Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Thủ Tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường có thể bị loại

Hà Tường Cát

/Người Việt (tổng hợp)


Nhiều giới chức lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc cho rằng Thủ tướng Lý Khắc Cường là người phải nhận sự phê phán về thảm trạng kinh tế hiện nay.

Image
Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường (phải) tiếp Chủ tịch Ủy Hội Thế Vận Quốc Tế Thomas Bach tại điện Trung Nam Hải, trong dịp Bach
đến quan sát giải Vô Địch Điền Kinh Thế Giới IAAF lần thứ 15 tổ chức ở Bắc Kinh từ 22 đến 30 tháng 8, 2015. (Hình: Rolex Dela Pena/Getty Images)





Willy Lam, chuyên gia chính trị Trung Quốc tại đại học Hong Kong, nói với tờ Financial Times: “Nếu tình trạng xấu thêm và nếu như Chủ tịch Tập Cận Bình tới một lúc nào đó cần có một kẻ giơ đầu chịu báng (hay con dê tế thần) thì Lý chính là người thích hợp.

George Magnus, chuyên gia tư vấn và phân tích gia kinh tế đặc trách về Trung Quốc của UBS, cho rằng Lý Khắc Cường có nguy cơ bị loại hơn là chỉ phải gạt qua bên.

Theo nhận định của các quan sát viên, trong số các giới chức lãnh đạo, Thủ tướng Lý Khắc Cường có trách nhiệm chính trong sự suy sụp ở thị trường chứng khoán và trì trệ phát triển kinh tế. Như thế vị trí bấp bênh của ông trong tương lai không phải là điều khó hiểu.

Đầu tháng 7, Lý và Phó thủ tướng Mã Khải đã đưa ra một số biện pháp khẩn cấp nhằm giải nguy thị trường chứng khoán. Trong những biện pháp này có việc cấm các đại công ty cùng những nhà đầu tư lớn bán các chứng khoán đang giữ, không phát hành chứng khoán mới và các cơ quan quốc doanh mua vào khoảng $200 tỷ cổ phiếu. Biện pháp này không có hiệu quả, chỉ nâng giá chứng khoán lên chút ít trong một thời gian ngắn rồi sau đó chúng khoán tiếp tục rớt với một mức nặng nề hơn. Kế hoạch của ông Lý bị hủy bỏ.

Tuy nhiên, theo tờ International Business Times, dù Lý Khắc Cường bị chỉ trích về khả năng đối phó với khủng hoảng, sự thay thế ông có thể còn tai hại hơn, cho uy tín của đảng và sự tin cậy đối với nền kinh tế tài chính Trung Quốc mà ông ta đã cố gắng duy trì. Do đó người ta tin rằng, mặc dầu được coi là một thủ tướng yếu nhất qua nhiều thập kỷ, Lý Khắc Cường vẫn có thể được ở lại vị trí hết nhiệm kỳ 5 năm cho tới đại hội đảng 2017.

Vai trò mờ nhạt của Lý Khắc Cường một phần cũng là do chủ trương tích cực tập trung quyền lực trong tay mình của Chủ tịch Tập Cận Bình. Tập cho thành lập và điều khiển hơn một chục “nhóm lãnh đạo nhỏ” giám sát đường lối chính sách về mọi vấn đề, từ đổi mới quân đội cho tới cải tổ đội tuyển bóng đá quốc gia đã mang nhiều tai tiếng. Những nhóm lãnh đạo này trong nhiều trường hợp vượt quyền lực của các cơ chế chính quyền.

Hối tháng 7 khi kế hoạch cứu nguy thị trường được đưa ra, báo chí truyên thông nhà nước đưa tin Thủ tướng Lý nói là kinh tế vẫn vững mạnh và trên đường tiến triển khả quan, ông không nói gì về thị trường chứng khoán. Đầu tuần này khi chì số kinh tế rớt 8.5% điểm chuẩn, nặng nhất kể từ 2007, người ta chỉ thấy ông Lý nói về nhu cầu phát triển kỹ nghệ máy in ba chiều (3D printing) của Trung Quốc. Người ta cũng phê bình ông về phản ứng chậm trễ trong tai nạn nổ ở Thiên Tân, bốn ngày sau ông mới đến thăm thành phố chỉ cách xa Bắc Kinh không quá 100 dặm.

Trong một thông báo đưa ra hôm Thứ Tư, Thủ tướng Lý Khắc Cường nói rằng tình hình kinh tế toàn cầu đang hỗn loạn phức tạp, nhưng Trung Quốc vẫn trong thế ổn định và chính quyền còn có thể dùng nhiều phương cách để hoàn thành các mục tiêu đã định.

Wiliam Lam của đại học Hong Kong nhận định: “Ở các quốc gia khác khi xảy ra khủng hoảng, ngưới ta thường thấy các quan chức hàng đầu phải lên tiếng ngay để trấn an dân chúng. Nhưng từ tháng 7, chưa có một lãnh đạo cấp cao nào ở Trung Quốc đứng ra giải thích về tình hình hay về điều gì chính phủ định làm. Do đó mà có nhiều đồn đại về sự chia rẽ ở thượng đỉnh lãnh đạo”.

Lý Khắc Cường từng được xem là ứng viên có thể thay thế Hồ Cẩm Đào, trước khi Tập Cận Bình giành được vị trí ấy năm 2012 và chỉ định Lý làm nhân vật số 2 trong chính phủ Trung Quốc.

Những giới am hiểu về nội tình đảng Cộng Sản Trung Quốc nói rằng Lý Khắc Cường là thành viên chủ đạo trong một nhóm của Hồ có tên là Liên Đoàn Giới Trẻ Cộng Sản. Nhưng một thành viên quan trọng trong nhóm đó, Lệnh Kế Hoạch, cố vấn chính trị cao cấp của Hồ và phụ tá của Lý, bị cách chức cuối năm 2012. Tập Cận Bình ra lệnh bắt giữ Lệnh đầu năm nay về tội danh tham nhũng và lạm quyền.

Kerry Brown, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc của đại học Sydney nói: “Luôn luôn có những tin đồn về việc Thủ tướng Lý Khắc Cường bị đá khỏi chức vụ. Nhưng vì ông ta giữ một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất, cho nên sẽ rất là rủi ro nếu thay thế vào thời điểm này và có lẽ nên chờ đến kỳ đại hội 2017”.

Lý Khắc Cường, 60 tuổi, sinh năm 1955 ở tỉnh An Huy và tốt nghiệp đại học Bắc Kinh. Trước đó trong thời Cách Mạng Văn Hóa, Lý là nông dân. Ông là quan chức cao cấp duy nhất của Trung Quốc đắc cử trong một cuộc bầu cử tự do – chủ tịch tổng hội sinh viên trướng đại học Bắc Kinh.

Năm 1990, Lý Khắc Cường được chỉ định làm chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam, tới 2004 là bí thư tỉnh ủy Liêu Ninh. Năm 2007 làm Phó thủ tướng thời Thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Ngay sau khi nhận chức Thủ tướng Trung Quốc tháng 3 năm 2013; Lý Khắc Cường công bố kế hoạch cải tổ hành chánh, và năm 2014 loan báo “chiến dịch chống ô nhiễm”.

Thủ tướng là vị trí hành chính cao nhất trong chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Nhưng sự phân quyền đôi khi không rõ rệt lắm như trường hợp hiện nay với Tập Cận Bình là Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước. Trên nguyên tắc, thủ tướng trách nhiệm về mặt kỹ thuật trong khi chủ tịch nước trách nhiệm về mặt chính sách. Thủ tướng không có quyền lực với Quân Đội Nhân Dân, nhưng năm 1989 Thủ tướng Lý Bằng hợp tác với Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình, có thể ban hành quân luật và ra lệnh đàn áp phong trào biểu tình ở Thiên An Môn. Từ 1983, mỗi thủ tướng có 4 phó thủ tướng phụ giúp. (HC)

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

70 năm sau Cách Mạng Tháng Tám
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)

Ðầu tháng 9 này, chắc chắn giới lãnh đạo và giới truyền thông Việt Nam sẽ làm ầm ĩ về những thành tựu họ đã đạt được trong suốt 70 năm kể từ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945. Nhân dịp này, chúng ta cũng nên nhìn lại vấn đề công và tội của đảng Cộng Sản đối với đất nước.

Công lớn nhất và đáng kể nhất của đảng Cộng Sản là cuộc kháng chiến chống Pháp, kéo dài 9 năm, kết thúc với trận đánh oanh liệt tại Ðiện Biên Phủ vào năm 1954, chấm dứt ách đô hộ kéo dài gần một thế kỷ của thực dân Pháp. Dĩ nhiên, người ta có thể cho đó là thành tích của cả dân tộc chứ không hẳn của riêng đảng Cộng Sản. Người ta cũng có thể phản biện lại: ngay trong điều gọi là công trạng này đã có mầm mống của tội ác qua việc đảng Cộng Sản loại trừ những người yêu nước không phải cộng sản hoặc chống lại cộng sản. Tuy vậy, nhìn chung, chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản trong việc mang lại độc lập cho Việt Nam.

Ðiều đáng tiếc là công trạng vừa nêu cũng là công trạng duy nhất mà đảng Cộng Sản đã mang lại cho đất nước. Kể từ trận Ðiện Biên Phủ trở đi, với tư cách đảng cầm quyền độc tôn ở miền Bắc, và sau đó, kể từ năm 1975, trong cả nước, đảng Cộng Sản vấp phải hết sai lầm này đến sai lầm khác, sai lầm nào cũng đẫm máu, và vì tính chất đẫm máu ấy, sai lầm biến thành tội ác.

Trước hết, đảng Cộng Sản hoàn toàn sai lầm trong việc gây ra cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm ở miền Nam. Ðã đành mục tiêu khá chính đáng: thống nhất đất nước. Nhưng, như lịch sử gần đây chứng minh, để thống nhất đất nước, người ta không nhất thiết phải chọn biện pháp chiến tranh. Ðông Ðức và Tây Ðức, sau mấy chục năm phân hóa, đã được thống nhất một cách hòa bình. Nam Hàn và Bắc Hàn không may mắn như vậy, cho đến nay, vẫn còn chia cắt, nhưng sự chia cắt ấy cũng không phải là một bất hạnh bởi vì ít nhất một nửa nước, Nam Hàn, cũng được sống một cách sung sướng và đầy tự hào với nền kinh tế phát triển vượt bực. Ðảng Cộng Sản Việt Nam, do thiếu kiên nhẫn và phần nào, cũng do hiếu chiến, đã chọn biện pháp bạo lực để thống nhất đất nước, dẫn đến hậu quả là một cuộc chiến tranh kéo dài với khoảng ba triệu người, ở cả hai miền, bị giết chết một cách thảm khốc và những chấn thương trong tâm lý, cho đến bây giờ, bốn mươi năm sau, vẫn còn khiến nhiều người nhức nhối.

Sau năm 1975, khi chiến tranh kết thúc, đảng Cộng Sản lại vấp phải một sai lầm nghiêm trọng khác: Thay vì hòa hợp và hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù, hàn gắn các vết thương do cuộc chiến tranh kéo dài mang lại để mọi người an tâm xây dựng lại đất nước, họ lại lập ra các trại cải tạo để giam nhốt và hành hạ những người thuộc phe thua cuộc, hơn nữa, còn có những chính sách kỳ thị nặng nề đối với dân chúng miền Nam, khiến cho đến nay, bốn mười năm sau, các vết thương chia rẽ vẫn còn sâu hoắm.

Có thể kể thêm vô số các sai lầm khác của đảng Cộng Sản, trong đó, nổi bật nhất là các chính sách cải cách ruộng đất làm cả chục ngàn người bị chết, các chính sách chống xét lại đẩy hàng ngàn người vào cảnh tù đày, các chính sách đánh tư sản mại bản và ép dân đi kinh tế mới khiến hàng chục ngàn người lâm vào cảnh khốn cùng. Tuy nhiên, hai sai lầm và cũng là tội ác lớn nhất của đảng Cộng Sản là: Một, làm nền kinh tế Việt Nam ngày càng kiệt quệ và hai, làm băng hoại nền văn hóa truyền thống của Việt Nam.

Trước hết, về kinh tế, hầu như ai cũng biết, vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, kinh tế Việt Nam, đặc biệt ở miền Nam, khá cao so với các quốc gia trong khu vực. Dạo ấy, Sài Gòn vẫn được xem là “hòn ngọc Viễn Ðông,” niềm mơ ước của nhiều quốc gia khác. Vài năm sau 1975, khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới. Hiện nay, tình trạng khá hơn một chút, nhưng Việt Nam vẫn chỉ thuộc quốc gia có thu nhập vào loại trung bình thấp.

Mới đây, trong cuộc hội thảo về kinh tế do Bộ Kế Hoạch và Ðầu Tư Việt Nam tổ chức vào ngày 28 tháng 8, các chuyên gia đều thừa nhận Việt Nam thua kém hẳn các quốc gia khác ở Châu Á. Với thu nhập bình quân trên đầu người khoảng 2000 Mỹ kim hiện nay, Việt Nam chỉ bằng Philippines năm 2010, Indonesia năm 2008, Thái Lan năm 1993, Malaysia năm 1988 và Hàn Quốc năm 1982. Nói cách khác, “GDP bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi so với Hàn Quốc khoảng 30-35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái Lan khoảng 20 năm, Indonesia và Philippines khoảng 5-7 năm.” Người ta cũng tiên đoán nếu mức phát triển kinh tế hiện nay không được cải thiện, khoảng cách nêu trên sẽ càng ngày càng lớn. Hơn nữa, Việt Nam còn có nguy cơ bị Campuchia và Lào qua mặt.

Chuyện kinh tế và phát triển rất dễ thấy, tuy nhiên, theo tôi, lầm lẫn - đúng hơn, tội ác - nghiêm trọng nhất của đảng Cộng Sản là phá hoại văn hóa Việt Nam, một yếu tố trừu tượng và mơ hồ, khó nhận biết, nhưng có ảnh hưởng sâu sắc đến cách sống cũng như quan hệ giữa người với người. Các cuộc đấu tố trong cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 1950 làm phá nát quan hệ hàng xóm vốn là một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc. Các cuộc phê bình và tự phê bình làm cho không ai còn tin ai được nữa. Các nỗ lực phá hoại sự hình thành của xã hội dân sự làm cho con người càng ngày càng trở thành vô cảm trước những nỗi đau khổ của người khác. Các hành động trấn áp những người yêu nước, đặc biệt trong các phong trào chống Trung Quốc, khiến mọi người đâm ra dửng dưng trước số phận của đất nước. Hậu quả của tất cả của những điều vừa kể là con người càng ngày càng trở nên ích kỷ, và hậu quả của sự ích kỷ này là con người càng ngày càng độc ác hơn. Không phải ngẫu nhiên mà các tội ác trong xã hội càng lúc càng trở thành phổ biến.

Những sự tụt hậu về kinh tế có thể được khắc phục nếu không phải trong vài năm thì cũng vài chục năm, nhưng những sự đổ vỡ trong văn hóa và đặc biệt trong đạo đức và quan hệ giữa người với người thì rất khó hàn gắn và để lại rất nhiều di hại, làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế cũng như tiến trình dân chủ hóa của đất nước. Hơn nữa, nó cũng ảnh hưởng cả đến những nỗ lực chống lại các âm mưu bành trướng của Trung Quốc. Ðó mới chính là điều đáng lo sợ nhất.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Mỹ: Tăng Cường Quân Lực Ở Biển Đông Để Chống TC

Vi Anh

Bộ Quốc Phòng Mỹ vừa mới công bố Chiến lược An ninh Hàng hải vùng Á Châu-Thái Bình Dương. Chiến lược mới, tích cực tiến tới gồm 3 mục tiêu: “bảo vệ tự do hàng hải, răn đe xung đột và các hành vi cưỡng bức, và cổ vũ cho việc tôn trọng luật pháp và các chuẩn mực quốc tế". Không còn cái kiểu lơ lững con cá vàng, tỏ ra vô tư, trung lập, không đứng về phía bên nào trong các tranh chấp biển đảo của các nước nữa.

Giáo sư Andrew Erickson, thuộc Trường Hải Chiến Mỹ (US Naval War College) đã phân tích kỹ trên báo Wall Street Journal 24/08/2015, cho đó là một bước tích cực của Mỹ, nhưng không đủ sức ngăn chận dã tâm của TC. Theo Ông, ưu điểm của chiến lược mới này, là Mỹ nói lên rõ tầm quan trọng các con đường hàng hải quốc tế, đặc biệt tại Ấn Độ Dương, Biển Đông và Biển Hoa Đông đối với các lợi ích của Mỹ. Mỹ dẫn chứng rõ ràng và cụ thể bằng tài liệu cho các nước thấy những tiến bộ vượt bực của Hải quân TC có thể gây bất ổn trong vùng biển Á châu Thái binh dương. Tiêu biểu như TC hiện có nhiều tàu nhất Châu Á, với 303 tàu chiến các loại, hoàn toàn áp đảo 202 tàu chiến cộng lại của Nhật Bản, Indonesia, Việt Nam, Malaysia và Philippines. Điểm mạnh thứ ba của chiến lược của Mỹ là đưa ra những bằng cớ rõ rệt, cung cấp dữ liệu cụ thể về tham vọng đất đai và công trình quân sự hoá của TC ở Biển Đông, con số rõ rệt đã tạo ra thêm 2.900 mẫu Anh so với Việt Nam chỉ có 80 mẫu, Malaysia 70 mẫu, Philippines 14 mẫu, và Đài Loan 8 mẫu.

Ngoài ra, chiến lược này cũng cho thấy một cách cụ thể sự cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực, quyết tâm thực hiện chiến lược chuyển trục sang Châu Á trước năm 2020 bằng cách chuyển khí tài sang vùng Thái Bình Dương, gia tăng sự hiện diện của Mỹ, tăng cường các cuộc diễn tập quân sự và xây dựng khả năng hàng hải của các nước đối tác.

