Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Chuyện cục gạch của 'Bác Hồ'

Huy Phương

Liên tưởng là nhân sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ tới sự việc, hiện tượng khác có liên quan, có khi tương đồng nhưng có khi tương phản. Mấy hôm nay trời California trở lạnh, tôi nghĩ đến những ngày tuyết giá ở miền Đông, nơi mà tôi đã sống một thời gian mấy năm, nhưng đồng thời tôi cũng nghĩ đến một cái gì nóng và ấm. Thì ra tôi đang nhớ đến chuyện cục gạch của “Bác Hồ” mà tôi đã được nghe qua ở đâu đó.

Chuyện cục gạch này không phải là huyền thoại, nó cũng không là chuyện tiểu thuyết hư cấu, mà chính là chuyện thật của đời “Bác,” do chính “Bác” kể, và chính “Bác” viết thành sách, thì đương nhiên phải là chuyện thật. Tên cuốn sách là: “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch,” và tác giả là Trần Dân Tiên, không sai vào đâu, đó chính là “Bác.” Khổ nỗi, không ai nói cho bọn trẻ dưới chế độ XHCN biết Trần Dân Tiên “chính mi,” Hồ Chí Minh.

Câu chuyện Trần Dân Tiên viết ở trang 36 về “cục gạch của Bác” như sau:

cucgach“Ông trọ ở một phòng nhỏ trong một khách sạn rất rẻ tiền ở xóm lao động. Phòng chỉ vừa kê một cái giường sắt chật, một cái bàn nhỏ và một cái ghế. Chỉ thế thôi, không có gì khác. Về mùa Đông lạnh, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, ông để một viên gạch vào lò bếp của khách sạn. Chiều đến ông lấy viên gạch ra, bọc nó vào trong những tờ báo cũ, để xuống nệm cho đỡ rét.”

Câu chuyện Trần Dân Tiên viết, có thể xem qua rồi bỏ, nhưng khổ thay các con cháu của “Bác” lại cứ nhặng xị lên, làm như thật, vì cái gì của “Bác” lại không thơm tho, vĩ đại. Không rõ câu chuyện thực hư thế nào, các văn công thi sĩ cứ vung bút ca tụng lên cho có lập trường cái đã, rồi mọi chuyện tính sau.

Chế Lan Viên, chuyên viên nịnh bợ, đã viết một câu thơ chẳng ra thơ:

“Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá!”

Tố Hữu không quên “nghề của chàng” nhưng câu cuối xuống “xề” quá vụng:

“Muôn nỗi đời như ảnh trắng đen
Bâng khuâng đêm lạnh, thức bên đèn
Một hòn gạch nóng nung tâm huyết
Mẩu bánh mì con nuôi chí bền.”

Sách “Bác” ghi rõ ràng là viên gạch, trước khi đi làm “Bác” bỏ vào lò bếp khách sạn, nhưng đời sau, sợ bếp khách sạn không đủ nóng, người ta lại nói “Bác” đem gửi cục gạch ở lò bánh mì. Con cháu đời sau, có người minh chứng rằng một “cục gạch hồng” không thể gói bằng tờ giấy báo đem lên lầu hai nơi “Bác” ở được, tờ báo sẽ cháy và “Bác” sẽ bị phỏng tay. Một cục gạch nếu được đốt nóng cũng không giữ nhiệt được quá một tiếng đồng hồ.

Bác ở nhà số 9 ngõ Compoint từ ngày 14 Tháng Bảy, 1921 đến 14 Tháng Ba, 1923, mãi đến 56 năm sau, hơn nửa thế kỷ, kể cũng lạ, là khi phái đoàn Cộng Sản Bắc Việt đến Paris, tìm đến thăm nơi “Bác” ở, mà tất cả hãy còn nguyên vẹn: “Một chiếc la-va-bô treo tường, có vòi nước chỉ để rửa mặt, ngay cạnh đó là một chiếc tủ quần áo làm bằng gỗ tạp. Sát tường bên trái là một chiếc giường sắt đơn vừa đủ một người nằm. Đầu giường có một chiếc tủ con để sách vở và vài đồ lặt vặt. Phía trên có một ngọn đèn nhỏ vừa đủ để thắp sáng gian buồng...”

Báo Giáo Dục và Đào Tạo còn phịa chuyện: “Ta còn phải học Bác ở tinh thần vượt gian khổ để học tập. Thời gian Bác sống ở Paris, rất cực khổ. Bác thuê phòng trọ nhỏ trong một khách sạn rẻ tiền, mỗi buổi mai nấu cơm trong một cái sanh nhỏ đặt trên ngọn đèn dầu. Cơm ăn với một con cá mắm hoặc một ít thịt, ăn một nửa còn một nửa dành đến chiều. Có khi một miếng bánh mì với một miếng phó-mát là đủ ăn cả ngày.”

Ở Paris vào năm 1921, chưa có dân Việt tị nạn Cộng Sản chạy sang đông như dân Little Saigon ngày nay, mà “Bác” đã kiếm ra cá mắm để xơi nửa con, và gạo Ông Địa để nấu cơm, mà nấu cơm trên một ngọn đèn dầu, lòng tôi không thấy chút nào khâm phục “Bác” mà khâm phục người viết báo thối tha nào đã bịa chuyện kinh hoàng đến mức này.

Ông Nguyễn Trường Phú, chuyên viên Bảo Tàng Hồ Chí Minh, còn bạo gan nói rằng “hiện vật viên gạch hồng” cùng với nhiều đồ vật khác mà người thanh niên Nguyễn Ái Quốc sử dụng khi ở ngôi nhà số 9, ngõ Công-poăng, quận 17, thành phố Pa-ri (Pháp) nằm trong bộ sưu tập quý của Bảo Tàng Hồ Chí Minh.” Nhưng sau đó, thấy chuyện vô lý, ông này đã nói lại là viên gạch trưng bày ở đó hiện nay là viên gạch được phục chế trên cơ sở viên gạch đồng thời, đồng loại do ông tổng lãnh sự Pháp tại Sài Gòn tặng viện bảo tàng!

“Năm 1974, chiếc tủ đựng quần áo, tủ con để đầu giường đã được đại sứ quán nước ta tại Pháp tổ chức lực lượng vận chuyển qua Béc-lin (Đức) bằng xe lửa, rồi gửi về nước!” Thật quá rắc rối!

Cũng không hiểu sao với chuyện nhà cửa đắt đỏ ở một thành phố lớn như Paris, mà bà chủ nhà Jammot lại để nguyên đồ đạc trong căn phòng của “anh Nguyễn” hơn nửa thế kỷ, để chờ phái đoàn Việt Cộng đi hội đàm ở Paris đến thăm và đòi mua lại. Hồ Chí Minh sinh năm 1890, hoạt động ở Paris đến năm 1921, tức là lúc ông đã 31 tuổi. Nếu bà cụ Jammot trẻ lắm thì phải trạc hay hơn tuổi “Bác,” như vậy năm 1974, bà đầm này cũng đã 84 tuổi, còn ở nguyên căn nhà ấy, còn minh mẫn để nhớ, kể chuyện vanh vách và dẫn lên tầng 2, nơi “anh Nguyễn” ở. Giá mà Bộ Chính Trị chở được bà này về Hà Nội trưng bày trong viện bảo tàng thì hay biết mấy!

“Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” “là cuốn sách kể lại những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ Tịch Hồ Chí Minh từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến những năm đầu trong cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược,” của chính một người viết để đánh bóng thân thế và sự nghiệp của chính mình. Chính “Bác” trong cuốn sách này đã tự tả vẻ “đẹp lão“của mình (vào năm 1946) “Tóc người đã hoa râm, trán rộng và cao, đôi mắt sáng ngời, mũi thẳng ...”

Thế giới từng có chuyện suy tôn lãnh tụ, cũng có văn, thi sĩ đặt thêm bút hiệu để tự ca tụng mình, nhưng quả thật trên đời này, không ai vô liêm sỉ bằng “Bác!”

Trở lại huyền thoại “cục gạch hồng” của “Bác” người ta kể lại một câu chuyện “tếu” như sau:

“Một phái đoàn Hà Nội được thành lập, lên đường đi Paris, quyết tâm cao tìm cục gạch. Đến Pháp, họ tới ngõ làm bánh mì ngày xưa, thăm hỏi, lục lọi nhiều nơi, nhiều ngày, nhưng không ai nghe nói đến cục gạch của 'Bác.' Cuối cùng họ gặp một bà đầm đầu tóc bạc, móm mém ở một góc phố. Kiên nhẫn, nhân viên trong phái đoàn lập lại những câu hỏi về cục gạch.

-Các ông nói là các ông đi tìm cục gạch để sưởi ấm những đêm Đông tại nhà trọ, ngõ này của ông Nguyễn?

-Vâng ạ, chúng cháu đang tìm cục gạch đó ạ.

-Thế thì: Cục gạch, mà các ông đang đi tìm chính là... tôi đây!

Đừng tin những gì “Bác” nói và những chuyện chúng ca tụng về “Bác.”

Chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

Người Bắc gọi “bốc phét.”

Người Nam kêu “ba xạo!”

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »


Putin: 'IS nhận tiền từ 40 nước'


Tổng thống Nga cho rằng các cá nhân ở 40 nước đang hỗ trợ về tài chính cho phiến quân Nhà nước Hồi giáo (IS) tại Syria,
trong đó có cả thành viên của G20.

Sai lầm chết người của phương Tây nếu chỉ diệt IS bằng vũ lực / Mèo hoang chơi đùa ở nơi họp lãnh đạo G20

Image
Tổng thống Nga Vladimir Putin. Ảnh: Reuters


"Tôi đưa ra các ví dụ dựa trên dữ liệu về hoạt động cung cấp tài chính cho các đơn vị khác nhau của IS từ các cá nhân. Chúng tôi cho rằng số tiền này đến từ 40 nước, trong đó có một số thành viên G20", Tổng thống Nga Vladimir Putin nói với các nhà báo tại hội nghị thượng đỉnh G20 ở Thổ Nhĩ Kỳ. Putin cho biết đã chia sẻ thông tin này với các nước dự họp, theo RT.

Từ lâu đã có nhiều đồn đoán rằng phiến quân IS đang nhận tiền tài trợ từ các cá nhân ở Kuwait, Qatar và Arab Saudi, IBTimes cho hay. Tuy nhiên ông Putin không tiết lộ với các phóng viên nước nào đã viện trợ tài chính cho IS.

Trong hội nghị G20 diễn ra hai ngày tại Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ, ông Putin cảnh báo các nước thành viên khác về nguy cơ của hoạt động mua bán dầu bất hợp pháp với IS.

"Tôi đã chỉ cho các đồng nghiệp những bức ảnh chụp từ vệ tinh và máy bay cho thấy rõ ràng quy mô hoạt động mua bán dầu mỏ và sản phẩm xăng dầu bất hợp pháp", ông Putin nói.

Ngày 15/11, ông Putin đã gặp riêng Tổng thống Mỹ Barack Obama để bàn về chiến lược giải quyết cuộc xung đột ở Syria.

"Tổng thống Obama và Putin đã nhất trí về quá trình chuyển giao chính trị do người Syria, của người Syria, cũng như lệnh ngừng bắn được xúc tiến bởi các cuộc đàm phán giữa phe đối lập và chính phủ Syria do Liên Hợp Quốc làm trung gian", Nhà Trắng thông báo.

Mỹ và Nga đều tuyên bố sẽ quyết tâm diệt trừ phiến quân IS ở Iraq và Syria, nhưng đến nay hai nước vẫn thi hành những chính sách riêng mà chưa thành lập được một liên minh chung chống lại tổ chức khủng bố giàu có và mạnh nhất thế giới này.

Bạch Dũng

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Kinh Tạ Ơn của một người bội bạc

*Huy Phương
(Ghi lại nhân ngày Lễ Tạ Ơn)


Tạ ơn mẹ đã đẻ đau mang nặng
Suốt đời con vẫn bên ướt mẹ nằm
Nước mắt mẹ nay vẫn còn xuôi chảy
Con vô ơn, tính những tháng cùng năm.

Tạ ơn cha đã cày sâu cuốc bẫm
Cho tuổi thơ con được bát cơm đầy
Nuôi con, cha muốn điều nhân nghĩa
Mà đời nay nhốn nháo biết sao đây.

Tạ ơn thầy đã cho con chữ viết
Lúc vỡ lòng những tiếng đọc a,b
Giữa chợ đời lố lăng con uốn bút
Trả cho xong nợ rượu thịt bạn bè.

Tạ ơn em cho đời anh bóng mát
Với tình yêu thường mộng mị thần tiên
Mà lòng anh còn sân si bạc bẽo
Chỉ cho em toàn những nỗi ưu phiền.

Tạ ơn mày, người bạn thời thơ ấu
Vẫn theo nhau thuở bắt dế ngoài đồng
Tao lớn lên thường mấy khi ngó lại
Có gặp thời cũng làm lạ quay lưng.

Tạ ơn bạn, người một thời chiến hữu
Ta bên nhau trong trận mạc mỗi ngày
Một miếng lương khô, một bình nước suối
Tôi bỏ đi lúc lửa cháy thành vây.

Tạ ơn anh, người bạn tù khốn khổ
Đã cho tôi hơi ấm chiếc lưng gầy
Đêm Hoàng Liên Sơn mùa Đông buốt giá
Tôi sợ lòng tôi nay đã đổi thay.

