Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »


Ở thế gian có những người tử tế


Ngô Nhân Dụng

Cô Jenni Harvey, người đứng ra quyên góp để tiền tặng ông Mã Long, nhận xét: “Tôi nghĩ có người xấu làm chuyện xấu xa thì cũng có người tốt làm việc tốt lành.” Trung Úy Mã Hoàng Long là người lái xe taxi bị ba tù vượt ngục bắt cóc suốt một tuần lễ, đã thoát chết trở về. Khỏi cần giới thiệu, hình ảnh ông đã quen thuộc với quý vị độc giả Người Việt trong cả tuần qua.

Cô Harvey nói đúng quá. Nhưng thực ra ai mà chẳng nghĩ như vậy? Trên thế gian lúc nào chẳng có nhiều người tốt? Ðọc báo, coi ti vi, chúng ta thường chỉ nghe những chuyện “người xấu làm chuyện xấu xa.” Một người nhận ra đây là một dấu hiệu đáng mừng, đó là Ðức Ðạt Lai Lạt Ma (đời thứ 14). Vì báo, đài thường chỉ loan tin những chuyện hiếm có, ít khi xảy ra. Một con mèo năm chân có thể trở thành một đề tài được loan tin khắp thế giới, còn những con mèo bốn chân ít hy vọng được lên báo, lên đài. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma bảo rằng báo, đài chỉ loan những tin người xấu làm chuyện xấu chứng tỏ đó là những chuyện rất hiếm hoi. Nếu trên thế gian toàn những “người xấu làm chuyện xấu” thì khi nào thấy có những “người tốt làm chuyện tốt” báo chí mới làm ồn ào! Trên báo, trên đài không ai thấy bản tin “Một bà mẹ yêu con” hay “Một cây cầu không sụp đổ.” Bởi vì đó là những chuyện bình thường, giống như không khí chúng ta đang thở.

Trong những ngày chờ đón Tết Bính Thân báo Người Việt đã có một dịp may, được kể chuyện “những người tốt làm chuyện tốt.” Lại kể ra trong lúc đang loan tin “những người xấu làm việc xấu,” thế mới may. Nói như cô Ngọc Lan: Ðược tổ đãi! Những người xấu làm việc xấu là ba anh tù vượt ngục, bắt cóc, có lúc định giết một người lái tắc xi. Còn Trung Úy Mã Hoàng Long là một người tốt làm việc tốt. Anh Dương Bắc, viết tên trước họ sau thành Bắc Dương, một trong ba người tù vượt ngục, cũng cho thấy anh là một người tốt, làm việc tốt. Rồi tới anh Matthew Hay-Chapman, một người vô gia cư ở San Francisco, cũng là một người tốt làm việc tốt. Anh đã theo dõi một người tù vượt ngục rồi báo cho cảnh sát bắt, để hắn ta không thể làm những việc xấu khác. Cô Jenni Harvey, hoàn toàn không dính líu gì đến tất cả câu chuyện, cũng là một người tốt làm việc tốt nữa.

Phải nói là chúng ta may mắn, được nghe nhiều chuyện người tốt làm việc tốt trong lúc đang chuẩn bị “đón Xuân về.” Mỗi lần đem kể lại câu chuyện cho người khác nghe, hay truyền bản tin qua Internet cho bạn bè ở xa, là một lần chúng ta thấy ấm lòng. Ai cũng niềm tin ở tính thiện của con người sống dậy, muốn chia sẻ cùng nhau. Ðón Giao Thừa với những tình cảm an lành như thế, chẳng phải là may mắn lắm hay sao?

Ðối với người Việt Nam thì đoạn phim ông tài xế Mã Long và người tù vượt ngục Dương Bắc đi với trong hai ba ngày, trò chuyện với nhau trong chiếc xe dùng làm taxi, ngủ chung trong motel trong một đêm, chạy loanh quanh từ chỗ này qua chỗ khác, là những cảnh nhiều kịch tính nhất.

Từ chỗ cầm bằng mình sẽ bị giết, từ chỗ nhìn người bắt cóc mình với con mắt nghi ngờ, ghê sợ, Trung Úy Mã Hoàng Long dần dần nhận ra người tù vượt ngục này đã cứu mạng mình, anh ta có từ tâm. Một biến chuyển bất ngờ trong kịch bản là khi giữa câu chuyện Bắc bỗng gọi Trung Úy Long là “bố,” rồi lại nhờ “bố” cứu mình. “Tối đó, Bắc ngồi nói chuyện với tôi. Nó khóc nhiều. Nó kêu tôi bằng 'bố,' nó bảo tôi nhận nó làm con nuôi, rồi nó nói, 'Bố, bố cứu con!'”

Chắc hẳn nhân vật Dương Bắc này đã chớm nảy ra ý định quay đầu trở về với luật pháp khi anh phản đối người cùng vượt ngục, Hossein Nayeri, khi anh ta muốn giết người tài xế taxi bị bắt cóc. Thấy một ai tỏ ý muốn giết người khác mà không ngăn cản, thì mình cũng a tòng với hành động sát nhân. Tức là phạm một tội nặng hơn tội vượt ngục. Tức là càng chạy xa ra ngoài vòng pháp luật. Dương Bắc đã phản đối kịch liệt đến nỗi bị Hossein hành hung.

Vượt ngục thì phạm tội với luật pháp, nhưng giết người, hoặc thấy có kẻ định giết người mà không ngăn cản, là phản bội cả những nền đạo lý của loài người. Dương Bắc bị tên bạn tù đánh đấm, không dám đánh lại vì chắc biết nó hung dữ lắm, nó sẽ đánh đau hơn. Anh chấp nhận chịu đòn nhưng không chấp nhận đồng lõa với tội ác giết người. Không muốn một người không dưng bị giết, dù đó là một người không quen biết. Có thể nói đó là một hành động hy sinh hay không? Tại sao anh ta chịu hy sinh như vậy?

Dương Bắc chắc hẳn đã được cha mẹ giáo dục đàng hoàng hồi còn nhỏ. Trước khi đầu thú với cảnh sát, anh còn bầy kế cho “Bố Long” được nhận tiền thưởng, và xin ông Long chia một phần cho mẹ mình và cho các con mình. Một người con trước khi trở lại nhà tù còn nghĩ đến mẹ, người bố vẫn lo cho các con thơ; một người như vậy thì chắc ông Long phải thương. Ông gọi Dương Bắc là “con” với tình thương chân thật: “Con cứu mạng bố. Bố sẽ nhớ ơn con.”

Nhưng trước khi Bắc gọi ông Long là “bố” thì chắc anh ta cũng đã nhìn thấy ông Long có phong cách một người đáng làm cha. Một người bị bắt cóc bất ngờ mà không hoảng hốt, không lạy van xin tha. Bị dí súng vào bụng mà không run sợ, không vùng vẫy tìm đường chạy, chạy không thoát mà có thể bị giết. Ðóng vai “tù binh” suốt năm ngày, ba anh tù vượt ngục có súng, có dao kèm sát bên cạnh; nếu chúng bị cảnh sát tấn công thì mình có thể bị chết oan. Trong hoàn cảnh như thế, ông Long vẫn bình tĩnh được. Nằm bên cạnh người tù vượt ngục đang canh gác mình, ông lên tiếng xin phép hắn rồi mới đứng dậy vào nhà vệ sinh. Ông vẫn chọn món ăn theo ý thích, “thà làm con ma no” khi biết 99% chắc mình sắp chết. Coi ti vi, ông cố học được một tiếng Anh “tù nhân, inmate” để chờ có dịp nói cho người khác biết. Trung Úy Long chấp nhận vai trò một người tù của những người tù với thái độ thản nhiên, sẵn sàng chờ, chết hay sống cũng vậy. Có lẽ nhìn ba người tù vượt ngục này, ông thấy họ còn có chất “người” hơn những anh quản giáo trong nhà tù Việt Cộng. Không đứa nào tính bắt ông phải “học tập” cái con khỉ nào hết! Ông Long là người hài hước. Khi Bắc đề nghị ông đi báo cảnh sát để lãnh thưởng, ông còn đùa: “Bây giờ con kêu bố bằng bố, có thằng bố nào đi tố cáo con với cảnh sát để lãnh tiền thưởng không?” Phong cách hành xử của Trung Úy Mã Hoàng Long đã khiến Dương Bắc muốn gọi ông là bố. Nhiều người suốt đời mong có một người nào để được gọi là bố, xưng con.

Cơ duyên đưa đẩy cho hai người Việt Nam gặp nhau trong một nghịch cảnh lạ lùng. Một người tù vượt ngục, một người lái xe chở khách. Chỉ vì Trung Úy Long đăng Rao Vặt trên nhật báo Người Việt nên Bắc mới gọi ông đến! Có người nói đùa: Báo Người Việt hãy quảng cáo rằng: “Một người vượt ngục, sau khi ra khỏi tù đã tìm đọc ngay Rao Vặt trên Người Việt!” Nhưng chắc chúng ta không nên khai thác nỗi bất hạnh của đồng loại. Không nên đùa cợt trước cảnh thống khổ của người khác.

Qua báo Người Việt, hai người Việt Nam xa xứ đã gặp nhau, lôi kéo nhau vào một tấn kịch có thể kết cục bi thảm. May mắn là câu chuyện kết thúc “có hậu!” Tự nhiên, hai người không quen biết bây giờ gọi nhau là bố với con! Với tất cả chân tình.

Ðây chắc là do phúc đức ông bà để lại. Tổ tiên mình ngày xưa, từ thời trống đồng Ðông Sơn với các vua Hùng, từ thời Bà Trưng, Bà Triệu, các cụ đã ăn ở nhân đức như thế nào đó cho nên con cháu bây giờ gặp nhau sẵn sàng nhận nhau làm bố nuôi, con nuôi. “Người trong một nước phải thương nhau cùng,” câu này nghe nói đã được truyền lại từ thời Bà Trưng. Nhà hiền triết Plato ở Hy Lạp trước đây hơn hai ngàn năm, viết: “Ở một xứ cái gì được mọi người đề cao thì người ta sẽ nuôi dưỡng.”*

Trung Úy Long nói, “Gia đình tôi, cá nhân tôi rất trọng cái ơn.” Cái ơn cứu mạng càng không quên được. Ðó là truyền thống của cả dân tộc, gia đình nào cũng vậy. Những tấm gương nhân đức đã được tổ tiên đề cao, cho nên người Việt Nam suốt mấy ngàn năm đã nuôi dưỡng. Chúng ta sống theo lời dạy của Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Ðình Chiểu! Chúng ta đều là con cháu của Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Ðình Chiểu và sẽ tiếp tục nuôi dưỡng truyền thống đó.

Nhưng trên thế gian còn rất nhiều người tử tế. Anh Matthew Hay-Chapman, cô Jenni Harvey đều là những người tử tế. Chúng ta sống trong một xã hội rất nhiều người tử tế, đó là một tin vui trong lúc đợi Xuân về!

*Chú thích: “What is honored in a country is cultivated there.” Plato, Republic, Book VIII. Ông bàn về các thể chế chính trị. Ở đâu đề cao danh vọng, thì người ta thích gây chiến tranh. Nơi đề cao tiền tài thì ai cũng tham lam vơ vét. Xã hội bất công quá thì dân nổi loạn, rồi có thể rơi vào cảnh độc tài chuyên chế!

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Còn một chút gì để nhớ Việt Nam Cộng Hòa
Vann Phan
Xin được phép vinh danh các nhạc sĩ tài hoa của nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa - kể cả các nhạc sĩ thời tiền chiến mà tác phẩm của quý vị đã chọn Miền Nam Tự Do làm đất sống - những người đã đem hết tâm tình viết nên các ca khúc bất diệt cho đời. Cũng xin được vinh danh các nam, nữ ca sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa và thời sau năm 1975, những nghệ sĩ chân chính đã đem giọng hát vượt thời gian của mình làm thăng hoa các tác phẩm âm nhạc bất hủ đó. Vì khuôn khổ của bài, người viết lấy làm tiếc là nhiều nhạc sĩ đã không được đề cập tới nơi đây. Chỉ xin thưa rằng, dù được nhắc tới hay không, các nhạc sĩ thân thương vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết yêu nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa.

Bốn mươi mốt năm sau ngày cộng sản đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa và thống nhất đất nước, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tức Cộng Sản Việt Nam, nom chẳng giống ai khi nền giáo dục và y tế, xã hội của đất nước cộng sản này hầu như nằm trong tay của Mỹ hoặc Tây Âu, với hằng trăm nghìn sinh viên Việt Nam đi du học tại Mỹ và các nước Tây phương khác cùng hằng nghìn tổ chức cứu trợ và từ thiện của người Việt hải ngoại từ Mỹ, Úc và các nước Âu Châu đổ về Việt Nam để chăm lo cứu lụt, cứu đói và chữa bệnh cho dân chúng từ Nam chí Bắc, trong khi chính quyền Cộng Sản Việt Nam thì khỏe re, chỉ ngồi không chia của. Phải biết rằng Việt Nam là một nước rất giàu tài nguyên khi đem so với các quốc gia khác tại Á Châu, như Trung Quốc, Ấn Ðộ, Thái Lan, Miến Ðiện, Nhật Bản, Nam Hàn và Ðài Loan. Ðây là điều mà một sinh viên Nhật đến Việt Nam du học đã phải kêu lên cho thế giới biết để ngầm chê trách giới lãnh đạo hiện nay của đất nước cộng sản này chỉ biết lo bán tài nguyên đất nước để bỏ túi thay vì lo cho dân, đồng thời tiếc giùm cho dân tộc Việt Nam là quốc gia có tài nguyên lớn như thế mà ngày càng tụt hậu - để cho đàn ông Việt Nam phải bán sức lao động tại nước ngoài và phụ nữ Việt Nam phải đi ở đợ hoặc làm nô lệ tình dục khắp thế giới - so với các quốc gia khác tại Á Châu, ít tài nguyên hơn, nhưng lại giàu mạnh hơn Việt Nam rất nhiều.

Một đất nước như vậy đã làm nảy sinh những đảng viên công khai chống lại chủ trương độc tài, đảng trị của đảng Cộng Sản Việt Nam và đấu tranh đòi tự do, dân chủ ngay trong lòng đất nước Việt Nam, như Nguyễn Hộ, Trần Ðộ, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Cơ Thạch, Vi Ðức Hồi, Cù Huy Hà Vũ, Ðặng Xương Hùng, Ðỗ Xuân Thọ, Trần Anh Kim, Lê Hiếu Ðằng, Nguyễn Hữu Vinh,...

Một đất nước như vậy thì chẳng trách sao ai ai cũng muốn hễ có dịp là bỏ nước ra đi, cho dù họ có là những thành phần đang hưởng ơn mưa móc của Ðảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam. Báo chí Việt Nam cho hay, nếu ngày xưa người Việt tị nạn lìa xa quê hương nhớ từng chiếc lá me, từng cành phượng vĩ, thương từ viên ngói vỡ, bóng con chim se sẻ trước hiên nhà... thì ngày nay, người giàu cũng như nghèo, ngay cả con cái các quan chức nằm trong bộ máy chính quyền cộng sản cũng tìm mọi cách để rời bỏ đất nước, ra đi không ngoái đầu nhìn lại. Trong phiên họp tại văn phòng Quốc Hội Cộng Sản Việt Nam ngày 29 Tháng Mười Hai năm 2015 để thảo luận về tình trạng các du học sinh cấp phổ thông trung học và đại học sau khi tốt nghiệp mà không chịu trở về, Thứ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Duy Thăng đã nhìn nhận với các đại biểu Quốc Hội rằng ông nghĩ con em của nhiều người ngồi trong tòa nhà Quốc Hội này cũng sẽ không về sau khi tốt nghiệp. Ông cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng gia đình ông cũng vậy thôi, khi 2 người con của ông đã tốt nghiệp ở ngoại quốc nhưng lại không chịu về nước để nối tiếp sự nghiệp cách mạng quang vinh của các bậc cha, anh.

