Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Chính sách chống khủng bố của Obama qua vụ San Bernardino

Hà Tường Cát

/Người Việt (tổng hợp)

Vụ nổ súng ở San Bernardino ngày Thứ Tư, 2 Tháng Mười Hai, là vụ gây thương vong nhiều nhất kể từ cuộc tấn công 9/11 năm 2001 của
al-Qaeda tại Hoa Kỳ. Qua bốn ngày điều tra, nhà chức trách đã xác định đây là hành động khủng bố do hai phần tử có thể có liên hệ đến nhóm ISIS.

Tầm nghiêm trọng của sự kiện này thể hiện qua việc Tổng Thống Barack Obama đã phải có một bài nói chuyện đặc biệt,
truyền hình toàn quốc đến dân chúng Mỹ, ngay tối Chủ Nhật. Ông nói: “Ðây là một hành động của khủng bố nhằm giết hại những người vô tội.
Tôi muốn quần chúng biết như thế. Mối đe dọa của khủng bố là có thật, nhưng chúng ta sẽ thắng.
Chúng ta sẽ tiêu diệt ISIS và những tổ chức nào muốn làm hại chúng ta.”

Image
Cư dân San Bernardino County mang hình 14 nạn nhân vụ khủng bố trong buổi lễ thắp nến tưởng niệm tối Thứ Hai, 7 Tháng Mười Hai.
(Hình: AP/Jae C. Hong)



Tổng thống muốn có cơ hội nói chuyện để trấn an dân chúng ở thời điểm mà có tới 60% không tin tưởng vào chính sách đương đầu với khủng bố của ông. Theo thăm dò dư luận mới nhất, 53% dân Mỹ muốn Hoa Kỳ đưa quân bộ chiến sang đánh ISIS, và 68% cho rằng phản ứng của Mỹ đối với nhóm khủng bố này chưa đủ mạnh mẽ.

Bằng cách ngồi ngay tại bàn giấy làm việc trong Phòng Bầu Dục của Tòa Bạch Ốc để nói chuyện, thay vì đứng sau bục thuyết trình như bình thường, Tổng Thống Obama muốn chứng tỏ thái độ bình tĩnh nắm vững tình hình để dứt khoát đối đầu với hiểm họa khủng bố. Ông mới chỉ dùng cách nói chuyện như thế hai lần trước đây, trong vụ chảy dầu BP ở Vịnh Mexico và vụ triệt thoái quân đội Mỹ chấm dứt chiến tranh Iraq.

Như mọi người đều có thể dự đoán, bài nói chuyện dài 1,900 chữ của ông ngay lập tức bị những người Cộng Hòa chỉ trích, đặc biệt những ứng cử viên tổng thống, tìm thấy đây là dịp để tấn công ông Obama và ứng cử viên đảng Dân Chủ Hillary Clinton.

Ngay trong lúc Tổng Thống Obama nói chuyện, ông Donald Trump dùng Twitter đánh đi những ý kiến của mình: “Tất cả chỉ có vậy sao?” và “Chúng ta cần nhanh chóng có một tổng thống mới.” Ông Jeb Bush nói là “cuối cùng ông Obama đã từ bỏ hình ảnh tưởng tượng là hiểm họa khủng bố đã giảm” và “bây giờ là lúc cần có một tổng tư lệnh thời chiến vào Tòa Bạch Ốc.” Ông Rand Paul thì lại chỉ chê trách rằng tổng thống nhân cơ hội này để vận động phải cải cách luật súng.

Quả thật bài nói chuyện của Tổng Thống Obama có một đoạn kêu gọi sửa đổi luật kiểm soát súng đạn vì ở Mỹ người dân mua súng quá dễ và các phần tử ISIS cũng thế. Theo lời ông, “Quốc Hội nên có luật để bảo đảm rằng những đối tượng đã nằm trong danh sách cấm lên máy bay không mua được súng. Có thể giải thích thế nào khi cho phép một nghi can khủng bố mua một khẩu súng bán tự động loại tác chiến? Ðây là vấn đề an ninh của quốc gia.” Và ông cho rằng: “Chúng ta có thể và phải làm cho bọn chúng khó khăn hơn khi giết người.” Tuy nhiên với hai viện Quốc Hội đều do đảng Cộng Hòa kiểm soát, sự thay đổi luật súng là việc hầu như không thể nào đạt tới.

Mặc dầu chỉ nhắc lại chính sách chống khủng bố đang có, nội dung vấn đề Tổng Thống Obama nói đến có nhiếu khía cạnh phức tạp về chính trị. Ông cho rằng những lời lẽ nóng nảy và phê phán vội vã của những ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa sẽ chỉ có lợi cho ISIS khai thác để tuyên truyền.

Ông cũng cảnh cáo rằng Hoa Kỳ không thể nào thắng ISIS bằng sự tái diễn hành động sai lầm là triển khai một lực lượng bộ binh lớn như đã thấy ở chiến tranh Iraq.

Ông nói: “Làm như thế chúng ta sẽ bị lôi cuốn một lần nữa vào cuộc chiến tranh lâu dài và hao tốn nhân vật lực ở Iraq hay Syria. Ðó chính là cái mà ISIS muốn thấy. Một phần chiến binh ISIS bây giờ là thành phần nổi dậy đối đầu với chúng ta ở Iraq. Chúng hiểu là không thể nào thắng Mỹ. Nhưng chúng cũng hiểu rằng nếu Mỹ chiếm lãnh thổ nước ngoài, thì sẽ có thể duy trì cuộc nổi dậy kéo dài trong nhiều năm không dứt, và dùng sự hiện diện của chúng ta để tuyển mộ thêm nhiều phần tử quá khích mới.”

Tổng Thống Obama bênh vực chiến lược đang theo đuổi, bao gồm oanh kích bằng không quân, dùng lực lượng đặc biệt phối hợp với các lực lượng địa phương ở Iraq và Syria. Như vây cuối cùng có thể đạt thắng lợi vững bền mà không đòi hỏi đưa một thế hệ thanh niên mới đi chiến đấu và hy sinh ở nước ngoài.

Ông cũng tiết lộ rằng Hoa Kỳ vẫn trợ giúp cho các lực lượng Iraq và Syria chiến đấu với ISIS tại địa phương đặc biệt là sau vụ khủng bố tấn công Paris. Ông cũng cho biết quân lực Mỹ sẽ săn lùng khủng bố ở bất cứ nơi nào chúng ẩn náu và hoạt động, tấn công các lãnh tụ ISIS, vũ khí nặng, xe chở dầu và các cơ sở hạ tầng của chúng. Washington cũng hợp tác với các đồng minh để cắt đứt nguồn kinh tài và ngăn chặn tuyển mộ nhân sự mới của ISIS.

Qua bài nói chuyện, Tổng Thống Obama chứng tỏ một lập trường vững chắc trong đối phó với khủng bố. Nhưng bằng những lập luận hùng biện có vẻ là của một chính trị gia hơn là một tổng tư lệnh quốc gia, ông đã không đưa ra thêm đường lối gì mới. Ðiều ấy khiến các người đối lập và nhiều nhà bình luận vội vã lên tiếng phê bình ông và tỏ sự hoài nghi về hiệu quả của cuộc chiến chống ISIS.

Tuy nhiên cần chú ý đến một nguyên tắc căn bản về đối ngoại của Tổng Thống Obama trong suốt hai nhiệm kỳ, đó là không bao giờ ông chủ trương nước Mỹ đóng vai “cảnh sát quốc tế” và can dự bằng sức mạnh vào bất cứ mọi vấn đề gì xảy ra trên thế giới.

Vì thế trong bài nói chuyện tối Chủ Nhật, ông nhắc lại là Hoa Kỳ ở trong tình trạng chiến tranh với khủng bố kể từ vụ tấn công 9/11 của al-Qaeda, và sau đó với sự gia tăng phòng thủ và kiên trì tấn công đã nắm vững quyền chủ động trước tình thế. Nhưng theo lời ông, “trong ít năm gần đây, đe dọa của khủng bố đã chuyển qua một hình thái mới.” Ông nói: “Khủng bố diễn ra ít phức tạp hơn, dùng những hành động kiểu nổ súng bắn người hàng loạt vẫn thường xảy ra tại Mỹ, như ở Fort Hood, Chattanooga và San Bernardino năm nay.”

Nhìn nhận rằng khủng bố là một hiểm họa khó chấm dứt, Tổng Thống Obama nói Hoa Kỳ cần phải đối phó mạnh nhưng khôn khéo, linh hoạt và kiên trì. Nhưng ông nhấn mạnh hai nguyên tắc phải giữ: Thứ nhất là phải duy trì và đề cao những giá trị truyền thống của dân Mỹ, tránh mọi quan điểm kỳ thị. Thứ hai là không để chống khủng bố diễn ra như cuộc chiến giữa nước Mỹ và Hồi Giáo. Do đó, sự cộng tác với các quốc gia có dân Hồi Giáo chiếm đa số, và sự hợp tác của các cộng đồng Hồi Giáo ở Mỹ là căn bản để thắng khủng bố.

Tổng Thống Obama cho biết cuộc điều tra của FBI vẫn còn đang tiếp tục để tìm hiểu mối liên hệ giữa hai vợ chồng hung thủ ở San Bernardino với các tổ chức khủng bố nước ngoài. Cho đến bây giờ không có bằng chứng gì cho thấy Syed Rizwan Farook và Tashfeen Malik hành động theo mệnh lệnh của ai.

Một đài phát thanh chính thức của ISIS ở Iraq đã lên tiếng ca ngợi hai hung thủ ở San Bernardino và cầu nguyện “Thượng Ðế đón nhận họ như những kẻ tử đạo.” Ðiều đáng chú ý là đài này gọi họ là “những ủng hộ viên,” thay vì gọi là “kỵ sĩ” hay “chiến sĩ,” như trong những vụ tấn công khủng bố mà ISIS chính thức tuyên bố nhận trách nhiệm. Như vậy Syed Rizwan Farook và Tashfeen Malik có lẽ chỉ là những người đã được cải hóa với ý thức hệ Hồi Giáo quá khích để trở thành jihadist (chiến binh thánh chiến), và không hẳn đã là thành viên ISIS hay một tổ chức nào khác.

Vụ khủng bố ngày Thứ Tư, 2 Tháng Mười Hai, xảy ra ngay tại nơi làm việc của Farook khiến thoạt tiên người ta có thể nghĩ nguyên nhân là từ chuyện cãi nhau tại nơi làm việc. Nhưng dấu hiệu chứng tỏ thảm kịch tại San Bernardino do khủng bố là vì có tới hai tay súng. Theo FBI trong 160 vụ nổ súng bắn người bừa bãi tại Mỹ từ năm 2000 đến năm 2013, chỉ hai vụ có hơn một tay súng. Do đó FBI bây giờ đặt giả thiết là nếu không có mệnh lệnh, đây là loại hành động gọi là của “sói cô đơn” (lone wolf), như người ta đã lo ngại từ lâu về những chiến binh trốn sang Trung Ðông theo ISIS rồi trở về Mỹ và các nước Âu Châu rồi tự ý hành động khủng bố bằng ý nguyện cá nhân sau khi đã tiêm nhiễm tư tưởng tôn giáo quá khích.

Farook, 28 tuổi, có việc làm được trả lương căn bản $49,000/năm, sống cùng với vợ trong một căn nhà townhouse có lầu và hai người mới có một đứa con gái 6 tháng. Khác với hầu hết những phần tử khủng bố, thường có lý lịch tội phạm và nếp sống nhiều phức tạp bên cạnh xã hội, như đã thấy trong số các tên khủng bố ở Paris, những chi tiết ấy khiến Farook và Malik hầu như không bị lưu ý. Và đây có thể là một sơ suất của các viên chức chống khủng bố.

Hồ sơ của hơn 300 phần tử cực đoan quá khích đã từng bị truy tố vì một vài hành động liên can đến khủng bố tại Hoa Kỳ sau 9/11, có những chi tiết đáng chú ý như sau: Tuổi trung bình 29; hơn 1/3 có vợ và có con; trung bình có trình độ giáo dục như những công dân Mỹ tiêu chuẩn. Ðến nay FBI chỉ có thể nói rằng Farook và Malik đã được cải hóa thành Hồi Giáo quá khích ở một thời điểm nào đó nhưng chưa thể xác định lúc nào hay ra sao. Theo FBI, trước đây ít lâu, Farook đã tham gia một cuộc thực tập chống bạo hành tại nơi làm việc, được thành phố tổ chức ngay tại cơ sở sau này xảy ra vụ khủng bố thật.

Cô vợ Tashfeen Malik là dân Pakistan, có một thời gian qua Saudi Arabia và có lẽ được cải hóa thành Hồi Giáo quá khích tại đây. Trước vụ khủng bố, Malik đã đọc lời tuyên thệ trên Facebook với lãnh tụ ISIS Abu Baki al-Baghdad. Còn theo lời ông Syed Farook, cha của Syed Rizwan Farook, thì người con trai của ông có cùng lý tưởng hình thành một nhà nước Hồi Giáo với Abu Baki al-Baghdad. Trước khi hành động, cả hai đã phá hủy hard drive máy điện toán và đập nát điện thoại của họ để phi tang tất cả mọi thông tin gì còn lại liên quan đến quá trình hoạt động.

Những biện pháp khôn ngoan ấy cũng được chú ý trong bài nói chuyện của Tổng Thống Obama. Ông cho biết đã ra lệnh cho Bộ Nội An xem xét lại thủ tục nhập cảnh Hoa Kỳ, qua vụ Malik có thể dễ dàng đến Chicago và được cấp quy chế thường trú nhân tạm thời với tính cách là hôn thê của Farook. Ông cũng nhắc nhở các giới hữu trách rằng khủng bố ngày nay biết lợi dụng những kỹ thuật tin học hiện đại để hành động và qua mặt nhà chức trách.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »



Vì sao chính sách đối ngoại của Việt Nam sẽ không thay đổi sau Đại hội Đảng?


Tác giả: Carl Thayer
Dịch giả: Trần Văn Minh

Đi tìm những huyền thoại và quan niệm sai lầm về cách tiếp cận của Việt Nam đối với Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã sẵn sàng tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 13 trong tháng này. Theo nguồn tin nội bộ, đây sẽ là thời điểm quan trọng để lựa chọn ứng cử viên cho các chức vụ lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam – Tổng bí thư đảng, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch Quốc hội.

Một khi toàn ban trung ương kết luận, sự chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12, dự kiến sẽ xảy ra từ ngày 7 – 9 tháng Giêng, sẽ nhanh chóng tiến hành. Có một số lượng lớn chưa từng thấy những cá nhân đang cạnh tranh cho các chức vụ hàng đầu. Mặc dù vẫn chưa biết chắc chắn ai sẽ là lãnh đạo đảng kế tiếp, nguồn tin chính trị nội bộ dự đoán sẽ không có thay đổi quan trọng trong chính sách và quan hệ đối ngoại của Việt Nam đối với các cường quốc lớn.
.

Hai bài nghiên cứu gần đây đưa ra các quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ trong những năm tới. Bài đầu tiên, do Joshua Kurlantzick viết cho Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Mỹ, mang tên “Cuộc Xung đột Việt-Trung”. Bài nghiên cứu này được tóm lược trên báo The Diplomat.
.

Bản nghiên cứu thứ hai do cựu nhà báo của BBC, Bill Hayton, viết cho Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ tại Quan hệ đối tác An ninh Cận đại của Mỹ trong dự án Đông Nam Á thuộc Đại học Sydney. Bài viết mang tên, “Việt Nam và Hoa Kỳ: Một Quan hệ Đối tác An ninh mới nổi”.

Theo Kurlantzick: Nguy cơ của một cuộc đối đầu quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam đang gia tăng … các nguyên nhân va chạm gia tăng có thể dẫn đến một cuộc đối đầu quân sự nghiêm trọng giữa hai nước trong khoảng 12 – 18 tháng tới, với hậu quả nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ.

Ngược lại, Hayton lưu ý rằng, mặc dù mối quan hệ song phương bị trầy trụa do các tranh chấp ở Biển Đông, các nhà lãnh đạo của cả Việt Nam và Trung Quốc đã “khoanh vùng” các tranh chấp ra khỏi mối quan hệ tổng thể của họ. Hayton kết luận bằng cách ghi nhận rằng vào năm 2015, quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam khá bình lặng, với cả hai bên điều chỉnh luồng dư luận. Ngoài ra “thương mại tiếp tục bùng nổ và khách du lịch [Trung Quốc] bị đình trệ trong cuộc khủng hoảng năm 2014, đang quay trở lại”.

Nghiên cứu của Kurlantzick khảo sát ba kịch bản tiềm năng có thể dẫn đến một cuộc đụng độ quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam – leo thang căng thẳng ở Biển Đông, một vụ nổ súng dọc biên giới đất liền, và sự tương tác không quân hay hải quân không chủ ý phát sinh từ các cuộc thao diễn quân sự giữa Việt Nam và các đối tác chiến lược mới.
.

Trong khi tiềm năng về một cuộc đụng độ quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam không thể hoàn toàn bỏ qua, các bằng chứng được Kurlantzick đưa ra không thuyết phục.

Ví dụ, trong kịch bản đầu tiên, Kurlantzick chỉ ra, việc triển khai giàn khoan dầu trong vùng biển tranh chấp, các sự kiện đâm tàu,và việc “bồi đắp đảo” của hai bên là các nguy cơ tiềm ẩn cho cuộc xung đột.

Chỉ có hai sự kiện lớn liên quan đến việc triển khai các giàn khoan dầu, một vào cuối thập niên 1990 và một trong năm 2014. Việt Nam đã điều động tàu quân sự trong vụ đầu tiên nhưng cả hai bên nhanh chóng xoa dịu tình hình. Vụ đối đầu năm 2014 chứng tỏ sự kiềm chế của cả hai bên. Việt Nam công khai cho biết họ sẽ không triển khai tàu quân sự và Trung Quốc cũng giữ tàu hải quân ở đàng sau.
.

Hayton cho rằng, nếu Trung Quốc đặt một giàn khoan dầu hoặc cấu trúc bán quân sự trên Bãi cạn Tư Chính (Vanguard Bank), “Việt Nam có thể sẽ bị bắt buộc phải có hành động quyết liệt”. Trái ngược với Kurlantzick, Hayton kết luận rằng kịch bản giả định này “rất khó đưa tới hình thức đối đầu quân sự. Mục tiêu là ép buộc Trung Quốc phải rút lui mà không làm tan vỡ mối quan hệ”.

Đâm tàu và sử dụng súng nước nhanh chóng trở thành một kiểu đối đầu giúp giữ tình hình trong vòng kiểm soát cho cả hai bên trong năm 2014. Hơn nửa thập niên qua đã có một số báo cáo rằng tàu chấp pháp dân sự của Việt Nam có thể đã đâm tàu đánh cá của Trung Quốc (và ngược lại).

Báo chí Việt Nam gần đây đã tường thuật về một số sự kiện Trung Quốc sách nhiễu tàu dân sự Việt Nam mang đồ tiếp liệu cho nhân viên ở đảo Trường Sa và đảo Song Tử Tây. Biến cố nghiêm trọng nhất diễn ra vào ngày 13 tháng 11 khi một tàu chiến Trung Quốc mở bao che của súng 37 ly ra và chĩa vào tàu tiếp liệu Việt Nam cùng với mười nhân viên mặc đồng phục giương súng trường nhắm hướng tàu Việt Nam. Tàu tiếp liệu Việt Nam đã phải rút lui.
.

