Tin Trong Nước

Xin nhớ: tin cần có "nguồn", trích từ đâu ra!!!
User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Có bằng tiến sĩ ở trời Tây: Tôi nên về hay ở?
14:42' 12/07/2005 (GMT+7)



Tôi dám khẳng định rằng bản thân tôi cũng như tất cả các sinh viên Việt Nam đang học tập và nghiên cứu tại nước ngoài đều mong muốn sau khi học xong sẽ quay trở về làm việc vì không đâu bằng quê hương mình. Nhưng một thực tế đáng buồn là một số cơ quan chưa tạo điều kiện để chúng tôi làm việc.


"Về hay ở" là trăn trở của nhiều du học sinh
Cơ quan tôi có một anh tốt nghiệp Tiến sĩ ở nước ngoài khi mới 26 tuổi. Anh về nhận công tác tại cơ quan tôi đúng chuyên ngành mà anh đã theo học, hy vọng đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung. Anh có thể được coi là “hạt giống đỏ” vì cơ quan tôi có hơn 700 cán bộ công nhân viên mà số có trình độ sau đại học chưa kín nổi 10 ngón tay.



Nhưng than ôi, trong suốt hơn 10 năm, anh chỉ được giao những công việc chắng mấy liên quan đến chuyên môn, thậm chí còn không được làm tổ trưởng một nhóm 5 người. Không phải vì anh không có năng lực. Rất nhiều Viện nghiên cứu danh tiếng đề nghị anh chuyển sang làm việc nhưng lãnh đạo không đồng ý vì anh là cán bộ "nguồn" trong 5-10 năm tới. Chán chường và tuyệt vọng. Nhưng cũng còn một điều an ủi, biết đâu trước khi về hưu, anh chẳng được đề bạt lên chức Trưởng Bộ môn?



Bản thân tôi cũng chẳng khá hơn gì anh. Sau khi tốt nghiệp ĐH loại xuất sắc, tôi được nhận vào cơ quan. Sau 4 năm, sáng đến cơ quan rửa ấm chén, đun nước pha trà, chiều lau dọn phòng trước khi về, tôi quyết tâm "thay đổi không khí" bằng cách tự tìm học bổng đi du học. Sau khi hoàn thành chương trình cao học tại một trường đại học danh tiếng ở Tây Âu về, tôi cũng hăm hở trở về cơ quan với ước vọng được làm việc và có thu nhập để nuôi sống bản thân cũng như giúp đỡ bố mẹ.



Nhưng tất cả những kỳ vọng của tôi đều nhanh chóng trở thành giấc mộng. Trong vòng 3 năm, tôi chỉ được giao một công trình nghiên cứu cùng với 3 đồng nghiệp với tổng kinh phí 4,5 triệu đồng. Số tiền dành cho chuyên môn chẳng đáng là bao, 90% kinh phí dùng để chạy hóa đơn chứng từ. Nhưng tôi có một "vinh dự" lớn mà bất cứ giáo sư nào ở nước ngoài cũng thèm muốn: tên của tôi có mặt trong tất cả các công trình nghiên cứu của cơ quan, mặc dù chỉ là ở trên… giấy tờ của phòng Tài vụ.



Cứ đến dịp cuối năm tôi lại được dịp mỏi tay kí tên vào bảng chấm công nhưng tôi cũng chẳng biết là công trình đó làm những gì. Ngoài lương hành chính sự nghiệp ra, tôi chẳng có thu nhập nào khác từ cơ quan vì "lậu" đâu có đến lượt bọn tôi. Nhiều lần tôi lên gặp trực tiếp lãnh đạo đề nghị được giao việc nhưng đều nhận được câu trả lời "các cậu phải khẳng định được trình độ chuyên môn đã". Nhưng bọn tôi làm sao thể hiện được chuyên môn khi không được giao việc? Lãnh đạo còn "răn đe" tôi: “Trước đây các bác các chú có đòi hỏi như bọn mày bây giờ đâu".



Thật chẳng biết nói thế nào! Thời đó là thời kỳ bao cấp, lương hàng tháng có thể mua gạo và các nhu yếu phẩm khác theo giá bao cấp. Bây giờ trong cơ chế thị trường, bọn tôi có thể làm sao sống được với mức lương 400.000/tháng ở một thành phố lớn nhất nhì đất nước (lúc bấy giờ chưa áp dụng thang lương mới như hiện nay)? Trong khi đó, theo quy định của cơ quan, chúng tôi không được phép đi làm thêm, còn bỏ việc thì lại sợ mang tiếng.



Cũng may, bố mẹ tôi là nông dân nên thỉnh thoảng những năm đầu tôi còn về quê xin các cụ được ít gạo. Nhưng sau này thấy "nhục quá", tôi "xé rào" đi làm thêm và ngay lập tức bị lãnh đạo cảnh cáo là "không an tâm công tác" và vi phạm quy chế của cơ quan.



Bước đường cùng, tôi quyết định tìm học bổng đi làm nghiên cứu sinh nước ngoài. Tôi còn may mắn hơn các đồng nghiệp khác là sau khi tìm được học bổng, lãnh đạo thấy tôi làm căng, ký quyết định cho đi. Mấy đồng nghiệp của tôi thi được học bổng nhưng lãnh đạo không ký quyết định nên đành ngậm ngùi ở nhà…



Giờ đây, cầm tấm bằng Tiến sĩ trên tay, tôi băn khoăn không biết về hay ở. Nếu ở lại, tôi có thể làm việc cho nhiều phòng thí nghiệm, làm những việc theo đúng chuyên môn và lương tháng bằng lương 7 năm trước đây tôi làm ở Việt Nam. Với số tiền đó, tôi thừa sức nuôi sống bản thân và gửi tiền về giúp đỡ gia đình. Ít nhất sẽ có thêm vài ba hộ gia đình thoát khỏi diện nghèo.



Tôi không hoàn toàn đồng ý với những lời phê phán trong một số bài báo cho rằng những sinh viên ở lại là bán sức lao động. Tôi cho rằng, bất kể ở nước ngoài hay ở Việt Nam, lương cũng phải dựa vào khả năng làm việc và đóng góp cho đơn vị đó…



Nuyen Quang Dzung (Tuổi Trẻ)
http://vietnamnet.vn/giaoduc/2005/07/467749/

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cô sinh viên Mỹ say mê ca dao Việt Nam
Monday, July 11, 2005

Image
Martha Thảo cùng trẻ em vùng cao Việt Nam. (Hình: Báo Tiền Phong)

HÀ NỘI 11-07 - Martha Lackritz, hay còn gọi là Martha Thảo, cô gái Mỹ sinh vào thập kỷ 1980, là người say mê ca dao Việt Nam mà như lời cô nói với báo Tiền Phong là “mê ca dao như... điếu đổ”.

Báo Tiền Phong cho biết, cách đây 2 năm, Martha Thảo sang Việt Nam để thực hiện dự án nghiên cứu về ca dao Việt Nam nhờ học bổng Fulbright (Mỹ), với dự định sẽ dịch 1,000 bài sang tiếng Anh để xuất bản tại Mỹ...

Martha Lackritz sinh ra ở Texas, nhưng cô là một người gốc Nga và Do Thái. Từ năm 17 tuổi, Martha Thảo đã xa nhà, tới miền Bắc Hoa Kỳ để học lớp 11 và 12 ở một trường phổ thông đặc biệt dành cho những học sinh giỏi Văn và những môn nghệ thuật.