Nhưng theo Gs Erickson chiến lược mới của Mỹ cũng có một số điểm chưa quyết liệt cần thiết, còn quá rụt rè, không đi đủ xa như tìm cách tỏ ra khách quan bằng cách dùng những ngôn từ không rõ ràng, cho rằng tất cả các bên đều có lỗi, dù cho Trung Quốc là nước có cách hành xử tiêu cực nhất, chiếm biển đảo của các nước nhiều nhứt, chiếm một cách ngang ngược, táo bạo, không một bằng cớ lịch sử, pháp lý, đạo lý nào. Theo Ông lẽ ra Mỹ «đi xa hơn và nói rõ là đường 9 đoạn của Bắc Kinh không có cơ sở về luật pháp quốc tế», Mỹ phải bắn đi tín hiệu cho Trung Quốc hiểu là Mỹ sẽ sẵn sàng va chạm để đối phó với một loạt hành vi tiêu cực của Trung Quốc như đã từng có trong những năm gần đây. Ông nhấn mạnh Mỹ cần quyết liệt hơn với Trung Quốc, cần có chính sách cụ thể hơn nữa để buộc Bắc Kinh phải trả giá cao cho hành động sai trái của họ.

Bên cạnh tờ Wall Street Journal, ngày 25/8 tờ báo gối đầu giường của những chính khách và chiến lược gia Mỹ ở Washington DC, là tờ Washington Post có tung ra một bài bình luận khuyến cáo TC: Trung Quốc phải thận trọng hơn ở Biển Đông. Nếu để xung đột xảy ra trong Biển Đông, hậu quả tai hại sẽ xảy ra cho thương mại thế giới, nhưng tai hạị trầm trọng nhứt là cho TC, trên phương diện xuất cảng và nhập cảng của nền kinh tế Trung Quốc.Bài xã luận có liên hệ tới việc Bộ Quốc phòng Mỹ công bố chiến lược an ninh hàng hải mới hồi tuần trước, để chống lại các hành vi khiêu khích của Trung Quốc ở Á Châu-Thái Bình Dương. Tờ báo nói rõ rằng phúc trình của Ngũ Giác Đài được soạn thảo do yêu cầu của quốc hội Mỹ, và những hành động của Trung Quốc chắc chắn sẽ mang lại hậu quả, mặc dù chưa biết được các cuộc thử lửa sẽ diễn ra như thế nào, nhưng điều chắc chắn là chúng sẽ đến.

Song song với công luận của các chiến lược gia và báo chí, là hành động bày binh bố trận của các tư lịnh lực lượng Mỹ ở Thái bình dương với các nước đồng minh trong vùng Á châu Thái bình dương.

Trước nhứt là Phi luật tân, một đồng minh của Mỹ bị TC lấn chiếm biển đảo, và đã đâm đơn kiện TC ra toà án Liên hiệp Quốc. Tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương, Đô đốc Harry Harris đích thân đến Manila, cam kết duy trì ổn định khu vực Biển Đông, hỗ trợ Phi đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc. Mỹ hứa tăng cường theo dõi các diễn biến trực tiếp ở Biển Đông, cung cấp thêm hoạt động do thám và giám sát, cung cấp máy bay, tăng phi vụ và hải hành tuần tra để giám sát một chiếc tàu dân sự của Philippines thường đưa hàng tiếp tế ra bãi Cỏ May.

Hải quân Mỹ sẽ gia tăng tập trận hải quân trong vùng cả về chất lẫn về lượng ở Biển Đông với mục tiêu răn đe sẵn sàng đối phó với mọi tình huống. Cho đến nay, Hoa Kỳ thường xuyên tập trận chung với Philippines, và gần đây, đã không ngần ngại diễn tập gần khu vực Biển Đông nơi có tranh chấp chủ quyền giữa Manila và Bắc Kinh với quy mô rầm rộ.

Mỹ tăng cường hải lực, hạm đội tàu chiến tuần duyên LCS (Littoral Combat Ship), loại chiến hạm nhỏ nhưng linh hoạt, với hỏa lực hùng hậu, được thiết kế để thực hiện nhiệm vụ tại những vùng nước nông ven bờ, đặc thù của Biển Đông: 4 chiếc sẽ được triển khai ngay tại Singapore, phụ trách trực tiếp Biển Đông, 4 chiếc khác sẽ được dùng làm lực lượng dự bị, sẵn sàng tung ra khi cần thiết.

Điều hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan hiện đại hơn qua thay chiếc George Washington. Thêm tàu USS America vào vùng biển Dông, thêm hai tàu khu trục Aegis được gửi đến túc trực tại Nhật Bản.

Tăng cường không lực, điều thêm chiến đấu cơ F-22 và F-35 tối tân nhứt, tăng viện lực lượng cơ hữu trong vùng gồm nhiều oanh tạc cơ chiến lược B-2 và B-52, và 47 chiếc phi cơ tuần thám đời mới P8 A Poseidon, có gắn thủy lôi. Cấp trực thăng V- 22 cho Lực lượng Thủy quân lục chiến túc trực trong vùng. Không bỏ việc phong thủ không phận, Mỹ đưa thêm hỏa tiễn tầm xa có độ chính xác cao, trong đó có loại JASSM-ER và một loại hoả tiễn hành trình chống hạm tầm xa mới. Với các phương tiện răn đe đó, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vai trò người bảo vệ ổn định và quyền tự do hàng không và hàng hải, đặc biệt là ở Biển Đông.

Với Chiến lược An ninh hàng hải vùng Á Châu-Thái Bình Dương mới rất tích cực, với việc tăng cường quân lực và vũ khí để phòng chống TC như vậy trên vùng biển Á châu Thái bình dương, với việc chính phủ Mỹ đang chuẩn bị những biện pháp chế tài kinh tế trước đây chưa từng có nhắm vào các công ty và cá nhân Trung Quốc được hưởng lợi từ việc đánh cắp bí mật thương mại của Mỹ, người ta thấy Thái bình dương có thể không còn thài bình trong những tháng năm tới. Đó là lỳ do chiến lược gia Mỹ đòi hỏi Mỹ phải quyết liệt hơn và báo chí Mỹ khuyến cáo TC phải thận trọng.

Còn VNCS hầu như bất động trước việc TC đưa giàn khan nước sâu vào vùng trùng lấp đặc quyền kinh tế VN để thăm dò 2 tháng nay. TC đã làm xong trên một mỏ dầu. TC sắp dời đi đến một vùng khác gần đó và tuyên bố tiếp tục thăm dò 2 tháng nữa. VNCS không phản đối bằng tuyên bố hay đưa tàu cảnh sát ra ngăn chận như như kỳ rồi. Công nhân VN không có biểu tình chống TC như kỳ trước. Mỹ hoàn toàn không lên tiếng chống TC như kỳ trước Thượng Viện ra nghị quyết yều cầu TQ rút. Điều này cho thấy Hà nội vẫn theo đuôi TC. Mỹ không can thiệp về chủ quyền biển đảo của VN, Mỹ chỉ tranh đấu cho tự do hàng hải, hàng không Mỹ coi là quyền lợi quốc gia của Mỹ. Quyền lợi của Mỹ đối với TC ngàn lần lớn hơn đối với VN. Hai nước Mỹ, TQ nương nhau, chia xẻ quyền lợi. Tập cận Bình sắp công du Mỹ, tháng 9 nay./.(Vi Anh)

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

‘Hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!’

Ngô Nhân Dụng

Xin lỗi quý vị độc giả, phải nhìn thấy những chữ nặng nề trong tựa đề trên đây. Tám chữ đó người viết không đặt ra mà trích từ một lá thư công khai của ông Ngô Bảo Châu, một nhà toán học Việt Nam lỗi lạc được thế giới công nhận.

Ðộc giả Người Việt khi đọc tin đảng Cộng Sản ở tỉnh Sơn La, Việt Nam, tính đem 1,400 tỷ đồng (gần 70 triệu đô la Mỹ) ra làm khu công viên dựng tượng Hồ Chí Minh, nhiều người, ở trong và ngoài nước đã phản ứng bằng những lời lẽ nặng nề, thậm tệ hơn nữa. Nhưng những lời Giáo Sư Ngô Bảo Châu viết trên trang Facebook của ông đáng chú ý, vì ông chưa bao giờ tỏ ra phẫn nộ dùng lời lẽ như vậy khi bầy tỏ ý kiến về các vấn đề chung. Ông sinh ra và lớn lên trong chế độ Cộng Sản ở miền Bắc. Không thể gọi ông là người “chống Cộng,” nghĩa là bài bác chủ nghĩa Cộng Sản hay chống chế độ độc tài đảng trị. Ngược lại, ông vẫn thường cộng tác với chính quyền trong các dự án giáo dục; ông cũng không hay phản bác những chính sách của đảng Cộng Sản.

Lần này, ông Ngô Bảo Châu nổi giận có lý do. Ông viết: “Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1,400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!”

Hàng ngày, đồng bào ta ở Hà Nội, Sài Gòn hay Hải Phòng, Ðà Nẵng cũng có thể nổi giận nói như vậy khi chứng kiến cảnh các đại gia ăn tiệc với những chai rượu giá hàng ngàn đô la đổ ra như nước lã, trong khi những đứa trẻ gầy còm, đen đủi, quần áo rách mướp, đang lê la ngoài phố, không được đi học. Nhưng rất ít người đứng ra nói lớn những lời phẫn nộ như ông Ngô Bảo Châu: Hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!

Tại sao người ta không nổi giận, không phản kháng? Bởi vì họ đã nhìn thấy những cảnh đó nhiều quá rồi! Họ đã quen rồi, đã từng nói nhiều rồi mà không thấy hiệu quả nào hết. Có lẽ con số 1,400 tỷ đồng, 70 triệu đô la nó kích thích tình lân mẫn và đức liêm sỉ của mọi người mạnh hơn. Nhìn con số đó, người mẫn cảm nghĩ ngay tới những trẻ em “ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang” để so sánh, vì các em bé này có khi không được một đô la để sống mỗi ngày.

Nhiều nơi trong nước mình mỗi người dân đang sống với lợi tức dưới một đô la một ngày; hàng triệu người như vậy. Theo thống kê của nhà nước, Sơn La là một tỉnh nghèo bậc nhất. Tỷ lệ chính thức năm 2013 cho biết trong tỉnh có 27% các gia đình sống trong cảnh “nghèo.” Chữ “nghèo” đóng ngoặc kép ở đây được định nghĩa theo tiêu chuẩn nhà nước. Năm 2008, người dân thành thị sống với lợi tức là 370 nghìn đồng một tháng; dân nông thôn là 290 nghìn đồng một tháng được coi là “chuẩn nghèo.” Trong những năm từ 2011 tới 2015, một hộ nghèo ở nông thôn được định nghĩa là gia đình có mức thu nhập bình quân từ 400 ngàn đồng mỗi người một tháng trở xuống. Ở thành thị là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500,000 đồng một tháng hay thấp hơn.

Như vậy thì 27% các gia đình sống trong tỉnh Sơn La đang sống với mức lợi tức dưới 20 đô la một tháng. Sơn La có hơn một triệu 200 ngàn dân, thì 325 ngàn đồng bào đang sống với dưới 70 xu Mỹ mỗi ngày. Hai tỉnh bên cạnh, Ðiện Biên và Lai Châu còn thảm hơn. Tỷ lệ nghèo ở Lai Châu trên 27%, còn Ðiện Biên cao hơn 35%.

Người ta thường không tin các con số thống kê của các chế độ Cộng Sản, từ Liên Xô, Trung Cộng cho tới Cuba. Muốn thẩm lượng tính chất xác thực của các số thống kê trên, quý vị có thể đặt câu hỏi: Tỷ lệ nghèo ở các thành phố lớn là bao nhiêu? Ðọc thống kê của nhà nước, ta thấy liệt kê các “địa phương có tỷ lệ hộ nghèo thấp hoặc không còn hộ nghèo” là: Thành phố Hồ Chí Minh (0%), Bình Dương (0%). Coi như cả tỉnh Bình Dương, cả thành phố Sài Gòn không có nhà nào “nghèo” hết, kể cả những gia đình sống trên lề đường. Có ai muốn tin các con số đó không? Các thành phố lớn và tỉnh tiếp theo có Ðồng Nai (0.66%), Thành phố Ðà Nẵng (0.77%), Bà Rịa-Vũng Tàu (0.,95%), Hà Nội (1.01%). Quý vị ở các địa phương trên có thể biết rõ hơn. Các số thống kê của nhà nước xưa nay vẫn đáng nghi ngờ.

Cho nên có thể đoán số người thuộc “chuẩn nghèo” ở Sơn La còn đông hơn, có thể hàng nửa triệu, và số thu nhập của họ còn thấp hơn, có thể chỉ tới nửa mỹ kim mỗi này. Một gia đình năm có thể phải sinh sống với lợi tức 3 đô la một ngày!

Những người Việt Nam mỗi ngày đang được ăn no, ở khắp thế giới, nghĩ đến những con số trên không khỏi rớt nước mắt. Nhất là trong số đó có các trẻ em.

Ngô Bảo Châu nghĩ tới những em “ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang.” Nghĩ như vậy, lại nghĩ tới số tiền 70 triệu đô la phung phí, trong lòng không nổi giận thì không phải là người. Ðúng là một lũ “Hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!” Khi nghĩ tới các em, lại nhớ thời tôi ở tuổi các em bây giờ, 5 tuổi, 7 tuổi, tôi đã sống trong cảnh “ăn không đủ no, áo không đủ ấm” thật sự. Ðầu thời kháng chiến, gia đình tôi ở Cầu Ðất, Thái Nguyên. Có lúc mẹ đi xa cả tháng bị kẹt đường xe lửa hỏng, không về nhà được. Chị lớn của tôi năm đó 14, 15 tuổi thấy nhà hết gạo, đi vay gạo hàng xóm không ai có sẵn; chị đã đi bắt cua cả ngày đem ra chợ bán lấy tiền mua gạo và mua ngô (bắp) nuôi hai đứa em trai lên chín và lên ba. Em bé được ăn cháo, anh và chị ăn bắp. Chị em tôi may mắn không đến nỗi “sinh hoạt như lũ thú hoang” là nhờ thời đó có giáo dục gia đình. Nhờ làng xóm chung quanh vẫn còn sống trong nền nếp tinh thần cha ông để lại, chưa bị phá tan hoang như sau này. Việt Nam bây giờ nhiều em sinh hoạt như lũ thú hoang. Vì có khi ngay cả cha mẹ các em đã sống hoang dã rồi, không ai giáo dục con cái. Sau khi chiến tranh đã chấm dứt hơn 40 năm, vẫn thế.

Nhìn con số 70 triệu đô la, quả là một khoản tiền lớn. Ðó lại là tiền công quỹ, có thể đem dùng vào nhiều việc ích lợi cho dân. Ai cũng phải hỏi tại sao không đem tiền công quỹ đầu tư vào những hoạt động kinh doanh tạo công việc làm ăn cho dân bớt nghèo đi?

Người lãnh đạo tỉnh Sơn La mới giải thích rằng việc xây dựng tượng đài là “ước nguyện thiêng liêng của cấp ủy, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và nhân dân, vân vân.” Tất nhiên, ước nguyện của bấy nhiêu ông bà có chức, có quyền, có súng, thì phải thắng ước nguyện của hơn 300 ngàn người sống với dưới một đô la một ngày! Ông Cầm Ngọc Minh, chủ tịch tỉnh Sơn La nói về con số 1,400 tỷ đồng mới bảo rằng “Không nên đặt vấn đề đắt rẻ.” Ông lại còn than thở, “Chưa có tượng đài là thiệt thòi cho chúng tôi.”

Thiệt thòi trước mắt là mất cơ hội rút ruột. Ở Việt Nam người ta biết từ 30% đến 45% chi phí khi thực hiện các dự án được bỏ vào túi các viên chức. Không xây dựng tượng là mất toi 30 triệu đô la. Thiệt thòi! Thiệt thòi cho chúng tôi quá! Cho nên không riêng tỉnh Sơn La, trên toàn quốc còn có 58 dự án xây dựng tượng đài, trong 14 năm nữa! Cứ mỗi vụ rút ruột được 30 triệu đô la, tổng số sẽ lên tới 1,740,000, 000 đô la!

Ðọc con số hơn tỷ rưỡi đô la này, thấy lớn. Nhưng thực ra cũng “chưa lớn” bởi vì phải chia cho rất nhiều quan chức, chia rải ra đến 14 năm trường. Chúng ta sẽ không thấy nó lớn, khi so sánh với những vụ tiền chạy đi mất tích ở cấp cao hơn. Một vụ Vinashin thôi, chỉ trong mấy năm đã thấy bốn tỷ đô la tiền nợ nước ngoài bay đi đâu mất để đến nỗi hết tiền trả nợ! Vì vậy, khi cả nước kêu lên về dự án phung phí 70 triệu đô la, bộ máy đảng và nhà nước ở trên cùng cũng không dám ngăn lại! Các anh đã nuốt mấy tỷ đô la ngon lành, đến lượt lũ chúng tôi chỉ ăn có bạc triệu anh lại dám ngăn cản à? Ðến đại hội đảng anh có cần phiếu của lũ chúng tôi không? Thế là im thin thít!

Giáo Sư Ngô Bảo Châu giữ tinh thần hoài nghi khoa học, đặt giả thuyết lũ người đem 1,400 tỷ đồng ra xây dựng để rút ruột là bọn “Hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!”

Người dân Việt thì đã biết rõ từ lâu rồi, không có nghi ngờ gì nữa. Từ trên xuống dưới, chỉ toàn một lũ khốn nạn.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Sợ Tầu là bệnh hay lây

Hùng Tâm

Hoa Kỳ sợ Tầu quá mạnh rồi quá yếu

Quãng ba chục năm trước, nước Mỹ xôn xao vì sức mạnh kinh tế Nhật Bản, đến nỗi trong xã hội đã nổi lên phong trào “Bài Nhật.” Ngày nay, người ta đang thấy tái diễn một phản ứng tương tự, là bệnh “Sợ Tầu.”

Vào đầu thập niên 1980, người Mỹ thấy kinh tế Nhật phát triển quá mạnh, tư bản Nhật tràn ngập Ðông Á đã ào ào chảy vào Hoa Kỳ như thác lũ. Giá nhà đất của một quận của thủ đô Tokyo còn cao hơn giá đất của cả tiểu bang California. Xe hơi Nhật chạy như mắc cửi trên xa lộ Mỹ, với ưu điểm đẹp rẻ bền lại ít tốn xăng. Doanh nghiệp Nhật mua các phim trường, bất động sản và cả biểu tượng văn hóa Hoa Kỳ là Rockefeller Center ở New York. Người ta bình luận về sức mạnh Nhật Bản, viết truyện và dựng phim về âm mưu mờ ám của tư bản Nhật. Ðây đó có người treo xe Nhật lên rồi lấy búa nện cho tan tành....


