Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Eo biển cay nghiệt

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Giấc mộng vàng lớn nhất của Tập Cận Bình từ khi lên ngôi tổng bí thư kiêm quốc trưởng Trung Quốc là đưa Hồng Kông và Đài Loan sớm trở về với lục địa, từng bước thống nhất trọn vẹn nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH).

Tình trạng “một nước, hai chế độ” là điều cay đắng của đảng Cộng Sản Trung Quốc từ năm 1949, khi quân đội của Trung Quốc đánh chiếm được toàn bộ lục địa. Khi mới thành lập, CHNDTH vẫn còn hai đảo lớn là Đài Loan và Hải Nam nằm trong tay Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch. Tháng Năm, 1950 đảo Hải Nam bị quân đội Trung Quốc đánh chiếm dễ dàng vì eo biển Quỳnh Châu giữa bán đảo Lôi Châu với đảo Hải Nam chỉ rộng có 30 km, lại có phong trào du kích trên đảo tiếp sức.

Đảo Đài Loan lúc ấy có dân số 12 triệu, chỉ bằng một quận nhỏ, diện tích chỉ bằng 1/2,500 lần lục địa. Nay dân số của đảo này đã hơn 23 triệu.

Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Chu Đức, Bành Đức Hoài... hồi ấy đã vạch nhiều kế hoạch để đánh chiếm Đài Loan, nhưng cứ lần lữa vì không có kế hoạch quân sự nào bảo đảm chắc thắng, do eo biển Đài Loan rộng đến 130 km, dù dung chiến thuật biển người cũng khó lòng chiếm nổi. Quân đội Quốc Dân Đảng tập kết từ cả nước ra Đài Loan đóng dày đặc, tổ chức phòng ngự rộng khắp, vũ trang đầy đủ, trong khi quân đội Trung Quốc còn quá yếu về hải quân, về tàu thuyền đổ bộ, và cũng rất yếu về không quân và quân nhảy dù.

Năm 1954,1956 và 1958, quân đội Trung Quốc ba lần tiến công thăm dò bằng pháo kích các đảo Kim Môn, Mã Tổ trong quần đảo Đại Đồng ven bờ, nhưng không thể làm gì hơn. Cái eo biển thật khắc nghiệt.

Bắc Kinh cay đắng buộc phải ngừng tiến công quân sự, chuyển sang đấu tranh chính trị và ngoại giao theo hai hướng, thương lượng với chính phủ Anh về việc trao trả Hồng Kông và bình thường hóa quan hệ với chính quyền Đài Loan sau khi Trung Quốc giành được ghế ngồi trong Liên Hiệp Quốc. Khái niệm ''một nước, hai chế độ '' được thỏa thuận, Bắc Kinh hy vọng qua con đường đó, khi lục địa vươn lên thành cường quốc thế giới, sẽ thu hút hai dải đất nhỏ bé này tự nguyện trở về với ''mẫu quốc'' một cách hòa bình.

Nhưng nếu muốn đánh chiếm Đài Loan bằng vũ lực, Trung Quốc phải có một lực lượng hải quân rất mạnh, một hạm đội đổ bộ gồm hàng ngàn tàu, xuồng, phà, tàu phá ngư lôi,... chiếm lĩnh một đầu cầu rộng lớn, lại cần một lực lượng không quân rất hung hậu, có đạo quân nhảy dù đông đảo, chấp nhận những tổn thất rất lớn, nhưng vẫn chưa chắc thắng vì thế trận phòng ngự sẵn bao giờ cũng có ưu thế đối với thế tiến công từ quá xa.

Những ngày này, chắc hẳn Tập Cận Bình và bộ hạ phải rất bi quan khi nhìn sang Đài Loan và thấy tay sai Quốc Dân Đảng bị tan vỡ về chính trị và cả về ngoại giao, đảng Dân Tiến vừa giành được chức vụ tổng thống và phó tổng thống, chiếm đa số áp đảo trong quốc hội. Ông Tập thêm bội phần thất vọng khi thấy cuộc gặp mặt mới đây với Chủ Tịch Quốc Dân Đảng Mã Anh Cửu ở Singapore gây bất lợi, khi hơn hai trăm tên lửa tầm trung chĩa thẳng vào Đài Loan không uy hiếp được ai; cuộc tập trận lấy trụ sở Phủ Tổng Thống ở Đài Bắc làm mục tiêu cũng chỉ gây phản tác dụng.

Thế bị sa sút, lực bất tòng tâm, ông Tập càng mất vui khi nữ tổng thống mới, bà Thái Anh Văn, nói rằng hiện nay cần duy trì mối quan hệ ổn định với lục địa, nhưng vẫn để ngỏ cho nguyện vọng chính đáng của nhân dân Đài Loan, và rất có thể đến lúc do đòi hỏi của nhân dân, sẽ đưa vấn đề giành “độc lập và tự do” chính đáng của Đài Loan ra trước Liên Hiệp Quốc, theo quyền tự quyết của mọi dân tộc và quốc gia. Đây là điều ông Tập lo ngại nhất.

Thế là đảng Dân Tiến và lãnh đạo của đảng, một phụ nữ, dám dựa vào nhân dân và sự ủng hộ của thế giới dân chủ, trước hết là Hoa Kỳ, Nhật, Philippines, Ấn Độ và Liên Hiệp Quốc, quyết đấu tranh giành độc lập hoàn toàn, bất chấp đe dọa của Bắc Kinh. Đài Loan có thế vững mạnh là liên minh quân sự chặt chẽ với Hoa Kỳ và Nhật, được Hoa Kỳ bán cho nhiều vũ khí rất hiện đại.

Nhân câu chuyện eo biển này mà hiểu rõ sự tức giận chính đáng của nhân dân Việt Nam khi Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam không thấy rõ cái thế bế tắc, sa sút của Trung Quốc để tự tách ra khỏi Bắc Kinh, dám đấu tranh giành lại độc lập hoàn toàn và tròn vẹn lãnh thổ, biển đảo của nước ta.

Đại Hội XII đã sai lầm lớn khi không chịu lên án chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc và cương quyết thoát Trung, bỏ qua thời cơ hiếm có khi cả thế giới dân chủ đang muốn kết bạn chiến lược với đất nước và nhân dân Việt Nam.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Trọng: Thần Phục TC, Kỳ Thị Người Nam

Vi Anh



Qua những lời nói, những trò phù thuỷ chánh trị trong cuộc bầu cử Đại Hội Đảng CSVN lần thứ 12 và qua hai quyết định đầu tiên cử nhiệm hai bí thư của hai thành phố lớn nhứt nước cho thấy Tổng bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng độc diễn lưu nhiệm là người thần phục TC và kỳ thị người Miền Nam. Tổng Trọng cử Hoàng Trung Hải một người Việt gốc Hoa, mồ mả ông cha bia còn ghi bằng tên họ Tàu làm Bí Thư thủ đô chính trị Hà Nội và Đinh la Thăng một người Miền Bắc đặc sệt làm bí thư thành uỷ Saigon, thủ đô kinh tế của VN, thủ đô văn minh Miệt Vườn của người Miền Nam.

Phải nói Tổng Trọng là một phù thuỷ chánh trị, chuyên tráo bài ba lá, chớ không phải tay vừa. Y chọn ba ngày Tết tung ra tin này nhơn Tết cổ truyền VN để dảng nhà nước, dân chúng và truyền thông ngoài luồn quá bận với Tết nhứt, ít phản ứng. Nhưng đâu có qua nổi người dân, «mắt dân như mắt khóm», còn truyền thông đại chúng trên mạng, các trang mạng xã hội bây giờ như thần cơ diệu toán, thiên la địa võng, như kính chiếu yêu thì làm sao lấy thúng úp voi được. Đề cử này tạo một cú sóc trên báo chí quốc tế như VOA của Mỹ và trên làng báo dân gian trên mạng vạch trần gốc gác của hai bí thư của hai miền lớn của đất nước VN.



Tin VOA ngày 09.02.2016, tức mồng 2 Tết viết, «Cùng với ông Hoàng Trung Hải, Bí thư thành ủy Hà Nội, cựu Bộ trưởng Giao thông Vận Tải có nhiều phát ngôn thẳng thừng mới được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ dẫn đắt đảng bộ ở thành phố từng được coi là “Hòn ngọc Viễn Đông”. 5 năm lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải, ông Thăng đã có nhiều tuyên bố làm tốn giấy mực của báo chí như “bộ trưởng là tư lệnh ngành, phải cho tôi toàn quyền”.

Các trang mạng xã hội Việt Nam liên tục đưa lên những thông tin, nghị luận và hình ảnh, rằng Hoàng trung Hải là người Tàu. Trang mạng Dân Làm Báo viết “Chiếc ghế bí thư thành ủy Hà Nội, nhiệm kỳ 2015–2020 cuối cùng đã có những bài viết khẳng định ông là người Trung Quốc, và tố cáo ông Hải là ngấm ngầm để cho Trung Cộng trúng thầu trên 90% các công trình trọng điểm quốc gia trong hai nhiệm kỳ ông làm phó thủ tướng. Trang mạng khác còn trích dẫn đơn tố cáo của một cán bộ lão thành cộng sản tên Phạm Hiện khẳng định ông Hoàng Trung Hải là người Tàu. Trong đơn của ông Phạm, có câu: “Bố đẻ ông Hoàng Trung Hải người Trung Quốc tên là Sì Sói”. Còn trên trang blog của mình, blogger Lê Anh Hùng cũng tải lên nhiều hình ảnh của khu mộ gia đình ông Hoàng Trung Hải, với dòng chữ viết bằng tiếng Tàu: "Hoa kiều tiên hữu tổng mộ".

Người thứ hai của Tổng Trọng cử Đinh la Thăng, Bộ Trưởng Giao Thông Vận tải làm bí thư Thành uỷ TP/HCM ở Miền Nam, còn táo bạo hơn nữa. Một quyết định coi lịch sử Đảng CSVN như không có, coi Miền Nam Việt Nam như thuộc địa khai thác (colonie d exploitation) của CS Bắc Việt, coi nửa dân số VN thời Chiến tranh VN hậu thân của VN Cộng hoà từ sông Bến Hải xuống Cà mau là dốt nát, không biết “lý luận” chánh trị, phân biệt đúng sai, như Tổng Trọng đã nói trong đại hội đảng thứ 12.

Hành động đại kỳ thị đối với dân Miền Nam này của Tổng Trọng không qua nổi kinh chiếu yêu của làng dân báo. Ai cũng biết Đảng CSVN là một sự kết họp của ba Đảng CS thời Pháp thuộc: Bắc kỳ CS Đảng, Trung kỳ CS Đảng và Nam Kỳ CS Đảng. Đứng lên chống Thực dân Pháp giành độc lập cho nước nhà, chính Ô. Hồ cũng công nhận là “Miền Nam đi trước nhưng về sau” vì Đảng bộ CS ở Miền Nam phải chịu hai cuộc chiến tranh Pháp và Mỹ. Rất nhiều người CS Nam không tập kết, không đi A, ở lại Miền Nam chết sống với quê hương xứ sở của mình, như Võ văn Kiệt, Trần văn Trà, Nguyễn tấn Dũng và hầu hết những bí thư thành uỷ của Saigon trong 40 năm qua. Không có những người CS Miền Nam, không có giải phóng quân, du kích của Miền Nam thì CS Bắc Việt không có tai mắt, không có lương thực, thua là cái chắc.

Trong thời đổi mới kinh tế không có những người CS Miền Nam ra làm thủ tướng vận động, điều hành chánh phủ và nhà nước một cách linh động thì cả CSVN, trong đó có CS Bắc Việt đột quị rồi. Thế mà Tổng Trọng coi những người CS ở Miền Nam là thấp kém, ngu dốt, đưa một người Miền Bắc vào nắm đầu thành uỷ Saigon là biểu tượng của Nam kỳ CS Đảng, của CS gốc Nam bộ. Người ta thấy Tổng Trọng đã khinh bỉ, xúc phạm người Miền Nam hết chỗ nói rồi. Tổng Trọng đã chọc cho người Nam hết chịu nổi nỗi nhục này.

Từ khi chiếm được Saigon, từ khi có thành uỷ Saigon tới giờ chưa bao giờ Trung Ương Đảng, Bộ chánh trị dám coi thường Khối CS Nam bộ như Tổng Trọng đang làm. Thời Quân Quản cũng người Nam nắm Saigon, là Tương Trần văn Trà được cử ra Bắc làm Thứ Trưởng Quốc Phòng, Ông không đi và nghỉ hưu. Sau khi hết quân quản Bí thư thành uỷ Saigon toàn chỉ người gốc Miền Nam chánh tông: Lê Thanh Hải là dân Tiền Giang, Nguyễn Minh Triết là dân Bình Dương, Trương Tấn Sang và Võ Trần Chí là từ Long An, Mai Chí Thọ là em của Lê đức Thọ gốc Nam Định, Trần Bạch Đằng dân Kiên Giang, Võ Văn Kiệt dân Vĩnh Long. Trừ Mai Chí Thọ là em của Lê đức Thọ gốc Nam Định nhưng vào Nam từ thời kháng chiến chống Pháp như Tổng bí Thư Nguyễn văn Linh – chớ không phải như Đinh la Thăng là người rặc ròng, gốc gác Miền Bắc.