Một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố rằng “Việt Nam cực lực phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực chống lại tàu Việt Nam”. Kurlantzick lập luận rằng loại họp báo này “nên được xem như một dấu hiệu của sự gia tăng căng thẳng giữa hai nước”. Tuy nhiên, những sự kiện này tương đối riêng lẻ và phát biểu của các quan chức Việt Nam nên được xem như là một phản ứng nghi lễ thường lệ.

Kurlantzick khẳng định rằng “Việt Nam đã phản ứng mạnh mẽ” trước việc “bồi đắp đảo” của Trung Quốc bằng cách “bồi đắp đảo” của riêng mình là không chính xác. Theo Mira Rapp-Hooper, Giám đốc Sáng kiến Minh bạch Á Hàng hải, Việt Nam có lẽ đã bắt đầu việc bồi đắp đảo trước khi Trung Quốc bắt đầu các dự án của riêng họ vào năm ngoái. Việc “bồi đắp đảo” của Việt Nam thực sự rất khiêm tốn và không mang dấu hiệu là một phần của chu kỳ hành động và phản ứng.
.

Kịch bản thứ hai của Kurlantzick cũng có nghi vấn tương tự. Ông cho rằng, “biên giới đất liền Trung – Việt ngày càng trở nên căng thẳng khi các lực lượng an ninh của cả hai bên đã bắn qua lại ít nhất hai lần trong năm 2014 và 2015”. Ông nhanh chóng thừa nhận rằng “lý do của các sự kiện này vẫn chưa rõ ràng”. Đúng thế. Trong suốt vụ đối đầu tháng 5 về việc Trung Quốc triển khai giàn khoan dầu HD 981 trong vùng biển tranh chấp, hàng dài những khu khuân vác mang vải chín mùa sang các chợ ở bên Trung Quốc hình thành ở biên giới Trung – Việt. Biên giới Trung – Việt hiện đang yên ổn và chưa có dấu hiệu của loại căng thẳng gần đây mà Kurlantzick đề xuất.

Kịch bản thứ ba của Kurlantzick – tương tác ngoài ý muốn liên quan đến các cuộc thao diễn quân sự giữa Việt Nam và các đối tác chiến lược mới của họ – diễn tả sai tình hình thực tế. Việt Nam chưa từng và không có dấu hiệu tham gia vào các cuộc tập trận quân sự – được định nghĩa như cuộc trao đổi kỹ năng chiến đấu – với các đối tác chiến lược.

Việc sử dụng thuật ngữ “đối tác chiến lược” của Kurlantzick đã làm lệch ý nghĩa ra khỏi những gì Việt Nam và các đối tác chiến lược của họ hiểu về thuật ngữ này.
.

Kurlantzick cũng gom chung các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam vào trong bốn chỉ dấu cảnh báo về một cuộc xung đột có khả năng xảy ra. Ví dụ, ông nói rằng thông báo của Việt Nam về một quan hệ đối tác chiến lược với một quốc gia châu Á “nên được xem như một dấu hiệu tiềm năng của sự gia tăng căng thẳng giữa Bắc Kinh và Hà Nội”.

Quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam không phải là thỏa thuận quốc phòng hay quân sự. Các thỏa thuận này là những tài liệu bao hàm nhiều khía cạnh và toàn diện, bao gồm sự hợp tác chính trị, ngoại giao, kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, và giữa người dân hai nước. Tất cả đều có một đoạn văn ngắn về hợp tác quốc phòng và an ninh liên quan đến các chuyến thăm cấp cao, trao đổi thông tin, thăm viếng cảng biển, và những loại tương tự.

Cả Trung Quốc và Việt Nam đã ký kết những thỏa thuận đối tác chiến lược với cùng một số nước. Indonesia là một ví dụ điển hình.

Việt Nam tiến hành các hoạt động hải quân phi quân sự – ngược với thao diễn quân sự – với Hoa Kỳ, chẳng hạn như thực thi Luật tự nguyện về các Cuộc Tiếp cận bất ngờ trên Biển. Việt Nam cũng tiến hành các cuộc thực tập tìm kiếm và cứu hộ ở mức độ thấp với các quốc gia khác. Đồng thời, Việt Nam và Trung Quốc tiến hành tuần tra hải quân chung ở Vịnh Bắc Bộ mỗi 6 tháng. Các cuộc tuần tra này bao gồm các bài tập tìm kiếm và cứu hộ.
.

Chuyên khảo của Hayton cung cấp một bản tóm lược hữu dụng về quan hệ hợp tác quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hayton trích dẫn Đại tá Trần Đăng Thanh, một giảng viên tại Học viện Chính trị của Bộ Quốc phòng Việt Nam, khi lập luận rằng cách duy nhất để duy trì hòa bình và ổn định với Trung Quốc “là tránh đối đầu và giữ gìn tình cảm đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và Trung Quốc”.

Tóm lại, sự cân bằng về bằng chứng lịch sử cho thấy Trung Quốc và Việt Nam đã từng vô cùng cẩn thận để giảm thiểu nguy cơ đụng độ bất ngờ giữa các lực lượng quân sự. Trung Quốc và Việt Nam đã và sẽ tiếp tục quản lý các điểm nóng có khả năng xảy ra. Thật vậy, để tìm hiểu, nên tham khảo dữ liệu trong chuyên khảo của Bill Hayton, cung cấp chi tiết về 15 cuộc họp và sự trao đổi giữa các quan chức quân đội Trung Quốc và Việt Nam từ cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu năm 2014.
.

Hayton cũng đề cập đến các vấn đề về quan hệ đối tác chiến lược trong phân tích của ông về quan hệ Mỹ – Việt. Nhưng cũng ở đây, quá nhiều sự hiểu lầm đã len lỏi vào. Ví dụ, Hayton nói rằng “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” là “mức cao nhất trong ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam” và Việt Nam đã chỉ chuẩn thuận trạng thái đó cho Trung Quốc và Nga. Trong thực tế, quan hệ với Trung Quốc được chỉ định là “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” – mức cao nhất trong vốn ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam. Nga vẫn còn là đối tác chiến lược toàn diện.

Hayton cũng lưu ý rằng cả hai nước Úc và Hoa Kỳ đang ở hàng dưới cùng của hệ thống phân cấp các đối tác toàn diện. Trong thực tế, chính Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton là người đầu tiên đề xuất một đối tác chiến lược với Việt Nam. Điều này ám chỉ mối quan hệ quốc phòng và quân sự gần gũi hơn là Việt Nam muốn chấp nhận. Vào năm 2013 cả hai bên lui lại không thảo luận về quan hệ đối tác chiến lược và thay vào đó đồng ý trở thành đối tác toàn diện.
.

Trước đó, cựu Thủ tướng Kevin Rudd của Úc từ chối đề nghị của Việt Nam về quan hệ đối tác chiến lược với lý do đề nghị chủ yếu mang tính biểu tượng và quan hệ quốc phòng với Việt Nam thiếu sự thân mật của quan hệ quốc phòng của Úc với các “đối tác chiến lược” khác.

Hayton kết luận phân tích của ông với việc khảo sát muộn màng về các đối tác chiến lược khác của Việt Nam – Ấn Độ, Nhật Bản và Nga – và hàm ý rằng chính sách đa phương hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam là một sự phát triển gần đây.

Hồi tháng 6 năm 1991, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII của ĐCSVN phê chuẩn một chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế của Việt Nam với tất cả các nước và nói rằng “Việt Nam muốn trở thành bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới… bất kể chế độ chính trị-xã hội khác nhau”. Việt Nam đặt ưu tiên cho quan hệ với Liên Xô, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Cuba và (đáng chú ý là) “những người bạn mới ” – Đông Nam Á, Tây Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ.
.

Một thập niên sau đó, vào tháng 4 năm 2001, Đại hội đảng toàn quốc lần thứ 9 của Việt Nam khẳng định rằng: “Việt Nam muốn làm bạn và là đối tác đáng tin cậy với tất cả các nước” bằng cách đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ quốc tế. Trong một thập niên rưỡi qua Việt Nam đã theo đuổi mục tiêu này như là khung chính sách nền tảng cho chiến lược đối ngoại.

Kurlantzick kết thúc nghiên cứu với 7 đề nghị về làm thế nào Hoa Kỳ có thể giảm thiểu các mối đe dọa xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và Việt Nam. Hayton kết luận bằng cách gợi ý rằng Hoa Kỳ có thể thúc đẩy Việt Nam trở thành đối tác chiến lược năng động hơn bằng cách tôn trọng hệ thống chính trị độc đảng của Việt Nam hơn. Cả hai tác giả đều không nắm bắt được khung cảnh đa phương rộng lớn hơn trong chính sách đối ngoại của Việt Nam bao gồm (ngoài Trung Quốc và Hoa Kỳ) Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Âu Châu, và Hiệp hội các nước Đông Nam Á.
.

Tóm lại, Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi một chính sách cân bằng đa cực – quan hệ đa dạng hoá, đa phương hoá – chứ không phải là một chính sách thu hẹp hơn trong cân bằng quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ trong những năm sau đại hội đảng lần thứ 12.
.

https://anhbasam.wordpress.com/2015/12/ ... -hoi-dang/

__._,_.___

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

‘Dùng bạo lực là chính quyền giống côn đồ’
14 tháng 12 2015

Image
Ravina Shamdasani, người phát ngôn Văn phòng Cao ủy LHQ về Nhân quyền.

LHQ kêu gọi chính phủ VN điều tra các vụ hành hung giới hoạt động vì nhân quyền và HRW nói bạo lực kiểu này sẽ chỉ làm cho chính quyền “giống côn đồ”.

Thông cáo ra ngày 11/12 của Văn phòng Cao ủy LHQ (OHCHR) về Nhân quyền nói vụ tấn công các nhà hoạt động nhân quyền tại Việt Nam đang ở mức báo động và rằng LHQ quan ngại về việc nhà chức trách dường như làm ngơ và không truy tố những kẻ gây ra những vụ hành hung này.

“Chúng tôi thúc giục Chính phủ Việt Nam thực hiện các biện pháp khẩn cấp để đảm bảo an ninh cho tất cả nhà hoạt động nhân quyền và tiến hành điều tra bất thiên vị, điều tra ngay và triệt để tất cả các vụ việc được thông báo liên quan tới những người bảo vệ nhân quyền,” Ravina Shamdasani, người phát ngôn của OHCHR nói tại cuộc họp báo ở Geneva vào tuần trước.




Chúng tôi thúc giục Chính phủ Việt Nam thực hiện các biện pháp khẩn cấp để đảm bảo an ninh cho tất cả nhà hoạt động nhân quyền và tiến hành điều tra bất thiên vị, ngay và triệt để tất cả các vụ việc được thông báo Ravina Shamdasani, Văn phòng Cao ủy LHQ về Nhân quyền

Bà Shamdasani dẫn chiếu cụ thể tới vụ một nhóm 20 người đàn ông đã dùng gậy tấn công luật sư Nguyễn Văn Đài và những nhà hoạt động nhân quyền khác gần đây.

Được biết sự việc xảy ra sau khi luật sư Đài tới nói chuyện về hiến pháp và các quyền con người cơ bản trước một cử tọa chừng 70 người tại nhà của một cựu tù nhân chính trị ở xã Nam Lộc, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cuộc nói chuyện là một trong hàng loạt sự kiện các nhà hoạt động Việt Nam tổ chức để kỷ niệm Ngày Nhân quyền.

Vụ luật sư Đài bị hành hung cũng được Tổ chức Phóng viên Không Biên giới nêu lên vào Ngày Quốc tế Nhân quyền.

Hai vụ tấn công khác xảy ra mà nạn nhân là các luật sư và các nhà hoạt động nhân quyền để trã đũa lại những vụ việc nhạy cảm mà họ đang thực hiện, theo bà Shamdasanin.

Vào tuần trước, nhà chức trách tại Việt Nam khởi tố vụ án ' Cố ý gây thương tích' trong đó 7 người hành hung hai luật sư tại Chương Mỹ.

Giới quan sát chỉ trích việc không khởi tố tội danh "cướp tài sản" (một luật sư bị lấy cắp điện thoại sau khi bị tấn công) và gọi đây là động thái " giảm nhẹ tội" ngay từ khâu khởi tố.

Thông cáo báo chí của Liên Hiệp Quốc vào cuối tháng 11 cho biết Việt Nam đã bỏ phiếu trắng cho dự thảo nghị quyết của Liên Hiệp Quốc về những người bảo vệ nhân quyền.

Liên Hiệp Quốc dẫn lời người đại diện Việt Nam giải thích lý do đoàn Việt Nam bỏ phiếu trắng vì họ "đã tham vấn đầy đủ các cấp" và "vì lý do nghị quyết thiếu rõ ràng và cân bằng".

'Hứa suông'

Image copyrightOtherImage caption
Các tổ chức quốc tế trong đó có LHQ, Phóng viên Không biên giới, HRW nói luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài bị hàng chục côn đồ hành hung gần đây.

Trong khi đó tổ chức Human Rights Watch (HRW) ra thông cáo kêu gọi Việt Nam hãy thôi “hứa suông” trong cuộc đối thoại nhân quyền sắp diễn ra với EU.

Thông cáo từ Brussels đề ngày 14/12 nói Liên minh Châu Âu (EU) cần gây sức ép để đạt được những tiến bộ cụ thể và có thể đo lường được về nhân quyền trong cuộc đối thoại song phương sắp tới với Việt Nam.

“Những cải cách thiết yếu gồm có việc chấm dứt các phiên tòa và bản án mang động cơ chính trị, phóng thích tù nhân chính trị, bảo đảm quyền tự do lập hội và quyền của người lao động, và tự do tôn giáo.

“Kết quả của cuộc đối thoại tại Hà Nội vào ngày 15 tháng Mười hai cần được công bố công khai," ông Brad Adams, Giám đốc Ban Á châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền được dẫn lời.

Thông cáo của HRW nói rằng “EU cần sử dụng cơ hội này để tuyên bố rõ ràng với Việt Nam rằng quan hệ thương mại thân thiện sẽ đi đôi với đòi hỏi gia tăng về nhân quyền.

“EU cần kiên định yêu cầu Việt Nam chấp thuận các điểm mốc tiến bộ rõ ràng và có thể kiểm chứng được, nếu không Việt Nam sẽ chỉ đưa ra những lời hứa suông.

“Thực hiện các biện pháp để chấm dứt việc tấn công những người phê bình chính quyền, đồng thời ngăn chặn vấn nạn công an bạo hành.




Việt Nam cần hiểu rằng dùng đến bạo lực kiểu này sẽ chỉ làm cho chính quyền giống côn đồ trước con mắt của thế giới mà thôi Brad Adams, Giám đốc Ban Á châu của Human Rights Watch

Thông cáo mô tả điều mà HRW gọi là dường như có "sự thay đổi chiến thuật" từ bắt giữ sang đe dọa và hành hung, biểu hiện rõ qua các vụ tấn công nhằm vào các nhà hoạt động nhân quyền và các blogger ngày càng trầm trọng hơn trong năm 2015.

“Tháng nào cũng có tin các nhà vận động dân chủ bị nhân viên mặc thường phục hoặc công an tấn công. Không một ai liên quan trong các vụ tấn công này bị truy cứu trách nhiệm.”

“EU cần nói với chính quyền Việt Nam rằng mình sẽ không bị mắc lừa trước thủ thuật đánh tráo các cuộc bắt bớ vì lý do chính trị bằng các vụ đánh đập cũng vì lý do chính trị,” ông Adams nói.

“Việt Nam cần hiểu rằng dùng đến bạo lực kiểu này sẽ chỉ làm cho chính quyền giống côn đồ trước con mắt của thế giới mà thôi.”

Trang web phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam vào ngày 10/12/2015 (Ngày Nhân quyền Thế giới) ra thông cáo nói họ “sẽ tiếp tục ủng hộ, bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, nơi mà những quyền này đang bị đe dọa.”

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Đoàn Trọng Hiếu phỏng vấn ông Đỗ Văn Phúc về khủng bố Islam,
do Đài Phát Thanh Việt Nam phát đi lúc 4 giờ chiều thứ Năm 3 tháng 12, 2015

Image

Mối Đe Doạ Lớn Nhất của Nhân Loại là Khủng Bố ISIS

Ông Hiếu: Khi trả lời một Điều Hợp Viên trong cuộc tranh luận của các ứng cử viên đảng Dân Chủ về đám Hồi Giáo Cực Đoan (Radical Islamic), bà Hillary Clinton đã sử dụng chữ Muslim để cho rằng Hoa Kỳ không có chiến tranh với Muslims. Thưa ông Phúc, có sự khác biệt gì giữa Muslim và Islam?


Ông Phúc:

Islam là một tôn giáo mà chúng ta thường gọi là Hồi Giáo. Đạo Islam dựa trên những lời dạy của tiên tri Muhammad được viết trong cuốn kinh Qur’an. Muslim là những người theo Hồi Giáo. Vì vậy Muslim và Islam cũng như là một mà thôi.

Đạo Islam xuất phát từ bán đảo Ả Rập, là một trong ba tôn giáo đơn thần lớn nhất thế giới. Hiện có khoảng 1 phần tư dân số thế giới, tức hơn một tỷ tín đồ trên khắp các đại lục. Đa số tập trung ở vùng Trung Á, Nam Á và Bắc Phi. Tại Đông Nam Á Châu có hai nước Hồi giáo là Indonesia và Malaysia.

Đạo Islam phát triển rất nhanh. Số tín đồ tăng gấp 8 lần trong hơn 1 thế kỷ, trong khi tín đồ Thiên Chúa Giáo thì có dấu hiệu giảm sút. Từ 1900, số tín đồ Islam trên thế giới là 200 triệu, đến 1970 tăng lên 551 triệu và hiện nay là 1.57 tỷ. Trong số đó có từ 75% đến 90% thuộc phái Sunni, và từ 10 đến 20% thuộc phái Shia. Có từ khoảng 3 đến 7 triệu người Islams tại Hoa Kỳ.

Hồi Giáo cũng tin vào Cựu Ước như Thiên Chúa Giáo và Do Thái Giáo, họ gọi Thương Đế là Allah, cũng tin vào đời sau và sự cứu chuộc. Điều khác biệt là họ không tin có 3 ngôi Chúa Trời. Theo truyền thuyết, từ thế kỷ thứ 7, ông Muhammad được thiên sứ Gabriel truyền cho những thông điệp của Thượng Đế để ông trở thành môt nhà tiên tri như các tiên tri đã có trước như Moses và Jesus. Đạo Islam thừa nhận các tiên tri Moses và Jesus, nhưng coi Muhammad là nhà tiên tri cuối cùng. Năm 630, Muhammad rời thành phố Medina, nơi ông ta lẫn trốn sự ngược đãi, để đem một đạo quân mạnh chiếm Mecca làm thủ phủ của Hồi Giáo. Từ đó là cả một quảng đời chinh chiến đẫm máu để phát triển đạo Islam.

Ông Hiếu: Bà Clinton cũng nói rằng Muslim là ôn hoà và độ lượng, điều này theo ông đúng hay sai?