Sau đó là lịch sử: kinh tế Nhật bị khủng hoảng từ năm 1991, đến tuần qua mới có vài chỉ dấu tạm gọi là khả quan mà không bền. Ở giữa là sáu đợt suy trầm mà chưa chắc là “ba mũi tên cải cách” của chính quyền Shinzo Abe đã có thể đảo ngược nổi. Nhưng dư luận Hoa Kỳ đã hướng nỗi lo qua chuyện khác.

Nói tắt về bối cảnh thì sau gần chục năm lo sợ kinh tế Trung Quốc sẽ bắt kịp Hoa Kỳ khi Mỹ bị khủng hoảng tài chánh năm 2008 và kinh tế của Tầu vượt Nhật năm 2010, ngày nay dư luận Mỹ lại sợ nạn trời sập bên Tầu sẽ văng miểng vào kinh tế Mỹ. Sẽ tìm hiểu về cái bệnh “Sợ Tầu” này.


Trung Quốc cất cánh


Từ 15 năm nay, sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO với sự đồng ý của Hoa Kỳ, thế giới bắt đầu giật mình vì sự xuất hiện của một cường quốc kinh tế mới. Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, Liên Âu thành hình năm 1992 và khối Euro ra đời vào năm 2000, thiên hạ mới chú ý đến nền kinh tế Hoa lục có một tỷ 300 triệu dân, theo kinh tế thị trường từ năm 1980 và có đà tăng trưởng cao. Sau khi là thành viên WTO, nền kinh tế đó hội nhập vào luồng giao dịch toàn cầu với mũi nhọn là xuất cảng các mặt hàng chế biến với giá rất rẻ và thu về một kho ngoại tệ vĩ đại.

Sự thật là sau 30 năm hoang tưởng của Mao Trạch Ðông từ 1949 đến 1978 làm mấy chục triệu dân thác oan, Ðặng Tiểu Bình mới tiến hành kế hoạch “cải cách và khai phóng kinh tế” từ đầu năm 1979. Khi ấy, Bắc Kinh áp dụng chiến lược phát triển của các xứ Ðông Á đã theo kinh tế thị trường từ trước, như Nhật, Nam Hàn, Ðài Loan và Singapore. Nhưng khác với các mẫu mực Ðông Á là lấy tiêu thụ làm sức mạnh, chiến lược Trung Quốc lấy đầu tư làm lực đẩy cho sản xuất và sản xuất nhiều và rẻ thì tìm sức kéo ở xuất cảng.

Trung Quốc không phát minh ra chiến lược ấy nhưng có ưu thế là dân số cao, nhân công nhiều và rẻ được giải phóng khỏi chế độ tập trung kế hoạch nên đạt mức tăng trưởng trung bình là gần 10% trong ba chục năm. Với sức tăng trưởng đó thì mỗi bảy năm sức nặng kinh tế của xứ này lại nhân đôi, làm nhiều người Mỹ gọi là sự kỳ diệu và báo hiệu một “Thế kỷ 21 của Trung Quốc.”

Họ không thấy trào lưu tương tự ở các nước Ðông Á đi trước, khi ấy được ca tụng là “tân hưng,” với phẩm chất tăng trưởng cao chứ không tệ hại như Trung Quốc. Sau đó các nước này còn chuyển lượng thành phẩm và thoát khỏi hiện tượng “bẫp sập của lợi tức trung bình” để tăng trưởng thấp hơn nhưng người dân có mức sống cao bằng khối công nghiệp hóa tiên tiến trong thể chế dân chủ.

Cụ thể thì theo một công trình nghiên cứu vào Tháng Năm vừa qua của Ngân Hàng Dự Trữ Hoa Kỳ tại khu vực Minneapolis, lợi tức trung bình một đầu người của Trung Quốc đã từ 1,300 đô la vào năm 1980 tăng đến 7,700 đô la vào năm 2010: tăng 500% trong 30 năm (năm 2010 đó là khi sản lượng kinh tế Tầu vừa vượt Nhật Bản). Nếu chỉ nhìn vào Trung Quốc thì đấy là sự kỳ diệu. Nhưng ngày nay dân Nhật, Nam Hàn hay Ðài Loan lại giàu gấp bội, với lợi tức đồng niên cho một người là hơn 36,000, hơn 28,000 hay hơn 22,000. Ðó là nhìn vào không gian.

Nhìn theo trục thời gian thì có một trào lưu chung là sau thời tăng trưởng cao như khi một phi cơ mới cất cánh, các nước đó bước vào thời kỳ bay ngang, hay “bằng phi,” với đà tăng trưởng thấp hơn. Nhật cất cánh từ 1951 và Nam Hàn từ 1954 và sản lượng một đầu người tăng mạnh trong mấy thập niên đầu rồi chậm dần. Của dân Nhật thì khởi đầu là 6.1% một năm rồi 5.4% vào thập niên 1970, rồi chỉ còn 2.2% từ thập niên 90. Nam Hàn cũng thế, sản lượng một đầu người tăng 8.5% một năm trong thập niên 80, rồi 5.8% trong 10 năm kế, và từ quãng 2000 về sau thì chỉ còn 3.8%. Trường hợp Trung Quốc cũng không khác và họ đang bước vào thời trì trệ, nhưng với lợi tức trung bình một năm vẫn ở dưới 10 vạn đồng và lạc quan lắm thì năm 2030 sẽ bằng 32,8% của dân Mỹ hoặc quãng 2061 thì mới bằng được phân nửa của dân Mỹ.

Phi cơ hạ cánh vào thời đình trệ

Sau khi Trung Quốc cải cách kinh tế thì thế giới ngợi ca việc đổi mới là có ý nghĩa lịch sử.

Nếu so với nhiều quốc gia đã theo quy luật của thị trường cho tự do hơn, như Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan hay Ấn Ðộ sau này, thì mức tăng trưởng của Trung Quốc chẳng là phép lạ. Nó còn được thổi phồng như cơ quan nghiên cứu độc lập của Mỹ là Conference Board vừa lượng định lại sau nhiều năm khảo sát công phu. Một cách cụ thể thì trong 25 năm, đà tăng trưởng thực của Trung Quốc thấp hơn số chính thức đến hơn một phần tư, là tăng quãng 7.5% một năm thôi, cho nên thật ra kinh tế của xứ này chưa có sức nặng như người ta nghĩ.

Ði vào chi tiết thì trong 35 năm sau khi Ðặng Tiểu Bình mở cửa, kinh tế Trung Quốc đã qua ba giai đoạn cất cánh tuần tự.

Trước hết về phẩm thì họ giải tỏa cho dân được làm ăn cho nên từ cái đáy của sự bần cùng nên kinh tế dễ bật dậy. Về lượng là nhà nước chủ động dùng đầu tư làm lực đẩy, đến khi đụng vào giới hạn của cơ chế kinh tế từ bảy tám năm trước thì yêu cầu cải cách được đặt ra. Nhưng năm 2008, thế giới lại bị Tổng Suy Trầm và Bắc Kinh sợ suy thoái nên hoãn cải tổ mà ào ạt bơm tín dụng để kích thích kinh tế. Khi đó, tư bản ứ đọng từ khối Âu-Mỹ-Nhật bị đình trệ chảy về Châu Á để tìm mức lời cao hơn. Nhờ vậy mà khi thế giới bị trì trệ thì Trung Quốc vượt lên và qua mặt Nhật Bản từ năm 2010, đấy là giai đoạn thứ ba.

Nhưng cũng do đó mà Trung Quốc tích lũy thêm yếu tố bất ổn và đang gây mối sợ khủng hoảng cho Hoa Kỳ.

Vắn tắt thì cái nhân khủng hoảng bên trong đã có, cái duyên ngày nay khi khối công nghiệp hóa, trước hết là Mỹ, muốn tăng xuất cảng, giảm mức bơm tiền, hút lại lượng tiền đã bơm ra và sẽ nâng lãi suất. Khi ấy, kinh tế Trung Quốc bị rủi ro lớn, là điều có thể xảy ra từ năm tới.

Thật ra từ Tháng Ba năm 2007, tổng lý Quốc Vụ Viện là Thủ Tướng Ôn Gia Bảo nêu ra bốn nhược điểm kinh tế là “không ổn định, không cân đối, không phối hợp và không bền vững.” Ðáng lẽ ông phải nêu thêm một cái không nữa là không công bằng. Ba năm sau, Tháng Sáu năm 2010, người lên làm thủ tướng ngày nay là Phó Thủ Tướng Lý Khắc Cường cũng viết trên tạp chí “Cầu Thị,” cơ quan lý luận của Trung Ương Ðảng và của Trường Ðảng, rằng công cuộc phát triển của họ “tạo ra một cơ cấu kinh tế phi lý” và “ngày càng thấy rõ chiều hướng thiếu phối hợp và không vững bền.” Khi ấy các lãnh tụ khác như Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào sắp mãn nhiệm và Tổng Bí Thư Tập Cận Bình sẽ lên thay cũng đều phát biểu như vậy.

Nghĩa là lãnh đạo xứ này thấy ra vấn đề từ đã lâu mà không cải cách được cho tới ngày hạ cánh.

Hạ cánh bấp bênh


Y hệt như về Nhật Bản ba chục năm trước, nhiều người không thấy ra các vấn đề của Trung Quốc.

Nền kinh tế này nén tiêu thụ để lấy đầu tư làm lực đẩy mà đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước kém năng suất lại là chính nên mới gây lãng phí. Số đầu tư ấy lấy tiết kiệm rất cao của dân mà đền bù rất rẻ nên gây ra bất công. Nhờ sản xuất ồ ạt bằng mọi giá, Trung Quốc có thể xuất cảng rẻ, là công xưởng cho thế giới, và giúp nhà nước độc quyền thu về một lượng ngoại tệ kỷ lục có lúc lên tới bốn ngàn tỷ đô la làm dân Mỹ hãi sợ vì trong đó có hơn ngàn tỷ là cho Mỹ vay. Bất trắc lớn là trong cơ chế ấy, các đảng viên cán bộ cao cấp của khu vực nhà nước và ở địa phương thì làm giàu dễ nên ủng hộ chiến lược cũ và cản trở việc cải sửa với lý do là sợ giảm đà tăng trưởng.

Thế rồi vì đà tăng trưởng nhờ đầu tư mạnh bắt đầu giảm và kinh tế toàn cầu bị suy trầm nên hãm đà tiêu thụ hàng hóa Trung Quốc cho nên kể từ năm 2008, lãnh đạo ồ ạt bơm tiền kích thích sản xuất. Tín dụng quá rẻ, lại dồn vào thành phần kinh tế nhà nước và đảng bộ địa phương nên thổi lên bong bóng đầu cơ trong tình trạng nợ quá sức trả. Trong khi đó, tư doanh mới là lực lượng tạo ra việc làm nhờ tiểu doanh thương thì không dễ vay tiền từ hệ thống chính thức, họ phải vay gián tiếp qua thị trường chui, hay tín dụng ngoại ngạch, shadow banking, với lãi suất cắt cổ và chỉ có thể hoàn trả nếu đầu cơ theo lối chụp giựt đầy rủi ro. Hậu quả là kể từ 2008, kết số nợ của các cấp nhà nước công và tư nhân đã tăng hơn sản lượng cả năm, bên trong có nhiều khoản nợ xấu, khó đòi và sẽ mất. Mà xấu đến cỡ nào thì không ai đoán biết được.

Vì vậy, ngày nay, Hoa Kỳ cũng lại Sợ Tầu. Nhưng là nỗi sợ ngược: Sợ kinh tế Trung Quốc hạ cánh nặng nề, hoặc hạ cánh tan tành rồi sẽ bị khủng hoảng tài chánh vì gánh nợ.

Kết luận ở đây là gì?



Nền kinh tế đứng hạng nhì sau Hoa Kỳ là Nhật Bản đã bị khủng hoảng từ năm 1991 mà kinh tế Hoa Kỳ không bị ảnh hưởng nặng. Ngày nay, nếu mà nền kinh tế hạng nhì là Trung Quốc có bị khủng hoảng thì hậu quả kinh tế cũng chẳng đáng ngại.

Nhưng hậu quả chính trị lại khác, vì Nhật Bản là đồng minh của Mỹ mà Trung Quốc thì không.

Ðấy mới là chuyện đáng lo và đáng theo dõi khi Mỹ-Hoa có thượng đỉnh vào cuối Tháng Chín này.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »


TẬP CẬN BÌNH ĐÂM SAU LƯNG PUTIN


NGUYỄN VĨNH LONG HỒ

1

Theo nhận định của báo Israel số ra ngày 25/8/2015 cho biết, nền kinh tế Nga đang đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ năm 2003. Kể từ khi Mỹ và phương Tây bắt đầu cô lập nước Nga, TT Putin đặt hy vọng vào Tàu Cộng, một quốc gia sở hữu nguồn dự trữ ngoại tệ 3.700 tỷ USD sẽ là một đối tác tuyệt vời thay thế phương Tây.Vì vậy, Nga đã tham gia “Ngân hàng Đầu Tư Hạ tầng Á Châu” do Bắc Kinh khởi xướng và trở thành cổ đông lớn thứ ba của nó. Nga cũng nổ lực thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức BRICS và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải nhằm tìm kiếm các đồng minh kinh tế, chính trị và an ninh. Trong tất cả các dự án, TT Putin đều xem Bắc Kinh là đối tác chính.


Ngoài ra, Nga & TC còn ký kết một số thỏa thuận song phương lớn có thể giúp nền kinh tế Nga vượt qua khó khăn hiện nay. Trong tháng 12/2014, hai bên đã đồng ý tổ chức trao đổi tiền tệ với 24 tỷ USD, đồng ý giao dịch thương mại bằng đồng tiền của nhau không thông qua đồng đô la Mỹ. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp TC vẫn tỏ ra ít nhiệt tình với các dự án nầy.


Nga đã ký kết sẽ cung cấp cho TC lượng khí đốt trị giá 400 tỷ USD trong 30 năm với một mức giá khá hời so với trước kia. Nhưng, do sự sụt giảm giá khí đốt gần đây, Bắc Kinh đang xem xét hủy bỏ hợp đồng nầy, thêm một lý do nữa là do các điều kiện của Nga đòi hỏi khá cao là Nga yêu cầu TC chi phần lớn kinh phí xây dựng các đường ống dẫn, một điều kiện mà Bắc Kinh cực kỳ bất bình vì nền kinh tế nước nầy đang tăng trưởng chậm lại. Ngoài ra, Anh Quốc đã vượt Nga về doanh số bán dầu cho TC.


Thất bại nghiêm trọng trong việc tìm kiếm các lĩnh vực đầu tư cũng khiến mức độ đầu tư từ TC vào nền kinh tế Nga đã giảm 20% so với cùng thời kỳ năm ngoái. Nguyên nhân của tình trạng nầy là do các doanh nhân TC đang thận trọng và sợ hãi về sự bất ổn của nền kinh tế Nga. Chính sự sụp đổ của đồng rúp và lệnh cấm nhập cảng các sản phẩm phương Tây dẫn tới sự gia tăng lạm phát tại Nga, hiện đã hơn 15%, gấp 3 lần so với tốc độ tăng tiền lương và lương hưu.


Dự trữ ngoại tệ của Nga cũng đã giảm 30% trong năm qua, sau những nỗ lực không thành công để ổn định đồng rúp. Nguyên do của tình trạng này chủ yếu là từ sự sụt giảm kỷ lục của giá dầu, trong bối cảnh nền kinh tế Nga vốn phụ thuộc vào dầu mỏ và khí đốt.


Mới đây, ngay sau khi Mỹ tuyên bố bổ sung các hoạt động thuộc lĩnh vực dầu mỏ và khí đốt tại mỏ dầu Yuzhno-Kirinskoye ở khu vực bờ biển Viễn Đông của Nga vào danh sách lệnh trừng phạt, ngày 7/8/2015 Moscow lên tiếng chỉ trích đây là động thái hủy hoại quan hệ giữa hai nước.


Theo tuyên bố trên trang Web Federal Register của Mỹ ngày 7/8/2015 thì mỏ dầu khai thác Yuzhno-Kirinskoye nằm ở vùng biển Okhotsk, ngoài khơi Siberia vốn thuộc sở hữu của nhà sản xuất khí đốt hàng đầu tại Nga là Gazprom, đang được bổ sung vào danh sách cấm vận vì Mỹ nhận thấy nó có trữ lượng dầu và khí đốt đáng kể. Theo luật sư Douglas Jacobson, chuyên viên Thương mại Quốc tế tại Washington D.C cho rằng, biện pháp trừng phạt mới của Mỹ sẽ gây cản trở cho hoạt động xuất cảng và tái xuất cảng của Nga.

NGA RẤT SỢ KHI GIÁ DẦU CHẠM ĐÁY:



Cuộc khảo sát trên của Bloomberg trong bối cảnh giá dầu thế giới đang trên đà giảm mạnh xuống thấp nhất trong vòng 4 tháng qua. Trong đó giá dầu WTI của Mỹ giảm 75 cent (hay 1,6%) xuống 47,39 USD/thùng, thấp nhất kể từ ngày 20/3/2015 và đã giảm tới 20% kể từ đầu tháng. Giá dầu Brent giảm 1,15 USD (hay 2,1%) xuống 53,47 USD/thùng, thấp nhất kể từ ngày 16/3 và đã giảm 21% so với mức đỉnh đạt được hồi tháng 5.


Theo các nhà kinh tế, nguyên nhân của tình trạng trên là nguồn cung từ Mỹ và nhiều quốc gia xuất cảng dầu mỏ khác tăng đột biến, đồng Mỹ kim mạnh lên và những lao đao gần đây của thị trường chứng khoáng TC.


Cuộc khảo sát của hãng tin Bloomberg được tiến hành ngày 24 tới ngày 29/7 cho thấy:

· 65% các nhà kinh tế cho rằng, nếu giá dầu tiếp tục giảm, Ngân Hàng Trung Ương Nga sẽ phải tăng lãi suất khẩn cấp, sau khi đã tiến hành 4 lần cắt giảm lãi suất từ đầu năm nay.

· 35% nhận định, chính phủ Nga có thể phải áp đặt các biện pháp kiểm soát vốn giống như Hy Lạp.

· 22% dự đoán, chính phủ sẽ phải tiếp quản một số ngân hàng của nước này.

