhóm của Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, Tăng Khánh Hồng, Từ Tài Hậu, Giang Trạch Dân. Vương bị phía Hoa Kỳ trao cho TQ. Theo báo Anh Financial Times (2/6), chính Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden đã giao tận tay Tập Cận Bình một số tài liệu do Vương Lập Quân nộp tại lãnh sự quán Hoa Kỳ. Theo dư luận Hồng Kông, chắc phía Hoa Kỳ còn giữ lại một số tài liệu hê trọng, vì mối quan hệ Mỹ-Trung chưa đạt đến độ thân hữu.

Báo Hồng Kông Phượng Hoàng (7/6) còn nêu lên tên một nhân vật bí hiểm hiện nay mà ông Vương đang truy lùng, đó là Lệnh Hoàn Thành, em ruột của Lệnh Kế Hoạch nguyên chánh văn phòng của TƯ Ðảng CS TQ, tay chân thân tín nhất của cánh Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, Giang Trạch Dân. Lệnh Kế Hoạch đã bị bắt. Lệnh Hoàn Thành được biết hiện đã thay tên đổi họ, trốn tránh ở đâu đó trên đất Hoa Kỳ, với rất nhiều tài liệu chính trị tuyêt mật, tài sản khủng, vô giá. Có nhiều khả năng phía Hoa Kỳ không thể thả lỏng cho nhân vật này, nhưng hiện họ chỉ nói rằng “không biết gì về nhân vật này có còn trên đất Mỹ hay không.”

Ðùng một cái, đầu Tháng Sáu, các báo Anh và Hồng Kông vừa kể cũng như báo Pháp le Monde (4/6) và Want China Times (8/6) của Ðài Loan cùng cho biết chuyến đi làm việc ở Hoa Kỳ của ông Vương “không thành, bị hoãn không thời hạn, có thể bị hủy bỏ.” Bắc Kinh cố làm ra vẻ không có gì quan trọng, nhưng các báo quốc tế đều lên tiếng bình luận. Báo Pháp Le Monde cho rằng phía Mỹ đã có nhiều phản ứng bất lợi cho chuyến đi Hoa Kỳ của ông Vương Kỳ Sơn. Trước hết ông Vương không có một chức vụ gì trong chính quyền nhà nước. Phía Mỹ không có một quan chức nào tương đương để tiếp và làm việc đúng nghi thức và luật pháp. Ông ta chỉ đại diện cho Ðảng CS, một đảng độc quyền chính trị, phản dân chủ. Hơn nữa những chiến dịch chống tham nhũng không có cơ sở luật pháp nghiêm minh, dân chủ, chỉ là phe cánh đấu đá tranh quyền, dưới chiêu bài “chống tham nhũng.” Các cuộc điều tra, truy tố, xử án đều mù mờ, không có luật sư, không có báo chí tự do, không có quan sát quốc tế. Cái gọi là Ban Kiểm tra Kỷ luật của Trung ương Ðảng CSTQ chỉ là một tổ chức “đảng trị,” mang tính chất cưỡng bức, độc đoán, đứng trên luật pháp, không phản ánh lòng dân và cán cân công lý. Ngay việc xử ông Chu Vĩnh Khang cũng không công khai, không luật sư bào chữa, không một nhà báo quốc tế nào tham dự, với lời kết tội đã cùng bộ hạ tham nhũng 14 tỷ đô la, cũng khó tin được là chuẩn xác.

Ông Tập Cận Bình bị một cú bẽ bàng quốc tế, bị nhận diện là một ông vua CS không ngai, tự cho mình và cánh tay phải họ Vương có quyền sinh sát tùy tiện mọi thần dân trong một triều đình lạc lõng. Chiến dịch chống tham nhũng ầm ỹ được quảng cáo om sòm, bị một đòn quốc tế khá đau.