Tạ ơn chị, người thuyền nhân tủi nhục
Vùi tấm thân xuống đáy biển oan khiên
Tôi là kẻ chưa một lần say sóng
Vẫn vô tâm không một thoáng ưu phiền.

Tạ ơn em đọa đày trong trại cấm
Chết không lui vẫn tranh đấu kiên cường
Tôi dửng dưng như con người ngoại cuộc
Toan xênh xang chuyện y cẩm hồi hương.

Tạ ơn cháu đã lầm sinh chế độ
Đành đem thân kiếm cách sống qua ngày
Tôi như tên lái buôn vừa trúng mánh
Còn biết gì nhân nghĩa một đêm say.

Xin tạ ơn những người vì vận nước
Suốt một đời đày đọa dưới cùm gông
Tôi phàm phu như người quên đọc sách
Còn biết gì hổ thẹn lúc soi gương.

Tạ ơn tổ tiên đào kinh đắp lũy
Dựng giang sơn có liệt nữ anh hùng
Tôi thế hệ sau coi thường việc nước
Miễn sao đời có áo mũ xênh xang.

Tạ ơn tiền nhân, trống đồng Ngọc Lũ
Mái đình làng bay bướm nét hoa văn
Tôi như ngọn lá đầu cành xa gốc
Đâu như chim còn nhớ đậu cành Nam.

Tôi đấm ngực: Tôi là người có tội
Nghĩ phận mình đâu dám ngẩng nhìn ai
Đau lòng những lúc trước đèn đối diện
Hổ thẹn đêm về ngắm bóng trăng soi.



*(Chúc thư của một người lính chết già)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Trách chi người đem thân giúp nước...

Giao Chỉ, San Jose mở lại hồ sơ Kháng Chiến

Thế giới đang chuyển động vì cuộc chiến chống khủng bố từ Trung Đông qua Âu Châu đến Mỹ châu. Thế giới Người Việt hải ngoại cũng đang bàn tán về vụ nghi án các nhà báo bị thanh toán 35 năm về trước. Là người lên tiếng đầu tiên về cuốn phim phóng sự Terror in Little Saigon, chúng tôi đã nhận được nhiều câu hỏi tiếp theo. Căn cứ vào sự hiểu biết và nhận định riêng, chúng tôi sẽ lần lượt trả lời. Nhưng trước hết, xin gửi đến quý vị độc giả thân hữu một tài liệu hơn 10 năm trước. Tôi viết về cuốn sách của tác giả Phạm Hoàng Tùng do Đỗ Thông Minh xuất bản. Bài báo này viết để giới thiệu thiên hồi ký của một kháng chiến quân đã đi theo thầy Minh cho đến những giờ phút cuối, bị bắt, bị tù, được trả tự do, đã vượt biên hiện ở bên Cam Bốt. Sách của anh không được Kháng Chiến và Việt Tân sau này nhìn nhận, nhưng tôi vẫn đọc và tổ chức ra mắt tại San Jose. Ngày xưa khi cô gái hậu phương trách anh trai tiền tuyến, có nhạc sĩ đã khuyên rằng: Trách chi người đem thân giúp nước...Tôi muốn dùng câu này để gửi đến thân hữu trong niềm thông cảm. Từ vị tướng quân cho đến đoàn viên vô danh. Họ đã cùng đi vào cõi chết. Chúng ta còn sống đến giờ này. Nhân danh điều gì mà phê phán. Và sau đây là câu chuyện viết cho thiên bút ký để quý vị hiểu rõ phần nào những gì đã xảy ra ở miền 3 biên giới vào thập niên 80. Bài viết này đã có phần bổ túc và sửa chữa tài liệu, nhưng nội dung và tình cảm không thay đổi.


Nhân mùa lễ Tạ Ơn 2015 viết lại chuyện cũ.

Giới Thiệu Hồi Ký Kháng Chiến

Cuốn sách đặc biệt ra đời mang tên ‘Hành Trình Người Đi Cứu Nước,’ hồi ký của một kháng chiến quân viết về cuộc chiến phục quốc do tướng Hoàng Cơ Minh lãnh đạo. Xin giới thiệu cùng bạn đọc sau đây lời bạt viết về cuốn hồi ký kháng chiến nói trên

•
Ghi chú của nhà xuất bản:

Giao Chỉ là bút hiệu của cựu Đại Tá Vũ Văn Lộc, hiện là Giám Đốc Trung Tâm Định Cư IRCC, Inc. tại San Jose, USA.
Bài này đã được phổ biến rộng rãi trước khi phát hành sách, chúng tôi xin phép tác giả in vào đây như ghi nhận từ một độc giả

•

Lời Bạt của Giao Chỉ, San Jose.

Bài viết về cuốn hồi ký của một kháng chiến quân.
“Này em, anh sẽ về bên kia biên giới.
Đèn nhà ai hay đốm lửa quê người...”

Tháng 3/1975, tôi gặp tướng Hoàng Cơ Minh lần đầu tiên tại Cam Ranh, một vị Phó Đề Đốc Hải Quân nóng nảy, bồn chồn vừa nhận toàn bộ trách nhiệm tư lệnh cuộc triệt thoái từ duyên hải. Trong số rất nhiều tướng lãnh của 2 quân khu, ông Thiệu chỉ còn đặt hy vọng vào vị phó đề đốc trẻ tuổi của hải quân thuộc dòng họ Hoàng Cơ. Sau lễ chào cờ lần cuối, hạm đội chở phần còn lại của cả 2 quân đoàn suôi Nam. “Trùng khơi vạn lý, như chưa vừa ý, lắc lư con tàu đi,” bài ca vui tươi ngày nào bây giờ chuyên chở biết bao nhiêu cay đắng. Tôi có mặt trên một chiến hạm của đoàn tầu đau thương đó. Hai tháng sau, tháng 5/1975, tôi gặp lại ông Hoàng Cơ Minh trong trại Barrigada trên đảo Guam. Gần 30 vị tướng tá của một đạo quân tan hàng nằm chờ phi vụ vào Mỹ. Ông Nguyễn Cao Kỳ được đem đi trước, rồi đến ông Ngô Quang Trưởng. Tôi nằm bên trung tướng Đồng Văn Khuyên, mặt dài như chiều đông.
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn III xuống sân đánh bóng chuyền cho quên ngày tháng. Tướng Không Quân Phan Phụng Tiên lâu lâu lại buông lời cay đắng. Tướng Trần Văn Minh im lặng, chửi thề không thành tiếng. Không một tướng tá nào còn được chút dũng khí của những ngày chinh chiến. Riêng ông Hoàng Cơ Minh là người duy nhất nói đến chuyện trở về. Những ý kiến rời rạc, mơ hồ dường như đã bắt đầu hình thành. Con đường trở về sẽ vô cùng khốc liệt và ý ông Hoàng Cơ Minh nói là phải dùng tất cả các phương pháp của cộng sản để đánh cộng sản. Chuyện đó sau này thành sự thật. Giấc mơ về đường mòn Hoàng Cơ Minh, áo bà ba đen, quấn khăn rằn Nam bộ đã được nghĩ đến. Nắm tay giơ cao, tiếng hô giải phóng hay là chết, đã hiện ra trong giấc ngủ trại Barrigada, giữa tiếng ồn ào của phi trường đảo Guam.

Sau cùng, chuyến bay cuối tháng 5/1975 từ hải đảo đã đưa vào lục địa Hoa Kỳ một vị tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa duy nhất quyết tâm trở về với tấm lòng hết sức sắt đá. Đó là Phó Đề Đốc Hải Quân Hoàng Cơ Minh. Năm 1980 ông Minh và ông Liễu đến San Jose gặp riêng vài anh em để kết nạp đoàn viên. Tôi có mặt đêm hôm đó, tuy không chính thức gia nhập nhưng hứa chắc rằng sẽ ủng hộ. Đến nay vẫn giữ lời.
Bẩy năm sau, vào ngày 28/8/1987, vị Phó Đề Đốc một thời Tư lệnh hành quân biển của Hải Quân VNCH đã nằm chết bên bờ suối, giữa rừng già miền Nam Lào. Hôm nay, khi ghi lại chuyện này năm 2015, chợt thấy các niên trưởng của tôi thời kỳ nằm chờ ở Guam, chẳng ông nào còn sống. Nhưng tôi vẫn còn phải nhắc lại chuyện xưa...

Người lãnh đạo Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, đảng trưởng đảng Việt Tân với hơn100 kháng chiến quân vượt sông Mekong trong các chiến dịch Đông Tiến tìm đường về Việt Nam. Đến vùng Xalavang trên đất Lào, đạo quân kháng chiến bị săn đuổi bởi số địch quân đông đảo nên đã hoàn toàn tan rã. Các kháng chiến quân bị bắt đã kể lại với nhau trong tù về những cái chết đau thương và hào hùng. Vị Tư Lệnh và các cấp chỉ huy Kháng Chiến đều tử thương hay tự sát sau khi bị thương.

Vào đầu thập niên 80, cộng sản Hà Nội và thế giới Mác Xít đang ở trên đỉnh cao của chiến thắng. Không thể có con đường nào khác gọi là đấu tranh chính trị. Chỉ còn giấc mơ trở về gây dựng cơ sở chiến đấu trong lòng địch. Cả một ước mơ dù đội đá vá trời nhưng vẫn có người cố thực hiện.

Từ Úc châu, Võ Đại Tôn lập Chí Nguyện Đoàn Phục Quốc và tìm đường về vào năm 1981. Ông đã bị bắt và xuất hiện trong cuộc họp báo hết súc anh hùng tại Hà Nội ngày 13/7/1982. Trong chốn trần ai tri kỷ tôi hiểu rằng ông Tôn bỏ vợ con bên Úc lên đường qua Thái vào đất Lào chẳng hề ngây thơ nghĩ rằng đi về là lấy lại quê hương. Với dòng máu biệt động quen thuộc, ông chỉ muốn dò đường tìm đến chiến khu của nhà cách mạng quen biết trên đất Lào là tướng Van Pao. Từ đó sẽ tính bước kế tiếp. Nhưng mộng lớn không thành...

Từ Paris, Pháp, Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam thuộc nhóm Lê Quốc Túy phát động, với Trần Văn Bá, Mai Văn Hạnh, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch và hàng chục người… đã xâm nhập bằng đường biển Cà Mau, bị bắt và xử ngày 18/12/1984. Trong Chí Hòa, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân và Hồ Thái Bạch bị xử bắn ngày 8/1/1985, máu đỏ bức tường khám lớn. Mai Văn Hạnh và Lê Quốc Túy là các cựu sĩ quan Không Quân VNCH. Sau này ông Hạnh được chính tổng thống Pháp can thiệp, Hà Nội trả tự do. Mấy năm trước ông qua Mỹ thăm bạn, không may bị tử vong. Đám tang ngưới anh hùng kháng chiến gốc không quân VN hết sức cô đơn giữa cộng đồng Việt Bolsa. Chỉ duy có bạn vàng Vũ Văn Ước lẽo đẽo đi sau quan tài. Bác Ước ngày nay cũng lại theo bạn Mai Văn Hạnh về miền vĩnh cửu.
Và sau cùng, từ Mỹ, Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh đã tìm đường về suốt 10 năm từ 1981 đến 1990 qua 4 giai đoạn. Tất cả đều lấy đất Thái Lan làm bàn đạp. Năm 1985, hai nhóm cán bộ chính trị Tiền Phương Kháng Chiến đã đi xuyên qua Cam Bốt để dò đường về nước nhưng đều bị bắt tại Nam Vang.
Cũng năm 1985, Đông Tiến I, vượt sông Mekong, qua Nam Lào do Đại Tá Dương Văn Tư chỉ huy đến gần biên giới Việt Nam phía Bắc Kontum thì bị Pathet Lào và Việt Cộng đánh đuổi và tan rã, 20 kháng chiến quân hy sinh. Số còn lại trở về Thái Lan.

Năm 1986, Đông tiến II lần thứ nhất với 130 kháng chiến quân tiến về phía Đông-Nam nhưng vượt sông Mekong tại Pác Xế bất thành nên đành phải rút. Trước khi lên đường, Mặt Trận đã triệt tiêu toàn thể căn cứ trên đất Thái, nên khi rút về lại phải sống tạm ngoài trời trong rừng già gần 1 năm chờ tái xuất quân.

Năm 1987, với 110 kháng chiến quân cuộc Đông Tiến II lần thứ hai khởi sự, vượt sông Mekong và bị quân địch quá mạnh đánh tan. Toàn bộ chỉ huy và Tư Lệnh Hoàng Cơ Minh tự sát, một số lớn tử trận và bị bắt.
Đặc biệt là sau khi Đông Tiến II lần thứ hai hoàn toàn thất bại, thành phần còn lại tại hậu cứ Thái Lan và Tổng Vụ Hải Ngoại tại San Jose, Cali, Mỹ cũng không biết rõ tin tức. Nên chiến dịch Đông Tiến III vẫn tiếp diễn với người chỉ huy hậu cứ là một sĩ quan Dù, ông Đào Bá Kế đi vào đất chết muộn màng năm 1990 với số thành phần khỏe mạnh còn lại, những tân kháng chiến quân mới tuyển từ trại tị nạn... đều chấp nhận lên đường chuyến chót. Tất cả xóa xổ căn cứ tại Thái Lan tiếp tục đi theo con đường Đông Tiến I, vượt sông Mekong tìm về biên giới Lào-Việt ở phía Bắc Kontum.

