QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

TRÊN ĐỒI CAO

Khuất Đẩu

Họ chưa là gì của nhau. Anh, vẫn gọi nàng bằng cô và xưng tôi. Cô, tuy gọi bằng anh nhưng cũng không xưng em. Cứ như hai kẻ xa lạ mới gặp nhau lần đầu.

Nhưng họ đã quen biết nhau khá lâu.

Anh là sĩ quan pháo binh, trông coi hai khẩu pháo 155 ly đóng tại sân vận động quận lỵ, sát cạnh trường của cô.

Cả hai không có duyên cớ gì gặp nhau, nếu không có những lá đơn thưa kiện của trường. Cứ mỗi lần, hai khẩu pháo thi nhau nhả đạn, cả thầy và trò đều phải tháo chạy ra khỏi lớp. Bao nhiêu ngói đều lần lượt rơi xuống đất, tường thì nứt, cửa thì xệch xạc. Đó là chưa kể cái mùi thuốc mồi nồng nặc đến cả tiếng đồng hồ sau vẫn chưa chịu tan.

Nắng, trông thấy cả trời xanh. Và mưa, nước lênh láng như ngập lụt.

«Trường học mà như thế, kiện là phải!».

Đó là kết luận của anh. Nhưng anh bảo, «tôi đâu có muốn thế. Quận bảo đóng ở đâu thì đóng ở đó. Cả năm, đóng cạnh trường cô, tôi biết ai cũng khó chịu. Nhiều lúc thấy thầy trò leo lên mái che chắn bằng bao nilon, tôi thực áy náy. Chiến tranh là vậy, nhiều cái thật phi lý!»

«Không phải nhiều cái mà là tất cả», cô nói cay nghiệt.

«Có lẽ là vậy, nhưng biết làm sao được. Tôi đâu có muốn đi lính. Cũng như cô đâu có muốn giảng bài trong mùi thuốc súng. Chúng ta bị cuốn vào cuộc chiến chết tiệt này, không biết đến bao giờ!»

Cuộc chuyện trò của họ cứ như thế, nhàn nhạt, chan chán. Anh cố giải bày, còn cô vẫn cứ cố chấp. Làm như thể bao nhiêu tai họa là tự anh gây ra. Vậy nên, chẳng bao giờ thấy họ ngồi thân mật với nhau trong một quán ăn hay một quán cà phê não nuột những bài ca phản chiến. Một chút gì đó nghe ra có vẻ tình cảm, thì chỉ là mùi hương kín đáo trong những trang sách.

Anh thường cho cô mượn mà không bao giờ muốn đòi lại: những Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh, Giã từ vũ khí, Một thời để yêu và một thời để chết…

Toàn là những sách về chiến tranh. Cứ tưởng cô sẽ ném vào một góc nào đó, không ngờ cô lại đọc say sưa. Cuộc chiến ở Tây Ban Nha, ở Đức thật khốc liệt, tàn bạo nhưng nó không bẩn thỉu và hèn hạ như ở đây, một nơi, người ta sẵn sàng giết cả đàn bà và trẻ con để lên án lẫn nhau là tàn ác!

Dần dần cô cũng nhận ra thấp thoáng bóng dáng anh trong đó, một kẻ lạc lõng, cô độc, mang trên lưng một nỗi buồn dài.

Lúc này, hai khẩu pháo đã dời ra khỏi phố quận, đặt trên một ngọn đồi cheo leo.

Anh bảo: «ở đó tha hồ mà ngắm mặt trời lặn. Đẹp thì có đẹp, nhưng buồn quá!». Một lúc, anh lại nói: «nhất là ngồi ngắm một mình!» Lúc ấy, cô mới chịu cười, một nụ cười đối với anh là dịu dàng quá đỗi.

«Thế thì anh giống như hoàng tử bé rồi. Tôi chỉ ao ước một lần thôi mà chẳng được!»

«Sao vậy?», anh hỏi.

«Chẳng sao cả, lên một mình thì có mà điên!»

«Tôi sẽ đưa cô lên!»

«Lại để nhìn hai con quái vật ấy à?»

«Đâu có sao. Giờ nó hiền lắm. Mỗi đêm bắn vài chục quả vào các mật khu để các cụ ở quận ngủ ngon, vậy thôi.»

«Nó hiền với các anh chứ không hiền với tôi!»

«Thế thì hết chiến tranh tôi sẽ đưa cô lên.»

«Chừng đó cả tôi và anh đều chống gậy, lên sao nổi!»

«Không lâu đến thế đâu. Mỹ rút, Đại Hàn rút, cũng sắp hòa bình rồi. Có điều Bắc Việt không rút, chẳng biết hòa bình kiểu gì: trong chiến thắng hay chiến bại!»

«Kiểu gì thì cũng không giống như «nước thanh bình ba trăm cũ»

Khi hàng trăm khẩu pháo dấu kín trong núi rừng Buôn mê thuột cùng lúc nhả đạn, cứ tưởng khẩu đội pháo của anh phải gấp rút lên trấn giữ ở đèo Dốc cao để khống chế con đường tiến quân của địch, thì được lệnh kéo vào Phan Rang. Rồi lại vào Phan thiết, Long Khánh…Sau cùng bỏ cả pháo cả xe, chạy bộ, rồi lại phải tháo cả giày, vứt cả mũ để khỏi bị bắt sống.

Một cuộc tháo chạy lạ lùng và kỳ quái nhất trong lịch sử chiến tranh. Còn hơn quân Napoléon khi rút khỏi Moscow, quân Anh chết dí ở Dunkerque!

Trong cơn hoảng loạn đương nhiên họ chẳng thể nào nghĩ đến nhau. Họ còn có cả cha mẹ, anh em. Nhưng những lúc một mình trong cô đơn và cơ cực, người nọ nhớ tới người kia với bao nhiêu điều hối tiếc.

Anh, trong trại cải tạo, càng khổ nhục lại càng nhớ tới ngọn đồi quạnh hiu và anh cứ tiếc là không được ngồi với cô dù chỉ một lần để xem mặt trời lặn. Khi cô bảo anh giống như hoàng tử bé, quả thật anh sướng ran, chiều nào anh cũng ngồi trên chiếc ghế và cứ dịch chuyển mãi cho đến khi mặt trời khuất hẳn.

Còn cô, sau khi bị đuổi khỏi trường, không biết làm gì hơn, chỉ ngồi dài lưng ra coi quán cho mẹ, cũng ao ước phải chi ngày đó đừng kiêu ngạo khép kín, đừng cố chấp thì đã ít ra là một lần, theo anh lên đồi, đưa tay để anh dắt qua những gộp đá…!

Ôi chao, sao mà sến và cải lương quá, (đọc tới đây chắc có người kêu lên như vậy), nhưng nếu không cải lương và sến như thế, thì bốn mươi năm sau, khi người đàn bà đã trên sáu mươi và người đàn ông đã bảy mươi, làm sao có thể gặp nhau được.

Và cũng lẩn thẩn làm sao khi ta thấy họ gặp nhau trên đồi.

Họ chưa phải chống gậy. Ông vẫn còn đủ sức nắm tay dắt bà bước qua những gộp đá chông chênh và bà, một đôi lúc quá đà tưởng sắp ngã vào ông. Trên đỉnh đồi toàn đá sỏi, chẳng còn để lại chút gì dấu vết của hai khẩu pháo. Những vỏ đạn, ngay cả những viên thuốc mồi, những bao cát, những vòng dây thép gai đã được dân chúng quanh vùng nhặt nhạnh đào bới mang đi. Giờ, chỉ còn có bầu trời, vẫn cao và xanh ôm lấy ngọn đồi bé nhỏ giống như tinh cầu của hoàng tử bé.

Họ ngồi xuống bên nhau. Và, như hai đứa nhỏ cùng chơi một trò chơi bí mật, họ ngắm mặt trời đang lặn. Trời và đất như cũng đang ngỡ ngàng. Xanh hơn, cao hơn. Mặt trờì tưởng chừng không chỉ một lần lặn, mà đến cả chục lần. Cứ lặn xuống rồi lại trồi lên, có vẻ như muốn bù đắp chọ họ những gì đã mất.

Như chàng chăn chiên xứ Provence, ông kể cho bà nghe những câu chuyện lưu lạc ở xứ người, những vùng đất ông đã qua, những sa mạc nắng cháy hoang vu, những con sông dài bất tận, những ngôi nhà chạm tới lưng trời và nỗi buồn lạc lõng, đất và người của ai chứ đâu phải của mình, những hàng cây cổ thụ râm mát, những cây cầu rực sáng trong đêm, đẹp ngời ngời như thế nhưng sao không bằng bụi chuối sau hè, cây cầu khỉ bắc qua một con lạch, và những lúc tan trường bao nhiêu tà áo bay bay như cánh chim, trong khi cô giáo kiêu kỳ đủng đỉnh gõ từng bước trên hè phố như một nàng quận chúa …

Đó là bản trường ca ngọt ngào, êm ái, mà bà được nghe, dù muộn. Và khi sương đêm đã thấm lạnh, bà gục đầu lên vai ông mà ngủ. Cũng là lúc, ông nói một câu, lẽ ra phải nói những bốn mươi năm trước: «Tôi yêu em xiết bao!»

Giả sử trước kia ông nói như vậy, thì sao nhỉ? Thì hai người sẽ lấy nhau, sẽ sinh ra những đứa con, bà sẽ một thân một mình vừa nuôi con vừa nuôi chồng trong tù, sau đó họ sang Mỹ theo diện HO, bà gọt khoai, rửa bát trong nhà hàng, ông cắt cỏ, đẵn cây, rồi cố học để có thể ngoi lên, làm đến hai job, cứ chồng về thì vợ đi, chồng đi thì vợ về, ngay cả gặp nhau trên giường cũng khó huống gì là rủ nhau lên đồi, họ dốc sức nuôi con, lo cho chúng vào đại học, hãnh diện khi chúng tốt nghiệp, rồi chúng có nhà riêng để lại căn nhà mênh mông chỉ có hai người, ông thì tìm vui trong internet, bà ngồi xem phim bộ.

Đến một lúc nào đó ngôi nhà chỉ còn một người. Rồi chẳng còn người nào nữa!

Vậy thì, mất bốn mươi năm nhưng còn được một đêm như đêm nay, cho dù có vì cảm lạnh mà hai người không bao giờ thức dậy nữa, thì cũng giống như một câu vọng cổ đang xuống xề, xin hãy cứ vỗ tay như thường lệ!

4/2014
Khuất Đẩu
Nguồn: Tác giả gửi

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Tô Phạm Liệu: Người trở lại Charlie

Phạm Anh Dũng

Lật qua tờ nhật báo Người Việt ngày 5 Tháng Mười 1997, một tin cáo phó làm tôi giật mình chú ý đọc ngay: “...Tô Phạm Liệu (1941-1997), Y Sĩ Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù... đã không còn với chúng ta kể từ ngày 29 Tháng Chín 1997...”

Vậy là anh Liệu đã từ giã cõi đời này!

Hình ảnh của Tô Phạm Liệu trở về từ dĩ vãng xa xưa.

Lần đầu tiên tôi gặp Tô Phạm Liệu đã lâu lắm rồi, đã hơn 27 gần 28 năm trước đây.

Ngày đó, vừa học xong lớp Y Khoa Năm Thứ Nhất ở trường Ðại Học Y Khoa Sài Gòn, tôi đã có một số khá đông bạn bè cùng lớp rủ nhau nộp đơn, đi thi và đỗ vào trường Quân y.

Một ngày Tháng Giêng 1970, ngày nhập ngũ, chúng tôi rủ nhau nao nức đi trình diện ở trường Quân Y. Một đám sinh viên Y Dược Nha đến và được tập trung ở cổng trường chỗ gần trạm kiểm soát ra vào. Chúng tôi là những tân sinh viên Quân Y. Người đầu tiên ra gặp chúng tôi là một sinh viên sĩ quan Quân Y. Anh mặc quân phục xanh bộ binh, đeo lon trung úy có hai bông mai vàng trên một nền nhung đỏ thẫm ở trên vai với dấu hiện con rắn vàng, của ngành quân y, và dấu hiệu một cánh dù màu xám, bằng nhảy dù, trên ngực áo. Thoáng gặp anh, chúng tôi cũng phải để ý ngay, vì anh là một người to lớn, vừa to vừa cao trông như là một “ông hộ pháp.”

Không cười đón niềm nở chút nào cả, với giọng nói to, vang vang trong buổi chiều nắng gió, anh tự giới thiệu. Tôi nhớ đại khái rất ngắn và gọn. Anh cho biết tên là Tô Phạm Liệu, sinh viên sĩ quan Quân Y năm thứ sáu và anh được cấp trên đề cử làm Sinh Viên Sĩ Quan Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội Tân Sinh Viên.

Anh Liệu dẫn khoảng bốn năm chục người chúng tôi vào một sân rộng lớn của trường Quân Y, nơi có một cột cờ với lá cờ vàng ba sọc đỏ khá cao. Ðó là Vũ Ðình Trường của trường Quân Y và ở đó đã có thêm sẵn hai sinh viên sĩ quan quân y khác đứng chờ sẵn từ lâu. Chúng tôi được lệnh xếp hàng và ba ông đàn anh dẫn chúng tôi chạy vòng quanh sân cờ cho đến khi tất cả hết sức lực và có một người phải ngất xỉu.

Ðó là kinh nghiệm đầu tiên của đa số chúng tôi đối với quân đội. Ðó là lần đầu tiên hành xác để mở đầu cho Tám Tuần Lễ Huấn Nhục của Ðại Ðội Tân Sinh Viên Sĩ Quan Quân Y. Ðối với những “thư sinh trói gà không chặt” mà còn “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm,” chỉ biết việc sách đèn, đây quả là một thử thách khá lớn lao.

Và đó cũng là lần đầu tiên tôi gặp Tô Phạm Liệu. Trong tám tuần lễ của “mồ hôi, nước mắt” chúng tôi đã được các đàn anh của các khóa trước “chỉ dạy”một cách rất tận tình bằng mọi cách. Chúng tôi được học qua căn bản quân sự, căn bản thao diễn. Và mọi người được thay nhau tập hít đất, tập thở, tập chạy, tập cười... theo lệnh các huynh trưởng!

Các đàn anh chia ra từng toán ba người. Anh Tô Phạm Liệu đích thân làm trưởng một toán. Mỗi toán có nhiệm vụ hướng dẫn các tân sinh viên một ngày. Riêng anh Liệu hình như ngày nào cũng có mặt để quan sát các hoạt động, tiến triển trong việc huấn luyện các tân sinh viên Quân Y. Anh Tô Phạm Liệu rất tận tâm bỏ khá nhiều thì giờ vào việc dẫn dắt đàn em mới nhập ngũ. Những người nào mà có vẻ lười biếng công việc tập tành là khó qua khỏi mắt của đàn anh. Ai đau thật hay chỉ ốm giả anh cũng biết. Hình như anh biết rõ về bản chất, tính tình của từng người một. Anh là người gần gũi với chúng tôi nhất trong những ngày đầu tiên khi mới gia nhập quân ngũ.

Sinh hoạt với anh một thời gian ngắn, chúng tôi nhận thấy ngay ngoài “cái vỏ” lạnh lùng nghiêm nghị của anh còn có một bề trong khác hẳn với một tâm hồn đầy tình cảm và hiểu biết. Anh Liệu thường thấu hiểu gần như mọi chuyện xẩy ra trong đại đội tân sinh viên quân y và thường giải thích hay giải quyết, thường là bằng tình cảm, những vấn đề khó khăn hay khó nói nhất. Nhiệm vụ chỉ huy hướng dẫn đôi khi làm anh có vẻ khó khăn và khô khan nhưng những lúc nói chuyện với anh Liệu trong khi rảnh rang đã làm chúng tôi thấy anh là một người rất nhiều tình cảm, rộng lượng và rất thương mến những anh em trong gia đình Y Dược Nha trong ngành Quân Y. Một điều đặc biệt nhất là Tô Phạm Liệu nói chuyện rất hay, rất lôi cuốn người nghe, nhất là khi anh đứng trước hàng quân. Tôi được biết anh đã còn là một huynh trưởng trong ngành Hướng Ðạo Việt Nam. Sự việc anh giỏi về diễn thuyết hay chỉ huy là đã có kinh nghiệm từ lâu.

Nhiệm vụ khó khăn của anh là cho chúng tôi được có những khái niệm ban đầu về Quân Ðội rồi cũng thành công. Tất cả đám tân sinh viên Y Nha Dược đều qua khỏi tám tuần lễ huấn nhục gian lao. Chúng tôi được tổ chức lễ gắn alpha và trở thành những sinh viên Quân y hiện dịch thực thụ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ðêm hôm gắn alpha, anh có nói chuyện riêng khá cảm động với một vài người chúng tôi. Anh cho biết rất hài lòng với kết quả và nhắn nhủ công chuyện tương lai. Tô Phạm Liệu có nói ngày nào đó chúng tôi sẽ hiểu rõ đàn anh hơn khi đứng ra hướng dẫn những đàn em sau này. Riêng tôi về sau này rất thông cảm anh vì chính bản thân tôi lại “được” cử ra làm nhiệm vụ của anh, dẫn dắt các tân sinh viên Quân Y, khi khóa sinh viên sĩ quan của chúng tôi trở thành khóa đàn anh lớn nhất trong trường Quân Y.

Năm chúng tôi vào Quân Y cũng là năm khóa 16 Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch Quân Y ra trường. Anh Tô Phạm Liệu chọn binh chủng Nhảy Dù và nhiệm sở đầu tiên là một tiểu đoàn Nhảy Dù. Tô Phạm Liệu đã chính thức trở thành y sĩ của một tiểu đoàn tác chiến của binh chủng nhảy dù.

Những ngày sau đó tôi rất ít gặp anh Liệu. Chúng tôi ở lại hậu phương hoàn tất công chuyện học hành ở những trường Y Nha Dược. Anh Liệu và các anh khác tản mác trong những đơn vị của quân đội khắp bốn vùng chiến thuật. Và tôi chỉ gặp lại anh Liệu một hai lần gì đó trong một khoảng thời gian gần hai năm trời khi anh về ghé thăm trường quân y trong những dịp nghỉ phép giữa những ngày ở mặt trận. Những ngày đó anh vẫn cao lớn và mặc quần áo rằn ri nhẩy dù trông rất oai hùng. Chúng tôi cũng chỉ có dịp nói chuyện chào hỏi chút ít và tôi chỉ biết là anh đã trải qua khá nhiều thử thách ngoài mặt trận nhưng không có nhiều chi tiết.

Và đến một ngày tháng, ở một nơi... của định mệnh.

Thời điểm là năm 1972, vào mùa Hè nắng cháy.

Ðịa điểm là Charlie, Cao Nguyên Nam Việt Nam.

Tôi được nghe đến, được biết đến, được hiểu... Tô Phạm Liệu nhiều hơn.

Bốn năm trước đó, năm 1968, năm bầu cử tổng thống Mỹ là khi Bắc Việt cho tổng tấn công và thất bại trên các chiến địa Tết Mậu Thân nhưng phải nói họ đã có ảnh hưởng trong việc tuyên truyền chính trị. Hình ảnh chiến tranh Việt Nam tràn ngập trên đất Mỹ theo vào từng nhà riêng của dân Mỹ bằng máy vô tuyến truyền hình. Dân chúng Hoa Kỳ đã bắt đầu chán sợ cuộc sống chiến tranh đẫm máu và dai dẳng cách xa một nửa trái đất. Ðầu óc thực tế của họ đã đếm nhiều đến số tiền trang trải cho cuộc chiến. Hình ảnh quan tài những người Mỹ chết ở Việt Nam đem về Mỹ được chiếu rõ trên truyền hình làm nao núng cả quốc gia. Các phong trào phản chiến Mỹ hoạt động mạnh hơn. Ứng cử viên Tổng thống Mỹ đều biết rõ tầm quan trọng của việc cần phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Năm 1972, một lần nữa là năm bầu cử tổng thống Mỹ. Do đó, một lần nữa, cũng là lúc Bắc Việt cần có tiếng vang vọng với bất cứ giá nào. Ðại Tướng Bắc Việt Võ Nguyễn Giáp còn nghĩ là có thể chiếm đoạt miền Nam vào lúc này.

Cũng như Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân năm 1968, Tướng Giáp đã lại “thí quân” và lần này quyết định tấn công với ba mặt trận lớn được bùng nổ vào mùa Hè 1972.

Thứ nhất: Mặt Trận Giới Tuyến tại vùng Phi Quân Sự. Việt Cộng đã bất chấp tất cả mọi ký kết của chính họ ở Hiệp Ðịnh Genève 1954. Họ đã cho hai sư đoàn 304 và 308 tăng phái bởi bốn Trung Ðoàn Ðặc Công với hơn 200 chiến xa của Trung đoàn 203 và 204 và thêm ba Trung đoàn Pháo Binh vượt khu Phi Quân Sự đánh chiếm Quảng Trị.

Thứ hai: Mặt Trận Biên Giới chiếm đánh Lộc Ninh, An Lộc do các sư đoàn Cộng Sản 5, 7 và 9 cùng với hơn 200 xe thiết giáp. Trong khi Sư Ðoàn 1 Bắc Việt quấy rối vùng Ðồng Bằng Cửu Long để cầm bớt quân đội Việt Nam lại vùng IV chiến thuật.