Sau mấy đời ráng sức đả kích, miệt thị chủ nghĩa tư bản và chống Mỹ cứu nước, giới lãnh đạo Việt Nam ngày nay, đặc biệt là Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, đều có tài sản lớn ở ngoại quốc, với nhiều ngôi biệt thự và đất đai tại Mỹ, đa số là tại California, nơi có một cộng đồng lớn lao của người Việt hải ngoại sinh sống. Ðiều này giải thích tại sao nhạc sĩ Việt Khang, qua nhạc phẩm “Việt Nam Tôi Ðâu,” đã phải thốt lên: “Việt Nam ơi, thời gian quá nửa đời người, và ta đã tỏ tường rồi... Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói...” Ðiều này cũng giải thích vì sao lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ thân thương của Việt Nam Cộng Hòa và bộ quân phục bạc màu của các anh chiến sĩ Cộng Hòa đang được ưa chuộng và xuất hiện nhiều nơi tại Cộng Sản Việt Nam ngày nay, mặc dù những cá nhân hay tập thể giương cờ và mặc những bộ quân phục đó không sao thoát khỏi số phận bị công an cộng sản trừng trị thẳng tay.

Dân chúng Miền Nam Tự Do, mỗi khi nhớ lại thời Việt Nam Cộng Hòa, không hiểu sao ai cũng nhớ tới Sài Gòn trước tiên, cho dù quê anh có ở Nam Ðịnh hay Biên Hòa, còn quê em thì từ bao năm vẫn nép mình bên dòng sông Bến Hải hay ở mãi tận Bắc Ninh.

Trong những bài hát về Sài Gòn, có lẽ ca khúc đầu tiên mà khách tha hương ưa nhớ tới là “Sài Gòn” của nhạc sĩ Y Vân, với lời hát “Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi!” đã đi vào lòng người qua nhiều thế hệ:

Phố xá thênh thang đón chân tôi đến chung vui
Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi!

Thời Chiến Tranh Việt Nam, dù quê hương Miền Nam Việt Nam đang ngập tràn khói lửa vì cuộc xâm lược bạo tàn của quân cộng sản từ Miền Bắc tràn vào, Sài Gòn vẫn là thiên đàng của tuổi thơ, của tuổi trẻ, với:

...khung trời đại học
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát...
(Trả Lại Em Yêu, Phạm Duy)

Ngoại trừ hồi Tết Mậu Thân năm 1968 khi Cộng quân bất chấp lệnh hưu chiến trong ngày nghỉ lễ thiêng liêng của dân tộc mà bất ngờ đánh tràn vào thủ đô của Miền Nam Tự Do, điều vẫn thường thấy trong những đêm Sài Gòn là lệnh giới nghiêm trong tiếng “đai bác đêm đêm dội về thành phố”:

Giờ này thành phố chợt bùng lên, để rồi tắt nghỉ sớm
Ôi Sài Gòn, Sài Gòn giờ giới nghiêm
Ôi Sài Gòn, mười một giờ vắng yên
Ôi em tôi, Sài Gòn không buổi tối!
(Chiều Trên Phá Tam Giang, Trần Thiện Thanh)

Sài Gòn, cùng các thành phố, tỉnh lỵ và miền quê từ Bến Hải đến Cà Mau sở dĩ có được cuộc sống yên bình trong chiến tranh như thế đó chính là nhờ sự bảo bọc, chở che của người lính Cộng Hòa nơi chiến tuyến, những chàng trai thế hệ đã xếp bút nghiên, chẳng chút ngại ngần giã từ cuộc sống ấm êm nơi hậu phương mà băng mình ra tiền tuyến, hầu như không một tiếng thở than:

Không than, không sầu
Ðầu non, cuối ghềnh ôm cây súng canh rừng sâu...
(Nửa Ðêm Biên Giới, Anh Bằng)

Ðó có thể cũng là vì lời hứa danh dự của chàng trai nơi biên cương, rằng sẽ hết lòng bảo vệ, chở che cho người em gái hậu phương mà lời ước nguyện của nàng như còn vang vọng đâu đây chốn rừng sâu, núi thẳm, nơi người chiến sĩ đang tạm dừng bước vào “một chiều hành quân qua thôn xưa, lúc nắng Xuân chưa nhạt màu”:

Xin anh che chở tấm đời nhỏ bé hậu phương
Như câu chuyện tình Người Hùng Và Giai Nhân...
(Cánh Hoa Thời Loạn, Y Vân)

Và đã là người lính chiến thì ai lại không mong muốn có ngày được quay về thăm lại thủ đô Sài Gòn, thành phố thân yêu lúc nào cũng là biểu tượng bất diệt của chan hòa “nắng đẹp miền Nam”:

Anh về thủ đô nước Nam tự do
Chút quà mừng anh chiến binh đường xa
Là muôn tấm lòng yêu thương đón anh
Ðón anh trai hùng bước qua!
(Anh Về Thủ Ðô, Y Vân)

hay:

Thủ đô ơi! thủ đô!
Ðoàn quân ta về đây
Tiếng reo vang vang dậy một trời
Lớp lớp tinh kỳ bay trong gió...
(Bài Ca Chiến Thắng, Minh Duy)

Trong ký ức của người dân Miền Nam Việt Nam, những bài hát về Sài Gòn bài nào cũng tuyệt vời và cũng có sức gợi nhớ bao kỷ niệm thiết tha nơi chốn quê nhà giờ đã quá xa xôi: Ghé Bến Sài Gòn (Văn Phụng), Sài Gòn (Y Vân), Trả lại Em Yêu (Phạm Duy), Thu Sài Gòn (Ngô Thụy Miên), Sài Gòn Thứ Bảy (Anh Bằng), Anh Về Thủ Ðô (Y Vân), Bước Chân Chiều Chủ Nhật (Ðỗ Kim Bảng), Chiều Trên Phá Tam Giang (Trần Thiện Thanh)...

Sài Gòn ôi quá thân thương, tới nỗi sau khi Sài Gòn sụp đổ vào tay Cộng quân trong cái ngày 30 Tháng Tư năm 1975 ấy, nhiều nhạc sĩ đã viết nên những ca khúc vật vã khóc than trong nỗi tiếc nhớ khôn nguôi của mình về thành phố thương yêu mà nay còn chăng chỉ là trong mớ kỷ niệm u buồn, xót xa của kẻ lưu đày nơi quê người: Sài Gòn Ơi! Vĩnh Biệt (Nam Lộc), Sài Gòn Trong Lòng Ta Mãi Mãi (Nguyệt Ánh), Vĩnh Biệt Sài Gòn (Lam Phương), Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên (Nguyễn Ðình Toàn), Cho Thành Phố Mất Tên (Phạm Ðình Chương), Thương Nhớ Sài Gòn (Phạm Duy)...

Nơi đây, về điệu buồn nức nở nhất trong hàng vạn tiếng khóc Sài Gòn, xin được nhắc đến những nghẹn ngào tiêu biểu trong nhạc phẩm “Sài Gòn Ơi! Vĩnh Biệt” của Nam Lộc, với lời ca chân tình, tha thiết làm thổn thức hằng triệu con tim của những kẻ, sau cùng, biết rằng mình nay đã vĩnh viễn đánh mất quê hương vào tay kẻ thù truyền kiếp Bắc phương:

Sài Gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời
Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời
Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi
Những nụ cười nát trên môi
Những giọt lệ ôi sầu đắng!
(Sài Gòn Vĩnh Biệt, Nam Lộc)

Nhưng, dĩ nhiên rồi, quê hương Miền Nam Tự Do đâu chỉ có Sài Gòn 11 quận đô thành mà còn là “Trăng Phương Nam” và “Về Miền Trung” và là gì gì đó nữa chứ. Ôi! Làm sao mà có thể kể hết được các ca khúc mang tên những miền đất dấu yêu trên quê hương Miền Nam trong tâm trí những con dân Việt Nam Cộng Hòa:

Quê hương ta đất xưa vốn nghèo, nhưng giàu tình thương nhau
Biết yêu lúa màu xa cuộc đời cơ cầu
Gái trai biết làm tròn lời thề ghi ban đầu...
(Tình Lúa Duyên Trăng, nhạc Hoài An, lời Hồ Ðình Phương)

Tình yêu quê hương Việt Nam ôi quá đơn sơ, bình dị:

Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa?
Người ơi, đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò
Còn đó tiếng tre êm ru
Còn đó bóng đa hẹn hò
Còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu...
(Hương Xưa, Cung Tiến)

Và quê hương đó càng đẹp tươi hơn khi, sau Hiệp Ðịnh Genève 1954, một triệu người Miền Bắc di cư, mang theo tất cả những tinh hoa của đất Bắc thân yêu, đã được chính quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đón tiếp nồng nhiệt và cho định cư tại những vùng đất trù phú để xây dựng một ngày mai sáng tươi nơi miền đất đầy những “Nắng Ðẹp Miền Nam”:

Ðây phương Nam bao la dịu dàng
Say sưa câu hoan ca nhịp nhàng
Duyên xưa còn thắm
Chung xây cuộc sống chan chứa mênh mông...
(Dựng Một Mùa Hoa, Hoài An ... Phó Quốc Thăng)

Như thế, nếu một sớm mai trời nhẹ lên cao, lòng khách tha hương cảm thấy buồn mà không hiểu vì sao mình buồn thì đây có thể là lúc người ta bỗng nhớ đến Nha Trang:

Nha Trang cảnh đẹp trăng thanh gió mát
Ai qua không quên để lại
Một vài luyến nhớ xa xôi
Ai ơi, người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền
Ngàn đời lòng tôi mến yêu.
(Nha Trang, Minh Kỳ)

Sông nước Miền Nam vốn nên thơ và bình dị, khiến “người về còn nhớ khúc hát” của Anh Việt Thu thay vì của “người yêu dấu bên bờ thành Vienne”:

Dòng An Giang trăng lên lấp lánh
Dòng Anh Giang tung tăng múa hát
Ðêm đến dòng sông thở than
Bên mấy hàng cây hắt hiu
Ðã mấy mùa Xuân chiến chinh...
(Dòng An Giang, Anh Việt Thu)

Nhưng, một khi đã nói đến thơ với mộng, phải nói đến Huế thơ, Huế mộng thì mới đúng điệu:

Bến Vân Lâu còn sâu thương nhớ
Thuyền Bến Ngự còn đợi anh về
Người tình quê, ơi người tình quê, có nhớ xin trở về.
(Ai Ra Xứ Huế, Duy Khánh)

và luôn cả Ðà Lạt nữa:

Ai lên xứ hoa đào, đừng quên mang về một cành hoa
Cho tôi bớt mơ mộng, chiều chiều nhìn mây trôi xa xa...
(Ai Lên Xứ Hoa Ðào, Hoàng Nguyên)

Còn gì vui hơn ngày về vui hát trên đồng xanh, dẫn dắt bước chân người lữ thứ qua “lối về xóm nhỏ” ngay trong ngày mùa:

Chiều hôm nay quay gót bước phiêu du
Về thôn xóm để vui trong ngày mùa
Ðường về thôn quyện chân bên nhánh lúa...
(Lối Về Xóm Nhỏ, Trịnh Hưng)

Và thỉnh thoảng, trong mớ ký ức của một số người, lại hiện về địa danh Charlie, một mảng chiến trường xưa khốc liệt đã cướp đi của Miền Nam Tự Do đứa con yêu dấu kiêu hùng mang tên Nguyễn Ðình Bảo hồi “Mùa Hè Ðỏ Lửa” năm 1972, mặc dù Charlie là cái “tên vẫn chưa quen người dân thị thành” vì nó ở mãi tận chốn núi rừng Kontum đèo heo hút gió:

Xin một lần thôi, một lần thôi
Vẫy tay tạ từ Charlie
Xin một lần nữa, một lần nữa
Vẫy tay chào buồn anh đi...
(Người Ở Lại Charlie, Trần Thiện Thanh)

Ðó là các bài hát về quê hương Miền Nam Việt Nam mà ai cũng nhớ và cũng có thể một mình vu vơ hát lên những điệu buồn năm cũ đó. Nhưng phải biết rằng nhạc Việt thời Việt Nam Cộng Hòa, ngoài những bài hát ca ngợi quê hương, cũng còn dẫy đầy những ca khúc về “Xuân và tuổi trẻ” nữa.

Về những bài hát ca ngợi mùa Xuân, không ai là không nhớ đến âm điệu trẻ trung, đầy hứng khởi trong nhạc phẩm “Xuân và Tuổi Trẻ” của nhạc sĩ La Hối, mà khi giọng hát cao vút kia chỉ vừa mới được cất lên thôi là người ta đã thấy dường như mùa Xuân hiện về đâu đó rồi:

Ngày thắm tươi bên đời Xuân mới
Hồn đắm say bao niềm vui sống
Xuân về, với ngàn hoa tươi thắm
Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng...
(Xuân Và Tuổi Trẻ, nhạc La Hối, lời Thế Lữ)

Kế đó, là ca khúc nói tới ly rượu mừng Xuân, không thể nào thiếu được trong những lần họp mặt mừng Xuân từ Bến Hải tới Cà Mau năm xưa, và nay là từ Mỹ Châu tới Âu Châu và Úc Châu, rồi luôn cả Việt Nam nữa:

Rót thêm tràn đầy chén quan san
Chúc người chiến sĩ lên đàng
Chiến đấu công thành
Sống cuộc đời lành
Mừng người vì nước quên thân mình...
(Ly Rượu Mừng, Phạm Ðình Chương)

Rồi mùa Xuân lại trở về trên quê hương Miền Nam mịt mờ khói lửa chiến chinh. Ðối với nhạc sĩ Phạm Duy, Hoa với Xuân tuy hai mà một, cùng nhau làm thăng hoa cuộc đời mọi người qua bao tháng năm:

Xuân! Hoa còn tươi mãi
Hoa vì nhân thế biết sum vầy cuộc vui
Xuân! Hoa nở vì ai
Tay nhịp bàn tay, cùng đắp xây ngày mai...
(Hoa Xuân, Phạm Duy)

Cùng tô điểm cho mùa Xuân thêm đẹp, những “cánh thiệp đầu Xuân” càng làm cho lòng người thêm hưng phấn và tràn đầy tình yêu người, yêu đời:

Tôi chúc yên lành người người khắp chốn
Mong gió đưa duyên cho cô gái Xuân thì
Ước nguyện sao chóng thành rượu nồng xe duyên...
(Cánh Thiệp Ðầu Xuân, Lê Dinh ... Minh Kỳ)

Những ngày Xuân rực rỡ có thể cũng là thời gian để những đôi trai gái đắm đuối trong giấc mộng tình diễm ảo thuở ban đầu:

Mối tình đầu Xuân ai thấu chăng
Lòng tha thiết buông theo tiếng đàn
Mơ đời ái ân, những ngày phong trần
Sống trong mộng đẹp ngày Xuân...
(Mộng Chiều Xuân, Ngọc Bích)

Xuân là mùa của đoàn tụ, của sum vầy, của hơi ấm nồng nàn tỏa ra từ ngày về sum họp:

Vui mùa Xuân năm nay gần nhau
Hát vang câu mến thương nhau
Cầm tay nhìn nhau cùng mơ
Ước mơ Xuân đến bao lần...
(Xuân Họp Mặt, Văn Phụng)

Ấy vậy mà riêng các anh chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nơi tiền tuyến, vì phải lo bảo vệ cuộc sống an lành của người dân chốn hậu phương, lắm khi các anh cũng chẳng biết Xuân đã về hay chưa nữa:

Ðồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở
Anh đâu biết Xuân về hay chưa?
(Ðồn Vắng Chiều Xuân, Trần Thiện Thanh)