Ông Phúc:


Bà Hillary Clinton có ít nhất hai lần tuyên bố rằng “Chúng ta cần biết rõ rằng Đạo Islam không phải là đối thủ của chúng ta. Người Muslim hiếu hoà và độ lượng và trong bất cứ hoàn cảnh nào, không dính dấp gì đến khủng bố” (Let’s be clear, though. Islam is not our adversary. Muslims are peaceful and tolerant people and have nothing whatsoever to do with terrorism). Một lần tại Hội Đồng Bang Giao Đối Ngoại, lần khác tại cuộc tranh luận thứ 2 giữa các ứng cử viên Dân Chủ, bà ta đã lập lại câu trên để né tránh câu hỏi của một điều hợp viên tại sao bà không dùng chữ Radical Islamic. Cái khôn vặt của bà ta là không lập lại chữ Islamic, mà nói trại ra chữ Muslim để dễ được chấp nhận. Không ai nói tất cả người Muslim là hung ác, là kẻ thù của Tây Phương. Và khi dùng chữ Radical Islamic, là đã có sự phân biệt giữa cực đoan với ôn hoà (Moderate Islamic), chứ có đánh đồng họ với toàn thể Muslim đâu.

Thật ra, người Ả Rập ngày xưa là một sắc dân du mục hiền hoà, hiếu khách. Từ thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch, nhiều bộ lạc định cư ở Mecca, gần bờ biển Tây Saudi Arabia. Họ theo đa thần giáo cho đến khi có Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo, rồi đến đạo Islam.

Theo nhiều chương trong kinh Qur’an, Islam không chủ trương cưỡng ép tôn giáo, tuy nhiên họ coi chỉ có tôn giáo của mình là đúng thôi. Họ gọi những người ngoại giáo là “kafir” (cũng như Thiên Chúa giáo gọi người Hồi là Infidel Saracens). Ngay cả trong cùng đạo Islam, giáo phái này gọi giáo phái khác là infidel. (ví dụ phái đa số Sunni coi giáo phái khác như Shia là infidels); và trong cùng một giáo phái lại chia nhiều nhánh và coi nhau là infidels! Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Hồi Giáo chủ trương sống tách biệt, không chung đụng với người ngoại đạo. Vì vậy, khi đọc trong truyện Ngàn Lẻ Một Đêm, chúng ta thấy việc người Hồi Giáo từng sống hoà hoãn với dân Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo, nhưng tránh việc va chạm vào những người này vì họ coi là ô uế. Allah cho phép họ chỉ đánh đuổi hay giết bọn ngoại giáo khi bị tấn công, Muhmmad không cho giết trẻ em, không cho băm chặt người đã chết và không lạm dụng chiến lợi phẩm. [Quran 2:191]

Nhưng cuối cùng, cũng tìm ra nhiều kinh sách Islam chủ trương giết người ngoại đạo. Sách Sahih Muslim, đoạn 19:4294 có nêu ra cách cư xử với kẻ ngoại đạo, đa thần như sau: “Hãy cho họ chọn một trong ba điều, và hãy chấp nhận sự lựa chọn đó mà không làm hại cho họ. (1) Mời họ theo đạo Islam, và mời họ di dân vào vùng Muslim, cho họ mọi ưu quyền và nghĩa vụ của các di dân Muslim (Muhairs) (2) Nếu họ theo đạo mà không di dân, hãy cho họ quyền lợi của người Muslim du mục (Bedouin Muslim). Họ phải đặt dưới quyền điều động của Allah, nhưng không được chia phần chiến lợi phẩm trừ phi họ thực sự chiến đấu chống bọn ngoại đạo. (3) Nếu họ không chịu cải đạo, bắt họ phải đóng thuế và đừng đụng chạm đến họ. Nhưng nếu họ từ chối, thì hãy thỉnh ý kiến Allah và đánh chết hay bắt làm nô lệ”. (For renegades, Islamic law prescribes death, with the opportunity first of obeying the demand to return to Islam. The other group, the so-called kafirun asliyun, or unbelievers proper, have only to expect death or slavery.)

Ông Hiếu: Các nước Hồi Giáo muốn áp dụng luật Hồi Giáo trong đời sống hàng ngày. Ông có thể cho biết những luật lệ này khắt khe đến mức nào?

Ông Phúc:

Hiện nay, có cả tá quốc gia Hồi Giáo sử dụng luật Sharia trong khi vài nước Hồi Giáo khác thì dùng luật thế tục và chỉ áp dụng luật Sharia hạn chế trong các vụ dân sự như ly dị, thừa kế… Các cộng đồng Muslim sống trong các nước Tây Phương cũng dùng luật Sharia trong phạm vi kín đáo của họ. Tại Anh Quốc, người Muslim dùng Luật Gia Đình của Sharia Law để dàn xếp với nhau mà không thông qua Dân Luật của Anh.

Hiện nay, nhiều lãnh tụ Hồi Giáo đang muốn vãn hồi lại chế độ thần quyền Hồi Giáo (Caliphate) bằng phương tiện ôn hoà hay bạo động. Họ còn muốn đem luật Sharia vào cả các nước Tây Phương hay xa hơn, còn muốn đưa cả thế giới thành một Caliphate mà trong đó, vị Caliph vừa là thủ lĩnh chính trị, vừa là giáo chủ Islam.

Luật Shria dựa vào các điều trong kinh Qur’an và sách Hadith, là các tuyển tập ghi lại giáo huấn của Muhammad. Các giáo phái Sunni, Shia, Ibadi, Admadiyya có cách giải thích và thi hành khác nhau vì dựa trên các phiên bản khác nhau của Hadith.

Luật Sharia được coi là luật của Thượng Đế (Allah), nó liên quan đến các lãnh vực đời sống như chính trị, pháp luật, kinh tế cũng như các lãnh vực đời sống cá nhân như vệ sinh, giao hợp, ăn chay, kiêng khem, cầu nguyện…

Toàn bộ hay đa phần luật Sharia được áp dụng tại các nước Saudi Arabia, Sudan, Iran, Iraq, Afghanistan, Pakistan, Brunei, United Arab Emirates, Qatar, Yemen và Mauritania. Chúng ta từng nghe đến các hình phạt chặt đầu, đánh bằng roi, hay ném đá đến chết ở các nước này. ISIS thành lập đội Cảnh Sát Tôn Giáo (al-Hisba) nhằm: “Đề cao đạo lý, phẩm cách, triệt hạ tội lỗi, ngăn chặn sự bất phục tòng và thúc đẩy người Hồi Giáo trở thành con người tốt.”

Các khái niệm về tội phạm, tố tụng, hình phạt của luật Sharia rất khắt khe, khác xa với các luật lệ thế tục. Lại càng trái ngược nhau về cơ cấu chính phủ, về nhân quyền, Quyền tự do ngôn luận, quyền phụ nữ…

Xin đơn cử vài thí dụ:
•Trong khi các nước văn minh tiến dần đến xóa bỏ án tử hình, hay áp dụng hình phạt nào cho tử tội khỏi đau đớn, thì các nước Hồi dùng cực hình như chém đầu, ném đá, hay đánh bằng roi giữa nơi công cộng.
•Trong khi các nước dân chủ coi trong quyền bình đẳng của phụ nữ, thì người Islam coi phụ nữ là vật sở hữu của nam giới. Ra đường phải trùm kín mặt mày và thân thể, không được làm việc, lái xe, có nơi không cho đi học.
•Luật Sharia coi việc uống bia rượu, hút thuốc lá, trang điểm, khiêu vũ, xem phim ảnh hay ăn mặc kiểu Tây Phương là tội phạm. Tuy tội nhẹ, nhưng nếu tái phạm có thể bị tử hình. Tội trộm cắp bị chặt tay, đàn bà ngoại tình bị ném đá đến chết nơi công cộng. Chú ý, mức đánh giá và ấn định hình phạt tùy theo quốc gia, tùy các giải thích luật của nhà cầm quyền sở tại.
•Điều đáng nói là luật Sharia rất khắt khe với các tội về đạo đức như trộm cắp, lăng nhăng tình ái.
•Luật pháp Tây phương theo diễn trình công bằng cho bị can, trong khi luật Sharia xử nhanh, gọn và bị can không có quyền bào chữa.
•Tháng 10, 2014, ISIS ấn hành tài liệu cho phép lạm dụng phụ nữ ngoại đạo, nhất là phụ nữ bị quân Hồi bắt khi chiếm đóng, coi họ là nô lệ và kẻ chiến thắng có toàn quyền hành lạc, đem bán cho người khác. Kinh Qur’an chấp thuận cho người Muslim có quyền hành lạc với các phụ nữ bị bắt hoặc nô lệ mà không bị coi là ô uế. “Successful are the believers who guard their chastity, except from their wives or the captives and slaves that their right hands possess, for then they are free from blame” (Qur’an 23:5-6)

Ông Hiếu: Ai cũng biết rằng cuộc tranh chấp giữa Hồi Giáo và các nước Tây Phương không phải mới mẻ gì. Ông có thể cho thính giả biết sơ qua về lịch sử cuộc tranh chấp này không?

Ông Phúc:

Thời trung cổ xa xưa ấy, ngay cả Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã cũng độc tài và hiếu chiến. Thời đó, các Giáo Hoàng thường nắm cả giáo quyền lẫn thế quyền, có uy quyền trên các vua chúa ở Âu Châu. Năm 1095, khi Hoàng Đế Alexios của Byzantine bị nước Turkey Hồi Giáo đe doạ, Giáo Hoàng Urban Đệ Nhị đã huy động quân đội từ các nước Thiên Chúa Giáo Âu Châu khởi phát cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất dưới danh nghĩa bảo vệ cho người Công Giáo hành hương về miền đất thánh Jerusalem. Jerusalem là đất thánh, nơi khai sinh ra cả ba tôn giáo lớn: Do Thái, Thiên Chúa và Islam, vì thế, đạo nào cũng muốn chiếm cứ làm riêng cho mình. Thế là bắt đầu cuộc chiến kéo dài hàng trăm năm với những trận đánh ác liệt mà bên thắng thường là tiêu diệt hết quân lính và thường dân của đối phương. Quân đội Thâp Tự không những giết người Hồi Giáo mà còn cả người Do Thái Giáo. Có từ 1 đến 3 triệu người chết trong các cuộc Thập Tự Chinh. Các vua chúa Âu Châu đã không giữ lời hứa trao trả đất cho Byzantine, mà chiếm cứ làm lãnh địa của họ. Do đó, càng gây thêm chia rẽ, oán thù, nhất là sau khi Đế Quốc Byzantine bị Đế Quốc Ottoman của vua Hồi Suleiman chiếm đoạt. Ottoman là đế quốc trường tồn lâu nhất trong lịch sử nhân loại. Nó kéo dài từ năm 1299 đến 1922 (sau Thế Chiến thứ Nhất)

Qua đến thế kỷ 14, 15, vẫn còn những cuộc Thập Tự Chinh chống lại Đế Quốc Ottoman.

Một chuyện đáng kể. Trận đánh cuối cùng của cuộc cuộc Thập Tự Chinh lần thứ Hai năm 1122 -1124 là trận Hattin. Đại quân Hồi Giáo của Hoàng đế Saladin vây khổn liên quân Âu Châu tại thành Hattin. Ngay từ lúc đầu, Saladin đã muốn tránh đổ máu, nên cho nhiều điều kiện rộng lượng để quân Thập Tự rời thành, trở về cố quốc. Nhưng quân thủ thành không chịu, và đòi tàn sát hết 5000 người Muslims, cũng như hủy hoại các Đền Thánh của Hồi Giáo trong thành. Saladin đã chấp thuận cho phép Thập Tự Quân và gia đình một hạn kỳ 40 ngày để đóng tiền chuộc mạng. Sau khi chiếm thành, Saladin đã tha tiền chuộc cho những gia đình không có khả năng tài chánh. Saladin cũng cho phép những người Do Thái tiếp tục ở lại. Có lẽ đó là sự độ lượng hiếm hoi của các Hoàng Đế Hồi, so với những lần tàn sát hết tất cả sinh linh trong thành khi họ chiếm được. Ngày nay, chúng ta cũng nghe đến các cuộc tàn sát dã man hàng loạt dân vô tội ở Serbia, Iraq, Syria gây nên bởi các lực lượng Hồi Giáo.

Cuộc chiến giữa giáo phái Sunni, Shia và Thiên Chúa Giáo tại Lebanon từ 1975 đến 1990 làm chết hơn 250 ngàn người. Kế đó là tại Sudan, giữa Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo năm 1983 đến 2005 làm chết hai triệu người. Hiện nay, tại nhiều nước Phi Châu (Nigeria, Kenya, Tunisia, Somalia…) cũng có chiến tranh giữa Hồi và Thiên Chúa Giáo với các vụ tấn công, bắt cóc, bom tự sát, bom xe…

Người Islam cũng như người Cộng Sản, coi những ai khác lý tưởng là kẻ thù, là ô uế, là phản động phải bị tiêu diệt. Cũng như Cộng Sản chủ trương thế giới đại đồng, người Islam chủ trương thiết lập một trật tự mới là Caliphate trên toàn cầu, xoá bỏ văn minh Thiên Chúa Giáo và Tây Phương mà họ coi là vô đạo đức, trái ngược những giáo huấn trong kinh Qur’an. Vì thế, cả Cộng Sản lẫn Islam đều rất hung bạo và khát máu. Chúng giết người tàn nhẫn, không chừa phụ nữ và trẻ sơ sinh.

Trong cuốn truyện Chiếc Cầu Trên Dòng Sông Drina, tác giả Ivo Andric đã có nhiều đoạn miêu tả cảnh quân Hồi giết người Thiên Chúa dã man như đóng cọc dài từ hậu môn xuyên qua ruột, lên tới miệng rồi dựng đứng cọc để cho nạn nhân phải chịu một cái chết từ từ trong đau đớn cùng cực. Ngày nay, chúng ta cũng nghe nhiều đến các vụ quân ISIS thảm sát hàng trăm tù binh, dân thường khác đạo. Chúng cắt cổ, đóng đinh trên thập giá, hiếp các thiếu nữ xong thì mổ bụng, cắt đầu hay đóng cọc vào miệng. Khi bắt được phi công Jordan, chúng nhốt vào cũi sắt và đốt sống anh ta. Chúng tung các đoạn video lên Youtube để gây kinh hoàng cho mọi người.

Ông Hiếu: Thật ra thì trong các nhóm khủng bố ISIS, al Qaeda, Taliban… cũng phức tạp lắm phải không, thưa ông?

Ông Phúc:


Muốn hiểu thấu đáo tình hình phức tạp giữa các nước Hồi Giáo, và giữa các phe phái trong đạo Islam, quý vị phải có một bản đồ lớn của vùng Trung Đông, dùng bút màu để nối kết những mối tương quan và dữ kiện, theo trình tự thời gian như thứ bản đồ trong các phòng hành quân. Nếu không có bản đồ mà chỉ nghe nói thì rối rắm vô cùng.

Trước hết là xung đột giữa các môn phái và tranh dành ảnh hưởng giữa các nước Ả Rập.

Khi Muhammad chết, những môn đồ xung đột nhau chia làm 2 phái vì sự lựa chọn người kế vị (gọi là Kalifa, Caliph) để làm Giáo Chủ Islam. Phái Sunni cho rằng Allah không chỉ định ai thay thế, mà họ bầu chọn từ những môn đồ công chính. Trong khi đó, giáo phái Shia tin rằng Muhammad đã chọn con rể Ali ibn Abi Talib làm Imam đầu tiên, và chỉ có con cháu của Ali mới được nối nghiệp ông ta. Từ đó, nẩy sinh ra hai giáo phái chính đối nghịch nhau, và sau đó, lại chia nhánh và thêm nhiều phái nhỏ khác mà tín đồ không đáng kể. Người Islam hai phái này đánh giết nhau tàn bạo không kém so với khi họ đối xử với người ngoại đạo.

Hai nước Saudi Arabia và Iran là hai cường quốc, giàu có về dầu mỏ. Nước nào cũng muốn nắm vai trò lãnh đạo khối Hồi Giáo. Cả hai đều có đại đa số dân Hồi thuộc phái Shia nên bị ISIS (Sunni) coi là kẻ thù. Trong khi Saudi thì đồng minh với Mỹ, còn Iran thì thù địch với Mỹ kể từ khi Ruhollah Khomeni đảo chánh vua Pahlavi để lập nên nước Cộng Hoà Islam Iran năm 1979. Với quốc hiệu này, Iran đã tự xác định là một nhà nước Islam với Ali Khamenei hiện nay là giáo chủ tối cao vừa là lãnh tụ tối cao.

Trong khi đó thì có 93% dân Islam ở Jordan là Sunni, 74% ở Syria cũng là Sunni. Nhưng Jordan lại tham chiến trong Liên Minh với Hoa Kỳ để đánh ISIS, và đã tỏ ra rất tích cực, trong khi Syria thì vừa bị tấn công bởi các phe kháng chiến (cũng Sunni) sau Cách Mạng Mùa Xuân Ả Rập 2011, và khủng bố ISIS (cũng Sunni). Mỹ thì chủ trương triệt hạ Tổng Thống Syria là Bashar al-Assad vì ông này dùng vũ khí hoá học để giết dân lành Syria, vi phạm các công ước Quốc Tế. Kể từ khi Tổng Thống Obama rút hết quân đội ra khỏi Iraq, quân ISIS đánh như chẻ tre, quân Iraq chạy tháo thân, bỏ lại toàn bộ vũ khí tối tân do Mỹ trang bị. Lợi dụng tình thế, Iran đưa quân giúp đánh ISIS, kéo cả Nga nhảy vào ăn có ở Syria mà mục đích là yểm trợ cho Tổng Thống Assad. Turkey, tuy là thành viên khối NATO, là một nước Hồi Giáo không Ả Rập, sát cạnh nước Syria, thì tuy ngoài mặt chống ISIS, nhưng không chịu làm gì khi quân ISIS tấn công sát biên giới Syria-Turkey. Nga tuy đưa quân đội và lập các căn cứ Không Quân ở Syria, nói là giúp đánh ISIS, nhưng trong giai đoạn đầu đã nhắm vào kháng chiến quân do Hoa Kỳ yểm trợ thay vì đánh ISIS. Chỉ sau khi bọn khủng bố gài bom làm rơi phi cơ chở khách của Nga tại bán đảo Sinai, Nga mới lồng lộn lên và dội bom các cơ sở ISIS.

Ai Cập (90% là Sunni) và Libya (đa số là Sunni) thì sau khi Mubarak và Qaddafi bị lât đổ, để lại khoảng trống chính trị, các nhóm Hồi Giáo cực đoan cũng nổi lên. Các nhóm khủng bố ở Libya quy thuận ISIS và chiếm cứ một vùng ở Derna và Sirte. Khi loạn quân Houthi thuộc phái Shia được Iran hỗ trợ, đánh chiếm thủ đô Sana của Yemen (65% Sunni, 35% Shia), Ai Cập và các nước Hồi Giáo khác như United Arab Emirate, Kuwait, Qatar, Bahrain, Jordan, Morocco, Sudan và Pakistan cùng liên minh với Saudi Arabia để đánh loạn quân Houthi.

Sunni, Shia… đánh nhau loạn xạ.Vì là cuộc chiến giữa các phe phái, các nước Turkey, Saudi Arabia cũng tài trợ cho các nhóm khủng bố của phe mình. Quý vị đọc đến đây đã thấy nhức đầu chưa?

Ông Hiếu: Xin ông nói sơ qua về các nhóm Hồi Giáo khủng bố cực đoan và sự hình thành của ISIS.