Cô cho biết: “Tôi học đại học về văn học Pháp, tại trường Brown University ở miền Ðông Bắc Mỹ. Tôi đã đi nhiều nước, nhưng lại thấy Việt Nam rất hợp với mình”. Martha Thảo dự định cuối năm 2006 mới trở về Mỹ để tiến hành việc xuất bản cuốn Ca dao Việt Nam bằng tiếng Anh và học thêm ngành Luật.

Bạn bè thân thiết vẫn thường gọi chị là Thạch Thảo. “Tôi rất thích cái tên Việt này. Một năm sau khi sang Việt Nam, mẹ của một người bạn gái đã đặt cho tôi cái tên này. Nghĩa là, cỏ mọc từ trong đá...” Nói rồi, Martha Thảo tự giới thiệu: “Tôi sinh năm 1980, khi sang Việt Nam tôi mới biết là mình cầm tinh con khỉ vàng”.

Martha Thảo đã theo học liền 2 khóa tiếng Việt dành cho người nước ngoài (tại Sài Gòn và Ðại học Bách khoa Hà Nội). Nhưng rồi tự thấy học tiếng Việt ở lớp không mấy hiệu quả. Cô tìm ra cách học mới cho mình, đó là học ở bất cứ nơi nào, bất kỳ ai được gặp.

Martha Thảo cứ rong ruổi đến những vùng quê, nơi có sông và có hồ, có hoa dại và cỏ lạ... mà chị thích khám phá, tìm hiểu. Ngày nào ra đường chị cũng mang theo máy ghi âm, ghi lại những lời nói người mình gặp để về nhà đọc, học theo.

“Chính cuộc sống đã giúp tôi hiểu và nói tiếng Việt tốt hơn”.

Martha Thảo đã không chọn các thể loại văn học khác mà chọn ca dao để dịch sang tiếng Anh, trước hết vì nó hấp dẫn cô do có chất thơ và nhạc. Ðọc ca dao, theo cô, có thể cảm nhận và hiểu nhiều hơn về đất nước, con người Việt Nam. “Tôi chọn cũng vì thấy còn rất ít dịch giả nước ngoài dịch ca dao Việt Nam”.

Martha Thảo cho biết, rất nhiều tác phẩm văn học Việt Nam được dịch sang tiếng Anh phát hành ở Mỹ, nhưng phần lớn là các tác phẩm nói về chiến tranh. “Người Mỹ có thể biết tới một số nhà văn, nhà thơ Việt Nam thời chiến tranh ở Việt Nam, biết nhiều đến tác phẩm văn học nói về cuộc chiến ấy, nhưng văn học dân gian thì chẳng mấy ai biết. Tôi rất muốn giới thiệu một phần nhỏ bé của văn học dân gian Việt Nam tới người Mỹ...”

Hiện tại Martha Thảo đã dịch xong gần 500 bài ca dao Việt Nam. Tuyển tập ca dao bằng tiếng Anh chị dự định xuất bản ở Mỹ với 1.000 bài. Martha Thảo cho biết, cô còn cần nhiều thời gian để sưu tầm và nghiên cứu cũng như chỉnh sửa những bài ca dao đã dịch.

Cô nói: “Ca dao Việt Nam rất khó dịch, chẳng hạn: Ước gì dải yếm em dài/ Ðể em buộc lấy những hai anh chàng, hay Anh như cây gỗ xoan đào/ Em như câu đối, dán vào nên chăng?/ Em như cây kiểng trên chùa/ Anh như con bướm đậu nhờ nên chăng?

Thật khó có thể lột tả hết ý nghĩa cũng như diễn đạt khi dịch ra tiếng Anh sao cho có chất thơ, chất nhạc. Nhiều câu nếu dịch nguyên xi thì không có nghĩa, nên phải dịch dài hoặc phải thêm rất nhiều chú thích may ra người đọc mới hiểu hết được”.

Martha Thảo thổ lộ: “Tôi cũng đã thử dịch thơ Hồ Xuân Hương mấy bài. Tôi thích thơ bà từ khi đọc cuốn Thơ Hồ Xuân Hương bằng tiếng Anh của dịch giả Mỹ John Balaban”.

Martha Thảo còn có kế hoạch: “Tôi dự định sẽ viết truyện tranh dành cho thiếu nhi bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Tôi đã từng du học ở Paris để nghiên cứu về một hệ thống giáo dục trẻ em bằng hai ngôn ngữ “.Ngoài ra, Martha Thảo thỉnh thoảng có dịch thơ của một số tác giả Việt Nam đăng trên tạp chí Prospect Literary Journal, San Antonio Current.

Hỏi chuyện riêng tư, Martha Thảo cười, nói: “Ai cũng hỏi tôi về chuyện ấy...” Chị tiết lộ: “Bạn trai tôi là họa sĩ Ð.A.K, người Việt, hơn tôi gần... 20 tuổi”. Thấy tôi ra vẻ ngạc nhiên, chị liền nói: “Phụ nữ lúc nào cũng thích yêu một anh chàng có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống hơn mình và... biết chìu mình nữa.

Ngoài anh ấy, rất may là tôi cũng thấy hợp với các bạn của anh ấy, và cũng yêu quý hai đứa con rất dễ thương của anh ấy... Chúng tôi luôn tôn trọng và ủng hộ nghề nghiệp của nhau. Có thể nói, tôi mới bắt đầu tin đến “cái duyên” từ khi gặp anh K.”.

Chị cười rất tươi, rồi tiếp lời: “Tôi có thể nói một chút kinh nghiệm của tôi như thế này, yêu đàn ông Việt Nam rất dễ, nhưng lấy đàn ông Việt Nam thì rất khó. Ðàn ông lấy vợ còn cần được sự ủng hộ của gia đình nữa, mặc dù tôi biết rất nhiều phụ huynh có cô con dâu là người nước ngoài và họ rất quý. Nhưng lấy một cô gái nước ngoài thì khó mà có một cô con dâu chiều được lòng cả ông bố lẫn bà mẹ lắm, họ làm sao có thể đi chợ, làm công việc nội trợ tốt bằng cô gái Việt...”

Thú thực, nghe Martha Thảo tâm sự bằng tiếng Việt khó ai tin đó là một cô gái Mỹ. Từng lời nói của Martha Thảo vừa tròn vành rõ chữ, không hề lơ lớ, vừa tự nhiên, hơn hết chị am hiểu đời sống, phong tục Việt Nam... một cách sâu sắc, tường tận.

“Ở đâu, với ai, tôi cũng khát khao tìm những kinh nghiệm mới”. Martha Thảo bộc bạch: “Nhà văn Mỹ nổi tiếng - Tobias Wolff, đã từng sang Việt Nam trong chiến tranh rồi có bài viết về những nỗi đau khổ và sai lầm của mình hồi ấy.

Ông đã giải thích tại sao ông lại đi lính lúc chỉ mới vừa 18 tuổi, đó là vì kinh nghiệm là quả lắc trong chuông, là tiền trong ngân hàng. Câu đấy rất đúng đối với những người làm thơ như tôi: đi đâu, làm gì, gặp chuyện vui hay buồn... đều là những kinh nghiệm được tích lũy, hay nói nôm na đó là bột lâu dần tích lại để gột nên hồ”.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Năm Cam

Post by phu_de »

Năm Cam vậy mà cũng có tên trong tự điển Wikipedia, ( the free encyclopedia)


Image

http://en.wikipedia.org/wiki/Nam_Cam

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Việt Nam: Ai muốn đọc báo nước ngoài cũng đều có cách vượt tường lửa
Wednesday, July 13, 2005


HÀ NỘI 13-7 (NV) “Ai muốn vào Internet để đọc báo ngoại quốc hoặc tìm kiếm các tin tức không qua hệ thống báo Ðảng thông tin một chiều thì họ cũng đều có cách.”