Khi được hỏi về viễn cảnh đối với nền kinh tế Nga nếu giá dầu rớt xuống 40 USD/thùng, khiến nguồn vốn bị thâm hụt gần 600 tỷ rúp và tỷ lệ nợ xấu tăng gấp 2 lần, 69% các nhà kinh tế cho biết, nền kinh tế và ngân hàng Nga chắc chắn sẽ đối mặt với nhiều rủi ro. Ngay cả giá dầu giao dịch ở mức 50 USD/thùng, các nhà kinh tế cũng nhận định rằng, nền kinh tế Nga sẽ có xác suất tới 85% bị suy thoái trong 12 tháng tiếp theo.


Kinh tế Nga thực sự đang gặp nhiều khó khăn. Tháng 7/2015, TT Putin đã phải ký một sắc lệnh hạn chế số nhân viên làm việc tại Bộ Nội Vụ từ 1.113.172 xuống còn hơn 1 triệu người tương đương 10%. Bộ Nội Vụ Nga là cơ quan kiểm soát lực lượng cảnh sát, lực lượng an ninh bán quân sự và cơ quan an toàn giao thông đường bộ. Việc cắt giảm do tác động nặng nề từ cuộc kinh tế khủng hoảng tồi tệ nhất trong nhiều năm qua do việc giảm giá dầu nhanh, trong khi ngân sách nước Nga phụ thuộc phần nhiều vào dầu và khí đốt. Nền kinh tế Nga đã suy giảm 2,2% trong quý đầu năm nay. IMF dự kiến mức giảm cả năm là 3,8%.

KHỦNG HOẢNG UKRAINE, NGA MẤT ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC VÀO TAY BẮC KINH:



Trong khi TT Putin cố gắng giữ Ukraine trong vòng kiểm soát của Nga, TT Putin có thể mất ảnh hưởng của mình trên một địa bàn quan trọng khác là “TRUNG Á”. Hiện các nước tại Trung Á từng thuộc Liên Xô cũ đang ngày càng ngả về phiá Bắc Kinh trong lĩnh vực đầu tư và thương mại. Điều này cũng có nghĩa là Nga mất địa bàn chiến lược này vào tay TC. Dấu hiệu mới nhất trong mối quan hệ kinh tế sâu sắc giữa Bắc Kinh với Trung Á là Bắc Kinh đang thực hiện dự án lên đến 16,3 tỷ USD để phát triển cơ sở hạ tầng ở khu vực nầy. Chúng gồm các lĩnh vực đường sắt, đường bô, đường ống dẫn qua Trung Á và nổi bật hơn cả là làm hồi sinh “CON ĐƯỜNG TƠ LỤA” giữa Tàu Cộng và Châu Âu. Tập Cận Bình đã đề xuất ý tưởng nầy năm ngoái trong chuyến thăm Kazakhstan, quốc gia lớn nhất Trung Á. Ngoài ra, Bắc Kinh còn được ưu đãi hơn trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú của khu vực Kazakhstan là một nước sản xuất dầu lớn, Kyrgyzstan còn có mỏ khoáng sản lớn, còn Turkmenistan mạnh về sản xuất khí đốt tự nhiên.


Trong thế kỷ 19, Nga và Anh giành giật nhau quyền kiểm soát tại Trung Á, được đặt tên là “GREAT GAME” với chiến thắng thuộc về Nga. Các khu chủ yếu là người Hồi Giáo, gồm các quốc gia: Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan từng thuộc Liên Xô vẫn có xu hướng gần Moscow ngay cả khi LX tan rã. Nhưng, tình hình đang thay đổi khi một đối thủ lớn xuất hiện là Tàu Cộng đang loại dần Nga ra khỏi sân chơi Trung Á. Tổng thống Putin đã tìm cách duy trì quan hệ với Trung Á như mời gọi Kazakhstan và Kyrgyzstan tham gia một liên minh quan thuế với Nga. Nhưng, với nền kinh tế khủng hoảng sâu sắc, không thể đọ được với số tiền khổng lồ mà Bắc Kinh đang đổ vào Trung Á và thúc đẩy họ tìm kiếm sự giúp đỡ từ TC.


Tàu Cộng và Nga thúc đẩy hợp tác song phương, ngay cả khi hai nước cạnh tranh với nhau để chiếm ưu thế trong khu vực Âu – Á và trong cuộc ganh đua nầy, Bắc Kinh chiếm ưu thế. Đây là nội dung chính bài của Anita Inder Singh – GS tại Trung tâm Hòa bình & Giải quyết xung đột tại New Delhi: “Các đối tác không cân xứng: Tàu Cộng và Nga tại vùng Âu – Á” (Unequal Partners: China and Russia in Eurasia) đăng trên website The Dipplomat ngày 3/6/2015: “Các thay đổi chiến lược gần đây của TC và Nga diễn ra cùng một lúc và trái ngược nhau đánh dấu mối quan hệ gần gũi hơn giữa hai nước thách thức đối với Hoa Kỳ. Nhưng, đây là mối quan hệ đối tác không cân xứng và thể hiện sự cạnh tranh giữa hai nước tại vùng Châu Âu-Á. Tuy nhiên, Tàu Cộng và Nga có nhiều điểm chung là quốc gia toàn trị coi Mỹ như một mối đe dọa với quyền lực của họ. Cả hai còn là thành viên của nhóm thị trường mới trỗi dậy gọi là BRICS, thành viên của Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á do Tàu Cộng đở đầu (AIIB) và tham gia Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO). Tuy nhiên, nền kinh tế của nước Tàu Cộng khổng lồ tạo cho nước này có lợi thế, lấn lướt Nga trong các tổ chức nói trên”.

TRUNG Á “ĐẤU TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC” GIỮA NGA -TÀU:



Tuy nhiên, quan hệ hợp tác Nga – Trung không thể che giấu được sự cạnh tranh ảnh hưởng kinh tế tại Trung Á. Việc Nga bị bao vây về kinh tế không thể cung cấp cho các nước Trung Á những hào phóng tài chánh và đầu tư rộng rãi mà Tàu Cộng có thể cung cấp cho các nước nầy. Thật vậy, Tàu Cộng đã thay thế vai trò của Nga cung cấp tài chánh chủ yếu cho vùng Trung Á. Bắc Kinh có lý do để đầu tư vào mạng lưới giao thông vận tải và cung ứng tại Trung Á. Các phương tiện vận chuyển tốt hơn có thể kết nối TC với các thị trường Châu Âu và giúp TC gia tăng khả năng tiếp cận nguồn dầu lửa của Kazakhstan, các mỏ khoáng sản của Kyrgyzstan và khí đốt tự nhiên Turkmenistan sản xuất. Chỉ một thập kỷ trước, 5 quốc gia mới độc lập đã phải bơm một khối lượng lớn dầu và khí đốt cho Nga, nguyên là đế quốc Liên Xô áp bức họ trong nhiều thập niên. Giờ đây, họ đâu biết Tàu Cộng là một tên “SIÊU THỰC DÂN MỚI”, họ cho đó là cơ may, có một nguồn nhiên liệu mới được đưa sang phiá đông tới Hoa Lục. Hai năm trước Tập Cận Bình khánh thành vùng mỏ khí đốt lớn thứ hai thế giới ở Galkynysh phiá tây nam Turkmenistan. Là nước đứng hàng thứ tư trên thế giới về trữ lượng khí đốt. Turkmenistan hối hả bắt đầu sản xuất khí đốt từ Galkynysh vào lúc nước nầy tìm kiếm những con đường mới để xuất cảng nhiên liệu nhằm giảm bớt phụ thuộc vào đuờng ống dẫn dầu sang Nga đã có từ lâu.


Trong khi đó, đầu tư của TC vào lĩnh vực năng lượng tại Kazakhstan làm cho Điện Kremlin không hài lòng, vì Moscow muốn duy trì nắm giữ các công ty của họ trong lĩnh vực dầu khí của Kazkhstan. Năm 2014, Bắc Kinh đã khởi công xây dựng một đường ống dẫn khí đốt chạy từ Tajikistan tới Tân Cương ở tây bắc Hoa Lục, một hệ thống đường ống khác sẽ cung cấp dầu từ ngoài khơi biển Caspian của Kazakhstan tới tỉnh nầy.


Khi xoay trục chiến lược sang phía đông, Nga đang đấu tranh để duy trì ảnh hưởng của mình trên địa bàn chiến lược Trung Á, trong lúc TC đang di chuyển về phía tây với ý đồ trở thành một cường quốc Âu – Á lớn. Với thái độ bề ngoài làm ra vẻ hữu nghị, hai bên cùng có lợi, Nga cường quốc hết thời do hậu quả cưỡng chiếm Crimea và can thiệp vào Ukraina và TC với tham vọng trở thành siêu cường. Cả hai đang vào một cuộc ganh đua để chiếm ưu thế tại vùng Âu – Á mà Tàu Cộng đang chiếm thế thượng phong. Rõ ràng, Bắc Kinh tuyên bố là“đối tác thân cận” của Nga, nhưng Bắc Kinh lại ra sức tranh giành ảnh hưởng với Moscow ngay tại các quốc gia thuộc sân sau của Nga.


Moscow đang đứng trước nguy cơ mất dần ảnh hưởng tại khu vực nầy, khi 8 triệu nhân khẩu của Tajikistan ngày càng thắt chặt “mối quan kinh tế” với Tàu Cộng. Một thường dân Tàu Cộng tại thủ đô Dushanbe của Tajikistan cho biết: “Việc kinh doanh ở đây rất tốt. Cơ hội làm ăn lúc nào cũng có”. Bắc Kinh đã tăng tốc cải tạo kinh tế đối với các quốc gia phía Tây Tân Cương trong vòng 10 năm qua bằng cách đổ hàng tỷ Mỹ kim đầu tư xây dựng đường sá, hệ thống ống dẫn dầu & khí đốt nhằm kết nối các quốc gia và vùng lãnh thổ vốn rời rạc ở Trung Á. Nhờ vậy, Tàu Cộng đã qua mặt Nga và trở thành đối tác mậu dịch chủ chốt của 4 trong 5 quốc gia vùng Trung Á từ khi Liên Xô tan rã vào năm 1991.

SÁCH LƯỢC “2 MẶT” CỦA TẬP CẬN BÌNH ĐÂM SAU LƯNG PUTIN:


Ràng buộc về kinh tế cho tới nay vẫn là sách lược hiệu quả nhất mà Bắc Kinh đang triệt để sử dụng vũ khí chiến lưọc nầy để tranh giành ảnh hưởng với chính đối tác thân cận nhất hiện nay của Nga. Hành động của Bắc Kinh tại khu vực Trung Á là một chứng minh quá rõ ràng nhất sách lược 2 mặt của Bắc Kinh đối với Moscow.


Trong khi Tập Cận Bình không tiếc lời ca tụng quan hệ hợp tác với Nga trên nhiều lãnh vực, nhưng Bắc Kinh lại hào phóng đổ vốn để loại Nga ra khỏi sân chơi tại Trung Á, trong khi các tổ chức tài chánh của họ tìm mọi cách làm khó Nga. Theo nhận định của những nhà phân tích kinh tế & tài chánh về vấn đề nầy như sau:

[1] YURI SOLOVIEV – Phó TGĐ VNESHTORBANK (Nga) – nói: “Các ngân hàng Trung Quốc lo ngại gặp rắc rối nếu làm ăn với các đơn vị tài chánh của Nga, bởi bọn họ còn có nhiều mối kinh doanh với Âu Mỹ. Đối với Trung Quốc mà nói, Mỹ, Liên minh Châu  (EU), Nhật Bản hay Hàn Quốc đều có giá trị hơn Nga. Người Trung Quốc rất thực tế, họ sẽ không vì Nga mà thực hiện các vụ làm ăn lỗ vốn.”


[2] VLADISLAV ZHUKOVSKY – nhà phân tích Kinh tế Nga – nói: “Thái độ của ngành tài chánh TC không ảnh hưởng quá tiêu cực tới quan hệ Nga – Trung, song lợi ích quốc gia của Nga dường như không quá ý nghĩa đối với Bắc Kinh. Cảm giác mất cân bằng và bất ổn này ngày càng trở nên mạnh mẽ.”

[3] BOBO LO – chuyên viên các vấn đề Nga – nhận xét: “Tập Cận Bình thông qua các quốc gia thuộc Liên Xô cũ để triển khai chiến lược mở rộng lợi ích của Trung Quốc mang tên “một vành đai, một con đường”. Chiến lược nầy rất có khả năng va chạm với lợi ích của Nga và kế hoạch “Liên minh kinh tế Á – Âu” của TT Putin. Điều nầy có thể làm ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ Nga – Trung”.


[4] Tờ kinh tế Đức Deutsche Wirtschafts Nachrichten, số ra ngày 26/7/2015 cho biết: Bất chấp cái gọi là “liên minh” với Nga, những căng thẳng giữa Nga – Ukraine, Bắc Kinh đang âm thầm có mặt ở Ukraine cứu vớt nền kinh tế đang khủng hoảng của nước nầy. TC có thể trở thành kẻ chiến thắng trong chuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Nga và sẽ loại bỏ những người châu Âu ra khỏi địa bàn Ukraine.


Năm 2014, Bắc Kinh đã mua các công ty, xí nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp Ukraine với giá bèo, chỉ bằng một nửa, thậm chí còn rẻ hơn vì chiến sự. Tại Ukraine, Bắc Kinh quan tâm hàng đầu lĩnh vực nông nghiệp. Đầu năm 2013, Bắc Kinh đã thuê 5% đất nông nghiệp của Ukraine. Tờ Financail Times cho biết, cho đến đầu tháng 7/2015, Ukraine đã trở thành nhà sản xuất lương thực lớn nhất cho TC, kể từ sau sự kiện Nga sáp nhập Crimea, thương mại nông nghiệp giữa Ukraine và TC đã tăng 56%.


Rõ ràng, Bắc Kinh đang chơi trò 2 mặt tại Ukraine và nhờ đó Bắc Kinh được hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc khủng hoảng ở nước nầy. Tình cảm giữa Ukraine – Tàu Cộng ngày càng nồng ấm. Sự kiện đầu năm 2015, khi dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos (Thụy sĩ), Thủ tướng TC Lý Khắc Cường đã gặp Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko. Lý Khắc Cường nói, Bắc Kinh tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Ukraine.


[5] Tham vọng của Bắc Kinh không dừng lại ở Trung Á và Ukraine, Tập Cận Bình còn dòm ngó đối với vùng lãnh thổ trên sườn phía Bắc nước Tàu, Mao Trạch Đông đã từng thổ lộ vào năm 1964: “Khu vực phiá đông của hồ Baikal là của chúng ta, nó đã trở thành lãnh thổ của Nga khoảng một thế kỷ trước đây. Kể từ đó, vùng đất VLADIVOSTOK, KHABAROVSK, KAMCHATKA, SIBERIA và một số khu vực khác của chúng ta thuộc về lãnh thổ Liên Bang Xô Viết. Mao có lần than phiền với Kissinger: “Liên Bang Xô Viết” đã xẻo bớt của Trung Quốc gần 2.000.000 km2”.

HẬU QUẢ XÂM LĂNG CRIMEA VÀ CAN THIỆP VÀO UKRAINE:


Theo tạp chí TIME số ra ngày 16/12/2014, dân Nga không còn mặn mà với hành động phiêu lưu quân sự của TT Putin tại Crimea và Ukraina và đã quay lưng lại với ông ta. Có thể chính Putin cũng đã nhận ra rằng, ông đang phải trả giá quá đắt cho tính háo thắng, kiêu căng, ngạo mạn và những toan tính sai lầm của mình ở Crimea và Ukraina? Thôn tính Crimea bành trướng lãnh thổ để làm gì? Xét về địa chính trị, nước Nga có diện tích lớn nhất thế giới, nếu đem so sánh với Canada, Tàu Cộng và Hoa Kỳ:

· NGA: Diện tích 17.098.242 km2 – Dân số 140 triệu người.

· CANADA: Diện tích 9.984.670 km2 – Dân số 35 triệu người.

· HOA KỲ: Diện tích 9.826.630 km2 – Dân số 313 triệu người.

· TÀU CỘNG: 9.640.001 km2 – Dân số 1 tỷ 341 triệu người.

Trên tạp chí “CÁC VẤN ĐỀ VIỄN ĐÔNG” số ra ngày 1/2002, ông A. Sharavin – Giám đốc Viện nghiên Cứu & Phân tích Chính trị và Quân sự Nga – đã cảnh báo những người ở điện Kremlin rằng: “TRUNG QUỐC LÀ KẺ THÙ SỐ 1 CỦA NGA”, ông nói: “Trung Quốc sau 20 nữa (2020) sẽ trở thành “mối đe dọa thứ 3” mạnh hơn nhiều so với chiến tranh Chesnya và Kossovo”.

Ông A. Sharavin và những người cổ súy thuyết “TRUNG QUỐC ĐE DỌA” đồng quan điểm cho rằng: Sau khi trỗi dậy, Trung Quốc sẽ đe dọa an ninh của Nga. Tham vọng của Bắc Kinh thể hiện trên các mặt:

· Thuyết “LÃNH THỔ CŨ TRỞ VỀ TRUNG QUỐC”: Đây là quan điểm phổ biến ở Nga. Chính sách hiện nay của TC chưa gây mối đe dọa. Nhưng, 20 năm nữa, ai có thể bảo đảm TC không chia cắt bản đồ Nga? Ông A. Tsyganok (Giám đốc Trung Tâm Dự báo Quân sự) cho rằng: “TC luôn luôn có dã tâm lãnh thổ”. Nguy hiểm ở chỗ biên giới 2 nước còn có những đoạn tranh cãi, người Hoa không chỉ một lần nhấn mạnh, họ sẽ không từ bỏ lãnh thổ vốn có của họ bị Nga chiếm hồi thế kỷ 17& 18; sau khi trỗi dậy, Bắc Kinh tất nhiên sẽ thu hồi các lãnh thổ nầy.

· Thuyết “BÀNH TRƯỚNG DÂN SỐ DƯ THỪA”: Lúc quyền Thủ tướng Nga là Egor Gaida cảnh báo: “Tại các vùng tiếp giáp giữa 2 nước, mật độ dân Tàu đông gấp 100 lần người Nga. Tổng số dân Tàu nhiều gấp 8 lần Nga. Sự suy thoái của chúng ta và đất đai rộng rãi vùng Viễn Đông của ta chưa khai thác, chính là miếng mồi nguy hiểm. Tsyanok cho rằng: “TC luôn luôn dùng cách di dân bất hợp pháp để lặng lẽ tiến hành bành trướng kiểu “BÒ DẦN”. Một cuộc thăm dò dân ý vùng Viễn Đông cho thấy 50% số người nói: “Sau 10 năm nữa, di dân Tàu sẽ chiếm với tỷ lệ 60%”.