Báo Anh và báo Pháp còn cho rằng những nhân vật mang bản chất “đảng trị” như ông Vương, hoặc như các quan chức cầm đầu các cơ quan đàn áp khác của Ðảng CSTQ như Ban Kiểm Tra Kỷ Luật của Trung Ương Ðảng, chánh án Tòa án TƯ, bộ trưởng Tư Pháp do Ðảng CS cử ra trong bộ máy toàn trị đều là những người chà đạp luật pháp, đàn áp người lương thiện, phải bị coi là những “nhân vật không được hoan ngênh” (persona non grata), có tên trong danh sách đen, phải bị tẩy chay không cho nhập cảnh vào các nước dân chủ-pháp quyền. Ðó là những bàn tay nhuốm máu người dân lương thiện, nhuốm máu những chiến sĩ dân chủ trong nước, thế giới dân chủ không thể bắt tay họ, kết bạn, hợp tác với họ.

Nhân câu chuyện ông Vương Kỳ Sơn bị lỡ chuyến tàu bay đi Washington và ông Tập Cận Bình bị một cú bẽ bàng tủi hổ này, cũng xin nhắn về Hà Nội để các ông Trưởng Ban Kiểm Tra TƯ Ðảng Ngô Văn Dụ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Trương Hòa Bình, Bộ Trưởng Tư Pháp Hà Hùng Cường, hay cả Trưởng Ban Tuyên Giáo Ðinh Thế Huynh - nhân vật nhà báo đi đầu trong công tác chống tự do ngôn luận, xin quý ông chớ tính chuyện đi sang thăm hay làm việc tại các nước dân chủ, vì tên các vị có thể đã nằm trong danh sách đen những nhân vật “nổi tiếng về đảng quyền,” chống nhân quyền và dân quyền, những bàn tay không sạch sẽ, ở Pháp người ta gọi là “les gens sans foi - ni loi” - những kẻ vô đạo đứng ngoài luật pháp, lưu manh chính trị, không ai trong thế giới dân chủ muốn bắt tay, kết bạn. Cộng đồng người Việt biết rõ những bàn tay nhơ bẩn ấy.

Nỗi bẽ bàng của 2 ông Vương và Tập rất đáng để các ông trên đây suy ngẫm.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Báo chí Việt Nam: Mẹ hát con khen hay

Bùi Tín

(Nguồn: VOA)[

Ngày 21 tháng 6 năm nay, ở trong nước ngành tuyên huấn làm om sòm về kỷ niệm chẵn 90 năm “Ngày Báo Chí Cách Mạng.”
Có một cuộc họp lớn bao gồm nhiều nhà báo kỳ cựu, được gọi là các nhà báo lão thành.

Nhìn trên ảnh, thì ra toàn các cụ đồng nghiệp, đồng chí cũ của tôi. Họ nói những gì? Thì ra toàn là chung giọng điệu cổ lỗ,
ca ngợi báo Đảng Cộng Sản, tâng bốc nhau, một chiều, mẹ hát con khen hay, đến phát ngấy. Thật đáng thương hại.

Image
Việt Nam có hàng trăm tờ báo nhưng đều do Đảng Cộng Sản
kiểm soát toàn bộ. (Hình: Getty Images)

Năm 1985, nhân kỷ niệm chẵn 60 năm ngày 21 tháng 6, Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản hồi ấy ra quyết định “từ nay gọi Ngày 21 tháng 6 là “Ngày Báo Chí Việt Nam, không gọi là Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam nữa,” để tỏ rõ ở ta chỉ có một nền báo chí do Đảng Cộng Sản lãnh đạo. Vậy mà bỗng nhiên năm nay người ta lại làm rùm beng trở lại về “Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam.” Đúng là cái lưỡi Cộng Sản, nói xuôi, nói ngược, nói lời lại nuốt lấy lời như chơi. Cái lưỡi báo chí Cộng Sản là thế, hay thật!

Báo chí cách mạng. Nhưng cách mạng là gì? Là thay đổi tận gốc, là đổi đời.

Nhưng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mà không có tự do công dân, không có tự do bầu cử, không có báo chí tự do, tất cả chỉ là bánh vẽ, Quốc hội hơn 90% là Đảng Viên Cộng Sản, là Đảng Hội, vậy Cách Mạng ở cái chỗ nào?