Rồi còn các ca khúc về tuổi học trò nữa. Những nhạc phẩm viết về tuổi trẻ Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa thường chọn đối tượng là giới học sinh, sinh viên, nói chung là về tuổi học trò hoa mộng:

Trả lại em yêu khung trời đại học
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
Chủ Nhật uyên ương hẹn hò đây đó...
Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt...
(Trả lại Em Yêu, Phạm Duy)

Trong dòng “nhạc tuổi xanh,” những tiếng hát thơ ngây và trinh nguyên nhất vẫn là “tiếng hát học trò” của một thời hoa mộng:

Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ
Tà áo em xanh màu mắt ngây thơ
Nụ cười hồn nhiên không vương sầu nhớ
Lời ca vang bên gác nhỏ
Tiếng tơ êm đềm trong ngõ.
(Tiếng Hát Học Trò, Nguyễn Hiền & Minh Kỳ)

Còn gì buồn hơn “ba tháng tạ từ” khi mỗi độ Hè về, bạn bè mỗi người một nơi, thôi đành xa nhau suốt những tháng ngày dài đăng đẳng. Cuộc đời học sinh tuy hoa mộng, nhưng mỗi lần hoa phượng nở là mỗi lần nhớ nhung, luyến tiếc dâng tràn cho những ai sớm biết yêu tự thuở đang còn cắp sách đến trường:

Thời gian trôi qua mau không ngừng đâu
Mỗi mùa hoa phượng đầu, tiếng ve kêu gợi sầu
Phút chia tay rầu rầu
Tiếc thương riêng mình biết, hoặc tìm trong mắt nhau...
(Kỷ Niệm Nào Buồn, Hoài An)

“Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò,” ai đâu có ngờ rằng lũ quỷ sứ lúc nào cũng vui như sáo kia mà lại biết buồn, vì đó chính là “nỗi buồn hoa phượng” không sao cưỡng nổi:

Nếu ai đã từng nhặt hoa thấy buồn,
Cảm thông được nỗi vắng xa người yêu.
Màu hoa tươi thắm như máu con tim.
Mỗi lần Hè thêm kỷ niệm,
Người xưa biết đâu mà tìm?
(Nỗi Buồn Hoa Phượng, Thanh Sơn)

Nhớ nhau, tuổi học trò chỉ còn biết tìm vào lưu bút, nơi lưu dấu biết bao hình ảnh và tình cảm thân thương của bạn bè một thời áo trắng:

Người ơi nhắc đến chi kỷ niệm xưa khiến lòng tôi bùi ngùi
Ngày biệt ly hai đứa đứng nhìn nhau, anh cài cành hoa tím
Hoa xưa đây, nhưng bóng dáng em đâu?
Dòng nhật ký đã ghi nốt tâm tình
Và đôi lúc nhớ nhau lưu bút còn để lại chuyện buồn vui.
(Lưu Bút Ngày Xanh, Thanh Sơn)

Nhưng, còn gì buồn hơn là tâm trạng của một chàng trai phiêu bạt, một chiều quay lại trường xưa để dõi tìm bạn cũ, thì cảnh cũ còn đây mà người xưa đã biền biệt phương nào,

Dẫu biết rằng đó cũng chỉ là vì hoàn cảnh quê hương thời ly loạn:

Bạn cũ xa rồi, có người về đất buông xuôi
Năm ba đứa bạt phương trời, hai thằng đầu quân năm tới
Ve ơi, hát gì điệu nhạc lâm ly, khóc người biền biệt sơn khê
Cố nhân đi bao giờ mới về...
(Trường Cũ Tình Xưa, Duy Khánh)

Nhạc Việt Nam Cộng Hòa vô cùng phong phú, ngoài tuổi học trò ra còn tình yêu nữa, một đề tài muôn màu, muôn sắc và muôn thuở của biết bao văn nhân, thi sĩ và ca, nhạc sĩ của Miền Nam Tự Do.

Ðối với xã hội Miền Nam Việt Nam hồi các thập niên 1950, 60 và 70, một xã hội còn tràn đầy những cương thường, đạo lý, yếu tố quan trọng đầu tiên của tình yêu là lòng chung thủy:

Yêu ai, yêu cả một đời.
Tình những quá khắt khe
Khiến cho đời ta đau tủi cả lòng
Vì yêu ai mà lòng hằng nhớ...
(Nỗi Lòng, Nguyễn Văn Khánh)

Tình yêu có khi là mù quáng, khốn nạn, khiến con người cứ vất vơ, vất vưởng:

Tình yêu như trái phá con tim mù lòa.
Một mai thức dậy, chợt hồn như ngất ngây, chợt buồn trong mắt nai,
Rồi tình vui trong mắt, rồi tình mềm trong tay...
(Tình Sầu, Trịnh Công Sơn)

Có khi, như lời Văn Phụng, tình yêu còn đồng nghĩa với khổ đau:

Yêu là tìm thương đau, với xót xa lệ tình khôn lau
Biết nói sao những khi u sầu, những khi úa nhàu tâm tư.
(Yêu, Văn Phụng)

hay cũng có nghĩa là nước mắt, là tiếng khóc nữa, theo lời Y Vân:

Những ân tình em đong bằng nước mắt
Khóc cho đầy hai chữ tình yêu
Phấn hương nồng em xem tựa tấm áo
Ðã thay màu ân ái từ lâu...
(Ảo Ảnh, Y Vân)

Với Lê Uyên Phương, tình yêu, vì lỡ muộn màng, nên phải vội vàng, và tình yêu, dẫu có muộn màng, cũng không hề thiếu vắng đắm say:

Cho tôi yêu em nồng nàn
Cho tôi yêu em nồng nàn
Dù biết yêu tình yêu muộn màng.
(Tình Khúc Cho Em, Lê Uyên Phương)

Khi đã yêu, còn nỗi sầu nào lớn hơn là nỗi sầu vì đôi lứa phải xa nhau, nhất là khi hai người đã thật sự và vĩnh viễn xa nhau:

Mai! Anh đã xa em thật rồi
Anh sẽ xa em trọn đời
Dù lòng thương nhớ không nguôi
Mai!
Anh biết em trong một ngày
Anh đã yêu trong một ngày
Ðể sầu đau đến bao ngày...
(Mai, Quốc Dũng)

Và nếu đã đến thế, thì còn lưu luyến nhau làm gì cho thêm khổ, thêm sầu:

Không! Không! Tôi không còn yêu em nữa
Không! Không! Tôi không còn yêu em nữa
Không! Không! Tôi không còn yêu em nữa, em ơi!
Tình đời thay trắng đổi đen, tình đời còn lắm bon chen
Tình đời còn lắm đam mê, nên tình còn lắm ê chề...
(Không, Nguyễn Ánh 9)

Nhưng yêu có khi còn là những phút giây cuồng loạn, chụp giựt vì cảnh sống rày, chết mai của đời lính trong chiến tranh cũng có mà vì cuộc đời quá ngắn ngủi, phù du cũng có:

Ớ là thế, đời sống không là bao
Ớ là bao, đời không lâu là thế
Ớ được bao năm sống mà yêu nhau...
(60 Năm Vuột Ðời, Y Vân)

Ðặc biệt, trong xã hội Miền Nam Việt Nam thời bấy giờ, một đề tài trong âm nhạc có khi còn lớn hơn cả đề tài tình yêu nữa, đó là đề tài về người lính, bởi vì 21 năm tồn tại ngắn ngủi của Việt Nam Cộng Hòa phải được coi như là 21 năm chiến tranh liên tục, từ những cuộc chiến tranh đảng phái do Thực Dân Pháp để lại trong 2 năm đầu lập quốc cho tới cuộc chiến tranh phá hoại dai dẳng của Cộng Sản Bắc Việt trong kế hoạch trường kỳ thôn tính Miền Nam Tự Do của Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Vì thế, hễ nói đến nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa hồi các thập niên '50, '60 và '70 là phải nói đến “nhạc lính.”

Nhạc lính của Việt Nam Cộng Hòa vẫn được coi là một thứ “bửu bối” có mãnh lực kỳ diệu đem lại sức sống kiên cường cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến đấu gian khổ chống lại cuộc xâm lược bạo tàn và dai dẳng kéo dài suốt 2 thập niên của các lực lượng Cộng Sản Quốc Tế. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn được coi là lẽ sống của Miền Nam Tự Do, bởi vì hễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn thì Miền Nam Tự Do còn, mà hễ quân lực đó mất đi thì Miền Nam cũng mất theo luôn.

Các nhạc phẩm về lính thường đặt người trai nơi tiền tuyến chống đánh giặc Cộng vào vòng yêu đương với người em gái chốn hậu phương:

Này chàng, từ hậu phương hay biên cương
Nơi đây, chàng đến, áo vương bụi đường
Nhìn chàng là người trai, ôi phong sương
Tim tôi đã mến biết bao lâu rồi
Chàng từ miền ngược xuôi hay nơi đâu
Nơi đây, dừng bước kết duyên bạn đầu
Một lời, đẹp tình xin trao cho nhau
Tuy tôi chưa biết hỡi chàng là ai...
(Chàng Là Ai, Nguyễn Hữu Thiết)

Hàng hàng, lớp lớp những người trai thế hệ đã cầm súng lên đường bảo vệ quê hương Miền Nam Tự Do:

Người đi giúp núi sông, hàng hàng lớp lớp chưa về
Hàng hàng nối tiếp câu thề giành lấy quê hương...
(Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Nguyễn Văn Ðông)

Có khi, những lần ra đi vì nước như vậy của người trai thời loạn lại diễn ra vào một đêm trăng sáng lung linh:

Những đêm mười sáu trăng tròn
Vượt con đường mòn đi giữ làng thôn...
(Mười Sáu Trăng Tròn, Trần Thiện Thanh)

Các chàng trai đó vẫn hiên ngang ra đi, “băng mình vào sương gió, sống trọn kiếp trai hùng” bởi vì họ:

Không quên lời xưa đã ước thề
Dâng cả đời trai tới sa trường
Nam nhi cổ lai chinh chiến hề
Nào ai ngại gì vì gió sương...
(Anh Ði Chiến Dịch, Phạm Ðình Chương)

Ðời lính luôn gian khổ, nhưng tình yêu quê hương, xóm làng trước cuộc xâm lược của quân cộng sản từ phương Bắc luôn là động lực giúp người lính chiến vượt thắng bao gian nguy:

Tôi thường đi đó đây, bùn đen in dấu giày...
Ðêm đêm nằm đường ngăn bước thù
Áo nhà binh thương lính, lính thương quê
Vì đời mà đi...
(Trên Bốn Vùng Chiến Thuật, Trúc Phương)

Cuộc gặp gỡ giữa chàng trai tiền tuyến hiên ngang và người em gái hậu phương e ấp không làm sao khỏi để lại những vấn vương, tiếc nuối:

Chợt thấy lòng lưu luyến và tâm hồn xao xuyến
Trông anh trai phong sương, em thấy mà thương...
(Ðò Chiều, Trúc Phương)

để rồi:

Thương người gió lạnh đường xa, khuê phòng em đan áo
Thương đời bé bỏng miền quê, anh giữ yên biên thùy...
(Tình Chàng Ý Thiếp, Y Vân)

hay:

Chờ ngày dệt xong áo chung tình
Em đem tới đồn mà tặng anh...
(Bức Tâm Thư, Lam Phương)

Người lính Cộng Hòa nơi biên cương, “ngoài yêu núi sông thì tim này dâng cả em,” luôn nhớ về người em gái hậu phương bé bỏng, mong manh như một cành hoa:

Xin anh che chở tấm đời nhỏ bé hậu phương
Như câu chuyện tình Người Hùng và Giai Nhân
Những cánh hoa hồng bên hàng rào kẽm hầm chông
Vẫn mong bàn tay người đem tưới vun trong vườn...”
(Cánh Hoa Thời Loạn, Y Vân)...

Có lẽ người lính Cộng Hòa, ngoài tình yêu dành cho người em gái hậu phương, chỉ còn một tình yêu lớn khác là tình yêu quê hương, đất nước:

Dẫu cho tình đôi ta bao la như chiều vàng
Tim sông hồ trót mang, quê hương tình vấn vương
Nên đêm trăng vàng đẹp hành trang xuôi vạn lý, anh nói câu tạ từ...
(Ðôi Ngã Ðôi Ta, Trần Thiện Thanh)

hay:

Viết cho em, trao cả về em với muôn vạn niềm thương
Vì đời trai gió sương
Ngoài yêu núi sông thì tim này dâng cả em...
(Ðêm Dài Chiến Tuyến, Lam Phương)

Thế rồi, “kìa nơi xa xa có bà mẹ già, từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa” cho thấy, bên cạnh tình yêu trai gái, người lính Cộng Hòa lại còn có tình yêu Mẹ nữa, ôi quá thiêng liêng “mẹ già một nắng hai sương mỏi mòn” chờ đợi người con trai lính chiến trở về từ chốn xa xăm:

Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng trên nương
Năm trước, con hẹn đầu Xuân sẽ về
Nay, én bay đầy trước ngõ
Mà tin con vẫn xa ngàn xa...
(Xuân Này Con Không Về, Trịnh Lâm Ngân)

Và, đặc biệt trong những giây phút cô đơn ngoài biên ải, hình ảnh Mẹ và những lời giáo huấn của Mẹ lại hiện lên trong tâm trí của người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa:

Ngày nao con ra đi nhớ câu Mẹ khuyên
Yêu nước như yêu Mẹ hãy còn giữ trong linh hồn.
(Nửa Ðêm Biên Giới, Anh Bằng)

Chiến tranh là mất mát, là đổ vỡ, và là chết chóc, tang thương. Làm thân chiến sĩ dặm nghìn da ngựa, một đi không trở lại là chuyện thường tình trong chiến tranh, dù anh lính chiến đó có là Nguyễn Văn Ðương, Nguyễn Ðình Bảo, Bắc Ðẩu, Trần Thế Vinh, Lưu Kim Cương, Ngụy Văn Thà, hay là Phạm Phú Quốc, người phi công anh hùng chợt rụng cánh đại bàng trong lần vượt tuyến lửa trên đường Bắc phạt:

Chiều nao anh đi làm kiếp người hùng
Chiều nao thương ôi rụng cánh đại bàng
Chiều nao anh đi, anh về đất
Chiều nao anh đi, anh về nước
Chiều nao huy hoàng, bụi hồng bay khắp không gian...
(Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc, Phạm Duy)

Trong dòng nhạc của Miền Nam Tự Do thời trước 1975, còn một đề tài lớn nữa, đó là đề tài về “khát vọng hòa bình” của toàn thể quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng đây chắc chắn không phải là thứ hòa bình mà những người cộng sản đã áp đặt lên đầu, lên cổ người dân Miền Nam Tự Do từ ngày 30 Tháng Tư năm 1975, một thứ hòa bình mà phe phản chiến tại Việt Nam luôn kêu gào, để rồi đa số những người đó lại tìm cách này hay cách khác mà cao bay xa chạy khỏi một Việt Nam Cộng Sản khi xe tăng và đại pháo của Bắc quân đã ập tới, để cho dân chúng Miền Nam Việt Nam đáng thương kia phải lãnh đủ hậu quả đau thương từ khát vọng hòa bình khờ khạo đó của họ.