Trên mạng xã hội loan truyền Đinh la Thăng sinh năm 1960, họ Đinh nhưng không phải là con của thượng tướng Đinh Đức Thiện em của Lê đức Thọ như nhiều người lầm tưởng. Nhưng tánh tình, ăn nói hàm hồ, ngổ ngáo giống Tướng Thiện nên có người tưởng Thăng là con của Thiện. Thăng đi lên từ Đoàn Thanh Niên, với chân kế toán viên quèn của Tổng Công Ty Sông Đà sau khi học tài chính xong năm 22 tuổi. 18 năm sau nhờ nịnh nọt, phe đảng lên đứng đầu của tổng công ty này. Thêm 2 năm sau nữa bắt đầu được cơ cấu vào Trung Ương Đảng và làm phó bí thư Thừa Thiên-Huế. 2005 nắm Tập Đoàn Dầu Khí Quốc Gia PetroVietnam. 2011 làm bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải. Đại hội 12 này vào Bộ Chính Trị theo gót giày của Tổng Trọng! Chuyên môn chính của Đinh La Thăng là kế toán xây dựng. Đẳng cấp giỏi nhất là moi tiền! Tác phong văn công thượng đội hạ đạp, cái đít văn công, cái mông bộ đội đại cán sờ mó đều “nhất trí đồng tình”, nhưng thường phọt ra những tuyên bố giựt gân đối với thuộc cấp ở dưới. Ở Sông Đà, Ông làm thất thoát 10 ngàn tỷ! Về PetroVietnam làm mất 18 ngàn tỷ!

Cán bộ đảng viên trong Uỷ ban và thành uỷ Saigon coi Đinh la Thăng là một phương tiện như Nguyễn bá Thanh để Tổng Trọng dùng trong chiêu bài “đả hổ diệt ruồi” tham nhũng như quan Thầy Tập cận Bình đã làm bên Tàu để đào tận gốc bốc tận rể phe phái của Nguyễn tấn Dũng đã từng chống Tổng Trọng.

Kỳ thị người Nam là bản chất của Tổng Trọng. Với trò phù thuỷ của Tổng Trọng người ta thấy Trung ương uỷ viên đắc cử được Tổng Trọng và phe của y cơ cấu như sau: 59,7% Bắc, 21,1% Trung, 21,1% Nam; như vậy kể cả Miền Trung và Nam vùng gọi là Miền Nam thời VNCS cộng lai 42,2%, thua CS gốc CS Bắc Việt là 59, 7-42, 2= 17, 5%.

Như vậy, TC không cần nổ một tiếng súng, rút một cây gươm, mà chỉ dùng chủ nghĩa CS, tiền và gái, chức và quyền mua chuộc phe CS thân Bắc Kinh là có một thái thú cúc cung tận tuỵ phục vụ Thiên Triều Bắc Kinh, đưa một người gốc Tàu, thần phục và phục vụ TC vào nắm đầu đảng uỷ thủ đô của VNCS và một người Bắc vào Nam nắm dầu thành uỷ Sagon. Mưu quá sâu của Tàu Cộng, tài tạo một cuộc nội chiến, một chiến tranh tâm lý, chiến tranh chánh trị giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong như thời Trịnh Nguyễn phân tranh./.(VA)

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Biểu tình và độc chiêu của đảng CSVN
Lê Dủ Chân
(Danlambao) - Trong một chế độ độc tài, khi quyền ứng cử, bầu cử vào các chức vụ lãnh đạo quốc gia của người dân bị tước đoạt, quyền tự do tư tưởng bị đóng khung, các hình thức đóng góp sửa sai của người dân điều bị quy là "phản động", quyền tự do ngôn luận bị triệt tiêu, các cơ quan báo chí, truyền thanh, truyền hình điều nằm trong tay nhà nước, sinh hoạt xã hội bị chi phối kềm kẹp bởi công an, côn đồ, còng số tám, nhà tù thì biểu tình là con đường, phương thức ngắn nhất, ôn hòa nhất, tiết kiệm nhiều hy sinh nhất để người dân bày tỏ chính kiến, đòi quyền sống, quyền làm người, quyền làm chủ đất nước của mình.

Vào ngày 1 tháng 5 năm 2014, tổng công ty dầu khí Hải Dương Trung Quốc, đã đưa giàn khoan dầu Hải Dương Thạch Du 981 định vị ở vị trí cách đảo Tri Tôn (quần đảo Hoàng Sa) 17 hải lý về phía nam, cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía đông để thăm dò dầu khí.

Đứng trước sự kiện nhà cầm quyền Bắc Kinh ngang ngược xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, vào ngày 7 tháng 5 năm 2014, 20 tổ chức xã hội dân sự trong nước đã phát lời kêu gọi nhân dân xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược.

Lời kêu gọi này đã đặt đảng cộng sản Việt Nam vào thế vô cùng khó xử, tiến thoái lưỡng nan, bởi những lý do sau đây:

1- Sự kiện xâm phạm lãnh thổ, xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam của nhà cầm quyền Bắc Kinh là có thật và rõ ràng không thể ngang ngược chối cãi hay ngụy biện bao che được (như đảng cộng sản đã từng làm trong 70 năm nay, qua các trường hợp Hoàng Sa, Trường Sa, Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, đồi Lão Sơn, tàu lạ...)

2- Người dân đứng lên biểu tình bày tỏ lòng yêu nước chống sự xâm lăng của Bắc Kinh vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là hành động yêu nước, chính nghĩa. Đàn áp những cuộc biểu tình yêu nước này không khác chi đảng CSVN tự xác nhận đã bán nước cầu vinh, tay sai của Tàu (mặc dù đó là sự thật).

3- BCT/TƯ đảng CSVN hiểu rằng một khi bản chất tay sai cho Tàu bị bộc lộ rõ ràng, chế độ sẽ sụp đổ vì mất đi sự ủng hộ của một thành phần quần chúng, quân đội, công an từ vẫn còn tin tưởng vào sự tuyên truyền về đường lối chính sách chống ngoại xâm của đảng.

4- Không có một tôi tớ nào muốn làm mất lòng chủ, nhất là ông chủ đó đang nắm vận mạng của mình. Làm cho Bắc Kinh phẫn nộ, tai họa sẽ đến với đảng CSVN nói chung và tập đoàn lãnh đạo đảng hôm nay nói riêng. Chưa nói đến sự trả đũa của Bắc Kinh bằng cách công bố những mật hàm, mật ước, thỏa thuận phản quốc ngầm mà đảng CSVN đã đã ký kết với Bắc Kinh trong 70 năm qua, chỉ nội việc Bắc Kinh cắt đứt quan hệ trên hai lạnh vực kinh tế và chính trị cũng đủ làm cho 16 ủy viên BCT và 175 UVTƯĐ chui ống cống hoặc nhẹ hơn họ ra lệnh cho đàn em ở Hà Nội mở chiến dịch thanh toán bầy đàn thì cũng có khối thành viên trong Bắc Bộ Phủ chết non chết yểu, hoặc bị loại ra khỏi vòng quyền lực.

Bị kẹt giữa hai thế lực có thể làm sụp đổ chế độ, đảng CSVN phải tính toán, hành động như thế nào để:

1- Dập tắt được biểu tình mà không bị mang tiếng là đàn áp tinh thần yêu nước, người yêu nước.

2- Không làm cho tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh lâm vào tình trạng khó xử phải lựa chọn một trong hai trường hợp: hoặc phải rút giàn khoan dầu HD-981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hoặc phải đối diện với sự tan vỡ tình hữu nghị hay xấu hơn nữa là chiến tranh giữa hai nước Việt Tàu.


Như chúng ta đã chứng kiến, để đáp ứng lời kêu gọi ngày 7 tháng 5 năm 2014 của 20 tổ chức xã hội dân sự trong nước, tại 22 tỉnh thành của Việt Nam trong đó có: Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Bình Dương, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh... đã có hàng ngàn người yêu nước xuống đường biểu tình ôn hòa với mục đích phản đối và lên án nhà cầm quyền Bắc Kinh xâm phạm lãnh hải của Việt Nam.

Bên cạnh đó thay vì tung lực lượng tay sai ra đàn áp biểu tình như những lần trước thì đảng cộng sản lần này làm ngược lại, họ cũng huy động các đoàn thể, tổ chức tay chân nối dài của mình, cụ thể như đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh... đồng xuống đường biểu tình, và cho các loa đài, báo chí của đảng ra sức tuyên truyền cho nhân dân trong nước, ngoài nước và thế giới biết.

Như vậy vào những ngày trong tháng 5 năm 2014, trước sự kiện giàn khoan dầu Hải Dương Thạch Du 981 của Trung cọng xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, trong nước có 2 lực lượng biểu tình.

Lực lượng thứ nhất là của người Việt Nam yêu nước theo lời kêu gọi của 20 tổ chức dân sự xuống đường biểu tình ôn hòa để phản đối Trung cộng xâm lấn vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Lực lượng thứ hai là của đảng cộng sản, họ cũng xuống đường biểu tình nhưng không phải để phản đối Trung cộng xâm lấn vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà để trà trộn vào các cuộc biểu tình yêu nước, tổ chức những cuộc bạo loạn, đập phá các cơ sở kinh doanh nước ngoài, cướp của, giết người, kích động, mua chuộc công nhân và các thành phần bất hảo trong xã hội gây rối, đốt phá hãng xưởng, hôi của... như chúng ta đã thấy tại khu công nghiệp Việt Nam - Singapore 1, Việt Hương và Sóng Thần 1 ở Bình Dương và công ty Formosa ở Vũng Áng, Hà Tĩnh. Mục đích chính của họ là "gắp lửa bỏ tay người", "thọc gậy bánh xe" làm cho cuộc biểu tình của người Việt Nam yêu nước mất chính nghĩa và trở nên xấu đi trước công luận của nhân dân Việt Nam và quốc tế.

Với độc chiêu này đảng cộng sản thu được những mối lợi sau:

1- Dập tắt được đợt biểu tình chống Tàu xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế nước ta trong những ngày đầu tháng 5 năm 2014 mà không bị người dân trong nước và thế giới quy tội là theo Tàu đàn áp người yêu nước, hơn nữa còn được mang tiếng là yêu nước.

2- Hóa giải được các cuộc biểu tình chống Trung cộng tiếp theo sau đó, cụ thể như các cuộc biểu tình: Ngày 18 tháng 5 tại Sài Gòn, Hà Nội, ngày 19 tháng 5 tại Vinh / Nghệ An, ngày 04 tháng 6 tại Sài Gòn, ngày 19 tháng 6 tại Hà Nội, tất cả đều bị công cụ của đảng ngăn cấm, trấn áp không nương tay mà không tạo ra được phản ứng tích cực nào trong quần chúng nhân dân trong và ngoài nước cũng sự như phê phán của dư luận quốc tế. Và từ đó (05/2014) cho đến nay chưa có một cuộc xuống đường biểu tình nào được tổ chức mặc dù tình trạng xâm lấn của Trung cộng càng ngày càng ngang ngược trắng trợn và thái độ của đảng CSVN càng ngày càng phục tùng qụy lụy.

3- Có lý do để đàn áp những cuộc biểu tình xảy ra trong tương lai với cái cớ là phá hoại kinh tế và an toàn xã hội.

4- Làm xấu đi hình ảnh biểu tình của nhân dân Việt Nam phản đối sự xâm lấn của Tàu và gieo ảnh hưởng không tốt đến những cuộc xuống đường biểu tình với các mục tiêu chính đáng khác của nhân dân Việt Nam dưới chế độ độc tài như xuống đường biểu tình đòi tự do, dân chủ, quyền con người, công bằng xã hội trong tương lai.

5- Gây ra tâm lý hoang mang, hụt hẩng đối với những người tham gia biểu tình, tác động tiêu cực vào lòng tin của nhân dân đối với những tổ chức biểu tình, gây khó khăn cho sự vận động dân chúng tham gia biểu tình vào những lần kế tiếp...

Để bảo đảm cho quyền cai trị độc tôn và vĩnh viễn, đảng cộng sản không thiếu và cũng không ngại dùng mọi thủ đoạn dồn phong trào đấu tranh vào thế bí để giành phần thắng về mình, cụ thể như hành động "gắp lữa bỏ tay người" như đã nêu trên. Chúng ta không thể ngăn họ được và ngược lại chúng ta cũng không thể không đấu tranh, điều chúng ta có thể làm trong những tình huống như vậy là bình tâm, sáng suốt phân biệt trắng, đen, chính, tà, nhanh chóng vạch trần những âm mưu đen tối của họ trước nhân dân Việt Nam và công luận quốc tế để đem lại hậu thuẫn cho mình và sau đó thì "chó sủa mặc chó, đường ta ta cứ đi".