Thật ra hiện nay, hơn 30 mạng thông tin tự do, hơn 30 bloggers trẻ khỏe, năng động, Tuần Báo Việt Nam của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam... mới thật là báo chí của dân, do dân, vì dân, là báo chí cách mạng thứ thiệt, được quần chúng tín nhiệm, tin cậy, coi là của mình, dám chiếm ngôi trên báo đảng.

Các bạn cũ của tôi ở trong nước, những người đã thoát đảng hay chưa thoát đảng, đều cho biết sáng dậy mở máy vi tính là đọc các mạng lề trái trước hết vì đó là nguồn thông tin thật nhất, mới mẻ, bổ ích nhất. Tuyệt!

Đã từ lâu báo Đảng CSVN ế ẩm trên thị trường, nằm mốc meo, vàng khè trên các sạp báo. Báo đảng chủ yếu là phát không cho các chi bộ, các cơ quan hành chính, các trường học, thư viện, tủ sách; công dụng xã hội thực sự là để gói đồ, gói hàng khi ra phố, đi chợ, để trải ra làm chiếu khi chè chén liên hoan. Một công dụng rất phổ biến nữa là để phục vụ vệ sinh cá nhân. Điều này ai cũng biết, không tiện nói ra, nhưng là rất thật.

Mỗi nhà báo Việt Nam cũng là một nhà báo quốc tế, một công dân của thế giới. Vậy nên biết Ngày báo chí của mình thật sự là ngày 3 tháng 5 hằng năm, được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 20 tháng 12, 1993, mang tên Ngày Tự Do Báo chí Quốc tế 3 tháng 5.

Hằng năm cứ vào dịp này, tổ chức phóng viên không biên giới lại tổ chức Hội Thảo Quốc Tế về tự do báo chí. Theo dõi các cuộc hội thảo bổ ích ấy, rất lý thú là hội thảo năm 1998 ở London (Anh) về tự do báo chí là hòn đá tảng của quyền con người; hội thảo năm 2010 tại Brisbane (Úc) về tự do thông tin: Quyền được biết; và hội thảo năm 2012 tại Tunis (Tunisia) về tự do báo chí giúp cho các xã hội chuyển hoá. Rất thiết thực.

Trong đúng 50 năm làm báo của tôi, điều sâu sắc nhất tôi nghiệm ra là: không có gì mang bản sắc cá nhân hơn là một bài báo. Mỗi bài báo nói lên hiểu biết tự nhiên và xã hội, lương tâm, trách nhiệm, ý chí của người viết ra nó, không trốn tránh, che dấu được. Bài báo mang chữ ký, mang tên của người tạo ra nó, không bao giờ thiếu được. Do đó mỗi người làm báo cần tạo cho mình một dấu ấn cá nhân, một phong cách, một ngòi bút riêng tư không trộn lẫn vào đâu được. Một bài báo cũng là một sản phẩm của tư duy khoa học và của sáng tạo nghệ thuật. Không thể có 2 người viết một bài báo giống y hệt nhau. Mỗi nhà báo là một công dân độc lập, tự do, đơn độc.

Không gì sai lầm tệ hại hơn là xâm phạm quyền sáng tạo cá nhân của nhà báo, tự cho mình có quyền sửa chữa, xóa bỏ, thêm bớt tùy tiện sản phẩm báo chí của người khác. Mọi nhà báo là bình đẳng. Cái sai lầm kinh khủng của báo chí Cộng Sản là phân chia nhà báo tập sự, nhà báo sơ cấp, nhà báo trung cấp, nhà báo cao cấp, mỗi bài báo phải qua xét duyệt 4 đến 5 cấp. Ở báo quân đội Cộng Sản, anh nhà báo thiếu úy phải đưa bài cho anh nhà báo đại úy duyệt qua, rồi đến cấp trung tá duyệt và cấp đại tá duyệt cuối cùng.