Khát vọng hòa bình của dân chúng Miền Nam Việt Nam dường như đã đến rất sớm, ngay sau khi đất nước vừa bị chia đôi:

Người ơi, ước mong ngày tan chính chiến
Ðể toàn dân sống trong cuộc đời ấm êm
Ta nhắn gửi về nơi phương Bắc xa vời
Hỡi ai lạc hướng mau quay về đây.
(Về Ðây Anh, Nguyễn Hiền & Nhật Bằng)

Lời chúc Tết trong ly rượu mừng Xuân, ngay từ những năm đầu lập quốc, đã nói lên khát vọng hòa bình thật thà và nhân hậu đó của dân chúng Miền Nam Tự Do, điều mà, ngày nay, người dân Việt khắp nơi cho rằng Miền Nam Việt Nam lúc đó đã quá thơ ngây trước âm mưu đen tối của Cộng Sản Bắc Việt muốn chiếm trọn phần đất phía Nam của tổ quốc, cho dù với cái giá phải trả là xương chất thành núi, máu chảy thành sông, từ Quảng Trị qua Kon Tum cho tới An Lộc:

Chúc non sông hòa bình, hòa bình
Ngày máu xương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
Ðợi anh về trong chén tình đầy vơi
Nhấc cao ly này
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hòa.
(Ly Rượu Mừng, Phạm Ðình Chương)

Lúc đó, cũng chính nhạc sĩ Phạm Ðình Chương, đã nổi hứng ước mơ một nền hòa bình trong tự do, dân chủ trên quê hương sau khi miền Bắc đã sạch bóng quân thù cộng sản, nhưng ước vọng này, tiếc thay, đã không thể thành hiện thực:

Bao nhiêu chàng trai tay siết mạnh
Thầm hẹn ngày về quê Bắc ơi...
(Anh Ði Chiến Dịch, Phạm Ðình Chương)

Vì cuộc Chiến Tranh Việt Nam quá đau thương và quá tàn khốc sau gần 2 thập niên, Hòa Bình đã trở thành tiếng kêu gào thê thiết của dân chúng Miền Nam Việt Nam:

Hòa bình ơi, chờ trông nhau như con chờ mẹ
Chờ trông nhau như gió mùa Hè
Chờ trông nhau nắng đẹp tình quê...
(Tình Em Biển Rộng Sông Dài, Duy Khánh)

Cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài đã dập vùi biết bao ước vọng chân thành của người dân Miền Nam Việt Nam, đẩy lùi nền hòa bình hằng mong đợi đó ra xa, và người dân Miền Nam Việt Nam vẫn cứ thế mà mỏi mòn trông đợi hòa bình:

Nếu một mai khi hòa bình anh sẽ dìu em qua phố đêm
Cho từng ngón tay đan lại ái ân ngọt mềm...
Nếu một mai khi hòa bình anh có về như em ước mơ
Khi lửa khói xa chỉ là giấc mê trong đời,
Ngày chia tay nhòa nước mắt, nhạt mi em, mặn môi anh
Thì em ơi xin xem là dĩ vãng mà thôi...
(Lời Cho Người Em Nhỏ, Trần Thiện Thanh)

Trịnh Lâm Ngân, luôn tin vào chiến thắng sau cùng của chính nghĩa Tự Do, cứ tưởng nền hòa bình sắp tới trên đất nước Việt Nam là nền hòa bình theo thiện ý của người dân Miền Nam hiền hòa, tội nghiệp:

Một mai xa cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, anh lại về bên em
Ngay gió mưa không còn nên dường dài thật dài, ta mặc tình rong chơi...
Cùng nhau ta sẽ đi, sẽ thăm bao nơi xưa, xuôi một thuở lênh đênh
Ta sẽ thăm từng người, sẽ đi thăm từng đường, sẽ vô thăm từng nhà...
(Qua Cơn Mê, Trịnh Lâm Ngân)

Nhưng dẫu sao, đó cũng vẫn là khát vọng hòa bình chân chính của hai mươi mấy triệu người dân Miền Nam Việt Nam trước một cuộc chiến tranh quá dài từng gieo rắc quá nhiều đổ vỡ và gây quá nhiều tang tóc, điêu linh cho đất Mẹ, khiến nhiều người phải thiết tha van xin chút hồng ân từ Ðấng Tối Cao:

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu
Rưng rưng tôi chắp tay nghe hồn khóc đến rớm máu
Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội tình
Mẹ Việt Nam yêu dấu ơi! Bao giờ thanh bình?
(Ðêm Nguyện Cầu, Lê Minh Bằng)

Thay lời kết

Có người định nghĩa “văn hóa là những gì còn lại sau khi người ta đã quên hết mọi thứ.” Kỳ diệu thay, điều này cũng đúng cho âm nhạc nữa, nhất là đối với nền âm nhạc của Việt Nam Cộng Hòa sau ngày mất nước, bởi vì, cũng giống như thơ trong văn chương, âm nhạc dễ nhớ hơn và dễ đi vào lòng đại chúng hơn so với các tác phẩm văn xuôi cũng phản ảnh giai đoạn an bình, hạnh phúc trong chiến tranh của Miền Nam Tự Do thuở ấy. Ðó là chưa kể phần lớn những công trình văn hóa bằng sách vở, chữ viết, phim ảnh và điêu khắc của Miền Nam Việt Nam, sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, đều đã bị quân cộng sản chiếm đóng tịch thu và tiêu hủy theo sách lược “đốt sách, chôn học trò” thời Tần Thủy Hoàng (247-221 trước Công Nguyên) bên Tàu.

Thủ đô Sài Gòn cũng như đường sá tại Sài Gòn và các tỉnh, thành khác tại Miền Nam Việt Nam đã bị chính quyền cộng sản đổi tên. Nhiều công trình và cấu trúc mới mọc lên trong khi các tòa nhà và kiến trúc cũ dần dà bị đập phá khắp nơi, kể cả các cây cổ thụ và cây xanh bị bứng gốc một cách phũ phàng khỏi các thành phố lớn đã ấp ủ chúng từ bao nhiêu thập niên qua. Cảnh trí tại Miền Nam Việt Nam bây giờ mới quá, nhìn không ra. Từ chiếc cầu đến xa lộ cho đến cây đa, bến nước, con đò... tất cả đều đã đổi thay.

Trong khi “ngày về quê xa lắc lê thê” - như lời nhạc trong “Tình Khúc Thứ Nhất” của Vũ Thành An - thì ngày phục quốc nay vẫn còn xa vời lắm, bởi vì người Việt hải ngoại chưa đủ nhân tài và vật lực để làm chuyện đó, trong khi các thành phần còn nặng lòng với Việt Nam Cộng Hòa thì lại đang mai một dần, và chính quyền Mỹ thì không bao giờ ủng hộ việc dùng võ lực lật đổ chính quyền Hà Nội. (Ai cũng biết rằng, hồi Tháng Sáu năm 2007, căn cứ vào Ðạo Luật Trung Lập của Hoa Kỳ, gọi là Neutrality Act, chính phủ Mỹ đã từng bắt giữ và truy tố ra tòa Tướng Vang Pao của nhóm người Hmong lưu vong, vị cựu tướng lãnh của Quân Ðội Hoàng Gia Lào từng đóng góp xương máu vào cuộc chiến tranh ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Ðông Nam Á do Mỹ đề xướng thời Chiến Tranh Việt Nam, chỉ vì vị tướng kiêu hùng này mưu cầu chuyện dùng vũ lực lật đổ chế độ Cộng Sản Lào.)

Với thời gian, các công trình vật chất của các thời đại xưa cũ như Việt Nam Cộng Hòa, nếu không được những thế hệ mai sau bảo trì bằng tất cả thành tâm, thiện chí, sẽ không thể nào tồn tại được, đừng nói gì tới chuyện tồn tại trước những ác ý phá hoại của người cộng sản ngày nay.

Tuy nhiên, “may mà có em, đời còn dễ thương” - như lời nhạc trong “Còn Một Chút Gì Ðể Nhớ” (nhạc Phạm Duy, thơ Vũ Hữu Ðịnh) - khi người Việt hải ngoại cũng như tại quốc nội vẫn còn một chỗ dựa ấm êm để bảo tồn những gì còn lại sau khi Miền Nam Tự Do và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã mất đi, và đó chính là nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975.

Trong nhạc phẩm “Ơn Nghĩa Sinh Thành,” nhạc sĩ Dương Thiệu Tước nói đến chữ “hiếu” trong truyền thống đạo đức của xã hội Việt Nam. Thật ra, cốt lõi của chữ “hiếu” chính là lòng biết ơn và nhớ về nguồn cội của con người:

Uống nước nhớ nguồn, làm con phải hiếu...
Vì đâu anh nên người tài ba?
Hãy nhớ công sinh thành
Vì đâu mà có ta?
(Ơn Nghĩa Sinh Thành, Dương Thiệu Tước)

Dù đã đánh mất quê hương, các con dân của Việt Nam Cộng Hòa cùng đoàn hậu duệ không thể nào quên ơn nước Việt Nam Cộng Hòa đã sinh ra, giáo dục và giang rộng đôi cánh bảo vệ họ cho tới ngày mất nước. Rồi khi hằng triệu dân chúng Miền Nam Việt Nam phải bỏ nước ra đi để lánh nạn cộng sản tại các quốc gia khác, Việt Nam Cộng Hòa vẫn tiếp tục dùng chính nghĩa và danh thơm còn sót lại để giúp họ được nhận vào làm người tị nạn tại các nước tự do, dân chủ trên thế giới.

Giờ đây, Việt Nam Cộng Hòa, có còn chăng, chỉ là còn trong kỷ niệm:

Nên khi vắng anh
Ðường đã thay tên
Còn chăng kỷ niệm
Lạnh đầy theo tiếng bước ưu tư đi tìm.
(Con Ðường Mang Tên Em, Trúc Phương)

Ðối với nhạc sĩ Song Ngọc, dường như cuộc chia ly nào cũng là do bàn tay của định mệnh gây ra:

Ôm ấp chi một định mệnh buồn
Ðể chua xót những gì cho nhau
Người bước đi mà nát tan lòng
Ai đứng trông theo ngậm ngùi
Tình yêu mất đi còn đâu...
(Ðịnh Mệnh, Song Ngọc)

Trong tâm tình đó, nhạc sĩ Nguyễn Hiền đành thả hồn tìm về những chiều vàng trên lối biếc:

Niềm thương dù cho xa cách muôn trùng không phai mờ
Ngày tháng vấn vương theo áng mây trôi đi bơ vơ
Tìm lúc chiều về những phút say mơ
Tìm về lối cũ nên thơ
Hàng cây im bóng bên hồ...
(Tìm Ðâu, Nguyễn Hiền)

Còn Ðoàn Chuẩn-Từ Linh thì vẫn mãi chung tình với cung đàn cũ, điệu buồn xưa:

Nhớ nhau, đành tìm trong tiếng hát
Ðời vắng em rồi, vui với ai?
(Lá Ðổ Muôn Chiều, Ðoàn Chuẩn - Từ Linh)

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Image


Cấm cả những ước ao bình thường nhất


Bùi Bảo Trúc
Mới đây, tin từ trong nước cho biết một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của Phạm Đình Chương, bài Ly Rượu Mừng, ca khúc không thể thiếu trong dịp xuân về, từng được hát lên từ hơn một nửa thế kỷ nay ở trong nước cũng như ở ngoài nước, cuối cùng đã được “cho phép” cất lên ở trong nước.

Tức là trong 40 năm qua, bài hát này chỉ được hát một cách lén lút ở Việt Nam.

Phạm Đình Chương sáng tác bản nhạc này năm 1955 chứ không phải năm 1952 như một số chi tiết trong nước đã cho biết về ca khúc này. Người ta không muốn cho ca khúc này được viết ra dưới chế độ miền Nam. Nhưng phần ca từ của bản nhạc cho thấy nó không thể ra đời trước năm 1954.

Chuyện cấm không cho một tác phẩm nghệ thuật được phổ biến là chuyện không hiếm trên thế giới. Lý do có thể là vì nó không phù hợp hay đi ngược lại đường lối, lập trường chính trị của một chế độ hay một chính phủ nào đó. Hay cũng có thể tác giả là người phía “bên kia”. Trong trường hợp này, phải nói là miền Nam cởi mở hơn miền Bắc rất nhiều. Các ca khúc của các tác giả ở lại miền Bắc đều được trình bầy tự do ở miền Nam. Các tác phẩm của Đoàn Chuẩn, Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý, Phan Huỳnh Điểu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Văn Cao… đều được phổ biến ở miền Nam trong khi chúng lại bị cấm ở miền Bắc. Trong khi đó, ngay cả những tác giả thiên về phía bên kia tác phẩm của họ cũng không hề bị ngăn cấm. Trịnh Công Sơn là một. Phạm Trọng Cầu, Miên Đức Thắng… là những trường hợp khác.
Một lý do khác để cấm phổ biến những tác phẩm nghệ thuật là nội dung, ca từ không phù hợp với khung cảnh, tình hình, cục diện. Miền Nam, về phương diện này cũng cởi mở và dễ dàng hơn miền Bắc.

Bài Ly Rượu Mừng bị cấm hát lên từ 40 năm nay ở trong nước vì nó rơi vào cả hai trường hợp để phải cấm. Nhưng chuyện cấm nó, tuy không có ghi trong một văn bản rõ ràng nào, là một quyết định thậm vô lý.
Tạm bỏ qua chuyện chính trị như Phạm Đình Chương viết bản nhạc này ở Sài Gòn, không ở Hà Nội. Hay Phạm Đình Chương đã cùng gia đình vượt biên đi tìm tự do. Nghe lại các tác phẩm của ông, người ta bao giờ cũng thấy những ao ước, những cơn mơ tốt đẹp, những hy vọng tươi đẹp cho một ngày mai, cho một tương lai hạnh phúc chan hòa, cho con người. Cho dù đó là Hò Leo Núi, Nhạc Tuổi Xanh, Xóm Đêm…

Trở lại với phần ca từ của Ly Rượu Mừng.
Bản nhạc được viết với nhịp 3/4, nhịp valse vui tươi trẻ trung đã trở thành một ca khúc được cất lên trong suốt nhiều năm ở miền Nam. Nó là những ngợi ca cho một đời sống tươi đẹp, những ao ước cho một tương lai ngời sáng.
Nhưng đó lại là những điều nhà cầm quyền không muốn.
Hãy nghe lại những ước muốn ấy!

Chỉ là những lời chúc cho anh nông phu, người thương gia lợi tức, người công dân ấm no. Có gì sai quấy trong ước vọng ấy?
Hay lời chúc gửi tới người mẹ già mắt vương lệ nhòa trông chờ người con đi chiến đấu xa nhà? Chỉ là lời chúc cho bà mẹ sớm gặp lại người con yêu quí.
Hay lời chúc người nghệ sĩ làm đẹp cho đời sống của chúng ta?
Hay lời chúc tốt đẹp nhất cho một quê hương hòa bình?
Toàn những lời chúc tốt đẹp, những giấc mơ, những ao ước rất bình thường nhưng đều bị coi là những đe dọa cho chế độ nên cần phải cấm tiệt.

Cấm cả những giấc mơ thì khốn nạn hết sức, Mà cũng không cách gì cấm nổi! Bài hát của Phạm Đình Chương chỉ đưa ra những mơ ước hiền lành giản dị cho một đất nước thanh bình tốt đẹp đầm ấm, nó vẫn được cất lên cho một dân tộc hạnh phúc, thương yêu nhau. Vậy mà những hát vọng ấy cũng không được hát lên. Vì lẽ những ước ao khát vọng ấy không nhắc đến cái đảng tàn độc vẫn còn đầy đọa đất nước và một người mà bàn tay của nó đẫm máu của người Việt chúng ta, bóp chết tất cả những mơ ước hiền lành và tội nghiệp nhưng lại vô cùng tươi đẹp của dân tộc trong gần một thế kỷ nay.

Ly Rượu Mừng sẽ sống mãi trong lòng và trên môi của người Việt.

Bùi Bảo Trúc

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Tự do ngôn luận và công kích cá nhân
Hoàng Giang

Viết blog là một trải nghiệm rất hay đối với bản thân tôi, đặc biệt là khi đọc bình luận của độc giả sau mỗi bài viết. Tôi cũng có tham khảo thêm nhiều blog của các tác giả khác để trau dồi thêm hiểu biết và kiến thức. Các bài viết của blogger được đăng tải trên trang web chính thức của VOA và được chia sẻ trên trang cá nhân Facebook. Dễ dàng nhận thấy rằng các bình luận trên trang web thì luôn luôn đi thẳng vào vấn đề chính, có luận điểm căn cứ chính kiến khá rõ ràng, nhiều bình luận còn khiến tôi phải suy nghĩ để căn chỉnh phong cách viết lách của mình. Còn trên Facebook, nơi có thể nói là việc nêu ý kiến không bị ai - từ admin cho đến chính quyền - kiểm soát, bình luận viên luôn có thái độ công kích cá nhân.