Thứ ba: Mặt trận Cao Nguyên thì có hai Sư đoàn 2 và 320v ới cùng một trung đoàn chiến xa đánh chiếm vùng Kontum, Pleiku. Trong khi Sư đoàn 3 Cộng Sản đánh vùng Bình Ðịnh.Tại Cao Nguyên, Tướng Võ Nguyên Giáp mưu định cắt Miền Nam thành hai mảnh.

Thời điểm là Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972.

Ðịa điểm là Charlie của chiến trường Cao Nguyên.

Trong quyển sách viết về chiến tranh Việt Nam “Mùa Hè Ðỏ Lửa,” Phan Nhật Nam đã viết trong đoạn đầu tiên “Charlie, tên nghe lạ quá”:

“Quả tình nếu không có trận chiến mùa Hè 1972, thì cũng chẳng ai biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum. Charlie hay Cải Cách hay ‘C’ đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Poko và đường 14, Ðông Bắc là Tân Cảnh, với 12 cây số đường chim bay, Ðông Nam là Kontum thị trấn cực Bắc của Tây Nguyên... Charlie lọt giữa bị bao vây bởi căn cứ 5, căn cứ 6, ở phía Bắc, những mục tiêu quân sự nổi tiếng, những vị trí then chốt giữ cửa ngõ vào Tân Cảnh mà bao nhiêu năm qua, bao nhiêu mùa Hè, mùa ‘mưa rào,’ báo chí hằng ngày trong và ngoài nước phải nhắc tới khi những hạt mưa đầu mùa rơi xuống miền núi non xương sườn cực Tây của quê hương Việt Nam...”

“Năm nay, sau bao nhiêu lần thử thách từ mùa mưa của năm 1971 qua đầu xuân của 1972, Bắc Quân vẫn không vượt qua hai cửa ngỏ. Căn cứ 5, Căn cứ 6... Cộng quân đổi hướng tiến lòn sâu xuống phía nam của hai căn cứ trên để tiếp tục sự nghiệp ‘giải phóng’ với mục tiêu cố định: Tân Cảnh, cắt đường 14...”

Lữ đoàn 2 Nhảy Dù được cử đến lập một vòng đai để giữ những yếu điểm trong vùng quanh Quốc Lộ 14 và Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù có nhiệm vụ đóng giữ Charlie. Tô Phạm Liệu, người y sĩ trưởng của Tiểu đoàn, một người sĩ quan Nhảy Dù, đã được thả đến Charlie cùng với Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù, Tiểu đoàn Nhảy Dù mới nhất của Sư đoàn Nhảy Dù Việt Nam, vào ngày 2 Tháng Tư.

Sau đó, tại Charlie, một trận đánh oai hùng và bi thương của người lính Nhảy Dù đã xẩy ra. Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù là Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo tốt nghiệp khóa 14 Trường Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt. Trung Tá Bảo có tính tình giản dị và là người chỉ huy rất giỏi, nhiều kinh nghiệm chiến trường. Ông gia nhập Nhảy Dù ngay sau khi ra trường võ bị, dự nhiều trận chiến khốc liệt chiến thắng nhiều và đã bị thương hai lần ở mặt trận.

Tuy vậy, lần này Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù bị bao vây bởi cả một sư đoàn Bắc Việt, Sư Ðoàn 320 có mang danh là Sư Ðoàn Ðiện Biên và cũng được gọi là Sư Ðoàn Thép tăng phái thêm Trung Ðoàn 64 của Sư đoàn Sao Vàng Cộng Sản. Không phải đoán cũng thấy ngay là một chiến thuật thí quân lấy thịt đè người. Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù và Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo bây giờ có lẽ giống như một con hổ trong lồng.

Ngày 11 Tháng Tư là lúc Cộng Sản sửa soạn tấn công. Hàng trăm quả pháo rót vào Charlie kể cả đại pháo 130mm với đạn xuyên phá “delay.” Ðây là loại đạn đặc biệt nguy hiểm, không nổ ngay khi chạm đất mà sẽ nổ sau khi đã xuống dưới mặt đất khoảng hơn một thước để tàn phá những hầm trú ẩn.

Ngày 12 Tháng Tư, Cộng Quân tiến đánh. Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù kể cả Bác Sĩ Quân Y Tô Phạm Liệu đã quần thảo với lính Cộng của Sư Ðoàn Ðiện Biên tranh thủ từng thước đất. Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo, nhiều sĩ quan và binh sĩ nhảy dù đã hy sinh tại mặt trận.

Ngày 15 Tháng Tư 1972, Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù tan rã. Chính bản thân Tô Phạm Liệu cũng bị thương ở chân. Tô Phạm Liệu và thiếu tá tiểu đoàn phó đã dẫn một nhóm nhỏ còn lại và các thương binh rút khỏi Charlie. Và nhóm này cuối cùng được trực thăng “bốc” đi thoát. Một số khác chạy bộ băng rừng về. Xác chết của nhiều quân nhân và của Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo đã không đem được về và đã để lại ở Charlie.

Nhiều chiến sĩ nhảy dù đã anh dũng “ở lại” Charlie.

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sau này đã cảm hứng vì sự hy sinh của Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo và những chiến sĩ nhảy dù khác tại mặt trận Charlie mà đã sáng tác “Người - Lại Charlie,” một bản nhạc khá hay và cảm động:

“Anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie.
Anh!
Anh! Hỡi anh giã từ vũ khí.
Vâng chính anh là ngôi sao mới, một lần này chợt sáng trưng, là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng.
Này anh!
Anh! Hỡi anh ở lại Charlie.
Anh!
Vâng, chính anh là loài chim quí.
Ôi, cánh chim trùng khơi vạn lý, một lần dậy cánh bay, người để cho người nước mắt trên tay...”

Sự kiện Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù tan rã ở Charlie khi bị hơn một sư đoàn bộ đội Bắc Việt tấn công với đại pháo và chiến xa là chuyện dĩ nhiên phải xảy ra. Nhưng điều quan trọng hơn là sự hy sinh dũng cảm của những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã gây tổn thất nặng cho đối phương và ảnh hưởng đến tinh thần của cán binh Bắc Việt.

Tuy là ngay sau đó, Lữ Ðoàn 2 Nhảy Dù phải bỏ cả Tân Cảnh về Kontum. Tuy là các sư đoàn Bắc Việt kiểm soát được Quốc lộ 14. Tuy là họ đã bao vây thành phố cao nguyên Kontum. Tuy là họ dốc toàn lực đánh Kontum hai lần ngày 14 và 25 Tháng Năm. Nhưng họ vẫn thất bại. Cuối cùng Cộng Sản Việt Nam vẫn không đạt được mục tiêu vào năm 1972 và phải rút lui tại mặt trận miền cao nguyên.

Mặt trận biên giới nổ lớn tại An Lộc-Bình Long. Bộ đội Cộng Sản hàng hàng lớp lớp biển người được yểm trợ bởi hàng trăm chiến xa tối tân và đại bác hỏa tiễn hùng hậu đã tràn ngập mặt trận. Nhưng họ đã phải đứng khựng lại ở quận An Lộc, cứ điểm quan trọng ngăn cản đường tiến của Bắc Quân đến Quốc lộ 13 để về “giải phóng” Sài Gòn. Trong khoảng 100 ngày gần 60 ngàn quả đại bác đã bắn vào độ một cây số vuông của quận lỵ nhỏ bé An Lộc. Năm lần Việt Cộng đã mở những cuộc tấn công. Cả năm lần Bắc Quân phải chùn bước. Người hùng Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng và các lực lượng phòng thủ với sự phụ lực của Ðại Tá Lê Quang Lưỡng và Lữ đoàn 1 Nhảy Dù cùng với sự yểm trợ với sự phụ lực của Ðại Tá Lê Quang Lưỡng và Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù cùng với sự yểm trợ hữu hiệu của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa và Không Quân Hoa Kỳ đã cho Bắc Việt một bài học cay đắng, họ cho tướng Võ nguyên Giáp biết thế nào là “tử thủ.” Ngày 8 Tháng Sáu 1972, Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù tiến vào thành phố, đã “bắt tay” được với tiểu đoàn Nhảy Dù “bạn,” Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù là đơn vị đã được trực thăng vận đến An Lộc mấy ngày trước.

An Lộc hoang tàn. Nhưng An Lộc vẫn đứng vững.

An Lộc đẫm máu. An Lộc đầy lửa khói. Nhưng An Lộc vẫn còn.

Cuối cùng Bắc Quân phải rút lui.

Mặt trận Vùng Hỏa Tuyến. Ngay những ngày đầu tiên Việt Cộng đã tràn ngập Quảng Trị và Sư Ðoàn 3 Bộ Binh Việt Nam sau đó phải tan rã chạy về phía Nam. Dân chúng Quảng Trị ghét sợ cộng sản chạy theo quân. Hỗn loạn! Kinh hoàng! Máu đổ nhiều! Quân dân chạy giặc dưới làn đạn làm hàng ngàn người chết ở Ðại Lộ Kinh Hoàng. Bắc Quân tràn lan đánh chiếm khắp nơi.

Nhưng họ đã bị chận đứng ở sông Mỹ Chánh. Nơi đây ngày 2 Tháng Năm, Lữ Ðoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến đã bắn hạ 17 chiến xa Bắc Việt. Cùng một lúc Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng được cử ra giữ chức tư lệnh Quân Ðoàn I. Thế cờ được lật ngược.

Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù tan rã ở Tân Cảnh nhưng không biến mất mà đã phối trí lại. Và chỉ độ một tháng sau ngày tan rã ở Charlie, Tô Phạm Liệu và Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù đã có mặt ở miền Hỏa Tuyến. Tháng Sáu 1972, sư đoàn Nhảy Dù, sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Sư Ðoàn 1 Bộ Binh cùng với sự yểm trợ của Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Không Quân Hoa Kỳ đã mở chiến dịch tổng phản công.

Cuộc chiến đẫm máu kéo dài đến Tháng Chín 1972 khi lá cờ vàng ba sọc đỏ được những người lính Thủy Quân Lục Chiến dựng lại tại Cổ Thành Quảng Trị và khi tàn quân Bắc Việt chạy ngược trở về bên phía Bắc dòng sông Thạch Hãn.

Giấc mơ chiếm đoạt miền Nam vào mùa Hè 1972 của Tướng Võ nguyên Giáp đúng là “chỉ là một giấc mơ thôi.” Có lẽ nhiều ngàn hay có thể đến hàng chục ngàn người đã “sinh Bắc” và được “tử Nam” trong mùa Hè này.

Y Sĩ Ðại Úy Tô Phạm Liệu đã được sư đoàn Nhảy Dù trao tặng danh hiệu “Quân Nhân Xuất Sắc Nhất Của Sư Ðoàn Nhẩy Dù.”

Tô Phạm Liệu, tên tuổi hào hùng của ngành Quân Y “con rắn” chúng tôi, cũng lừng danh trong những đơn vị Nhảy Dù “mũ đỏ” của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thời đó.

Chiến dịch mùa Hè 1972 đã làm Bắc Việt tổn thất nặng. Phải một thời gian khá lâu họ mới hồi phục lại được sức mạnh. Những ngày tháng ngay sau đó họ đã không tạo thêm được tiếng vang gì đáng kể. Ngoại trừ một cố gắng khác, nhưng vẫn thất bại, ở Sa Huỳnh ở vùng Quảng Ngãi-Bình Ðịnh đầu năm 1973.

Nhưng năm 1973 cũng là năm của Hiệp Ðịnh Paris ký kết bởi Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ. Năm của Việt Nam Hóa Chiến Tranh Việt Nam. Hiệp Ðịnh Paris đã đẩy Việt Nam Cộng Hòa vào con đường cùng. Hoa Kỳ dần dần rút khỏi Việt Nam. Viện trợ quân sự Mỹ cho Quân đội Việt Nam cũng giảm dần theo. Ðạn dược, súng ống của quân đội Việt Nam trở thành thiếu thốn. Xe tăng lỗi thời. Máy bay cũng ít dần và cũ kỹ dần. Bắc Quân ngày càng nhiều khí giới tối tân. Nga Xô và Trung Cộng cùng các nước Cộng Sản trên thế giới vẫn tiếp tục ủng hộ tiếp tế Hà Nội một cách tích cực. Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu hầu như một mình với Cộng Sản Bắc Việt và cả một thế giới Cộng Sản đứng đằng sau. Ðó là kết quả của Việt Nam Hóa Chiến Tranh Việt Nam, chính sách của Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon.

Hiệp Ðịnh Hòa Bình Paris 1973 và giải Nobel được trao tặng cho Lê Ðức Thọ và Henry Kissinger chỉ là những trò hề. Bắc Quân tiếp tục xâm phạm những gì họ ký kết. Ðường mòn Hồ Chí Minh “đông người như đi chợ”chuyển quân và vũ khí thiết giáp vào miền Nam.

Tô Phạm Liệu tốt nghiệp Khóa 16 Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch gia nhập Nhảy Dù năm 1970. Khóa 21 Sĩ Quan Hiện Dịch Quân Y, khóa cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, khóa của chúng tôi ra đơn vị năm 1975.

Năm năm sau tình hình đã đổi khác hoàn toàn. Những tân trung úy Y Nha Dược ra đơn vị đúng lúc ngày tàn của cuộc chiến. Tỉnh Phước Long đã rơi vào tay Cộng Sản Tháng Hai 1975.

Chuyện gì đã xẩy ra đã xẩy ra. Chuyện mất miền Nam vào tay Cộng Sản ngày 30 Tháng Tư 1975 đã đến. Có điều chuyện xẩy ra hơi sớm, một cách rất ngạc nhiên, ngoài sự dự liệu của tất cả mọi người trong và ngoài cuộc. Lịch sử sẽ cho dần những câu trả lời. Nhưng làm sao có ai, có những lý do nào... mà có cho đủ được những câu trả lời cho chuyện bỏ chạy một cách nhanh chóng như vậy?

Ða số chúng tôi Khóa 21 Quân Y chỉ đến đơn vị được một, hai tháng thì cuộc đời nhà binh cũng chấm dứt.

Ðể sửa soạn dư luận cho cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 1976, Tướng Việt Cộng Văn Tiến Dũng đã bắt đầu Chiến Dịch Mùa Xuân năm 1975. Nhưng chính những người cầm đầu Ðảng Cộng Sản Việt Nam cũng không thể biết có kết quả nhanh và bất ngờ ngoài dự liệu như vậy.

Miền Nam Việt Nam sụp đổ dần như một căn nhà không có nền móng trong khoảng 55 ngày.

Ngày 10 Tháng Ba 1975, Bắc Quân bắt đầu tiến đánh Ban Mê Thuột.

Ban Mê Thuột mất ngày 17 Tháng Ba 1975.

Theo đó là Quảng Trị mất 20 Tháng Ba.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh bỏ Huế 23 Tháng Ba.

Rồi Ðà Nẵng di tản ngày 29 Tháng Ba...

Bắc Việt tiến chiếm dễ dàng dần dần từ Bắc xuống Nam. Bắc Quân vào nhiều thành phố bỏ trống như chỗ không người. Tình hình thật là hỗn loạn. Những câu chuyện cười ra nước mắt được kể lại. Như là một thành phố ở miền Trung được di tản đến cả ba, bốn ngày sau một đơn vị quân đội nhỏ của Việt Nam Cộng Hòa quay lại cũng vẫn còn y nguyên vì Cộng Sản cũng không đến kịp vào để tiếp thu! Hoặc là có những thành phố được phát ngôn viên chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cho biết đã di tản nhưng sự thật dân quân vẫn còn nguyên tại chỗ! Hầu như tất cả mọi người đều không làm được gì cả.

Chúng tôi bất lực. Chúng tôi không làm được gì ngoài việc chỉ cố tránh né để mái nhà hay bức tường vỡ khỏi rơi vào người.

Ngày 20 Tháng Tư 1975, tiền đồn cuối cùng ở Xuân Lộc bị phá vỡ. Chuẩn Tướng Lê Minh Ðảo và Sư Ðoàn 18 phải rút quân. Sài Gòn hầu như rối loạn hoàn toàn. Nhìn trước ngó sau chỉ thấy nhiều người tìm cách đi khỏi nước Việt Nam hơn là tìm cách chống trả giữ Sài Gòn.

Sài Gòn coi như đã mất. Thành phố như là một thành phố đang chết! Chỉ còn vấn đề thời gian. Một thời gian ngắn thôi.

Những ngày cuối của tôi ở thành phố Sài Gòn là như vậy. Ngày ngày nghe được những tin tức những người nào đã đi, những người nào sắp đi.

Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Trong diễn văn gửi đến các nước ông Thiệu đã không hết lời trách móc “đồng minh” Hoa Kỳ. Trung Tướng Thiệu tuyên bố “...sẽ trở lại quân đội khoác áo nhà binh cùng các anh em chiến đấu...” Vài ngày sau thì được tin “người” đang ở Ðài Loan!

Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố đại khái là: “...nhất định ở lại Việt Nam ăn cà, tương, mắm...vì qua Mỹ ăn phó mát và uống sữa tươi sẽ đau bụng!” Vài ngày sau “người” cũng bay mất!

Tân Tổng Tư Lệnh Quân Ðội Trung Tướng Vĩnh Lộc cho phát thanh một nhật lệnh đến toàn thể Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa hùng dũng kêu gọi “...mọi người hãy bỏ ý định chạy trốn như những đàn chuột nhắt...” Nhưng khi bài nói chuyện được phát thanh trên đài thì “người”đã ngồi ở trên một chiến hạm ngoài khơi trên đường ra ngoại quốc!

Mỗi ông “tuyên bố một câu xanh rờn.”

Toàn là những lời câu nói “để đời”!

Ðông phương đã dạy làm tướng thì phải biết cách tự xử khi mất thành. Tây phương cũng có viết làm thuyền trưởng khi tầu chim thì phải ở lại chìm theo tầu. Tôi không hy vọng những “người trên đây làm được như những Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ... là những vị tướng đáng kính phục tự xử khi mất nước. Nhưng phải chi những “người đó” cứ im lặng mà “đi” thì cũng chả có mấy ai cay đắng mỗi khi nghĩ đến chuyện những người ở lại hy sinh mạng sống hay nằm trong những trại cải tạo của Cộng Sản Việt Nam hằng bao năm trời.

Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, Tân Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng.

Tôi may mắn thoát được lên chiến hạm Hải Quân Việt Nam HQ 1. Chỉ độ mười phút sau đó tầu rời bến Bạch Ðằng cùng cả những chiến hạm còn lại ở bến của Hạm đội Hải Quân Việt Nam sau khi binh sĩ Hải Quân chặt cầu vì không đủ chỗ cho hàng người đang đứng đợi lên tầu.

Thế là hết! Vĩnh biệt Sài Gòn! Vĩnh biệt Việt Nam!

Tầu Việt Nam đến Subic Bay ở Phi Luật Tân thì chúng tôi được chuyển ngay sang một tầu Hoa Kỳ rộng lớn hơn để đi đến đảo Guam.

Bước lên chiếc tầu Hoa Kỳ đầy người. Ðủ loại người. Dân sự có, quân sự có. Người nằm, kẻ đứng ngồi. Hỗn loạn. Tôi tìm đến một góc nhỏ để tránh né phiền phức - đây tôi thấy một người khá to lớn nằm trên một chiếc võng mắc vào những cái cột của tầu. Lại gần nhận ra đó là huynh trưởng Tô Phạm Liệu. Tôi không ngờ gặp nhau trong hoàn cảnh này.

Tôi buồn nhớ lại những ngày xưa người anh từ chiến trường về thăm trường Quân Y với binh phục nhảy dù oai hùng. Bây giờ Tô Phạm Liệu vẫn mặc binh phục nhảy dù Việt Nam, nhưng bẩn và nhầu nát. Anh Liệu không giống anh Liệu những ngày trước khi anh trở về từ những chiến thắng nữa. Tô Phạm Liệu nằm trên võng, anh vẫn tỉnh giấc nhưng mắt nhắm như để quên đi những hình ảnh nào đó. Anh Liệu hình như muốn ngủ triền miên. Nhưng làm sao mà ngủ được? Rồi sau đó Tô Phạm Liệu cũng mở mắt ra. Anh kể lại những lúc cuối cùng.

Tô Phạm Liệu nói rất ít. Tôi cũng chả nói nhiều. Ðau khổ đã làm tê liệt con người.

Nhưng thật ra còn có gì khác để đáng nói đến nữa đâu?

Anh em nhìn nhau thẫn thờ! Bàng hoàng! Sững sờ! Giọt lệ nào đó hình như vòng quanh khóe mắt làm mờ mắt của cả hai chúng tôi!

Ngày hôm sau tôi trở lại chỗ cũ không thấy anh đâu cả.Chiếc võng cũng biến mất. Tôi để ý tìm mà không gặp.Tô Phạm Liệu chắc cũng chả muốn gặp lại ai nữa. Tôi cũng không muốn tìm thấy người quen nào nữa.

Những ngày đầu tiên đến đất Mỹ là những lúc vật lộn với cuộc đời mới cũng như các bạn bè khác trong giới Y khoa để tìm đường trở về nghề cũ. Và cũng như đa số bạn bè y khoa tôi cuối cùng cũng trở lại nghiệp Y.

Thỉnh thoảng tôi cũng được nghe đến anh Tô Phạm Liệu. Tôi được biết anh đã quay lại hành nghề ở một nhà thương điên (state hospital) nào đó ở Kansas. Tôi được biết anh uống rượu nhiều, rất nhiều. Tôi muốn nhưng chả bao giờ có dịp liên lạc.