Đó là cái căn bệnh sùng bái tập thể. “Tập thể bao giờ cũng sáng suốt hơn cá nhân,” nhiều khi ngăn chận, bóp chết những tài năng cá nhân. Cuối cùng các nhà báo Cộng Sản phải viết theo công thức chết, bao giờ các “cuộc họp của đảng cũng thành công mỹ mãn hay rực rỡ,” bao giờ ta cũng “thắng lợi vẻ vang, vang dội, hoàn toàn,” kẻ địch cũng “thua to, thất bại nhục nhã,” bao giờ bài về kỷ niệm cũng bắt đầu là “trong không khí hân hoan phấn khởi của toàn dân và toàn quân,” bao giờ “sự lãnh đạo của đảng cũng anh minh, tài tình và sáng tạo.”

Cái hệ thống quan liêu trong báo chí Cộng Sản thật khủng khiếp, phải nói là rùng rợn. Nhà báo Cộng Sản trung ương đứng trên nhà báo địa phương, thành tỉnh, quận huyện. Nhà báo Cộng Sản Liên Xô, Trung Quốc được coi là cấp trên nhà báo các nước đàn em, chư hầu. Tôi đã làm việc với họ ở Moscow, Bắc Kinh, Paris và Liên Hiệp Quốc ở New York. Họ quan dạng, kiểu cách. Tổng biên tập của họ trong Ban Bí Thư TƯ, có khi trong Bộ Chính Trị, coi nhà báo bộ hạ, đàn em như tôm tép. Báo Đảng Cộng Sản Pháp cũng theo đẳng cấp, quan dạng như thế, phân biệt các cấp bậc khách từ ghế ngồi to, nhỏ, trên dưới, phòng nghỉ, phụ cấp, xe đi, giải trí, tiếp đãi, xưng hô, còn quá thời phong kiến.

Không gì khổ, nhục bằng là nhà báo tập thể Cộng Sản, phải để cho các cấp xét duyệt, cắt xén, bắt bẻ tác phẩm con đẻ mang nặng đẻ đau của mình.Không gì sướng bằng là nhà báo tự do thời thông tin mạng, tha hồ học hỏi, tra cứu, tham khảo mọi nguồn. Bài viết xong, đưa lên mạng, có ngay hàng chục, có khi hàng trăm phản hồi, nhận xét, góp ý, tâm đầu ý hợp, cứ như được trò chuyện một lúc với trăm, ngàn bạn đọc ở khắp nơi. Sướng, khoái thật!

Tôi cảm thấy hạnh phúc được là nhà báo tự do hơn 25 năm nay. Tôi trẻ ra, khỏe ra nhờ cái số, vận may là nhà báo tự do. Các bạn thân nhất của tôi là các bạn nhà báo Việt Nam cũ và mới, rất đông đảo; là các nhà báo Pháp, Anh, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Nga... Nếu như được sống lại đời sau tôi cũng sẽ chọn cái nghề làm báo tự do. Và cũng sẽ không bao giờ là nhà báo tập thể của Cộng Sản, tôi ớn sợ đến tột đỉnh rồi.

Nhân ngày 21 tháng 6, xin gửi các nhà báo trẻ tự do của Việt Nam vài cảm nghĩ tản mạn thân thiết.

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Tổng thống Mỹ yêu cầu Trung Quốc làm giảm căng thẳng trên Biển Đông
Thursday, June 25, 2015 3:13:03 PM

WASHINGTON 25-6 (NV) .- Tổng thống Barack Obama nêu quan ngại của Mỹ về các vụ tin tặc liên quan đến nhà cầm quyền Trung Quốc
đánh cắp dữ liệu của chính phủ, các công ty Mỹ và các hành vi ngang ngược trên biển.

Image
Tổng thống Mỹ Barack Obama tiếp phái đoàn Trung Quốc tham gia 'Đối thoại Chiến lược Kinh tế Mỹ-Trung' tại Washington ngày 24/06/2015.
(Hình: AFP/Getty Images)
Buổi chiều ngày Thứ Tư 24/6/2015, tổng thống Barack Obama thúc giục Trung Quốc hãy có các hành động cụ thể làm giảm các căng thẳng trên biển Hoa Đông cũng như Biển Đông khi ông tiếp phái đoàn cao cấp Trung Quốc ở Tòa Bạch Ốc.