Vì tương lai của đất nước, vì tương lai của dân tộc, vì tương lai của con cháu sau này, chúng ta không để những mưu ma chước quỷ của đảng cộng sản làm chùn bước trên con đường đấu tranh giành lại quyền làm chủ đất nước cho toàn dân và bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ lãnh thổ cho tổ quốc. Đồng bào ơi, hãy đạp lên vũng lầy tội ác do đảng cộng sản tạo ra mà đi.

Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi.
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dù cho thây phơi trên gươm giáo.
Thù nước lấy máu đào đem báo.
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Người công dân luôn vững bền tâm trí,
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi,
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.
Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ,
Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ,
Thoát cơn tàn phá vẻ vang nòi giống,
Xứng danh nghìn năm giống Lạc Hồng!

Lê Dủ Chân
danlambaovn.blogspot.com

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

CS Ở Đâu Cũng Bị Chống
Vi Anh

Có tin phái đoàn của CSVN do Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng cầm đầu đến Mỹ dự hội nghị thượng đĩnh Mỹ-ASEAN, trong hai ngày 15 và 16 tháng Hai, 2016 tại Sunnylands, thành phố Rancho Mirage, Nam California. Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản Và Tay Sai liền kết hợp cùng các Cộng Đồng, Hội Đoàn tổ chức cuộc biểu tình chống CSVN, đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải tôn trọng Nhân Quyền của người dân mà CSVN đã ký kết trong Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái bình dương.

Ngoài ra trên truyền thông đại chúng Mỹ Việt xuất hiện một số vận động chữ ký các cơ quan đoàn thể chánh trị của người Mỹ gốc Việt kiến nghị yêu cầu TT Obama đặt vấn đề nhân quyền đối với phái đoàn của CSVN. Đảng Việt Tân ở Mỹ kết hợp với tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới RSF trụ sở ở Paris, Pháp, vào ngày 12/2 cho đăng trên tờ the Huffington Post, kêu gọi Hà Nội phải cam kết cải thiện tự do thông tin ở trong nước đổi lấy thỏa thuận mậu dịch tự do. Tổ chức Bảo vệ Ký giả - CPJ, trụ sở tại Hoa Kỳ gửi thư cho TT Obama bày tỏ quan ngại về tình hình tự do báo chí tại khu vực Đông Nam Á. CPJ kêu gọi chính quyền Washington, khi theo đuổi mối quan hệ chiến lược với 10 nước ASEAN cần phải đặt ưu tiên tăng tiến tự do báo chí như điều kiện tiên quyết trong phát triển mối quan hệ chặt chẽ hơn với từng nước cũng như với cả khối..

Những cuộc biểu tình, đăng báo, phản đối, chống đối CS, người Việt ở Hải ngoại đã làm cả 40 năm rồi, và còn làm nữa. Người Việt biểu tình chống Thủ Tướng VC Phan văn Khải công du Mỹ và Canada. Người Việt biểu tình chống Chủ tịch Nước VNCS Trần đức Lương ở Pháp, Hòa Lan, và Bỉ. Người Việt biểu tình ở Úc chống Truyền hình VC, đã tắt đài VT4, và đang chống CS Hà Nội cho văn công sang tuyên truyền quốc ngoại. Âu Mỹ Úc ở đâu, lúc nào xuân hạ thu đông, người CSVN nào xuất hiện, việc gì của CSVN làm công khai ở hải ngoại, người Việt cũng chống, cũng biểu tình chống.

CS Hà Nội là chế độ chánh trị gì mà người cầm đầu đi đâu, lời nói và hành động chỗ nào cũng bị chính đồng bào mình chống đối. Thủ Tướng Chánh phủ Phan Văn Khải, Nguyễn tấn Dũng, Chủ tịch Nước Trần đức Lương, Trương tấn Sang, Tổng bí Thư Nguyễn phú Trọng đi Mỹ, đi Âu người Việt đều hàng hàng lớp lớp biểu tình chống.

Còn việc làm và lời nói của CS Hà nội mới nghe qua tuy ngọt mật, nào Việt Kiều là “khúc ruột ngàn dặm của quê hương, bộ phận không tách rời của dân tộc”, nhưng thực tế đoàn văn công VC đi tới đâu bị tẩy chay tới đó, bị biểu tình chống văn hóa CS nọc độc, tuyên truyền bịp bợm đến đó. Tiếng nói phát thanh phát hình dù nghi trang đi tới đâu là bị biểu tình “tắt đài” ở đó. Mà số người biểu tình ở Mỹ, ở Úc - tuy thì giờ là tiền bạc, tuy đất rộng đường dài, Úc chiếm nguyên một châu, Mỹ chiếm gần nửa tây bán cầu -- mà lúc nào cũng có hàng ngàn người bỏ công ăn việc làm, lặn lội đến để chống CS.

Chế độ CS Hà Nội là chế độ gì mà biểu tượng đảng kỳ, và quốc kỳ bị đồng bào gọi là cờ máu, chỉ ru rú như gián ngày trong bốn bức tường của sứ quán, ló ra đâu là bị đồng bào biểu tình triệt hạ. Trong khi đó quốc kỳ VNCH dù không còn pháp nhân công pháp nữa, vẫn chẳng những được người Việt Hải Ngoại chào kính mà còn được dân chúng và nhiều chánh quyền địa phương ở ngoại quốc công nhận như biểu tượng, di sản tự do, dân chủ, nhân quyền VN - là chính nghĩa đối đầu với CS Hà Nội.

Những câu hỏi này người Việt Hải ngoại đã trả lời khẳng định từ lâu, từ khi dùng thuyền nan vượt đại dương, gạt nước mắt tạm rời nước nhà ra đi tìm tự do cho mình và hy vọng đem lại tự do cho bà con còn bị kẹt ở lại. Và người Việt hải ngoại cũng đã và đang làm cho dân chúng và chánh quyền nhiều nước trên thế giới, nơi có người Việt định cư ít nhiều đã tỏ rõ. Người Việt Hải Ngoại không chống đất nước và nhân dân VN. Người Việt Hải ngoại chống là chống cái chế độ độc tài của CS Hà Nội, cái chủ nghĩa CS độc tài đảng trị, toàn diện vừa theo kiểu Staline vừa theo kiểu Mao Trạch Đông gần đây thì đã đổi màu xanh vỏ nhưng đỏ lòng để sống sót. Người Việt Hải ngoại chống nhà cầm quyền CS lấy quyền lợi Đảng để trên quyền lợi quốc gia dân tộc, làm cho xã hội VN quằn quại vì nạn tham nhũng, vì nạn sang đoạt đất ruộng của dân, dân tộc kỳ thị Bắc, Nam, nhà tu không được yên ổn tu hành, đồng bào thiểu số không được nâng đỡ. Chủ nghĩa mà nhà cầm quyền đang lấy làm ý thức hệ là chủ nghĩa mà Nhân Loại trong đó có người Việt trong ngoài nước đều biết, là một chủ nghĩa thử nghiệm thất bại nhưng sát nhân, đã giết hàng triệu người, trong đó ác độc nhút là giết chính đồng bào mình, như ở Liên xô với Staline, ở Trung Cộng với Mao Trạch Đông, ở VNCS với Hồ Chí Minh.

Bằng cớ đã rõ nhưng chưa có tính “tổng quát” trong chính trường quốc tế vì lý do quyền lợi của một số quốc gia. Mỹ dù có bang giao với Hà Nội nhưng vẫn có lần đặt CS Hà nội trong qui chế “cần quan tâm đặc biệt” vì lý do vi phạm tự do tín ngưỡng. Chính CS Hà nội thừa nhận vấn đề nhân quyền VN là “trở ngại trung tâm” trong bang giao với Mỹ, và phong trào quốc kỳ VN được hàng chục chánh quyền dân cử tiểu bang, hàng trăm chánh quyền dân cử quận hạt, thành phố Mỹ thừa nhận, là “một xúc phạm” đối với CS Hà Nội. Vấn đề nhân quyền là vấn đề Quốc hội Mỹ quan tâm sâu sắc và làm mất thì giờ Ô. Đại sứ Mỹ tại VN phải nay nhắc nhở, mai đòi hỏi, mốt yêu cầu cải thiện.

Trên thế giới, ngoài nước VN, lần đầu tiên xuất hiện và đang hình thành một VN hải ngoại như Pháp Quốc Hải ngoại thời Đức Quốc Xã chiếm Pháp, gắn bó với nhau qua mẫu số chung chống CSVN, tiếp tay đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho trên 90 triệu đồng bào trong nước. Hàng 300 ngàn Nguyễn Trường Tộ trẻ trung được trang bị khoa học tiền tiến của Tây Phương, ngay trong lòng văn minh Tây Phương. Hàng triệu những nhà ngoại giao dân gian, làm công tác ngoại giao giữa dân với dân, làm công tác dân vận với người địa phương nơi quê hương thứ hai, làm chánh trị với chánh quyền dân cử để tạo áp lực gián tiếp với CS Hà nội, và đấu tranh trực diện với CS Hà Nội từ ý thức hệ chánh trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội trên bình diện thực tế sinh động.

Thế cho nên dù gồm thâu được giang sơn, “nắm” được người dân trong nước như những con tin, bòn vét tiền rừng bạc biển của đất nước, thuế má mồ hôi nước mắt của hơn 90 triệu người Việt trong nước, có an ninh lộ trình bang giao, có túi bạc ngân sách quốc gia kè kè, mà CS Hà Nôi đi tới đâu đều phải vào cửa hông ra cửa hậu. Ở Âu, ở Mỹ, ở Úc, ở đâu người Việt cũng chống Cộng. Và nhiều dấu chỉ cho thấy còn chống dài dài, cho đến khi nào không còn CS mới thôi./.(VA)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ngu như dư luận viên, điên như đảng cộng sản
Dâu bể tang thương



(Danlambao) - Ý định ban đầu của tôi chỉ là viết một bình luận để trả lời lại thách thức của một dư luận viên cộng sản có nickname là lính già Bolsa. Sau đó vì nhận thấy bình luận quá dài thì mất hay, nên quyết định phát triển thành một bài viết hoàn chỉnh để bạn đọc và cả các dư luận viên cùng trải nghiệm. Trước đây tôi đã từng viết một bài phản biện để vạch rõ sự ngu dốt và hàm hồ của đám bồi bút cộng sản (1). Không ngờ hôm nay lại phải tiếp tục nhọc lòng vì bọn dư luận viên, có lẽ là số mệnh chăng?

Ban tuyên giáo CSVN lãng phí tiền thuế của nhân dân vô tội vạ để nuôi một đám dư luận viên vô tích sự chuyên làm nhiệm vụ lên các diễn đàn chính trị như Danlambao để viết nhăng cuội. Mục tiêu của bọn chúng không gì khác hơn là ca ngợi, tung hê Hồ Chí Minh và ĐCSVN; chửi bới, nhục mạ, chia rẽ những người tham gia viết bài và bình luận; phỉ báng lá cờ vàng ba sọc đỏ và thể chế VNCH trước đây; điều tra, thăm dò lý lịch những người chống cộng để có biện pháp khủng bố... Tuy rằng có nguồn tài lực khá dồi dào nhưng CSVN cũng không chiêu mộ được bao nhiêu kẻ có thực tài chịu làm những chuyện xấu xa. Do đó chúng đành phải cắn răng thuê mướn một bọn không ra gì cả về nhân cách lẫn trình độ. Bọn này hoặc là bị điên, ngu bẩm sinh, hay bị tẩy não hoàn toàn nên rất cuồng tín, mê muội trong tranh luận, đả phá. Đám khác thì để có tiền thỏa mãn những nhu cầu, dục vọng thấp hèn của bản thân nên nhắm mắt viết bừa hoặc sao chép, cắt dán những luận điệu do CSVN tung ra.

Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ bàn về tên dư luận viên lính già Bolsa. Tuy nhiên bạn đọc có thể coi như là mẫu số chung vì dư luận viên vốn được đúc ra từ một khuôn mẫu, chỉ thêm thắt, nhào nặn chút đỉnh cho có vẻ khác biệt. Lai lịch tên lính già Bolsa này ít người biết (có thể là một hoặc nhiều dư luận viên dùng chung một nickname) và thật ra cũng không cần biết vì vốn dĩ có mấy ai quan tâm đến một cục đất sét nhão nhoẹt nước mưa chẳng thể nặn thành hình thể? Nhiệm vụ chính của tên này trên diễn đàn Danlambao là:

- Bôi nhọ, xúc phạm lá cờ vàng và chính thể VNCH;

- Chế giễu, khích bác những quân, cán, chính VNCH trước đây;

- Tung hô, ca tụng Hồ Chí Minh và ĐCSVN, những tên tội đồ dân tộc;

- Dụ dỗ, lôi kéo bạn đọc sa đà vào những trận cãi vã kéo dài để làm loãng không khí bài chủ nhằm tạo tâm lý chán ngán cho các bạn đọc khác;

- Chụp mũ tất cả mọi người đều là thành phần VNCH để bạn đọc nghĩ rằng Danlambao có vai trò quảng cáo cho VNCH chứ không phải là diễn đàn đấu tranh chống cộng sản vì tương lai dân tộc;

Mỗi khi lính già Bolsa xuất hiện đều đẩy số lượng bình luận trong bài chủ lên cao đột ngột nhờ vào khả năng bốc phét bán trời không văn tự; tốc độ cắt dán ý tưởng, câu văn của người khác nhanh hơn cả máy bay Su-35 của Nga Xô; lý lẽ ngô nghê và dở hơi hơn cả bệnh nhân ở nhà thương điên Biên Hòa; và quan trọng nhất là da mặt dày hơn cả da tê giác, voi và cá sấu. Thật vậy, khả năng bám trụ của tên này rất đáng nể phục cho dù ban điều hành Danlambao có miệt mài xóa bình luận của hắn đến đâu, cho dù bạn đọc vạch mặt, mắng mỏ, giễu cợt thậm chí bỏ lơ sự hiện diện của hắn. Lính già Bolsa vẫn quyết tâm hoàn thành sứ mạng được chỉ huy giao phó nhằm khẳng định một chân lý: nếu hắn vỗ ngực tự xưng là "vũ trụ đệ nhị cao thủ đần độn" nhờ đã tu luyện "cộng sản tuyệt kỹ" và "Hồ Chí Minh thần công" thì tuyệt nhiên không có ai dám tranh giành ngôi vị số một.