Năm 1989, tôi đi dự cuộc họp Hội Y Sĩ Quốc Tế Việt Nam Tự Do ở một khách sạn lớn ở Little Saigon, California. Ðang đi vớ vẩn trong khách sạn thì có tiếng gọi tên. Tôi nhìn ra thấy huynh trưởng Tô Phạm Liệu. Anh em gặp nhau mừng ứa nước mắt.

Anh dẫn tôi vào ngồi ở một quầy rượu. Anh uống rượu mạnh liên miên. Tô Phạm Liệu lần này nói chuyện nhiều hơn, nói khá nhiều. Có khi là người nói, có khi là “rượu nói.” Anh nhìn tôi và nói, và nhắc nhở đến Ðoàn Trung Bửu (Biệt Ðộng Quân, chết trên đường ra đơn vị 1975), Vũ Ðức Giang (Thủy Quân Lục Chiến, tự tử chết trong trại học tập 1976)... Ðó là những bạn cùng lớp Khóa 21 Quân Y của tôi, những đàn em của Ðại Ðội Tân Sinh Viên Quân Y 19 năm trước của anh, đã hy sinh trong những ngày vừa qua.

Anh Tô Phạm Liệu bây giờ ốm hơn trước. Anh Liệu cho biết là anh đang bị bệnh đái đường (diabetes mellitus). Nhưng anh vẫn uống rượu liên miên. Anh cho biết “có lẽ” đã bị chứng đau thần kinh vì đái đường (diabeticneuropathy). Tô Phạm Liệu bảo những cơn đau rất gần nhau và khá nặng. Nhưng anh vẫn không uống thuốc giảm đau. Tôi hiểu anh muốn có đau thể xác đó để cho mất cái đau tinh thần.

Tô Phạm Liệu nói là cảm thấy lẻ loi ở cái Ðại Hội Y Sĩ có nhiều những người “mặc quần mới áo đẹp” và”ăn to nói lớn,” thích “nhảy đầm” và “xếp hàng để lên hát”... Trong cơn say anh nói là phải chi trước kia mười mấy năm trước anh được “ở lại Charlie” với Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo, với các bạn nhảy dù thì “sướng hơn nhiều.”

Tô Phạm Liệu chỉ thích uống rượu và “không muốn làm gì nữa cả.”

Tôi không uống được nhiều rượu nhưng cũng uống hai ba ly rượu để làm vừa lòng anh. Tôi chú ý nghe anh nói. Anh nói chuyện vẫn hay và hấp dẫn. Mười chín năm trước đó, khi anh đang huấn luyện tân sinh viên Quân Y, mỗi lần nghe anh nói chuyện tôi hầu như thấy anh nói đều có lý cả. Lúc này thì khác. Có nhiều chỗ tôi thấy anh nói đúng. Có nhiều lúc tôi nghĩ là anh nghĩ sai. Nhiều lúc là “rượu nói” chứ không phải anh nói nữa. Nhưng tôi hiểu Tô Phạm Liệu nhiều.

Giữa tiệc rượu của hai anh em, sau 15 năm mới gặp gỡ, Tô Phạm Liệu làm tôi ngạc nhiên khi nói là muốn đọc thơ cho tôi nghe. Anh nói là anh chả có thích thơ và cũng chả nhớ bài thơ nào nhưng chỉ thích và nhớ một đoạn trong bài thơ “Nhớ Rừng” của Thế Lữ:

“...Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn thét núi
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Ta biết ta chúa tể cả muôn loài
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi dứng uống ánh trăng tan
Ðâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới...”

Tôi hiểu Tô Phạm Liệu nhiều hơn. Tôi vẫn kính trọng anh. Tôi vẫn thương mến anh như những ngày xưa, và cót hễ là hơn những ngày xưa nữa.

Nhưng vẫn có những điểm tôi không đồng ý với anh Liệu.

Lần gặp gỡ đó là lần sau cùng tôi gặp người anh lớn của khóa tân sinh viên sĩ quan Quân Y ngày nào của chúng tôi.

Sau này tôi được biết anh đã dọn về ở tiểu bang Lousiana và làm việc ở một nhà thương nào đó.

Và đến bây giờ huynh trưởng Tô Phạm Liệu đã vĩnh viễn ra đi.

Tờ cáo phó của tờ báo Người Việt trên tay tôi trở thành mờ nhạt:

“Vô cùng thương tiếc bạn chúng ta, Tô Phạm Liệu (1947-1997) Y Sĩ Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù... đã không còn với chúng ta kể từ ngày 29 Tháng Chín năm 1997... Cầu Anh Linh bạn quên phiền hà, coi như trở lại Charlie...”

Tôi nhìn qua khung cửa sổ.

Xa xa trên bầu trời trong xanh, gần những đám mây trắng ở trên thật cao, hình như mờ ảo có một cánh dù nhỏ bé...

Anh trở lại tìm Nguyễn Ðình Bảo và những anh em nhảy dù khác, những đồng đội đã “ở lại Charlie.”

Tô Phạm Liệu: Người Trở Lại Charlie.

(Tháng Mười 1997, Santa Maria, California)

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Image

Biệt Đoàn Văn nghệ Trung Ương (Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị)
Dạ Lý

Gần suốt cuộc chiến chống Cộng Sản xâm lược, ngoài sự chiến đấu và hy sinh của bao chiến sĩ thuộc các Quân Binh Chủng, Lực Lượng Bán Quân Sự của Việt Nam Cộng Hoà, có một đơn vị cũng đã từng sát cánh, từng đi khắp tiền đồn trên 4 Vùng Chiến Thuật, từ miền hoả tuyến đến tận cùng của đất nước Việt Nam, mang lời ca tiếng hát, kịch nghệ đến với các đơn vị tiền tuyến hầu sưởi ấm, khích lệ phần nào tinh thần của các chiến sĩ ngày đêm băng mình vào lửa đạn, chấp nhận mọi hiểm nguy để giữ một hậu phương được những năm tháng dài yên ấm.

Trên những bước đường lưu diễn, đơn vị đó với danh xưng khiêm nhường của nó đã từng đến tận cầu Hiền Lương, trên dòng sông Bến Hải, thuộc vĩ tuyến 17 ngăn đôi 2 miền đã trở thành 2 đất nước thực thể, rồi từ cao nguyên đến vùng duyên hải, từ miền đông đến vùng châu thổ sông Cửu Long… đến những vùng mà các chiến sĩ VNCH trấn đóng, chiến đấu và gìn giữ. Thời đó, chỉ trừ đa số các đơn vị trong quân đội biết đến, nghe tới tên, kỳ dư lại là một đơn vị thầm lặng. Nhưng trong nhu cầu cần thiết để yểm trợ tiền tuyến phải đối phó với cuộc chiến chống xâm lăng từ phương Bắc do Cộng Sản phát động, đơn vị này được Quân Đội chú tâm nâng cao tầm vóc mà cả Quân và Dân đều biết. Đó là: Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương.

Cốt lõi của Biệt Đoàn này là từ Ban Văn Nghệ của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Tâm Lý trước đó. Thập niên 60, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị thành lập thì đơn vị này được phát triển và cải danh là Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương để đảm nhận công tác quy mô hơn trong vai trò của những người chiến sĩ Tâm Lý Chiến để trải rộng địa bàn hoạt động đến khắp các tiền đồn, đơn vị; tổ chức văn nghệ trình diễn trong những cuộc liên hoan chiến thắng, khao quân khắp các vùng đất nước.
Công tác này từ đơn phương sau đến phối hợp với các vùng khi Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị cho lập ra mỗi Vùng Chiến Thuật có 1 Tiểu Đoàn CTCT với các danh xưng Tiểu Đoán 10, 20, 30 và 40 CTCT. Riêng tại Biệt Khu Thủ Đô gồm Sài Gòn và Gia Định thì có Tiểu Đoàn 50 CTCT và đơn vị này trú đóng cùng doanh trại với Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương ở Sài Gòn. (cùng khu vực với Cục Tâm Lý Chiến, Đài Phát Thanh Quân Đội, Cục An Ninh Quân Đội).

Tưởng cũng cần nhắc lại là ngoài Biệt Đoàn Văn Nghệ trung Ương, còn có một Ban Văn Nghệ của Bảo An (sau này là Địa Phương Quân) hoạt động song song. Nhưng sau đó, vì để dễ dàng phối hợp trong công tác thống nhứt phục vụ mọi Quân Binh Chủng, nên Ban Văn Nghệ này được sát nhập vào Tiểu Đoàn 50 CTCT và cũng từ đó một đơn vị hình thành với danh xưng cũng được nhiều người biết đến là… Ban Văn Nghệ Hoa Tình Thương. (còn một số được tăng cường qua Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương).

Vị chỉ huy đầu tiên của Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương là Đại Uý Lê Văn Tạo (sau này là Trung Tá Chánh Văn Phòng của Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia), kế tiếp là Đại Uý Ngô Cẩm Đại (sau này là Trung Tá thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh), rồi Nguyễn Đình Tân, Hoạ sĩ Tạ Tỵ, Phan Gia Lân và vị chỉ huy cuối cùng là Đại Uý Lê Bá Tân.

Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương được tổ chức rất quy mô, quy tụ được rất nhiều nghệ sĩ nổi danh thời đó gồm cả Quân Nhân cùng Dân Chính. Biệt Đoàn có nhiều bộ môn như Ca, Vũ, Nhạc, kịch, Cải Lương, Ảo Thuật, … với các nghệ sĩ như:

- Nhạc Sĩ: Anh Bằng, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Ngọc Chánh, Cao Phi Long, Y Vũ, Nguyễn Hữu Sáng, Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa, Harmonica Tòng Sơn, …

- Ban Kích Động Nhạc Huỳnh Hoa: Huỳnh Hoa (thổi kèn), Huỳnh Hồng (đánh trống), Lê Tăng (đàn guitar) cùng các ca sĩ Kiều Loan, Bích Ly, Tony Hiếu.

- Ban AVT: Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng.

- Ban Tam Ca Sao Băng: Thanh Phong, Duy Mỹ, Phương Đại.

- Ban Tam Ca 3 Con Mèo: Mỹ Hoà, Kim Anh, Uyên Ly (Minh Xuân).

- Ban Tam Ca Đông Phương: Tuyết Hằng, Thu Hà, Hồng Vân.

- Ban Kịch và Hài Hước: Vũ Huyến, Thanh Việt, Phi Thoàn, Khả Năng, Thuý Liễu, Bích Huyền, Lệ Huyền, Ba Bé, Xuân Dung, Diễm Kiều, Duy Chức, Mỹ Chi…

- Ban Ảo Thuật: Lê Hảo Tâm, Mạc Can, Hoàng Biếu.

- Ban Vũ: Vũ sư Nguyễn Thống ( Ngọc Hương, Ngọc Hân, Kim Sang, Kim Chương, Kim Điệp, …

Vũ sư Trịnh Toàn ( Thu Thuỷ, Tuyết Hồng, Khánh Hồng, Mỹ Hoá, Thuỳ Linh, Kim Xuân, Kim Thu, Minh Phương, Kim Thư, …

Vũ sư Lưu Hồng…

- Ca sĩ Tân Nhạc: Duy Khánh, Elvis Phương, Tuyết Mai, Dạ Lý, Giao Linh, Phương Hồng Quế, Trang Kim Yến, Thiên Trang, Bích Thuỷ, Xuân Sơn, Trúc Ly, Kim Oanh, Hồng Chi, Phương Linh, Phương Bích Hằng, Kiều Lệ Xuân, Thanh Xuân, Hạnh Dung, Mỹ Dung, Giang Thanh, Trang Mỹ Dung, Lệ Minh, Thu Liễu…

- Ca Sĩ Cổ Nhạc: Thành Được, Thanh Sang, Minh Phụng, Tấn Tài, Hương Sắc, Hương Huyền, Kim Tuyến, Kiều Mỹ Loan, Hoài Thu…

- MC: Trần Quang, Ngọc Phu.

Sau những trận đánh kinh hồn đã ghi danh vào chiến sử như Hạ Lào, Dakto, Pleime, Cổ Thành Quảng Trị, Bình Long, An Lộc… Những buổi tiệc khao quân, gắn huy chương tưởng thưởng được tổ chức không thể nào vắng mặt những chiến sĩ Tâm Lý Chiến của Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Vết chân những chiến sĩ này từng in dấu trên các tiền đồn từ Gio Linh, Đông Hà, Thạch Hãn cho đến Bạc Liêu, Năm Căn ở tận mủi Cà mau, qua đến Thiện Ngôn (Tây Ninh), Neakluong (Campuchia).

Không những chấp nhận gian nan nguy hiểm ở những nơi đạn bay súng nổ, lăn thân vào các hầm trú ẩn khi bị pháo kích, các nghệ sĩ Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương của QLVNCH còn đem chuông đi đánh xứ người tại Hội Chợ Osaka ở Nhật Bản, Hội Chợ Tháp Luông (Lào), trong các cuộc tiếp tân ngoại giao của các toà Đại Sứ VNCH ở Lào, Campuchia, Thái Lan…

Sau ngày Quốc hận 30 tháng Tư, anh chị em nghệ sĩ của Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương bị lưu lạc tứ tán khắp nơi. Những nghệ sĩ quân đội còn ở lại trong nước đã bi tù tội, trù dập rất khốn cùng, như trường họp danh hài Khả Năng vượt biên bằng đường bộ đã chết mất xác ở Campuchia vì anh với anh Phi Thoàn có chương trình chống cộng ( Binh Méo Cai Tròn ) trên làn sóng đài phát thanh quân đội. Những người còn lại phải sống cuộc đời lưu vong như bao người Việt tị nạn khắp nơi trên thế giới. Người nghệ sĩ cao tuổi nhất là nhạc sĩ Lữ Liên, năm nay đã ngoài 90 tuổi, đang mang chứng bịnh mất trí nhớ và đang nằm viện dưỡng lão ở thành phố Garden Grove, California. Những chiến sĩ đã qua đời như Vân Sơn (AVT) Duy Mỹ (Sao Băng), Thanh Việt, Khả Năng, Phi Thoàn (Hài Hước), vũ sư Trịnh Toàn, vũ sư Nguyễn Thống, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa, ca sĩ Duy Khánh, kịch sĩ Ba Bé…

Giờ dù đa số tuổi đời đã cao, tóc đã ngã màu, đang ở mọi nơi, nhưng những nghệ sĩ Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương vẫn thường xuyên liên lạc với nhau để có những dịp họp mặt, quy tụ lại để thăm hỏi an ủi trong những dịp quan hôn tương tế qua hai chị em ca sĩ Dạ Lý và Kim Oanh.

Chúng tôi, những người Nghệ Sĩ Quân Đội, những chiến sĩ Tâm Lý Chiến xin kính lời thăm hỏi thân ái đến các anh chị em chiến sĩ VNCH mà chúng ta từng sát cánh bên nhau trong cuộc chiến chống Cộng Sản, hy sinh suốt tuổi thanh xuân trên tinh thần Hậu Phương – Tiền Tuyến, luôn gắn bó để gìn giữ màu cờ sắc áo của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Chúng tôi xin kính chúc quý anh chị em Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà luôn nhiều sức khoẻ với ước mong sớm có ngày quang phục quê hương, chúng ta sẽ trở về nhìn lại một Giang Sơn gấm vóc Việt Nam không Cộng Sản, để toàn dân được sống trong Tự Do, Dân Chủ và Thái Bình.

Dạ Lý

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

QUẬN DĨ AN

NGUYỄN KHẮP NƠI

Image

Viết theo lời kể của một cư dân Quận Dĩ An,
Viết cho ngày 30 tháng Tư đen,
Viết cho những người Lính, Nghĩa Quân, Cảnh Sát, Xây Dựng Nông Thôn và dân chúng của Quận Dĩ An xưa.
Kính tặng Ông Quận Dĩ An - Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến Sát Cộng - Trung Tá Nguyễn Minh Châu.
Để tưởng nhớ Chú Ba Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An. ​



Nói về địa dư, thì quận Dĩ An thuộc về vùng III. Từ Sài Gòn đi Biên Hòa, nếu đi đường trong (đường ngoài là đường xa lộ Saigòn Biên Hòa), chúng ta sẽ tới Thủ Đức rồi tới Dĩ An và cuối cùng là Biên Hòa.

Mặc dù ở khoảng giữa Saigòn Biên Hòa, nhưng người ta biết đến Thủ Đức và Biên Hòa nhiều hơn là biết tới Dĩ An, vì hai nơi kể trên có quá nhiều cảnh đẹp, thức ăn và trái cây ngon, như Suối Tiên, nem Thủ Đức, buởi Biên Hòa . . . .

Dĩ An chỉ là một quận thuộc về . . . miền quê, không có bất cứ một thứ gì đặc sắc, ngoài cái việc ở kế cận Sàigòn.

Đúng vậy, nếu đứng ngay ở quận lỵ Dĩ An, chúng ta sẽ thấy ngôi chợ, bót cảnh sát, ga xe lửa . . . Nhưng qua khỏi ga xe lửa một chút, chừng vài cây số thôi, là chúng ta đã tới miền quê rồi đó, với những cánh đồng lúa và vườn trái cây xanh mướt thấp thoáng những mái tranh đơn sơ.

Và trong một vài mái tranh đơn sơ đó, có . . . Việt Cộng.
Image
Sau hiệp định Geneve 1954, phân chia đất nước làm hai miền: Miền Bắc theo Cộng Sản, còn miền Nam theo Tự Do, thuộc Pháp. Khi Pháp rút về nước, trao chính quyền lại cho Quốc Trưởng Bảo Đại. Sau một cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” Bảo Đại bị truất phế, nhường cho Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống. Bọn Việt Cộng ở miền Nam, một số tập kết về miền Bắc , số còn lại rút gân rút cốt thay hình đổi dạng, nằm vùng chờ cơ hội.

Tổng Thống Ngô lập chính phủ Cộng Hòa, lo vãn hồi an ninh trật tự cho miền Nam Tự Do, ông cho bắt hết đám Việt Cộng nằm vùng, xây dựng nền kinh tế vững mạnh. Cuộc sống người dân trở lại bình thường, dân Dĩ An nhờ đó, cũng sống rất yên lành.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Dĩ An, chứng kiến những sự việc xẩy ra ở đó qua hai đợt di cư của người miền Bắc vào Nam: Năm 1954 và năm 1975.

Dân Di cư miền Bắc, được tập trung sinh sống ở khu Thủ Đức, Hố Nai, Tam Hiệp . . . gần Biên Hòa, và đương nhiên là gần Dĩ An.

Thời đó, tôi còn rất nhỏ, mới bắt đầu đi học Tiểu Học.

Tới trường, hễ nghe đứa nào nói cái giọng khó nghe, thì hiểu liền, đó là dân “Bắc Kỳ”. Đang đi ngoài đường, hễ nghe ai đó nói:

“Rê Su Ma, nạy chúa tôi”

Là tụi tôi biết liền, đó là dân “Bắc Kỳ”

Ra chợ, hễ thấy bà nào có hàm răng đen bóng, là bọn chúng tôi biết ngay, đó là dân “Bắc Kỳ”

Một vài điều tôi còn nhớ như in vào đầu là, thời đó còn xài tiền giấy xé làm hai: Một đồng xé làm hai thành hai tờ Năm Cắc. Những đứa nhỏ Bắc Kỳ cùng học với chúng tôi, tụi nó hiền lành, chỉ nhìn tụi tôi chơi dỡn chứ không bao giờ dám chọc ghẹo tụi tôi cả. Má tôi và những người chòm xóm bán hàng ngoài chợ thì nói những người Bắc Kỳ chụi khó làm việc và rất nhẫn nhịn, cái gì cũng cười.

Tôi được má kể lại là, lâu lâu , chính phủ tổ chức chiếu phim thời sự vào buổi tối, ở đầu chợ Dĩ An, để dân chúng đi xem, đông lắm, vui vẻ lắm, thái bình thịnh trị lắm.

Vào thời gian xẩy ra đảo chánh Ngô Đình Diệm và những cuộc đảo chánh kế tiếp, tôi không biết và không nhớ nhỉều cho lắm, vì lúc đó tôi chỉ là một đứa nhỏ chín mười tuổi mà thôi. Chỉ có một điều làm tôi nhớ: Mỗi lần chiếu bóng, Việt Cộng thẩy lựu đạn làm đám con nít tụi tôi chết nhiều lắm. Tôi không nhớ năm đó là năm nào, chỉ nhớ rằng, trong lúc đang mải mê xem phim chống bệnh tật: Máu đỏ và máu xanh trong cơ thể chống lại vi trùng xâm nhập vào người, thì nghe một tiếng nổ lớn:

“Đùng”

Nhìn chung quanh, tôi thấy người ta ngã xuống đất, máu chẩy thật nhiều, bọn tôi sợ quá, xúm nhau chạy về nhà. Kể từ đó, ba má tôi cấm đám anh em tụi tôi không được đi xem hát nữa.

Qua một thời gian vài năm không đi coi hát ở chợ nữa, có một bữa, mấy đứa bạn tôi rủ đi coi hát ở đầu chợ nữa. Tụi nó nói với tôi:

“Có ông Quận mới về, ổng . . . sát cộng lắm, nên tụi nó không dám về thẩy lựu đạn nữa, đi coi hát được rồi.”

Nói thì nói vậy, chứ má tôi đâu có dám cho tụi tôi đi coi nữa. Anh em tụi tôi ham coi hát, lén lén đi từ đứa, mỗi đứa coi một khúc rồi về thế cho đứa khác đi coi. May là không có ai thẩy lựu đạn nữa, nên má tôi không biết chuyện này.

