Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Mỹ gia tăng thách thức Trung Quốc trên Biển Đông
Hà Tường Cát/Người Việt

Hôm Thứ Bảy 30 tháng 1, 2016, lần đầu tiên một khu trục hạm Hải Quân Hoa Kỳ, chiếc USS Curtis Wilbur,
đi vào hải phận đảo Triton thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Image
Khu trục hạm USS Curtis Wilbur DDG-54. (Hình: US Navy)

Đây là lần thứ nhì trong 3 tháng, chiến hạm Mỹ đi vào vùng biển mà Trung Quốc tự nhận chủ quyền, sau lần khu trục hạm USS Lassen đến gần Subi Reef trong quần đảo Trường Sa hồi cuối tháng 10 năm ngoái.

Hai chuyến hải hành này đều là những hoạt động nằm trong khuôn khổ chương trình Tự Do Lưu Thông Hàng Hải của Hải Quân Hoa Kỳ trên các vùng biển quốc tế, có tên là U.S. FONOP (United States Freedom Of Navigation Operations) bắt đầu thi hành từ năm 1983.

Tuy nhiên chuyến đi của chiến hạm USS Curtiss Wilbur mang nhiều ý nghĩa hơn và có những điểm đáng chú ý như sau:

1. Lần đầu tiên Hoa Kỳ công khai xác định không nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa.

2. Khác với Subi Reef (tên Việt Nam là Đá Xu Bi) là một rạn san hô vòng (atoll) trên đó Trung Quốc đã bồi đắp thành đảo nhân tạo và xây dựng căn cứ quân sự, Triton Island (tiếng Việt gọi là đảo Tri Tôn) là một hải đảo thiên nhiên, và cho đến nay Trung Quốc chưa xây dựng cơ sở gì trên đó.

3. Đây là một hành động cụ thể, thách thức ý đồ bành trướng trái phép của Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời cũng chứng tỏ quyết tâm của Hoa Kỳ trong kế hoạch chiến lược về châu Á.

4. Hành động này được thực hiện trùng hợp với thời điểm sắp diễn ra hội nghị thượng đỉnh “đặc biệt” ASEAN theo đề nghị của Tổng Thống Obama, dự trù vào giữa tháng 2 tại Sunnylands, Rancho Mirage, California.

Bản thông cáo của văn phòng bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter đưa ra một ngày sau chuyến hải hành của USS Curtis Wilbur nói rõ: “Tôi có thể xác định rằng Bộ Quốc Phòng đã tiến hành FONOP ở quần đảo Hoàng Sa ngày 30 tháng 1 (giờ địa phương) kế cận đảo Triton, nhằm không thừa nhận những yêu sách chủ quyền hải dương quá đáng của các bên về quần đảo này. Cuộc hải hành nhằm thách thức mưu toan do ba bên gồm Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam - muốn hạn chế quyền tự do hàng hải quanh các thực thể mà họ yêu sách chủ quyền, bằng cách đòi hỏi phải xin phép trước hoặc thông báo việc đi qua lãnh hải. Những sự tự xác định chủ quyền quá lố như thế đối với đảo Triton là không phù hợp công pháp quốc tế về luật biển”.

Bản thông cáo cũng tái xác định rằng Hoa Kỳ không có lập trường đứng về bên nào trong các việc đòi hỏi chủ quyền những “hải đảo thiên nhiên” ở Biển Đông, nhưng Hoa Kỳ giữ lập trường vững mạnh trong việc bảo vệ quyền lợi, tự do, bảo đảm sự sử dụng hợp pháp hải phận không phận cho tất cả mọi quốc gia và rằng mọi đòi hỏi chủ quyền phải tuân thủ công pháp quốc tế.

USS Curtis Wilbur (DDG-54) cũng như USS Lassen (DDG-82) ở trong số 62 khu trục hạm thuộc lớp Arleigh Burke đang hoạt động của Hải Quân Hoa Kỳ. Chiến hạm có lượng rẽ nước trên 8,000 tấn, vận tốc tối đa hơn 30 hải lý/giờ, thủy thủ đoàn 280. Đây là những chiến hạm đa năng trang bị nhiều loại hỏa tiễn từ phòng không tới chống hạm, săn tàu ngầm và hỏa tiễn bình phi tấn công các mục tiêu trong đất liền. Hai chiến hạm này đều hải hành đơn độc khi vào vùng biển Trường Sa và Hoàng Sa.

Đại tá Jeff Davis, một phát ngôn viên bộ quốc phòng Mỹ cho hay, không có chiến hạm hải quân Trung Quốc nào có ý ngăn cản khu trục hạm USS Curtis Wilbur. Tuy nhiên Bắc Kinh sau đó mạnh mẽ lên tiếng phản đối hành động khiêu khích “xâm nhập lãnh hải Trung Quốc”.

Tri Tôn là một đảo trong nhóm Lưỡi Liềm, nhóm đảo phía Nam của quần đảo Hoàng Sa. Đảo nằm cách mũi Ba Làng An trên đất liền Việt Nam 135 hải lý (250 km) cách đảo Lý Sơn 123 hải lý (227,8 km) và cách đảo Hải Nam Trung Quốc gần 300 hải lý. Đảo Tri Tôn diện tích khoảng 1.5 km2, lớn thứ ba trong các đảo thuộc Hoàng Sa.

Đầu tháng 5 năm 2014, Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 đến hạ đặt tại một vị trí cách đảo Tri Tôn 17 hải lý về phía nam, gây ra cuộc tranh chấp căng thẳng với Việt Namvề vấn đề giàn khoan này Quan điểm của phía Việt Nam cho rằng nơi đặt giàn khoan nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Còn phía Trung Quốc lập luận là họ đang tác nghiệp bình thường vì nơi đặt giàn khoan nằm trong "vùng biển của quần đảo Tây Sa" (tên Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa)

Từ khi người Pháp chấm dứt chế độ thuộc địa ở Đông Dương, Hoàng Sa vẫn thuộc chủ quyền của Việt Nam ngoại trừ đảo Phú Lâm, hòn đảo lớn nhất bị quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng chiếm giữ từ năm 1947 và tới 1949 Cộng Sản thắng trên toàn lục địa rồi chiếm luôn Phú Lâm. Năm 1974 sau khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Hoa Kỳ không có phản ứng và mặc nhiên coi quần đảo này thuộc về Trung Quốc, thể hiện qua việc chiến hạm của Hạm Đội 7 được lệnh không đến gần dưới 12 hải lý. Ngược lại bây giờ khi khu trục hạm Curtis Wilbur thi hành chuyến hải hành FONOP thì có nghĩa Hoa Kỳ vẫn coi Hoàng Sa còn là đất tranh chấp giữa ba nước Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam và không nước nào có chủ quyền chắc chắn,

Khác với việc chiến hạm USS Lassen thi hành công tác FONOP ở Đá Xu Bi hồi cuối tháng 10, theo luật biển (UNCLOS) Xu Bi là đảo nhân tạo không có lãnh hải, còn Tri Tôn là đảo thiên nhiên nên trên nguyên tắc có lãnh hải 12 hải lý. Do đó chiến hạm Curtis Wibur tuần trước đã bất ngờ đi gần Tri Tôn dưới 12 hải lý mà Hoa Kỳ không báo trước cho bất cứ quốc gia nào. Như thế về mặt pháp lý, hai chuyến FONOB này khác hẳn nhau. Hoa Kỳ coi Xu Bi là đá ngầm, không phải đảo, và coi Tri Tôn là đảo nhưng không là lãnh thổ của nước nào trong ba nước tranh chấp.

Chuyến đi của USS Curtis Wilbur sẽ không phải là FONOP cuối cùng trong Biển Đông. Gần đây, Đô đốc Harry B. Harris, Tư lệnh quân lực Hoa Kỳ vùng Thái Bình Dương, trong một cuộc nói chuyện ở Washington D.C. đã khẳng định: “Chúng tôi tiếp tục công tác xác định quyền tự do hàng hải, quý vị sẽ thấy nhiều chuyến FONOB phức tạp hơn do bối cảnh những thách thức trong vùng Biển Đông”. Trung Quốc cũng vẫn tiếp tục mạnh mẽ phản đối nhưng người ta không tin rằng sẽ dám có hành động cụ thể nào khác có thể đưa đến xung dột, ít lắm là trong tương lai gần. (HC)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Dân chủ thế này là cùng

Ngô Nhân Dụng
Có lẽ bản tin được nhiều người Mỹ đọc nhất ngày hôm qua, 2 Tháng Hai năm 2016, là tin Nghị Sĩ Ted Cruz đã thắng tỷ phú Donald Trump và Nghị Sĩ Marco Rubio sau cuộc bỏ phiếu sơ bộ của đảng Cộng Hòa tại tiểu bang Iowa. Nhưng người ta đọc tin xong rồi chắc cũng không mấy người hào hứng đưa tin lên mạng chuyển cho nhiều người khác cùng chia sẻ.

Trái lại, trong mấy ngày qua một bản tin đã truyền lan nhanh như một cơn cháy rừng là câu chuyện Quasimodo được cứu sống. Quasimodo là một con chó lạc. Nó lang thang trong tuyết giá ở tiểu bang Kentucky, nước Mỹ, được người ta cứu, đưa tới một hội chăm sóc thú đi lạc ở Minnesota.

Ở nước Mỹ, việc cứu một con chó mất chủ có gì lạ đâu? Nhưng chàng Quasimodo đặc biệt, vì có cái lưng gù. Trên thế giới chỉ có 13 con chó bị chứng bệnh “ngắn xương sống.” Nhân viên hội từ thiện đặt tên cậu chó này là Quasimodo, nhân vật Anh Gù trong truyện Nhà Thờ Ðức Bà của Victor Hugo. Họ mở một trang Facebook mới cho Quasimodo. Các công dân mạng ở Mỹ loan tin cho nhau, rồi chuyền đi khắp thế giới. Trong mấy ngày, số người “thích” Quasimodo lên hàng ngàn, chục ngàn, rồi trăm ngàn!

Số người bỏ phiếu ủng hộ quý ông Ted Cruz và Donald Trump đông hàng triệu! Trong mấy ngày nữa, báo, đài sẽ còn nhắc nhở tới hai ông, vì các tiểu bang khác sắp bỏ phiếu sơ bộ mà chưa biết ai sẽ thắng. Cuộc chạy hồi hộp từ đầu vì đây là một trò chơi dân chủ. Ðảng Cộng Hòa ở Mỹ không có một “Bộ Chính Trị,” nhưng những người có vai vế nhất trong đảng không ai ưa cả ông Trump lẫn ông Cruz. Một tuần trước, cựu Nghị Sĩ Bob Dole, hơn 90 tuổi, từng là một ứng cử viên tổng thống, còn tới Iowa tuyên bố rằng để cho Ted Cruz thắng là một “đại họa,” thà Trump thắng còn hơn! Một ngày trước khi dân bỏ phiếu, tờ báo địa phương Des Moines Register còn loan tin Trump dẫn đầu trong dư luận cử tri, 28% so với Cruz 23%. Hai vị cựu tổng thống tên là Bush tất nhiên ủng hộ ông Jeb Bush. Sau cùng, Jeb Bush chỉ được 3% số phiếu so với Cruz 28% và Trump 24%. Mai mốt, trong cuộc đua ở các tiểu bang New Hampshire và South Carolina sẽ còn gay cấn, thế cờ có thể đảo ngược nhiều lần!