· Thuyết “TRANH CƯỚP NGUYÊN VẬT LIỆU”: Dựa trên cơ sở cho rằng TC do kinh tế phát triển nhanh đã trở thành “mãnh thú năng lượng” để giành nguồn cung cấp nguyên vật liệu. Sharavin nói: “TC thiếu tài nguyên, sau 20 năm nữa sẽ không còn sức để duy trì nền kinh tế phát triển. Sau khi đã dùng hết các biện pháp hòa bình, Bắc Kinh sẽ dùng vũ lực xâm lược và cướp nước Nga giàu tài nguyên”. Công ty RAND của Mỹ mới đây đưa ra báo cáo nghiên cứu: “Trước năm 2020 chiến tranh Nga – Trung không tránh khỏi”. Đài truyền hình Nga ở Viễn Đông còn dựng phim về đề tài nầy để cảnh báo điện Kremlin.

Theo Les Echos, nếu cuộc chiến giữa Nga – Ukraine bùng nổ, có thể Mỹ & Nato sẽ nhập cuộc, đây sẽ cơ hội bằng vàng để Tập Cận Bình chớp thời cơ mở cuộc tổng tấn công chớp nhoáng tràn ngập toàn bộ vùng Viễn Đông Vladivostok, Khabarovsk, Kamchatka và một phần đất quanh năm băng giá Siberia nhưng giàu có tài nguyên. Quân đội Nga sẽ lâm vào cái thế “NƯỚC XA KHÔNG CỨU ĐƯỢC LỬA GẦN”. TT Putin sẽ trở tay không kịp và sẽ không đủ lực lượng để điều động sang vùng Viễn Đông giải tỏa áp lực địch.


Theo dự đoán, mỗi năm có khoảng 200.000 tới 300.000 ngưòi Hoa vượt biên giới sang vùng Viễn Đông sinh sống. Ông Sergei Pushkarev, phụ trách cơ quan Di trú của tỉnh Primorye (giáp ranh với Khabarovsk) cay đắng nói: “Nếu người Hoa muốn chiếm Primorye, họ đủ khả năng tràn ngập toàn vùng nầy trong vòng 2 giờ mà chúng ta không thể quay lại thời của bức màn sắt để ngăn chận họ”.

VIỄN CẢNH CHIẾN TRANH NGA – TRUNG?


Mặc dù, Moscow và Bắc Kinh xích lại gần nhau hơn, trong bối cảnh Nga bị Mỹ & phương Tây trừng phạt kinh tế, hâụ quả xâm luợc Crimea và can thiệp vào Ukraina. Hồi đầu tháng 9/2015, Nga – Trung có cuộc tập trận hải quân khá qui mô trên Biển Đông. Nhưng, điều đó không có ý nghĩa là quan hệ Nga – Trung là hoàn toàn tốt đẹp, vẫn còn tồn tại việc tranh chấp lãnh thổ như đã xảy ra vào năm 1960. Hiện nay, Nga đang kiểm soát khu vực sông Ussuri mà Bắc kinh đòi hỏi chủ quyền.

Hiện nay, Bắc Kinh đang đầu tư phát triển nhiều vũ khí tầm xa được cho là sử dụng chống lải hải quân Hoa Kỳ ở Tây Thái Bình Dương. Nhưng, trên thực tế các vũ khí nầy dùng để tấn công các mục tiêu chiến lược trên đất Nga, nếu quan hệ song phương trở nên xấu đi. Tấn công Nga để đòi lại chủ quyền lãnh thổ những vùng đất bao la đã kể trên, để mở rộng “KHÔNG GIAN SINH TỒN” là một nhu cầu sinh tử và cấp bách để giải quyết vấn đề nhân mãn và môi trường sống bị ô nhiễm không còn thuốc chữa. Hơn nữa, đánh Nga sẽ dễ dàng hơn đánh Mỹ vì Nga đang bị thế giới cô lập và không có những đồng minh truyền thống như Hoa Kỳ.

Một cuộc xung đột vũ trang toàn diện giữa Nga – Trung bao giờ sẽ xảy ra do tranh chấp lãnh thổ như năm 1960? Một cuộc chiến tranh bằng vũ lực như vậy, sẽ chưa thể xảy ra vào thập niên nầy vì cả Nga và Tàu Cộng đều cần nhau trong việc cùng phát triển và thách thức vị trí thống trị của Hoa Kỳ. Nhưng điều đó không có nghiã là một cuộc xung đột vũ trang bị loại trừ khỏi cuộc chơi quyền lực chính trị giữa Nga – Trung.

TT PUTIN SỢ CHIÊU “GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG” CỦA TẬP CẬN BÌNH:


Dù điện Kremlin chấp nhận bán những sản phẩm quốc phòng hiện đại nhất cho Bắc Kinh, nhưng sở hữu những công nghệ tối tân sản xuất ra loại vũ khí như vậy thì giấc mơ của Tập Cận Bình sẽ khó thành, vì Putin sợ đồng chí lật lọng tráo trở Tập Cận Bình dùng những vũ khí nầy đập lại Nga.



Theo thông tin quân sự Nga, nước nầy chỉ đồng ý hợp tác phát triển động cơ cho Su-35 chứ không có kế hoạch sản xuất tiêm kích loại nầy. Thông tin nầy, được hãng TASS dẫn nguồn tin quân sự Nga ngày 25/8/2015 cho biết: Phía Nga không có bất cứ kế hoạch nào về việc sản xuất các chiến đấu cơ Su-35S ở Hoa Lục dưới dưới dạng cấp phép cả. Tất cả chiến đấu cơ này sẽ được chuyển giao từ Nga và theo nguồn tin ngoại giao quân sự thì tất cả lô Su-35S mà Nga sắp bàn giao cho Bắc Kinh đều ở dưới hình thức lắp ráp hoàn chỉnh. Trong khi Nga không đồng ý sản xuất Su-35S tại TC, nhưng phía Nga lại đồng ý hợp tác phát triển động cơ loại tiềm kích này với Bắc Kinh trên cơ sở sản phẩm 117C.



Theo Vyacheslav Dzirkalh – Phó Giám đốc Cục Hợp tác kỹ thuật Quân sự Liên Bang Nga (FSVTS), hợp đồng bế tắc chính là vì Bắc Kinh yêu cầu thay đổi tham số kỹ thuật Su-35 trước khi chuyển giao. Trong khi Nga không có ý định thực hiện bất kỳ sự thay đổi lớn lao nào từ hình dáng tới kỹ thuật của phiên bản Su-35 xuất cảng.



Theo báo Wall Street Journal, có thể Nga – Trung sẽ cùng đóng “tàu sân bay”, khi 2 nước này đang xây dựng quan hệ hữu nghị. Trong khi đó, tạp chí National Interest cho biết dự án nầy sẽ không thể hình thành do nhiều nguyên nhân khác nhau. Một quan chức trong lĩnh vực công nghệ quốc phòng Nga cho biết: “Bắc Kinh đang nâng yêu cầu lên thêm một bậc là muốn nắm phần chính trong dự án trên,” người nầy nói. “Chúng tôi đều có lợi trong quan hệ nầy. Nhưng sự thật là Bắc Kinh đang chơi kèo trên”.



Theo National Interest cho biết thêm, Nga có thể muốn hợp tác, nếu Bắc kinh sẵn lòng tài trợ và giúp Nga đóng một chiếc tàu sân bay mới, chi phí hàng tỷ Mỹ kim. Nếu như, Bắc Kinh sẵn sàng gánh đa phần kinh phí, thì Nga sẵn sàng chia sẻ công nghệ này. Nhưng, Nga có thật sự muốn giúp công nghệ quốc phòng hiện đại cho TC, khi TT Putin còn phải tính đến nguy cơ bị Tập Cận Bình đâm sau lưng mình, nếu một ngày nào đó mối quan hệ với Bắc Kinh xấu đi, Tập Cận Bình có thể sử dụng chính công nghệ hiện đại của Nga để chống lại Nga thì sao?



Từ những phân tích trên, National Interest cho rằng, việc Nga hợp tác với TC để phát triển tàu sân bay là sự hợp tác không tưởng. Nhân định của tạp chí Mỹ hoàn toàn có cơ sở khi thương vụ Su-35, Nga – Trung đã đi tới hồi kết thúc, nhưng Nga vẫn thẳng thừng khẳng định không có chuyện sản xuất Su-35 tại Tàu Cộng.

KẾT LUẬN:


Quan hệ giữa TT Putin và Tập Cận Bình đang bị thử thách khi 2 nền kinh tế hai nước có những bất ổn. Thỏa thuận năng lượng được ký kết năm ngoái để cung cấp khí đốt từ Nga sang TC tới nay rất ít tiến triển. Thương mại song phương dự đoán đạt hơn 100 tỷ USD trong năm nay, nhưng thực tế mới chỉ đạt được khoảng 30 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm, phần lớn vì TC sụt giảm nhu cầu dầu khí của Nga. Cộng với thị trường chứng khoán lao dốc, tăng trưởng kinh tế ở mức chậm nhất trong ¼ thế kỷ, Bắc Kinh khó có thể cung cấp một đảm bảo nào vững chắc mà TT Putin tìm kiếm nhằm đối phó với sự trừng phạt từ phương Tây. Đó là chưa kể tới giá dầu giảm mạnh toàn cầu.

Fiona Hill – chuyên gia nghiên cứu về Nga của viện Brooking ở Washington – nhận định: “Nga trông chờ vào sự tăng trưởng của TC cũng như nhu cầu tiêu thụ hàng hóa ở nước nầy gồm dầu, khí đốt, khoáng sản. Với Nga, TC là một lựa chọn thay thế châu Âu, sự lạc quan về việc TC giúp Nga thoát khỏi các vấn đề kinh tế đã phai mờ dần. Giới tinh hoa điện Kremlin đã thất vọng vì không thể nhanh chóng hiện thực hóa những gì người Nga hy vọng”.

Hậu quả việc xâm lăng Crimea và can thiệp vào Ukraina do bản chất chủ quan, háo thắng và ngạo mạn của TT Putin đã khiến nền kinh tế của Nga khốn đốn và đồng rúp lao dốc vì lệnh cấm vận của Mỹ & phương Tây. TT Putin đã đẩy nước Nga tiến dần vào quỹ đạo của TC và đã mất nhiều thứ về tay Bắc Kinh, đặc biệt về địa bàn chiến lược Trung Á, theo truyền thống là khu vực chịu ảnh hưởng của Nga từ thời LX và bất kỳ sự hiện diện nào của Bắc Kinh vượt các thỏa thuận thương mại đều khiến Moscow coi như Bắc Kinh đâm sau lưng mình.

Về mặt chính thức, TT Putin đã thẳng thắn bác bỏ về một liên minh mới phía Đông: “Chúng tôi không tạo ra liên minh quân sự với Trung Quốc, không tạo ra cách tiếp cận kiểu khối”. Trong cộng đồng kinh doanh ở Nga tồn tại nỗi lo ngại rằng, buộc phải hướng Đông có nghĩa là Nga đang bị dồn vị trí yếu.


“Quan hệ xấu đi với Mỹ & phương Tây đều không tốt cho cả hai bên và chỉ có lợi cho Bắc Kinh,” ông doanh gia ở Nga nói. “Số lượng các đoàn TC tới Nga tăng gấp bội và người TC sẽ chỉ xâm nhập thị trường khi họ thấy rất có lợi cho mình”. Còn cơ quan Di trú của Nga đang rất thận trọng về một làn sóng người nhập cư Tàu Hoa Lục vượt qua biên giới hai nước, xâm nhập bất hợp pháp vào vùng Viễn Đông. Người dân Nga bản địa báo động: “Người Tàu có thể trở thành một nhóm dân tộc lớn nhất tại vùng Viễn Đông Nga vào năm 2020 hoặc 2030.”


Theo A.A Khraamchilin – Phó giám đốc Viện Hàn Lâm Khoa học Nga – một chuyên gia uy tín của Nga, viết trên báo “BÌNH LUẬN QUÂN SỰ ĐỘC LẬP” đã cảnh báo những người ngồi ở Điện Kremlin rằng: “Cuộc chiến tranh của Trung Quốc chống Liên Bang Nga, chiến thắng sẽ không thuộc về chúng ta.”


Tỷ phú Oleg Deripaska kết luận vấn đề này như sau: “Nga nên tích cực hợp tác với Hoa Kỳ và Châu Âu (EU), chứ không phải Trung Quốc”. Nếu không muốn Tập Cận Bình đâm sau lưng mình thì chỉ có một cách duy nhất là TT Putin phải trả Crimea về vị trí cũ của nó và chấm dứt can thiệp vào Ukraina mà thôi

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image



Thảm Trạng Di Dân Âu Châu


Vũ Linh
...những xung đột đã có từ cả ngàn năm nay trong vùng này...

Dân tỵ nạn ta quá quen thuộc với những hình ảnh tàn khốc nhất do chiến tranh tạo ra. Ba chục năm chiến tranh đã khiến chúng ta chai đá rất nhiều. Dù vậy, bức hình một bé trai ba tuổi nằm chết, gục mặt xuống bãi biển Âu Châu chắc chắn đã gây xúc động mạnh. Đó là bức hình chấn động lương tâm nhân loại, bất kể bảo thủ, cấp tiến, Mỹ hay Tàu, trắng hay đen. Một bức hình không cần chú thích diễn giải, nhưng mang nhiều ý nghiã hơn tất cả mọi lời bàn.

Nó biểu tượng cho một thảm họa xưa hơn trái đất: người dân vô tội trốn chạy chiến tranh bằng mọi giá.

Chuyện trốn chạy chiến tranh không xa lạ gì đối với dân Việt chúng ta. Mùa Xuân kinh hoàng của 1975 đã chứng kiến hàng trăm ngàn người trốn chạy bị chết trên Cao Nguyên, trên Đèo Hải Vân, trên bãi Sơn Trà,... Dân tỵ nạn bên Âu Châu bây giờ ít nhất cũng không bị quân CS đuổi theo xả súng bắn loạn đả vào đám đông. Chưa nói đến cảnh cả trăm ngàn người lênh đênh trên những con thuyền ọp ẹp, nhắm mắt ra khơi mà không biết đi đề đâu.

Nhìn thấy cảnh di tản bên Âu Châu ngày nay, ai cũng thấy ba câu hỏi lớn nhất: tại sao, phải làm gì và rồi sẽ ra sao.

TẠI SAO

Không kể thời thượng cổ cách đây mấy chục ngàn năm mà chúng ta chẳng biết gì nhiều, kể từ 4-5000 năm gần đây, ta đã thấy chiến tranh tại đây. Từ tranh chấp giữa các đế chế Ai Cập và Ba Tư, đến thời Hy Lạp với đại đế Alexander, rồi thời La Mã với Julius Ceasar, đến thời Thập Tự Chinh, rồi đế quốc Ottoman, qua thời các đế quốc Âu Châu tranh dành đất đai và ảnh hưởng, các cuộc chiến dành độc lập, rồi đến lịch sử cận đại với cuộc chiến sống còn giữa Do Thái và Ả Rập. Cuối cùng là cuộc “thánh chiến” của Hồi giáo cực đoan.

Đúng như cựu thủ tướng Anh, Winston Churchill, đã nói, “chiến tranh là trạng thái bình thường, hoà bình mới là tai nạn”.

Việc vùng này là vùng bất ổn rất dễ hiểu nếu nhìn vào bản đồ thế giới.

Đây là ngã ba giữa Âu, Á và Phi Châu. Nhân loại thời ăn lông ở lỗ xuất phát từ Phi Châu thật, nhưng phải nói là văn minh nhân loại thực sự xuất phát từ Trung Đông, từ Ai Cập qua Iraq ngày nay. Hai con sông lớn, Nile và Tigriss là hai bầu sữa đầu tiên của nhân loại. Ngày nay, từ Âu qua Á, từ Á qua Phi, đều phải đi qua vùng này. Một vùng đất chiến lược sinh tử. Là ngã ba trộn chấu của ba sắc dân Âu, Á và Phi.

Cũng là thánh địa của ba tôn giáo lớn là Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo. Cho dù ba tôn giáo này có gốc gác rất gần nhau khiến người ta có cảm tưởng là cả ba đều cùng một xuất xứ, cùng cha mẹ, nhưng rồi tranh cãi qua bao đời, bao kiếp, đưa đến huynh đệ tương tàn khốc liệt nhất.

Ngày nay, Trung Đông là vùng lửa đỏ cháy rừng rực khắp nơi, từ Libya qua Pakistan, từ Thổ Nhĩ Kỳ xuống Sudan.

Nhiều người đổ cho Mỹ và Tây Phương phải chịu trách nhiệm.

Những người chống TT Bush sẽ đổ lỗi cho ông đã tạo ra bất ổn -destabilization- khi mang lính Mỹ đi đánh Afghanistan và nhất là Iraq. Vì tính phe phái, họ nhắm mắt không nghĩ đến chuyện Hồi giáo quá khích đã đánh Mỹ trước, từ năm 1993 dưới thời TT Clinton chứ không phải từ 9/11. Năm 1993, Nữu Ước bị đặt bom, nhưng TT Clinton không trừng phạt cũng chẳng phòng ngừa, đưa đến 9/11. TT Bush không muốn sai lầm lần thứ hai, quyết định trừng phạt (Afghanistan) và phòng ngừa (Iraq).

Trước khi TT Bush đánh hai xứ này thì Trung Đông ổn định thật. Nhưng cái ổn định này là giả tạo hoàn toàn. Vì đó là ổn định trong gông cùm của các chế độ độc tài tàn bạo nhất, từ Libya với Khaddafi, đến Syria với các tổng thống cha truyền con nối họ nhà Assad, qua tới Iraq của Saddam Hussein, Iran của các Ayatollah cuồng tín, Pakistan của quân phiệt, và Afghanistan của các mullah Taliban tàn ác nhất. Một cuộc ổn định chính trị trên xác hàng trăm ngàn người dân vô tội.