Mấy bữa sau, tụi tôi có chuyện đi ra quận đường. Đang đi, tôi chợt thấy có một chiếc “Xe Díp” chạy trờ tới, có một ông mặc đồ rằn ri nhà binh ngồi trên xe bước xuống, chống cây gậy đi chậm chậm. Dưới cặp mắt con nít của tôi, thì ông rất là oai phong. Tôi đâu có biết ông đó là ai, cứ mở bự con mắt ra mà dòm ông. Những người lớn tuổi đi kế bên tôi lao xao nói chuyện với nhau. Một bác đi kế bên tôi nói lớn ra vẻ thích thú:
Image Hình " Ông Quận TQLC"​


-“Đó, ông Quận Dĩ An mới về đó!”

-“Ông Quận đó . . . sát cộng lắm đó! Ổng cho lính đi phá hầm Việt Cộng hoài à, kỳ nào cũng giết được mấy đứa, làm tụi nó sợ lắm, trốn hết trơn rồi.”

-“Ổng là lính “Thủy Quân Lục Chiến” đó, đánh trận ngầu lắm đó!”

-“Ổng tên gì vậy?”

-“Ai biết ổng tên gì! Nghe người ta kêu ổng là “Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến”, vậy thôi, chứ ai mà biết ổng tên gì!”

Mấy ngày sau, nhân dịp tết Trung Thu, bọn con nít tụi tôi được đi theo thầy giáo tới quận đường để lãnh lồng đèn và bánh trung thu. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi đuợc tới quận đường và được lãnh quà trung thu. Tôi không còn nhớ đã được lãnh lồng đèn kiểu gì? Nhưng còn nhớ rất rõ là được phát một cái bánh dẻo nhỏ bằng ngón tay, ăn có mùi lá dứa.

Nhà tôi ở ngay chợ Dĩ An, mỗi ngày ngoài giờ học và nhưng giờ chạy chơi với bạn bè, tôi đều phụ má bán hàng, nên được nghe nói rất nhiều về “Ông Quận Dĩ An Thủy Quân Lục Chiến.

Có người kể:

“Tối qua, ông Quận cho lính đi phá hầm, giết nhiều du kích lắm, thằng con của Năm Rê (không phải tên thật) hổng dám dề kêu đi đắp mô nữa”

Cũng có người nói:

“Tối bữa trước, thằng Năm con ông Chín Lùa kéo đám trong bưng về chặn đường ông Tám Hó (không phải là tên thật) Hội Đồng Xã đặng giết. May phước, ông Tám có thằng nghĩa quân xách súng đi theo, bắn trả lại rồi chạy thục mạng ra tới Xã ở luôn đó, mấy bữa rồi cũng không dám về nhà.”

Một ông già bán xạp đã thật là vui vẻ nói lớn:

“Hổm rày quận mình yên lắm rồi! Tụi tui và bà con chòm xóm hết bị mấy cái đám ác ôn tối trời về bắt đi đắp mô rồi. Nhớ lại hồi đó, tối bị lùa đi đắp mô, sáng lại phải đi phá mô, hổng còn sức đâu mà làm ăn!”

Như tôi đã nói ở trên, từ ga xe lửa Dĩ An đi theo đường cái vô sâu chừng vài cây số, tới vùng Nhị Tỳ, Nhà Đèn Dĩ An là tới khu ruộng lúa và những đám rừng âm u (chưa tới Ngã Ba Cây Lơn). Những người đi theo Việt Cộng ban ngày vẫn làm ruộng trồng rau, ban đêm nhập với đám Việt Cộng trong rừng ra, tới từng nhà đòi đóng thuế, hoặc giết những người trong Hội Đồng Xã. Nhà hàng xóm gần nhau, ai theo Việt Cộng, ai theo Quốc Gia, dân chúng có khi biết nhau hết, nhưng không dám nói ra.
Image
Có một bữa, dân chúng kéo nhau đi coi xác Việt Cộng chết, được ông Quận kéo về để dọc đường rầy xe lửa. Tôi tò mò lén đi coi. Tới nơi, tôi thấy có chừng sáu bẩy cái xác Việt Cộng, đứa thì mặc quần xà lỏn, đứa thì mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn bị bắn chết, máu chẩy đầy mình. Lính nghĩa quân cầm súng đứng gác kế bên. Người ta đi coi đông lắm, tới tận nơi mà dòm. Tôi thấy xác chết thì sợ quá, không dám tới gần, chỉ đứng lớ xớ phía xa.

Có người léo xéo nói với nhau: “Xác đó là thằng . . . Tám (không phải là tên thật), con của Sáu Lô đó”

Có người làm gan, tới hỏi anh nghĩa quân đứng gác:

“Việt Cộng bị bắn chết rồi, sao không đem đi chôn, mà lại đem trưng ra đây? Coi dễ sợ quá, hôi hám quá đi”



Anh nghĩa quân trả lời:


“Tụi tôi mới đi phá hầm bí mật của Việt Cộng tối qua đó, ông Quận cho kéo về, chờ làm giấy tờ xong mới đem chôn, cũng để đó đặng cho bà con biết, đừng có đi theo Việt Cộng mà có ngày bị chết thảm như cái đám này đó!”

Tôi lớn lên theo tình hình an ninh của quận Dĩ An. Ông quận Dĩ An vẫn còn làm việc ở quận, tôi không có dịp gặp ông nữa, nhưng nghe dân chúng nói rất nhiều về những điều ông làm. Ông chịu lo lắng cho vấn đề an ninh của dân chúng, chịu hành quân, chịu đi phá hầm, truy lùng Việt Cộng lắm.

Vì thế, dân chúng mới đặt cho ông cái tên:

“Ông Quận Sát Cộng”

Bây giờ thì tôi đã lớn đủ để hiểu Việt Cộng là ai? Và Sát Cộng là gỉ? rồi. Tôi chỉ là một đứa con gái, nhưng tôi cảm thấy phục ông, và lâu lâu vẫn suy nghĩ: Ông đi đứng chống gậy rất khó khăn, vậy làm sao mà ông có thể đi hành quân phá hầm việt cộng hoài hoài như vậy được?

Có một bữa bán hàng, tôi thấy có một đám người lạ mặt mặc quần áo đen, đội nón rộng vành, mang ba lô tới ăn ở quán của nhà tôi. Tôi thấy họ mặc đồ bà ba đen và quấn khăn rằn thì sợ lắm, nhất là nhìn thấy cái nón của họ, hơi giống cái nón tai bèo của đám du kích. Nhưng khi thấy họ mang ba lô thì tôi đỡ sợ, vì tuy không đi lính, nhưng tôi cũng biết chỉ có lính Cộng Hòa mới mang ba lô mà thôi. Khi một chú ăn xong, kêu tính tiền, tôi làm gan, hỏi chú là lính gì mà lại mặt đồ đen.

Chú này cỏn trẻ lắm, nhe răng cười trả lời tôi:

“Tụi tui là lính “Xây Dựng Nông Thôn” mới từ Vũng Tàu về đây”

(Xin gọi tắt là XDNT)

Nghe anh trả lời thì tôi biết vậy thôi, và tôi cũng chỉ gặp họ một lần đó thôi nên cũng quên đi, còn lo bán hàng, lo đi học. Chừng vài tháng sau, tôi nghe dân chợ nói chuyện với nhau:

“Lính XDNT được lắm, họ hổng giống lính Cộng Hòa, họ ở luôn trong ấp của mình đó, mấy ảnh giúp mình đủ chuyện hết, có bữa còn phụ bà Tám Cái (không phải là tên thật) cấy lúa đó!”

“Bàn ngày, đám XDNT này đi vòng vòng giúp bà con, ban đêm họ xách súng đi tìm Việt Cộng mà đánh đó. Tội nghiệp quá, họ làm việc sáng đêm. Tối qua đám này ghé nhà tôi, tía thằng Tâm nói tôi nấu cháu cho mấy chú đó ăn cho no đặng làm việc đó!”

Từ đó tôi mới biết lý do tại sao họ không có mặt ở chợ nữa, vì họ ở luôn ở trong làng, trong xã chung với dân. Theo suy nghĩ nông cạn của tôi, tôi cho rằng: Việt Cộng nằm vùng sống cùng với dân, muốn diệt trừ bọn này, chỉ có cách là cũng sống cùng với dân như những người lính XDNT này thì mới tìm ra chúng mà đánh thôi. Từ đó, tôi lại có thêm cảm tình với lính XDNT và thêm cảm tình với ông Quận Dĩ An.

Tói tuổi thi tú tài, tôi lo học nhưng cũng thích thơ TTK, Hữu Loan, Hồ Zếnh ,và cũng thích đọc “The Exodus” “Chiến Tranh và Hòa Bình”. . .

Một bữa, tôi đang đọc cuốn “Trại Đầm Đùn” thì một ông khách lạ mặc quần áo Cảnh Sát buớc vào quán kêu đồ ăn, ông trạc tuổi 45 gì đó. Khi tới quầy trả tiền, liếc mắt thấy tên cuốn sách, ông nhìn tôi ngạc nhiên:

“Con gái mà đọc mấy loại sách này làm chi!”

Tôi trả lời ông:

“Cháu đọc cho biết Việt Cộng là như thế nào?”

Lâu lâu ông lại ghé quán của má tôi mà ăn trưa, ăn tối. Tới khi quen rồi ,tôi mới biết ông là Cuộc Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An. Có bữa, tôi cắc cớ hỏi ông:

Chú Ba, có khi nào chú bắt được Việt Cộng, rồi cũng tra tấn người ta giống như bọn VC tra tấn dân, giống như trong . . . Trại Đầm Đùn, hay không?”

Ông đã cười lớn một lúc rồi mới trả lời tôi:

“Bạo tàn không phải là nghề của Cảnh Sát Quốc Gia! Mình làm gì cũng phải có tình người ở trong đó. Hơn nữa, hỏi cung đám VC là do CSĐB hoặc là ANQĐ phụ trách, chứ không phải là nhiệm vụ của chú.”

Từ đó, tôi có cảm tình nhiều hơn đối với ông. Ông kêu tôi là “Con gái” và xưng “Chú” với tôi. Nhà ông ở Sàigòn, ông đi làm bằng xe Vespa (hay Lambretta gì đó, tôi không nhớ rõ), chứ không lái xe Jeep Cảnh Sát. Người ta kêu ông là Chú Ba, thì tôi cũng theo đó mà kêu, chứ không hỏi và cũng không dám hỏi tên thật của ông.

Tháng Tư 1975, ngày đen tối của VNCH đã đến! Mấy ngày trước đó, thấy tình hình nguy ngập, má tôi lo cho tính mạng của anh Hai tôi đang đóng quân ở Bạc Liêu và anh rể tôi làm Cảnh Sát ở Xa Cảng, nhưng đâu có làm gì được hơn. Má chỉ còn cách bảo tôi đi mua gạo trữ phòng khi có biến.

Gần cuối tháng, tôi nghe súng nổ thật gần, nhưng cũng chẳng biết làm gì hơn.

Sáng 30, tôi nghe trên đài phát thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng Việt Cộng và kêu gọi binh sĩ các cấp gác súng súng chờ bàn giao.

Má tôi lo cho số mạng của người con trai và con rể. Còn tôi, tôi lo cho số mạng của những bạn bè tôi đã đi lính. Dĩ An ở gần phi trường Biên Hòa, gần cả căn cứ Sóng Thần, nên có rất nhiều thanh niên gia nhập Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến, bạn bè tôi ở trong đám này đông lắm. Rồi còn những người lính XDNT nữa, họ còn đang ở chung với bà con trong Xã, Ấp, còn chú Ba Cảnh Sát, còn ông Quận TQLC Sát Cộng nữa, họ sẽ ra sao?

Mẹ tôi lính quýnh đi tới đi lui trong nhà. Tôi cũng lo sợ, lo sợ cho mẹ tôi, cho chính tôi nữa, cuộc đời mình sẽ ra sao?

Ngay lúc đó, chú Ba bước vào, mặt mày đăm chiêu. Điều ngạc nhiên hết sức là chú không mặc bộ quần áo cảnh sát thường ngày, mà chú mặc bộ đồ mầu trắng tươi, đeo lon và huy chương sáng ngời. Chú nói với mẹ tôi:

“Tôi chào chị lần cuối, rồi về nhà. Đầu hàng rồi, nhưng tôi đâu có thua trận đâu mà đầu hàng! Sáng nay, khi nghe tin Tổng Thống Minh đầu hàng, tôi đã tập họp tất cả cảnh sát trong Cuộc lại dể làm lễ chào quốc kỳ lần cuối cùng, rồi giải tán, ai về nhà nấy. Tôi cũng về đây, thôi, chào chị và cháu gái, hai người ở lại mạnh giỏi.”

Mẹ tôi và tôi chưng hửng nhìn chú. Một lúc sau, mẹ tôi mới nói:

“Đầu hàng rồi, tôi thấy người ta mặc thường phục đi về, sao chú không thay quần áo thường mà lại mặc đại lễ như vầy, lỡ . . . có chuyện gì thì sao? Con trai tôi còn để mấy bộ quần áo ở nhà, tôi nói con Nhung lấy cho chú bận nhe!”

Chú Ba cười chua chát, trả lời:

“Lần cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp của tôi mà chị! Tôi phải mặc đại lễ chứ!”

Tôi ái ngại nhìn chú, hỏi thêm:

-“Chú Ba đi về cùng với anh em cảnh sát hay về chung với ông Quận? Về chung chắc là an toàn hơn đó”

-“Anh em cảnh sát đa số là dân địa phương, họ tự đi về, còn chú, chú đi bằng xe riêng từ đó tới giờ, nên hôm nay chú cũng về bằng xe riêng. Ông Quận vừa nói chuyện với chú xong, ổng sẽ về sau cùng với những người lính nào ở Sàigòn.”

-“Chú Ba, còn cây cờ của mình, sao chú không gỡ xuống, để . . . người ta xé đi thì tội nghiệp cho lá cờ lắm”

-“Chú Ba chỉ có nhiệm vụ thượng kỳ Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Quân Đội không dậy chú cuốn cờ bỏ đi, và chú cũng không thể làm chuyện đó được. Trước khi về, chú đã đứng nghiêm chào lá cờ lần chót rồi.

Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”

Rồi chú quay ra, đạp máy xe rồ ga đi thẳng.

Ngoài đường, tôi thoáng thấy những thanh niên mang băng tay đỏ, cầm súng chạy lăng xăng.

Chiều đến, má tôi hốt hoảng nhớ tới bầy cháu ngoại ở Sàigòn, má nói tôi ráng mang gạo cho chị tôi, để mấy đứa nhỏ đói tội nghiệp.

Tôi cảm thấy sợ hãi khi phải đi ra ngoài trong giờ phút này, nhưng cũng chất gạo lên xe Honda chạy ra xa lộ đi về Sàigòn.

Dọc đường, vẫn còn súng nổ, vẫn còn lính ta chạy tới chạy lui, quần áo lính vứt rải rác khắp nơi, và rất nhiều đàn ông mặc thường phục đi bộ về phía Sàigòn. Những chiếc xe tăng cắm cở Xanh dương và đỏ chạy rầm rộ trên đường, chạy qua mặt tôi một cách hung tợn, cũng huớng về Sàigòn. Tôi sợ lắm, bậm gan rồ ga chạy thục mạng.

Bất chợt, tôi nhìn thấy ở vệ đường, một người lính mặc đại lễ mầu trắng với những huy chương đeo đầy trên ngực áo, nắm bất động, mặt đầy máu, quay về phía đường lộ, bên cạnh chiếc xe Vespa lật nghiêng. Tôi thảng thốt kêu lên:

“Chú Ba Cảnh Sát!”

Tôi muốn dừng lại, xem có phải thật sự là chú Ba hay không?

Chú còn sống hay đã bị bắn chết?

Nhưng giòng người xô đẩy, tiếng súng hai bên nổ vang, rồi xe chở lính Việt Cộng chạy tới, xe tăng, thiết giáp bắn nhau qua lại, tôi không thể nào ngừng lại.

Tôi bật khóc, nhìn chú Ba một lần chót rồi rung rẩy chạy xe đi.

Tôi nhớ lại hồi sáng, sau khi chú Ba đi được khoảng một tiếng đồng hồ thì một đám những tên đeo băng tay đỏ, những tên đội nón tai bèo, đã kéo lá cờ VNCH xuống, xé tan nát đi. Tôi vụt chạy ra muốn giựt lại lá cờ, nhưng vừa mới ra tới cửa, đụng phải một đám đá cá lăn dưa cầm súng chĩa tứ phía, làm tôi sợ quá, dội trở lại. Lúc đó, tôi đã giận chú Ba hết sức, tại sao không kéo lá cờ xuống mà cất đi, để nay bị cái đám người này xé nát.

Bây giờ, nhìn chú Ba nằm đó, tôi lại nhớ câu nói cuối cùng của chú:

“Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”

Tôi không giận chú Ba nữa, và nghĩ rằng, chú Ba đã làm đúng!

Chú Ba ơi, trong đầu óc chú bây giờ, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại, vẫn còn tung bay trong gió, trong vĩnh cửu, phải không chú?

Những ngày sau đó, rất nhiều khuôn mặt xuất hiện. Những khuôn mặt này rất quen thuộc với người dân Dĩ An trước đây, nhưng bây giờ họ đã trở thành khác hẳn:

Họ quấn khăn rằn, đội nón tai bèo, hiện nguyên hình Việt Cộng.

Bà con đi chợ nói với nhau:

“Cái đám này, hồi đó đã bị Cảnh Sát chìm, bị lính của Ông Quận mình bắt nhốt hết trơn rồi đó đa. Nhưng bị báo chí nói lung tung là bắt dân vô tôi, nên mới phải thả tụi nó ra. Nay thì rõ ràng quá rồi, phải chỉ hồi đó xử tử hết tụi nó đi, đỡ khổ . . .”

Một thời gian ngắn sau đó, những người Bắc Kỳ lại xuất hiện, chúng tôi kêu họ là “Bắc Kỳ 75”. Những Bắc Kỳ này láu cá và hỗn láo vô cùng, khác xa với “Bắc Kỳ 54” xưa. Bắc Kỳ 54 ăn nói nhỏ nhẹ, cái gì cũng cười, thì đám Bắc Kỳ 75 đội nón cối, đ chân đất, luôn miệng chửi thề. Khi nói chuyện, họ xưng ông xưng cha với chúng tôi và sẵn sàng đe dọa:

“Ông báo công an, bắt bỏ cha chúng mày đi bây giờ!”


Mỗi lần ngày 30 tháng Tư trở lại, tôi lại nhớ tới quận Dĩ An, nhớ tới ông Quận TQLC Sát Cộng, nhớ tới Chú Ba Cảnh Sát. Tôi đã kể cho chồng con tôi nghe về những người này, không biết họ còn sống hay đã chết? Chồng tôi hỏi, tôi còn nhớ tên những người hùng này hay không? Lâu quá rồi, hơn nữa, hồi đó, tôi còn quá nhỏ để mà nhớ.

Mỗi lần đi ngang những đài tưởn g niệm chiến sĩ VNCH, tôi đều cầu nguyện cho họ.

Bất chợt, một hôm đọc Việt Luận, đọc bài “Cuộc Đời Đổi Thay” tôi mới biết ông Quận Trưởng Dĩ An , ông Quận TQLC Sát Cộng, Trung Tá Nguyễn Minh Châu, ông còn sống, đang ở bên Mỹ. Tôi mừng qua, kêu chồng tôi:
“Anh ơi, ông “Guậng . . . Ông Guậng Dĩ Ang nè, ổng còn sống, ổng diếc báo nè!

Anh coi hình ổng nè, ổng bận đồ rằng ri, oai hùng lắm nè! Thấy hông, em nói mà!”

Chúc mừng ông Quận được bình yên sau những đổi thay của cuộc đời.

Cám ơn ông Quận, đã gìn giữ an ninh trong quận, đã sát cộng, để những người dân Dĩ An như tôi có một cuộc sống yên ổn, cho tới ngày 30 tháng Tư.

NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!

NGUYỄN KHẮP NƠI
Nguồn: http://vietluanonline.com/quandian.html

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Vị tướng già trong nhà dưỡng lão

Huy Phương/Người Việt


“Anh hùng mưu sự chẳng nên
Cúi xuống thẹn Ðất, ngước lên thẹn Trời!”

(Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai)

DALLAS - Một người bình thường lúc về già sống cô đơn trong nhà dưỡng lão đã là một chuyện buồn, một vị tướng lãnh đã từng bao năm trận mạc, hôm nay sống trong một nhà dưỡng lão quạnh hiu đã gây không ít cho chúng tôi những cảm xúc bùi ngùi đau xót khi đến thăm ông.

Cùng với anh Thái Hóa Lộc, chủ nhiệm tuần báo Người Việt-Dallas, chúng tôi đến thăm Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai vào một chiều Chủ Nhật mùa Ðông tại “Pleasant Valley Healthcare and Rehabilication Center, 1525 Pleasant Valley Rd., Garland, TX 75040.” Khi chúng tôi bước vào phòng, thấy ông đang ngồi trên chiếc xe lăn, ông cho biết đang thay y phục, nên chúng tôi tạm lui ra chờ. Khi trở lại, ông đã tươm tất hơn trong bộ đồ mới.