Trong giai đoạn này thật sự không còn sự hiện diện của Tướng Minh và vòng đai kỷ luật sắt đá. Nhưng lạ lùng thay, những phần tử còn lại của Kháng Chiến không tan hàng mà lại đồng lòng lên đường. Không ai thật sự biết rõ tâm tư của anh em, nhưng có thể họ đi tìm “ông thầy”.

Thêm một lần sau cùng, toán quân này cũng bị chặn đánh, bị giết, bị bắt. Người chỉ huy Đông Tiến III là Đào Bá Kế bị án tù chung thân, cho đến năm 2000 còn bị giam tại nhà tù miền Bắc. Sau đó ông Kế được trả tự do về Hậu Giang. Chúng tôi có liên lạc tìm cách lập hồ sơ đoàn tụ qua Mỹ nhưng còn nhiều khó khăn. Tin sau cùng, Đào Bá Kế đã qua Thái Lan nhưng đã mất liên lạc. (Rất mong biết tin.. )

Tất cả các anh hùng kháng chiến suốt 10 năm (1981-1990), tuy hoàn cảnh mỗi người một khác và đôi khi việc tuyên truyền quá cường điệu phóng lên con số hàng ngàn tay súng nhưng riêng sự gian khổ và khốc liệt hoàn toàn có thật. Ông Đỗ Thông Minh tham dự từ những ngày đầu nói rằng khi họp với tướng lãnh Thái ông Minh phóng đại con số tổ chức và quân số để được yểm trợ và trang bị. Anh em lại nói rằng ông Minh trông cậy vào số người đông đảo trong trại tỵ nạn sẵn sàng ghi danh theo kháng chiến. Dù sao thì cũng là sự phóng đại sai lầm.

Vào những năm 80, bài hát bất hủ được ban hợp ca Thùy Dương cất lên vừa hùng tráng vừa bi thảm: “Này em, anh sẽ về bên kia biên giới, đèn nhà ai hay đốm lửa quê người.”.
Hơn 100 kháng chiến quân đã hy sinh trên đường tìm về bên kia biên giới. Vượt con sông Mekong, thấy ánh sáng leo lắt đêm khuya, tưởng là ánh đèn của thôn xóm trên đất nước thân yêu, ngờ đâu vẫn chỉ là đốm lửa quê người. Chiến hữu chung quanh Tướng Hoàng Cơ Minh chẳng còn được mấy người, sức cùng lực kiệt, trải qua bao nhiêu gian khổ và cô đơn, ông đã tự chọn cái chết, nằm lại bên bờ suối.

Bên kia bờ đại dương, cả một Tổng Vụ Hải Ngoại đang trầm kha xâu xé làm cho lòng tin tan vỡ! Khi lên như sóng trào dâng, khi xuống như nước vỡ bờ. Bên này tiền tuyến chỉ có trên dưới 200 tay súng bị săn đuổi suốt những năm tháng dài. Thái Lan bắt đầu đổi thái độ, không còn muốn cho đóng quân, Lào Cộng hợp lực với Việt Cộng truy kích. Kháng chiến quân bị thương phải tự sát hoặc đã bị các chiến hữu hạ sát để khỏi rơi vào tay địch. Không còn đường nào khác.

Con đường giải phóng là con đường một chiều: “Giải phóng hay là chết”. Những người thân tín của ông Minh trong hàng ngũ lãnh đạo không còn nữa, Đại Tá Dương Văn Tư đã hy sinh, Trung tá Lê Hồng đã qua đời. Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh với một đời hành quân biển đã bỏ quân phục đại lễ mầu trắng và biển cả màu xanh, để tìm về bộ quần áo đen, khăn rằn Nam Bộ nằm chờ đợi giây phút cuối cùng ở giữa rừng núi Hạ Lào.

Ông đã dùng chiêu thức của cộng sản để đánh cộng sản và đường lối này cũng đã tạo ra bao nhiêu sóng gió. Sau cùng, giải phóng hay là chết, khi không thành công thì chết là giải thoát. Và một phát súng cuối cùng đã nổ, Tướng Hoàng Cơ Minh đã chết. Nhưng tiếng súng của ông tự sát phải chờ đến 14 năm sau mới chính thức nghe được tại San Jose vào tháng 7/2001. Chờ đợi lâu như thế cũng lại là một sai lầm.

Tất cả các câu chuyện kể trên và còn nhiều chi tiết hết sức đặc biệt, hầu hết đều được giãi bày trong cuốn Hồi Ký của Kháng Chiến Quân Phạm Hoàng Tùng trong tác phẩm 2 cuốn tựa đề “Hành Trình Người Đi Cứu Nước”.
Tôi được học giả Đỗ Thông Minh từ Đông Kinh gửi riêng cho đọc bản in thử từ máy điện toán. Tập hồ sơ tổng cộng 900 trang là một tài liệu hết sức quan trọng để các nhà nghiên cứu và toàn thể thế hệ Việt Nam sau này hiểu rõ câu chuyện tìm đường về của những năm 80.

Với bản danh sách khá đầy đủ các kháng chiến quân đã hy sinh, đã bị tù đày và cả những người hiện còn sống xót đều là nhân chứng của một giai đoạn anh hùng và cũng hết sức bi thảm.
Riêng câu chuyện về cuộc đời của tác giả Phạm Hoàng Tùng năm nay trên dưới 60 tuổi đã trải qua 14 năm (1984 - 1997) đi kháng chiến và chịu rất nhiều hệ lụy.
Phạm Hoàng Tùng cũng như hàng trăm ngàn thuyền nhân khác đã lên đường tìm tự do vào đầu năm 1982, từ Sài Gòn đi thuyền rồi qua đường bộ đến Nam Vang lần thứ 1.

Năm 1983, lại vượt biển vào Thái, được đưa tới trại tị nạn Sikhiu. Anh trở thành 1 trong số 964.000 thuyền nhân mà thống kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc ghi nhận tổng số 5 đợt trong 20 năm từ 1975 đến 1995. Phạm Hoàng Tùng đã không chết trên biển Đông, anh cũng không đi Mỹ định cư. Nếu Phạm Hoàng Tùng đi Mỹ vào khoảng 1984 - 85, thì bây giờ cũng đã thành người Mỹ trên 30 năm ở San Jose… trong số hơn 100.000 dân Việt tại Thung Lũng Điện Tử.

Nhưng phần số con người đã thay đổi khi anh chấp nhận trả hết giấy tờ tị nạn để đi theo Kháng Chiến. Vào khu chiến năm 1984, làm việc trong đài phát thanh. Tháng 9/1986, tham dự Đông tiến II lần 1, tháng 7/1987, tham dự Đông tiến II lần 2, rồi bị bắt giải về Sài Gòn. Năm 1990, cải tạo lao động ở Phú Yên. Năm 1993, trốn trại về Sài Gòn rồi vượt biên đến Nam Vang lần thứ 2.

Bây giờ Phạm Hoàng Tùng cô thế, ở lại làm người Việt lưu vong trên đất Cam Bốt, lập gia đình, có vợ và đã trải qua 30 năm (1982 - 1987 và từ 1993 tới nay) trên đất khách quê người. Lấy tin tức từ chiến hữu kháng chiến khi gặp lại nhau trong trại giam và từ kinh nghiệm bản thân, tác giả viết lại hành trình của một người đi cứu nước.

Anh đã dâng hiến tất cả tương lai, hy vọng và tuổi thanh niên cho lý tưởng. Anh tìm thấy ở Kháng Chiến cả mộng lẫn thực. Bình tĩnh và công bình, tác giả ghi lại những đau thương dằn vặt của từng chiến binh và người lãnh đạo không phải bằng lời nói mà bằng các hành động.

Đặc biệt chỉ cần sơ lược về hoàn cảnh hết sức tuyệt vọng hàng ngày, hết sức khó khăn, căng thẳng mỗi ngày, ta có thể hình dung được tâm trạng của người lãnh tụ Kháng Chiến ra sao. Tướng Hoàng Cơ Minh dưới ngòi bút của tác giả hiện thân của sự quyết đoán, cao ngạo, không tin người và hết sức tàn nhẫn. Nhưng rõ ràng là không có đường lối nào khác, ít nhất là vào thời điểm của các cuộc Đông Tiến.

•
“Một lần đi là một lần vĩnh biệt, một lần đi là hết lối quay về.”
•
Tác giả đã kể lại những vụ xử tử kháng chiến quân muốn đào ngũ, những vụ thi hành kỷ luật sắt đá trong chiến khu. Toán cận vệ trung thành của lãnh đạo xuống tay hết sức lạnh lùng, tàn nhẫn và dứt khoát không tha thứ bất cứ ai. Ngay cả với ông Nguyễn Hữu Nhiều, vị bác sĩ duy nhất của khu chiến.
Xem ra trước sau chỉ có trên dưới 200 tay súng, đủ mọi thành phần, có thể nói là một toán quân ô hợp. Với kỷ luật sắt đá, lãnh đạo đã tôi luyện thành các du kích quân bắt đắc dĩ, ngày đêm học tập. Người từ hải ngoại về rất ít, đa số từ trại tỵ nạn. Quân đội VNCH có, mà bộ đội đào ngũ cũng có. Người vì lý tưởng, người căm thù cộng sản và có cả những thành phần ảo tưởng, chỉ muốn thoát ra khỏi trại tỵ nạn vì chờ đợi mòn mỏi không thấy tương lai. Tất cả đều được đưa vào vòng cương tỏa chặt chẽ để dứt khoát không thể thoát ra được. Chỉ cần một người trốn về là tất cả huyền thoại vỡ lỡ và những câu chuyện khắc nghiệt đau thương ở khu chiến sẽ làm đổ vỡ tổ chức toàn thế giới.
Tác giả kể lại nhưng không một chút oán hận, đôi khi còn có vẻ phân trần cho hoàn cảnh.
Toàn thể tác phẩm là một bản liệt kê những cái chết. Bắt đầu là những vụ lên án và xử tử các âm mưu đào ngũ. Tiếp theo là những nhu cầu đôn đốc tạo thành áp lực bừng bừng lửa dậy tại hải ngoại đòi hỏi tiền tuyến phải làm một cái gì.
Cuộc Đông Tiến bắt đầu mặc dù chỉ có vài trăm tay súng. Chỉ biết tìm cách vượt sông Mekong đi mãi về phía Đông, không có một lệnh hành quân rõ ràng. Lần đầu bị thất bại. Lần sau trước khi lên đường phá sạch trại để hết đường về, nhưng rồi chưa đi được, lại phải trở về sống bờ sống bụi chờ chuyến sau.
Mỗi lần Đông Tiến là một lần thương vong. Trận chiến hoàn toàn không cân xứng. Đi vào đất địch với quân số ít ỏi, không có phương tiện liên lạc. Địch không đánh quân ta cũng có thể chết đói, chết khát. Địch tấn công với quân số gấp 10 lần. Quân ta chết là may mắn, bị thương là không có phương tiện cứu chữa. Không thể để lọt vào tay địch, bị tra tấn lộ tin tức rồi cũng bị giết chết.
Vì vậy quân bạn ra tay trước, Kháng Chiến tự giết hết thương binh của ta, hoặc là thương binh phải tự sát. Kháng chiến quân tài hoa là nhạc sĩ Trần Thiện Khải, người sáng tác bài Trăng Chiến Khu… đã tự sát sau khi bị thương trên đường Đông Tiến lần 2.
Đoàn quân Đông Tiến như Hốt Tất Liệt ngày xưa dẫn quân Thát Đát tiến về phía mặt trời. Cứ phương Đông mà đi cho đến khi ngựa hết nước, người hết sức, nhưng rồi quân Mông Cổ còn có đường về. Kháng Chiến thì tan hàng ngay tại Hạ Lào. Đi như thế không bị địch đánh thì cũng chết. Dù về đến đất Kontum thì cũng không thể mở được đầu cầu. Cho dù mở được đầu cầu thì làm gì có đại binh theo sau.
Những cuộc hành quân gian khổ, điên cuồng như thế mang ý nghĩa gì" Ông Minh rõ ràng chỉ muốn tìm về chết tại quê hương!
Ba trăm chín tư năm trước, con tàu Mayflower của Âu Châu nhổ neo đi về phương Tây với 102 người. Một nửa là di dân và một nửa là thủy thủ đoàn, cũng là một hành trình vô vọng. Con tàu tả tơi đến miền Đông Hoa Kỳ năm 1620, mùa Xuân đầu tiên chết 52 người vì đói khát và bệnh tật. Còn lại 50 người sống xót và các dòng họ hậu duệ của con tàu “Hoa Tháng Năm” ngày xưa trải qua 4 thế hệ bây giờ đã có đến 35 triệu người trong số trên 300 triệu dân Hiệp Chúng Quốc. Một cuốn sách biên khảo vừa xuất bản đã ghi lại vào ngày Lễ Độc Lập năm nay.
Trên chuyến khởi hành đến Mỹ và sau khi sống những năm đầu đầy thử thách ở Tân Thế Giới, di dân đã có lúc hung bạo, tàn nhẫn với nhau. Sử sách đều có ghi lại. Tuy nhiên, Mayflower đã thành công, nhưng con tàu Đông Tiến của Hoàng Cơ Minh đã không nở hoa “Kháng Chiến”.
Khi Tướng Minh tổ chức đại hội tại San Jose để khai trừ người phụ tá số một là Đại Tá Phạm Văn Liễu, thì tại Nam California cũng có đại hội của ông Trần Minh Công tổ chức để đặt vấn đề với ông Minh.
Đó là vào ngày 29/12/1984.
Cùng vào thời gian đó, tiền đồn Hải Vân của Kháng Chiến trên đất Thái bị địch vượt sông Mekong qua tấn công. Sau đó, đơn vị Kháng Chiến tiền tuyến phải triệt thoái.
Sau khi Mặt Trận bể làm đôi, Tướng Hoàng Cơ Minh trở lại khu chiến chuẩn bị và đích thân tổ chức, chỉ huy Đông Tiến II lần 1, rồi lần 2. Thời kỳ đó ông Minh được Thái Lan cho biết chỉ cấp Visa lần cuối. Yêu cẩu ông vào dọn dẹp để giải tán chiến khu rồi phải ra khỏi đất Thái. Tình hình chính trị Đông Nam Á gió đã đổi chiều. Thái và Việt Nam xuống thang căng thẳng. Kháng chiến cũng chẳng còn tiền thuê đất trả cho các tư lệnh Thái Lan. Chính lúc đó nếu ông Minh rút về Nhật sẽ bỏ rơi chiến hữu trên đất Thái. Ông chọn giải phàp tiếp tục lên đường qua Lào để tìm bằng được ngọn đèn đêm hiu hắt trong thôn xóm Việt Nam, nhưng khi nằm chết bên con suối Hạ Lào, ông chỉ thấy xa xa đốm lửa quê người.
Khi xuất bản tác phẩm của Phạm Hoàng Tùng, ông Đỗ Thông Minh có lẽ chỉ muốn cho tác phẩm có cơ hội trình bày sự thật. Khi người Kháng Chiến viết về 14 năm oan nghiệt, tác giả cũng chỉ đơn giản kể lại những gì đã trải qua.
Độc giả đọc tác phẩm chắc có thể mang nhiều suy tư. Kẻ chống đối hận thù Kháng Chiến sẽ tìm thấy nhiều chứng cớ để buộc tội.
Nhưng riêng phần tôi, với tình cảm dành cho người đi cứu nước, tôi hết sức đau thương và trân trọng cái chết của Tướng Hoàng Cơ Minh. Tấm lòng thương cảm của tôi không phải chỉ dành cho chủ tướng mà cho tất cả đoàn viên của ông. Những người ông tuyên án xử tử, những người theo ông đi vào chỗ chết, hay những người vì theo ông mà suốt một đời tù đày cho đến ngày nay vẫn còn lưu vong. Xem ra, tác giả đi một vòng tròn trên 4 xứ Đông Nam Á khoảng thời gian vừa đúng một con giáp (1981 - 1993), Phạm Hoàng Tùng lại là người Kháng Chiến hưởng hạnh phúc sau cùng.
Tướng Hoàng Cơ Minh với cái chết của chính ông, ông đã làm trọn lời thề nguyền từ khi xuống tàu bỏ nước ra đi. Ông đã giữ vẹn lời thề, khi đứng trên khán đài hô hào kháng chiến phục quốc ở Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, ở Orange County và ở San Jose…
Cái chết của Tướng Hải Quân Hoàng Cơ Minh, của Đại Tá Bộ Binh Dương Văn Tư, của Trung Tá Nhảy Dù Lê Hồng… và ngay cả các kháng chiến quân đào ngũ bị xử tử hình đều góp phần cho Kháng Chiến và Việt Tân tồn tại. Đông Tiến là chuỗi dài của những thất bại nhưng học được bài học thất bại là lấy được chìa khóa của thành công.
Trong công cuộc đấu tranh cho Việt Nam bây giờ và sau này, dù bằng chính trị hay bằng những phương thức khác, dù giải phóng rồi canh tân hay dù canh tân rồi giải phóng, dù đúng hướng chính thống hay chệch hướng hòa giải thì điều quan trọng là phải tồn tại. Bất cứ với giải pháp nào, ta không thể cứu nước nếu ta không tồn tại và tiếp tục hoạt động.