Trong xã hội dân chủ, tranh cử là một trò hồi hộp. Chạy đua để được một đảng đưa ra tranh cử tổng thống hay đại biểu Quốc Hội đã hồi hộp lắm rồi, chưa nói đến tranh cử giữa hai, ba đảng. Nhiều cử tri Cộng Hòa ủng hộ Ted Cruz và Donald Trump một phần vì họ chán ngán với các nhà chính trị khác, những người vẫn đóng vai “lãnh đạo đảng” những năm qua. Sau cùng, Ted Cruz và Donald Trump chưa chắc đã đóng vai ứng cử viên tổng thống, nhưng tiếng nói của những khối cử tri ủng hộ họ chắc chắn phải được công nhận. Ý nguyện của họ sẽ được ghi vào chính sách của đảng Cộng Hòa. Nhưng trên mỗi chặng đường tranh cử và bỏ phiếu, bao giờ cũng sẵn sàng diễn ra những kết quả bất ngờ.

Dưới chế độ Cộng Sản thì ngược lại. Một truyền thống từ thời Stalin, Mao Trạch Ðông và Ceausescu, là kết quả các cuộc bỏ phiếu đều được bên trên định sẵn. Tại Việt Nam năm nay, trước khi đại hội đảng họp, một nhóm người đã quyết định ai sẽ trúng cử vào ban chấp hành mới - nhóm người này gồm 9 người trong Bộ Chính Trị. Họ gọi trò sắp xếp này là “công tác nhân sự.” Sau khi đắc thắng, ông Nguyễn Phú Trọng còn vỗ bụng tự khen rằng: “Kết quả bầu cử lần này... hoàn toàn đúng với phương hướng công tác nhân sự.”

Chỉ “đúng phương hướng” thôi, vì ông Trọng còn nói: “Cũng có đồng chí được trung ương giới thiệu không trúng cử, có người không được giới thiệu nhưng được đại hội giới thiệu cũng trúng cử.” Có bao nhiêu trường hợp bất ngờ như vậy? Chắc có hai, ba người, trong danh sách 200 người được bầu! Với kết quả như thế, Nguyễn Phú Trọng còn khoe rằng có đại biểu Quốc Hội tâm sự với ông: “Dân chủ thế này là cùng! Không thể dân chủ gì hơn!”

Tới đây thì chúng ta hiểu tại sao dân Hà Nội đã ghi vào bia miệng ngàn năm: “Lú như Trọng!”

Lú, vì nói đến dân chủ mà ông Nguyễn Phú Trọng không biết gì về chế độ dân chủ cả.

Chúng ta có thể làm một cuộc trắc nghiệm. Ðặt câu hỏi: “Một cuộc bầu cử mà chỉ có một danh sách ứng cử viên được ở trên đưa ra, cuối cùng 99% trong danh sách đó đắc cử, như vậy có dân chủ hay không?”

Chắc chắn những em bé lên mười đang sống ở các nước tự do dân chủ sẽ biết ngay câu trả lời: “Không.” Nhiều em bé còn bực mình hỏi lại: “Bộ chú tưởng cháu ngu lắm hả?” Ông Nguyễn Phú Trọng còn thua những em bé lên mười. Ông không biết gì về chế độ dân chủ hết!

Cho nên ông Nguyễn Phú Trọng lại đi khoe một “cái hay” của đảng Cộng Sản Việt Nam là “nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách.” Ông so sánh, “Ðứng đầu mà độc đoán chuyên quyền, như thế có gọi là dân chủ không?” Ông nhắc tới một số nước mà không nêu tên, “Cứ nhân danh dân chủ nhưng cá nhân quyết định tất. Thế thì ai dân chủ hơn ai?”

Không biết có một nước xưng là dân chủ nào mà lại có cảnh “cá nhân quyết định tất?” Các vị tổng thống, thủ tướng ở các nước tự do dân chủ không bao giờ được quyền “cá nhân quyết định tất.” Họ bị Quốc Hội theo dõi, kiểm tra, phê bình, không bao giờ nghỉ. Các quốc hội quyết định ngân sách quốc gia, bỏ phiếu chấp thuận thành phần chính phủ, đàn hặc và bãi chức các bộ trưởng, các thẩm phán. Họ không để cho ai một mình “quyết định tất!” Cảnh “cá nhân quyết định tất” chỉ có dưới thời các ông Stalin, Ceausescu, Mao Trạch Ðông, Pol Pot! Rõ ràng là ông Nguyễn Phú Trọng lú, lú quá!

Cả đời ông Nguyễn Phú Trọng chưa sống trong một chế độ dân chủ nào cả. Ông từng đứng đầu Hội Ðồng Lý Luận Trung Ương, công việc chính là nhai đi nhai lại những giáo điều mác xít, lê nin nít. Ông nói về dân chủ cũng giống như một người điếc bàn về âm nhạc. Cái lú của ông là “Lú hệ thống!” Ông không biết thể chế dân chủ nó hoạt động ra sao mà cũng không hiểu được tinh thần dân chủ là thế nào. Một bằng cớ là ngay trong bài phát biểu sau khi tái đắc cử, ông Nguyễn Phú Trọng đã nêu ra một thí dụ, về bà Tòng Thị Phóng.

Bà Tòng Thị Phóng quê ở Sơn La, năm nay 62 tuổi, thuộc một sắc tộc người Thái. Bà từng là bí thư Sơn La, phó chủ tịch Quốc Hội, trưởng Ban Dân Vận Trung Ương, được vào Bộ Chính Trị năm 2011 và năm nay vẫn còn ghế. Ông Nguyễn Phú Trọng kể chuyện: “Tôi đi nước ngoài, người ta cứ hỏi tôi về dân chủ, nhân quyền, bình đẳng giới (tức là bình đẳng giữa nam và nữ).” Và Nguyễn Phú Trọng đã nói về người bạn đồng viện của mình như thế này:

“Hôm trước đi Mỹ, tôi đề nghị đồng chí Tòng Thị Phóng đi sang họp với bà con Việt kiều. Tôi bảo ‘Ðấy, bà con xem, có oai vệ không? Cũng đàng hoàng ngang ngửa ra quốc tế đấy chứ? Vừa nữ, vừa dân tộc. Người ta cứ bảo là mình vi phạm dân chủ, nhân quyền với lại không bình đẳng giới!’”

Tóm lại, ông Nguyễn Phú Trọng cho thấy ông đã sử dụng bà Tòng Thị Phóng như một món hàng đem trưng bày: Bà vừa là đàn bà con gái; lại vừa thuộc một sắc tộc thiểu số! Món hàng đó được đem ra trưng để chứng rõ đảng Cộng Sản Việt Nam có dân chủ, có bình đẳng giới tính, và tôn trọng nhân quyền!

Dùng một phụ nữ sắc tộc để khoe khoang đảng, không khác gì ông đưa bàn chân lên hỏi, “Ðôi bít tất của tôi mới toanh thế này! Ðứa nào dám bảo là chân tôi hôi?”

Không những thế, Nguyễn Phú Trọng còn hãnh diện hỏi các “Việt kiều” về món hàng mẫu của mình: “Ðấy, bà con xem, có oai vệ không? Cũng đàng hoàng ngang ngửa ra quốc tế đấy chứ?” Không biết bà Tòng Thị Phóng nghe mấy câu đó có đỏ mặt vì bị xúc phạm sỗ sàng hay không? Hay là tối hôm đó bà lại về phòng soi gương, tự hỏi: “Bà con xem, có oai vệ không? Có đàng hoàng ngang ngửa quốc tế không?”

Trong xã hội quen sống dân chủ, tự do, người được giáo dục và biết suy nghĩ không bao giờ đem thân phận “thiểu số được nâng đỡ” của người khác ra phơi bày trước công chúng như vậy. Hành động đó chứng tỏ mình mang trong đầu óc kỳ thị. Những tờ báo trong xã hội dân chủ loan tin “một người tình nghi ăn trộm đã bị bắt.” Họ không bao giờ dám viết “một người Việt (hay người Mễ, người Nga, người đàn bà...) nghi ăn trộm đã bị bắt.” Nêu rõ sắc tộc, giới tính của người ta ra chỉ chứng tỏ trong đầu mình chứa đầy thành kiến.

Mà không cần phải sống ở nơi tự do dân chủ người ta mới nên giữ mực thước cư xử này. Những người được cha mẹ giáo dục, người biết phép lịch sự, cũng không ai nói như vậy. Giống như một bà mẹ chồng giới thiệu con dâu mới: “Cháu nó người Thái đấy, nhưng nó cũng ‘đàng hoàng, oai vệ,’ có khác gì người Việt mình đâu?” Nến giáo dục dân chủ bảo đảm óc kỳ thị không được biểu lộ trâng tráo như thế.

Nhiều người Mỹ đang chuyền cho nhau coi những bức hình của Quasimodo, con chó lưng gù được cứu sống. Bản tin này được phổ biến rộng cũng vì Quasimodo là một trong số 13 con chó bị tật ngắn xương sống, trên toàn thế giới (không hiểu sao người ta đếm được kỹ như vậy!) Ông Nguyễn Phú Trọng đem bà Tòng Thị Phóng ra khoe. Nhưng nếu có người Mỹ nào đó nhận Quasimodo về nuôi rồi đem ra khoe để tự ca ngợi lòng thương yêu súc vật của mình thì chắc chắn sẽ bị dư luận chê cười! Người được cha mẹ giáo dục đàng hoàng không ai “lú” như vậy.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tuyệt vọng và bất lực

Nguyễn Hưng Quốc (VOA)
Tuần rồi, tôi gặp một số người quen từ Việt Nam sang Úc chơi. Hầu hết đều là người miền Nam và thuộc giới khoa bảng, có bằng cấp cao và hiện giảng dạy tại các trường đại học lớn ở Việt Nam. Lúc chuyện trò, chẳng hiểu sao, câu chuyện lại hướng về đại hội đảng lần thứ XII vừa mới kết thúc.

Ðiều khiến tôi ngạc nhiên vô cùng là không ai có vẻ hiểu biết gì về đại hội ấy. Người ta biết rất lờ mờ về kết quả bầu cử; về chuyện ai đi ai ở lại; về chuyện trong Bộ Chính Trị hay Ban Chấp Hành Trung Ương có bao nhiêu người; và hoàn toàn không biết gì về những cuộc đấu đá giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng. Với chút ngượng nghịu, họ thú nhận là họ không biết gì nhiều. Rồi, cũng với chút ngượng nghịu, họ phân bua: Họ không để ý theo dõi. Không đợi tôi hỏi, họ phân bua tiếp: Ông nào lên, ông nào xuống thì Việt Nam cũng vẫn thế. Không có gì thay đổi cả. Biết vậy thì quan tâm để làm gì? Thì giờ, người ta để dành cho việc kiếm sống. Rảnh, thì rủ bạn bè ra quán, nhậu. Vậy thôi.

Chưa hết, người ta còn thanh minh thêm: Không phải chỉ có họ, mà ngay cả các đảng viên ở Sài Gòn cũng vậy, cũng chả tha thiết gì đến chuyện chính trị. Rồi họ đọc cho tôi nghe một câu ca dao mới nói về tính cách của người “Nam kỳ”:

Nam kỳ ăn nhậu lai rai
Nghị quyết đọc hoài chẳng nhớ một câu.