Image
Ký giả Huy Phương và Thiếu Tướng Giai trong nhà dưỡng lão ở Dallas Ft Worth tháng 12, 2015. (Hình: Thái Hóa Lộc)

Nhận ra anh Lộc là người quen, thường thăm viếng ông, ông vui vẻ chuyện trò và nhờ chúng tôi đẩy ông ra ngoài phòng khách ngay lối ra vào, nơi mà các y tá có thể quan sát. Ở đây đã có nhiều ông bà già hiện diện, tất cả đều ngồi xe lăn. Ðây là một thói quen của ông, mỗi chiều, hoặc là ngồi đây vui hơn, hoặc là ông đang chờ ai đó, có thể vào thăm ông. Vào chiều Chủ Nhật, nhưng tôi không thấy có một thân nhân nào đến thăm những bệnh nhân ở đây, ngoài chúng tôi đang ngồi với Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai.

Ông chuyện trò rời rạc, khi đáp những của thăm hỏi của tôi, là người khách lần đầu đến thăm ông.
Lúc còn khỏe và tỉnh táo, trí nhớ tốt, mỗi tuần ba ngày, ông đến sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên tại thành phố Garland.

Bà Ðỗ Kế Giai qua đời vào tháng 11, 2012 sau khi ông vào bệnh viện được ba tháng. Từ bệnh viện, ông được chuyển thẳng về trung tâm này.

Ông bà có tất cả bảy người con, một gái và sáu trai. Bốn người đều ở các tiểu bang xa, chỉ còn lại ba người con trai ở gần ông. Hiện nay, ông còn có thể tự ăn uống và lo chuyện vệ sinh cho mình. Ông đã ở đây hơn ba năm, và tỏ bày: “Ở đây buồn quá!”

Những vị cao niên nằm trong viện dưỡng lão như hoàn cảnh của ông, còn nhớ chuyện này chuyện nọ, còn biết buồn, biết vui, có lẽ cảm thấy khổ hơn là những người đã mất trí nhớ hoàn toàn.

Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai sinh năm 1929 tại Bến Tre, trong một gia đình điền chủ, ông theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên Quân Ðà Lạt, ra trường vào tháng 4, 1952, và đơn vị đầu tiên của ông là Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, đóng tại Bắc Việt.

Lần lượt ông đã giữ các chức vụ tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù, tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù, chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 2 Nhảy Dù (1962), tham mưu trưởng Sư Ðoàn 25 BB, tư lệnh Sư Ðoàn 10 BB (tiền thân của SÐ 18BB-1966). Năm 1967 ông mang cấp bậc chuẩn tướng. Năm 1972, ông là chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Ðộng Quân và được vinh thăng thiếu tướng vào tháng 4, 1974.
Image
Hình Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai 42 năm về trước. (Hình: Gia đình cung cấp)

Ngày 28 tháng 4, 1975, Tướng Times bên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp đưa cả gia đình ông đi Mỹ, nhưng ông quyết định ở lại vì trách nhiệm của một tướng lãnh. Ngày 15 tháng 5, 1975, Cộng Sản đến nhà mời ông đi họp và đưa thẳng vào khám Chí Hòa, sau đó đưa ông cùng với các vị tướng lãnh khác ra Bắc Việt.

Ðến ngày 5 tháng 5 năm 1992, sau 17 năm ông mới được trả tự do, là một trong 4 vị cấp tướng cuối cùng ra trại với Thiếu Tướng Trần Bá Di, Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo và Chuẩn Tướng Thiếu Tướng Lê Văn Thân.

Ông và gia đình được xếp vào danh sách H.40 nhưng cuối cùng được đôn lên H.07, đến Mỹ vào tháng 11 năm 1994 và định cư tại thành phố Garland, Texas.

Theo lời kể của anh Thái Hóa Lộc, không phải là thân thích của ông, người vẫn thường ghé thăm ông, cho biết ông thích ăn các thức ăn Pháp và thích nhâm nhi chút rượu, nếu có thể. Lúc còn khỏe, ông cũng sẵn sàng nói chuyện xảy ra trong thời loạn lạc, một số chi tiết về Ðại Tướng Cao Văn Viên liên quan đến vụ đảo chánh 1963, cái chết của Thiếu Tá Nhung và một số chi tiết nhưng ông yêu cầu không nên đưa lên báo chí.

Bây giờ có chuyện nhớ chuyện quên nhưng ông cho biết vào mùa Ðông thân thể thường đau nhức, “chỉ có Wishky mới trị nổi thôi,” điều mà bác sĩ hoàn toàn cấm, nhưng đôi khi các cô y tá cũng thông cảm cho ông, khi biết ông xưa kia là một tướng lãnh.

Ông tâm sự với chúng tôi, là ông đã nghĩ đến ngày ra đi và không sợ chết. Ngày ông mất, xin nhờ bên anh em thuộc binh chủng Nhảy Dù lo chuyện hậu sự cho ông tươm tất là ông cảm thấy mãn nguyện rồi.
Ông đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ dài ông đã làm trong nhà tù Bắc Việt sau 9 năm bị giam cầm (khoảng năm 1984.) Bài thơ dài 65 câu, lời thơ đầy bi phẫn, xót xa của một tướng lãnh thất trận và là của một người tù không bản án, vô vọng không có ngày về.

Chỉ trong vòng mười lăm phút, ông đã đọc đi đọc lại cho chúng tôi nghe bài thơ này ba lần, điều này chứng tỏ ông đã đi vào thời kỳ lú lẫn. Anh Thái Hóa Lộc cho tôi biết, ông thường vào thăm ông, mang thức ăn cho ông, và lần nào, anh Lộc cũng nghe ông đọc bài thơ này. Ông cho biết trong nhà tù ông đã làm bài thơ và ghi nhớ trong đầu, đọc đi đọc lại nên thuộc nằm lòng, mà không dám viết ra giấy.

Trong khi Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai đọc đi đọc lại bài thơ viết trong nhà tù Việt Bắc, chúng tôi đã ghi âm lại và chép ra để các chiến hữu và độc giả hiểu được phần nào tâm sự của ông, một vị tướng già, thất trận đang sống những ngày cuối cùng xa quê hương, lẻ loi trong một nhà dưỡng lão xa lạ. Vì khuôn khổ của trang báo, chúng tôi chỉ xin trích một đoạn trong bài thơ của ông, bài thơ chưa đặt tên:

...“Ý thức hệ miền Nam kiếp nạn
Chín năm (1984) cố quốc dạ nào quên.
Không xoay thế cuộc, anh hùng lụy
Hào kiệt ngục trung, nợ nước đền.
Anh hùng mưu sự chẳng nên
Cúi xuống thẹn Ðất, ngước lên thẹn Trời.
Mài gươm rồi để hận đời
Chôn vùi thế hệ lụy người tù chung.
Oán thế nhân, xin đừng trách nữa
Lỗi lầm này hãy sửa sai chung.
Ðem xương máu học bài đắt giá
Chi đem thành bại luận anh hùng.


(Ðỗ Kế Giai-1984)

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Từ Lễ Tạ Ơn Đến Lễ Giáng Sinh 2015

Giao Chỉ San Jose
Image
Cảm ơn nước Mỹ,

Dân Sinh Media của anh Phạm Phú Nam năm 2016 sẽ chuyển qua một giai đoạn mới. Chúng tôi dự trù sẽ ra mắt nhiều tác phẩm DVD phim tài liệu từ cuối năm 2015 qua 2016. Một loạt phim cho thế hệ tương lai. Chuyện quá khứ, hiện tại và tương lai của cộng đồng Việt bằng hình ảnh và Anh ngữ. Nói tiếng Mỹ sẽ có phụ để Việt Ngữ. Chỗ nào nói tiếng Việt thì phụ đề Anh ngữ.

Cuốn phim đầu tiên qua bản thảo đã chiếu thử vào chủ nhật vừa qua. Ngay tại hội trường Santa Clara County lúc 10 giờ sáng chủ nhật 20 tháng 12-2015. Sáng sớm chủ nhật trời lạnh. TV báo tin có mưa. Dù thông báo cũng không rộng rãi, nhưng may thay bà con đến ngồi kín cả hội trường.

Khai mạc đúng giờ và các em nhỏ của Thái Bình nhạc viện đã làm quan khách rất ngạc nhiên với những màn đồng ca vô cùng xuất sắc. Các em bé từ 6 đến 15 tuổi hát luôn một loạt quốc ca Hoa Kỳ, quốc ca VNCH, chiến sĩ vô danh và God Bless America.

Tiếp theo là đến phần chiếu phim. Phim này mở đầu cho một loạt phim song ngữ có danh hiệu là Thank you America. Buổi chiều phim được coi là thành công trong ân tình của khán giả và sự đồng thuận của đề tài. Tuy vậy cũng vẫn có thân hữu xa gần hỏi rằng thực sự chúng ta có cần phải cảm ơn nước Mỹ hay không? Câu chuyện chúng tôi sẽ kể hầu quý vị dưới đây trong mùa giáng sinh năm nay xin được phép trả lời. Nhưng phải tạm ngừng ở đây để báo cáo chuyện cuối năm. Có hai tin tức cần được chia xẻ với bà con.


Chuyện Homeless

Cũng như nhiều đô thị đông dân trên thế giới, San Jose có vấn đề với dân không nhà. Chủ trương của thành phố đầu năm 2015 là giải tỏa nhiều khu vực homeless vì lý do vệ sinh, cần sa, ma túy. Nhưng mùa đông trở về San Jose lại phải chấp thuận cho khách homeless cắm trại ở 7 khu quanh thành phố. Nhiều hội đoàn Mỹ Việt, các nhà thờ vẫn lên chương trình dọn ăn cho homeless tại các trung tâm.
Image Chương trình thực đơn thân ái do cơ quan IRCC chúng tôi bắt đầu từ đầu năm 1992 tính đến 2016 là vừa đúng 24 năm. Nếu quý vị động lòng từ thiện vào mùa đông tháng giá mới tham dự, điều đó cũng rất quý. Tuy nhiên nếu tình nguyện hàng tháng, quanh năm kéo dài trên 20 năm thì quả thực cũng là thời gian công tác đáng kể. Tháng 10 vừa qua hội Ái Hữu Petrus Ký lên phiên . Tháng 12 này đến lượt hội nữ quân nhân QLVNCH và qua tháng 1-2016 là quý vị của gia tộc họ Vũ đảm trách.

Quý vị nào muốn đóng góp xin gửi chi phiếu về IRCC/Homeless 3017 Oakbridge Dr. San Jose CA 95121. Đoàn thể nào muốn nhận công tác từ tháng 2-2016 xin liên lạc về cho Ông Đức Quyền (408) 912 3477. Yểm trợ cho chương trình Homeless của IRCC là công tác thiết thực nhất nói lên lời Cảm Ơn Nước MỸ.

Nghĩa Trang Biên Hòa.

Trong những ngày gần đây, quý vị đã nghe tin 2 chính phủ Mỹ và Việt Nam bàn đến việc trùng tu và bảo toàn Nghĩa Trang Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại Biên Hòa trước đây, nay là Nghĩa trang Nhân dân Bình An. Thực ra đây mới chỉ là sự vận động của các giới chức dân cử và bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Trên thực tế, mặc dù hoang phế điêu tàn nhưng suốt 40 năm qua Nghĩa trang Biên Hòa vẫn còn tồn tại phần lớn tại khu chôn cất 16 ngàn tu sĩ.
Image Sở dĩ vẫn còn tồn tại là nhờ các thân nhân, chiến hữu từ Việt Nam và từ các nước trở về tảo mộ dưới hình thức không chính thức. Chúng tôi hiện có đầy đủ tin tức chính xác và cụ thể để tổng hợp thành tài liệu sẽ phổ biến. Riêng lần này chỉ có thể tóm tắt kể từ khi cơ quan IRCC phát động phong trào tảo mộ nghĩa trang từ đầu năm 1993 cho đến nay đã trải qua 23 năm dài. Sự tiếp tay hưởng ứng của bà con, của chiến hữu và của các tổ chức , các nhóm tình nguyện từ Pháp, Úc, Canada và đặc biệt là Mỹ quốc đã làm nên lịch sử.

Bây giờ hồ sơ Nghĩa trang đã có tại bộ ngoại giao Mỹ, tại bộ quốc phòng, tại tòa đại sứ Mỹ tại Hà Nội và tòa lãnh sự tại Sài Gòn. Vì vậy sự tồn tại và bảo toàn trong tương lai của nghĩa trang sẽ là sự thực. Sau cùng là câu chuyện nhà.
Đám tang của cậu em.

ImageImage
Trưa ngày thứ ba 22 tháng 12 năm 2015, gia đình chúng tôi tiễn đưa cậu em về nơi vĩnh cửu. Xin kể chuyện nhà nhưng cũng là dịp để bà con biết thêm kinh nghiệm về chuyện tử sinh. Cá nhân chúng tôi đã từng có dịp đưa tiễn biết bao nhiêu bà con, chiến hữu trong 40 năm qua tại Hoa Kỳ. Có lần lễ tang kéo dài 3 hay 4 ngày cuối tuần. Nhiều đoàn thể thăm viếng. Các lễ nghi tôn giáo thay phiên. Quan khách xa gần vô cùng đông đảo. Cáo phó chia buồn trên Radio, TV, báo chí tràn ngập giới truyền thông và sau cùng nghi lễ tiễn đưa long trọng. Lần nầy tang gia chúng tôi tổ chức đơn giản. Xin kể để bà con trong cảnh nhà đơn chiếc biết thêm tin tức. Chuyện như thế này.

Tuần trước cô em gái tôi gọi cho anh. Chú Hoàn đi rồi. Tôi hỏi cô tính sao? Cô em tôi là người săn sóc cho chú em chồng bị tâm thần suốt 35 năm ở Mỹ, bây giờ là chuyến ra đi sau cùng. Cô nói là không thể để chú Hoàn ra đi như người chết vô thừa nhận. Nếu gia đình không nhận thì sở xã hội sẽ lo hết. Họ sẽ thiêu chung hay thiêu riêng rồi tro tàn đem đi đâu chẳng ai biết. Cô cán sự nói rằng nếu gia đình nhận đứng ra thì có nhà quàn đường số 2, San Jose sẽ đảm trách mọi chuyện. Nếu không cần chỗ quàn để thăm viếng. Chỉ đơn giản đem thiêu riêng có thân nhân chứng kiến thì phải trả chi phí là $3000. Sau đó tro tàn sẽ đưa về nghĩa trang tại Santa Clara City. Tôi tán thành với cô em và hai anh em sẽ đến cùng cô cán sự xã hội gặp nhà quàn đường số 2 San Jose để cùng thu xếp.

Tiểu sử người ra đi:

Dù hoàn cảnh ra sao, con người ta ai mà chẳng có tiểu sử. Cậu em chúng tôi tên là Nguyễn Văn Hoàn sinh ngày 5 tháng 12 năm 1944 tại Thái Nguyên. Chú Hoàn là em ruột của chú Nguyễn Văn Nhạc. Thiếu tá Nhạc là sĩ quan Đà Lạt khóa 16 lập gia đình với em gái của chúng tôi.

Hoàn gốc miền Trung những sinh ra tại Thái Nguyên khi ông già làm công chức trên miền thượng du. Cả gia đình di cư vào Nam 1954. Chú Hoàn thông minh, học giỏi đỗ tú tài toàn phần 1964, tốt nghiệp kỹ sư canh nông tại trường Nông Lâm Súc 1968. Được đưa về bộ canh nông thời VNCH. Sau trận Tết Mậu Thân, tổng động viên Hoàn vào Thủ Đức 1969.

Ra trường vì gốc nông nghiệp nên được thuyên chuyển về cục Quân Nhu.Thời đó quân đội đã có kế hoạch tính đến tương lai, một mai hòa bình sẽ đưa toàn quân ra làm ruộng nên chuẩn bị chương trình Nông Mục quân đội. Chuẩn úy Nguyễn Văn Hoàn bắt đầu phụ trách nông mục nuôi gà nuôi heo và nghiên cứu các thức ăn cho gia súc. Trải qua 5 năm binh nghiệp từ chuẩn úy thăng cấp thiếu úy rồi trung úy nhưng trước sau Hoàn vẫn là một sỹ quan hết sức hiền lành.

Qua năm 74 theo nhu cầu, bộ canh nông xin cho trung úy Hoàn biệt phái ngoại ngạch trở về công chức, bổ nhiệm xuống Bạc Liêu làm phụ tá ngân hàng nông nghiệp.

Ngày 30 tháng tư 75 khi vị tư lệnh quân đoàn tự vẫn thì các nhân viên ngân hàng di tản hết, chỉ còn anh trung úy quân nhu biệt phái ngồi giữ cơ quan. Cộng sản vào bắt trung úy Hoàn đi tù cải tạo ba năm. Một hôm vào rừng đốn cây, bị tai nạn cây đổ vào đầu, anh tù độc thân hiền lành nhất của trại trở thành bệnh tâm thần. Nhờ lúc tỉnh lúc điên nên Hoàn được tha về. Mẹ già tưởng rằng tương lai tươi sáng nhờ con làm chức quan trọng ở ngân hàng, bỗng một sáng một chiều trở thành anh tù tâm thần chẳng còn làm được chuyện gì. Hy vọng gửi con đi Mỹ may ra chữa được bệnh điên, trung úy Hoàn được đi vượt biên năm 1979. Bà mẹ thu xếp mọi chuyện nhưng không ngờ chuyến tàu đưa con vào chốn hãi hùng.

Con tàu vượt biên bị hải tặc, câu chuyện này đã cùng chung với biết bao nhiêu con tàu bi thảm xảy ra vào năm 79. Đàn bà con gái bị hãm hiếp. Đàn ông con trai bị chém giết đánh đập. Nguyễn văn Hoàn vốn bệnh tâm thần lẩm nhẩm với hải tặc Thái lan lại bị đánh thêm một trận trở thành điên luôn. Nhưng vẫn may mắn thoát chết vào được Songkhla Thái Lan.

Sau cùng được vợ chồng cô em tôi lập hồ sơ đoàn tụ vào Mỹ. Đó là năm 1980. Nước Mỹ nhân đạo đã mở rộng vòng tay đón cậu em chúng tôi vốn thân thể tiều tụy, đầu óc không giống ai. Vậy mà không biết làm sao phỏng vấn với phái đoàn Mỹ vẫn đậu. Có thể là bệnh tâm thần nhưng trung úy Hoàn thông suốt lịch sử Hoa Kỳ. Năm 80 nhất định đòi vào Mỹ gặp tổng thống Carter.

Phi cơ đến phi trường Travis, gia đình cô em chúng tôi đón được cậu Hoàn, đâu có biết rằng sẽ phải lo cho một người điên hơn 35 năm tiếp theo. Gia đình cô em có hai vợ chồng và 2 con gái. Cũng chẳng giàu có gì và đời sống ở Mỹ biết bao nhiêu chuyện phức tạp. Chú Hoàn thì tiền già chưa có, tiền bệnh chưa khai được. Mỗi lần vào khai xin tiền bệnh, trung úy Hoàn giải thích chuyện chính trị Hoa Kỳ bằng tiếng Mỹ con ngang ngửa với worker Việt Nam, làm sao mà cho ăn tiền bệnh được. Hạnh phúc đến được là sau nhiều ngày tháng, bệnh lại nặng dần và county lúc đó mới nhận ra là anh chàng điên thật. Dù có tiền bệnh nhưng bệnh nhân tâm thần không thể tìm được chỗ share phòng. Gia đình cô em vất vả suốt 20 năm mới tìm được chỗ ổn định từ khi cậu Hoàn tưởng chết trong nhà thương lại được chuyển qua nursing home.

Như vậy 15 năm sau cùng của cuộc đời, chú Hoan đã được tất cả các phương tiện y khoa Hoa Kỳ săn sóc chu đáo. Cơm bưng nước rót. Cái Nursing home này ở Campbell chỉ có một mình chú là người Việt Nam. Cả ngày Trung úy Hoàn nói anh ngữ lưu loát nhưng chẳng ai hiểu chú nói gì. Tháng nào chú cũng gọi tel cho anh Lộc báo cáo là có gặp các tướng lãnh và tổng thống Hoa Kỳ. Nói anh phải vào ngay trong này, em đã thu xếp văn phòng cho anh. Anh phải gặp Đại tá Cục Trưởng Quân Nhu Nguyễn Tử Đóa mua thêm thức ăn cho gà Nhật Bản. Em đã viết xong chương trình cho quân đội tự túc tự cường. Mình không cần Mỹ. Anh Lộc vào đây lấy ngay tài liệu để trình cho tướng Khuyên.

Một lần khác chú Hoàn kêu khẩn cấp cho biết trong này toàn Việt Cộng mặc đồ trắng. Anh phải đưa biệt kích dù mặc đồ ngụy trang vào giải tỏa. Tình trạng không thể trì hoãn. Nguồn tin A1.

Những chuyện như vậy cứ kéo dài suốt 35 năm. Tin khẩn cấp sau cùng cô em tôi gọi đến là chú Hoàn đi rồi. Trước khi đi chú đã viết xong tất cả các chương trình xây dựng đất nước. Chú không nói rõ cấp bậc sau cùng ra sao. Chú còn nói là cần báo ngay cho Obama phải cẩn thận. Con người suốt ngày giao thiệp với Clinton và Obama nhưng quanh vùng San Jose trải qua 3 thập niên, Chú không hề có một người bạn.

Ngày thứ sáu, anh em chúng tôi đến gặp bà Quản trị viên nhà quàn đường số 2. Có cô Cán sự Việt Nam qua Mỹ từ năm 3 tuổi cùng ngồi để thu xếp việc tang gia. Cô em tôi đã chuẩn bị sẵn 3 ngàn để đóng tiền. Nhưng cô Cán sự nói là gia đình không phải đóng. Mỗi tháng nằm đây chính phủ phải trả cho chú Hoàn năm bảy ngàn cả tiền phòng và thuốc men bác sĩ. Ngoài ra chú còn được cấp tiền túi.