Phái đoàn Trung Quốc gồm hai phó thủ tướng Uông Dương và Lưu Diên Đông cùng Ủy viên Quốc Vụ Viện Dương Khiết Trì đến Hoa Thịnh Đốn dự “Đối thoại kinh tế và chiến lược Mỹ-Trung”.

Trước khi được tổng thống Obama tiếp, theo tin tức tường thuật, phái đoàn chính quyền Trung Quốc đã nghe nhiều lời chỉ trích từ phía Hoa kỳ về các vấn đề từ tin tặc đánh cắp dữ liệu đến ngang ngược trên biển, gồm cả hai vùng Hoa Đông và Biển Đông trong các cuộc đối thoại.

Đối thoại kinh tế và chiến lược Mỹ-Trung diễn ra đúng lúc có cuộc tập trận thường niên CARAT giữa các lực lương Mỹ và Phi Luật Tân diễn ra tại một khu vực phía tây đảo Palawan, cách Bãi Cỏ Rong mà Trung Quốc đang chiếm giữ chừng 85 hải lý. Cũng trong dịp này có các chuyến bay tập huấn tuần tra chung giữa phi cơ của hải quân Nhật và Hải quân Phi Luật Tân trong nhu cầu cứu nạn trên biển.

Theo tin của thông tấn Reuters, các cuộc họp Mỹ-Trung vào các ngày 22 đến 24-6-2015 đã không thu hẹp các bất đồng ý kiến về tin tặc và căng thẳng Biển Đông. Trong cuộc họp báo sau cuộc đối thoại, Ngoại trưởng John Kerry lập lại quan điểm Hoa Kỳ muốn duy trì quyền tự do giao thông trên biển và trên không ở vùng Biển Đông.

Ông Kerry bày tỏ lo ngại Bắc Kinh có thể có kế hoạch thành lập một vùng cấm chung quanh các đảo nhân tạo đang được Trung Quốc xây dựng ở trong vùng biển Trường Sa như họ đã từng làm tại khu vực biển Hoa Đông, nơi đang tranh chấp quần đảo Senkaku với Nhật Bản.

Trong cuộc họp báo, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì, người điều hành chính sách ngoại giao của Bắc Kinh, lập lại điều Bắc Kinh vẫn tuyên bố là Trung Quốc «cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia». Đồng thời ông này kêu gọi Hoa Kỳ nên có thái độ « công bằng và khách quan » về chuyện tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông.

Theo báo tài chính Wall Street Journal, cuộc đối thoại Mỹ – Trung diễn ra trong sự nghi kỵ lẫn nhau giữa hai bên. Phía Mỹ lên án các vụ tấn công trên mạng nhắm vào hàng triệu công nhân viên chức và các doanh nghiệp Mỹ mà báo chí Mỹ dựa vào một số nguồn tin cáo buộc có bàn tay của nhà cầm quyền Bắc Kinh ở đằng sau.

Tuy không trực tiếp lên án Bắc Kinh, nhưng Ngoại trưởng Kerry nói tới những «thiệt hại nghiêm trọng” đối với kinh tế Mỹ do các vụ xâm nhập bất hợp pháp vào máy tính cá nhân hay đánh cắp thông tin gây nên.

Tin tức cho hay Bộ trưởng Tài chính Jacob Lew trong cuộc họp hôm 23/06/2015 không vòng vo khi cho rằng Bắc Kinh đã đứng đằng sau các vụ « đánh cắp thông tin từ lĩnh vực kinh tế đến tin học và cả các dữ liệu mật » của các tập đoàn Hoa Kỳ. Trong khi đó ông Dương Khiết Trì nhắc nhở phía đối tác Hoa Kỳ nên «căn cứ vào những sự việc cụ thể».

Theo hãng thông tấn AFP, cả phía Mỹ và Bắc Kinh đều nhìn nhận có những bất đồng và khác biệt. Dù vậy họ cho rằng sẽ cố gắng cải thiện và tránh đối đầu trong các vấn đề bất đồng đó, kể cả an ninh mạng và tự do hàng hải. (TN)

Post Reply