Thí dụ như bài viết gần nhất của tôi bàn về chuyện nên hay không nên bỏ Tết truyền thống kèm theo một loạt các hệ lụy của việc nghỉ Tết quá dài, thì thay vì phản bác bằng ngôn từ và luận cứ rõ rang, họ quay ra chỉ trích từ trình độ văn hóa, giáo dục cá nhân tác giả cho đến nguồn gốc gia đình. Ngôn từ xúc phạm thì cũng vô cùng phong phú. Tôi hiểu rất rõ rằng khi mà bản thân muốn có quyền tự do ngôn luận thì đồng thời cũng phải chấp nhận quyền của người nghe và đọc tự do phản bác. Tuy nhiên trong cả trăm “comment” thì không có một phản bác nào có tính xây dựng. Tôi cũng tin chắc rằng có những người chỉ đọc mỗi cái tựa bài rồi ngay lập tức bật chế độ “auto chửi.”

Công kích cá nhân là một hiện tượng không hiếm trên mạng xã hội Việt. Gần đây có một vụ scandal về một cô ca sĩ người Hàn khá nổi tiếng tên là Hari Won. Cô là ca sĩ, diễn viên được yêu mến tại Việt Nam, đặc biệt càng được công chúng hâm mộ bởi mối tình 9 năm với một rapper Việt. Cuối năm 2015, họ tuyên bố chia tay. Sau thời gian công bố được 2 tháng, báo chí chộp được hình ảnh về quan hệ tình cảm giữa cô và một nam MC khác. Từ đó sự việc cứ bùng nổ đến nay chưa ngớt. Những ngôn ngữ dè bỉu tệ hại nhất được cộng đồng mạng “ném” lên trang cá nhân của Hari Won và chàng MC một cách không thương tiếc. Vô số người không ngần ngại kêu gọi đuổi cô về nước Hàn, cho rằng cô ở lại là ô uế nước Việt…Nghĩ đi nghĩ lại thì tôi cũng không thực sự rõ cô gái ấy có tội tình gì, khi mà chuyện tình cảm rõ ràng là một vấn đề hết sức cá nhân và chủ quan. Chưa kể, theo tôi nghĩ, sự kiện một nghệ sĩ nước ngoài đến Việt Nam để học tiếng Việt và hoạt động nghệ thuật là một điều rất đáng trân quý, ngưỡng mộ.

Một trường hợp điển hình khác là nhà văn Trang Hạ - một tác giả chuyên lên án các đấng mày râu Việt ăn không ngồi rồi, gia trưởng số 1 thế giới. Đi kèm với các bài viết công kích là cả ngàn lượt bình phẩm về vấn đề nhan sắc của chị. Mà có vẻ như chị cũng đã quen, càng bị chửi chị viết càng đanh thép.

Tôi cũng theo dõi trường hợp của khá nhiều người có những bài viết, quan điểm đa chiều trên Facebook. Một số những người này là Việt kiều, có nghề nghiệp là giáo sư, bác sĩ… mỗi khi họ có một bài viết mới về một vấn đề tiêu cực hay trái chiều là y như rằng họ bị rất nhiều người gán ngay cho mác “bán nước”, hay “ngụy”, hoặc “mất gốc”… Kèm theo đó là vô số những câu “chửi bới không biên giới”. Tôi lấy làm lạ - 40 năm trôi qua, câu chuyện kẻ Bắc người Nam khó có thể trở thành lý do chính đáng cho sự thù hằn đến như vậy, phải chăng những con chữ đó, thái độ đó đã thấm vào máu và trở thành một lối suy nghĩ, một quan niệm của người Việt từ bấy đến giờ?

Nói chung, có thể thấy đa số những phản ứng như vậy rất nặng chất quán tính. Bất cứ vấn đề gì đi ngược lại với niềm tin của mình, là họ sẽ xù lông nhím mà công kích đối phương, chưa kể đa số người cũng không cần có niềm tin, mà sẽ dựa vào ý kiến đám đông. Nếu xét kỹ thì có thể thấy những niềm tin đó hoàn toàn không có cơ sở, và càng không phù hợp với sự phát triển văn minh.

Trong trường hợp của cô ca sĩ Hàn Quốc, họ miệt thị cô vì sẵn sàng từ bỏ mối quan hệ kéo dài 9 năm của mình, một cách cương quyết, dứt khoát. Đó liệu có phải là một minh chứng quá rõ ràng cho lối suy nghĩ “tam tòng” đã nhiễm quá nặng nề vào đầu óc và lối sống của người Việt hay không? Tại sao lại lên án một cá nhân khi họ không hành xử đúng theo quan niệm của mình? Điều này cũng tương tự như khi một Việt kiều luận bàn về kinh tế chính trị trì trệ của nước nhà, thì ngay lập tức bị cho là “phản động”?

Nhân đây cũng xin nói luôn rằng, người Việt cũng có thói quen công kích cá nhân trong cả vấn đề chính trị. Việc ưa ông thủ tướng này, ghét ông bí thư kia nhiều khi chỉ do nhìn vào diện mạo. Đa số người coi khinh một vị lãnh đạo không phải vì những việc ông hay bà đã làm mà vì tuổi tác của họ, và thường thì những người phê phán cũng chẳng bỏ công tìm hiểu tiểu sử hay thành tích của các nhà lãnh đạo liên hệ. Vậy thì việc người này lên, người kia xuống cũng đâu có ý nghĩa gì đối với vận mệnh cá nhân, nói gì đến vận mệnh đất nước?

Năm 2015, tại Việt Nam, chương trình Bitches in town, hay còn gọi là Những kẻ lắm lời ra mắt khán giả trên Youtube, chuyên tán chuyện trên trời dưới đất từ đời sống xã hội văn hóa đến chính trị, người bình dân cũng như kẻ nổi tiếng. Tuy nhiên talk show này chỉ thực sự gây chú ý khi bình luận về gu thời trang của một ca sĩ trẻ. Chuyện lùm xùm đến độ các cơ quan chức năng phải vào cuộc và đưa quyết định xử phạt hành chính và…dừng show trên Youtube (quái lạ!). Không có một thông tin tuyên truyền nào chống phá nhà nước, không một lời nói hành động nào có tính cách bạo động, nhưng chương trình này vẫn bị tẩy chay bởi chính khán giả Việt. Đó là một trường hợp cụ thể để thấy rằng rất khó để có được quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam. Đây không phải chỉ là câu chuyện về chính quyền khắt khe mà là về khả năng tiếp nhận trao đổi thông tin đa chiều của đa số người Việt. Do cái nhìn và quan điểm chưa mở cũng như kiến thức chưa đủ sâu, chính bản thân họ đã tự tước đi quyền hạn đó của chính mình.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Lễ hội tại Việt Nam ngày càng u mê, xô bồ và man rợ
Sunday, February 21, 2016 3:31:13 PM


HÀ NỘI (NV) - Những gì vừa xảy ra tại Hội Phết Hiền Quan (huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ)
khiến nhiều người khuyến cáo phải xem lại các lễ hội trong Tháng Giêng Âm Lịch, đặc biệt là ở miền Bắc.

Image
Tranh cướp phết trong Hội Phết Hiền Quan.

Phết là một quả cầu được làm từ gốc tre. Vì phết được xem là vật đem lại may mắn nên Hội Phết là dịp mà những người dự hội giành với nhau để đoạt cho bằng được.

Trong Tháng Giêng Âm Lịch, tại miền Bắc Việt Nam có hai nơi tổ chức Hội Phết là Bản Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (mùng 7 Tháng Giêng Âm Lịch) và xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ (12 và 13 Tháng Giêng Âm Lịch).

Năm nào các Hội Phết cũng hỗn loạn và năm nay, mức độ hỗn loạn ở Hội Phết Hiền Quan khiến nhiều người, kể cả dân chúng ở đây kinh hoàng. Thanh niên ở xã Hiền Quan chia làm nhiều nhóm, lao vào tấn công nhau bằng cả tay chân, lẫn gậy gộc. Một số kẻ chạy trên đầu đám đông để giành cho bằng được “may mắn.” Cho đến nay, chưa có thống kê chính thức về số người bị thương nhưng báo chí Việt Nam khẳng định là rất nhiều.

Trong khoảng hai thập niên vừa qua, Tháng Giêng Âm Lịch - tháng của lễ hội dân gian - là thời điểm mà miền Bắc Việt Nam trở thành hỗn loạn vì rác rưởi của những đoàn người từ khắp nơi đổ về dự hội xả ra, vì trộm cắp, cướp giựt, lừa đảo. Đặc biệt là vì sự ái ngại khi càng ngày càng nhiều người nhận ra, các “lệ hội dân gian” đã trở thành dịp cho thấy sự u mê, man rợ trong đám đông càng ngày càng lớn.

Dù có nhiều khuyến cáo về tác hại nhưng năm nay, lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, vẫn được tổ chức. Hàng ngàn con người tiếp tục háo hức chờ đợi hai người đàn ông dùng dao bén chặt đứt cổ hai con heo sống rồi lao vào chấm máu tươi bôi lên mặt, lên người hoặc dùng các vật dụng khác để thấm máu rồi giữ lại để cầu may.

Image
Một trong những nạn nhân.
Hồi cuối Tháng Giêng vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam tái khẳng định sẽ không in và phát hành các loại tiền có mệnh giá 500 đồng, 1000 đồng và 2000 đồng để phục vụ dịp Tết Bính Thân.

Trong khoảng hai thập niên vừa qua, tại miền Bắc Việt Nam có một phong trào, đó là đổi tiền lẻ để rải khắp các đình, đền, chùa, miếu cầu may. Tuy phong trào này chỉ phổ biến ở miền Bắc nhưng vì nhu cầu “hối lộ thần thánh” quá lớn, mỗi năm, ngân hàng phải chi hàng trăm tỷ đồng để in tiền lẻ. Sau đó phải chi thêm cả tỷ đồng nữa để kiểm, đếm, gom mớ tiền lẻ khổng lồ đó đem cất vào kho, ít năm sau phải tổ chức hủy vì tiền lẻ không có chỗ trong sinh hoạt hàng ngày.

Vào thời điểm vừa kể, một phó thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam khẳng định, nếu in tiền lẻ chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu “hối lộ thần thánh” trong dịp Tết thì đó rõ ràng là một sự lãng phí không thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, từ Tết đến nay, các đình, đền, chùa, miếu ở miền Bắc Việt Nam vẫn ngập tiền lẻ. Báo chí Việt Nam kể rằng, hôm 17 Tháng Hai (mùng 10 Tháng Giêng Âm Lịch), ngày đầu tiên của Lễ Hội Yên Tử (diễn ra trên núi Yên Tử, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh), tuy ban tổ chức kêu gọi khản giọng qua loa rằng đừng thắp quá nhiều nhang vì khói sẽ làm người khác ngộp, đừng dùng tiền chà xát vào chùa Đồng nhưng khu vực Yên Tử vẫn mù mịt khói và đám đông vẫn xô đẩy nhau để lấn tới, dùng đủ thứ mài vào chùa Đồng để lấy hên, trong đó có không ít kẻ là viên chức, đeo phù hiệu “khách mời.” Dù cấu trúc của chùa Đồng rất khít song đa số khách hành hương vẫn tìm đủ cách nhét tiền... lẻ vào các khe để “hối lộ thần thánh...”

Mỗi năm, tại Việt Nam có khoảng 8,000 lễ hội dân gian. Khoảng hai phần ba diễn ra trong Tháng Giêng Âm Lịch và chủ yếu là ở miền Bắc Việt Nam.

Cuối năm ngoái, Bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch xác nhận, nhiều lễ hội không còn phù hợp, có biểu hiện lợi dụng lễ hội để trục lợi. Một số lễ hội có biểu hiện mê tín, bạo lực, truyền bá các hành vi tội ác,... cần hạn chế và chấn chỉnh.

Chưa rõ chính quyền sẽ “chấn chỉnh” thế nào nhưng nhiều người khẳng định, sở dĩ các lễ hội tại Việt Nam càng ngày càng u mê, xô bồ và man rợ vì những viên chức Việt Nam dẫn đầu trong việc cầu may ở mọi nơi, đồng thời cố tình tạo “nét riêng” nhằm tăng “tính hấp dẫn” để thu hút thiên hạ đến dự hội, mở rộng cơ hội tìm thêm nguồn thu. (G.Đ.)

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Dân trí mình đúng thấp thật rồi, cảm ơn đảng và nhà nước!

thanhnientudo

Câu nói của ông đại biểu: “Dân trí nước ta còn thấp.” Bị người dân, chủ yếu dân mạng phản đối ầm ĩ. Còn lại đa phần số đông, những người dân, người lao động không bao giờ online thì chẳng biết, chẳng bận tâm. Mà cho dù có biết đi chăng nữa thì cũng kệ vì chả thấy liên quan gì tới mình. Đấy, mình bị cái đứa mình nuôi nó chửi thẳng mặt là ngu mà cũng không biết, không quan tâm, thì thử hỏi mình có ngu thật hay không?

Chưa kể,

Dân trí cao cỡ nào khi mà ngoại trừ những người quan tâm chính trị ra thì còn mấy ai biết cụ thể công việc, trách nhiệm của những chức danh như Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, Ủy ban mặt trận Tổ Quốc… là cái gì? Họ làm những công việc gì? Trách nhiệm của họ đến đâu? Tại sao ông Đại Tướng chẳng bao giờ thấy mặt mũi trên các thông tin chiến trận ngoại trừ có mặt ở một vài cuộc họp vớ vẩn với ngoại bang? Tại sao những vụ doanh nghiệp Nhà Nước thua lỗ động trời không một ai phải đứng ra chịu trách nhiệm hay nói một lời xin lỗi?

Dân mù tịt không biết đâu mà lần, thậm chí cũng là không quan tâm chút nào hết. Thế thì hỏi có là ngu không? Ngu vì không được dạy hay ngu vì không biết tự tìm hiểu hay ngu vì tìm hiểu mãi cũng không ra… Dù cho là ngu vì bất cứ lý do gì thì vẫn là ngu. Ngu thì là dân trí thấp. Đúng quá rồi còn gì.

Dân trí có cao không khi đa phần người dân không hề muốn nghe muốn nói đến chuyện chính trị vì cho rằng nó không liên quan tới cuộc sống của mình. Không hề biết rằng chuyện chính trị chính là quyền của mình để lập ra một chính phủ có trách nhiệm chăm lo cho đời sống của mình.

Chính trị chính là nội dung giáo dục con cái mình nên người. Chính trị chính là niềm tự hào dân tộc của dân mình khi bước ra khỏi đất nước. Chính trị chính là liều thuốc con mình tiêm vào người, là con đường mình đi, là hàng hóa mình tiêu thụ, là không khí mình hít thở, là sức khỏe của chính mình và gia đình mình?

Tách rời chính trị khỏi cuộc sống và trách nhiệm của bản thân trong khi nó ảnh hưởng sâu sắc và gắn liền mật thiết đến nhau. Cho rằng nó thì không liên quan đến mình, mình thì không làm gì được nó, thì thử hỏi có ngu không, có dân trí thấp không?

Dân trí cao cỡ nào mà để cho Trung Quốc nó ngang nhiên chiếm đảo chiếm đất xây dựng sân bay, công trình mà vẫn im lặng không nói một lời.

Dân trí cao chắc chắn sẽ phải biết biểu tình và giữ im lặng khi bị bắt là hai trong những quyền cơ bản nhất của con người trên bất cứ vùng đất văn minh nào.