Nhưng mấy năm nay chú Hoàn không mua thức ăn ngoài, không hút thuốc lá, không mua quần áo sách báo nên cô Cán sự mở cho chú chương mục tiết kiệm. Đủ tiền rồi. Cô em tôi đành phải cất tiền đi và nói rằng Cảm ơn nước Mỹ. Tôi hỏi thêm vậy thì xác của chú Hoàn bây giờ ở đâu. Bà Sue của nhà quàn nói là ngay khi được báo thì chúng tôi lấy xe Mercedes chở chú từ Nursing home về đây. Tôi xin cho nhận diện chú em.

Bà ta nói để chuẩn bị 2 phút. Tôi theo ra phía sau. Từ kho lạnh người ta đẩy di hài chú em cho anh xem mặt. Trung úy Hoàn ốm yếu, hốc hác nhưng đúng là chú Hoàn. Nằm yên lặng hết sức bình yên. Chú đã trải qua biết bao thăng trầm lịch sử. Từ sinh quán Thái Nguyên, qua đất Huế, vào Sài Gòn. Kỹ sư Nông Khoa, trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc. Động viên vào Thủ Đức chỉ nuôi gà nuôi heo quân nhu mà lên trung úy. Được chính phủ tín nhiệm giao làm phó giám đốc ngân hàng cho nông dân Bạc Liêu vay tiền làm ruộng. Ngồi gác kho bạc chờ đến ngày mất nước để đi vác cây mà thành tù điên.

Vượt biên không sợ hải tặc nên bị đánh trở thành khùng. Chữ nghĩa quá nhiều trong đầu nên phải học 18 năm mới trở thành công dân tâm thần của nước Mỹ. Bây giờ chú nằm đây mà vẫn có đủ tiền trong chương mục ngân hàng để trả nợ cho chuyến đi vào cõi vô cùng.

Trung úy Hoàn ra đi không có cáo phó phân ưu trên báo. Không một vòng hoa chia buồn. Trưa ngày thứ ba, gia đình anh em chúng tôi tổng cộng chỉ có 8 người, thêm hai ông bạn của chú Nhạc thuộc khóa 16 Đà Lạt vừa đủ 10 người. Có mặt tại nhà thiêu của thành phố Fremont
Image Đúng 12 giờ, vẫn chuyến xe tang hiệu Mercedes mầu trắng chạy tới. Trung úy Nguyễn Văn Hoàn nằm trong quan tài bằng carton giá $175. Cô em tôi mua bó hoa trắng đặt lên trên. Dù đã hưởng thọ 71 tuổi nhưng chưa vợ con nên đầu óc và thân thể người điên trong sạch như trẻ thơ. Tôi nói với 2 quan khách cùng khóa với chú Nhạc. Tôi cũng nói cho thân quyến về tiểu sử của chú Hoàn. Dù cũng trong gia đình nhưng các con cháu tôi cũng chẳng biết cuộc đời trung úy Hoàn ra sao.

Không có lễ tang tôn giáo. Không có lời cầu nguyện. Tất cả mọi người chỉ im lặng.Tôi nói thôi em Hoàn đi mạnh giỏi. Giây phút tiễn đưa chưa dài đủ 10 phút. Các tay đạo tỳ người Mỹ cũng ngạc nhiên. Họ đẩy quan tài giấy vào khu nhà thiêu. Hỏi rằng gia đình có ai tình nguyện bấm nút không? Tôi gật đầu. Gọi là có chút tình chiến hữu. Để anh đại tá 80 ra lệnh thiêu xác trung uý 70. Lò thiêu mở ra. Lửa bên trong đã cháy sẵn. Tôi bấm vào nút vàng. Quan tài bằng carton nhẹ nhàng chạy vào lò. Anh xếp nhà thiêu nói rằng nếu quan tài bằng gỗ thì phải mất 2 giờ. Nhưng bằng carton thì chỉ hơn 1 giờ.

Đó là câu chuyện chú Hoàn đi vào cõi vô cùng. Từ nay sẽ không có ai gọi cho anh Lộc báo tin các chuyện khẩn cấp để lo cho đất nước. Đối với trung uý Hoàn mãi mãi chúng tôi vẫn còn trong không gian Sài Gòn và thời kỳ 70. Quân ta chiến thắng, đất nước hòa bình, toàn quân trở thành nông dân và trung úy Hoàn sẽ giảng dậy cách tồn trữ cám heo và chích thuốc cho gà con.

Tôi nghĩ rằng nếu không vượt biên qua Mỹ mà với bệnh điên như vậy ở lại Sài Gòn không biết cậu em chúng tôi sẽ ra sao?

Em nó qua đây suốt nửa cuộc đời bồng bềnh như đi trên mây kéo dài đến 35 năm. Bằng hữu toàn thế giới ai biết sinh viên Hoàn nông lâm súc ra trường 68, Chuẩn úy Hoàn Thủ Đức 69, Trung úy Quân nhu 72, Phụ tá Ngân hàng Nông thôn Bạc Liêu 74, tù cải tạo 75, còn sống kỳ vượt biên 79 vào Thái Lan ... tang gia xin cáo phó rằng cậu em chúng tôi đã ra đi 71 tuổi như trẻ thơ 17.

Bây giờ chúng tôi còn biết nói năng gì! Cô em tôi lại nói lời cuối Cảm ơn nước Mỹ. Đó là lý do chúng tôi tôi chức ngày Thanh You America. Quý ông bà có những lý đó gì khác để cảm ơn nước Mỹ hay không?

Giao Chỉ, San Jose.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »


Những Giáng sinh trong trại tù Việt cộng


Trần Việt Yên

1- Giáng Sinh năm 1976 ở trại Long Giao



Năm 1976 tôi bị giam trong trại 11 Liên trại 3 Long Giao, Long Khánh. Vì mấy tháng trước xảy ra chuyện trốn trại bất thành, bị bắn đổ ruột mà không chết của anh Hà Văn Hùng và một vài anh em khác, đang bị cùm trong conex, nên không khí trong trại ngột ngạt, nặng nề, khó thở. Anh em chúng tôi ngoài giờ đi lao động vác gỗ, vác tre về làm hội trường nhà ở cho đám cán bộ và cuỉ cho nhà bếp còn phải khiêng phân trồng rau trồng sắn. Ở đội 1 (Đội có anh Hùng) ai nấy đều dè dặt lời ăn tiếng nói, các tên cán bộ quản giáo hay cán bộ đội cũng thay đổi thái độ không còn hay lai vãng xuống các đội dò xét chúng tôi mà có gì chỉ liên lạc với cácđội trưởng, trong đó đội trưỏng đội 1 chúng tôi là anh Lâm Võ Hoàng {sau này là cố vấn kinh tế ngân hàng cho Võ Văn Kiệt) ra ngoài khu cơ quan làm việc.


Riêng những anh hay ăn nói bốp chát với cán bộ như anh Phạm Lai, anh Dương Hùng Cường dường như cũng “sì tốp” bớt sau mấy lần anh Dương Hùng Cường bị điệu ra ngoài cơ quan làm việc trở về với dáng phờ phạc, đăm chiêu.

Tôi nhớ lại đêm Giáng Sinh năm đó, tôi buông mùng đi ngũ sớm hơn thương lệ, ngồi trong mùng tôi thầm đọc kinh cầu nguyện cho khỏi ai thấy, vừa đọc kinh tôi vừa nhớ lại những mùa Giáng sinh trước, những kỷ nệm êm đềm đầm ấm thủa nào, nước mắt tôi âm thầm rơi xuống gò má hốc hác trơ xương.

Tôi thiếp đi lúc nào không hay chợt có bàn tay ai đó kéo chân tôi làm tôi choàng tỉnh, vén mùng nhìn ra tôi lờ mờ thấy khuôn mặt của tên quản giáo Cảnh, đứng đàng sau lố nhố là mấy tên vệ binh súng AK lưỡi lê tuốt trần. Tên cán bộ ra hiệu cho tôi đi ra ngoài, tôi lẳng lặng đi theo hắn ra đến ngoài sân tập họp, ở đó tôi đã thấy có tốp người lặng lẽ ngồi chờ. Trời Long Giao se lạnh, tôi chỉ mặc có một cái áo tù mỏng, tôi thầm trách sao không cầm theo cái áo Jacket để giờ đây ngồi chịu lạnh.

Cũng nói qua về cái trại giam Long Giao đó, nó mang số 11 nghĩa là trước nó đã có 10 cái trại và sau nó thì không rõ còn bao nhiêu cái nữa. Trại nguyên là trại gia binh của Trung Đoàn 52 sư đoàn 18 Bộ Binh, nó gồm nhiều dãy, mỗi dẫy 10 căn nhà, chúng tôi bị giam cứ 1 căn nhốt 7 hay 8 người, 2 căn thành một tổ 15 người, hai dãy nhà thành một đội. Trại 11 gồm 8 đội và nhốt khoảng 1200 người tù cải tạo.

Lần lượt tên quản giáo dẫn ra thêm mấy tốp khác, chúng tôi hoang mang ngồi trong bóng tối, nên không biết là ai, nhưng có tiếng húng hắng ho làm tôi biết có anh Pham Lai, rồi có tiếng khò khè của anh Hoàng Bửu. Tên quản giáo quơ đèn pin ra hiệu cho chúng tôi đứng lên đi theo hắn. Chúng tôi lần lượt xếp hàng đôi đi về phía cổng trại giam như những bóng ma. Ra đến cổng, tôi thấy thêm một tốp vệ binh nữa cũng trang bị súng AK với lưỡi lê tuốt trần nhọn hoắt. Tên quản giáo chiếu đèn pin ra hiệu cho từng cặp ra một, tôi và Vang bước ra nhập vào đám đông đang đứng chờ rồi tiếp tục đi về phía hội trường. Ở đó giữa ánh sáng vàng vọt của mấy ngọn đèn dầu, tên thiếu tá trại trưởng nét mặt ra vẻ nghiêm trọng đang đợi chúng tôi trên bục giảng. Chúng tôi lặng lẽ ngồi xuống nền đất đỏ của hội trường. Tên trại trưởng đằng hắng rồi cất cao giọng, hắn giảng thuyết theo bài bản mà chúng tôi vẫn phải nghe mỗi khi lên lớp, đều là ca tụng đảng CS, ca tụng bác hồ của hắn, ca tụng phe xã hội chủ nghĩa của hắn. Nhìn nét mặt say sưa của hắn tôi tin rằng hắn đang thành thật sùng tín vào những điều hắn nói. Hôm nay đặc biệt hắn lại nói về tôn giáo, hắn kết án các tôn giáo ở miền Nam, cho rằng các tôn giáo làm cản trở bước tiến giải phóng miền Nam. Sau một hồi kết án chán chê, hắn ra lệnh cho chúng tôi về trại, lần này hắn không hỏi và bắt chúng tôi hô lớn: “Thưa cán bộ, hiểu!!” như thông lệ hắn vẫn làm từ trước đến nay.

Chúng tôi lại lục tục kéo nhau về trại giam.

Trước khi bước chân vào buồng, tôi, Vang và Hoàng Bửu bị hắn chặn lại thì thầm vào tai: “ Tôi nói cho các anh biết các anh có bỏ đạo thì mới được về!”, rồi hắn dặn: “Không được nói cho ai biết chuyện đêm nay đấy nhé”.

Tôi leo lên sạp thì nghe tiếng gà eo óc gáy từ xóm nhà dân ở Cẩm Đường văng vẳng vọng laị. Tôi thiếp đi cho đến sáng.

Ngày 25 Giáng Sinh chúng tôi vẫn tiếp tục lao động như thường lệ, nhìn ánh mắt nhau, chúng tôi thầm hiểu đêm qua CS tập trung anh em sĩ quan Công Giáo, Tin Lành lại vì chúng không muốn cho chúng tôi có dịp tập họp ca hát và đón mừng Chúa như mùa Giáng Sinh 75 đầu tiên trong trại tù ở Phú Lợi, Bình Dương. Chúng tôi biết chúng muốn đe dọa và dụ dỗ để phá hoại niềm tin vào Thiên Chúa của anh em chúng tôi. Nhưng chúng đã lầm, càng gian nan chúng tôi càng cảm thấy cần có Chúa hơn.


2 – Giáng sinh 1977 ở trại Hồng Ca Yên Bái Hoàng Liên Sơn.



Tháng 7 năm 1977 chúng tôi bị chuyển ra tù ngoài Bắc bằng mấy chuyến tàu sông hương trong những chuyến đi kinh hoàng. Đầu tiên chúng đưa chúng tôi về trại Lao Cai ít hôm rồi chuyển tiếp về trại Khe Thắm, huyện Trấn Yên do bộ đội CS kiểm soát được mấy tháng, lại chuyển chúng tôi về trại Hồng Ca, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn do Công An CS quản lý.


Chúng tôi như cá chậu chim lồng vì lúc ở trại do bộ đội quản lý dù sao chúng tôi còn được hít thở không khí có đôi chút tự do, hàng ngày chúng tôi lên rừng chặt giang chặt nứa cả ngày miễn sao đủ chỉ tiêu một người bốn bó giang mỗi bó 5 cây giang dài 4 mét hay 2 bó giang nứa mội bó 30 cây cũng dài 4 mét là được, thời giờ còn lại chúng tôi đi câu cá, câu cua hay hái măng giang bắp chuối rừng về ăn cho đỡ đói.


Ở trại Hồng Ca, chúng tôi bị bó buộc lao động trong 4 bức rào nứa của vòng ngoài trại giam. Ỏ đó ngoài đội trồng sắn, chúng tôi là được lãnh đi làm tập thể rẫy cỏ sắn chờ thu hoạch ở mấy ngọn đồi quanh trại. Bắt đầu từ ngày 18 /12 chúng tôi thu hoạch sắn, mỗi người theo chỉ tiêu nhổ 60 gốc sắn, dùng cuốc hay dao cắt rồi gom củ sắn lại thành đống để nhóm Tự Giác đánh xe trâu ra chở về trại luộc lên phát cho trại viên mỗi người 2 hay3 củ một ngày để thay cơm hay bánh bột mì hấp vừa dai vừa đen sì và nồng nặc mùi *** dán.

Chiều ngày 23 đi lao động về, lãnh phần ăn thay vì mấy củ khoai mì gầy guộc, chúng tôi nhận cứ 8 ngườiđược một xoong cháo nấu bằng sắn bào, lõng bõng mấy tép hành khô và đám láng mỡ lều bều, nhà bếp giải thích là vì sắn phải đem ra ty lương thực huyện kiểm thu, xong rồi mới phát lại cho trại nên hiện trại không còn lương thực gì kể cả sắn thu hoạch, chúng tôi lặng lẽ húp chén cháo sắn lõng bõng rồi đi ngủ cho quên cái đói ồn ột sôi trong bụng.

Qua ngày hôm sau cũng thế. tình trạng kéo dài đến 25, nhiều anh em trong đội sắn chúng tôi đói quá hóa liều lén nhai cả sắn sống bị say, nôn ói ra mật xanh mật vàng.


Trưa ngày 27, nhiều anh em lả đi nằm thiếp trong sàn cáo bịnh nhưng lịnh của tên trại trưởng thông báo chúng tôi phải tập trung lên hội trường.

Chúng tôi dắt díu nhau lên hội trường trong khi đám cán bộ trại nhìn những bước chân xiêu vẹo của chúng tôi ra vẻ thích thú chúng, huých vai nhau và cười hô hố.

Tên đại úy trại trường tự giới thiệu là Trần Văn Sơn, hắn nhăn nhở đứng trên bục giảng đảo mắt qua chúng tôi một lượt rồi cho lệnh chúng tôi ngồi xuống. Hắn bắt đầu cất cao bài giảng thuyết mà chúng tôi rất quen thuộc vì ở trại nào từ quân đội cho đến công an đề lớp lang như nhau, không khác một giọng lên bổng hay xuống trầm.

Kết thúc bài giảng hắn hỏi chúng tôi giọng ân cần giả nhân giả nghĩa:

-“ Các anh có đói không? Ừ tôi biết các anh đói mấy ngày nay, vì trại phải nộp thu hoạch cho huyện.

Đột nhiên hắn cất cao giong như thét lên:

- “Các anh tin có Chúa của các anh, sao các anh không cầu Chúa của các anh cho các anh ăn no, các anh cứ cầu đi, biết đâu ông Giê Su của các anh chẳng ban ngay cho các anh mỗi người cái bánh tây to tổ bố như thế này này?“ vừa nói hắn vừa phùng mang trợn mắt vung hai tay lên thành vòng tròn.

Rồi hắn chỉ tay vào ngực giọng chì chiết

- “Đó các anh cứ cầu xin đi! Nhưng mà tôi nói cho các anh biết chỉ có thằng cộng sản này là cho các anh được no mà thôi. Các anh cử thử xin mà xem thằng cộng sản này có cho các anh no nê không nào?

Nói đến đây hắn có vẻ thỏa mãn, hả hê lắm rồi như khoe:

-“Các anh về traị đi xem hôm nay có được no không nào?

Chúng tôi về đến trại, quả thật chiều hôm đó mỗi người chúng tôi lãnh một nón cối đầy khoai mì luộc còn bốc khói. Tôi nhai mà niềm uất hận cứ trào dâng lên làm tôi nghẹn không thể ăn được hơn hai củ khoai bàng cườm tay trẻ con, dù bụng tôi đói cồn đói cào.


3- Giáng Sinh 1979 trại Tân Lập Vĩnh Phú.


Đầu năm 1978 chúng tôi bị chuyển đến trại Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú, vì tình hình căng thẳng ở biên giới Việt Hoa. Trên báo Nhân Dân mà chúng bắt chúng tôi phải nghe, lác đác đã có các bài chửi Trung Quốc. Một lần có tên vệ binh hỏi chúng tôi nếu có yêu cầu đánh nhau với Tàu các anh có đi đánh không tôi trả lời tôi tuy là lính nhưng chỉ biết cầm sơn, cầm cọ, cầm viết chứ không biết cầm súng, nhất là súng AK. Hắn nhìn tôi lúc lâu rồi đỏ mặt quay đi.


Trại Tân Lập là một trại rất lớn đã có từ lâu đời. Trên những ngôi mộ tù thỉnh thoảng chúng tôi lượm được những thanh gỗ mục có viết tên những tù nhân bị chết ở đây có mảnh dễ chết từ năm 1954, 55. Trại Tân Lập chia ra làm 5 phân trại. Phân trại 2 của chúng tôi nằm tận trong cùng của dòng suối Ngọc quanh co chảy ra đến gần Ấm Thượng.

Nhiệm vụ chính của chúng tôi là trồng rau xanh, cung cấp cho toàn trại, đồng thời còn trồng sắn trên những ngọn đồi trọc cách trại gần 2 cây số.


Từ các trại tù gần biên giới Việt Hoa chúng tôi bị đưa về tập trung ở 2 trại của tỉnh Vĩnh Phú là Hồng Quang và Tân Lập. Phân trại K 2 chúng tôi gồm toàn các anh em trẻ từ trại Hồng Ca chuyển đến đợt đầu, rồi đến nhiều đợt kế tiếp gồm toàn các sĩ quan từ cấp trung tá trở xuống.

Ngày nọ trại K 2 tiếp nhận thêm một đợt gồm toàn các vị linh mục, mục sư, đại đức trước đây là tuyên úy trong quân đội đã giải ngũ hay còn đương nhiệm. Các cha, thầy bị tập trung vào một đội mà bọn vệ binh chúng thường gọi lóng với nhau là đội “đạo binh hương khói”. Công việc của đội tuyên úy là chăn gà chăn lợn trong vòng rào thứ 2 của trại. Một số khác tăng cường cho đội nhà bếp trong đó có cha già Bỉnh.

Giáng Sinh năm 1978, nhờ có các cha mà chúng tôi được xưng tội rước lễ và dâng lễ Giáng Sinh dù phải khéo léo âm thầm để che mắt bọn vệ binh, quản giáo. Đêm Giáng Sinh năm đó chúng tôi hướng về buồng giam các tuyên úy để cùng thầm dâng lễ nửa đêm dù chúng tôi phải nằm trong mùng và trùm chăn kín mít vì lạnh.

Cuộc đời khổ sai của chúng tôi cứ thế trôi dần cho đến cuối năm 1979 thì xảy ra một biến cố lớn. Số là trong trại bỗng từ đâu có tin đồn loan truyền rằng chúng tôi sắp được thả hay được đi qua Mỹ. dù không tin tưởng lắm nhưng lòng tôi cũng háo hức. Bạn bè hỏi, tôi chỉ cười: Tao an tâm cải tạo chờ đón thế kỷ 21 – không biết sao lời nói của tôi đến tai tên quản giáo, hắn bắt tôi tra vấn và làm kiểm điểm.

Rồi mùa Giáng Sinh cũng đến. Sáng ngày 24, như thường lệ chúng tôi tập trung trước sân trại chờ gọi tên từng đội báo cáo con số tù xuất trại đi lao động. Lần lượt các đội đếu được gọi tên, cuối cùng chỉ còn đội Tuyên Úy là sót không được gọi.