Những người chống TT Obama sẽ nhắc nhở thời của ông cũng là thời khủng bố ISIS lớn mạnh như thổi vì sự yếu đuối của Mỹ. Họ cũng sẽ nói nếu TT Bush có tội tạo bất ổn khi loại Saddam, thì TT Obama cũng có tội tạo bất ổn tại Libya khi can thiệp giết Khaddafi. Ít ra Bush có lý do loại Saddam vì sợ vũ khí giết người tập thể. Obama chẳng có lý do gì giết Khaddafi. Một điểm nữa cũng cần phải nhắc. Bush tạo bất ổn tại Iraq, nhưng cũng cố gắng tìm cách xây dựng lại Iraq, tuy thất bại. Obama tạo bất ổn tại Libya, rồi mau mắn tháo chạy ngay, bỏ mặc đám phiến quân Libya tiếp tục giết nhau cho đến ngày nay.

Chiến tranh tàn khốc đã đẩy hàng triệu người đi tìm an bình. Hiện nay, có hai làn sóng di dân chính: một từ Syria và Iraq, trốn tránh quân ISIS, chạy qua Thổ Nhĩ Kỳ, rồi từ đó, tràn qua Hy Lạp và vùng Balkans bên Âu Châu, tìm cách chạy qua Đức và các nước Bắc Âu. Có thể nói đây là làn sóng tỵ nạn, nạn nhân của việc Bush đánh Iraq. Làn sóng thứ hai từ Libya vượt biển Điạ Trung Hải qua Ý và Hy lạp, rồi đi lên Tây Âu, mỗi ngày cả ngàn người vượt biển. Đây có thể nói là làn sóng tỵ nạn, nạn nhân của việc Obama đánh Libya.

Thật ra, nếu nói trách nhiệm thì chính phủ các nước Syria, Iraq và Libya có trách nhiệm phải bảo vệ dân của họ. Nhưng các chính quyền này thực tế đang... lo đánh nhau, chính là thủ phạm tạo ra tình trạng chiến tranh khiến thiên hạ phải trốn chạy.

Tuy nhiên, cũng phải nói Mỹ và các cường quốc Tây Âu cũng đã có trách nhiệm rất lớn. TT Bush đánh Iraq và TT Obama đánh Libya, cả hai cùng tạo bất ổn, cùng đánh với các đồng minh Âu Châu. Người tám lạng, kẻ nửa cân, khỏi tranh cãi ai tội nặng hơn ai làm chi cho mệt.

Bây giờ, sau khi quậy nồi cháo heo lên, vì nhát gan, cả Mỹ lẫn Tây Âu đã thủ cẳng, đứng ngoài nhìn cuộc chiến đẫm máu tiếp diễn tại Trung Đông, nhìn TT Assad giết hàng trăm ngàn dân bằng bom hoá chất, nhìn ISIS cứa đầu hàng trăm ngàn dân khác, nhìn các phe phái giết nhau loạn xà ngầu ở Libya.

Những đệ tử của TT Obama vỗ tay hoan hô chính sách không xiá vào chuyện thiên hạ của ông tổng thống Nobel Hoà Bình. Bây giờ không còn lính Mỹ chết, chỉ có mấy tên Hồi giáo cuồng tín giết nhau, cho chúng chết bớt là vừa. Nếu bây giờ ta chấp nhận lý luận này thì cũng có nghiã ta hoan nghênh Mỹ bỏ Nam VN thôi. Vì đây cũng là lý luận của khối cấp tiến ngày trước khi muốn tháo chạy khỏi VN. Mỹ rút, lính Mỹ hết chết, chỉ còn lại mấy tên Việt giết nhau, kệ chúng.

Ở đây, cũng phải nói thêm là dĩ nhiên một số lớn trốn chạy chiến tranh, nhưng cũng có một số không nhỏ thuộc loại “tỵ nạn kinh tế”, đi tìm một chỗ sống và làm ăn khá giả hơn. Cái hình em bé trai gục chết trên bãi biển, thật ra có mặt trái không đẹp lắm. Bố mẹ em là dân gốc Syria thật, nhưng đã sống lâu năm tại Thổ Nhĩ Kỳ rồi. Anh bố muốn lợi dụng cơ hội, chạy qua Đức … làm lại bộ răng mới! Trước có bộ răng mới, sau hy vọng ở lại, có việc làm lương cao hơn. Vì bộ răng mà cả vợ lẫn hai con đều chết thê thảm.

.

PHẢI LÀM GÌ?

Các cường quốc Âu Mỹ là những quốc gia ổn định, phú cường, là giấc mơ thu hút cả thiên hạ, đó không phải là cái tội. Và họ tuyệt đối chẳng có trách nhiệm phải cứu giúp, mang dân nghèo khổ của cả thế giới về nước của họ để họ cong lưng đóng thuế nuôi khối tỵ nạn. Các ông Trung Đông đánh nhau chị choé từ đời này qua kiếp nọ, vì đủ mọi lý do, từ chính trị đến tôn giáo, đó là lỗi, là trách nhiệm của các ông.

Nói trách nhiệm cứu giúp về lý thì đúng vậy. Nhưng nếu nói về tình thì khác. Nếu mấy ông nhà giàu có dư thừa tiền bạc và khả năng, thì các ông cũng nên giúp những người nghèo khổ, cho phải đạo làm người. Nhung lụa đùm khố rách. Cho dù có trách nhiệm hay không.

Trong cái tình đó, dĩ nhiên cũng có cái lý. Khi các nước Âu Mỹ viện trợ các nước nghèo, cũng chẳng phải vì nhân đạo không đâu, mà để giúp dân nghèo khá hơn, có thêm ít tiền mua sản phẩm của các nước giàu, mua xe hơi, tv, tủ lạnh, computer,..., đều là sản phẩm của các nước giàu. Đồng thời giúp cho các nước nghèo khá hơn một chút cũng là giúp giảm bớt mâu thuẫn xã hội, cái lò sản xuất những chủ thuyết cực đoan nhất, từ đó đưa đến bất ổn chính trị và chiến tranh.

Các quốc gia Tây Âu và các cường quốc khác đất rộng, tiền nhiều, người ít ngoài Âu Châu, như Mỹ, Canada, và Úc Châu, đều cần phải...”làm một cái gì” để giúp những nạn nhân khốn khổ của chiến tranh Trung Đông ngày nay, không cần biết ai lỗi ai phải. Một đại cường như Mỹ có nhận thêm một hai triệu người thì cũng chỉ là chuyện “muỗi đốt gỗ”. Nhật là cường quốc, nhưng hết đất rồi. Trung Cộng và Nga thừa đất, nhưng bảo đảm không một anh tỵ nạn nào xin đi Tân Cương hay Siberia.

TT Obama quyết định nhận 10.000 người tỵ nạn Syria là một bước tiến đúng hướng vì ông không có lựa chọn nào khác. Nhưng nghe như trò đùa. Trong khi Đức dự tính nhận 800.000 người mà Mỹ nhận 10.000 thì thật khó ăn nói với thế giới. Cái tư thế “lãnh đạo thế giới” có còn không? Ông Nobel Hoà Bình chỉ làm được vậy thôi sao? Dù muốn hay không, dù biện giải cách nào thì cũng phải nhìn nhận các TT Bush và Obama có trách nhiệm lớn nhất cho những gì đang xẩy ra tại Trung Đông.

Ứng viên tổng thống Scott Walker của Cộng Hoà chống việc nhận thêm dân tỵ nạn sau khi Mỹ đã nhận 1.500 người từ Syria (tính cho đến nay). Đây là thái độ ích kỷ, thiển cận, dựa trên tính toán đa số cử tri Mỹ trắng sẽ không muốn chấp nhận dân Trung Đông. Ông viện cớ Mỹ đã chi 4 tỷ đô giúp dân tỵ nạn rồi. Đây là cách nhìn kiểu tư bản Mỹ, chỉ thấy tiền không thấy gì khác, chẳng cần biết tình người, mà cũng chẳng thấy về lâu về dài, khối dân tỵ nạn đó sẽ đóng góp lại bao nhiêu tiền, bao nhiêu thuế, bao nhiêu nhân tài cho nước Mỹ.

Ngày xưa, khi bàn về chuyện nhận dân tỵ nạn VN, các ông Jerry Brown, Joe Biden chống đối vì lo ngại Mỹ tốn tiền rước một đống rác thối vào nhà. Đó cũng là quan điểm chung của khối Dân Chủ thời đó.

Công bằng mà nói, không phải ông bà chính khách Dân Chủ nào cũng vậy. TNS cấp tiến nhất, Ted Kennedy, đã đứng đầu tầu, tích cực vận động các đồng chí để Mỹ nhận dân tỵ nạn Việt. Ông làm gương, nhận một trẻ em mồ côi VN làm con nuôi. Nhờ sự tích cực của ông mà cuối cùng quốc hội đã chấp nhận đề nghị nhận dân tỵ nạn VN của TT Ford. TNS Joe Biden phản đối, tẩy chay không bỏ phiếu (mai này, nếu cụ Biden có ra tranh cử tổng thống, cử tri tỵ nạn ta nên suy nghĩ ba phút trước khi bỏ phiếu cho cụ nhé!).

Cuối cùng thì ngày nay, họ đã thấy tuyệt đại đa số cái đám rác này đã đóng góp rất lớn cho nước Mỹ, từ ông tướng nhẩy dù cho đến các thanh niên gốc Việt hy sinh trên chiến trường Iraq/Afghanistan, từ các khoa học gia đến các doanh gia thành công nhất. Bãi rác Bolsa –thật sự trước 75 gần như là bãi rác- đã trở nên khu phố phồn vinh không thua gì bất cứ khu phố Mỹ nào khác. Dân tỵ nạn ta đã trả đầy đủ món nợ với nước Mỹ cả vốn lẫn lãi sau khi họ giúp ta lập lại cuộc đời tại đây.

Tại sao ông Walker không nghĩ dân tỵ nạn Syria và Libya, nếu giúp họ lập lại cuộc đời tại đây, cuối cùng thì họ cũng sẽ đóng góp lớn cho cái quê hương thứ hai này của họ? Không khác gì dân tỵ nạn chúng ta.

.

RỒI SẼ RA SAO?

Tình hình Âu Châu hiện nay rối bù, chẳng ai biết phải làm gì, rồi sẽ ra sao. Dân Âu Châu bối rối, phân vân, lưỡng lự. Một mặt hoảng sợ trước làn sóng dân Ả Rập tràn qua, mặt khác day dứt vì tình người. Các chính quyền Âu Châu cũng gãi đầu gãi tai không biết phải làm gì.

Cái đau đầu đầu tiên là tình trạng kinh tế Âu Châu nói chung không sáng sủa lắm. Gồng gánh thêm cả triệu di dân sẽ tạo thêm khó khăn chồng chất.

Giải quyết như thế nào những khó khăn cụ thể nhất thời như mang họ đi đâu, định cư cách nào, tốn bao nhiêu tiền. Một nước với nền kinh tế như Hy Lạp sẽ chết tức thời. Ý và Tây Ban Nha sẽ gặp khó khăn tầy trời. Nhưng Đức thì dư thừa tiềm năng nhận cả triệu người nữa. Bà thủ tướng Merkel đã trích ngay 6 tỷ đô trong ngân sách để chu cấp việc định cư dân tỵ nạn. Đây chỉ là số tiền đầu, sơ khởi.

Ngày xưa, Tây Đức bất ngờ “lãnh buá” khi bức tường Bá Linh xụp đổ, gánh ngay cả chục triệu dân Đông Đức nghèo sơ xác về nuôi. Hai thập niên sau, nước Đức vẫn là cường quốc mạnh nhất Âu Châu.

Các vị lãnh đạo Âu Châu cũng đau đầu về tình hình xã hội về lâu về dài.

Ngày nay, ai cũng nhìn thấy số dân gốc bắc Phi và trung đông tại Âu Châu, có thể đã quá nhiều, nhất là tại những xứ “thiên đường” nhất nhưng cũng là nhỏ nhất như Đan Mạch, Hòa Lan và Bỉ. Tại Pháp, một vài khu vực của các tỉnh lớn nhất như Paris, Lyon, Marseilles, đã hầu như trở thành tiểu quốc Ả Rập hay thuộc điạ của Maroc hay Algerie.

Cái khổ là những khối dân này không chịu hòa nhập, vẫn giữ nếp sống, văn hoá, khẩu vị ăn uống, ngôn ngữ, và nhất là tôn giáo gốc của mình. Từ đó đưa đến không biết bao nhiêu xung đột giữa khối di dân này với dân bản gốc.

Nhưng đây cũng không phải là chuyện đau đầu lắm. Hầu hết các thành phố lớn ở Âu Châu đều đầy di dân gốc bắc Phi hay Ả Rập, nhưng chẳng khi nào có đánh giết gì nghiêm trọng. Trong quá khứ, ta đã thấy dân gốc bắc Phi vùng ngoại ô Paris biểu tình, đốt xe, v.v..., nhưng thực tế là nổi loạn vì lý do kinh tế, khi khoảng 40%-50% giới trẻ ở đây thất nghiệp, bực mình, nổi loạn. Dĩ nhiên họ không chết đói vì được Nhà Nước Pháp nuôi rất kỹ, nhưng ở không ăn trợ cấp mãi cũng mất nhân cách, bực mình, nổi cơn điên nên chống đối. Họ nổi loạn chẳng phải vì lý do tôn giáo hay sắc dân.

Cái đau đầu lớn hơn nữa là ai cũng sợ các nhóm khủng bố ISIS, Al Qaeda,... sẽ trà trộn vào đám dân tỵ nạn, sau này sẽ khuấy động cộng đồng tỵ nạn này, hay không chừng thi hành những vụ tấn công cảm tử chống các chính quyền Âu Châu. Việc thâm nhập này hầu như chắc chắn đang xẩy ra và các xứ Âu Châu đang bù đầu tìm cách chống đỡ. ISIS huyênh hoang hù dọa đã có 4.000 tay súng được gửi qua Âu Châu. Chỉ là phóng đại lố bịch. Dù vậy vài trăm tên xâm nhập là chuyện rất có thể. Ta cũng không nên quên bên Âu Châu, mua súng đạn, thuốc nổ chế tạo bom không phải dễ, không có chuyện cả ngàn tên khủng bố mua bom đạn như mua quần áo.

Bà Ann Coulter, một bình luận gia cực hữu, chống lại việc nhận dân tỵ nạn Trung Đông vào Mỹ, đưa ra danh sách 4-5 tên khủng bố đã giết dân Mỹ từ sau 9/11. Từ ngày đó tới nay, Mỹ đã nhận cả trăm ngàn dân tỵ nạn từ Somalia, Sudan, Iraq, Afghanistan, tổng cộng có cả triệu dân Hồi giáo Trung Đông đang sống ở Mỹ. Chỉ có 4-5 tên khủng bố thì đúng ra, không phải là cái gì ghê gớm làm phiền giấc ngủ của bà.

Dĩ nhiên khủng bố len lỏi là một tai hoạ khó tránh. Nhưng không thể vì vài trăm tên khủng bố mà nhắm mắt trước cảnh khổ của cả triệu người khác. Khủng bố thắng nhờ... khủng bố tinh thần thiên hạ. Chúng ta không thể chịu thua, run sợ, đầu hàng khủng bố dễ dàng như vậy.

Phát ngôn viên Nhà Trắng tuyên bố phải trực diện căn gốc của vấn đề, tức là phải giải quyết những xung đột chính trị và tôn giáo tại Trung Đông trước thì mới giải quyết được nan đề tỵ nạn. Đây là chuyện kiếm cớ qua lý thuyết mộng tưởng. Chẳng thể nào ai có thể giải quyết được những xung đột đã có từ cả ngàn năm nay trong vùng này. Cho dù có làm được thì cũng cần thời gian vài ba chục năm là ít. Trong khi khối dân tỵ nạn sống chết từng ngày, không thể chờ các chính khách cãi nhau cả chục năm được.

Cho dù cả thế giới chẳng có lỗi gì, chẳng phải là thủ phạm gây ra cảnh tang thương cho đám dân tỵ nạn, nhưng trách nhiệm lo cho họ là trách nhiệm của cả nhân loại, cho dù chỉ vì lý do nhân đạo. Các cường quốc Âu Châu và nhất là Mỹ có dư thừa tiềm năng lo cho họ, và cần lo cho họ nhiều hơn nữa, cho dù sẽ gặp ít nhiều khó khăn kinh tế, xã hội nội bộ.

Đối với dân tỵ nạn ta, ngày xưa, ta cần được nước Mỹ cho tá túc, bây giờ ta đã thành công dân Mỹ, không lẽ ta hoan hô việc đóng cửa không cho dân tỵ nạn khác vào? (13-09-15)

Vũ Linh

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »


Ai đã ‘rước’ một công ty TQ trá hình vào cắm chốt những vị trí hiểm yếu ở Đà Nẵng?


Image
Công ty Hoa Tây Trung Quốc đang thực hiện giai đoạn hai của dự án.
14.09.2015

Tháng 6/2006, Bộ Kế hoạch - Đầu tư chính thức cấp giấy phép đầu tư cho dự án khu du lịch và giải trí quốc tế đặc biệt tại Đà Nẵng cho Công ty Silver Shores, một Cty Mỹ ở California, tổng vốn đầu tư 160 triệu USD.

Với hai giai đoạn đầu tư, Cty TNHH Đầu tư và Phát triển Silver Shores, pháp nhân thực hiện dự án, được giao ngót 1km dọc theo bờ biển Sơn Trà – Điện Ngọc, nay là đường Võ Nguyên Giáp. Nếu tính khoảng cách trung bình từ đường Võ Nguyên Giáp đến bờ biển là 300m thì diện tích đất mà chủ đầu tư được giao phải lên tới 30ha.

30ha đất, chạy dọc theo 1km bờ biển, toạ lạc ở trung tâm một thành phố quan trọng bậc nhất như Đà Nẵng, đối diện với sân bay Nước Mặn… rõ ràng đây là một địa điểm hết sức nhạy cảm về an ninh - quốc phòng.

Ngay từ giai đoạn khởi công, dự án này đã có nhiều khuất tất, mờ ám, khiến dư luận rất lo ngại. Tất cả các khâu của dự án, từ thiết kế, thi công, giám sát đều do nhà thầu Trung Quốc đảm trách. Người Việt Nam không được phép bén mảng vào trong khu vực thi công; ô tô của người Việt Nam chở vật liệu xây dựng cho công trình cũng phải dừng lại và đổ hàng ở cổng. Các toà nhà được đúc bằng bê tông cực kỳ kiên cố, không phải xây bằng gạch thường.