Ông Phúc:

Hoa Kỳ từng giúp phiến quân Hồi Giáo của Afghanistan để đánh quân chiếm đóng Liên Sô

1.- Tháng 4, 1978 Đảng Dân Chủ Nhân Dân Afghanistan (Cộng Sản) cướp chính quyền. Nhóm chống Cộng Mujahideen nổi lên với sự giúp đỡ của Pakistan. Nội bộ đảng DCND cũng chia phe phái. Nội chiến bùng nổ. Liên Sô đem quân vào giúp Afghanistan. Hoa Kỳ và Saudi Arabia cũng gửi vũ khí giúp Mujahideen và nhóm chiến binh Afghan Arab. Năm 1989, Liên Sô rút quân. Najibulla từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản và tuyên bố thành lập Islamic State of Afghanistan. Chiến tranh giữa các phe phái lại tiếp diễn. Năm 1994, tổ chức cực đoan Taliban ra đời chiếm đóng phần phía Nam của Afghanistan. Từ 1996 Osama Bin Laden lập Al Qaeda chủ mưu trong biến cố 9 tháng 11, 2001 tại World Trade Center, New York. Quân đội Mỹ mở chiến dịch Enduring Freedom lật đổ bọn Taliban và truy nã Bin Laden. Tháng 5, 2011, Bin Laden bị toán Biệt Hải Seal Team 6 giết tại Pakistan.

2.- Tháng 8, 1990, Iraq xâm lăng Kuwait và sáp nhận nước này vào Iraq. Hoa Kỳ can thiệp. Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. Tháng 3, 2003, Hoa Kỳ đại tấn công Iraq, lật đổ Saddam Hussein, giải thể đảng Baath và quân đội Iraq gồm người đạo Hồi Sunni. Chính phủ mới do đa số người giáo phái Shia đã không có những nỗ lực đoàn kết, đưa đẩy những người lính và cảnh sát Sunni thành lập nhóm Jihadist. Năm 2004, Abu Musab al-Zarqawi lập ra nhóm al Qaeda nhắm khủng bố dân Shia bằng bom tự sát, xe bom… Trong năm 2004, có 26496 vụ tấn công khủng bố. Năm 2005, quân Mỹ bắt được một thành viên al-Qaeda là Abu Bakl Baghadi giam giữ tại trại tù Bucca. Trại tù lớn này luôn có khoảng 25 ngàn tù đủ loại từ hình sự cho đến thành viên các tổ chức khủng bố, trong đó có 9 thành viên cao cấp al-Qaeda. Người ta coi nhà tù Bucca như là nơi lý tưởng để tuyển mộ, huấn luyện cho khủng bố. Uy tín của Baghadi lớn dần trong trại tù. Qua năm 2010, Iraq thả Baghadi, tên này trở thành thủ lãnh của al-Qaeda ở Iraq và cầm đầu Islamic State of Iraq (ISI) khi Abu Ayyub al-Marsi bị liên quân Mỹ-Iraq giết chết vào ngày 18-4-2010.

Cấp trên của Baghadi là của al-Zawahiri (al-Qaeda, kế nghiệp Bin Laden). Năm 2011, Hoa Kỳ rút quân giao trọng trách chiến đấu cho quân đội Iraq. 3.- Tháng 2, 2011, Cách Mạng Mùa Xuân bùng nổ tại Tunisia, Egypt, Libya, nhưng bị chặn đứng tại Syria, do Tổng Thống Assad áp dụng nhiều biện pháp thô bạo, trong đó có việc dùng vũ khí hoá học. Có nhiều nhóm kháng chiến Syria trong đó có nhóm được Hoa Kỳ hỗ trợ, các nhóm khác theo al-Qaeda.

4.- Vào tháng 4, 2013, al-Baghadi tuyên bố thành lập Islamic State of Iraq ang Levant (ISIL hayISIS). Al-Baghdadi tuyên bố rằng các nhóm Jihadists ở Syria cũng thuộc vào ISIL, nhưng thủ lãnh nhóm al-Nusra là Abu Mohammad al-Julani không đồng ý, và khiếu nại lên Ayman al-Zawahiri. Al-Zawahiri muốn ISIS giải tán, và Baghadi chỉ nên hoạt động trong lãnh thổ Iraq thôi. Baghadi bất tuân lệnh, và thu nạp đến 80% thành viên của nhóm Nusra vào ISIL. Sau đó, đã đánh bật nhóm Nusra khỏi thành phố Ar-Raqqah của Syria. Từ đó, hai nhóm Nusra và ISIS trở thành đối địch. Qua tháng 2, 2014, al-Qaeda cũng chấm dứt hợp tác với ISIS.

5.- Qua năm 2014, các nhóm khủng bố khác ở Iraq cũng gia nhập vào ISIL. Từ đó, những vụ diệt chủng làm chết hàng vạn người, xô đẩy hàng trăm ngàn người khác phải bỏ nhà cửa lánh nạn. Bọn Boko Haram ở Nigeria cũng gia nhập ISIS.

6.- Ngoài ISIS đang bành trướng, nhóm al-Qaeda cũng chưa chịu lép vế. Sau vụ tấn công tờ báo trào phúng Charlie Abdo ở Paris, mới đây, bọn khủng bố al-Qaeda lại tấn công vào một khách sạn sang trọng ở thủ đô nước Mali, giết 22 du khách Tây Phương. Al-Qaeda có ảnh hưởng ở vùng Trung Á, Iraq, Pakistan, Syria, Somalia, Yemen và có khoảng 10 tổ chức khủng bố là đồng minh.

Chữ Levant hay Syria trong tên ISIL hay ISIS là lãnh thổ kéo dài từ Turkey qua Syria cho đến Egypt. Nó bao trùm luôn cả lãnh thổ Palestin, Jordan và Lebanon. Từ đó, chúng ta thấy tham vọng của bọn ISIS là muốn hình thành một nhà nước Islam theo chế độ Caliphate trên một vùng rộng lnớ bao trùm nhiều quốc gia Hồi Giáo hiện nay.

Ông Hiếu: Chúng tôi có nghe Bộ Trưởng Kerry nói rằng sở dĩ có loạn quân khủng bố Hồi là do sự nghèo khó, thất học và thất nghiệp. Nên ông ta chủ trương tạo mọi cơ hội để giải quyết các tình trạng trên tại các nước Ả Rập để chống lại khủng bố. Ông nhận xét thế nào?

Ông Phúc:

John Kerry đã tuyên bố vào tháng giêng 2014, và còn lập lại lần nữa tại Diễn Đàn Phát Triển Toàn Cầu (Global Development Forum) vào tháng 9 cùng năm: “’Nguyên nhân của khủng bố là do sự nghèo khó. Để cho giới trẻ không theo ISIS, chúng ta cần giúp đỡ cho họ các cơ hội kinh tế”. “Jihadists không có kế hoạch tạo công ăn việc làm hay tạo các cơ hội … mà người ta muốn có…Nhưng chúng nhắm vào những người bị dằn vặt tự cho mình bị bỏ rơi.”

Thực tế: Thủ lĩnh của al-Qaeda là Osama Bin Laden từng là tỷ phú ở Saudi. Có rất nhiều tài năng từ giai cấp trung lưu (đa số gốc Arab, Islam) từ các quốc gia Tây Phương đã từ bỏ cuộc sống sung túc để theo ISIS. Ví dụ: Ahmad Abousamra, dân Mỹ gốc Syria, gia đình giàu có cư ngụ trong khu vực trưởng giả ở Stoughton, Massachussetts. Là con một Bác Sĩ, học giỏi được nhiều khen thuởng, y có thừa cơ hội thăng tiến trong xã hội Mỹ. Ahmad đã rời Mỹ để đến Syria gia nhập khnủg bố năm 2006, y cùng Tarek Mhanna, một dược sĩ ở Boston, phụ trách truyền thông cho al Qaeda. Samir Khan, công dân Mỹ gốc Pakistan ở Charlotte, North Carolina, một trí thức trung lưu trẻ, đã theo al Qaeda năm 2009 và đảm nhiệm vai trò chủ biên tạp chí Inspire của bọn khủng bố…

Binh thư Tôn Tử có câu: Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng. Nếu không nhận rõ kẻ thù là ai, nền tảng của họ là gì? Họ suy nghĩ và hành động ra sao… thì có đánh cả chục năm cũng không thắng được.

Trong chiến dịch tranh cử năm 2012, ngay sau khi ISIS chiếm được thành phố Falluja của Iraq, Obama khi trả lời một phóng viên về bọn khủng bố đã tuyên bố ví bọn ISIS như là một đội banh hạng nhì mà dù có trang bị tối tân, cũng không làm cho chúng trở mạnh hơn. (Yes, but, David, I think the analogy we use around here sometimes, and I think is accurate, is if a JV team puts on Lakers uniforms, that doesn’t make them Kobe Bryant. )

Từ những năm nay, bọn ISIS từ con số không đã trở nên một thế lực khủng khiếp với vài chục ngàn chiến binh trong đó có nhiều người từ các nước Tây Phương tham gia. Chúng đánh chiếm hết nhiều thành phố của Iraq và Syria, bao trùm cả một vùng rộng lớn gần bằng một nửa lãnh thổ Iraq với khoảng 10 triệu dân, có hoạt động quân sự bao trùm trên nhiều nước Trung Đông và Phi Châu cũng như khủng bố trên toàn cầu. Thế mà Tổng Thống Obama vẫn cứ tuyên bố rằng ISIS đã bị ngăn chặn (contained) và coi nhẹ so với nạn “hâm nóng Địa Cầu” (Global Warming). Ông ta không hề có một chiến lược quân sự để đối đầu, mà chỉ chắp vá bằng những biện pháp cấp thời và chẳng đi đến đâu. Và sau cùng, để cho Nga và Iran nắm lấy vai trò chủ chốt trong cuộc chiến chống ISIS. Các nước NATO đã từ lâu bất mãn và mất lòng tin vào Hoa Kỳ. Ngay sau khi khủng bố tấn công vào toà soạn báo Charlie Hebdo ở Paris giết hết 20 người, rúng động thế giới, các nguyên thủ các nước đều đến Paris để tham dự tuần hành, chia sẻ nỗi đau của dân Pháp, thì trong đoàn lãnh tụ đó, thiếu vắng khuôn mặt của Obama. Đến gần đây, cuộc tấn công vào rạp hát và vài nơi khác ở Paris, gây tử vong cho 130 nạn nhân, Tổng Thống Hollande của Pháp bay đến Mỹ để cầu cứu, Obama chỉ có những lời tuyên bố suông mà không thấy đưa ra biện pháp cụ thể nào.

Mới đây, ứng cử viên Dân Chủ là Bernie Sander cho rằng mối nguy hiểm nhất mà nước Mỹ đang đối phó là nạn Global Warming (địa cầu đang nóng dần). Điều này cũng trùng hợp với luận cứ của cựu phó Tổng Thống Al Gore và TT Obama hiện nay. Như thế, theo họ, giải quyết nạn địa cầu bị nóng lên, thì sẽ giải quyết được khủng bố Islam?

Cũng vì sự thiếu kiên quyết, đánh giá sai về khủng bố của Tổng Thống Obama, đã có 3 vị Bộ trưởng Quốc Phòng (Robert Gates, Leon Panetta, Chuck Hagel) và nhiều vị Tướng ở Tham Mưu Liên Quân từ chức vì thấy Obama bướng bỉnh, không nghe theo các cố vấn.

Ông Hiếu: Vậy theo ông, ISIS là mối nguy số một, còn những người Islam khác thì sao?

Ông Phúc:

Khủng bố Islam (ba tổ chức lớn nhất ISIS, al-Qaeda, Taliban…) không chỉ nguy hiểm và đáng sợ vì những hành vi dã man ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Chúng phát triển là nhờ một ý thức hệ, niềm tin mù quáng về một tôn giáo mang đầy tính bạo động. Bọn thủ lĩnh luôn cấy lòng căm thù đối với ngoại đạo mà chúng cho rằng đang muốn hủy diệt Islam. Những tên jihadists mơ ước được tử vì đạo và sẵn sàng mang bom vào người để chết. Chúng huấn luyện và sử dụng cả bọn trẻ em nhiều khi mới 4, 5 tuổi để trở thành những con thú hung hãn, gan dạ, và liều lĩnh. Về điểm này Islam nguy hiểm hơn Cộng Sản vì Cộng Sản không mang tính cách tôn giáo nên mức ócuồng tín của người theo CS cũng còn giới hạn. Ngày nay, bọn khủng bố có những chuyên viên đến từ các nước Tây Phương, sử dụng tất cả những phương tiện tân tiến nhất để tuyên truyền và tuyển mộ cũng như qua mặt các nước trong việc xâm nhập người và vũ khí. Mối nguy nằm ngay cả trong lòng xã hội Âu Mỹ với số lượng người Islam di dân ngày càng tăng, và bọn Imams luôn khích động trong các nhà thờ Hồi Giáo.

Nói theo cách nói của người Mỹ, ISIS và các nhóm khủng bố Islam là mối nguy rõ ràng trong hiện tại, Clear and Present Danger. Nhưng qua các phần phân tích về lịch sử tranh chấp văn hoá Hồi và văn minh Tây Phương, cũng như tranh chấp ảnh hưởng của các cường quốc và ngay trong lòng các quốc gia Hồi Giáo, chúng ta thấy mối nguy này còn lâu dài vì người Islam hôm nay tuy đứng về phe chống ISIS như Iran, vẫn coi Hoa Kỳ và Tây Phương là thù; người Islam ngày nay là ôn hoà, ngày mai có thể trở thành cực đoan vì ngay trong nội bộ của họ, phe Sunni vẫn là đa số, và luật Sharia, kinh Qur’an vẫn là kim chỉ nam. Họ không hiếu hoà và độ lượng như bà Clinton đánh giá đâu. Khi vượt biển Địa Trung Hải để tị nạn ở Italia, bọn Ả Rập Hồi đã giết chết những người Ả Rập Thiên Chúa Giáo quăng xuống biển. Ở Đức, khi các nhóm Hồi tị nạn đánh nhau tranh giành đồ cứu trợ, những nhân viên Đức đã phải thốt lên: “Đến bọn người cùng giống mà cũng không hoà hợp được với nhau, thì làm sao họ hoà hợp được với dân Đức mà nền văn hoá khác biệt rất xa?”

Do đó, Tây Phương phải vừa có chính sách khôn khéo để giữ cân bằng quyền lực trong đối ngoại, vừa phải có biện pháp trong đối nội để ngăn ngừa sự phát triển khủng bố ngay trong lòng đất nước mình. Tôi xin hẹn kỳ sau sẽ nói về vấn đề Khủng Bố Trong Nước (Domestic Terrorism vs. Home Grown Terrorism).

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Luận về chiến lược

Hùng Tâm
Làm sao chống khủng bố Hồi Giáo?

Sau chiến tranh, kẻ chiến thắng có quyền nói phét.

Người ta có thể nghĩ đến quy luật ấy khi nhớ về cuộc chiến Việt Nam sau 1975. Chẳng hạn như qua lời khuyên của Mao Trạch Ðông cho Hồ Chí Minh, rằng nên làm Mỹ đổ quân vào Việt Nam. Quả nhiên là Tháng Ba năm 1965, Tổng Thống Lyndon Johnson đổ quân vào Việt Nam sau khi vị tiền nhiệm là John F. Kennedy cho lật đổ chính quyền Ðệ Nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Rồi từ đấy cứ tùy theo tình hình mà leo thang và đưa thêm quân vào trận địa. Cho tới khi dân Mỹ mệt mỏi thì Johnson “hòa đàm,” Tổng Thống Richard Nixon “Việt hóa chiến tranh” và Hoa Kỳ “rút lui trong danh dự”...

Ðại bại không chỉ có nước Mỹ mà cả hai miền Nam Bắc của Việt Nam.

Nửa thế kỷ sau, là ngày nay, người ta gặp chuyện tương tự, cũng với một tổng thống Dân Chủ, khi tổ chức khủng bố xưng danh Nhà Nước Hồi Giáo ISIS đang tìm mọi cách dẫn dụ Hoa Kỳ đổ quân vào vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia), là thung lũng của hai con sông Tigris và Eurphrate chảy ngang Syria và Iraq. Tổng Thống Barack Obama trình bày rằng mình hiểu ra mục tiêu ấy của đối thủ nên tuyên bố từ tòa Bạch Ốc, rằng “ta không nên lại để bị lôi vào một trận địa chiến lâu dài và tốn kém tại Iraq và Syria.” Những người ủng hộ ông, vẫn còn một số, thì cho rằng đấy là một chiến lược khôn ngoan sau kinh nghiệm tại Afghanistan và Iraq của vị tiền nhiệm George W. Bush.

Nhưng có chắc không? Hồ Sơ Người Việt sẽ tìm hiểu chuyện này từ một giác độ khác.

Ðổ quân là bất lợi

Suy từ kinh nghiệm Afghanistan 2001 và Iraq 2003, nhiều người đều có thể đồng ý rằng việc đưa quân vào trận địa ở phương xa là bất lợi. Với dân Hồi Giáo, điều ấy gợi lại chuyện họ đã từng nghe - mà nhiều người Mỹ không biết - là quân Thập Tự Chinh đi vào giết hại dân lành theo đạo Hồi. Chuyện thật thì không hẳn như vậy, nhưng vẫn là truyền thuyết phổ biến, nhất là khi chính Tổng Thống Bush cũng dùng chữ “Thập Tự Chinh” Crusade. Chung quanh ông thiếu người có văn hóa và ý niệm lịch sử nên mới để như vậy.

Khi Mỹ đổ quân vào Afghanistan rồi Iraq, lại còn kéo theo các đồng minh vì viện dẫn điều 5 của Hiến Chương NATO, thì chuyện gì xảy ra?

Tại các nước “bị tấn công” lẫn các nước “xâm lược,” quần chúng Hồi Giáo căm phẫn có thể ủng hộ và gia nhập hàng ngũ quá khích, một số sẽ học tập nghề khủng bố, trở thành đặc công tự sát. Từ lý luận ấy, người ta mới tin rằng chiến dịch Iraq gây phản ứng nổi dậy và dẫn tới sự hình thành của tổ chức ISIS - không hoàn toàn đúng - sau khi Hoa Kỳ tháo chạy dưới thời Obama - không hoàn toàn sai.

Sau cùng, khi đổ quân vào trận địa thì Hoa Kỳ chứng minh một “sự thật lịch sử” là trận thư hùng cuối cùng giữa Thiện và Ác, giữa ISIS và quỷ dữ Satan như nhiều người theo đạo Hồi có thể đã được tuyên truyền mà nhiều người Mỹ xa rời tôn giáo thì lại quên. Nếu Mỹ không nhập trận mà chỉ có “hùng binh” ISIS tàn sát người dân để trấn lột và thị uy thì “Thánh Chiến” trở thành vô nghĩa.

Vì vậy, kẻ thù muốn ta đổ quân vào trận địa. Nhưng có phải là mình sẽ mắc mưu nếu làm đúng như vậy không? Chưa chắc, và đây mới là chuyện chiến lược.

Chiến lược không là kế hoạch định sẵn, cứ tuần tự như thế mà thực hiện. Bộ máy hành chánh hay quân sự có thể có nhiều kế hoạch phải thi hành, nhưng chiến lược của người trù hoạch ở trên là chuyện khác. Chiến lược là sự biến hóa liên lục để đạt mục tiêu sau cùng, và biến hóa tùy theo thực tế và cách phản ứng của đối thủ. Mà đối thủ cũng có thể tính sai! Biết ta biết địch là chuyện ngàn đời.

Cơ sở của chiến lược

Chúng ta hãy đi lại từ đầu.