Cái chết của một lãnh tụ chỉ có thể mang ý nghĩa để cho thế hệ đấu tranh tiếp nối tồn tại. Với ý nghĩa đó, một đóa “Hoa Tháng Năm”, một Mayflower mới của người Việt sẽ nở hoa trong cộng đồng của chúng ta.
Đối với những dư luận về công cuộc kháng chiến phục quốc, chúng tôi xin có đôi lời hơn thiệt.
Hơn 30 năm trước, Giao Chỉ đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với Võ Đại Tôn, Trần Văn Bá và Hoàng Cơ Minh. Thân hữu nói rằng, ông quá cả tin nên dễ bị lừa. Đã xin thưa rằng, tôi muốn ngày nào cũng có người đến lừa tôi về chuyện xây dựng lại non sông.
Ba mươi năm sau, thân hữu lại nói rằng, ông đã yêu lầm tướng cướp. Bèn trả lời rằng: Tình yêu vốn mù quáng. Bây giờ đã già rồi, không thể thay đổi được nữa. Đành xin chịu mù lòa để giữ lấy tình yêu.
Đối với riêng tôi, mọi công cuộc kháng chiến phục quốc từ Lực Lượng Đặc Biệt Võ Đại Tôn, đến Không Quân Lê Quốc Túy, Mai Văn Hạnh và của Hải Quân Hoàng Cơ Minh đều là những nỗ lực thần thánh, chúng tôi có tràn đầy đức tin tuyệt đối.
Ngày xưa, cụ Nguyễn Bá Trác lưu lạc bên Tàu, mang nặng mối sầu phục quốc không thành đã viết nên vần thơ bất hủ trong bài Hồ Trường:
“Chí ta ta biết, lòng ta ta hay.”
Bây giờ lòng dạ đó vẫn là tâm can của các đoàn viên cách mạng, chắc chắn rằng tôi hiểu tấm lòng các bạn. Khi thiên hạ sắp ném đá người đàn bà tội lỗi, Chúa nói rằng, ai không có tội thì ném trước, tất cả đều bỏ đi. Ngày nay, người lương thiện bỏ đi, người tội lỗi đứng lại lấy chuyện ném đá để mua vui đời luân lạc. Từ “Võ Đại Bịp” đến “Kháng Chiến Phở Bò”... còn chữ nghĩa nào tàn nhẫn hơn để làm đau đớn người đi cứu nước. Bây giờ là thời của người biết không nói, kẻ không biết nói càn. Nếu ta biết mà không nói, ai nói ?. Bây giờ không nói, bao giờ ?
Tôi đã đọc và giới thiêu bộ Hồi Ký Một Đời Người của cụ Phạm Ngọc Lũy do nhà xuất bản Tân Văn ở Đông Kinh, Nhật Bản phát hành nói về cuộc công yểm trợ của hải ngoại. Tôi đã đọc và tổ chức ra mắt sách bộ Hành Trình Người Đi Cứu Nước cũng của nhà xuất bản này về khu chiến của kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng.
Cả hai tác phẩm này xem ra anh em Việt Tân đều không nhìn nhận. Kháng chiến mở đường tôi viết bài Đường mòn Hoàng cơ Minh. Kháng chiến bể làm đôi và bị luật pháp Hoa Kỳ làm khó. Tôi than thở với bài: Tìm đường gai góc mà đi. Khi bác sĩ Trấn Xuân Ninh từ giã tôi viết bài an ủi: Chia tay hoàng hôn. Khi ông Liễu qua đời tôi gửi vòng hoa văn hóa.Tôi là người mãi mãi ủng hộ các phong trào kháng chiến phục quốc và không quên bao gồm cả tổ chức Phục Hưng Việt Nam. Dù là võ trang ngày xưa hay đấu tranh chính trị ngày nay, các anh đánh cách gỉ tôi cũng ủng hộ. Câu nói mãi mãi ghi trong lòng. Mình không làm thì để anh em làm. Làm đúng làm sai cũng là làm việc lớn. Tôn trọng và thông cảm.


Terror in Little Saigon

•
Bây giờ đến lúc anh phóng viên tây ba lô làm phim đầu voi đuôi chuột, chẳng hề có ai yêu cầu, xem xong phim là tôi lên tiếng mắng cho cậu này mấy mắng. Thằng cha nầy dứt khoát là muốn nổi tiếng với cuộc đời truyền thông. Chẳng phải đi tìm công lý thương yêu gì các nạn nhân của 35 năm về trước. Đây là anh chàng không hề có lương tâm báo chí. Dứt khoát làm công tố viên buộc tội xong rồi mới đi tìm chứng cớ. Theo kiểu chuyên viên tra tấn cho ra tội. Anh chàng lại gạ gẫm để các nhân chứng Việt Nam bịt mắt mà khai, như vậy anh muốn mô tả cộng đồng Việt ngày nay vẫn còn sợ Mafia Kháng chiến nên dù uất ức muốn nói sự thực mà vẫn sợ bị thủ tiêu nên dấu mặt.

Qua vụ này, các bạn hỏi tôi là phải chăng Hoa Kỳ đã nuôi dưỡng bao che cho các phong trào Kháng Chiến 35 năm trước và bây giờ lại muốn dẹp đi. Sao bạn lại đi tìm mặt trời buổi trưa như vậy. Suy nghĩ tào lao. Chính phủ Hoa kỳ chẳng hề có chủ trương như vậy. Nuôi dưỡng cũng không phải mà dẹp bỏ cũng không. Giữa buổi trưa, đi tìm đông tây nam bắc không thấy mặt trời. Các ông quên rằng mặt trời ngay trên đỉnh đầu. Đây chỉ đơn thuần là một anh phóng viên đói bài làm phóng sự chuyện ngày xưa đem cờ vàng và Sài Gòn nhỏ hôm nay để gây sóng gió. Các cơ quan truyền thống quốc gia và quốc tế Hoa Kỳ chẳng hề quan tâm. Toàn cầu còn đang theo đuổi chuyện chiến tranh với khủng bố Hồi Giáo, ai quan tâm đến đề tài của chúng ta. Các cơ sở chiếu phim cũng chẳng phải là những tiếng nói lớn lao của dư luận Mỹ. Chỉ là các cơ quan Media thuộc loại bất vụ lợi không có gì chứng tỏ là đề tài quan trọng của cơ sở truyền thông quan trọng.Thiên hạ lại đem những bài mắng chửi từ bao năm qua ra phổ biến. Bạn đọc hôm nay lâm trận hỏa mù chẳng rõ đầu đuôi? Thật là đáng tiếc.

* * *
Tuy nhiên, cuốn phim Terror giả hiệu này cũng là dịp chúng tôi muốn chân thành kể lại câu chuyện xưa để quý độc giả được rõ. Thời kỳ 1980 chúng tôi đã sống và đấu tranh ra sao. Dù chẳng phải là đoàn viên nhưng anh em hết lòng ủng hộ anh em. Mỗi độ Xuân Về, chúng tôi tổ chức hội Tết Fairgrounds tại San Jose. Hai bên cổng chính lối vào khu triển lãm là các gian hàng của Kháng Chiến và Phục hưng Việt Nam. Những hình ảnh, những lá cờ vàng. Anh em Phục Hưng lo gian hàng Việt Ngữ và phụ trách bãi gửi xe bên ngoài. Anh em Kháng Chiến đi treo cờ trên các khu thương mại. Anh em Người Việt Tự do dặn nhau rằng, mai nầy ta cùng về Việt Nam. Anh em Kháng chiến nói rằng Ăn bát phở Hoà rút ngắn đường về. Trên khắp nẻo đường đất khách quê người, chiến hữu mặc áo đen đứng dưới trời mưa phát báo. Trên sân khấu văn nghệ có cả Kiều Chinh Phạm Duy cùng các thanh niên thiếu nữ cất tiếng ca. Năm 1993 Giao Chỉ tôi cũng lần mò đi theo anh em Phục Hưng qua dự đại hội nhân quyền tại thủ đô Mạc tư Khoa lúc cờ đỏ đã không còn trên công trường đỏ. Những cán bộ của Phục Hưng, của chí nguyện đoàn, của kháng chiến 30 năm trước, ngày nay gặp lại, tóc xanh đã phai màu. Có ông tóc bác phơ. Nhiều ông tóc đã rụng hết. Ông cha ta có câu. Một cái tóc là một cái tội. Tóc đã rụng hết rồi mà sao ngày nay lại còn mang tội khủng bố làm cho Sài gòn nhỏ thân yêu phải mang hình ảnh kinh hoàng. Nghe nói có người chửi tôi rằng tên đại tá nghĩa địa. Tôi lại chịu đấy. Chắc tôi không phải là người cuối cùng thương các anh chị em tìm đường về quê hương.

Cảm ơn....
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.


Giao Chỉ - San Jose,


Nhân mùa lễ hội cuối năm 2015 tôi viết lại chuyện này đề gửi cho quý vị; Bà Hoàng Cơ Minh và các cháu ở Cali. Anh chị Võ Đại Tôn bên Úc. Các con gái của anh Mai Văn Hạnh bên Pháp. Anh chị Đỗ Thông Minh bên Nhật. Anh Phạm Hoàng Tùng bên Cam Bốt. Anh Đào Bá Kế bên Thái Lan. và các bạn tôi khắp mọi nơi. Xin ông bà chuyển cho thân hữu và trả lời đã nhận

· Từ Mayflower trên biển đến con tầu Kháng chiến trong rừng

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Cám ơn nước Mỹ
Trần Trung Đạo

Trong cuộc sống đa đoan và nhiều thăng trầm, trắc trở của tôi, biết bao nhiêu kỷ niệm, biến cố đã trôi qua trong đời kể từ ngày tôi bám vào chiếc xe ba bánh, xa ngôi làng Mã Châu, xã Xuyên Châu, Quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam thân thuộc.