Thú thực, tôi đã nghe những lời phân trần như vậy khá nhiều lần. Và lần nào cũng ngạc nhiên. Bởi nó khác hẳn kinh nghiệm thường ngày của tôi tại Úc. Ở Tây phương, người ta hay khuyên không nên nói đến chuyện chính trị vốn là yếu tố rất dễ gây ra bất đồng. Nhưng đó là lời khuyên dành cho những người lạ, ở chỗ sơ giao. Trên thực tế, trong khoa tôi dạy, giữa các đồng nghiệp, chúng tôi vẫn rất hay nói đến chuyện chính trị. Người ta ít khi trình bày lộ liễu chủ kiến của mình nhưng qua sự phân tích, hầu như ai cũng chứng tỏ là họ rất hiểu biết về các biến động trong sinh hoạt chính trị tại Úc cũng như ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt tại Mỹ. Sự hiểu biết ấy trở thành một dấu chỉ của khái niệm trí thức.

Sẽ rất đơn giản nếu chúng ta quy việc thiếu quan tâm đến chính trị của người Việt Nam như một biểu hiện của chứng vô cảm. Ðành là đúng. Sống trong một quốc gia mà người ta không hề để ý đến các biến cố quan trọng có sức ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước và tương lai của dân tộc, nếu không gọi là vô cảm thì là cái gì? Nhưng vấn đề là: tại sao người ta vô cảm như vậy? Câu trả lời đầu tiên là chính sách tuyên truyền cho tất cả hãy để cho “nhà nước lo” ở Việt Nam. Hậu quả của chính sách tuyên truyền ấy là mọi người xem chuyện đất nước thuộc trách nhiệm của ai đó, không dính líu gì đến mình. Không quan tâm đến đất nước, người ta cũng chả thèm để ý đến các sinh hoạt chính trị như đại hội đảng hay các cuộc hội nghị trung ương.

Tuy nhiên, bên cạnh sự vô cảm ấy, tôi nghĩ còn có một tâm lý khác: tuyệt vọng.

Ðảng Cộng Sản, trong giai đoạn giành chính quyền, để thu phục nhân tâm, lúc nào cũng vẽ ra bao nhiêu hy vọng cho dân chúng, từ hy vọng về độc lập cho đất nước đến hy vọng về tự do và no ấm, hay xa và lớn hơn nữa, về một thiên đường xã hội chủ nghĩa, nơi mọi người đều bình đẳng với nhau. Giành được chính quyền rồi, trong những giai đoạn chiến tranh hay kinh tế khó khăn, người ta lại vẽ nên những hy vọng khác, về thống nhất và về thịnh vượng. Tuy nhiên, sau năm 1975, tất cả những gì người dân chứng kiến và kinh nghiệm đều chỉ là sự áp bức và sự khốn cùng. Chỉ có giai đoạn gọi là đổi mới, những tia hy vọng ấy mới sáng lên trong lòng dân chúng. Nhưng chỉ được vài năm. Sau đó, tuy đời sống của người dân khá lên một chút, nhưng kinh tế đất nước vẫn ì ạch trì trệ với số các đại công ty bị phá sản càng lúc càng nhiều và đặc biệt, nợ công càng lúc càng chồng chất. Giáo dục và đạo đức càng ngày càng suy đồi. Cán bộ thì tham nhũng. Ði đâu cũng gặp tham nhũng. Những lời hứa hẹn diệt trừ tham nhũng cứ như những lời nói đùa. Những lời hứa hẹn cải cách này nọ chỉ là những lời hứa hẹn hão. Dân chúng, từ lâu, biết rõ điều đó, nên họ đúc kết thành ca dao: “Sửa sai thì lại sửa sai / Sửa thì cứ sửa, sai thì cứ sai.” Sống trong hoàn cảnh như thế, kéo dài cả hơn nửa thế kỷ, dần dần người ta đâm ra tuyệt vọng. Không ai còn tin là đảng cầm quyền sẽ thực sự thay đổi hoặc có một chính sách nào thực sự có hiệu quả để đất nước được phú cường và dân chủ cũng như nhân quyền được tôn trọng.

Bên cạnh sự tuyệt vọng ấy là cảm giác bất lực.

Ở đâu quyền lực chính trị cũng chỉ nằm trong tay một số người. Tuy nhiên, ở các quốc gia dân chủ, những người bị trị ít nhất cũng có một số quyền lực nhất định. Ở việc bầu cử. Ở việc lên tiếng phê phán hoặc thậm chí, xuống đường phản đối một số chính sách họ cho là sai lầm. Giới lãnh đạo không thể không quan tâm trước những sự phê phán và những sự phản đối ấy bởi, nếu không, họ có thể bị thất cử ở kỳ bỏ phiếu kế tiếp. Ở Việt Nam, ngược lại. Dân chúng hoàn toàn không có quyền bỏ phiếu cho những người lãnh đạo đất nước: Ðó là công việc trong nội bộ đảng của họ. Dân chúng chỉ được quyền bầu các đại biểu Quốc Hội, tuy nhiên, ở đây lại có hai điều đáng chú ý: Một, tất cả những đại biểu ấy đều do đảng lựa chọn và đề cử; hai, thắng cử rồi, các đại biểu ấy đều làm việc và bỏ phiếu theo chỉ thị của đảng chứ không phải theo nguyện vọng của cử tri. Còn việc phê phán và phản đối của dân chúng đối với các chính sách của đảng và của chính phủ thì hoàn toàn bị cấm đoán. Dân chúng, do đó, dù biết các chính sách của nhà nước là sai lầm và nguy hại, cũng không có cách gì ngăn chận được. Họ hoàn toàn bị bất lực.

Cảm giác tuyệt vọng và bất lực ấy được thấy rõ nhất trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ai cũng biết Trung Quốc đã từng chiếm hải đảo Việt Nam và đang âm mưu lấn chiếm cả vùng biển của Việt Nam. Và ai cũng biết, trước các nguy cơ lấn chiếm ấy của Trung Quốc, phản ứng của chính quyền Việt Nam rất yếu ớt và không có hiệu quả. Biết vậy, nhưng người ta không làm gì được. Xuống đường biểu tình chống đối Trung Quốc thì bị đánh đập, bắt bớ, tù đày. Sợ hãi và mệt mỏi, người ta đành buông xuôi.

Sự tuyệt vọng, bất lực và buông xuôi ấy rõ ràng là một tai họa cho đất nước. Việt Nam không thể thay đổi, không thể mạnh hơn và không thể bảo vệ được chủ quyền của mình trên biển đảo nếu dân chúng đều mặc kệ như thế.

Tuy nhiên, oái oăm là chính quyền lại muốn nuôi dưỡng cái tinh thần mặc kệ ấy.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Không thể bỏ mặc thế giới này cho những kẻ mà ta khinh bỉ
Đoan Trang -

Kể từ khi cầm quyền đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm đủ trò để biến chính trị thành một thứ xấu xa, gớm ghiếc, đáng khinh, đáng sợ, trong suy nghĩ của người dân. Người nào thanh cao, trong sạch thì phải biết tránh xa chính trị, lo làm tốt bổn phận của mình, còn các vấn đề vĩ mô thì đã có Đảng và Nhà nước lo - Đảng dạy dân như thế.

Mà đúng là chính trị của Đảng xấu xa, gớm ghiếc thật. Đảng có một cơ chế nhân sự kỳ lạ sao đó, sàng lọc rất giỏi: Phàm người nào vừa tài giỏi vừa nhân hậu và trung thực, tóm lại vừa có tài vừa có đức, chắc chắn sẽ không bao giờ lên cao trong hệ thống của Đảng và Nhà nước được. Càng làm to, mức độ tài đức của quan chức cộng sản càng giảm. Cứ thế, cho đến đỉnh cao là Bộ Chính trị và Tứ trụ thì tài đức còn bao nhiêu, chúng ta tự hiểu.

Chính trị của Đảng là thứ chính trị ưu tiên sự xảo trá, giảo quyệt... nôm na là lưu manh.

Chính trị của Đảng là thượng đội hạ đạp, là nịnh trên nạt dưới.

Chính trị của Đảng là phá rất giỏi, nhưng xây thì tồi tệ, be bét. Bất kỳ cái gì có chữ “phá”, người cộng sản đều làm tốt cả: phá tư sản, phá kinh tế, phá rừng phá núi, phá cầu phá đường, phá đình phá chùa, phá làng phá xóm, phá thương hiệu, phá uy tín, đương nhiên là cả “phá án” luôn, trong đó có phần “phá phản động”.

Vì chính trị của Đảng như thế, nên cũng có phần sự thực là, nếu là người lương thiện, chẳng mấy ai muốn dây vào nó.

Nhưng cũng chính vì thế, những người tài, người tốt cứ để Đảng phè phỡn trong quyền lực, muốn làm gì thì làm, muốn ra chính sách gì thì ra, muốn phá gì thì phá, cứ thoải mái ghìm chặt đất nước, không cho phát triển suốt hàng chục năm nay.

* * *

Cuộc bầu cử Quốc hội 2016 lần này, đứng trên mặt Đảng mà xét, sẽ chẳng có thay đổi gì, vì cơ chế là do Đảng đề ra, luật là do Đảng đề ra, nhân sự, quần chúng cũng là do Đảng chỉ định, thuê mướn để diễn trò.

Nhưng về phía những người tiến bộ, mong muốn đất nước thay đổi, thì có một cái khác: Đây là dịp (duy nhất trong vòng 5 năm tới) để chúng ta tham gia vào nền chính trị của Đảng, không phải để hy vọng sẽ thay thế được Đảng, mà đơn giản là để lột trần cái màn kịch dân chủ của Đảng.

Chúng ta hãy tranh cử vào Quốc hội - cho đến nay vẫn đã và đang luôn luôn là của Đảng Cộng sản Việt Nam với 95% đại biểu là đảng viên cộng sản. Hãy tranh cử để thay đổi tỷ lệ này dù ít dù nhiều.

Hãy tranh cử để ít nhất là làm cho Đảng phải mệt sức, tốn tiền đối phó. (Tiền thì tất nhiên cũng là của ngân sách nhà nước thôi, chứ Đảng ngoài lừa và cướp ra thì có bao giờ gây được quỹ. Nhưng ngân sách hay nguồn lực nào mà chẳng có hạn).

Hãy tranh cử, bởi vì một sự thực này:

TA KHÔNG THỂ BỎ MẶC THẾ GIỚI NÀY CHO NHỮNG KẺ MÀ TA KHINH BỈ (*).

---------

(*) Ayn Rand (tác giả Suối Nguồn), tháng 5/1968

Đoan Trang

http://www.phamdoantrang.com/2016/02/kh ... ke-ma.html

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Hà Nội thúc đẩy xã hội chủ nghĩa, không thoát Trung
Võ Long Triều
Tân Tổng Bí Thư Nhuyễn Phú Trọng tuyên bố với báo chí: “Việt Nam và Trung Quốc không thể tách rời vì ý thức hệ nà hai đảng đang theo.” Ông nhấn mạnh: “Sẽ tiếp tục hợp tác để củng cố mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện,” và để “thúc đẩy tư tưởng xã hội chủ nghĩa.” Lời tuyên bố trên đây của một nhân vật nắm quyền tối cao, trong chế độ độc quyền cai trị, đủ xác quyết sự lệ thuộc toàn diện kẻ thù phương Bắc, đã và đang từng bước xâm lược nước ta.

Nguyễn Phú Trọng được tiếng là người thân Trung Quốc, khi ông còn là chủ tịch Quốc Hội, mỗi nhân vật cao cấp Trung Quốc đến viếng thăm Việt Nam đều tiếp xúc với ông trước khi gặp tổng bí thư hay chủ tịch nước. Cũng vào thời gian đó cách đây năm năm, mọi người biết trước rằng Đại Hội Đảng XI sẽ bầu ông Trọng làm tổng bí thư. Khác với lần nầy ông phải dài công mưu tính, dùng mọi thủ đoạn, lợi dụng sức ép gần như công khai của Trung Quốc, khoe khoang ông là người biết “lý luận,” và cho đàng em rêu rao tổng bí thư phải là người miền Bắc như tự bao giờ.