Nhiều quốc gia trù tính chiến lược có ảnh hưởng quốc tế mà lại căn cứ trên nhu cầu quốc nội. Nhiều khi Hoa Kỳ đã tiến và thoái căn cứ trên lịch bầu cử. Kẻ thù của nước Mỹ đều biết vậy, nhiều người Mỹ thì không. Người Mỹ cũng ít để ý tới sự kiện là các quyết định chiến hòa hay tiến thoái của Hoa Kỳ có ảnh hưởng tới các nước đồng minh. Việc trù hoạch chiến lược của Hoa Kỳ vì thế tùy thuộc vào yếu tố quốc nội (lòng dân hay bầu cử) và quốc tế (ngoại giao hay liên minh) và có một đặc tính của một nước văn minh, là sợ khổ.

Cách thẩm định rủi ro của Mỹ khác hẳn lối tính toán của ISIS - hay Cộng Sản. Thí dụ như lời phát biểu của ông Obama: “Ta không nên lại để bị lôi vào một trận địa chiến lâu dài và tốn kém.” Lâu dài và tốn kém căn cứ trên cái gì? Nếu không muốn vậy thì có phương thức nào khác chăng? Trong một cuộc tranh cử như hiện nay, chẳng ai nêu ra loại câu hỏi rốt ráo ấy. Và ít ai tự hỏi rằng nếu kẻ thù muốn ta đổ quân mà mình làm đúng như vậy thì có sai lầm không?

Từ loại vấn đề trừu tượng ấy, xin đi vào chuyện thực tế.

Kẻ thù của Hoa Kỳ (hiện nay) là ISIS có cách thẩm định rủi ro khác người Mỹ. Họ liều lĩnh và hy sinh tính mạng của nhiều người để tìm một thắng lợi thật ra rất nhỏ, và đắt đỏ. Không hiểu ra điều ấy mà để tránh rơi vào cái bẫy của kẻ thù thì có khi nước Mỹ rơi vào cái bẫy của chính mình. Hãy nhìn vào cục diện Syria và Iraq mà xem.

Tổng Thống Obama tuyên bố từ 2011, 2012 và sau này, rằng lãnh tụ Bashar al-Asasad phải đi. Ưu tiên của ông là “thay đổi chế độ tại Syria.” Trong bài diễn văn từ phòng Bầu Dục, ông có điều chỉnh: ưu tiên al-Assad thấp hơn ưu tiên ISIS. Chi tiết thứ hai là “kẻ thù ISIS có đổi chiến thuật” nhưng không vì vậy mà mình cũng đổi. Thật ra tổng thống Mỹ đã có thay đổi.

Và cơ sở của chiến lược chống ISIS phải được thẩm định lại từ đó.

Chính quyền Obama cho là tổ chức ISIS và đồng đảng không còn khả năng tấn công Hoa Kỳ trên một quy mô lớn như vụ 9-11 của al-Qaeda, nên phải ra tay kiểu khác, tấn công vào các mục tiêu mềm và khó bảo vệ như tại Paris hay San Bernardino. Có thể lắm. Nhưng biết đâu chừng ISIS lại nghĩ khác? Tấn công đồng loạt như al-Qaeda trong vụ 9-11 là dẫn tới phản ứng dữ dội tại Afghanistan hay Iraq. Biết đâu chừng, ISIS muốn tránh phản ứng dữ dội đó của nước Mỹ?

Mục tiêu của họ không phải là dẫn dụ Mỹ vào trận địa mà chỉ khai thác loại khủng bố tự phát ở tầm cỡ nhỏ để thuyết phục quần chúng của họ, là dân Hồi Giáo Sunni và gây hãi sợ cho người dân Tây phương trước làn sóng tỵ nạn Hồi Giáo.

Có thêm thời gian và thông tin về vụ San Bernardino, ta có thể nêu thêm câu hỏi khác. Cặp vợ chồng hung thủ đã chuẩn bị một kho võ khí có sức tàn phá rất cao mà chưa sử dụng đến. Mục tiêu thật là gì? Vì sao họ “hấp tấp” như vậy rồi tìm cách xóa hết vết tích điện toán ở trong nhà? Ai quyết định về việc hy sinh luôn hai “cảm tình viên” này?
Lối suy nghĩ như vậy có thể là cơ sở của chiến lược thích hợp.

Kẻ thù là ai?

Xin nhắc lại, khi giải thích với dân chúng, Tổng Thống Obama nói ra hai chuyện: 1) kẻ thù đã đổi, 2) nhưng không vì vậy mà mình cũng đổi và mắc mưu khi đổ quân vào trận địa. Phần trên có giải thích rằng ISIS có thể đã đổi chiến thuật, nhưng tại sao thì chưa ai dám khẳng định. Còn chuyện Hoa Kỳ có nên thay đổi chiến lược không thì vấn đề không chỉ là đổ quân mà là nhìn lại cuộc chiến và xác định kẻ thù.

Khác với lực lượng al-Qaeda quy tụ một số trí thức có cái nhìn cực đoan về Hồi Giáo và Tây phương, tổ chức ISIS ngày này cũng khai thác lý luận tôn giáo nhưng có một tầng lớp nhân sự xuất thân từ đảng Baath của Saddam Hussein tại Iraq. Cán bộ cao cấp của họ là nhiều sĩ quan có kinh nghiệm tác chiến đã từng bị Hoa Kỳ đánh bại năm 1991 và 2003. Họ khai thác chủ nghĩa Hồi Giáo quá khích như một ý thức hệ huy động giới trẻ tham gia hoạt động khủng bố vì nhiều mục tiêu khác biệt tùy theo tâm lý của từng thành phần. Vì vậy, đặc tính của tổ chức này gồm có nhiều yếu tố khó gom thành một khẩu hiệu.

Yếu tố thứ nhất là tôn giáo, nhưng là một hệ phái cực đoan quá khích của Hồi Giáo. Không nên làm phép quy nạp mà kết án đạo Hồi, nhưng cũng chẳng nên như Tổng Thống Obama là cố tránh nói đến chữ Hồi Giáo. “Chủ nghĩa Hồi Giáo quá khích” hay “Islamist” có thể là một từ chính xác. Yếu tố thứ hai là phương pháp khủng bố. ISIS còn non yếu nên dùng phương pháp này, chẳng khác gì phương pháp của trí thức Nga vào cuối Thế kỷ 19 và của Cộng Sản trong Thế kỷ 20 mà nhiều tổ chức khác cũng áp dụng. Dùng chữ “Khủng bố Hồi Giáo” là đúng, mà chưa đủ. Ðúng vì sức tuyên truyền của chữ “khủng bố” làm nhiều người ghê tởm, nhưng chưa đủ vì họ sẽ còn biến thái nếu thành công.

Mục tiêu sau cùng và rốt ráo của ISIS là thành lập một Ðế quốc Hồi Giáo trước sự phân hóa của các nước Hồi Giáo trong khu vực xưa kia là lãnh thổ của Ðế quốc Ottoman. Họ dùng tư tưởng Hồi Giáo quá khích để chiêu mộ và kết nạp các phần tử quá khích hay những kẻ bất đắc chí và nhiều khi bất tài vì chẳng làm được gì khác, nhưng không chỉ để giết người cho bõ ghét mà để có nhân lực, lãnh thổ và kinh tế cho một quốc gia chỉ có trong ước mơ của họ.

Và họ sợ nhất là khi nước Mỹ nổi điên đổ quân đánh nhầu! Khi tránh rơi vào cái bẫy tưởng tượng của ISIS, có khi Tổng Thống Obama lại tính sai. Và phản ứng giận dữ của đối lập Cộng Hòa chưa chắc đã là sáng suốt!

Kết luận ở đây là gì?

Thế kỷ 21 mới chỉ có 15 tuổi, kinh nghiệm của loài người về nạn khủng bố thật ra dày hơn thế. Trong thế kỷ 20, loài người đã gặp tai họa cộng sản và phát xít, tai họa khủng bố Hồi Giáo có thể cũng kéo dài, tương tự, và cũng biến thái. Chiến lược đối phó vì vậy cũng phải biến hóa chứ không tụ vào hành động của vài người điên.

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »



Nhựt, Việt, Phi: Siết Liên Minh


Vi Anh

Tin mới nhứt về Biển Đông cho biết mặc dù Hải quân Hoa Kỳ đã cho biết tuần tra vào đầu tháng 12 quanh các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây phi pháp tại Biển Đông, nhưng việc này có thể sẽ không được chính quyền Tổng thống Barack Obama chấp thuận vì giới chức quốc phòng Mỹ cho rằng nước này đang phải tập trung chống IS và không muốn gây căng thẳng với Trung Quốc. Còn Úc dù buôn bán nhiều với TC, chưa bao giờ tuyên hứa sẽ tuần tra Biển Đông, nhưng ngày 16/12/2015 Úc đã cho một máy bay quân sự của Úc tuần tra áp sát các khu vực đang có tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Trong khi thực hiện chuyến bay, không quân Úc đã thông báo rõ cho hải quân Trung Quốc họ đang thực thi «quyền tự do lưu thông». Ngày 14/12/2015, tin BBC cho biết một nhà báo Anh đã dùng phi cơ dân sự bay vào vùng không phận bên trên một số đảo nhân tạo mà Bắc Kinh đang xây dựng tại quần đảo Trường Sa, đã bị quân đội Trung Quốc đe dọa và cảnh cáo, như đó là vùng nhận dạng phòng không mà TQ đã lập. Cùng ngày 14/12/2015, Bắc Kinh lên tiếng bày tỏ thái độ hết sức bất bình về việc hai Thủ tướng Ấn Độ và Nhật Bản chính thức tuyên bố bảo vệ quyền tự do đi lại trên Biển Đông nhân dịp ông Shinzo Abe công du New Delhi.

Tình hình Biển Đông cho thấy TC càng ngang ngược quậy ở Biển Đông, càng giúp cho Nhựt siết chặt liên minh chiến lược với Việt Nam và Phi luật tân là hai nước bị TC xâm lấn biển đảo nhiều nhứt ở Á châu Thái bình dương. Tương quan kinh tế, chánh trị, ngoại giao của Nhựt đối với hai nước Việt và Phi không phải mới có đây, mà đã có hàng chục năm rồi, bây giờ thêm tương quan chiến lược biến tương quan ba nước Nhựt, Việt, Phi thêm củng cố, bền vững.

Nhựt đã ký kết hiệp ước phát triển đối tác chiến lược với Phi năm 2011. Từ ấy họp tác quân sự hai nước đã hình thành, tiến triển. Nhựt đã cung cấp cho Phi cả chục tàu chiến vừa bán vừa cho Phi để tăng cường hải lực cho Phi. Tháng Năm vừa qua, Nhựt Phi đã kết thúc rất tốt đẹp cuộc tập trận hải quân chung với nhau ở Biển Đông. TT Phi Benigno Aquino III hồi tháng Sáu công du Nhựt, ký Tuyên bố chung về việc Tăng Cường Đối Tác chiến lược với Thủ Tướng Nhựt Shinzo Abe. Hai bên thoả thuận trên nguyên tắc, sẽ trao đổi trang thiết bị quân sự và làm việc chung vơi nhau và sớm ký kết sự hợp tác này. TT Nhựt cũng hứa với TT Phi sẽ xem xét cung cấp cho Phi một tàu tuần tra lớn. Sau đó báo Asahi Shimbun cho biết Nhựt sẽ giúp cho Phi phi cơ hai phản lực TC-90 mà Lực Lượng Biên Phòng của Nhựt đã dùng để huấn luyện. Phi có thể dùng máy bay này đề tuần tra Biển Đông. Hợp tác của Nhựt và Phi hết sức tự nhiên và trơn tru vì cả hai đều là cùng đồng minh hiệp ước của Mỹ.

Dưới cái nhìn tương quan đồng minh về quân sự và đồng chế độ chánh trị tự do, dân chủ, việc liên minh của Nhựt với VNCS theo chế độ CS tương đối khó khăn hơn. Nhưng mà Hà nội và Tokyo cũng đã phát triển đối tác chiến lược rồi từ năm 2006, trước khi Mỹ chuyển trục quân sự về Á châu Thái bình dương. Và sự hợp tác ấy ngày càng phát triển. Nhứt là gần đây khi TC càng ngày càng ngang ngược xâm lấn biển đảo của các nước láng giềng. Nhựt đã cho không VNCS sáu tàu tuần duyên năm rồi. Lại còn kèm theo 4 triệu Mỹ Kim để VN huấn luyện cho lực lượng biên phòng biển VN.

Bánh ít trao đi, bánh quy trao lại. Hồi tháng 11 năm nay 2015, VN đồng ý cho tàu chiến Nhựt vào Vịnh Cam Ranh. Cam Ranh là một vịnh nước sâu ở Miền Trung của VN, trên bờ Biển Đông của VN. Đây là một quân cảng lớn thiên nhiên, Mỹ từng sử dụng thời Chiến tranh VN và Liên xô, Nga sử dụng sau đó. Hiện Mỹ cũng cần.

Ngoài việc cho Nhựt sử dụng Vịnh Cam Ranh, Nhựt và VN còn bàn bạc thoả ước tuần duyên hai nước sẽ tập trận chung trong vùng này. Việc bung ra và liên minh với các nước, Nhựt bây giờ rộng đường thực hiện. Nhựt đã có luật phòng vệ tập thể, có thể đưa quân và viện trợ cho các nước. Nhựt là đệ tam siêu cường kinh tế thế giới dễ phát triển kinh tế với các nước Á châu Thái bình dương. Và Nhựt cũng phần nào chia xẻ gánh nặng với Mỹ. Mỹ cũng muốn Nhựt đóng vai trò đầu tàu liên minh với các nước Á châu Thái binh dương, gần gũi địa lý, văn hoá hơn so với Mỹ.

Và quan trọng nhứt, Nhựt liên minh được với VN thì ở Bắc Thái bình dương có Nhựt, Nam Thái bình dương có VN, là hai nước có nhiều kinh nghiệm chiến trận với TC. Và hai nước Nhựt và VN có quân đội và quân lực TC không dễ dàng gì khống chế.

Và mới đây, Chủ Tịch Nước VNCS cũng đã ký hiệp ước đối tác chiến lược với Phi. Liên minh bắc Thái bình dương có Nhựt, Nam có VN sát TC và trung có Phi đã thành hình. Còn vòng ngoài có một liên minh Úc, Ấn, Mỹ, sắp có Nam dương vào đã vững chắc. TC khó mà khống chế Á châu Thái bình dương.

TC rất khó tiếp tế, tiếp vận cho những cơ sở quân dân sự mà TC đã chiếm được đất ở hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa trong thời bình. Gần đây TC phải lợi dụng việc tập trận bắn đạn thiệt để giành quyền kiểm soát biển quanh các biển, đảo và bãi đá mà TC đã chiếm và quân sự hoá. Nhưng tạo thành một làn sóng chống đối TC rất mạnh cho các nước. Và có thể bị phản tác dụng, các nước cũng tập trận bắn đạn thật thì Biển Đông đã thành vùng quân sự. Điều đó có thể tạo lý do cho Mỹ dùng phương tiện quân sự để bảo vệ tự do hàng hải.

Và TT Obama cũng chủ hoà, không muốn những đụng chạm bất trắc giữa Hải Quân Mỹ và TC. Thí dụ như thấy TC tập trận bắn đạn thiệt ở Biển Đông thì TT Obama hoãn cho Hải Quân và Không quân Mỹ tuần tra bên trong 12 hải lý ở Trường sa, dù rằng kế hoạch tuần tra đã dự trù thực hiện vào cuối năm 2015. Chớ kế hoạch “tăng cường an ninh hàng hải và năng lực giám sát trên biển của các nước ven Biển Đông" của Mỹ chính TT Obama đã trình cho Quốc Hội trong dự án luật ngân sách 2016, đã được Hạ Viện thông qua, với điều khoản mang tên Sáng kiến Biển Đông - South China Sea Initiative và TT Obama đã ban hành rồi.

Trong suốt gần một thập niên Mỹ chuyển trục quân sự về Á châu Thái bình dương, lần đầu tiên chánh quyền Mỹ Hành Pháp và Lập pháp, Cộng hoà và Dân chù đồng thuận đưa vấn đề Biển Đông vào luật pháp Mỹ, đặc biệt là luật quốc phòng.

Theo điều luật của bộ luật Quốc Phòng 2016 này, Bộ Quốc Phòng Mỹ năm 2015 sẽ viện trợ 119 triệu Mỹ kim và năm 2016 là 140 triệu cho các nước Đông Nam Á - trong đó có Việt Nam, Indonesia, Malaysia, và Philippines.

Thêm vào đó, Mỹ đã chận TC với tiền đồn ở Singapore. Ngày 07/12/2015, Singapore đồng ý cho quân đội Mỹ triển khai loại phi cơ do thám tối tân P8 Poseidon trên lãnh thổ của mình, để từ đó thực hiện các phi vụ tuần tra Biển Đông. (VA)

__._,_.___

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Thấy Gì Qua Hội Nghị Trung Ương 13 Đảng CSVN

Lê Minh Nguyên

Hội Nghị Trung Ương 13 kéo dài 8 ngày từ 14/12 đến 21/12/2015, có thể nói là dài hơn thường lệ để giải quyết vấn đề nhân sự cấp cao, với ý muốn dứt điểm để đi vào Đại Hội 12 từ 20-28/1/2016 mà không cần có thêm Hội Nghị Trung Ương 14. Tuy nhiên, nó đã không thành công và buộc phải có thêm TU14, có lẽ là vào đầu tháng Giêng 2016.

Qua bài phát biểu bế mạc TU13 của ông TBT Nguyễn Phú Trọng (bit.ly/1m4WKDd) và tường trình của Thông Tấn Xã VN (bit.ly/1OH1LIt) nó cho ta thấy những nét đáng chú ý sau đây.

Nổi bật nhất là sự tương tranh bất phân thắng bại giữa phe ông Trọng và phe ông Dũng để quyết định ai trong tứ trụ, nhất là chức vụ tổng bí thư, cho nên TU13 dù đã kéo dài bất thường nhưng bế mạc như thằn lằn cụt đuôi và phải cần thêm TU14 dù ngày đại hội chỉ còn đúng một tháng. Vì vậy TU14 sẽ có hai nét chính: giải quyết nhân sự cho tứ trụ và có vai trò như một tiền đại hội. Các phe sau TU13 trở về hậu cứ chuẩn bị thêm binh mã để đánh tiếp.

TU13 đã thông qua các văn kiện đại hội, các văn kiện này vẫn theo đường mòn cũ, không có gì gọi là đột phá, vẫn là "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", chỉ nhấn mạnh "chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần", vẫn "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" tức đảng vẫn đứng trên luật pháp và sử dụng luật pháp như một công cụ, vẫn báo động "tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, 'tự diễn biến', 'tự chuyển hoá' trong nội bộ".

Lo sợ ông Dũng tập trung quá nhiều quyền lực mà dẹp bỏ cơ chế vua tập thể, cũng như kín đáo phê bình ông Dũng vi phạm kỹ luật đảng, ông Trọng nói "thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương", và muốn quản lý chặc chẽ việc giới thiệu cán bộ mới "thực hiện chủ trương quản lý biên chế thống nhất trong toàn hệ thống chính trị."

Ông Trọng nói rằng "Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã kịp thời, linh họat điều chỉnh trọng tâm chỉ đạo, điều hành theo hướng tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội", "Những thành quả đạt được trong nhiệm kỳ qua là kết quả sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng". Ông không nhắc gì đến vai trò của Chính Phủ, nghĩa là tất cả các thành tựu, kể cả thành tựu kinh tế là công của Đảng do ông Trọng lãnh đạo chứ không phải là công của Chính Phủ do ông Dũng lãnh đạo.