Những vui, buồn, hy vọng, tuyệt vọng đã đến và đi trong đời sống nhiều đến nỗi tôi không thể nào nhớ hết. Thế nhưng, tôi sẽ không bao giờ quên được những tháng ngày đầu tiên của tôi trên đất Mỹ.

Trong trí nhớ của tôi vẫn còn in đậm hình ảnh chiếc Boeing của hãng Northeast bay ngược chiều kim đồng hồ đưa chúng tôi từ Manila đến phi trường Chicago vào một ngày cuối tháng 11 năm 1981. Giọng người nữ tiếp viên hàng không êm ái cất lên lời tạm biệt. Tôi không hiểu hết nhưng đại khái biết rằng cô ta vừa chào mừng chúng tôi sắp đặt chân lên đất Mỹ. Tôi tự nhủ, “quãng đời lưu vong thật sự sắp bắt đầu”. Bên ngoài trời đẹp nhưng xa lạ.

Như lời bà hướng dẫn viên người Phi dặn dò trước khi lên máy bay, chúng tôi, tay cầm chặt chiếc túi đựng hồ sơ tỵ nạn có chữ ICM thật lớn, sắp một hàng dài dọc theo hành lang phòng đợi để khỏi bị lạc.

Người đầu tiên ra đón chúng tôi ở phi trường Chicago là một cô gái Việt trẻ đẹp, có lẽ còn là sinh viên và đang làm việc cho cơ quan thiện nguyện. Một ông Mỹ già đẩy đến cho cô ta một thùng áo quần và lặng lẽ bỏ đi. Theo lịch trình đã được ấn định trước, tại Chicago chúng tôi sẽ được cấp phát áo ấm mùa đông trước khi chuyển máy bay về địa điểm định cư cuối cùng trong hành trình tỵ nạn. Trạm cuối của tôi là Boston.Tôi biết và kính trọng thành phố Boston văn hóa lịch sử, qua nhiều môn học, nhưng chưa bao giờ nghĩ có một ngày sẽ là nơi tôi gửi gắm phần đời còn lại của mình.

Người con gái đẹp mà tôi không dám hỏi tên, phát cho mỗi người trong đoàn chúng tôi một chiếc áo ấm. Tất cả đều cùng một cỡ như nhau. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn chiếc áo ấm dày cộm rộng thùng thình hoàn toàn tương phản với bầu trời nắng chang chang bên ngoài.

Hiểu ý, với giọng Huế nhẹ nhàng, người đẹp dạy cho chúng tôi, những lưu dân đến từ vùng nhiệt đới, bài học đầu tiên về thời tiết nước Mỹ: “Ngó vậy mà không phải vậy đâu. Trời gạt mấy anh đấy. Ra ngoài không áo ấm vài phút là chết cóng”. Ngừng một chút, nàng cười tinh nghịch: “Ai không tin bước ra thử thì biết”. Nghe cô ta nói vui vui, tôi cũng định đáp lại bằng vài lời tán tỉnh nhưng chợt nhớ ra đây không phải là quán cà-phê trên đường Duy Tân cây dài bóng mát mà là thân phận hẩm hiu của một người tỵ nạn chân vừa chạm đất quê người, nên đành im lặng.

Đúng như lời cô gái Việt ở Chicago cảnh cáo, Boston chào đón tôi bằng những cơn bão tuyết triền miên suốt mùa đông dài rét buốt.

Đêm giao thừa của ngày Tết Việt Nam đầu tiên trên nước Mỹ, không có bánh chưng xanh, không có rượu nồng pháo nổ, không một lời chúc tụng ngoại trừ âm hưởng của những bông tuyết trắng bị gió đùa vào cửa sổ.

Người anh lớn tuổi nhất trong nhà đang cặm cụi sửa soạn một bàn thờ nhỏ trong phòng khách để cúng ông bà. Bàn thờ đơn giản, chỉ một lon hương, hai cây đèn, một nải chuối và một bình hoa. Tôi và những người ở cùng nhà ra khỏi phòng, nghiêm trang đứng sau lưng anh. Anh khấn vái xong, chúng tôi, những kẻ không họ hàng, thân thuộc gì với nhau, cũng lần lượt mỗi người thắp một cây hương, cúi đầu vái ba vái. Không biết vái về đâu và cũng không biết từ phương Đông xa xôi, tổ tiên ông bà có nghe được lời cầu nguyện của những đứa con đang lạc loài trên đất khách.

Tôi thường gọi đất Mỹ nầy là đất tạm dung, trạm dừng chân của tôi và hàng triệu đồng bào tôi, trên quãng đường dài lưu lạc. Tôi trả thuế cho nước Mỹ căn cứ vào những lợi tức mà tôi thu nhập được. Đó không phải là một nghĩa vụ thiêng liêng theo kiểu “Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn đã đóng góp được gì cho đất nước” (Ask not what your country can do for you; ask what you can do for your country) của cố TT Kennedy. Nước Mỹ không phải là “country” của tôi. Tôi trả thuế nhưng đó không thể gọi là đóng góp. Đóng góp hàm ý nghĩa thiêng liêng, tự nguyện trong lúc trả thuế là một điều luật pháp bắt buộc tôi phải làm nhằm trang trải cho các khoản chi dùng công cộng.

Ngày tôi đưa tay tuyên thệ làm một người Mỹ vừa được công dân hóa sau năm năm thường trú, tôi cảm thấy buồn nhiều hơn vui, tủi thẹn nhiều hơn tự hào. Một tên Mỹ da vàng không quê hương, không tổ quốc, ngơ ngơ ngác ngác giữa quê người, có gì đáng để mừng vui.

Viên thư ký sở nhập tịch hỏi tôi theo thủ tục có muốn thay cái tên cúng cơm của tôi bằng tên Mỹ. Tôi lắc đầu. Nhiều người đã chọn đổi tên. Một số người làm như thế chỉ để dễ kiếm công ăn việc làm nhưng cũng một số khác để chứng tỏ mình biết hội nhập vào đời sống Mỹ. Việt Nam, với nhóm người sau, đã đồng nghĩa với một thời quá vãng.

Tự do, vâng, tôi may mắn tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Ngồi trên thềm tòa nhà lịch sử Fanueil Hall ở Boston sau giờ tuyên thệ tôi làm bốn câu thơ lục bát để kỷ niệm ngày thành công dân Mỹ:

Mặt mày hớn hở vui tươi
Sao lòng nghe thẹn làm người tự do
Của nầy là của trời cho
Của ta đánh mất không lo đi tìm.

Năm 1999, vợ chồng tôi quyết định dời sang một tiểu bang khác nếu công ăn việc làm thuận tiện hơn. Tôi được một công ty chuyên về Internet ở miền Tây Nam phỏng vấn bằng điện thoại. Kết quả rất khả quan. Họ hứa hẹn rất nhiều, từ việc giúp chúng tôi di chuyển cho đến việc tạm cư trong thời gian đầu. Quyết định rời khỏi tiểu bang Massachusetts, về mọi phương diện, vật chất cũng như tinh thần, là một quyết định lớn của gia đình tôi. Sau này tôi không rời tiểu bang mà chỉ dời sang thành phố khác cũng thuộc Massachusetts. Dù sao chúng tôi cũng quyết định bán căn nhà ở Dorchester cho một người quen.

Đêm cuối trong căn nhà cũ, lần đầu tiên tôi khám phá ra rằng nước Mỹ với tôi không phải là đất tạm dung. Cảm giác đêm cuối cùng, cách đây gần 20 năm khi tôi xa Sài Gòn, đã trở lại với tôi lần nữa. Tôi sắp sửa rời xa một căn nhà, một nơi chốn thân thương. Căn nhà trên đường Thornley Street là nhà của tôi, Dorchester là thôn xóm của tôi và Boston là thành phố của tôi. Nước Mỹ đã cho tôi nhiều hơn tôi trả lại cho nước Mỹ.
Image Ân huệ mà đất nước nầy đã cho tôi không phải chỉ là tự do nhưng còn là cơ hội và hy vọng, những điều tôi đã không tìm thấy trên quê hương ruột thịt của mình. Hy vọng không phải là giấc mơ huyền ảo mà là một điều có thực và là chất sống cần thiết để nuôi dưỡng một con người phải không ngừng tranh đấu để sống còn như tôi. Nước Mỹ gắn bó với cuộc đời tôi nhiều hơn tôi gắn bó với nước Mỹ.

Đêm cuối trong căn nhà cũ, lần đầu tiên, tôi nghĩ về đất nước đã cưu mang tôi trong suốt gần 20 năm nhiều thay đổi của đời tôi với một tấm lòng biết ơn và trân trọng chân thành.

Đêm cuối trong căn nhà cũ, tôi nằm nhớ lại bàn tay người lính hải quân Mỹ của chiến hạm USS White Plains vói xuống để nhấc thân hình ốm o, đói khát của tôi lên khỏi chiếc cầu dây đong đưa bên thành tàu. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương.

Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ, tôi mới sực nhớ ra rằng, tôi chưa bao giờ nói một tiếng cảm ơn những thủy thủ đã cứu vớt tôi trong đêm hãi hùng trên biển Đông năm ấy. Lẽ ra, ít nhất mỗi năm một lần, tôi nên gởi một tấm thiệp Giáng Sinh kèm theo lời cảm ơn về địa chỉ của chiến hạm USS White Plains ở bộ Hải Quân Mỹ. Tôi tệ đến nỗi một việc làm đơn giản như thế mà bao nhiêu năm qua tôi vẫn chưa làm được.

Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ tôi nằm ôn lại một khoảng đời 20 năm, từ hai bàn tay trắng đến khi có được một gia đình êm ấm. Nỗ lực của chính tôi không thể nào thành đạt nếu không có những cơ hội đã được mở ra từ xã hội Mỹ. Nước Mỹ là vùng đất của cơ hội và mọi người đều có quyền có một American Dream.

Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ, tôi nghĩ về con đường Dorchester mà tôi mỗi ngày mấy bận đi qua. Giống như đường Santa Clara ở San Jose, Bolsa ở Nam California, Colonial ở Orlando, đường Dorchester là xương sống của xóm Dorchester chúng tôi. Bao nhiêu người đã ăn nên làm ra cũng nhờ vào con đường nầy, mặc dù không phải ai cũng biết ơn nó, không phải ai cũng nhớ tới nguồn gốc của chính mình, không phải ai cũng nhớ đến những ngày đầu tiên đi sắp hàng mua từng vỉ cánh gà, từng gói mì ăn liền bằng Food Stamps trong cái rét căm căm của miền Đông Bắc. Image
Trên đường phố Dorchester, Boston
Trên con đường đó mỗi buổi sáng tôi đã gặp hàng trăm em bé Việt Nam sắp hàng ở góc đường chờ xe bus đưa đến trường. Những chiếc xe bus màu vàng nối đuôi nhau đưa các em đến tương lai huy hoàng của nước Mỹ. Nói như cựu tổng thống Bill Clinton, các em là chiếc cầu của tương lai hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Các em may mắn quá. May mắn lớn nhất không phải chỉ vì các em được làm công dân của một cường quốc nhưng quan trọng hơn, các em không phải sống trong những ngày cháo rau khoai sắn như hàng triệu đứa trẻ cùng thế hệ các em bên kia bờ trái đất. Các em sẽ không bao giờ hiểu thế nào là “kế hoạch nhỏ”, “trồng cây, trồng người”. Các em sẽ lớn lên, vươn lên trong cuộc đời một cách hiên ngang, không sợ hãi.

Nhà văn Trần Hoài Thư đến Boston nhiều lần và cũng đã yêu mến một cách say mê con đường Dorchester như chính tôi đã và đang yêu mến. Anh Trần Hoài Thư có lần viết về thành phố Boston: “Con đường Dorchester qua những tiệm ăn, tạp hóa Việt Nam. Và một khu Việt. Và những gương mặt da vàng. Và những lời trao đổi bằng tiếng mẹ đẻ vang trên bãi đậu xe. Đời sống vẫn bận rộn. Cõi lòng vẫn quay quắt. Nhớ nhung vẫn bão bùng. Bạn hữu mấy thằng trôi thất tán. Mấy thằng đợi một chuyến đò ngang…Cái mẫu số chung ấy là mẫu số của bất cứ người tị nạn nào trong chúng ta…Cám ơn Boston với những con tim kỳ diệu. Nếu không có những con tim này, tôi nghĩ, chắc chắn sẽ không có Trần Trung Đạo”.

Đêm cuối trong căn nhà cũ, tôi biết rằng mình không chỉ có một quê hương. Ngoài quê hương Quảng Nam Đà Nẵng ở Việt Nam, tôi còn có một quê hương khác, quê hương Boston trên nước Mỹ này.

Trần Trung Đạo


(viết ngắn lại từ bút ký Hai Gánh Quê Hương)

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

“Súc miệng” để giữ chồng Hóa ra có những cách đơn giản đến không ngờ để giải quyết và làm dịu lại mối quan hệ vợ chồng căng thẳng.

Có một câu chuyện nhỏ được lan truyền trên Internet.