Trung Quốc đã ảnh hưởng vào cuộc bầu cử ban lãnh đạo Việt Nam bằng cách nào? Từ sự hâm he đe dọa với vọng điệu kẻ cả xấc xược, đến những lời vuốt ve dụ dỗ. Tân Hoa Xã, hãng tin chính thức của Trung Quốc viết rằng: “Việt Nam không nên theo đuổi các mục tiêu ngoại giao bằng mọi giá, kể cả việc đánh đổi mối quan hệ truyền thống khó khăn lắm mới đạt được với Trung Quốc.” Ngày 20 tháng 1, 2016, đúng ngày khai mạc Đại Hội Đảng XII, hãng tin Xinhua còn nhấn mạnh: “Cần phải làm rõ rằng bất kỳ ai thổi bùng tinh thần dân tộc trong mối quan hệ Việt-Trung sẽ chỉ tự hại mình.” Và sau đó đưa ra lời dụ dỗ “kế hoạch đầy tham vọng của Việt Nam trong 5 năm tới, cần mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn với Bắc Kinh.”

Sau Đại Hội, Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phái đặc sứ là Tổng Đào, trưởng Ban Liên Lạc Đối Ngoại Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đến Việt Nam chúc mừng tân Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, ông Tập Cận Bình “bày tỏ hy vọng dưới sự lãnh đạo của tân tổng bí thư, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và cải cách ở Việt Nam sẽ tiếp tục đạt được các tầm cao mới.” Nguyễn Phú Trọng hứa với Tổng Đào, Hà Nội sẽ hợp tác với Bắc Kinh để “thúc đẩy tư tưởng xã hội chủ nghĩa,” và bày tỏ sự “biết ơn chân thành” đối với Chủ Tịch Tập Cận Bình.

Đại Hội Đảng lần thứ XII cho thấy sự tranh giành quyền lực trong nội bộ căng thẳng, ầm ĩ, đầy kịch tính chưa từng có từ nhiều năm qua. Dư luận cho rằng đây là cuộc đối đầu giữa hai phe, đảng thân Trung Quốc và chính phủ thân Tây phương, đặc biệt thân Hoa Kỳ, mà hai ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đại diện.

Cả đôi bên đều biết nếu sự đấu tranh giành quyền căng thẳng đến tận cùng thì sự chia rẽ có thể dẫn đến sự tan rã của Đảng Cộng Sản và chế độ, điều đó sẽ nguy hại cho cả hai phe. Cho nên cũng có thể một sự thỏa thuận nào đó tạm thời hòa hoãn chờ những cơ hội và thời cơ khác. Bằng cớ của sự đấu đá quyết liệt khiến ông Nguyễn Phú Trọng phải đi thăm nhiều đơn vị quân đội, công an để chỉ thị phải bảo đảm an ninh tuyệt đối cho đại hội. Hành động nầy chứng tỏ ông Trọng muốn đối phó bằng mọi cách với Nguyễn Tấn Dũng. Ba ngày sau đó, công an và quân đội mở cuộc thao dượt quy mô chống mọi cuộc biểu tình sẽ bị trấn áp ngay lập tức. Đã vậy ông Trọng còn yêu cầu cục an toàn thực phẩm phải cắc cử cán bộ đến túc trực 24 trên 24 tại các nhà hàng, nhà bếp phục vụ đại hội để ngăn ngừa những vụ ngộ độc có thể xẩy ra.

Dư luận bên ngoài cho rằng đã có sự thỏa thuận như nói trên để cho Nguyễn Thanh Nghị, bí thư thành ủy Rạch Giá, con trai Nguyễn Tấn Dũng được vào Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng. Tiếng đồn ông Dũng “hy sinh đời bố để củng cố đời con.” Có lẽ ông Nghị sẽ thay cha hoàn tất những gì mà ông Dũng chưa đạt thành, giữa các mối quan hệ chằng chịch trong nội bộ đảng và bên ngoài. Tạm thời Nguyễn Thanh Nghị sẽ là nhân vật có khả năng bảo vệ tài sản và an ninh cho gia đình.

Cho dù có sự thỏa thuận, nhưng cuộc đấu đá gay gắt, không khoan nhượng với mọi thủ đoạn hèn hạ chưa từng thấy, chắn chắn “ngon lửa hận thù” sẽ còn chái ngầm trong tương lai. Bên thắng cuộc sẽ tìm cách cắt tỉa phe cánh đối phương, bên thua cuộc sẽ dự trù mưu mô chống đỡ và chờ cơ hội lật ngược thế cờ. Một bên ôm chặt đảng và “xã hội chủ nghĩa,” với sự ủng hộ của Bắc Kinh. Một bên khác có vẽ muốn hội nhập thế giới tự do, chủ trương bảo vệ lãnh thổ quốc gia, thuận với lòng dân đang câm ghét giặc Tàu xâm lăng đất nước.

Cơ thể của Đảng Cộng Sản đang mang bệnh nan y do hai luồn tư tưởng đối nghịch: Thân Tàu hay chống giặc Trung Quốc xâm lăng? Hội nhập thế giới bên ngoài để hy vọng bảo vệ quốc gia, hay bán nước làm tay sai cho Tàu Cộng? Hai loại vi trùng nầy sẽ soái mòn làm tiêu hao độc tài đảng trị.

Một ngày trước đại hội, cuộc thăm dò của voatiengviet.com cho thấy trong số 2,500 cư dân sử dụng mạng xã hội trên Internet trả lời câu hỏi “Ai sẽ là tân tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam?”, tính từ đầu giờ ngày 19 tháng 1, 2016 (giờ Việt Nam), hơn 65% cho biết họ chọn thủ tướng chính phủ hiện thời là Nguyễn Tấn Dũng, và 25% chọn đương kim Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng lú.

Sau đại hội, ngày 29 thang 1, 2016 tạp chí The Economist đăng bài với tít: “Một Thủ tướng hoa Mỹ ra đi, những người u ám ở lại.” Tờ báo đặt câu hỏi, liệu giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản với thành phần giáo điều theo chủ nghĩa Mac-Lê cũ kỹ, “bụi bậm,” có còn song hành với đa số tuổi trẻ Việt Nam không? Tuổi trẻ ngày nay giao tiếp được với thông tin bên ngoài nhờ tiến bộ kỹ thuật Internet, bức màng tre hay bức màng sắt không còn tác dụng làm ngu dân như trước.

Giới trẻ không còn sợ hãi, giới trí thức tham gia ngày càng đông, đòi hỏi tự do nhân quyền, nhiều đảng viên công khai từ bỏ đảng, một số khác phản ánh sai lầm của đảng bằng kiến nghị hay tâm thư. Chính Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần cảnh báo nguy cơ “tự diễn biến,” thay vì lo sợ và cảnh giác “diễn biến hòa bình” do những kẻ thù địch và ngoại bang xách động.

Trước hiện tình đất nước, chủ trương bành trướng Bắc Kinh ngày càng rõ nét, đặc biệt trên biển Đông, Việt Nam mất đảo, ngư dân mất quyền đánh cá, không còn phương tiện sinh sống. Thái độ hung hăng của Trung Quốc sẽ làm thức tỉnh những con người Việt Nam, dù là Cộng Sản ở bất cứ chức vị nào ,cũng phải hồi tâm với chút lòng yêu nước trong mỗi con người của họ. Chừng đó sẽ dấy lên một phong trào chống Tàu xâm lăng để cứu quốc. Ai sẽ là Nguyễn Huệ, hay Trần Hưng Đạo? Dân tộc Việt Nam ngàn đời không thiếu anh hùng.

1- Tuy nhiên cuộc đấu đá dành quyền báo hiệu sự rạn nứt khó hàng gắn của đảng Cộng Sản. Những thủ đoạn gian manh hèn hạ loại đối phương bằng mọi cách khó tránh hận thù chia rẽ.

2- Nhìn chung vẫn không có tia sáng nào báo hiệu tư do dân chù. Có điều phải thay đổi hệ thống kinh tế vì TPP và Âu Châu.

3- Tương lai phải chờ dân chúng và đảng viên ý thức và can đảm phản ứng. Truyền thống và lịch sử nhiều lần thoát trung. Dân tộc anh hùng chắc chắn sẽ có “quí nhân xuất hiện” cho dù phải chờ đợi lâu dài, lịch sử ghi nhận muôn đời Cộng Sản hại dân bán nước.

*** Có điểm đáng chú ý trong các khuôn mặt mới được bầu chính thức vào ủy viên trung ương có Nguyễn Thanh Nghị, con trai của Thủ Tướng Dũng... Ông Nghị sẽ thay thế cha hoàn tất nốt những gì mà ông Dũng còn dang dở giữa các mối quan hệ chằng chịt trong nội bộ lẫn bên ngoài. Nguyễn Thanh Nghị sẽ là nhân vật bảo vệ cho khối tài sản của gia đình và đây là điều mà thủ tướng đánh đổi để an tâm về hưu mà không sợ bị thanh trừng hay di hại về sau.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Bắc Hàn Cộng Sản muốn gì?

Hùng Tâm/Người Việt
Làm sao đối phó với chế độ Bình Nhưỡng?

Tết Nguyên Đán năm Bính Thân, Bắc Hàn Cộng Sản đã tặng thế giới vài món quà mặn.

Đầu tiên là việc bắn hỏa tiễn tầm xa để đưa một vệ tinh lên quỹ đạo. Chỉ một tháng sau việc thử nghiệm võ khí hạch tâm lần thứ tư kể từ năm 2006, quyết định này khiến thế giới giật mình và Bắc Kinh lúng túng. Ngay sau khi trình bày hình ảnh của lãnh tụ Kim Chính Ân theo dõi việc đưa vệ tinh lên quỹ đạo thì có tin là Kim Chính Ân vừa ra lệnh xử tử hình viên Đại tướng Tổng tham mưu trưởng của quân đội. Rồi lại có tin rằng Bắc Hàn sẽ triệu tập Đại hội đảng lần thứ bảy vào Tháng Năm tới đây. Từ năm 1980, đây là lần đầu tiên mà đảng Công nhân Triều Tiên có đại hội và giới quan sát cho rằng Kim Chính Nhật đã củng cố được quyền lực sau bốn năm lãnh đạo để rồi sẽ tiến hành… cải cách kinh tế theo chiều hướng tiếp cận với thị trường.

Giới quan sát phân vân về những động thái vừa qua của Bắc Hàn. Hai ngày sau, người ta được biết việc phóng vệ tinh thất bại và Bắc Hàn chưa thể có một Hoàng Minh Tinh cấp 4 bay trên không gian, nhưng có thừa ý chí vượt trời xanh. Việc hành quyết một viên tướng cao cấp nhất quân đội thì xác nhận rằng chế độ lạnh lùng này cũng vẫn có những quyết định khá điên khùng sau khi đả thủ tiêu hơn một trăm người trong vòng cai trị cao cấp nhất quanh Kim Chính Ân. Lạnh lùng hay điên khùng, người ta chưa rõ, những người cả tin thì vẫn cho rằng sau khi n8ám chặt quyền lực trong tay, cậu bé họ Kim này bắt buộc phải cải cách kinh tế vì chế độ không có tương lai, với những thành tựu khoa học kỹ thuật trên một nền móng cực kỳ lạc hậu.