Một nhân vật tranh đấu cho nhân quyền và tự do dân chủ ở Hà Nội cho Nhật Báo Người Việt hay như vậy trong cuộc tiếp xúc hôm Thứ Tư 13 Tháng Bảy 2005.

“Nhà nước lập ra tường lửa để ngăn chặn thông tin tự do hai chiều nhưng họ chỉ ngăn được phần nào. Còn những người nào muốn biết tin tức và tình hình thế giới và ngay cả ở Việt Nam thì cũng đều biết phải làm sao để có được thông tin mình muốn.” Nhà đấu tranh dân chủ giấu tên nói với báo Người Việt như vậy.

Hệ thống báo đài và Internet nằm hoàn toàn trong tay nhà nước Cộng Sản Việt Nam với một hệ thống cán bộ có nhiệm vụ “thông tin có liều lượng” và một chiều để phục vụ nhu cầu tuyền truyền cho chế độ. Khóa họp Quốc Hội Cộng Sản Việt Nam cuối năm ngoái bàn về “Luật Báo Chí Xuất Bản” cũng không hề có điều khoản nào cho phép tư nhân quyền ra báo, mở đài phát thanh, truyền hình hay làm báo điện tử.

Từ khi thành lập hệ thống Internet, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã thiết lập ngay một hệ thống tường lửa (Firewall) để ngăn chặn dân chúng trong nước truy cập các địa chỉ, trang nhà của các tờ báo, diễn đàn thông tin ở ngoại quốc mà họ gọi là “phản động”. Tuy nhiên, rất nhiều cách chỉ dẫn dân chúng trong nước làm thế nào vượt qua được tường lửa để vào các trang nhà diễn đàn thông tin hay báo điện tử của người Việt Nam hoặc của các tổ chức thông tin quốc tế ở trên Internet, đã được phổ biến ở trong nước ngay trên Internet.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng hơn 7 triệu người sử dụng Internet vì những hạn chế thông tin cũng như làm chủ một máy điện toán và chi phí sử dụng Internet quá cao. Lợi tức đầu người Việt Nam một năm hiện nay khoảng $500.

Liên tiếp những năm qua, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đưa ra các chỉ thịkiểm soát sự sử dụng Internet của dân chúng như bắt chủ quán đại lý Internet làm sổ ghi lại lý lịch của khách hàng. Ngay những công ty cung cấp dịch vụ Internet (IPC) cũng đã phải thực hiện các biện pháp kiểm soát sự sử dụng Internet “từ xa”.

Ngày 7 Tháng Mười 2003, trước các tin tức “phản động” dồn dập chuyển về nước, Phan An Sa, Quyền Vụ Trưởng Vụ Thanh Tra, nói với báo Ðầu Tư rằng “5 công ty nhà nứơc đang cung cấp dịch vụ Internet phải củng cố thêm nữa bức tường lửa” trên tất cả các địa chỉ cũng như trang nhà chống phá chế độ và “có hại cho an ninh đất nước”.

Một số trang nhà thông tin trên Internet ở Việt Nam từng bị đóng cửa vì bị coi là có hại. Trang nhà “Tuổi Trẻ Việt Nam” mở diễn đàn cho thanh thiếu niên trong nước bày tỏ ý kiến chống đối bản hiệp ước biên giới Việt Nam và Trung cộng đã bị đóng cửa hồi năm 2003.

Tháng Ba 2004, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam ban hành nghị định số 71 mượn cớ “duy trì trật tự xà an ninh xã hội” để trừng trị nghiêm ngặt những ai vi phạm “phong tục và truyền thống văn hóa tốt đẹp của đất nước”. Theo đó những gì bị coi là chống phá chế độ đều bị cấm truy cập trên Internet.

“Các chủ đại lý Internet phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu khách hàng truy nhập, khai thác và truyền đi trên Internet các trang tin có nội dung xấu”. Hãng thông tấn nhà nước Cộng Sản Việt Nam ngày 4 Tháng Sáu 2005 viết như thế. Cả nước có khoảng 5,000 quán cà phê Internet hay đại lý Internet mà lối 2,000 quán này nằm ở Sài Gòn.

“Họ không thể bưng bít nổi sự thật đối với dân chúng. Cố gắng ngăn chặn đến đâu, người dân vẫn có thể tìm cách vượt được tường lửa.” Nhà tranh đấu nói trên nhận xét.

Theo lời vị này, giới trẻ ở Việt Nam ngày nay cũng đã nhiều người để ý tới tin tức thông tin hai chiều. Họ biết rằng những gì nhà nứơc phổ biến qua hệ thống thông tin tuyền truyền của nhà nước cũng đều không đúng sự thật. “Muốn biết cho đúng ngay cả tình hình ở Việt Nam cũng phải đọc báo ngoại quốc.” Ông nói.

Ông nói thêm rằng: “Bây giờ người ta không còn sợ (bị bắt bỏ tù) lắm đâu.”

Tất cả tin tức từ các nhà tranh đấu cho tự do dân chủ nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam đều phải phổ biến trên báo chí ở ngoại quốc vì không thể phổ biến trên hệ thống báo đài nằm trong tay nhà nước. (N.T.T

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Miền Trung khô rang vì hạn
QUẢNG BÌNH.- Trong khi mưa lụt chết người ở phía Bắc thì trời nắng như đổ lửa, các cánh đồng nứt toác, sông ngòi đa số nhiễm mặn ở miền Trung Việt Nam.

“Con người đã phải lấy nước “chết” ở các hồ thủy lợi để duy trì sự sống cho mình và đàn gia súc. Các tỉnh miền Trung đang trải qua mùa khô hạn nhất từ năm 1998 đến nay”, báo điện tử VNExpress ngày Thứ Năm 14-7-2005 nói như vậy.

Không có lũ tiểu mãn, từ tháng 6 đến nay, Quảng Bình hầu như không mưa, trời lại nắng gắt nên 1/6 dân số của tỉnh (khoảng 135,450 người) đang khắc khoải vì thiếu nước sinh hoạt. Những cư dân vùng cồn cát giữa sông Gianh, sông Nhật Lệ và các xã miền núi của huyện Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa đã phải tằn tiện từng gàu nước. Sau khi tắm cho người, nước được tái sử dụng để làm vệ sinh chuồng trại chăn nuôi.

Theo ông Nguyễn Xuân Dung, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Bình, nghiêm trọng nhất là xã Quảng Hải, huyện Quảng Trạch, bà con phải qua đò, rồi cuốc bộ tới 5 km mới có thể lấy nước uống từ các khe núi. Giá nước sinh hoạt hiện là 2,000 đồng/can 20 lít, một số nơi dội lên 5,000 đồng. “Hạn năm nay phải tương đương 1998, năm có El Nino, và còn khắc nghiệt hơn vì diện lan rộng. Trước chỉ hạn ở huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy, nay lấn sang cả Bố Trạch, Minh Hóa”. Ông Dung đã làm bảng so sánh như vậy.