Khi tất cả cải tạo vừa ra khỏi trại là lúc mấy chục tên công an vũ trang ùa vào trại. Chúng xông đến đội tuyên úy còn đang ngơ ngac rồi vây chặt họ lại, tên cán bộ trực trại đọc lệnh khám tư trang. Thế là các tuyên úy được áp giải về buồng giam. Mọi người thu xếp tư trang rồi khệ nệ cõng, khiêng ra trước sân lán và cuộc khám công tư trang quen thuộc với chúng tôi lại diễn ra. Có khác chăng, lần này đám công an vũ trang khám xét kỹ lưỡng tỉ mỉ từ đường khâu mối vá trên áo trên quần các vị tuyên úy.

Một tốp công an khác vào trong buồng khám xét, săm soi mọi chỗ nằm từ gầm sạp cho đến kẽ lá trên mái nhà ngay đầu nằm các cha các thầy. Chúng lôi ra đủ thứ trong đó nào là mấy cái ống bương đựng nước đến những thánh giá làm bằng gỗ củi, có vài miếng tôn nhỏ bàng ngón tay mà các cha các thầy dùng để cắt miếng bánh mì hấp vừa khô vừa cứng. Chúng đem những thứ đó ra và hỏi lớn xem của ai, có thứ thì có người đứng ra nhận có thứ thì không, mỗi khi có người nhận món gì tên quản giáo đều ghi tên vào cuốn vở học trò bằng giấy giang hắn kè kè mang theo rồi quăng món đó vào cái thùng xe cải tiến. Còn món nào không có người nhận, chúng tập trung tất cả và đưa cho tên quản giáo.

Tên quản giáo đội dẫn các cha. các thầy trở vào buồng, cho để đồ lên sạp theo sự chỉ định của hắn xong rồi bắt các cha các thầy tập trung ngồi khít hai bên đầu dãy sạp và bắt đầu kiểm điểm, hắn lôi ra từng thứ và hỏi lại món này của ai. Mội lần có người nhận hắn lại chăm chú ghi chép vào cuốn sổ. Phần đông các cây thánh giá thì có các cha, các mục sư nhận, hắn ghi vào sổ nhưng không giao lai cho khổ chủ. Cuối cùng chỉ còn mấy miếng sắt bằng ngón tay dùng để cắt bánh mì hấp là không có ai nhận, vì thực ra có ai biết rõ cái nào là của mình đâu trong trại tù đổi chỗ nằm xảy ra xoành xọach, có khi người này làm để quên ở chỗ nằm khi di chuyển lâu dần quên, người khác đến nằm tìm được cứ thế dùng rồi lại dấu đi, nên nào biết của ai đâu.

Tên quản giáo hỏi gằn mấy lần vẫn không có ai nhận, hắn bực dọc đứng lên: “ Các anh vẫn còn ngoan cố bao che cho nhau chẳng anh nào thật thà khai báo, cứ quanh co dấu tôi thì bao giờ mới tiến bộ mà về?!. Các anh dùng cái này làm gì có phải đây là thứ vũ khí sắc nhọn không?!

Các anh định tái vũ trang đấy à? Này tôi bảo cho mà biết đừng có mà bẻ nạng chống trời là không được với tôi đâu! Tôi yêu cầu anh Tùng ( Đại Đức NX Tùng Đội trưởng ) phải kiểm điểm hết đêm nay tìm cho ra đến bao giờ xong mới cho đội nghỉ. Nói xong hắn ngoe ngoảy đi ra cửa buồng. Thế là cả đội cứ ngồi im lặng kiểm điểm từ giờ này cho đến giờ kia.

Đến giờ đóng cửa buồng mà các vị vẫn chưa được tha tội cứ ngồi chịu trận mà chẳng được ăn gì từ sáng cho đến tối. Đến khoảng gần 10 giờ tên quản giáo trở lại và hỏi:

“Chưa xong à?, thôi mai cho cac anh kiểm điểm tiếp!!"

Các cha các thầy đều lặng lẽ ra chia phần ăn là mấy lát rau muống luộc với một chén sắn rồi âm thầm ăn uống trong lạnh lẽo của một đêm Giáng Sinh. Các vị ăn xong ai nấy về chỗ nằm mới đến gần khoảng nửa đêm bỗng có tiếng một vị đại đức lên tiếng:

- “Đêm nay là đêm Giáng Sinh, mình nên làm gì để ghi nhớ ngày Thiên Chúa giáng trần đi chứ. Chẳng thấy ai hưởng ứng vì ai cũng đã quá mệt mỏi. Một lát sau vị đại đức lại đề nghị:

- “Hay chúng ta hát vài bài ca để kỷ niệm Giáng Sinh? “

- “Nhưng có được hát nhạc đạo đâu nào”, có tiếng ai đó đáp lại.

- “Thì mình hát nhạc cánh mạng cũng được chớ sao miễn là miệng mình hát nhưng lòng mình tường nhớ đến Chúa cũng được chớ gì.”

Cuối cùng, sau một hồi thì thào bàn tán, mọi người đồng ý hát nhạc cách mạng trong đêm Nôel.

Cha Thanh Châu là vị tuyên úy của Vùng 4 chiến thuật xung phong đứng ra bắt nhịp cho các vị cùng hát. Tiếng hát ban đầu còn nhỏ sau to dần to dần mọi người say sưa hát như quên hết nỗi căng thẳng trong ngày! Những bài hát CS trong một đêm Giáng sinh vang lên trong trại tù!!

Đang say sưa ca hát bỗng cửa buồng xịch mở: 5, 6 tên công an vũ trang súng AK lăm lăm trong tay xông vào, đi sau là tên thượng sĩ Quang, cán bộ giáo dục trại, hắn hách dịch hỏi:

- “Tại sao các anh không ngủ mà còn ca hát ồn ào?”

- “Thưa cán bộ chúng tôi chưa ngủ được vì cả ngày kiểm điểm căng thẳng quá, chúng tôi muốn ca hát đôi chút cho khuây khỏa”.

- “Ai là ca trưởng?”

- “Thưa cán bộ không có ai là ca trưởng, chỉ có tôi cầm càng bắt nhịp cho anh em hát”

- “Ai cho phép anh xuyên tạc nhạc cách mạng?”

- “Thưa cán bộ chúng tôi hát nhạc cách mạng chứ có phạm gì đâu?”

- “Không lôi thôi gì cả anh theo tôi đi ra ngoài, các anh khác ngủ đi lấy sức mai lao động, còn hát nữa là tôi cùm đấy”.

Nói xong hắn dẫn Cha Châu ra khỏi phòng trong bóng đêm dày đăïc, mọi người lặng lẽ nằm xuống ngủ vùi.

Sáng hôm sau trước giờ chúng tôi đi lao động, tên cán bộ trực trại điệu Cha Châu ra trước sân tập họp rồi hắn đọc lệnh biệt giam cha 14 ngày vì tội “Hát xuyên tạc nhạc cách mạng”.

Ai nấy đều thắc mắc cho đến ngày Cha được tháo cùm thả về đội, mọi người mới vỡ lẽ vì các vị hát bài “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” trong đó có câu: “Nếu còn bóng quân xâm lược thì QUÉT sạch nó đi!”

Tên cán bộ giải thích: - “Các anh hát ra là: Nếu còn bóng quân xâm lược thì GIẾT sạch nó đi. Bác Hồ có nói thế bao giờ?! Rõ ràng là các anh xuyên tạc lời bác, tưởng chúng tôi không biết hả????”

Thật ra đó chỉ là cái cớ để chúng dẹp các cuộc tụ họp dưới mọi hình thức trong đêm Noel mà thôi. Bằng chứng là trong các đội khác, thỉnh thoảng vẫn có người hát là “Giết sạch nó đi” mà có sao đâu?

Tất cả những sự kiện trong bài đều là có thưc, chúng tôi chỉ xin sửa đổi tên họ của vài anh em còn kẹt tại quê nhà, vì khôngmuốn công an lại đền hành hạ các anh thêm.

Trần Việt Yên

__._,_.___

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Image

Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH
chính thức phát động chương trình “1 Gia Đình 1 Thương Phế Binh”


Tâm Thư

Kính thưa qúy vị,


Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Qủa Phụ VNCH (HO/TPB/QP/VNCH) là một tổ chức hoàn toàn tự nguyện điều hành bởi các thiện nguyện viên
làm việc không lương bổng từ gần 20 năm qua. Hội không nhận được sự hỗ trợ của bất cứ nguồn tài chánh nào ngoài tiền đóng góp thường xuyên
của một số quý vị đồng hương hoặc qua các chương trình đại nhạc hội “Cám Ơn Anh” hàng năm để gây quỹ cứu trợ các TPB ở quê nhà.
Tuy là một hội đoàn nhỏ, nhưng nhiều nơi cứ nghĩ rằng Hội HO/TPB/QP/VNCH là một “cơ quan trung ương” nên cứ gởi hồ sơ TPB về cho hội mỗi ngày một nhiều!
Vì thế mặc dù ngân khoản thu được mỗi năm, một cao hơn, nhưng vẫn chỉ đủ tiền giúp đỡ khoảng 70% trong số 20 ngàn hồ sơ TPB và QPTS
mà Hội hiện đang lưu giữ. Do đó, để tạo thêm cơ hội và phương tiện hầu giúp cho quý vị ân nhân có thể đóng góp một cách dễ dàng và tích cực hơn, kể từ ngày 1 tháng Giêng, 2016, Hội HO/TPB/QP/VNCH chính thức phát động chiến dịch có tên là “1 Gia Đình 1 Thương Phế Binh”.
Chương trình này sẽ được phổ biến rộng rãi trên Website: “1giadinh1thuongphebinh.org” để mọi người Việt có lòng ở trên thế giới đều có thể tham gia được theo các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:


1.Xin quý vị hảo tâm cho biết muốn bảo trợ bao nhiêu TPB mỗi năm? Chúng tôi đề nghị mỗi cá nhân hoặc một gia đình ở hải ngoại
chỉ nên bảo trợ từ 1 cho đến 5 hồ sơ TPB/VNCH mà thôi, và tiêu chuẩn giúp đỡ được chia ra như sau:

A: Bảo trợ cho một (1) Thương Phế Binh nặng: US$240.00 mỗi năm.

(Nặng: Cụt 2 tay, cụt 2 chân, mù hai mắt, cụt 1 tay + cụt 1 chân, hoặc bị liệt)

B: Bảo trợ cho một (1) Thương Phế Binh nhẹ: US$120.00 mỗi năm.

(Nhẹ: Cụt 1 tay, cụt 1 chân, mù một mắt, hoặc bị nội thương)


2.Khi ghi danh bảo trợ, xin quý ân nhân cho Hội HO/TPB/QP/VNCH biết:

A: Quý danh cùng địa chỉ nhận thư (để Hội gởi copy hồ sơ TPB đến ân nhân).

B: Số điện thoại (cả phone tay cũng như điện thọai nhà nếu có).

C: Địa chỉ email (nếu có).


3.Sau khi nhận được các tin tức trên thì Hội chúng tôi sẽ cung cấp đầy đủ chi tiết cùng lý lịch của người TPB theo ý muốn của quý vị
(ở địa phương nào cũng được) đến địa chỉ ân nhân qua đường bưu điện để quý vị GỞI TIỀN TRỰC TIẾP về thẳng Việt Nam cho người thương binh đó.
Hoặc nếu có cơ hội về thăm quê hương quý vị ân nhân đến thăm hỏi và trực tiếp trao tiền thì còn quý giá, an ủi và ý nghĩa biết bao.


4.Mỗi lần gởi tiền giúp đỡ TPB, xin thông báo cho Hội biết để ghi lại lưu vào sổ.

5.Đúng một năm, kể từ khi hồ sơ được gởi ra, chúng tôi sẽ theo dõi và xin phép được nhắc nhở để biết quý ân nhân còn tiếp tục bảo trợ nữa hay không?


6.Thời gian bảo trợ dài hạn: Ít nhất là ba (3) năm trở lên. Tuy nhiên, nếu vì bất cứ lý do gì mà ân nhân không còn bảo trợ nữa,
xin cho Hội biết càng sớm càng tốt để chúng tôi mở lại hồ sơ và tiếp tục giúp đỡ người TPB đó kẻo họ chờ mong tội nghiệp!

Kính thưa quý vị, các anh em TPB/VNCH đã hy sinh xương máu và một phần thân thể để bảo vệ miền Nam và cho chúng ta được sống bình an
để có ngày hôm nay. Đã hơn 40 năm qua, họ phải sống cơ cực, thiếu thốn, vất vưởng ở quê nhà không được ai giúp đỡ, càng ngày càng già yếu,
bệnh hoạn, chết dần, chết mòn. Chúng ta hãy giang tay cứu trợ và an ủi để anh em TPB/VNCH được hãnh diện vì biết rằng đồng hương hải ngoại
vẫn luôn nhớ đến và lo lắng cho họ. Rất mong quý vị đồng hương hưởng ứng, đồng thời tiếp tay kêu gọi thân nhân,
bằng hữu cùng giải thích cho con em, giới trẻ hỗ trợ Hội trong việc làm mang nhiều ý nghĩa nói trên.

Vậy kể từ ngày ra thông báo này, kính xin quý vị ân nhân có nhã ý hưởng ứng chương trình “1 Gia Đình 1 Thương Phế Binh”
hoặc muốn bảo trợ hay biết thêm chi tiết, xin liên lạc ngay với nhóm điều hành chương trình qua:

@ email: 1gd1tpb@gmail.com

@ hoặc vào thăm Website: “1giadinh1thuongphebinh.org”.

Trân trọng cảm ơn toàn thể quý vị,

Nguyễn Thị Hạnh Nhơn

Hội Trưởng

Hội HO Cứu Trợ TPB&QP VNCH

(email: hanhnhonnguyen@yahoo.com)
&
Nam Lộc Nguyễn

Cố Vấn Tổng Quát
Hội HO Cứu Trợ TPB&QP VNCH

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

Chiến Sĩ

Người Chiến Sĩ dũng cảm thà chết vinh còn hơn sống nhục


Trọng Đạt


Hồi sau trận Tết Mậu Thân, 1968, một người bạn cho tôi mượn cuốn truyện Tình Yêu Cao Thượng của một ông văn sĩ nổi tiếng thời ấy, ông cũng là nhà báo nổi tiếng, một nhà văn chống Cộng... Anh bạn đưa cuốn truyện cho tôi bảo:

- Này đọc đi!

Tôi đọc một tối là xong, mấy hôm sau tôi đưa sách trả anh bạn rồi bảo :

- Hình như không đứng đắn anh a!

Anh bạn cười đáp:

- Truyện này cũng nổi tiếng đấy nhá, anh không thích thì thôi!

Mấy năm sau, cơ quan của tôi gửi tôi đi thụ huấn một khóa huấn luyện Quân sự tại trường Bộ binh Thủ Ðức, khoảng bốn tháng nhà trường lại mời một ông văn nhân, ký giả nổi tiếng để đăng đàn diễn thuyết về các vấn đề thời sự, chính trị cho Sinh viên Sĩ quan nghe. Có lần trường mời một ông ký giả tên tuổi kiêm nghề Luật sư đến diễn thuyết, ông này trước kia là Đại úy Huấn luyện viên của trường, hôm ấy Trung Tướng chỉ huy trưởng chủ tọa. Ông ký giả luật sư thao thao bất tuyệt, ông nói khéo lắm, ông ấy ca ngợi Sinh viên khiến đôi khi họ phải phì cười, mấy người Sinh viên ngồi gần tôi bảo :

- Cái ông nội này Bắc Kỳ có khác, lém mồm lém miệng quá xá!

Khi ông ký giả nói xong đến lượt Sinh viên phát biểu ý kiến, những lời đối đáp giữa Sinh viên và diễn giả rất vui vẻ hào hứng, khi bế mạc Trung Tướng lên diễn đàn cám ơn và ông có đôi lời về hiện tình chính trị đất nước :

- Những cuộc biểu tình đòi hòa bình của Sinh viên Học sinh tại Sài Gòn hiện nay rất là thiếu ý thức, bây giờ có kẻ nó vác gậy gộc đến nhà mình nó đánh mình mà cứ đòi hòa bình thì thử hỏi làm thế nào cho có hòa bình, chẳng qua chỉ làm lợi cho kẻ địch!

Buổi nói chuyện vui vẻ, hào hứng, từ ông Trung tướng, diễn giả đến Sinh viên ai nấy đều trình bầy rõ ràng mạch lạc các vấn đề.

Khoảng bốn năm tháng sau, nhà trường lại mời một nhà báo về diễn thuyết về hiện tình chính trị đất nước, lại chính là ông tác giả cuốn Tình Yêu Cao Thượng, hôm ấy Ðại Tá chỉ huy phó chủ tọa, sau lời giới thiệu của ông chỉ huy phó, ông diễn giả mở đầu :

- Tôi mới xuất bản mấy cuốn sách về hòa bình, chính trị, nhưng tôi viết hơi cao, ở đây tôi chỉ nói đại cương mấy vấn đề dễ hiểu thôi vì các bạn tập tành mệt nhọc, không nói dông dài làm chi nhiều...

Giọng ông yếu đuối nghe thều thào, ông nói không lưu loát như diễn giả kỳ trước, mấy người Sinh viên ngồi sau tôi than phiền :

- Gớm cái ông nội này Bắc kỳ mà nói chán quá ! nhà văn gì mà nói lè nhè nghe chán quá !

Ông nói không lôi cuốn được người nghe như ông luật sư bốn tháng trước đây, nhiều người ngủ gà ngủ gật, khi bài nói chuyện chấm dứt, có một Sinh viên đứng lên phát biểu ý kiến về hiện tình chính trị, ông Sinh viên này nói cũng lẩm cẩm quá khiến nhiều người thở dài :

- Gớm cái ông nội Sinh viên này hỏi vớ vẩn quá !

Buổi nói chuyện kết thúc, ông chỉ huy phó lên cám ơn :

- Tôi xin thay mặt nhà trường cám ơn nhà văn đã cho chúng tôi được nghe một buổi nói chuyện rất hào hứng...

Ông chỉ huy phó nói vắn tắt quá không hay bằng ông Trung Tướng nói lần trước, buổi nói chuyện chẳng có gì là hào hứng.

Ðúng là quả đất tròn, gần mười năm sau tôi lại gặp ông văn sĩ trong trại tù “cải tạo” Xuyên Mộc. Chúng tôi ở Long Thành được bốn năm thì chuyển trại đến đây giữa một khu rừng âm thuộc tỉnh Bà Rịa, đây là một trong những trại hắc ám ghê gớm nhất của miền Nam, rập khuôn theo miền Bắc. Nhập trại được vài ngày họ đưa chúng tôi lên Hội trường nghe cán bộ nói chuyện, anh cán bộ trẻ nói về án tù mới, về nội qui và có nói về ông văn sĩ, cán bộ nói :

- Sau khi ở đủ ba năm anh ấy bảo trại phải thả anh ấy về vì án tù đã hết, anh ấy gọi tất cả các cán bộ bằng anh hết. “Ban giám thị” trả lời anh ấy rằng “chưa có lệnh của Bộ nội vụ chúng tôi chưa thả được”, thế là anh ấy tuyệt thực, được một ngày anh ấy xin nước uống, “ban giám thị” bảo “nước uống cũng là của trại”, không thể cho anh ấy được. Hôm sau anh ấy đầu hàng “Ban giám thị”, chấm dứt tuyệt thực.

Tôi nhớ ra ông văn sĩ mà trước đây tôi không có cảm tình gì mấy, nhưng thoạt nghe “cán bộ” nói về thái độ thách đố bạo lực về khí phách anh hùng của ông, tôi cảm phục ngay vì từ ngày vào tù đến nay tôi chưa thấy ai có tinh thần bất khuất như ông, người ta thường nói: nước rặt mới biết cá thối, cháy nhà mới ra mặt chuột... vào tù mới biết người anh hùng, kẻ tiểu nhân, có nhiều anh đã từng xênh xang mũ cao áo dài nay gặp “cán bộ” thì cúi xuống nịnh bợ để mau được thả về... ít nhất cũng phải có được một người như ông văn sĩ, một người tuy là quá ít nhưng cũng cho chúng tôi có được một niềm tin vững chắc.

Chúng tôi ở nhà một, ông văn sĩ ở nhà hai cách nhau một khoảng đất trống, ông ở trong đội đảng phái phản động tên là Ðội 81, có lẽ vì họ có tám mươi mốt người. Ðội này do một ông cũng là văn sĩ “phản động” làm “đội trưởng”, ông “đội trưởng “này lại chê ông văn sĩ kia không tốt, có thời kỳ làm tay sai “cán bộ” tố giác anh em, nhưng theo tôi thấy đa số anh em trong đội đều nể ông, cảm phục lòng cam đảm của ông. Hầu hết số đội viên là thành phần đảng phái “phản động”, họ là thành phần thấp trong xã hội như thợ thuyền, làm thuê làm mướn, được cái có gan tham gia đảng phái nhưng không có mưu trí nên bị bắt trọn ổ hết.

Một hôm trời mưa rả rích, nhìn qua của sổ sang nhà hai bên kia thấy nhiều người ra hiên tắm mưa, tôi thấy ông văn sĩ ở trần lấy khăn lau người vì trại không cho ông ra ngoài tắm sông, tôi thấy người ông gầy gò khủng khiếp chỉ toàn là xương không có thịt, những giải xương sườn nổi hẳn lên trông thật thê thảm, người thì nói tại ông tuyệt thực, có người nói họ cô lập ông không cho gia đình lên thăm nuôi, không cho bạn tù được tiếp xúc hoặc cho đồ ăn mà chỉ được phát một tí khẩu phần, “Ban giám thị” trại cương quyết loại bỏ tiêu diệt ông vì tội chống đối. Nhìn tấm thân ông tôi thở dài ngao ngán nghĩ đến sự tàn ác của con người: người thật là lang sói với người.