Hồ sơ Người Việt sẽ tìm hiểu chuyện ấy, nhưng đi ngược diễn tiến và thời gian để nói về từng chuyện.

Bắc Hàn cải cách kinh tế?

Khi xứ Venezuela đã khủng hỏang sau khi lãnh tụ Hugo Chavez lao vào việc thử nghiệm “xã hội chủ nghĩa”, và Cuba được Chính quyền Baracl Obama giải vây để đưa một xứ cộng sản vào quỹ đạo Tây phương, việc Bắc Hàn sẽ tiến hành cải cách kinh tế là một giấc mơ của nhiều người. Với chế độ Cộng sản Bình Nhưỡng, đây là giấc mơ ôm ấp từ 10 năm trước!

Đầu tiên, Thứ Sáu mùng hai tháng 11 năm 2007, Thủ tướng Bắc Hàn là Kim Yong-il, ta có thể phiên âm thành Kim Anh Nhật để khỏi lầm với lãnh tụ Kim Jong-il Kim Chính Nhật – thên phụ của Kim Chính Ân - đã du thuyết bốn nước Đông Nam Á, bắt đầu là Việt Nam rồi Malaysia, Cambốt và Lào, về các cơ hội đầu tư và mậu dịch với Bắc Hàn. Với Việt Nam, phái đoàn Bắc Hàn ký một số hiệp ước về hợp tác nông nghiệp, thể thao và văn hoá. Chuyến thăm viếng là một biến cố mới, nối tiếp thượng đỉnh giữa hai lãnh tụ Nam và Bắc Hàn cách đấy đúng một tháng, vào mùng bốn tháng 10 năm 2007.

Hôm 28 tháng 10, tuần báo Yazhou Zhoukan, tức là "Á châu tuần san" hay "Asia Week", có tiết lộ rằng trong dịp Tổng bí thư Nông Đức Mạnh thăm viếng thủ đô Bình Nhưỡng vào trung tuần tháng 10, lãnh tụ Kim Jong-il có nói Bắc Hàn có thể áp dụng mô thức của Việt Nam để hồi phục nền kinh tế của mình. Trước những biến cố ấy, dư luận Đông Á kết luận là đã đến lúc Bắc Hàn mở cửa! Mười năm sau, cửa vẫn đóng then vẫn cài.

Về mục tiêu, thì lãnh đạo Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn đều cùng nhắm vào một điểm then chốt, là làm sao mãi mãi cầm quyền. Vì mục tiêu ấy và cũng vì muốn thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, cả ba quốc gia vẫn bị chi phối bởi chủ nghĩa cộng sản đều muốn cải tổ kinh tế trong một chừng mực nhất định cho dân khỏi chết đói, bằng cách hợp tác với bên ngoài để thu hút tư bản và kỹ thuật của thế giới. Nhưng đồng thời vẫn duy trì được hệ thống chính trị độc đảng của mình.

Trong chiều hướng ấy, Bắc Hàn có thể tìm hiểu hai mô thức cải cách của Trung Quốc và Việt Nam để lượm lặt bí quyết chiêu dụ quốc tế. Khách quan mà nói thì họ có thể thấy mô thức Việt Nam thích hợp hơn, chẳng phải vì Hà Nội sáng suốt hơn mà vì Trung Quốc là một xứ cực lớn, với rất nhiều bài toán đa diện, nên có hoàn cảnh khác với Bắc Hàn.

Tuy nhiên, và đây cũng là điều mà dư luận cần chú ý, thật ra Bắc Hàn đã muốn xoay từ lâu rồi chứ không phải bây giờ mới bắt đầu nghĩ đến việc mở cửa.

Cách mạng là thường trực

Thời Chiến Tranh Lạnh, chứng tật của chủ nghĩa Mác-Lênin và lề lối quản lý kinh tế tập trung bị dìm sâu dưới yêu cầu về an ninh cho chế độ. Nhưng kinh tế chính trị học Mác-Lenin của các nước như Bắc Hàn hay Việt Nam chỉ có thể tồn tại như vậy nếu có một hậu phương yểm trợ là Liên Xô và Trung Quốc. Khi chiến tranh lạnh kết thúc, Liên Xô tan rã, Bắc Hàn phải dựa vào Trung Quốc.

Thời ấy, Trung Quốc tiến hành chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình để thoát cơn khủng hoảng, và bình thường hoá quan hệ với Nam Hàn để du nhập tư bản, kỹ thuật và cả kiến thức về công nghiệp hoá của Nam Hàn. Vì vậy, lãnh đạo Bình Nhưỡng chột dạ. Năm 1992, lãnh tụ Kim Nhật Thành đành tiến hành cải cách, một cách dè dặt, như Hà Nội thời đó. Khốn nỗi, ông tạ thế năm 1994 và con trai là Kim Chính Nhật mất mấy năm để củng cố quyền lực của mình, trong khi xứ sở lụn bại, kinh tế khủng hoảng, hai triệu người chết đói vì Bắc Hàn tự cô lập dưới khẩu hiệu gọi là "tự chủ". Và càng lệ thuộc nhiều hơn vào nguồn trợ cấp rất đáng ngại của Trung Quốc.

Qua thế kỷ 21, từ năm 2001, Bắc Hàn muốn xoay ra và dùng võ khí hạch tâm như một lối bắt bí thiên hạ để tống tiền, thực chất là để Hoa Kỳ phải quan tâm, đối thoại và dắt mình ra khỏi cơn khủng hoảng. Là chuyện đang xảy ra. Nếu nhớ lại như vậy, người ta có thể hiểu vì sao Bắc Hàn sẽ không áp dụng mô thức Trung Quốc.

Bắc Hàn cần mở ra để tiếp nhận tư bản và kỹ thuật hầu công nghiệp hoá một xứ sở bị khoá trên vùng Đông-Bắc Á giữa hai đồng chí cũ là Liên bang Nga, Trung Quốc và một kẻ thù nhưng đồng bào là Nam Hàn. Ở vòng ngoài là Nhật Bản. Tuy nhiên, vì yêu cầu của chế độ độc tài, họ chỉ muốn mở ra một cách hạn chế, ở những khu vực nhất định hầu việc cải cách hay kinh tế thị trường không gây quá nhiều biến đổi trong xã hội dẫn tới những biến đổi về chính trị mà chế độ không chấp nhận được.

Họ có thể đang lần mò vào vết xe của Việt Nam gần 20 năm trước, khi lập khu chế xuất hay vùng kinh tế trọng điểm. Nôm na là các đặc khu kinh tế, chẳng khác gì các tô giới thời thực dân vào thế kỷ 19. Cái khác là xưa kia, các nước Á châu bị ép như vậy, bây giờ là lãnh đạo độc tài Á châu tái lập vùng thuộc địa ngay trong nước. Bên trong, một thiểu số có quyền thì được tiếp xúc với - và trục lợi nhờ - giới đầu tư và thị trường bên ngoài, cả xã hội còn lại vẫn tiếp tục sống dưới cái gọi là sự ổn định lạc hậu của xã hội chủ nghĩa.

Tại Bắc Hàn, lãnh đạo bị ám ảnh bởi nhu cầu kiểm soát và bị cột trong tư duy xã hội chủ nghĩa, lấy công nghiệp nặng làm cơ sở và mở ra bên ngoài theo nhãn quan Nga - Tầu.

Họ khởi đi từ hai đặc khu kỹ nghệ đã có từ xưa. Một ở phiá Đông-Bắc, sát biên giới với Nga và tỉnh Cát Lâm của Tầu là Najin, gọi theo Nam Hàn, hay Rasin-Songbong, tức là La Tân Tiền Phong Quận. Khu thứ hai là Sinuiju - hay Tân Thọ Châu - đối diện với thành phố Đan Đông của tỉnh Liêu Ninh bên sông Áp Lục. Năm 2003, họ lập ra đặc khu kinh tế thứ ba, là Kaesong - hay Khai Thành - sát biên giới Nam-Bắc Hàn. Đặc khi này vừa bị Nam Hàn quyết định đóng cửa sau vụ bắn hỏa tiễn vào dịp Tết Bính Thân.

Được khai thông bằng đường xá và thiết lộ, các đặc khu ấy thu hút được một số đầu tư Nga, Tầu hay Nam Hàn, tức là không nhiều và ít thành công. Chưa kể là năm 2006, Trung Quốc còn đóng cửa không cho doanh gia đi qua làm ăn tại đặc khu Tân Thọ Châu vì sợ cạnh tranh với luồng xuất khẩu của họ từ Đan Đông!

Do kinh nghiệm ấy, Bắc Hàn có thể dùng các đặc khu làm thỏi nam châm thu hút đầu tư quốc tế và mở thêm các hải cảng Nampo và Haeju làm thương cảng giao lưu với Hoàng hải và Nhật Bản và thế giới bên ngoài. Ưu thế họ nghĩ là mình có là khối lượng nhân công rẻ và bị kiểm soát chặt chẽ để phục vụ các đặc khu được khoanh vùng trong thành lũy hầu ngăn ngừa được mọi sự ô nhiễm xã hội hay chính trị.

Kết qủa? Thành công hay không là căn cứ trên những mục tiêu của lãnh đạo. Chế độ Cộng sản Bình Nhưỡng chỉ cần huy động tư bản, thiết bị và công nghệ cho nền kinh tế lạc hậu mà vẫn hạn chế ảnh hưởng của Tây phương hay tư tưởng tự do dân chủ. Cho nên mục tiêu không khác, nhưng khắt khe hơn Việt Nam. Trong các khu vực ấy, nhân viên được tuyển chọn và kiểm soát rất kỹ để cùng lắm thì học nghề của tư bản chứ không thể reo rắc những tư tưởng mà lãnh đạo gọi là phản động. Nếu chỉ nhắm vào mục tiêu đó thì sự thành bại tùy thuộc vào thiện chí đầu tư của quốc tế.

Quốc tế chưa thấy việc chiêu mại này là hấp dẫn thì đã giật mình về kế hoạch chế tạo bom khinh khí, võ khí hạch tâm hay hỏa tiễn Đại Pháo Đồng bay qua đầu các lân bang Đông Bắc Á.

Nam Hàn tính sao?

Mươi năm về trước, lãnh đạo Nam Hàn có thể tiếp tay Bắc Hàn theo hướng hợp tác vì lý do chính trị, khi chính quyền khuyến khích doanh nghiệp đi vào hợp tác, là điều người ta đã thấy.

Một số liên doanh quốc tế cũng có thể nhảy vào và sở dĩ liên doanh là để phân tán rủi ro chính trị với nhau. Nhiều tập đoàn về năng lượng cũng muốn thăm dò một thị trường còn khép kín và có nhiều tài nguyên khoáng sản. Chủ yếu thì vẫn là giới đầu tư Trung Quốc, Nam Hàn và Âu châu, như Đức, Anh, Ý, Thụy Sĩ. Họ lập nhà máy, mở trường đào tạo, lập quỹ đầu tư, v.v... và nếu Bắc Hàn hết bị phong tỏa thì đến lượt doanh nghiệp Mỹ rồi Nhật cũng sẽ không lỡ cơ hội, vì rủi ro chính trị của một chế độ bị sụp đổ coi như sẽ được đẩy lui.

Nếu ta so sánh với tình hình khủng hoảng và hoàn cảnh chết đói mươi năm về trước váo đầu thập niên 1990 thì việc mở cửa như vậy quả là một tiến bộ và Bắc Hàn có thể sẽ thành công. Nhưng chỉ thành công chừng ấy thôi.