Con người khát, cây trồng cũng đang héo rũ. Ông Dung cho biết, thấy trước khả năng hạn nên tỉnh đã giảm hơn 1,000 ha lúa (còn 16,890 ha), nhưng hiện có tới 10.000 ha lúa mới được 2 tháng tuổi đang thiếu nước. Một nửa số diện tích ấy có khả năng mất trắng do không tìm được nguồn nước, trong khi đồng ruộng nứt nẻ, có nơi vết nứt bằng cổ tay người lớn.

Tỉnh Quảng Bình đã phải bơm nước chết từ các hồ Cẩm Ly, Vực Nồi, Ðồng Ran, hỗ trợ kinh phí để nhân dân đào thêm giếng, khơi sâu thêm các kênh mương. “Mặc dù biết hạn sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây, giảm năng suất, nhưng chúng tôi cũng phải cố gắng huy động tối đa các nguồn nước để cầm cự khoảng 8.000 ha lúa. Hiện lúa vẫn xanh, nhưng chỉ 1 tuần không nước là úa vàng ngay”, ông Dung nói.

Tại Quảng Ngãi, khô hạn cũng đang diễn ra gay gắt, căng thẳng nhất là huyện đảo Lý Sơn. Anh Hùng, cán bộ Phòng Thủy lợi, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, cho hay giữa bốn bề là biển cả, bà con chủ yếu sống nhờ nước mưa và một số giếng đào. Nhưng mấy tháng nay trời không mưa, giếng khô hạn, có khơi thêm cũng là nước mặn nên 100 hộ gia đình trên huyện đảo đang khát đến cháy cổ.

“Nước ở huyện đảo quý như vàng. Bà con nâng niu từng giọt, bởi để đến với Lý Sơn lúc này, những giọt nước đó đã phải vượt qua 30 km đường biển”, anh Hùng giải thích. Cũng vì thiếu nước nên bà con đành bỏ hoang 180 ha đất vốn chuyên trồng hành tỏi, chỉ trồng 120 ha cây chịu hạn như vừng, dưa hấu, ngô. Tuy nhiên, 2/3 diện tích ấy cũng đang khô cháy, không có khả năng thu hoạch.

Theo ông Nguyễn Ðình Ninh, Cục phó Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quảng Bình, Quảng Ngãi chỉ là 2 trong số hàng chục tỉnh suốt dải miền Trung từ Nghệ An đến Bình Thuận đang trải qua mùa hạn. Năm nay, hạn căng thẳng hơn vì không có lũ tiểu mãn. Trong khi đó, 6 tháng qua, lượng mưa ở miền Trung chỉ đạt 40-60% so với trung bình nhiều năm. 10 ngày tháng 7, mưa không đáng kể, Ðông Hà (Quảng Trị) chỉ 1 mm, Quảng Ngãi 4 mm, Quy Nhơn 2 mm...

Dự báo về tình hình khô hạn trong thời gian tới, ông Ninh cho rằng sẽ còn căng thẳng đến hết tháng 7, sang tháng 8 mới hy vọng có mưa. Sau đó, miền Trung sẽ bước vào mùa lũ. Còn ông Nguyễn Xuân Dung, Giám đốc Sở Nông nghiệp Quảng Bình thì nói: “Theo kinh nghiệm của bà con, vào những năm như thế này, xác suất mưa rơi vào tháng 7 và nửa đầu tháng 8 là rất ít. May ra phải đến 15/8 mới có mưa, chấm dứt khô hạn”.

Trong khi chờ mưa, giải pháp được Bộ Nông nghiệp chỉ đạo các địa phương vẫn là cân đối nguồn nước, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, lùi thời vụ gieo cấy đến khi có mưa; quản lý chặt nguồn nước, ưu tiên cho sinh hoạt, chăn nuôi gia súc; khoan, đào thêm giếng và khơi sâu các kênh mương dẫn nước.

Ðầu tuần này, Bộ Nông nghiệp đã cử 2 đoàn công tác, một do Thứ trưởng Phạm Hồng Giang, một do Cục trưởng Thủy lợi Phạm Xuân Sử đi thị sát và chỉ đạo công tác phòng chống hạn ở miền Trung.

Mấy tháng trước, cư dân nhiều huyện của tỉnh Ninh Thuận đã phải nhận gạo cứu trợ chống đói vì nạn hạn hán kéo dài suốt nhiều tháng ở khu vực.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Việt Nam than phiền: Ðối tác thương thảo vào WTO đòi các điều kiện quá đáng
Friday, July 15, 2005 .

HÀ NỘI 15-07 (TH).- Hà Nội hôm Thứ Năm 14-7-2005 than phiền là các đối tác chính yếu đã có các đòi hỏi “quá đáng”, nhất là đòi mở rộng lãnh vực đầu tư dịch vụ nhiều nhạy cảm, trong các cuộc thương thuyết để Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (WTO).

Vũ Khoan, phó thủ tướng CSVN và là nhà thương thuyết chính yếu của Hà Nội, nói rằng Việt Nam hy vọng gia nhập tổ chức WTO cuối năm nay. Nhưng họ đang bị các đối tác đòi hỏi nhượng bộ những điều mà các đối tác khác khi thương thuyết chưa từng bị đòi nặng đến như thế trong các vòng đàm phán hiện tại.

“Điều này không công bằng.” Khoan nói như thế trong cuộc phỏng vấn của báo Financial Times. “Việt Nam là nước đang phát triển với mức phát triển thấp, nhưng trong các cuộc thương thuyết cụ thể, một số đối tác lại đòi hỏi rất cao... đòi hỏi còn cao hơn tiêu chuẩn của WTO”.

Những lời than phiền của Khoan có thể hiểu như nhắm vào Hoa Kỳ, nước được coi như đang nắm chìa khóa vào cửa WTO của Hà Nội.

Trước khi Phan Văn Khải đến Hoa Thịnh Ðốn ngày 21-6-2005, phái đoàn thương thuyết của CSVN đã rời nơi đây về nước mà không đạt được thỏa thuận. Niềm hy vọng và sự vẻ vang nhất cho ông Khải và chế độ Hà Nội là ông ta được chứng kiến lễ ký kết giữa hai nước ở thủ đô Mỹ để CSVN gia nhập WTO. Báo chí CSVN chỉ chống chế gượng gạo cho sự thất bại khi nói rằng đã “đạt được nhiều tiến bộ”.

Từ kẻ tử thù nay đổi sang thành đối tác thương mại, buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Mỹ đạt tới $6.4 tỉ USD trong năm 2004.

Những điểm còn đang kẹt là Mỹ đòi CSVN phải mở rộng hơn nữa lãnh vực dịch vụ và viễn thông mà Hà Nội coi như an ninh quốc phòng. Mỹ đòi Hà Nội phải để ngoại quốc đầu tư tự do trong lãnh vực ngân hàng, bảo hiểm. Ðể lấy lòng và chứng tỏ rằng mình đã nhượng bộ, một số công ty bảo hiểm của Mỹ đang được chấp thuận cho chen chân vào Việt Nam để bán bảo hiểm. Ngoài ra, Mỹ cũng đòi CSVN phải bảo đảm việc bảo vệ tác quyền trí thức bằng cách bắt giữ các vụ in ấn lậu phim ảnh, băng nhạc, sách báo và nhất là các chương trình điện toán. Việt Nam được coi như “thiên đường” của những kẻ sao chép lậu chương trình điện toán và phim ảnh của Mỹ.

Cuối tháng này, Việt Nam và Mỹ tiếp tục thương thuyết để san bằng các dị biệt còn lại mà Vũ Khoan có và khá lạc quan.