Dân trí cao thì đâu thể im lặng đi trên những cây cầu mới xây đã sập, bê tông cốt tre, đường cao tốc sóng trâu, công trình trăm ngàn tỷ vừa khánh thành đã hư hỏng, đập nước bờ kè mưa một trận đã sụt lún…

Dân trí cao thì nỡ nào mà để người dân mình tự lừa đảo người mình, tự đầu độc dân mình, tự làm hại đồng bào mình. Giúp người ta tiêu thụ hóa chất độc hại, nông sản độc hại còn nông sản của dân mình thì phải đổ bỏ đi vì thừa mứa và rẻ mạt.

Dân trí cao thì sao để chính quyền tự ý lấy thuế xây cái miếu vài trăm tỷ thờ một ông học giả ngoại bang rồi còn trơ trẽn tuyên bố xây thế thôi chứ chưa quyết định thờ ai. Hẳn là chính quyền dư nhiều tiền lắm. Nhưng dư tiền sao lại phải đi vay Trung Quốc tiền xây cái đường tàu cao tốc để rồi bị họ chèn ép. Dư tiền sao lại phải đi vay viện trợ bảo vệ môi trường trong khi tiền phí bảo vệ môi trường thì tận thu từ trong giá xăng giá điện?

Dân trí cao thì sao mà có mấy chuyện hy hữu cười ra nước mắt rằng cuộc sống của ta là hạnh phúc nhất, yên bình nhất.

Dân trí cao làm sao chịu nổi khi chính quyền làm được một việc nhỏ thì bắt dân mang ơn, tạc tượng. Còn khi chính quyền làm sai những việc tày đình thì không cần xin lỗi, từ chức, chịu trách nhiệm, chỉ cần rút kinh nghiệm là xong?

Dân trí cao thì hẳn đã chẳng phải xấu hổ khi dân ta ra nước ngoài mang bao tiếng xấu, trộm cắp, mại dâm, vô ý thức vô văn hóa.

Nếu dân trí mà có cao thì phụ nữ Việt đã chẳng phải lũ lượt ra nước ngoài bán dâm, bị mua làm vợ, bị hành hạ, bị xúc phạm. Người dân Việt đã chẳng phải qua Cam, qua Lào làm giúp việc, lao động nặng nhọc, chui nhủi.

Nếu dân trí mà không thấp thì hàng trăm ngàn sinh viên thạc sĩ tiến sĩ ra trường hẳn đã phải có công ăn việc làm, có những đồ án, công trình giúp ích cho cộng đồng chứ không xếp hàng dài thất nghiệp ăn bám gia đình xã hội.

Nếu dân trí cao thì hẳn phải biết đất nước đã đi thụt lùi thế nào sau những năm tháng “giải phóng”. Từ một nước tự sản xuất được xe hơi nội địa thành một nước không sản xuất được con ốc con vít. Từ một nước được miễn phí học hành, y tế biến thành có nhiều tiền cũng chưa chắc có được môi trường học hành, y tế đủ tốt. Từ một nước được bao nước thèm muốn, ước ao trở thành một nước bị xem thường.

Nếu dân trí cao hẳn đã phải nhận ra những mâu thuẫn, nhìn thấy những sự thật đang được giấu kín thay vì nói gì biết đấy, kêu gì làm đấy.

Nếu dân trí cao liệu có để cho các ngài lãnh đạo xem như trò hề, muốn làm gì thì làm, muốn chặt cây thì chặt, hứa một đằng làm một nẻo, muốn thay cây gì thì thay, muốn bán đất cho ai, bán tài nguyên cho ai, cho ai thuê đất bao lâu thì cho.

Nếu dân trí cao hẳn không thể để mặc cho những người được mình ủy quyền lộng hành tác oai tác quái. Sâu mọt khắp nơi từ trung ương đến địa phương, từ trong ra ngoài, từ lớn đến bé, từ xưa đến nay mà không một động thái ngăn cản.

Nếu dân trí cao người ta hẳn sẽ phải thích đọc sách hơn xem truyền hình, thích nghiên cứu tìm hiểu hơn là đọc tin tức giải trí. Nhưng xem kìa, Việt Nam là một trong những nước đọc sách ít nhất thế giới.

Nếu dân trí cao thì hẳn sẽ không cười xòa khi đọc tin tức “Cá mập cắn đứt cáp” “Nhím gà dê hỗ trợ nông dân đi lạc vào nhà bí thư, chủ tịch”.

Nếu dân trí cao hẳn người dân phải biết hợp sức lại, biết cất tiếng nói của mình, biết liên kết với nhau tạo nên sức mạnh.

Và quan trọng nhất, nếu dân trí cao thì người dân chắc chắn phải biết chuyện gì đang xảy ra với đất nước mình, với dân tộc mình.

Đấy, xin mời các bạn xem lại, tự vấn lại bản thân một chút. Rằng so với một vài biểu hiện của dân trí cao như trên, thì tự xem dân trí của mình có cao không? Nếu có, thì xem tiếp, xung quanh mình có bao nhiêu người có dân trí cao giống mình trên tổng số người mình quen biết và tiếp xúc hàng ngày? Còn nếu không, thì thôi, ông đại biểu nói đúng, dân trí mình thấp thật, nói thẳng tuột, mình thật là ngu, dân mình cũng ngu, rất ngu, đấy là sự thật không còn nghi ngờ và bàn cãi gì nữa.

Ấy thế thì, thay vì phản bác và chê trách ông đại biểu, người dám nói dân trí ta thấp, thì có lẽ, nên tuyên dương ông. Vì dám nói ra sự thật, sự thật mà các ngài lãnh đạo đều biết nhưng chưa ai có can đảm nói. Nhưng mà cũng không được, vì ông đại biểu này khi bị phản đối đã lại kịp có bài thanh minh rằng ông ta không nói ra điều đó. Ý ông không phải vậy, dân hiểu lầm ý ông rồi. Đấy, lại một lần nữa, dân trí thật thấp, thật ngu, lãnh đạo phát biểu gì người dân cũng hiểu lầm hết.

Từ “dân trí thấp” “quyền im lặng và biểu tình là nguy hiểm” “xu thế ghét Trung Quốc là nguy hiểm cho dân tộc” “nước ta còn dân chủ gấp vạn lần các nước tư bản” “đa số người dân ủng hộ chặt cây” “chưa quyết xem thờ ai trong miếu” “chúng ta phải cố gắng xây dựng quân đội mạnh như Triều Tiên” “dân sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai”…

Đấy, câu phát ngôn nào cũng bị người dân hiểu lầm. Thế thì giờ sao? Lãnh đạo phải coi lại cách phát biểu sao cho dân hiểu. Hay người dân phải cố mà hiểu cho đúng ý lãnh đạo? Ôi tôi cũng không biết nữa, vì như đã nói, dân trí tôi thấp lắm. Sao hiểu được ý mấy ông. Nhưng mà dù dân trí tôi thấp đi chăng nữa, thì có một điều tôi dám cam đoan, rằng bất kể chuyện gì xảy ra bất kể kết quả thế nào, cũng là nhờ ơn Đảng và Nhà Nước. Nên dù cho cả nước có bị dân trí thấp, tôi cũng xin thay mặt toàn dân, cảm ơn Đảng và Nhà Nước!

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Trùm Mền Với Tàu Cộng?
Trần Khải

Có vẻ như Việt Nam đang chọn giải pháp giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng cách chui vào trùm mền chung với đàn anh để thủ thỉ...

Bản tin VOA nói lịch sự, nói văn hoa rằng đó là “Đặc sứ của ông Nguyễn Phú Trọng gặp Chủ tịch Trung Quốc”...

Bản tin naỳ nói rằng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hôm Thứ Hai đã gặp ông Hoàng Bình Quân, đặc phái viên của lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, và đã cam kết thúc đẩy quan hệ song phương và giữa hai đảng cộng sản.

Ông Quân cũng chuyển một thông điệp từ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Chủ tịch Tập Cận Bình.

Trong thông điệp, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết, hai nước là láng giềng gần gũi chia sẻ hệ thống chính trị giống nhau và có nhiều lợi ích chung. “Phát triển một mối quan hệ song phương ổn định, đối ứng và hợp tác, vừa là trách nhiệm lịch sử vừa là yêu cầu thực tế, cũng như lợi ích căn bản và lâu dài của nhân dân hai nước”.

VOA ghi lời Ông Nguyễn Phú Trọng cho biết trong thông điệp của mình rằng, mối quan hệ giữa hai đảng cộng sản hai nước luôn đóng vai trò hàng đầu trong quan hệ song phương và ông kêu gọi hai bên thực hiện đầy đủ sự đồng thuận đạt được của các lãnh đạo, tăng cường các chuyến thăm cấp cao, hợp tác nhiều hơn trong lĩnh vực kinh tế, trao đổi giữa nhân dân hai nước, duy trì hòa bình và ổn định trên biển để góp phần vào hòa bình và thịnh vượng trong khu vực và trên thế giới.

Tổng Bí Thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, cho biết rằng việc cử đặc phái viên qua lại giữa hai nước là một truyền thống nhằm giúp hai đảng trao đổi với nhau.

Ông Tập lưu ý rằng, hai bên đã tiếp tục truyền thống đó sau Đại hội 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam, và điều đó có ý nghĩa lớn đối với việc tăng cường sự tin cậy lẫn nhau.

Ông Tập Cận Bình nói, Trung Quốc và Việt Nam cũng như đảng cộng sản hai nước cùng chia sẻ số phận. “Việc phát triển quan hệ song phương phù hợp với lợi ích căn bản của hai quốc gia và nhân dân”, ông nói.

Chủ tịch Trung Quốc kêu gọi cả hai bên tuân thủ nguyên tắc duy trì ổn định lâu dài trong mối quan hệ bằng cách nhấn mạnh hợp tác toàn diện cũng như tinh thần láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, và đối tác tốt.

Bản tin VOA cũng ghi lời cam kết từ VN:

“Ông Hoàng Bình Quân giới thiệu với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình về kết quả tốt đẹp của Đại hội 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên trì đường lối đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để thực hiện nhiệm vụ phát triển đất nước và bảo vệ tổ quốc trong thời gian tới...”

Có nghĩa là, Việt-Tàu sẽ đắp chung cái mền Mác-Lê?

Trong khi đó, bản tin RFI ghi nhận rằng hôm Thứ Hai 29/02/2016, tại Manila, Nhật Bản vừa ký một hiệp định cung cấp thiết bị và công nghệ quốc phòng cho Philippines, trong bối cảnh cả hai nước ngày càng quan ngại về những hành động của Trung Quốc nhằm xác quyết chủ quyền của họ ở Biển Đông.

Theo lời bộ trưởng Quốc Phòng Philippines Voltaire Gazmin, hiệp định mà ông ký với đại sứ Nhật Kazuhide Ishikawa hôm nay phản ánh mong muốn của các nước châu Á “ cùng nâng cao khả năng phòng thủ ” và “đóng góp vào hòa bình và ổn định khu vực".

Ông Gazmin cho biết hiệp định này đặt nền tảng cho việc chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng, mà các chi tiết sẽ được thảo luận trong tương lai. Cũng theo lời bộ trưởng Quốc Phòng Philippines, Tokyo đã đề nghị cung cấp một máy bay giám sát cho Manila.

Trong cuộc họp thượng đỉnh vào tháng 11 năm ngoái, thủ tướng Shinzo Abe và tổng thống Begnino Aquino đã đồng ý sẽ thương lượng hiệp định nói trên. Đây là hiệp định quốc phòng đầu tiên mà Tokyo ký với một nước trong khu vực Đông Nam Á, sau các hiệp định tương tự ký với các nước Hoa Kỳ, Anh, Úc và Pháp.

Do những hạn chế về việc xuất khẩu vũ khí do quy định của bản Hiến pháp hòa bình, Nhật Bản buộc phải ký một hiệp định với mỗi nước mà Tokyo muốn hợp tác về thiết bị quốc phòng.

RFI ghi thêm:

“Nhật Bản hiện đã bắt đầu xây các tàu tuần duyên dài 40 mét cho Philippines, với ngân sách từ nguồn viện trợ phát triển chính thức. Năm ngoái, thủ tướng Abe đã cho biết sẽ nghiên cứu đề nghị của Philippines được cung cấp các tàu tuần duyên lớn hơn.”

Trong khi đó, bản tin RFA ghi lời bi quan từ một chuyên gia VN: Thạc sĩ Nguyễn Thành Trung, tốt nghiệp khoa chính trị học Đại học Virginia, Hoa Kỳ, và Đại học Phúc Đán, Trung Quốc, trả lời phóng viên RFA, trích:

“Kính Hòa: Trở lại với biển Đông thì có vẻ là khuynh hướng của giới học giả nói chung, và nhiều người Việt Nam thì có vẻ như sự thể đã rồi, tức là Trung Quốc sẽ thống trị biển Đông trong một tương lai không xa?

Thạc sĩ Nguyễn Thành Trung: Tôi cũng bi quan với viễn cảnh như vậy khi Trung Quốc ngày càng hung hăng ở biển Đông. Chưa có nước nào áp đặt được Trung Quốc vào khuôn khổ Quốc tế, vì vậy tôi cảm thấy bi quan.”(ngưng trích)

Nghĩa là, phải đắp chung mền với Tàu Cộng?

Mặt khác, báo Tuổi Trẻ hôm 1-3-2016 ghi nhận:

“Lần đầu tiên, một quan chức cấp cao đang đương chức của Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) lên tiếng đe dọa khả năng sẽ động binh ở Biển Đông.

Nhân Dân Nhật Báo dẫn lời tư lệnh viên chiến khu miền nam, thượng tướng Vương Giáo Thành, lớn tiếng khẳng định PLA đang chuẩn bị để chiến đấu bảo vệ cái mà nước này tự gọi là “chủ quyền” ở Biển Đông. Ông Vương cho biết quân đội nước này đang cảnh giác cao độ trước mọi mối đe dọa an ninh trong các vùng biển tranh chấp.

“Quân đội Trung Quốc sẽ có khả năng xử lý bất kỳ mối đe dọa an ninh Trung Quốcnào. Không quốc gia nào được phép sử dụng bất kỳ lý do bào chữa và hành động nào để đe dọa sự an toàn và chủ quyền của Trung Quốc” - ông Vương lớn tiếng đe dọa....”(ngưng trích)

Ai mà biết khi bị đắp chung mền ngoài ý muốn, Việt Cộng sẽ bị Tàu Cộng cưỡng bức những gì...

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

CSVN ra luật chống rửa tiền nhưng ...
Quan chức cao cấp của chế độ CSVN gởi tiền ở ngoại quốc

GENEVA - Một số cán bộ được tin cậy của đám quan chức cao cấp của chế độ Hà Nội đã được giao cho nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị các tài sản khổng lồ của họ có được nhờ tham nhũng hối lộ gửi tại các ngân hàng ngoại quốc. Một nhân vật (yêu cầu dấu tên) từng giao tiếp với một số người này ở một số ngân hàng Thụy Sĩ tiết lộ như vậy trong một cuộc tiếp xúc với báo Người Việt mới đây.

“Chưa kể tại ngân hàng các nước khác ở Âu Châu và Á Châu, riêng tại Thụy Sĩ, tôi biết có hai người ở các ngân hàng thành phố Lausane và hai người ở thành phố Geneva, làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản do xếp của họ gửi.” Nhân vật trên tiết lộ.