Lý do là đầu tư nước ngoài chỉ tập trung vào khoáng sản và nguyên liệu theo mô thức khai thác thời thuộc địa, với rất ít lợi ích toả rộng hay nhỏ giọt xuống dưới cho người dân. Thứ hai, mô thức đặc khu kinh tế hay khu chế xuất không thể có chuyển giao công nghệ sâu và rộng cho người dân. Tức là người dân Bắc Hàn tiếp tục làm nô lệ và không học hỏi được gì để cải thiện cuộc sống của họ. Trong hoàn cảnh ấy, người ta khó thấy một làn sóng đầu tư quốc tế tràn vào Bắc Hàn để tiếp cận và trao đổi với xã hội rồi sẽ thay đổi được mức sống của người dân xứ này, như ta thấy phần nào tại Việt Nam.

Vì vậy, chính quyền của Tổng Thống Phác Cận Huệ không còn lạc quan như các tiền nhiệm và mong rằng quan hệ khắng khít của bà với Bắc Kinh sẽ giải quyết được bài toán Bắc Hàn. Và để khuyến khích Bắc Kinh răn đe đứa trẻ ngỗ nghịch, bà đang quyết định chấp nhận đề nghị của Hoa Kỳ là thiết lập hệ thống bảo vệ chiến lược tới tân nhất, là THAAD, và làm Bắc Kinh bực mình không ít.

Vì chiều dài có hạn, qua kỳ sau, chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp về chuyện rắc rối của Bắc Hàn.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Image

Khủng bố và Chủ Nghĩa Cộng Sản: Hai thảm họa khủng khiếp của nhân loại

Mường Giang
http://dcvonline.net/wp-content/uploads ... 112015.jpg
Ngày nay, những người quan tâm đến tình hình chính trị và thời cuộc trên thế giới, chắc chắn sẽ không còn lầm lẩn về khái niệm giữa chủ nghĩa khủng bố và cộng sản, nhất là trong bối cảnh ồn ào chống khủng bố nóng do các tổ chức quá khích và nhà nước Hồi giáo gây ra. Sự kiện trên đã phần nào làm lu mờ khủng bố lạnh của chủ nghĩa cộng sản, hiện vẫn hoành hành khủng khiếp tại các quốc gia còn lại như Trung Cộng, Việt Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn và có thể tại Nga sô.

Khủng bố, danh từ được Hoa Kỳ và Anh Quốc đóng khung chết trong vụ khủng bố ngày 9- 11- 2001 tại Mỹ, coi như là một cuộc chiến mới không tên, vô biên giới và chẳng có giờ G, ngày N. Giống như thời VN chín năm kháng Pháp (1946- 1954), cộng sản quốc tế núp bóng mặt trận Việt Minh do toàn dân tham dự, để dành công và chiếm quyền cai trị đất nước. Tương tự trên, chủ nghĩa cộng sản ngày nay, cũng núp bóng cái bình phong chống khủng bố, để thao túng và thẳng tay tận diệt những thành phần đối lập yêu nước.

Hồng Kông, Ma Cau hay trong tương lai là Đài Loan, quay về với Trung Hoa là điều hợp lý, nhưng nếu bảo các dân tộc Tây Tạng,Tân Cương, Mãn Châu, Nội Mông, Dagestan, Chechnya, Ukrain hay VN, đã và đang chống lại giặc cướp Nga Tàu, để dành lại dất nước và quyền sống như Đức Đạt Lai Lạt Ma và triệu triệu người khác, đang dấn thân đấu tranh cho quê hương họ, là khủng bố, thì thật không còn điều gì khiến cho thế giới phải lo sợ và đau lòng cho bằng. Hiện có nhiều biến cố dồn dập và vô cùng thảm khốc, đã đột phát một cách bất ngờ khắp thế giới, xét cho cùng cũng chỉ là phó sản của chủ nghĩa khủng bố, do chủ nghĩa cộng sản sắt máu cưu mang và đầu độc, gây ra cho nhân loại, suốt bao chục năm qua.

Vì vậy trong lúc cả thế giới đang hồi hợp theo dõi cuộc chiến chống khủng bố nhà nước Hồi giáo.. chắc chắn đã xao lãng phần nào sự khủng bố của Nga- Tàu do Putin và Tập Cận Bình khởi xướng. Đây là nguyên nhân chính giúp cho Trung Cộng, Nga Sô kể cả Bắc Hàn và VC, càng lúc càng coi thường Liên Hiệp Quốc, nói chi đến Hoa Kỳ, nhất là giai đoạn đang dấu đá nhau để có chức trong mùa bầu cử tháng 11- 2016.

Tóm lại khủng bố tuy hai mà một, nhà nước Hồi giáo thì giết những người chống lại đạo mình trong lúc khủng bố Nga, Tàu, Bắc Hàn VC thỉ hũy diệt cả quốc gia và nhân loại. Thực trạng đã buộc mọi người hết phương lựa chọn, nên phải cắn răng giao phó trách nhiệm lãnh đạo thế giới chống khủng bố cho Hoa Kỳ, ít nhất là thêm vài thập kỹ nửa, trong sứ mạng chống lại hai đại họa hiện nay “khủng bố Hồi giáo cực đoan và khủng bố cộng sản bá quyền”, với hy vọng, nước Mỹ sẽ mang lại tự do và no cơm ấm áo cho nhân loại, như Họ đã thành công tại Đức và Nhật Bản sau đệ nhị thế chiến..

Nhưng đó là việc cũ rích chắc sẽ chẳng bao giờ tái diễn, vì thực tế Hoa Kỳ vẫn cứ bước trên lối mòn của thời đại Mc.Namara, Kissinger, Bill Clinton, W Bush tới Barack Obama..qua những kế hoạch trái núi đẻ ra con chuột, mà quá khứ đã làm cho các dân tộc tại Đông Dương, Trung Đông, Iraq, A Phú Hãn, Yemen và Lybia....phải gánh chịu bao thảm họa Cộng Sản và nội chiến, tạo điều kiện cho bọn thương buôn lái súng nuôi béo con dã thú Trung Cộng, để rồi ngày nay nó đã và đang hủy diệt nhân loại...

Thảm kịch VN trước và sau ngày 30- 4- 1975, tới nay vẫn còn nguyên vẹn. Lãnh thổ lảnh hải bị nhưọng bán, người Việt sống dưới áp bức nô lệ của Việt cộng. Tất cả đại họa trên đều do Hoa Kỳ dàn dựng và hết lòng giúp đỡ đảng CSVN vũng mạnh, để chúng có đầy đủ phương tiện hại dân bán nước. Hành động đi ngưọc với lương tâm và hiến pháp của nước Mỹ, chỉ để níu kéo CSVN về với mình chống lại Tàu đỏ như buổi trước Mỹ cưu mang Trung Cộng để chống Liên Xô từ năm 1972. Những màn trình diễn về nhân quyền, tự do tôn giáo, trục xuất sang Mỹ... thực chất càng làm cho người VN trong và ngoài nước thêm ê chề, lợm giọng... khi ván cờ bịp đã lật ngửa, qua kết quả đại hội XII của Việt cộng.

Năm 2016 đến với bức tranh u ám hổn độn, cho dù liên bang Nga của Putin đã kiệt quệ vì giá dầu tuột giốc và sự sa lầy tại Syria. Thực trạng của Trung Cộng cũng chẳng sáng sủa gì tuy Tập Cận Bình cứ đi khắp chốn để lừa bịp mọi người như mấy chục năm về trước, giữa lúc nền kinh tế tuột dù, làm đồng nhân dân tệ phá giá, kéo theo sự sụp đổ của thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng cả nước. Trong khi đó, tại các nước Hồi giáo còn bi thãm hơn, qua sự phân hóa giữa hai hệ phái và giá dầu thô gần như đã chạm đáy. Âu Châu cũng hổn độn trước khủng bố Hồi giáo cực đoan và phong trào tị nạn tràn ngập. Tất cả coi như là một gánh nặng đang đè trên vai người Mỹ nhưng Mỹ cũng là nước đã và đang bảo kê, nuôi dưõng các tổ chức tội ác (trong đó có Trung Cộng và VC) để trục lợi.

Chính TT Bill Clinton đã bắt thang đưa Putin trở thành trùm khủng bố thế giới ngày nay. Thật vậy, ngày 25- 7- 1998 Tổng thống Nga Boris Eltsin bổ nhiệm Vladimir Putin,lúc đó đang làm phó chủ nhiệm thứ 1 tại phủ tổng thống, lên chức giám đốc cơ quan An ninh liên bang (FSB)..Điều này cũng hợp lý vì Putin vốn đã từng làm việc nhiều năm tại cơ quan phản gián KGB của Liên Xô, nên đã mau chóng được Elsin tín cẩn, bổ nhiệm thêm chức Thư ký Hội đồng An ninh vào tháng 3- 1999, sau đó là Thủ Tướng Chính Phủ thay X.Stepasin, vị thủ tướng thứ 3 chỉ trong năm 1999 bị lột chức vì tranh chấp quyền lợi với gia đình tổng thống.

Theo tin từ Zengi và Kommersant daily tháng 8- 1999, thì năm 1999 FBI đã khám phá Mafia Nga, chuyển hơn 10 tỷ đô la chỉ trong vòng 1 năm, vào Bank of New York. Sự việc trên khiến cho cả Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và TT.Bill Clinton phải đích thân chất vấn Eltsin, vì cho rằng số tiền mà nước Nga được IMF cho vay để phục hồi kinh tế, cũng nằm trong 10 tỷ tẩy rửa trên, thế nhưng ông ta chối và mọi sự lại đâu vào đó khi siêu cường Mỹ tạm xếp vấn đề.

Trong bối cảnh trên, để tránh được hậu quả tàn khốc sau này, Putin lúc đó theo nhận xét của thế giới, đối với các nhà chính trị Nga đương thời như Trubais, Nemxov, Primacov và S.Kirienco..thì quá yếu lại chưa nổi tiếng gì ngoài thủ đoạn của một nhân viên KGB, nhưng ngược lại ông ta rất trung thành với chủ,nên cuối cùng ngày 31- 12- 1999, B.Eltsin nhường chức tổng thống cho Putin, sau 8 năm đầy sóng gió.

Cũng ngày đó, Putin lãnh chiếc cặp điều khiển bom nguyên tử, âm thầm noi bước cố lãnh tụ Xô Viết cũng xuất thân từ lò KGB là Andropov, tàn nhẩn, lầm lỳ và quyết đoán việc nước. Do trên, không ai lạ lùng gì khi những năm qua, Putin đã trở thành một trong những trùm khủng bố khét tiếng, ngang ngược dùng bom đạn cưởng đoạt và trấn áp các nước lân cận..cho tới khi bị LHQ cấm vận và lụn bại vì giá dầu thô chạm đáy, mới bớt đi phần nào cái dã tâm thôn tính thế giới bằng cái kho vũ khí nguyên tử kếch xù.

Rồi chuyện bom đạn của Bắc Hàn, nay đã trở thành chuyện truyền kỳ mạn lục, nên hầu như thế giới đã chán chê trước những tin tức nóng hổi. Nhưng cuối cùng dù là tin giả hay thật, thì Hoa Kỳ vẫn là quốc gia hưởng lợi vì có lý do chính đáng đem bom đạn vào bố trí tại Nam Hàn, để chờ dịp tiêu diệt Trung Cộng. Trong lúc đó Bắc Hàn cứ tiếp tục khủng bố đồng bào mình, vì quá biết thực chất của người Mỹ từ những năm qua...