“Tổng Thống Bush nói ông ủng hộ mạnh mẽ cho Việt Nam gia nhập WTO.” Ông Khoan nói. “Và chúng tôi đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trên bàn thảo luận.”

Nhưng giới kinh doanh ngoại quốc ở Hà Nội thì không tin là phía CSVN sẽ san bằng các dị biệt với Mỹ kịp thời để có thể gia nhập WTO vào cuối năm nay như họ kỳ vọng.

Hà Nội đã hoàn tất đàm phán với Liên Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số đối tác khác. Hà Nội cũng mới loan báo kết thúc đàm phán với Trung Cộng, một láng giềng và cũng là một đối tác quan trọng từng là kẻ thù truyền kiếp. Lần đụng độ gần đây nhất là năm 1979 dọc theo biên giới giữa hai nước khiến hàng chục ngàn người thiệt mạng khi Trung Cộng đem đại quân đánh dọc biên giới để “dạy” Hà Nội một bài học.

Tuy biết là các cuộc thương thuyết để vào WTO còn rất nhiều khó khăn, Khoan nói rằng gia nhập tổ chức này là điều khẩn thiết để Việt Nam có thể hiện đại hóa đất nước. Họ sợ rằng nếu không tăng trưởng kịp thì sẽ không đào ra được đủ việc làm để thỏa mãn nhu cầu cho khoảng 1.5 triệu người gia nhập thị trường công việc hàng năm. Ðây có lẽ là động lực mạnh mẽ nhất đã thúc đẩy CSVN dồn sức thương thuyết và nhượng bộ. Hàng triệu người thất nghiệp cũng tiềm ẩn sự bất ổn chính trị, cái lo lắng trên cùng để đảng CSVN nắm chặt được quyền lực.

“Chúng tôi không thể phát triển nếu không tham dự vào thị trường thế giới.” Khoan nói. “Chúng tôi muốn hội nhập để có thể xâm nhập được thị trường thế giới rộng rãi hơn, tiếp cận được nhiều nguồn tài chính thế giới hơn cũng như kỹ thuật hiện đại và năng lực quản trị mới.” (N.T.T.)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Tin thể thao VN

Chiều tối thứ bẩy 16/7 vừa qua , đã có một trận đá bóng trên sân Vận động Chi Lăng thành phố Đã nẵng .Giữa đội chủ nhà và Thép Miền Nam . Với kết quả đội khách thắng đội chủ nhà với Tỉ số 1/0.

Khi trận đấu vừa chấm dứt, bạo loạn đã xẩy ra trên các khán đài của Sân vận động . Bởi vì khán giả Đã nẵng rất tin tưởng vào đội bóng nhà của mình .Chính vì bạo loạn xẩy ra , các cầu thủ đội chủ nhà và huấn luyên viên không dám rời sân . Khoảng 15 phút sau trận đấu , các cầu thủ Đà nẵng rời sân đi vào đường hầm , đã bị khán giả ném đá , lon nước
tới tấp vào người . Trong khi đó , ở mặt tiền sân vận động Chi Lăng , bạo loạn tiếp tục xẩy ra ,khán giả tấn công xe chở các cầu thủ Đà nẵng , khiến cho Cảnh sát phải ra tay can thiệp . Khoảng 2 giờ sau vẫn không chấm dứt .

Như vậy khán giả Đã nẵng đã bắt chước nạn côn đồ Anh .Bạo loạn sau một trận bóng .Ai bảo dân Đà nẵng hiền hoà .[img]http://da%20banh%20VN%203[/img][img]http://da%20banh%204[/img][img]http://%20da%20banh%20VN%204[/img][img]http://da%20banh%20VN%203[/img]
Attachments
da banh VN  4.jpg
da banh VN 4.jpg (26.69 KiB) Viewed 400 times
da banh VN 3.jpg
da banh VN 3.jpg (29.02 KiB) Viewed 400 times

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Không Ai Bịt Miệng Được Nhà Văn Dương Thu Hưong
[11/07/2005 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]

Tác giả: Alan Riding, New York Times, July 11, 2005
Người dịch: Nguyễn Quốc Khải, Vietnam Review.

Image

Paris, 09.07- Khoác bên ngoài một chiếc áo vét tông xần xùi và nhấm nháp nước trái cây trong một quán cà phê ở bên bờ sông [Seine], nhà văn Dương Thu Hương không có vẻ gì là một khuôn mặt dọa nạt được ai. Nhưng bà Hương, 58 tuổi, hiển nhiên là như vậy tại quê hương Việt-Nam của bà, nơi bà đã bị giam cầm, sách của bà bị cấm và bà bị từ chối không cho giấy thông hành để xuất ngoại trong 11 năm.
Có vẻ là bà có nhiều tội. Những cuốn tiểu thuyết của bà mổ xẻ đời sống dưới một trong những chế độ cộng sản cuối cùng được xuất bản và đón nhận niềm nở tại thế giới Tây phương. Bà là một cựu đảng viên Cộng Sản bị trục ra khỏi đảng vì tội phản bội. Và trên hết, bà là một nhân vật chống đối – một lãnh tụ cao cấp của đảng gọi bà là một “con điếm chống đối” (dissident whore) – đã không chịu ngậm miệng ngay cả sau khi đã bị nhốt trong tù tám tháng vào năm 1991.
Ngày nay, lần thứ hai, bà được phép qua Âu châu. Nhưng trong một nghĩa, nước Việt-Nam cùng đi theo với bà. Bà vui lòng nói về đời của mình và năm cuốn tiểu thuyết, gồm cả cuốn mới nhất, “No Man’s Land” (Chốn Vắng), xuất bản tại Hoa-Kỳ vào tháng Tư vừa qua. Nhưng ưu tiên của bà là công khai kết án chính phủ tham nhũng và lạm quyền Hà-Nội.

Bà nói lưu loát tiếng Pháp nhưng với một cách phát âm nặng: “Đây là nhiệm vụ phải làm của tôi nhân danh những người đã chết dưới chế độ đáng hổ thẹn này. Vì tôi có một chút tiếng tăm ở nước ngoài, tôi phải nói về những vấn đề này. Tôi phải nói ra những gì trong con người của tôi để lương tâm của tôi được trong sáng. Dân chúng đã mất sức mạnh để phản ứng, để suy tư, để nghĩ. Có lẽ tôi sẽ cho họ can đảm.”

Bà cảm thấy rằng lời nhắn nhủ của bà khẩn trương hơn bao giờ hết. Ba mươi năm sau chiến tranh Việt-Nam, bà thấy chế độ được chấp nhận ở nước ngoài bằng cách mở rộng kinh tế cho người ngoại quốc trong một chiến lược hỗn hợp cộng sản tư bản. Bà cũng nhận thấy với sự lo sợ rằng thủ tướng của Việt-Nam, Phan Văn Khải, đã được tiếp đón tại toà Bạch Cung vào tháng trước.

“Đây là một chề độ tàn bạo và đê tiện. Nó làm nhiều thứ để lừa phỉnh những người ngoại quốc,” bà nói trong một buổi mạn đàm lâu dài. “Nếu Bush ủng hộ chế độ này, nó sẽ bắt đầu dấn thân vào một cuộc chiến khác, và sẽ đưa dân chúng xuống đất đen. Lần này những kẻ phản bội địa phương, thay vì phi cơ thả bom B-52, sẽ được sử dụng.”

Cho đến nay, bà tiếp tục nói, chiến tranh Việt-Nam được sử dụng để biện minh cho việc duy trì quyền lực trong tay của nhà nước.