Ðội của chúng tôi gồm khoảng mười người lo về vận chuyển, chúng tôi có ba xe bò để chuyên chở thực phẩm từ khu ngoài vào khu trong, có khi chở cát, gạch cho thợ xây cất. . Một hôm tôi được cán bộ giao nhiệm vụ nấu nước uống cho anh em ngay ngoài cổng trại, tôi xuống sông múc nước đổ vào cái nồi lớn, bắc lên mấy cục gạch rồi kiếm củi khô nhóm lửa. Anh “cán bộ” có vẻ tử tế với tôi, hay lại trò truyện, nhưng tôi luôn tự nhủ :

- Anh tốt với tôi thì tôi cám ơn, nhưng cái biên giới giữa tôi và anh nó đã quá rõ ràng !

Hôm ấy tôi nấu nước ngay ngoài cổng trại, anh em trong đội đẩy xe đi ngang chỗ tôi đùa cợt vì thấy tôi được “cán bộ” cho làm việc thoải mái. Bỗng nhiên tôi thấy ông văn sĩ đứng ngay ở cửa trại nói nho nhỏ :

- Báo cáo cán bộ, tôi lên Ban giám thị.

Anh cán bộ trẻ hạch sách :

- Bỏ kính xuống !

Trên nguyên tắc mỗi lần báo cáo phải bỏ kính, họ muốn kẻ bại trận phải thần phục kẻ chiến thắng và cũng để hạ nhục người ta đến cùng, ông văn sĩ đã bỏ kính xuống, nhưng anh cán bộ vẫn chưa tha :

- Báo cáo lại.

Ông văn sĩ phải báo cáo một lần nữa rồi mới được ra, tôi thấy ông gầy và yếu kinh khủng, ông đứng như không vững có lẽ chỉ một cơn gió mạnh cũng đủ xô ngã con người gầy ốm như que củi ấy. Nhưng trong tấm thân hình gầy khô đét ấy tôi như trông thấy cái sức mạnh ghê gớm của một tinh thần bất khuất dám chống lại bạo lực đê hèn. Tấm thân gầy gò yếu đuối ấy gợi cho tôi sự thương hại thì ít nhưng sự kính phục thì nhiều, một tấm thân mảnh khảnh gió thổi cũng bay và trong tay không một tấc sắt đã làm cho kẻ thù phải kiêng nể, sợ hãi nên chúng đã nghĩ đến cách sát hại ông. Tôi nhìn theo ông run lẩy bẩy bước đi trong lòng xúc động và hãnh diện, ít nhất cũng phải có những người khí phách can đảm như ông đã dám đem tấm thân yếu đuối như sên để chống bạo lực.

Khi nhìn ông tôi cảm thấy trong lòng dâng lên một niềm hãnh diện cho người Quốc Gia, không phải ai cũng được như ông, một kẻ anh hùng mạt lộ nhưng vẫn hiên ngang bất khuất và chống lại sự tàn ác của con người đến cùng, tấm thân yếu đuối ấy có cái sức mạnh của một Chiến Sĩ dũng cảm, trước kia ông là một chiến sĩ văn hóa với ngòi bút sắc bén đã khiến kẻ thù phải xếp vào hạng nguy hiểm đem đi giam giữ. Và bây giờ ông cũng vẫn là người Chiến Sĩ, Chiến Sĩ của lẽ phải, công bằng, ông đã lấy lý trí, chân lý, công lý... để chống lại bạo lực đê hèn.

Ông ấy lên văn phòng “Ban giám thị” chừng nửa giờ sau lại đến cổng trại “báo cáo cán bộ xin vào trại”, anh cán bộ gác cổng vẫn hạch sách :

- Nói lớn lên, nghe không rõ!

Tội nghiệp ông ấy cứ phải báo cáo đi báo cáo lại :

- Báo cáo cán bộ cho tôi được vào trại.

Mãi rồi anh cán bộ cũng phải cho ông ấy vào trại vì chẳng lẽ lại cho ông ấy về nhà với vợ con !

Qua hình ảnh của ông tôi bỗng nhiên nghĩ đến sự tàn ác của con người, của những ý thức hệ khác nhau đã khiến cho con người đối với nhau như thú vật, họ không coi ông ấy là con người nhưng là con gà con vịt cần phải hạ thủ thanh toán cho khuất mắt. Tôi vừa đun nước vừa nhìn theo người Chiến Sĩ đang lững thững đi qua sân trại về nhà hai, tôi biết chắc ông chẳng còn sống được bao lâu và có lẽ chính ông cũng biết vậy, nhìn ông đi ngang qua trước mặt, tôi tự nhiên cảm thấy một nỗi buồn man mác vì biết rằng chỉ một ngày rất gần đây một linh hồn sẽ lìa khỏi thể xác!

Khoảng vài tuần sau, một hôm làm việc cách hàng rào trại chừng mấy chục thước, chúng tôi nhìn vào trại thấy hai anh tù hình sự khiêng một cái xác người có phủ mền trên cái băng ca, tôi đoán là có người mới chết.

Chiều hôm ấy khi tắm sông xong, chúng tôi vào trại được biết ông ấy đã lìa đời. Trong đội 81 có nhiều người cảm phục ông, thương xót ông. Một số người lấy những miếng vải đen bé tí lén lút khâu dưới vạt áo để tang ông, một người Chiến Sĩ dũng cảm thà chết vinh còn hơn sống nhục, một cái chết anh hùng, một tấm gương sáng cho chúng tôi, cho toàn thể tù nhân của trại giam Xuyên Mộc.

Khoảng một năm rưỡi sau tôi được thả về, một người bạn cho tôi biết đài phát thanh BBC Luân Ðôn mới nói về ông văn sĩ ấy, họ nói ông ta tuyệt thực cho đến chết.

16/01/2016
Trọng Ðạt

__._,_.___

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »


'Tử sĩ Hoàng Sa phải được vinh danh trên chính quê hương mình'

Monday, January 18, 2016 7:56:13 PM

42 năm, ngày Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc


Việt Hùng/Người Việt


LTS: Cách đây 42 năm, Hoàng Sa đã rơi vào tay Trung Quốc trong một trận chiến đẫm máu vào ngày 19 tháng 1 năm 1974.
Bảy mươi bốn người lính hải quân của chiến hạm HQ10 Nhật Tảo của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, do Trung Tá Ngụy Văn Thà làm hạm trưởng
và Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí làm hạm phó đã mãi mãi nằm lại trên vùng biển Hoàng Sa.
Nhân dịp này, Báo Người Việt đã có cuộc gặp gỡ gia đình hai quả phụ của hạm trưởng và hạm phó HQ10 là Bà Huỳnh Thị Sinh
(vợ cố Trung Tá Ngụy Văn Thà) và bà Ngô Thị Kim Thanh
(vợ cố Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí), tìm hiểu về biến cố Hoàng Sa cũng như đời sống trong hiện tại.

Image

Chiến hạm HQ10 Nhật Tảo trước lúc xuất hành đi Hoàng Sa và bị đánh chìm trong trận hải chiến với Trung Quốc. (Hình: Bà Huỳnh Thị Sinh cung cấp)

Bà Huỳnh Thị Sinh: Tự hào là vợ của một người lính Hải Quân VNCH

Việt Hùng (NV): Trước hết xin cảm ơn bà đã dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện này. Bà có thể cho biết tình hình sức khỏe và cuộc sống của bà hiện nay thế nào?

Bà Huỳnh Thị Sinh (HTS): Hiện nay tôi đang sống với 2 đứa cháu ruột ở căn chung cư do tổ chức “Nhịp cầu Hoàng Sa” tặng vào năm 2014. Tôi có 3 người con gái, đã lập gia đình nên các cháu đều ở riêng. Trước đây tôi buôn bán băng đĩa (đĩa CD, VCD ca nhạc, phim), nhưng những năm gần đây số người mua đĩa rất ít, họ thích dùng USB hay xem trực tiếp trên mạng nên tình hình buôn bán ế ẩm. Bởi vậy tôi đã nghỉ hẳn.

Sức khỏe tôi thì cũng không được tốt lắm, người già mà ai cũng phải vậy thôi. Hôm qua đây (ngày 16 tháng 1 năm 2016) tôi được mời đi ra núi Thới Lới, huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi để dự lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng khu tưởng niệm Nghĩa sĩ Hoàng Sa, nhưng vì lý do sức khỏe tôi đã không tham dự.

NV: Bà có còn nhớ gì vào thời điểm năm 1974, trước lúc chồng mình, cố Trung Tá Ngụy Văn Thà đã hi sinh anh dũng cùng chiến hạm HQ10?

Bà HTS: Lúc đó gia đình tôi đang ở Sài Gòn. Tôi chỉ nhớ là vào những ngày gần Tết, không khí bà con xung quanh hàng xóm chuẩn bị Tết rất nhiều. Vào 2 giờ chiều ngày 19 tháng 1 năm 1974 thì có người của Tư Lệnh Hải Quân VNCH xuống nhà báo là anh Thà đang chỉ huy tàu chiến đấu với Trung Cộng ở ngoài Hoàng Sa, nếu đến 6 giờ tối mà không có thông tin phản hồi của HQ10 thì có thể là tàu đã bị Trung Cộng đánh chìm.

Tôi nghe xong là tay chân bủn rủn, nhưng vẫn cố bình tĩnh để không gây ảnh hưởng đến 3 đứa con, vì tụi nó còn quá nhỏ. Sáng mai, tôi lần mò đi mua báo và nghe radio. Và tôi biết là chồng tôi đã chết theo tàu. Sau đó tôi đã nhận được giấy báo tử và giấy mời lên Bộ Tư Lệnh Hải Quân để làm lễ truy điệu.

Bây giờ tôi vẫn còn lưu giữ những hình ảnh chụp tại lễ truy điệu. Nhưng sau năm 1975 vì quá lo sợ Cộng Sản nên nhiều hình tôi đã cắt mấy chỗ có dính mặt mấy ông lớn VNCH, chỉ lưu lại hình ảnh mẹ con tôi vì sợ bị Cộng Sản làm khó dễ.
Image
Bà Huỳnh Thị Sinh trước di ảnh chồng, cố Hải quân Trung tá Ngụy Văn Thà. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

NV: Sau năm 1975, bà có điều kiện hay lời mời nào để gia đình được định cư ở Hoa Kỳ không?

Bà HTS: Có, vào thời điểm 1975, có người ở Bộ Tư Lệnh Hải Quân xuống bảo gia đình có muốn đi Mỹ thì họ sẽ đưa lên tàu lớn để đi. Lúc đó một phần vì các con còn nhỏ, một phần tôi nghĩ là bây giờ chồng đã mất, ở Việt Nam còn có gia đình chú bác ông bà giúp đỡ, chứ qua Mỹ không có người thân thích, tiếng Anh lại không biết thì sống làm sao? Bởi vậy tôi đã quyết định không đi.

NV: Cho đến bây giờ bà có hối tiếc về điều đó?

Bà HTS: Tôi nhớ lúc đó rất nhiều người đã xuống tàu và đi. Tôi không ngờ là sau năm 1975 hoàn cảnh gia đình lại rơi vào tình trạng bi đát như vậy? Lúc đó tôi bị mất việc, mãi đến năm 1978 tôi vào làm hợp tác xã của chế độ mới, nhưng lương ba cọc ba đồng, lại còn bị khinh rẻ vì là vợ của “lính ngụy.” Nhiều lúc cũng tủi thân.

Sau đó hợp tác xã giải thể, tôi chuyển qua buôn bán nhỏ. Làm mẹ đơn thân, nuôi 3 đứa con vào thời điểm đó phải nói là không dễ dàng tí nào. Bởi vậy, nhiều lúc nghĩ lại: Sao lúc đó (thời điểm 1975) mình ngu thiệt, có điều kiện đi Mỹ lại không đi? (Cười)

NV: Là vợ của Trung Tá Ngụy Văn Thà, một người đã chiến đấu và hi sinh anh dũng cho quê hương Việt Nam. Nếu nói vài lời về chồng mình, bà có thể nói gì?

Bà HTS: Tôi tự hào là người vợ của anh Thà - một người lính Hải Quân VNCH. Từ sau 1975, đi đâu tôi cũng bị nhiều người nói là “vợ lính ngụy.” Nhưng tôi vẫn tự hào về cái từ “ngụy” đó. Tôi chỉ buồn là với lý lịch như vậy nên sau 1975, con cái tôi phải chịu nhiều thiệt thòi khi đi học cho đến lúc ra trường tìm việc làm đều bị gây khó dễ.

Nếu có một lời nói về chồng mình thì tôi chỉ nói “anh ấy là người đàn ông tuyệt vời của đời tôi.” Bởi vậy mặc dầu sau 1975, cuộc sống gia đình khó khăn, có nhiều “anh” giàu có cũng theo đuổi tôi, nhưng tôi luôn từ chối. Vì với tôi, chỉ có một người đàn ông mà tôi có thể trao thân đó là anh Thà mà thôi.

Mấy đứa con tôi khi lớn lên đều nghe tôi kể về ba nó. Và chúng nó luôn tự hào về người cha đã mất của mình. Hằng năm gia đình tôi đều làm lễ cúng giỗ cho anh Thà vào ngày 27 Tết.

NV: Vì sao không phải là ngày 19 tháng 1, Tây lịch?

Bà HTS: Ngày 27 Tết là ngày mà chồng tôi mất, theo dương lịch là 19 tháng 1 năm 1974. Gia đình chúng tôi theo tập quán cúng giỗ ngày âm lịch, nên chọn ngày 27 Tết. Chỉ vậy thôi chứ không có vấn đề gì hết. Image
Bà Sinh đã cất giữ rất cẩn thận những tấm hình như là kỉ niệm với người chồng quá cố. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

NV: Trong những năm gần đây, phía nhà cầm quyền Việt Nam cũng có những hành động công nhận những người lính đã hi sinh cho Hoàng Sa. Bà nghĩ gì về điều này?

Bà HTS: Đầu tiên tôi vui khi họ công nhận điều này. Năm ngoái tôi đã được thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn mời đi ra Trường Sa để làm lễ cầu siêu cho các vong linh nghĩa sĩ đã hi sinh ở Hoàng Sa vào năm 1974.

Năm nay tôi cũng được mời đi dự lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng đài tưởng niệm các nghĩa sĩ đã anh dũng hi sinh để bảo vệ Hoàng Sa nhưng bất thành. Tôi chưa biết chính quyền có dám ghi tên 74 nghĩa sĩ VNCH đã hi sinh vào ngày 19 tháng 1 hay không?

Với tôi họ phải có tấm bia tưởng niệm viết tên từng người đã mất và ghi rõ họ là lính VNCH. Như thế mới gọi là thật tâm hòa hợp hòa giải dân tộc, còn không chỉ là lời nói suông mà thôi.


***

* Tử sĩ Hoàng Sa phải được vinh danh trên chính quê hương mình


Bà Ngô Thị Kim Thanh (vợ) và chị Nguyễn Thị Thanh Thảo (con gái) cố Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí cùng hồi tưởng về trận hải chiến ngày 19 tháng 1 năm 1974.

NV: Trước hết xin cảm ơn bà và chị đã cho Người Việt cuộc phỏng vấn này. Cuộc sống gia đình mình hiện nay thế nào?

Bà Ngô Thị Kim Thanh (NTKT): Gia đình tôi vừa mới dọn qua ngôi nhà mới ở Bình Tân do gia đình và sự trợ giúp của chương trình “Nhịp cầu Hoàng Sa” mua. Hiện nay tôi vẫn đang sống với 2 đứa con ở ngôi nhà này. Tuy sức khỏe của tôi không được tốt, nhưng năm nay tôi rất vui vì đã có được một nơi chốn đàng hoàng, để đặt bàn thờ anh Trí một cách trang trọng hơn.

NV: Đã 42 năm kể từ trận hải chiến Hoàng Sa diễn ra và cướp mất chồng mình cùng các thủy thủ trên chiến hạm HQ10 Nhật Tảo, bà có còn nhớ những diễn biến vào lúc đó?

Bà NTKT: Lúc đó tôi đang có bầu thằng con sau được 2 tháng, anh Trí được lệnh đi tuần ra Đà Nẵng. Tôi nhắc lại là lúc đó họ chỉ nói là đi tuần, chứ không phải đi đánh giặc gì hết? Tại vì chiếc HQ10 này lúc đó cũng bị hư hỏng một ít, nên họ tính đi xong chuyến này sẽ đưa qua đảo Guam - Mỹ, để tu sửa lại.

Anh Trí mới nói với tôi là: “Bây giờ em có bầu, với một đứa con nhỏ. Mà ngày tết lại không có anh ở nhà, nên thôi để anh đưa cả nhà về nhà ngoại (ở Nha Trang) chơi ăn Tết, chứ ở Sài Gòn này thì cũng buồn, rồi đi công tác xong ảnh sẽ ghé đón mẹ con về lại Sài Gòn.” Thế là cả nhà về Nha Trang ăn tết.

Tôi nhớ lúc đó là 29 Tết Canh Thân, tôi nghe loáng thoáng trên radio đài quân đội, chương trình của Dạ Lan là Hải Quân VNCH đụng độ với Trung Cộng. Nhưng tôi vẫn chưa hình dung ra được sự việc, vì radio lúc đó cứ bị rè, lúc nghe được lúc không. Mãi đến 22h tối ngày 29 tết, tôi nhận được tin nhắn của nhà chồng báo là mẹ con về Sài Gòn có chuyện gấp.

Gia đình chồng tôi lúc đó không cho tôi biết là chồng tôi đã mất, vì sợ tôi bị động thai. Qua hôm sau là ngày mồng 1 Tết thì tôi không mua được vé xe đò để về Sài Gòn. Đến Mồng 2 Tết thì mới bắt được xe đò vô lại Sài Gòn. Lúc tới nhà chồng, thì tôi đã thấy bàn thờ chồng tôi đã lập sẵn. Thế là tôi ngất xỉu luôn.



Image
Bà Ngô Thị Kim Thanh và con gái Nguyễn Thị Thanh Thảo bên bàn thờ cố thiếu tá Nguyễn Thành Trí. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)


Chị Nguyễn Thị Thanh Thảo (NTTT): Lúc đó tôi chỉ mới 5 tuổi, với trí nhớ của tôi thì ngày truy điệu ba tôi là có nhiều người đến nhà, rồi trống kèn. Mà lại không có xác ba tôi, nên tôi cứ nghĩ đó ngày lễ, bạn bè các cô chú đến nhà chơi.

Sau này khi lớn lên tôi mới thấy được nổi mất mát khi không có cha. Tôi vẫn được nghe mẹ tôi kể nhiều về cha tôi và tôi rất tự hào khi có được người cha như vậy.

Vào các dịp gần ngày 19 tháng 1 này, năm nào tôi cũng vào mạng Internet để đọc các thông tin kỷ niệm về các tử sĩ đã hi sinh ở Hoàng Sa.

NV: Từ sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, gia đình chị có điều kiện hay lời mời gì để có thể định cư ở Hòa Kỳ không?

Bà NTKT: Không, hoàn toàn không có. Gia đình tôi cũng đã viết đơn cho lãnh sự quán Mỹ từ những chương trình như HO, HR nhưng hoàn toàn không nhận được hồi đáp. Họ chỉ nói đã nhận được đơn mà thôi. Chứ nếu có được lời mời thì chắc gia đình tôi đã đi Mỹ rồi (cười).

NV: Với tinh thần chiến đấu đầy quả cảm và anh dũng hi sinh của Đại Úy Trí để bảo toàn lãnh thổ Việt Nam, gia đình có mong muốn điều gì từ xã hội ngày nay?
Image
Lễ truy điệu cố thiếu tá Nguyễn Thành Trí, lúc đó bà Thanh đang mang thai đứa con thứ 2 mới được 2 tháng.
(Hình: Gia đình bà Ngô Thị Kim Thanh cung cấp)

Bà NTKT: Gia đình tôi cũng không mong muốn điều gì cả. Cuộc chiến đã diễn ra 42 năm rồi. Những khó khăn mà gia đình tôi đã gặp phải cũng đã qua rồi. Tôi chỉ hơi buồn là với lý lịch “lính ngụy” nên con cái tôi phải chịu nhiều thiệt thòi từ khi cắp sách đến trường và tìm việc.

Phải nói làm người mẹ đơn thân nuôi 2 con là quá khó, nhất là trong thời kì bao cấp. Thế mà tôi cũng đã vượt qua để nuôi dạy 2 con nên người và giữ trọn tình phu thê (không tái giá) là tôi đã mãn nguyện rồi.

Chị NTTT: Với một người làm con thì tôi muốn cha tôi phải được vinh danh ở Việt Nam này. Tôi biết hằng năm vào ngày 19 tháng 1, ở Hải ngoại đều làm lễ vinh danh các tử sĩ Hoàng Sa. Nhưng tôi muốn cha tôi, cùng 73 tử sĩ Hoàng sa phải được vinh danh trên chính quê hương mình.

Trong lịch sử chia cắt 2 miền Nam - Bắc, chỉ có trận chiến bảo vệ Hoàng Sa là trận chiến không phải người Việt Nam ở 2 miền Nam - Bắc tàn sát nhau, mà là cuộc chiến của người Việt Nam chống quân xâm lược Trung Cộng. Bởi vậy không có lý do gì mà họ không được vinh danh trên chính quê hương mình.

Post Reply