Image
'Tiểu quốc' Silver Shores của Đại Hán ở Đà Nẵng (ảnh: Lê Anh Hùng)

Hiện nay, “nhà đầu tư” Silver Shores đang thực hiện giai đoạn hai của dự án. Và, giống như giai đoạn 1, tất cả các khâu của dự án, từ thiết kế, thi công, giám sát cũng đều do người Trung Quốc đảm trách. Nhà thầu thi công là Cty TNHH Hoa Tây Tứ Xuyên, một Cty con của Cty Hoa Tây Trung Quốc Image
Cty Hoa Tây Trung Quốc đang thực hiện giai đoạn hai của dự án

Image
Người Trung Quốc đang làm gì bên trong bức tường rào và cánh cổng im lìm trên khu đất mặt biển dài 1km và rộng 30ha ngay trung tâm Đà Nẵng?

Không chỉ là chủ đầu tư của dự án hết sức nhạy cảm nói trên, Cty Silver Shores còn nhắm đến nhiều vị trí nhạy cảm khác mà báo chí đã nêu: tham gia góp vốn vào dự án khu nghỉ dưỡng World Shine trên đèo Hải Vân (nay đã tạm dừng trước sự phản đối gay gắt của dư luận); xin thực hiện dự án tàu lặn đáy kính ngắm san hô tại khu vực bán đảo Sơn Trà (1 trong 3 vị trí phòng thủ quan trọng nhất khu vực Đà Nẵng là Hải Vân – Sơn Trà – Phước Tường), dự án “Khu ký túc xá cho nhân viên Silver Shores” (nằm giữa hai trận địa pháo phòng không của thành phố), dự án “Khu phức hợp bến cảng du thuyền trên sông Hàn” tại khu vực cảng cá Thuận Phước (cũ) thuộc phường Thuận Phước (quận Hải Châu), dự án “Tàu lặn đáy kính ngắm san hô tại khu bán đảo Sơn Trà và mở rộng phạm vi du thuyền 20 hải lý”, dự án “Chuyên canh rau sạch” tại thôn Cẩm Toại Tây (xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang; nằm trên đường rút lui chiến lược quốc phòng), v.v. Image
Một trong những khách sạn của người Trung Quốc nằm đối diện khu du lịch Silver Shores trên đường Võ Nguyên Giáp, Đà Nẵng
Image
Hai bên con đường mang tên Võ Nguyên Giáp, ngay trước mặt sân bay Nước Mặn, đang dần trở thành một “đặc khu Trung Quốc”
Những người lái xe taxi trước sòng bài cho chúng tôi biết, các khu đất đối diện với khu du lịch và sòng bài Silver Shores bên kia đường Võ Nguyên Giáp đều đã được bán cho người Trung Quốc. Trong tương lai, nơi đây sẽ hình thành một khu phố Tàu, hay đúng hơn là một “đặc khu Trung Quốc” giữa lòng thành phố Đà Nẵng.

Đến đây thì có lẽ ngay cả những ai ngây thơ nhất cũng phải đặt câu hỏi: Vậy Silver Shores là Cty của Mỹ hay của Trung Quốc?

Theo trang Bizapedia và trang BusinessesCalifornia thì Silver Shores Ltd. được thành lập ngày 22/11/2004 tại California; địa chỉ: 1440 142Nd Ave,, San Leandro Ca 94578; hiện đã giải thể. Trụ sở chính của Cty: Unit D, 12/F., Seabright Plaza, 9-23 Shell Street, North Point, Hong Kong, China 94578.

Trang California Corporates cho biết Silver Shores Ltd. được đăng ký thành lập ngày 22/11/2004; địa chỉ: 1440 142Nd Ave,, San Leandro Ca 94578; Cty mẹ là Silver Shores Ltd., tại địa chỉ Unit D, 12/F., Seabright Plaza, 9-23 Shell Street, North Point, Hong Kong, China 94578.

Theo trang AMFIBI thì Cty Silver Shores Ltd. ở California có doanh thu hàng năm từ 725.000 – 750.000USD, với số nhân sự dao động từ 1–4 người.

Trang Buzzfile cho biết nhân sự của Silver Shores Ltd. gồm… 2 người.

Như vậy, có thể khẳng định Silver Shores Ltd. ở California (Hoa Kỳ) là một Cty ma của Trung Quốc, không điện thoại, không email, không website, và đã biến mất sau khi hoàn thành “sứ mạng” của mình.

Việc các ông chủ Tàu cố che dấu lai lịch Trung Quốc của Silver Shores rõ ràng là để dễ bề nhắm đến những vị trí nhạy cảm về an ninh - quốc phòng ở Đà Nẵng nhiều năm qua.

Chưa hết, mặc dù từng thành lập chi nhánh ở Mỹ và là chủ đầu tư của những dự án hàng trăm triệu USD ở Việt Nam, song Cty Silver Shores Ltd. ở Hồng Kông lại không có website riêng cũng như bất cứ thông tin gì trên mạng. Thông tin duy nhất mà chúng tôi tìm thấy liên quan đến cái tên Silver Shores tại Hồng Kông nằm ở trang Hong Kong Company List và trang Hong Kong Company Directory; nhưng đây lại là Silver Shores International Limited., chứ không phải Silver Shores Ltd., và thời điểm đăng ký thành lập là ngày… 26/9/2013. Thông tin đó được hai trang mạng trên lấy từ chuyên trang Integrated Companies Registry Information System (Hệ thống Thông tin Đăng ký Doanh nghiệp Hợp nhất) nằm trong website của Companies Registry (Cơ quan Đăng ký Doanh nghiệp) thuộc Đặc khu Hành Chính Hồng Kông: Image
Ảnh chụp thông tin về Cty “Silver Shores International Limited” trên website của Cơ quan Đăng ký Doanh nghiệp Hồng Kông

Như vậy, Silver Shores Ltd. ở Hồng Kông (Trung Quốc), Cty mẹ của Silver Shores Ltd. ở California (Hoa Kỳ), cũng là Cty ma nốt. Đằng sau chúng rõ ràng là những bàn tay đạo diễn mờ ám.

Điều tra nguồn gốc một Cty không phải là điều gì đó quá khó khăn, nhất là với một bộ máy quản lý nhà nước khổng lồ, một lực lượng “an ninh nhân dân” hùng hậu mà năng lực điều tra thuộc loại “hàng đầu thế giới” như ở Việt Nam. Vậy nên việc nhà chức trách Việt Nam dễ dàng để lọt lưới một Cty ma, và dĩ nhiên chưa bao giờ hoạt động trong những ngành đòi hỏi nhiều kinh nghiệm và năng lực quản lý như khách sạn/khu nghỉ dưỡng cao cấp và đặc biệt sòng bài, là điều hết sức khó hiểu.

Câu hỏi đặt ra ở đây là: Ai là đã “rước” một Cty Trung Quốc trá hình và mờ ám vào cắm chốt những vị trí hiểm yếu ở Đà Nẵng? Quan trọng hơn, hiểm hoạ mang tên “Silver Shores” kia cần phải được ngăn chặn và loại trừ như thế nào?
_________

Ghi chú:


Silver Shores nhận được sự ưu ái đặc biệt không chỉ của chính phủ mà cả lãnh đạo Tp Đà Nẵng.

Dự án này được giao đất sử dụng trong vòng 70 năm, vượt quá 20 năm so với quy định của Luật Đất đai 2003.

Ngày 14/4/2014, trong buổi làm việc với Đảng bộ, chính quyền Tp Đà Nẵng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo các cơ quan liên quan xem xét để Đà Nẵng mở rộng thêm bàn chia bài ở khu du lịch quốc tế Silver Shores.

Tháng 9/2012, trong một buổi làm việc với Cty Silver Shores, ông Nguyễn Bá Thanh, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng đã “đề nghị UBND Tp Đà Nẵng tổ chức một cuộc họp liên ngành thuế, tài chính và UBND Thành phố, nhằm tìm ra hướng giải quyết tốt nhất” cho khoản nợ thuế lên tới 28 tỷ VNĐ của Silver Shores. Người đứng đầu Tp Đà Nẵng thậm chí còn phát biểu: “Các ngân hàng cứ yên tâm cho Silver Shores vay tiền để họ triển khai thật tốt giai đoạn II. Khi Dự án hoàn thành thêm 1.000 phòng, kết hợp với khu vui chơi có thưởng, khách du lịch sẽ ào ào kéo đến chơi, nghỉ dưỡng…thì sợ gì thiếu tiền để trả.”

Khách sạn/khu nghỉ dưỡng cao cấp và đặc biệt sòng bài là những ngành kinh doanh có tính đặc thù rất cao. Vì vậy, đằng sau các dự án đầu tư trong các lĩnh vực này thường là những thương hiệu lớn với bề dày kinh nghiệm lâu năm thì mới có thể tồn tại được trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.

Xem ra, giống như dự án Formosa Hà Tĩnh, một doanh nghiệp Trung Quốc chưa từng sản xuất thép lại được giao một phần lãnh thổ bằng 1,2 lần diện tích Macao ở vị trí cực kỳ xung yếu trong 70 năm để… sản xuất thép, “vũ khí cạnh tranh” quan trọng nhất của Silver Shores ở Việt Nam cũng chính là những quan chức hoặc đã bán linh hồn cho quỷ, hoặc đã mờ mắt vì tiền.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


Lê Anh Hùng


Lê Anh Hùng là một blogger tự do trẻ trong nước tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Mưa ngập lòng dân

Cao Huy Huân

Mấy hôm nay trời mưa suốt đêm ngày, không ít người muốn phát điên vì mưa to kèm theo hàng tá thứ hệ luỵ. Chiều ngày 15-9, cơn mưa suốt 3 tiếng đồng hồ đã “nhấn chìm” thành phố được mệnh danh là trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam. Mưa lớn quá, lòng dân lại bộn bề.

Ngập chìm tất cả

Bạn bè sống lâu năm ở Sài Gòn viết ngập tràn trên mạng xã hội Facebook, đại khái phàn nàn “sống biết bao nhiêu năm ở Sài Thành, chẳng khi nào nước mưa ngập đến kinh hoàng như thế”. Báo chí đua nhau dùng những tính từ, trạng từ mô tả một cách sống động nhất về Sài Gòn sau một cơn mưa kéo dài vốn rất bình thường trong suốt nhiều năm qua. Ngay cả những tờ báo chính thống nhất ở Việt Nam cũng mạnh dạng giật tít “ngập như sông”, “ngập chưa từng thấy”, dân “bơi” về nhà, …để nói về đất Sài Thành sau một cơn mưa.

Lướt qua các tờ báo với những hình ảnh không thể ngờ, người ta cứ tưởng Sài Gòn là đồng bằng sông Cửu Long mùa nước lớn. Nước từ đâu đổ về, kéo theo rác rưởi, nước cống đen ngòm, hôi hám, nhấn chìm biết bao mệnh đời ngược xuôi vì cơm áo gạo tiền. Công nhân tan ca vội chạy về ăn cơm kịp giờ tăng ca tối, nước ngập, đành ngồi lại tìm đỡ gói mì tôm. Công nhân viên chức giờ tan sở vội chạy về đón con, rồi để con trên xe mà gồng, mà gánh, mà đẩy qua những đoạn đường chẳng còn biết gập ghềnh, nhấp nhô hay bằng phẳng.

Mấy bác xe ôm, thậm chí taxi cũng bó tay trước dòng nước cao cả mét, tặc lưỡi chịu đói hôm nay vì chẳng ma nào dại dột chạy ra đường mà gọi xe ôm hay réo taxi. Mà nhiều khi khách có nhu cầu, chẳng ai dám liều mà lái, không khéo đẩy xe cho khách, lại phải tốn tiền sửa xe. Ngay cả những cô chú làm công tác dọn đường cũng lắc đầu ngao ngán vì rác khắp nơi trôi nổi bồng bềnh, chẳng biết đêm nay mấy giờ nước rút, và rồi sẽ phải mất bao lâu để quét dọn những con đường đầy rác và chất thải đến mức chỉ nhìn đã phát nổi da gà.

Hai bên các tuyến đường “ngập cao điểm”, đã thôi không màn tát nước ra khỏi nhà, vì nước cao quá đầu gối, có tát cũng không thể nào hết được. Dân ngao ngán, buồn bực, mệt nhọc và buông xuôi, để mặc cho buổi cơm chiều đã nguội lạnh theo lòng người nổi trôi trên từng con nước. Nhà đã chật hẹp, nước lại ngập tràn lan, đêm nay sẽ là một đêm dài vô tận.

Nói vậy không có nghĩa là ai cũng khổ. Những toà biệt thự ngoại ô, những căn hộ chung cư đắt tiền, những ngôi nhà nằm trên các tuyến đường cao và đẹp nhất Sài Gòn, vốn là nơi cư ngụ của những người giàu, có cả quan chức, vẫn hiên ngang giữa mưa gió bão bùng. Lướt qua vài tờ báo mạng, nghe vài cú điện thoại, có tiếng tắc lưỡi chẳng biết vì cảm thông hay đang lo lắng lòng dân phẫn nộ vì một Sài Gòn đáng sống. Mà dù có thế nào đi chăng nữa thì có mấy quan chức phải lội bùn lội đất, dắt xe giữa những con phố nước ngập quá hông người như vô số người dân. Nước chảy siết, đục ngầu, lạnh lẽo còn mồ hôi thì nóng đến khó chịu, thỉnh thoảng khoé mắt cay cay vì trễ giờ đón con, vì bất lực trước chiếc xe đã “chết”, vì đuối sức mà không thể gục ngã, và vì vô số nỗi lo vẫn đang bộn bề, bồng bềnh theo từng con nước.

Trách nhiệm hay không trách nhiệm?

Giữa lúc Sài Gòn chìm trong biển nước, báo chí rầm rộ đưa tin, thì dư luận vẫn đang tranh cãi trách nhiệm thuộc về ai. Có người khẳng định “lỗi tại trời”. Họ cho rằng những cơn mưa liên tiếp đã đong đầy lòng Sài Gòn, nên chuyện ngập khắp nơi vẫn rất đỗi bình thường. Họ cho rằng nước ngập cũng như thể “trời kêu ai nấy dạ”, chẳng can hệ đến nhà quản lý.

Khi dự báo thời tiết vẫn chưa có những khẳng định về “sự bất thường” của những cơn mưa, thì việc mưa dài, mưa dai vẫn là chuyện “như cơm bữa” mỗi năm tại Sài Gòn. Thế nên, nếu đổ lỗi cho trời thì cũng chưa “công bằng” với “thần sấm, thần mưa”. Phản bác ý kiến “thiên tai”, có người cho rằng tại các thành phố lớn khác trên thế giới, mưa cũng không ít, tại sao không ngập? Không lẽ ông trời chỉ “làm khó” Việt Nam thôi? Vì lẽ đó, trách nhiệm phải quy kết về con người, mà chính danh là các nhà quản lý.

Nhiều người đưa ra nghi vấn các công trình đang được thi công gần đây, như hàng loạt các dự án khu chung cư, căn hộ cao cấp, các công trình quy hoạch hạ tầng tại thành phố đang bít dần các đường thoát nước của cả Sài Gòn. Chuyện này không khó để đặt làm giả thuyết, và chừng nào chưa có các báo cáo tác động môi trường của các cơ sở hạ tầng, công trình xây dựng quy hoạch,… một cách thuyết phục thì nghi vấn này vẫn cho phép người dân đặt dấu chấm hỏi lên trách nhiệm của chính quyền và các ngành chức năng liên quan.

Trong khi đó, nhiều người đã bắt đầu nhắc lại vô số các dự án chống ngập, thoát nước,…với chi phí lên đến tiền tỷ trong suốt những năm qua. Hiệu quả từ các dự án nghìn tỷ chống ngập ở đâu khi Sài Gòn ngày một chìm trong biển nước? Nếu càng đổ tiền, Sài Gòn càng ngập thế này thì trách nhiệm thuộc về nhà thi công dự án, người lập kế hoạch dự án, hay người giám sát và thẩm định các dự án chống ngập? Dù là ai, thì đó chắc chắn phải có liên hệ đến trách nhiệm của những người làm công tác quản lý đô thị hạ tầng.

Vẫn có nhiều người đơn giản hơn, ngắn gọn hơn khi bàn về “trách nhiệm vụ ngập thuộc về ai?” Họ nói rằng việc khiến dân lao đao vì ngập nước, không thể ai khác chịu trách nhiệm, chính là người làm quản lý, dù đó là thiên tai ngoài ý muốn. Hãy nhìn sang các quốc gia phát triển. Bộ trưởng bộ nông nghiệp từ chức vì trời nắng, dân mất mùa hàng loạt mà Bộ không giải quyết hay khắc phục được gì. Hay như chuyện thủ tướng từ chức vì một người làm trong gia đình vi phạm luật (dù không nặng). Hàng tá chuyện từ chức cho thấy trách nhiệm không chỉ dừng ở chuyện quan chức gây tổn thương cho người dân, mà còn ở chuyện không thể mang lại những điều tốt đẹp thật sự cho đời sống người dân. Chuyện ngập nước cũng vậy, dù có “thiên tai”, nhưng làm quan mà không dự trù, không giải quyết được, để nạn ngập nước, kẹt xe kéo dài nhiều năm và ngày càng trầm trọng, thì làm quan để làm gì?

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Việt-Nam đã mất từ lâu rồi...?

Việt cộng còn, nước sẽ mất!


LS.Lê Duy San
http://2.bp.blogspot.com/-JDwEHXEgA3s/V ... %CC%89.jpg


Sau năm 1975, mặc dầu thù ghét bọn Việt Cộng đến tận xương tủy, nhưng cũng có một số người, nhất là dân miền Nam, thầm phục bọn Việt Cộng đã làm được một việc mà trước kia chính phủ miền Nam Việt Nam (VNCH) đã không làm được đó là đuổi được đám Tầu Chợ Lớn ra khỏi Việt Nam. Nhưng kể từ khi chúng (Việt Cộng) bị Trung Cộng “dậy cho một bài học” vào tháng 2 năm 1979 và cưỡng chiếm quần đảo Trường Sa vào ngày 14 tháng 3 năm 1988 khiến Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư của đảng Cộng Sản Việt Nam phải lậy lục Trung Cộng xin hòa hay nói cho đúng hơn là xin hàng Trung Cộng vào năm 1990.