Trung Cộng ngày nay, không còn là một thị trường tiêu thụ béo bở của Nhật, Nam Hàn, Hoa Kỳ Liên Âu..Trung Cộng cũng khng còn là tổng đàn tiêu thụ dầu khí, khoáng chất,than đá, sắt thép..của Úc, Nam Mỹ, Phi Châu, Canada..vì thời kỳ vàng son của nền kinh tế thứ nhì thế giới đã thuộc vào quá khứ. Tuy nhiên, ngày nào mọi người còn đổ xô vào đây để kiếm lời, ngày đó Trung Cộng vẫn còn tiền để canh tân và phát triển bộ máy chiến tranh, chẳng những độc chiếm biển đảo và đất đai của các quốc gia lân cận, mà còn bành trướng chủ nghĩa khủng bố khắp hoàn cầu, qua những sản phẩm độc hại của hóa chất..dưới dạng “ made in Mỹ, Nhật, Liên Âu “ như đã xãy ra tại các cửa hàng Wall- Mart khắp Hoa Kỳ...

Thế giới chắc chắn phải điêu đứng vì Trung Cộng sẽ gây chiến tranh xâm lược như Đức và Nhựt đã làm trong quá khứ, để Tập Cận Bình khỏa lấp sự kiệt quệ gần kề của nước Tàu.

2016 đánh dấu bốn mươi mốt năm tang thương, qua bao cuộc đổi dời từ ngày mất nước tháng 4- 1975. Trên các trang sử đời với nhiều câu chuyện vui buồn có liên quan đến đất nước và dân tộc Việt thời XHCN, đã cho thế giới nhìn rõ bộ mặt của một tổ chức khủng bố, qua danh từ nhà nước cộng sản VN, chuyên sử dụng luật rừng, súng đạn và đám côn đồ đỏ, để trấn áp, cướp bốc tài sản và sinh mạng đồng bào.

Nên ngày nay, ngoại trừ đảng viên thì hầu như cả nước không ai còn muốn nhớ tới chủ nghĩa cộng sản hay “tư tưởng HCM” gì gì đó, vì tất cả đã chết theo các huyền thoại. Cũng không ai muốn nhắc lại những chuỗi ngày lầm lạc vì tin theo cộng sản. Nhưng cộng sản vẫn là cộng sản dù ở Tàu, Bắc Hàn, Cu Ba hay Việt Cộng, qua cái mặt nạ “đổi mới, dân chủ” hay gì gì đó, thì bản chất nguyên thuỷ của nó cũng vẫn là khủng bố, độc tài và tàn bạo bất nhân.

Những trò hề tự do, những huyền thoại đi “làm cách mạng để giải phóng” con người, qua bao chục năm tang thường trầm thống nay héo mòn chết rũ trong những cuồng loạn lịch sử, do chính chế độ cộng sản viết như bán đất biên giới, nhường thế lãnh hải, hải đảo, tham nhủng, áp bức tôn giáo và bi thảm nhất là toàn lũ gục đầu dâng Việt Nam cho Trung cộng...

Tóm lại cuộc đối dầu giữa Hoa Kỳ và khủng bố năm 2002 và kéo dài tới ngày nay, đã cho thế giới nhiều bài học lịch sử, trước hết là mặt thật của chủ nghĩa và bản chất của cộng sản, thứ đến là hành động gần như đơn phương của Mỹ trong sứ mạng tiêu diệt khủng bố, mà tiêu biểu là mạng lưới quốc tế Al- Qaida của Bin Laden cùng nhóm Hồi giáo quá khích, kể luôn các nước Bắc Hàn, Ba Tư,Nga, Trung Cộng.. đang hăm he sữ dụng các vũ khí sinh hóa học hoặc có thể có cả bom nguyên tử, để tiêu diệt Hoa Kỳ và nhân loại.

Ngày trước Bin Ladden và đồng bọn, đã đem sự bốc lột của bọn vua chúa tại Trung Đông, để phát động thánh chiến. Khủng bố và chủ nghĩa cộng sản đều lấy cảnh cùng khốn của dân chúng để tuyên truyền, dù chúng còn tồi tệ gấp trăm ngàn lần. Hoa Kỳ luôn nói là sẽ quyết tâm diệt tận gốc độc tài khủng bố nhưng chưa bao giờ làm đúng tại Iraq, A Phú Hản, Ai Cập, Lybia, Yemen và nhất là tại VN xã nghĩa.

Điều này cũng dể hiểu, vì những diển biến tốt đẹp như hồi đệ nhị thế chiến mà Hoa Kỳ đã giúp Đức và Nhật tái thiết, đã không còn nằm trong sách lược của những người cầm đầu Tòa Bạch Ốc. Do đó đừng mong có sự bảo đãm cho nhân loại về hòa bình, khi chính người Mỹ đang muốn hổn loạn để tiêu thụ những sản phẩm dành cho chiến tranh. Chính các chế độ cộng sản hiện còn tồn tại ở Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Cộng và Cu Ba, cũng là những “đối tác” mà Mỹ, Nga, Nhật và Liên Âu rất cần thiết phải được duy trì và hiện hửu. Có như vậy, thế giới mới còn hổn loạn dài dài, và người ta vì đó mới mua quân trang vũ khí và sự đời cứ lẩn quẩn vòng vo, nên chẳng bao giờ chiến tranh bị chấm dứt như chuyện dài Biển Đông giữa Hoa Kỳ và Trung cộng ngày nay.

Người Mỹ và Liên Âu đã biết rõ chủ nghĩa cộng sản mặt thật cũng là chủ nghĩa khủng bố, nhưng vẫn cứ mập mờ đánh lận con đen, nên đến bao giờ oộng sản hay là khủng bố, hiện hữu trở thành đối tượng duy nhất mà nhân loại phải tận diệt để sinh tồn?

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 2- 2016
Mường Giang

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image

Bộ Quốc phòng và... luật biểu tình!!!

Lê Quang
(Danlambao) - Trong khi Tàu cộng đem hoả tiển đặt khơi khơi trên vùng biển đảo Việt Nam, thì Bộ Quốc phòng ngoảnh mặt làm ngơ và thay vào đó thì chúi mũi vào chuyện chống luật biểu tình.


Trong văn bản của Bộ Quốc phòng gửi cho Ủy ban Quốc phòng, An ninh của Quốc hội, từ tiết lộ của Chủ nhiệm Ủy ban, ông Nguyễn Kim Khoa (1), người ta biết được có những điều sau:

Bộ Quốc phòng cho rằng đây là đổi mới về chính trị. Trong khi theo ông Nguyễn Kim Thoa thì đây thật sự phải là một sự bảo đảm về nhân quyền và quyền công dân.

Bộ Quốc phòng cho rằng chờ bao giờ bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội mới làm (!!!). Ông Thoa đã phản bác rằng chúng ta đang làm cái này để đảm bảo an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, chứ không phải là chờ ổn định rồi làm.

Bộ Quốc phòng đề nghị xây dựng Nghị định trước, tổng kết Nghị định rồi mới xây dựng luật. ĐBQH Nguyễn Kim Thoa phản đối và cho rằng Nghị định 38 về Biểu tình (2) bây giờ đã trái với Hiến pháp. Chúng ta mà làm Nghị định thì càng trái với Hiến pháp, không phù hợp với Hiến pháp, trong đó rất nhiều nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân.

Được biết, dự án Luật Biểu tình đã được cho lùi từ kỳ họp thứ 9 sang kỳ họp thứ 11, và mới đây Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết dự án này đã bị cho "lùi vô hạn định", mặt dù mới tháng trước đây Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên bên văn phòng Chính phủ đã ký truyền đạt ý kiến của Thủ tướng nói tiếp tục thực hiện đúng chương trình.

Lê Quang

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tâm sự đầu Xuân
Nguyên Thạch
(Danlambao) - Các cụ nhà ta thường nói: "Tháng Giêng là tháng ăn chơi", nàng Xuân vẫn lảng vảng đâu đây, bước Xuân vẫn ngập ngừng chưa đến vì đất nước vẫn còn chìm ngập trong muôn vạn nỗi đau dưới ách tròng của tà quyền cộng sản. Trong một nhà tù vĩ đại độc đoán và toàn trị đó, vô vàn oán hận từ 90 triệu con tim tội tình đang quằn quại, đang thoi thóp triền miên nhận lãnh sự đau đớn dưới cơn dịch nhân tai mà lũ vô tâm vô thần đã liên tục giáng xuống cho dân tộc kém may mắn này.


Năm mới, đầu Xuân là dịp để người ta nói lên những lời chúc tụng, thể hiện những điều mơ ước cho thời gian sắp đến hay ít nhất là cho một năm tới. Thắm thoát thời gian vậy mà đã hơn 5 năm (ngày thành lập 22/8/2010) với tôn chỉ: "Với mục tiêu góp phần vào sự phát triển của báo chí công dân Việt Nam, Danlambao luôn nỗ lực để xây dựng một ngôi nhà chung cho những người dân Việt Nam không chấp nhận chế độ cộng sản bạo ngược và mang hoài bão xóa bỏ độc tài, xây dựng tự do dân chủ. Mà bạn bè thân hữu của Dân Làm Báo là các bạn đọc, những người ủng hộ và các tác giả từ khắp nơi. Chính các bạn là những người làm thành thôn Danlambao". (1)


Trong hơn 5 năm ấy, Dân Làm Báo đã mang lại cho bạn đọc biết bao nhiêu bài viết từ những cây viết chuyên và không chuyên, trong ngần ấy câu chuyện, dữ liệu lịch sử, bình luận, nhận định, thời sự, thơ văn... Những tác giả, những còm sĩ từ khắp mọi nơi trên thế giới, từ khắp mọi miền của đất nước (mà lượng người đọc ở Việt Nam chiếm khoảng 65% trên tổng số) đã cống hiến cho chúng ta biết bao kiến thức, kinh nghiệm cũng như bao tâm sự, ước mơ cùng hoài bão cho một Việt Nam Độc lập, Tự do, Dân chủ không cộng sản.

Đồng thời DLB đã xác định: "Danlambao đứng về phía Dân. Danlambao đi trong lề của Dân. Danlambao đặt quyền lợi tối thượng của Dân tộc làm kim chỉ nam cho mọi suy nghĩ và hành động. Tổ Quốc trên hết. Danlambao không lệ thuộc, không bị ảnh hưởng, hay chi phối của bất cứ đảng phái, tổ chức chính trị nào". Sự xác định này cũng nhằm mục đích nói thẳng với nhà cầm quyền CSVN rằng Danlambao là VÌ DÂN và không thuộc bất cứ đảng phái chính trị nào. Cho nên những cáo buộc của nhà cầm quyền CSVN là vô căn cứ, mang đầy tính cường điệu và thô bạo.

Là một người dân bình thường, tôi có mặt ở nơi đây, thôn xóm thân yêu này cùng các tác giả bài viết, cùng những còm sĩ thân mến dường như hàng ngày để góp sức của mình nói lên chuỗi tiêu cực, mụ mị và sự tàn độc của chế độ và dĩ nhiên nếu bị cơ chế độc tài côn an trị bắt được thì chúng tôi sẽ không khá gì hơn anh Nguyễn Ngọc Già, một cây viết với nhiều nét bén có thể đâm thủng cả một chế độ. Tuy có mặt thường xuyên nhưng chưa bao giờ có dịp thuận tiện để trình bày những cảm nghĩ, nhận định mang tính cá nhân.