Một người phụ nữ tới gặp bác sĩ để xin lời khuyên cứu vãn cuộc hôn nhân của mình khi không biết làm cách nào để xử lí tính nóng nảy của anh chồng. Bác sĩ đã cho cô ta một “độc chiêu” hoàn hảo.

Bác sĩ hỏi: “Cô đến đây vì có vấn đề gì vậy?”

Người phụ nữ trả lời: “Chồng tôi ngày nào cũng nổi điên lên và chúng tôi cãi nhau ỏm tỏi. Cứ như thể cuộc hôn nhân này đang ở dưới vực thẳm rồi vậy. Tôi không biết phải làm sao để kiềm chế tính nóng nảy của anh ấy nữa!”.

Bác sĩ đáp: “Tôi có cách chữa này cô có thể về thử xem. Khi chồng cô nổi giận, cô hãy lấy một ly nước và bắt đầu súc miệng. Súc và súc nhưng đừng nuốt cho tới khi anh ấy rời phòng hoặc bình tĩnh lại”

Hai tuần sau, người phụ nữ quay lại phòng mạch, trông tươi tỉnh và như được hồi sinh. Vừa nhìn thấy bác sĩ, cô ta tay bắt mặt mừng như thể ân nhân cứu mạng.

Cô ta nói: “Ý tưởng của bác sĩ thật quá tuyệt! Mỗi lần chồng tôi nổi giận, tôi lại súc miệng. Chỉ vậy thôi mà anh ấy bình tĩnh lại ngay. Một cốc nước lại có phép màu thần kỳ đến vậy sao?”

Bác sĩ đẩy gọng kính lên, hóm hỉnh đáp: “À, nước chẳng làm gì cả. Nó chỉ giúp cô ngậm miệng lại thôi!”

Thực ra bí quyết để giữ gìn hạnh phúc hôn nhân đôi khi chỉ là một người ít nói đi một chút, nhường nhịn thêm một chút và người kia sẽ tự khắc kiềm chế được cơn giận dữ của mình lại. Một gia đình hạnh phúc không phải cần được thể hiện ở những hành động tình cảm vợ chồng dành cho nhau hay ở lời nói ngọt ngào và những bất ngờ lãng mạn mà chỉ là sự im lặng, thấu hiểu và cảm thông.Tình yêu tạo nên hôn nhân nhưng sự thấu hiểu mới giữ cho cuộc hôn nhân bền vững.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Câu chuyện về bầy vượn đuôi dài

Minh Văn
Theo khoa học thì con người được tiến hóa từ loài vượn. Ngoài bốn chân ra, giống vượn còn có cái đuôi rất dài để quấn vào cành cây lúc leo trèo. Mỗi lần chuyền từ cây này sang cây khác để hái quả, nó lại quất mạnh đuôi một cái, vì vậy mà nhảy được rất xa. Ban đầu, loài vượn di chuyển bằng tứ chi, dần dà tiến hóa rồi đi thẳng được trên hai chân. Khi người tinh khôn xuất hiện, cái đuôi cũng rụng đi vì không còn cần đến nó nữa. Từ đó, con người sơ khai bắt đầu biết chế tạo công cụ lao động, hoạt động săn bắt, chế ngự lửa, phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là sự ra đời của nhà nước và pháp luật. Và rồi loài người đã phát triển văn minh rực rỡ như bây giờ. Ngày nay người ta vẫn nói rằng, xương cụt ở chỗ hậu môn là dấu tích cái đuôi vượn của chúng ta.
Image
Loài vượn. (Hình minh họa: Getty Images)
Dĩ nhiên là quá trình tiến hóa cũng sẽ diễn ra không đồng đều. Có bầy vượn tiến hóa nhanh hơn, có bầy chậm hơn, tùy thuộc vào yếu tố địa lý và lịch sử từng vùng.

Nghiên cứu cho biết, loài vượn bắt đầu rụng đuôi và đi thẳng bằng hai chân vào khoảng 5.8 triệu năm trước. Ðó là chu trình tiến hóa bình thường, nhưng cũng có những bầy vượn cho đến bây giờ vẫn chưa chịu rụng đuôi. Câu chuyện dưới đây kể về một trong số những bầy vượn chậm tiến hóa đó.

Bầy vượn này cho đến thế kỷ 21 vẫn chưa thể tiến hóa làm người. Bảy mươi năm trước, chúng rủ nhau xây dựng một cuộc sống theo mô hình “Cộng sản Chủ nghĩa.” Theo đó, lũ vượn làm ra bất cứ thứ gì cũng không được cất làm của riêng (tư hữu), mà phải góp lại một chỗ (cộng sản) rồi phân phối đều nhau. Chúng nói rằng làm như vậy là để cho công bằng, khỏi phải con này tị nạnh con kia. Nhưng chỉ được thời gian ngắn sau, những con vượn đầu đàn lúc này cũng đã có trí khôn của vượn người, nên tìm cách cất giấu những của cải chung đó để làm của riêng cho mình.

Mặc dù vẫn hô hào những con vượn khác xây dựng “cộng sản chủ nghĩa,” nhưng chúng lại lén lút tư hữu bằng cách tham ô. Bầy vượn thấy của cải trong kho ngày một thiếu hụt, thế rồi sinh nghi. Khi phát hiện ra có kẻ lấy cắp tài sản chung làm của riêng, nghĩ đến việc mình phải nai lưng ra làm để cho kẻ khác lấy cắp, chúng tức điên người. Một cuộc cãi lộn và ẩu đả lập tức xẩy ra, lũ vượn cấu xé và dùng đuôi quật nhau đen đét. Việc phân chia thành quả lao động lúc này cũng diễn ra tùy tiện, những con vượn làm tốt chỉ được chia đều như những con làm dở, thậm chí là ít hơn. Lũ vượn chán nản, rồi vì không có động lực phấn đấu mà sinh ra phá phách, chây lười. Ðã thế làm được bao nhiêu thì lại bị những con đầu đàn tham ô bấy nhiêu, đàn vượn trở nên nheo nhóc và đói rách. Nhìn sang những bầy đàn khác, thấy chúng đi theo con đường “tư bản chủ nghĩa” mà trở nên giàu có văn minh, lũ vượn đuôi dài thèm khát lắm. Không thể chịu đựng bất công được mãi, chúng đứng lên đấu tranh đòi quyền tư hữu và yêu cầu giải tán chế độ cộng sản.

Bầy vượn lúc này chia làm hai phe, tạm gọi là “phe cải cách” và “phe bảo thủ.” Phe cải cách thì muốn tiến hóa làm người, nhưng mỗi lần như vậy lại bị phe bảo thủ nắm đuôi kéo lại. Kết quả là mãi mà vẫn chưa tiến hóa được, cả bầy đành phải chịu sống kiếp vượn với cái đuôi dài ngoẳng trên mình.

Ðể ngăn cản sự tiến hóa, đám bảo thủ liền nghĩ ra một cách, chúng lấy que vạch ra một con đường, trên đó vẽ hình cái đuôi mang dòng chữ “định hướng xã hội chủ nghĩa.” Khi phát hiện thấy con vượn nào đi trệch ra ngoài, cả đám lập tức xúm lại nắm lấy đuôi mà lôi vào, bắt phải đi cho đúng mới thôi. Bị gò bó và mất tự do như vậy, lũ vượn bên dưới uất ức lắm nhưng vẫn chưa nghĩ ra được cách nào để giải thoát cho bản thân.

Xem chừng mâu thuẫn nội bộ ngày càng sâu sắc, không thể nào hóa giải được. Dưới đây là cuộc tranh luận tại đại hội đảng của bầy vượn đuôi dài.

Một con vượn trong phe cải cách đập cái đuôi đánh đét một cái, nói lớn:

- Sở dĩ chúng ta vẫn chưa thể đi bằng hai chân và đứng thẳng làm người, là vì vẫn còn cái đuôi. Chỉ có cắt đuôi đi thì mới tiến hóa thành người được!

Phái bảo thủ thì lý luận rằng:

- Như vậy không được! Cái đuôi là bản sắc của loài Vượn chúng ta. Nay cắt bỏ nó đi thì làm gì còn chính danh để mà cai trị nữa?

Phe cải cách quật lại:

- Thế chúng bay tưởng cái chính danh “loài vượn” là báu lắm hả? Người ta đã vứt bỏ từ lâu cả rồi. Ðã bảy mươi năm trôi qua, vậy mà lúc nào cũng đi xin viện trợ, có ngẩng được mặt lên mà nhìn người ta bao giờ đâu!

Thế rồi lại ẩu đả, lại cấu xé và quật đuôi đen đét vào nhau.

Nói chung là cuộc đấu tranh nội bộ đến giờ vẫn chưa kết thúc, chưa bên nào chịu bên nào.

Nói gì thì nói, muốn đứng thẳng trên hai chân, muốn tiến hóa thành người, bầy vượn không có cách nào khác là phải cắt bỏ cái đuôi đi thôi. Và rằng, chống lại quy luật tiến hóa là một việc làm vô ích và không thể.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

KHÙNG ĐIÊN VÀ XÚC PHẠM

Nguyễn Nhân Trí

Vụ thảm sát hơn 130 người vô tội ở Paris hôm thứ Sáu 13 tháng Mười Một vừa qua một lần nữa cho thấy những kẻ cực đoan Hồi Giáo không gớm tay ở bất cứ hình thức khủng bố nào. Ngoài sự phẫn nộ từ nhiều phía trong cộng đồng thế giới trước tai biến nầy, nhiều người còn bày tỏ nỗi lo ngại khi thấy rằng dường như nhà cầm quyền Tây Phương hiện nay không có phương cách nào hữu hiệu để đối phó với những tổ chức cực đoan Hồi Giáo.

Sự lo ngại trên liên quan đến một vấn đề ít khi được nói đến, nhất là nói đến một cách công khai và chính thức. Đó là việc làm sao để chống trả những kẻ địch chẳng những không sợ chết mà còn tự nguyện đón chào cái chết? Thường muốn nhăn chận một chuyện gì người ta dùng đe dọa hay trừng phạt. Tuy nhiên hình phạt gì sẽ hiệu quả cho những kẻ không sợ hãi cái chết?

Chúng ta đang đứng trước những kẻ cuồng tín. Đây là những kẻ tin rằng nếu họ “chết như một tín đồ Hồi Giáo”, như chết khi chiến đấu cho danh nghĩa Allah – thí dụ như trong lúc tấn công những kẻ thù của Ngài – thì họ sẽ được lập tức đưa lên Thiên Đàng. Có những kẻ được thúc đẩy bởi niềm tin rằng phần thưởng của Allah gồm 72 nữ đồng trinh sẽ chờ đợi những kẻ tử vì đạo ở Thiên Đàng. Ngay những người thuộc diện trí thức (hay thực tế hơn) cũng tin rằng trách nhiệm và danh dự tối cao của một tín đồ Hồi Giáo là thực thi lời dạy của Allah và do đó sẵn sàng đánh đổi mạng sống họ để hoàn thành điều nầy.

Từ xưa đến nay trong chiến tranh, mục đích chính của mỗi bên là giết chết kẻ địch và tránh không bị kẻ địch giết chết. Đây là phản ứng sinh tồn tự nhiên của con người và quen thuộc trong truyền thống văn hóa và tâm lý nói chung của thế giới Tây Phương. Lần đầu tiên trong Thế Chiến Thứ Hai khi đứng trước những đoàn phi cơ Thần Phong của Hoàng Gia Nhật Bản, quân lực Đồng Minh đã sửng sốt và lúng túng không ít trước hiện tượng địch thủ không ngần ngại đổi mạng để lấy mạng. Ngày nay, một lần nữa thế giới Tây Phương đứng trước một kẻ thù có thái độ và hành vi cực đoan tương tự, tuy nhiên lần nầy không phải vì tiếng gọi tổ quốc mà là vì nhân danh thượng đế của họ.

Trong những năm cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970 ở Sài Gòn, đặc công phá hoại của Việt Cộng không quan tâm đến việc thường dân vô tội có bị ảnh hưởng hay không khi họ đặt chất nổ ở những quán ăn, rạp hát quân lính Hòa Kỳ thường tụ hợp. Ai kém may mắn có mặt đúng lúc đúng chỗ thì sẽ mang họa lây mặc họ. Điểm khác biệt ngày nay là bọn khủng bố Hồi Giáo chẳng những không quan tâm mà còn không phân biệt bất cứ ai là mục tiêu của chúng. Tất cả mọi người kể cả phụ nữ trẻ em sinh sống trong xã hội Tây Phương đều là những “kẻ tà đạo” và dưới danh nghĩa Allah đều đáng bị tiêu diệt. Và chúng có vẻ như không từ bỏ bất cứ phương cách nào miễn là gây thiệt hại tối đa cho sinh mạng của những “kẻ tà đạo” trên.

Hầu như tất cả vũ khí quân sự xưa nay sử dụng đều với mục đích tước đoạt mạng sống quân địch. Nhưng nếu đối diện một kẻ địch vừa có thể gây thiệt hại lớn vừa không sợ chết thì thế giới Tây Phương phải làm gì? Đây là một câu hỏi đến nay dường như chưa có câu trả lời nào thực tế cả.