“Tất cả tuyên truyền của nhà nước chỉ nhắm tạo một huyền thoại về chiến tranh, để tâng bốc và đe dọa dân chúng,” bà nói. “Dân được bảo rằng: ‘Dân tộc ta anh hùng. Chúng ta nên kiêu hãnh về lịch sử của chúng ta. Nhưng đừng bao giờ quên rằng, đảng đã lãnh đạo dân tộc đến thành công.’ Nhà nước lừa dối dân chúng bằng một niềm kiêu hãnh mù quáng.”

Cuộc đời của bà Hương cũng không tránh khỏi ảnh hưởng của chiến tranh.

Bà nói, khi còn một đứa trẻ con bà không được học trường tốt vì bà không thuộc vài giai cấp nông dân hoặc vô sản: Bà ngoại của bà là địa chủ đã di cư vào Nam vào giữa thập niên 1950. [1] Nhưng đến tuổi 16, Dương Thu Hương được cho phép gia nhập đoàn diễn kịch lưu động và chứng tỏ có tài, nên được gửi đi học trường đào tạo diễn viên, nghệ sĩ múa, và ca sĩ để giúp vui quần chúng.

Ở đó bà một lần nữa làm việc khá và được cấp cho cơ hội để đi học tại Liên Xô, Đông Đức hoặc Bulgaria. Bà nói: “Tôi chọn ra tiền tuyến bởi vì nước chúng tôi đang có chiến tranh và tổ tiên tôi luôn luôn chiến đấu cho đất nước…Tôi gia nhập một đoàn nghệ sĩ trẻ lo trình diễn cho bộ đội và nạn nhân chiến tranh. Khẩu hiệu là: ‘Những tiếng hát của chúng ta to hơn tiếng bom.’ Chúng ta có thể làm in những tiếng gào thét bằng những bài hát.”

Bà nhớ lại, bà nhận thấy ngay lúc đó những đảng viên có những đặc quyền. Sau đó bà có một xúc động khác mạnh hơn khi tù binh của miền Nam đến khu vực của bà. Bà nói: “Tôi khám phá ra sự thật là chúng tôi cũng chiến đấu chống lại người Việt-Nam…Vâng, chúng tôi luôn luôn bị Mỹ dội bom, nhưng họ ở trên trời cao và tôi không bao giờ được thấy họ. Tôi chỉ thấy người Việt.”

Bà giữ những ý nghĩ đó cho riêng mình, và cũng làm như vậy sau chiến tranh khi bà gặp lại bà con ở thành phố Hồ Chí Minh (như Saigon đã được đổi tên) và bà nhận biết rằng kẻ bại trận khá hơn kẻ thắng trận. Trong khoảng thời gian đó, bà tổ chức những sinh hoạt nghệ thuật ở thành phố Huế. Khi 30 tuổi, bà trở về Hà-Nội để làm việc cho kỹ nghệ điện ảnh của chính phủ. “Bà nói “Tôi viết năm kịch bản. Chúng được làm thành những phịm dở… Nhưng lương tôi không đủ sống.”

Một việc làm bất chợt ngắn hạn mở ra một cơ hội mới. Làm việc cho một nhóm tướng lãnh quân đội, bà viết cho họ về lịch sử chiến tranh Việt-Nam. “Những ông tướng này thảo luận với nhau làm thế nào để thay đổi bài viết của tôi để cho phù hợp với quyền lợi của họ… Các ông này muốn tăng số người Việt chết để chứng tỏ rằng không có sự hi sinh nào quá to lớn cho nhân dân.”

Bà Hương nói rằng bà được mời gia nhập đảng CSVN vào năm 1979 và miễn cưỡng chấp nhận với sự thúc đẩy của bạn bè vì họ hi vọng bà có thể giúp họ. Cũng trong năm đó cuốn tiểu thuyết đầu tiên của bà “Bên Kia Bờ ảo Vọng” được xuất bản tại Việt-Nam bán được 100,000 bản. Nhưng hai năm sau, bà nói, với sự ra đời của “Thiên Đường Mù”, một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng khác, bà bắt đầu gặp nhiều vấn đề.

“Ông Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư của Đảng CSVN hứa cấp cho bà một căn nhà dành cho cấp bộ trưởng nếu tôi giữ yên lặng,” bà nói. “Tôi nói với ông, ‘tôi tranh đấu cho dân chủ, tôi đặt tôi về phía nhân dân và không bao giờ đồng ý như là một bộ trưởng.’ Nguyên tắc của tôi là ông có thể mất tất cả, kể cả mạng sống của ông, nhưng không bao giờ nên để mất danh dự của mình.”

Ngay sau đó, bà nói, bà đã thoát hai âm mưu ám sát. Bà viết một bài diễn văn cho Nghị Hội Những Nhà Văn Việt-Nam vào năm 1989, tựa đề là “Đảng Nên Cám Ơn Nhân Dân” và tức thì bị trục xuất ngay ra khỏi đảng. Vào năm 1991, bà bị tù vì bán tài liệu mật cho ngoại bang. Đó là những bản thảo viết tay. Không có gì đáng ngạc nhiên cả, ba cuốn sách tiếp theo của bà – “Tiểu thuyết vô đề”, “Memories of a Pure Spring” và “No Man’s Land” – chưa được xuất bản tại Việt-Nam. [2]

Nhưng tất cả những tiểu thuyết của bà đã được dịch sang một số ngoại ngữ. Nhờ Will Schwalbe, lúc đó làm việc tại Willam Morrow và bây giờ là chủ bút tại Hyperion, những cuốn sách này được dịch sang Anh ngữ. Ô. Schwalbe nói trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại “Lần đầu tiên tôi dược nghe về bà là khi bà bị giam trong nhà tù…Tôi đọc 30 hay 40 trang của ‘Thiên Đường Mù’ và tôi đã xúc động. Đây là cuốn tiểu thuyết Việt-Nam đầu tiên được dịch và xuất bản tại Hoa-Kỳ.

Những tiểu thuyết của bà Hương không có mầu sắc chính trị rõ rệt, nhưng chủ đề của những cuốn sách này là sự vỡ mộng của những người bị kẹt bởi số mệnh ngoài sự kiểm soát của họ. Khi điểm sách cuốn “Memories of a Pure Spring” trên tờ New York Times vào năm 2000, Richard Bernstein viết: “Người ta đọc cuốn sách này vì quan điểm chính trị của nó, nhưng hơn thế nữa là vì chiều sâu và sự phức tạp của những nhân vật trong cuốn tiểu thuyết. Họ phấn đấu để định nghĩa chính mình trong một thế giới mà mỗi sự vật và mỗi người đều bị xếp vào một trong những hệ tư tưởng và khát vọng đất nước.”