Chỉ có điều "mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên" và "vỏ quýt dày thì móng tay nhọn". Vì lính già Bolsa "tâm tà bất chính" nên dù phí công, tốn sức đến đâu cũng chẳng gặt hái được chút thành quả nào. Thật là "Dã Tràng xe cát biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì"! Những người điều hành trang Danlambao vẫn lạnh lùng xuống tay xóa thẳng cánh những lời lẽ nhảm nhí, điên khùng của lính già Bolsa. Bạn đọc nào nghiêm khắc thì mắng chửi tên lính già này không tiếc lời. Bạn đọc nào dễ chịu thì biến hắn thành một tên hề rẻ tiền, rỗng tuếch chuyên làm trò khỉ múa rối để mua vui cho mọi người. Không biết trong mắt ban tuyên giáo CSVN, nuôi lính già Bolsa làm dư luận viên có khác gì nuôi một con chó suốt ngày sủa ăng ẳng để canh nhà hay không? Nếu câu trả lời là đúng thì lính già Bolsa có thể chết đi là vừa vì có tiếp tục sống cũng vô ích cho đời mà thôi.


Nói riêng cùng lính già Bolsa



Phần trên là những ý kiến người viết thay mặt bạn đọc gửi đến lính già Bolsa vì có lẽ không ai muốn hạ mình đối đáp với một đống phế thải như vậy, nên coi như mình chịu thiệt thòi. Còn sau đây là phần trả lời người viết dành riêng cho những lời lẽ hạ cấp của lính già: "Là thằng nào, cỡ ĐT Phan Văn Huấn, Biệt Cách Dù không" (2). Trước hết thành thật khuyên lính già Bolsa về học lại chính tả đi, đã già còn viết sai be bét như vậy chỉ tổ làm trò cười cho mấy cháu học sinh tiểu học. Thứ hai, lính già nên thận trọng khi gõ bàn phím vì "bút sa gà chết". Viết bừa bãi, bạt mạng như vậy rất dễ lòi cái ngu dốt ra. Người khôn ngoan phải hiểu điều này: không bao giờ so sánh những điều không thể so sánh. Do đó lời thách đố của lính già vừa khiếm nhã, ngạo mạn, lại còn rất ngu xuẩn.

Đại tá Phan Văn Huấn là chỉ huy của liên đoàn 81 biệt kích nhảy dù, một đơn vị cực kỳ thiện chiến thuộc quân lực VNCH trước năm 1975. Cùng với các chiến hữu của mình, ông đã lập nên những chiến công lừng lẫy, đánh cho quân cộng sản thua tan tành, điển hình là trận An Lộc. Tinh thần quả cảm, lòng yêu nước của những người lính biệt kích nhảy dù đã khiến cô giáo Pha xúc động ứng tác nên hai câu thơ bất tử "An Lộc địa sử ghi chiến tích, biệt kích dù vị quốc vong thân" (3). Đây cũng là một trong những lực lượng cuối cùng buông súng (chứ không đầu hàng) sau lời kêu gọi của tổng thống Dương Văn Minh. Một kẻ vô lại như lính già Bolsa mà cũng dám nhắc đến đại tá Huấn cùng biệt kích dù thì cũng phải khen ngợi lá gan lính già thật không nhỏ chút nào.

Về phần người viết, Dâu bể tang thương, như đã từng trình bày qua: ra đời sau năm 1975, chưa từng cầm súng ngày nào, sinh ra trong gia đình línhBắc Việt (xuất thân thế nào, thừa nhận thế đó chứ không làm trò "núp bóng tư nhân trong vỏ quốc doanh" như lính già Bolsa chuyên giả dạng người khác đâu). Nghề nghiệp chuyên môn là nghiên cứu khoa học. Vì không thể đồng hành cùng bọn ô hợp tiến sĩ giấy đông lúc nhúc như lăng quăng nở sau cơn mưa ở Việt Nam nên từ khi tuổi đời còn rất trẻ (mới ngoài hai mươi) đã phải dứt áo ra đi tìm nơi dung thân và phát triển sự nghiệp nơi đất khách quê người. Đời sống hiện nay cũng tương đối ổn định nhưng lòng vẫn canh cánh nghĩ về tổ quốc, về đồng bào thân yêu đang còn rên siết, lầm than dưới gót giày cộng sản.

Bây giờ kẻ ngược, người xuôi
Biết bao giờ lại nối lời nước non
Dẫu rằng sông cạn, đá mòn
Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ…

(Câu 1973-1976, Truyện Kiều, Nguyễn Du)


Vì lẽ đó, ngày qua ngày vẫn đều đặn có mặt trên Danlambao để đọc bài, viết bài, bình luận với mong mỏi góp chút sức mọn vào công cuộc tranh đấu, giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Việt cộng và Tàu cộng. Người viết tuy sinh ra và lớn lên trong cái nôi giáo dục XHCN nhưng bằng đầu óc, lòng yêu nước, lương tri của một người Việt Nam bình thường đã tự tìm hiểu, giải độc cộng sản cho mình. Đồng thời cũng rất ngưỡng mộ những chiến sĩ VNCH can trường, nhất là những người lính hải quân đã dũng cảm đương đầu với bọn xâm lược Tàu cộng năm 1974 tại Hoàng Sa, chấp nhận nhuộm máu cùng biển đảo để đền nợ nước chứ không hèn hạ như đám cộng sản bán nước cầu vinh, chủ nhân của lính già Bolsa.

Phần kết


Lính già Bolsa đọc đến đây đã nhận ra sự ngu ngốc, dại dột của mình khi thách thức, so sánh giữa đại tá Phan Văn Huấn và người viết chưa? Hãy rút kinh nghiệm cho bản thân từ bài học này: mọi sự so sánh đều là khập khiểng giữa những người xuất thân khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, nghề nghiệp khác nhau. Điểm tương đồng giữa đại tá Phan Văn Huấn và người viết nếu có chính là tình yêu nước và lòng căm thù giặc. Yêu nước là yêu nước, không thể đo lường mức độ. Mỗi người, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh, sẽ biểu hiện lòng yêu nước của mình bằng phương cách khác nhau, dưới hình thức khác nhau. Tuy nhiên có một điều chắc chắn: tinh thần yêu nước không phải là "một bộ phận của cách mạng quốc tế" (4) như tên Hồ Chí Minh, tổ sư của lính già Bolsa đã nói đâu.

Nếu thật sự lính già Bolsa già như cái nickname của mình thì đừng làm những chuyện hèn hạ, bẩn thỉu để cho tuổi trẻ phải mỉa mai, gọi mình là già dịch, già mất nết. Nếu muốn chơi trò ve sầu lột xác, trẻ giả dạng già để thực hiện những mưu đồ bất chính do đám đầu sỏ tuyên giáo CSVN vạch ra nhằm đối phó với làn sóng chống cộng ngày càng dâng cao trên các diễn đàn như Danlambao thì hãy nản lòng, thối chí đi. Thứ nhất, trình độ thấp kém, hạn hẹp; tư cách tầm thường như lính già Bolsa chẳng mảy may gây chú ý hay thuyết phục được ai. Ngược lại, sẽ khiến cho bạn đọc coi thường dư luận viên một tỉ lần thay vì một ngàn lần. Thứ hai, cái thiện thắng cái ác, chính nghĩa khuất phục hung tàn là quy luật của cuộc sống. Một nhóm dư luận viên (trong đó có lính già Bolsa) lại nuôi ảo tưởng muốn làm ngược lại thì sớm hay muộn rồi cũng sẽ phải chuốc lấy nhục nhã và thất bại vào thân. "Châu chấu đá xe", "đom đóm khoe ánh sáng với mặt trăng" chính là dư luận viên nói chung và lính già Bolsa nói riêng đó. Ngày tàn của CSVN không còn xa, ngày mạt vận của dư luận viên cũng đã gần kề, cứ tiếp tục hung hăng, phách lối đi. Đến lúc đó, dù có quỳ lạy, khóc lóc, van xin cũng không khiến ai mủi lòng thương hại, tha thứ đâu.

22/02/201
Dâu bể tang thương

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Vì sao cựu-tân TBT Nguyễn Phú Trọng trắng trợn nói sai sự thật như thế?
Thiện Ý



Chúng tôi gọi cựu-tân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vì ông Trọng nguyên là Tổng Bí thư Khóa XI, nay lại được Đại hội đảng XII tái bầu làm Tổng Bí thư Khóa XII.Trong cuộc họp báo kết thúc đại hội, ông Nguyễn Phú Trọng đã nói sai sự thật hai điều:

- Một là ông rất ngạc nhiên «tôi không ngờ» khi được tái cử ở tuổi 72, quá với tuổi qui định phải về hưu đến 7 tuổi, nhưng là đảng viên Ông “đành phải chấp nhận sự phân công của Đảng”, không được chối từ.

- Hai là ông đã lên tiếng bác bỏ những chỉ trích về chế độ độc tài toàn trị của đảng Cộng sản VN. Theo ông, chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách «dân chủ hơn hẳn» một số nước có tổ chức phổ thông đầu phiếu “nhân danh là dân chủ nhưng cá nhân quyết định tất cả” và cho rằng Việt Nam “dân chủ đến thế là cùng”.

Hai câu hỏi được đặt ra: Vì sao ông Trọng giám nói sai sự thật như thế và khi nào Ông Trọng mới dám nói đúng sự thật?

I/- VÌ SAO ÔNG TRỌNG DÁM NÓI SAI SỰ THẬT NHƯ THẾ?


Nhiều người hẳn sẽ ngạc nhiên tự hỏi tại sao người đứng đầu đảng CSVN dám nói dối một cách trắng trợn và công khai như thế. Ai cũng biết trong nhiều ngày tháng trước Đại hội XII, ông Trọng và bè cánh đã dùng nhiều thủ đoạn nham hiểm nhằm loại trừ đối thủ chính trị của mình là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và giữ cho kỳ được chiếc ghế tổng bí thư đầy quyền uy của mình. Đồng thời ai cũng biết ông Trọng là một tổng bí thư có học vị cao nhất – Tiến sĩ - so với 10 đời tổng bí thư trước, mà sao ông lại có thể coi thường công luận quốc tế cũng như quốc nội như thế.

Thế nhưng đối với những người am tường về chủ nghĩa cộng sản, thì không lạ gì trước những lời nói sai sự thật một cách ngang ngược như thế của người đứng đầu đảng CSVN. Đúng ra là phải khen ông Trọng đã đóng đúng vai trò người phát ngôn cao nhất của đảng CSVN, một chính đảng xây dựng trên nền tảng một chủ thuyết mang tính không tưởng, nên đã phải dùng mọi thủ đoạn gian trá khi đi vào thực hiện. Vì trong cuộc họp báo, Ông Trọng đã thành thật thể hiện trung thực cá tính gian ngoan, xảo trá tiêu biểu của con người cộng sản và tính tuyên truyền láo khoét của đảng CSVN để lừa mị lôi kéo quần chúng. Ông còn ngụy biện, rằng “một đất nước không có kỷ cương thì rối loạn, mất ổn định sẽ không thể phát triển được”.

Trong diễn văn bế mạc đại hội, ông Nguyễn Phú Trọng tái khẳng định tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng con đường “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, mà chính ông và toàn đảng của ông thừa biết là không thể thực hiện được. Vì chính ông cũng từng than vãn “không biết đến hết thế kỷ này có xây dựng được chủ nghĩa xã hội hay không”.

Toàn bộ kịch bản diễn ra từ trước cho đến ngày Đại hội XII kết thúc đã được che đậy bằng sự gian trá. Cuộc họp báo kết thúc đại hội của ông Nguyễn Phú Trọng hôm 28-1-2016 vừa qua chẳng qua chỉ làm công việc của một phát ngôn nhân chính thức của đảng nhằm thành đạt mục tiêu tối hậu của “Đảng ta”. Mục tiêu tối hậu đó là gì, có lợi hay có hại cho dân, cho nước? Thực tế sẽ có câu trả lời trong vòng 5 năm tới.