Lương bổng của đám quan chức cao cấp của đảng và nhà nước CSVN, theo sự mô tả của một viên chức ngoại giao Tây Phương thì “không đủ để họ sống 10 ngày”, nhưng họ có tiền phải gửi, hay nói đúng hơn, giấu đút, ở các ngân hàng ngoại quốc là một điều hiển nhiên bất bình thường. Cho tới nay, lương căn bản của cán bộ đảng viên CSVN chỉ có 290,000 (tương đương khoảng $18 đô la) rồi nhân theo chỉ số cao thấp tùy chức vụ, cấp bậc. Nhưng có lần Vũ Khoan, phó thủ tướng CSVN, khi thăm một xí nghiệp quốc doanh đã so sánh và thấy một viên chức nhà nước chức vụ rất cao như ông còn kém lương của một người thợ chuyên môn. Ðiều này cho thấy lương bổng cán bộ công chức CSVN, dù là quan chức cao cấp, cũng không là bao nhiêu và không đủ sống.

Theo lời nhân vật trên tiết lộ, mỗi một số viên chức cao cấp của chế độ đều sử dụng một số thuộc cấp tín cẩn vào công việc chuyển ra ngoại quốc số tài sản khổng lồ mà họ vơ vét được qua các “phi vụ” tham nhũng hối lộ.

Số tiền họ gửi mỗi lần khoảng bao nhiêu, cách bao lâu gửi một lần, các cán bộ có trách nhiệm chuyển đô la và vàng dưới nhiều hình thức khác nhau đến các ngân hàng ngoại quốc, không tiết lộ. Nhưng nếu đó không phải là các số tiền lớn bạc triệu đô la thì người ta không cần đến người chuyên trách “chuyển khoản” cũng như quản trị xuất nhập các số tiền này, ông nói.

“Họ luôn luôn có trách nhiệm đi đi về về”, ông tiết lộ tiếp. “Giữa không những Việt Nam và Châu Âu mà còn cả từ Việt Nam đến một số ngân hàng ở Á Châu cũng như cả Nga và Ðông Âu.”

Tại sao đám quan chức CSVN lại đem tiền gửi cả tại nước Nga là nước có hệ thống ngân hàng thuộc loại bấp bênh nhất trên thế giới?

“Họ gửi tiền cả ở ngân hàng Nga vì tin tưởng nguyên tắc khôn ngoan này: Không bao giờ bỏ tất cả các quả trứng vào chung một giỏ.” Ông giải thích rằng nếu một quả trứng chẳng may bị vỡ, có thể những quả trứng khác vỡ theo. Ðây là sự khôn ngoan chung của đám quan chức cao cấp của chế độ khi họ rải số tiền kiếm chác được ra nhiều nơi trên thế giới. Theo ông, có rất nhiều người khác nhau làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản của “xếp” ở ngoại quốc. Nhưng cũng có những người là vợ, con, hay thân quyến của đám cán bộ đảng viên tham nhũng đóng vai trò giấu đút tiền tham nhũng hối lộ khi họ đi ra ngoại quốc.

Tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn viết một bài có tính cách “mách bảo” cho cán bộ đảng viên tham nhũng trong nước cách thức gửi tiền ở hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ với tựa đề “Gửi tiền ở nhà băng Thụy Sĩ”. Bài báo này được báo điện tử VNExpress lấy lại và phổ biến ngày Thứ Bảy 10-9-2005 mở đầu với câu hỏi “Có thể mở tài khoản ẩn danh - anonymous account - ở ngân hàng Thụy Sĩ không?” Bài báo này giải thích khá tỉ mỉ về thế nào là tài khoản ẩn danh dưới hình thức “tài khoản mang số nào đó thay vì mang tên khách hàng.” Và “tài khoản số hạn chế sự hiểu biết về chủ nhân của nó...” Bài báo phục vụ loại độc giả nào, khách hàng ngân hàng nào ở trong nước, người ta có thể hình dung ra ngay khi mà lợi tức trung bình đầu người chỉ có khoảng $500 đô la một năm.

Ngày 8-6-2005, CSVN theo áp lực của Hoa Kỳ khi lôi kéo Hà Nội hợp tác đối phó với khủng bố, rửa tiền ma túy, buôn lậu trên thế giới, ra nghị định số 74/CP để chống rửa tiền. Nghị định này buộc “Các ngân hàng, các định chế tài chính phải báo cáo về các giao dịch trong một ngày của một cá nhân hay một tổ chức có tổng trị giá từ 200 triệu đồng (khoảng $12,400 đô la) trở lên.” Theo sự tường thuật trên báo Tuổi Trẻ ngày 9-6-2005. Tờ báo này kể tiếp rằng: “Tuy nhiên, các qui định có tác động lớn nhất là các ngân hàng buộc phải báo cáo về những khách hàng có lượng tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng từ 500 triệu đồng (khoảng $31,000 đô la) trở lên tại một ngân hàng. Lượng tiền 500 triệu đồng là tổng các khoản tiền gửi của cá nhân đó chứ không phải là một lần gửi tiết kiệm có trị giá 500 triệu đồng."

Nhân vật trên kể cho hay, cách đây mấy năm, ông chánh văn phòng của Hội đồng Bộ Trưởng Chính phủ CSVN có lần đã thua bạc tại một casino ở Geneva “mấy trăm ngàn đô la trong một đêm”. Ðiều này, số tiền tham nhũng hối lộ mà đám quan chức CSVN giấu đút ở ngoại quốc phải “vô cùng lớn.”

Khóa họp Quốc hội CSVN hồi tháng Tư vừa qua, một dự thảo luật chống tham nhũng được bàn cãi nhưng rồi vẫn không có biểu quyết và được loan báo sẽ thảo luận trở lại vào khóa họp thứ hai của năm nay dự trù vào tháng 11 tới. Hàng năm, các khóa họp quốc hội Hà Nội đều có thảo luận chuyện chống tham nhũng và họ nhìn nhận tham nhũng đã trở thành “quốc nạn”.

Nguyễn đình Lộc, đại biểu quốc hội và nguyên là Bộ trưởng Tư Pháp CSVN nói với báo chí trong nước rằng tham nhũng chỉ bị lộ diện khi “nội bộ tham nhũng” tố cáo lẫn nhau. Trong một cuộc điều trần trước quốc hội, Phan văn Khải, thủ tướng Hà Nội, nhìn nhận tham nhũng đã “xà xẻo” khoảng 30% các dự án xây dựng, phát triển. Phần lớn các dự án này được tài trợ từ các khoản tín dụng ngoại quốc. Các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết viện trợ, tài trợ cho các dự án phát triển, xóa đói giảm nghèo cho Việt Nam năm 2005 là $3.4 tỉ đô la.

(NT)



.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »


Thuế và Chết

Trần Văn Giang

Image
“In this world, nothing can be said to be certain, except death and tax.”
-Benjamin Franklin

Lời mở đầu:

“Chỉ có hai thứ chắc chắn xẩy ra trong đời sống; đó là chết và thuế.” Có người cho rằng câu nói này của Benjamin Flanklin, người thì lại cho là lời của Mark Twain; người cho là của Daniel Defoe. Bài này không bàn về nguồn gốc của câu nói mà chỉ xin bàn thêm một chút về ý nghĩa của nó.

TVG

*
Tuy cùng hiện diện trong đời sống, nhưng “Thuế” và “Chết” có nhiều điểm khác nhau hơn là tương đồng: Chết chỉ xẩy ra một lần trong đời nhưng thuế thì xẩy ra hàng năm; Chết thì không xin gia hạn được như thuế. Chết chỉ liên hệ với thuế trong hai trường hợp: Thuế Chết (“Death tax” – tôi sẽ nói thêm ở phần dưới) và khi được nhận giấy báo bị thiếu thuế nhiều qua rồi đột quỵ vì tim ngừng đập. Nói vậy chớ sở thuế không bao giờ muốn quý vị chết đâu: Anh phải sống… để còn có người đóng thuế.

*
Thuế

“Trước khi người da trắng đến đây, dân da đỏ chúng tôi không phải đóng thuế và phụ nữ phải trông coi con cái và làm hết mọi chuyện trong nhà.”

(Người viết đọc thấy trên vách tường ở bên trong một “Gift Shop” của dân đa đỏ ở Thành phố Albuquerque, Tiểu bang New Mexico, USA)

Tôi sinh ra và lớn lên ở Việt Nam cho đến khi 26 tuổi, là lúc quân cộng sản đang xếp hàng vào Sài gòn, thì vội vàng bỏ lại tất cả và chạy ra biển Đông; trôi dạt thêm vài quốc gia, cuối cùng được tị nạn tại Hoa Kỳ. Trong suốt 26 năm trời ở Sài gòn, tôi chưa phải khai thuế lần nào (!) và cũng chưa hề thấy cái Tờ Giấy / Phiếu Khai Thuế (Tax Form) hình thù như thế nào! Sau khi định cư trên đất Mỹ mới thấy đời sống ở một nước văn minh có đủ các loại thuế. Bên phải, bên trái, trước mặt, và sau lưng đều có thuế: Thuế hóa đơn (Sale tax), Thuế lợi tức (Income tax), Thuế tội lỗi (Sin tax - đánh trên rượu, thuốc lá và tiền thắng lottery, thắng cờ bạc), Thuế Chết (Death tax - đánh trên tài sản gồm động sản và bất động sản qua “di chúc,” khi chết được chuyển lại cho người thừa kế, con hay cháu). Đất Mỹ quả đúng là miền đất hứa (promised land), đất của cơ hội (land of opportunities): Mọi người đều có đầy đủ cơ hội để đóng thuế mệt nghỉ. Dầu gì, tôi thấy Chính phủ Hoa kỳ cũng chu đáo (!) biết chăm lo đến người dân của họ bằng cách, mỗi năm, in ấn sẵn và phát cho họ các “Phiếu đóng thuế” (Tax forms) miễn phí (!) Ngoài các quyền tự do căn bản của một nước thực sự dân chủ, công dân Hoa kỳ còn có toàn quyền lựa chọn cách trả thuế như thế nào: Bằng tiền mặt, ngân phiếu, Money order hay thẻ tín dụng… Tất cả đều tốt! Nước văn minh có khác!

Chỉ cần nhìn chung quanh. Nhờ có thuế mà đời sống, sự giáo dục, các mục giải trí của công dân và các tiện nghi công cộng mới có ý nghĩa, đáng đồng tiền bát gạo. Vâng. Tự do sinh ra và “được” đánh thuế cho chết luôn (“Born free and taxed to death”)… Nhưng mà thà đóng thuế tới lúc chết mà sống đời sống đáng sống, có nhân phẩm còn hơn sống không phải đóng thuế xu nào để phải sống đời khổ sở; ăn lông ở lỗ suốt đời này qua đời khác không hơn gì súc vật.

Hiển nhiên, Hoa kỳ không phải là xứ phát minh ra thuế. Thuế đã có từ lúc con người bắt đầu biết sống đời sống văn minh hơn; có nghĩa con người và trí tuệ đã dần dà tiến phát triển tử 4000-5000 năm chứ không còn chịu sống như khỉ, vượn, đười ươi nữa. Cũng nên biết đối với người cộng sản thì sự tiến hóa này có vẻ chậm chạp hơn… Đến giờ này, thế kỷ 21, cộng sản vẫn còn sống y như khỉ, giỏi lắm thì cũng chỉ mới bắt đầu thoát ra cái cốt khỉ. Thật khôi hài khi nhìn thấy họ “nhiệt liệt” tự sướng hết biết. Cs gọi là cái tiến hóa “từng bước đi lên xã hội chủ nghĩa tôn ngộ không” đó là “văn hóa đảng !” Kinh thật!

Hình thức Thuế đầu tiên của nhân loại thấy từ Mesopotamia đã trên 4500 năm. Lúc đó con người trả thuế bằng gia súc, nông phẩm, dụng cụ vì tiền tệ chưa có trên mặt quả đất. Người cổ bán khai đã biết cách đánh thuế trên bất động sản (Estate tax) và thuế di sản (Death tax). Các tài liệu khảo cổ cho thấy người Ai cập đánh 10% “Thuế Chết” trên tài sản chuyển nhượng lại cho con cháu khi chết từ 700 năm trước Công nguyên. Người Tàu đã có thuế Nông nghiệp từ trên 2600 năm rồi. Các loại thuế cũ xưa như vậy (Thuế đất, thuế nông nghiệp, thuế chết), dù đã thay đổi rất nhiều, nhưng vẫn còn được dùng ngày nay.

Thuế của Hoa kỳ có thể truy ra gốc gác từ thời Hoa kỳ còn là thuộc địa của Đế quốc Anh (“British Empire” - Where the sun never set because nobody trusts the British under the dark!?) Đế quốc Anh đánh thuế rất nặng trên các nước thuộc địa dưới ánh sang mặt trời chứ không riêng gì Hoa kỳ. Dân Hoa kỳ bắt đầu phản kháng, đòi đế quốc Anh giảm hay bỏ bớt thuế. “Boston Tea Party” là một phong trào chống thuế nổi bật nhất của lịch sử Hoa kỳ. Cho đến khi Hoa kỳ dành được độc lập từ Anh quốc (ở cuối thế kỷ 18) thì ngay sau đó, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành một luật thuế mới đánh trên bất động sản và thuế chết. Mãi đến năm 1861 mới có sự ra đời của Thuế Lợi Tức (Income tax) đánh trên thuốc lá, nữ trang, đồ trang sức để lấy tiền tài trợ cho cuộc chiến tranh Nam – Bắc. Năm 1862 Quốc hội Hoa kỳ phê chuẩn “Bộ Luật Thuế Nội Địa” (“Internal Revenue Act”) và đồng thời lập ra Sở thuế nội địa gọi là “The Bureau of Internal Revenue.” Cơ quan này là tiền thân của “Sở thuế nội địa” IRS quen thuộc bây giở (viết tắt của “Internal Revenue Services”). Thật ra, Sở thuế liên bang đã bị dẹp bỏ rồi lại được tái lập rất nhiều lần… Mãi đến tháng 2 năm 1913, qua “Bản Tu chính hiến pháp thứ 16” (16th Amendment) Quốc hội Hoa kỳ mới chính thức được phép đánh thuế lợi tức cá nhân (Personal Income tax). Năm 1914, lần đầu tiên Sở thuế Nội địa phát hành bản “Giấy / Phiếu khai thuế cá nhân” (còn gọi là “Form 1040”). Lúc đó (năm 1914) luật thuế lợi tức cá nhân chỉ dài có đúng 1 trang giấy… Luật thuế từ đó mỗi ngày trở nên phức tạp thêm… Ngày nay luật thuế lợi tức có gần 9000 mục và dày 174 trang.

Tình trạng thuế má còn sinh ra nhiều thảm kịch của xã hội: Gian lận, khai gian và trốn thuế bằng mọi cách.

Nên biết thêm, Thuế cũng thấy có đề cập trong Kinh thánh Bộ Tân ước (New Testament) của Thiên Chúa Giáo. Giới tăng lữ cao cấp (High Priests) của Do thái giáo khi đối chất với Chúa Giê-su, họ muốn chứng tỏ Chúa Giê-su không phải là người thông minh như mọi người vẫn nghĩ; đồng thời họ cũng muốn nhân cơ hội đối chất làm Chúa Giê-su phải lúng túng không trả lời ổn thỏa. Họ hỏi Chúa Giê-su là:

- “Nay nước Do Thái bị người La mã chiếm đóng thì người Do Thái có nên đóng thuế cho Hoàng đế La Mã không?”

Chúa Giê-su lấy một đồng tiền dùng để trả thuế cho triều đình La Mã rổi chỉ vào đồng tiền mà hỏi ngược lại:

- “Các người có biết đây là hình của ai (trên đồng tiền) không?”

Mọi người nhao nhao trả lời:

- “Hình của Caesar” (Hoàng Đế La mã lúc đó).

Chúa Giê-su nói với họ:

- “Của Caesar thì hãy trả nó lại cho Caesar; cũng như cái gì của Thiên Chúa thì trả lại cho Thiên Chúa.” (*)

Dùng đồng tiền La Mã và câu trả lời bất hủ “Cái gì của Caesar thì trả lại cho Caesar” Chúa Giê-su đã ám chỉ là trên phương diện chính trị, người Do Thái đã chấp nhận sự thống trị của đế quốc La Mã thì phải tuân theo luật lệ (đóng thuế) của chính quyền La mã; miễn sao người Do Thái đừng bỏ niềm tin tôn giáo của mình là được (“and (give back) to God what belongs to God.”)