Vào năm 1994, với sự can thiệp của Đệ Nhất Phu Nhân của Pháp Danielle Mitterand, bà Hương đã được đến Pháp để nhận giải thưởng. Bà được hứa cấp cho quy chế tị nạn chính trị. “Tôi nói, ‘Cám ơn, nhưng tại nước tôi, sư sợ hãi đã nghiền nát mọi thứ, chiến sĩ can đảm trở thành dân chính hèn nhát.’ “ Bà nhớ lại. “Do đó tôi phải trở về. Tôi trở về để làm một việc: nhổ vào mặt chế độ.’ “

Lần này, Tòa Đại Sứ Ý tại Việt-Nam đã lấy được hộ chiếu cho bà, nhưng sau vài tuần ở Ý và Pháp, một lần nữa bà muốn trở về Hà-Nội, nơi hai đứa con và bốn đứa cháu đang sống. (Bà Hương đã ly dị vào năm 1982.) Và một khi về nước, nếu chính phủ không có một kế hoạch nào khác, bà nói bà sẽ tiếp tục viết. “Tôi là một người có lý tưởng cao, “Bà nói, trước khi thêm một nụ cười tinh quái, “và cũng là một người đần độn “

Chú thích:

[1] Theo GS Nguyễn Ngọc Bích, nhà văn Dương Thu Hương có bà ngoại là địa chủ. Do đó chúng tôi dịch từ chữ “grandmother” ra là bà ngoại.
[2]: GS Nguyễn Ngọc Bích cho biết tên Việt của cuốn “No Man’s Land” là “Chốn Vắng.” Nhưng tên Việt của cuốn “Memories of a Pure Spring,” chưa biết. Các nhà sách ở Hoa-Kỳ đều không có cả hai cuốn này bằng tiếng Việt.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Dân bán máu chuyên nghiệp ở Cần Thơ kêu than: “Máu người rẻ hơn máu chó”
Monday, July 18, 2005

Thu Hiền

CẦN THƠ.- Cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long có 23 cơ sở đảm trách việc hiến máu và cung cấp máu. Mỗi năm các cơ sở này thu được hơn 40,000 lít máu, 80% lượng máu trên được lấy từ những người bán máu chuyên nghiệp.

Nghề bán máu. “Bán dần sự sống của mình với giá rẻ mạt... để cứu sống bản thân không chết đói và đem lại sự sống cho người khác”. Một người đi bán máu đã nói về “cái nghề” của họ khi bắt đầu buổi trò chuyện với tôi.

Tôi có mặt trước cửa Bệnh Viện Cần Thơ vào 7 giờ sáng ngày Thứ Hai.

Qua tìm hiểu thì giới xe ôm trước cửa bệnh viện cho biết, những người bán máu chuyên nghiệp có khoảng 25 người. Họ từ khắp nơi, trong đó đông nhất là từ các xóm Tài Xỉu, chợ Sắt và các hẻm ở chợ Xuân Khánh. Và một số người từ huyện lân cận như Ô Môn, có khi ở tận Sa Ðéc (Ðồng Tháp) qua Cần Thơ để bán máu.

La cà trước cửa bệnh viện vào vai một người đi hiến máu. Mới 7 giờ sáng đã có hơn 5-6 người phụ nữ trạc ngoài 40 tuổi ngồi túm nhúm trước cửa bệnh viện. Thấy tôi, một chị hỏi phải đi hiến máu không và hiến được mấy lần rồi? Vì sáng nay có đợt hiến máu tình nguyện. Sau khi nghe tôi kể về những lần tôi đi hiến máu nhân đạo lúc còn là sinh viên thì các chị cười ha hả và nói:

- “Coi vậy mà gan! Ít ai cho máu lắm! Người giàu thì “một giọt máu bằng sáu bát cơm”.

Tôi hỏi nhà chị ở đâu thì chị cho biết:

- “Tôi ở Ô Môn cùng với 3 bà này xuống đây (Cần Thơ). Ðây là lần thứ 4 tôi đi hiến máu nhân đạo nhưng tôi đã đi bán máu hơn 3 năm nay rồi.”

Tôi hỏi chị đi bán máu được 3 năm rồi sao đi hiến máu nhân đạo chỉ được 4 lần thì chị trả lời:

- “Mỗi xị (250 ml máu ) bán được 150,000 đến 180,000 đồng nhưng nếu hiến máu nhân đạo thì chỉ được 60,000 đồng thôi!” “Nhân đạo” mà! Khi nào kẹt tiền lắm thì tui mới đi bán máu. Ai cũng vậy, nghèo khổ quá mới đi bán máu lấy tiền mà ăn và xoay trở nợ nần... chứ có ai muốn đâu em ơi!”

Tôi hỏi chồng con chị biết chị đi bán máu không, vì theo lời kể của những người bán xe đẩy (bánh mì, nước uống...) trước cửa bệnh viện này thì “Một số chị phải trốn chồng con đi bán máu, họ sợ gặp người quen và sợ nhất là phóng viên. Vì có đợt phóng viên đến đây quay phim lên truyền hình... về nhà mấy bà đó bị chồng đánh một trận nhừ tử”. Chị Thạch Thị Lệ cho biết:

- Chồng tôi đi làm phụ hồ, mỗi ngày được 50,000 đồng nhưng mấy tháng không có người mướn thì chồng vợ con cái ở nhà nhịn đói, phải mượn gạo vay tiền. Tôi lén lén ổng đi bán máu để kiếm tiền về mua gạo để dành ăn. Chứ nhìn con đói tôi chịu không nổi!

Hầu hết các chị từ huyện Ô Môn đến Cần Thơ bán máu đều là dân làm thuê làm mướn. Lúc đầu đi bán máu cũng vì bất đắc dĩ nhưng dần dần họ thấy việc bán máu đã phụ thêm một số tiền tuy không nhiều nhưng có thể mua sách cho con đi học, sắm thêm được 1 cái nồi, 1 cái ly... hay mua được vài chục lít gạo đổ vào khạp. Thế đấy, chị Nga cho biết thêm:

- Gần đến tựu trường rồi, thằng con 10 tuổi của tôi cũng lên lớp 4, tiền sách 60,000-70,000 đồng, rồi tiền học phí nữa... Mình là cha mẹ mình phải gắng lo chứ biết sao bây giờ.

Tôi hỏi các chị bao lâu mới đi bán máu một lần:

- “Tùy! Chúng tôi nghe ở bệnh viện nào có đợt lấy máu thì tụi tui rủ nhau đi bán. Vì nếu bán ở một bệnh viện thì 3 tháng mới bán được 1 lần”.

Tôi hỏi các chị có bí quyết gì để có máu nhiều thì các chị cười khà.

- “Bí quyết gì đâu cô ơi! Tụi tui nhà nghèo thấy bà, ăn uống cực khổ lắm! Dân bán máu phải tuyệt đối cữ ăn đồ chua. Phải uống nước nhiều, trước và sau khi rút máu thì phải uống trà đá đường thiệt nhiều cho người ta dễ lấy máu và mình không mất sức.”

Lúc này, trước cửa bệnh viện đã khá đông người. Chị Lệ kê tai nói nhỏ cho tôi biết là những người mới ngồi xuống cạnh tôi là dân xóm Tài Xỉu, họ có thâm niên hơn chục năm bán máu, cả gia đình họ đều đi bán máu.

Ðột nhiên người phụ nữ ngồi cạnh quay sang nói chuyện với tôi:

- “Lần đầu hả?”

Tôi nói “dạ”, chị nói:

- “Chỉ 60,000 đồng thôi đó nhóc!”

Tôi nói:

- “Vậy hả chị!”

Rồi chị chửi thề:

- “Ð.M! Nó cho mình 60,000 đồng nhưng bán lại cho người ta mấy trăm ngàn. Máu người rẻ hơn máu chó. Cầm 60,000 đồng đi lại đường Trần Văn Hoài ăn được mấy chén tiết canh chó?!

Chị hỏi nhà tôi ở đâu và làm nghề gì, xong, chị nói tiếp về chị.