Ông Trọng ca ngợi chủ trương quỵ luỵ Trung Quốc và cho đó cũng là công của Đảng do ông lãnh đạo "Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã bình tĩnh, tỉnh táo, xử lý các tình huống một cách khôn khéo, đúng đắn... bảo đảm môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước."

Ông Trọng vẫn theo chủ trương độc tài (dân chủ xã hội chủ nghĩa, tức dân chủ tập trung) độc đảng (đại đoàn kết dân tộc hay chấp nhận hệ thống chính trị hiện tại để có đoàn kết) qua câu ông nói "Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được phát huy", "Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn kiên định, vững vàng về chính trị, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ".

Sự mâu thuẩn có tính cách khôi hài là một mặt ông hô hào "đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí", nhưng một mặt ông bảo vệ giai cấp thống trị không để nhà nước pháp quyền dùng công cụ luật pháp để đụng tới những cán bộ tham nhũng, nên chỉ kêu gọi "Với tinh thần thẳng thắn tự phê bình và phê bình", tức kỹ luật bằng sợi dây kinh nghiệm rút hoài không hết như ông Nguyễn Bá Thanh đã nói.

Ông Trọng cho biết TU13 đã thông qua danh sách các đảng viên trong Ban Chấp Hành TU cũ còn tuổi cũng như đã quá tuổi nhưng được hưởng sự ngoại lệ, để vào BCHTU mới của ĐH12. TU13 cũng thông qua danh sách những đảng viên vào Bộ Chính Trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra TU. TU13 có giới thiệu (nhưng chưa thông qua) các đảng viên trong Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư cũ (K11) vào tứ trụ của ĐH12.

Trên RFA, blogger Kami (bit.ly/1UY::22ừ10::) cho rằng "màn đấu đá tranh chức, giành quyền trong nội bộ ban lãnh đạo Đảng CSVN đang diễn ra hết sức quyết liệt và đầy kịch tính" và "việc Việt Nam thoát ra khỏi sự cương tỏa của Trung quốc về mọi mặt là điều không hề dễ dàng chút nào". Tuy đề nghị đảng CSVN nên tách ra làm hai, blogger Kami có vẻ nghiêng về giải pháp ông Dũng khi viết "phải chọn được những người lãnh đạo có dũng khí và trình độ, có bản lĩnh chính trị để có những quyết định đột phá cho tương lai. Để mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước và dân tộc trong thời điểm mà người ta hy vọng sẽ có việc cải cách mạnh mẽ từ ông Nguyễn Tấn Dũng."

Tuy nhiên, blogger Kami cho rằng ông Dũng là "cái gai trong mắt nhà cầm quyền Bắc kinh, một thế lực chính trị khổng lồ trên thế giới thì ông Dũng là quá nhỏ bé. Ông Nguyễn Tấn Dũng có muốn cũng khó có thể trái ý Bắc Kinh". Điều này có hai ý nghĩa, thứ nhất là ông Dũng không thể chống nỗi TQ nếu ông Dũng thực sự muốn chống, cho nên ông sẽ bị loại trong cuộc tranh chấp quyền lực này. Thứ hai, ông Dũng chống TQ là động tác giả, như nhà báo Huy Đức đã post video cảnh ông Dũng và ông Tập Cận Bình ôm nhau thắm thiết khi ông Tập qua thăm VN hôm 5-6/11/2015 trong khi các ông Trọng, Sang, Hùng chỉ bắt tay mà thôi, và việc ông Tập chỉ mời duy nhất ông Dũng qua thăm TQ.

Tin chưa được kiểm chứng nói rằng ông Nguyễn Sinh Hùng sẽ công du TQ truớc cuối tháng 12 này. Điều này, nếu thật, cho thấy yếu tố TQ trong vấn đề ảnh hưởng lên ĐH12, nhất là vấn đề nhân sự là yếu tố không thể được xem nhẹ. Ông Hùng có lẽ sẽ rút lui sau ĐH12 và ông Hùng có ân oán với ông Dũng vì sân sau của ông là ngân hàng Đại Dương (Hà Văn Thắm bị bắt) bị ông Dũng đánh. Điều khôi hài là trong khi ông Hùng trả đòn ông Dũng, ông Hùng tỏ ra là một nhà cải cách và cởi mở (trước khi về vườn).

Một điều khá lạ là blogger Kami cho rằng việc trang Ba Sàm "phát tán bức Thư của TT Nguyễn Tấn Dũng gửi TBT Nguyễn Phú Trọng... là một tính toán có chủ ý. Vì ai cũng biết chủ trang blog này vốn là tay chân của 4Sang, kẻ thù của 3X và người ta muốn dư luận hiểu rằng lá thư trên là do phe chống Nguyễn Tấn Dũng tuồn ra ngoài. Đây là một chiêu 'gắp lửa bỏ tay người' của phe ông Dũng." Đây là một tin khá mới và người phụ trách trang Basam phủ nhận, trang này cho biết (bit.ly/1Peas1C) là "nhận được một số trang tài liệu thuộc dạng “tuyệt mật” nhưng không có điều kiện kiểm chứng... Phổ biến những thông tin này trên trang Ba Sàm, không nhằm mục đích ủng hộ hay đứng về bất kỳ phe nhóm nào".

Về ông Trương Tấn Sang, có tin cho rằng trước đây ông liên minh với ông Trọng, sau đó bỏ ông Trọng, kết với ông Dũng để chia ghế trong tứ trụ, nhưng khi thấy ông Trọng có thể thắng lại bỏ ông Dũng để kết với ông Trọng trở lại và tố chính phủ ông Dũng tham nhũng. Blogger Kami cho rằng "các phe phái trong nội bộ Đảng CSVN dùng truyền thông để 'đấu pháo' nhằm hạ uy tín của nhau... Đó là những bài viết đánh thẳng vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của những đàn em ông Trương Tấn Sang." Trang Basam lâu nay làm cho đảng CS nhức đầu vì phê bình cả đảng và cả tứ trụ, cho nên nếu Basam là "tay chân" của một ông hay lăng ba di bộ và sớm đầu tối đánh thì là một điều khá lạ.

Tóm lại, TU13 tuy dài ngày nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề nhân sự trong tứ trụ, văn kiện vẫn còn ở thời đại khủng long, những người quan sát biết chắc phe ông Trọng bảo thủ giáo điều, nhưng vẫn chưa biết rõ phe ông Dũng sẽ như thế nào trên mặt bằng chính trị, tuy đã biết phần nào về mặt bằng kinh tế.

Cuộc đấu đá phản ảnh nhiều khía cạnh của đất nước, từ tranh chấp quyền lực nội bộ cho đến vấn đề ý thức hệ, từ ngoại giao quốc phòng nên nghiêng về tây phương hay nghiêng về TQ cho đến có nên cởi mở chính trị hay không, từ ưu tiên bảo vệ đảng hay ưu tiên bảo vệ đất nước cho đến duy trì nguyên trạng hay tốc độ thay đổi ra sao. Sự chiến thắng của một bên sẽ định hướng VN trước ngã ba đường.

Nhưng để đi vào đại lộ của dân tộc thì trước tiên vẫn là làm sao thoát khỏi gông cùm của đảng CSVN.

Lê Minh Nguyên


21/12/2015

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Giáng Sinh Cho Người Thiện Tâm
Vi Anh

Năm rồi 2014, ngày 20.12, Tổng thống Mỹ Barack Obama cùng gia đình đáp chuyến bay tới Hawaii để nghỉ ngơi trong vòng 17 ngày nhân dịp lễ Giáng sinh. Năm nay trước thềm Giáng Sinh 2015, tin báo USA Today Tổng Thống Obama bác bỏ việc công nhận hai ngày lễ của người Hồi Giáo là Eid al-Adha và Eid al-Fitr là ngày lễ liên bang Mỹ, do thỉnh nguyện thư với 100.000 chữ ký đưa lên trang web của Tòa Bạch Ốc. Nhưng TT Obama lại ký sắc lệnh cho phép công chức liên bang được nghỉ nửa ngày để về nhà sớm hôm 24 Tháng Mười Hai - trước ngày lễ Giáng Sinh. Rồi TT vui mừng và nhanh chóng ký ban hành ngân sách 1.100 tỉ đôla cho năm 2016, được Quốc Hôi thông qua, không lo chánh phủ phải đóng cửa một phần như năm rồi. Sau đó như năm rồi Ông cùng gia đình bay đi nghỉ lễ Giang Sinh ở Hawaii.

Còn dân chúng Mỹ đa số lo trang hoàng nhà cửa, treo đèn kết hoa, gởi thiệp chúc mừng Giáng Sinh cho nhau. “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” là lời ca cầu chúc Giáng Sinh cho người thiện tâm nơi trần thế. Giáng Sinh bây giờ vừa là lễ đạo vừa là lễ đời. Không những ở Tây Phương và cả ở Đông Phương. Người Mỹ sau lễ Tạ Ơn, là đến ngày Thứ Sáu Đen, bắt đầu mùa mua sắm Christmas, gởi thiệp và dựng cây thông, làm máng cỏ, treo đèn nhà cửa để ăn Giáng Sinh. Người Việt Nam trong thời tự do, dân chủ trước đây hay thời CS độc tài tòan trị bây giờ ở nước nhà VN, mỗi lần cuối năm trời trở mát là nhớ Giáng Sinh, người như lễ đạo, người như lễ đời. Nếu không tất cả thì đại đa số đã nghe văng vẳng từ thâm tâm, nhớ câu hát Giáng Sinh “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Thiện tâm, có lòng tốt với cá nhân, với gia đình, và với cộng đồng mình đang sống là một đức tính rất tốt. Nhưng thiện tâm lớn hơn, cao cả hơn là thiện tâm đối với đất nước, nhân dân và đồng bào.

Con người là một linh vật có khả năng liên tưởng siêu việt. Không có liên tưởng thì không có tôn giáo, thơ văn, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật. Con người cũng là một linh vật siêu việt có giác quan thứ sáu, thần giao cách cảm, người Trung Hoa hình tượng thành “thiên lý nhãn và thiên lý nhĩ”. Nên trong mùa Giáng Sinh, người Việt hải ngoại, nhứt là người Mỹ gốc Việt hưởng Giáng Sinh bình an, đoàn tụ, sung túc, không ít thì nhiều, nhứt định cũng có nghĩ đến những người thiện tâm với quốc gia, dân tộc, đồng bào đang gặp khó khổ trong gọng kềm CS ở nước nhà VN. Còn rất nhiều những đồng bào đang trong ngục tù CS, đang đau khổ chỉ vì có thiện tâm với đất nước, nhân dân đồng bào VN.

Tiêu biểu như một vị chân tu như Hòa Thượng Quảng Độ học hành xuất sắc, tiếng Anh làu thông, được tín đồ Phật Giáo tôn kính có thể sống một đời an lành. Một Hội Trưởng Phật Giáo Hòa Hảo Lê Quang Liêm từng là sĩ quan cấp tá, tỉnh trưởng, dân biểu, có thể đi HO sang Mỹ dễ như như ăn cháo để sống cuộc đời an nhàn. Một Lm Nguyễn văn Lý, có họ đạo, có nhà thờ thừa sức sống một đời đầy đủ vật chất và tinh thần. Một luật sư Lê thị công Nhân, luật sư Nguyễn văn Đài có ăn học, có nghề nghiệp khả kính, có văn phòng luật sư thừa sức sống sung túc. Một nhà báo Điếu Cày, có nhà cho mướn, viết blog rất hay có thể viết báo kiếm tiền. Một kỹ sư Đỗ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn, LM Phan Văn Lợi, Lê Nguyên Sang, Trương Minh Đức, nhà văn Nguyễn Xuân Nghiã, cô Phạm Thanh Nghiên, ông Phạm Văn Trội và nhà giáo Vũ Hùng với sự ăn học thừa sức có mức sống cao nếu sống bình thường. Một Ls Lê công Định được học bổng Fulbright của Mỹ, làm việc cho nhiều cơ sở kinh doanh ngoại quốc thù lao rất cao. Cô Phạm Thanh Nghiên anh Ngô Quỳnh vì thương nước bị TC chiếm tọa kháng ở nhà vì thương đồng bào đi Thanh Hóa thăm ngư dân Việt Nam. Anh Nguyễn Tiến Trung từng du học ở Pháp vì vận động dân chủ có thể bị án tử hình. Giáo sư Phạm minh Hoàng học ở Pháp hai quốc tịch Pháp, Việt về VN dạy Đại Học Bách Khoa dư sống sung sướng vì muốn VN có dân chủ mà bị tù đày.

Nhưng tất cả những người có thiện tâm vì đạo pháp và dân tộc, có thiện chí với đất nước, nhân dân và đồng bào VN ấy bị CS Hà nội sách nhiễu, trấn áp, quản thúc tại gia, bắt giam, kêu án tù theo Điều 88 hay điều 79 Bộ Luật Hình Sự, hình phạt từ tù đày cho đến tử hình. Chỉ vì cái tội quý vị ấy lên tiếng đấu tranh một cách ôn hòa cho tự do tôn giáo, tự do, dân chủ, nhân quyền cho đồng bào, cái tội lên tiếng bất bạo động bảo vệ khi giang sơn gấm vóc VN bị quân Tàu xâm lấn. Và CS làm nhục những người yêu nước, thương dân ấy, những tù nhân lương tâm, tù chánh trị ấy bằng thủ tục hình sự hóa và chối bỏ đó không phải là tù chánh trị.

Nhà Tù CS – ở Trung Quốc cũng như VN – sau khi đổi mới kinh tế mà khóa chặt chánh trị, dù ở đầu thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ 3, vẫn là nơi ác ôn nhứt. TC có cả một hệ thống ngục tù gọi là “lao cải” có trên «310 trại cải tạo với 400 ngàn đối tượng đang học tập,» như báo Le Courrier International của Pháp điều tra hồi năm 2009. TC bắt giam người không cần xét xử. TC lấy sức lao động khổ sai của những người này để sản xuất hàng hoá đem “xuất khẩu”, lấy nội tạng của tù nhân để ghép cho người ngoại quốc để lấy tiền trong kỹ nghệ gọi là du lịch chữa bịnh ở TQ. Báo Le Courrier International cũng “đưa độc giả đi một vòng các nhà giam trên thế giới nhưng đặc biệt là chế độ nhà tù tại xứ của ông Hồ Cẩm Đào [Trung Cộng]. Sự kiện một thanh niên bị đánh chết trong một nhà giam ở Vân Nam và 4 vụ vượt ngục ở Nội Mông gây chấn động. Nhà tù dùng tù cũ đánh tù mới để duy trì trật tự. Hai mươi tám người trong một căn phòng giam nhỏ hẹp, kẻ mạnh được «chổ tốt» kẻ yếu phải nằm gần cầu tiêu. Những «con gà ướt» bị hành hạ, phải phục vụ tù cũ như đầy tớ. Trong những năm gần đây, còn xuất hiện loại «khách sạn bí mật» mà theo Human Rights Watch, nhà cầm quyền dùng để cô lập những dân oan đi khiếu kiện.

Hàng trăm ngàn người Việt cựu tù cải tạo đang vui vẻ ăn Giáng Sinh ở Mỹ, thấy ngục tù của TC bây giờ đâu có khác gì ngục tù cải tạo của CS Hà nội mấy chục năm trước. Mô tả của báo Courrier International là tù CS VN gọi là “tập thể”. Biệt giam, kiên giam của CSVN còn ác ôn hơn nhiều. Như ở số 4 Phan đăng Lưu do CS làm ra hiện nay vẫn còn ở Saigon. “Biệt giam độc lắm bạn tù ơi, Thiếu thốn, thúi hôi, bị tách rời. Đêm trắng muỗi kêu đòi nợ máu, Ngày dài phòng kín nấu thân đời. Tóc râu hơn khỉ, người thua chó, Cùm xích vướn chân, cổ nghẹn lời. Nằm đụng cầu tiêu, ngồi bó gối. Cô đơn đến nỗi muốn kêu trời.”[thơ Lưu Nhân] Tất cả những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, già trẻ bé lớn, nam nữ, tôn giáo, trí thức bây giờ bị bắt vào đều bị biệt giam như thế.

Còn tù ở các trại thì đỡ hơn, có nắng, có gió nhưng bị cưỡng bức lao động như tù khổ sai, biệt xứ nhưng bị bỏ đói, bỏ khát thê thảm. CS là chế độ người tù phải cất nhà tù để nhốt mình, thân nhân gia đình phải thăm nuôi tù. Người tù trồng trọt mà không được ăn. Một củ khoai mì nhổ lén bị quản giáo phát giác, hay ăn ten “bá cáo” là cả một trận đòn thù của quản giáo, trật tự, nhiều ngày biệt giam, kiên giam, ra chỉ còn xương với da.

Trong thời kỳ năm cũ dương lịch sắp qua năm mới, trong bầu không khí Giáng Sinh lễ đạo và đời, con người là sinh vật linh thiêng có khả năng cư an tư nguy, giác quan thứ sáu, thần giao cách cảm. Người dân Việt hải ngoại may mắn đang cư an nếu dành một phút tư nguy, cầu nguyện, tưởng nhớ đến những đồng bào có thiện tâm lớn đối với quốc gia dân tộc. Thì Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhơn. Ân Trên Chúa, Trời, Phật sẽ vận lực càn khôn, chuyển thiện tâm của người dân Việt cho những người có thiện tâm với quốc gia dân tộc đang ở tù CS./.

(Vi Anh)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Đại hội XII Đảng Cộng sản Việt Nam đối diện với Năm Chữ Chính

Nguyễn Khắc Mai



Image

26-12-2015


Năm chữ Chính đó là: Một: Chính Danh. Hai: Chính Thống. Ba: Chính Nghĩa. Bốn: Chính Học. Năm: Chính Mi.


Tôi tin rằng đa số các đại biểu được cử đi dự Đại hội này phải quan tâm tới năm chữ Chính có tầm quan trọng này. Năm chữ Chính này, dẫu họ không nghĩ tới, nó vẫn luôn tồn tại, thường xuyên có mặt, chi phối mọi hành vi của Đảng, của từng đảng viên trong chức phận, trong hành xử… của họ.

Chữ Chính Thứ Nhất: Chính Danh


Nguyễn Công Trứ từng có câu nổi tiếng: “Đã mang tiếng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông”. Câu hỏi này không chỉ cho một cá thể Người, mà nó chung cho cả những cộng đồng Người. Đảng cũng thế, luôn luôn phải đối diện với câu hỏi này và tùy từng thời phải có câu trả lời cho đúng, nghĩa là trả lời cho “thuận thiên thời, thuận địa lợi, thuận nhân hòa”. Và đây là chữ Chính đầu tiên mà Đại hội XII đối diện. Họp Đại hội XII để làm gì, nếu không phải là để trả lời cho đúng những cái “danh” mà Đảng đã và đang đánh mất. Không trả lời rõ vấn đề này, những nội dung của Báo cáo chính trị sẽ không có linh hồn.

Vậy, xin nói về thế nào là chính danh. Trong học thuyết của nho gia có mấy quan niệm chính danh rất hay. Một là của Khổng tử và hai là của Lã thị Xuân Thu. Ba là của Lưu Dực.