Gần đây, một số người ở Hoa Kỳ cho rằng họ có một giải pháp chúng ta đang tìm kiếm. Giải pháp trên không phải là một sáng kiến mới mẻ gì cả; theo họ, một tướng Mỹ đã sử dụng nó thành công trong khoảng năm 1911. Họ muốn nhắc đến câu chuyện xảy ra ở Phi Luật Tân liên quan đến Chuẩn Tướng đương thời John J Pershing, biệt danh “Black Jack”.

Chuyện kể rằng lúc đó tướng Pershing đang là Toàn Quyền chỉ huy lực lượng Mỹ đóng cứ tại Phi Luật Tân. Trong thời điểm trước khi Đệ Nhất Thế Chiến chính thức bùng nỗ, các nhóm phản kháng Hồi Giáo trong vùng thường đột kích đồn trại Mỹ gây nhiều tổn thất nhân sự. Những phiến quân Hồi Giáo nầy rất lợi hại và cực kỳ can đảm không hề sợ chết. Tuy nhiên Pershing nghiên cứu và nhận biết rằng tín đồ Hồi Giáo xem thịt, da và máu heo là các thứ dơ bẩn. Họ không những kiêng cử không ăn mà nhiều người còn không dám chạm vào vì sợ bị ô uế lây, và do đó không được vào cửa Thiên Đàng. Ông biết được những người nầy tuy không sợ chết nhưng lại rất sợ bị cấm vào Thiên Đàng.

Khi lính của Pershing bắt được 50 phiến quân Hồi Giáo, ông ra lệnh xử tử tất cả, trừ một người. Sau khi trói 49 người nầy vào cột để chờ xử bắn, ông bảo lính của ông đem hai con heo còn sống ra cắt cổ trước mặt họ. Những viên đạn sắp được dùng để xử tử được nhúng vào máu heo trước khi lệnh xử bắn bắt đầu. Tất cả 49 người sắp bị bắn chết, lẫn người thứ 50 được tha chết, đều chứng kiến việc nầy. Ông Pershing nhận thấy những người sắp bị bắn biểu lộ một sự kinh hãi tột độ trước viễn ảnh sắp bị giết chết bởi các viên đạn tẩm máu heo vì tin rằng thay vì họ được vào Thiên Đàng thì sẽ bị đày xuống Địa Ngục mãi mãi. Sau khi bị bắn chết, tất cả 49 tử thi được bỏ chung vào một cái hố. Hai xác heo cũng được mổ bụng lấy ruột gan nội tạng ra đổ phủ đầy trên xác của các tử tù trước khi lấp đất lại.

Người thứ 50 sau khi bị chứng kiến toàn bộ những gì đã xảy ra đã được Pershing ra lệnh thả đi. Dĩ nhiên người nầy sẽ về tường thuật mọi việc lại cho các phiến quân khác. Chuyện kể rằng trong mấy mươi năm sau đó, quân đội Hoa Kỳ trú đóng ở Phi Luật Tân hầu như không còn bị bị phiến quân Hồi Giáo tấn công nữa.

Tôi xin nói ngay đây là một câu chuyện thuộc dạng “truyền thuyết” hơn là một sự kiện lịch sử vì nó chưa bao giờ được kiểm chứng hay được công nhận chính thức bởi quân lực Hoa Kỳ. Điều nầy vẫn không làm nhiều người cho nó chỉ là câu chuyện giả tưởng. Theo họ, trong lịch sử Hoa Kỳ, cũng như bất cứ quốc gia nào khác, nhiều sự kiện đã thật sự xảy ra nhưng không bao giờ được nhà cầm quyền xác nhận chính thức (trừ khi bất khả kháng). Một lý do là vì chúng có thể gây ra dư luận bất lợi cho chính phủ của họ.

Theo Tiến Sĩ Frank Vandiver của Đại Học Texas, tác giả quyển “Cuộc Đời của ‘Black Jack’ John J Pershing” thì đây chỉ là một câu chuyện giả tưởng. Theo ông, không có bằng chứng chính đáng gì cho thấy người Hồi Giáo tin rằng ăn hay đụng đến da thịt hay máu heo, v.v. thì sẽ lập tức bị cấm vào Thiên Đàng và bị vĩnh viễn lưu đày ở Địa Ngục.

Năm 2005 có một bích chương được dán lên tại tổng trụ sở của Đoàn Cảnh Vệ Quốc Gia California ở Sacramento. Bích chương nầy cổ động việc dùng đạn nhúng máu heo để bắn phiến quân Hồi Giáo. Bích chương nầy nhắc lại câu chuyện về tướng Pershing và nói: “Có thể lúc nầy là khi lịch sử cần phải tái diễn, có thể ở Iraq. Vấn đề là bây giờ tìm ở đâu ra một Black Jack Pershing?”

Đại diện các cộng đồng được cho là “thành phần ôn hòa” của Hồi Giáo đang sinh sống ở Hoa Kỳ, và các nhóm thân Hồi Giáo, đã lớn tiếng phản đối khi họ biết về bích chương nầy. Họ cho rằng ý tưởng dùng đạn nhúng máu heo để đối phó với phiến quân Hồi Giáo chỉ là một ý tưởng khùng điên. Hơn nữa nó còn xúc phạm đến niềm tin của Hồi Giáo cũng như đến cộng đồng Hồi Giáo.

Tôi cũng không nghĩ mọi người Hồi Giáo đều tin rằng chỉ cần chạm đến thịt hay máu heo, nhất là chỉ vì tai nạn hay bị cưỡng ép, thì sẽ bị cấm vào Thiên Đàng. Tuy nhiên cũng có người cho rằng chúng ta đang nói về những kẻ cuồng tín với các niềm tin hoàn toàn phản lý luận ở các mức độ khó tưởng. Họ lý luận rằng nếu một kẻ thật sự tin chỉ cần tử vì đạo thì sẽ được lên Thiên Đàng nhận lãnh 75 trinh nữ thì tại sao kẻ đó cũng không thể tin rằng đụng chạm đến thịt hay máu heo sẽ bị cấm vào Thiên Đàng? Họ cho rằng nếu là khùng điên thì hai niềm tin đó đều khùng điên ngang nhau.

Có thể những người lính trẻ của Đoàn Cảnh Vệ Quốc Gia California đã dán lên bản bích chương trên vì họ, cũng như không ít người Mỹ khác, cảm thấy cần phải làm cái gì đó cần thiết và khả dĩ để đối ứng với mối hiểm họa đang đe dọa quốc gia họ. Có thể phương cách dùng đạn nhúng máu heo của họ có phần “nằm ngoài khuôn khổ thông thường”, chưa kể là không rõ sẽ hiệu quả bao nhiêu. Dù gì đi nữa, điều mà tôi thắc mắc ở đây là tại sao những “cộng đồng Hồi Giáo ôn hòa” đã lớn tiếng phản đối rằng tờ bích chương xúc phạm đến tôn giáo và cộng đồng của họ.

Lý do tôi thắc mắc là vì tôi không nhớ thấy họ lớn tiếng phản đối khi các thành phần trong chính tôn giáo họ khủng bố giết hại thường dân vô tội. Và tôi cũng không nhớ thấy cộng đồng Hồi Giáo ôn hòa nào lên tiếng chống đối những lần các nhóm cực đoan mang danh nghĩa Hồi Giáo biểu tình công khai tại thủ đô một số nước đòi hỏi quyền sử dụng luật Sharia thay vì luật lệ dân sự quốc gia, hay những lần chúng kêu gọi dùng bạo động để “tẩy rửa sạch nền văn hóa đồi trụy dơ bẩn Tây Phương”.

Tại sao các đại diện cộng đồng Hồi Giáo lại cho rằng cổ động việc dùng đạn nhúng máu heo là xúc phạm họ và tôn giáo họ? Tờ bích chương của Đoàn Cảnh Vệ Quốc Gia California nói rất rõ đây là một biện pháp dành cho bọn cuồng tín cực đoan phiến quân Bang Quốc Hồi Giáo. Bọn phiến quân Bang Quốc Hồi Giáo nầy trên lý thuyết không liên quan gì cả đến các cộng đồng dân sự Hồi Giáo hiện đang sinh sống ở những nước Tây Phương. Có người phân tích rằng việc các đại diện cộng đồng dân sự Hồi Giáo có cảm giác bị xúc phạm cho thấy trong tiềm thức họ cảm thấy có một mối liên hệ với chúng. Có lẽ họ tự đồng hóa họ với bọn cuồng tín trên phần nào là vì họ và chúng đều mang cùng tôn giáo chăng? Do đó khi những “người ngoài” (những kẻ ngoại đạo, những kẻ không-Hồi-Giáo) tấn công bọn phiến quân trên một khía cạnh liên quan đến tôn giáo thì họ cũng cảm thấy bị tấn công, bị xúc phạm, phần nào chăng?

Và cũng có thể là vì trong tiềm thức họ cũng thông cảm và ít nhiều đồng tình với thái độ của chúng về việc cần “tẩy rửa sạch nền văn hóa đồi trụy dơ bẩn Tây Phương” chăng? Đây không phải là một phân tích hoàn toàn vô lý là vì hầu như tất cả người sùng tín đều mang một quan điểm chung cho rằng đạo đức tôn giáo của họ là chân chính, cao cả hơn hết; và những gì đi ngược lại đạo đức tôn giáo họ đều là sai trái, hư hoại. Vì nhiều lý do họ không, và không thể, công khai chủ trương “tẩy rửa sạch nền văn hóa đồi trụy dơ bẩn Tây Phương”. Tuy nhiên khi thấy có kẻ làm điều nầy thì họ không cảm thấy cần thiết để cực lực phản đối chúng chăng?

Cái mà tôi nhớ thấy về đại diện các cộng đồng Hồi Giáo là sau các cuộc khủng bố thì họ thường biện bạch rằng “Hồi Giáo thật ra là một tôn giáo hòa bình, không chủ trương giết chóc. Những kẻ khủng bố chỉ là thiểu số đã hiểu sai lời dạy của Allah.” (Đúng theo tâm lý “tôn giáo của tôi luôn luôn chân chính, đạo đức”)

Đây là một điều nữa mà tôi có vấn đề rất lớn. Luận điệu “Hồi Giáo không chủ trương giết chóc… Kinh Koran không hề dạy điều đó…” nói trắng ra, theo tôi, chỉ là hoặc những lời tự bịt mắt ru ngủ của những người muốn lẫn trốn trách nhiệm hoặc những lời nói láo. Tôi đã trích dẫn Kinh Koran để dẫn chứng rõ sự sai lầm của luận điệu nầy trong bài Những Hạt Cỏ Độc đăng trước đây không lâu trên Da Màu. Vấn đề của tôi quan tâm và muốn nhấn mạnh ở đây là ngay cả một số chính khách Tây Phương cũng công khai đồng tình với lập luận nầy. Có thể họ chỉ lập lại những lời người khác nói mà chưa từng đọc qua Kinh Koran (cũng như nhiều người Thiên Chúa Giáo chưa hề đọc qua Kinh Thánh) để tự tìm hiểu cho chính họ. Hoặc họ là những người dễ tin. Hoặc họ là những người chỉ thấy những gì họ muốn thấy. Hoặc họ là những người chủ trương “dĩ hòa vi quý”, với bất cứ giá nào. Theo tôi, những người ở vị thế như họ không chịu tìm hiểu rõ ràng trước khi tuyên bố lập trường như thế là một điều đáng trách và đáng lo ngại.

Tôi hiểu các nhà cầm quyền Tây Phương phải liên tục đương đầu với nhiều áp lực chính trị lẫn ngoại giao và văn hóa từ mọi phía. Họ không có sự tự do áp dụng những biện pháp đối phó, ngay cả nếu họ nghĩ rằng sẽ có hiệu quả, nếu các biện pháp đó bị xem là “có thể xúc phạm” đến các cộng đồng Hồi Giáo. Tĩnh từ “đúng đắn chính trị” (politically correct) là một từ xuất hiện trước nhất khi thiết kế hay đề cử những phương cách hành động gì. Nếu một chính sách, hay một phương án, có thể bị cho là “phản cảm” đối với một nhóm người nào đó, đặc biệt là nếu họ thuộc về một cộng đồng tôn giáo hay sắc tộc, thì nó sẽ bị xem là không “đúng đắn chính trị” và sẽ bị dẹp sang một bên. Rất nhiều chính trị gia không muốn làm mất lòng cử tri vì họ thường xuyên nghĩ đến việc ai sẽ bỏ phiếu cho họ trong kỳ bầu cử sắp đến.

Tôi hiểu vô số thường dân Hồi Giáo, ở các quốc gia Hồi Giáo Trung Đông hay ở trong xã hội Tây Phương, chỉ muốn được yên ổn sinh sống cuộc đời của họ một cách bình an, hiền hòa. Tôi hiểu đối phó với thảm họa Hồi Giáo cực đoan là một chuyện cực kỳ phức tạp. Tìm ra một biện pháp cân bằng để tiêu trừ thảm họa nầy đồng thời tránh thiệt hại cho người dân Hồi Giáo vô can là một việc hầu như bất khả thi. Dùng đạn nhuốm máu heo tuy có thể không phải là một phương cách hiệu nghiệm nhất để chống lại bọn phiến quân tàn ác nhưng ít ra nó không tệ hại bằng thái độ sợ sệt dư luận của những người cầm quyền Tây Phương không dám sử dụng những phương cách nghiêm khắc và dứt khoát cần thiết trong lúc nầy.