II/- KHI NÀO ÔNG TRỌNG MỚI NÓI ĐÚNG SỰ THẬT?

Như trên chúng tôi đã nhận định, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói dối là để phục vụ cho nhu cầu của một kịch bản vừa được thực hiện bằng sự gian trá để giúp đảng CSVN thoát khỏi một tình thế nan giải, để có thêm thời gian khắc phục nhằm thành đạt mục tiêu tối hậu qua một kịch bản tiếp theo sẽ được thực hiện trong vòng 5 năm tới (2016-2021). Vậy ông Trọng sẽ chỉ nói thật khi đã đạt được mục tiêu tối hậu của đảng CSVN, bất kể muc tiêu ấy tốt hay xấu.

Nếu mục tiêu đó chỉ có lợi cho Đảng, bất lợi cho dân, cho nước, thì đó là mục tiêu xấu. Ví dụ như để cho đảng CSVN có thêm thời gian, cơ hội củng cố vững chắc chỗ dựa Bắc Kinh, để kéo dài quyền thống trị độc tôn trong một chế độ tài, độc đảng. Trong mục tiêu này, nếu ông Tổng Trọng tồn tại đến hết nhiệm kỳ 5 năm, an toàn về hưu, có thể ông cũng sẽ nói sự thật như các lãnh đạo đảng và nhà nước về hưu trước ông đã nói thật, sau khi ra khỏi vòng cương tỏa của quyền lực, danh lợi, (xa như Tướng Trần Độ, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, gần như Phó Thủ tướng Trần Phương, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh…và rất nhiều đảng viên lớn nhỏ khác) nếu như có dũng khí, không sợ mất ưu quyền, đặc lợi; nếu không thì ông Trọng vẫn tiếp tục “ngậm miệng ăn tiền” cho đế lúc nhắm mắt xuôi tay hay cho đến khi chế độ của đảng CSVN sụp đổ như ở Liên Xô và hầu hết các nước XHCH trên thế giới.

Nếu mục tiêu đó có lợi cho dân, cho nước, thì đó là một mục tiêu tốt.Ví dụ như trong vòng 5 năm tới tiếp tục nương theo chiều hướng dân chủ hóa và thị trường tự do hóa toàn cầu, khắc phục mọi khó khăn trở ngại, củng cố phát triển nội lực, đủ thế lực để thoát Trung, tiến tới chế độ dân chủ, đa đảng, ông Trọng sẽ nói thật và làm thật khi có đủ các điều kiện cần và đủ cho một sự chuyển đổi qua mục tiêu tối hậu là chế độ dân chủ đa đảng.

III/- KẾT LUẬN.

Tựu chung còn đảng CS, còn chế độ độc tài, độc đảng tại Việt Nam, ông Trọng còn phải nói dối. Ông chỉ có thể nói thật khi Việt Nam có chế độ dân chủ, đa đảng. Ngày nào đảng CSVN còn độc quyền thống trị đất nước, Ông Tổng Trọng hay bất cứ lãnh đạo cấp cao cấp thấp nào của đảng và nhà nước CSVN cũng vẫn phải nói dối không ngượng mồm, nói dối theo cơ cấu và mệnh lệnh của cái gọi là “Lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách”.

Nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước sẽ chăm chú nhìn những gì Ông Trọng và đảng CS của ông làm trong 5 năm tới, để xem có lợi hay có hại cho dân cho nước, để có thái độ và hành động tiếp tay hay ngăn chặn kịp thời.

*Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Bám Trung Cộng để bảo vệ đảng

Ngô Nhân Dụng
Sau Ðại Hội 12 của đảng Cộng Sản Việt Nam, nhiều người đoán rằng nhóm lãnh đạo mới vốn nổi tiếng thân Trung Cộng thì họ sẽ không cần phải bày tỏ thái độ quá khúm núm trước các “đồng chí anh em” nữa vì tất cả đã được Bắc Kinh chuẩn y rồi. Thỉnh thoảng cứ cho dân Việt được kêu la khóc lóc chống đế quốc xâm lược, không cần phải đàn áp nặng nề. Miễn là những món dâng lên các “đồng chí anh em” ăn miếng nào ra miếng nấy, là “hẩu lớ!”

Cho nên trong ngày 17 Tháng Hai năm 2016 vừa qua ở Hà Nội, buổi lễ tưởng niệm 60,000 đồng bào và tử sĩ bị quân Trung Cộng tàn sát trong cuộc chiến tranh Trung-Việt năm 1979 không bị phá. Phản ứng của chính quyền Cộng Sản khác hẳn hai năm trước. Ngày 16 Tháng Hai năm 2014, không những công an cộng sản ngăn chặn những người muốn đi dự lễ tưởng niệm từ lúc mới bước chân ra cửa nhà, mà còn xua công an côn đồ trai gái tới “nhảy múa” ngay tại chỗ trong giờ hành lễ. Nhảy múa trên xác chết là một cách chửi thề: “Chúng mày muốn lễ hả? Bà múa cho mày mở mắt ra! Lễ cái này này!”

Năm 2014, đảng Cộng Sản cố ý “chửi cha đồng bào và các chiến sĩ.” Vì đám công an côn đồ phát ra một bài hát Tầu để nhảy theo điệu nhạc Cha cha cha! Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi tiết lộ điệu nhạc cổ này có tên “Trung Quốc cáp cáp” (中國恰恰). Lời ca Tàu dịch sang tiếng Việt khoe rằng: “Cha cha cha / Cô gái Trung Quốc xinh đẹp như đóa hoa / Cô nương có đôi môi hồng tươi / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi / cha cha cha / Là lúc tiết trời hoan lạc / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi/ cha cha cha...” Những người không biết tiếng Tàu cũng hiểu rằng họ chửi cha mình!

Năm nay Ðảng không “chửi cha” đồng bào Hà Nội nữa. Ông Nguyễn Phú Trọng có thể xoa bụng tự khen: “Ðấy nhé, đứa nào dám bảo tớ thần phục Trung Quốc?”

Nhưng trong tuần trước, lễ tưởng niệm được nhiều người dân Sài Gòn tổ chức thì công an vẫn tới từng nhà ngăn chặn và đánh phá cuộc lễ. Những bông hoa dâng cúng bị đám côn đồ đạp nát dưới chân. Tại sao lại phân biệt đối xử như vậy? Có lẽ bởi vì ông Ðinh La Thăng, mới nhậm chức thành ủy, rất táo bạo. Khi làm bộ trưởng Giao Thông Vận Tải ông đã từng ra lệnh đốt hết những chiếc xe gắn máy chạy đua “cho chúng nó hết đua!” Phải bao nhiêu người can ông mới tha. Hoặc vì ông biết dân Sài Gòn “khó dạy” hơn dân Hà Nội; cho nên cứ cấm tiệt cho xong chuyện.

Ở Hà Nội, ông Nguyễn Phú Trọng có thể yên tâm cho người ta đi thắp hương khấn vái các tử sĩ và đồng bào chết oan trong cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 vì biết rằng mấy nén hương thắp lên rồi cũng tàn, đâu lại vào đó, tượng đài Lý Thái Tổ mai mốt lại chỉ còn “rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.” Ngay những tấm bia tưởng niệm các liệt sĩ, kể cả bia ghi công “Sư Ðoàn 33 đánh bại và chặn đứng quân Trung Quốc xâm lược” cũng bị đục bỏ tàn nhẫn, mà cả một sư đoàn cho đến dân địa phương không ai dám hó hé nói một tiếng! Dân và quân Việt Nam hiền lành, dễ bảo như vậy, các đồng chí anh em Trung Quốc không có gì phải lo!

Giới lãnh đạo Trung Nam Hải, từ Mao Trạch Ðông tới Tập Cận Bình đều rất thực tế. Họ cần kết quả cụ thể, chứ không phải chỉ muốn nghe nịnh hót, mặc dầu có nịnh hót thì vẫn hơn. Năm 1950 khi tiễn phái đoàn các cố vấn Trung Cộng qua chỉ đạo Cộng Sản Việt Nam, Mao Trạch Ðông đã nhắc nhở họ hãy nhớ chuyện Mã Viện đánh Hai Bà Trưng ở nước ta. Ông ta dặn dò các cố vấn giữ ý tứ, đừng khiêu khích tự ái dân tộc của người Việt. Ðám cố vấn này, mỗi khi khuyến cáo mà quân đội Việt Minh không nghe đều phải làm áp lực qua Hồ Chí Minh mới được toại ý. Năm 1951, Hồ Chí Minh gặp Mao đã phải lên tiếng xin Mao chỉ thị cho cố vấn La Quý Ba hãy đáp ứng lời mời đến dự các phiên họp của Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam. Mao đã cho Hồ được thỏa mãn! Chẳng khác nào triều đình Huế mời viên công sứ Pháp dự các phiên họp của cơ mật viện!

Theo đúng tấm gương này, đáng lẽ bây giờ ông Nguyễn Phú Trọng phải mời đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội tới dự các phiên họp Bộ Chính Trị mới xứng đáng là cháu ngoan bác Hồ! Nhưng Bắc Kinh không cần lý đến hình thức bên ngoài. Trung Cộng sẽ tiếp tục bảo vệ chế độ Cộng Sản ở Việt Nam, miễn là cứ cho họ khai thác mỏ bô xít, coi là “chiến lược lớn lâu dài của đảng và nhà nước” như lời ông Nguyễn Tấn Dũng. Miễn là Hà Nội vẫn ký hợp đồng cho người Tầu khai thác rừng Việt Nam ít nhất 50 năm. Miễn là các công ty Trung Cộng vẫn trúng hầu hết các mối thầu xây dựng. Miễn là cứ cho công nhân Trung Cộng sang làm việc không giấy phép, lập các thành phố Trung Cộng khắp ba miền Nam Trung Bắc và cao nguyên! Miễn là hải quân Việt Nam không được phép bén mảng tới gần những hòn đảo Hoàng Sa đã bị Tàu chiếm. Miễn là đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn ngậm miệng không dám thưa kiện Trung Cộng ra các tòa án quốc tế sau khi cho tầu hải giám cướp phá, giết hại các ngư dân Việt Nam.

Cộng Sản Trung Quốc có thể yên tâm cho phép dân Việt lâu lâu thắp hương tưởng niệm các tử sĩ năm 1979, năm 1988, cả những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa tử chiến ở Hoàng Sa năm 1974 cũng được. Bởi vì họ biết đảng Cộng Sản Việt Nam không thể nào rời bỏ cái “vú mẹ!” Công an an cộng sản có khẩu hiệu “Ðảng còn thì mình còn.” Các lãnh tụ Cộng Sản thì biết: “Trung Cộng còn ủng hộ thì mình mới còn!”

Vì thế, ông Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Cộng đã có lần lo lắng đến nỗi hốt hoảng nói: “Tôi thấy lo lắng lắm! Không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già đều có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng cái đó là nguy hiểm cho dân tộc.” Từ trẻ con đến người già ai cũng ghét Trung Quốc, nguy hiểm quá!

Trong một ngàn năm Bắc thuộc, chưa nghe người Việt Nam nào nói một câu như vậy, ngoài các quan cai trị như Tô Ðịnh, Trần Bá Tiên, Cao Chính Bình! Tô Ðịnh đã bị Hai Bà Trưng đánh đuổi. Trần Bá Tiên không đánh lại Triệu Quang Phục phải bỏ về Tàu lo việc trong nhà. Phùng Hưng đánh cho Cao Chính Bình phát bệnh mà chết. Nhờ thế dân tộc Việt Nam mới “Ðứng Vững Ngàn Năm!”

Nhưng thời nay, đảng Cộng Sản Việt Nam biết rằng Trung Cộng còn được ăn thì mình còn! Mất lòng đồng chí anh em thì chính số phận đảng Cộng Sản ở Việt Nam cũng mất. Cho nên ngày mùng 8 Tháng Mười Hai năm 2015, ông Nguyễn Phú Trọng đã thổ lộ tâm sự trước kỳ đại hội đảng thứ 12. Ông Trọng rất lo làm mất lòng Trung Nam Hải. Không dám kiện Bắc Kinh trước các tòa án quốc tế. Không dám cho hải quân ra biển bảo vệ các thuyền ngư dân đang bị “tàu lạ” tấn công. Chỉ vì sợ “đụng độ!” Nguyễn Phú Trọng tuyên bố: “Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình thế nào? Giờ ta có ngồi đây mà bàn tổ chức đại hội đảng được không?”

Hai Bà Trưng, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng lo cho vận mệnh dân tộc. Còn Nguyễn Phú Trọng và đồng đảng bây giờ chỉ lo bảo vệ đảng Cộng Sản! Nước mất không lo, miễn đảng đứng vững được năm nào hay năm đó!