Trong sách Luận ngữ, thiên Tử Lộ có câu nói nổi tiếng của Khổng tử. ”Danh không chính thì lời nói [tư tưởng, chính sách…] không thuận. Lời không thuận thì công việc không thành. Việc không thành ắt lễ nhạc [trật tự, kỷ cương…] không chấn hưng được. Lễ nhạc không hưng thì hình phạt [luật lệ] không trúng. Hình phạt không trúng, thì dân chúng không biết đặt tay chân vào đâu [không biết làm gì cho phải, làm gì là trái]. Cho nên người quân tử [kẻ lãnh đạo] phải nói cho rõ cái danh, đã nói thì làm cho được. Kẻ quân tử không được nói tùy tiện.”

Sách Lã thị Xuân Thu, thiên Chính Danh có câu: “Danh chính thì trị, danh mất thì loạn. Kẻ làm cho mất danh, là kẻ nói, chủ trương quá mức. Nói, chủ trương quá mức độ tức là biến cái có thể thành cái không có thể, cái không cho phép. Nên cái phải biến thành cái không phải; biến cái đúng thành cái không đúng; nên cái sai thành cai không sai… Phàm mọi sự loạn, là do chính danh không đúng vậy!”. Lưu Dực (thời Hán-Ngụy) cũng viết “Phàm danh không ngay thẳng, chính đáng thì mọi việc sẽ sai lầm… Cho nên bậc vương giả phải chính danh để giám sát cái thực của nó”. Có thể nói đây là trí khôn Trung Hoa, nhưng cả mấy ngàn năm qua ít ai hiểu và làm đúng, ngày nay cả những người cộng sản Trung hoa cũng như Việt đều đang đối diện với vấn đề “Chính Danh”.

1- Có rất nhiều sự rối loạn về chính danh của Đảng Cộng sản. Thứ nhất là danh xưng “Cộng sản” không phản ảnh đúng cái tên Communisme. Thuật ngữ này trong tiếng Đức, Anh, Pháp, Nga… đều được hiểu là chủ nghĩa cộng đồng. Chữ cộng sản, nhiều người cho là người Nhật dịch đầu tiên rồi truyền sang Tàu, vào Việt Nam khoảng đầu thế kỷ 20. Tôi đồ rằng cái tâm thức nông dân phong kiến với quan niệm “thiên hạ vi công” và “ở đời muôn sự của chung”, tâm lý chung chạ đã khiến những người dịch ban đầu chỉ tìm tới cái ước muốn “cộng sản” mà đã bỏ qua cái ý thức về “một cộng đồng kiểu mới” của K. Marx.

Thứ hai là cái gọi là chủ nghĩa xã hội và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là những tư duy đại lộn xộn. Lớp đảng viên đầu tiên hiểu và nói chủ nghĩa cộng sản là “tam vô nhị các”. Tam vô là vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo. Nhị các là các tận sở năng, các tận sở nhu, nghĩa là mọi người làm hết năng lực của mình và hưởng hết nhu cầu của minh (sướng quá, ai mà không thích!). Hiểu tôn giáo đến mức cực đoan như Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh từng nói với trí thức các trường Đại học ở Hà Nội tại hội trường C2 Đại học Bách khoa, rằng “tôn giáo là thuốc độc của nhân dân”. Chú ý thuốc độc, chứ không phải thuốc phiện như Marx quan niệm.

Còn xóa bỏ xã hội cũ thì “Trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”. Sau này thấy ấu trĩ quá nên không tuyên truyền nữa. Sau năm 1950 khi khai thông biên giới với Trung Quốc, đảng đổi tên là đảng Lao động lấy tư tưởng Mao Trạch Đông đưa vào điều lệ làm kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng gian khổ ba năm xây dựng chủ nghĩa xã hội hình thành với những khẩu hiệu được coi là “tổng lộ tuyến” sau mới đổi thành “đường lối chung”: bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, với những chủ trương cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, công tư hợp doanh…, tiến hành cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng văn hóa tư tưởng, coi cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt… Nhưng như người xưa nhận xét, do không chính danh nên nói và làm lộn xộn “biến cái có thể thành cái không có thể, cái phải biến thành cái không phải, cái sai thành cái không sai…”. Hậu quả là ngày nay, Đảng không còn là tiên phong cách mạng, cũng không còn người đại diện cho lợi ích của Dân tộc. Chính quyền không còn là của Dân, do Dân, vì Dân mà đã có những hành động phản bội lại lợi ích của Dân, của Nước, đã biến thành những nhóm lợi ích tham nhũng, mua quan bán tước, lệ thuộc Trung Quốc.

Ngay như Điều 4 trong Hiến Pháp cũng hiểu, nói và làm lộn xộn, không rành mạch rõ ràng. Những câu chữ trong Điều 4 không có một văn bản có tính luật nào giải thích cho rõ ràng, chính xác. Thế nào là vai trò nhà nước của Đảng? Thế nào là Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội? Đưa vào Hiến pháp một nội dung không có một điều luật nào đi kèm để hiểu đúng làm đúng, tính chính danh của Đảng bị vi phạm một cách tùy tiện. Nói như người xưa đó chính là đầu mối của mọi sự suy đồi, rối loạn. Một Nhà nước “loạn” thì không tham nhũng, suy đồi, trì trệ, lạc hậu và tụt hậu ngày một xa mới là lạ.

Đại hội XII phải phân tich mổ xẻ, cân lại cho ngay ngắn chữ Chính đầu tiên là “Chính danh”. Nếu thật sự có trách nhiệm các đại biểu của Đại hội phải đưa vấn đề này vào nội dung của Đại hội.

2- Có ba điều có thể làm nên tính chính danh cho đảng hôm nay:

Một là là phải từ bỏ cái gọi là chủ nghĩa Marx – Lênin. Vì sao vậy? Vì học thuyết này cung cấp một lối tư duy giáo điều, đầy mâu thuẫn, làm rối loạn chuẩn mực. Phàm con người mà tư duy rối loạn chuẩn mực thì như người xưa nói sẵn sàng biến cái sai thành đúng, cái không có thể thành có thể. Sự rối loạn tư duy trên tổng thể của xã hội ta đã nhìn thấy rõ. Cứ nhìn vào thực trạng xã hội chúng ta hôm nay, những người trung thực không khỏi không đau lòng. Lẽ nào các đại biểu Đại hội nỡ nhắm mắt làm ngơ?!

Hai là, từ bỏ mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu xô viết đã phá sản trên thực tế, đã gây nên thảm họa, khiến cả châu Âu bất bình lên án là chế độ này đã gây nên những tội ác chống nhân loại ở ngay những quốc gia do những đảng cộng sản cầm quyền. Ở Việt Nam chúng ta, không thể chứng minh được về lý thuyết cũng như thực tiễn là chủ nghĩa xã hội thực sự có chân thiện mỹ, trái lại nó đã gây ra vô vàn đau thương cho con người và xã hội. Có thể nói tất cả nhũng cải cách xã hội theo đường lối tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản đều thất bại thảm hại, từ cải cách ruộng đất đến hợp tác hóa nông nghiệp, cải tạo công thương… Cho đến khi cùng đường thì phải “đổi mới”, thực chất là thực hiện dè dặt nhũng hình thức và phương thức của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên do thực hiện những hình thức tư bản chủ nghĩa mà vẫn duy trì Marx – Lenin nên về cơ bản không thể thực hiện phương thức tư bản chủ nghĩa hiện đại, thành ra đã sản sinh một thứ chủ nghĩa tư bản vừa hoang dã vừa quái dị với những quan hệ xã hội rất phong kiến. Điều ấy khiến đất nước tiêu hao nhiều nguồn lực của dân tộc, bóc lột tận cùng tài nguyên thiên nhiên cũng như lao động, chấp nhận công nghệ lạc hậu, phương thức gia công lệ thuộc, lạc hậu và trì trệ, tham nhũng triền miên, bị các nước trong khu vực bỏ xa mà với thể chế và những thiết chế xã hội, chính trị như hiện nay không thể nào rút ngắn khoảng cách được. Kinh tế thị trường có đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa đã tỏ ra vô vọng và vô nghĩa.

Như thế Đảng chỉ còn một lựa chọn tối ưu là đi theo đường lối xã hội – dân chủ, chấp nhận đa nguyên, hợp tác với tất cả mọi lực lượng dân tộc, dân chủ của đất nước, tôn trọng xã hội dân sự. Bài học của các đảng xã hội dân chủ rất sáng giá, nếu đảng học theo có thể lột xác biến mình thành một thực thể khác, văn minh, tiến bộ, vẫn theo đuổi những tư tưởng xã hội chủ nghĩa (xin lưu ý tư tưởng xã hội chủ nghĩa khác xa với cái gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng đang áp đặt tại Việt Nam), lại phù hợp với tiến trình lịch sử đương đại, làm nên tính chính danh đích thực cho đảng. Nếu để chậm trễ có khả năng Đảng bị Dân tộc cho vào cái spam lịch sử. (Nhân đây tôi cũng xin thưa, theo chỗ tôi biết, nhiều cán bộ cao cấp khi còn học ở Liên Xô và Đông Âu đã từng phê phán đường lối Stalinnien và Maoist của Đảng và từng công khai bày tỏ sự ủng hộ đường lối xã hội dân chủ. Nhưng khi về nước, họ lại tỏ ra cơ hội tả khuynh để leo được vào Trung ương!).

Thứ ba, không thể chính danh, nếu vẫn đi theo đường lối sai lầm trở thành chư hầu lệ thuộc chính sách bá quyền đại Hán của Trung Quốc. Xoay trục về Dân tộc, từ bỏ đường lối đối nội, đối ngoại lệ thuộc Trung Quốc, bắt chước Myanmar, vì lợi ích dân tộc, sẵn sàng “thoát Trung”, sẵn sàng hòa hợp, hợp tác với nhũng lực lượng dân tộc, dân chủ của Đất Nước.

Làm được ba điều ấy, bỏ Marx – Lenin, đi theo khuynh hướng xã hội – dân chủ, xoay trục về Dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ lột xác, cải tạo mình để có Chính Danh.

Vì sao những khẩu hiệu “Xây dựng một nước Việt Nam Hòa bình – Thống nhất – Độc lập – Dân chủ – Giàu mạnh”, hoặc như “Dân giàu, Nước mạnh, Dân chủ, Văn minh”, “Nhà nước của Dân do Dân vì Dân”, “Đảng là đạo đức, là văn minh”… lại khó thực hiện đến vậy? Vì sao Đất nước ta, xã hội ta lại đang diễn tiến chính xác như dự báo của K. Marx vậy? Có hai dự báo quan trọng. Một là: “Chính phủ [ở Việt Nam là Đảng, hệ thống cầm quyền] chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình, duy trì sự lừa dối, và cũng đòi hỏi dân chúng phải ủng hộ sự lừa dối đó. Còn dân chúng hoặc sẽ rơi vào tình trạng mê tín chính trị, hoặc hoàn toàn quay lại với cuộc sống quốc gia biến thành đám người chỉ sống với cuộc đời riêng tư” (Mác – Ăng ghen Toàn tập, Tập 1, nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr105). Dự báo thứ hai, “Chính quyền của giai cấp công nhân sẽ được thúc đẩy bằng một chế độ ủy trị. Người ta sẽ phó thác cho một nhóm người tự ứng cử để đại diện và cai trị họ. Điều đó khiến họ lập tức rơi tõm ngay vào mọi sự lừa dối và lệ thuộc. Sau một hồi ngắn ngủi được tự do và hưng phấn cách mạng làm công dân của một nhà nước kiểu mới, họ sẽ bừng tỉnh thấy mình là nô lệ, con rối, con mồi của những tham vọng mới” (K. Mác Cuộc đời và tác phẩm. J. Eleinstein, nxb Fayard). Với dự báo rất trúng với thực trạng hiện nay, cái danh xưng “Nhà nước Công Nông đầu tiên ở Châu Á” nó khôi hài biết bao!

Điều gì khiến hiện thực xã hội của Đất nước đã trở nên “loạn”, đúng sai lẫn lộn, đem cái sai để thi hành, biến cái sai thành tư duy chính thống, đem cái ảo tưởng, cái không chính xác thành đường lối hành động? Chính vì Đảng đánh mất “Chính Danh”.

Chữ Chính thứ hai: Chính thống


Tính chính thống của lực lượng cầm quyền của một quốc gia dân tộc là vô cùng trọng đại và thiêng liêng.

Ngày xưa khi còn trong chế độ bộ tộc, người thủ lĩnh chính thống là một người già có kinh nghiệm, hiểu biết, có sức mạnh thể chất và trí tuệ để có thể dẫn dắt bộ tộc đi săn, chiếm giữ địa bàn sinh tụ, chống lại bộ tộc thù địch, có trí khôn để biết phân xử phải trái, giữ gìn luật tục của bộ tộc…

Thời phong kiến, một gia tộc nào đó tập hợp được lực lượng xã hội dùng sức mạnh vũ trang cướp được ngôi báu, dùng thuyết thiên mệnh để lên ngôi lập ra một triều đại. Phần lớn các triều đại phong kiến Trung hoa đều như thế. Ở Việt Nam có khác. Phần lớn các triều đại đều có võ công oanh liệt chống giặc phương Bắc nên có ơn ích với Dân Nước mà lên ngôi chính thống, tuy cũng áp dụng thuyết thiên mệnh.

Đấy là một thời. Nay vào thời đại dân chủ phổ biến toàn cầu, thuyết thiên mệnh không thể dùng nữa. Một lực lượng chính trị nào muốn ở ngôi chính thống lãnh đạo quốc gia đều phải hội đủ hai điều kiện cần và đủ: Phải có công tích ơn ích đối với Dân Nước, đó chỉ là điều kiện cần. Nhưng còn một điều kiện đủ nữa mới có thể trở thành chính thống. Đó là sự phúc quyết của nhân dân, theo những thể thức dân chủ.

Thật ra công tích của Đảng Cộng sản, thì như nhận định của học giả, nhà chính trị Trần Trọng Kim mới đúng. Vào năm 1947 cụ Trần viết thư cho Hoàng Xuân Hãn đã nói rõ: Việt minh do Đảng Cộng sản lãnh đạo là lực lượng chính trị to lớn và có tổ chức, họ “Công chi thủ. Tội chi khôi”. Nghĩa là công ở hàng đầu, mà tội cũng lớn nhất. Đó là nói công tích, vừa công to mà tội cũng lớn. Điều kiện cần này cũng thật chưa trọn vẹn.

Còn điều kiện đủ là gì? Trong thời đại Dân chủ vấn đề dân có phúc quyết hay không mới là tối quan trọng và đầy đủ. Về vấn đề này, câu chuyện có ý nghĩa và thú vị nhất là trường hợp Đảng Tập hợp dân chúng của Pháp do tướng De Gaulle lãnh đạo. Sau khi cùng quân Đồng minh đánh bại phát xít Đức, họ đã không như cách Trung Quốc “lập chính quyền trên đầu súng”, mà thông qua bầu cử, Đảng Tập hợp dân chúng mới được cầm quyền và De Gaulle mới được cử làm Tổng thống nước Pháp.

Còn ở Việt Nam hiện nay, tuy có bầu cử, nhưng Ủy ban bầu cử do Đảng chi phối (lãnh đạo), người ứng cử do Đảng chỉ định, kể cả một vài người gọi là ứng cử tự do cũng đều do Đảng có cho phép hay không.

Trong Hiến pháp dẫu có Điều 4 quy định về sự lãnh đạo của Đảng, nhưng lại không có một đạo luật nào nói rõ về điều đó. Hiện nay trong xã hội ta, những thiết chế chính trị đều được điều tiết bằng hiến định và luật định. Chính phủ và hệ thống chính quyền địa phương đều có hiến định và luật định. Quốc hội có hiến định và luật định. Hệ thống tư pháp (tòa án) có hiến định và luật định. Chỉ mỗi mình Đảng là đang hoạt động không có luật định. Vì thế tính chính thống của Đảng hiện nay là nửa vời. Công cũng chỉ nửa vời mà Luật cũng chỉ nửa vời.

Thật sự Đảng đang bị thách thức tính chính thống từ cả hai phía công và luật. Đại hội XII không thể để cho Đảng tiếp tục cầm quyền mà mất đi tính chính thống toàn vẹn.

Để có tính chính thống hôm nay:

-Đảng phải lập công, từ bỏ đường lối hư hỏng cũ kỹ như đã nói ở trên, để cùng những lực lượng dân chủ tiến bộ phục hưng dân tộc trong giai đọan mới.

-Kiên quyết bỏ Điều 4 Hiến pháp, xây dựng một đạo luật văn minh và dân chủ về Tổ chức và hoạt động của các đảng chính trị Việt Nam.

-Tôn trọng đa nguyên, vì độc nguyên là độc tài hư hỏng cũ kỹ. Tổ chức bầu cử tự do văn minh, minh bạch. Chỉ trong điều kiện ấy, Đảng Cộng sản mới được đặt mình trong xã hội, đua tranh để lành mạnh, kiếm tìm nhân cách mới của Đảng và của từng đảng viên mới mong lấy lại niềm tin, sự tín nhiệm của nhân dân, mới mong lập được công tích, mới thật thà phục vụ dân nước.

Ngay như việc nhân sự mà Hội nghị Trung ương 13 đang họp bàn cũng phải lý đến tính chính thống. Ban Chấp hành Trung ương mặc nhiên là ban lãnh đạo quốc gia. Nhưng ai quy định điều này, không có bất cứ một điều luật nào quy định cả. Vì không quan tâm đến tính chính thống, nên phương thức và phương pháp chọn, bầu một Ban Chấp hành Trung ương – ban lãnh đạo quốc gia – cho đến nay vẫn là tùy tiện, và cách thức rất cổ hủ.

Đúng ra sự lựa chọn nhân sự, đặc biệt là với bốn chức danh “tứ trụ triều đình”, ít ra là phải diễn ra theo hai quy trình. Một là sự lựa chọn trong nội bộ của Đảng, và hai là quy trình phúc quyết của quốc dân. Cả hai quy trình ấy đều phải có tranh cử. Những ứng cử viên phải có nhân thân được tín nhiệm, phải có ý tưởng và chương trình tranh cử. Cuộc tranh cử để được lựa chọn ấy phải diễn ra công khai, minh bạch, có sự giám sát của xã hội. Hội nghị Trung ương 13 cũng đang làm việc theo phương thức của mô hình xô viết đã “hư hỏng cũ kỹ”! Vì thế, đối với toàn Đảng, cũng như với xã hội, nó có sự bất minh, mờ ám, nó chỉ là việc làm của một nhóm người, mà tư cách pháp nhân nhà nước không rõ ràng, cứ đọc những mẩu tin về cuộc họp này đủ thấy rõ.

Với những cách làm đã “cũ kỹ, hư hỏng”, ban lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là Tổng Bí thư đang đặt Đảng trước một thử thách về tính chính thống.

Chữ Chính thứ ba: Chính Nghĩa


Một chính đảng có chính nghĩa phải theo và phục vụ cho chính nghĩa của dân tộc.

Tính chính nghĩa của dân tộc phải phù hợp với Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa đương đại đã có những nội hàm mới:

Thiên thời: là quy luật vận động xã hội trong dòng lịch sử đương đại, nó là tiến trình hình thành văn minh và văn hiến mới của nhân loại. Nó là tiến trình dân chủ hóa toàn cầu, là kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, tin học hóa, tri thức hóa và ưu thế hóa từng dân tộc từng khu vực. Là tiến trình nói như F. Engel là sự hòa giải của nhân loại với thiên nhiên và với chính mình.