Đạn nhúng máu heo chỉ là một trong nhiều thí dụ cho thấy bề mặt đạo đức giả và thực chất hèn nhát của nhiều nhân vật và tổ chức chính trị trong giới cầm quyền của chúng ta về vấn đề nầy. Cái gọi là cuộc chiến tranh chống lại Hồi Giáo cực đoan là một mặt trận không có chiến tuyến. Các chiến trường đang diễn ra ở Trung Đông là những môi trường chiến tranh cực kỳ khó khăn cho quân đội Tây Phương. Bọn phiến quân thường không có những lực lượng cố định để đối đầu công khai trực diện. Chúng thường trà trộn lẫn lộn với dân chúng bản xứ nên rất khó biết ai là thù ai là bạn. Những vụ tấn công bằng khủng bố xảy ra ngay trong lòng những quốc gia Tây Phương hiện nay, thí dụ như ở Paris vừa qua, còn là những hoàn cảnh khó khăn hơn thập phần. Thế giới Tây Phương đang đứng trước một hiểm họa hiểm nghèo nếu không ai sớm có thái độ dứt khoát để thi hành những giải pháp hữu hiệu hơn những giải pháp đã và đang được sử dụng đến nay.

Ở một vài nước Âu Châu, các cộng đồng Hồi Giáo có dân số rất lớn. Họ có những khu vực sinh sống riêng rẻ. Ở Pháp chẳng hạn, có những khu vực mà ngay cả cảnh sát Pháp rất ngần ngại mỗi khi cần đi vào. Những cuộc biểu tình ủng hộ Bang Quốc Hồi Giáo đã nhiều lần xảy ra ở các nước khác bên ngoài Âu Châu, như ở Úc chẳng hạn. Nhà cầm quyền địa phương cho đến nay nói chung đã làm ngơ có lẽ vì không muốn bị xem là đàn áp tín ngưỡng hay kỳ thị chủng tộc. Và có nhiều người trong các cộng đồng Tây Phương vẫn tiếp tục mơ ngủ trong những giấc chiêm bao ngây thơ của họ rằng cứ dốc lòng tiếp tục bày tỏ lòng yêu thương và mở rộng vòng tay chào đón mọi người thì mọi người sẽ đáp ứng bằng lòng tôn trọng lẫn nhau và mọi việc sẽ dần dà tự giải quyết êm đẹp.

Cuộc tấn công ở Paris có lẽ đã làm một số người thức tỉnh phần nào. Nhiều chính phủ các nước Âu Châu lẫn Mỹ, Úc đang hối hả chỉnh đốn chính sách chống khủng bố của họ. Nhiều “biện pháp mạnh” cần thiết đang được cứu xét với hy vọng đáp ứng được nhu cầu cấp bách nầy. Tuy vậy, bức tường “đúng đắn chính trị” vẫn cần phải vượt qua trước khi các biện pháp trên có thể được biểu quyết.

Chúng ta cần phải bảo vệ cuộc sống an lành của dân chúng, kể cả những thường dân Hồi Giáo yêu chuộng hòa bình, của chúng ta. Bất cứ với giá nào. Đây là vì sự sống còn của chúng ta, của nền văn minh và đạo đức nhân loại, của cuộc sống tự do mà ông cha chúng ta đã qua bao nhiêu thế hệ bỏ mình chiến đấu để gìn giữ. Chúng ta đừng vì tư tưởng “đúng đắn chính trị” mà tự trói tay, chặt chân mình trong khi đương đầu với một kẻ địch không có quan niệm gì về tinh thần mã thượng hay ý định tuân theo bất cứ luật lệ giao tranh (rules of engagement) nào.

Tục ngữ Việt Nam có một câu có lẽ rất thích hợp cho hoàn cảnh hiện nay: “Đi với Bụt thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy.” Những giải pháp khùng điên và xúc phạm như đạn nhúng máu heo có lẽ chỉ là một dấu hiệu của thời cuộc và là một dạng áo giấy cần thiết chăng?

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Hiểu thế nào về món quà từ thiện của chủ nhân Facebook

Hà Tường Cát
/Người Việt/Tổng Hợp

Nhà tỷ phú trẻ tuổi Mark Zuckerberg, nhân dịp mừng đứa con đầu lòng, vừa quyết định hiến tặng 99% chứng khoán Facebook của mình
cho việc từ thiện thông qua Chan Zuckerberg Initiative, với mục tiêu “phát huy tiềm năng của con người
và cổ vũ bình đẳng cho tất cả mọi trẻ em thế hệ mai sau”.

Image
Hai vợ chống Mark Zuckerberg-Pristila và đứa con mới sinh (Hình::/Facebook)

Ai cũng biết là Zuckerberg rất giầu, anh hứa hẹn sẽ cho gần như toàn thể cổ phiếu, 99%, mà mình sở hữu trong công ty Facebook đã lập ra.

BBC cho biết Zuckerberg đã báo cho các nhà điều chình điều chỉnh hoạt động công ty Mỹ biết toàn thể ngân khoản được hứa là $45 tỷ. Khởi đầu sẽ là $1 tỷ trong ba năm đầu. Sau đó chưa có quy định rõ về thời gian, tuy nhiên không thể nghi ngờ sẽ rộng rãi vì được hứa hẹn là 99% tổng số cổ phiếu của Facebook. Cũng theo BBC tiền hiến tặng cho hoạt động từ thiện ở Anh Quốc là $10.5 tỷ một năm.

Như vậy đây là một đóng góp rất lớn, tuy nhiên chưa có chi tiết rõ về tiến độ ngân khoản sẽ được đưa ra, có nghĩa là kế hoạch này còn cần qua thời gian chứ không phải tức khắc.

Trang mạng Common Dreams NewsCenter thường được gọi tắt là Common Dreams, thuộc một tổ chức vô vụ lợi, nhận định rằng có một vấn đề căn bản không được đề cập trong thư ngỏ của cặp vợ chồng Mark Zuckerberg/Priscilla Chan. Đó là hai người không đưa tiền thẳng cho các tổ chức từ thiện mà cụ thể là chuyển dần vào Chan Zuckerberg Initiative, một công ty trách nhiệm hữu hạn (LLC) của họ.

Theo BBC, chuyển khoản qua một LLC thay vì đến tổ chức từ thiện là một phương cách khác thường, có lẽ vì mục đích kiểm soát. Qua LLC, Zuckerberg có thể nắm giữ quyền bỏ phiếu và phân phối các cổ phần anh ta đưa vào đó. Và khác với một tổ chức từ thiện hay quỹ tín thác từ thiện (charitable trust), LLC có thể chi tiêu cho bất cứ cái gì nó muốn – kể cả tư nhân, hay đầu tư có lãi. LLC có thể cho tiền các cơ quan từ thiện nhưng không bắt buộc phải làm thế. Hơn nữa tiền ở quỹ này còn có thể dùng trả cho các nhà vận động hậu trường (lobbyist) và ủng hộ những chính trị gia.

Zuckerberg không mất quyền kiểm soát công ty khi cho đi các chứng khoán như thế. Động thái này “không tác động đến quy chế của Mark với tư cách là cổ đông lớn nhất của Facebook trong một tương lai có thể thấy trước”. Facebook minh định như vậy trong lời giải thích trình bày dưới dạng Q&A, hỏi và trả lời. Theo Facebook: “Mark vẫn giữ quyết tâm với Facebook và sứ mạng của nó. Ông tiếp tục ở vai trò Chủ Tịch - Tổng Giám Đốc trong nhiều, nhiều năm nữa”. Facebook nói thêm “Trong quá khứ Mark và Priscilla đã đóng góp $1.6 tỷ cho công tác từ thiện. Zuckerberg và bác sĩ Chan cũng cho tiền cho các công tác y tế, chẳng hạn đã cho bệnh viện đa khoa San Francisco $7.5 triệu

Tuy nhiên có những chỉ trích. Internet.org project của Zuckerberg có mục tiêu kết nối Internet cho hàng tỷ người chưa có truy cập, nhưng người ta cho rằng việc này chỉ nhắm mục đích gia tăng số người sử dụng Facebook, Instagram và WhatsApp. Một phần của số tiền $1.6 tỷ được cho các trường học, nhưng nhiều nhà hoạt đông cộng đồng, phụ huynh và công đoàn nói rằng hầu hết đến tay các chuyên viên tư vấn chứ không phải là giúp cho học sinh biết đọc.

Robert Wood, một cộng tác viên của tạp chí Forbes nói: “Sự hào phóng của Zurkerberg rất có hiệu quả về lãnh vực đóng thuế”. Ông nói: “Tại sao lại cho chứng khoán? Với chứng khoán, nhà mạnh thường quân được giảm thuế về việc từ thiện căn cứ trên trị giá thực của chứng khoán. Trị giá và giá căn bản là hai điều hoàn toàn khác nhau, có nghĩa là hưởng lợi về thuế rất lớn”.

Common Dreams nói thẳng rằng đây là một kế hoạch âm mưu trốn thuế. Bằng cơ cấu này Zuckerberg và Chan có khả năng chuyển quyền sở hữu của số chứng khoán khổng lồ Facebook mà không phải trả một xu tiền thuế lợi tức đầu tư (capital gain taxes) nào.

Các tỷ phú, từ Bill Gates đến Warren Buffett đều đặt tài sản khổng lồ của họ vào những tổ chức tư nhân và ngoài tầm can dự của công chúng. Zurkerberg cũng không đi khác con đường ấy. Chuck Collins thuộc Institue for Policy Studies nói rằng các người này bằng nhiều phương cách trốn tránh thuế mà không ai có thể kiểm soát được. Theo ông “Tài sản của Zurkerberg xây dựng trên đầu tư của công chúng trong ngành Internet, cơ sở hạ tầng, hệ thống giáo dục, hầu như tất cả đều bằng tiền của dân đóng thuế”.

Một báo cáo mới đây của Institue for Policy Studies cho biết toàn thể tài sản của 20 người giầu nhất nước Mỹ – trong đó có Zurkerberg – bằng phân nửa tổng số của phân nửa dân Mỹ nghèo. Không cấn nói, ai cũng hiểu điều ấy giúp họ có ảnh hưởng xã hội và chính trị rất quan trọng. David Maloney của tờ Guardian cho rằng chủ trương từ thiện và xóa nghèo đói của họ thật ra không thể dứt họ ra khỏi gốc rễ tư bản đế quốc, và những ảnh hưởng xâm nhập vào văn hóa thế giới đang mạnh hơn bao giờ hết. Theo Maloney: “Người giầu hãy còn rất có hiệu quả trong sự tạo lập tương lai mà họ muốn thấy”.

David Lee, bình luận viên BBC ở Silicon Valley, nhận định rằng, hành động của Zurkerberg/Chan chứng tỏ tham vọng nổi lên thành những nhân vật lớn trên chính trường toàn cầu. Những đóng góp lớn cho công tác từ thiện có thể giúp họ rất nhiều đối với cử tri, nhưng đồng thời không thể tránh khỏi thu hút nhiều chỉ trích phê phán.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

TIẾNG CHÀO... Một nữ công-nhân làm việc tại một xí-nghiệp chế-biến thịt đông
lạnh. Một buổi chiều, khi đã hoàn-thành công-việc, như thường-lệ cô đi
vào kho đông lạnh để kiểm-tra một chút. Đột-nhiên, cửa phòng lại bị
đóng và khóa lại! Cô bị nhốt ở bên trong mà không một ai biết!!!

Cô vừa hét khản cổ họng, vừa đập cửa với hy-vọng có người nghe được
tiếng mình mà đến cứu! Nhưng vẫn không có ai nghe thấy!!! Lúc này,
tất-cả công-nhân đã tan ca! Toàn bộ nhà máy đều yên-tĩnh!!!

Sau 6 giờ chiều hôm ấy, công-nhân lạnh cóng người, tuyệt-vọng và
đau-khổ! Đang lúc cô tưởng như không chịu đựng được nữa!!! Thì bất-ngờ
được người bảo-vệ đến mở cửa cứu ra ngoài!!!

Hôm sau, cô gái hỏi người bảo-vệ tại sao lại biết mình ở trong
đó để đến mở cửa? Mặc dù, đây không phải khu-vực mà ông ấy quản-lý!!!

Người bảo-vệ trả lời:

- “Tôi làm việc ở nhà máy này đã 35 năm rồi. Mỗi ngày đều có mấy trăm công-nhân ra ra vào vào. Nhưng cô là người duy-nhất, mà ngày nào sáng sớm đi làm cũng chào hỏi tôi và buổi tối tan làm lại chào tạm-biệt tôi!
Trong khi có rất nhiều người xem như không nhìn thấy tôi vậy!!! Hôm nay, tôi biết rõ ràng buổi sáng
cô có đi làm, bởi vì sáng sớm cô còn nói “Cháu chào bác!” Nhưng sau
khi tan làm buổi chiều, tôi lại không nghe thấy tiếng cô chào:
“Tạm-biệt bác, hẹn ngày mai gặp lại!”

Thế là tôi quyết-định đi vào trong nhà xưởng tìm xem …xem thế nào??? Tôi đi đến những chỗ góc hẻo-lánh tìm cô! Cuối cùng, lại nghe thấy tiếng khóc! Và tìm thấy cô ở trong kho đông lạnh!!!“
Hãy luôn khiêm-tốn, nhã-nhặn, yêu thương, và tôn-trọng những
người xung-quanh mình!
Bởi vì bạn không thể biết được sự-tình gì sẽ
xuất-hiện vào ngày mai!!!

Post Reply