Chết

“Chết không phải là phản nghĩa của Sống. Chết là một phần của (đời) Sống.”

Khuyết danh

Thuế có thời hạn, giới hạn và quy luật. Chết thì vô biên không có phép tắc luật lệ gì hết ráo. Nhiều trường hợp chưa sinh ra bào thai đã chết ngay trong bụng mẹ rồi; hoặc Ông Bành tổ sống 767 tuổi (theo sử bố láo của Trung hoa). Cách chết cũng đa dạng: chết từ từ hoặc lăn quay ra bất đắc kỳ tử; chết trong nhà thương, viện dưỡng lão; chết vì bị khủng bố, ám sát, tai nạn, trận mạc, từ hình… Chết dưới nước, trên trời, dưới hầm, trên giường, thượng mã phong…

Chết được định nghĩa như thế nào cho phải? Định nghĩa đơn giản bình dân giáo dục nhất là: Đời sống đã chấm dứt (Life ends). Tim ngừng đập. Hết thở. Ậy! Trên phương diện ý tế, có nhiều khi tim đã ngừng đập từ khuya và hết thở hẳn hoi rồi mà nhân viên cấp cứu vẫn có thể làm hồi sinh được. Nhiều tôn giáo còn cho rằng con người không bao giờ chết – Con người đi từ cõi tâm linh này qua cõi tâm linh khác.

Diễn tiến của sự chết (từ từ)

Tim ngừng đập, sau đó cơ thể có các chuyển động không kiểm soát được. Mặt và tai lạnh vì máu bắt đầu ngừng luân lưu. Nước dãi và nước mũi có thể sẽ trào ra. Người chết thở hắt ra có âm thanh như tắt nghẹn vì hơi dần dần bị ngắn lại. Phổi khép lại. Óc hoàn toàn ngừng hẳn việc phát ra các tín hiệu chỉ huy các hoạt động (electrical activities) tự nhiên của cơ thể:

Ở Phút Zero: Trên phương diện y tế, sự chết đến ngay sau khi óc hoàn toàn ngưng điều khiển việc hấp thu dưỡng khí. Ngay sau đó tất cả các phận sự (functions) của cơ thể đóng lại kể cả sự lưu thông của huyết mạch. Tròng mắt nhìn cứng như thủy tinh (glassy appearance). Nhiệt độ cơ thể giảm nhanh, sờ thấy lạnh vì máu không còn luân chuyển nữa.

Ở Phút Thứ Nhất Đến Phút Thứ 9: Vì máu hoàn toàn ngưng luân chuyển, cơ thể bắt đầu đổi màu. Óc đã gưng hẳn các hoạt động làm cho bắp thịt không còn khả năng co thắt cho nên các chất thải của cơ thể có thể thoát ra lúc này. Con mắt thụt sâu vào vì áp huyết không còn. Con ngươi không có phản ứng gì với anh đèn chiếu vào và bắt đầu kéo mây (cloud) bởi vì “Potassium” vỡ ra từ hồng huyết cầu. Sự kéo mây này có thể kéo dài 3-4 tiếng đồng hồ… Các chuyên gia giảo nghiệm tử thi có thể căn cứ vào mức độ kéo mây ở mắt để biết tử thi chết lúc nào.

Chết xem ra ghê rợn thật. Không có cái chết nào, ngay cả trong thơ phú, có thể gọi là đẹp, thơ mộng. Xinh đẹp và khiêu gợi như Hoa hậu Hoàn vũ hay tài tử Marilyn Monroe; hoặc xấu xí gian ác như boác Hồ, boác Mao, boác Lê, boác Sít thi khi chết cũng thở hơi cuối cùng hắt ra và vãi ra quần tùm lum vậy thôi. Chân lý và thực tế đó không bao giờ thay đổi.

Có nhiều con người sống vô dụng, sống thừa, vegetation, coma; sống trên máu, nước mắt, và mồ hôi của người khác có một điểm giống nhau là: tuy đang sống (đời sống chưa chấm dứt, tim vẫn đập và mũi vẫn thở) mà giống như đã chết từ lâu rồi – Còn được gọi là “Chết mà biết thở…”

Sống và Chết luôn luôn được đề cập song song với nhau; chứ không riệng gì phải là “Thuế và Chết.” Cụ Phan Bội Châu đã có nói qua về vấn đề “Sống mà như thế đừng nên sống - Sống tủi làm chi, đứng chật trời” này qua bài thơ “Sống”:

Sống tủi làm chi đứng chật trời!
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai?
Sống làm nô lệ cho người khiến,
Sống chịu ngu si để chúng cười.
Sống tưởng công danh, không tưởng nước,
Sống lo phú quý, chẳng lo đời.
Sống mà như thế, đừng nên sống!
Sống tủi làm chi, đứng chật trời.

(“Sống” – Cụ Phan Bội Châu)

Nói về “Chết” là tôi nghĩ ngay đến trên 2000 dân Huế vô tội bị cộng sản quang vinh cắt mạng trong Tết Mậu Thân 1968 (có tài liệu nói đến nay gần 6000 người vẫn còn được ghi là mất tích!) Cũng vào dịp Tết Mậu thân 1968 này, boác Hồ đã mần thơ nhắn nhủ bộ đội cs là: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua…” Cái kết quả “hơn cả mấy xuân qua” thật vĩ đại, đáng được ghi vào lịch sử loài vật. Xin mời quý vị đọc qua những cái chết của đồng bào vô tội ở Huế Tết Mậu Thân 1968 vì thành tích “hơn cả mấy xuân qua” của csvn trong bài thơ hãi hùng “Mậu Thân Anh Nhớ gì không” sau đây của Ý Nga:


Tím đen, xác rỉ nước vàng
Người tan nát mặt, họ hàng biết ai?
Chặt ngang cổ, bổ ngang tai
Đâm bàn tay thủng, kẽm gai xâm vào*

Cọc tre xuyên đến đỉnh đầu
Cụm năm người chết, cụm xâu cả mười
Sình trương bao xác đứng ngồi
Máu me rùng rợn, rã rời, trơ xương

*

Mưa rơi ray rứt đoạn trường
Con thơ khóc Mẹ, vợ thương khóc chồng
Mảnh nào nhận dạng bà, ông?
Mảnh nào rửa thối động lòng quật khai!

*

Cát Xuân, Điên Đại, Đá Mài,
Bãi Dâu, Hương Thủy, Phú Bài, Bao Vinh
Trường Tiền, An Cựu bao tình
Đông Ba, Đại Nội: tử, sinh não nùng

Đạn xuyên ót, sọ vỡ tung
Máu me kinh hãi buồn giòng sông Hương!
Huế nào khăn trắng tang thương
An Hòa, Thành Nội tai ương đã từng

*

Mưa thê thiết, xác trợn trừng
Đường nào cũng máu! Lệ từng con tim!
Đạn bay tứ hướng truyền âm!
Cha con, chồng vợ gọi thầm tên nhau

Truồi, Gia Hội, Phú Văn Lâu
Thủ tiêu, ám sát, chặt đầu, cuốc phang

*

Chết! Không ai thắp nén nhang*
Chết oan vô tội hàng hàng thây dân
Chết! Không hòm gỗ che thân
Chết! Không giọt lệ thân nhân sụt sùi

*
Áo Vàng, chùa Huế, bao nơi…
Nơi nào không có máu sôi trong hồn?
Huế đau! Em nhớ Saigon!
Nhà em cũng cháy, chỉ còn tàn tro

*

Anh linh yên giấc ngàn thu!
Chúng tôi còn sống chẳng mù lương tri
Không chờ… Tết mới… nhớ về
Mỗi ngày mỗi nhớ! Trăm bề tâm đau!

(“Mậu Thân Anh Nhớ gì không” - Ý Nga)

Lời cuối

Chỉ nhìn nhanh chung quanh đời sống hàng ngày của chính bản thân, tôi thấy có nhiếu thứ khác cũng sẽ “chắc chắn xảy ra” chứ không phải chỉ riêng có “Thuế” và “Chết” như ông Franklin đã đề cập. Thí dụ “Rác,” “Tứ khoái…” (là đã có thêm 4 món rồi), “Gian lận,” “Tham lam,,” “Khoe khoang…” Rồi mỗi người, theo kinh nghiệm riêng, sẽ có thêm “những cái chắc chắn sẽ xẩy ra” khác; và danh sách sẽ dài vô hạn. Điều đáng nói từ câu nói của ông Franklin là “Thuế” đã làm cho nhiều người của công chúng như tài tử xi-nê, cầu thủ thể thao chuyên nghiệp, chính trị gia lỗi lạc phải vào tù, thân bại danh liệt.

Sở Thuế IRS kể ra là tổ chức còn đáng sợ hơn cả Gang đảng Mafia với đủ súng ống và tội ác. Thí dụ: Chính phủ Hoa kỳ không thể nào bắt giam Trùm Mafia Al Capone ở Chicago được vì không có ai có can đảm đứng ra làm nhân chứng (Witness) để tòa án Liên Bang kết tội Al Capone. Cuối cùng chỉ có Sở Thuế IRS là đủ khả năng diệt trừ một tay găng-tơ máu lạnh qua việc tìm ra hắn trốn thuế…

Vả lại Mafia giết một người là xong phim; nhưng sở Thuế (IRS) không (chưa) để cho người chết yên giấc ngàn thu đâu hà. IRS còn tiếp tục đánh thuế tài sản của người đã chết hẳn hòi, chết từ khuya, từ thuở nào…


Đời thật là vô thường (Life is so impermanent). Không có cái gì có thể gọi là “chắc chắn” được!

Trần Văn Giang
(Viết vào Mùa Thuế 4/2016)

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Image

Chết/ qua đời/ quá vãng/ mất...

Bùi Bảo Trúc

Tối Thứ Tư (2/3/2016) rạng ngày thứ năm khoảng gần 2 giờ sáng tôi còn thức, đang ngồi một mình với một chai Châteauneuf du Pape, không biết làm gì, bèn mở email ra, thì đọc được lời nhắn của một người bạn vỏn vẹn mấy chữ: “NNBích chết rồi, trên chuyến bay đi Manila.”

Chỉ có thế. Phải đợi tới hôm sau tôi mới có được những chi tiết khác về sự ra đi của Bích.

Tôi hơi ngạc nhiên nghĩ tại sao người nhắn lại cộc lốc thế. Một cái tin về một người mà cả hai chúng tôi đều rất thân và yêu mến, mà chỉ mấy chữ như vậy thôi sao. Ít ra thì cũng vài ba chi tiết khác cho cái tin khủng khiếp và quá đột ngột ấy nhẹ đi phần nào chứ. Chẳng hạn cũng phải cho biết nguyên do làm Bích qua đời, bên cạnh có ai không, sự ra đi có yên lành, thanh thản, nhẹ nhàng không... Nhưng thực ra, điều làm cho tôi “sốc” nhiều hơn hết, là chữ “chết” trong cái tin nhắn. Tôi nghĩ chữ “chết” nặng quá, vô tình quá, lạnh nhạt, dữ dội quá. Tại sao lại không là một chữ khác? Không là những chữ dành cho vua chúa ngày trước như “thăng hà” hay “băng hà” đã đành. Nhưng thiếu gì những cách nói, những chữ khác hơn là chữ “chết” để có thể dùng cho sự ra đi của một người mà chúng tôi rất thân như Nguyễn Ngọc Bích, một người chúng tôi yêu quí từ gần nửa thế kỷ nay?

Tại sao không là “mãn phần,” “ra đi,” “quá vãng,”... và hàng chục chữ khác để nói về chuyện Bích không còn ở với chúng tôi nữa. Nhưng khi tôi thử dùng những chữ ấy thay thế cho chữ “chết” trong câu nhắn qua email của bạn tôi để thông báo về chuyện Bích không còn ở với chúng tôi nữa thì tôi thấy... “không được” như cách nói của Mai Thảo khi ông còn sống.

Đúng vậy, không thể dùng những chữ nghĩa lạnh tanh đó để nói về sự vắng mặt rồi sẽ là mãi mãi của Nguyễn Ngọc Bích.

Người đàn ông luôn luôn với với một nụ cười, một ánh mắt lạc quan suốt bằng ấy năm mà tôi biết ông, từ năm 1972 cho đến nay, ở Sài Gòn rồi qua Virginia, và cuối cùng trong những năm một người ở Virginia, một người ở California... lúc nào cũng nhiệt tình, trẻ trung, vui vẻ như hồi còn ở Princeton, Columbia, Georgetown, George Mason... nơi chàng đi học trong những năm 50, 60, 70.

Nói Nguyễn Ngọc Bích “quá vãng,” “mãn phần,”... nghe không ổn chút nào. Nghe không... thân tình chút nào. Ai lại nói Bích “quá vãng” trên máy bay. Cũng không ai nói Bích “qua đời” trên chuyến bay đi Manila. Nghe không được. Đó là những sự ra đi hình như không nhanh chóng. Sự từ giã không nhanh chóng và thanh thản, nhẹ nhàng như sự ra đi của Bích, bạn tôi.

Lẩm nhẩm đọc lại email của người bạn trong Internet bỗng nhiên tôi thấy chính bạn tôi mới đúng khi dùng chữ “chết” trong thông báo về Bích. Lời nhắn ngắn ngủi và hơi cộc lốc của chàng mới hay nhất và đúng nhất, đúng với tâm trạng của chúng tôi trước sự ra đi vĩnh viễn của Bích.

Phải thân lắm, phải gần gũi lắm mới dùng chữ ấy.

Nguyên Sa, một người không thiếu gì chữ nghĩa, trong một bài thơ viết nhân đám tang của một người bạn mà tôi nghĩ là rất thân của ông, Nguyễn Duy Diễn, đã mở đầu như thế này :

Diễn đã chết, Diễn đã chết
Chúng tôi nhẩy múa hò reo...

(Đám tang Nguyễn Duy Diễn)

Vậy thì lạnh nhạt, vô tình... ở chỗ nào? Phải thân tình, gần gũi... lắm đấy chứ!

Bỗng tôi chợt nhớ chính tôi cũng đã có vài ba lần chữ nghĩa như thế. Có một vài lần tôi hỏi ông chú tôi về ông bà nội của tôi, hai bà cô, hai ông chú của tôi, những người không còn ở với chúng tôi nữa, tôi luôn luôn dùng chữ “mất.” Thí dụ “ông mất hồi ấy chú mấy tuổi?”... Tôi không dùng những chữ như “qua đời,” “thất lộc,” “quá vãng,”... những chữ nghe sách vở, không gần gũi, thân mật, gia đình chút nào. Chữ tôi dùng trong những câu hỏi là chữ “mất,” nghe có sự kính trọng ở trong, nhưng thân tình và gần gũi thì không có. Những người ấy đều đã ra đi từ lâu, tôi không biết gì về “họ” cả. Vẫn có những xa cách mà tôi thì không làm sao cho gần gũi hơn được.

Nhưng khi ông bà cụ của tôi qua đời, thì khi ngồi nhớ lại, tôi thấy sau những xúc động ban đầu, tôi đã nói về cái chết của hai người một cách rất bình thản và tự nhiên. Không phải chữ nghĩa cao siêu, văn học nghệ thuật, sách vở... gì hết.

Này đây là Đinh Hùng:

Khi anh chết các em về đây nhé...

Vậy thì cứ thoải mái nói Nguyễn Ngọc Bích đã chết. Nhưng lòng thương mến dành cho người bạn này thì to lớn vô cùng,

Bích đã chết. Bích ơi là Bích!

Tôi nhớ và tiếc bạn.

Post Reply