- “Em biết xóm Tài Xỉu, xóm này nổi tiếng là tệ nạn mà! Thất nghiệp, không nghề ngỗng gì cả. Nếu không bán máu mà ăn thì đi ăn xin, làm thuê làm mướn... đủ thứ nghề trên đời. Nghèo khổ quá mới vậy! Người ta nhìn dân bán máu với con mắt kinh tởm lắm cưng à! Máu người nghèo cũng là máu người, ai mà không quý máu của mình!”

Rồi chị kể tôi nhiều cảnh khổ sở của dân xóm chị. Chị chỉ tay qua đường:

- “Không biết con cái nhà ai mà tội quá! Cha mẹ tụi nó đâu mà bỏ nó như vậy! Chị đây nè, đi bán máu để nuôi gia đình, lo cho con cái. Cuộc đời là như vậy... Khổ rồi còn thấy người khổ hơn! Tất cả những người ngồi ở đây ai cũng vậy! Mỗi người mỗi cảnh”.

Ðã gần 8 giờ mà bác sĩ vẫn chưa đến. Một người đàn ông cũng là dân bán máu nói:

- “Bác sĩ chưa đến! Chắc là hôm nay nghỉ làm việc.”

Tiếng mấy người đàn bà láo nháo.

Tôi bước qua đường, đối diện bệnh viện, trên vỉa hè, có 2 bé trai đang còn ngon giấc trên vỉa hè, không chiếu, không mùng, không gối. Và không nhà.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Nhà cầm quyền CSVN đập nát trụ sở Hội Thánh Tin Lành Menonite ở Sài Gòn

Tuesday, July 19, 2005


SÀI GÒN 19-07 (TH).- Nhà cầm quyền CSVN tại quận 2 Sài Gòn hôm Thứ Ba 19-7-2005, cho người tới không những phá hủy toàn bộ trụ sở Giáo Hội Tin Lành Menonite tại Việt Nam, mà còn đập lấn thêm vào phòng nhóm của giáo hội này, theo bản thông cáo báo chí phổ biến trên Internet.

Hành động này diễn ra vào lúc mục sư Nguyễn Hồng Quang, phó hội trưởng kiêm tổng thư ký của Giáo Hội Mennonite Việt Nam, đang còn ở tù (bản án 3 năm) với cái cớ ngụy tạo “chống người thi hành công vụ”.

“Lúc 8 giờ sáng ngày 19-7-2005 khoảng hơn 200 nhân viên chính quyền quận 2 đã phong toả khu vực chung quanh văn phòng Giáo Hội Mennonite ở phường Bình Khánh, quận 2 TP. HCM để đập phá phần sau của trụ sở Giáo Hội Mennonite.”

“Trước ống kính quay phim và chụp ảnh của nhân viên nhà nước, 70 người của chính quyền đã dùng búa tạ và cưa máy để phá 8 mét x 4.7 mét phía sau căn nhà hai tầng của mục sư Quang và cũng là trụ sở của Giáo Hội Mennonite. Sau 4 tiếng đồng hồ đập phá chính quyền để lại một đống gạch, gỗ và sắt vụn. Ðiều vô lý là ngoài 4 mét nhà mà lâu nay chính quyền quận 2 cho rằng mục sư Quang đã xây dựng trái phép, chính quyền đã cho đập lấn thêm 4 mét vào phòng nhóm thờ phượng Chúa hàng tuần của giáo hội. Tầng phía trên của nhà nguyện này là tư thất của gia đình mục sư Quang được xây dựng vào năm 1999. Liên quan đến lệnh cưỡng chế tháo dỡ, Giáo Hội Mennonite Việt Nam đã nhiều lần khiếu nại cũng như nêu lên những điều vô lý trong lệnh này nhưng không được UBND quận 2 giải quyết.” Bản tin báo chí của Tổng Giáo Hạt Tin Lành Mennonite Việt Nam viết như vậy.

Có mặt tại trụ sở trên chỉ có bà truyền đạo Lê Thị Phú Dung (vợ MS Quang) và hai con nhỏ. Số điện thoại di động của bà đã bị khóa nên bà không liên lạc được đi đâu.

Ngày 16-5-2005, truyền đạo Lê Thị Phú Dung (vợ mục sư Quang) gửi thư cho Phan Văn Khải, thủ tướng CSVN, trình bày về các hành động ngăn cản, bắt giữ tín đồ Mennonite ở nhiều địa phương khi họ tham dự các buổi lễ cuối tuần hoặc học tập Kinh Thánh, kể cả tại trự sở trung ương mới bị nhân viên nhà nước phá hủy. Trong bức thư này, bà còn yêu cầu nhà cầm quyền địa phương “hướng dẫn đăng ký” để giáo hội này được công nhận hoạt động chính thức theo tin thần Pháp Lệnh Tôn Giáo (có hiệu lực từ 15-11-2004) và chỉ thị ngày 2-4-2005 của Phan Văn Khải về “công tác đối với đạo Tin Lành”.

Theo đó, người ta có cảm tưởng là chế độ Hà Nội “nới tay” cho các giáo hội Tin Lành (chiếm đến khoảng 95% các giáo hội Tin Lành ngoài “quốc doanh”) hoạt động.

Ngày 21-5-2005, Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) loan tin với tựa đề “Mọi tín đồ Tin Lành được tạo điều kiện sinh hoạt tín ngưỡng”. Trong bản tin này, TTXVN viết ngay ở câu đầu của bản tin rằng “Tạo điều kiện cho mọi tín đồ Tin Lành đăng ký sinh hoạt tín ngưỡng, xây dựng nơi thờ tự, đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách là yêu cầu của thủ tướng chính phủ nêu tại chỉ thị 01/2005/CT-TTg về một số công tác đối với đạo Tin Lành.”

Nhưng hành động phá hủy trụ sở Giáo Hội Tin Lành Mennonite Việt Nam diễn ra ngày 19-7-2005 ở quận 2 Sài Gòn cho thấy những gì loan truyền trên báo để tuyên truyền khác với những gì diễn ra trong thực tế. Giáo Hội Tin Lành Menonite Việt Nam đã gửi rất nhiều lá đơn khiếu nại cho Phan Văn Khải cũng như nhà cầm quyền địa phương, nhưng họ vẫn bị đàn áp, khủng bố thẳng tay.

Hồi Tháng Tư 2005, Liên Minh Các Giáo Hội Tin Lành Thế Giới đã gửi đến Ủy Ban Nhân Quyền LHQ tố cáo chế độ Hà Nội tiếp tục đàn áp tôn giáo, đặc biệt các giáo hội Tin Lành, một cách có hệ thống.

Ngày 10-6-2005 trước khi Phan Văn Khải đến thăm Canada, Hội Thánh Tin Lành Thông Công Canada đã phổ biến một bài bình luận nói rằng các chỉ thị lệnh lạt về tôn giáo của CSVN gần đây “chỉ là những lời hứa trống rỗng.”

Các tín hữu nghe tin đến nơi đã bị công an ngăn chặn. Buổi chiều cùng ngày, đại diện Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Sài Gòn có đến “điều tra tìm hiểu và an ủi gia đình bà MS Quang”, bản tin trên viết.

Một ngày trước khi Phan Văn Khải đến gặp TT Bush ở Hoa Thịnh Ðốn, giáo sĩ Trương Trí Hiền đã gửi đến Hạ Viện Hoa Kỳ bản điều trần về 77 vụ đàn áp đối với Giáo Hội Tin Lành Mennonite Việt Nam thời gian gần đây. (N.T.T.)

NguoiVietOnline

Post Reply