Việc này làm người ta nghĩ rằng việc làm của chúng trước kia chẳng có gì là đáng phục, mà trái lại còn di hại cho đất nước nhiều hơn: đó là việc chúng phải dâng Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và cả chục ngàn cây số vuông ở miến Bắc Việt Nam, hàng trăm ngàn cây sô vuông lãnh hải trong đó cò 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng.


Không những thế, nếu trước kia, chúng đuổi đi được vài trăm ngàn Tầu quốc gia, thì nay, chúng lại mở cửa cho Tầu Trung cộng sản tự do vào Việt Nam cả triệu tên, khiến cho có thể đưa Việt Nam tới nguy cơ mất nước. Vì thế, nhiều người ưu tư tới đất nước đã tự hỏi: Nước Việt Nam còn hay đã mất ? Nếu còn thì liệu có giữ được không?


Có người nói rằng nước đã mất rồi, và đã mất từ lâu. Ông giáo sư Trần đình Ngọc còn nói rõ ràng rằng Hồ Chí Minh đã bán nước từ ngày 3/2/1930 (1). Thực ra thì nước Pháp đã chiếm Việt Nam làm thuộc địa từ lâu, từ năm 1884, nước Việt Nam đâu còn nữa mà để cho Hồ Chí Minh bán? Vả lại Hồ Chí Minh lúc bấy giời còn đang lang thang, cầu bơ, cầu bất, du thủ, du thực, đâu đã có danh phận gì ngoài chức Chủ Tịch đảng Cướp Cộng Sản Đông Dương với vài trăm đảng viên, mà đòi bán nước cái nỗi gì.

Hơn nữa, tuy ngày nay Việt Nam đã mất thác Bản Giốc, Ải Nam Quan và cả chục ngàn cây số vuông ở biên giới Việt Hoa và cả trăm ngàn cây số vuông hải phận ở biển Đông, nhưng đứng trên phương diện luật pháp và quốc tế thì Việt Nam vẫn còn. Bởi vì tên Việt Nam vẫn còn trên bản đồ thế giới. Nước Việt Nam vẫn được các quốc gia trên thế giới công nhận và Việt Nam vẫn là một thành viên của Liên Hiệp Quốc.


Nhưng liệu Việt Nam sẽ còn tồn tại đến bao giờ? Điều này thật khó nói trước, có điều chắc chắn rằng Việt Cộng còn, Việt Nam sẽ mất, hay nói cho rõ hơn là:

Chế độ Cộng Sản Việt Nam còn tồn tại thì nước Việt Nam sẽ mất về tay Trung Cộng vì những lý do sau:

1/ Chính quyền Việt Nam thì hèn với giặc, ác với dân và coi dân như kẻ thù.

Thực vậy, Việt Nam từ xưa tới nay, chưa có một chính quyền nào lại hèn nhát và khiếp nhược như ngụy quyền cộng sản Việt Nam hiện nay.

Ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam coi Trung Cộng như Mẫu Quốc. Đi đâu, ngụy quyền Việt Nam cũng phải xin phép quan thày Trung Cộng. Làm gì, ngụy quyền Việt Nam cũng phải báo cáo quan thày Trung Công. Dân Trung Cộng tự do ra vào Việt Nam như đi chợ, không cần chiếu khán. Chúng tự do hành nghề, không cần giấy phép và chọn gái Việt Nam làm vợ như đi chợ mua mấy con chó, con mèo! Dân Trung Cộng tự do lập những khu người Hoa ở khắp mọi nơi. Tại những nơi này, họ tự trị và người Việt bất khả xâm phạm giống như mấy tòa Đại Sứ, Lãnh Sự của ngọai quốc, ngay cả công an Việt Cộng cũng không có quyền xâm phạm những khu vực này.

Ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam để mặc cho Trung Cộng ngang nhiên lấn chiếm đất đai, lộng hành trong hải phận mà không dám đương đầu hay phản đối, dù chỉ bằng đường lối ngọai giao. Ngư dân Việt Nam đánh cá trong vùng hải phận Việt Nam cũng bị Trung Cộng ngang nhiên bắt giữ cả người lẫn ghe thuyền, cá thì tịch thu, người thì bắt nộp phạt mới chịu tha.

Ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam không dám để cho sinh viên, học sinh biểu tình đả đảo Trung Cộng xâm chiếm Hòang Sa, Trường Sa và bắt giam những người biểu tình. Bia tưởng niệm những bộ đội Việt Cộng hy sinh trong cuộc chiến với Trung Cộng vào năm 1979 cũng phải đục bỏ. Các sách giáo khoa từ tiểu học đến đại học, không một dòng chữ nào nói tới Hòang Sa và Trường Sa. Bộ luật nào của Việt Nam cũng phải in cả 2 thứ tiếng Trung Cộng và Việt Nam.

Trái lại đối với dân thì chúng thật độc ác, dã man và tàn bạo vô chừng. Quan chức chính quyền thì thi đua tham nhũng, ăn hối lộ. Tên nào cũng thi đua vơ vét của dân để có tiền ăn chơi hoặc cho con em chốn tránh ra ngọai quốc dưới hình thức du học, nhất là Hoa Kỳ, để tẩu tán tiền bạc.

Công an thì coi dân như kẻ thù, hơi một chút là đánh đập, bắt giam, bỏ tù. Đi xe máy mà không đội mũ an toàn cũng có thể bị đánh chết như trường hợp anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang bị thiếu úy công an Nguyễn Thế Nghiệp đánh bể đầu chết vì không đội mũ bảo hiểm vào ngày 23 tháng 7, 2010. Ông Trịnh Xuân Tùng ở Hà Nội cũng vậy, bị trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh gẫy cổ chết vào tháng 2/2011 vì lỗi tương tự và nhiều trường hợp tương tự khác. Là con của một tù nhân lương tâm hay người bất đồng chính kiến cũng có thể bị công an cho côn đồ chém trọng thương như trường hợp của anh Phan Nguyễn Trọng Tú con của nhà bất đồng chính kiến Phan Ngọc Tuấn ở Phan Rang vào ngày 18/9/2012. Chính vì vậy mà có người gọi chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một Chế Độ Côn Đồ.

Một nhà văn trong nước, ông Hùynh Ngọc Tuấn, trong bài “Không Giống Ai”, đã viết: “Lực lượng “công an nhân dân” thì coi dân như cỏ rác, buồn buồn thì đánh chết một vài người dân cho vui, mục đích là để thị uy. Nếu dư luận trong nước và quốc tế có phản ứng mạnh quá thì cũng xử cho lấy lệ để bịt miệng công luận rồi đâu lại vào đó. Hãy nhìn những cái chết thê thảm của một số nạn nhân trong mấy năm gần đây thì rõ”.

2/ Tinh thần yêu nước của người dân VN không còn, tự ái dân tộc cũng mất.

Dân số Thủ Đô Hà Nội bây giờ ít ra cũng phải trên 5 triệu người và dân số thành phố Saigon ít ra cũng phải gần 8 triệu. Vậy mà số người tham dự của mỗi cuộc biểu tình để biểu lộ lòng yêu nước và chống Trung Cộng xâm lược, kể cả một số công an chìm, nổi và những người qua đường vì hiếu kỳ đứng coi, cũng chưa tới 500 người. Nếu không kể những người già cả và trẻ em, tính theo tỷ lệ thì con số người thực sự đi biểu tình cũng không tới 1/10,000. Vậy thì còn 9999 phần 10,000 kia đâu ?

Đành rằng ngụy quyền cộng sản Việt Nam là một chính quyền hèn với giặc, ác với dân, nên người dân rất sợ. Nhưng tại sao chinh quyền bảo hộ của thực dân Pháp trước kia, cũng ác ôn, cũng tàn bạo, nhưng vẫn có những ông vua như Hàm Nghi, Duy Tân, Thành Thái ra mặt chống đối, vẫn có nhũng cuộc nổi dậy chống Pháp như Nguyễn Trung Trực, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng, Đề Thám, Nguyễn Thái Học v.v.

Một người dân trong nước đã tự hỏi:


“Chính quyền hiện hành có còn là chính quyền của dân tộc Việt Nam hay không ? Tự hỏi để rồi ngầm trả lời: Không, không, không.Chính quyền này không phải là của dân tộc Việt Nam, mà là chính quyền của đảng cộng sản Việt Nam! Tôi và bao bậc cha mẹ khác lẽ nào đưa con mình đi cầm súng để bảo vệ đảng nô lệ như thế này ? Tôi đã rớt nước mắt. Tệ hại quá, tôi phải “nướng” con tôi cho lũ cầm quyền phản dân tộc này? Tôi sẽ phải làm thế nào ?

Thực ra thì chính Cộng Sản Việt Nam không phải là chính quyền của người dân từ lâu, ngay từ khi mà ông Hồ Chí Minh cướp được chính quyền từ tay chính phủ Trần Trong Kim. Nhưng trong thời kỳ chiến tranh từ 1945 tới 1975, lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam vẫn còn và vẫn hăng say và nồng nhiệt. Chính vì thế mà chúng vẫn bịp bợm và lợi dụng được để chiến thắng miền Nam với sự ủng hộ triệt để của Liên Sô và Trung Cộng . Ngày nay, chúng không còn cần lòng yêu nước của người dân Việt Nam nữa. Chúng chỉ cần làm sao giữ được Đảng để hưởng thụ. Không những thế, chúng còn muốn tiêu diệt hẳn lòng yêu nước của người dân bằng chính sách hủ hóa (ăn chơi xả láng) để chúng dễ bề cai trị. Người dân đã được dậy ngay từ khi biết mới nói, từ lúc mới cắp sách đi học là: “Yêu nước là yêu Đảng, yêu chủ nghĩa xã hội”. Vì thế chúng ta không lấy làm lạ tại sao những cuộc biểu tình quan trọng như vậy lại chỉ có vài trăm người trong khi những chốn ăn chơi trụy lạc nhỏ bé cũng có cả ngàn người tham dự.

Không những lòng yêu nước bị đui chột mà còn bị chính quyền cấm đóan. Cũng trong bài “Không Giống Ai”, nhà văn Hùynh Ngọc Tuấn viết: “Lòng yêu nước có thể nói là di sản quý báu của người Việt Nam mà tổ tiên của chúng ta trao truyền từ đời này sang đời khác, chưa có một triều đại một chính quyền nào “kiểm duyệt” lòng yêu nước chứ đừng nói đến chuyện thủ tiêu, ngăn cấm hay độc quyền. Vậy mà ngày hôm nay trước hành động hiếu chiến và ngang ngược của bọn bành trướng Bắc Kinh, người dân Hà Nội, Sài Gòn đã tự nguyện xuống đường để cho thế giới biết là nhân dân Việt Nam không hèn yếu không vô trách nhiệm với quốc gia, vậy mà đã bị chính nhà cầm quyền “của dân, do dân, vì dân” đàn áp, bắt bớ, vu khống và chụp mũ . Điều này chắc làm cả thế giới kinh ngạc và khó hiểu là Việt Nam đang được điều hành bởi một chính quyền đại diện cho ai ?”

Không những lòng yêu nước của người dân Việt Nam bây giờ không còn mà ngay cả lòng tự ái dân tộc cũng mất. Trước kia (1975) gia đình Việt Nam nào, có con gái lấy chồng ngọai quốc đều lấy làm xấu hổ (mắc cở) với họ hàng, làng xóm. Nay thì trái lại, gia đình Việt Nam nào có con gái lấy được chồng ngọai quốc, không những không xấu hổ mà còn lấy làm hãnh diện, không những hãnh diện với họ hàng mà cả với làng xóm. Họ hàng, làng xóm cũng không coi đó là đều xấu mà còn coi đó như một “tấm gương sáng để cho con cháu noi gương mà bắt chước”. Đành rằng ngày nay thế giới mở rộng, việc lấy người ngoại quốc là chuyện bình thường, nhưng coi đó là một “tấm gương sáng để con cháu noi theo” thì thật là hết chỗ nói!

Sau mấy chục năm sống dưới chế độ Cộng Sản, người dân Việt Nam bây giờ chỉ biết Tiền, Tiền và Tiền. Vợ chồng, cha con, mẹ con, anh em có thể giết nhau vì Tiền. Bạn bè có thể giết nhau vì Tiền. Thày trò có thể giết nhau vì tiền. Chủ tớ có thể giết nhau vì Tiền. Học sinh, sinh viên cũng có thể vì tiền mà đi bán dâm hay làm đĩ đực. Hoa hậu hay người mẫu cũng có thể bán dâm vì tiền như trường hợp hoa khôi Thiên Kim từng môi giới cho Hoa Hậu Mỹ Xuân đi bán dâm với một “đại gia” tại khách sạn ở thành phố Vũng Tàu với giá 2,500 USD. Thiên Kim lấy 1,000 USD, còn Mỹ Xuân hưởng 1,500 USD. Vợ cũng có thể vì tiền mà ngọai tình hay bán dâm.

Thùy Linh, một người dân ở Hà Nội viết: “Mình bỗng thương Mỹ Xuân, Hồng Hà, Thiên Kim và các cô gái bị chà đạp thêm nhiều lần sau các chuyên án điều tra, bóc dỡ đường dây mại dâm này. Chính xã hội là nguyên nhân gây nên cơn “thèm tiền” đến điên loạn. Nếu xếp thang bậc cho cơn thèm khát tiền thì quan chức đứng số 1. Họ bất chấp tất cả để lao vào kiếm tiền, các nhiệm kỳ chưa đủ còn bố trí cả vợ, con cùng tham gia. Hầu như không có quan chức nghèo, chỉ chưa là tất cả các quan chức đều có thể gọi là tỷ phú đôla mà thôi.”…

“Càng xa hoa càng trở thành tấm gương để tạo nên một lối sống cho lớp trẻ “noi theo”.

Đắm chìm trong cuộc sống tất cả điên đảo vì tiền mà bảo tuổi trẻ nên có thái độ điềm tĩnh với tiền, vật chất thì khác gì rao giảng đạo đức suông ? Rất ít người thoát khỏi tấm lưới bủa vây của tiền bạc.

Và để có được cuộc sống cho bằng người ta, tất nhiên cần tiền. Không thể kiếm tiền bằng các dự án, chính sách như quan chức, đại gia thì đương nhiên phải bán những gì mình có.”

Người nghèo thì sẵn sàng làm bất cứ nghề gì, miễn sao kiếm được tiền để sống, kể cả nghề buôn lậu, ma cô, đĩ điếm đã đành, mà ngay kẻ đã có tiền cũng có thể làm những nghề này để chóng giầu hoặc giầu hơn để hưởng thụ được nhiều hơn, đưa tới gần như cả nước sa đọa. Nhà tan không cần biết, nước mất không cần hay. Đó là thái độ của người dân Việt Nam bây giờ.

3/ Dân tộc chia rẽ trầm trọng.

Dân Việt Nam không phải là một dân tộc thuần chủng. Miền Bắc thì có một số lai Tầu, tương lai sẽ có nhiều hơn. Miền Trung thì lai Chiêm. Miền Nam thì lai Miên. Tôn giáo thì có Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo v.v…Sau 1975, dân Việt Nam cũng chia làm 2 hạng: hạng người đã sống dưới chế độ Cộng Sản và hạng người đã sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Dù một vài chục năn nữa, số người sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa có chết hết thì cũng vẫn còn hai hạng: hạng là đảng viên cộng sản và hạng không phải là đảng viên cộng sản. Vì thế thật khó mà có sự đòan kết. Đành rằng khi tổ quốc lâm nguy, chúng ta có thể gạt bỏ tất cả những dị biệt để đòan kết chống giặc. Nhưng đó là trường hợp chính quyền là chính quyền của dân, biết lo cho dân và biết bảo vệ dân. “Chính quyền” cộng sản Việt Nam không phải là chính quyền của dân mà là chính quyền của đảng cộng sản nên chỉ biết lo cho đảng, bảo vệ đảng. Còn dân chúng thì Việt Cộng coi như kẻ thù.

Vì thế, một người dân trong nước đã nói: “Cầm súng bảo vệ đất nước thì tôi không sợ. Còn cầm súng, hy sinh con cái chúng tôi cho quyền lợi riêng của đảng cộng sản Việt Nam thì khác nào sự ngu xuẩn, hơn nữa, đó là sự nhục nhã ! Còn nếu không đưa con đi nghĩa vụ, tôi sẽ bảo nó trốn cách nào ? Giá như gia đình tôi có tiền của như đám cán bộ nắm quyền, tôi sẽ “chạy” được cho con ra nước ngoài du học. Hàng triệu gia đình như gia đình tôi phải chạy ăn từng bữa thì làm gì có khả năng cao sang đó? Chúng tôi sẽ đưa con cái chúng tôi trốn đi đâu ? Tôi đang phải trốn chạy, ngay trên chính quê hương Việt Nam của mình sao ?”

Tóm lại, với ba lý do trên, nếu Việt Cộng còn, hay nói cho rõ hơn, nếu chế độ cộng sản Việt Nam còn tồn tại, nước Việt Nam chắc chắn sẽ mất dù chiến tranh có xẩy ra với Trung Cộng hay không.

Đọc lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy Việt Nam đã ba lần mất nước. Nhưng cả ba lần chúng ta đều lấy lại được vì tinh thần yêu nước của dân ta thời ấy vẫn còn, tự ái dân tộc của dân ta thời ấy rất cao. Hơn nữa tất cả ba lần mất nước đó đều do ngọai xâm xâm chiếm và chính quyền do chính người ngọai quốc đứng đầu cai trị. Còn lần này, nếu chuyện mất nước xẩy ra thì thật là khó lòng lấy lại được vì nước mất là do chính bọn Việt Cộng dâng cho Tầu. Chính quyền cai trị cũng vẫn chính là bọn Việt Cộng bán nước làm tay sai cho Tầu nắm giữ, thì thật là khó có thể lấy lại được, nếu chúng không tự tan dã hay tự tiêu diệt lẫn nhau?


Lê Duy San


Chú thích


(1). Có lẽ ông Bút Xuân đã căn cứ vào các cam kết “giao nước Việt Nam cho Trung Quốc”, đã được “ký” bằng “lời hứa danh dự “ của ông Hồ Chí Minh với 2 Đại Tướng Tàu là Trần Canh và Vị Quốc Thanh, thay mặt cho Mao Trạch Đông vào năm 1926. Bốn năm sau, năm 1930, thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Hồ khẳng định một lần nữa với Tổng Lý Chu Ân Lai:”Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một: một dân tộc, một nền văn hóa, một phong tục, một tổ quốc”.

Post Reply