Địa lợi: sự phát triển độc lập, tự chủ của các quốc gia dân tộc trong những quan hệ địa chính trị mới văn minh, nhân văn, tiến bộ, hợp tác chống lệ thuộc, phi thực dân hóa, đế quốc chủ nghĩa bá quyền. Khi nhân loại bước vào văn minh tin học, sự cải thiện số phận của các quốc gia dân tộc là rất lớn. Ví dụ là các nước nhỏ Tây Âu sau thế chiến thứ II, nhũng nước NICs ở châu Á và Mỹ La tinh…

Nhân hòa: sự chăm lo cho con người, phát triển và tôn trọng nhân quyền, dân quyền, hài hòa lợi ích cá nhân và xã hội, thu hẹp chênh lệch giàu-nghèo. Hưng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh (phát triển khoa học, giáo dục, tôn trọng và đề cao dân quyền, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân). Người dân, các công dân được sống trong môi trường xã hội dân chủ, văn hóa, ba thiết chế xã hội hài hòa. Một chính quyền dân chủ, trong sạch, trách nhiệm và hiệu quả. Một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, không bị làm méo mó biến dạng với những định hướng sai lầm duy ý chí, độc quyền. Một xã hội dân sự văn minh phát triển.

Hiện nay tính chính nghĩa của Đảng đang bị thử thách, vì đường lối chính trị của Đảng không tương thích với dòng chảy của lịch sử nhân loại đương đại, khiến cho Dân tộc rơi vào cảnh lệ thuộc về chính trị vào đường lối bá quyền đại Hán của Trung Quốc, về kinh tế, thì ngày một tụt hậu xa so với những nước trong khu vực, mà trước đây ta cùng với họ là ngang một trình độ. Vì đường lối sai lầm, khiến cho phương thức quản lý và công nghệ lạc hậu, đang trở thành nước gia công lệ thuộc, về xã hội, văn hóa, giáo dục vừa suy đồi vừa yếu kém, đời sống cùa đa số người dân lương thiện, công nhân, nông dân, người lao động, công chức thấp, đang là nỗi nhục, nỗi xấu hổ của chế độ!

Đường lối đối nội, đối ngoại sai lầm của ban lãnh đạo Đảng, đang đặt Dân tộc trước những hiểm họa, chủ quyền biên cương và Biển đảo bị bá quyền Trung quốc cưỡng chiếm lâu dài, hòa bình và an ninh quốc gia thường trực bị uy hiếp, công cuộc làm ăn sinh sống của nhân dân trên biển bị khống chế…

Tính chính nghĩa của đảng đang bị thử thách nghiêm trọng trên cả mấy vấn đề cơ bản:

Một là, có sớm cải cách để Dân chủ hóa, kiên quyết từ bỏ thể chế và những thiết chế đã hư hỏng cũ kỹ, thực hiện đa nguyên chính trị, hòa giải dân tộc, nhằm phát triển tối đa, tối ưu nội lực của Dân Nước, đưa Đất Nước sớm thoát khỏi tình trạng lac hậu, tụt hậu xa, ra khỏi tình trạng suy đồi thoái hóa đang diễn ra, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của Dân. (Thật kỳ lạ, nói nhà nước công nông, mà đời sống của công nông hiện tình rất thê thảm, thua xa các nước trong khu vực!).

Đây là thử thách của mọi lực lượng chính trị của Dân tộc, nó là hòn đá thử tính chính nghĩa có thật lòng vì Dân vì Nước hay chỉ vì quyền lợi ích kỷ của nhóm cầm quyền, chỉ nhăm nhăm lợi ích của chủ nghĩa, của phe nhóm. Một xã hội có dân chủ dân quyền (chứ không phải quan chủ, đảng quyền), một Đất nước có tự do, hạnh phúc thật sự chứ không chỉ trên câu chữ đầu lưỡi, dân trí được nâng cao, dân quyền được thực hiện, dân sinh được chăm lo cải thiện, là những lý do để tồn tại của tất cả mọi đảng phái, mọi lực lượng chính trị của Dân Nước. Ngót thế kỷ qua với những điều kiện hiện thực như của Việt Nam, những nước trong khu vực đã làm được, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đã duy trì quá nhiều sai lầm khiến cho chính nghĩa ấy đã không thực hiện trọn vẹn, mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại nói một cách vô trách nhiệm là trăm năm nữa cũng không chắc có chủ nghĩa xã hội!

Hai là, độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và biển đảo, an ninh của quốc gia có được bảo vệ vững chắc và trọn vẹn, hay để bị uy hiếp lâu dài, bằng những hành động kiên quyết, khôn ngoan, hay cả tư duy chính trị, cả lời nói, việc làm đều lệ thuộc bá quyền đại Hán. Hành xử của Đảng từ 1958 đến nay đều từng bước lộ rõ sự cam tâm lệ thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc, hữu ý hơn là vô tình buộc số phận của Dân tộc vào sự lệ thuộc Trung Quốc. Phải “thoát Trung”. Không có nghĩa là cắt đứt mọi quan hệ với Trung Quốc nhưng phải tự chủ, tự lập, liên kết với bất kỳ ai để gia tăng thế và lực chống lại dã tâm của Trung Quốc đang hưng phát và đi theo con đường đế quốc chủ nghĩa theo màu sắc đại Hán, đang tìm mọi cách để ngăn chặn sự phát triển tự nhiên, lành mạnh, bức ra khỏi mô hình lạc hậu, trì trệ của Việt Nam.

Một chính sách “đối Trung” lành mạnh, hữu hiệu, tự tôn dân tộc, là thử thách nghiêm trọng tính chính nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc.

Chữ Chính thứ tư: Chính học

Người đầu tiên sử dụng chữ “chính học” là cụ Ngô Đức Kế, trong cuộc tranh biện về Truyện Kiều với nhà văn hóa Phạm Quỳnh: “Chính học và Tà thuyết”. Khái niệm chính học được nêu lên để phân biệt, đối lập với tà thuyết.

Chính học nói giản dị là “học thuyết chân chính”. Vậy có thể lấy những chuẩn mực nào để khẳng định một học thuyết là chính học? Nếu không thì nó sẽ là tà thuyết!

Có ba tiêu chí.

Một là tính đúng dắn, chính xác, lô gích nội tại (của học thuyết) không mâu thuẫn, có thể dùng tư duy khoa học để kiểm chứng. Nó được phản ảnh đến tối đa “tính chân” của nhận thức luận, vì thế nó có tính khiêm tốn để biết rằng nó chỉ là một bước tiệm cận đến chân lý. (Nó không huênh hoang một tấc đến trời như cho mình là chân lý tột cùng, là đỉnh cao muôn trượng, là độc tôn duy nhất…!).

Tính đúng đắn này không chỉ được kiểm chứng bằng tư duy khoa học, mà quan trọng là được chứng minh, kiểm định trong thực tế cuộc sống. Ví dụ cái câu của Lenin huênh hoang là dân chủ xã hội chủ nghĩa cao gấp triệu lần so với dân chủ tư sản. Thực tế của Liên Xô, Trung Cộng, Việt Cộng… đã bác bỏ cái luận điểm tuyên truyền chính trị lừa đảo đó của Lenin! Thực tiễn Việt Nam ngót nửa thế kỷ qua hoàn toàn bác bỏ rằng sự lựa chọn của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản, theo chủ nghĩa xã hội là đúng đắn duy nhất.

Hai là, tính thiện, nó góp phần làm cho cuộc đời, cho con người, cho xã hội, cho dân tộc thật sự có tiến hóa, phát triển, không tạo ra áp bức xã hội. Nó thật sự là nhân văn, nhân ái, nhân đạo. Không tạo ra thế tranh đoạt, ăn cướp khiến đẩy xã hội vào suy đồi, tha hóa. Nó giúp con người phát triển “tận kỳ tính” (tính người phát triển đến độ cao), giúp xã hội đạt tới hài hòa, văn hóa, giúp dân tộc thăng hoa phát triển, giúp nhân loại đạt tới minh triết.

Ba là, nó mở ra nguồn mỹ cảm để cho con người, xã hội, quê hương và cả nhân loại đẹp đẽ lên, trong sạch lên, nhân từ, hòa ái, bao dung. Nó sẽ là nét nhạc như Nguyễn Trãi từng mơ ước: “Sinh đời thái bình ai cũng được ở yên, gặp thuở thánh minh ai cũng được thỏa sống”, và “làm sao cho trong thôn cùng xóm vắng không còn lời hờn giận, oán sầu”.

Nhân loại cho đó là ba chuẩn mực: Chân-Thiện-Mỹ của cuộc đời.

Cái mà đảng tôn xưng là học thuyết, chủ nghĩa Marx – Lenin đã vi phạm cả ba chuẩn mực kể trên. Chủ nghĩa Marx – Lenin thật sự đã thất bại, phá sản. Đảng buộc phải chấp nhận hình thức tư bản chủ nghĩa và mô hình toàn trị do Đảng Cộng sản độc tài lãnh đạo, tức là một thể chế chính trị siêu phong kiến!

Sự tụt hậu toàn diện của đất nước, chính trị lệ thuộc, kinh tế lạc hậu, văn hóa suy đồi, giáo dục khủng hoảng, nhân cách thoái hóa… đang chứng minh sự tà vạy của học thuyết Marx – Lenin và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đảng phải đi tìm cái Chính học đích thực làm tư duy chiến lược, làm triết lý hành động, đổi mới toàn diện và triệt để đường lối, về phương thức hành xử sao cho văn minh, đạo đức, cho thật dân chủ, cả về nhân thân tức là nhân cách mới của đảng viên, của cán bộ . Hãy vứt bỏ tà thuyết Marx – Lenin, kiếm tìm những giá trị minh triết của dân tộc và nhân loại cùng kiến thức mới của thế giới, làm cho tư duy và đường lối thật sự là chính học. K. Marx từng nói:”Bản chất con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội”. Nhân cách của cán bộ, đảng viên thường đều đang hình thành và thể hiện ra trong những mối quan hệ xã hôi mang màu sắc phong kiến lạc hậu, tham lam, ăn trên ngồi trốc, nói như nhà Phật là tham-sân-si, diễn tả như Lenin là vừa tham, vừa cậy quyền vừa dốt. Không có chính học không thể chuyển hóa nhân cách thành văn minh dân chủ được.

Để khẳng định được tính chính học trong tư duy chính trị, trong đường lối, trong phương thức hành xử, Đảng phải kiếm tìm tính chân – thiện – mỹ trong học thuyết của mình. Phải từ bỏ tà thuyết Marx – Lenin, từ bỏ thể chế xã hội chủ nghĩa, từ bỏ nhũng đánh tráo khái niệm đang như là phương thức hành xử chính thống. Phải khẳng định được chính học may ra mới biển đổi được nhân cách, thành con người vừa văn minh, đạo đức, dân chủ. Thế mà vì không có chính học, nên đảng đã duy trì cơ bản là những quan hệ xã hội suy đồi, lạc hậu, vừa siêu phong kiến, vừa tư bản hoang dã, vừa xã thôn cát cứ lạc hậu. Làm sao mà có nhân thân mới văn minh, đạo đức của Đảng cho được.

Đi tìm chính học là một nhiệm vụ hàng đầu của Đại hội XII này!

Chữ Chính thứ năm: Chính Mi


“Chính mi” là chữ nói lái của dân Quỳnh Lưu, dân xứ Nghệ hài hước để khẳng định rằng Chính Mi là Chí Minh.

Vấn đề Chính mi có hai nội dung. Một là vấn đề nhân thân Hồ Chí Minh. Và hai là nhân cách của cán bộ đảng viên, có “chính mi” hay không. Tức là có thật là cách mạng, có thật là văn minh, dân chủ hay vẫn chỉ là quan chủ phong kiến, có thật là sạch sẽ, lành mạnh hay chỉ là phường giá áo túi cơm, có thật là công bộc, người phục vụ chung hay là nhóm ăn trên ngồi trốc, v.v. Cả hai vấn đề này đều có tầm quan trọng của sự mất còn của Đảng và còn liên quan cả đến vận mệnh đất nước!

Về vấn đề thứ nhất, Hồ Chí Minh là ai? Từ nhỏ sau khởi nghĩa Tháng Tám, tôi đã nghe câu hỏi cụ Hồ là ai, có phải là Nguyễn Ái Quốc hay không. Có lẽ vì thế mà Chủ tịch Hồ chí Minh phải tự mình viết ra cuốn Cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, cuốn này có một dị bản in bằng tiếng hoa xuất bản ở Hồng Công. Trong cả hai cuốn, cụ Hồ gián tiếp nhận mình là Nguyễn Ái Quốc.

Dăm năm trở lại đây, trong xã hội lại râm ran dư luận về một cuốn sách nhan đề Hồ Chí Minh sinh bình khảo (khảo cứu cuộc đời của Hồ Chí Minh) của tác giả Hồ Tuấn Hùng, xưng là cháu nội của nhân vật trong sách. Sách cố chứng minh rằng sau khi Nguyễn Ái Quốc vì bệnh lao mà mất ở Trung Hoa vào 1932, thì Quốc tế cộng sản đã đem Hồ Tập Chương huấn luyện để đóng thế Nguyễn Ái Quốc. Hồ Tập Chương là người dân tộc Hẹ, sinh ở Đài Loan, vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, cán bộ của Quốc tế cộng sản, đã cùng với Nguyễn Ái Quốc tham dự cuộc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ở sân banh Hương Cảng.

Về Nguyễn Ái Quốc đã chết năm 1932, thì chính Hà Huy Tập một Tổng Bí thư của Đảng đã khẳng định trong một tài liệu hiện đang là tư liệu chính thức của Đảng, được lưu trữ tại Cục Lưu trữ của Trung ương. Không thấy ai nghiên cứu, khẳng định đúng sai của vấn đề này. Nếu tư liệu này của Hà Huy Tập là chính xác, thì nhân thân của Hồ chí Minh có vấn đề.

Còn Hồ Chí Minh trong một bài báo nhan đề Đảng ta, đăng ở trang 547, tập 5, Hồ Chí Minh Toàn tập có câu: “Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.

Trong 7, 8 đại biểu ngoài, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi…”.

Như thế là “Bác Hồ” đã thừa nhận Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là hai người.

Chi tiết này rõ ràng là chứng minh cho lập luận của Hồ Tuấn Hùng khi khẳng định rằng Hồ Tập Chương chính là nhân vật Hồ Chí Minh của Việt Nam. Điều lạ lùng là trong giới nghiên cứu ở Viện Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành của Đảng cũng không thấy lên tiếng phản bác đúng sai.

Còn một tư liệu nữa cần nghiên cứu. Đó là nhân vật Hồ Quang, thiếu tá Bát lộ quân, nghe nói dã từng trong một đại đội với Diệp Kiếm Anh. Nghe nói nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã cho ấn hành cuốn sách về nhân vật Hồ Quang và được coi là Hồ Chí Minh. Tôi chưa được tiếp cận tài liệu, nên chỉ giới thiệu để nghiên cứu.

Như vậy nghi án Hồ Chí Minh là ai, thật sự là có cơ sở.

Vấn đề này trở thành nghiêm trọng, vì không nghiên cứu và tiến hành những khảo sát một cách khoa học để bác bó những luận cứ kể trên, vô hình trung là đã mặc nhiên thừa nhận Hồ Chí Minh là người ngoại quốc (Trung Hoa).

Nếu không khẳng định rõ Hồ Chí Minh là ai, có thật “chính mi” là người Quỳnh Lưu hay Nam Đàn Nghệ An, hay lại là một người Tàu thì chúng ta đang đứng trước một vấn đề pháp lý nghiêm trọng. Vì luật pháp không cho phép một người nước ngoài không tuyên bố chuyển quốc tich Việt Nam lại được là Chủ tịch nhà nước hay Chính phủ!

Vì tính nghiêm trọng của vấn đề mà Đại hội XII phải quyết định thành lập một tiểu ban độc lập nghiên cứu nghi án này.

Vấn đề này đúng là liên quan đế tính chính danh, chính thống của Đảng và nhà nước hiện nay.

Thứ hai là vấn đề “chính mi” của nhân cách của đảng viên và cán bộ, của đảng, cố nhiên là với cả bộ máy nhà nước (đa số công chức cán bộ nhà nước cả quân đội, công an là đảng viên).

Chúng ta hãy đặt một câu hỏi: Cớ sao đội ngũ cán bộ, công chức… đã trở nên ngày một suy thoái trầm trọng, đến nỗi như vô phương cứu chữa? Tham nhũng tràn lan, hoạt động kém hữu hiệu kéo dài.

Phải giải quyết vấn đề “chính mi”. “Chính mi” có là người đàng hoàng, tử tế văn minh, tiến bộ hay là phường giá áo túi cơm, khi có chức vụ thì lập tức ăn trên ngồi trốc, khi có quyền lực thì lập tức trở thành “vua chúa”, thành lãnh chúa phong kiến mà không thể nào ngăn chặn được.

Đây là vấn đề lớn, rõ là một thách đố của chế độ. Nếu không xây dựng được những quan hệ xã hội văn minh, lành mạnh, tiến bộ, nhân văn, cứ càng vận động thi đua, phong trào gia đình, phường xã văn hóa mới, càng hình thức chủ nghĩa… sẽ chỉ là may tấm áo đẹp để che ung nhọt trong cơ thể mà thôi.

Kết luận ngắn gọn: Đại hội XII không nghiên cứu những vấn đề then chốt, cốt lõi của năm chữ chính, sẽ lặp lại con đường cũ, sẽ lại một chu kỳ lịch sử tắc tị và trì trệ nối tiếp. /.

K. M.

Tôi gởi những suy tư từ một thái độ trách nhiệm của một người có ít nhiều trải nghiệm tới toàn thể các vị đại biểu của Đại hội XII. Mong được lắng nghe và phản tỉnh.

Tác giả gửi BVN.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »



Nếu không nhìn lại, mình sẽ mất quá khứ và tương lai .


Châu Hiển Lý ( Bộ đội tập kết 1954 ).

Nếu không nhìn lại, mình sẽ mất quá khứ và tương lai .

Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!

150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 37 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.

Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.
Nhìn lại sau hơn nửa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :
_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?
_ Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?
_ Tại sao sau khi được “giải phóng” khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?
_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?

Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?
_ Tại sao đàn ông? của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?
_ Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?
_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?
Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường, phải đi làm công cho các nước tư bản?
_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?

Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xã hội phi nhân tính. Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghĩa.
Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.

Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.
Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .

Hiện tượng “Mửa ra rồi nuốt lại” này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.
Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất.

Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.

Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và “nhai lại” suy nghĩ của kẻ khác.

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối, những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…
Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.

Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành “phương hướng hành động” chung cho tất cả mọi người.
Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…

Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.
Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia , bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang, vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian.
Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp “vô sản” âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.
Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rũ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ĐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xã hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vũ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muỗi mòng giữa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.

Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo.
Chẳng hạn đảng nói “xây dựng xã hội không có bóc lột” thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói ” một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản” thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói “đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất” nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.

Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là… còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !
Nhân dân đang hy vọng rằng Đảng sớm tự ý thức về tội lỗi tầy trời của mình. Đảng sẽ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chắp vá một cách trơ trẻn.
Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận: “Tất cả đều là lừa bịp!”
Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ… đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.

Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :
“Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!”
Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ?

Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy?
Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chỗ cho cái xấu?
Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai!

Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.
Châu Hiển Lý
(Bộ đội tập kết 1954)

__._,_.___

Post Reply