Sang năm sẽ còn một số người Việt Nam vẫn làm lễ tưởng niệm 60 ngàn đồng bào và chiến sĩ bị quân Trung Cộng sát hại. Số người có thể sẽ không đông bằng năm nay. Trong sách giáo khoa môn lịch sử bậc trung học, cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 chỉ được ghi trong 11 dòng! Rồi năm này qua năm khác, dần dần người ta sẽ quên. Những người còn nhớ vẫn được phép khấn vái. Miễn là đảng Cộng Sản vẫn còn ngồi đó để ăn. Mà phần ăn lớn nhất vẫn thuộc về các vị tân thái thú, tân tiết độ sứ, nối gót Tô Ðịnh, Trần Bá Tiên, Cao Chính Bình!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Khi Hiến Pháp bị vi phạm có hệ thống

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Dưới đây tôi sẽ chứng minh Hiến Pháp Việt Nam đã bị vi phạm một cách có có hệ thống. Ðây là một thảm họa quốc gia đã kéo dài. Cả năm bản Hiến Pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 đều bị vi phạm suốt 70 năm nay.

Trước khi nói đến những vi phạm đó, xin đặt vấn đề trách nhiệm thuộc về ai?

Trước hết đó là trách nhiệm của Quốc Hội suốt 13 khóa vừa qua, trên danh nghĩa là “cơ quan quyền lực cao nhất.” Thứ đến là cơ quan hành pháp, bao gồm chính phủ, chủ tịch nước và thủ tướng cùng các bộ trưởng, thứ trưởng, và các thành viên khác. Ở nhiều nước, khi nhận nhiệm vụ, tổng thống phải thay mặt chính phủ đặt tay lên bản Hiến Pháp hoặc Kinh Thánh để tuyên thệ trung thành tuyệt đối với bản hiến pháp. Tội vi hiến bị coi là tội rất nặng.

Về mặt tư pháp, nhiều nước có tòa án hiến pháp, có Hội Ðồng Hiến Pháp, chuyên giám sát việc thi hành Hiến Pháp một cách nghiêm ngặt, khi thấy làm sai Hiến Pháp phải lên tiếng ngay để truy cứu trách nhiệm và xử lý công khai.

Ở nhiều nước không có Hội Ðồng Hiến Pháp, như ở Việt Nam, thì tòa án tối cao và Viện Kiểm Sát Tối Cao phải nhận trách nhiệm này, phải giám sát mọi hoạt động của nhà nước và báo động khi thấy Hiến Pháp bị vi phạm, và kiểm tra việc giải quyết.

Trong Hiến Pháp năm 1980, có thể nói vi phạm nghiêm trọng nhất là Ðiều 4, một điều được mô phỏng theo Ðiều 5 trong Hiến Pháp Liên Xô. Ðiều 4 này khẳng định, “Ðảng Cộng Sản là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhân dân, lãnh đạo xã hội, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.” Trong Ðiều 6 còn thêm một câu rất mỉa mai: “Ðảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến Pháp.”

Trong Hiến Pháp đầu tiên năm 1946, Mục Ba, Ðiều 22 ghi: “Nghị Viện Nhân Dân (Quốc Hội) là cơ quan có quyền cao nhất.” Rõ ràng qua Hiến Pháp 1980, với Ðiều 4 Ðảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã truất quyền của Quốc Hội được ghi trong Hiến Pháp 1946, tự nhận mình có quyền cao nhất, quyền duy nhất lãnh đạo, tự đặt mình cao hơn nhân dân. Hành động này là vi hiến (Theo lời Gorbachov, Liên Xô sụp đổ là do Ðiều 5 trong Hiến Pháp của nước ấy).

Ðảng CSVN đã ngang nhiên vi phạm Hiến Pháp 1946 vì Ðiều 32 trong văn kiện đó quy định “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, phải đưa ra nhân dân phúc quyết.” Quyết định đặt đảng CSVN lên trên Quốc Hội không hề được nhân dân phúc quyết, và đây rõ ràng là một hành động vi hiến cực kỳ nghiêm trọng. Ngay cả Hiến Pháp 1959, trong mục Sửa Ðổi Hiến Pháp, cũng quy định “Hiến Pháp được sửa đổi phải được 2/3 đại biểu tán thành và phải đưa ra toàn dân phúc quyết.” Việc không thực hiện chuyện phúc quyết là một vi phạm trắng trợn Hiến Pháp 1946.

Mới đây, khi Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định Hiến Pháp là thể chế hóa Cương lĩnh của đảng, Hiến Pháp bị đặt dưới Cương lĩnh của đảng, thì đó cũng là một lời tuyên bố vi hiến.

Một điều vi hiến nghiêm trọng khác là ngay trong các điều đầu tiên, Hiến Pháp ghi rõ rằng bỏ phiếu ở nước ta là bỏ phiếu tự do, trực tiếp và kín. Vậy mà đảng CSVN qui định các ứng cử viên độc lập phải được cuộc họp ở phường xóm thông qua, rồi phải được Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức do đảng điều khiển, thông qua, vậy còn gì là tự do, còn gì là trực tiếp, còn gì là kín nữa? Ðây là vi phạm trắng trợn quyền hiến định cả của người ứng cử lẫn người bầu cử. “Ðảng chọn, dân bầu “ là trò hề bầu cử vi hiến kéo dài lê thê. Trong Ðại Hội XII, trò hề “Bộ Chính Trị chọn, Ban Chấp Hành Trung Ương bầu” còn trắng trợn hơn.

Một điều vi phạm nghiêm trọng và có hệ thống nữa là Hiến Pháp quy định sau khi Hiến Pháp được thông qua, Nhà nước phải sớm soạn thảo một loạt luật để hướng dẫn đưa Hiến Pháp vào cuộc sống xã hội. Ở các nước dân chủ có quy định sau khi Hiến Pháp được ban bố và có hiệu lực, trong hai hoặc ba tháng, Nhà nước phải ban hành các đạo luật đầy đủ để thi hành mọi điều khoản của hiến pháp, được coi như là luật cơ bản, luật gốc của quốc gia. Hiến Pháp 1992 quy định trong Ðiều 146: “Hiến Pháp là Luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.” Hiến Pháp 2013 cũng ghi trong Ðiều 119: “Hiến Pháp là luật cơ bản. Mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến Pháp.”

Như thế, đảng CSVN và Quốc Hội suốt 13 khóa liền đã vi phạm Hiến Pháp rất nghiêm trọng, trong mấy chục năm không hề ra luật hướng dẫn quyền lập hội và quyền biểu tình của nhân dân cũng như nhiều luật khác. Luật về biểu tình đã qua dự thảo 2 lần, định thông qua năm 2015, chậm trễ hơn 40 năm sau hòa bình thống nhất, lại do Bộ Công An dự thảo.

Luật về lập hội cũng như luật về đảng CS được nêu lên nhiều lần nhưng vẫn bị trì hoãn hàng chục năm. Tại cuộc họp Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 17 tháng 2 mới đây, Chủ Tịch Nguyễn Sinh Hùng đã phàn nàn rằng Luật Biểu Tình còn trì hoãn đến bao giờ nữa, chậm đến 23 năm rồi!

Luật về Trưng Cầu Ý Dân đã được Quốc Hội thông qua ngày 25 tháng 11, 2015, nhưng chưa hề được áp dụng, trong khi lẽ ra các vấn đề to lớn thuộc quốc kế dân sinh, cải cách kinh tế, lựa chọn đường lối đối ngoại đều cần đưa ra trưng cầu ý dân theo đúng tinh thần trọng dân, gần dân, vì dân, tăng gấp bội giá trị của các quyết sách, khi được đông đảo nhân dân tán đồng. Ðó là trưng cầu ý dân về “sở hữu ruộng đất là thuộc về toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý,” về “sở hữu quốc doanh có vai trò chỉ đạo trong nền kinh tế,” về “có nên Ba Không: không có căn cứ nước ngoài, không để quân nước ngoài trên đất ta, không liên minh với nước ngoài,” hay “Việt Nam là nước độc lập, hoàn toàn có quyền tự do liên minh với ai mình muốn, như mọi nước có chủ quyền đầy đủ.”

Các vấn đề sinh tử như có nên vẫn ghi “Học thuyết Mác-Lênin,” ghi “Chủ Nghĩa Xã Hội” trong Hiến Pháp hay không cũng cần đưa ra trưng cầu ý dân cho đàng hoàng, vì có thể nói toàn dân đang đòi như thế cho danh chính ngôn thuận. Ðảng CSVN rất sợ điều này nên cố né tránh.

Một vấn đề rất quan trọng nữa là trong Hiến Pháp 1992 Ðiều 50 ghi rõ: “Các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến Pháp.” Trong Hiến Pháp 2013, Ðiều 20 ghi rõ: “Công dân Việt Nam là bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình.”

Các điều mới này được ghi vào Hiếp Pháp là do áp lực trong nước và quốc tế, khi chính quyền CSVN bị thế giới đánh giá là vào loại kém nhất trong việc cư xử với công dân nước mình. Hiện nay mỗi ngày trong hàng trăm trại giam, hàng ngàn trụ sở công an đã có hàng trăm, hàng ngàn vụ vi phạm có hệ thống các điều vừa kể. Ba năm qua có hơn 200 công dân bị giết trong các đồn công an. Lẽ ra bộ trưởng Công An phải đưa các điều trên đây ra giáo dục cho hàng trăm trại trưởng và hàng vạn quản giáo học thuộc lòng và thực hiện nghiêm chỉnh. Món nợ nhân quyền thật là khổng lồ, các vụ vi phạm một cách có hệ thống đã kéo dài hàng chục năm. Họ chà đạp Hiến Pháp, chà đạp quyền con người đến thế là cùng!

Trong khi có một số nam nữ công dân tự ứng cử vào Quốc Hội năm nay, xin chúc các bạn thành công thuận lợi, hình thành một nhóm đại biểu tự do có thiện chí xây dựng và đổi mới sinh hoạt của Quốc Hội, trước hết là yêu cầu Quốc Hội phải soạn thảo và thông qua một loạt luật như luật về lập hội, về biểu tình, về tự do báo chí, xuất bản, và đề xuất việc tổ chức trưng cầu dân ý về một số vấn đề hệ trọng của đất nước, ngăn chặn mọi vi phạm Hiến Pháp, nhất là về quyền con người, góp phần làm cho sinh hoạt chính trị trong Quốc Hội và ngoài xã hội có sinh khí mới, xây dựng nền dân chủ tiền tiến, hiện đại, mang lại hòa bình, an ninh, phát triển và phồn vinh cho đất nước.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Chống Mỹ cứu nước nào?

Trần Gia Phụng
(Danlambao) - Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam dọc theo sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, ở vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ở Bắc Việt Nam (BVN), do đảng Lao Động (LĐ) cai trị. Đảng LĐ là hậu thân của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD). Trong khi đó, Quốc Gia Việt Nam (QGVN) ở Nam Việt Nam (NVN), do cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng. Năm sau, thủ tướng Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, lật đổ quốc trưởng Bảo Đại và thành lập Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955 do ông Diệm làm tổng thống.

Đất nước chia hai, nhưng đảng LĐ ở BVN không dừng lại ở đó. Tại Đại hội III đảng LĐ từ 5 đến 10-9-1960, đảng LĐ quyết định động binh tấn công VNCH, mà CS gọi là “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Ngoài ra, đảng LĐ còn đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” nhằm khích động lòng yêu nước của dân chúng Việt Nam và để được các nước cộng sản (CS) giúp đỡ. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà ít người chú ý là Hồ Chí Minh (HCM) và đảng LĐ tức đảng CSĐD chống Mỹ cứu nước là để cứu nước Việt Nam hay là cứu nước nào khác?

1. Hồ Chí Minh tuyên bố chống Mỹ

Vào cuối thế chiến thứ hai, HCM và đảng CSĐD hợp tác với tổ chức OSS của Hoa Kỳ. Tổ chức OSS là Office of Strategic Services (Sở tình báo chiến lược), tiền thân của C.I.A. (Central Intelligence Agency). Giữa tháng 4-1945, HCM cùng hai nhân viên vô tuyến của O.S.S. từ Côn Minh (Kunming, Trung Hoa) về Cao Bằng. Từ đó, O.S.S. giúp VM huấn luyện quân sự, sử dụng võ khí, truyền tin... (Chính Đạo, Hồ Chí Minh, con người & huyền thoại, tập 2: 1925-1945, Houston: Nxb. Văn Hóa, tt. 358-359.)

Khi HCM và đảng CS cướp được chính quyền và lập chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ngày 2-9-1945, thiếu tá OSS là Archimèdes Patti giúp HCM viết bản tuyên ngôn độc lập.(Archimedes L. A. Patti, Why Viet Nam?, California: University of California Press, Berkely, 1980, tr. 223.) Tuy nhiên, sau đó OSS rời Việt Nam do Hoa Kỳ chủ trương không can thiệp vào Đông Dương để cho Pháp tự do hành động. (A. Patti, sđd. tr. 379.) Từ đó giữa cộng sản Việt Nam (CSVN) và Mỹ không còn hợp tác, nhưng cũng không đối đầu trực tiếp với nhau.