Như đã nói trên, mùa Xuân vẫn ngập ngừng đâu đây, tiết Xuân là lúc cho tôi có dịp mở lòng và mong muốn được gởi đến tất cả quí anh chị em trong Ban Điều Hành Dân Làm Báo chút cảm nghĩ và tấm thịnh tình mà đặc biệt nhất là những người như anh Vũ Đông Hà người đã thường xuyên liên lạc với tôi qua thư từ bài vở, đồng thời cũng là người thường xuyên góp nhiều bài viết cho Thôn nhà, cũng như quí anh chị Cộng tác viên đang hy sinh cống hiến nhiều công sức nơi quốc nội mà lúc nào cũng phải đối mặt với nguy hiểm và sự thiếu thốn về nhiều mặt.

Trước khi trình bày những cảm nghĩ cùng nhận xét của mình, tôi mong rằng đây không phải là những lời ca tụng cá nhân (vì VĐH cùng các ACE Danlambao là của công chúng) mà là nói lên những điểm tốt, những hy sinh... Tôi vẫn biết rằng đặc tính chung của quí ACE là không thích nói về mình cho dẫu là những câu nói tốt, nhưng tôi vẫn mong nó được gởi đến BĐH cùng các Mod, quí còm sĩ và bạn đọc. Đây là những lời khích lệ để bản thân anh chị em Danlambao và ngay cả bản thân chúng ta còn có được sự tiếp sức mà tiếp tục hành trình trên con đường nhiều nguy hiểm, đầy gian nan trước mặt.

Trong cảnh tan tác của tháng Tư Đen, tuy chúng ta mỗi người mỗi ngả, kẻ ở người đi nhưng tận chốn thâm sâu của mỗi tâm hồn vẫn còn ghi khắc nhiều ký ức, kỷ niệm cùng ước mơ cho một Quê Hương chóng thoát khỏi cảnh lầm than, tương lai của cả dân tộc tươi sáng hơn những gì mà hiện tại vô cùng đen tối như đám mây mù trùm phủ. Trong cảnh bơ vơ tội tình ấy, Dân Làm Báo ví như một Lương Sơn Bạt thời đại mà chúng ta là những nạn nhân từ khắp nơi bị áp bức bởi những bàn tay đao phủ lông lá của bọn bạo quyền độc ác tham tàn. Chúng ta tụ sức về đây để mong chờ một ngày góp phần của mình giải cứu đất nước và đồng bào thoát khỏi ách độc tài toàn trị và vòng vây nô lệ Tàu cộng.

Điều tôi muốn nói ở đây là các bạn không sẽ ngờ rằng có rất nhiều đêm anh Hà cũng như các ACE thay phiên nhau gần như thức trắng để chọn lựa bài đăng cho Thôn, điều chỉnh bài đăng cho đúng layout, đúng cú pháp, hình ảnh cũng như sửa lỗi chính tả. Xong phải theo dõi đọc từng còm một và phải cân đo khi xóa những còm nào đó được xem là bất hợp lệ để khỏi phải bị phiền trách khi còm bị xóa. Rồi sau khi mỗi bài được đăng lên thì phải viết vài lời thông báo và cảm ơn tác giả. Đã thế sau khi bài viết được đăng, cũng phải thường xuyên dò lại hồ sơ coi có tên DLV nào chực hờ nhảy vào phá đám hay không... Cứ thế mà các anh chị em miệt mài 365 ngày liên tục trong 5 năm rưởi nay cũng như những tháng ngày sắp đến với những biến động của thời cuộc mà người dân trong thể chế bưng bít rất cần đến thông tin để nắm bắt được tình hình. Vì rải rác khắp nơi, chúng ta không thể có được điều kiện có thể làm như các anh chị em, phần tôi, tôi xin bái phục. Mục đích bài viết này của tôi là để nêu lên những cố gắng vô cùng lớn lao của BĐH Danlambao vì lý tưởng chung chứ không phải tôi thích mặc áo thụng "ca tụng" riêng ai cả bởi tính tôi không quen mặc áo ấy. Tại sao ta cứ mãi phiền trách những người làm những việc tệ hại mà lại quên đi sự ca ngợi nhằm khích lệ những người làm những việc tốt?.

Một xã hội được cho là một xã hội lý tưởng, tốt đẹp là một xã hội mà con người ta luôn giúp đỡ lẫn nhau, luôn hy sinh cho nhau, một người vì mọi người thì mọi người sẽ đáp lại cho một người. Thêm bạn, bớt thù, dẹp bỏ những gièm pha tị hiềm, tránh những điều buồn phiền cho nhau, thế có phải hơn không?. Thế nào là những con người có tư tưởng và hành động văn minh?. Không cùng chung chiến tuyến, có thể đánh gục nhau nhưng tuyệt đối không sát hại lẫn nhau. Trong tranh luận, có thể triệt hạ đối thủ bằng lý luận lô-gic nhưng không hạ nhục và xem nhau như là kẻ thù... Những phong thái ấy, khó có thể tìm thấy ở những thể chế cộng sản, vì lẽ đó những người có nhân cách nên chọn làm mục tiêu trong đấu tranh cho chính nghĩa.

Cá nhân tôi tự nhủ luôn trao dồi tinh thần cầu tiến, luôn cân đo đong đếm mọi việc, cái gì hay, công nhận hay, cái gì dối trá, điêu ngoa, mụ mị... tôi nói thẳng và tôi đã tìm thấy được sự thanh thản trong tâm hồn của tôi nơi cõi tạm này. Tạ ơn Thượng Đế.

Xin cảm ơn bạn đọc đã kiên nhẫn, cảm ơn BĐH-Danlambao và cá nhân người tôi biết là anh Vũ Đông Hà, cảm ơn quí còm sĩ đồng thuận hay bất đồng quan điểm trong Thôn. Đầu Xuân thân chúc quí vị trăm điều lành, vạn sự may. Chúc Dân Làm Báo nhiều sức lực, trường tồn.


Nguyên Thạch

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Căng thẳng gia tăng tại Biển Đông, Việt Nam phô trương sức mạnh quân sự

Thanh Hà

Đang từ hạng 43, Việt Nam nhảy vọt lên hạng 8 trong bảng xếp hạng của Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Stockholm-SIPRI về các nước nhập khẩu vũ khí trên toàn cầu. Trong giai đoạn từ 2011 đến 2015, Việt Nam mua vào gần 3 % vũ khí của thế giới, đứng trước cả Hàn Quốc hay Singapore. Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông là động cơ thúc đẩy Hà Nội tăng chi phí quân sự.

Việt Nam bất ngờ trở thành một trong 10 nước mua vũ khí nhiều nhất trên thế giới trong giai đoạn 5 năm vừa qua. Theo các số liệu của viện SIPRI vừa được công bố ngày 22/02/2016, trong thời gian từ 2011 đến 2015, một nước nhỏ như Việt Nam đã mua vào 2,9 % vũ khí của thế giới. Đây là một tỷ lệ tương đương với Hoa Kỳ. Để so sánh, cũng trong giai đoạn vừa qua, một quốc gia như Hàn Quốc chỉ chiếm 2,6 % thị trường nhập khẩu vũ khí của toàn cầu, cho dù Seoul đang phải đối mặt với thách thức về an ninh, đặc biệt là trước những hành vi khiêu khích từ phía Bắc Triều Tiên.

Một điểm đáng lưu ý khác được báo cáo vừa được công bố sáng nay của Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Stockholm nêu bật, đó là bước nhảy vọt rất dài của Việt Nam trên thị trường nhập khẩu vũ khí của toàn cầu. So với giai đoạn 2006-2010 chi phí quân sự của Việt Nam chỉ đứng hạng thứ 43 trên thế giới, tương đương 0,4 % thị phần quốc tế. Nhưng chỉ 5 năm sau, các khoản chi tiêu quân sự của Việt Nam đã được nhân lên gấp 7 lần.

Yếu tố Biển Đông

Vài giờ trước khi SIPRI công bố báo cáo về các hoạt động mua bán vũ khí trên thế giới trong giai đoạn 5 năm từ 2011 đến 2015, tờ báo tài chính Mỹ, The Wall Street Journal, ấn bản trên mạng trích lời ông Trần Công Trục, nguyên trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam cho rằng : đầu tư vào các trang thiết bị quân sự của Việt Nam tăng mạnh là “ điều hiển nhiên và cần thiết đặc biệt kể từ khi Biển Đông đang trở thành một điểm nóng ”. Tuy nhiên quan chức này cũng nhấn mạnh rằng việc Việt Nam hiện đại hóa các trang thiết bị quân sự nói trên không đặc biệt nhắm vào Trung Quốc.


Theo các số liệu chính thức, năm 2014 ngân sách quốc phòng của Việt Nam đạt 4,3 tỷ đô la, một giọt nước so với khoản tiền 132 tỷ của bộ Quốc Phòng Trung Quốc. Tuy nhiên theo giới phân tích, trên thực tế, các khoản chi phí quân sự của cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều cao hơn nhiều so với các con số vừa nêu.

Nhật báo tài chính Mỹ, The Wall Street Journal nhìn nhận quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh đã xấu hẳn đi sau vụ Trung Quốc đưa dàn khoan HD981 vào vùng biển của Việt Nam hồi tháng 5/2014 và gần đây nhất là sự kiện ảnh vệ tinh tiết lộ Bắc Kinh triển khai tên lửa trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa, nơi có tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và cả Đài Loan. Việt Nam cũng không ngừng chỉ trích Trung Quốc bồi đắp các đảo nhân tạo ở Trường Sa, một điểm nóng khác trong quan hệ song phương.

Theo giới phân tích chiến lược bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông không là động cơ duy nhất thôi thúc Việt Nam tăng chi phí quân sự. Chính sách hiện đại hóa quân đội của Việt Nam còn theo đuổi một tham vọng lớn lao hơn.

Trong thời gian gần đây, Việt Nam đã đặt mua 6 chiếc tàu ngầm hạng Kilo của Nga có trang bị tên lửa dẫn đường ; trang bị máy bay tiêm kích Sukhoi Su30MK2, 6 tàu tuần duyên và hệ thống phòng không hiện đại do Israel chế tạo ...

Theo nhận định của chuyên gia Siemon Wezeman, Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Stockholm SIPRI, đành rằng, đây chưa phải là những loại vũ khí tối tân nhất nhưng trong bối cảnh căng thẳng tại Biển Đông hiện nay, việc hiện đại hóa các trang thiết bị quân sự như vậy cũng là một tín hiệu Hà Nội gửi tới Bắc Kinh. Đó là trong trường hợp xảy ra xung đột, Việt Nam cũng có khả năng kháng cự.

Còn theo quan điểm của chuyên gia Carlyle Thayer, Học việc Quốc phòng Úc, có nhiều khả năng Việt Nam sẽ tiếp tục là nước nhập khẩu vũ khí quan trọng của thế giới trong những năm sắp tới, đồng thời Việt Nam cũng đang hướng tới việc mở rộng công nghệ lắp ráp. Đương nhiên Hà Nội rất quan ngại trước những hành động bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông và do vậy, theo giáo sư Thayer, không có lý do gì để Việt Nam ngưng hiện đại hóa bộ máy quân sự.

Trong tương lai, Việt Nam sẽ còn nhập khẩu thêm tàu tuần tra, máy bay không người lái và những trang thiết bị phòng không hiện đại khác. Chuyên gia Carlyle Thayer nhắc lại, kể từ khi xóa bỏ cấm vận vũ khí sát thương trên biển với Việt Nam, Hoa Kỳ đang nóng lòng để trở thành một nhà cung cấp trang thiết bị quân sự cho Việt Nam, thu hẹp ảnh hưởng của Nga với quốc gia Đông Nam Á này.

( Trích từ RFI )

Post Reply