Sau thế chiến (1939-1945), chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản (do Mỹ đứng đầu) và CS (do Liên Xô lãnh đạo) bắt đầu năm 1946. Năm 1950, Mỹ thừa nhận chính phủ QGVN và viện trợ giúp Pháp chống CS ở Việt Nam, nhưng Mỹ không gởi quân đánh nhau với quân CSVN. Khi hội nghị Genève sắp kết thúc và các bên sửa soạn ký kết hiệp định chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam ngày 20-7-1954, thì lần đầu tiên, HCM lớn tiếng tuyên bố mục tiêu chiến đấu mới của CSVN trong giai đoạn sắp đến là chống “đế quốc” Mỹ.

Báo cáo tại hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương đảng LĐ khóa II ngày 15-7-1954, HCM nói: “Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt Nam, Lào. Mũi nhọn của ta cũng như mũi nhọn của thế giới đều chĩa vào Mỹ. Chính sách của Mỹ là mở rộng và quốc tế hóa chiến tranh Đông Dương. Chính sách của ta là tranh thủ hòa bình để chống lại chính sách chiến tranh của Mỹ…” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7:1953-1955, xuất bản lần thứ hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tt. 313-315.)

Một điều khá lạ lùng là từ khi OSS về nước, bang giao với Mỹ bị gián đoạn, HCM hầu như chưa lần nào công kích Mỹ nặng nề. Lúc nầy Mỹ chưa viện trợ trực tiếp cho chính phủ QGVN, kẻ thù của CS mà chỉ giúp đỡ gián tiếp qua tay người Pháp. Nói cách khác, cho đến 1954, giữa VM và Mỹ chưa đối đầu trực tiếp, chưa hận thù sâu sắc, ngoài những kỷ niệm thời 1945. Thế mà đột nhiên sau hội nghị Liễu Châu, HCM xem Mỹ là “kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt Nam, Lào.” Để tìm hiểu vấn đề tại sao HCM lại tuyên bố chống Mỹ sau vụ Liễu Châu, xin trở lại với hoàn cảnh chính trị phức tạp trước khi hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954.

Hội nghị Genève bắt đầu từ ngày 8-5-1954 đến ngày 21-7-1954, chia thành hai giai đoạn: 1) Từ 8-5 đến 20-6-1954. 2) Từ 10-7 đến 21-7-1954. Giữa hai giai đoạn là 20 ngày tạm nghỉ để các phái đoàn về nước tham khảo và nghỉ ngơi.

Trong thời gian hội nghị tạm nghỉ, xảy ra ba sự kiện quan trọng ở ba nơi khác nhau trên thế giới: Mendès-France lên làm thủ tướng Pháp ngày 17-6-1954. Ngô Đình Diệm nhận chức thủ tướng QGVN ngày 7-7-1954 (ngày Song thất). Châu Ân Lai (CÂL) và HCM bí mật gặp nhau tại Liễu Châu (Liuzhou), tỉnh Quảng Tây (Kwangsi), Trung Hoa, từ 3 đến 5-7-1954, bàn về giải pháp kết thúc chiến tranh. Lúc đó, không ai biết về hội nghị nầy.

Cũng tại hội nghị Liễu Châu chắc chắn hai bên, CÂL và HCM, duyệt xét lại toàn bộ tình hình thế giới và tình hình Đông Á sau chiến tranh Triều Tiên, mà Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) đang đối đầu với Mỹ.

2. Tình hình Đông Á trước hội nghị liễu Châu


Tại Trung Hoa, đảng Cộng Sản (CS) do Mao Trạch Đông (MTĐ) lãnh đạo, chiếm được lục địa, và tuyên bố thành lập CHNDTH tức Trung Cộng (TC) ngày 1-10-1949. Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng di tản ra Đài Loan (Taiwan), tiếp tục chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (THDQ). Tuy rất nhỏ so với TC, nhưng nhờ Mỹ hậu thuẫn, THDQ vẫn giữ ghế đại diện Trung Hoa tại Liên Hiệp Quốc (LHQ), và giữ luôn ghế hội viên thường trực, có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an LHQ.

Năm sau, chiến tranh bùng nổ ngày 25-6-1950 giữa Bắc Triều Tiên (BTT) và Nam Triều Tiên (NTT). Quân cộng sản BTT bất ngờ tiến đánh NTT, vượt qua vĩ tuyến 38, đường phân chia BTT và NTT từ 1945, chiếm thủ đô Hán Thành (Seoul). Theo đề nghị của Hoa Kỳ, ngày 27-6-1950 LHQ yêu cầu các nước giúp NTT.

Ngày 12-9-1950, đại tướng Hoa Kỳ là Douglas Mac Arthur cầm đầu quân đội LHQ, bất thần đổ bộ vào hải cảng Inchon, tây bắc NTT, giáp với BTT. Quân LHQ đẩy lui quân BTT, tái chiếm Hán Thành ngày 19-9, tiếp tục truy đuổi bắc quân CS, vượt vĩ tuyến 38, chiếm thủ đô BTT là Bình Nhưỡng (Pyongyang), tiến đến sông Áp Lục (Yalu River), ở vùng biên giới Mãn Châu, thuộc TC.

Ngày 26-11-1950, 250,000 quân TC vượt biên giới, giúp BTT, đẩy lui quân LHQ xuống phía nam, tái chiếm Hán Thành. Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman gởi tướng Matthew Ridgway thay tướng Mac Arthur. Quân LHQ đẩy lui bắc quân khỏi vĩ tuyến 38 vào tháng 1-1951. Cuộc thương thuyết giữa hai bên bắt đầu từ tháng 7-1951, và hai bên ký kết hiệp ước Bàn Môn Điếm (Panmunjom) ngày 27-7-1953, lấy vĩ tuyến 38 chia hai Triều Tiên. Bên nào ở yên bên đó, không xâm phạm lẫn nhau.

Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ năm 1950, thì Hoa Kỳ phái Đệ thất hạm đội đến bảo vệ Đài Loan và eo biển Đài Loan. Sự hiện diện của hạm đội Hoa Kỳ ở eo biển Đài Loan làm cho TC quan ngại. Trong eo biển Đài Loan, hai quần đảo Kim Môn-Mã Tổ (Kinmen-Mazu), nằm cách hải cảng Hạ Môn (Xiamen), tỉnh Phúc Kiến (Fujian) của lục địa TC khoảng 15 Km, trong khi cách bờ biển hải đảo Đài Loan khoảng 270 Km, nhưng hai quần đảo nầy lại thuộc quyền của THDQ (Đài Loan).

Sau hiệp ước Bàn Môn Điếm, chấm dứt chiến tranh Triều Tiên, NTT tức Cộng Hòa Triều Tiên ký với Hoa Kỳ tại thủ đô Washington DC ngày 1-10-1953 Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương (Mutual Defence Treaty) có hiệu lực từ ngày 17-11-1954.

Bên cạnh NTT là Nhật Bản (NB). Tại hội nghị hòa bình San Francisco (Hoa Kỳ) từ 4 đến 8-9-1951, NB tuyên bố từ bỏ mọi quyền hành trên các hải đảo mà NB đã chiếm trong thế chiến thứ hai (1939-1945). Cùng ngày 8-9-1951, NB và Hoa Kỳ ký Hiệp ước an ninh hỗ tương (Mutual Security Treaty) cho phép quân đội Hoa Kỳ đóng quân trên đất NB.

Ngày 8-3-1954, hai nước Hoa Kỳ và NB ký kết thêm Thỏa ước Phòng thủ chung (Mutual Defence Assistance Agreement), có hiệu lực từ 1-5-1954, cho phép quân đội Hoa Kỳ trú đóng trên đất NB vì mục đích hòa bình và an ninh trong khi khuyến khích NB tăng cường quốc phòng.

Các hiệp ước Hoa Kỳ ký với NTT và với NB đều nhắm mục đích giúp bảo vệ an ninh của hai nước nầy, chống lại sự đe dọa từ bên ngoài, thực sự là chống lại sự đe dọa của TC. Hơn nữa, Hoa Kỳ gởi Hạm đội số 7 đến eo biển Đài Loan, chính là để bảo vệ Đài Loan và vùng biển nầy.

Những hoạt động trên đây của Hoa Kỳ làm cho TC bận tâm lo lắng vì cảm thấy bị bao vây từ nhiều phía: Ở phía tây, TC giáp với Liên Xô. Từ khi Stalin qua đời ngày 5-3-1953, cuộc bang giao giữa TC với Liên Xô càng ngày càng xấu. Ở tây nam, TC bị Ấn Độ chận đứng. Ở phía đông là Thái Bình Dương, TC lại bị các nước NTT, NB, THDQ bao vây. Các nước nầy được Mỹ bảo vệ. Trên Thái Bình Dương thì Đệ thất hạm đội Mỹ chập chờn canh chừng. Vì vậy, TC rất căm thù Hoa Kỳ.

Tại Hoa Kỳ, lúc đó phong trào chống cộng rất mạnh. Vào đầu năm 1950, thượng nghị sĩ tiểu bang Wisconsin là Joseph Raymond McCarthy đưa ra chủ trương “tố cộng” mạnh mẽ khắp nước Mỹ. Tinh thần chống cộng của người Mỹ lúc đó mạnh đến nỗi đáng chú ý là khi khai mạc hội nghị Genève về Việt Nam vào ngày 8-5-1954, trưởng phái đoàn Hoa Kỳ là ngoại trưởng John Foster Dulles không bắt tay trưởng phái đoàn TC là thủ tướng kiêm ngoại trưởng CÂL. (Henry Kissinger, White House Years, Toronto: Little, Brown and Company, 1979, tr. 1054.) Có lẽ CÂL khó quên kỷ niệm không vui nầy.

Tại hội nghị Liễu Châu từ 3 đến 5-7-1954, chắc chắn CÂL đã trình bày toàn cảnh tình hình Đông Á trên đây với HCM. Vừa thù nước, vừa giận riêng, phải chăng CÂL đã chỉ thị cho HCM, nên khi về nước, HCM chĩa mũi dùi ngay vào Hoa Kỳ tại Hội nghị lần thứ 6 Ban CHTƯĐ/LĐ khóa II ngày 15-7-1954.

Ở đây, xin ghi nhận thêm giao tình giữa HCM và các lãnh tụ TC:

Thứ nhứt, khi Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS) gởi điệp viên Lý Thụy (HCM) đến Quảng Châu (Trung Hoa) hoạt động năm 1924, thì Lý Thụy mở những khóa huấn luyện cán bộ và mời các lãnh tụ CSTH đến giảng dạy như Lưu Thiếu Kỳ, CÂL, Lý Phúc Xuân, Bành Bài…(Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tr. 10.).

Thứ hai, sau khi bị giữ lại ở Liên Xô từ 1934 đến 1938 để điều tra, Nguyễn Ái Quốc (HCM) được QTCS gởi qua Trung Hoa vào 1938, đến căn cứ phía bắc TC là Diên An, học tập và hoạt động tình báo. Lúc đó, Quốc với tên mới là Hồ Quang, mang quân hàm thiếu tá trong quân đoàn Bát lộ quân của TC, để dễ di chuyển và hoạt động. (Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh, the Missing Years, Diên Vỹ và Hoài An dịch, Diễn đàn www.x-cafevn.org tt. 190-191.)

Sau đó, Hồ Quang đến Quế Lâm (Quảng Tây) hoạt động. Khoảng đầu thu 1940, Hồ Quang (HCM) cử người đến Diên An, ký mật ước với TC, theo đó đại diện đảng TC tại cục Tình báo Á châu của ĐTQTCS, phụ trách lãnh đạo công tác của CSVN. Cộng Sản Việt Nam sẽ cử cán bộ đến Diên An thụ huấn, và CSTH sẽ trợ cấp cho CSVN 50,000 quan Pháp mỗi tháng để trang trải chi phí sinh hoạt tại Trung Hoa. (Tưởng Vĩnh Kính, Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụy trang giả, Nxb. Truyện Ký Văn Học, Đài Bắc, 1972, bản dịch của Thượng Huyền, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, Nxb. Văn Nghệ, California, 1999, tt. 167-168.)

Thứ ba, trong chiến tranh với Pháp từ năm 1946, CSVN thua chạy dài. Sau khi CHNDTH được thành lập năm 1949, HCM qua Bắc Kinh, rồi qua Moscow cầu viện năm 1950. Mao Trạch Đông cũng có mặt tại Moscow. Stalin uỷ nhiệm cho MTĐ giúp cho CSVN.

Cùng đi trên chuyến xe lửa từ Moscow đưa MTĐ về Bắc Kinh, HCM đến xin MTĐ giúp đỡ. (Trương Quảng Hoa, “Quyết sách trọng đại Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, trong sách Hồi ký của những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác giả, Bắc Kinh: Nxb. Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, do Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch, Montreal: Tạp chí Truyền Thông, số 32 & 33, 2009, tr. 47.) Từ đó, TC viện trợ tối đa cho CSVN. Nhờ thế, CSVN phản công và thành công năm 1954.

Chỉ cần nhắc lại những chuyện trên đây đủ thấy rõ HCM và đảng CSVN quá nặng nợ với TC. Khi TC viện trợ rộng rãi cho CSVN, HCM và CSVN chẳng có gì để trả nợ, nên chỉ còn cách là phải đáp lại những đòi hỏi, yêu sách hay mệnh lệnh của TC để trả ơn.


3. Chiêu bài “chống mỹ cứu nước”



Sau hội nghị Liễu Châu, trong báo cáo của HCM tại hội nghị Ban CHTƯĐ/LĐ ngày 15-7-1954, HCM chỉ nhắc sơ là có gặp và trao đổi với thủ tướng CÂL. Về sau, khi ấn hành lại bản báo cáo nầy trong Hồ Chí Minh toàn tập tập 7, Nxb Chính Trị Quốc Gia chỉ chú thích sơ lược cuộc gặp gỡ ở cuối trang 315.

Về phía CÂL, TC cũng không loan báo tin tức hội nghị nầy, mãi cho đến năm 2005, Trung Cộng đảng sử xuất bản xã phát hành sách Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève], chuyện Liễu Châu mới được tiết lộ công khai. Tại Liễu Châu, CÂL khuyên HCM nên chấp nhận giải pháp chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17 để Pháp ra đi và Mỹ không can thiệp. Ngược lại HCM bàn với CÂL là sẽ chôn giấu võ khí, cài cán bộ, đảng viên ở lại NVN, trường kỳ mai phục để đợi thời cơ tái tục chiến tranh.

Vì BVN trường kỳ mai phục, chuẩn bị sẵn sàng hành động ở NVN, nên ngay từ năm 1955, BVN đề nghị với NVN họp hội nghị để tổ chức tổng tuyển cử, thống nhứt đất nước, mà BVN cho rằng do hiệp định Genève quy định, nhưng bị NVN từ chối, vì NVN cho rằng QGVN đã không ký vào hiệp định Genève. Bắc Việt Nam còn đề nghị nhiều lần sau đó, cũng đều bị NVN từ chối.

Thật ra, hiệp định Genève không liên hệ đến việc tổng tuyển cử, không có điều khoản nào đề cập đến việc tổng tuyển cử, mà chỉ là hiệp định đình chỉ chiến sự, chấm dứt chiến tranh. Sau khi hiệp định Genève được ký kết vào tối 20-7-1954, các phái đoàn họp tiếp vào ngày 21-7-1954, đưa ra bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương".

Bản tuyên bố (déclaration) gồm 13 điều; trong đó quan trọng nhứt là điều 7, ghi rằng: "Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó." (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53.) (Vào google đọc bản chữ Pháp: Déclaration finale de la conférence de Genève en 1954.)

Khi được hỏi ý kiến, các phái đoàn tham dự đều trả lời miệng, chứ không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố nầy. Bản tuyên bố không có chữ ký không phải là một hiệp ước, không có tính cách cưỡng hành, mà chỉ có tính cách khuyến cáo hay đề nghị mà thôi. Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và cũng không ký vào bản "Tuyên bố cuối cùng…" ngày 21-7-1954. Phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ chỉ đưa ra tuyên bố riêng để minh định lập trường của chính phủ mình.

Nói cách khác, cả hai bên Bắc và Nam Việt Nam đều không bị bắt buộc phải thi hành lời khuyến cáo hay đề nghị trong bản tuyên bố không chữ ký. Vì vậy, VNCH có quyền từ chối đề nghị tổng tuyển cử mà không thể kết luận rằng VNCH không thi hành hay vi phạm hiệp định Genève 20-7-1954.

Khi NVN từ chối đề nghị tổng tuyển cử do BVN đưa ra, thì BVN hô hoán lên rằng NVN vi phạm hiệp định Genève, trong khi đó BVN đã vi phạm trước, vì BVN đã chôn giấu võ khí, cài cán bộ ở lại NVN từ 1954. Bắc Việt Nam tổ chức Đại hội đảng LĐ lần thứ III tại Hà Nội từ 5 đến 10-9-1960, đưa ra hai mục tiêu là “xây dựng BVN tiến lên xã hội chủ nghĩa và giải phóng NVN bằng võ lực”.

Khai mạc Đại hội III đảng LĐ tại Hà Nội ngày 5-9-1960, HCM nhấn mạnh: "Ngày nào chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ-Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ yên. Bởi vậy không thể nào tách rời cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình, thống nhất nước nhà với cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ.”( Hồ Chí Minh toàn tập tập 10 1960-1962, Hà Nội: Nxb Chính Trị Quốc Gia, xuất bản lần thứ hai, 2000, tr. 200.)

Trong phần kết luận bài phát biểu nầy, HCM tiếp: "Hiện nay, đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống Mỹ…” (Hố Chí Minh, sđd. tr.319.)

Đáng chú ý, suốt bản báo cáo, HCM luôn nhấn mạnh đến chuyện chống Mỹ, và kết luận “mọi việc của ta đều nhằm chống Mỹ”.

Kết luận

Vào cuối thế chiến thứ hai, HCM và đảng CSVN hợp tác với OSS là một tổ chức tình báo Mỹ, nhờ OSS huấn luyện và trang bị những phương tiện thông tin cần thiết. Sau đó, tuy chưa có gì va chạm, nhưng vì Mỹ không muốn làm mất lòng Pháp ở Đông Dương, nên Mỹ rút các toán OSS ra khỏi Việt Nam. Trong cuộc chiến 1946-1954, HCM hầu như không đả động gì đến việc chống Mỹ.

Bất ngờ, sau hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây) với CÂL vào đầu tháng 7-1954, HCM đưa ra chủ trương chống Mỹ mạnh mẽ. Nói trắng ra, phải chăng chính HCM vâng lệnh CÂL tại hội nghị nầy, nên khi về nước, HCM triệu tập liền hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương đảng LĐ khóa II ngày 15-7-1954, để phổ biến ngay chủ trương chống “đế quốc” Mỹ?

Sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954, đảng LĐ phải tốn một thời gian ổn định BVN, quốc doanh toàn bộ công thương nghiệp thành phố, cải cách ruộng đất để làm chủ nông thôn, triệt tiêu tất cả những phản kháng của giới trí thức và văn nghệ sĩ. Sau những chiến dịch nầy, đảng LĐ tức đảng CSĐD nắm vững BVN trong khuôn khổ độc tài toàn trị CS, liền nghĩ đến chuyện NVN.

Đảng LĐ tổ chức Đại hội III từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960 để phát động chiến tranh tấn công NVN, đưa ra hai chiêu bài chiến lược song song là “giải phóng miền Nam” và “chống Mỹ cứu nước”.

Thực ra, ngay từ 1954, trước khi ký kết hiệp định Genève, tại Liễu Châu, CSVN đã cho thấy tham vọng tấn công NVN nhằm thống trị toàn bộ đất nước chứ không phải “giải phóng miền Nam”.

Còn HCM chủ trương "mọi việc của ta đều nhằm chống Mỹ” là HCM làm theo lời MTĐ đã từng nói là nếu CSVN “giải tỏa được mối đe dọa của bọn xâm lược, đó là Việt Nam giúp Trung Quốc.” (La Quý Ba trích dẫn, “Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản”, trong Hồi ký của những người trong cuộc, sđd. tr. 27).

Như thế, CVSN chống Mỹ không phải để cứu nước Việt, mà để cứu Tàu, theo yêu cầu của Tàu, vì lợi ích của Tàu. Chính vì vậy mà Lê Duẩn, bí thư thứ nhứt đảng LĐ từ năm 1960, đã nhận: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc.” Lời của Lê Duẩn là niềm hãnh diện của CSVN, được viết thành biểu ngữ khá lớn treo ngay trước nhà thờ Lê Duẩn ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

Niềm hãnh diện nầy cho thấy sự nghiệp “giải phóng miền Nam”, “chống Mỹ cứu nước” của HCM và CSVN nằm trong kế hoạch “tự Hán hóa” (autochinization / autochinalization) của CSVN, nghĩa là không phải Tàu khựa áp đặt nền đô hộ tại Việt Nam, mà CSVN tự nguyện Hán hóa Việt Nam dưới sự đô hộ của Tàu khựa.

Cộng sản Việt Nam phản quốc đến thế là cùng. Tồi tệ nhứt trong lịch sử nước nhà! (Trích Lịch sử sẽ phán xét, xuất bản tháng 6-2016.)


(Toronto, 28-2-2016)
Trần Gia Phụng

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

CSVN tấn công những cá nhân mà 'đảng không chọn'

HÀ NỘI (NV) - Những người quyết định tự ứng cử trong đợt bầu chọn đại biểu Quốc Hội Việt Nam,
theo dự kiến sẽ diễn ra vào cuối tháng 5, bắt đầu bị chính quyền Việt Nam tấn công để ngăn chặn.

Hồi tháng 1, đảng CSVN cho biết đang chuẩn bị để giới thiệu 896 ứng cử viên,
trong đó có 80 là ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CSVN để dân chúng “lựa chọn.”

Image
Bà Ðặng Bích Phượng chưa tìm được nơi “xác minh lại lý lịch” để có thể tranh cử đại biểu Quốc Hội với các ứng cử viên được “đảng chọn.”
(Blog xuandienhannom)



Luật pháp Việt Nam cho phép “tự ứng cử” nhưng những ứng cử viên loại này cũng thuộc loại được lựa chọn để sắm vai đó.

Chính quyền Việt Nam không chấp nhận “tự ứng cử” thật sự. Ngay cả đảng viên cũng bị cấm làm điều đó. Thậm chí nếu không “được đảng chọn,” đảng viên cũng không được phép nhận đề cử từ các cá nhân hay tổ chức khác.

Dẫu vậy, vẫn có những người tự ứng cử dù “đảng không chọn” và họ luôn luôn bị loại bỏ bằng đủ mọi cách từ giai đoạn “hiệp thương” - giai đoạn do cái gọi là Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam các cấp, tổ chức thu thập ý kiến “cử tri” để tiến cử ứng cử viên chính thức.

Vào đầu tháng 2, ông Nguyễn Quang A, một trong những trí thức được nhiều người biết, công bố một thư ngỏ, kêu gọi những người hội đủ các tiêu chuẩn luật định hãy tự ứng cử. Ông A không tin sẽ có ai đó thuộc loại “đảng không chọn” đắc cử để trở thành đại biểu Quốc Hội nhưng ông khẳng định, đó là điều nên làm để xác định diện mạo cái gọi là “dân chủ” ở Việt Nam.

Nay thì chính quyền Việt Nam bắt đầu khắc họa những đường nét chính của cái mà ông Nguyễn Phú Trọng khẳng định “dân chủ đến thế là cùng” - khi phát biểu nhân dịp tái đắc cử vào vị trí tổng bí thư Ðảng CSVN, hồi tháng 1.

Do “dân chủ đến thế là cùng” nên hệ thống truyền thông của chính quyền Việt Nam có quyền bôi nhọ những cá nhân tự ứng cử.

Chẳng hạn, tờ Năng Lượng Mới vừa đăng một bài với tựa “Quốc Hội không phải là phường chèo,” chỉ trích nghệ sĩ hài Nguyễn Công Vượng dám “tự ứng cử.” Nghệ sĩ này bị xem là “lộng ngôn,” “đốt đền,” tuy cha mẹ đều là đảng viên nhưng “phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng,” “vu khống đảng và chính quyền hèn với giặc, ác với dân, dâng biển đảo cho giặc.” Tờ Năng Lượng Mới cho rằng, nghệ sĩ này “bất tài,” không thành công trên sân khấu thật mới nhảy sang “sân khấu chính trị.”

Trong bài “Quốc Hội không phải là phường chèo,” tờ Năng Lượng Mới còn chỉ trích một loạt những cá nhân khác đã tuyên bộ tự ứng cử như: Nguyễn Quang A, Nguyễn Tường Thụy, Ðặng Bích Phượng,... vì “đang phá hoại cuộc bầu cử Quốc Hội.”

Theo tờ báo này thì những cá nhân tự ứng cử đều hám danh nên mới tham gia các hoạt động đòi phải bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Biển Ðông, đòi phải cương quyết với Trung Quốc, đòi phải tôn trọng nhân quyền! Tờ Năng Lượng Mới xem việc tự ứng cử, trình bày nhận định về thời cuộc, kế hoạch hành động nếu đắc cử là “trò lố”!

Cũng do “dân chủ đến thế là cùng,” nên Ủy Ban Bầu Cử thành phố Hà Nội đòi bà Ðặng Bích Phượng phải xin xác nhận lại lý lịch tại một phường nơi bà... không có hộ khẩu thường trú nên tất nhiên là không thể được xác nhận để có hồ sơ ứng cử hợp lệ. Một cá nhân khác, ông Nguyễn Tường Thụy thì bị chính quyền địa phương ghi vào lý lịch gửi cho Ủy Ban Bầu Cử rằng ông có “tiền sự” (hai lần bị cảnh cáo do tham gia biểu tình chống Trung Quốc). Với những “tiền sự” này, ông Thụy không có quyền tự ứng cử.

Trong một xã hội “dân chủ đến thế là cùng” như Việt Nam, công an vừa vô cớ ập vào nhà ông Phan Văn Bách để kiểm tra hành chính sau khi ông nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc Hội.

Ông Võ An Ðôn, một luật sư ở Phú Yên thì mới nhận được thư mời đến làm việc với an ninh của tỉnh này sau khi ông tuyên bố sẽ tự ứng cử. (G.Ð)

Post Reply